Khoảng trống
Xóm Cồn nằm khuất sau một dãy đồi, bị cô lập bởi chằng chịt
những khe suối. Con đường độc đạo vào xóm mấy đời nay cũng chỉ là con đường đất
nhỏ ngoằn ngoèo. Thành thử, ngoài kia nhà cửa, phố xá mỗi ngày thêm đông đúc,
xe lớn, xe nhỏ chạy ầm ầm thì trong này vẫn giữ được nguyên vẹn dáng vẻ cổ xưa
với những vườn cây, những lũy tre dày xanh mát và sự vắng lặng hoang sơ. Mỗi lần
có việc phải đi ra đường cái, ông Bòng luôn cảm thấy khó chịu vì sự ồn ào, bụi
bặm và chỉ mong được chóng về nhà. Đi đâu cũng không bằng xóm Cồn
mình, đó là câu nói cửa miệng của ông Bòng. Ông thật sự hài lòng vì sự lặng lẽ,
bình yên của xóm Cồn.
Nhưng đó là ý nghĩ của những ngày thường. Cái không khí vắng
lặng quá đỗi của những ngày giáp Tết lại làm ông cảm thấy trống vắng. Thời buổi
bây giờ, cần gì thì người ta ra chợ, có tiền chỉ cần một chặp là có thể mang về
đủ thứ, chẳng còn nghe tiếng râm râm vang giòn của những nồi rang nếp làm bánh
nổ, cũng chẳng nghe tiếng chày thình thịch quết bột bánh tổ hàng đêm, ông lại
thấy nhơ nhớ
Năm nay, ông Bòng quyết ăn một cái Tết cho ra Tết. Thằng
Xoài, con út của ông vừa mới cưới vợ trong năm. Thế là tất cả con cái ông
đều đã nên gia nên thất, có nhà cửa công ăn việc làm đàng hoàng. Tết nay thế
nào vợ chồng thằng Xoài cũng về. Có khi có cả ông bà sui đến chơi cũng nên,
không thể tuềnh toàng được, người ta khinh cho.
Mới đầu tháng chạp ông đã thuê thợ tu sửa, quét vôi lại toàn
bộ căn nhà. Lại làm hẳn một cái sân bê tông, có các bồn để trồng cây cảnh. Vừa
mới mấy hôm trước đây, khi ra phố ngoài kia, ông còn khệ nệ bưng về mấy chậu
hoa thược dược bày biện trước hiên và cả mấy câu đối treo cạnh bàn thờ. Ngôi
nhà của ông trở nên sáng sủa hản lên, có khi lại đẹp nhất cái xóm Cồn này.
Đêm nay nữa đã là ba mươi Tết.
Từ đầu hôm đến chừ không hiểu sao ông Bòng cứ cảm thấy nao
nao. Thật ra ông chẳng còn việc gì phải lo nghĩ. Tết nhứt, đã chuẩn bị đâu vào
đó: thịt heo cả chục cân, các thứ mứt, bánh cũng nhiều, mọi việc đã tươm tất.
Gà chưa kịp
gáy dạo đầu đã nghe tiếng cười nói xôn xao bên nhà lão Phàn. Rồi sau đó là tiếng
heo kêu, tiếng dao thớt chan chát. Những âm thanh hỗn tạp mà rộn ràng đó khơi dậy
trong lòng ông những cảm giác trái ngược nhau: vừa cảm thấy thích thú nôn nao
như được sống lại cái không khí Tết của những ngày thơ bé, lại vừa khó chịu bởi
sự ầm ĩ.
Nằm lâu cũng mỏi,
ông Bòng trở dậy lần bước ra sân. Bên kia hàng rào chè tàu, nhà lão Phàn đèn đuốc
sáng trưng. Cả nhà lão đang xúm xít mổ heo ăn Tết. Lão Phàn đứng giữa sân, một
tay chống nạnh, tay kia chỉ chỏ, miệng la hét như một vị dũng tướng đang chỉ
huy chiến trận. Đám con cháu, dâu rể của lão đông như một đàn kiến chạy vào ra,
lăng xăng, tất bật. Mấy đứa nhỏ cũng lăng xăng, quấn quýt bên lão Phàn miệng cười
nói bi bô. Ông Bòng đứng ngây ra nhìn cảnh tượng ấy một cách say sưa mãi đến
khi cảm thấy người thấm lạnh. Sương đêm nhiều quá. Sao mai cũng mới lên đến đỉnh
đầu. Còn lâu trời mới sáng.
Thường thì mọi năm, mới chừng quá nửa buổi sáng ngày 30 Tết,
ông Bòng đã đặt mâm lễ cúng rước ông bà về ăn Tết. Năm nay ông phá lệ, chuyển
sang buổi chiều. Cả buổi sáng ông chỉ thẫn thờ, hết đi ra lại đi vào. Xế chiều,
khi bà Bòng bày mâm lễ xong, ông vẫn như kẻ mất hồn.
- Ông cúng đi
chớ, nguội ngặm hết rồi.
Nghe bà giục đến
lần thứ ba, ông Bòng mới miễn cưỡng rút ba cây nhang cầm trên tay, mắt vẫn
ngóng ra ngoài ngõ. Ở ngoài ấy thỉnh thoảng mới có một chiếc xe máy chạy vèo
qua rồi mất hút. Tự nhiên ông cảm thấy nhà cửa thật trống trải. Bà Bòng vẫn
loay hoay dưới bếp. Ông định gọi bà nhưng thôi, mà cũng chẳng biết gọi bà làm
gì. Ông đi vòng quanh chiếc bàn kiểm lại một lần các lễ vật rồi kính cẩn thắp
nhang đèn, lâm râm khấn vái. Mỗi lần có tiếng xe máy từ xa vọng tới ông lại nơm
nớp chờ.
Đã mấy năm nay
rồi, cả bảy đứa con ông chẳng đứa nào ló mặt về quê. Ngày đơm, ngày giỗ nhằm
vào các ngày làm việc đã đành, tết nhứt cũng chẳng thấy con, thấy cháu. Chúng
có cả trăm ngàn lý do: công việc làm ăn buôn bán, Tết là cơ hội ngày làm tháng
ăn, rồi công việc cơ quan bận rộn, ngày Tết cũng là dịp thăm viếng, tranh thủ
các mối quan hệ v.v... Ông biết vậy nhưng ông vẫn mong. Ông hy vọng ở thằng
Xoài, con trai út. Nó mới cưới vợ. Vợ nó cũng chưa một lần biết quê hương bản
quán của chồng. Lẽ thường, chúng sẽ phải về, trước là lạy tạ gia tiên, sau thăm
viếng, ra mắt với bà con trong họ ngoài làng. Nhất định vợ chồng nó sẽ về,
không sớm thì muộn, từ chừ tới chiều tối.
Hạ nhang đèn,
ông bảo bà Bòng dọn xuống.
- Ông ăn chút
chi chớ. Từ sáng đến chừ chưa ăn chi mà.
- Bà ăn đi,
tôi còn chút việc.
Ông Bòng định
bước ra cửa, nghĩ sao ông lại ngồi xuống, uống cạn ly rượu cúng nhưng chẳng buồn
cầm đũa. Bà Bòng nhìn ông hỏi:
- Ông răng rứa?
Ông chẳng trả
lời, chỉ trông trước trông sau như tìm kiếm vật gì. Thật ra ông có tìm kiếm gì
đâu. Ông chỉ nhìn mà cảm nhận nỗi trống trải của cảnh nhà. Con đàn, cháu đống,
bữa cơm cúng rước tổ tiên về ăn Tết cũng chỉ có hai ông bà già.
Bên nhà lão
Phàn vọng sang tiếng chén đũa, ly cốc chạm nhau leng keng, tiếng cười nói ồn
ào. Bữa tiệc tất niên từ trưa đến chừ vẫn chưa xong. Ông buồn bực đứng dậy đi
ra ngõ
Đêm ba mươi Tết. Ông Bòng nằm nghĩ ngợi mông lung, càng nghĩ
ông càng cảm thấy buồn, ông so sánh mình với lão Phàn.
Cả xóm Cồn này
ai cũng cho ông Bòng là sướng nhất. Con ông bốn trai, ba gái, đứa nào cũng nên
sự nghiệp. Thằng Cam, con cả của ông là chủ một doanh nghiệp ở tận Sài Gòn, thằng
Quýt em kế nó nhờ ông anh dìu dắt cũng làm tới trưởng phòng của một đơn vị cấp
sở. Mấy đứa con gái lấy chồng thành phố, làm ăn buôn bán khá giả. Hai thằng con
trai còn lại học hành tử tế, cũng làm nhà nước ở tận tỉnh xa. Đứa nào cũng nhà
cửa sang trọng, giàu có. Phận làm cha, làm mẹ con cái được đến mức ấy ông chẳng
còn mong gì hơn. Nhiều khi ông Bòng thầm tự hào về chúng. Cả cái xóm Cồn này,
trai gái lớn lên cũng chỉ cam phận gà què ăn quẩn cối xay, quanh năm suốt tháng
cặm cụi với mấy sào đất rẫy, thành đạt như con ông hỏi được mấy người?
Thế mà càng về
già, ông càng cảm thấy ông không được như lão Phàn. Lão cũng bảy đứa
nhưng là ba trai bốn gái. Con lão, trai thì đi rừng đi rẫy, gái thì lấy chồng
trong làng, tất thảy đều nghèo khổ, cơ cực, chẳng đứa nào nên danh phận gì.
Nhưng chúng sống có tình có nghĩa. Nhà lão Phàn mỗi lần giỗ quảy, con cháu xúm
xít đông vui đáo để. Con cháu lão Phàn cũng đã ở riêng, làm nhà ngay trong vườn
của lão, tuy chật chội nhưng không ngày nào bên ấy ngớt tiếng trẻ con. Lão Phàn
đi đâu cũng có một vài đứa cháu nội, ngoại quấn theo chân. Còn ông, đi đâu cũng
lủi thủi một mình.
Ông Bòng lại
nghĩ đến lũ cháu. Ông có đến gần hai chục đứa cháu nội, ngoại, lại thêm mấy đứa
cháu gọi bằng cố. Ông thầm trách, chúng mới tệ chứ, chẳng khi nào nghĩ đến chuyện
về thăm ông bà. Nhiều khi nhớ cháu, ông phải lặn lội thân già đến thăm. Thấy
ông, chúng chẳng tỏ vẻ mừng, chỉ chào ông đúng một câu rồi đi mất hút. Hai đứa
con của con Chanh trông thật kháu, ông thèm được ôm chúng vào lòng mà hít lấy
hít để cái má phúng phính dễ thương ấy nhưng mỗi lần ông quờ tay định ôm chúng
thì đứa nào cũng vội lảng ra. Chúng mải chơi với hai con chó Nhật lông xù và mấy
con búp bê biết múa hát, chẳng để ý gì đến ông. Chút quà quê, hai ông bà lụm cụm
cả một ngày đêm hái lá, giã nếp, nấu đậu làm nhưn... gói được mấy chục bánh ít
lá gai mang cho cháu, thế mà chúng nhìn gói quà một cách dửng dưng, cũng không
hề động đến.
Ông Bòng lại
nhớ đến cái lần ông đi bệnh viện. Nằm cả nửa tháng trời cũng chẳng thấy con
cháu nào thăm nom, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có hai vợ chồng già. Thấy ông buồn,
bà Bòng nói đỡ: Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông. Mới đây, lão Phàn cũng ốm
phải đi bệnh viện mấy ngày, đám con cháu lão có mặt đủ cả, đứa dìu, đứa xách đồ
đạc, quần áo, đứa tíu tít lo xe cộ. Ông Bòng đứng nhìn mà cám cảnh nhà mình.
Nói cho công bằng,
chẳng phải con ông là lũ vô ơn bất nghĩa, chẳng phải chúng không nghĩ đến ông.
Cái nhà ông ở mấy năm trước đã rệu rã cả cột kèo, biết vậy, chúng gởi tiền về
cho ông xây hẳn một căn nhà mới. Tiền chúng vẫn gởi về hằng tháng cho ông, có
lúc đến vài triệu. Hai vợ chồng già ăn uống hết bao nhiêu đâu, ông bảo chúng đừng
gởi nữa nhưng chúng vẫn gởi đều. Thằng Cam luôn gởi thư về thúc giục vợ chồng
ông vào ở với nó. Nó bảo, nhà cửa rộng thênh thang, mấy đứa cháu đã có vợ, có
chồng, có sự nghiệp riêng cả. Vợ chồng nó đi làm ăn buôn bán suốt ngày, chẳng mấy
khi ở nhà. Hai ông bà vào ở trông nom nhà cửa cho nó và nghỉ ngơi tuổi già. Thằng
Quýt, con Chanh cũng giục ông ra ở với nó. Nhưng làm sao ông có thể bỏ mồ mả
ông bà đi đâu cho được? Mà ra phố ư? Còn hơn đi ở tù. Suốt ngày chỉ quanh quẩn
trong mấy bức tường nhà. Đời ông đã quen với ruộng đồng, sông bãi, không có mảnh
vườn cuốc cuốc, xới xới; không có con gà, con chó ông sống làm sao. Mới nghĩ đến
chuyện ra phố thôi là ông đã nghe ớn tận sống lưng rồi.
Ông nhớ năm
ngoái cũng độ tháng chạp, ông lặn lội gần ngàn cây số vào trong đó, trước là
thăm con, thăm cháu, sau là bàn với vợ chồng thằng Cam mấy việc của gia đình, tộc
họ. Nó là con trưởng, là người thừa kế ngôi bậc trưởng chi. Ông biết mình chẳng
còn được mấy năm mà bao nhiêu việc phải lo: ngôi nhà tự đường đã ọp ẹp lắm rồi,
mồ mả ông bà cũng cần tu tạo cho bằng người kẻo thiên hạ lại cười chê. Nhiều
đêm nằm nghĩ ông cảm thấy không yên, không xong được những việc này làm sao nhắm
mắt.
Cũng chỉ định
vào thăm con cháu vài ngày, nhưng ông phải ở đến cả chục ngày mà cha con vẫn
chưa xong câu chuyện. Sáng, ông định mở chuyện ra thì thấy chúng lật bật chuẩn
bị đi, không tiện nói. Nửa đêm chúng mới về đến nhà, lại vội vã chui vào phòng
nghỉ. Họa hoằn lắm cha con mới ngồi được cùng nhau trong một bữa cơm. Thế mà, mới
bưng chén cơm lên thì chuông điện thoại réo liên hồi. Nó lại đứng dậy, xin lỗi
ông là phải đi, công chuyện làm ăn không thể bỏ, mất mối. Nhiều bữa, ông nằm chờ
con đến tận khuya. Nghe tiếng xe về, ông định trở dậy nói cho xong công chuyện,
nhưng thương con ông lại thôi, để cho chúng nghỉ ngơi lại sức mà làm việc ngày
mai. Thành ra, ông thăm con mà chẳng mấy khi được gặp con. Ở nhà chỉ có ông và
con bé giúp việc. Con bé phục dịch ông như một ông hoàng. Ngày nào cũng vậy,
sáng dậy đã có sẵn khăn lau, nước ấm. Mới ăn xong, một chặp đã thấy nó bưng mâm
đến, có cả mấy lon bia. Ngày nào nó cũng bắt ông ăn đến năm sáu bữa. Ông không
ăn được, nó lại nài nỉ, khóc lóc. Nó bảo ông không ăn, bà chủ sẽ đuổi việc nó.
Bực dọc ông nghĩ mình vào thăm con cháu, đâu phải để ăn?
Bữa ông Bòng về,
vợ chồng thằng Cam đưa cho ông một xấp tiền. Nó bảo để hai ông bà tiêu Tết.
Ông bảo chúng
mua chai rượu, nén nhang để ông mang về đặt lên bàn thờ ông bà ngày Tết, chúng
lại đưa thêm cho ông một xấp tiền.
- Cha cầm về
ngoài đó mà mua, thích gì mua nấy, đi xa mang xách gì nhiều cho nặng.
Ông dằn lòng hỏi
tiếp:
- Còn chuyện
tu tạo mồ mả, nhà thờ tộc ý con thế nào?
Nó làm như
không nghe, hồi lâu mới nói bằng cái giọng dửng dưng:
- Ối, người sống
còn chưa lo đủ, cha lo nghĩ nhiều chuyện làm gì cho mệt. Để sau con tính.
Thế là ông giận
sôi lên, ném trả lại xấp tiền, quát tháo chúng một trận rồi bỏ về.
Đêm xóm Cồn vẫn yên tĩnh. Ông Bòng nằm nghĩ ngợi miên man, bất
giác ông buông tiếng thở dài. Giường bên kia bà Bòng cũng lăn qua lăn lại trằn
trọc. Nghe như có tiếng xe máy dừng trước ngõ. Hay là vợ chồng thằng Xoài về?
Ông Bòng vội nhổm dậy, mở cửa bước ra. Bà Bòng cũng lật đật chạy theo. Trong
ánh sáng lờ mờ hắt ra từ bóng đèn trước hiên nhà, ông thoáng thấy vài bóng người.
Bước ra tới ngõ, ông mới hay không phải thằng Xoài mà là vợ chồng thằng Me con
bà Soạn đang lỉnh kỉnh tay xách, nách mang bước vào ngõ xế bên kia. Chiếc xe thồ
lao đi để lại trong ông một khoảng trống vắng đến rợn người.
Văng vẳng từ xa, có tiếng chuông chùa, rồi rộ lên mấy hồi trống
điểm. Hình như giao thừa đang đến.
Hoàng Kim Tám
Theo http://vanhocnghethuat.quangnam.gov.vn/


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét