Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

Người ở rất lâu quê nhà

Người ở rất lâu quê nhà...
Tôi là học trò của thầy Bùi Giáng, xa thầy trong thời gian khá dài bởi chiến tranh, sống đời bom rơi, đạn nổ. Vì vậy, tôi không dám cũng không đủ can đảm để bàn về cái hay, cái dở, cái triết lý Á, Âu, cái “thượng thừa” bí hiểm, cái “dzui dzẻ thập thành”, cái “rong rêu phiêu bồng mênh mông vô tận xứ”, cái “Tâm hồn như lộc, trang đời như điên” đã có trong thơ thầy. Sức hiểu của tôi có hạn, thơ thầy Bùi Giáng quá hay. Tôi yêu quê, thương người cùng quê, nên tôi viết bài này kính dâng quê hương Duy Xuyên, Quảng Nam của tôi, kính dâng thầy, cố thi sĩ Bùi Giáng và xin phép thầy được thổ lộ điều lòng mình bấy lâu ôm ấp, suy nghĩ về thơ của thầy nặng nghĩa với quê nhà.
Có lẽ vì thân đơn, ngựa lẻ, đã dun dủi đường xa lâu ngày. Từ miền quê Trung Việt ra Huế, rồi vào Sài Gòn có lúc ông nhớ quê hương có Hòn Kẽm - Đá Dừng, có sông Vu Gia, Thu Bồn, đèo Hải Vân, Cửa Đại, có Hội An, Mỹ Sơn tình sử, nhưng vì lý do nào đó ông chưa về thăm cố hương, để nhớ, để thương cho người lưu lạc... Thi sĩ Bùi Giáng sinh năm Bính Dần (1926), tại làng Thanh Châu, xã Duy Châu, Duy Xuyên, Quảng Nam. Gốc họ Bùi, nhà ông ở làng Vĩnh Trinh, xã Duy Hòa, Duy Xuyên.
Vĩnh Trinh là một đập nước rộng và dài, nơi đây đã có một vụ thảm sát, đau và buồn. Hồ nước này chạy qua ranh đất của ba xã Duy Châu, Duy Hòa và Duy Trinh thuộc Duy Xuyên. Thi sĩ Bùi Giáng là con của ông Bùi Thuyên và bà Huỳnh Thị Tiền... Ông mất năm 1998, tại thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian ông sống và làm việc ở Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh nhiều hơn ở quê nhà. Ông bắt đầu đi học năm 1933 ở trường làng rồi trường Bảo Ân (ở Điện Bàn, Quảng Nam). Năm 1939, ông ra Huế học, năm 1940 trở về Quảng Nam chăn dê. Năm 1949 nhập ngũ, bộ đội công binh, hai năm sau xuất ngũ. Năm 1952 vào Sài Gòn sống, viết và đi dạy. Năm 1969, “bắt đầu điên rực rỡ”... Ông đã cống hiến cho đời nhiều thơ, văn quý lạ, đã in và xuất bản ở trong và ngoài nước, được độc giả, quần chúng, bạn bè mến mộ.
Sau mười lăm năm lưu lạc, ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi có dịp đi trên đường phố Sài Gòn để ôn kỷ niệm, tôi bỗng gặp thầy Bùi Giáng, râu tóc bờm xờm, bạc phơ, trên vai là chiếc que khò, gánh hai đầu những món đồ lỉnh kỉnh. Thầy vừa đi vừa nói những điều không nghe rõ. Tôi lại gần hỏi thăm. Thầy cứ đi. Hình như phố thị đất trời, xe cộ, kẻ qua người lại lúc này đối với thầy là không có. Thầy đang ở trong thế giới riêng của mình. Tôi tìm cách lý giải để hiểu phần nào hiện tượng kỳ dị này thì không sao hiểu nổi: thời thế hay tâm can, văn chương hay thất chí... Tôi đành làm thơ kính tặng thầy:
Em từ chinh chiến về đây
Gặp thầy dở tỉnh dở say giữa đời
Tưởng như sống ở trên đời
Mà sao lận đận với người trần gian
Không biết vì quá buồn lẫn cái vui, tôi vô lễ dùng hai chữ “lận đận” đối với thầy trong cõi trần gian. Tôi xin muôn phần tạ tội. Rồi thời gian trôi qua, tôi tìm đọc lại thơ của thầy Bùi Giáng, bỗng nghe lòng chùng xuống, khi gặp câu thơ thầy viết trong bài Mai sau em về in ở tập thơ Mưa nguồn: “Lá rơi cỏ dội ở trong sương mù”.
Lá nào rơi? Rơi ở đâu? Dội vào sương mù nơi chốn nào? Nghe người ta nói, thầy Bùi Giáng có viết: “Ta cứ ngỡ xuống trần gian chơi một chốc/ Nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay”. Và tôi đã tìm thấy “Đi về một bữa hôm nay/ Nhớ ngàn xưa đã về đây một lần” (Trở lại trần gian). Và như vậy có phải “lá rơi, sương mù” ở bồng lai tiên cảnh, từ nơi đó, thầy đã xuống trần gian, rồi quên lối về? Hay chỉ là một biểu tượng, một ẩn dụ của số kiếp, của thân phận con người sống gởi thác về nơi trần gian tưởng như hữu hình mà vô hạn? Ở một trang thơ khác của thầy tôi lại gặp: “Nghĩa là ở mãi nơi đây/ Làm người dân Việt tháng ngày thong dong” (Ngày sau ông sẽ). Và: “Bờ tre anh trở lại ngồi/ Nhìn chuồn chuồn múa bốn trời ba con” (Chuyện chiêm bao).
Đến đây, tôi xin phép thầy được suy tưởng: lá rơi, vào cảnh sương mù là ở trần gian, nơi đó có quê hương biền dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa của thầy: đất lành Duy Xuyên. “Sớm mai mắc cưởi/ Ban chiều tơ giăng” (ca dao xứ Quảng). Chắc có lẽ là vậy nhưng thầy lại chợt nhớ, chợt quên: “Chợt có lúc trên đường tôi đứng lại/ Ngó ngu ngơ... xưa chính đã chỗ này” (Chỗ này). Dần dà rồi thầy cũng nhận ra: “Hôm nay tôi kiếm củi ở trong rừng/ Lạc mất đường về chợt bỗng dưng/ Sực nhớ rằng đây rừng rú thẳm/ Là quê thân thiết biết bao chừng” (Người về). Nhớ quê tha thiết là vậy, nên có khi thầy tự trách: “Bây giờ tôi đã quên xưa/ Sài Gòn cám dỗ tôi chưa chịu về” (Ca dao). Và khi về thăm quê, thầy lại gặp, lại nghe những câu hỏi cắc cớ: “Người hỏi tôi: từ đâu ông đến nơi đây?/ Thưa cô thôn nữ từ đây tôi về” (Đi về làng xóm). Hoặc: “Hỏi rằng người ở quê đâu?/ Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà” (Chào Nguyên xuân).
Quê nhà của thầy Bùi Giáng là đâu? Cứ theo cách hỏi và trả lời như rứa thì chẳng biết chỗ mô. Chắc thầy “dzui dzẻ thập thành”, “số dzách một cây” mà nói vậy. Thật ra, thầy nhớ rất rõ quê mình, ngay cả trong những giấc chiêm bao: “Thôn làng từ thuở đầu tiên/ Ước mơ thấy một nàng tiên về làng.../ Ấy ai rất mực rườm rà/ Ấy người ấy ngượm ấy là đười ươi?/ Quanh năm rất mực biếng lười/ Chờ tôi về tới là vui tưng bừng?/ Bảo tôi lập tức theo chân/ Dắt tôi đi khắp đường quanh xóm làng/ Đường quanh ngõ quẹo âm vang/ Chiêm bao mộng tưởng đá vàng đầu tiên/ Gặp người thôn nữ Duy Xuyên.../ Nàng vội hỏi: ấy là ai?/ Ồ anh Sáu Giáng/ Ấy ai là nàng” (Chuyện chiêm bao 15). Thế mới biết, chuyện tình quê khó nói, khó tả đến chừng nào, đối với những ai dấn thân kiếp người lưu lạc: “Vạn kiếp khôn nguôi sầu lữ thứ/ Nghìn thu khó hiểu chuyện tình quê” (Chuyện chiêm bao 10).
Thương quê, nhớ quê, thầy tôi đi về và đã gặp: “Em cầm giỏ đi hái dâu/ Còn tôi xách dép đi hầu sau chân” (Chuyện chiêm bao 21). Và “Em xách giỏ đi hái dâu/ Chờ anh mang giỏ lượm màu hương em” (Thôn nữ). Và: “Em cầm giỏ đi hái dâu/ Còn anh hoài niệm ngỡ đâu thế này” (Chiều hôm hoài niệm). Và: “Một lần nghe tiếng của em/ Dội lên ở giữa êm đềm nương dâu/ Tưởng em tiên nữ thiên thần/ Về đây duy nhất mộng đầu ban cho” (Thôn nữ nương dâu). Không biết cô thôn nữ Duy Xuyên hái dâu ở đâu mà thầy Bùi Giáng nặng tình đến thế? Chắc là thôn nữ của làng nghề truyền thống dâu tằm, tơ lụa Đông Yên, Phú Đông, Thi Lai, Chiêm Sơn... Hay là thầy liên nhớ hình ảnh của chuyện tình thơ mộng mà xây dựng, hiện thực mà ngỡ trong mơ về thiên tình sử của cô gái họ Đoàn năm xưa, vào một đêm trăng sáng hái dâu nơi biền bãi sông Thu Bồn, qua âm điệu dân gian lưu truyền mãi đến hôm nay: “Thuyền rồng Chúa ngự nơi đâu/ Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình...”. Và mãi về sau, thôn nữ hái dâu ở làng Đông Yên, Duy Trinh đã trở thành bà Đoàn Quý phi, người có công rất lớn trong nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa ở quê nhà Duy Xuyên nói riêng, cho cả xứ “địa linh nhân kiệt” Quảng Nam nói chung. Không biết vì thực hay mộng, vì xưa hay nay mà thầy Bùi Giáng càng thêm thấm nghĩa đượm tình mà liên tưởng: “Tình em thôn nữ ngày đêm/ Cày sâu cuốc bẫm không quên tình đầu” (Thôn nữ). Tình quê, tình người, tình sầu, tình mộng, tình lao động sáng tạo của các thôn nữ, của dân lành Duy Xuyên đã gói trong câu thơ lục bát này...?
Và còn nhiều câu thơ lục bát của thầy Bùi Giáng, tôi đọc lên nghe âm vang rờn rợn, nghe ba bảy sông hồ, nghe vu vơ và kỳ ảo, nghe mộng mà thực, nghe đung đưa mà vững, nghe rối rắm mà sáng trong, nghe bình dị thiết tha đậm hồn quê Việt, nghe như đêm trường có bình minh thắp sáng: “Xin chào nhau giữa con đường/ Mùa xuân phía trước miên trường phía sau” (Chào Nguyên xuân). “Trần gian một thuở đi về/ Nhìn mây trắng mãi tình quê muôn đời” (Trần gian). “Ta đi còn gởi đôi dòng/ Lá rơi có dội ở trong sương mù” (Mai sau em về). Và: “Ước gì làm được bài thơ/ Cây đa bến cũ con đò còn đưa” (Gốc cây ngày xưa). “Hôm nay chợt thấy mặt trời/ Tỏa muôn tia sáng rạng ngời chân không/ Lối về diệu hữu mênh mông/ Thong dong đếm bước phiêu bồng tặng em” (Đêm nay) v.v...
Thật tình, tôi chưa hiểu hết ý nghĩa của những câu thơ nói trên của thầy Bùi Giáng, nhưng đọc cảm thấy hay, suy ra thấy hàm súc thâm thúy, giữa hình hài thiên nhiên và thân phận con người tưởng như không bà con gì mà thủy chung, hòa quyện, giữa mộng và thực, tưởng xa lạ mà gắn bó. Tôi lại liên tưởng lời thầy: “Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoàn viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu, bốn biển, ba bảy sông hồ” (Trích từ sách Bùi Giáng đười ươi chân kinh, trang 472).
Có nhiều khi, tôi thầm nghĩ, quê hương là khối văn hóa đồ sộ, lấp lánh tình yêu thủy chung và sáng tạo. Ở bất cứ hoàn cảnh nào, con người có tâm có đức luôn biết tôn vinh và quý trọng, gìn giữ truyền thống thiêng liêng của dân tộc mình qua tình yêu gia đình, dòng họ thì chính điều đó đáng được trân trọng. Tôi đã bắt được cái hồn cốt ấy trong thơ thầy Bùi Giáng. Và tôi xin dám nghĩ rằng: chừng nào còn tiếng chim kêu trong vườn quê có hoa thơm trái ngọt hay đã đổi màu vì nắng lửa, mưa dầm thì vẫn còn thơ tình quê của thầy Bùi Giáng: “Sáng nay chim hót thật nhiều/ Tưởng nghe tiếng nói tình yêu đất trời” (Chim hót).
Có buổi chiều, biết thầy bệnh nặng, chúng tôi đến thăm, thấy thầy nằm cù co trên võng, dưới những tán cây đã có nhiều lá chuyển vàng rơi rụng, hoa nắng soi lốm đốm, chập chờn như chiếc võng hoa màu thổ cẩm, được cột vắt ngang qua hai thân cây gầy ốm, như muốn níu lại, muốn nối liền quá khứ với hiện tại, mai sau... Không hiểu linh tính thế nào, tôi đớn đau như người thất thần, lặng lẽ làm thơ kính dâng thầy:
Em đến thăm thầy ngày sắp vãn
Cành cây khô rơi võng thân gầy
Say tỉnh - tỉnh say người chẳng hiểu
Một đời hoa mộng hãy còn đây
Hôm nay, nhân dịp xuân về, tết đến, với lòng thành kính tôi viết bài này, nén tâm nhang, kính dâng thầy, cố thi sĩ Bùi Giáng, đã về cõi vĩnh hằng. Hình ảnh, tình cảm, sự nghiệp văn chương của thầy mãi còn thấm đượm yêu thương, với người đời, với bà con đất lành Duy Xuyên, Quảng Nam quê hương “địa linh nhân kiệt”. Và như thầy đã dự đoán: “Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại”. Chắc thầy đã yên lòng, vì: “Tôi đã gởi hồn tôi biết mấy bận/ Cho mây xa cho tơ liễu ở gần/ Tôi đã đặt trong bàn tay vạn vật/ Quả tim mình nóng bỏng những chờ mong” (Phụng hiến).
Thầy tôi, cố thi sĩ Bùi Giáng “chờ mong” gì khi đã nặng lòng: “Trần gian hỡi, tôi đã về đây sống”, đã “Tiếc thương trần gian mãi mãi”, đã “Tự nguyện sẽ một lòng chung thủy”, đã “Nguyện yêu trần gian nguyên vẹn”... Nhưng cũng đã có khi thầy nghĩ tới: “Nhưng em hỡi, trần gian ơi ta biết/ Sẽ rời xa vĩnh biệt với người thôi”. Vĩnh biệt trần gian, vĩnh biệt quê nhà, chắc bây giờ từ cõi cát bụi, thầy đang: “Tôi ngồi ngẫm nghĩ người xưa/ Đã từng bắt gặp nắng mưa phi thường/ Tôi đi tôi đứng dặm trường/ Tìm thơ bất chợt trên đường thấy hoa” (Không đề).
 Sơn Thu
Theo http://vanhocnghethuat.quangnam.gov.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...