Vi lững thững bước xuống vườn dâu tây nhà mợ Thao. Nhìn những
cụm dâu tây tròn trĩnh, xinh xắn, nằm thành từng luống dài, lấp ló sau cụm lá
xanh đậm là những quả dâu chín cuối mùa, đỏ mọng, Vi bỗng nhớ đến thửa ruộng
dưa leo nhà mình. Những luống dưa xanh mướt, trải dài với những quả dưa leo mập
mạp nấp trong lùm lá. Ba mươi Tết năm ngoái, cả nhà Vi phải lóc cóc đánh xe bò
ra ruộng hái dưa.
Ba vừa lom khom hái vừa kể chuyện làm mấy mẹ con cười đau cả
ruột. Vi phải công nhận ba thiệt là hay, nhiều lúc bắt chị em Vi đi “lao động”
nhưng cứ làm cho ba đứa tưởng như đang đi dã ngoại không bằng. Những buổi dã
ngoại thường xuyên của con nhà nông. Sáng sớm, đánh bò vào xe xong ba gọi:
– Có “đồng chí” nào muốn đi bắt dế với ba không?
Cả ba đứa tung mùng nhảy xuống giường, và thường bao giờ cũng
có một đứa phải ở nhà coi nhà cho mẹ đi chợ, rồi trưa đưa cơm qua ruộng cho ba.
Mà “đi bắt dế với ba” không có nghĩa là chỉ bắt dế. Trước tiên phải hoàn thành
công việc, Giang dắt bò đi chăn, Vi trỉa đậu với ba. Ba cuốc từng luống đất nhỏ,
Vi đi sau thả một hai hạt đậu giống tròn căng, múp míp rồi lấy chân lấp lại.
Xong công việc, ba sẽ kể chuyện, chuyện hồi nhỏ, chuyện Alibala, chuyện Xinbat…
Như công chúa trong “Nghìn lẻ một đêm”, mỗi ngày ba chỉ kể một chút. Bởi vậy mà
dù mồ hôi, mồ kê nhễ nhại nhưng chẳng đứa nào than van. Ăn cơm trưa rồi mới đến
tiết mục bắt dế. Bốn cha con lui cui lật từng hòn đất xám bên bờ ruộng tìm hang
dế. Dế cồ than đen bóng, dế cồ lửa nhìn rất oai hùng với bộ cánh màu đồng nung,
ba bắt được con nào bỏ vô lon sữa bò cho Giang cầm, thêm một ít đất, thêm ít lá
khoai lang. Mà nhớ mỗi con phải một lon riêng, cho ở chung là “quân mình đá
quân ta” gãy giò hồi nào không hay liền.
Duân thường hay dặn dò, ra vẻ ta đây là dân chơi dế chuyên
nghiệp lắm:
– Đừng bắt dế mái nghen ba, chỉ tổ cho nó ăn chớ đá không được
gì hết trơn.
– Ai nói đá không được, thử cho nó ngửi chút rượu coi, xỉn xỉn
rồi nó đá te tua tơi tả luôn cho mà coi.
Nhưng mà lo gì, ba kinh nghiệm đầy mình, bắt toàn dế chiến, đầu
ra đầu, râu ra râu, chân cẳng ra chân cẳng. Duân cũng bắt được vài con, không
hiểu sao chỉ toàn là dế mái. Nó cười hí hí:
– Cũng được, đem về cho bà chị nuôi.
Bà chị chính là Vi, Vi đâu thèm chơi đá dế. Giang, Duân cho
con nào thì bỏ vào hộp nâng nIU con đó. Có những con dế “thương binh” gãy chân,
gãy gọng, Giang, Duân cũng đem gởi bà chị chăm sóc. Và khi chuẩn bị đá dế, hai
đứa bao giờ cũng khúc khích kêu bà chị ra, xin vài sợi tóc để cột vào cổ dế,
quay vù vù cho nó hăng lên.
Ba mươi Tết, rau củ ngoài chợ hoặc là đắt khủng khiếp hoặc là
rẻ như bèo. Năm đó nhà Vi gặp may, bốn bao lớn dưa leo bán hết vèo. Có nhiều
người nhận ra mẹ là cô giáo nên xúm lại hỏi thăm và mua giúp. Bán được dưa, mẹ
mua một ít bánh mứt và áo mới cho mấy chị em, Vi nhớ hoài sáng mồng một năm đó
ba chị em hí hửng mặc ba cái áo in hình chú chuột Mickey giống y chang nhau,
tung tẩy đi chơi.
Nhưng năm nay thì có lẽ không được như thế. Tháng mười một vừa
rồi có bão, mưa dầm suốt đêm. Nhà Vi có một thửa ruộng lớn trồng lúa nếp, mỗi
ngày Vi lại theo ba ra ruộng, ngắm nghía đám lúa mơn mởn lớn lên từng ngày. Rồi
bão, rồi mưa, sầm sập như muốn làm sụp cả mái tôn, ba sợ bể bờ nên hai giờ sáng
xách đèn pin ra ruộng. Tờ mờ sáng, Vi nghe mẹ sụt sịt dưới bếp. Ba ngồi gục đầu
bên bàn ăn, tóc tai ướt đẫm. Có hai thửa ruộng ở bên bờ mương, khi nước lên,
người chủ của thửa ruộng bên kia đã cuốc đất bờ nhà Vi để đắp lên bờ nhà mình.
Cả nhà chạy ra ruộng, thẫn thờ nhìn đám lúa bị nước và cát tràn vào dập tơi tả.
Mặt ba nhăn lại, mắt mẹ đỏ hoe, còn mấy chị em thì ngây thơ bới cát, cố vực dậy
từng thân lúa xanh dập nát. Giang uất quá đòi chạy qua phá bờ người ta, ba lắc
đầu:
– Mình không thể làm giống như người ta được. Với lại, có làm
gì cũng không cứu được đám lúa nhà mình nữa rồi.
Vi oà khóc, không hiểu sao người ta có thể đối xử với nhau
tàn nhẫn như vậy, không hiểu sao cuộc sống đau đớn vậy. Những người kia phải
đào bờ nhà Vi để cứu lúa nhà mình. Khi mà cả hai gia đình đều khốn khổ như
nhau, cả hai gia đình đều sống nhờ vào mảnh ruộng này. Thế là hết, hết bánh
chưng, hết quần áo đẹp. Tết năm nay sẽ buồn. Vậy mà Vi còn bỏ nhà đi.
Đêm ba mươi Đà Lạt lạnh như cắt vào da thịt. Ngồi thui thủi một
góc phòng khách sáng choang, nghe mọi người nói chuyện, Vi nhận ra ngay là mình
đang ở giữa một gia đình lạ. Mọi người rất vui, thỉnh thoảng khen Vi lớn mau thật,
xinh gái thật, rồi hỏi Tết lên Đà Lạt Vi muốn đi đâu chơi. Hỏi qua loa vài câu,
qua loa nghe Vi trả lời để nhanh chóng quay lại câu chuyện của mình, về mùa
màng, về những người trong gia đình. Vi không dám khóc nhưng nước mắt sắp trào
ra đến nơi, thấy buồn và nhớ nhà khủng khiếp.
Nó nhớ gian phòng nhỏ xíu mà ấm cúng ở nhà mình. Mái tôn,
vách ván, mùa hè thì nóng như nung, mùa mưa thì gió thốc vào rét mướt. Chỉ có
những ngày Tết Nguyên đán là thích nhất. Ngoài trời thì hơi se se, còn trong
nhà thì ấm áp vô cùng.
Vi tưởng tượng ra gia đình mình. Gian phòng khách nhỏ, bộ bàn
ghế màu nâu cũ, cành mai của Giang, Duân cắm trong cái bình “gia bảo” thật đẹp.
Và hương nhang thơm lừng từ bàn thờ ông bà ngoại. Mẹ đang nấu cháo gà. Ba và
Giang, Duân chắc đang ngồi chơi lô tô, thỉnh thoảng lại nghếch mũi hít hà mùi
cháo thơm bay lên từ dưới bếp.Vi thấy mắt mình cay cay.
Có tiếng chuông điện thoại reng, cậu vẫy:
– Mẹ gọi điện nè Vi!
Vi chộp lấy điện thoại:
– Vi hả con? Ba nói mẹ phải ra bưu điện gọi lên hỏi thăm con
ra sao rồi? Vui không con?
– Dạ… cũng vui.
– Nghe cậu nói Đà Lạt lạnh hả con?
– Dạ.
– Ra phố nhớ mặt áo ấm và quàng khăn.
– Dạ.
– Giang, Duân nhớ con lắm, ba mẹ cũng vậy. Vi à, không có con
giao thừa ở nhà buồn quá.
Nước mắt Vi trào ra, nghe loáng thoáng mẹ gửi lời thăm gia
đình mợ Thao, lắp bắp thêm vài câu, rồi đặt ống nghe xuống. Nó phải cố gồng
mình lên để không oà khóc trước mặt mọi người và xin cậu ra phố, cậu cười:
– Ừ, đi đi, xem giao thừa Đà Lạt ra sao?
Phố thênh thang, ánh đèn vàng vọt uốn mình thành những dải lụa
mỏng trôi lãng đãng trong sương. Thiên hạ xuống phố cũng đông vui lắm, đi bộ
trên dốc Hoà Bình và chạy xe xung quanh bờ hồ. Có lẽ Khôi cũng đang trôi theo
dòng người đó, với cô bạn gái má hồng khoác chiếc áo trắng thật xinh. Vi bỗng
dưng thấy mình như lạc vào một thế giới khác, bị bỏ rơi trên một hành tinh
khác. Lúc này mọi người đang lang thang ngoài phố như Vi, nhưng chỉ một lát sau
thôi họ sẽ về nhà, bên ông bà, ba mẹ, anh chị em. Chỉ riêng Vi là có cảm giác
không biết mình đi đâu. Đà Lạt trở nên xa lạ và đáng ghét giống như Khôi vậy.
Đêm giao thừa, Đà Lạt lạnh ngắt, cái lạnh ngọt và sắc như lưỡi
dao bén mới mài. Càng về khuya, gió ngoài phố càng thốc vào cổ áo rét buốt. Những
giọt nước mắt ấm nóng chưa kịp chảy đến cằm thì đã hoá lạnh. Gió xoa vào hai má
Vi tê cứng. 16 tuổi, lần đầu tiên Vi lang thang giữa một nơi xa lạ vào lúc giao
thừa, cảm nhận trọn vẹn sự lạc lõng và cô đơn, mạnh mẽ hơn cả cái lạnh của Đà Lạt
lúc nửa đêm. Nghĩ đến ba, mẹ, Giang Duân, Vi thấy mình sao ngốc nghếch quá đỗi.
Chừa rồi nghen Vi. Chừa cái tật ham vui, không chịu nghe lời. Ba đã nói ở nhà
người ta vào đêm giao thừa là buồn lắm.
Có tiếng chuông nhà thờ đổ vang vang trong gió. Giao thừa rồi,
Đà Lạt lạnh quá, Vi ơi!
Lớp mười hai
Quân nể Nhi, vì dù sao Nhi cũng là lớp trưởng từ hồi lớp mười.
Nhi không học giỏi nhất. Không xinh đẹp nhất. Nhi còn hơi đanh đá nữa. Nhưng mọi
chuyện vào tay Nhi đều trở nên suôn sẻ kỳ lạ. Quân nghĩ là mình để ý Nhi.
Tất nhiên ở đây không có chuyện lãng mạn như “chàng lớp trưởng
và nàng lớp phó”. Vì lớp trưởng là Nhi còn lớp phó học tập là Quân. Giang sơn
cũng khác. Quân học lớp Lý, còn Nhi học lớp Văn.
Lớp Lý chơi thân với lớp Văn chẳng phải do hợp ý nhau mà là
do “duyên nợ”. Khối mười hai có bốn lớp chuyên. Lớp Toán rất cá tính, lớp Anh rất
điệu đàng. Lớp Lý hơi cù lần, còn lớp Văn đích thị là những bà cụ non nhiều
chuyện và đanh đá mà Nhi là một ví dụ điển hình. Lịch sử qui định vậy rồi.
Để cân bằng sinh thái thì một lớp toàn con trai phải có một
buổi học chung với một lớp toàn con gái cho đỡ chán. Lý và Văn chung nhau môn
ngoại ngữ. Toán và Anh chung nhau môn văn. Bởi duyên nợ và bởi ông bà xưa nói nồi
nào úp vung nấy nên lớp Lý phải gắn bó với lớp Văn thôi.
Hôm kỷ niệm mười năm thành lập, trường tổ chức cắm trại trên
bãi dương cạnh bờ biển và kết hợp thi văn nghệ. Lớp Lý không có nhân tài ca hát
nên Quân chưa biết tham gia bằng tiết mục gì. May quá, Nhi đĩnh đạc sang gặp
Quân để cứu bồ:
– Lớp tui có kịch bản rồi nhưng thiếu diễn viên, tui muốn mượn
một người bên lớp ông.
– Kịch gì?
– Bí mật, ông đừng lo. Hát thì tui dở nhưng dựng kịch tui có
khiếu lắm à…
Quân ngẫm nghĩ. Phải kiếm thằng nào ra dáng một chút, dù gì
cũng là đại diên của lớp.
– Ninh được không? Nó đẹp trai nhất lớp tui.
– Không được. Nó không hợp vai – Nhi dứt khoát – Tui thích thằng
Hoàng hơn.
– Trời, cái thằng gầy tom mà còn ẻo lả nữa.
– Nhưng tui thấy nó tiềm tàng khả năng diễn xuất. Ông yên tâm
đi.
Thế là mỗi ngày, hết tiết sáu, những kịch sĩ và đạo diễn của
lớp Văn kéo theo thằng Hoàng lên khu nội trú tập kịch. Bí mật hết sức. Giống
như tụi nó đang chuyển thể “Điệp vụ bất khả thi” sang kịch nói không bằng.
Tối hôm diễn, thiếu điều Quân muốn té xỉu khi nhìn thấy thằng
Hoàng diện váy dài, độn bong bóng hai bên ngực, đội tóc giả thắt bím, đóng vai
một cô gái õng ẹo đỏng đảnh đi coi bói chuyện tình duyên. Lão thầy bói ranh ma
gắn râu đen đeo mắt kính đen đích thị là Nhi. Ban giám khảo cười nghiêng ngả,
đám lớp Toán thích chí gõ xoong chảo rầm trời, còn lớp Lý đứa nào đứa nấy cứ ôm
bụng bò lăn bò càng ra đất mà cười.
Quân phải công nhận Nhi dựng kich và đóng kịch có duyên hết
biết. Nhưng tác phẩm “vĩ đại” của lớp 12V – 12L chỉ đạt giải ba, đúng giá năm
chục ngàn, đủ cho Nhi đãi hai lớp một chầu ốc luộc. Thằng Hoàng tí ta tí tởn ra
mặt với các danh hiệu “đệ nhất danh hài” mà mấy lớp đàn em đặt cho nó, muốn tỏ
vẻ ta đây là nghệ sĩ chân chính, vừa ăn vừa cấm cẳn:
– Hài kịch dù xuất sắc vẫn không được xem trọng bằng chính kịch
tầm thường… Thật không công bằng.
Quân vừa tức cười vừa bực mình, hỏi:
– Sao mày không kể chuyện mày đóng vai con gái. Việc gì phải
giấu như mèo giấu cứt vậy.
– Bà Nhi nói tao mà hé ra bả cắt lưỡi liền – vừa liếc Nhi nó
vừa nói nhỏ với Quân – Nhưng mà cũng phải công nhận nhỏ Nhi có mắt xanh thiệt
nghen mày. Nó kêu tao giống Thành Lộc. Bây giờ tao mới thấy là cũng… giống thiệt.
Hết mấy trò chơi tập thể, lớp Lý ầm ĩ kéo sang trại lớp Văn
ăn ké món chè khuya. Ngoảnh đi ngoảnh lại, không thấy Nhi đâu, Quân tìm quanh
quẩn, thấy Nhi ngồi bó gối trên bãi cát ngắm sao.
– Sao bà không lo dọn dẹp với tụi nó, ỷ thế lớp trưởng hả?
– Trời! Có hai chục cái ly, mười ba cái chén, bốn cái nồi,
hai cái tô, năm cái đĩa mà tới chín người phụ nữ đảm đang giành nhau rửa kìa,
tui nhào vô làm tụi nó mới ý kiến á. Tui chán quá. Kêu thi nấu ăn không ai chịu
đi, thi cắm hoa cũng không, vậy mà có mặt lớp ông, bà nào cũng muốn giành chức
“phụ nữ đảm đang” hết trơn…
Quân phì cười, khẽ khàng ngồi xuống cạnh Nhi. Đêm ở biển bình
yên. Chỉ có tiếng sóng rì rầm và sao trời. Nhi chợt nói nhỏ:
– Sao tui thấy nhớ bà ngoại quá. Nhà ngoại tui cũng kề biển vậy
nè. Nhưng biển không đẹp bằng, chiều tối nào bà tui cũng phải đi cào ốc. Ông
không biết đâu. Tui lớn lên rồi đi học đến bây giờ cũng nhờ mấy con ốc của ngoại.
Quay sang nhìn thấy mắt Nhi long lanh, nhưng Quân chỉ biết lặng
thinh. Có lần nghe thầy Tuấn hiệu phó nói hoàn cảnh của Nhi rất buồn. Bố mẹ và
đứa em trai mới sinh đã mất vì tai nạn cách đây mười năm. Nhi sống với ông bà
ngoại, rồi ông Nhi mất vì ung thư gan. Khó khăn, nhưng Nhi có chí và học chăm lắm.
Tốt nghiệp cấp II thủ khoa, giải nhì môn Văn quốc gia, được tuyển thẳng vô trường
chuyên của tỉnh, vậy mà thầy cô và bà ngoại phải động viên dữ lắm Nhi mới chịu
lên tỉnh học, vì sợ để ngoại ở nhà một mình. Mấy đứa ở cùng phòng nội trú của
Nhi kể, mỗi buổi sáng, Nhi ăn đúng nửa ổ bánh mì, tiền học bổng ngoài đóng tiền
ăn thì gửi về cho ngoại hết chứ không mua sắm gì, và luôn cười tíu tít như người
hạnh phúc nhất trên đời. Ít khi Nhi thơ thẩn như bây giờ. Tự nhiên Quân thấy
thương Nhi lạ.
– Mấy đứa lớp ông đâu hết rồi?
– Tụi nó đang bắt còng ngoài kia kìa.
– Mình ra đó đi. Tui cũng thích bắt còng lắm.
Nhi đứng lên, chạy về phía biển, nơi những ánh đèn pin của bọn
thằng Nam, thằng Ninh đang dò đếm từng bước trên bãi cát. Quân đi theo, chầm chậm,
nhìn dáng Nhi chạy nghiêng nghiêng trên cát, tóc tung bay, dịu dàng và đơn độc
làm sao.
Thi tốt nghiệp xong, hai lớp tổ chức liên hoan ngay trên khoảng
sân xi măng trước khu nội trú, bên hông trường. Dốc hết quỹ lớp và học bổng
tháng cuối cùng, tiệc chia tay có đủ nem nướng, bia hơi. Dù sao cũng là đêm cuối,
chiều mai đã bắt đầu có đứa vào Sài Gòn luyện thi rồi.
Uống không quen nên chẳng mấy chốc đầu óc đứa nào cũng lâng
lâng. Thằng Hoàng lăn ra nền ngủ tít thò lò. Mấy đứa lớp Lý chuồn lên phòng học.
Còn lại thầy Cường, quản lý khu nội trú và dăm ba đứa “chì” nhất, trong đó có
Nhi và Quân.
Thầy Cường hơi gật gù, nắm chặt tay Quân:
– Mai mốt mấy em đi rồi. Thầy nhớ tụi bây lắm. Thầy dặn, hôm
nay uống cho vui thôi chứ vô Sài Gòn rồi đừng có nhậu nhẹt. Thầy nghe nhiều người
nói sinh viên bây giờ nhiều đứa bê tha dữ lắm. Tương lai trong tay mình. Giống
như xây nhà, xây lên cũng mình mà đập đi cũng mình thôi. Nhớ trân trọng tương
lai để dăm ba năm sau về đây cho thầy nở mày nở mặt, nghe chưa?
Quân dạ. Rồi im lặng quay sang nhìn Nhi và bọn thằng Ninh
đang hát, giọng lào khào vì bia và la hét quá nhiều. “Về đây đứng bên máy trường
xưa, thấy như mình trôi trong ngày cũ, bồi hồi nhớ tiếng nói thầy cô, thoáng
trong lòng, một nỗi buồn qua”. Mặt Nhi đỏ bừng lên dưới ánh lửa, mắt Nhi long
lanh. Chưa bao giờ Quân thấy Nhi đẹp và thân thiết như bây giờ.
Đột nhiên, Nhi đứng dậy rồi đến ngồi cạnh Quân:
– Nè, nói thiệt đi, ông để ý ai trong lớp tui phải không, sao
chiều giờ thấy ông thẫn thờ vậy?
– Ừ.
– Trời đất, tui đoán tầm bậy tầm bạ mà trúng tùm lum tà la
nghen. Ai vậy? Nói đi tui giúp đỡ cho.
Quân hít một hơi thật sâu.
– Bà chớ ai.
– Cái gì???- Nhi trợn mắt.
Lỡ đâm lao rồi, Quân phải theo lao luôn:
– Đúng ra, tui để ý Nhi lâu rồi, từ hồi Nhi mới vô trường. Mới
đầu tui thấy Nhi ít nói, dễ thương. Ai dè Nhi làm lớp trưởng, hay nạt nộ, hay
trợn mắt nên sau đó tui thấy Nhi… hết dễ thương. Bây giờ, tui lại thấy Nhi dễ
thương…
Nhi im lìm, mắt đăm đăm nhìn về mấy đứa con trai lớp Lý đang
hát om sòm chẳng thèm để ý gì đến hai thủ lĩnh đang thì thầm với nhau bên cạnh
đống lửa, mặt đầy căng thẳng.
– Nhi thấy sao? Quân đánh bạo.
– Tui hả? Tui thấy… nói chung lớp Lý cũng dễ thương. Tui thấy…
nói chung… ông cũng dễ thương. Umh… Có gì mai tui trả lời ông nghen.
Nhi cười. Lửa nhảy nhót trong đôi mắt. Rồi Nhi quay sang nhìn
đám bạn, cao giọng hát “Ai mang đến gần trời lưu luyến. Mà cứ yêu thương nhau
hoài. Bao nhiêu kỷ niệm qua ngày tháng, sao không lúc nào nhạt phai”.
Sáng sớm, Quân lò dò xuống sân đã thấy Nhi ngồi bên hồ cá nhỏ
cạnh phòng để xe của khu nội trú, tay cầm cuốn sách lịch sử. Tóc Nhi mới gội,
xõa ra, bóng mướt và đen nhánh. Trông dịu dàng lạ. Nghe tiếng chân, Nhi ngẩng
lên, cười, Quân ngượng nghịu:
– Hồi tối say quá.
– Ừ.
– Tụi Quân phải về phòng thầy Cường ngủ.
– Vậy hả?- Nhi vẫn chúi đầu vào sách, chân đong đưa, miệng
nhóp nhép, tay chìa miếng bánh mì ra mời Quân.
– Nhi. Chuyện hồi tối…
– Chuyện gì? Nhi ngẩng lên, tỉnh queo.
– Chuyện… Quân nói… Nhi không nhớ thiệt hả?
– Hình như không… Nhưng mà chuyện gì?
Trời! Làm gì có buổi liên hoan chia tay lần thứ hai để Quân
có cơ hội nói lại. Bây giờ giữa thanh thiên bạch nhật, mắt Nhi lại tỉnh queo
như vầy, có cho vàng Quân cũng không dám nói.
– Ờ… Bà viết lưu bút tui nghen?
Quân rút quyển sổ tay ra, lòng thấy đau đớn khôn tả:
– Nhi à?
– Gì?
– Bà là người cuối cùng. Viết nhiều nhiều nghen.
– Vậy tui giữ luôn, thi đại học xong tui trả hén. Có khi lúc
đó mới có nhiều chuyện để viết. Chịu không?
Nhi cười tươi rói, mắt lấp lánh. Quân thấy hoang mang quá. Có
thật là Nhi không nhớ hôm qua Quân nói gì không ta?
Những chuyện vặt vãnh
Căn nhà thuê triệu rưỡi một tháng, chỉ có bốn người ở. Gia
đình cậu mợ khá giả nên thuê nguyên căn nhà đầy đủ tiện nghi này cho Huy trọ học.
Hai chị em Giang và chú Khôi- một ông chú họ hai mươi sáu tuổi thất nghiệp- thuộc
dạng ở ké, cốt chỉ để trông nom, dọn dẹp nhà cửa và coi sóc giùm quý tử của cậu
mợ…
Sáng, Giang lên lớp, trưa ghé chợ rồi chạy vội về nấu cơm,
chiều lại cuống cuồng đi học. Cơm nước, chợ búa, giặt giũ mỗi ngày, Giang thấy
mình như một bà nội trợ đảm đang, phục vụ một lúc đến ba ông trời con vô tích sự.
Ở ké như thế này, hai chị em Giang tiết kiệm được khoản tiền nhà không nhỏ.
Nhưng mỗi lần về đến nhà là Giang lại bực phát điên lên khi thấy ba ông tướng nằm
dài thượt ra xem tivi, nhà cửa bộn bề nào áo quần, sách vở, báo chí, và đĩa CD
của Huy..
Huy đang học năm thứ hai khoa tin học trường dân lập, cao mét
tám, dáng thể thao lực lưỡng, nhưng tính khí vô lo như một đứa con nít, suốt
ngày chỉ ôm cái vi tính chơi game từ sáng đến tối. Cậu cung cấp tiền một tháng
hai triệu, mợ lâu lâu lại dấm dúi một ít, ngoài tiền ăn, tiền nhà đưa riêng cho
Giang. Chẳng bao giờ Giang thấy Huy học, chỉ thấy mua hàng đống đĩa CD ca nhạc
và game về chất đầy bàn, vứt lung tung quanh nhà. Huy thi rớt cả chục môn, cứ tỉnh
rụi đóng tiền thi lại. Khi ở nhà thì dửng dưng với mọi chuyện, chỉ dán người
vào máy vi tính và đến kỳ thi lại nhờ chú Khôi dạy cho vài chiêu “quay cóp”.
Chú Khôi đóng vai trò sư phụ một cách nhiệt tình, bao nhiêu bí kíp thời sinh
viên đem truyền thụ hết. Giang nghe, khó chịu ra mặt, lâu lâu lại xen vô một
câu. Bây giờ ra đời chỉ có kiến thức thật mới mong đua tranh với người ta, chứ
quay bài để lấy điểm cao, tốt nghiệp khá giỏi mà dốt thì cũng thất nghiệp thôi.
Nói vậy, chú Khôi cũng chẳng chạnh lòng.
Chú Khôi tốt nghiệp ĐH ngoại ngữ tại chức, học thêm một năm
nghiệp vụ xuất nhập khẩu. Rồi lang bang hoài không xin được việc. Lâu lâu lại gửi
email qua cho bà chị bên Mỹ, báo cáo là tháng sau em đi làm và xin chị ít tiền
xài cho tới lúc đó, mà “tháng sau” của chú Khôi thì đợi đến dài cả cổ cũng
không thấy tới. Chú Khôi bảo, lương không trên hai triệu một tháng thì nhất định
không làm. Giang cãi, người xin việc lúc nào cũng đầy ra đó, khối người giỏi
hơn mình. Học chừng đó, năng lực chừng đó mà đòi lương khởi điểm cho cao. Cứ tưởng
chỉ mình mình khôn còn thiên hạ ngu hết chắc. Nói dữ vậy, chú Khôi cũng chẳng
giận. Tạm thời cứ bơ bơ sống nhờ vào mấy “em”, nhờ vào cái vẻ điển trai, có
duyên ăn nói, theo như lời chú Khôi là “tán em nào chết em đó”.
Hiện giờ chú Khôi đang quen một cô bé nhỏ hơn Giang hai tuổi,
bán hàng ở một showroom vải cách nhà trọ một đoạn, mũm mĩm như búp bê. Tuần hai
lần chú Khôi không ngủ ở nhà. Giang hỏi thì cười nham nhở:”Thuê phòng!”. Giang
nhăn mặt, nhìn cô bé ngoan vậy. Vào tay ông này như trứng vào tay ác. Từ hồi
Giang học năm một cho đến giờ, bao nhiêu cô gái qua tay chú Khôi, Giang biết hết.
Cô nào cũng khờ khạo tin đến bán mạng, khi chia tay thì lại tìm tới nhà khóc
nghêu khóc ngao…
Chú Khôi hay kể chuyện về Công, vừa là bạn nhậu vừa là “chủ nợ”,
đang học Ngoại thương. Công theo đuổi cô hoa khôi của lớp. Ban đầu gia đình cô
gái thấy Công dân tỉnh, ở trọ chứ không ngờ nhà Công giàu có tiếng nên phản đối
kịch liệt. Năm sau Công mua một căn nhà hai tầng, rộng thênh thang ở Tân Bình,
sống một mình, cả nhà cô gái quay lại o bế. Bây giờ, Công thậm chí còn dám rủ
“ông già vợ” đi nhậu. Có khi còn kéo bạn bè qua bắt “bà già vợ” nấu nướng nhậu
nhẹt nữa. Chú Khôi kết luận, đồng tiền có uy lực riêng của nó. Nó có thể làm
thay đổi thái độ của người ta đối với mình, thấy chưa?
Huy vậy, chú Khôi vậy, Giang cứ lo em mình ảnh hưởng, ham
chơi mà bỏ bê chuyện học hành. Lâm rớt đại học năm ngoái, ở lại Sài Gòn luyện
thi. Tính lầm lì từ bé, hỏi ba câu mới trả lời một câu. Từ khi thi rớt, không
ai trách móc gì nhưng nó càng lầm lì tợn. Lúc nhỏ, suốt ngày nó lê la ngoài đồng
bắt dế, bẫy giông nên da đen bóng, tóc cháy vàng, nhìn rặt vẻ dân quê chính hiệu.
Vào Sài Gòn chưa đầy năm, Lâm đã theo chú Khôi nhậu như hũ
chìm. Giang không cách gì ngăn được. La lối, năn nỉ, nặng nhẹ hôm trước hôm sau
lại như cũ. Lúc say thì nói cũng bằng thừa. Lúc tỉnh, nó lại im thin thít, lặng
lẽ đến trường, lặng lẽ ăn cơm, lặng lẽ ngồi vào bàn học bài, và lặng lẽ biến mất
đến khuya lắc khuya lơ mới về. Hôm nào cũng say, để nguyên giày dép, nai nịt,
quần áo sặc mùi men, nằm vắt người ngang qua giường ngủ luôn đến sáng. Thà nó ồn
ào, Giang còn dễ xử. Đây nó cứ im im, chẳng tâm sự, chẳng kể chuyện. Giang chẳng
biết nó buồn hay vui, mà cũng chẳng rảnh rang gì để hỏi han. Ba mẹ quanh năm chỉ
lo việc ruộng vườn, nhà có hai chị em, bây giờ cả hai đều vào Sài Gòn, việc
chăm nom dạy dỗ Lâm coi như khoán trắng cho Giang. Bạn bè nó ở trường Giang
không kiểm soát được, đêm nằm gác tay lên trán cứ thấy lo đến sốt cả ruột. Thậm
chí còn thấy đau đớn vì thằng em trai càng ngày càng rời xa vòng tay của mình,
muốn bảo vệ cũng chẳng biết làm cách nào để bảo vệ.
Tối thứ bảy, chú Khôi diện quần áo phẳng phiu, tóc vuốt gel
bóng loáng, đi từ sớm. Huy vẫn dán dính người bên máy vi tính, đầu lắc lư theo
từng tiếng ình chéo của trò chơi điện tử. Lâm lại đi đâu từ chiều. Dạo trước,
Lâm để ý cô bé xinh xinh có cặp mắt tròn như hạt nhãn ở tiệm uốn tóc bên cạnh,
nên thỉnh thoảng anh chàng lại ra trước cửa ngồi nhìn mông lung. Ý Giang không
thích, vì cô bé xinh thật, nhưng có vẻ “sành điệu” lắm. Có lần Giang lân la hỏi
thì Lâm lừ lừ mắt: “Làm gì có chuyện đó.” Nhưng chú Khôi nói cho Giang biết,
hai đứa cũng đi uống cà phê với nhau vài lần, trong đó hai lần có mặt chú Khôi.
Ban đầu cô bé cũng có vẻ thích Lâm. Nhưng chỉ tháng sau, đã thấy khép nép ngồi
bên cạnh một anh chàng khác, trông cao ráo, bảnh bao và giàu có, tuần sau, lại
thấy tóc nhuộm lơ thơ mấy sợi tím xanh, trông xinh và hấp dẫn hơn, quần lửng áo
sát cánh, cái điện thoại di động màu đỏ dắt sau túi quần, chiều chiều lại cười
cười nhí nhảnh leo lên xe anh chàng bảnh bao đi mất….
Lâm thất tình, hay đi uống say và về khật khưỡng. Giang bực
mình, nghĩ bụng là chẳng đáng để phải như vậy, không đáng chút nào. Ba cái chuyện
vớ vẩn đó. Cũng giống như chuyện với Phong và Vi trước đây, Giang thấy cũng chẳng
đáng, nên không thèm giải thích gì với Vi cả.
Năm thứ hai đại học, Giang chơi thân với Vi lắm, mặc dù hai đứa
cứ như hai thái cực. Giang ít nói, Vi huyên thuyên. Vi tóc dài, Giang tóc ngắn.
Giang lành lạnh còn Vi lúc nào cũng cười khoe chiếc răng khểnh thật duyên.
Phong cùng quê với Vi, học trên Giang một lớp, đẹp trai kiểu công tử, trắng trẻo
và yếu đuối. Vi thích Phong, còn Phong thích Giang, kiểu tình cảm lòng vòng, giấu
giấu diếm diếm. Cho đến hôm Vi rủ rê cả bọn về Hà Tiên.
Chiều đó, Vi thuê xe ôm chạy về thăm nhà ở gần Hòn Chông,
cách Hà Tiên chừng 20 cây số, để Giang và Phong ở lại thị xã.
Phong dắt Giang đi chơi, ngang một ngôi chùa thấp lè tè, bé
tí xíu. Phong kể chuyện bà ái thiếp của Mạc Thiên Tích bị vợ cả ghen nhốt vào
lu suýt chết, được Mạc Thiên Tích cứu nhưng chán đời tu ở chùa Phù Dung.
– Giang có coi “Áo cưới trước cổng chùa” không? Chùa này ở
trong vở đó…
Rồi hai đứa đến cửa khẩu Xà Xía, anh bảo vệ giơ batoong ngăn
lại. Phong chỉ tay qua phía bên kia cửa khẩu, giới thiệu với giọng điệu của một
hướng dẫn viên du lịch đang đứng trước Vạn lý trường thành:
– Bên đó là Campuchia đó, thấy không?
Giang chỉ thấy chán chán, mong cho Vi mau trở lại, rồi về.
Dân Hà Tiên phơi tôm khô ngoài đường, bụi thốc mù mịt. Không khí sặc mùi tôm ẩm.
Hà Tiên như nước lợ, chẳng ngọt chẳng mặn. Nhàn nhạt giống y như Phong…
Lúc hai đứa ngồi ăn ghẹ luộc ở mũi Nai, Phong hỏi:
– Rượu nhé?
– Ừ, thì rượu.
Phong cho Giang uống một thứ rượu gì đó của Campuchia pha với
Bò húc. “Dân ở đây uống vậy”. Ừ, thì uống. Ngọt ngọt, đằm đằm. Nhưng say. Về
khách sạn, Phong theo Giang vào phòng, ngả ngớn đưa tay choàng qua vai. Giang
trợn mắt gạt ra. Phong đứng thẳng, nói tha thiết như trong mấy bộ phim tình cảm
lãng mạn:
– Giang à, anh yêu em.
Giang chưa kịp phản ứng gì thì cũng giống như trong phim, Vi
đùng đùng đẩy cửa bước vào. Sau lần đó, Phong quê quê làm mặt lạnh. Vi mặt mũi
u ám giận luôn cả Giang. Từ Hà Tiên về, chẳng ai nói với ai câu nào.
Vậy mà đã hai năm rồi, Phong ra trường về Rạch Giá cưới vợ.
Vi cũng có người yêu, mặt mày lúc nào cũng hớn hở. Chỉ có điều gặp Giang vẫn cứ
lạnh lùng như người lạ.
Một giờ rưỡi sáng, Giang không để điện thoại kịp reo đến tiếng
thứ hai. Lâm bị tai nạn đang nằm ở bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Huy ngáy như
kéo gỗ, chú Khôi vắng nhà. Giang đành một mình dắt xe ra, tim đập thình thịch.
Đường khuya vắng và cô ghét bệnh viện.
Phòng cấp cứu không có giường nào trống. Y tá trực than phiền
là Lâm không bị gì nặng nhưng cứ nằm ì ra đó mà ngủ, trong khi không có giường
trống.
– Có một đứa bạn nữa, về rồi, cả hai đều uống rượu nên lạng
quạng đâm vào xe taxi, may mà không bị gì – cô y tá chép miệng – mới chừng đó
tuổi…
Giang nhìn quanh, thấy Lâm nằm thẳng băng ở cuối phòng, thân
hình xênh xang, tay chân trầy xước từng mảng đỏ lòm, may mà mặt mũi nguyên vẹn.
Giang vừa mừng, vừa giận, tim gan cứ sôi lên không nói được câu nào, lẳng lặng
chở em về. Ngồi sau xe, Lâm im lìm như đá, cái vẻ lầm lầm kiểu như biết rằng
mình có lỗi, nhưng lại nghĩ là có nói hay xin lỗi thì Giang cũng không tài nào
hiểu được nó. Mà có khi Giang không hiểu nó thật, những nỗi buồn của một thằng
con trai mới lớn, cả những vấn đề mà Giang cho là vặt vãnh.
Về đến nhà, Lâm lại nằm vật ra giường mà ngủ. Khi Giang mang
băng bông vào phòng, nhìn thấy Lâm với đôi môi mím chặt, hai đường lông mày
nhíu lại, giọt nước mắt đọng trên khóe mi, đang ngủ say sưa trong cái dáng vẻ
cay đắng hồn nhiên của một thằng con trai hai mươi tuổi vừa chạm ngõ đời. Đột
nhiên Giang thấy muốn khóc. Thế là cô ngồi xuống, và lặng lẽ khóc. Bây giờ
Giang mới tự hỏi, có phải chuyện gì mình cho là nhỏ thì đối với mọi người nó
cũng là chuyện nhỏ hay không?
Sáng sớm, chú Khôi về, thấy Giang gục đầu ngủ bên đi-văng, nước
mắt hoen vằn vện trên má. Còn Lâm thì ngồi bên cạnh nhìn chị, mắt cũng đỏ hoe.
Chú Khôi cười, mới đụng xe sơ sơ thôi, có gì đâu mà khóc. Chiều nay đi nhậu xả
xui nghen. Lâm lầm bầm: nhậu cái gì, Lâm thề từ nay không đụng tới giọt rượu
nào nữa.
Tạm biệt Rainy
Đó là một quán cà phê nhỏ nằm trong hẻm vắng, nhạc êm dịu, một
bụi trúc lơ phơ buồn bã nơi góc sân. Quán chỉ có năm cái bàn, hai mươi chiếc ghế,
nhưng chưa bao giờ đầy, có lẽ vì ông chủ quán lơ đãng luôn thích ngồi đọc sách
hơn là chăm chút khách.
Kiên vẫn bảo Rainy là một ví dụ thất bại về mặt kinh doanh.
Nhưng đó là nơi tôi thường đến, nó tĩnh lặng và gần nhà trọ.
Rainy.
Buổi hẹn hò thứ nhất.
Tôi chống cằm nghe Kiên kể về tuổi thơ và một thời bôn ba của
mình.
– Tôi lang thang từ năm 14 tuổi, làm đủ thứ việc, nhiều nhất
là thợ hồ, rồi học hàng hải, sau đó làm thủy thủ. Buôn lậu, em biết rồi… Năm 92
tôi gặp “tai nạn”. Thế là lên bờ, tôi tưởng mình hết đường, nhưng lại loay
hoay, rồi học quản trị kinh doanh, qua bốn chỗ làm trong ba năm, bây giờ làm
giám đốc tiếp thị cho công ty Y. Chỉ có công việc với công việc, nếu tính ngày
làm 8 tiếng thì có khi tôi làm 40 ngày một tháng. Đôi khi thật cô đơn….
Tôi nhìn khuôn mặt xương xương, rắn rỏi, đột nhiên nhận ra nụ
cười của Kiên quen thuộc lạ lùng, đến độ tôi muốn phát khóc lên. Anh mang lại
cho tôi cảm giác ấm áp, thứ cảm giác mà trước kia tôi chỉ có được từ ba.
Rainy.
Buổi hẹn hò thứ hai.
Tôi đố anh, cái gì mênh mông, sâu thẳm và dịu dàng.
Kiên lắc đầu. Chịu.
– Nó có màu đen. Tôi cố nài…
– À, cà phê.
– Không phải, nếu là cà phê thì em sẽ nói: đen và đắng. Cái
gì?
– Tóc em.
– Không – Tôi thất vọng- Đó là đêm.
– Ngớ ngẩn. Anh phì cười.
Tôi nói với anh rằng tôi rất nhớ những ngày đông Đà Lạt. khi
tôi ngồi bên thềm nhà vào buổi tối và nghe mùi đất tan trong mùi cần tây, mùi bắp
cải úng, mùi gió, mùi hương hoa hồng, mùi nhựa thông, mùi sương lạnh… Trong trẻo.
Tôi yêu nơi đó, những con dốc vàng hoa dã quỳ vào tháng chạp.
Tôi kể cho anh nghe về ba, người đã chăm chút tôi như một báu
vật từ khi mẹ tôi mất, về Nghi, đứa bạn thân nhất thời thơ ấu của tôi. Nghi đẹp
như vẽ, má rám hồng, môi cong, mắt lá răm, mày lá liễu, tóc quăn từng lọn. Vẻ đẹp
mạnh mẽ và in rất sâu dễ làm cho người ta nghĩ Nghi sắc sảo và đanh đá, nhưng
trái lại, Nghi luôn từ tốn và im lìm. Nghi chỉ nói chuyện với tôi, chơi với
tôi, chẳng hiểu sao, có lẽ vì cha con tôi chưa bao giờ thì thầm sau lưng Nghi về
mẹ nó, cũng có lẽ vì chúng tôi giống nhau, tôi mồ côi mẹ, Nghi không có cha. Hết
phổ thông, tôi xuống Sài Gòn học Đại học còn Nghi ở lại trồng hoa, rồi sẽ tìm một
người đàn ông tốt và lấy người đó làm chồng, vì mẹ Nghi muốn thế.
Tôi kể về mẹ Nghi. Một người đàn bà đẹp và kiêu hãnh, và thật
lạ lùng. Bà nội tôi nói “Làm đĩ mười phương còn chừa một phương lấy chồng”
nhưng mẹ Nghi thật dại dột khi chừa lại một quê nhà, bởi đó là nơi tất cả mọi
người đều nhớ rõ ngày một cô gái đẹp ra đi, ngày một người đàn bà trở về, đem
theo đứa con mang họ mẹ. Số tiền bà gửi về cho người mẹ già chữa bệnh, nuôi đứa
em đi học đại học không thể biện minh cho những năm tháng “giang hồ” đầy tai tiếng.
Nhưng dầu sao, có Nghi rồi thì bà thay đổi, cũng vì lúc đó bôn ba không nổi với
đời, đàn ông có đôi mắt như cú vọ mà bà thì quá đẹp, nên bà về quê, mua một mảnh
vườn nhỏ, lặng lẽ với nghề trồng hoa. Sự lặng lẽ khiến người ta để bà sống yên ổn,
thỉnh thoảng chỉ xì xào bàn tán sau lưng. Mọi người thường bảo Nghi giống mẹ, rồi
tặc lưỡi nói thêm, có muốn bảo giống cha cũng không được, vì ngoài mẹ Nghi, có
trời mới biết cha Nghi là ai giữa hàng tá người đàn ông đi qua đời bà trong chừng
ấy năm trời lang bạt.
Tôi chưa bao giờ nói chuyện với mẹ Nghi quá hai câu. Bà có vẻ
lạnh lùng và kiêu sa kỳ lạ của một người đàn bà biết mình đẹp và biết rõ mọi
người xung quanh coi thường mình. Ba tôi thường trầm ngâm hẳn đi mỗi khi nhìn
thấy bà gánh hoa ngang qua nhà vào mỗi sáng, quấn quanh cổ chiếc khăn len màu
đó, đầu luôn ngẩng cao, đôi mắt giống hệt mắt Nghi, luôn mở to, mạnh mẽ nhưng
buồn vô hạn. Nếu lúc đó ba đang tưới rau, hẳn ba sẽ đứng sững lại, rồi lặng lẽ
gục đầu xuống khi bà đã khuất bóng nơi ngả rẽ, để mặc nước chảy lênh láng. Tôi
nghĩ, ba yêu bà ấy.
Tôi kể với anh, Đà Lạt trong tôi chỉ có vậy, vườn rau của ba
tôi, những gánh hoa của mẹ Nghi, những con dốc mà Nghi và tôi thường đèo nhau
chạy suốt buổi chiều, những buổi tối tôi ngồi một mình và phát hiện ra rằng đêm
rất mênh mông, sâu thẳm và dịu dàng. Chỉ thế thôi, nhưng tôi nhớ lắm.
Rainy.
Buổi hẹn hò thứ ba.
– Em hỏi tình yêu là gì ư? Đó là sự ám ảnh. Ví như như nghề
tiếp thị của anh vậy, em nhìn thấy một câu slogan thú vị, một hình ảnh quảng
cáo cà phê ngộ nghĩnh, nó đập vào mắt, một cách tình cờ, hay do nhìn thấy khắp
mọi nơi chung quanh mình, rồi ăn sâu vào tiềm thức, và mỗi khi uống cà phê, mỗi
khi đến quán cà phê em lại nhớ. Người ta gọi nó là sự ám ảnh. Anh cũng vậy. Đó
là buổi chiều anh gặp em ngồi trong quán kem ở Hồ Con Rùa, vừa chóp chép nhai
bò bía vừa chúi mũi vào cuốn sách trong hoàng hôn nhập nhoạng. Hình ảnh đó thu
hút anh, làm anh hoang mang, ám ảnh anh trong cả giấc ngủ. Nên anh biết anh
yêu.
Lúc ấy, cả tôi và Kiên đều không biết rằng, rồi sẽ có ngày
anh nhận ra là ngoài hình ảnh đó tôi không còn gì ám ảnh anh nữa.
Rainy.
Tôi ngồi trước Nghi với vẻ mặt kiêu hãnh của người thua cuộc.
Ba tuần trước, Kiên lên Đà Lạt cùng với công ty, tôi ngu ngốc nhờ anh đến nhà
Nghi để gửi mấy cuốn sách tôi cho Nghi mượn. Chỉ hai ngày và tất cả thay đổi.
Kiên gọi điện để nói một câu ngượng nghịu “Anh xin lỗi”, rồi thôi. Lòng tôi tan
nát. Ngày xưa, khi Nghi về đích trước tôi trong Hội khỏe Phù Đổng của trường,
Nghi đã nói: “Nếu chạy một mình, hay nếu luôn dẫn đầu, Lam sẽ không biết mình
đang chạy nhanh hay chậm. Còn Nghi, phía trước Nghi là Lam, Nghi biết Nghi phải
vượt lên và lúc nào thì Nghi cần tăng tốc. Nghi thắng, chính vì Lam đã dẫn đầu
suốt cuộc đua”. Đôi khi, cuộc đời cũng vậy. Người ta không được phép chủ quan
khi chưa đến đích. Đáng lý ra, tôi không nên để Kiên gặp một cô gái đẹp và có sức
ám ảnh hơn tôi.
Nghi chấm ngón tay vào ly trà rồi vẽ lên mặt bàn những đường
loằng ngoằng bằng nước, ngập ngừng:
– Tụi mình thấy có lỗi với Lam.
Tôi bảo, không sao cả, Lam với anh Kiên cũng chưa có gì sâu đậm.
Nếu anh ấy thật sự yêu Nghi…
– Anh ấy bảo tình yêu là sự ám ảnh. Có lẽ anh ấy đã nghe Lam
nói quá nhiều về Nghi, nên…
Tôi mỉm cười, thấy nhoi nhói. Tôi biết Nghi không phải là đứa
hồn nhiên, hay vô duyên. Nhưng ngay lúc này Nghi thật tàn nhẫn, và ngu ngốc nhất
là Nghi tin rằng sự tàn nhẫn ấy tốt cho tôi.
– Anh ấy khen Nghi đẹp, một vẻ đẹp làm anh ấy hoang mang…
Tôi cũng biết Nghi đẹp, đẹp như vẽ. Còn tôi, tôi biết mình
không đẹp, không xấu. Nhưng mũi tôi cao nên nhìn nghiêng trông rất hay. Đó là
ba nói vậy. Năm tôi 18 tuổi, quà sinh nhật của ba là một bộ son phấn. Ba âu yếm
ngồi nhìn tôi vừa sung sướng vừa ngượng nghịu tô một vòng son. Và nhìn xa xôi
ra ngoài cửa sổ, ba lẩm nhẩm đọc: “Em về điểm phấn tô son lại. Ngạo với nhân
gian một nét cười.” Không hiểu sao, tôi lại nghĩ đến mẹ Nghi khi ba đọc câu đó,
và không hiểu sao tôi tin rằng cả ba cũng đang nghĩ đến bà.
Nghi nói nhỏ:
– Bọn mình sẽ cưới nhau. Mẹ Nghi cũng muốn vậy.
“Tìm một người đàn ông tốt và lấy người đó làm chồng”, tôi biết
đó là ao ước lớn nhất của một người đàn bà đầy tổn thương dành cho con gái
mình, dù họ mới gặp nhau có ba tuần. Anh có đúng là người đàn ông tốt của Nghi
không? Tôi không biết nữa. Sự thú nhận của anh có vẻ như chứng tỏ một tình yêu
thật sự, nó làm tôi tiêu tan hết dũng khí chiến đấu, hết khao khát giành giật
anh trở lại. Chỉ thấy đau. Tình yêu là sự ám ảnh. Và bây giờ, nó đang ám ảnh
tôi, một khuôn mặt xương xương…
Trước khi rời khỏi quán, Nghi ngoái lại: “À quên, hình như ba
Lam định cưới mẹ Nghi đó. Biết chưa?” Tôi không hiểu sao mắt Nghi lại có vẻ hân
hoan đến thế, như vừa chiếm được người yêu của tôi lần thứ hai vậy.
Còn lại một mình trong Rainy, tôi oà khóc….
Rainy.
– Lam à, ba có chuyện quan trọng định bàn với con.
Đây là lần đầu tiên ba xuống Sài Gòn thăm tôi. Tôi mỉm cười.
– Con biết rồi, nếu ba đã quyết định thì con chúc ba và cô ấy
hạnh phúc…
– Làm sao con biết?
Từ lâu lắm, từ ngày ba đọc “Em về điểm phấn tô son lại, ngạo
với nhân gian một nét cười”. Từ ngày ba trầm ngâm nhìn người đàn bà quấn chiếc
khăn len màu đỏ, lặng lẽ gánh hoa đi ngang nhà, mắt nhìn thẳng, đầu ngẩng cao.
Không hiểu tại sao.
Ba nắm chặt tay tôi. Ngày xưa, xưa lắm, khi ba chưa lấy mẹ,
khi gia đình ngoại Nghi chưa sa sút và khi mẹ Nghi chưa đi theo một người đàn
ông lạ để rồi sa vào vòng lầm lạc. Ngày đó ba yêu, nhưng mẹ Nghi thì không. Còn
bây giờ, ba thương. Và mẹ Nghi cần một điểm tựa.
Cũng như tôi, ba phân biệt rõ ràng hai loại tình cảm đó. Tình
yêu là gì? Đó là cảm giác thắt lại khi ta nhìn thấy người ấy, nó vỡ oà một cảm
giác yêu thương trong trái tim, lan toả ra từng tế bào, đến tận đầu những ngón
tay, nhưng đôi khi nó làm người ta đau đớn. Tình yêu, nó sâu thẳm, nhọn hoắt,
và dễ làm tổn thương. Tôi luôn thấy tình thương thì an toàn hơn tình yêu. Tình
thương như một mảnh lụa, êm dịu, mượt mà, dễ lan tỏa, và dai dẳng nữa, giống
như đêm. Tôi vẫn muốn yêu như là thương, và muốn được yêu như là thương, giống
như tình cảm ba dành cho bà ấy vậy.
Rainy.
Quán chỉ có hai người. Tôi và một người đàn ông trẻ, áo xanh,
cà vạt đỏ với những chấm đen khéo léo…
– Anh cũng đi cà phê một mình à?
– Phải, ngày cuối năm, người ta cần một chỗ yên tĩnh để suy
nghĩ, đúng không?
– Chẳng ai đi cà phê một mình với bộ dạng trịnh trọng như vậy…
Anh ta nghĩ ngợi.
– Khuôn mặt cô nhìn nghiêng, ly cà phê, có cái gì đó cô đơn,
và thu hút nữa… Tôi là hoạ sĩ, hôm nào cô làm mẫu cho tôi vẽ được không? Ồ, cô
đừng lo, chỉ khuôn mặt thôi, khuôn mặt nhìn nghiêng và ly cà phê…
Tôi mỉm cười, và tin rằng đấy là nụ cười duyên dáng nhất của
mình.
– Tôi hỏi, nếu anh trả lời được thì tôi đồng ý. Cái gì mênh
mông, sâu thẳm, và dịu dàng?
– Đêm – Anh ta phá lên cười – Phải không?
Tôi hốt hoảng, im lặng. Điện thoại cầm tay reo bài Happy New
Year… Anh ta liếc tôi, rất nhẹ “Ừ, anh đây, em về rồi hả. Ừ, anh đến ngay? Anh
cũng nhớ em!” rồi quay sang tôi, anh ta nói “Tôi phải đi đây. Nếu đồng ý thì gọi
cho tôi nhé”. Anh ta đặt trên bàn tấm danh thiếp rồi vội vã bước đi, không thèm
ngoái nhìn tôi một lần.
Cái gì sâu thẳm, dịu dàng và mênh mông. Nghi bảo đó là câu hỏi
để tìm người yêu của tôi. Thế nhưng từ trước đến nay tôi luôn hỏi nhầm người, cả
người trả lời đúng lẫn người trả lời sai. Tôi nhớ tiếng cười của Kiên khi tôi
nói đó là Đêm. “Ngớ ngẩn.” Có lẽ tôi ngớ ngẩn thật.
Ông chủ quán người Huế ngồi xuống bên cạnh từ lúc nào.
– Sắp Tết rồi. Cô có về quê không?
– Phải về chứ bác, có lẽ vài hôm nữa.
– Mai tôi cũng về, chắc ở luôn ngoài ấy.
– Còn Rainy?
– Tôi sang lại cho thằng cháu họ – Ông nói vẻ tự hào – Nó chắc
cũng bằng tuổi cô, vừa tốt nghiệp kinh tế đã muốn kinh doanh ngay. Bọn trẻ bây
giờ giỏi thật. Nó bảo sau Tết phải sửa sang thay đổi chứ địa điểm đẹp mà để lèo
tèo khách thế này uổng quá. Có lẽ tôi không có khiếu làm ăn.
Vậy đó, cả Rainy rồi cũng đổi thay thôi. Tôi chạy xe ra khỏi
con hẻm nhỏ, gió lao xao thả xuống vai tôi vài chiếc lá. Có lần, Kiên bảo rằng,
Sài Gòn cũng có một mùa rụng lá, đó là khi đoạn đường Lê Duẩn ngang qua công
viên 30 tháng 4, ngay vòng xoay nhà thờ Đức Bà phủ đầy lá vàng, chúng vỡ rôm rốp
dưới bánh xe. Sài Gòn bỗng trở nên hiền hoà, lãng mạn và thơ mộng hơn bao giờ hết…
Ba nói gì về những chiếc lá khô nhỉ? Con có thể nhìn thấy
chúng trên những cây cao, trên chót đầu của những cành khẳng khIU đều nhú ra một
mầm xanh bé tí. Trong vài tháng nữa, mỗi cây sẽ được bao phủ bởi cả một vòm
xanh rậm lá, thấm đẫm ánh mặt trời. Không có gì sống động hơn, tràn trề nhựa sống
hơn hình ảnh đó. Thế nhưng, rải đầy quanh gốc cây là những chiếc lá khô vỡ vụn,
những chiếc lá mùa trước vẫn còn xanh, rồi ngả vàng rực rỡ, bây giờ tan dần vào
trong đất. Chỉ một cái nhìn thoáng qua toàn bộ khung cảnh đó, chúng ta nhận ra
vòng tuần hoàn của cuộc sống, và một cơ hội luôn luôn tồn tại, cho cái mới, cho
sự khởi đầu.
Còn chúng ta thì sao? Có chăng thời kỳ mùa xuân cho con người?
Hay chúng ta chỉ sống từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc theo một con đường định sẵn?
Ta có thể làm mới chính mình như không khí và cây cối? Ta có thể giũ sạch những
thói quen của cách cư xử, của một cuộc đời đã từng tràn trề sức sống nhưng bây
giờ không còn sinh khí nữa? Và những kinh nghiệm mà chúng ta chồng chất qua những
tháng năm vui buồn có lấp kín đời ta? Đừng để nó lấp kín đời ta, con gái ạ. Ba
cũng đã nói với mẹ Nghi như vậy. Hãy bước qua nỗi đau và làm mới chính mình.
Tôi ngẩng đầu lên, chẳng biết mình đang cười hay khóc. Tôi ít
nghĩ đến mẹ, thường thì tôi ít nhớ bà, nhưng trong giây phút này tôi lại nhớ.
Những con người không bao giờ có cơ hội làm mới chính mình lần nữa. Bây giờ,
vào ngày đầu xuân, tôi chạy vòng quanh và nhận ra Sài Gòn đã qua mùa lá rụng,
những mầm xanh đang nhú lên ở trên cao và bắt đầu một vòng đời mới, những vòm
lá một thời gian sau sẽ hiện ra mới mẻ và xanh tươi. Như Rainy vậy. Dù rằng những
ký ức về mối tình đầu sẽ chẳng dễ nguôi ngoai, bắt đầu từ buổi hẹn hò thứ nhất…
Khói khuynh diệp
Lam đứng trên lầu ba, trước phòng máy vi tính của trường. Cô
thích đứng ở đây, giữa lồng lộng gió, và chỉ cần với tay ra một chút, Lam đã có
thể hái vài chiếc lá khuynh diệp tươi, vò vò rồi đưa lên mũi để nghe một mùi
thơm thanh thanh, tinh khiết thoang thoảng lan nhẹ ra, bám vào trên tóc.
Mười năm rồi còn gì. Sau khi tốt nghiệp, Lam cũng đã mất mấy
năm lăng quăng ở thành phố, dạy tin học tại một trung tâm, cho đến khi mẹ viết
thư vào: “Về đi con, trường cấp hai của mình vừa có một phòng máy vi tính,
khang trang lắm. Lương có thể không cao nhưng dù sao cũng ở quê nhà, dù sao
cũng thân con gái”. Thế là Lam về, không cần phải xin xỏ nhiều để trở về trường
cũ, ngôi trường đang thiếu giáo viên cho môn tin học.
Trường thay đổi nhiều, mới toanh, cửa kính, đèn điện, căng
tin. Và những thầy cô già. Nhưng Lam có cảm giác như lớp 9A mà Lam phụ trách
cũng giống y như lớp 9A của cô hồi đó, cũng nhí nhố, cũng những đứa con gái rất
ngoan, thậm chí bẽn lẽn, những đứa con trai nghịch ngợm, cũng một cô bé lớp trưởng
kiêm bí thư đoàn trường, thông minh, học giỏi và nhanh nhẹn, cũng một học sinh
được giáo viên xếp vào loại cá biệt, mặt lì lì, bơ bơ. Lam luôn có sự chú ý đặc
biệt đến những học sinh cá biệt, không phải để theo dõi, cảnh giác, mà là để
yêu thương chăm sóc nhiều hơn một chút, có lẽ, tại chuyện của Khánh ngày xưa.
Lam hình dung lại khuôn mặt của Quý “heo”, đứa học trò mà hôm
Lam nhận lớp cô hiệu phó đã nhắc khẽ: “Thằng này học sinh cá biệt nghen, nó quậy
lắm”
– Quậy sao cô?
– Trời ơi, nó lì lắm, nói gì nó cứ cười cười, mặt trơ trơ
phát bực. Có hôm còn mang cưa lên cưa chân ghế cho các bạn ngồi sụm chơi.
Lam hỏi mấy đứa học trò:
– Sao gọi bạn là Quý “heo”?
Học trò cười hì hì:
– Tại ở nhà nó mổ heo mà cô?
Nhưng Quý ít khi “quậy” trong giờ của Lam, chỉ duy có một lần,
cô bé lớp trưởng lên nói nhỏ với cô là Quý mang dao găm vô lớp, lận trong lưng
quần, để lòi cái chuôi ra ngoài.
– Quý, sao em mang dao găm vô lớp?
– Chơi mà cô.
– Không được, nguy hiểm lắm. Em cất vào cặp đi, mai để ở nhà
không mang lên lớp nữa, lỡ đâm trúng mấy bạn thì sao?
– Em đâu có đâm, em đem theo để phòng thân mà cô.
Lam thật kêu trời không thấu.
– Không phòng thân phòng thiếc gì hết, đưa dao đây cho cô rồi
về chỗ ngồi.
Quý “heo” nhe răng cười, ngoan ngoãn rút con dao găm có chuôi
chạm trổ khá đẹp đặt lên bàn:
– Nhưng mà lát nữa cô trả em nghen, cái này của ba em.
– Được rồi, nếu em hứa không đem lên trường nữa.
Lam gật đầu.
– Hôm nay các em tạo một cây thư mục của lớp mình, mỗi tên học
sinh là một tên file, tên tổ trưởng là tên thư mục…
Quý “heo” giơ tay:
– Cô ơi, em lấy tên cô đặt tên thư mục được không?
– Cô nói rồi, tên tổ trưởng làm tên thư mục, sao đặt tên cô
làm chi?
– Tên đẹp mà cô – Quý lẩm bẩm – Hải Lam. Cô ơi, tên cô có
nghĩa gì vậy?
– Không có nghĩa gì cả?
– Phải có nghĩa chớ. Ba em đặt tên em là Phú Quý, em em là
Kim Ngân, Kim Hoàn… Phú Quý là giàu, Ngân là tiền, Hoàn là hột xoàn. Má em mỗi
lần khùng lên chửi là tại ba em đặt tên giàu nên nhà em mới nghèo xơ vậy… hì
hì… tên ai cũng có nghĩa chớ. Tên cô không có nghĩa gì hả, lạ quá ha?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét