“Chạy: biết bao thảm cảnh, nhất là thảm cảnh thuyền nhân rúng
động thế giới.
Chạy: một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” vô tiền khoáng hậu.”
(Trần Doãn Nho)
Trần Doãn Nho, tôi không biết gì nhiều về anh, ngoại trừ những
truyện ngắn trên Văn đọc được trước năm 75. Và chỉ biết mang máng anh đã từng
là nhà giáo như chúng tôi.
Nhưng có lẽ, ấn tượng nhất phải kể đến bài viết của anh, có tựa Khuôn
mặt chiến tranh trong tác phẩm Y Uyên ký tên Trần Hữu Thục (Văn số đặc biệt Thương
nhớ Y Uyên, số 129 ra ngày 1.5.1969). Nói ấn tượng, bởi trước cái chết của một
nhà văn trẻ đã để lại niềm thương tiếc cho nhiều người nhất là những người cầm
súng viết văn.
Cùng với những “tên tuổi lớn” như Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm
Tuyền, Châu Hải Kỳ, Trùng Dương… trong số báo này; khi phân tích các tác phẩm của
Y Uyên, anh có cách nhìn khác hơn, gần và thật hơn khi phơi bóc bối cảnh và các
nhân vật trong truyện (YU) theo độ sáng tối rõ ràng và chân thật như người
trong cuộc, so với cách nhìn “phán xét” của các cây bút đàn anh; bởi anh cũng
đang nhìn thấy rõ ràng khuôn mặt ấy, tay chân cũng sắp rờ chạm vào cây súng và đôi
giày bốt.
Chính vì anh đã sống với nên có phần hiểu rất rõ những nhân vật
trong các tác phẩm của người vừa ngã xuống khi đặt bút lên trang giấy, như anh
đã thú nhận: “… Trước mặt Y Uyên có lửa, sau lưng anh cũng có lửa, chung quanh đầy
máu, chúng ta ở giữa ngây ngất, tê dại. Tôi viết để tưởng niệm Y Uyên trong
khung cảnh hừng hực đó. Tôi không viết những lời phê bình anh. Tôi chỉ viết lên
những xúc động về chính tôi, một người như bao người khác, đang chấp chới giữa
thực trạng chiến tranh” (Văn số 129, trg 39).
Trần Doãn Nho cuốn hút tôi từ đó, chỉ vì anh viết phê bình
văn học mà như đang làm thơ, mỗi câu chữ đều xoáy động tâm can người đọc (là
tôi): một chút thê thiết, một chút hờn tủi về thân phận con người trong cõi
nhân gian khi anh khẳng định “Y Uyên chắc không buồn, nhưng dòng suối, những
đám cỏ lơ thơ, xơ xác ở đó buồn” ở đoạn mở đầu bài viết về tác phẩm của một nhà
văn cùng thế hệ! Anh không đẩy niềm uất hận đau thương lên cao như Lê Văn
Chính, sướt mướt như Mang Viên Long, Trần Huiền Ân hay Cao Thoại Châu… (Văn
cùng số); anh cũng không đổ lỗi cho ai và đặt những câu hỏi tại sao; chỉ vừa đủ,
chừng mực. Thoạt đọc tưởng anh đứng ngoài những rung cảm đau thương, nhưng kỳ
thực len xoáy đến cả những vật vô tri là ngọn cỏ dòng suối. Thời đó, còn là
sinh viên bậc cao học, tôi nghĩ anh có cách phê bình lạ, mới mẻ, có vẻ dửng
dưng lạnh lùng khi chỉ mới lướt qua, nhưng kỳ thực mang tính “ẩn dụ” rất cao
trong cách diễn đạt. Xin dẫn lại phần mở đầu bài viết của anh: “Lúc bây giờ,
cái chết nào cũng đột ngột như đốm lửa tàn thuốc chợt tắt ngúm khi vứt vào vũng
nước trong bóng đêm. Vừa sáng lóe lên đó và hết. Bốn viên đạn, và Y Uyên đã chết
như thế. Chết bên một dòng suối. Y Uyên chắc không buồn, nhưng dòng suối, những
đám cỏ lơ thơ, xơ xác ở đó buồn. Những người quen anh buồn. Những người không
quen anh cũng buồn…” (Văn, 129, trg 30).
Chỉ chừng đó thôi về một Trần Doãn Nho trong tôi, không có gì
để nhớ đến sau những biến cố đau thương, dồn dập đổ ập xuống xứ sở này.
Mãi cho đến khi tạp chí Thư Quán Bản Thảo thực hiện số chủ đề 20
năm Văn Học Miền Nam (số 63), ông chủ bút Trần Hoài Thư giao cho tôi điều
hợp Những Ý Kiến Chung Quanh 20 Năm VHMN với sự tham dự của Luân
Hoán, Trần Văn Nam (đã bước qua Bờ Bên Kia), Trần Doãn Nho, Trần Hoài Thư, Nguyễn Vy
Khanh, Lữ Quỳnh, Phạm Văn Nhàn, Trần Thị Nguyệt Mai… tôi mới có dịp liên lạc với
anh và trò chuyện qua email.
Đến lúc này tôi mới “tá hỏa” khi anh tiết lộ rằng “tôi bị động
viên khóa 6/70 Thủ Đức”! Đó là khóa dài nhất (hơn 10 tháng) tại quân trường Thủ
Đức. Trong khóa có rất nhiều các “cây bút trẻ” thụ huấn: Tôi cùng Cao Huy
Khanh, Viêm Tịnh, Nguyễn Chí Kham, Nguyễn Thanh Trịnh (tức Đoàn Thạch Biền), Vũ
Đức Sao Biển và nhiều anh em khác… Chúng tôi hay gặp nhau ở bãi tập, khu Dân sinh…
Nhưng tuyệt nhiên chẳng ai biết có một Trần Hữu Thục cùng khóa?
Trong thư mới nhất, Trần Doãn Nho cho tôi biết thêm vài chi
tiết: “Tôi vào Sài Gòn ghi danh Cao Học đầu niên học 1968-1969. Viết lăng
nhăng ở vài báo hàng ngày (Chính Luận, Điện Tín, Công Luận) kiếm tiền ăn. Đầu
năm 1969, được tuyển vào VOF (Voice of Freedom) qua một kỳ thi do Dương Nghiễm Mậu
giới thiệu; trong ban biên tập, có Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, chị Tâm (vợ
VĐSB)... Cuối năm 1969, được Đại Học Văn Khoa Huế gọi về làm Phụ Khảo Triết một
thời gian. Khi hết hạn hoãn dịch, thay vì chọn gia hạn, tôi chọn nhập ngũ để rồi
biệt phái. Vì thế mà đi khóa 6/70. Ra trường, vì trục trặc giấy tờ, họ chuyển về
Hành Chánh Quân Y một thời gian (3 tháng), sau đó biệt phái về Đại Học Văn Khoa
Huế dạy học cho đến tháng 4/75.Tóm lại, đời quân ngũ ngắn.
Tuy nhiên, nhờ qua trường Bộ Binh và trở thành sĩ quan, mùa
hè đỏ lửa năm 1972, tôi tự nguyện ở lại Huế, đóng góp một phần với chính quyền
Huế trong công tác dân vận và sinh viên trong khi cả thành phố di tản vào Đà Nẵng. (thư
ngày 22/9/2018).
Cuộc đời lắm “gian truân”của Trần Doãn Nho lôi kéo theo một
Trần Hữu Thục xơ xác sau ngày 30/4 bi thảm, như bao triệu con người khác ở miền
Nam. Không còn hơi sức với chữ nghĩa. Cho đến khi anh an cư trên đất khách (năm
1993), không còn bị theo dõi, dòm ngó canh chừng của đám công an mật; có công
ăn việc làm, Trần Doãn Nho mới kéo Trần Hữu Thục ra trên các trang mạng, trên
báo giấy…
Anh cầm bút trở lại. Viết đều và khỏe. Đủ các thể loại, từ tản
văn, truyện ngắn, truyện dài, tùy bút chí đến biên khảo, phê bình văn học. Và
thể loại nào cũng đậm vẻ tài hoa; đặc biệt là phê bình, sắc nét và bén
như thanh quất trong tay Bát Lê ở truyện Chém Treo Ngành của Nguyễn
Tuân.
Sau khi Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng Giúi rong chơi ở
xứ sở Đười Ươi (Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn),
ông Đoàn Tử Huyến mới gom nhặt tất cả các bài viết của các ông nhà văn nhà báo
phe ta lẫn phe địch, nhét vào tập Bùi Giáng Trong Cõi Người Ta (1) dày
gần 700 trang giấy, phần đầu trích thơ Bùi Giáng, phần sau là nhận định, phê
bình của 44 vị cầm bút có tên tuổi hẳn hoi; và thảy đều vận dụng tất cả các mỹ
từ có và không có trong tiếng Việt, hết lời ca ngợi cõi thơ của riêng Bùi
Giáng “làm thơ chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác” thì duy chỉ
có Thụy Khuê và Trần Hữu Thục là có đủ tỉnh táo để đánh giá cõi thơ Bùi
Giáng một cách đúng đắn của một nhà phê bình văn học.
Trần Hữu Thục vẽ chân dung Bùi Giáng qua các nhân vật
Kim Dung: “Bùi Giáng thân xác đã tiêu tán, nhưng Bùi Giáng như một hiện sinh vẫn
còn đâu đó, nghêu ngao ca hát, làm thơ và sống hồn nhiên trên các đường phố Sài
Gòn. Một Sài Gòn có Bùi Giáng và một Bùi Giáng có Sài Gòn… Ngẫm mà xem, ta có
thể tìm thấy ở Bùi Giáng khi thì một chút cuồng ngạo nghịch thường hoàng dược sư,
khi thì lém lỉnh hoàng dung, khi thì ngờ nghệch quách tỉnh, khi thì đầy
cả trào lộng lão ngoan đồng, khi thì chân chính, hào sảng, trượng phu hồng thất công,
khi thì quái đản kiểu mấy quái nhân luyện võ trong hang động, khi thì điên tàn,
thống hận tạ tốn... Ngẫm mà xem, ông sống đó cũng như ông mất đi. Ông như có đó mà
như không hề có đó. Kẻ sĩ hay người điên. Nhà thơ hay triết nhân. Ông sống giữa
thế kỷ này hay một ngàn, hai ngàn năm trước….” (Bùi Giáng giữa chúng ta - http://www.talawas.org/).
Anh cũng không ngần ngại chỉ ra: “Nói cho rõ ràng ra, thơ của
Bùi Giáng dở. Trừ một số câu thơ hay - chưa hẳn là rất hay -, còn lại hầu hết
thơ ông đều dở. Tôi có cảm tưởng rất nhiều câu thơ ông làm chẳng khác gì những
câu thơ ngây ngô của mình khi mới bắt đầu tập tễnh làm thơ hồi còn học trò. Thậm
chí có nhiều câu hệt như các em "ma-ri-sến" làm thơ tặng tình nhân. Vần
điệu ráp nối tùy tiện, ý tứ lại tầm thường. Chúng ta thử đọc lại một vài câu:
ngô nghê:
Giật mình lúc chợt nghĩ ra
Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi.
gượng ép chữ cho có vần:
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói được nghiệp nghề người điên
lập lại (vần):
Non nửa thế kỷ xa quê
Mà chưa có dịp về quê một lần
nói nhăng nói cuội:
Một hôm gầu guốc gầm ghì
hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Nhưng Bùi Giáng có cái dở riêng, phải nói là rất riêng, của
Bùi Giáng. Và ông không che dấu cái dở của mình. Không bao giờ. Chẳng những thế,
ông lại còn cố ý phô bày nó ra, phô bày một cách chân tình, hồn nhiên, toàn diện”
(đường dẫn trên). Điều này Trần Doãn Nho có lý, nếu như chúng ta thử đưa ra so
sánh giữa 2 câu thơ của Bùi Giáng và Thu Bồn đều viết về Huế; nhưng rung cảm với
Huế, mỗi người mỗi vẻ khác nhau:
Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương
(Bùi Giáng)
Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
(Thu Bồn - Tạm Biệt)
Trên trang Diễn Đàn Thế Kỷ, số 29/9/2018 kỷ niệm 3 năm ngày mất
của Võ Phiến, anh có những nhận xét khá chính xác về văn phong của “nhà văn lớn”
này, mà trước đây nhiều người đều nói Võ Phiến ngồi “chẻ văn thành sợi tóc làm
tư”. Dĩ nhiên, có người không đồng ý về lối nhìn nhận như trên, nhưng đa phần,
từ truyện, đến viết ngắn, dài của Võ Phiến cứ nha nhẩn không đầu đuôi, như cuộn
rơm ngồi tháo ra từng sợi, thấy đầu này còn hột lúa, chỗ kia cái gié bị dập, chỗ
nọ dính chút bùn… Ông dắt người đọc lơn tơn đi trong sáng sớm dày sương, qua giữa
trưa bốc khói đến tận chiều tối… có khi chưa thấy đường ngõ!
Và Trần Hữu Thục đã chỉ ra: “Thế giới trong tác phẩm của Võ
Phiến là thế giới bề bộn chi tiết: việc có, sự việc có, vật có, sự vật có, rồi
những ý nghĩ thoáng qua, những nhớ, những tiếc, những trạng thái tâm lý tủn mủn
tỉ mỉ, chợt buồn chợt vui, chợt băn khoăn, chợt xao xuyến. Đọc văn ông, chúng
ta sốt ruột đợi một chuyện gì đó đáng đồng tiền bát gạo xảy ra: một cuộc tình,
một tấn thảm kịch hay ít nhất cũng là một biến cố có ý nghĩa nào đó. Nhưng
không. Ông nhẩn nha, nhẩn nha kể chuyện “trong nhà ngoài phố” y như thế giới
này cứ thế, chẳng có gì quan trọng lắm, ghê gớm lắm. Võ Phiến bắt ta nhìn vào vật
này, rồi nghe thứ âm thanh gì ở một xó xỉnh nọ. Ông bắt ta rờ cái này, thoắt
cái, nhớ đến chuyện khác. Chuyện con kiến, tiếng thở, cái hắt hơi, tờ báo nằm
trên đỉnh mùng, bàn tay đè trên sống mũi, mấy cái hủ mắm, vân vân…” (https://www.diendantheky.net/).
Rồi thì, để chứng minh có cái gọi là “bề bộn, nhẩn nha”, chuyện
nọ xọ chuyện kia là có thật, anh bắt đầu dẫn một số đoạn trong các văn bản của
Võ Phiến để chứng minh. Đó là cách làm việc cẩn thận của anh, chứ thật ra, những
ai đã từng đọc Võ Phiến đều dễ dàng nhận ra sự “con cà, con kê” của ông, vì ông
cũng tự nhận “tiếc là không chẻ được làm tám”. Mới chỉ làm tư thôi mà đã làm mệt
nhoài ngòi bút phê bình của Trần Hữu Thục rồi, huống chi là tám hay mười?
Đọc những bài phê bình của anh, tôi mường tượng anh cần mẫn,
làm việc rất khoa học: đọc, ghi chép, đánh số vào thẻ, xếp loại… cẩn trọng, để
khi cần, chỉ thò tay vào ngăn là có ngay.
Tôi cũng có dịp đọc loạt bài phỏng vấn Phạm Phú Minh và Trần
Hoài Thư về văn học miền Nam và hải ngoại. Các câu hỏi anh đặt ra cho hai nhà
văn trên, tôi cứ tưởng tượng như tôi đang được cùng ông nội dẫn đi gát cu hồi
nhỏ. Con cu mồi là anh, đứng trên cầu nó cứ túc, gáy lúc khoan lúc nhặt; khi
thách đố khi như khuất phục, làm như vấn đề đó anh hoàn toàn mù tịt, hỏi lại
cho rõ nhưng kỳ thực anh muốn biết rõ hơn về thái độ của hai ông nhà văn kia
trước những vấn đề có liên quan, buộc họ phải nói ra trên giấy trắng mực đen.
Tôi gọi cách phỏng vấn của anh thuộc loại “tra khảo văn học”, hỏi cho đến nơi đến
chốn, cho ra chuyện mới thôi!
Rồi, trong những thư từ qua lại, Trần Doãn Nho cho hay, trong
những năm ngăn sông cấm chợ bo bo sắn mì… anh buộc phải đi buôn chuyến từ Huế
vào Sài Gòn để nuôi vợ con (Nói tới buôn chuyến trên tàu hỏa thời bao cấp khiến
tôi rùng mình: mua được tấm vé, mồ hôi như tắm, áo quần tả tơi, và thê thảm hơn
là cảnh chen chúc trên tàu, chỉ có chỗ để đứng một chân, chân kia co lại như
con cò già giữa muôn vàn mùi xú uế; lúc xuống được ga mình biến thành kẻ khác,
như tên tù biệt giam, rách bơm, hôi hám). Anh nói, lượt ra, tàu ngừng rất lâu ở
ga Tuy Hòa, anh thường xuống tàu giãn chân tay, ăn cơm dĩa ở ga này, cơm trắng
thơm ngon, thịt gà vàng ruộm và nói “đâu có biết anh cũng ở Tuy Hòa!”.
Điều anh nói khiến tôi nhớ, lại có một sự trùng hợp: Một người
có thật là anh, nhà văn Trần Hữu Thục nhiều lần ăn cơm ở ga xép Tuy Hòa trong
thời kỳ gạo châu củi quế, và nhân vật nữ xưng tôi trong truyện ngắn Thư Từ Tuy
Hòa của Cảnh Cửu giữa thời chiến tranh (1964), cũng có đoạn: “Anh có nói hồi đi
ngang đó (ga Tuy Hòa – ghi chú của người viết) thấy người ta bán cục
cơm vắt và cái đùi gà to tướng mười đồng. Sự thật cũng có như vậy anh à. Nếu
anh muốn tôi ra ga mua gửi cho anh. Cục cơm đó không biết có ích dụng chi cho
anh không, chứ ít ra nó cũng tố giác với anh vài điều về quê hương tôi… Sự nghèo
khó đến gõ cửa thường xuyên, cơm thì gạo ít mà ngô khoai nhiều. Đậu mè, đậu phụng
trộn với muối ran là món ăn đắt giá… Chắc khi đọc thư này anh có ăn cục cơm và
miếng thịt gà tôi gửi theo thì dù cho cơm đã thiu thiu, thịt gà đã dai nhách cắn
không bể nhưng chắc cũng đỡ hơn cái sống ở đây nhiều. Nó là cái tinh hoa của xứ
sở tôi đãi du khách đấy” (Văn số 45).
Có lẽ, chính những năm tháng khốn khó, phải bấm bụng nhét bút
giấy vào một xó để “chạy chợ” nuôi vợ con nên anh có thừa chất liệu để viết Dặm
Trường (2). Chỉ mới chương đầu, đọc cảnh nhân vật Hạnh phải chịu để cho thằng
tài xế đè ngửa trên cabin cũng đủ nhìn thấy cảnh đời ngang trái và tàn nhẫn, về
thái độ của nhà văn trước thực tế xã hội đương thời mà nước mắt đắng cay nhiều
như sông suối: “Trong bóng tối nhờ nhờ của buồng lái, nàng thấy bàn tay anh tài
xế đặt lên bụng nàng. Bàn tay kia luồn vào ngực. Nàng lấy tay đè lên tay anh
ta, giữ lại. Nhưng anh ta dùng một tay giữ chặt tay nàng, còn tay kia tiếp tục
sờ soạn. Tay chân anh tài xế bây giờ như những gọng kềm siết lấy nàng. Hàng nút
áo bung ra. Sức nàng yếu dần, ý chí chống cự tan biến. Nàng lơi tay, người mềm
đi, phó mặc…Nàng đột ngột cắn vào vai anh tài xế. Nụ cắn sâu, sâu thẳm… Trong ái
ân, Lục điệu nghệ, nhẹ nhàng, tỉ mỉ.
Như một bài học thuộc lòng, bao giờ anh cũng đi từng bước một, cẩn thận, cố gắng không bỏ sót một chi tiết nào. Dù có nhậu nhẹt, quá chén hoặc có xa vắng nhau lâu ngày, anh vẫn thế, từ đầu chí cuối. Người đàn ông này khác hẳn. Hắn hấp tấp, cuồng bạo. Nàng khẽ thở dài, than thầm, mình hư quá, hư thật rồi. Trong thoáng chốc, mọi chuyện lật qua một trang khác…”. (Dặm Trường, trg 22).
Như một bài học thuộc lòng, bao giờ anh cũng đi từng bước một, cẩn thận, cố gắng không bỏ sót một chi tiết nào. Dù có nhậu nhẹt, quá chén hoặc có xa vắng nhau lâu ngày, anh vẫn thế, từ đầu chí cuối. Người đàn ông này khác hẳn. Hắn hấp tấp, cuồng bạo. Nàng khẽ thở dài, than thầm, mình hư quá, hư thật rồi. Trong thoáng chốc, mọi chuyện lật qua một trang khác…”. (Dặm Trường, trg 22).
Đọc lướt Dặm Trường của Trần Doãn Nho, tôi mãi ám ảnh về đoạn
này. Anh không nói về sex, về dục tính như Nguyễn Mạnh Côn đã viết trong Tình
Cao Thượng: “Vì, như em đã nói với anh, Tư Giỏn làm cho em hoàn toàn thỏa mãn.
Cũng in hệt như đối với anh, lúc rung động của y lên đến tột độ thì rung động của
em cũng lên đến tột độ... trong mọi cuộc giao hoan, chính người đàn ông mới là
phương tiện!” (Tình Cao Thượng, trg 88 và 104) mà mặt nào đó, anh muốn dựng lại
thực trạng xã hội thời đốn mạt và bi thương nhất của con người (VN). Những người
dân vốn lương thiện đã bị “lịch sử” biến thành những tên lưu manh về phẩm giá,
đạo đức, cách sống…mọi mặt. Không viết trực tiếp, nhưng qua các nhân vật, những
cảnh đời một thời đã bị phủ bóng đen u ám, anh đã vẽ nên một phần “đổ vỡ” dưới
chế độ hoang dã và hoang tưởng. Và, chữ nghĩa buộc phải “mửa” lên mặt chúng, là
theo cách tôi nghĩ, cảm!
Sau khi phát hành Thư Quán Bản Thảo số 63, Trần Doãn Nho có
thư hỏi tôi có còn Văn số 129, nếu còn giữ được sao cho anh 1 tập. Tôi hứa sẽ cố
gắng, vì trong tủ sách không còn số này. Tôi chạy xuống thị xã, hỏi vài người bạn,
ai cũng lắc đầu. Nhưng rồi cuối cùng cũng tìm ra được nơi người bạn vong niên.
Tôi vội vã mang đi photo rồi tìm cách gửi qua cho anh. Khi nhận được anh viết
thư cảm ơn rối rít, vì theo anh, bài viết về Y Uyên là bài đầu tiên anh viết về
phê bình văn học, nó là kỷ niệm khó quên, bởi sau khi đăng bài viết này, ông Thư
ký tòa soạn Văn Trần Phong Giao có nhã ý mời anh cộng tác thường xuyên về phê
bình, biên khảo… cho Văn và Tân Văn. Cách đây mấy tháng, tình cờ tôi đọc ở đâu
đó trên một trang mạng, có đoạn anh viết về tờ Văn photo này, đại ý nhờ NgLu
photo gửi qua, nó còn đẹp hơn bản gốc.
Nửa năm 2015, Trần Doãn Nho về thăm quê nhà, từ Huế, anh gửi
nhờ Viêm Tịnh tặng tôi quyển biên khảo Ẩn Dụ, Cuộc Phiêu Lưu Của Chữ do
Người Việt ấn hành. Thú thật, tôi phải mất đến 5 ngày vừa căng mắt vừa căng đầu
mà đọc nhưng không “thấm” nổi. Sau Văn Việt post lại từng kỳ, tôi nhẩn nha đọc
mới rõ được đôi phần, mở ra lắm điều thú vị mà bấy lâu cứ ù lì trong đống sách
giáo khoa của các thầy bên Văn Khoa thời xa xưa.
Tôi và Trần Doãn Nho, Trần Hữu Thục chỉ chừng ấy, không hơn.
Những năm gần đây, sức khỏe giảm. Hai ông bạn đốc tờ khuyên
phải thuốc thang đều đặn, nghỉ ngơi, chớ suy nghĩ, chớ viết, đọc vừa vừa… tóm lại
là phải tĩnh dưỡng, phải an nhiên, tự tại, tốt nữa là thiền định, quán niệm hơi
thở… phải và phải… đủ thứ. Nghe thì nghe vậy, nhưng không bỏ được, vẫn cứ dòm
ngó với chữ nghĩa, vẫn cứ mở máy và đọc. Và, tôi đọc văn chương của bạn quen, bạn
dưng theo cách đó.
Với Trần Doãn Nho, Trần Hữu Thục cũng “nhẹ” như vậy. Mà kiểu
đọc này, lại có nhiều cái hay khi ta từ từ không vội, để có thể nhận ra lắm điều
bất ngờ. Ví như trong tùy bút Nắng trên trang mạng Da Màu. Chỉ có nắng
thôi, một hiện tượng tự nhiên của thời tiết; vậy mà anh khéo léo và duyên dáng
dẫn cái nắng ấy rong chơi khắp chốn: từ chỗ nhà quê qua thị thành phồn hoa,
ngoài ngõ nhà anh phú nông đến sân nương nương quý tộc, từ âm nhạc qua thơ, qua
cầu, qua sông suối, ruộng đồng, sa mạc… dẫn từ các ông nhà thơ, nhạc sĩ tên tuổi
để tổng kết lại thành một thứ Nắng đa màu sắc, hương vị, biết đi đứng,
biết hỉ nộ ái ố, có hình dạng mập ốm nghiêng thẳng điệu đà, là người yêu, kẻ
thù, biết đi biết nằm, biết hờn dỗi… nghĩa là trên cõi đời này có bao nhiêu nguồn
cơn cớ sự thì Nắng của anh đều có mặt, khi dịu dàng lúc hung tợn.
Thích chí và đồng cảm, tôi gọi bà vợ nằm toòng teeng trên chiếc võng gai đang đọc Già Sao Cho Sướng của ông đốc tờ Đỗ Hồng Ngọc. Dừng lại, nghe cái này. Tôi đọc hết tùy bút Nắng, cả hai vợ chồng già đều bật cười như được gãi ngứa: “Vẫn còn đủ thời gian để nhà văn nhà thơ sáng tạo ra thêm hàng triệu thứ nắng khác nhau nữa để làm vui cuộc đời. Này nhé: nắng trào, nắng tưới, nắng xanh, bẻ nắng, chôm nắng, bửa nắng, bắt nắng, trồng nắng, gặt nắng, hái nắng, gọt nắng và thậm chí… liếm nắng. Đã có sân nắng, vườn nắng, rừng nắng thì chắc cũng phải có: ao nắng, hồ nắng, phố nắng và vũng nắng, hố nắng. Đã có “nắng xiên vào nỗi nhớ” thì cũng sẽ có: nắng đâm, nắng chọc, nắng cắt hay nắng cứa… vào nỗi buồn. Đã có hạt nắng, vệt nắng sao lại không: viên nắng, hòn nắng, miếng nắng và… cục nắng” (https://damau.org/).
Thích chí và đồng cảm, tôi gọi bà vợ nằm toòng teeng trên chiếc võng gai đang đọc Già Sao Cho Sướng của ông đốc tờ Đỗ Hồng Ngọc. Dừng lại, nghe cái này. Tôi đọc hết tùy bút Nắng, cả hai vợ chồng già đều bật cười như được gãi ngứa: “Vẫn còn đủ thời gian để nhà văn nhà thơ sáng tạo ra thêm hàng triệu thứ nắng khác nhau nữa để làm vui cuộc đời. Này nhé: nắng trào, nắng tưới, nắng xanh, bẻ nắng, chôm nắng, bửa nắng, bắt nắng, trồng nắng, gặt nắng, hái nắng, gọt nắng và thậm chí… liếm nắng. Đã có sân nắng, vườn nắng, rừng nắng thì chắc cũng phải có: ao nắng, hồ nắng, phố nắng và vũng nắng, hố nắng. Đã có “nắng xiên vào nỗi nhớ” thì cũng sẽ có: nắng đâm, nắng chọc, nắng cắt hay nắng cứa… vào nỗi buồn. Đã có hạt nắng, vệt nắng sao lại không: viên nắng, hòn nắng, miếng nắng và… cục nắng” (https://damau.org/).
Với truyện ngắn, tính ẩn dụ cao hơn; thường gây cho người đọc
những ảo giác trên bề mặt văn bản, nghĩa là điều anh muốn nói đến không phải là
những hàng chữ sắp hàng ngay ngắn trên trang giấy như hàng quân mà, phải tự lật
ra phía sau, nó ẩn sâu bên dưới mới tìm ra “nhân dạng”.
Hầu hết những truyện tôi đọc được của anh luôn là những
bất toàn, xung đột, mâu thuẫn, mất mát… xoáy sâu vào những “niềm đau nhức” về
thân phận, quê hương phải đành đoạn bỏ lại phía sau cùng những giọt nước mắt chảy
thầm (truyện nào cũng thấp thoáng, dẫu không có hình hài rõ ràng).
Một Chút Việt Nam như một điển hình cho cách phơi bày tâm trạng
u uẩn của những con người “bị biệt xứ”. Từ đầu tới gần cuối truyện là cuộc gặp
gỡ, trò chuyện qua lại giữa chàng thanh niên tên Hưng và cô gái tên Miên Tâm
trên đất khách. Cô vượt biên theo dạng gửi kèm khi mới lên tám. Sống trên đất Mỹ
cho tới lúc có chồng, cô không có một khái niệm nào rõ rệt về quê nhà. Cô bị những
người thân, những bạn học đối xử khá tệ. Miên Tâm cô đơn và lạc lõng giữa những
người không cùng màu da, ngôn ngữ, văn hóa… để cuối cùng anh chàng người
Honduras trở thành bạn rồi thành chồng cô. Cuộc hôn nhân với Garcia chỉ là cách
trả ơn, cô giải thích: “Em biết anh giận. Nhưng em nói thật, anh có quyền tin
hay không tin. Em muốn yêu một người Việt Nam, nhưng em lại chẳng quen một người
Việt Nam nào cả… Em đã trải qua tuổi thơ, mà người ta cho là đẹp nhất đời,
không cha, không mẹ, không bà con, không bạn trai, không bạn gái. Em không biết
yêu. Có ai đâu để em yêu!”.
Gặp Hưng, cô như người chấp chới dưới làn nước lạnh ngắt, với
được khúc gỗ mục. Cô thoát hiện thoắt biến trước Hưng như một cái cớ để có thể
ngửi được chút mùi, mùi Việt Nam!
Đỉnh điểm của “chút mùi” ấy là cái đêm trước khi vợ chồng cô
chuyển đi nơi khác. Cô đến phòng Hưng với những tâm trạng rối bời, những khao
khát cháy bỏng “muốn yêu một người Việt Nam nhưng không quen ai là người Việt
Nam cả”. Đích thị là cô chơi vơi với tuổi thơ đã mất như cô đã mất quê hương,
gia đình, người thân yêu từ tuổi ấu thơ. Và Hưng là hiện thân của sự mất
mát-đang-được-nhìn-thấy. Hành động của cô là muốn kiếm tìm cái đã mất, một
chút, một chút thôi: “Anh chưa kịp phản ứng gì thì nàng đã vật anh xuống
giường, hôn tới tấp. Nàng cắn. Nàng liếm. Nàng rờ rẫm. Hơi thở nàng nóng hổi.
Anh nghe mùi tóc, mùi nước hoa, mùi da thịt nàng tràn trề trên người. Những nụ
hôn và những ngón tay. Nàng thành thạo. Dữ dội. Cuồng nhiệt. Đắm đuối. Anh đờ đẫn,
run rẩy, bàng hoàng, không biết phải làm gì. Tóc nàng rối tung. Cái áo ngủ gần
như tuột hẳn xuống… Hưng, em muốn một kỷ niệm Việt Nam. Đừng trách em, tội nghiệp.
Em muốn... em muốn... một chút mùi... mùi Việt Nam. Em muốn... enjoy a
little taste of Vietnamese... Một chút hương... Việt Nam, một chút... một
chút... Anh chồm lên người nàng. Như một con thú hoang. Không còn là một Hưng e
dè, thận trọng nữa. Không còn Miên Tâm. Không còn Garcia. Không còn trời. Không
còn đất. Hai sức trẻ quấn vào nhau như chưa từng. Một lần. Chỉ một lần thôi.
Căn phòng rung rinh. Chao đảo. Từng hồi.
Truyện khép lại ở đây. Có thể người đọc sẽ lầm tưởng dục tính
là có thật ở truyện này, vì trước đó ít phút, Miên Tâm đã tâm sự với Hưng: “cái
kiểu make love của Garcia... ghê quá!... Ghê quá là dữ dội... là ... Garcia
đêm nào, ngày nào cũng bắt em xem phim sex, rồi thì là... dày vò em, bắt em
chiều... đủ kiểu. Em sợ ...”. Nhưng tôi nghĩ rằng, Trần Doãn Nho không hề
viết về dục tính. Giây phút “hai sức trẻ quấn vào nhau như chưa từng” chỉ là
cái cớ. Bởi truyện này anh viết năm 1995, chỉ hơn hai năm, sau khi anh phải rời
bỏ Việt Nam, mang theo quê nhà trong nỗi nhớ ngắt ngoải. Vậy thì anh nhắm tới
điều gì? Phải chăng những hoan lạc và rung động mà họ tìm thấy của nhau, chính
xác là với Miên Tâm nhiều hơn, là những cảm xúc thông qua thân xác để chụp nắm
về một quê hương đã mất? Cô đã nắm giữ được hình ảnh quê hương trong thoáng chốc
với người bạn trai trên giường… Quanh không gian hẹp đó là cánh cửa mở rộng để có
thể nhìn thấy những gốc rạ vừa gặt, là mùi khói đốt đồng, mùi cá lóc nướng
trui, là hương vị ngọt chát của trái bần quẹt mắm tép rong, cá tràu kho nằm
cong trong om đất…? “Nghe hơi thở của nhau” có lẽ là nghe lại hương vị quê
hương đã mất sau cuộc “bỏ phiếu bằng chân” của hơn 2 triệu dân miền Nam!
Trong Vết Xước Đầu Đời trên Da Màu và Diễn Đàn Thế Kỷ số
tháng 7/2017 được Văn Việt đăng lại trong chuyên mục Văn Hải Ngoại sau 1975 (kỳ
68), với nội dung khá đơn giản: Tâm bị tù cải tạo được thả về, đến ở nhà mẹ con
Ánh trên dưới 1 tháng, bởi trước khi là “lính ngụy” hai người đã yêu nhau,
nhưng không lấy được nhau. Ánh lấy chồng để trả thù Tâm, chồng chết do tai nạn
máy bay. Bữa nọ hai chú cháu đi chơi, về trễ (tối), Ánh “tra hỏi” với con gái
và với Tâm, người yêu cũ. Cú “tra gạn” kia hình như làm tổn thương khá nhiều đến
người gạn hỏi là Ánh.
Motif truyện không mới, chủ đề không lạ. Trước năm 1975, chuyện
chú cháu, rung động đầu đời yêu thương, nhớ nhung sương khói… đã được các nhà
văn khai thác đến tối đa, nơi đón nhận và tập trung là tuần báo Tuổi Ngọc của
Duyên Anh. Và tiêu biểu cho loại truyện này là Hoàng Ngọc Tuấn với Ở Một Nơi Ai
Cũng Quen Nhau, Cô Bé Treo Mùng, Buổi Chiều Hạ Lan, Hình Như Là Tình Yêu… trở
thành loại sách luôn nằm trong cặp sách vở của các cô cậu lứa tuổi “Ô Mai”.
Nếu như Vết Xước Đầu Đời bị “rơi” vào tay các nhà văn theo
trường phái lãng mạn hay feuilleton trước 75, chắc chắn sẽ mùi mẫn như
Bên Dòng Sông Trẹm của Dương Hà, Chú Tư Cầu của Lê Xuyên hay hàng loạt tiểu
thuyết của bà Tùng Long… Nhưng với Trần Doãn Nho thì khác hẳn, bởi tầm vóc của
truyện “to lớn” hơn theo cấu trúc ngôn ngữ bình dị với những ẩn dụ vừa đủ để người
đọc không dụng công suy nghĩ, mò đoán nhiều; cũng không đưa đẩy đến sướt mướt,
éo le… nhưng có cái gì đó nhột nhạt, ngưa ngứa tận chân tóc như khi ta nhai phải
trái ớt hiểm cay xè; không chảy nước mắt, nhưng mọi chân tóc đều tưng tưng dựng
lên!
Ngay ở đoạn hai chú cháu quay về, nhà văn đã khéo léo
phối một gam màu hoàn hảo lúc hoàng hôn, tạo thành vẻ hư hư thực thực trong thứ
ánh sáng nhập nhoạng, để độc giả có thể hiểu được cái “nhập nhoạng” ấy ở cô bé
và mẹ cô. Trước hết là vật thể có thật: bóng tối vừa đủ, ánh sáng vừa đủ để có
thể nhìn ra “dáng cao lớn, chênh vênh như muốn ngã về phía trước” của chú Tâm
và cảm giác “cả một khoảng trời chao đảo theo bước chân chú” của Lan. Bức tranh
này là của cô bé vẽ nên bằng những cảm nhận từ đáy lòng qua bàn tay nhào nặn của
nhà văn. Toàn cảnh trong bức tranh là sự so sánh có cảm giác của Lan tưởng có
thể cầm nắm được trong tay: “Nắng tắt. Cả vùng ngoại ô lặng xuống. Cây cối như
kết vào nhau thành từng chòm, rải rác. Hai người im lặng bước đi. Lan cố đi chậm
lại đàng sau. Tự nhiên, cô cảm thấy bối rối. Chú Tâm bước, dáng cao lớn, chênh
vênh như muốn ngã về phía trước.
Lan có cảm giác như cả một khoảng trời chao đảo theo bước chân chú. Chú, đàn ông trông vững, lớn và đáng tin cậy. Khác với mẹ. Mẹ bao dung, chu đáo, nhưng có cái gì không ổn. Bao giờ mẹ cũng thu vén, tém tủm, tránh trút. Mẹ ngăn, mẹ chặn. Trước và sau. Mẹ sợ mọi thứ. Mẹ đúng, dĩ nhiên. Nhưng Lan buồn”. (http://vanviet.info/)
Lan có cảm giác như cả một khoảng trời chao đảo theo bước chân chú. Chú, đàn ông trông vững, lớn và đáng tin cậy. Khác với mẹ. Mẹ bao dung, chu đáo, nhưng có cái gì không ổn. Bao giờ mẹ cũng thu vén, tém tủm, tránh trút. Mẹ ngăn, mẹ chặn. Trước và sau. Mẹ sợ mọi thứ. Mẹ đúng, dĩ nhiên. Nhưng Lan buồn”. (http://vanviet.info/)
Sự “giam cầm” tình cảm của mẹ lúc dạy dỗ con gái về người đàn
ông, tất cả những người đàn ông khiến cô cảm thấy chơi vơi lúc bên chú Tâm: “Lan
cắn môi. Cô muốn khóc. Trời sẫm. Đường vắng. Cô bỗng muốn ngã vào lòng chú Tâm.
Nhưng cô giật mình, nhẹ gỡ bàn tay thô nhám của chú Tâm vừa đặt lên bàn tay nhỏ
nhắn của cô. Mùi áo quần từ nơi chú Tâm tỏa ra khiến cô ngây ngấy. Cái mùi lạ
hoắc! Thơm không thơm, hôi không hôi, lại nồng nồng. Cô bồn chồn, lạc dạ, quay
mặt đi chỗ khác”.
Suốt dọc câu chuyện, cứ nghĩ nhà văn tạo ra cô bé và Tâm là
hai nhân vật chính. Nhưng thật ra, nhân vật dẫn đến mọi cớ sự lại là Ánh, mẹ cô
bé. Đó mới là nhân vật trung tâm, xuất hiện gần cuối để đưa câu chuyện thành
cao trào, có kịch tính: “Đời mẹ đã khổ vì đàn ông, con biết không. Đàn ông
không có gì đáng tin hết. Họ luôn luôn phỉnh phờ, lường gạt. Họ không hề biết
yêu như đàn bà. Có họ mình cũng khổ, mất họ mình cũng khổ. Mẹ không muốn con gần
đàn ông vì không muốn con khổ, con hiểu chưa?”
Tất nhiên cô bé đã hiểu qua lời mẹ: “Một chút gì tái tê,
một chút gì đăng đắng, nghèn nghẹn của mùi vị cuộc đời lan vào trong cô. Chỉ là
một vết xước. Vết xước đầu đời, nhẹ nhưng buốt. Cô chợt nhận ra một mẹ khác, một
mẹ lạ hẳn, một mẹ cô chưa hề biết, chưa hề thấy. Và cô, cô cũng khác. Cô trở
thành một người khác”.
Thành một người khác bổng trở nên đậm hơn lúc nhìn thấy cái
áo của chú Tâm bỏ quên, “Lan chợt nhớ đến mùi đàn ông phảng phất đâu đây”.
Tâm chỉ là cái cớ cho Ánh nhớ lại 20 năm về trước và cũng là
cái cớ cho cô bé Lan ngập ngừng với cái mùi đàn ông phảng phất đâu đây.
Người đàn ông xuất hiện đúng lúc và ra đi đúng lúc để lại cho hai mẹ con, mỗi
người một tâm trạng khác nhau.
Gấp lại truyện, tôi có thêm cảm giác nhồn nhột, cồn cào gai
gai trong đầu giống như cảm giác cánh tay vung ra, đụng phải dề gai bàn chải
non!
Nhưng đến Bữa Ăn (http://vanviet.info/) thì không còn cảm giác bàn tay chạm phải “dề gai bàn chải non” như các truyện
khác mà, tựa như có hàng trăm ngàn mũi kim nhọn xoáy vào tận tim gan. Hơn 10
trang viết hiển hiện tràn đầy nỗi thống khổ, đau đớn, quặn thắt… đến tận cùng của
một kiếp người trong một xã hội đốn mạt nhất. Sự đốn mạt ở Làm Đĩ, Số Đỏ của Vũ
Trọng Phụng thời Pháp thuộc, không thấm vào đâu so với thời mạt pháp trong xã hội
cùn mạt ở truyện này. Cảnh người cha (từng là ông giáo làng, dẫu là ông giáo Ấp
Tân Sinh thời Việt Nam Cộng Hòa) phải ngồi nhìn những đứa con bán trôn nuôi sống
cả gia đình với nỗi hân hoan đau xé, với những tê điếng cam chịu diễn ra hàng
ngày trước mắt ông và vợ như những ngọn roi vô hình đập nát những ai còn lại
chút lương tri: “Ông nhắp một hơi rượu, rùng mình. Ông nhìn quanh. Ôi, những rượu,
những trà, những đồ ăn, thức uống, những cột kèo, cửa sổ, cửa lớn, bàn ghế, áo
quần, và chính cả thân xác ông, tâm hồn ông bây giờ đều xuất phát từ thân xác mấy
đứa con gái. Ông cảm thấy lợm giọng, buồn mửa. Hai mắt mờ đi. Trong thoáng chốc,
ông bỗng nhìn thấy đồ đạc trong nhà, hết thảy đều uốn éo, quằn quại, lăn lộn. Bộ
xa lông biến thành con Loan, cái tủ lạnh biến thành con Dục, tủ áo quần biến
thành con Lài. Chúng trần truồng, hoang hóa, chịu đựng và thảm thương vô cùng tận.
Chúng giương mắt nhìn ông ngơ ngác, bất lực”.
Cả truyện, từ đầu đến cuối, Trần Doãn Nho không hề có một từ
nào đổ lỗi, anh chỉ dựng lên một sân khấu nhỏ (nhưng lại là biểu tượng vô cùng
to lớn cho xã hội hiện tại) là vợ chồng cha con ông Tám. Cả 6 người đều nhập
vai và vai nào cũng tròn trịa làm “rúng liệt” mọi chân tơ kẽ tóc người đọc!
Truyện không kể lể, chỉ thủng thẳng mô tả những sự việc và sự vật từ từ diễn ra
trước mắt có lớp lang, thỉnh thoảng chen ngang những suy nghĩ, dằn vặt nội tâm
nhân vật. Chừng đó thôi, nhưng từng con chữ làm nhói đau tận xương tủy người đọc.
Gia đình gồm 6 con người khốn khổ và khốn nạn đó là bộ mặt xã hội hiện tại được
Trần Doãn Nho thu nhỏ lại. Tất cả họ đều phải chịu đựng và chấp nhận, xem như
là chuyện bình thường hàng ngày, không có gì ghê gớm khiến phải “nôn mửa”.
Anh phác họa các nhân vật của mình qua vài nét ký họa nghuệch ngoạc
và những nhân vật đó y như mẫu đất sét bọn trẻ con nặn con trâu, con vịt, chiếc
xe… là những chiếc mặt nạ biết đi đứng, nói năng:
Thằng Vụ: “… tảng sáng là thức dậy đi. Với đôi dép nhựa
cáu bẩn, đứt quai, bộ đồ lính bạc màu, chiếc mũ lưỡi trai, hắn lang thang đâu
đó suốt ngày trong mấy cái chợ, khu bến xe, trên đường phố, khi thì giả què,
khi thì giả bệnh để xin xỏ, và tìm mọi sơ hở của người ta để chụp giựt, chôm chỉa”.
Còn ba cô con gái: “suốt ngày chỉ lo chuyện phấn son, lụa
là. Các cô tỉa lông mày, nhổ lông nách, hoặc chăm chút hết bộ áo quần này này
sang bộ khác. Khi áo dài, khi áo đầm, khi đồ bộ. Ðủ dạng, đủ loại. Khách vào,
khách ra. Những õng ẹo, gạ gẫm, trả giá, vỗ mông, sờ ngực, cười cợt”.
Ông Tám, người chủ gia đình như một khán giả (bà vợ chỉ là
cái bóng, thui thủi, cam phận “ẩn nhẫn, nhịn nhục”), hàng ngày phải nhìn các hoạt
cảnh trên bằng những tâm trạng khác nhau: “Người cựu giáo viên ấp tân sinh cứ
thế, nhìn mọi sự diễn ra trong nhà mình hàng ngày như xem những màn biểu diễn
trên sân khấu”. Đôi lúc ông lại cay đắng, chua chát: "Biết thế này, đẻ
thêm chục đứa nữa để đáp ứng nhu cầu... Những cắng đắng, đau khổ lúc đầu,
chịu riết rồi cũng nguôingoai. Dẫu vậy, không có khách thì thôi, hễ có
khách mang đi một cô, lòng ông lại nhói lên một chút. Ông cảm thấy đau tê tê ở
một nơi nào đó trong người, khi ở bụng, khi ở ngực, khi ở trong đầu”.
Để cho màn kịch có thêm mùi vị đắng cay, Trần Doãn Nho thêm
vào hai vai phụ, không lờ mờ mà sáng lóa thời đại ma quỷ, ngay ở tầng-sâu địa ngục dương gian:
Một anh công an khu vực đến “thu hụi chết” và một ông cán bộ tập kết đương chức
trưởng phòng thương nghiệp huyện tuổi bằng cha ba cô gái. Một người thì hàng
tháng thu giá bán thân của ba cô, người kia thì gạ tình.
Bữa Ăn chính là những tan nát của bộ mặt xã hội hôm nay. Bộ mặt
ấy không như chapeau của Văn Việt: “ Khi người chủ gia đình/ người cha, đã
không thể bảo vệ và che chở con cái, phải để chúng lao ra đường kiếm tiền theo
cách đó mà không còn thấy đau khổ, nó bộc lộ một sự thật: khi gia đình rã tan,
xã hội cũng sẽ rã tan…”, bởi gia đình rã tan chỉ là hiện tượng phơi
trần bản chất xã hội đã mục ruỗng, rã tan!.
Trong bài Tạp Ghi Tháng Tư: Vết Thương, Trần Doãn Nho viết: “Trong
đời tôi, tính ra, tôi trải qua… bốn lần chạy. Mỗi lần chạy là một kinh nghiệm rất
riêng”. Rồi anh kể lại kinh nghiệm bốn lần chạy đó, lần lượt từ thời bé con khi
Việt Minh nổi lên tổng khởi nghĩa năm 45-46, chạy Mậu Thân, chạy Mùa Hè Đỏ Lửa
và chạy dài… theo chiều dài trên phần đất bên này vĩ tuyến 17, lần cuối cùng,
30/4. Bốn lần chạy là chạy trốn cộng sản, những con quái vật hình người!
Cảnh chạy lần đầu khi còn là bé con: “Thay vì chạy và đi, thì
tôi được gánh. Tôi một đầu, ngồi trong thúng. Đầu kia là một ít gạo và đồ đạc.
Cứ thế, mẹ, chị và anh tôi thay nhau gánh, theo đoàn người, tản cư về một nơi
vô định”.
Cảnh chạy tết Mậu Thân: “Cả gia đình tôi dắt díu nhau, không
chỉ chạy, mà là chui, rúc, lăn, trốn từ vùng bộ đội Cộng Sản chiếm đóng về vùng
quốc gia. Đoạn đường không dài, chỉ 5,7 cây số nhưng là một biên giới sinh tử”.
Rồi đến Mùa hè đỏ lửa: “Kinh nghiệm Mậu Thân đã mang cả Huế ra đi. Ngay lập tức.
Không chần chừ. Không đắn đo. Không tiếc nuối. Khi nghe tin bộ đội Cộng Sản vượt
sông Bến Hải, là Huế đã bắt đầu chạy. Hối hả chạy, bằng mọi cách, mọi giá. Mang
được gì thì mang, không mang được thì bỏ lại”.
Và 3 năm sau, khi miền Nam bị xóa sổ: “Chạy. Hễ còn chạy được là chạy. Đi bộ,
đi xe, đi thuyền, đi tàu, đi máy bay, đi, đi, đi, đi đâu, miễn là thoát khỏi Cộng
Sản. Chạy: biết bao thảm cảnh, nhất là thảm cảnh thuyền nhân rúng động thế giới.
Chạy: một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” vô tiền khoáng hậu”.
Lần chạy nào cũng có nước mắt thậm chí cả máu… của những người
dân vô tội. Anh lơn tơn kể, độc giả vừa đọc vừa ngẫm lại bản thân và cả thế hệ
của mình phải gánh chịu quá nhiều đau thương tang tóc qua những biến cố trên. Ở
lần chạy “bỏ phiếu bằng chân” cuối cùng: “Lần này, ra đi, trong thâm tâm, ai
cũng đau đớn nghĩ rằng: Huế sẽ mất vào tay Cộng Sản. Thành thử, chạy là chạy…luôn,
không bao giờ trở lại. Là bỏ Huế. Bỏ Huế! Chao ôi, hai chữ “bỏ Huế” nghe như
nhát dao đâm ngay giữa trái tim. Nhưng làm sao được. Đành thôi, Huế ơi”. https://damau.org/
Anh ghi lại từng chi tiết nhỏ của những lần “chạy” nó trung
thực đến độ tàn khốc, đến nỗi người đọc cảm thấy tim như bị bóp nghẹt, băm nát:
“Chao ôi, những người lính! Trong lúc cả nước miền Nam chạy thục mạng, chạy hớt
hãi, chạy trối chết… thì nơi đây, vào những giây phút cuối cùng của cuộc chiến,
những người lính nhảy dù này vẫn cứ làm nhiệm vụ, sẵn sàng chiến đấu, như… bình
thường. Cũng như tôi, nhất định họ biết rằng Sài Gòn sắp mất. Nhưng họ vẫn ở
đó, cầm súng canh gác. Tôi bước tới, muốn làm một cử chỉ biết ơn, nhưng anh bạn
tôi cản lại. Tôi vẫy tay. Một người lính vẫy tay lại. Trong nhá nhem tối, nhìn
nhau ngậm ngùi. Đọc lịch sử, những tưởng chuyện phế hưng chỉ là của ai đó, thế
mà bây giờ, mình ở trong cuộc!”.
Những ngày cuối cùng này, anh đang ở trong cuộc… Tất cả mọi
người dân miền Nam đều ở trong cuộc. Và thảy đều đều nát tan sau cái ngày khốn
nạn nhất của lịch sử! Dân tộc Việt Nam tiếp tục chạy kể từ buổi bình minh lịch
sử; chạy từ bờ nam sông Dương Tử dạt mãi xuống phương Nam… mà chưa hết! Sẽ còn
những “Thủy Mộ Quan” cho dân tộc này sao? Đọc đoạn cuối anh viết về cái vẫy tay
của mình với người lính nhảy dù đang trong tư thế chiến đấu ở giờ phút cuối cùng
trên đường phố Sài Gòn, tôi bật khóc thầm, bởi những ngày cuối cùng đó tôi cũng
dáo dát trên các ngả đường Sài Gòn hy vọng tìm thấy cha mẹ và hai đứa em bắt đầu
lưu tán từ Tuy Hòa trước đó! Còn gì bi thảm hơn không? Và có lúc nào đó, những
người dân chạy giặc kia tự hỏi: Tại sao khi chỉ mới nhắc đến hai chữ cộng sản
thôi là mọi người đều phải bỏ chạy, chạy bán sống bán chết; biết chạy là chết
mà vẫn cứ chạy. Ôi, họ mỉm cười chọn cái chết thay vì chọn cộng sản! Anh gọi cuộc
chạy cuối cùng của dân miền Nam là cuộc “bỏ phiếu bằng chân”, một cụm từ đã lột
tả đầy đủ và chính xác mà từ trước tới giờ tôi mới thấy, tuy có nhiều nhà văn
nhà báo cũng viết về cuộc tháo chạy này, nhưng chưa có từ nào nói lên tính chất
bi thảm của dân tộc Việt Nam như một cuộc bỏ phiếu bằng chân của anh!
Từ những gì đọc được, tôi trở thành “bạn” trên từng trang viết
của anh lúc nào không hay, chẳng qua vì cách viết của anh rất đời thường, gần
gũi mùi khoai sắn trên từng góc phố, ngọn gió, giữa đẹp và xấu, giữa những giằng
xé nội tâm, giữa những xô đẩy té nhào và đứng lên. Cách viết ấy, với nhiều thể
loại khác nhau, tôi ví anh như người dẫn nắng đi chơi khiến ai cũng ngắm nhìn
cái sự lạ lùng này: hân hoan và đắng cay, hạnh phúc và đau khổ, thiên đường và
địa ngục, lấp ló những thống hận. Vậy đó, như Nguyễn Mộng Giác từng viết về
anh: “anh thích đặt nhân vật vào những cảnh ngộ thử thách, và cách nhân vật ứng
xử với những thử thách ấy rất "người", nghĩa là chênh vênh giữa tốt
và xấu, yếu đuối mâu thuẫn nhưng vẫn có đủ nghị lực để chấp nhận bất hạnh và
thích nghi với đời sống”. https://nguyenmonggiac.com/
(Quê nhà tháng 9/2018)
* Ghi chú: Bài viết theo yêu cầu của tạp chí Thư Quán Bản Thảo
số 82 chủ đề nhà văn Trần Doãn Nho, đã được nhuận sắc tháng 10/2018.
(1) NXB Lao Động và TT VH Ngôn Ngữ Đông Tây, HN, 2012)
(2) Dặm trường, TÂQ, HK, 2018.












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét