Lược sử loài người 2
Phần 2: Cách mạng nông nghiệp
Chương 5 - Sự lừa dối lớn
nhất lịch sử
Trong 2,5 triệu năm, con người đã nuôi sống mình bằng cách
hái lượm thực vật và săn bắt thú vật, những loài đã sống và sinh sản mà không
có sự can thiệp của con người. Homo erectus, Homo ergaster và Neanderthal đã
hái lượm những quả sung, quả vả mọc hoang và săn bắt những con cừu hoang dã,
không để tâm đến những cây sung, cây vả này mọc ở đâu, bầy cừu hoang gặm cỏ ở
cánh đồng nào, và những con dê đực thụ tinh cho những con dê cái nào. Homo
sapiens đã lan rộng từ Đông Phi tới Trung Đông, đến châu Âu và châu Á, cuối
cùng là châu Úc và châu Mỹ – nhưng ở bất cứ nơi nào họ đến, họ cũng đều tiếp tục
hái lượm thực vật mọc hoang và săn bắt động vật hoang dã. Tại sao phải làm khác
đi khi lối sống này khiến họ no đủ và giúp phát triển một thế giới phong phú của
những cấu trúc xã hội, tín ngưỡng tôn giáo và động lực chính trị?Tất cả những điều này đã thay đổi cách đây khoảng 10.000 năm,
khi Sapiens bắt đầu dành hầu hết thời gian và nỗ lực của mình nhằm thao túng cuộc
sống của một số loài động thực vật. Từ sáng sớm cho đến lúc hoàng hôn, con người
gieo hạt, tưới nước cho cây, nhổ cỏ dại, và lùa cừu tới những đồng cỏ tươi tốt.
Họ nghĩ rằng việc này sẽ cung cấp cho mình thêm nhiều trái cây, ngũ cốc và thịt.
Đó là một cuộc cách mạng trong lối sống của con người – Cách mạng Nông nghiệp.Thời kỳ chuyển sang nông nghiệp bắt đầu vào khoảng thời gian
9500-8500 TCN ở khu vực đồi núi phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, phía tây Iran và miền
Cận Đông. Nó bắt đầu diễn ra chậm chạp trong một khu vực địa lý hạn chế. Dê và
lúa mì được nuôi trồng khoảng năm 9000 TCN; cây đậu Hà Lan và cây đậu lăng khoảng
năm 8000 TCN, cây ô-liu khoảng năm 5000 TCN, ngựa khoảng năm 4000 TCN, và cây
nho khoảng năm 3500 TCN. Một số loài động thực vật như lạc đà, cây điều được
nuôi trồng còn muộn hơn, nhưng vào khoảng năm 3500 TCN, làn sóng thuần hoá
chính đã kết thúc. Đến tận ngày nay, dù đã có mọi công nghệ tiên tiến, nhưng
hơn 90% lượng calo nuôi dưỡng nhân loại đều đến từ một số ít loại cây trồng mà
tổ tiên chúng ta đã thuần hoá trong thời kỳ 9500-3500 TCN: lúa mì, lúa, ngô (gọi
là “corn” ở Mỹ), khoai tây, kê và lúa mạch. Không có loài động thực vật đáng
chú ý nào được thuần hoá trong vòng 2.000 năm qua. Nếu trí tuệ của chúng ta là
trí tuệ của những kẻ săn bắt hái lượm thì cách nấu nướng của chúng ta cũng là
cách nấu nướng của những nông dân cổ đại.Các học giả từng tin rằng nông nghiệp đã khởi nguồn từ một điểm
duy nhất tại Trung Đông và lan ra bốn góc của thế giới. Ngày nay, họ đồng ý rằng
nông nghiệp đã xuất hiện và phát triển hoàn toàn độc lập ở khắp nơi trên thế giới,
chứ không phải do nông dân Trung Đông xuất khẩu Cách mạng Nông nghiệp của mình.
Dân cư ở Trung Mỹ đã thuần hoá cây ngô và cây đậu, mà không biết gì về lúa mì
và đậu Hà Lan trồng ở Trung Đông. Người Nam Mỹ đã học cách trồng khoai tây và
thuần hoá lạc đà không bướu, mà không biết điều gì đang xảy ra ở Mexico và Cận
Đông. Những nhà cách mạng đầu tiên ở Trung Quốc đã thuần hoá lúa, kê và lợn. Những
người làm vườn đầu tiên ở Bắc Mỹ, vốn đã mệt mỏi với việc phải lùng sục trong
những bụi cây thấp để tìm kiếm những trái bầu có thể ăn được, đã quyết định trồng
bí đỏ. Người New Guinea đã trồng mía đường và chuối, trong khi những nông dân
Tây Phi đầu tiên thì trồng kê châu Phi, lúa châu Phi, cao lương, lúa mì theo
nhu cầu của mình. Từ những trung tâm đầu tiên này, ngành nông nghiệp đã tỏa đi
xa hơn và rộng hơn. Vào thế kỷ 1, đại đa số người dân trên thế giới làm nông
nghiệp.Tại sao Cách mạng Nông nghiệp lại nổ ra ở Trung Đông, Trung
Hoa và Trung Mỹ mà không phải ở châu Úc, Alaska hay Nam Á? Lý do rất đơn giản:
hầu hết các loài động thực vật không thể thuần hoá được. Sapiens có thể đào xới
để tìm loại nấm cục ngon ngọt, và săn bắt những con voi ma-mút có lông mịn như
len, nhưng thuần hoá các loài này thì không thể. Nấm cục quá khó kiếm, còn những
con thú khổng lồ thì quá hung bạo. Trong hàng ngàn loài động thực vật mà tổ
tiên chúng ta đã sân bắt và hái lượm, chỉ một số ít là thích hợp với trồng trọt
và chăn nuôi. Số ít loài này sống ở những khu vực đặc biệt, và đây là những nơi
xuất hiện các cuộc Cách mạng Nông nghiệp.Bản đồ 2. Các vị trí và thời điểm của Cách mạng Nông nghiệp.
Dữ liệu vẫn còn tranh cãi, và bản đồ đang được vẽ lại liên tục để tích hợp những
phát hiện khảo cổ mới nhất.Các học giả một lần nữa tuyên bố rằng Cách mạng Nông nghiệp
là bước nhảy vọt của nhân loại. Họ kể một câu chuyện về sự tiến bộ được thúc đẩy
bằng sức mạnh trí tuệ loài người. Tiến hoá đã tạo ra ngày càng nhiều con người
thông minh. Cuối cùng, con người trở nên thông minh tới mức họ có thể giải mã
được những bí mật của tự nhiên, giúp họ thuần hoá cừu và trồng lúa mì. Và ngay
khi điều này diễn ra, họ vui vẻ từ bỏ cuộc sống săn bắt hái lượm đầy khó khăn,
nguy hiểm và khổ hạnh, để an cư lạc nghiệp và tận hưởng cuộc sống no đủ, dễ chịu
của người nông dân.Câu chuyện này là một sự hư cấu. Không có bằng chứng nào cho
thấy con người đã trở nên thông minh hơn theo thời gian. Những người hái lượm
đã biết được bí mật của tự nhiên từ trước Cách mạng Nông nghiệp rất lâu, bởi sự
sống còn của họ phụ thuộc vào những kiến thức sâu sắc về các loài động thực vật
mà họ đã săn bắt và hái lượm. Thay vì báo hiệu cho một kỷ nguyên mới dễ sống,
Cách mạng Nông nghiệp lại đem tới cho nông dân cuộc sống nhìn chung có vẻ khó
khăn hơn và ít thỏa mãn hơn so với người hái lượm. Người săn bắt hái lượm sử dụng
thời gian của mình thú vị và phong phú hơn, ít bị cơn đói và bệnh tật đe dọa
hơn. Cách mạng Nông nghiệp tất nhiên đã làm tăng tổng lượng thức ăn dự trữ của
loài người, nhưng nhiều thức ăn không có nghĩa là có một chế độ ăn tốt hơn.
Đúng hơn, nó biến thành những đợt bùng nổ dân số và tạo ra giới tinh hoa được
nuông chiều. Những nông dân bình thường phải làm việc vất vả hơn những kẻ hái
lượm bình thường, và lại có một chế độ ăn uống tồi hơn. Cách mạng Nông nghiệp
là sự lừa dối lớn nhất của lịch sử.Ai chịu trách nhiệm? Không phải vua, không phải tu sĩ, cũng
không phải thương gia. Thủ phạm là một nhúm các loài thực vật, gồm lúa mì, gạo
và khoai tây. Chúng đã thuần hoá Homo sapiens chứ không phải là ngược lại.Thử suy nghĩ một chút về Cách mạng Nông nghiệp từ quan điểm về
lúa mì. 10.000 năm trước đây, lúa mì chỉ là một trong nhiều loài cỏ dại, sống hạn
chế trong một phạm vi nhỏ ở Trung Đông. Đột nhiên, chỉ trong một vài thiên niên
kỷ ngắn ngủi, nó đã phát triển ra khắp thế giới. Theo các tiêu chí cơ bản về tiến
hoá của sự sống và sinh sản, lúa mì đã trở thành một trong những loài cây thành
công nhất trong lịch sử Trái đất. Ở những khu vực như Đại Bình Nguyên vùng Bắc
Mỹ, nơi cách đây khoảng 10.000 năm không có một cây lúa mì nào mọc, giờ đây bạn
có thể đi bộ hàng trăm cây số mà không bắt gặp loại cây nào khác ngoài lúa mì.
Trên thế giới, lúa mì đã bao phủ khoảng 2,25 triệu km² bề mặt địa cầu, gấp gần
10 lần kích thước nước Anh. Tại sao loại cỏ này từ vị trí tầm thường lại có thể
có mặt ở khắp nơi như vậy?Lúa mì đã thành công bằng cách thao túng Homo sapiens sao cho
có lợi cho nó. Loài vượn này đã sống một cuộc sống săn bắt và hái lượm vô cùng
dễ chịu cho đến 10.000 năm trước, nhưng sau đó bắt đầu nỗ lực trồng lúa mì ngày
càng nhiều. Trong vòng vài thiên niên kỷ, con người ở nhiều nơi trên thế giới hầu
như đã dành thời gian từ sáng đến tối để chăm sóc lúa mì. Việc này không hề dễ
dàng. Lúa mì đòi hỏi phải chăm sóc nhiều. Lúa mì không ưa sỏi đá, nên Sapiens
phải dọn dẹp các cánh đồng đến gãy cả lưng. Lúa mì không chia sẻ không gian, nước
và chất dinh dưỡng cho các loài cây khác, vì vậy đàn ông đàn bà phải lao động
suốt ngày để rẫy cỏ dưới ánh nắng chói chang. Lúa mì dễ bị bệnh, nên Sapiens phải
trông chừng sâu bệnh và rệp vừng. Lúa mì không có khả năng tự vệ trước những
sinh vật thích ăn lúa, từ những bầy thỏ đến những đàn châu chấu, vì vậy nông
dân phải trông chừng và bảo vệ lúa. Khi lúa mì khát nước, người ta phải lấy nước
từ sông suối tưới cho nó. Khi nó đói, Sapiens phải thu gom phân động vật để bón
cho đất trồng lúa mì.Cơ thể của Homo sapiens đã không được tiến hoá cho những nhiệm
vụ như vậy. Nó thích nghi với việc trèo lên cây táo hoặc đuổi theo những con
linh dương, chứ không phải để dọn sạch đất đá hay xách những thùng nước. Xương
sống, đầu gối, cổ và xương sườn của con người đã phải trả giá. Các nghiên cứu về
những bộ xương cổ đại đã chỉ ra rằng, việc chuyển sang làm nông nghiệp dường
như đã mang đến rất nhiều bệnh tật như trẹo khớp, viêm khớp và sa ruột. Hơn nữa,
những công việc làm nông mới đòi hỏi rất nhiều thời gian nên con người buộc phải
định cư lâu dài gần cánh đồng lúa mì của mình. Điều này đã thay đổi hoàn toàn lối
sống của họ. Chúng ta không thuần hoá lúa mì. Nó đã thuần hoá chúng ta. Từ “thuần
hoá” bắt nguồn từ tiếng Latin domus, nghĩa là “ngôi nhà”. Ai là người đang sống
trong một ngôi nhà? Không phải lúa mì, mà đó chính là Sapiens.Làm thế nào lúa mì có thể thuyết phục được Homo sapiens đánh
đổi cuộc sống tươi đẹp để chịu cực khổ như vậy? Đổi lại, con người nhận được
gì? Đó không phải là một chế độ ăn uống tốt hơn. Nên nhớ, con người thực chất
là một loài vượn ăn tạp, phát triển mạnh nhờ vào việc ăn đủ loại thức ăn. Ngũ cốc
chỉ là một phần rất nhỏ trong chế độ ăn uống của con người trước Cách mạng Nông
nghiệp. Một chế độ ăn uống chỉ dựa vào ngũ cốc thì rất nghèo vitamin và khoáng
chất, khó tiêu hoá, thực sự không tốt cho răng và lợi của bạn.Lúa mì không mang lại an toàn lương thực cho con người. Cuộc
sống của người nông dân kém an toàn hơn cuộc sống của kẻ săn bắt hái lượm. Người
hái lượm dựa vào hàng chục loài động thực vật để sinh tồn, và vì vậy có thể vượt
qua những năm tháng khó khăn kể cả khi không có những kho thức ăn dự trữ. Nếu số
lượng một loài nào đó bị giảm, họ có thể săn bắt và hái lượm thêm loài khác.
Cho đến gần đây, các xã hội nông nghiệp vẫn dựa vào một số ít loài thực vật đã
được thuần hoá để lấy phần lớn lượng calo cho mình. Ở nhiều vùng, họ chủ yếu dựa
vào chỉ một loại cây, như lúa mì, khoai tây hoặc lúa. Nếu không có mưa, hoặc có
những đám mây châu chấu bay đến, hoặc có một loại nấm ký sinh gây bệnh cho những
loại cây này, hàng ngàn hàng triệu nông dân sẽ chết đói.Lúa mì cũng không thể bảo vệ con người trước bạo lực. Những
nông dân đầu tiên ít nhất cũng hung dữ giống như tổ tiên hái lượm của họ, nếu
không muốn nói là hơn. Với những nông dân có nhiều tài sản hơn, họ cần đất đai
để trồng trọt. Việc bị hàng xóm cướp bóc đất đai đồng nghĩa với sự chết đói, vì
vậy không có chỗ cho sự thỏa hiệp. Khi một bầy hái lượm bị các đối thủ mạnh hơn
chèn ép, họ có thể bỏ đi.Việc này vất vả và nguy hiểm nhưng vẫn thực hiện được. Nhưng
khi một kẻ thù mạnh đe dọa một làng nông nghiệp, thì rút lui có nghĩa là bỏ lại
ruộng đồng, nhà cửa, kho lương thực. Trong nhiều trường hợp, kết cục với những
người tị nạn là chết đói. Vì vậy nông dân có khuynh hướng ở lại và chiến đấu đến
cùng.Hình 11. Chiến tranh bộ lạc ở New Guinea giữa hai cộng đồng
nông nghiệp (1960). Những cảnh thế này phổ biến trong hàng ngàn năm tiếp sau
Cách mạng Nông nghiệp.Nhiều nghiên cứu về nhân học và khảo cổ học đã chỉ ra rằng
trong một xã hội nông nghiệp giản đơn, không có cơ cấu chính trị nào ngoài làng
xã và bộ lạc, bạo lực của con người là nguyên nhân cho khoảng 15% trường hợp tử
vong, trong đó có 25% là đàn ông. Ở New Guinea ngày nay, bạo lực là nguyên nhân
cho khoảng 30% trường hợp tử vong của đàn ông trong xã hội bộ lạc nông nghiệp
Dani, và 35% trong bộ lạc Enga. Ở Ecuador, có lẽ khoảng 50% số người trưởng
thành của bộ lạc Waoranis đã tử vong dưới tay người khác. Sau này, bạo lực của
con người đã được kiểm soát bằng sự phát triển của những cơ cấu xã hội rộng
hơn, như các thành phố, vương quốc và quốc gia. Nhưng phải mất hàng ngàn năm để
xây dựng những cơ cấu chính trị khổng lồ và hiệu quả như vậy.Cuộc sống làng xã chắc chắn đã mang lại cho người nông dân những
lợi ích tức thì, như việc được bảo vệ tốt hơn trước những loài thú hoang dã,
mưa và lạnh. Tuy nhiên, với một người bình thường thì lợi bất cập hại. Rất khó
để người sống trong một xã hội phồn vinh như ngày nay hiểu được điều này. Từ
khi chúng ta tận hưởng sự sung túc và an toàn, và từ khi sự sung túc và an toàn
này được xây dựng dựa trên cơ sở Cách mạng Nông nghiệp, chúng ta đã cho rằng
Cách mạng Nông nghiệp là một tiến bộ tuyệt vời. Song, thật sai lầm khi đánh giá
hàng ngàn năm lịch sử từ góc nhìn của hôm nay. Một quan điểm toàn diện hơn là của
một bé gái 3 tuổi, hấp hối do suy dinh dưỡng vào thế kỷ 1 ở Trung Hoa do người
cha có mùa màng thất bát. Liệu bé gái có thể nói “con hấp hối là do thiếu ăn,
nhưng trong 2.000 năm tới, con người sẽ có rất nhiều thứ để ăn, và sống trong
những ngôi nhà lớn có lắp điều hòa, cho nên sự đau khổ của con là một hy sinh
đáng giá?”Vậy lúa mì đã mang lại gì cho những người làm nông, gồm cả bé
gái Trung Hoa suy sinh dưỡng kia? Nó chẳng mang lại lợi lộc gì cho con người với
tư cách cá nhân. Song, nó đã dành tặng một thứ gì đó cho Homo sapiens với tư
cách một loài. Việc trồng lúa mì cung cấp thức ăn nhiều hơn trên mỗi đơn vị đất
đai, vì vậy làm cho số lượng Homo sapiens tăng lên theo cấp số nhân. Khoảng năm
13000 TCN, khi con người nuôi sống mình bằng cách hái lượm những loài thực vật
mọc hoang và săn bắt thú hoang, khu vực xung quanh ốc đảo Jericho thuộc
Palestine có thể nuôi dưỡng tối đa một bộ lạc du cư gồm 100 thành viên tương đối
khỏe mạnh và đầy đủ dinh dưỡng. Khoảng năm 8300 TCN, khi các loài thực vật mọc
hoang nhường chỗ cho những cánh đồng lúa mì, ốc đảo này đã nuôi dưỡng một ngôi
làng lớn nhưng chật chội gồm 1.000 thành viên, họ phải chịu đựng bệnh tật và
suy sinh dưỡng thường xuyên hơn.Diễn trình tiến hoá không nằm ở đói khát hay đau đớn, mà ở số
bản sao của những vòng xoắn ADN. Giống như thành công kinh tế của một công ty
được đo bằng số tiền có trong tài khoản ngân hàng chứ không phải là hạnh phúc của
người làm thuê, sự tiến hoá thành công của một loài cũng được đo bằng số bản
sao chuỗi ADN của nó. Nếu không còn bản sao ADN nào, loài đó sẽ bị tuyệt chủng,
giống như một công ty không có tiền sẽ phá sản. Nếu một loài khoe mình có nhiều
bản sao ADN, thì đó chính là một thành công và loài sẽ hưng thịnh. Tư góc nhìn
này, 1.000 bản sao sẽ luôn luôn tốt hơn 100 bản sao. Đây chính là điểm cốt lõi
trong Cách mạng Nông nghiệp: năng lực giữ cho nhiều người sống sót hơn trong những
điều kiện tồi tệ.Song, tại sao các cá nhân lại phải quan tâm đến bài toán tiến
hoá này? Tại sao bất cứ ai có đầu óc bình thường lại đi hạ thấp tiêu chuẩn sống
của mình chỉ cốt để những bản sao trong bộ gen Homo sapiens được nhân lên?
Không ai lại đồng ý với thỏa thuận này: Cách mạng Nông nghiệp là một cái bẫy.Cái bẫy xa xỉSự xuất hiện của nghề nông là một việc xảy ra từ từ qua các
thế kỷ và thiên niên kỷ. Một bầy Homo sapiens đang hái nấm và quả hạch, đang
săn hươu nai và thỏ, sẽ không đột nhiên định cư lâu dài ở một ngôi làng, cày ruộng,
gieo hạt lúa mì và vác nước từ sông về. Sự thay đổi này tiếp diễn theo từng
giai đoạn, mỗi giai đoạn đều liên quan đến một sự thay đổi nhỏ trong cuộc sống
thường ngày.Homo sapiens đã đến Trung Đông khoảng 70.000 năm về trước.
Trong 50.000 năm tiếp theo, tổ tiên của chúng ta đã phát triển thịnh vượng mà
không cần có nông nghiệp. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên đủ để nuôi dưỡng cư
dân của vùng đất này. Trong những lúc sung túc mọi người đã có thêm con, và
trong thời kỳ khó khăn đã giảm đi một ít. Con người, cũng giống như nhiều loài
động vật có vú khác, có những cơ chế hoóc-môn và gen có thể giúp kiểm soát sinh
sản. Trong những thời điểm thuận lợi, phụ nữ sẽ đến tuổi dậy thì sớm hơn, và cơ
hội mang thai của họ sẽ cao hơn. Ở các thời điểm khó khăn, dậy thì muộn và cơ hội
mang thai sẽ giảm.Việc kiểm soát dân số tự nhiên còn được hỗ trợ thêm bởi các
cơ chế văn hoá. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, vốn di chuyển chậm chạp và đòi hỏi nhiều
sự quan tâm, sẽ trở thành gánh nặng cho những kẻ hái lượm du cư. Con người cố gắng
sinh con cách nhau từ ba đến bốn năm. Phụ nữ làm được vậy nhờ chăm sóc con cái
suốt ngày đêm cho đến khi lớn (cho con bú suốt ngày đêm đóng vai trò quan trọng
trong việc làm giảm khả năng mang thai). Những phương pháp khác bao gồm sự
kiêng khem tình dục một phần hoặc hoàn toàn (có thể được hỗ trợ bởi những kiêng
kị văn hoá), nạo phá thai, và đôi khi là tục giết trẻ sơ sinh.Trong suốt những thiên niên kỷ dài này, con người thi thoảng
ăn hạt lúa mì, nhưng đây chỉ là phần nhỏ trong chế độ ăn uống của họ. Khoảng
18.000 năm trước, thời kỳ băng hà cuối cùng đã chuyển sang thời kỳ ấm lên toàn
cầu. Nhiệt độ tăng nên lượng mưa cũng tăng theo. Kiểu khí hậu mới này lý tưởng
cho lúa mì và các cây ngũ cốc khác ở Trung Đông, vốn đã sinh sôi nảy nở mạnh mẽ
và lan rộng. Con người bắt đầu ăn nhiều lúa mì hơn và tình cờ thúc đẩy sự tăng
trưởng của nó hơn nữa. Vì không thể ăn được ngũ cốc hoang dại nếu không chọn lọc,
nghiền sàng và nấu chúng, nên con người sau khi hái lượm những loại ngũ cốc này
đã mang chúng về khu lều trại tạm để chế biến. Hạt lúa mì nhỏ và nhiều, nên một
số chắc chắn sẽ bị rơi vãi trên đường tới khu lều trại. Theo thời gian, ngày
càng nhiều lúa mì sinh sôi dọc theo những tuyến đường yêu thích của con người
và gần những khu lều trại.Khi con người đốt rừng và bụi rậm, điều này cũng giúp ích cho
lúa mì. Lửa sẽ xóa sạch cây cối và bụi rậm, cho phép lúa mì và những loài cỏ
khác độc quyền hưởng ánh nắng, nước và chất dinh dưỡng. Ở đó, lúa mì phát triển
cực thịnh, các con thú săn được và nguồn thức ăn cũng trở nên dồi dào, các bầy
người có thể dần dần từ bỏ cuộc sống du cư để định cư theo mùa hoặc thậm chí
vĩnh viễn ở khu lều trại.Đầu tiên, họ có thể cắm trại bốn tuần trong mùa thu hoạch. Một
thế hệ sau đó, khi những cây lúa mì nhân lên và lan rộng, thời gian cắm trại
trong mùa thu hoạch có thể kéo dài năm tuần, sau đó là sáu tuần và cuối cùng
nơi đó trở thành một ngôi làng định cư. Bằng chứng về những khu định cư như vậy
đã được phát hiện trên khắp Trung Đông, đặc biệt ở Cận Đông, nơi mà nền văn
minh Natuhan phát triển rực rỡ giai đoạn 12500-9.500 TCN. Người Natuhan chuyên
săn bắt hái lượm, sống dựa vào nhiều loài hoang dã, nhưng lại ở trong những
ngôi làng cố định, và dành nhiều thời gian để hái lượm và chế biến tập trung
các loại ngũ cốc hoang. Họ xây những ngôi nhà và kho chứa ngũ cốc bằng đá. Họ
trữ ngũ cốc cho những lúc khó khăn. Họ phát minh ra những công cụ mới như lưỡi
hái bằng đá để hái lượm lúa mì hoang, những cái chày và cối giã bằng đá để nghiền
chúng.Những năm tiếp theo sau năm 9500 TCN, hậu duệ của người
Natuhan tiếp tục hái lượm và chế biến ngũ cốc, nhưng họ cũng đã bắt đầu trồng
lúa mì nhiều hơn bằng những cách tinh vi hơn. Khi thu hoạch lúa mì hoang, họ
dành ra một phần để gieo hạt trên cánh đồng cho mùa sau. Họ phát hiện ra rằng
mình có thể đạt được những kết quả tốt hơn bằng cách gieo hạt vào sâu trong đất,
thay vì rải chúng lung tung trên bề mặt. Vì vậy, họ bắt đầu cày và cuốc đất. Dần
dần, họ cũng bắt đầu nhổ cỏ dại trên những cánh đồng, bảo vệ chúng khỏi những
loài ký sinh, tưới nước và bón phân cho chúng. Khi ngày càng tập trung vào việc
trồng trọt ngũ cốc, họ sẽ có ít thời gian hơn cho việc săn bắt và hái lượm những
loài động thực vật hoang dã. Những kẻ hái lượm đã trở thành nông dân.Không có một bước duy nhất nào có thể tách biệt người phụ nữ
chuyên hái lượm lúa mì hoang với người phụ nữ làm nông chuyên trồng lúa mì, vì
vậy thật khó để xác định được chính xác khi nào đã diễn ra thời kỷ chuyển tiếp
có tính quyết định sang nông nghiệp. Tuy nhiên, vào khoảng năm 8500 TCN, những
ngôi làng định cư đã xuất hiện khắp Trung Đông, ví dụ như Jericho, dân cư ở đó
đã dành phần lớn thời gian để trồng trọt một vài loài cây đã thuần hoá.Cùng với việc chuyển thành những ngồi làng định cư và nguồn
cung thực phẩm tăng lên, dân số cũng bắt đầu gia tăng. Từ bỏ cuộc sống du cư
khiến phụ nữ có thể sinh con mỗi năm. Những đứa trẻ được cai sữa từ rất sớm, được
cho ăn cháo và bột nấu lỏng. Rất cần thêm những bàn tay phụ giúp trên ruộng đồng.
Nhưng những miệng ăn thêm nhanh chóng ngốn hết lượng thực phẩm dư, nên phải mở
rộng thêm đồng ruộng để trồng trọt. Vì con người bắt đầu sinh sống ở những khu
định cư đầy mầm bệnh, vì trẻ con được cho ăn nhiều ngũ cốc hơn và ít sữa mẹ
hơn, và vì mỗi đứa trẻ phải giành giật cháo với anh chị em ruột của mình, nên tỉ
lệ tử vong ở trẻ em cũng tăng vọt. Ở hầu hết các xã hội nông nghiệp, ít nhất là
có một trong ba đứa trẻ sẽ tử vong trước tuổi 20. Song, sự gia tăng tỉ lệ sinh
vẫn cao hơn sự gia tăng tỉ lệ tử vong; con người tiếp tục đẻ nhiều con hơn.Theo thời gian, “món hời lúa mì” đã trở nên ngày càng phiền
toái. Trẻ em chết lũ lượt, còn người lớn thì ăn thứ bánh mì phải đổ mồ hôi sôi
nước mắt mới có được. Một người bình thường ở Jericho vào năm 8500 TCN sống cực
khổ hơn tổ tiên của mình vào năm 9500 TCN hay năm 13000 TCN. Nhưng không một ai
nhận ra điều gì đang xảy ra. Mỗi thế hệ đều tiếp tục sống cuộc đời giống như
các thế hệ trước, chỉ có một số cải tiến nhỏ trong cách làm việc. Điều nghịch
lý là một loạt “cải tiến” nhằm làm cho cuộc sống dễ chịu hơn, lại càng khiến cuộc
sống của nông dân vất vả hơn.Tại sao con người lại có những tính toán sai lầm định mệnh
như vậy? Vì cùng một lý do mà loài người trong toàn bộ lịch sử đã tính toán sai
lầm. Họ không thể lường trước đầy đủ các hậu quả từ những quyết định của mình.
Bất cứ khi nào họ quyết định làm thêm một chút công việc – Ví dụ, cuốc xới ruộng
đồng thay vì chỉ rải hạt giống khắp nơi trên bề mặt – con người đều nghĩ:
“Đúng, chúng ta sẽ phải làm việc vất vả hơn, nhưng mùa gặt sẽ bội thu! Chúng ta
sẽ không phải lo lắng nữa về những năm mất mùa. Con cái chúng ta sẽ không bao
giờ phải nhịn đói đi ngủ”. Điều này hợp lý đấy chứ. Nếu bạn làm việc chăm chỉ
hơn, bạn sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn. Đó là kế hoạch.Phần đầu tiên của kế hoạch này diễn ra suôn sẻ. Quả thật con
người đã làm việc chăm chỉ hơn. Nhưng con người không đoán trước được số trẻ
con sẽ tăng lên, nghĩa là cần thêm nhiều lúa mì để chia cho lũ trẻ đông hơn. Những
nông dân đầu tiên cũng không hiểu rằng, việc nuôi trẻ con bằng cháo nhiều hơn
và dùng ít sữa mẹ hơn sẽ làm hệ miễn dịch của chúng yếu đi, cùng với định cư sẽ
là những ổ bệnh truyền nhiễm. Họ không thấy trước được việc gia tăng sự phụ thuộc
vào một nguồn thực phẩm đơn lẻ sẽ thực sự làm họ dễ bị những đợt hạn hán làm tổn
hại. Những nông dân cũng không thấy trước được rằng trong những tháng năm tươi
đẹp, khi các kho lương thực của họ phình to lên sẽ cám dỗ những kẻ trộm cắp và
kẻ thù, khiến họ bắt buộc phải xây tường bảo vệ và canh gác chúng.Vậy tại sao con người không từ bỏ nông nghiệp khi dự định ban
đầu bị đổ bể? Một phần là do phải cần đến vài thế hệ thì những thay đổi nhỏ mới
tích lũy lại và biến đổi một xã hội, và đến lúc đó thì không ai còn nhớ rằng
mình đã từng sống rất khác. Và phần vì sự gia tăng dân số đã làm cho nhân loại
không thể trở về tình trạng ban đầu được nữa. Nếu chấp nhận việc cày cấy làm
tăng dân số của một làng từ 100 lên 110 thì 10 người nào sẽ tình nguyện chết
đói để cho những người khác có thể trở lại thời kỳ xưa cũ tốt đẹp đây? Không thể
trở lại được nữa. Cái bẫy đã sập xuống.Việc mưu cầu một cuộc sống dễ chịu hơn đã dẫn đến nhiều thử
thách cam go hơn, không phải cho con người trước đó, mà cho chính chúng ta hôm
nay. Có bao nhiêu sinh viên tốt nghiệp chấp nhận những công việc căng thẳng tại
các công ty quyền lực, thề rằng họ sẽ làm việc chăm chỉ kiếm tiền để có thể về
hưu và theo đuổi những công việc họ thực sự yêu thích ở tuổi 33? Nhưng theo thời
gian và đến tuổi đó, họ lại có nhiều giấy vay nợ, những đứa con đi học, những
ngôi nhà ngoại ô đòi hỏi ít nhất hai xe hơi cho một gia đình, và họ cảm thấy cuộc
đời sẽ không đáng sống nếu thiếu rượu ngon và những kỳ nghỉ đắt tiền ở nước
ngoài. Họ phải làm gì đây, quay trở lại đào xới đất? Không, họ sẽ nỗ lực gấp
đôi và làm việc như nô lệ.Một trong những quy luật sắt của lịch sử, đó là những thứ xa
hoa có xu hướng trở thành những thứ phải có và sẽ tạo ra những nghĩa vụ mới. Một
khi con người đã quen với sự xa hoa nào đó, họ sẽ cho đó là hiển nhiên. Rồi họ
bắt đầu mong đợi nó. Cuối cùng họ sẽ không thể sống thiếu nó. Hãy lấy một ví dụ
tương tự khác ở thời đại của chúng ta. Trong một vài thế kỷ gần đây, chúng ta
đã phát minh ra vô số thiết bị để tiết kiệm thời gian, nghĩ rằng chúng sẽ làm
cho cuộc sống dễ chịu và thảnh thơi hơn, như máy giặt, máy hút bụi, máy rửa
bát, điện thoại, điện thoại di động, máy vi tính, email. Trước đây, người ta cần
rất nhiều công sức để viết một bức thư, để địa chỉ, dán tem lên phong bì, và
cho nó vào hòm thư. Phải mất vài ngày, vài tuần, thậm chí là vài tháng để nhận
được thư trả lời. Ngày nay, tôi có thể viết nhanh một bức thư, gửi nó đến một
nơi cách xa nửa vòng Trái đất, và (nếu địa chỉ của tôi là trên mạng) tối sẽ nhận
được thư trả lời trong vòng một phút sau đó. Tôi đã tránh được mọi phiền toái
và tiết kiệm thời gian, nhưng tôi có đang sống một cuộc đời thảnh thơi hơn hay
không?Thật buồn là không. Quay trở lại kỷ nguyên của những bức thư
chậm như sên, con người thường chỉ viết thư khi họ có điều gì quan trọng cần phải
thuật lại. Thay vì viết ngay những điều vừa xuất hiện trong tâm trí mình, họ
cân nhắc một cách cẩn thận những gì họ muốn nói và làm thế nào để diễn đạt nó.
Họ mong đợi nhận được một câu trả lời cũng được suy nghĩ kĩ càng như vậy. Hầu hết
mọi người viết và nhận rất ít thư trong một tháng và hiếm khi cảm thấy bị ép buộc
phải trả lời ngay lập tức. Ngày nay, tôi nhận được hàng tá thư điện tử mỗi
ngày, tất cả đều từ những người muốn được trả lời luôn. Chúng ta nghĩ rằng mình
đang tiết kiệm thời gian; thay vào đó, chúng ta tăng tốc guồng quay cuộc sống
lên chục lần so với tốc độ trước đây, làm cho những ngày làm việc của mình trở
nên đầy lo âu và bối rối.Ở đâu đó, một người bảo thủ lạc hậu từ chối mở một tài khoản
email, cũng giống như cách đây hàng ngàn năm có những bầy người đã từ chối làm
nông nghiệp và trốn chạy cái bẫy xa xỉ. Nhưng Cách mạng Nông nghiệp không cần đến
mọi bầy người ở một vùng nào đó tham gia vào. Nó chỉ cần một. Ngay khi một bầy
người ở lại sinh sống lâu dài và bắt đầu việc cày bừa, thì dù là ở Trung Đông
hay Trung Mỹ, nông nghiệp đều có sức hấp dẫn mạnh mẽ. Từ khi nông nghiệp tạo ra
những điều kiện cho sự phát triển nhân khẩu một cách nhanh chóng, nông dân thường
có thể vượt qua những kẻ hái lượm bằng số lượng người. Những kẻ hái lượm có thể
chạy trốn, rời bỏ những vùng đất săn bắt của mình để tới cánh đồng và đồng cỏ,
hoặc có thể nhặt cái cày lên. Cách nào đi nữa, cuộc sống cũ cũng đã kết thúc.Câu chuyện về cái bẫy xa xỉ đã chỉ ra một bài học quan trọng.
Sự tìm kiếm một cuộc sống dễ chịu hơn của nhân loại đã giải phóng những sức mạnh
to lớn, biến đổi thế giới theo những cách mà không ai hình dung hay mong muốn.
Không ai mưu tính Cách mạng Nông nghiệp hoặc tìm kiếm sự phụ thuộc của con người
vào việc trồng trọt ngũ cốc. Từ một loạt những quyết định thông thường chủ yếu
nhằm lấp đẩy những cái bụng rỗng và có được một chút an toàn, đã có tác động
tích tụ trong việc ép buộc những người hái lượm cổ đại dành cả ngày của mình để
gánh mấy thùng nước đầy dưới ánh nắng thiêu đốt.Sự can thiệp của thần linhViễn cảnh trên đã lý giải rằng Cách mạng Nông nghiệp là một
tính toán sai lầm. Rất có khả năng. Lịch sử chứa đầy những sai lầm còn ngớ ngẩn
hơn nhiều. Nhưng còn một khả năng khác. Có thể không phải việc kiếm tìm một cuộc
sống dễ chịu hơn đã tạo ra sự thay đổi. Có thể Sapiens có những mong muốn khác,
và chủ ý làm cuộc sống của mình vất vả hơn để đạt được chúng.Các nhà khoa học luôn muốn quy sự phát triển lịch sử cho các
yếu tố kinh tế và nhân khẩu học buồn tẻ. Nó phù hợp hơn với những phương pháp
lý trí và toán học của họ. Trong lịch sử hiện đại, các học giả không thể tránh
khỏi việc đưa vào các nhân tố phi vật chất như ý thức hệ và văn hoá. Bằng chứng
thành văn ép buộc họ. Chúng ta có đủ các tài liệu, thư từ, hồi ký để chứng tỏ rằng
Thế chiến II xảy ra không phải do thiếu hụt thực phẩm hay áp lực dân số. Nhưng
chúng ta không có tài liệu từ nền văn hoá Natuhan, vì vậy khi nghiên cứu về những
thời kỳ cổ đại, các nhà duy vật chiếm ưu thế tuyệt đối. Thật khó để chứng minh
rằng con người trước khi có chữ viết đã bị thôi thúc bởi niềm tin hơn là những
nhu cầu kinh tế.Song, trong một vài trường hợp hiếm hoi, chúng ta có đủ may mắn
để tìm ra được những manh mối tiết lộ. Vào năm 1995, các nhà khảo cổ học bắt đầu
khai quật một khu vực thuộc phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, gọi là Göbekli Tepe.
Trong những địa tầng cổ xưa nhất, họ không phát hiện ra dấu hiệu nào của sự định
cư, những ngôi nhà, hay những hoạt động thường ngày. Tuy nhiên, họ đã phát hiện
ra những kiến trúc vĩ đại được chống đỡ bằng cột trụ và trang trí bằng các hình
chạm khắc vô cùng đẹp mắt. Mỗi cột đá nặng đến 7 tấn và cao tới 5 mét. Ở mỏ đá
gần đấy, họ tìm thấy một cột đá đã được chạm trổ một nửa, nặng 50 tấn. Tổng cộng,
họ phát hiện ra khoảng hơn 10 kiến trúc vĩ đại, cái lớn nhất có bề ngang gần 30
mét.Các nhà khảo cổ học đã quá quen thuộc với những công trình kiến
trúc hoành tráng như vậy được phát hiện ở nhiều di chỉ trên thế giới – nổi tiếng
nhất là bãi đá cổ Stonehenge ở Anh. Song, khi nghiên cứu về Göbekli Tepe, họ đã
khám phá ra một sự thật kinh ngạc. Stonehenge có niên đại khoảng năm 2500 TCN
và được xây dựng bởi một xã hội nông nghiệp phát triển. Những kiến trúc ở
Göbekli Tepe có niên đại khoảng năm 9500 TCN, và mọi bằng chứng hiện có đều chỉ
ra rằng chúng do những người săn bắt hái lượm xây dựng nên. Cộng đồng khảo cổ học
ban đầu cảm thấy khó mà tin vào những phát hiện này, nhưng các cuộc kiểm tra
sau đó đã xác nhận niên đại sớm của những công trình kiến trúc đó, cũng như những
người xây dựng nên chúng đã sống trong một xã hội tiền nông nghiệp. Các khả
năng của người hái lượm cổ đại và sự phức tạp về văn hoá của họ có vẻ gây ấn tượng
vượt xa những dự đoán trước đây.Một trong những cột đá được trang trí (cao khoảng 5 mét)Tại sao một xã hội hái lượm lại xây dựng được những công
trình kiến trúc như vậy. Chúng không mang mục đích vị lợi rõ ràng. Chúng không
phải là những lò sát sinh voi ma-mút, cũng không phải là nơi che mưa che nắng
hay nơi ẩn nấp để trốn tránh sư tử. Chỉ còn một giả định là chúng được xây dựng
cho một mục đích văn hoá thần bí nào đó mà các nhà khảo cổ học đã phải mất thời
gian giải đoán vất vả. Dù là gì đi nữa, người hái lượm đã nghĩ rằng rất đáng để
bỏ nhiều công sức và thời gian xây dựng những công trình này Cách duy nhất để
xây dựng được Göbekli Tepe là hàng ngàn con người thuộc rất nhiều bầy người và
bộ lạc khác nhau phải hợp tác trong một khoảng thời gian dài. Chỉ có tôn giáo
hoặc hệ thống ý thức hệ phức tạp mới có thể duy trì được những nỗ lực như vậy.Göbekli Tepe còn nắm giữ những bí mật lý thú khác. Trong nhiều
năm, các nhà di truyền học đã truy tìm nguồn gốc của lúa mì thuần chủng. Những
phát hiện gần đây đã chỉ ra rằng có ít nhất một biến thể đã được thuần chủng,
giống lúa mì einkorn, có nguồn gốc từ đồi Karaçadag, cách Göbekli Tepe khoảng
30 km.Đây khó có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nó kiểu như là
trung tâm văn hoá Göbekli Tepe bằng cách nào đó có liên hệ giữa việc thuần hoá
ban đầu của con người với lúa mì và giữa lúa mì với con người. Để có thể nuôi
dưỡng được những người xây dựng và sử dụng các kiến trúc vĩ đại này, đòi hỏi phải
có một lượng thực phẩm cực kỳ lớn. Như vậy có thể là con người đã chuyển từ việc
hái lượm lúa mì hoang sang việc chăm chỉ trồng lúa mì, không chỉ để làm tăng lượng
cung cấp thực phẩm bình thường mà còn để hỗ trợ xây dựng và vận hành một ngôi đền.
Trong hình dung thông thường, những người đi khai hoang ban đầu sẽ xây dựng một
ngôi làng, và khi nó trở nên thịnh vượng, họ sẽ xây dựng một ngôi đền ở khu
trung tâm. Nhưng Göbekli Tepe lại cho thấy rằng, đền thờ có thể được xây dựng đầu
tiên, sau đó làng mới mọc lên quanh nó.Những nạn nhân của Cách mạngThỏa thuận Faust [★] giữa
con người và ngũ cốc không phải là trường hợp duy nhất mà loài người đã thực hiện.
Một thỏa thuận khác được ký kết liên quan đến số phận của các loài động vật như
cừu, dê, lợn và gà. Những bầy người du cư lén đuổi theo những con cừu hoang dã
đã dần làm thay đổi cấu tạo của bầy thú mà họ săn. Quá trình này có khả năng bắt
đầu bằng việc săn bắt có chọn lọc. Con người đã nhận thấy rằng họ sẽ có lợi nếu
chỉ săn bắt những con cừu đực trưởng thành hoặc những con cừu già hay ốm yếu. Họ
tha cho những con cừu cái tốt giống và những con cừu còn non để đảm bảo khả
năng tồn tại lâu dài của đàn thú địa phương. Bước thứ hai có thể là tích cực bảo
vệ đàn thú khỏi những động vật ăn thịt, đánh đuổi sư tử, chó sói và những bầy
người thù địch khác. Tiếp theo, họ có thể dồn đàn thú vào trong những hẻm núi
chật hẹp để kiểm soát và bảo vệ chúng tốt hơn. Cuối cùng, họ bắt đầu lựa chọn
những con cừu một cách cẩn thận hơn để đáp ứng nhu cầu của mình. Những con cừu
đực hung hăng nhất, kháng cự hùng hổ nhất sự quản lý của con người sẽ bị thịt đầu
tiên. Tương tự như vậy với những con cái gầy gò nhất và thường phá phách nhất.
(Người chăn cừu không thích những con cừu có tính tò mò hay tách khỏi bầy đàn của
nó). Cứ mỗi lứa trôi qua, đàn cừu càng trở nên béo tốt hơn, ngoan ngoãn hơn và
ít tò mò hơn. Thế đấy! Mary có một con cừu nhỏ, và mỗi khi Mary đi bất cứ đâu,
nó cũng đi theo.[★]Khả năng khác là những người đi săn có thể bắt và “nuôi dưỡng”
một con cừu, vỗ béo nó trong những tháng sung túc và giết thịt nó trong mùa đói
kém. Ở một số giai đoạn, họ bắt đầu giữ lại nhiều hơn những con cừu như vậy. Một
số con cừu đến tuổi động dục và bắt đầu sinh sản. Những con hung hăng nhất, ngỗ
ngược nhất sẽ được đưa đến lò mổ đầu tiên. Những con ngoan ngoãn nhất, béo tốt
nhất sẽ được phép sinh sản và sống lâu hơn. Kết quả là một đàn cừu đã được thuần
hoá và biết nghe lời.Những con vật đã được thuần hoá như cừu, gà, lừa và nhiều con
khác, cung cấp thực phẩm (thịt, trứng, sữa), nguyên liệu thô (da, lông) và sức
mạnh cơ bắp. Vận chuyển, cày xới, xay nghiền và các việc khác, cho tới lúc bấy
giờ được thực hiện bởi con người, thì nay đã được các con vật thay thế ngày
càng nhiều hơn. Trong hầu hết các xã hội nông nghiệp, con người chủ yêu tập
trung vào việc trồng trọt, còn chăn nuôi là hoạt động thứ cấp. Nhưng một mô
hình xã hội mới cũng đã xuất hiện ở vài nơi, chủ yếu dựa vào việc khai thác các
loài vật: những bộ lạc chăn nuôi gia súc trên đồng cỏ.Khi con người lan ra khắp thế giới, theo đó những con vật mà
họ thuần hoá cũng vậy. Cách đây khoảng 10.000 năm, chỉ có vài triệu con cừu,
bò, dê, lợn và gà sống trong những hang hốc hạn hẹp ở Á-Phi. Ngày nay, thế giới
có khoảng một tỉ con cừu, một tỉ con lợn, hơn một tỉ con gia súc và hơn 25 tỉ
con gà. Và chúng ở khắp nơi trên địa cầu. Gà thuần chủng là loại thịt phổ biến
nhất cho đến tận bây giờ. Sau Homo sapiens, các loài gia súc, lợn và cừu thuần
chủng là những loài động vật lớn có vú lan tỏa rộng khắp hơn cả, vào hàng thứ
hai, thứ ba và thứ tư trên thế giới. Từ góc nhìn hẹp về tiến hoá, vốn đánh giá
sự thành công dựa vào số lượng bản sao ADN, Cách mạng Nông nghiệp là ân huệ tuyệt
vời cho gà, gia súc, lợn và cừu.Thật không may, góc nhìn tiến hoá là một đánh giá không hoàn
chỉnh về sự thành công. Nó phán xét mọi thứ bằng tiêu chuẩn về sống sót và sinh
sản mà không quan tâm đến nỗi đau khổ hay niềm hạnh phúc của mỗi cá thể. Gà và
gia súc thuần hoá có thể là một câu chuyện tiến hoá thành công, nhưng chúng
cũng ở trong số những sinh vật khốn khổ nhất từng tồn tại. Thuần hoá động vật
đã được dựa trên các biện pháp tàn bạo nhất, và ngày càng trở nên độc ác hơn
theo các thế kỷ.Đời sống trong tự nhiên của gà hoang kéo dài khoảng 7-12 năm,
và đối với gia súc là khoảng 20-25 năm. Trong môi trường hoang dã, hầu hết gà
và gia súc sẽ chết sớm hơn nhiều, nhưng chúng lại có cơ hội sống tốt hơn trong
một vài năm tươi đẹp. Ngược lại, đại đa số gà và gia súc được thuần hoá đều bị
giết thịt khi mới được vài tuần hoặc vài tháng tuổi, vì đó luôn là độ tuổi giết
mổ tối ưu đứng trên quan điểm kinh tế. (Tại sao phải nuôi một con gà đến ba năm
nếu như nó đã đạt cân nặng tối đa sau ba tháng?)Gà mái đẻ, bò sữa và súc vật kéo xe đôi khi cũng được phép sống
nhiều năm. Nhưng cái giá phải trả là sự nô dịch hoá trong một cuộc sống hoàn
toàn xa lạ với những nhu cầu và khát vọng của chúng. Ví dụ, có thể giả định hợp
lý rằng bò đực thích lang thang trên những đồng cỏ rộng rãi cùng với bò đực và
bò cái khác, hơn là kéo những chiếc xe và cái cày dưới gông cùm của một con vượn
cầm roi.Hình 13. Một bức tranh từ ngôi mộ của người Ai Cập (khoảng
năm 1200 TCN): một cặp bò đực thiến đang cày ruộng. Trong tự nhiên, gia súc đi
lang thang, chúng thấy dễ chịu khi ở trong bầy với một cấu trúc xã hội phức tạp.
Bò đực bị thiến và thuần hoá đã lãng phí đời mình dưới roi đòn và trong chiếc
chuồng hẹp, lao động đơn độc hoặc theo cặp, một kiểu sống không thích hợp với
cơ thể cũng như nhu cầu bầy đàn và cảm xúc của chúng. Khi một con bò đực không
thể kéo cày được nữa, nó sẽ bị thịt. (Để ý tư thế cong người của người nông dân
Ai Cập cũng rất giống bò đực, dành cả đời mình để lao động cực nhọc, ngược đãi
cơ thể, tâm trí và các mối quan hệ xã hội của anh ta.)Để có thể biến bò đực, ngựa, lừa và lạc đà thành những con vật
kéo xe biết nghe lời, phải phá vỡ các bản năng tự nhiên và gắn kết bầy đàn, phải
kìm lại tính hung hăng và bản năng tình dục, tước đi sự tự do di chuyển của
chúng. Nông dân phát triển những kĩ thuật như nhốt súc vật trong chuồng, lồng,
kìm giữ chúng bằng dây cương hoặc xích, huấn luyện chúng bằng roi da và gậy nhọn,
cắt bỏ những bộ phận không cần thiết của chúng. Hầu hết những con đực đều bị
thiến trong quá trình thuần hoá. Làm vậy sẽ kiềm chế tính hung hăng của con đực,
giúp con người có thể kiểm soát có chọn lọc việc sinh sản của gia súc.Trong nhiều cộng đồng xã hội New Guinea, theo truyền thống, sự
giàu có của một người được đánh giá bằng số lợn mà anh ta hay chị ta sở hữu. Để
ngăn lợn không đi mất, những nông dân ở phía bắc New Guinea đã cắt bỏ một mẩu
mũi của chúng. Điều này sẽ gây ra đau đớn khủng khiếp mỗi khi con vật cố gắng
đánh hơi. Vì lợn không thể tìm thức ăn và thậm chí không thể tìm được đường đi
mà không đánh hơi, nên sự cắt bỏ này làm chúng phụ thuộc hoàn toàn vào người chủ
của mình. Ở vùng khác thuộc New Guinea, có tục chọc mù mắt lợn để chúng thậm
chí không thể nhìn được mình đang đi đâu.Ngành công nghiệp sản xuất bơ sữa cũng có nhiều chiêu trò
riêng để cưỡng ép các loài vật làm theo ý muốn của mình. Bò, dê và cừu chỉ tiết
sữa sau khi đẻ, và chỉ khi những con con còn bú. Để tiếp tục vắt sữa động vật,
nông dân cần những con con bú mẹ, nhưng lại phải ngăn chúng độc quyền nguồn sữa.
Một trong những cách phổ biến trong lịch sử là đơn giản giết thịt những con con
ngay sau khi sinh ra, vắt sữa con mẹ triệt để và sau đó lại làm con mẹ tiếp tục
mang thai. Đây hiện vẫn là một phương pháp rất phổ biến. Trong nhiều trang trại
sữa hiện đại, một con bò sữa thường sống được khoảng năm năm trước khi bị thịt.
Trong suốt năm năm đó, nó thường mang thai liên tục, và lại được thụ tinh trong
vòng 60 đến 120 ngày sau khi sinh con để duy trì việc cho sữa tối đa. Bò con bị
tách khỏi mẹ rất sớm sau khi sinh. Con cái được nuôi để trở thành thế hệ bò sữa
tiếp theo, trong khi đó con đực được chuyển cho ngành công nghiệp sản xuất và
chế biến thịt.Một phương pháp khác là giữ cho những con con ở gần con mẹ,
nhưng dùng nhiều mẹo để đánh lừa chúng, ngăn chúng bú quá nhiều sữa. Cách đơn
giản nhất là cho những con dê con hoặc con bê bắt đầu bú mẹ, nhưng khi sữa bắt
đầu chảy thì lại mang chúng đi chỗ khác. Cách này thường gặp phải sự kháng cự của
cả con mẹ lẫn con con. Một số bộ lạc chăn cừu thường giết những con con, ăn thịt
và nhồi da chúng. Những con con đã bị nhồi da sau đó sẽ được đưa đến chỗ con mẹ,
và sự có mặt này sẽ kích thích sự tiết sữa của con mẹ. Bộ lạc Nuer ở Sudan thậm
chí còn bôi nước tiểu của con mẹ lên những con con đã bị nhồi da, làm cho chúng
có mùi quen thuộc và như thật. Một kĩ thuật khác của người Nuer là buộc một
vòng cây có gai xung quanh mõm của con bê, khiến nó chọc vào con mẹ và con mẹ
không muốn cho con con bú sữa. Người Tuareg chăn nuôi lạc đà ở Sahara thường
đâm thủng hoặc cắt đi các phần mũi hoặc môi trên của lạc đà con, khiến chúng
đau khi cố bú, do đó ngăn chúng tiêu thụ quá nhiều sữa.Không phải mọi xã hội nông nghiệp đều tàn bạo như vậy với vật
nuôi trong trang trại của mình. Cuộc sống của một số loài động vật thuần hoá có
thể khá tốt. Cừu được nuôi để lấy len, chó, mèo, ngựa chiến, ngựa đua thường được
hưởng những điều kiện sống cực kỳ thoải mái. Nghe đâu Hoàng đế La Mã Caligula từng
có ý định phong chức quan chấp chính cho con ngựa yêu thích của mình là
Incitatus. Trong lịch sử, những người chăn cừu và nông dân đều thể hiện tình cảm
yêu mến của mình đối với vật nuôi và chăm sóc chúng rất chu đáo, giống như các
chủ nô yêu quý và quan tâm đến nô lệ của mình. Không phải ngẫu nhiên mà những
ông vua và nhà tiên tri đều tạo cho mình phong cách giống người chăn cừu, so
sánh cách họ và những vị thần quan tâm đến thần dân như người chăn cừu châm sóc
bầy cừu của mình.Hình 14. Một con bê thời nay trong một trang trại thịt công
nghiệp. Ngay sau khi ra đời, con bê sẽ bị tách khỏi mẹ và nhốt trong cái chuồng
chật hẹp không lớn hơn kích thước thân nó là bao. Con bê sẽ ở đó trong toàn bộ
đời mình, trung bình khoảng bốn tháng. Nó không bao giờ rời chuồng, cũng như
không được phép chơi đùa cùng các con bê khác, thậm chí không được bước đi, tất
cả chỉ để cơ bắp của nó không phát triển được. Bắp mềm đồng nghĩa với món bít-tết
mềm và ngon. Lần đầu tiên con bê có cơ hội đi bộ, kéo giãn cơ bắp và chạm vào
các con bê khác là trên đường tới lò mổ. Theo quan điểm tiến hoá, gia súc đại
diện cho một trong những loài động vật từng tồn tại thành công nhất. Đồng thời,
chúng là một trong những loài động vật khốn khổ nhất hành tinh.Song, nếu nhìn từ quan điểm của vật nuôi hơn là của người
chăn chúng, thật khó tránh cảm giác là với đại đa số các loài vật đã thuần hoá,
Cách mạng Nông nghiệp là một thảm họa tồi tệ. “Thành công” theo quan điểm tiến
hoá thật vô nghĩa. Những con tê giác hoang dã quý hiếm đang bên bờ vực tuyệt chủng
có thể sẽ thấy thỏa mãn hơn mấy con bê con với cuộc đời ngắn ngủi trong cái chuồng
chật hẹp, bị vỗ béo để trở thành miếng bít-tết ngon lành. Những con tê giác thỏa
mãn này cũng là những cá thể còn sống sót cuối cùng trong loài. Sự thành công về
số lượng của loài bê chỉ là sự an ủi nhỏ nhoi cho những đau đớn mà mỗi cá thể
phải chịu đựng.Sự khác biệt giữa thành công về mặt tiến hoá và sự đau đớn của
mỗi cá thể có lẽ là bài học quan trọng nhất mà chúng ta có thể rút ra từ Cách mạng
Nông nghiệp. Khi chúng ta nghiên cứu câu chuyện của các loài thực vật như lúa
mì, ngô, lý lẽ thuần tiến hoá nghe còn có vẻ hợp lý. Tuy nhiên, trong trường hợp
các loài động vật như gia súc, cừu và Sapiens, với mỗi loài đều có thế giới cảm
giác và cảm xúc phức tạp riêng, chúng ta phải xem xét sự thành công về mặt tiến
hoá này chuyển dịch sang trải nghiệm của mỗi cá thể như thế nào. Trong các
chương tiếp theo, chúng ta sẽ thấy sự lặp đi lặp lại của việc gia tăng ngoạn mục
sức mạnh tập thể và thành công bề ngoài của loài người đã đi kèm với sự gia
tăng khổ đau của mỗi cá nhân ra sao.Chương 6 - Xây dựng những kim tự tháp Cách mạng Nông nghiệp là một trong những sự kiện gây tranh
cãi nhất trong lịch sử. Một số người ủng hộ tuyên bố cuộc cách mạng này đã đưa
nhân loại đi trên con đường tiến đến phồn vinh và tiến bộ. Số khác thì khăng
khăng nói rằng nó dẫn tới diệt vong. Họ nói, đó là một bước ngoặt, nơi mà con
người vứt bỏ mối quan hệ cộng sinh mật thiết với tự nhiên, trở nên tham lam và
tha hoá. Dù con đường có đi theo hướng nào, cũng không còn đường lui. Nông nghiệp
đã làm cho dân số tăng lên triệt để và nhanh chóng tới mức không một xã hội
nông nghiệp phức tạp nào còn có thể duy trì được chính nó nếu quay lại thời kỳ
săn bắt và hái lượm. Khoảng năm 10000 TCN, trước khi chuyển sang nông nghiệp,
Trái đất là ngôi nhà của khoảng 5-8 triệu người hái lượm du cư. Vào thế kỷ 1,
chỉ còn khoảng 1-2 triệu người hái lượm (chủ yếu ở châu Úc, châu Mỹ và châu
Phi), nhưng con số này có vẻ nhỏ nhoi so với 250 triệu nông dân trên thế giới.Đại đa số nông dân sống ở những khu định cư ổn định; chỉ một
số ít là dân chăn cừu nay đây mai đó. Việc định cư khiến cho hầu hết đất đai của
con người bị co lại đáng kể. Những người sân bắt hái lượm cổ đại thường sống ở
những khu vực đất đai rộng hàng chục, thậm chí hàng trăm cây số vuông. “Nhà” của
họ chính là toàn bộ vùng đất, với núi đồi, sông suối, rừng cây và bầu trời rộng
mở. Ngược lại, nông dân sử dụng hầu hết thời gian của họ để làm việc trên những
cánh đồng hoặc vườn cây ăn quả nhỏ hẹp, và cuộc sống gia đình của họ tập trung
trong những công trình xây dựng bằng gỗ, đá hoặc đất bùn tù túng, mỗi cái rộng
không quá vài chục mét vuông. Một nông dân điển hình thường phát sinh sự gắn bó
mật thiết với công trình này. Đó là một cuộc cách mạng có ảnh hưởng sâu rộng,
có tác động tâm lý nhiều như kiến trúc. Từ đó trở đi, sự gắn bó với “nhà của
tôi” và sự tách biệt với những người hàng xóm trở thành dấu hiệu tâm lý của
loài sinh vật tự lấy mình làm trung tâm.Những vùng nông nghiệp mới không chỉ nhỏ hơn rất nhiều so với
vùng đất của người hái lượm cổ đại, mà còn mang tính nhân tạo hơn nhiều. Ngoài
việc sử dụng lửa, người săn bắt hái lượm chỉ chủ ý tạo ra một số thay đổi đối với
vùng đất mà họ đi qua. Ngược lại, nông dân sống trong những hòn đảo nhân tạo mà
họ vất vả dựng lên từ thiên nhiên hoang dã quanh mình. Họ chặt rừng, đào kênh
mương, phát quang cánh đồng, xây dựng nhà cửa, cày đất thành luống, trồng cây
ăn quả theo hàng lối trật tự. Kết quả là, môi trường sống nhân tạo này chỉ dành
cho con người cũng như các loài động thực vật “của họ”, và nó thường xuyên được
bao kín bởi các bức tường và hàng rào. Các gia đình nông dân đã làm mọi thứ có
thể để ngăn chặn những loài cỏ dại bướng bỉnh và thú hoang. Nếu chúng xâm phạm,
họ sẽ đuổi chúng ra ngoài. Nếu chúng ngoan cố, con người sẽ tìm cách tiêu diệt
chúng. Đặc biệt, những hàng rào kiên cố được dựng lên xung quanh nhà. Từ buổi
bình minh của nông nghiệp cho đến hôm nay, hàng tỉ người với các loại vũ khí
như cành cây, vỉ đập ruồi, giày dép và bình xịt chất độc, đã tiến hành một cuộc
chiến liên tục chống lại những con kiến siêng năng, những con gián lén lút, những
con nhện phiêu lưu, những con bọ cánh cứng đi lạc, là những kẻ liên tục thâm nhập
vào nơi ở của họ.Trong hầu hết lịch sử, những vùng đất do con người tạo ra này
vẫn rất nhỏ bé, được bao quanh bởi những dải đất rộng của thiên nhiên chưa được
chế ngự. Bề mặt Trái đất rộng khoảng 510 triệu km², trong đó 155 triệu km² là đất
liền. Muộn nhất là năm 1400, đại đa số nông dân cùng với cây trồng và vật nuôi
của mình đã chụm lại với nhau trên một diện tích 11 triệu km², chiếm 2% bề mặt
hành tinh. Mọi nơi khác đều quá lạnh, quá nóng, quá khô, quá ẩm ướt, thêm nữa
là không thích hợp cho trồng trọt. Lịch sử loài người đã mở ra trên 2% nhỏ xíu
này của bề mặt Trái đất.Con người cảm thấy rất khó rời bỏ những hòn đảo nhân tạo của
mình. Họ không thể bỏ được nhà cửa, ruộng đồng, kho lương thực nếu như không phải
chịu những nguy cơ tổn thất nghiêm trọng. Hơn nữa, theo thời gian, họ tích lũy
được ngày càng nhiều thứ không dễ chuyển đi, nó đã trói buộc họ. Với chúng ta,
nông dân cổ đại dường như rất nghèo, tuy thế một gia đình nông dân điển hình
thường sở hữu đồ chế tác còn nhiều hơn cả một bộ lạc hái lượm.Sự xuất hiện của tương laiTrong khi vùng đất trống có thể sử dụng được trong nông nghiệp
bị thu hẹp lại thì thời gian dành cho việc nhà nông lại kéo dài ra. Người hái
lượm thường không tốn nhiều thời gian để nghĩ đến tuần tới, tháng tới. Nông dân
còn mặc cho trí tưởng tượng của họ lướt đi thêm hàng năm, hàng chục năm trong
tương lai.Người hái lượm không tính đến tương lai, vì họ sống giật gấu
vá vai, và chỉ có thể dự trữ thức ăn hoặc tích lũy tài sản một cách khó khăn. Tất
nhiên, rõ ràng họ cũng lên kế hoạch tương lai. Hầu hết các tác giả của những bức
vẽ trong hang Chauvet, Lascaux và Altamira đều muốn chúng tồn tại cho các thế hệ
tiếp theo. Các liên minh xã hội và sự ganh đua chính trị đều là những vấn đề
dài hạn. Thường phải mất nhiều năm để báo đáp một ơn huệ hoặc sửa chữa một sai
lầm. Tuy nhiên, trong nền kinh tế tự cung tự cấp dựa vào săn bắt và hái lượm,
những kế hoạch dài hạn như vậy có một giới hạn rõ ràng. Điều nghịch lý là nó
giúp người hái lượm bớt âu lo khá nhiều. Thật phi lý khi lo lắng về những điều
mà họ không thể tác động.Cách mạng Nông nghiệp đã làm cho tương lai xa trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết. Nông dân luôn giữ tương lai ở trong đầu và phải làm việc để phục
vụ nó. Nền kinh tế nông nghiệp dựa trên chu trình sản xuất theo mùa, bao gồm những
tháng dài cày cấy trồng trọt, theo sau là những thời kỳ thu hoạch ngắn ngủi.
Vào đêm tiếp theo sau khi kết thúc một vụ mùa bội thu, nông dân có thể tổ chức
ăn mừng cho những gì mà họ xứng đáng được hưởng, nhưng trong vòng một tuần sau
đó họ lại tiếp tục ra đồng từ sớm tinh mơ và làm việc cả một ngày. Mặc dù có đủ
thức ăn cho hôm nay, tuần tới, và kể cả tháng tới, nhưng họ vẫn phải lo lắng về
năm sau và năm sau nữa.Lo lắng về tương lai đã bén rễ không chỉ trong những chu
trình sản xuất theo mùa vụ, mà trong cả đặc điểm không chắc chắn của nông nghiệp.
Vì hầu hết các làng đều nuôi trồng giới hạn các giống cây con đã thuần hoá, nên
chúng là miếng mồi ngon của hạn hán, lũ lụt và sâu bệnh. Nông dân buộc phải sản
xuất nhiều hơn lượng họ tiêu thụ để dành cho việc dự trữ. Không có ngũ cốc
trong kho lương thực, chai dầu ô-liu trong hầm chứa, pho mát trong chạn đựng,
xúc xích treo trên xà nhà, họ sẽ bị chết đói trong những năm mất mùa. Và những
năm mất mùa rồi sẽ đến, không sớm thì muộn. Người nông dân nào tin rằng những
năm mất mùa sẽ không đến thì chẳng thể sống được lâu.Kết quả là ngay từ khi nông nghiệp xuất hiện, các nỗi lo âu về
tương lai trở thành những diễn viên chính trong rạp hát tâm trí của loài người.
Ở những nơi mà nông dân dựa vào mưa để tưới tắm cho cánh đồng của mình, mùa mưa
bắt đầu đồng nghĩa với việc mỗi buổi sáng, nông dân sẽ nhìn chằm chằm về chân
trời, ngửi hít mùi gió và căng mắt lên. Có phải mây đó không? Những cơn mưa sẽ
đến đúng lúc chứ? Mưa có đủ không? Liệu những trận bão dữ dội có quét sạch hạt
giống trên cánh đồng hay làm dập nát cây con không? Trong lúc đó, ở thung lũng
các sông Euphrates, Ấn và Hoàng Hà, những nông dân khác cũng không kém phần lo
lắng khi theo dõi mực nước sông.Họ cần những dòng sông dâng cao để bồi đắp cho tầng đất mặt
màu mỡ đã bị rửa trôi nơi cao nguyên, và làm cho hệ thống tưới tiêu rộng lớn của
họ tràn đầy nước. Nhưng những cơn lũ dâng nước lên quá cao hoặc tới không đúng
thời điểm sẽ phá hủy mùa màng của họ giống như nạn hạn hán vậy.Nông dân lo âu về tương lai không chỉ bởi họ có nhiều thứ để
lo lắng, mà còn bởi họ có thể làm điều gì đó để tác động đến nó. Họ có thể phát
quang những cánh đồng khác, đào những kênh mương tưới tiêu khác, gieo những giống
cây khác. Người nông dân sầu muộn đã làm việc chăm chỉ như những con kiến thợ
trong mùa hè, đổ mồ hôi trồng những cây ô-liu để con cái và bố mẹ họ ép lấy dầu,
để dành những thực phẩm mà họ muốn ăn hôm nay cho mùa đông hoặc năm sau.Sự căng thẳng của việc nhà nông có những hậu quả đáng kể. Nó
là nền tảng cho các hệ thống chính trị và xã hội quy mô lớn. Nhưng thật đáng buồn,
người nông dân cần cù hầu như không bao giờ đạt tới sự đảm bảo về kinh tế trong
tương lai mà họ rất khao khát có được qua việc lao động cực nhọc ở hiện tại. Ở
khắp nơi, những kẻ cai trị và giới tinh hoa xuất hiện, sống bằng thực phẩm dư
thừa của nông dân và bỏ mặc họ với cuộc sống nghèo nàn.Số thực phẩm dư thừa bị tước mất được cung cấp cho các hoạt động
chính trị, chiến tranh, nghệ thuật và triết học. Người ta xây dựng các cung điện,
pháo đài, công trình tưởng niệm và đền thờ. Cho đến tận kỷ nguyên hiện đại, hơn
90% nhân loại là nông dân, những người đã đổ mồ hôi từ sớm tinh mơ cho đến lúc
tối mịt. Sản phẩm dư thừa mà họ làm ra chỉ để nuôi dưỡng một thiểu số của giới
tinh hoa – vua chúa, quan chức nhà nước, binh lính, linh mục, nghệ sĩ, nhà tư
tưởng – những kẻ chiếm hết chỗ trong sử sách. Lịch sử là cái gì đó do rất ít
người đã và đang tạo ra, trong khi mọi người khác vẫn đang cày bừa trên những
cánh đồng và vác các thùng nước đầy.Một trật tự tưởng tượngSự dư thừa thức ăn do nông dân làm ra, đi cùng với công nghệ
vận chuyển mới, ngày càng khiến nhiều người bị nhồi nhét bên nhau, ban đầu là
trong những ngôi làng rộng lớn, sau đó là thị trấn và cuối cùng là thành phố. Tất
cả họ đều cùng gia nhập các vương quốc và mạng lưới thương mại mới.Song, để tận dụng lợi thế của những cơ hội mới này, sự dư thừa
thực phẩm và giao thông vận tải cải tiến là chưa đủ. Thực tế là có thể nuôi sống
cả ngàn người trong cùng một thị trấn và một triệu người trong cùng một vương
quốc, nhưng không thể đảm bảo rằng họ có thể thống nhất với nhau về việc phân
chia đất đai hay nguồn nước, cũng như làm thế nào để xoa dịu các cuộc tranh luận
hoặc xung đột, và làm gì trong thời kỳ hạn hán hoặc chiến tranh. Và nếu không đạt
được sự đồng thuận nào, xung đột sẽ lan rộng cho dù những kho chứa lương thực
đang phình ra. Không phải thiếu thốn lương thực đã gây ra hầu hết các cuộc chiến
tranh và cách mạng trong lịch sử. Những luật sư giàu có đã cầm đầu Cách mạng
Pháp chứ không phải những nông dân chết đói. Cộng hòa La Mã đạt tới đỉnh cao
quyền lực của nó trong thế kỷ 1 TCN, khi những hạm đội châu báu từ khắp nơi
trên biển Địa Trung Hải làm giàu cho người La Mã, vượt quá cả những giấc mơ
điên cuồng nhất của tổ tiên họ. Thời điểm giàu có tột cùng nhất cũng là lúc trật
tự chính trị La Mã sụp đổ trong một loạt các cuộc nội chiến đẫm máu. Nam Tư vào
năm 1991 có thừa tài nguyên để nuôi sống tất cả người dân của mình, nhưng vẫn
tan rã bằng một cuộc chiến khủng khiếp.Vấn để gốc rễ của những tai ương như vậy chính là việc con
người đã tiến hoá trong hàng triệu năm từ những bầy nhỏ gồm vài chục thành
viên. Một vài thiên niên kỷ ít ỏi phân tách Cách mạng Nông nghiệp với sự xuất
hiện của các thành phố, vương quốc và đế quốc không đủ cho bản năng hợp tác rộng
rãi tiến hoá kịp.Mặc dù thiếu những bản năng sinh học như vậy, nhưng trong suốt
thời đại hái lượm, hàng trăm con người xa lạ vẫn có thể hợp tác nhờ những huyền
thoại chung giữa họ. Tuy nhiên, sự hợp tác này lỏng lẻo và hạn chế. Mỗi bầy
Sapiens tiếp tục sống độc lập và tự đáp ứng những nhu cầu cơ bản của mình. Một
nhà xã hội học cổ xưa sống cách đây 20.000 năm, không biết gì về những sự kiện
tiếp sau Cách mạng Nông nghiệp, có thể đã kết luận rằng phạm vi của huyền thoại
rất giới hạn. Các câu chuyện về những linh hồn tổ tiên và vật tổ của bộ lạc đủ
mạnh để làm cho 300 con người trao đổi vỏ sò, ăn mừng một lễ hội kỳ quặc, và hợp
sức đánh đuổi Neanderthal, nhưng tất cả chỉ có vậy. Các nhà xã hội học thời cổ
đại có thể nghĩ rằng, huyền thoại không thể khiến hàng triệu con người xa lạ có
thể hợp tác với nhau hằng ngày.Nhưng suy nghĩ này hoá ra thật sai lầm. Thực tế là huyền thoại
có sức mạnh lớn hơn những gì người ta từng tưởng tượng. Khi Cách mạng Nông nghiệp
mở ra nhiều cơ hội cho việc hình thành những thành phố đông đúc và những đế quốc
hùng mạnh, con người đã sáng tạo các câu chuyện về các vị thần vĩ đại, đất mẹ
và công ty cổ phần để cung cấp những mối liên kết xã hội cần thiết. Trong khi sự
tiến hoá của con người chậm chạp như ốc sên thì trí tưởng tượng của con người lại
đang xây dựng nên những mạng lưới hợp tác đại chúng đáng kinh ngạc, không giống
như những gì mà người ta đã từng thấy trên Trái đất.Khoảng năm 8500 TCN, các khu định cư lớn nhất trên thế giới
là những ngôi làng, ví dụ như Jericho, có khoảng vài trăm thành viên. Khoảng
năm 7000 TCN, thị trấn Çatalhöyük ở Anatolia có khoảng 5.000 đến 10.000 dân. Rất
có thể, nó là khu vực định cư lớn nhất thế giới vào thời điểm đó. Trong suốt
thiên niên kỷ 4 và 5 TCN, những thành phố với hàng chục ngàn cư dân đã mọc lên ở
vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu (Fertile Crescent), và mỗi thành phố trong khu vực này
đều kiểm soát nhiều ngôi làng lân cận. Năm 3100 TCN, toàn bộ vùng hạ lưu thung
lũng sông Nile hợp nhất với nhau hình thành nên vương quốc Ai Cập. Các Pharaoh
đã cai trị hàng ngàn cây số vuông đất đai và hàng trăm ngàn dân. Khoảng năm
2230 TCN, Sargon Đại đế đã xây dựng đế chế đầu tiên, Akkad. Đế chế này rất tự
hào về một triệu thần dân của mình cùng đội quân thường trực 5.400 người. Vào
khoảng giữa năm 1000 TCN và 500 TCN, những siêu đế chế đầu tiên xuất hiện ở
Trung Đông: Đế chế Tân Assyria, Đế chế Babylon và Đế chế Ba Tư. Các nước này có
nhiều triệu thần dân và hàng chục ngàn binh lính.Vào năm 221 TCN, nhà Tần thống nhất Trung Quốc, và không lâu
sau đó, Đế chế La Mã thống nhất lưu vực Địa Trung Hải. Thuế thu được từ 40 triệu
thần dân nhà Tần để trả cho đội quân thường trực gồm hàng trăm ngàn binh lính
và một bộ máy hành chính quan liêu phức tạp với hơn 100.000 quan lại. Đế chế La
Mã ở thời kỳ đỉnh cao thu thuế khoảng trên 100 triệu thần dân. Nguồn thu từ thuế
này dùng để chi trả cho đội quân thường trực từ 250.000-500.000 lính, cùng một
mạng lưới đường bộ vẫn còn được sử dụng 1.500 năm sau, các rạp hát, khán đài
hình vòng cung – được sử dụng để trình diễn cho đến tận ngày nay.Hình 16. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, ký ngày 4 tháng Bảy
năm 1776.Không có gì phải nghi ngờ, nhưng chúng ta không nên nuôi ảo
tưởng lạc quan về “những mạng lưới hợp tác đại chúng” vận hành ở Ai Cập thời
Pharaoh hay Đế chế La Mã. “Hợp tác” nghe có vẻ rất vị tha, nhưng không phải lúc
nào cũng mang tính tự nguyện và hiếm khi bình đẳng. Hầu hết những mạng lưới hợp
tác của con người đều đã bị hướng tới sự áp bức và bóc lột. Nông dân phải trả
cho những mạng lưới hợp tác đang phát triển bằng lượng thực phẩm dư thừa quý
báu của mình, tuyệt vọng khi người thu thuế tước đi toàn bộ một năm lao động vất
vả chỉ bằng một nét chữ từ cây bút uy quyền của họ. Những khán đài La Mã hình
vòng cung nổi tiếng thường được xây dựng bởi các nô lệ, để cư dân La Mã giàu có
và nhàn rỗi có thể xem các nô lệ khác tham gia vào những trận giao chiến dữ dội
giữa các đấu sĩ. Thậm chí cả các nhà tù, trại tập trung cũng là những mạng lưới
hợp tác, và chỉ có thể hoạt động bởi hàng ngàn người xa lạ đã xoay xở để phối hợp
các hành động theo cách nào đó.Tất cả những hệ thống hợp tác này, từ những thành phố của khu
vực Lưỡng Hà cổ đại đến đế chế nhà Tần và đế chế La Mã, đều là “những trật tự
tưởng tượng”. Các quy tắc xã hội nhằm duy trì chúng đều không dựa trên những bản
nâng cố hữu của con người cũng như sự quen biết cá nhân, mà thay vào đó là niềm
tin vào những huyền thoại chung.Làm thế nào huyền thoại có thể duy trì toàn bộ các đế chế?
Chúng ta đã thảo luận một trường hợp như vậy: Peugeot. Bây giờ hãy nghiên cứu
hai trong số những câu chuyện huyền thoại nổi tiếng nhất trong lịch sử: Bộ luật
Hammurabi năm 1776 TCN đã được sử dụng như bản hướng dẫn hợp tác của hàng trăm
ngàn người Babylon cổ đại; và bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, ngày
nay vẫn được sử dụng như bản hướng dẫn hợp tác của hàng trăm triệu người Mỹ thời
hiện đại.Vào năm 1776 TCN, Babylon là thành phố lớn nhất thế giới. Đế
chế Babylon cũng có thể là đế chế lớn nhất trên thế giới với hơn một triệu thần
dân. Đế chế này cai trị hầu hết vùng Lưỡng Hà, bao gồm phần lớn Iraq cùng nhiều
phần của Syria và Iran ngày nay. Nhà vua người Babylon nổi tiếng nhất cho đến
nay là Hammurabi. Sự nổi tiếng của ông chủ yếu là do văn bản mang tên ông, Bộ
luật Hammurabi. Đó là một tập hợp những luật lệ và quyết định của tòa án, mục
tiêu là để biểu thị Hammurabi như hình mẫu của một ông vua chính trực, đóng vai
trò nền tảng cho một hệ thống pháp luật thống nhất của Đế chế Babylon, giáo dục
các thế hệ tương lai thế nào là công lý và một ông vua chính trực sẽ hành động
như thế nào.Các thế hệ tương lai đã để ý. Giới tinh hoa trí thức và quan
chức của vùng Lưỡng Hà cổ đại đã tôn thờ Bộ luật này, những người sao chép bản
thảo học việc đã tiếp tục sao chép nó rất lâu sau khi Hammurabi chết và đế chế
của ông lụi tàn. Vì vậy, Bộ luật Hammurabi là một nguồn tài liệu tốt để hiểu về
trật tự xã hội lý tưởng vùng Lưỡng Hà cổ đại.Văn bản bắt đầu bằng việc tuyên bố rằng các vị thần Anu,
Enlil và Marduk, đứng đầu trong tất cả các vị thần ở vùng Lưỡng Hà, đã cử
Hammurabi “đem công lý phủ khắp mặt đất, để tiêu diệt kẻ xấu và cái ác, để ngăn
kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu”. Sau đó nó liệt kê khoảng 300 phán quyết, được đưa ra ở
dạng công thức được thiết lập “Nếu một điều là như vậy và xảy ra như vậy, thì
đây là các phán quyết”. Ví dụ, các phán quyết từ 196-199 và 209-214 như sau:Nếu một người đàn ông ưu tú làm mù mắt một người đàn ông ưu
tú khác, người ta sẽ làm mù mắt anh ta.Nếu anh ta làm gãy xương của một người đàn ông ưu tú khác,
người ta sẽ làm gãy xương anh ta.Nếu anh ta làm mù mắt một thường dân hoặc làm gãy xương một
thường dân, anh ta sẽ phải cân và nộp 60 shekel bạc.Nếu anh ta làm mù mắt một nô lệ của một người đàn ông ưu tú
hoặc làm gãy xương một nô lệ của một người đàn ông ưu tú, anh ta sẽ phải cân và
nộp một nửa giá trị của nô lệ đó (quy ra bạc).Nếu một người đàn ông ưu tú đánh một người đàn bà ưu tú và
làm cô ta sảy thai, anh ta sẽ phải cân và nộp 10 shekel bạc đền cho cái thai của
chị ta.Nếu người đàn bà đó bị chết, người ta sẽ giết chết con gái
anh ta.Nếu anh ta đánh và làm cho một người đàn bà thường dân sảy
thai, anh ta sẽ phải cân và nộp 5 shekel bạc.Nếu người đàn bà đó bị chết, anh ta sẽ phải cân và nộp 30
shekel bạc.Nếu anh ta đánh một nữ nô lệ của một người đàn ông ưu tú và
làm cho cô ta sảy thai, anh ta sẽ phải cân và nộp 2 shekel bạc.Nếu nữ nô lệ đó bị chết, anh ta sẽ phải cân và nộp 20 shekel
bạc.Sau khi liệt kê các phán quyết, Hammurabi tuyên bố lần nữa rằng:Đây là những phán quyết công bằng mà Hammubari, vị vua tài ba
xây dựng nên và do đó đã dẫn dắt mọi người đi theo con đường của chân lý và
cách sống đúng đắn… Ta là Hammurabi, một vị vua cao quý. Ta đã không bỏ mặc hay
lơ đễnh đối với con người mà thần Enlil ban cho ta chăm sóc và thần Marduk giao
cho ta chăn dắt.Bộ luật Hammurabi khẳng định rằng trật tự xã hội Babylon bắt
nguồn từ những nguyên tắc phổ quát và vĩnh cửu của công lý, được các vị thần xướng
lên. Nguyên tắc của hệ thống phân tầng là hết sức quan trọng. Theo Bộ luật này,
con người được chia thành hai giới tính và ba tầng lớp: người ưu tú, thường dân
và nô lệ. Thành viên của mỗi giới và tầng lớp có giá trị khác nhau. Mạng sống của
một nữ thường dân trị giá 30 shekel bạc, của một nữ nồ lệ là 20 shekel bạc,
trong khi đôi mắt của một nam thường dân trị giá 60 shekel bạc.Bộ luật cũng hình thành một sự phân tầng chặt chẽ trong các
gia đình, theo đó con cái không phải là những người độc lập mà là tài sản của
cha mẹ chúng. Vì vậy, nếu một người đàn ông ưu tú giết con gái của một người
đàn ông ưu tú khác, con gái của kẻ giết người sẽ bị trừng phạt. Với chúng ta,
thật kỳ lạ khi mà kẻ giết người vẫn bình an vô sự, trong khi cô con gái ngây
thơ vô tội của anh ta lại bị giết, nhưng với Hammurabi và người dân Babylon thì
điều này là công bằng tuyệt đối. Bộ luật Hammurabi dựa trên giả thuyết rằng nếu
tất cả các thần dân của nhà vua đều chấp nhận vị trí của mình trong hệ thống
phân tầng và hành động phù hợp, thì hàng triệu thần dân của đế quốc này có thể
hợp tác một cách hiệu quả. Vì vậy xã hội của họ có thể sản xuất ra đủ thực phẩm
cho tất cả thành viên, phân phối chúng hiệu quả, bảo vệ dân chúng khỏi kẻ thù,
mở rộng lãnh thổ đế chế để đạt được sự giàu có hơn và an ninh tốt hơn.Khoảng 3.300 năm sau cái chết của Hammurabi, dân cư ở 13 thuộc
địa của Anh tại Bắc Mỹ cảm thấy rằng, nhà vua Anh đang đối xử không công bằng với
họ. Các đại diện của họ đã tụ tập ở thành phố Philadenphia, và ngày 4 tháng Bảy
năm 1776, các thuộc địa này đã tuyên bố rằng dân cư của họ không còn là thần
dân của Vương quốc Anh. Tuyên ngôn Độc lập của họ đã tuyên bố những nguyên tắc
phổ quát và vĩnh cửu của công lý, điều mà giống như các nguyên tắc của
Hammurabi, được truyền cảm hứng bởi một sức mạnh siêu phàm. Tuy nhiên, nguyên tắc
quan trọng nhất được viết bởi vị thần của người Mỹ có phần khác so với nguyên tắc
của những vị thần của người Babylon. Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ khẳng định rằng:Chúng tôi khẳng định những sự thật này là hiển nhiên, rằng tất
cả con người sinh ra đều bình đẳng, tạo hoá đã ban cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được, đó là quyền được sống, quyền được tự do và quyền được mưu
cầu hạnh phúc.Giống như Bộ luật Hammurabi, văn kiện sáng lập ra nước Mỹ đảm
bảo rằng nếu con người hành động theo những nguyên tắc thiêng liêng của mình,
hàng triệu người sẽ có thể hợp tác hiệu quả, sống an toàn và bình yên trong một
xã hội công bằng và thịnh vượng. Giống như Bộ luật Hammurabi, Tuyên ngôn Độc lập
của Mỹ không chỉ là một tài liệu được chấp nhận ở thời điểm và nơi sinh ra nó,
nó còn được chấp nhận bởi các thế hệ tương lai. Trong vòng 200 năm qua, học
sinh ở Mỹ đã sao chép và học thuộc lòng nó.Hai văn bản trên cho chúng ta thấy một thế lưỡng nan hiển
nhiên. Cả Bộ luật Hammurabi và Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ đều tuyên bố vạch ra
những nguyên tắc phổ quát và vĩnh cửu về công lý, nhưng theo người Mỹ thì tất cả
mọi người đều bình đẳng, trong khi theo người Babylon, con người rõ ràng là
không bình đẳng. Tất nhiên người Mỹ nói rằng họ đúng và Hammurabi sai. Đương
nhiên, Hammurabi sẽ trả miếng rằng họ đúng còn người Mỹ sai. Thực tế là cả hai
đều sai. Hammurabi và những Tổ phụ Lập quốc Mỹ đều tưởng tượng ra một thực tế bị
chi phối bởi các nguyên tắc phổ quát và bất biến về công lý, như là sự công bằng
hay hệ thống phân tầng. Song, nơi duy nhất mà những nguyên tắc phổ quát như vậy
tồn tại là trong trí tưởng tượng phong phú của Sapiens, và trong các huyền thoại
mà họ sáng tác và kể cho nhau nghe. Những nguyên tắc này không có giá trị khách
quan.Rất dễ để chúng ta chấp nhận rằng việc phân chia con người
thành “đẳng cấp ưu tú” và “thường dân” là một điều tưởng tượng. Song, quan niệm
cho rằng mọi người đều bình đẳng cũng chỉ là một huyền thoại. Mọi người đều
bình đẳng với nhau theo nghĩa nào? Có sự thật khách quan nào, nằm ngoài trí tưởng
tượng của con người, trong đấy chúng ta thực sự bình đẳng? Mọi người bình đẳng
với nhau về mặt sinh học ư? Hãy thử cắt nghĩa dòng chữ quan trọng nhất trong bản
Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ theo ngôn ngữ sinh học:Chúng tôi khẳng định những sự thật này là hiển nhiên, rằng tất
cả con người sinh ra đều bình đẳng, tạo hoá đã ban cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được, đó là quyền được sống, quyền được tự do và quyền được mưu
cầu hạnh phúc.Theo sinh học, con người không phải được sáng tạo ra. Họ tiến
hoá. Và chắc chắn, họ không tiến hoá để “bình đẳng”. Ý tưởng bình đẳng gắn bó
chặt chẽ với quan niệm về sáng tạo. Người Mỹ lấy ý tưởng bình đẳng từ Ki-tô
giáo, trong đó lập luận rằng mọi người đều có một linh hồn tuyệt diệu được tạo
ra, và mọi linh hồn này đều bình đẳng trước Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu chúng ta
không tin vào các huyền thoại Ki-tô giáo về Thiên Chúa, về sự sáng tạo và linh
hồn, thì khi nói mọi người đều “bình đẳng” có nghĩa là gì? Tiến hoá dựa trên sự
khác biệt, chứ không phải sự bình đẳng. Mỗi người đều mang một bộ gen khác nhau
chút ít, và nó chịu các ảnh hưởng môi trường khác nhau từ khi sinh ra. Nó dẫn đến
sự phát triển các phẩm chất khác nhau, mang đến những cơ hội sống sót khác
nhau. Vì vậy “được sinh ra bình đẳng” nên được hiểu là “tiến hoá khác nhau”.Giống như con người chưa bao giờ được sáng tạo ra, nên trên
phương diện sinh học, chẳng có “Đấng tạo hoá” nào “ban cho” con người bất cứ
cái gì? Chỉ có một quá trình tiến hoá không nhìn thấy được, không có bất cứ mục
đích nào, dẫn tới sự sinh ra của các cá nhân. “Được tạo hoá ban cho” nên được
hiểu đơn giản là “sinh ra”.Công bằng mà nói, không có những điều như là quyền trong sinh
học. Chỉ có các bộ phận cơ thể, các khả năng và các đặc điểm. Con chim bay
không phải vì nó có quyền được bay, mà bởi vì nó có cánh. Và cũng không đúng
khi nói rằng các bộ phận cơ thể, các khả năng và các đặc điểm này là “không thể
xâm phạm được”. Nhiều trong số chúng trải qua quá trình biến đổi không ngừng,
và có thể biến mất hoàn toàn theo thời gian. Đà điểu là một loài chim đánh mất
khả năng bay của mình. Vì vậy “quyền không thể xâm phạm được” phải được hiểu là
“những đặc điểm có thể biến đổi”.Và những đặc điểm nào ở con người đã tiến hoá? “Cuộc sống”,
chắc chắn rồi. Nhưng còn “tự do”? Không có một khái niệm nào như vậy trong sinh
học. Giống như sự công bằng, các quyền và những công ty trách nhiệm hữu hạn, tự
do là một khái niệm mà con người tự sáng tạo ra và nó chỉ tồn tại trong trí tưởng
tượng của họ. Từ quan điểm sinh học, sẽ vô nghĩa khi nói rằng con người trong
những xã hội dân chủ thì tự do, trong khi con người trong những chế độ độc tài
thì không tự do. Thế còn “hạnh phúc” thì sao? Cho đến nay, các nghiên cứu sinh
học đã thất bại trong việc đưa ra một định nghĩa rõ ràng về hạnh phúc hoặc cách
để đo lường nó khách quan. Hầu hết các nghiên cứu sinh học đều chỉ thừa nhận sự
tồn tại của lạc thú, thứ dễ định nghĩa và đo lường hơn. Vì vậy, “sống, tự do và
mưu cầu hạnh phúc” nên được hiểu là “sống và theo đuổi lạc thú”.Vì vậy ở đây, những dòng trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ được
hiểu theo ngôn ngữ sinh học như sau:Chúng tôi khẳng định những sự thật này là hiển nhiên, rằng tất
cả con người tiến hoá một cách khác nhau, họ sinh ra với những đặc điểm có thể
biến đổi nhất định, và trong số đó là sống và theo đuổi lạc thú.Những người ủng hộ cho sự công bằng và quyền con người có thể
bị tổn thương bởi dòng tranh luận trên. Phản ứng của họ có thể kiểu như “Chúng
tôi biết rằng con người không bình đẳng về mặt sinh học! Nhưng nếu chúng tôi
tin rằng tất cả chúng ta bình đẳng về bản chất, nó sẽ giúp chúng ta tạo ra một
xã hội phồn vinh và ổn định”. Tôi không tranh luận về điều này. Nó chính xác là
những gì tôi muốn nói về “trật tự tưởng tượng”. Chúng ta tin vào một trật tự
riêng biệt không phải vì nó là một sự thật khách quan, mà bởi tin vào nó sẽ làm
chúng ta có thể hợp tác hiệu quả và tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn. Những trật
tự tưởng tượng không phải là những âm mưu xấu xa hoặc những ảo tưởng vô ích.
Hơn nữa, chúng còn là cách duy nhất để một số lớn người có thể hợp tác hiệu quả.
Tuy vậy, cũng nên nhớ rằng Hammurabi có thể bảo vệ nguyên tắc về sự phân tầng của
ông ta bằng việc sử dụng cùng một logic: “Ta hiểu rằng, những người ưu tú, thường
dân và nô lệ không phải là những hạng người khác nhau. Nhưng nếu chúng ta tin
như vậy, nó sẽ giúp chúng ta có thể tạo ra một xã hội ổn định và phồn vinh”.Những người thực sự tin tưởngCó vẻ nhiều người cảm thấy lúng túng khi đọc những đoạn trước.
Hầu hết chúng ta ngày nay được giáo dục để phản ứng như vậy. Rất dễ dàng để chấp
nhận Bộ luật Hammurabi là một huyền thoại, nhưng chúng ta không muốn nghe rằng
nhân quyền cũng là một huyền thoại. Nếu con người nhận thức được rằng nhân quyền
chỉ tồn tại trong tưởng tượng, liệu có mối nguy hiểm nào làm xã hội của chúng
ta sụp đổ hay không? Voltaire đã nói về Chúa rằng, “Không có Chúa, nhưng đừng
nói điều đó cho người đầy tớ của tôi, e rằng anh ta sẽ giết tôi vào ban đêm”.
Hammurabi hẳn sẽ nói điều tương tự như vậy về nguyên tắc trong hệ thống phân tầng
của ông ta, giống như Thomas Jefferson khi nói về quyền con người. Homo sapiens
không có những quyền tự nhiên, giống như loài nhện, linh cẩu, tinh tinh. Nhưng
đừng nói điều này với lũ đầy tớ của chúng ta, vì chúng sẽ giết chúng ta trong
đêm.Những nỗi sợ hãi như vậy được bào chữa rất hợp lý. Một trật tự
tự nhiên là một trật tự ổn định. Lực hấp dẫn không thể ngừng hoạt động vào ngày
mai, ngay cả nếu con người ngừng tin vào nó. Ngược lại, một trật tự tưởng tượng
luôn ở trong tình trạng nguy hiểm của sự sụp đổ, bởi nó phụ thuộc vào huyền thoại,
và huyền thoại sẽ biến mất khi con người ngừng tin vào chúng. Để có thể bảo vệ
một trật tự tưởng tượng, đòi hỏi những cố gắng liên tục và vất vả. Một vài
trong những nỗ lực này được thực hiện dưới hình thức bạo lực và áp bức. Các lực
lượng quân đội, cảnh sát, tòa án và nhà tù đang làm việc liên tục để cưỡng ép
con người hành động theo một trật tự tưởng tượng. Nếu một người Babylon cổ đại
làm mù mắt hàng xóm của anh ta, những hình thức bạo lực luôn là cần thiết để luật
lệ “một mắt đổi một mắt” được thi hành. Vào năm 1860, khi phần lớn người Mỹ đã
quyết định rằng, nô lệ châu Phi cũng là những con người và vì vậy phải được hưởng
quyền tự do, thì một cuộc nội chiến đẫm máu đã diễn ra để ép các bang miền Nam
đồng thuận với quyết định này.Tuy nhiên, một trật tự tưởng tượng không thể được giữ vững chỉ
bằng bạo lực. Nó còn đòi hỏi phải có cả những người thực sự tin tưởng. Nhà quý
tộc Talleyrand, người bắt đầu sự nghiệp tắc kè hoa của ông ta dưới thời Louis
XVI, sau này phục vụ dưới cả chế độ cách mạng lẫn chính quyền Napoleon, và chuyển
lòng trung thành kịp thời lúc cuối đời sang chế độ quân chủ vừa được phục hồi,
đã tổng kết kinh nghiệm làm việc cho các chính phủ qua nhiều thập kỷ như sau:
“Bạn có thể làm được nhiều việc bằng lưỡi lê, nhưng ngồi lên chúng sẽ khá khó
chịu”. Hơn nữa, bất kể lưỡi lê có hiệu quả thế nào, quan trọng là phải có ai đó
sử dụng chúng. Tại sao những binh lính, cai ngục, thẩm phán và cảnh sát lại duy
trì một trật tự tưởng tượng trong khi họ không tin vào chúng? Trong mọi hoạt động
tập thể của con người, khó nhất trong việc tổ chức chính là bạo lực. Khi nói rằng
trật tự xã hội được duy trì bởi lực lượng quân đội, lập tức một câu hỏi nảy ra:
cái gì đang duy trì trật tự quân đội? Sẽ không thể tổ chức được quân đội nếu chỉ
dùng sự ép buộc. ít nhất, phải có một số chỉ huy và binh lính phải thực sự tin
vào điều gì đó, có thể là Chúa, danh dự, tổ quốc, nhân cách hay tiền.Một câu hỏi thú vị hơn liên quan đến nhóm đứng trên đỉnh kim
tự tháp xã hội. Tại sao họ lại mong muốn thi hành một trật tự tưởng tượng, nếu
bản thân họ không tin vào nó? Người ta hay cho rằng giới tinh hoa làm vậy do
tính tham lam, không tin người. Song, một kẻ hoài nghi không tin vào điều gì cả
thì khó mà tham lam được. Không khó để đáp ứng những nhu cầu sinh học khách
quan của Homo sapiens. Sau khi những nhu cầu này được đáp ứng, thêm nhiều tiền
sẽ được sử dụng vào việc xây dựng kim tự tháp, đi nghỉ vòng quanh thế giới, tài
trợ những chiến dịch tranh cử, góp tiền cho những tổ chức khủng bố bạn thích,
hoặc đầu tư vào thị trường chứng khoán kiếm thêm nhiều tiền – tất cả đều là những
hoạt động mà một kẻ hoài nghi thực sự sẽ thấy cực kỳ vô nghĩa. Diogenes, triết
gia Hy Lạp sáng lập trường phái hoài nghi, [Còn gọi là trường phải khắc kỷ] sống
trong một thùng gỗ. Alexander Đại đế có lần đến thăm Diogenes khi ông đang thư
giãn trong nắng và hỏi liệu mình có thể làm điều gì cho ông hay không, triết
gia hoài nghi đã trả lời người chinh phục quyền năng, “Vâng, có một điều ngài
có thể làm cho tôi. Làm ơn dịch sang bên một chút. Ngài đang che mất ánh nắng”.Đó là lý do mà những người hoài nghi không xây dựng các đế chế,
và tại sao một trật tự tưởng tượng chỉ có thể được duy trì nếu phần lớn dân
chúng, đặc biệt là phần đông giới tinh hoa và lực lượng an ninh, thực sự tin
vào nó. Nền dân chủ của Mỹ sẽ không thể kéo dài 230 năm nếu như đa số các tổng
thống và nghị sĩ không còn tin vào nhân quyền. Hệ thống kinh tế hiện đại sẽ
không thể tồn tại dù chỉ một ngày nếu phần lớn các nhà đầu tư và chủ ngân hàng
không còn tin vào chủ nghĩa tư bản.Những bức tường tù ngụcLàm thế nào bạn có thể khiến con người tin vào một trật tự tưởng
tượng như nền dân chủ hoặc chủ nghĩa tư bản? Đầu tiên, bạn chẳng bao giờ thừa
nhận trật tự đó được tưởng tượng ra. Bạn luôn khăng khăng rằng trật tự duy trì
xã hội là một thực tế khách quan được những vị thần vĩ đại hay các luật lệ tự
nhiên tạo ra. Con người không bình đẳng, không phải bởi Hammurabi nói như vậy,
mà bởi thần Enlil và Marduk quy định như vậy. Con người bình đẳng không phải vì
Thomas Jefferson nói như vậy, mà vì Chúa đã tạo ra họ theo cách như vậy. Thị
trường tự do là hệ thống kinh tế tốt nhất không phải bởi Adam Smith đã nói như
vậy, mà bởi đó là những luật lệ bất biến của tự nhiên.Bạn cũng có thể giáo dục con người một cách kĩ lưỡng. Từ thời
điểm mà họ sinh ra, bạn có thể luôn nhắc cho họ nhớ về những luật lệ của trật tự
tưởng tượng, cái có thể kết hợp với bất cứ thứ gì và tất cả mọi thứ. Chúng có
thể được lồng vào những câu chuyện cổ tích, phim truyền hình, tranh ảnh, bài
hát, phép xã giao, tuyên truyền chính trị, kiến trúc, đơn thuốc và thời trang.
Ví dụ, ngày nay mọi người tin vào sự công bằng, nên thời trang với bọn trẻ nhà
giàu là mặc quần jean, vốn ban đầu là của tầng lớp lao động. Trong thời trung cổ,
con người tin vào sự phân chia giai cấp, vì vậy không có nam quý tộc trẻ tuổi
nào lại mặc một chiếc áo khoác của nông dân. Vào thời đó, được gọi là “Ông” hoặc
“Bà” là một đặc quyền hiếm hoi dành cho giới quý tộc, và thường được đánh đổi bằng
máu. Ngày nay tất cả các thư từ lịch sự, bất kể người nhận là ai, đều bắt đầu bằng
“Ông hoặc Bà thân mến”.Khoa học xã hội và nhân văn dành phần lớn năng lực của mình để
giải thích chính xác cách một trật tự tưởng tượng được dệt vào tấm thảm cuộc sống.
Trong phạm vi giới hạn của mình, chúng ta chỉ có thể bàn luận lướt qua bề
ngoài. Có ba nhân tố chính ngăn cản con người nhận thức rằng trật tự tổ chức cuộc
sống của họ chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của mình:a. Trật tự tưởng tượng được nhúng vào thế giới vật chất. Mặc
dù trật tự tưởng tượng chỉ tồn tại trong tâm trí của chúng ta, nhưng nó có thể
được đan xen vào thực tế vật chất quanh chúng ta, và thậm chí được khắc trên
đá. Hầu hết người phương Tây ngày nay tin vào chủ nghĩa cá nhân. Họ cho rằng mỗi
người là một cá nhân mà giá trị của anh ta không phụ thuộc vào việc người khác
nghĩ gì về mình. Mỗi người chúng ta đều có một tia sáng lấp lánh bên trong,
mang đến giá trị và ý nghĩa cho cuộc đời mình. Ở các trường học phương Tây hiện
đại, cha mẹ và thầy cô nói với bọn trẻ rằng, nếu bị bạn cùng lớp trêu chọc,
chúng nên lờ đi. Chỉ bản thân chúng, chứ không phải người khác, biết được giá
trị thực của mình.Trong kiến trúc hiện đại, những biến đổi huyền thoại này đã
vượt qua cả trí tưởng tượng để tạo hình trên đá và vữa. Một ngôi nhà hiện đại
lý tưởng được chia ra làm nhiều phòng nhỏ, do đó mỗi đứa trẻ có thể có không
gian riêng tư, tránh khỏi tầm nhìn, cấp cho nó một sự tự trị tối đa. Căn phòng
riêng tư này thường có cửa, và trong nhiều gia đình phải chấp nhận một thực tế
là đứa trẻ sẽ đóng và có thể là khoá cửa. Thậm chí cha mẹ bị cấm bước vào nếu
không gõ cửa và xin phép. Căn phòng được trang trí theo sở thích của đứa trẻ, với
những tấm áp phích của các ngôi sao nhạc rock dán đầy trên tường và tất bẩn vứt
đầy trên sàn. Ai đó lớn lên trong một không gian như vậy sẽ không thể không tưởng
tượng mình là “một cá nhân” mà giá trị thực sự được bắt nguồn từ bên trong chứ
không phải từ bên ngoài.Người quý tộc trung cổ không tin vào chủ nghĩa cá nhân. Giá
trị của mỗi người được xác định dựa vào vị trí của họ trong hệ thống phân tầng
xã hội và bởi những gì người khác nói về họ. Bị cười nhạo là một sự sỉ nhục
kinh khủng. Các quý tộc đã dạy dỗ con cái mình phải bảo vệ thanh danh bằng mọi
giá. Giống như chủ nghĩa cá nhân hiện đại, các hệ thống giá trị trung cổ đã rời
trí tưởng tượng và thể hiện trên viên đá của các lâu đài trung cổ. Những lâu
đài này hiếm khi có các căn phòng riêng cho trẻ con (hoặc bất cứ ai). Cậu con
trai đến tuổi thiếu niên của một nam tước thời trung cổ không có phòng riêng ở
tầng hai của lâu đài, với những áp phích của Richard Tim Sư tử (Richard the
Lionheart) và Vua Arthur trên tường, khoá cửa phòng không cho phép cha mẹ mở
ra. Cậu ta ngủ cùng với nhiều đứa trẻ khác trong một gian rộng. Cậu ta luôn lộ
diện và phải để ý đến những gì người khác nhìn và nói. Ai đó lớn lên trong những
điều kiện như vậy dĩ nhiên sẽ quyết định rằng giá trị thực sự của một con người
được xác định bằng vị trí của anh ta trong hệ thống phân tầng xã hội và bằng những
gì người khác nói về anh ta.b. Trật tự tưởng tượng định hình khát vọng của chúng ta. Hầu
hết con người đều không muốn chấp nhận rằng trật tự đang chi phối cuộc sống của
họ chỉ là tưởng tượng, nhưng trong thực tế mỗi người sinh ra đều bị đưa vào một
trật tự tưởng tượng đã tồn tại trước đó, và khát vọng của anh ta hoặc chị ta được
hình thành từ khi sinh ra bởi những huyền thoại thịnh hành. Vì vậy, khát vọng
cá nhân của chúng ta trở thành sự phòng thủ quan trọng nhất của một trật tự tưởng
tượng.Ví dụ, các khát vọng được ấp ủ nhất trong lòng của người
phương Tây hiện đại được hình thành từ các huyền thoại lãng mạn về chủ nghĩa
dân tộc, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa nhân văn đã tồn tại trong hàng thế kỷ. Bạn
bè khi đưa ra lời khuyên thường nói với nhau, “Hãy đi theo trái tim của cậu”.
Nhưng trái tim là một điệp viên hai mang, thường lấy chỉ dẫn từ những huyền thoại
thịnh hành và chính lời khuyên “Hãy đi theo trái tim của cậu” đã in dấu trong
tâm trí chúng ta bởi sự kết hợp giữa những huyền thoại lãng mạn thế kỷ 19 và những
huyền thoại tiêu thụ thế kỷ 20. Công ty Coca Cola là một ví dụ, đã quảng bá sản
phẩm Diet Coke (Coke dành cho người ăn kiêng) ra khắp thế giới với khẩu hiệu
“Diet Coke. Hãy làm những gì bạn cảm thấy tốt”.Kể cả những gì mà mọi người coi là khát vọng cá nhân nhất của
họ cũng thường được lên chương trình bằng trật tự tưởng tượng. Ví dụ, hãy xét đến
một khát vọng phổ biến là đi nghỉ ở nước ngoài. Chẳng có gì tự nhiên hoặc hiển
nhiên về nó. Một con tinh tinh alpha sẽ không bao giờ nghĩ tới việc sử dụng sức
mạnh của mình để đi nghỉ trên vùng lãnh thổ của một bầy tinh tinh láng giềng.
Giới tinh hoa ở Ai Cập cổ đại sử dụng tài sản riêng để xây dựng kim tự tháp và
ướp xác của mình, nhưng không một ai trong số họ nghĩ đến việc đi mua sắm ở
Babylon hoặc đi trượt tuyết ở Phoenicia. Con người ngày nay dành một số tiền lớn
vào các kỳ nghỉ ở nước ngoài, vì họ là những người cực kỳ tin tưởng vào những
huyền thoại của chủ nghĩa tiêu thụ được lãng mạn hoá.Chủ nghĩa lãng mạn nói với chúng ta rằng, để có thể phát triển
tối đa năng lực của mình, chúng ta phải có càng nhiều trải nghiệm khác nhau
càng tốt. Chúng ta phải cởi mở mình trước những trạng thái cảm xúc đa dạng;
chúng ta phải thử nghiệm nhiều loại mối quan hệ; chúng ta phải thử nghiệm nhiều
cách nấu nướng khác nhau; chúng ta phải học cách thưởng thức những phong cách
âm nhạc khác nhau. Một trong những cách tốt nhất để làm tất cả những điều này
là phá vỡ thói quen hằng ngày của mình, bỏ lại đằng sau những khung cảnh sống
quen thuộc, và đi du lịch tới các vùng đất xa xôi, nơi chúng ta có thể “trải
nghiệm” văn hoá, hương vị, thị hiếu và những chuẩn mực của người khác. Chúng ta
nghe đi nghe lại những huyền thoại lãng mạn về việc “một trải nghiệm mới đã mở
mắt và thay đổi cuộc sống của tôi như thế nào”.Chủ nghĩa tiêu thụ nói với chúng ta rằng để hạnh phúc, chúng
ta phải tiêu thụ càng nhiều sản phẩm và dịch vụ càng tốt. Nếu chúng ta cảm thấy
có điều gì đó thiếu vắng hoặc chưa ổn, thì có lẽ chúng ta cần phải mua một sản
phẩm (xe hơi, quần áo mới, thực phẩm hữu cơ) hoặc một dịch vụ (dọn nhà, trị liệu
tâm lý, các lớp yoga). Mỗi quảng cáo truyền hình là một huyền thoại nhỏ khác
nhau về việc tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.Hình 17. Kim tự tháp vĩ đại ở Giza. Cách để những người giàu
có ở Ai Cập cổ đại tiêu tiền của mình.Chủ nghĩa lãng mạn khuyến khích sự đa dạng và hoàn toàn ăn khớp
với chủ nghĩa tiêu dùng. Cặp đôi này đã sinh ra một “thị trường của những trải
nghiệm” vô tận mà trên đó ngành du lịch hiện đại đã được hình thành. Ngành du lịch
không chỉ bán những tấm vé máy bay và các phòng khách sạn. Nó bán các trải nghiệm.
Paris không phải là một thành phố, cũng như Ấn Độ không phải là một quốc gia, cả
hai đều là những trải nghiệm mà sự tận hưởng chúng được cho rằng sẽ mở rộng tầm
nhìn, phát huy hết năng lực bản thân của con người và làm cho chúng ta hạnh
phúc hơn. Kết quả là, khi mối quan hệ giữa một triệu phú và vợ mình phải trải
qua một con đường đầy chông gai, ông ta sẽ đưa vợ mình tới Paris trong một kỳ
nghỉ đắt đỏ. Chuyến đi không phản ánh khát vọng độc lập nào đó, mà nó phản ánh
niềm tin mãnh liệt vào những huyền thoại của chủ nghĩa tiêu dùng lãng mạn. Một
người đàn ông giàu có ở Ai Cập cổ đại sẽ không bao giờ mơ đến việc giải quyết
khủng hoảng của một mối quan hệ bằng cách đưa vợ mình đi nghỉ ở Babylon. Thay
vào đó, ông ta sẽ xây cho vợ mình một ngôi mộ lộng lẫy như bà ta hằng mơ ước.Giống như giới tinh hoa ở Ai Cập cổ đại, đa số con người ở hầu
hết các nền văn hoá đều dâng hiến cuộc sống của mình cho việc xây dựng kim tự
tháp. Chỉ có những cái tên, hình dáng, và kích cỡ của các kim tự tháp là khác
nhau giữa các nền văn hoá. Ví dụ, họ có thể lấy hình dáng của một mái nhà tranh
ở vùng nông thôn cùng với bể bơi và bãi cỏ xanh mướt, hoặc một căn áp mái bóng
bảy với tầm nhìn đáng ghen tị. Chẳng mấy ai băn khoăn trước những huyền thoại vốn
là nguyên nhân khiến chúng ta thèm khát ban đầu.c. Một trật tự tưởng tượng mang tính liên-chủ quan. Kể
cả nếu do những nỗ lực siêu anh hùng khiến tôi giải phóng được những khát vọng
cá nhân của mình ra khỏi một trật tự tưởng tượng, tôi cũng chỉ là một cá nhân
mà thôi. Để có thể thay đổi một trật tự tưởng tượng, tôi phải thuyết phục hàng
triệu người xa lạ cùng hợp tác với mình. Bởi một trật tự tưởng tượng không phải
là một trật tự chủ quan tồn tại trong trí tưởng tượng của tôi – nó là một trật
tự liên-chủ quan, tồn tại trong một trí tưởng tượng được chia sẻ của hàng ngàn,
hàng triệu người.Để hiểu được điều này, chúng ta cần hiểu được sự khác nhau giữa
“tính khách quan”, “tính chủ quan” và “tính liên-chủ quan”.Một hiện tượng khách quan tồn tại độc lập với nhận thức và niềm
tin của con người. Ví dụ, phóng xạ không phải là một câu chuyện huyền thoại. Những
hiện tượng phóng xạ xảy ra rất lâu trước khi con người phát hiện ra chúng, và
chúng rất nguy hiểm kể cả khi con người không tin vào điều đó. Marie Curie, một
trong những người phát hiện ra phóng xạ, không biết rằng trong suốt những năm
tháng dài nghiên cứu về vật liệu phóng xạ, có thể chúng đã gây hại cho cơ thể
mình. Bà đã không tin rằng phóng xạ có thể giết mình, nhưng bà đã chết vi bệnh
thiếu máu bất sản, một căn bệnh do sự phơi nhiễm quá mức đối với các vật liệu
phóng xạ.Tính chủ quan là những gì tồn tại dựa vào nhận thức và niềm
tin của một cá nhân đơn lẻ. Nó sẽ biến mất hoặc thay đổi nếu cá nhân đó thay đổi
niềm tin của mình. Nhiều đứa trẻ tin vào sự tồn tại của một người bạn tưởng tượng
vô hình và vô thanh trong thế giới này. Người bạn tưởng tượng này chỉ tồn tại
trong nhận thức chủ quan của đứa trẻ, và khi đứa trẻ lớn lên sẽ không còn tin
vào điều đó nữa, và người bạn tưởng tượng sẽ biến mất.
Tính liên-chủ quan là thứ gì đó tồn tại trong mạng lưới thông
tin kết nối giữa nhận thức chủ quan của nhiều cá nhân. Nếu một cá nhân đơn lẻ
thay đổi niềm tin của mình, hoặc thậm chí chết đi, điều đó cũng không quan trọng
lắm. Tuy nhiên, nếu hầu hết các cá nhân trong mạng lưới này bị chết hoặc thay đổi
niềm tin của họ, thì hiện tượng liên-chủ quan sẽ thay đổi hoặc biến mất. Những
hiện tượng liên-chủ quan không phải là những sự dối trá ác ý, cũng không phải
là trò bịa đặt vô nghĩa. Chúng tồn tại theo một cách khác với những hiện tượng
vật lý như phóng xạ, nhưng chúng ảnh hưởng đáng kể lên thế giới. Nhiều yếu tố
thúc đẩy quan trọng nhất trong lịch sử mang tính liên-chủ quan: pháp luật, tiền
bạc, các vị thần, các quốc gia.Ví dụ, Peugeot không phải là một người bạn tưởng tượng của vị
CEO Peugeot. Công ty này tồn tại trong sự tưởng tượng được chia sẻ của hàng triệu
người. CEO tin vào sự tồn tại của công ty vì ban giám đốc cũng tin vào nó, giống
như các luật sư của công ty, các thư ký của văn phòng gần đó, các giao dịch
viên trong ngân hàng, những người mua bán chứng khoán và những đại lý xe từ
Pháp tới Úc. Nếu CEO đột nhiên không còn tin vào sự tồn tại của Peugeot, ông ta
sẽ nhanh chóng bị đưa đến bệnh viện tâm thần gần nhất và một người nào đó sẽ
chiếm văn phòng của ông ta.Tương tự như vậy, đồng đô-la, nhân quyền và Hợp chúng quốc
Hoa Kỷ đều tồn tại trong trí tưởng tượng được chia sẻ của hàng tỉ người, và
không một cá nhân nào có thể đe dọa sự tồn tại của chúng. Nếu mình tôi ngừng
tin vào sự tồn tại của đồng đô-la, nhân quyền hoặc Mỹ, thì sẽ chẳng có vấn đề
gì xảy ra. Những trật tự tưởng tượng này mang tính liên-chủ quan, vì vậy để có
thể thay đổi chúng, chúng ta phải đồng thời thay đổi nhận thức của hàng tỉ người,
và thực hiện điều này không hề dễ dàng. Một sự thay đổi tầm cỡ như vậy chỉ có
thể được thực hiện với sự giúp đỡ của một tổ chức phức hợp, như một đảng phái
chính trị, một phong trào tư tưởng hoặc một giáo phái. Tuy nhiên, để có thể
hình thành nên những tổ chức phức hợp như vậy, chúng ta cần phải thuyết phục rất
nhiều người xa lạ cùng hợp tác với nhau. Và điều này sẽ chỉ xảy ra nếu những
người xa lạ này cùng tin vào các câu chuyện huyền thoại chung nào đó. Do đó, để
có thể thay đổi một trật tự tưởng tượng đang tồn tại, trước hết chúng ta phải
tin vào một trật tự tưởng tượng khác để thay thế.Ví dụ, để có thể phá hủy được Peugeot, chúng ta cần tưởng tượng
ra cái gì đó quyền lực hơn, chẳng hạn hệ thống pháp luật của Pháp. Và để có thể
phá hủy được hệ thống pháp luật của Pháp, chúng ta cần phải tưởng tượng ra cái
gì đó có quyền lực hơn nữa, chẳng hạn nhà nước Pháp. Và nếu chúng ta muốn phá hủy
luôn cả nhà nước Pháp, thì chúng ta sẽ phải tưởng tượng ra thứ gì đó quyền lực
hơn thế nữa.Không có cách nào để thoát khỏi trật tự tưởng tượng. Khi
chúng ta phá vỡ những bức tường nhà tù của mình và chạy tới tự do, thực tế là
chúng ta đang chạy tới một sân tập thể dục rộng rãi hơn của một nhà tù lớn hơn
mà thôi. Chương 7 - Bộ nhớ
quá tảiSự tiến hoá không ban tặng cho con người khả năng chơi bóng
đá. Đúng là nó đã tạo ra những đôi chân để đá, những cái khuỷu tay để huých và
những cái miệng để chửi thề, nhưng tất cả những điều này có lẽ chỉ cho phép
chúng ta thực hành những cú đá phạt đền với chính mình. Để có thể tham gia vào
một trò chơi với những người xa lạ mà chúng ta tìm thấy trên sân trường vào buổi
chiều nào đó, chúng ta không chỉ phối hợp với 10 người cùng đội có thể chưa gặp
bao giờ, mà chúng ta còn cần biết rằng 11 cầu thủ của đội đối phương cũng đang
chơi bằng những luật lệ tương tự. Các loài động vật khác có nghi thức tiếp cận
những kẻ lạ mặt với sự hung hăng bản năng, như những chú chó con trên khắp thế
giới có các luật lệ cho những cuộc chơi đùa vật lộn được viết sẵn trong gen của
chúng. Nhưng những người trẻ thì không có gen cho môn bóng đá. Tuy vậy, họ có
thể chơi bóng với những người hoàn toàn xa lạ, vì tất cả họ đều đã học một tập
hợp các ý tưởng được thiết lập giống nhau về bóng đá. Những ý tưởng này mang
tính tưởng tượng hoàn toàn, nhưng nếu mọi người cùng chia sẻ chúng, thì tất cả
chúng ta đều có thể chơi môn này.Ở phạm vi lớn hơn, điều này cũng áp dụng tương tự với các
vương quốc, giáo hội, mạng lưới thương mại với một sự khác biệt quan trọng. Các
luật lệ bóng đá tương đối đơn giản và ngắn gọn, giống như thứ luật lệ cần thiết
cho sự hợp tác trong một bầy người hái lượm hoặc trong một ngôi làng nhỏ. Mỗi cẩu
thủ có thể dễ dàng nhớ chúng trong đầu mình, và vẫn còn chỗ dành cho các bài
hát, hình ảnh và danh sách mua sắm. Nhưng những hệ thống hợp tác với quy mô lớn
không chỉ liên quan giữa 22 người, mà hàng ngàn hoặc thậm chí hàng triệu người,
thì đòi hỏi sự kiểm soát và ghi nhớ khối lượng thông tin khổng lồ, lớn hơn rất
nhiều so với khả năng ghi nhớ và xử lý của một bộ não người đơn lẻ.Các xã hội lớn tìm thấy ở một số loài động vật khác, như loài
kiến và loài ong, tính ổn định và dẻo dai bởi hầu hết thông tin cần thiết để
duy trì xã hội này được mã hoá trong bộ gen. Ví dụ, một ấu trùng ong mật cái có
thể phát triển để trở thành ong chúa hoặc ong thợ, tùy thuộc vào loại thức ăn
dùng để nuôi dưỡng nó. ADN của nó sẽ lên chương trình những hành vi cần thiết
cho cả hai vai trò: ong chúa và ong thợ siêng năng. Các tổ ong có thể là những
cấu trúc xã hội phức tạp, bao gồm nhiều loại ong thợ, chẳng hạn những con kiếm
thức ăn, những con điều dưỡng, và những con dọn dẹp. Nhưng cho đến nay các nhà
nghiên cứu vẫn chưa xác định được những con ong luật sư. Loài ong không cần đến
luật sư, vì chẳng có nguy cơ nào trong việc chúng có thể cố gắng phá vỡ hiến
pháp tổ ong, bằng cách từ chối những con ong dọn dẹp quyền được sống, được tự
do và được theo đuổi hạnh phúc.Nhưng con người lại luôn làm những điều như thế. Vì trật tự
xã hội của Sapiens là tưởng tượng, nên con người không thể gìn giữ được những
thông tin then chốt cho sự hoạt động của nó, đơn giản chỉ bằng việc tạo ra những
bản sao ADN của họ và truyền lại chúng cho thế hệ sau. Những nỗ lực có ý thức
phải được tạo ra để duy trì luật pháp, truyền thống, các thủ tục, cách cư xử, nếu
không trật tự xã hội sẽ nhanh chóng bị sụp đổ. Ví dụ, Vua Hammurabi đã ra sắc lệnh,
rằng con người được chia thành ba tầng lớp: ưu tú, thường dân và nô lệ. Đây
không phải là một sự phân chia tự nhiên – không có dấu vết nào của nó trong bộ
gen của con người. Nếu như người Babylon không thể giữ được “sự thật” này trong
đầu, xã hội của họ sẽ ngừng hoạt động. Tương tự, khi Hammurabi chuyển ADN của
ông ta cho hậu duệ của mình, nó đã không mã hoá luật lệ của ông ta rằng một người
đàn ông ưu tú nếu giết hại một người đàn bà thường dân sẽ phải trả 30 shekel bạc.
Hammurabi phải truyền kiến thức về luật pháp của đế chế cho những người con
trai của mình một cách kĩ lưỡng, và những người con trai, cháu trai của ông ta
cũng phải làm điều tương tự.Các đế chế tạo ra những lượng thông tin khổng lồ. Ngoài luật
pháp, các đế chế phải giữ các tài khoản giao dịch và các loại thuế, bản kiểm kê
vật tư quân đội và các tàu buôn lớn, lịch của các lễ hội và chiến thắng. Trong
hàng triệu năm, con người chứa thông tin ở một nơi duy nhất – bộ óc của mình.
Thật không may, bộ óc con người không phải là một thiết bị lưu trữ tốt cho những
cơ sở dữ liệu có kích cỡ đế chế, vì ba lý do chính.Thứ nhất, năng lực của nó bị giới hạn. Đúng là có một số người
có trí nhớ siêu phàm, và ở thời kỳ cổ đại có những chuyên gia ghi nhớ có thể chứa
trong đầu họ địa hình của toàn bộ các tỉnh hoặc bộ luật của toàn bộ các nhà nước.
Tuy nhiên, có một giới hạn mà thậm chí các bậc thầy ghi nhớ giỏi nhất cũng
không thể vượt qua. Một luật sư có thể thuộc lòng cả bộ luật về Thịnh vượng
chung Massachusetts, nhưng không thể nhớ các chi tiết của từng vụ kiện ở
Massachusetts kể từ vụ án xử những phù thủy Salem về sau.Thứ hai, khi con người chết đi, bộ óc của họ cũng chết theo.
Bất cứ thông tin nào chứa trong bộ óc đó cũng sẽ bị xóa sạch trong chưa đến một
thế kỷ. Tất nhiên, có thể chuyển giao kí ức từ bộ óc này sang bộ óc khác, nhưng
sau ít lần chuyển giao như vậy, thông tin có xu hướng bị cắt xén hoặc bị mất
đi.Thứ ba, cũng là quan trọng nhất, bộ não con người đã thích
nghi để lưu trữ và xử lý không chỉ những dạng thông tin cụ thể. Để sống sót,
người săn bắt hái lượm cổ đại phải ghi nhớ được những hình dạng, đặc tính và
cách thức hành động của hàng ngàn loài động thực vật. Họ phải ghi nhớ rằng, loại
nấm vàng có nếp nhăn mọc vào mùa thu dưới gốc cây du có thể là loại độc nhất,
trong khi đó loại nấm nhìn giống vậy mọc vào mùa đông dưới gốc cây sồi dùng để
chữa bệnh đau bụng rất tốt. Người săn bắt hái lượm cũng buộc phải nhớ trong đầu
các quan điểm và mối quan hệ của vài tá thành viên trong bầy. Nếu như Lucy muốn
một thành viên trong bầy giúp đỡ để John dừng việc quấy rối cô, điều quan trọng
là cô phải nhớ rằng John vừa cãi nhau với Mary vào tuần trước, nên Mary sẽ là một
đồng minh có khả năng và nhiệt tình. Kết quả là, áp lực tiến hoá đã làm bộ não
con người phải thích nghi để chứa được lượng thông tin rộng lớn về thực vật, động
vật, địa hình và xã hội.Nhưng khi những xã hội đặc biệt phức tạp bắt đầu xuất hiện
trong bối cảnh của Cách mạng Nông nghiệp, một dạng thông tin mới hoàn toàn bắt
đầu trở nên quan trọng – những con số. Những người hái lượm chưa bao giờ phải xử
lý một lượng lớn các dữ liệu toán học. Không một ai cần phải nhớ số quả trên mỗi
cái cây trong rừng. Vì vậy bộ óc con người đã không thích nghi được với việc chứa
và xử lý thông tin về các con số. Tuy vậy, để có thể duy trì một vương quốc rộng
lớn, các dữ liệu toán học rất quan trọng. Chỉ tạo ra luật pháp và kể mấy câu
chuyện về những vị thần giám hộ là chưa đủ. Còn phải thu thuế. Để có thể thu
thuế hàng trăm ngàn người, bắt buộc phải thu thập số liệu về thu nhập và tài sản
của từng người, số liệu về những khoản thanh toán, số liệu về số nợ còn khất lại,
số tiền vay chưa trả và tiền phạt, số liệu về phần tiền được giảm giá và miễn
thuế. Tất cả đã thêm vào đến hàng triệu bit dữ liệu, cần được lưu trữ và xử lý.
Nếu không có khả năng này, nhà nước đó sẽ không bao giờ biết được nguồn lực
mình có và nguồn lực nào có thể khai thác thêm. Khi đối mặt với nhu cầu phải
ghi nhớ, hồi tưởng và xử lý tất cả các con số này, hầu hết bộ não con người sẽ
bị quá tải hoặc cảm thấy buồn ngủ.Sự giới hạn trí óc này đã hạn chế rất nhiều kích thước và sự
phức tạp của những tập hợp người. Khi tổng số người và tài sản trong một xã hội
nào đó vượt qua ngưỡng tới hạn, việc lưu trữ và xử lý những khối lượng lớn dữ
liệu toán học trở nên cần thiết. Vì bộ óc của con người không thể làm được điều
này, nên hệ thống đã sụp đổ. Trong hàng ngàn năm sau Cách mạng Nông nghiệp, các
mạng lưới xã hội con người vẫn còn tương đối nhỏ bé và đơn giản.Tộc người đầu tiên vượt qua vấn đề này là người Sumer cổ đại,
sống ở phía nam Lưỡng Hà. Ở đó, Mặt trời chói chang trên các vùng đồng bằng đẩy
phù sa màu mỡ, tạo ra những vụ mùa sản lượng dồi dào và những thị trấn thịnh vượng.
Khi số lượng dân cư tăng, tổng lượng thông tin cần để phối hợp các công việc của
họ cũng tăng theo. Thời kỳ 3.500-3.000 TCN, những thiên tài vô danh Sumer đã
phát minh ra một hệ thống để lưu giữ và xử lý thông tin bên ngoài bộ não của họ,
được chế tạo theo nhu cầu xử lý những khối lượng lớn dữ liệu toán học. Do đó,
người Sumer đã giải phóng trật tự xã hội của họ khỏi giới hạn của bộ não con
người, mở đường cho sự xuất hiện của các thành phố, vương quốc và đế chế. Hệ thống
xử lý dữ liệu được người Sumer phát minh ra gọi là “chữ viết”.Ký tên, Kushim
Chữ viết là một phương pháp để lưu trữ thông tin bằng những
ký hiệu cụ thể. Hệ thống chữ viết Sumer đã làm như vậy bằng cách kết hợp hai dạng
ký tự, được vạch trên những phiến đất sét. Có những ký tự cho 1, 10, 60, 600,
3.600 và 36.000. (Người Sumer đã sử dụng kết hợp giữa các hệ thống số thập phân
và lục phân. Hệ thống số lục phân của họ đã để lại cho chúng ta nhiều di sản
quan trọng, chẳng hạn sự phân chia một ngày thành 24 giờ và một vòng tròn là
360 độ). Một dạng ký tự khác biểu thị cho con người, động vật, hàng hoá, đất
đai, dữ liệu và nhiều hơn nữa. Bằng việc kết hợp hai dạng ký tự, người Sumer có
thể lưu giữ nhiều hơn các dữ liệu mà bộ óc con người có thể nhớ hay bất cứ một
chuỗi ADN nào có thể mã hoá.Hình 18. Một phiến đất sét với một văn bản hành chính từ
thành phố Uruk, khoảng 3400-3000 TCN. “Kushim” có thể là tên chung của một chức
vụ hành chính, hoặc tên của một cá nhân nào đó. Nếu Kushim quả thực là một người,
thì ông ta có thể là cá nhân đầu tiên trong lịch sử có tên được chúng ta biết đến!
Tất cả những cái tên được đặt trước đó trong lịch sử loài người – Neanderthal,
Natutian, Chauvet Cave, Göbekli Tepe – đều là những phát minh hiện đại. Chúng
ta không biết những người xây dựng nên Göbekli Tepe trong thực tế gọi nơi này
là gì. Với sự xuất hiện của chữ viết, chúng ta bắt đầu nghe thấy lịch sử thông
qua cái tai của những người giữ vai trò chủ đạo. Khi những hàng xóm của Kushim
gọi anh ta, họ có thể phải hét to thực sự “Kushim!” Điều này có nghĩa là cái
tên được ghi lại đầu tiên trong lịch sử thuộc về một người giữ sổ sách kế toán,
hơn là một nhà tiên tri, một nhà thơ hoặc một kẻ chinh phục vĩ đại.Ở giai đoạn đầu, chữ viết bị giới hạn trước các sự kiện và
con số. Nếu người Sumer đã từng có một cuốn tiểu thuyết vĩ đại, thì nó hẳn
không bao giờ được ghi trên những phiến đất sét. Việc viết tiêu tốn thời gian,
và số người biết đọc cũng rất ít, vì vậy không ai thấy bất cứ lý do gì để sử dụng
nó cho mục đích khác ngoài việc lưu trữ những hồ sơ quan trọng. Nếu chúng ta đi
tìm những ngôn từ thông thái đầu tiên của tổ tiên mình cách đây khoảng 5.000
năm, chúng ta sẽ bị thất vọng hoàn toàn. Những thông điệp sớm nhất mà tổ tiên để
lại cho chúng ta đọc, ví dụ, “29.086 đơn vị lúa mạch 37 tháng Kushim”. Cách giải
thích khả dĩ nhất cho câu này là: “Tổng số 29.086 đơn vị lúa mạch được nhận
trong thời gian 37 tháng. Ký tên, Kushim”. Than ôi, những bản vãn đầu tiên
trong lịch sử không mang ý nghĩa triết học, thơ phú, huyền thoại, luật pháp hoặc
thậm chí những chiến thắng hoàng gia. Chúng là những tài liệu kinh tế buồn tẻ,
ghi lại việc trả thuế, sự tích lũy các món nợ và quyền sở hữu tài sản.Chữ viết khuyết thiếu không thể diễn tả được toàn bộ phạm trù
của một ngôn ngữ nói, nhưng có thể diễn tả những điều nằm ngoài phạm vi ngôn ngữ
nói. Chữ viết khuyết thiếu như các chữ trong toán học và chữ Sumer không thể
dùng để viết thơ được, nhưng chúng có thể lưu giữ các tài khoản thuế rất hiệu
quả.Chỉ có một dạng khác của văn bản còn tồn tại từ thời cổ đại,
và nó thậm chí còn kém thú vị hơn: danh sách các từ, được sao chép lại nhiều lần
như những bài luyện tập bởi người chép thuê chuyên nghiệp đang tập sự. Thậm
chí, nếu một sinh viên chán nản muốn viết thơ thay vì sao chép hoá đơn bán
hàng, anh ta cũng không thể làm thế. Chữ viết Sumer sớm nhất không phải là một
hệ chữ viết đầy đủ. Chữ viết đầy đủ phải là một hệ thống các ký tự cụ thể, có
thể biểu thị được gần như hoàn toàn ngôn ngữ nói. Vì vậy, nó có thể biểu thị mọi
thứ mà con người có thể nói ra, bao gồm cả thơ ca. Ngược lại, chữ viết khuyết
thiếu là một hệ thống các ký tự cụ thể chỉ thể hiện được một loại thông tin đặc
biệt nào đó thuộc về phạm vi hoạt động bị giới hạn. Ký tự Latin, ký tự tượng
hình của Ai Cập cổ đại và chữ nổi Braille là những chữ viết đầy đủ. Bạn có thể
dùng chúng để viết các tờ đăng ký thuế, thơ tình, sách lịch sử, công thức nấu
ăn và luật kinh doanh. Ngược lại, chữ viết Sumer thời kỳ đầu, giống như những
ký hiệu toán học và âm nhạc hiện đại, là kiểu chữ viết khuyết thiếu. Bạn có thể
sử dụng chữ viết toán học để tính toán, nhưng không thể dùng nó để viết thơ
tình.Hình 19. Một người đàn ông đang cầm quipu, một dụng cụ tính
toán, được miêu tả trong một bản thảo tiếng Tây Ban Nha, sau sự sụp đổ của Đế
chế Inca.Người Sumer không khó chịu khi chữ viết của họ không phù hợp
để viết thơ ca. Họ phát minh ra nó không phải để sao chép ngôn ngữ nói, mà dùng
để làm những việc mà ngôn ngữ nói không thể làm được. Có một số nền văn hoá,
như là nền văn minh Amdes tiền Colombus, chỉ sử dụng một phần chữ viết trong
toàn bộ lịch sử của họ mà không hề bối rối về sự giới hạn này, và cảm thấy
không cần một phiên bản hoàn chỉnh hơn. Chữ viết Andes rất khác so với chữ viết
Sumer. Trong thực tế, nó khác biệt đến mức nhiều người còn tranh luận rằng, nó
không phải là chữ viết. Nó không được viết trên những phiến đất sét hoặc những
mẩu giấy, mà được viết bằng những nút thắt trên mấy sợi dây đầy màu sắc gọi là
quipu. Mỗi quipu gồm nhiều sợi dây với màu sắc khác nhau, được làm bằng len hoặc
bông. Ở mỗi sợi dây, một số nút được thắt ở những vị trí khác nhau. Một quipu
có thể gồm hàng trăm sợi dây với hàng ngàn nút thắt. Bằng việc kết hợp các nút
thắt khác nhau trên những sợi dây khác nhau có nhiều màu, người ta có thể ghi
nhớ được lượng lớn các dữ liệu toán học liên quan, ví dụ như việc thu thuế hay
các quyền sở hữu tài sản.Trong hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm, quipu rất cần thiết
cho hoạt động kinh doanh của các thành phố, vương quốc và đế chế. Chúng đã đạt
tới năng lực tối ưu của mình dưới Đế chế Inca với 10-12 triệu người và bao phủ
toàn bộ Peru, Ecuador, Bolivia ngày nay cùng một phần Chile, Argentina,
Columbia. Nhờ có những quipu, người Inca có thể lưu giữ và xử lý lượng lớn các
dữ liệu mà nếu như không có chúng, họ không thể duy trì được bộ máy hành chính
phức tạp của một đế chế với quy mô lớn như vậy.Trong thực tế, quipu hiệu quả và chính xác tới mức trong những
năm đầu tiên sau khi Tây Ban Nha xâm lược Nam Mỹ, bản thân người Tây Ban Nha
cũng sử dụng quipu trong các công việc quản trị đế chế mới. Vấn đề là người Tây
Ban Nha không biết làm cách nào để ghi lại và đọc quipu, vì vậy họ phải phụ thuộc
vào các chuyên gia địa phương. Những người trị vì mới của lục địa nhận thấy điều
này đã đặt họ vào một tình huống nhạy cảm – những chuyên gia quipu bản địa có
thể dễ dàng lừa dối và gian lận các ông chủ của mình. Vì vậy, ngay khi các thuộc
địa của Tây Ban Nha được hình thành một cách vững chắc hơn, quipu đã bị loại bỏ,
sổ sách ghi chép của đế chế mới được lưu giữ hoàn toàn bằng các chữ số và hệ thống
chữ viết Latin. Còn rất ít các quipu tốn tại trong sự chiếm đóng của Tây Ban
Nha, và hầu hết chúng đều không thể giải mã được, vì thật không may, nghệ thuật
đọc quipu đã bị thất lạc.Những điều phi thường của bộ máy hành chính
Cư dân Lưỡng Hà cuối cùng bắt đầu muốn viết những điều khác với
các dữ liệu toán học buồn tẻ. Khoảng năm 3000-2500 TCN, ngày càng nhiều các ký
tự được thêm vào chữ viết Sumer, và dần biến nó trở thành một hệ thống chữ viết
đầy đủ mà ngày nay chúng ta gọi là chữ hình nêm. Vào khoảng năm 2500 TCN, các vị
vua đã sử dụng chữ hình nêm này để ban bố các sắc lệnh, các tu sĩ cũng sử dụng
chúng để ghi lại những lời tiên tri, và những cư dân có thân phận thấp hơn cũng
dùng nó để viết thư cá nhân. Gần như cùng thời kỳ này, người Ai Cập cũng phát
triển thêm một kiểu chữ viết đầy đủ khác được gọi là chữ tượng hình. Những hệ
thống chữ viết đầy đủ khác cũng được phát triển tại Trung Quốc vào khoảng năm
1200 TCN và ở Trung Mỹ vào khoảng năm 1000-500 TCN.Từ những trung tâm khởi phát như vậy, các hệ thống chữ viết đầy
đủ đã lan rộng với những hình thức mới và nhiệm vụ mới phong phú. Con người bắt
đầu viết thơ ca, sách lịch sử, những câu chuyện lãng mạn, kịch, những lời tiên
tri và sách dạy nấu ăn. Song, nhiệm vụ quan trọng nhất của chữ viết vẫn là lưu
giữ hàng tập dữ liệu toán học, và nhiệm vụ này cũng thuộc đặc quyền của hệ thống
chữ viết chưa đầy đủ. Kinh Do Thái, Iliad của Hy Lạp, Mahabharata của Hindu,
Tam tạng kinh điển Phật giáo, tất cả đều bắt đầu từ truyền miệng. Trải qua nhiều
thế hệ, chúng được lưu truyền bằng miệng và có thể tồn tại ngay cả khi chữ viết
chưa được phát minh. Nhưng những cơ quan thuế vụ và hành chính phức tạp đã được
sinh ra cùng với những loại chữ viết chưa đầy đủ, và mối liên kết bền vững giữa
chúng vẫn tồn tại cho đến tận ngày nay như anh em sinh đôi dính nhau – hãy thử
nghĩ về những mục khó hiểu trong các cơ sở dữ liệu của máy vi tính và bảng tính
mà xem.Vì ngày càng có nhiều thứ được viết ra, đặc biệt do công việc
lưu trữ hành chính phát triển với quy mô khổng lồ, nên những vấn đề mới đã nảy
sinh. Thông tin lưu trữ trong bộ não con người rất dễ lấy ra dùng. Bộ não của
tôi có thể chứa hàng tỉ các bit dữ liệu, song tôi có thể nhanh chóng, gần như tức
khắc, nhớ ra tên của thủ đô Ý, và sau đó lập tức có thể nhớ lại những gì tôi đã
làm vào ngày 11 tháng Chín năm 2001, và sau đó có thể tái hiện con đường dẫn từ
nhà tôi tới Đại học Hebrew ở Jerusalem. Chính xác làm thế nào bộ não có thể làm
được như vậy vẫn còn là một điều bí ẩn, nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng hệ
thống khôi phục dữ liệu của bộ não hoạt động hiệu quả một cách đáng kinh ngạc,
trừ khi bạn đang cố nhớ xem mình để chìa khoá xe hơi ở đâu.Thế nhưng, làm cách nào để bạn tìm và khôi phục thông tin được
lưu giữ trên những sợi dây quipu và các phiến đất sét? Nếu bạn chỉ có 10 hay
100 phiến đất sét, điều này không thành vấn đề. Nhưng sẽ thế nào nếu bạn đã
tích trữ hàng ngàn phiến, giống như một người cùng thời với Hammurabi, Vua
Zimrilim xứ Mari?Thử tưởng tượng vào thời điểm năm 1776 TCN. Hai người Mari
đang tranh chấp quyền sở hữu một ruộng lúa mì. Jacob khăng khăng rằng anh ta đã
mua cánh đồng này từ Esau cách đó 30 năm. Esau vặn lại rằng trong thực tế anh
ta cho Jacob thuê ruộng lúa mì trong thời hạn 30 năm, và đến nay đã hết hạn,
anh ta có ý định đòi lại nó. Họ la hét, cãi nhau và bắt đầu xô đẩy nhau trước
khi nhận ra rằng họ có thể giải quyết cuộc tranh cãi này bằng việc đến thư khố
hoàng gia, nơi lưu giữ các văn bản và hoá đơn mua bán được áp dụng cho mọi bất
động sản của vương quốc. Sau khi đến thư khố, họ đã đi lại như con thoi để gặp
hết viên chức này đến viên chức khác. Họ chờ đợi qua vài lần nghỉ uống trà thảo
mộc, được thông báo là hãy quay lại vào ngày mai, và cuối cùng được đón tiếp bởi
một nhân viên đang rất bực bội tìm kiếm phiến đất sét liên quan. Nhân viên này
mở cửa và dẫn họ vào trong một căn phòng lớn, từ sàn lên đến trần nhà chứa hàng
ngàn phiến đất sét xếp thành hàng. Không cần phải thắc mắc về gương mặt cáu kỉnh
của nhân viên này nữa. Làm thế nào anh ta có thể xác định được vị trí của văn bản
liên quan đến ruộng lúa mì đang bị tranh chấp đã được viết cách đấy 30 năm? Thậm
chí nếu anh ta tìm thấy nó, anh ta sẽ làm thế nào để kiểm tra chéo nhằm chắc chắn
rằng văn bản từ 30 năm trước là tài liệu mới nhất liên quan đến ruộng lúa mì
đang bị tranh chấp? Nếu anh ta không tìm thấy nó, điều đó có chứng minh được rằng
Esau chưa bao giờ bán hoặc cho thuê ruộng này? Hoặc do tài liệu bị thất lạc, hoặc
hoá bùn do nước mưa lọt vào thư khố?Rõ ràng là, chỉ in dấu một tài liệu vào phiến đất sét thôi
chưa đủ để đảm bảo cho việc xử lý dữ liệu hiệu quả, chính xác và thuận tiện. Nó
đòi hỏi những phương pháp tổ chức như các danh mục liệt kê, các phương pháp sao
chép giống như máy photocopy, các phương pháp khôi phục dữ liệu nhanh và chính
xác giống như các thuật toán máy vi tính, cùng những người quản lý thư viện
nghiêm túc (nhưng hy vọng là vui vẻ) biết cách sử dụng những công cụ này.Việc phát minh ra những phương pháp trên còn khó khăn hơn rất
nhiều so với việc phát minh ra chữ viết. Nhiều kiểu chữ viết được phát triển độc
lập ở những nền văn hoá cách xa nhau cả về không gian lẫn thời gian. Mỗi thập kỷ,
các nhà khảo cổ học lại phát hiện ra một số kiểu chữ viết khác đã bị lãng quên.
Trong số đó, có một vài kiểu thậm chí còn lâu đời hơn cả chữ Sumer in trên đất
sét. Nhưng hầu hết chúng đều là những sự kỳ lạ, vì những người sáng tạo ra
chúng đều thất bại trong việc tạo ra các cách hiệu quả để phân mục và khôi phục
dữ liệu. Điều đã khiến Sumer trở nên khác biệt, cũng như Ai Cập thời những
Pharaoh, Trung Hoa cổ đại và Đế chế Inca, đó chính là các nền văn hoá này đã
phát triển những kĩ thuật tốt trong việc lưu trữ, ghi mục lục và tra cứu sổ
sách ghi chép. Họ cũng lập ra trường học dành cho những người chép thuê, thư
ký, quản lý thư viện và kế toán.Một bài tập viết ở trường thuộc vùng Lưỡng Hà cổ đại, được
các nhà khảo cổ học hiện đại phát hiện, đã cho chúng ta một cái nhìn lướt qua
cuộc sống của những người đi học cách đây 4.000 năm.Tôi đi vào và ngồi xuống, thầy giáo đã đọc bảng của tôi. Ông ấy
nói: “Có gì đó thiếu!”Và ông ấy đánh đòn tôi.
Một trong những người phụ trách nói, “Tại sao anh lại mở mồm
nói mà chưa xin phép tôi?”Và ông ấy đánh đòn tôi.
Người phụ trách việc thực hiện các quy tắc nói, “Tại sao anh
đứng lên mà chưa xin phép tôi?”
Và ông ấy đánh đòn tôi.
Người gác cổng nói, “Tại sao anh ra ngoài mà chưa xin phép
tôi?”
Và ông ấy đánh đòn tôi.
Người giữ chiếc bình đựng bia nói, “Tại sao anh lấy bia mà
chưa xin phép tôi?” Và ông ấy đánh đòn tôi.Thầy giáo người Sumer nói, “Tại sao anh lại nói tiếng Akkad?”
Và ông ấy đánh đòn tôi.
Thầy giáo của tôi nói, “Chữ viết của anh không đẹp”.
Và ông ấy đánh đòn tôi.
Những người chép thuê cổ đại đi học không chỉ để đọc và viết,
mà còn để sử dụng các bản thống kê, từ điển, lịch, mẫu đơn và bảng biểu. Họ
nghiên cứu và tiếp thu các kĩ thuật thống kê, khôi phục và xử lý thông tin rất
khác so với cách mà bộ não đã làm. Trong bộ não, mọi dữ liệu đều liên kết tự
do. Khi tôi cùng với vợ mình ký vào văn tự thế chấp ngôi nhà mới của chúng tôi,
tôi nhớ lại nơi đầu tiên chúng tôi sống cùng nhau, nó làm tôi nhớ đến tuần
trăng mật ở New Orleans, nó nhắc tôi nhớ đến những con cá sấu, nó làm tôi nhớ lại
những con rồng, nó khiến tôi nhớ về bộ phim The Ring of the Nibelungen, và đột
nhiên, trước khi tôi nhận thức được, ở đó tôi thấy mình đang ngân nga một giai
điệu chủ đạo của vở opera Siegfried khiến nhân viên ngân hàng bối rối. Trong
công việc hành chính, mọi thứ đều phải được sắp xếp riêng biệt. Có một ngăn kéo
cho các văn tự cầm cố nhà, một cái khác cho các giấy chứng nhận kết hôn, cái
khác nữa cho các bản đăng ký thuế, và cái thứ tư cho các tài liệu tố tụng. Nếu
không thì làm sao bạn có thể tìm thấy bất cứ thứ gì? Những thứ liên quan đến
nhiều ngăn kéo, như vở nhạc kịch của Wagner (tôi có nên sắp xếp chúng dưới dạng
“âm nhạc”, “rạp hát”, hoặc thậm chí nghĩ ra một phân mục hoàn toàn mới?) là bài
toán cực kỳ đau đầu. Vì vậy, người ta có thể không ngừng thêm vào, bỏ đi và sắp
xếp lại các ngăn kéo.Để có thể hoạt động, người vận hành một hệ thống ngăn kéo như
vậy phải lên lại chương trình để dừng việc suy nghĩ như người thường, và bắt đầu
suy nghĩ như những nhân viên sổ sách hoặc kế toán. Giống như mọi người từ thời
cổ đại cho đến ngày nay, họ đều biết rằng những nhân viên sổ sách hoặc kế toán
suy nghĩ theo cách không phải của con người. Họ suy nghĩ như những cái tủ có
ngăn kéo đựng tài liệu. Đó không phải là lỗi của họ. Nếu họ không suy nghĩ theo
cách đó, các ngăn kéo của họ sẽ bị lẫn lộn hết và họ không thể cung cấp các dịch
vụ mà chính phủ, công ty và các tổ chức yêu cầu. Tác động quan trọng nhất của hệ
thống chữ viết lên lịch sử loài người là nó thay đổi dần cái cách mà con người
suy nghĩ và nhìn nhận về thế giới. Sự liên kết tự do và lối suy nghĩ tổng thể
đã nhường chỗ cho sự chuyên môn hoá và hành chính.Ngôn ngữ của những con số
Nhiều thế kỷ trôi qua, việc xử lý dữ liệu bằng các phương
pháp hành chính phát triển ngày càng khác nhiều so với cách suy nghĩ tự nhiên của
con người và ngày càng quan trọng hơn. Một bước quyết định đã được tiến hành ở
một thời điểm nào đó trước thế kỷ 9, khi một kiểu chữ viết phần nào đó mới mẻ
được phát minh, nó có thể lưu trữ và xử lý các dữ liệu toán học với hiệu quả
chưa từng thấy. Kiểu chữ viết chưa đầy đủ này được cấu tạo bởi 10 ký tự, đại diện
cho các số từ 0 đến 9. Rắc rối ở chỗ, các ký tự này được biết đến như là các số
Ả-rập mặc dù chúng do người Hindu phát minh ra đầu tiên (còn rắc rối hơn nữa,
người Ả-rập hiện đại sử dụng một bộ số nhìn hoàn toàn khác so với các con số của
phương Tây). Nhưng người Ả-rập được công nhận là tác giả bởi vì khi xâm lược Ấn
Độ, họ đã bắt gặp hệ thống này, hiểu được sự hữu dụng của nó, cải tiến nó, và
truyền bá nó khắp Trung Đông và sau đó tới cả châu Âu. Sau đó, một vài kỷ tự
khác được thêm vào các số Ả-rập (như là các ký hiệu cộng, trừ, nhân), và cơ sở
của các ký hiệu toán học hiện đại ra đời.Mặc dù hệ thống chữ viết này còn chưa đầy đủ, nhưng nó đã trở
thành ngôn ngữ thống trị thế giới. Hầu hết các quốc gia, công ty, tổ chức và cơ
quan – bất kể nói tiếng Ả-rập, tiếng Hindi, tiếng Anh hoặc tiếng Na Uy – đều sử
dụng ngôn ngữ toán học để lưu trữ và xử lý dữ liệu. Mỗi lượng thông tin có thể
chuyển sang ngôn ngữ toán học đều được lưu trữ, truyền bá và xử lý với tốc độ
và hiệu quả khó tin.Vì vậy, ai đó muốn gây ảnh hưởng đến những quyết định của
chính phủ, tổ chức hoặc công ty thì phải học cách nói chuyện bằng các con số.
Các chuyên gia đã làm hết sức mình để thể hiện các quan điểm về “sự nghèo nàn”,
“hạnh phúc” và “sự trung thực” bằng các con số (“mức thu nhập tối thiểu”, “mức
độ hài lòng chủ quan về đời sống”, “xếp hạng tín dụng”). Toàn bộ các lĩnh vực
tri thức, như vật lý và kĩ thuật, hầu như đã mất liên lạc với ngôn ngữ nói của
con người và được duy trì chỉ bằng ngôn ngữ toán học.Một phương trình để tính toán gia tốc khối lượng i dưới ảnh
hưởng của trọng lực theo thuyết tương đối. Hầu hết những người nghiệp dư khi
nhìn vào những phương trình như vậy đều thường sợ hãi ớn lạnh, giống như một
con hươu bắt ánh đèn pha của một chiếc xe đang lao nhanh. Phản ứng này hoàn
toàn tự nhiên, và không phải là biểu lộ sự thiếu thông minh hoặc tính ham học hỏi.
Ngoài những ngoại lệ hiếm có, bộ não con người đơn giản không thể nghĩ đến những
khái niệm như tính chất tương đối và cơ học lượng tử. Tuy nhiên, những nhà vật
lý học có thể làm được vì họ đã gác sang một bên cách suy nghĩ truyền thống, và
học cách nghĩ mới với sự giúp đỡ của các hệ thống xử lý dữ liệu bên ngoài. Những
quyết định trong quá trình suy nghĩ của họ không xảy ra trong đầu, mà trong các
máy vi tính hoặc trên bảng đen của lớp học.Gần đây, ngôn ngữ toán học đã có thêm một hệ thống chữ viết
mang tính cách mạng hơn, hệ thống chữ viết nhị phân vi tính chỉ gồm hai ký tự:
0 và 1. Những chữ mà tôi đang gõ trên bàn phím máy vi tính của mình được viết bởi
những sự kết hợp khác nhau của 0 và 1.Chữ viết được sinh ra để làm kẻ hầu cho ý thức con người,
nhưng dần dần nó lại đóng vai trò ông chủ. Những chiếc máy vi tính của chúng ta
khó có thể hiểu được cách Homo sapiens nói, cảm nhận và mơ ước. Vì vậy, chúng
ta đang dạy Homo sapiens cách nói, cảm nhận và mơ ước bằng ngôn ngữ của những
con số mà máy vi tính có thể hiểu được.Cuối cùng, máy vi tính chắc hẳn đã vượt trội con người trong
chính lĩnh vực khiến Homo sapiens trở thành kẻ thống trị thế giới: trí thông
minh và sự giao tiếp. Quá trình này bắt đầu ở thung lũng Euphrates 5000 năm trước,
khi những người Sumer nhàm chán truyền tải dữ liệu từ bộ não người lên những tấm
bảng đất sét, sau đó phát triển tột bậc ở Thung lũng Silicon với thành công của
máy tính bảng. Con người có thể vẫn ở đây, nhưng họ không còn hiểu được thế giới
nữa. Kẻ thống trị mới của thế giới sẽ là hàng dài các con số 0 và 1. Chương 8 - Không có công lý trong lịch sử Để hiểu lịch sử loài người trong thiên niên kỷ sau Cách mạng
Nông nghiệp, cần tập trung vào một câu hỏi duy nhất: làm thế nào con người có
thể tổ chức mình trong những mạng lưới hợp tác đại chúng, khi họ thiếu những bản
năng sinh học cần thiết để duy trì những mạng lưới như vậy? Câu trả lời ngắn gọn
là con người đã sáng tạo ra các trật tự tưởng tượng và các kiểu chữ viết. Hai
phát minh này đã lấp đầy những khoảng trống mà sự kế thừa sinh học của chúng ta
để lại.Tuy nhiên, đối với nhiều người, sự xuất hiện của những mạng
lưới này là một sự may mắn đáng ngờ. Những trật tự tưởng tượng duy trì những mạng
lưới này không trung lập và cũng không công bằng. Chúng phân chia con người
thành những nhóm không có thật, sắp xếp họ vào một hệ thống phân tầng. Những tầng
lớp trên được hưởng đặc quyền đặc lợi và quyền lực, trong khi những tầng lớp dưới
phải chịu sự phân biệt đối xử và áp bức. Bộ luật Hammurabi là một ví dụ, nó đã
thiết lập một tôn ti trật tự xã hội gồm có giới ưu tú, thường dân và nô lệ. Giới
ưu tú nhận được mọi thứ tốt đẹp trong cuộc sống. Thường dân nhận được những gì
còn lại. Nô lệ nhận được sự đánh đập nếu họ phàn nàn.Bất chấp tuyên bố của mình về sự công bằng cho tất cả mọi người,
trật tự xã hội do người Mỹ thiết lập năm 1776 cũng đã tạo ra một sự phân tầng.
Nó sinh ra sự phân tầng giữa đàn ông được hưởng lợi từ nó với phụ nữ bị nó tước
mất quyền lợi. Nó sinh ra sự phân tầng giữa người da trắng được hưởng tự do với
người da đen và da đỏ bị xem là loại người thấp kém hơn, vì vậy không được chia
sẻ quyền bình đẳng của con người. Nhiều người từng ký vào bản Tuyên ngôn Độc lập
là những chủ nô. Họ đã không giải phóng nô lệ của mình dù đã ký vào bản Tuyên
ngôn, và cũng không thấy mình là đạo đức giả. Theo quan điểm của họ, hầu như
không có nhân quyền dành cho người da đen.Trật tự Mỹ cũng đã tạo ra sự phân tầng giữa người giàu và người
nghèo. Hầu hết người Mỹ ở thời điểm đó đều không coi đấy là bất bình đẳng, khi
cha mẹ giàu có để lại tiền và sự nghiệp kinh doanh của mình cho con cái. Theo
quan điểm của họ, sự công bằng đơn giản có nghĩa là những luật lệ giống nhau được
áp dụng cho cả người giàu và người nghèo. Nó chẳng liên quan gì đến trợ cấp thất
nghiệp, giáo dục hòa nhập hoặc bảo hiểm y tế. Tự do cũng vậy, nó mang rất nhiều
ý nghĩa khác so với ngày nay. Vào năm 1776, nó không có nghĩa là những người bị
tước quyền (chắc chắn không phải là người da đen, da đỏ hay phụ nữ) có thể
giành được và sử dụng quyền lực. Nó đơn giản có nghĩa là, trừ những trường hợp
bất thường, nhà nước không thể tịch thu tài sản cá nhân của người dân hoặc bảo
anh ta phải làm gì với chúng. Vì vậy, trật tự Mỹ duy trì sự phân tầng tài sản,
mà một số người nghĩ rằng do Chúa ủy thác và số khác thì nhìn nhận nó là đại diện
cho những luật lệ tự nhiên bất biến. Họ khẳng định tự nhiên đã ban tặng sự giàu
có cho công lao xứng đáng, và trừng phạt những kẻ lười biếng.Tất cả những sự khác biệt được để cập ở trên – giữa người tự
do và nô lệ, giữa người da trắng và người da đen, giữa người giàu và người
nghèo, đều bắt nguồn từ những điều hư cấu. (Sự phân tầng giữa nam và nữ sẽ được
thảo luận sau). Song, một quy luật sắt của lịch sử là mỗi sự phân tầng tưởng tượng
đều từ chối những nguồn gốc hư cấu của nó, khẳng định tính tự nhiên và tất yếu
của mình. Ví dụ, nhiều người có quan điểm rằng sự phân tầng thành người tự do
và nô lệ là tự nhiên và đúng đắn, rằng chế độ nô lệ không phải là phát minh của
con người. Hammurabi đã coi nó là do những vị thần quy định. Aristotle lập luận
rằng nô lệ mang “bản tính nô lệ” trong khi người tự do có “bản tính tự do”.
Thân phận của họ trong xã hội đơn giản chỉ phản ánh bản tính tự nhiên bẩm sinh
của họ.Hình 20. Một tấm biển trên bờ biển Nam Phi có từ thời kỳ phân
biệt chủng tộc, quy định chỉ dành cho người da trắng sử dụng. Những người với
làn da sáng màu thường có nguy co bị cháy nắng hơn những người da sẫm màu.
Song, không có logic sinh học nào đằng sau sự phân biệt trên những bờ biển Nam
Phi. Những bờ biển dành cho những người có làn da sáng màu không phải vì chúng
có cường độ bức xạ cực tím thấp hơn.Hãy hỏi một người theo thuyết người da trắng ưu việt về sự
phân tầng chủng tộc, bạn sẽ được nghe một bài thuyết giảng ngụy khoa học liên
quan đến sự khác nhau về mặt sinh học giữa các chủng tộc. Khả năng là bạn sẽ được
bảo rằng có một thứ gì đó trong dòng máu hay bộ gen chủng tộc da trắng làm cho
người da trắng về bản chất là thông minh hơn, đạo đức hơn và làm việc chăm chỉ
hơn. Hãy hỏi một nhà tư bản bảo thủ đến cùng về sự phân tầng giàu nghèo, có vẻ
như bạn cũng sẽ được nghe rằng nó là kết quả không thể tránh khỏi của sự khác
nhau khách quan trong năng lực. Người giàu có nhiều tiền hơn là do họ có khả
năng hơn và siêng năng hơn. Vì vậy, đừng có ai phàn nàn gì nếu như người giàu
nhận được sự chăm sóc sức khỏe tốt hơn, giáo dục tốt hơn và dinh dưỡng tốt hơn.
Người giàu xứng đáng với những đặc quyền mà họ được hưởng.Những người Hindu trung thành với chế độ đẳng cấp tin rằng sức
mạnh vũ trụ đã làm cho người ở tầng lớp này ưu việt hơn tầng lớp khác. Theo một
thần thoại sáng thế nổi tiếng của người Hindu, những vị thần tạo ra thế giới từ
cơ thể của một sinh vật nguyên thủy gọi là Purusa. Mặt trời được tạo ra từ mắt
của Purusa, Mặt trăng từ bộ óc, Brahmin (các thầy tu) từ miệng, Kshatriya (các
chiến binh) từ cánh tay, Vaishya (những nông dân và các nhà buôn) từ hai đùi và
Shudra (những đầy tớ) từ đôi chân. Việc chấp nhận sự giải thích này và sự khác
nhau về mặt chính trị xã hội giữa Brahmin và Shudras là chuyện tự nhiên và vĩnh
cửu như sự khác nhau giữa Mặt trăng và Mặt trời. Người Trung Hoa cổ đại tin rằng
thần Nữ Oa đã tạo ra con người từ đất, bà nhào trộn ra giới quý tộc từ đất vàng
nhỏ mịn, trong khi thường dân được tạo thành từ bùn nâu.Song, với hiểu biết tốt nhất của chúng ta, những sự phân tầng
này đều là sản phẩm của trí tưởng tượng của con người. Brahmin và Shudra đều
không thực sự được các vị thần tạo ra từ những phần khác nhau của một sinh vật
nguyên thủy. Thay vào đó, sự khác nhau giữa hai đẳng cấp này được sinh ra bởi
luật pháp và các quy tắc do con người tạo ra ở phía bắc Ấn Độ cách đây khoảng
3.000 năm. Trái với Aristotle, không có sự khác biệt nào về mặt sinh học được
biết đến giữa nô lệ và người tự do. Chính luật pháp và các quy tắc của con người
đã biến một số người trở thành nô lệ và một số khác trở thành ông chủ. Giữa người
da trắng và người da đen có một vài điểm khác nhau khách quan về mặt sinh học,
như màu da, kiểu tóc, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy có sự khác nhau
liên quan đến trí thông minh và đạo đức.Hầu hết mọi người đều khẳng định rằng sự phân tầng xã hội của
họ là theo tự nhiên, còn của các xã hội khác là dựa vào những tiêu chí sai lầm
và vô lý. Người phương Tây hiện đại được dạy dỗ để chế giễu quan niệm về sự
phân biệt chủng tộc. Họ bị sốc bởi những bộ luật cấm người da đen sống trong
khu vực gần người da trắng, hoặc học tập trong trường dành cho người da trắng,
hoặc được chữa trị ở bệnh viện của người da trắng. Nhưng sự phân tầng giàu
nghèo đã đặt người giàu có sống trong những khu vực riêng biệt và sang trọng
hơn, học tập trong những trường học riêng biệt và có uy tín hơn, nhận được điều
trị y tế riêng biệt với cơ sở hạ tầng được trang bị tốt hơn, thì lại có vẻ hoàn
toàn hợp lý với nhiều người Mỹ và châu Âu. Song, thực tế đã chứng minh rằng hầu
hết người giàu thì đều giàu có bởi những lý do hết sức đơn giản, vì họ sinh ra
trong gia đình giàu có, trong khi hầu hết người nghèo cũng sẽ tiếp tục nghèo cả
đời, đơn giản vì họ sinh ra trong gia đình nghèo.Thật không may, các xã hội loài người phức tạp có vẻ lại đòi
hỏi những sự phân tầng tưởng tượng và sự phân biệt đối xử bất công. Tất nhiên,
không phải mọi sự phân tầng đều giống nhau về phương diện đạo đức, và một số xã
hội còn phải chịu đựng những dạng phân biệt đối xử cực đoan hơn, song các nhà
nghiên cứu biết rằng không có xã hội lớn nào có thể bỏ qua hoàn toàn sự phân biệt
đối xử. Con người đã thường xuyên tạo ra trật tự xã hội bằng việc phân loại cư
dân thành những phạm trù tưởng tượng như tầng lớp ưu tú, thường dân và nô lệ;
người da trắng và người da đen; quý tộc và bình dân; Brahmin và Shudra; hoặc
người giàu và người nghèo. Các phạm trù này đã quy định những mối quan hệ giữa
hàng triệu người bằng việc làm cho một số người trở nên ưu việt hơn về mặt pháp
luật, chính trị hay xã hội so với những người khác.Những sự phân tầng đóng một chức năng quan trọng. Chúng làm
cho những người hoàn toàn xa lạ biết được cách đối xử với người khác mà không cần
tốn thời gian và công sức để làm quen cá nhân. Trong vở kịch Pygmalion của
George Bernard Shaw, Henry Higgins không cần kết thân với Eliza Doolittle thì mới
biết được ông nên đối xử với cô như thế nào. Chỉ cần nghe cách cô nói, ông đã
biết rằng cô là thành viên của tầng lớp dưới mà với họ ông có thể làm điều mình
thích – ví dụ, sử dụng cô như con tốt khi ông cá rằng một cô gái bán hoa thô lỗ
có thể biến thành một nữ công tước. Một Eliza hiện đại làm việc ở cửa hàng hoa
biết phải đổ bao nhiêu công sức để bán được hoa hồng và hoa lay ơn cho hàng tá
khách tới cửa hàng mỗi ngày. Cô không thể điều tra chi tiết về sở thích và ví
tiền của từng cá nhân. Thay vào đó, cô sử dụng những tín hiệu xã hội – cách ăn
mặc của mỗi người, tuổi của ông ta hoặc bà ta, và nếu như cô không ngại động chạm
chính trị thì cả màu da của ông ta nữa. Đó là cách để cô ngay lập tức phân biệt
giữa cổ đông của một công ty kế toán, người có khả năng đặt một đơn hàng lớn gồm
những bông hồng đắt tiền cho sinh nhật mẹ mình, và một chàng đưa thư chỉ đủ tiền
mua một bó cúc cho cô thư ký nọ kèm theo nụ cười đáng mến.Tất nhiên, sự khác nhau trong các năng lực tự nhiên cũng đóng
một vai trò quan trọng trong việc hình thành những khác biệt xã hội. Nhưng sự
đa dạng về năng khiếu và cá tính như vậy thường bị ảnh hưởng thông qua những sự
phân tầng tưởng tượng. Điều này xảy ra theo hai cách quan trọng. Cách đầu tiên
và chính yếu, là hầu hết các năng lực đều phải được nuôi dưỡng và phát triển. Kể
cả ai đó sinh ra với một tài năng đặc biệt, thì tài năng đó sẽ vẫn chỉ ẩn giấu
nếu nó không được cổ vũ, mài giũa và luyện tập. Không phải mọi người đều cùng
có cơ hội nuôi dưỡng và cải thiện năng lực của họ. Việc họ có cơ hội hay không
sẽ luôn phụ thuộc vào vị trí của họ trong sự phân tầng xã hội tưởng tượng.
Harry Potter là một ví dụ tốt. Bị tách khỏi gia đình phép thuật xuất sắc của
mình và được nuôi dưỡng bởi dân muggle ngu dốt, cậu bé tới Hogwarts mà không có
bất cứ kinh nghiệm gì về phép thuật. Phải qua bảy tập sách thì cậu mới điều khiển
thành thạo sức mạnh của mình và hiểu biết về những năng lực độc nhất vô nhị của
mình.Cách thứ hai, kể cả những người thuộc các tầng lớp khác nhau
phát triển những năng lực y như nhau, nhưng họ cũng sẽ khó có thể đạt được những
thành công giống nhau, bởi họ sẽ phải tham gia trò chơi với những luật lệ khác
nhau. Nếu trong thời Ấn Độ còn là thuộc địa của Anh, một tiện dân, một Brahmin,
một người Ireland theo Công giáo và một người Anh theo đạo Tin Lành bằng cách
nào đó cùng phát triển khả năng kinh doanh nhạy bén giống hệt nhau, nhưng họ sẽ
vẫn không có cơ hội giàu có như nhau. Trò chơi kinh tế luôn bị can thiệp bởi những
giới hạn luật pháp và những rào cản tiến thân bất thành văn.Cái vòng luẩn quẩn
Mọi xã hội đều dựa trên sự phân tầng tưởng tượng, nhưng không
nhất thiết phải cùng một sự phân tầng. Nguyên nhân của sự khác nhau này là gì?
Tại sao xã hội Ấn Độ truyền thống lại phân chia con người theo đẳng cấp, còn xã
hội Ottoman dựa theo tôn giáo, và xã hội Mỹ thì theo chủng tộc? Trong hầu hết
các trường hợp, sự phân tầng đều là kết quả của một tập hợp các hoàn cảnh lịch
sử ngẫu nhiên, sau đó được duy trì và tinh lọc qua nhiều thế hệ do những nhóm
khác nhau phát triển những lợi ích riêng trong đó.Ví dụ, nhiều học giả phỏng đoán rằng, hệ thống đẳng cấp Hindu
đã hình thành khi tộc người Indo-Arya xâm lược tiểu lục địa Ấn Độ khoảng 3.000
năm trước, nô dịch cư dân bản địa. Những kẻ xâm lược hình thành một xã hội phân
tầng, trong đó tất nhiên họ chiếm những vị trí hàng đầu (các thầy tu và chiến
binh), để cho người dân bản địa sống như những đầy tớ và nô lệ. Những kẻ xâm lược
chỉ chiếm số ít, họ sợ đánh mất vị trí đặc quyền và bản sắc độc đáo của mình. Để
ngăn chặn nguy cơ này, họ phân chia dân cư thành đẳng cấp, mỗi đẳng cấp được
yêu cầu theo đuổi một nghề nghiệp cụ thể hoặc thực hiện một vai trò nhất định
trong xã hội. Mỗi đẳng cấp có những vị trí hợp pháp, đặc quyền và bổn phận khác
nhau. Sự hòa trộn giữa những đẳng cấp này – tương tác xã hội, kết hôn, thậm chí
là chia sẻ các bữa ăn – đều bị cấm.Và những sự phân biệt này không chỉ hợp pháp, chúng còn trở
thành phần cố hữu trong thần thoại tôn giáo và thực tế.Những kẻ cai trị đã biện luận rằng, hệ thống đẳng cấp phản
ánh một thực tại vũ trụ vĩnh cửu hơn là một sự phát triển lịch sử tình cờ. Khái
niệm về sự trong sạch và ô uế là những yếu tố cơ bản trong đạo Hindu, chúng đã
được khai thác để củng cố kim tự tháp xã hội. Những người Hindu sùng đạo được dạy
rằng, việc liên hệ với các thành viên của một đẳng cấp khác không chỉ làm ô uế
bản thân họ mà còn là toàn xã hội, do vậy nên ghê tởm. Những quan niệm như vậy
không chỉ có ở đạo Hindu. Trong suốt lịch sử, và trong hầu hết các xã hội, khái
niệm về sự ô uế và trong sạch giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong việc thực
hiện phân hoá chính trị và xã hội, được nhiều tầng lớp cầm quyền khai thác để
duy trì những đặc quyền của họ. Tuy nhiên, nỗi sợ hãi bị ô uế không phải là sự
bịa đặt hoàn toàn của các thầy tu và các quân vương. Nó có thể bắt nguồn trong
các cơ chế sinh tồn sinh học làm con người cảm nhận được nỗi khiếp sợ bản năng
trước những kẻ mang mầm bệnh tiềm tàng, như những người ốm và xác chết. Nếu bạn
muốn cô lập bất cứ nhóm người nào – phụ nữ, Do Thái, La Mã, đồng tính nam, da
đen – cách tốt nhất để làm điều đó là thuyết phục mọi người rằng những người
trên là nguồn gốc của sự ô uế.Hệ thống đẳng cấp Hindu và những luật lệ về sự trong sạch đi
kèm đã gắn chặt vào nền văn hoá Ấn Độ. Rất lâu sau khi cuộc xâm lược của người
Indo-Arya bị lãng quên, người Ấn Độ tiếp tục tin vào hệ thống đẳng cấp và ghê tởm
sự ô uế gây ra bởi sự trộn lẫn giữa các đẳng cấp. Các đẳng cấp không chống cự
được sự thay đổi. Thực tế, khi thời gian trôi đi, những đẳng cấp lớn được phân
chia thành những đẳng cấp nhỏ. Thậm chí bốn đẳng cấp ban đầu được chia thành
3.000 nhóm khác nhau gọi kjati (nghĩa đen là “sự ra đời”). Nhưng sự sinh sôi nảy
nở của các đẳng cấp này không làm thay đổi nguyên tắc cơ bản của hệ thống, theo
đó mỗi người đều sinh ra ở đẳng cấp riêng mà bất cứ sự xâm hại nào đến nguyên tắc
của nó đều sẽ làm ô uế con người và toàn thể xã hội. Jati của một người xác định
nghề nghiệp của cô ta, loại thức ăn mà cô ta có thể ăn, nơi cô ta ở và chồng hợp
lệ của cô ta. Một người chỉ có thể kết hôn với người cùng đẳng cấp, và những đứa
con sẽ thừa kế địa vị xã hội này.Bất cứ khi nào một nghề mới phát triển hoặc một nhóm người mới
xuất hiện, họ cần được thừa nhận như một đẳng cấp để có một chỗ đứng hợp pháp
trong xã hội Hindu. Nhóm nào thất bại trong việc giành được sự công nhận là một
đẳng cấp, theo nghĩa đen, sẽ bị ruồng bỏ – trong xã hội phân tầng này, họ thậm
chí còn không được đứng ở vị trí thấp nhất. Họ trở thành những tiện dân. Họ phải
sống tách biệt với những người khác và phải kiếm ăn lần hồi theo những cách nhục
nhã và ghê tởm, ví dụ như nhặt nhạnh khắp các bãi rác để tìm phế liệu. Thậm chí
những người thuộc đẳng cấp thấp nhất còn tránh tiếp xúc với họ, ăn cùng họ, chạm
vào họ và kết hôn với họ. Ở xã hội Ấn Độ hiện đại, các vấn đề về hôn nhân và việc
làm vẫn bị ảnh hưởng nặng nề của hệ thống đẳng cấp, mặc cho tất cả các cố gắng
của chính phủ dân chủ Ấn Độ để phá vỡ những sự phân biệt đối xử như thế, thuyết
phục những người Hindu rằng không có gì bị ô uế do sự pha trộn đẳng cấp.Sự thuần khiết ở châu Mỹ
Một cái vòng luẩn quẩn tương tự cũng duy trì trong sự phân biệt
chủng tộc ở châu Mỹ hiện đại. Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, những kẻ châu Âu đi
chinh phục đã nhập khẩu hàng triệu nô lệ châu Phi để làm việc trong các khu mỏ
và các khu đồn điển ở châu Mỹ. Họ thích nhập khẩu nô lệ từ châu Phi hơn là từ
châu Âu hoặc Đông Á do ba yếu tố về hoàn cảnh. Thứ nhất châu Phi gần hơn, do vậy
nếu đưa nồ lệ từ Senegal đến sẽ rẻ hơn là từ Việt Nam.Thứ hai, ở châu Phi, ngành kinh doanh buôn bán nô lệ đã tồn tại
và phát triển mạnh (xuất khẩu nô lệ chủ yếu sang Trung Đông) trong khi ở châu
Âu chế độ nô lệ là rất hiếm. Rõ ràng là việc mua nô lệ từ một thị trường sẵn có
sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc tạo ra một cái mới từ vạch xuất phát.Thứ ba, và quan trọng nhất, những đồn điển ở châu Mỹ như
Virginia, Haiti và Brazil đều bị dịch sốt rét và sốt vàng da có nguồn gốc từ
châu Phi hoành hoành. Người châu Phi qua nhiều thế hệ đã có được sự miễn dịch
di truyền một phần đối với những dịch bệnh này, trong khi người châu Âu hoàn
toàn không có khả năng phòng vệ và bị chết lũ lượt. Vì vậy, các chủ đồn điển
khôn ngoan đầu tư tiền của mình vào nô lệ châu Phi hơn là nô lệ châu Âu hoặc
nhân công có giao kèo. Ngược đời là, ưu thế về gen (khả năng miễn dịch) lại được
hiểu thành sự thấp kém hơn về mặt xã hội: chính xác là người châu Phi thích hợp
với khí hậu nhiệt đới hơn là người châu Âu, nhưng sau cùng họ lại là nô lệ của
những ông chủ châu Âu! Do những yếu tố về hoàn cảnh như vậy, một xã hội mới
đang phát triển ở châu Mỹ được phân chia thành tầng lớp cai trị châu Âu da trắng
và tầng lớp bị nô dịch hoá châu Phi da đen.Nhưng con người không thích nói rằng họ giữ nô lệ thuộc chủng
tộc hoặc nguồn gốc nào đó đơn giản chỉ vì những lợi ích kinh tế. Giống như những
kẻ xâm lược Arya đến xâm chiếm Ấn Độ, người châu Âu da trắng ở châu Mỹ muốn được
nhìn nhận không chỉ là những người thành công về kinh tế mà còn ngoan đạo, công
bằng và khách quan. Các câu chuyện huyền thoại về khoa học và tôn giáo được
dùng để biện minh cho sự phân chia này. Các chuyên gia về thần học tranh luận rằng
người châu Phi có tổ tiên là Ham, con trai của Noah, bị người cha chất gánh nặng
lên vai với lời nguyền rằng hậu duệ của cậu cũng sẽ là những nô lệ. Những nhà
sinh học cũng tranh luận rằng người da đen kém thông minh hơn và ý thức đạo đức
cũng kém phát triển hơn. Các bác sĩ cũng đồn rằng người da đen sống trong rác
rưởi và lan truyền bệnh tật – nói cách khác, họ là nguồn gốc của sự ô uế.Những câu chuyện huyền thoại này đã đánh đúng vào tình cảm của
văn hoá châu Mỹ và văn hoá phương lây nói chung. Chúng vẫn còn ảnh hưởng rất
lâu sau khi các điều kiện sinh ra chế độ nô lệ đã biến mất. Vào đầu thế kỷ 19,
đế quốc Anh đã cấm chế độ nô lệ và dừng việc buôn bán nô lệ qua Đại Tây Dương.
Trong những thế kỷ tiếp theo, chế độ nô lệ đã dần bị cấm trên toàn lục địa châu
Mỹ. Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên và duy nhất trong lịch sử, các xã hội nô lệ
tự nguyện bãi bỏ chế độ nô lệ. Nhưng kể cả khi nô lệ đã được trả tự do, những
câu chuyện huyền thoại về chủng tộc để biện minh cho chế độ nô lệ vẫn tồn tại
dai dẳng. Sự phân biệt chủng tộc được duy trì dựa trên pháp luật kỳ thị chủng tộc
và tập quán xã hội.Kết quả là một cái vòng luẩn quẩn của chu trình nguyên nhân
và kết quả tự củng cố. Ví dụ, hãy xem xét miền Nam Hoa Kỳ ngay sau Nội chiến.
Vào năm 1865, Tu chính án thứ 13 trong Hiến pháp Hoa Kỳ đã bãi bỏ chế độ nô lệ,
còn Tu chính án thứ 14 đã tuyên bố rằng quyền công dân và quyền được luật pháp
bảo vệ công bằng là không thể bị từ chối dựa trên cơ sở về chủng tộc. Tuy nhiên
hai thế kỷ của chế độ nô lệ đồng nghĩa với việc hầu hết các gia đình da đen đều
rất nghèo và kém giáo dục hơn so với những gia đình da trắng khá nhiều. Một người
da đen sinh ra ở Alabama năm 1865 không có nhiều cơ hội nhận được sự giáo dục tốt
và một công việc được trả lương cao so với người hàng xóm da trắng của mình.
Con cái của anh ta, sinh ra trong giai đoạn 1880-1890, bắt đầu cuộc đời với các
bất lợi tương tự – chúng cũng được sinh ra trong những gia đình nghèo và kém
giáo dục.Nhưng sự bất lợi về kinh tế không phải là toàn bộ câu chuyện.
Alabama còn là quê hương của nhiều người da trắng nghèo khổ, những người thiếu
những cơ hội sẵn có như những anh chị em khá giả cùng chủng tộc. Hơn nữa, Cách
mạng Công nghiệp và làn sóng di dân đã biến Hoa Kỳ thành một xã hội cực kỳ linh
động, nơi mà những kẻ khố rách có thể giàu lên nhanh chóng. Nếu như tiền là tất
cả vấn đề, thi sự phân chia rõ ràng giữa các chủng tộc sẽ sớm bị lu mờ, đặc biệt
là qua hôn nhân dị chủng.Nhưng điều này đã không xảy ra. Vào năm 1865, người da trắng
cũng như nhiều người da đen, trên thực tế thừa nhận rằng người da đen kém thông
minh hơn, bạo lực hơn, phóng đãng tình dục hơn, lười biếng hơn và ít quan tâm đến
vệ sinh cá nhân hơn so với người da trắng. Vì vậy, họ là những nhân tố của bạo
lực, trộm cắp, hiếp dâm và bệnh tật – nói cách khác, ố uế. Nếu như một người da
đen sinh ra ở Alabama vào năm 1895 có thể xoay xở một cách thần kỳ để được hưởng
một sự giáo dục tốt, và sau đó nộp đơn xin việc vào một công việc đáng trọng,
ví dụ như thu ngân ở ngân hàng, khả năng trúng tuyển của anh ta thấp hơn rất
nhiều so với các ứng viên da trắng có năng lực tương đương. Định kiến bấy giờ
là nếu được dán nhãn người da đen, thì về bản chất đồng nghĩa với việc anh ta
không đáng tin cậy, lười biếng và kém thông minh, tất cả hiệp lực để chống lại
anh ta.Bạn có thể nghĩ rằng con người dần sẽ hiểu rằng những vết nhơ
như vậy chỉ là huyền thoại, không có trong thực tế, và theo thời gian người da
đen sẽ chứng minh được bản thân họ cũng giỏi, cũng tôn trọng pháp luật và sạch
sẽ như người da trắng. Trong thực tế, xảy ra điều ngược lại – những định kiến
đã trở nên ngày càng bền vững theo thời gian. Vì mọi công việc tốt nhất đều bị
người da trắng nắm giữ, nên càng dễ tin là người da đen thực sự thua kém. “Hãy
nhìn xem”, một công dân da trắng bình thường nói, “người da đen đã tự do trong
rất nhiều thế hệ, tuy vậy, hầu như không có các giáo sư, luật sư, bác sĩ và kể
cả thu ngân ở ngân hàng là người da đen. Chẳng phải điều đó đã chứng minh rằng
người da đen đơn giản là kém thông minh hơn và làm việc thiếu chăm chỉ sao?” Kẹt
trong cái vòng luẩn quẩn này, người da đen không được thuê làm những công việc
văn phòng, trí thức, vì họ bị cho rằng không thông minh, và bằng chứng về sự thấp
kém của họ là việc có rất ít người da đen làm các công việc này.Cái vòng luẩn quẩn không dừng lại ở đó. Khi những vết nhơ chống
lại người da đen phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, chúng được chuyển sang một hệ
thống các luật lệ và các tiêu chuẩn “Jim Crow”, được dùng để bảo vệ cho trật tự
chủng tộc. Người da đen bị cấm đi bầu cử, bị cấm học tập trong những trường học
dành cho người da trắng, bị cấm mua bán trong những cửa hàng dành cho người da
trắng, bị cấm ăn ở trong nhà hàng dành cho người da trắng, bị cấm ngủ trong
khách sạn dành cho người da trắng. Sự biện hộ cho tất cả những điều trên là người
da đen rất hôi hám, lười biếng và xấu xa, vì vậy người da trắng phải được bảo vệ
tránh khỏi họ. Người da trắng không muốn ngủ trong cùng một khách sạn, hay ăn
cùng một nhà hàng với người da đen, vì sợ bị lây bệnh. Họ không muốn con cái học
cùng trường với những đứa trẻ da đen, vì sợ bị bạo lực và những ảnh hưởng xấu.
Họ không muốn người da đen đi bầu cử vì người da đen ngu dốt và vô đạo đức. Những
nỗi sợ hãi này đã được chứng minh bởi các nghiên cứu khoa học, đã “chứng tỏ” rằng
người da đen quả thực kém giáo dục, mắc nhiều bệnh tật hơn và tỉ lệ phạm tội
cao hơn rất nhiều (những nghiên cứu này đã phớt lờ thực tế rằng “những sự thật
này” là kết quả của việc phân biệt đối xử đối với người da đen).Vào giữa thế kỷ 20, tình trạng chia tách giữa các bang liên
minh trước đây có thể tệ hơn nhiều so với cuối thế kỷ 19. Clennon King, một
sinh viên da đen, nộp đơn vào Đại học Mississippi năm 1958, đã bị ép đưa đến một
nhà thương điên. Chánh án đã phán quyết rằng, một người da đen chắc chắn bị
điên khi nghĩ rằng mình có thể được chấp nhận vào Đại học Mississippi.Không có gì ghê tởm với dân miền Nam nước Mỹ (và cả nhiều người
miền Bắc) bằng vấn đề quan hệ tình dục và kết hôn giữa một đàn ông da đen và một
đàn bà da trắng. Tình dục giữa các chủng tộc trở thành một điều cấm kị kinh khủng
nhất, bất cứ sự vi phạm nào, hoặc nghi ngờ vi phạm, đều được cho là đáng để trừng
phạt ngay lập tức bằng hành hình kiểu lynch. [Kiểu hành hình phân biệt chủng tộc
dành cho người da đen, không cần xét xử.] Ku Klux Klan, một hội kín của những
người theo thuyết người da trắng ưu việt đã gây ra nhiều vụ giết người như vậy.
Họ có thể dạy cho giới Brahmin của Hindu một hoặc hai luật lệ về sự trong sạch.Cái vòng luẩn quẩn: hoàn cảnh lịch sử tình cờ đã bị hiểu
thành một hệ thống xã hội cứng nhắc.Theo thời gian, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ngày càng lan rộng
trên nhiều vũ đài văn hoá. Văn hoá thẩm mĩ của người Mỹ được xây dựng dựa trên
các tiêu chuẩn về cái đẹp của người da trắng. Những thuộc tính cơ thể của chủng
tộc da trắng – ví dụ, da sáng màu, tóc vàng và thẳng, mũi cao thẳng – được cho
là đẹp. Còn những đặc điểm của người da đen điển hình – da sẫm màu, tóc đen và
rậm rạp, mũi bẹt – bị cho là xấu xí. Những định kiến này đã nhiễm vào sự phân tầng
tưởng tượng ở mức độ sâu hơn trong nhận thức con người.Những cái vòng luẩn quẩn như vậy có thể đi xuyên qua các thế
kỷ, thậm chí là các thiên niên kỷ, duy trì sự phân tầng tưởng tượng, thứ xuất
phát từ một sự kiện lịch sử tình cờ. Theo thời gian, sự phân biệt đối xử không
công bằng ngày càng tệ hơn chứ không hề tốt lên. Tiền đẻ ra tiền, và nghèo khổ
lại dẫn đến nghèo khổ. Giáo dục dẫn đến giáo dục, và ngu dốt lại hoàn ngu dốt.
Những người từng là nạn nhân của lịch sử có thể sẽ trở thành nạn nhân lần nữa.
Và những người mà lịch sử ban cho đặc quyền có thể lại nhận được đặc quyền.Hầu hết các hệ thống phân tầng chính trị xã hội đều thiếu một
nền tảng logic hay sinh học cơ bản – chúng chẳng là gì ngoài việc duy trì các sự
kiện tình cờ, được hỗ trợ bởi những huyền thoại. Đây là một trong những lý do
chính đáng để nghiên cứu về lịch sử. Nếu như sự phân biệt giữa người da đen và
da trắng hoặc giới Brahmin và Shudra căn cứ vào những thực tế sinh học – nghĩa
là, nếu giới Brahmin thực sự có những bộ óc tốt hơn giới Shudra – thì chỉ cần
sinh học cũng có thể giúp hiểu được xã hội loài người. Nhưng vì sự phân biệt về
mặt sinh học giữa những nhóm Homo sapiens khác nhau là không đáng kể trong thực
tế, nên sinh học không thể giải thích được những sự phức tạp của xã hội Ấn Độ
hoặc những động cơ kỳ thị chủng tộc của người Mỹ. Chúng ta chỉ có thể hiểu được
những sự kiện trên bằng cách nghiên cứu các sự kiện, sự việc và mối quan hệ quyền
lực đã biến những điều bịa đặt của trí tưởng tượng thành những cấu trúc xã hội
tàn nhẫn và rất thực tế.Anh ta và chị ta
Những xã hội khác nhau sẽ đi theo những kiểu phân tầng tưởng
tượng khác nhau. Chủng tộc rất quan trọng với người Mỹ hiện đại, nhưng lại
tương đối vô nghĩa với người Hồi giáo trung cổ. Đẳng cấp là một vấn đề sống chết
ở Ấn Độ trung cổ, trong khi ở châu Âu hiện đại nó thực tế không tồn tại. Tuy
nhiên, một sự phân tầng đã trở nên tối quan trọng trong tất cả xã hội loài người
từng biết đến: hệ thống phân tầng về giới tính. Con người ở tất cả mọi nơi tự
phân chia bản thân họ thành đàn ông và đàn bà. Và ở mọi nơi, hầu hết đàn ông đều
được đối xử tốt hơn, ít nhất là từ sau Cách mạng Nông nghiệp.Một số văn bản tiếng Hán sớm nhất được khắc trên những mảnh
xương, gọi là giáp cốt văn, có niên đại khoảng năm 1200 TCN, được dùng để tiên
đoán về tương lai. Một mảnh xương có khắc câu hỏi: “Việc hạ sinh của phu nhân
Hao sẽ may mắn chứ?” Và câu trả lời được khắc là: “Nếu đứa trẻ được sinh ra vào
ngày Đinh thì sẽ may mắn, nếu vào ngày Canh thì sẽ rất có triển vọng”. Tuy
nhiên, phu nhân Hao lại sinh con vào ngày Giáp Dần. Và văn bản đã kết thúc với
một lời nhận xét buồn rầu: “Ba tuần trăng và một ngày sau, đứa trẻ được sinh ra
vào ngày Giáp Dần. Thật không may, đó là một bé gái”. Và khoảng hơn 3.000 năm
sau, khi Trung Quốc ban hành chính sách “một con”, nhiều gia đình tiếp tục coi
việc sinh con gái là một điều không may mắn. Cha mẹ cũng thỉnh thoảng bỏ hoặc
giết những bé gái mới sinh để có thể có cơ hội sinh con trai.Ở nhiều xã hội, phụ nữ đơn giản chỉ là vật sở hữu của đàn
ông, thường là cha, chồng và con trai họ. Hiếp dâm, trong nhiều hệ thống pháp
luật, bị coi là xâm phạm tài sản – nói cách khác, nạn nhân không phải là người
phụ nữ bị hiếp dâm mà là người đàn ông sở hữu cô ta. Trong trường hợp này, biện
pháp pháp lý là chuyển quyền sở hữu – kẻ hiếp dâm được yêu cầu phải trả một khoản
tiền bằng với giá mua một cô dâu cho cha hoặc anh trai của người phụ nữ, và cô
ta trở thành tài sản của kẻ hiếp dâm. Kinh Thánh tuyên bố rằng: “Nếu một người
đàn ông gặp một trinh nữ chưa hề đính hôn, bắt cô ta và ngủ với cô ta, và họ bị
bắt quả tang, thì người đàn ông sẽ phải đưa cho cha của cô gái 30 shekel bạc,
và cô ta sẽ trở thành vợ của người này” (Đệ nhị Luật 22:28-9). Người Do Thái cổ
đại đã xem đây như một sự dàn xếp hợp lý.Hiếp dâm một phụ nữ không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người
đàn ông nào hoàn toàn không bị xem là phạm tội, giống như nhặt một đồng bạc bị
rơi trên phố đông người thì không bị coi là ăn cắp. Và nếu người chồng hãm hiếp
chính người vợ của mình, anh ta cũng không bị coi là phạm tội. Trong thực tế,
quan niệm người chồng có thể hiếp dâm vợ mình là một cách nói đầy mâu thuẫn.
Làm chồng nghĩa là hoàn toàn kiểm soát đời sống tình dục của vợ mình. Nói rằng
chồng “hiếp dâm” vợ là một điều phi lý giống như nói người đàn ông ăn cắp chiếc
ví của chính anh ta. Những suy nghĩ như vậy đã không chỉ tồn tại ở Trung Đông cổ
đại. Vào năm 2006, vẫn còn 53 quốc gia mà người chồng không bị khởi tố vi đã hiếp
dâm vợ mình. Thậm chí ở Đức, luật về hiếp dâm chỉ được sửa đổi vào năm 1997 để
tạo ra một phạm trù pháp luật về hiếp dâm trong hôn nhân.Liệu sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà có là một sản phẩm của
trí tưởng tượng giống như hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ và hệ thống phân biệt chủng
tộc ở Mỹ, hoặc liệu nó có phải là một sự phân biệt tự nhiên với nguồn gốc sinh
học sâu xa? Và nêu nó quả là một sự phân biệt tự nhiên, thì liệu có sự lý giải
nào về mặt sinh học cho sự thiên vị dành cho đàn ông hơn đàn bà?Một số bất bình đẳng văn hoá, pháp luật và chính trị giữa đàn
ông và đàn bà phản ánh sự khác nhau sinh học hiển nhiên giữa các giới. Mang
thai đã luôn là công việc của người phụ nữ, vì đàn ông không có tử cung. Song,
xung quanh phần lõi phổ biến khắc nghiệt này, mỗi xã hội đều tích tụ hết lớp
này tới lớp khác các quan điểm và quy tắc văn hoá, có rất ít liên quan về mặt
sinh học. Các xã hội liên kết một loạt các thuộc tính với nam tính và nữ tính,
hầu hết chúng đều thiếu một nền tảng sinh học vững chắc.Ví dụ, ở Athens dân chủ vào thế kỷ 5 TCN, một cá nhân sở hữu
tử cung không có tư cách pháp nhân độc lập, và bị cấm tham gia các cuộc họp hội
đồng phổ thông hoặc làm quan tòa. Với một số ngoại lệ, những cá nhân như vậy
không thể được hưởng lợi ích của sự giáo dục tốt, cũng như không được kinh
doanh hoặc thảo luận triết học. Ở Athens, không ai trong số những nhà lãnh đạo
chính trị, triết gia vĩ đại, nhà hùng biện, nghệ sĩ hoặc nhà buôn, là phụ nữ.
Liệu việc có tử cung đã làm cho một người không phù hợp về mặt sinh học với những
nghề nghiệp trên? Người Athens cổ đại đã nghĩ như vậy. Người Athens hiện đại
thì không đồng tình. Ở Athens ngày nay, phụ nữ được bầu cử, được lựa chọn vào
các cơ quan nhà nước, được diễn thuyết, được thiết kế mọi thứ, từ đồ trang sức,
đến nhà cao tầng, phần mềm, và được học đại học. Tử cung của họ không ngăn họ
có thể làm được những việc này và cũng thành công như đàn ông. Đúng là họ vẫn
là chỉ là thiểu sổ trong lĩnh vực chính trị và kinh doanh – chỉ có khoảng 12%
thành viên trong Nghị viện Hy Lạp là phụ nữ. Nhưng không có một rào cản pháp lý
nào đối với sự tham gia của họ vào chính trị, và hầu hết người Hy Lạp hiện đại
đều nghĩ rằng một phụ nữ làm việc trong bộ máy nhà nước là điều hoàn toàn bình
thường.Nhiều người Hy Lạp hiện đại còn nghĩ rằng một phần không thể
thiếu của người đàn ông là chỉ bị đàn bà hấp dẫn tình dục và chỉ có quan hệ
tình dục với giới tính đối lập. Họ không thấy rằng, do những thành kiến về văn
hoá hơn là những thực tế sinh học – các mối quan hệ giữa hai người thuộc hai giới
khác nhau là tự nhiên và giữa hai người đồng giới là không tự nhiên. Mặc dù vậy,
trong thực tế, Mẹ Thiên nhiên không quan tâm nếu những người đàn ông cảm thấy hấp
dẫn tình dục với nhau. Chỉ có những người mẹ của loài người, đắm chìm trong những
nền văn hoá đặc biệt, sẽ gây chuyện cãi lộn nếu con trai mình phải lòng cậu
hàng xóm. Những cơn thịnh nộ của người mẹ không mang tính cưỡng ép sinh học. Một
số đáng kể các nền văn hoá của con người đều nhìn nhận các mối quan hệ đồng
tính không chỉ hợp pháp mà thậm chí còn mang tính xây dựng xã hội, người Hy Lạp
cổ đại là một ví dụ rất nổi tiếng. Trường ca Iliad không nói gì về việc Thetis
có bất cứ phản đối nào về mối quan hệ giữa Achilles con trai bà với Patroclus.
Nữ hoàng Olympias của Macedon là một trong những phụ nữ nóng nảy và quả quyết
nhất của thế giới cổ đại, có chồng là Vua Philip bị ám sát. Song, bà ta không
chút tức giận khi con trai mình, Alexander Đại đế, đưa người yêu là Hephaestion
về nhà ăn tối.Làm thế nào để chúng ta phân biệt được những gì do sinh học
xác định với những gì mà con người cố gắng bào chữa qua những câu chuyện huyền
thoại sinh học? Một kinh nghiệm hữu ích là “Sinh học cho phép, Văn hoá cấm
đoán”. Sinh học sẵn sàng dung thứ một phạm vi rất rộng các khả năng có thể xảy
ra. Chính văn hoá mới cưỡng ép con người nhận thức một số khả năng trong khi lại
cấm đoán những khả năng khác. Sinh học cho phép phụ nữ có con – một số nền văn
hoá cưỡng ép phụ nữ nhận thức được khả năng này. Sinh học cho phép đàn ông tận
hưởng tình dục với nam giới khác – nhưng một số nền văn hoá lại cấm họ nhận thức
được khả năng này.Văn hoá thường tranh luận rằng, nó chỉ cấm những cái không tự
nhiên. Nhưng từ quan điểm sinh học, không có gì là không tự nhiên. Bất cứ cái
gì có thể xảy ra, theo định nghĩa đều là tự nhiên. Một hành xử không tự nhiên
thực sự, chống lại các quy luật của tự nhiên, thì đơn giản là không thể tồn tại,
vì vậy nó không cần bất cứ sự cấm đoán nào. Không một nền văn hoá nào từng cấm
người đàn ông quang hợp, người phụ nữ chạy nhanh hơn tốc độ của ánh sáng hoặc
những electron tích điện âm hút lẫn nhau.Sự thật là những định nghĩa của chúng ta về “tự nhiên” và
“không tự nhiên” không dựa trên khía cạnh sinh học, mà từ thần học. Ý nghĩa của
“tự nhiên” theo thần học là “tuân theo những ý muốn của Chúa người đã tạo ra tự
nhiên”. Những nhà thần học cho rằng Chúa đã tạo ra cơ thể của con người, với ý
muốn là mỗi chi và mỗi cơ quan phục vụ cho một mục đích riêng biệt. Nếu chúng
ta sử dụng các chi và các cơ quan theo ý muốn của Chúa, đây là một hành động tự
nhiên. Nếu chúng ta sử dụng khác với mục đích của Chúa, thì điều này là không tự
nhiên. Nhưng tiến hoá không có mục đích. Những cơ quan cơ thể không tiến hoá vì
một mục đích nào cả và cách sử dụng chúng được thay đổi liên tục. Không một cơ
quan đơn lẻ nào trong cơ thể con người chỉ thực hiện công việc mà nguyên mẫu của
nó đã làm khi lần đầu tiên xuất hiện hàng trăm triệu năm về trước. Các cơ quan
tiến hoá để thực hiện một chức năng riêng biệt, nhưng một khi đã tồn tại, chúng
có thể được dùng cho những cách khác nữa. Ví dụ như cái miệng, xuất hiện bởi vì
các sinh vật đa bào đầu tiên cần một cách nào đó để lấy chất dinh dưỡng vào
trong cơ thể mình. Cái miệng vẫn được chúng ta sử dụng cho mục đích này, nhưng
chúng ta còn dùng chúng để hôn, để nói, và nếu chúng ta là Rambo, miệng còn được
dùng để kéo chốt an toàn của lựu đạn. Liệu những cách dùng này có không tự
nhiên, đơn giản vì những tổ tiên giống sâu của chúng ta 600 triệu năm về trước
không làm những việc này bằng miệng của họ?Tương tự, những đôi cánh không đột nhiên xuất hiện trong tất
cả hào quang khí động học của chúng. Chúng được phát triển từ những cơ quan phục
vụ cho mục đích khác. Theo một học thuyết, cánh của côn trùng tiến hoá hàng
trăm triệu năm trước đây từ những phần lồi ra trên thân những côn trùng không
biết bay. Con côn trùng có bướu sẽ có một diện tích bề mặt rộng hơn so với những
con không có bướu, và nó làm cho chúng có thể hấp thụ ánh sáng Mặt trời nhiều
hơn và do đó sẽ ấm áp hơn. Trong một quá trình tiến hoá chậm, những cái lò sưởi
Mặt trời này sẽ phát triển rộng hơn. Những cấu trúc tương tự rất tốt cho sự hấp
thụ tối đa ánh sáng Mặt trời – có diện tích bề mặt lớn và khối lượng nhỏ – cũng
vậy, bằng sự trùng hợp ngẫu nhiên, đã cho loài côn trùng một chút lực nâng khi
chúng nhảy xa và nhảy lên. Loài côn trùng với những chỗ nhô ra lớn hơn thì có
thể nhảy xa hơn và nhảy cao hơn. Một số loài côn trùng bắt đầu sử dụng những thứ
này để lướt đi, và từ đó chỉ cần thêm một bước nhỏ là đôi cánh để có thể thực sự
đẩy côn trùng lướt đi trong không khí. Lần tới một con muỗi vo ve bên đôi tai của
bạn, hãy buộc tội nó có hành vi không tự nhiên. Nếu con muỗi được đối xử tốt và
bằng lòng với những gì mà Chúa ban cho nó, nó sẽ chỉ dùng đôi cánh của mình như
những tấm thu năng lượng Mặt trời.Loại đa nhiệm vụ tương tự được áp dụng cho các cơ quan và
hành vi tình dục của chúng ta. Tình dục ban đầu tiến hoá dành cho sinh sản, những
nghi thức tán tỉnh là cách để đánh giá sự phù hợp của người bạn đời tiềm năng.
Nhưng nhiều loài động vật bây giờ đã đem cả hai để sử dụng vào vô số các mục
đích xã hội, những mục đích có rất ít liên hệ với việc tạo ra một số bản sao của
chúng. Loài tinh tinh là một ví dụ, sử dụng tình dục để thắt chặt mối liên kết
chính trị, tạo ra tình cảm thân mật và xoa dịu những căng thẳng. Điều đó có tự
nhiên không?Tình dục và giới tính
Do đó, việc tranh luận rằng chức năng tự nhiên của phụ nữ là
sinh con, hoặc tình dục đồng tính là không tự nhiên chẳng có ý nghĩa nhiều. Hầu
hết các bộ luật, các quy tắc, các quyền và nghĩa vụ để xác định nam tính và nữ
tính phản ánh trí tưởng tượng của con người hơn là một thực tế sinh học.Về mặt sinh học, con người chia ra thành giống đực và giống
cái. Một giống đực Homo sapiens là một người có một nhiễm sắc thể X và một nhiễm
sắc thể Y; một giống cái là người có hai nhiễm sắc thể XX. Nhưng cái tên “đàn
ông” và “đàn bà” là các phạm trù xã hội, không phải sinh học. Trong khi đại đa
số những trường hợp của hầu hết xã hội loài người, đàn ông là giống đực và đàn
bà là giống cái, thì các thuật ngữ xã hội mang theo nhiều ngụ ý mà chỉ có một mối
quan hệ mong manh với các thuật ngữ sinh học, nếu có. Một người đàn ông không
chỉ là một Sapiens với những tính chất sinh học đặc biệt như là cặp nhiễm sắc
thể XY, tinh hoàn và rất nhiều testosterone. Mà anh ta còn phù hợp với một vị
trí riêng trong trật tự tưởng tượng của xã hội anh ta đang sống. Những câu chuyện
huyền thoại của nền văn hoá anh ta đã chỉ định cho anh ta những vai trò nam
tính cụ thể (tham gia chính trị), các quyền (quyền bầu cử) và các nghĩa vụ (phục
vụ trong quân đội). Tương tự, một người đàn bà không chỉ là một Homo sapiens với
hai nhiễm sắc thể XX, một tử cung và nhiều oestrogen. Đúng hơn, chị ta còn là
thành viên nữ trong một trật tự tưởng tượng của con người. Những huyền thoại
trong xã hội mà chị ta đang sống đã ấn định cho chị ta những vai trò nữ tính cụ
thể (nuôi dạy con cái), các quyền (được bảo vệ khỏi bạo lực) và các nghĩa vụ
(tuân lệnh chồng mình). Bởi vì những huyền thoại, hơn là khía cạnh sinh học, đã
xác định vai trò, quyền và nghĩa vụ của người đàn ông và người đàn bà, nên ý
nghĩa của cụm từ “nam tính” và “nữ tính” đã thay đổi từ xã hội này sang xã hội
khác.
|
Một người giống cái = một phạm trù sinh học |
Một người phụ nữ = một phạm trù văn hoá |
||||
|
Athens cổ đại |
Athens hiện đại |
Athens cổ đại |
Athens hiện đại |
||
|
Cặp nhiễm sắc thể XX |
Cặp nhiễm sắc thể XX |
Không thể bầu cử |
Có thể bầu cử |
||
|
Tử cung |
Tử cung |
Không thể là một thẩm phán |
Có thể là một thẩm phán |
||
|
Buồng trứng |
Buồng trứng |
Không thể làm việc trong cơ quan nhà nước |
Có thể làm việc trong cơ quan nhà nước |
||
|
Có ít testosterone |
Có ít testosterone |
Không thể tự quyết định sẽ cưới ai |
Có thể tự quyết định sẽ cưới ai |
||
|
Có nhiều oestrogen |
Có nhiều oestrogen |
Thường mù chữ |
Thường biết chữ |
||
|
Có thể sản xuất sữa |
Có thể sản xuất sữa |
Bị cha hoặc chồng sở hữu về pháp lý |
Độc lập về pháp lý |
||
|
Giống hệt nhau |
Rất khác nhau |
||||
.jpg)
















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét