Súng, vi trùng và thép 4
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 16 -
Tại sao Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc
Nhập cư, chính sách ưu đãi thành phần thiểu số, đa ngôn ngữ,
đa dạng sắc tộc – bang California của tôi đã từng nằm trong số những bang đi
tiên phong trong các chính sách gây tranh cãi này, song hiện nay lại đang đi
tiên phong trong việc phản đối kịch liệt các chính sách đó. Chỉ cần liếc vào
các lớp học trường công nơi các con tôi đang học là có thể thấy những cuộc
tranh cãi trừu tượng kia được cụ thể hóa ra sao qua gương mặt các học sinh. Các
trẻ em này nói trên 80 thứ tiếng khi ở nhà, trong khi người da trắng nói tiếng
Anh chỉ là thiểu số. Trong số bạn cùng lớp của các con tôi, bất cứ đứa nào cũng
có ít nhất cha hoặc mẹ hoặc một trong các ông bà nội ngoại sinh ra ở ngoài nước
Mỹ; ba trong số bốn ông bà của các con tôi cũng vậy. Nhưng sự nhập cư đó đơn giản
là đang phục hồi lại sự đa dạng mà châu Mỹ từng có suốt hàng ngàn năm. Trước
khi người châu Âu di cư đến, vùng nội địa Hoa Kỳ ngày nay đã là nơi sinh sống của
hàng trăm bộ lạc người châu Mỹ bản địa nói hàng trăm thứ tiếng, và chỉ trong mấy
trăm năm trở lại đây thì tất cả mới được quy lại dưới sự kiểm soát của một
chính phủ duy nhất.
Về các phương diện đó thì Hoa Kỳ là một đất nước hết sức
“bình thường”. Trong số sáu nước đông dân nhất thế giới thì đã có đến năm nước
là những cái “nồi lẩu” và chỉ gần đây mới đạt tới sự thống nhất về chính trị,
các nước này vẫn đang bao gồm hàng trăm ngôn ngữ và nhóm dân tộc. Chẳng hạn, nước
Nga, vốn ban đầu chỉ là một nhà nước Xlavơ nhỏ bé tập trung ở Mátxcơva, mãi đến
năm 1582 mới bắt đầu bành trướng ra ngoài dãy Ural. Từ đó cho tới thế kỷ XIX,
nước Nga tiếp tục nuốt chửng hàng tá dân tộc phi Xlavơ khác, nhiều dân tộc
trong số đó đến nay vẫn giữ được ngôn ngữ và bản sắc văn hóa của mình. Cũng như
lịch sử nước Mỹ là lịch sử về việc một phần Bắc Mỹ bành trướng thành nước Mỹ, lịch
sử nước Nga là lịch sử về việc nước Nga trở thành Nga. Ấn Độ, Indonesia và
Brazil cũng là những thực thể chính trị vừa được thành tạo gần đây (hoặc trong
trường hợp Ấn Độ là tái tạo), nơi đến ngày nay vẫn có lần lượt 850, 670 và 210
ngôn ngữ.
Trường hợp ngoại lệ lớn đối với quy luật “nồi lẩu” này là nước
đông dân nhất thế giới – Trung Quốc. Ngày nay, ít nhất là đối với người bình
thường, Trung Quốc là một thể nguyên khối về chính trị, văn hóa và ngôn ngữ.
Trung Quốc được thống nhất về chính trị ngay từ năm 221 TCN và vẫn thống nhất
như vậy trong hầu hết các thế kỷ từ đó đến giờ. Ngay từ buổi đầu của văn tự ở
Trung Quốc, đất nước này luôn luôn chỉ có một hệ chữ viết duy nhất, trong khi
châu Âu ngày nay sử dụng hàng tá bảng chữ cái được điều chỉnh. Trong số 1,2 tỷ
người Trung Quốc, hơn 800 triệu người nói tiếng Quan thoại, thứ ngôn ngữ có
đông người dùng như tiếng mẹ đẻ nhất trên thế giới. Khoảng 300 triệu người khác
nói bảy ngôn ngữ khác khá giống tiếng Quan thoại và cũng khá giống nhau như tiếng
Tây Ban Nha giống tiếng Ý vậy. Như vậy, không những Trung Quốc chẳng phải là một
nồi lẩu, mà thậm chí sẽ là ngớ ngẩn nếu đi hỏi Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc
như thế nào. Trung Hoa vốn dĩ đã là Trung Quốc hầu như ngay từ đầu lịch sử
thành văn của nó.
Chúng ta đã quá quen coi sự thống nhất bề ngoài này của Trung
Quốc là chuyện tự nhiên đến nỗi quên mất rằng [thực ra] điều đó lạ lùng đến nhường
nào. Một nguyên nhân khiến chúng ta lẽ ra không nên lầm tưởng về sự thống nhất ấy
là yếu tố di truyền. Tuy rằng lối phân loại chủng tộc thô thiển thường gộp
chung toàn bộ người Trung Quốc vào cái gọi là chủng Mongoloid, song cái tiêu
chí gọi là Mongoloid đó ẩn chứa nhiều sự khác biệt hơn cả những sự khác biệt giữa
người Thụy Điển, người Ý và người Ailen trong phạm vi châu Âu. Đặc biệt, người
Bắc Trung Quốc và người Nam Trung Quốc khác nhau khá rõ về di truyền cũng như
ngoại hình: trong khi người Bắc Trung Quốc gần người Tây Tạng và người Nepal
hơn cả thì người Nam Trung Quốc lại gần người Việt Nam và người Philippines.
Tôi có những người bạn quê ở cả Bắc Trung Quốc lẫn Nam Trung Quốc, thường thì
chỉ cần liếc qua ngoại hình là có thể phân biệt ai với ai rồi: người Bắc Trung
Quốc thường cao hơn, nặng cân hơn, da sáng màu hơn, mũi nhọn hơn, mắt thì nhỏ
hơn và có vẻ “xếch” hơn (do cái gọi là “nếp bán nguyệt” của họ).
Bắc Trung Quốc và Nam Trung Quốc cũng khác nhau về môi trường
và khí hậu. Miền Bắc khô, lạnh hơn, miền Nam ẩm, nóng hơn. Những khác biệt di
truyền nảy sinh trong các môi trường khác nhau đó gợi ý rằng đã từng có một sự
cách ly vừa phải giữa các dân tộc ở Bắc Trung Quốc với các dân tộc ở Nam Trung
Quốc. Vậy làm thế nào rốt cuộc các dân tộc đó vẫn có cùng những ngôn ngữ và văn
hóa như nhau hoặc rất giống nhau?
Vẻ ngoài gần như thống nhất về ngôn ngữ của Trung Quốc cũng
còn khó hiểu nếu ta tính đến sự phi thống nhất về ngôn ngữ ở các khu vực khác
có người ở từ lâu đời trên thế giới. Chẳng hạn, ở chương trước ta đã thấy rằng
New Guinea, với diện tích chưa bằng một phần mười diện tích Trung Quốc và chỉ với
40.000 năm lịch sử loài người, lại có đến hàng ngàn ngôn ngữ, trong đó có những
nhóm ngôn ngữ mà sự khác biệt giữa chúng còn lớn hơn gấp bội so với những khác
biệt giữa tám ngôn ngữ chính của Trung Quốc. Tây Âu đã tiến hóa hoặc tiếp thu
được khoảng 40 ngôn ngữ chỉ trong vòng 6.000-8.000 năm kể từ khi các ngôn ngữ Ấn-Âu
xâm nhập khu vực này, trong đó có những ngôn ngữ khác xa nhau như tiếng Anh, tiếng
Phần Lan và tiếng Nga. Thế nhưng di tích hóa thạch cho thấy con người đã hiện
diện ở Trung Quốc từ trên nửa triệu năm trước. Thế thì chuyện gì đã xảy ra với
hàng ngàn ngôn ngữ khác xa nhau mà ắt hẳn đã phát sinh ở Trung Quốc trong suốt
quãng thời gian dài đến vậy?
Những nghịch lý đó gợi ý rằng kể cả Trung Quốc cũng từng có
thời rất đa dạng [về dân tộc và ngôn ngữ] như bất cứ nước đông dân nào khác hiện
nay. Trung Quốc chỉ khác ở chỗ đã được thống nhất từ sớm hơn nhiều. Sự “Trung
Quốc hóa” của đất nước này nằm ở chỗ nó đã đồng nhất hóa cả một khu vực rộng lớn,
biến nó thành một “nồi lẩu” tụ cư ngay từ thời cổ đại, đã giành lấy vùng Đông
Nam Á nhiệt đới từ các cư dân bản địa, và đã gây ảnh hưởng to lớn đến Nhật Bản,
Triều Tiên và có thể cả Ấn Độ nữa. Vì vậy, lịch sử Trung Quốc cho ta chìa khóa
để thấu hiểu lịch sử Đông Á. Chương này sẽ thuật lại Trung Hoa đã trở thành
Trung Quốc như thế nào.
Điểm xuất phát thuận tiện cho chúng ta là một bản đồ chi tiết
về các ngôn ngữ của Trung Quốc (Hình 16.1). Chỉ cần liếc vào bản đồ này, tất cả
những ai trong chúng ta xưa nay vẫn cho rằng Trung Quốc là một khối đồng nhất đều
sẽ sáng mắt ra. Hóa ra rằng bên cạnh tám ngôn ngữ “lớn” của Trung Quốc – tiếng
Quan thoại và bảy ngôn ngữ có họ hàng gần (thường được gọi chung là “tiếng
Trung Hoa” cho đơn giản), mỗi ngôn ngữ có từ 11 triệu đến 800 triệu người nói –
Trung Quốc còn có trên 130 ngôn ngữ “nhỏ”, nhiều ngôn ngữ trong số đó chỉ có
dăm ngàn người nói. Tất cả các ngôn ngữ đó, dù “lớn” hay “nhỏ”, được chia thành
bốn ngữ hệ, các ngữ hệ này khác nhau rất nhiều ở mức độ phân bố dày đặc hay
thưa thớt.
Ở một cực là tiếng Quan thoại và các ngôn ngữ họ hàng của nó,
các thứ tiếng này là phân hệ Trung Hoa của ngữ hệ Hán-Tạng vốn được phân bố đều
từ Bắc xuống Nam Trung Quốc. Ta có thể đi bộ ngang qua Trung Quốc, từ Mãn Châu ở
phía bắc xuống Vịnh Bắc bộ ở phía nam mà suốt quãng đường đó chỉ đi qua toàn những
vùng nơi cư dân nói tiếng Quan thoại và các thứ tiếng họ hàng của nó như tiếng
mẹ đẻ. Ba ngữ hệ khác thì phân bố tản mác, những người nói các ngôn ngữ này tập
trung trong những “ốc đảo” mà bao quanh là cả một “biển” những người nói tiếng
Trung Hoa và các ngữ hệ khác.
Phân bố đặc biệt manh mún là ngữ hệ Mèo-Dao (còn gọi là
Hmông-Miến), gồm 6 triệu người nói chia thành khoảng năm ngôn ngữ mang những
cái tên đầy màu sắc là Mèo Đỏ, Mèo Trắng (cũng gọi là Mèo Sọc), Mèo Đen, Mèo
Xanh và Dao. Người nói tiếng Mèo-Dao sống trong hàng tá vùng nhỏ bị bao quanh tứ
phía bởi những người nói ngôn ngữ thuộc ngữ hệ khác và phân tán trên một diện
tích rộng tới nửa triệu dặm vuông, kéo dài từ Nam Trung Quốc tới tận Thái Lan.
Hơn 100.000 người nói tiếng Mèo xuất thân từ Việt Nam đã mang theo ngữ hệ của
mình đến nước Mỹ nơi người ta thường biết đến họ dưới một cái tên khác là người
Hmông.
Một nhóm ngôn ngữ phân bố manh mún khác là ngữ hệ Nam Đảo
(Austronesian) mà trong đó các ngôn ngữ được nhiều người sử dụng nhất là tiếng
Việt và tiếng Campuchia (Khmer). 60 triệu người nói các thứ tiếng Nam Đảo phân
bố rải rác từ Việt Nam ở phía đông đến bán đảo Mã Lai ở phía nam và miền bắc Ấn
Độ ở phía tây. Ngữ hệ thứ tư và cuối cùng của Trung Quốc là ngữ hệ Thái-Kadai
(trong đó có tiếng Thái và tiếng Lào) gồm 50 triệu người nói, phân bố từ Nam
Trung Quốc về phía nam đến miền nam Thái Lan và về phía tây đến Myanmar (Hình
16.1).
Lẽ tự nhiên, những người nói tiếng Mèo-Dao ngày nay sống phân
tán như vậy không phải vì ngày xưa họ đã đi máy bay trực thăng rồi lần lượt kẻ
hạ cánh chỗ này người hạ cánh chỗ kia trên khắp cả châu Á. Thay vì vậy, ta có
thể phỏng đoán rằng đã có thời họ sống tập trung hơn, chỉ về sau mới trở nên
phân tán khi những người nói các ngữ hệ khác bành trướng đến hoặc lôi cuốn họ từ
bỏ tiếng nói của mình. Trên thực tế, hầu hết quá trình phân mảnh ngôn ngữ đó đã
diễn ra trong vòng 1.500 năm trở lại đây và được ghi nhận khá kỹ trong lịch sử.
Tổ tiên những người nói tiếng Thái, Lào và Miến Điện ngày nay đều đã từ miền
nam Trung Quốc và các khu vực lân cận di cư xuống vị trí hiện tại trong quá
trình lịch sử, liên tục nuốt chửng những kẻ vốn là hậu duệ của những đợt di dân
từ trước và đang định cư ở các vùng này. Những người nói các ngôn ngữ Trung Quốc
đặc biệt mạnh mẽ trong việc chiếm chỗ các nhóm dân tộc khác – những kẻ mà họ
khinh miệt coi là man di mọi rợ – và [buộc] họ phải chuyển sang dùng các ngôn
ngữ Trung Quốc. Lịch sử thành văn của triều Chu Trung Quốc từ năm 1100 đến năm
221 TCN mô tả rõ việc các nhà nước nói tiếng Trung Hoa đã chinh phục và hấp thu
hầu hết các quần thể dân cư không nói tiếng Trung Hoa ở Trung Quốc.
Hình 16.1: Bốn ngữ hệ của Trung Quốc và Đông Nam Á.Hình 16.2: Các biên giới chính trị ngày nay ở Đông Á và Đông
Nam Á, dùng để diễn giải sự phân bố các ngữ hệ đã trình bày trong Hình 16.1.
Ta có thể vận dụng một số kiểu lập luận để xây dựng lại tấm bản
đồ ngôn ngữ của vùng Đông Á vào mấy ngàn năm trước. Trước hết, ta có thể đảo
ngược những quá trình bành trướng ngôn ngữ mà người ta đã biết trong mấy ngàn
năm trở lại đây. Thứ hai, ta có thể lập luận rằng: những khu vực mà ngày nay chỉ
có một ngôn ngữ duy nhất, hoặc một khu vực rộng lớn và liên tục nơi chỉ có một
nhóm ngôn ngữ có họ hàng với nhau chiếm lĩnh, là bằng chứng cho thấy sự bành
trướng về ngôn ngữ của nhóm đó vào một thời điểm chỉ mới gần đây, nghĩa là chưa
có đủ thời gian lịch sử để ngôn ngữ đó phân hóa thành nhiều ngôn ngữ. Cuối
cùng, ta có thể lập luận ngược lại, rằng khu vực nào mà ngày nay có sự đa dạng
cao về ngôn ngữ song tất cả đều nằm trong một ngữ hệ nhất định, thì khu vực đó
nằm gần hơn với trung tâm phân bố ban đầu của ngữ hệ đó.
Dùng ba kiểu lập luận đó để quay ngược đồng hồ ngôn ngữ học,
ta [có thể] kết luận rằng thoạt kỳ thủy Bắc Trung Quốc là nơi sinh sống của những
người nói tiếng Trung Quốc và các ngôn ngữ Hán-Tạng khác; rằng các vùng ở Nam
Trung Quốc từng là nơi cư trú của những người nói các ngôn ngữ Mèo-Dao, Nam Á
(Austroasiatic) và Thái-Kadai; và rằng những người nói ngôn ngữ Hán-Tạng đã chiếm
chỗ những người nói các ngữ hệ khác đó trên khắp Nam Trung Quốc. Một biến động
còn mạnh mẽ hơn thế nữa ắt hẳn đã quét qua vùng Đông Nam Á nhiệt đới nằm về
phía nam Trung Quốc – ở Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, Việt Nam và bán đảo
Mã Lai. Dù [cư dân gốc của các vùng này] trước đó nói ngôn ngữ gì đi nữa, các
ngôn ngữ đó ắt đã hoàn toàn biến mất, bởi tất cả các ngôn ngữ được sử dụng ở
các nước đó ngày nay dường như đều là những ngôn ngữ được du nhập về sau, chủ yếu
là từ Nam Trung Quốc hoặc – trong một ít trường hợp – từ Indonesia. Bởi các
ngôn ngữ Mèo-Dao chật vật lắm mới tồn tại đến ngày nay, chúng ta có thể đoán rằng
Nam Trung Quốc từng là nơi tồn tại của những ngữ hệ khác nữa ngoài các ngữ hệ
Mèo-Dao, Nam Á và Thái-Kadai, song không một ngôn ngữ nào thuộc các ngữ hệ khác
đó còn sống sót đến ngày nay. Như ta sẽ thấy, ngữ hệ Nam Đảo (mọi ngôn ngữ
Philippines và ngôn ngữ Polynesia đều thuộc nhóm này) có thể là một trong các
ngữ hệ đó – các ngữ hệ từng biến mất khỏi Trung Hoa đại lục, và chúng ta chỉ biết
đến nhờ chúng đã bành trướng sang các đảo Thái Bình Dương và còn tồn tại ở đó đến
ngày nay.
Việc nhóm ngôn ngữ này thay thế nhóm ngôn ngữ khác ở Đông Á
trong lịch sử làm chúng ta nhớ lại sự bành trướng của các ngôn ngữ châu Âu, đặc
biệt là tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha sang Tân Thế giới, nơi mà trước đó từng
là quê hương của hơn một ngàn ngôn ngữ châu Mỹ bản địa hay hơn nữa. Qua lịch sử
nước Mỹ gần đây, chúng ta biết rằng tiếng Anh đã thay thế các ngôn ngữ
Anh-điêng bản địa chẳng phải vì người Anh-điêng thấy tiếng Anh nghe du dương
hơn. Trên thực tế, tiếng Anh đã thay thế các ngôn ngữ Anh-điêng là bởi những kẻ
di dân nói tiếng Anh đã giết hại hầu hết người Anh-điêng bằng cách gây chiến
tranh, ám sát và đổ bệnh cho người Anh-điêng, và những người Anh-điêng sống sót
đã buộc phải chấp nhận tiếng Anh, ngôn ngữ của kẻ đa số mới. Nguyên nhân trực
tiếp của việc thay thế ngôn ngữ này là bởi những người châu Âu xâm lăng kia có
ưu thế về công nghệ và tổ chức chính trị – mà về sâu xa là từ lợi thế xuất phát
sớm hơn trong việc sản xuất lương thực – so với người châu Mỹ bản địa. Rõ ràng
cũng chính những quá trình đó là nguyên nhân sâu xa khiến cho tiếng Anh đã thế
chỗ các ngôn ngữ Australia bản địa và các ngôn ngữ Bantu đã thế chỗ các ngôn ngữ
Pygmie và Khoisan nguyên thủy của châu Phi hạ xích đạo.
Do đó, những biến động về ngôn ngữ ở Đông Á đặt ra cho ta một
câu hỏi tương ứng: cái gì đã khiến những người nói các ngôn ngữ Hán-Tạng có thể
bành trướng từ Bắc Trung Quốc xuống Nam Trung Quốc còn những người nói các ngôn
ngữ thuộc ngữ hệ Nam Đảo và các ngữ hệ nguyên thủy khác ở Nam Trung Quốc bành
trướng về phía nam vào Đông Nam Á nhiệt đới? Ở đây ta phải viện đến ngành khảo
cổ để tìm bằng chứng cho thấy một số dân tộc châu Á đã từng có ưu thế trong
công nghệ, chính trị và nông nghiệp so với các dân tộc châu Á khác.
Cũng như mọi nơi khác trên thế giới, tư liệu khảo cổ đối với
hầu hết lịch sử loài người ở Đông Á chỉ phát lộ được dấu vết của những người
săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá thô không đánh bóng và không có đồ gốm. Bằng
chứng về một cái gì đó không phải như vậy đã phát sinh đầu tiên ở Trung Quốc,
nơi mà di tích cây trồng, xương gia súc, đồ gốm và công cụ đá có đánh bóng (Đồ
đá mới) đã xuất hiện vào khoảng 7.500 năm TCN. Niên đại ấy nằm trong khoảng một
ngàn năm kể từ lúc khởi đầu Thời đại Đồ đá mới và buổi đầu nền sản xuất lương
thực ở Lưỡi liềm Phì nhiêu. Song, vì có ít bằng chứng khảo cổ về những gì diễn
ra ở Trung Quốc trong một ngàn năm trước đó, nên hiện nay ta không thể biết chắc
liệu nguồn phát nguyên sản xuất lương thực Trung Quốc là đồng thời, sớm hơn hay
muộn hơn chút ít so với Lưỡi liềm Phì nhiêu. Ít nhất ta có thể nói rằng Trung
Quốc là một trong các trung tâm thuần hóa cây trồng và vật nuôi sớm nhất.
Trên thực tế, Trung Quốc có thể bao gồm hai nguồn phát nguyên
sản xuất lương thực độc lập hay nhiều hơn nữa. Trước đây tôi đã nhắc tới sự
khác biệt về sinh thái giữa miền bắc Trung Quốc khô, mát với miền nam Trung Quốc
nóng, ẩm. Ở cùng một vĩ độ cũng vẫn có sự khác biệt sinh thái giữa vùng đất thấp
ven biển với vùng cao nội địa. Mỗi môi trường như vậy có những loài cây dại
khác nhau, nên các nhà nông sơ khai ở từng vùng của Trung Quốc hẳn đã có trong
tay những loài cây dại khác nhau [để thuần hóa]. Trên thực tế, những loại cây
trồng xưa nhất đã xác định được là hai giống kê chịu hạn ở Bắc Trung Quốc nhưng
ở Nam Trung Quốc thì lại là cây lúa, điều này cho thấy có thể đã có hai trung
tâm thuần hóa cây trồng riêng biệt ở Trung Quốc [thời tiền sử], một ở miền bắc
và một ở miền nam.
Các di chỉ Trung Quốc nơi có bằng chứng xưa nhất về cây trồng
cũng chứa cả xương các loài gia súc gồm lợn, chó và gà. Các loài gia súc và cây
trồng này dần dần được bổ sung thêm nhiều loài thuần hóa khác của Trung Quốc.
Trong các loài vật nuôi, trâu là loài quan trọng nhất (để kéo cày), còn các
loài khác là tằm, vịt và ngỗng. Các loại cây trồng muộn hơn của Trung Quốc gồm
có đậu nành, gai dầu, chanh, trà, mơ, đào và lê. Ngoài ra, cũng như trục
đông-tây của Âu-Á cho phép nhiều loài trong số các vật nuôi và cây trồng đó của
Trung Quốc có thể bành trướng về phía tây trong thời cổ đại, các loài thuần hóa
của Tây Á cũng bành trướng về phía đông đến Trung Quốc và trở thành quan trọng ở
đó. Những đóng góp đặc biệt quan trọng của Tây Á vào nền kinh tế Trung Quốc cổ
đại là lúa mì và lúa mạch, bò và ngựa, và (ở mức độ thấp hơn) cừu và dê.
Cũng như mọi nơi khác trên thế giới, ở Trung Quốc nền sản xuất
lương thực dần dần đưa tới những dấu hiệu đặc thù khác của “văn minh” mà ta đã
đề cập tới ở Chương 11-14. Một truyền thống luyện kim màu ưu việt ở Trung Quốc
đã khởi nguồn từ thiên niên kỷ thứ ba TCN và cuối cùng dẫn đến việc Trung Quốc
đã tạo ra được sản phẩm bằng gang đầu tiên trên thế giới từ rất sớm, khoảng 500
năm TCN. Khoảng 1.500 năm sau đó đánh dấu sự ra đời ồ ạt nhiều phát minh công
nghệ ở Trung Quốc mà ta đã đề cập ở Chương 13 trong đó có giấy, la bàn, xe cút
kít và thuốc súng. Các thành thị được xây kiên cố xuất hiện vào thiên niên kỷ
thứ ba TCN, với những nghĩa địa mà trong đó có sự khác biệt lớn lao giữa các
ngôi mộ đơn sơ với những ngôi mộ được trang hoàng xa xỉ, cho thấy đã bắt đầu nảy
sinh sự phân chia giai cấp. Bằng chứng về những xã hội có phân chia giai cấp,
nơi các nhà lãnh đạo có thể huy động nhân lực to lớn của thường dân, có thể thấy
rõ qua những bức tường bảo vệ thành thị cao ngất ngưởng, những cung điện nguy
nga và cuối cùng là con Kênh Lớn (con kênh dài nhất thế giới dài trên 1.600 km)
nối liền Bắc Trung Quốc với Nam Trung Quốc. [Di tích xưa nhất về] chữ viết còn
lại từ thiên niên kỷ thứ hai TCN song chữ viết có lẽ đã phát sinh sớm hơn. Kiến
thức khảo cổ của chúng ta về những thành thị và nhà nước ra đời ở Trung Quốc thời
kỳ này được bổ sung bởi các văn bản của những triều đại đầu tiên của Trung Quốc
mà xưa nhất là nhà Hạ ra đời từ khoảng 2.000 năm TCN.
Còn về sản phẩm phụ tai hại của nền sản xuất lương thực là
các bệnh truyền nhiễm, ta không thể chỉ ra chính xác các căn bệnh chính có nguồn
gốc Cựu Thế giới đã nảy sinh ở những nơi nào của Cựu Thế giới. Tuy nhiên, các
văn bản của châu Âu từ thời La Mã và thời trung cổ có thuật lại những trận dịch
hạch và có thể cả đậu mùa từ phương đông đến, vì vậy các vi trùng đó có thể có
nguồn gốc từ Trung Quốc hoặc Tây Á. Bệnh cúm (phát sinh từ lợn) còn có khả năng
đã ra đời từ Trung Quốc sớm hơn thế nữa, bởi lợn đã được thuần hóa rất sớm và
trở nên một loài vật nuôi quan trọng đến vậy ở khu vực này.
Quy mô rộng lớn và sự đa dạng về sinh thái của Trung Quốc đã
khiến nảy sinh nhiều nền văn hóa địa phương riêng biệt, có thể phân biệt rõ về
mặt khảo cổ qua những đồ gốm và vật phẩm thuộc nhiều phong cách khác nhau. Vào
thiên niên kỷ thứ tư TCN các nền văn hóa địa phương đó đã bành trướng về địa lý
và bắt đầu tiếp xúc, cạnh tranh với nhau và hợp nhất vào nhau. Cũng như sự trao
đổi các loài thuần hóa giữa những khu vực khác nhau về sinh thái đã làm phong
phú nền sản xuất lương thực của Trung Quốc, sự trao đổi giữa các khu vực khác
nhau về văn hóa đã làm nền văn hóa và công nghệ Trung Quốc thêm phong phú, còn
sự cạnh tranh khốc liệt giữa các tù trưởng quốc luôn giao tranh với nhau đã dẫn
đến sự hình thành những nhà nước còn lớn hơn và tập trung hơn (Chương 14).
Tuy trục bắc-nam của Trung Quốc cũng kìm hãm sự phát tán các
loại cây trồng, song rào cản này không nghiêm trọng như ở châu Mỹ hay châu Phi,
bởi khoảng cách bắc nam của Trung Quốc nhỏ hơn và bởi Trung Quốc không bị sa mạc
chia cắt như châu Phi hay phía bắc Mexico, cũng không bị một eo đất hẹp ngăn
đôi như Trung Mỹ. Thay vì vậy, các dòng sông dài theo trục đông-tây (Hoàng Hà ở
phía bắc, Dương Tử ở phía nam) giúp cây trồng và công nghệ có thể phát tán dễ
dàng từ duyên hải vào nội địa và ngược lại, trong khi khoảng cách lớn giữa
đông-tây và địa hình tương đối thoải không chỉ cho phép hai hệ thống sông lớn
đó có thể nối với nhau bằng các con kênh mà còn tạo điều kiện cho sự trao đổi
giữa miền nam và miền bắc. Tất cả các nhân tố địa lý này đã góp phần làm Trung
Quốc sớm thống nhất về văn hóa và chính trị, trong khi miền tây châu Âu vốn
cũng có diện tích tương tự nhưng địa hình lại hiểm trở hơn và không có các con
sông nối liền nhau thì đã cưỡng lại sự thống nhất về văn hóa và chính trị cho
mãi đến ngày nay.
Một số kỹ thuật đã bành trướng từ nam đến bắc ở Trung Quốc, đặc
biệt là nấu quặng sắt và trồng lúa. Nhưng hướng bành trướng chính vẫn là từ bắc
xuống nam. Xu hướng ấy rõ nhất là ở chữ viết: ngược lại với phía tây lục địa
Âu-Á nơi đã ra đời một loạt các hệ chữ viết đầu tiên như chữ hình nêm Sumer, chữ
tượng hình Ai Cập, các bảng chữ cái Hittite, Minoan và Semitic, Trung Quốc chỉ
tạo nên một hệ chữ viết duy nhất có chứng cứ vững chắc. Hệ chữ viết đó được
hoàn thiện ở Bắc Trung Quốc, bành trướng xuống phía nam và ngăn chặn hay đoạt mất
cơ hội ra đời của các hệ chữ viết khác đang còn trong trứng nước, để rồi tiến
hóa thành hệ chữ viết vẫn đang được dùng ở Trung Quốc ngày nay. Những đặc trưng
chính khác của các xã hội Bắc Trung Quốc bành trướng xuống phía nam là kỹ nghệ
đồng thiếc, các ngôn ngữ Hán-Tạng và sự hình thành nhà nước. Toàn bộ ba triều đại
đầu tiên của Trung Quốc – nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu – đều nảy sinh ở Bắc
Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai TCN.
Các văn bản từ thiên niên kỷ đầu tiên TCN còn lại đến nay cho
thấy, ngay từ thời đó người Trung Quốc gốc Hán (nhiều người Trung Quốc ngày nay
vẫn còn như vậy) đã có xu hướng coi mình là ưu việt hơn về văn hóa so với những
kẻ “man di” không phải người Trung Quốc, trong khi người Bắc Trung Quốc thậm
chí có xu hướng coi ngay cả người Nam Trung Quốc là mọi rợ man di. Chẳng hạn, một
tác giả vào cuối thời nhà Chu vào thiên niên kỷ thứ nhất TCN đã mô tả các dân tộc
khác của Trung Quốc như sau: “Dân ở năm vùng đó – các nước vùng giữa và các bộ
tộc Nhung, Di và những bộ tộc man di khác xung quanh – có một số đặc tính riêng
không thể nào thay đổi được. Các bộ tộc phía đông gọi là Di. Họ để tóc xõa xượi
(không buộc) và xăm khắp người. Một số còn ăn đồ ăn không nấu bằng lửa”. Tác giả
đời nhà Chu này tiếp tục mô tả các bộ tộc khác ở phía nam, tây và bắc Trung Quốc
như những kẻ thích thú những tập quán cũng mọi rợ y như vậy, tỉ như đi mà hai
bàn chân quặp vào trong, xăm trên trán, mặc da [thú?], sống trong hang, không
ăn ngũ cốc và – dĩ nhiên – ăn đồ sống.
Các nhà nước do nhà Chu của Bắc Trung Quốc lập ra hoặc theo
mô hình của nhà Chu đã bành trướng về Nam Trung Quốc trong suốt thiên niên kỷ
thứ nhất TCN mà đỉnh điểm là sự thống nhất Trung Quốc về chính trị dưới đời nhà
Tần vào năm 221 TCN. Sự thống nhất văn hóa của Trung Quốc cũng tăng tốc trong
cùng thời kỳ đó, bởi các nhà nước Trung Quốc “văn minh” hấp thụ các bộ tộc “dã
man” vào mình hoặc trở thành mẫu mực cho các bộ tộc đó sao chép. Có những lúc sự
thống nhất văn hóa đó diễn ra một cách tàn khốc: vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tần
– Tần Thủy Hoàng – buộc tội hết thảy sử sách được viết ra trước đó đều là vô
giá trị và hạ lệnh đem đốt hết, gây tổn thất lớn lao cho tri thức của chúng ta
ngày nay về lịch sử và chữ viết Trung Quốc thời kỳ đầu. Những biện pháp tàn bạo
như vậy ắt đã góp phần khiến cho các ngôn ngữ Hán-Tạng bành trướng ra hầu hết
Trung Quốc, trong khi ngữ hệ Mèo-Dao và các ngữ hệ khác thì bị co hẹp lại thành
những vùng phân bố manh mún như ngày nay.
Trong phạm vi Đông Á, lợi thế xuất phát trước của Trung Quốc
trong lĩnh vực sản xuất lương thực, công nghệ, chữ viết và hình thành nhà nước
đã dẫn đến hệ quả là những cách tân của Trung Quốc cũng đóng góp lớn lao vào những
sự phát triển ở các khu vực láng giềng. Chẳng hạn, cho đến thiên niên kỷ thứ tư
TCN hầu hết Đông Nam Á nhiệt đới vẫn còn là nơi sinh sống của những dân săn bắt
hái lượm dùng công cụ bằng đá cuội và đá phiến thuộc cái gọi là truyền thống
Hòa Bình, đặt theo tên của vùng Hòa Bình ở Việt Nam. Từ đó trở đi, các cây trồng
có gốc từ Trung Quốc, công nghệ Đồ đá mới, lối sống theo làng xã và đồ gốm
tương tự như của Nam Trung Quốc mới bành trướng xuống Đông Nam Á nhiệt đới, đi
kèm theo đó có thể là các ngữ hệ Nam Trung Quốc. Những sự bành trướng trong lịch
sử của người Miến Điện, người Lào và người Thái từ Nam Trung Quốc về phía nam
đã hoàn tất quá trình Hán hóa vùng Đông Nam Á nhiệt đới. Mọi dân tộc ở khu vực
đó ngày nay đều là hậu duệ gần của những người anh em Nam Trung Quốc.
Sức mạnh áp đảo đó của Trung Quốc khủng khiếp đến nỗi các dân
tộc từng có mặt ở Đông Nam Á nhiệt đới từ trước đó đã chẳng để lại được bao
nhiêu dấu vết của mình ở cư dân khu vực đó ngày nay. Chỉ có ba nhóm săn bắt hái
lượm còn sót lại – người Semang Negrito ở bán đảo Mã Lai, cư dân đảo Andaman và
người Veddoid Neggito ở Sri Lanka – gợi cho ta nghĩ rằng những cư dân Đông Nam
Á nhiệt đới xưa kia [trước khi các bộ tộc có gốc từ Nam Trung Quốc bành trướng
xuống] có thể da màu thẫm và tóc xoăn như người New Guinea ngày nay chứ không
da sáng, tóc thẳng như người Nam Trung Quốc và cư dân Đông Nam Á nhiệt đới vốn
là hậu duệ của họ. Số người Negrito ít ỏi còn lại ở Đông Nam Á có thể là những
kẻ cuối cùng sống sót từ những dân tộc đã từng đi thực dân hóa New Guinea. Những
người Semang Negrito vẫn sống theo lối săn bắt hái lượm và trao đổi với các
nông dân láng giềng nhưng lại tiếp thu một ngôn ngữ Nam Á từ các nhà nông đó,
cũng như người săn bắt hái lượm Negrito ở Philippines và người Pygmy ở châu Phi
đã tiếp thu ngôn ngữ từ các nhà nông mà họ có quan hệ trao đổi. Chỉ ở các hòn đảo
Andaman xa xôi, các ngôn ngữ không có quan hệ gì với các ngữ hệ Nam Trung Quốc
mới còn lại đến ngày nay – đó là những mảnh ngôn ngữ cuối cùng còn sót lại từ
hàng trăm ngôn ngữ Đông Nam Á bản địa mà ngày nay đã hoàn toàn biến mất.
Thậm chí cả Triều Tiên và Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng nặng nề
của Trung Quốc cho dù nhờ vị trí địa lý tách biệt mà các nước này đã không đánh
mất ngôn ngữ hoặc các đặc điểm về ngoại hình và di truyền khác biệt của mình
như các dân tộc Đông Nam Á nhiệt đới. Triều Tiên và Nhật Bản tiếp thu gạo từ
Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai TCN, nghề luyện đồng thiếc vào trước thiên
niên kỷ thứ nhất TCN và chữ viết vào thiên niên kỷ thứ nhất CN. Trung Quốc cũng
chuyển giao lúa và lúa mạch của vùng Tây Á cho Triều Tiên và Nhật Bản.
Tuy nhìn nhận Trung Quốc có vai trò hạt giống trong nền văn
minh Đông Á, song chúng ta không nên phóng đại. Không phải bất kỳ tiến bộ văn
hóa nào ở Đông Á cũng đều bắt nguồn từ Trung Quốc, cũng không phải người Triều
Tiên, người Nhật Bản và người Đông Nam Á nhiệt đới đều là những kẻ dã man không
có óc phát minh và không hề đóng góp được gì. Người Nhật cổ đại đã tạo ra được
một trong những loại đồ gốm xưa nhất thế giới và tuy sống bằng săn bắt hái lượm
nhưng đã định cư thành làng mạc nhờ có nguồn hải sản dồi dào của Nhật từ lâu
trước khi sản xuất lương thực du nhập vào đất nước này. Một số loại cây trồng
có thể đã được thuần hóa đầu tiên hoặc một cách độc lập ở Triều Tiên, Nhật Bản
và Đông Nam Á nhiệt đới.
Song dù vậy vai trò của Trung Quốc vẫn rất lớn lao. Chẳng hạn,
vị thế của văn hóa Trung Quốc ở Triều Tiên và Nhật Bản vẫn còn lớn đến mức Nhật
Bản chưa bao giờ nghĩ đến việc từ bỏ hệ chữ viết có nguồn gốc từ Trung Quốc mặc
dù thứ chữ đó bộc lộ nhiều nhược điểm trong việc thể hiện ngôn ngữ Nhật, trong
khi Triều Tiên mãi mới gần đây mới chịu thay thế thứ chữ viết rườm rà có nguồn
gốc từ Trung Quốc bằng bảng chữ cái han’gul tài tình của mình. Sự tồn tại dai dẳng
đó của chữ viết Trung Quốc ở Triều Tiên và Nhật Bản là di sản sống động vào thế
kỷ 20 của sự thuần hóa cây trồng và vật nuôi ở Trung Quốc gần 10.000 năm trước.
Nhờ những thành tựu của các nhà nông đầu tiên ở Tây Á mà Trung Hoa đã trở thành
Trung Quốc và các dân tộc từ Thái Lan đến đảo Phục Sinh (như ta sẽ thấy ở
chương sau) đã trở thành anh em của họ.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 17 - Tàu tốc hành đến
Polynesia
Với tôi, lịch sử các đảo Thái Bình Dương từng được tóm lược
trong một sự kiện thế này: tôi cùng ba người bạn Indonesia đi vào một cửa hiệu ở
Jayapura, thủ đô của New Guinea thuộc Indonesia. Tên các bạn tôi là Achmad,
Wiwor và Sauakari, còn chủ cửa hiệu tên là Ping Wah. Achmad, một viên chức
chính phủ Indonesia, hành xử như ông chủ, bởi ông ta và tôi đang tổ chức một cuộc
nghiên cứu sinh thái cho chính phủ và đã thuê Wiwor cùng Sauakari làm trợ lý tại
chỗ. Nhưng Achmad chưa bao giờ đến vùng rừng núi New Guinea và không hề biết phải
mua cái gì dự trữ. Kết quả thật khôi hài.
Đúng lúc các bạn tôi bước vào cửa hiệu, Ping Wah đang đọc một
tờ báo tiếng Trung Quốc. Thấy Wiwor và Sauakari, ông ta vẫn tiếp tục đọc, nhưng
vừa nhác thấy Achmad là ông ta liền lật đật dúi tờ báo xuống dưới quầy. Achmad
nhặt một cái đầu rìu lên làm Wiwor và Sauakari cười ngất vì ông ta chúc ngược đầu
rìu xuống. Wiwor và Sauakari bèn chỉ cho ông ta thấy phải cầm thế nào mới đúng
để thử. Sau đó Achmad và Sauakari nhìn xuống cặp chân trần của Wiwor, ngón chân
chõe hết ra bởi suốt đời không hề biết giày dép là gì. Sauakari nhặt đôi giày
to nhất có trong hiệu đặng ướm vào chân Wiwor song đôi giày vẫn quá chật, lại
khiến Achmad, Sauakari và Ping Wah cười lăn lộn. Achmad cầm lấy một cái lược nhựa
rồi chải mái tóc thẳng, cứng và đen của mình. Liếc qua bộ tóc xoăn tít rắn câng
của Wiwor, ông ta liền đưa lược cho Wiwor. Cái lược lập tức dính chặt vào tóc
Wiwor, và ngay khi Wiwor cầm lược mà kéo thì lược gãy đôi ngay. Ai cũng cười, kể
cả Wiwor. Wiwor đáp trả bằng cách nhắc Achmad rằng ông ta nên mua nhiều gạo bởi
lên tới các làng vùng núi ở New Guinea thì sẽ chẳng có gì mua ngoại trừ khoai
lang mà món đó thì sẽ làm Achmad sôi ruột – rồi sẽ vui lắm đây.
Mặc dù ai nấy cười nghiêng ngả, tôi vẫn cảm thấy có một sự
căng thẳng ẩn đằng sau. Achmad là người Java, Ping Wah là người Trung Quốc,
Wiwor là dân vùng cao New Guinea, còn Sauakari là dân vùng đất thấp duyên hải
phía bắc New Guinea. Người Java thống trị chính phủ Indonesia, cái nhà nước đã
sáp nhập vùng tây New Guinea vào Indonesia vào thập niên 1960 và đã dùng bom,
súng máy nghiền nát các lực lượng New Guinea kháng cự. Về sau Achmad quyết định
nán lại thị trấn, để tôi tiến hành nghiên cứu một mình cùng với Wiwor và
Sauakari. Ông ta giải thích tại sao mình quyết định vậy bằng cách chỉ lên mái
tóc thẳng, cứng của mình, khác xa tóc người New Guinea, rồi bảo rằng người New
Guinea sẽ giết chết bất cứ ai có bộ tóc như vậy nếu họ tóm được anh ta ở nơi
ngoài tầm hỗ trợ của quân đội.
Ping War đã giấu tờ báo đi bởi trên danh nghĩa việc du nhập
chữ Trung Quốc vào New Guinea thuộc Indonesia là bất hợp pháp. Trên hầu khắp
Indonesia, giới thương nhân đều là dân Trung Quốc nhập cư. Nỗi e ngại lẫn nhau
giữa người Trung Quốc thống trị về kinh tế và người Java thống trị về chính trị
vốn đã tiềm tàng từ lâu, đến năm 1966 thì bùng lên thành một cuộc cách mạng đẫm
máu khi người Java tàn sát hàng trăm ngàn người Trung Quốc. Wiwor và Sauakari
giống nhau ở chỗ, cũng như hầu hết những người New Guinea khác, đều oán ghét sự
độc tài của người Java, nhưng họ cũng lại còn khinh khi nhau nữa. Dân vùng cao
coi dân vùng thấp là lũ hết hơi chẳng biết ăn gì ngoài khoai sọ còn dân vùng thấp
khinh dân vùng cao là bọn đầu to mọi rợ, cả vì bộ tóc to sù xoăn tít lẫn thói
kiêu căng khét tiếng của dân này. Khi tôi dựng một trại biệt lập trong rừng
cùng với Wiwor và Sauakari, chỉ trong vòng mấy hôm mà họ suýt nữa đã dùng rìu
choảng nhau.
Những căng thẳng giữa các nhóm dân cư mà Achmad, Wiwor,
Sauakari và Ping Wah là đại diện [là nhân tố] chi phối nền chính trị ở
Indonesia, nước đông dân thứ tư thế giới. Những căng thẳng đó trong thời đại
ngày nay có cội rễ sâu xa từ hàng ngàn năm trước. Mỗi khi nghĩ đến những luồng
di dân lớn vượt biển, ta thường tập trung vào những luồng di dân từ sau khi
Columbus phát hiện ra châu Mỹ và việc từ đó trở đi người châu Âu chiếm lấy lãnh
thổ của những người không phải châu Âu trong các thời kỳ lịch sử. Thật ra còn
có những luồng di dân lớn vượt biển khác từ rất lâu trước thời của Columbus, đã
từng có việc những dân tộc phi châu Âu này chiếm lấy đất đai của những dân tộc
phi châu Âu khác. Wiwor, Achmad và Sauakari đại diện cho ba làn sóng người tiền
sử đã từ nội địa châu Á di cư sang Thái Bình Dương. Những người vùng cao như
Wiwor có lẽ đã xuất phát từ một làn sóng di cư xa xưa từ châu Á đến định cư ở
New Guinea từ hơn 40.000 năm trước. Tổ tiên của Achmad đã từ miền duyên hải Nam
Trung Quốc đặt chân đến Java vào khoảng 4.000 năm trước, hoàn tất việc giành chỗ
những người vốn có liên hệ với tổ tiên của Wiwor ở vùng này. Tổ tiên của
Sauakari thì đặt chân đến New Guinea vào khoảng 3.600 năm trước như một phần của
chính làn sóng di cư đó từ miền duyên hải Nam Trung Quốc, trong khi tổ tiên của
Wing Pah hiện vẫn đang chiếm cứ Trung Hoa.
Dòng di dân đã đưa tổ tiên của Achmad đến Java và tổ tiên của
Sauakari đến New Guinea, được mệnh danh là cuộc bành trướng Nam Đảo, là một
trong những dòng di dân lớn nhất trong 6.000 năm trở lại đây. Một nhánh của nó
trở thành người Polynesia đến sinh sống ở các đảo xa xôi trên Thái Bình Dương
và là những người đi biển cừ khôi nhất trong số các dân tộc Thời đại Đồ đá mới.
Các ngôn ngữ Nam Đảo ngày nay vẫn còn được dùng như tiếng mẹ đẻ ở khắp hơn một
nửa chu vi thế giới, từ Madagascar đến đảo Phục Sinh. Trong cuốn sách này, những
luồng di dân kể từ cuối các Thời đại Băng hà, [cái gọi là] cuộc bành trướng Nam
Đảo chiếm một vị trí trung tâm, như một trong các hiện tượng quan trọng nhất cần
được lý giải. Tại sao chính những người Nam Đảo, thoạt kỳ thủy vốn xuất thân từ
nội địa Trung Quốc, đã di cư sang Java và phần còn lại của Indonesia và thay thế
những cư dân nguyên thủy ở đó, chứ không phải người Indonesia di cư đến Trung
Quốc và thay thế người Trung Quốc? Sau khi đã chiếm lĩnh toàn bộ Indonesia, tại
sao người Nam Đảo lại không chiếm lĩnh được gì thêm ngoài một rẻo duyên hải hẹp
của vùng đất thấp New Guinea, và tại sao họ đã hoàn toàn không thể đánh bật được
dân tộc của Wiwor ra khỏi các vùng cao New Guinea? Hậu duệ của các di dân từ
Trung Quốc đã chuyển hóa thành người Polynesia như thế nào?
Ngày nay dân số Java, hầu hết các đảo Indonesia khác (ngoại
trừ các đảo ở cực đông) và Philippines tương đối đồng nhất. Về ngoại hình và di
truyền, các cư dân đảo này tương tự với người Nam Trung Quốc, thậm chí còn gần
dân Đông Nam Á nhiệt đới, nhất là dân bán đảo Mã Lai hơn nữa. Ngôn ngữ của họ
cũng đồng nhất y như vậy: mặc dù có tới 374 ngôn ngữ được dùng ở Philippines
cũng như tây và trung Indonesia nhưng tất cả các ngôn ngữ đó đều có quan hệ gần
gũi nhau và nằm trong cùng một ngữ hệ con (Tây Mã Lai-Polynesia) thuộc ngữ hệ
Nam Đảo. Các ngôn ngữ Nam Đảo vươn đến tận nội địa châu Á trên bán đảo Mã Lai
và vài nhóm nhỏ ở Việt Nam, Campuchia, gần các đảo cực tây Indonesia là Sumatra
và Borneo, nhưng không hề xuất hiện ở đâu khác trong nội địa (Hình 17.1). Một số
từ Nam Đảo được tiếng Anh vay mượn như “taboo” (điều húy kỵ) và “tattoo” (xăm
mình) (từ một ngôn ngữ Polynesia), “boondocks” (chốn hoang sơ, xa chỗ văn minh)
mượn từ một ngôn ngữ Tagalog của Philippines, “amok” (điên rồ, không kiểm soát
được), “batik” (loại vải truyền thống sặc sỡ của Indonesia và Malaysia) và
“oranggutan” (đười ươi) (từ tiếng Mã Lai).Hình 17.1: Ngữ hệ Nam Đảo bao gồm bốn ngữ hệ con, ba trong số
đó chỉ bó hẹp ở Đài Loan, còn một (Mã Lai-Polynesia) thì phổ biến rộng. Ngữ hệ
con ngày đến lượt mình lại bao gồm hai ngữ hệ “cháu” là Tây Mã Lai-Polynesia
(W-M-P, West Malayo-Polynesia) và Trung Mã Lai-Polynesia (C-E-M-P, Central
Malayo-Polynesia). Ngữ hệ cháu C-E-M-P đến lượt nó lại chia thành bốn ngữ hệ
“chắt”, gồm ngữ hệ Đại dương (Oceanic) rất phổ biến về phía Đông và ba ngữ hệ
khác phân bố về phía Tây ở một khu vực nhỏ hơn nhiều gồm Halmahera, các đảo gần
phía Đông Indonesia và chỏm cực Tây của New Guinea.
Sự đồng nhất đó về di truyền và ngôn ngữ của Indonesia và
Philippines thoạt tiên cũng khiến người ta kinh ngạc như sự đồng nhất về ngôn
ngữ ở Trung Quốc. Các hóa thạch lừng danh Homo erectus ở Java chứng minh rằng
con người từng chiếm cứ ít nhất là vùng tây Indonesia trong suốt một triệu năm.
Chừng đó là quá đủ thời gian để con người có thể tiến hóa một sự đa dạng về di
truyền và ngôn ngữ cũng như phát triển để thích nghi với vùng nhiệt đới, chẳng
hạn như da thẫm như nhiều dân tộc vùng nhiệt đới khác, thế nhưng người
Indonesia và người Philippines thì da lại sáng.
Cũng lạ rằng người Indonesia và người Philippines lại giống
người Đông Nam Á nhiệt đới và người Nam Trung Quốc đến thế, cả ở những đặc điểm
thể chất khác ngoài màu da sáng và gen di truyền. Chỉ cần liếc qua bản đồ, ta sẽ
thấy một điều hiển nhiên rằng Indonesia là con đường duy nhất để con người có
thể đến được New Guinea và Australia vào 40.000 năm trước, nên người ta có thể
suy ra một cách ngây thơ rằng người Indonesia hiện đại ắt phải giống người New
Guinea hay người Australia bản địa mới phải. Trên thực tế, ở Philippines hay
khu vực tây Indonesia chỉ có một vài nhóm dân cư là giống người New Guinea,
đáng chú ý là người Negrito sống ở vùng núi Philippines. Cũng giống như ba nhóm
dân khác trông giống người New Guinea mà tôi đã nhắc tới khi nói về Đông Nam Á
nhiệt đới (Chương 16), người Negrito ở Philippines có thể là tàn dư còn sót lại
của những cư dân vốn là tổ tiên dân tộc của Wiwor trước khi họ đặt chân tới New
Guinea. Ngay cả những người Negrito đó cũng nói ngôn ngữ Nam Đảo tương tự như
ngôn ngữ của người Philippines láng giềng, cho thấy rằng kể cả họ nữa (cũng như
người Semang Negrito ở Malaysia và người Pygmy ở châu Phi) đã đánh mất ngôn ngữ
nguyên thủy của mình.
Tất cả các sự kiện đó nói lên mạnh mẽ rằng rằng hoặc người
Đông Nam Á nhiệt đới hoặc người Nam Trung Quốc sử dụng ngôn ngữ Nam Đảo đã bành
trướng qua suốt Philippines và Indonesia vào một thời kỳ gần đây, giành chỗ
toàn bộ cư dân đã sinh sống từ trước đó trên các đảo này – ngoại trừ người
Negrito ở Philippines – đồng thời thay thế toàn bộ các ngôn ngữ đã tồn tại từ
trước đó ở các đảo này. Sự kiện đó rõ ràng đã diễn ra rất gần đây, đến nỗi những
kẻ thực dân đó không có đủ thời gian để tiến hóa được màu da thẫm, những ngữ hệ
khác biệt, hay sự đa dạng hoặc khác biệt về di truyền. Các ngôn ngữ của họ dĩ
nhiên là nhiều hơn gấp bội về số lượng so với tám ngôn ngữ chính của người
Trung Quốc ở nội địa Trung Quốc, song không hề đa dạng hơn. Sở dĩ ở Philippines
và Indonesia có lắm ngôn ngữ tương tự nhau đến vậy chỉ là do các đảo này chưa
bao giờ trải qua một sự thống nhất về chính trị và văn hóa như Trung Quốc.
Các chi tiết phân bố ngôn ngữ cho ta những then chốt quý giá
đặng có thể lần theo con đường bành trướng Nam Đảo giả định này. Toàn bộ ngữ hệ
Nam Đảo bao gồm 959 ngôn ngữ chia thành bốn ngữ hệ con. Nhưng một trong các ngữ
hệ con đó, nhóm Mã Lai-Polynesia, chiếm đến những 945 trong số 959 ngôn ngữ đó
và trải rộng hầu như khắp toàn bộ phạm vi địa lý của ngữ hệ Nam Đảo. Trước khi
diễn ra sự di cư vượt đại dương của những người châu Âu nói ngôn ngữ Ấn-Âu thì
ngữ hệ Nam Đảo là ngữ hệ được phân bố rộng nhất trên thế giới. Điều đó gợi ý rằng
ngữ hệ con Mã Lai-Polynesia chỉ gần đây mới tách khỏi ngữ hệ Nam Đảo và bành
trướng xa ra khỏi quê hương Nam Đảo, làm phát sinh nhiều ngôn ngữ địa phương mà
tất cả đều vẫn có họ hàng gần gũi với nhau bởi chúng có quá ít thời gian không
đủ để phát triển được những khác biệt lớn về ngôn ngữ. Còn quê nhà Nam Đảo ấy nằm
ở đâu thì chúng ta không nên nhìn về phía ngữ hệ con Mã Lai-Polynesia mà phải
xét tới ba ngữ hệ con Nam Đảo còn lại, chúng khác nhau và khác nhóm Mã
Lai-Polynesia một cách đáng kể hơn nhiều so với sự khác biệt giữa các nhóm nhỏ
hơn trong nhóm Mã Lai-Polynesia với nhau.
Hóa ra cả ba ngữ hệ con đó đều có sự phân bố trùng khớp, cả
ba đều được phân bố trên quy mô rất nhỏ bé so với quy mô phân bố của nhóm Mã
Lai-Polynesia. Chúng chỉ bó hẹp ở các thổ dân bản địa đảo Đài Loan, chỉ cách
Trung Hoa lục địa 90 dặm (hơn 140 km). Thổ dân đảo Đài Loan đã “một mình một
cõi” làm chủ hòn đảo này mãi tới khi người Trung Quốc đại lục bắt đầu di cư đến
với quy mô lớn trong một ngàn năm trở lại đây. Sau năm 1945 thì lại càng có nhiều
người đại lục khác di cư đến Đài Loan, nhất là sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc
đánh bại Quốc dân Đảng vào năm 1949, khiến cho dân bản địa hiện nay chỉ còn chiếm
2% dân số Đài Loan. Việc ba trong bốn ngữ hệ con Nam Đảo tập trung ở Đài Loan gợi
ý rằng, trong phạm vi Nam Đảo hiện nay, Đài Loan chính là quê hương nơi các
ngôn ngữ Nam Đảo đã được sử dụng trong hầu hết lịch sử và do đó đã có đủ thời
gian cần thiết để trở nên đa dạng [tiến hóa thành các ngôn ngữ khác nhau, ND].
Nếu đúng vậy thì mọi ngôn ngữ Nam Đảo khác, từ các ngôn ngữ Madagascar cho tới
các ngôn ngữ trên đảo Phục Sinh, hẳn đã bắt nguồn từ một nhóm dân cư từ Đài
Loan bành trướng ra các khu vực đó.
Giờ ta có thể quay lại các bằng chứng khảo cổ. Mặc dù di tích
còn lại của các ngôi làng cổ không bao gồm những từ ngữ hóa thạch cùng xương
thú và đồ gốm, song chúng vẫn tiết lộ cho ta về những dòng di dân và dòng di
chuyển vật phẩm văn hóa mà ắt hẳn có cả ngôn ngữ đi kèm. Cũng như phần còn lại
của thế giới, hầu hết địa vực Nam Đảo ngày nay – Đài Loan, Philippines,
Indonesia và nhiều hòn đảo Thái Bình Dương – vốn là nơi sinh sống của những người
săn bắt hái lượm không có đồ gốm, không có công cụ bằng đá đánh bóng, không có
vật nuôi và cây trồng thuần hóa. (Ngoại lệ duy nhất đối với kết luận chung này
là những hòn đảo Madagascar xa xôi phía đông Melanesia, Polynesia và
Micronesia, nơi những người săn bắt hái lượm chưa bao giờ đặt chân tới và vẫn
là vùng đất không người cho đến khi người Nam Đảo bành trướng đến). Những dấu
hiệu khảo cổ đầu tiên về một cái gì không như vậy trong địa vực Nam Đảo là ở
Đài Loan. Bắt đầu từ khoảng thiên niên kỷ thứ tư TCN, những công cụ đá đánh
bóng và một phong cách đồ gốm trang trí đặc thù (gọi là đồ gốm Ta-p’en-k’eng)
có xuất xứ từ đồ gốm xưa hơn ở vùng nội địa Nam Trung Quốc đã xuất hiện ở Đài
Loan và vùng ven biển đối diện thuộc Trung Quốc đại lục. Di tích gạo và kê ở
các di chỉ Đài Loan muộn hơn cho bằng chứng là đã có nghề nông ở vùng này.
Các di chỉ Ta-p’en-k’eng ở Đài Loan và miền duyên hải Nam
Trung Quốc đều đầy xương cá và vỏ động vật thân mềm, cũng như chì lưới bằng đá
và rìu lưỡi vòm thích hợp để đẽo xuồng gỗ. Rõ ràng là cư dân đầu tiên từ thời Đồ
đá mới này ở Đài Loan đã có những phương tiện đi biển đủ để đánh bắt cá xa bờ
và thường xuyên qua lại giữa Đài Loan với miền duyên hải Trung Quốc qua eo biển
Đài Loan. Như vậy, eo biển Đài Loan rất có thể đã là cơ sở huấn luyện để người
Trung Quốc lục địa trau dồi kỹ năng đi biển đặng có thể bành trướng ra khắp
Thái Bình Dương.
Có một dạng vật phẩm đặc thù khiến người ta cho rằng văn hóa
Ta-p’en-k’eng có quan hệ với các nền văn hóa Thái Bình Dương muộn hơn, ấy là
cái tước vỏ cây, một công cụ bằng đá dùng để tước lớp vỏ sợi của một số loài
cây đặng làm dây thừng, lưới và quần áo. Khi các dân tộc Thái Bình Dương đã
bành trướng ra khỏi khu vực có các loài vật nuôi cho len cũng như các loại cây
trồng cho sợi may quần áo, do đó cũng không thể may quần áo bằng sợi dệt được nữa,
họ chỉ còn có thể dùng thứ “vải” bằng vỏ cây tước ra đó để làm quần áo mà thôi.
Cư dân đảo Rennell, một hòn đảo Polynesia truyền thống mà mãi đến thập niên
1930 mới bị Tây phương hóa, đã bảo tôi rằng sự Tây phương hóa đã mang lại
[ngoài những ích lợi khác] một ích lợi phụ tuyệt vời, ấy là hòn đảo đã trở nên
yên tĩnh. Chẳng còn cái nỗi đi đâu cũng nghe tiếng đá tước vỏ cây từ sáng sớm đến
tối mịt hết ngày này qua ngày khác nữa!
Trong vòng trên dưới một ngàn năm sau khi văn hóa
Ta-p’en-k’eng đến được Đài Loan, bằng chứng khảo cổ cho thấy các nền văn hóa hiển
nhiên bắt nguồn từ nó đã bành trướng càng ngày càng xa khỏi Đài Loan để rồi bao
trùm khắp địa vực Nam Đảo (Hình 17.2). Những bằng chứng đó bao gồm các công cụ
bằng đá, đồ gốm, xương lợn thuần hóa và di tích cây trồng. Chẳng hạn, đồ gốm
Ta-p’en-k’eng có trang trí ở Đài Loan đã mở đường cho đồ gốm trơn không trang
trí hay đồ gốm đỏ vốn cũng được phát hiện tại các di chỉ ở Philippines và trên
các đảo Celebes và Timor thuộc Indonesia. “Gói” sản phẩm văn hóa này – gồm đồ gốm,
công cụ bằng đá và các loài thuần hóa – đã xuất hiện vào khoảng 3.000 năm TCN ở
Philippines, khoảng 2.500 năm TCN trên các đảo Celebes, phía bắc đảo Borneo và
đảo Timor thuộc Indonesia, khoảng 2.000 năm TCN ở Java và Sumatra, và khoảng
1.600 năm TCN ở khu vực New Guinea. Ở đó, như chúng ta sẽ thấy, sự bành trướng
này ắt hẳn đã diễn ra với tốc độ tàu cao tốc, bởi những người mang theo gói sản
phẩm văn hóa này đã phăng phăng thẳng tiến về phía đông vào khu vực Thái Bình
Dương, ra xa ngoài quần đảo Solomon nơi trước đó chưa hề có bóng người. Những
giai đoạn cuối cùng của cuộc bành trướng này, vào khoảng thiên niên kỷ đầu tiên
sau năm 1, đưa tới kết quả là bất cứ hòn đảo nào ở Polynesia và Micronesia mà
có khả năng nuôi sống con người thì đều đã có người đến sống. Thật đáng ngạc
nhiên, cuộc bành trướng đó cũng đã vươn ào ạt về phía tây ngang qua Ấn Độ Dương
đến tận bờ đông châu Phi, kết quả là người Nam Đảo đã định cư ở hòn đảo
Madagascar.
Ít nhất là cho đến khi cuộc bành trướng Nam Đảo vươn tới miền
duyên hải New Guinea, có lẽ người ta cũng đã có thể đi lại giữa các đảo bằng những
chiếc thuyền buồm có hai dầm dọc mà đến ngày nay vẫn còn phổ biến ở khắp
Indonesia. Kiểu thuyền này là một bước tiến lớn so với kiểu thuyền độc mộc giản
đơn mà các dân tộc truyền thống trên khắp thế giới vẫn dùng để đi lại trên các
dòng chảy sâu trong nội địa. Thuyền độc mộc, đúng như tên gọi, là một chiếc
thuyền được đẽo ra từ một thân cây duy nhất rồi vạt nhọn hai đầu bằng rìu lưỡi
vòm. Bởi thuyền độc mộc có đáy tròn do thân cây dùng để đẽo cây vốn có dạng
tròn, nên chỉ cần phân phối trọng lượng mất cân bằng một chút là thuyền sẽ
nghiêng về phía nặng hơn ngay. Bất cứ khi nào tôi được những người New Guinea
đưa đi bằng thuyền độc mộc trên các dòng sông New Guinea, hầu như suốt cả chuyến
đi tôi cứ sợ đến mất mật: hình như nhất cử nhất động của tôi đều có nguy cơ làm
lật thuyền, hất tôi cùng với cái ống nhòm xuống nước mà làm bạn với cá sấu. Người
New Guinea luôn có vẻ ung dung khi chèo thuyền độc mộc dọc ngang các sông hồ phẳng
lặng, thế nhưng ngay cả người New Guinea cũng không thể chèo thuyền độc mộc ở
ngoài biển dù sóng êm đi nữa. Vì vậy một thiết bị nào đó để giữ thăng bằng cho
thuyền là nhân tố thiết yếu không chỉ đối với cuộc bành trướng Nam Đảo ra khắp
Indonesia mà còn với cả sự di cư nguyên thủy đến Đài Loan.Hình 17.2: Những con đường bành trướng của nhóm Nam Đảo, với
niên đại phỏng đoán theo thời điểm họ đặt chân đến từng khu vực. 4a = Borneo,
4b = Celebes, 4c = Timor (khoảng 2.500 năm TCN), 5a = Halmahera (khoảng 1.600
năm TCN), 5b = Java, 5c = Sumatra (khoảng 2.000 năm TCN), 6a = quần đảo
Bismarck (khoảng 1.600 năm TCN), 6b = bán đảo Mã Lai, 6c = Việt Nam (khoảng
1.000 năm TCN), 7 = quần đảo Solomon (khoảng 1.200 năm TCN), 8 = Santa Cruz, 9c
= Tonga, 9d = New Caledonia (khoảng 1.200 năm TCN), 10b = nhóm đảo Society, 10c
= nhóm đảo Cook, 11a = quần đảo Tuamotu (khoảng năm 1 CN)
Giải pháp là buộc hai thanh gỗ nhỏ hơn (hai cái “dầm”) song
song với thân thuyền nhưng cách chừng vài bộ (khoảng trên dưới 1m, ND) mỗi
thanh ở một bên, nối với thân thuyền bằng những cái sào buộc vuông góc với thân
thuyền và dầm. Mỗi khi thân thuyền bắt đầu chênh về một bên, sức nổi của cái dầm
ở bên đó ngăn không cho dầm bị hụp xuống dưới nước khiến cho thân thuyền gần
như không thể nào lật úp được. Phát minh thuyền buồm hai dầm dọc có thể chính
là đột phá công nghệ đã khơi nên cuộc bành trướng của người Nam Đảo ra khỏi
vùng nội địa Trung Quốc.
Hai sự trùng hợp kỳ lạ giữa bằng chứng khảo cổ và bằng chứng
ngôn ngữ học hỗ trợ cho giả thuyết rằng những người đã mang văn hóa Đồ đá mới đến
Đài Loan, Philippines và Indonesia cách đây hàng mấy ngàn năm là những kẻ dùng
ngôn ngữ Nam Đảo và là tổ tiên của những người nói tiếng Nam Đảo vẫn còn sinh sống
trên các hòn đảo đó ngày nay. Thứ nhất, cả hai loại bằng chứng đều nhất quán chỉ
ra một điều: giai đoạn đầu tiên là những người Nam Đảo xuất phát từ miền duyên
hải Nam Trung Quốc đến định cư ở Đài Loan, còn giai đoạn kế tiếp là họ từ Đài
Loan đến chiếm lĩnh Philippines và Indonesia. Giá như cuộc bành trướng đó đã xuất
phát từ bán đảo Mã Lai thuộc Đông Nam Á nhiệt đới đến hòn đảo Indonesia gần nhất
là Sumatra, sau đó đến các hòn đảo Indonesia khác rồi cuối cùng mới đến
Philippines và Đài Loan, thì ắt hẳn chúng ta sẽ tìm thấy sự phân hóa rất sâu sắc
(phản ánh khoảng cách thời gian rất lớn) của ngữ hệ Nam Đảo giữa các ngôn ngữ
hiện đại ở bán đảo Mã Lai và Sumatra, còn các ngôn ngữ ở Đài Loan và ở
Philippines ắt hẳn đã tách nhau ra chỉ mới gần đây nhưng vẫn nằm trong một ngữ
hệ con duy nhất. Thế nhưng, thực tế là sự phân hóa ngôn ngữ lớn nhất là ở Đài
Loan, trong khi các ngôn ngữ ở bán đảo Mã Lai và ở Indonesia lại nằm trong cùng
một ngữ hệ “cháu”: một nhóm gần đây thuộc ngữ hệ con Tây Mã Lai-Polynesia, ngữ
hệ con này đến lượt mình lại là một nhóm tương đối gần đây thuộc ngữ hệ Mã
Lai-Polynesia. Các chi tiết về mối quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ này hoàn
toàn trùng hợp với bằng chứng khảo cổ rằng việc di cư đến bán đảo Mã Lai chỉ mới
diễn ra gần đây và diễn ra sau chứ không phải trước việc di cư đến Đài Loan,
Philippines và Indonesia.
Sự trùng hợp khác giữa bằng chứng khảo cổ và bằng chứng ngôn
ngữ liên quan đến rào cản văn hóa mà những người Nam Đảo cổ đại từng sử dụng.
Khoa khảo cổ cho ta bằng chứng trực tiếp về văn hóa dưới dạng đồ gốm, xương lợn,
xương cá, v.v. Thoạt tiên, ta có thể tự hỏi làm cách nào các nhà ngôn ngữ học –
vốn chỉ nghiên cứu các ngôn ngữ đương đại, còn dạng thức thủy tổ của các ngôn
ngữ đó vào thời đại chưa có văn tự thì họ không hề biết – lại có thể hình dung
được liệu những người Nam Đảo sống ở Đài Loan vào 6.000 năm trước có nuôi lợn
hay không. Giải pháp [của họ] là phục dựng hệ ngữ vựng của các ngôn ngữ cổ đại
đã biến mất (cái gọi là nguyên ngôn ngữ, protolanguage) bằng cách so sánh hệ ngữ
vựng của các ngôn ngữ vốn bắt nguồn từ chúng.
Chẳng hạn, các từ có nghĩa là “cừu” trong nhiều ngôn ngữ thuộc
ngữ hệ Ấn-Âu phân bố từ Ailen đến Ấn Độ khá là giống nhau: “avis” trong tiếng
Lithuania và tiếng Sanskrit, “ovis” trong tiếng La Tinh, “oveja” trong tiếng
Tây Ban Nha, “ovtsa” trong tiếng Nga, “owis” trong tiếng Hy Lạp và “oi” trong
tiếng Ailen. (Từ “sheep” trong tiếng Anh rõ ràng là từ một gốc khác, nhưng tiếng
Anh vẫn còn giữ lại gốc nguyên thủy ở từ “ewe” cũng có nghĩa là cừu). So sánh sự
chuyển hóa âm mà các ngôn ngữ Ấn-Âu hiện đại đã trải qua trong lịch sử, ta có
thể suy ra rằng dạng gốc là “owis” trong ngôn ngữ Ấn-Âu nguyên thủy đã được
dùng vào khoảng 6.000 năm trước. Ngôn ngữ thủy tổ bất thành văn đó được gọi là
tiếng Nguyên Ấn Âu (Proto-Indo-European).
Rõ ràng người Nguyên Ấn Âu vào 6.000 năm trước đã có nuôi cừu,
phù hợp với bằng chứng khảo cổ. Tương tự, chúng ta có thể phục dựng gần 2.000 từ
trong ngữ vựng của họ, trong đó có các từ như “dê”, “ngựa”, “bánh xe”, “anh
(em)” và “mắt”. Nhưng không thể nào phục dựng được từ Nguyên Ấn Âu nào cho chữ
“súng” chẳng hạn, bởi từ này trong mỗi ngôn ngữ Ấn-Âu ngày nay dùng một gốc
khác nhau: “gun” trong tiếng Anh, “fusil” trong tiếng Pháp, “ruzhyo” trong tiếng
Nga, v.v. Điều đó chẳng có gì lạ: con người cách đây 6.000 năm không thể nào có
một từ để gọi cây súng cả, bởi súng chỉ được phát minh trong vòng 1.000 năm trở
lại đây. Chính vì không được thừa hưởng một gốc từ chung nào có nghĩa là
“súng”, mỗi ngôn ngữ Ấn-Âu mới phải chế ra hoặc vay mượn một từ để gọi khi cây
súng được phát minh.
Cũng theo cách đó ta có thể so sánh tiếng Đài Loan, tiếng
Philippines, tiếng Indonesia và các ngôn ngữ Polynesia hiện đại nhằm phục dựng
một ngôn ngữ Nguyên Nam Đảo từng được dùng trong quá khứ xa xôi. Chẳng có gì lạ
rằng tiếng Nguyên Nam Đảo được phục dựng đó có những từ mang các nghĩa như
“hai”, “chim”, “tai” và “chấy”: dĩ nhiên là những người Nguyên Nam Đảo biết đếm
đến hai, đã biết tới chim, có tai và có chấy. Song điều thú vị hơn là ngôn ngữ
được phục dựng này có những từ để gọi “lợn”, “chó” và “lúa”, những thứ ắt hẳn
đã là một phần của văn hóa Nguyên Nam Đảo. Ngôn ngữ phục dựng đó đầy rẫy những
từ biểu thị một nền kinh tế dựa trên nghề biển, như “thuyền chèo”, “buồm”, “sò
lớn”, “bạch tuộc”, “bẫy cá” và “rùa biển”. Bằng chứng ngôn ngữ này về văn hóa của
người Nguyên Nam Đảo, cho dù họ đã sống vào thời nào và ở nơi nào, thật trùng
khớp với bằng chứng khảo cổ về những người biết làm đồ gốm, biết sản xuất lương
thực và định hướng theo nghề biển của những người sống ở Đài Loan vào khoảng
6.000 năm trước.
Cũng có thể áp dụng đúng quy trình đó nhằm phục dựng tiếng
Nguyên Mã Lai-Polynesia, ngôn ngữ cổ đại từng được những người Nam Đảo sử dụng
sau khi di cư khỏi Đài Loan. Tiếng Nguyên Mã Lai-Polynesia có từ để gọi nhiều
loại cây trồng nhiệt đới như khoai sọ, quả mì, chuối, khoai lang và dừa, trong
khi với tiếng Nguyên Nam Đảo người ta không thể phục dựng từ nào để gọi các cây
này. Như vậy, bằng chứng ngôn ngữ gợi ý rằng nhiều loại cây trồng nhiệt đới đã
được bổ sung vào danh mục cây trồng của người Nam Đảo sau khi họ di cư từ Đài
Loan. Kết luận này tương hợp với bằng chứng khảo cổ: khi các nhà nông Nam Đảo
di cư từ Đài Loan (nằm cách xích đạo 23 độ về phía bắc) về phía nam đến vùng
nhiệt đới xích đạo, họ ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các loài cây củ nhiệt
đới và mang theo các loài này trong quá trình di cư sang các đảo Thái Bình
Dương nhiệt đới.
Làm thế nào những nhà nông nói tiếng Nam Đảo xuất phát từ Nam
Trung Quốc thông qua Đài Loan đó đã chiếm chỗ những người săn bắt hái lượm
nguyên thủy ở Philippines và đông Indonesia một cách triệt để đến mức chẳng có
bao nhiêu bằng chứng di truyền và thậm chí không một chút bằng chứng nào về
ngôn ngữ từ dân tộc nguyên thủy đó còn lại đến ngày nay? Nguyên nhân ở đây cũng
giống như nguyên nhân tại sao trước đó người châu Âu đã chiếm chỗ hoặc tiêu diệt
người Australia bản địa trong vòng hai thế kỷ trở lại đây, tại sao người Nam
Trung Quốc đã chiếm chỗ những người Đông Nam Á nhiệt đới bản địa: những nhà
nông đó có dân số đông hơn nhiều, có công cụ và vũ khí ưu việt hơn, phương tiện
đi biển và kỹ năng hàng hải phát triển hơn, và những căn bệnh truyền nhiễm mà
các nông dân đó có ít nhiều kháng thể trong khi những người săn bắt hái lượm
kia thì không. Tương tự, trên lục địa châu Á, các nhà nông nói tiếng Nam Đảo
cũng đã chiếm chỗ của một số những người săn bắt hái lượm nguyên thủy trên bán
đảo Mã Lai, bởi những người Nam Đảo đến chiếm cứ bán đảo này từ phía nam và
phía đông (từ các đảo Sumatra và Borneo của Indonesia) cũng vào khoảng thời
gian khi các nhà nông nói tiếng Nam Á đang tiến vào chiếm cứ bán đảo này từ
phía bắc (từ Thái Lan). Những người Nam Đảo khác thì đến định cư ở một số vùng
của Nam Việt Nam và Campuchia để trở thành tổ tiên của dân tộc Chăm thiểu số ở
các nước đó ngày nay.
Tuy nhiên, các nhà nông Nam Đảo đã không thể bành trướng xa
hơn vào nội địa Đông Nam Á bởi các nhà nông Nam Á và Thái-Kadai đã chiếm chỗ những
người săn bắt hái lượm bản địa ở đó từ trước rồi, trong khi các nhà nông Nam Đảo
chẳng có ưu thế nổi bật nào so với các nhà nông Nam Á và Thái-Kadai cả. Mặc dù
ta suy ra rằng những người nói tiếng Nam Đảo đã xuất phát từ vùng duyên hải Nam
Trung Quốc, nhưng các ngôn ngữ Nam Đảo ngày nay không hề được sử dụng ở bất cứ
đâu trong nội địa Trung Quốc, có lẽ vì chúng nằm trong số hàng trăm ngôn ngữ
nguyên thủy của Trung Quốc vốn đã bị loại bỏ trong quá trình bành trướng của những
người nói tiếng Hán-Tạng [từ lưu vực Hoàng Hà ở phía bắc, ND] về phía nam. Song
các ngữ hệ gần gũi nhất với ngôn ngữ Nam Đảo lại được cho là ngữ hệ Thái-Kadai,
Nam Á và Mèo-Dao. Như vậy, tuy các ngôn ngữ Nam Đảo ở Trung Quốc có thể đã
không sống nổi qua những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến Trung Quốc,
nhưng một số ngôn ngữ anh em của chúng thì đã sống sót được.
Chúng ta đã dõi theo những giai đoạn đầu tiên của cuộc bành
trướng của người Nam Đảo từ duyên hải Nam Trung Quốc ra xa 2.500 dặm (3.200 km)
về phía nam, ngang qua Đài Loan và quần đảo Philippines, đến phía tây và trung
Indonesia. Trong quá trình bành trướng đó, người Nam Đảo đã dần dần chiếm cứ bất
kỳ khu vực nào có thể sinh sống được trên các đảo này, từ vùng duyên hải cho đến
sâu trong nội địa, từ đất thấp cho đến núi cao. Cho đến 1.500 năm TCN, những di
tích khảo cổ quen thuộc đặc thù của họ gồm xương lợn và đồ gốm trơn men đỏ cho
thấy họ đã vươn tới đảo Halmahera ở phía tây Indonesia, cách chỏm cực tây hòn đảo
lớn đầy núi non New Guinea chưa đầy 200 dặm (320 km). Họ có đã tiến lên chinh
phục cả hòn đảo đó như đã chinh phục những hòn đảo lớn đầy núi non khác là
Celebes, Borneo, Java và Sumatra hay không?
Họ đã không làm vậy – chỉ cần nhìn qua nét mặt của hầu hết
người New Guinea ngày nay là đủ rõ, và các nghiên cứu chi tiết về New Guinea
cũng xác nhận điều đó. Bạn Wiwor của tôi và tất cả dân vùng cao New Guinea khác
đều khác biệt thấy rõ so với người Indonesia, người Philippines và người Nam
Trung Quốc ở chỗ nước da thẫm, tóc xoăn tít và nét mặt. Hầu hết dân nội địa và
dân vùng duyên hải New Guinea trông cũng giống dân vùng cao, có khác chăng là họ
thường cao hơn. Các nhà di truyền học đã không tìm được dấu chỉ di truyền Nam Đảo
nào trong các mẫu máu của dân vùng cao New Guinea.
Nhưng các dân tộc ở miền duyên hải phía bắc và đông New
Guinea, cũng như ở các quần đảo Bismarck và Solomon về phía bắc và đông New
Guinea, lại bày ra một bức tranh phức tạp hơn. Về ngoại hình, họ là một thể
trung gian giữa những người vùng cao New Guinea như Wiwor với những người
Indonesia như Achmad, tuy rằng nhìn chung họ gần với Wiwor hơn. Chẳng hạn, anh
bạn Sauakari của tôi là dân miền duyên hải phía bắc có mái tóc lượn sóng, một
thể trung gian giữa mái tóc thẳng của Achmad với mái tóc xoăn tít của Wiwor, da
thì sáng hơn da Wiwor chút ít tuy vẫn thẫm hơn nhiều so với da Achmad. Về mặt
di truyền, cư dân các quần đảo Bismarck và Solomon cũng như dân miền duyên hải
phía bắc New Guinea giống người Nam Đảo khoảng 15%, còn lại 85% là giống dân
vùng cao New Guinea. Từ đó suy ra, người Nam Đảo rõ ràng đã đặt chân đến khu vực
New Guinea nhưng đã không hoàn toàn thâm nhập được vào nội địa đảo này và đã bị
pha loãng về di truyền bởi những cư dân New Guinea sinh sống trên vùng duyên hải
phía bắc và các đảo lân cận từ trước đó.
Các ngôn ngữ hiện đại [ở khu vực này, ND] cũng đưa đến cùng một
kết luận đó nhưng bổ sung thêm chi tiết. Ở Chương 15 tôi đã giải thích rằng hầu
hết các ngôn ngữ New Guinea, được gọi là ngôn ngữ Papua, chẳng có liên hệ với bất
cứ ngữ hệ nào khác trên thế giới. Không hề có ngoại lệ, mọi ngôn ngữ được nói
trên vùng núi New Guinea, toàn bộ vùng đất thấp ở tây nam và trung-nam New
Guinea kể cả vùng duyên hải và vùng nội địa phía bắc New Guinea đều là ngôn ngữ
Papua. Song các ngôn ngữ Nam Đảo lại được nói trong phạm vi một dải hẹp nằm
ngay trên miền duyên hải phía bắc và phía đông nam. Hầu hết ngôn ngữ ở các quần
đảo Bismarck và Solomon là ngôn ngữ Nam Đảo, còn ngôn ngữ Papua chỉ được nói ở
một số khu vực cách biệt trên vài đảo mà thôi.
Các ngôn ngữ Nam Đảo được nói ở các quần đảo Bismarck và
Solomon cũng như vùng duyên hải phía bắc New Guinea là một ngữ hệ “cháu” riêng
biệt gọi là nhóm Đại dương (Oceanic) thuộc về một ngữ hệ “con” được sử dụng ở
Halmahera và vùng phía tây New Guinea. Mối liên hệ về ngôn ngữ này xác nhận điều
mà ta có thể giả định khi nhìn trên bản đồ, rằng những người nói ngôn ngữ Nam Đảo
ở khu vực New Guinea đã đặt chân đến đây qua ngả Halmahera. Các chi tiết về
ngôn ngữ Nam Đảo và ngôn ngữ Papua cũng như sự phân bố chúng ở Bắc New Guinea
minh chứng cho quá trình tiếp xúc lâu dài giữa những người Nam Đảo đến xâm chiếm
vùng này với những người bản địa nói tiếng Papua. Cả ngôn ngữ Nam Đảo lẫn ngôn
ngữ Papua ở vùng này đều cho thấy chúng chịu ảnh hưởng to lớn của nhau về từ vựng
và ngữ pháp, khiến cho khó mà xác định liệu có phải một số ngôn ngữ nào đó về
căn bản là tiếng Nam Đảo song chịu ảnh hưởng của tiếng Papua hay ngược lại. Nếu
du hành từ làng này đến làng khác dọc theo miền duyên hải phía bắc hoặc các hòn
đảo dọc theo bờ biển, ta sẽ đi qua đầu tiên là một làng nói tiếng Nam Đảo kế đó
là một làng nói tiếng Papua, sau đó lại một làng khác nói tiếng Nam Đảo mà
không hề có sự thay đổi nào về đặc điểm di truyền ở những nơi giáp ranh giữa
hai ngôn ngữ đó.
Những điều nói trên gợi ý rằng hậu duệ người Nam Đảo và hậu
duệ của cư dân nguyên thủy ở New Guinea đã trao đổi hàng hóa, kết hôn với nhau
và tiếp thu gen di truyền cũng như ngôn ngữ của nhau trong suốt mấy ngàn năm dọc
theo vùng duyên hải Bắc New Guinea và các hòn đảo lân cận. Sự tiếp xúc lâu dài
đó đã khiến cho các ngôn ngữ Nam Đảo được phát tán hữu hiệu hơn so với gen di
truyền Nam Đảo, kết quả là hầu hết cư dân quần đảo Bismarck và Solomon ngày nay
nói tiếng Nam Đảo cho dẫu ngoại hình và hầu hết gen của họ vẫn là của người
Papua. Song không một gen nào cũng không một ngôn ngữ nào của người Nam Đảo
thâm nhập vào được nội địa New Guinea. Như vậy, việc người Nam Đảo xâm chiếm
New Guinea đã mang lại kết quả khác hẳn so với khi họ xâm chiếm Borneo, Celebes
và các hòn đảo lớn khác của Indonesia, nơi mà thế lực áp đảo của họ đã loại bỏ
hầu như mọi dấu vết về gen di truyền và ngôn ngữ của những cư dân có mặt ở các
đảo này từ trước đó. Để hiểu hơn những gì đã xảy ra ở New Guinea, giờ chúng ta
hãy quay lại bằng chứng của ngành khảo cổ.
Vào khoảng 1.600 năm TCN, hầu như cùng một lúc với khi xuất
hiện ở Halmahera, những dấu tích khảo cổ quen thuộc về sự bành trướng của người
Nam Đảo – lợn, gà, chó, đồ gốm trơn men đỏ, rìu lưỡi vòm bằng đá mài và bằng vỏ
sò khổng lồ – cũng xuất hiện ở khu vực New Guinea. Tuy nhiên, có hai nét đặc
thù khiến cho thời điểm người Nam Đảo đặt chân đến New Guinea khác với thời điểm
họ đặt chân đến Philippines và Indonesia trước đó.
Nét đặc thù thứ nhất là kiểu dáng đồ gốm, vốn là những đặc điểm
thẩm mỹ không có ý nghĩa gì về mặt kinh tế song lại khiến các nhà khảo cổ nhận
ra ngay lập tức đâu là một di chỉ Nam Đảo. Trong khi hầu hết đồ gốm Nam Đảo ở
Philippines và Indonesia ở giai đoạn sớm đều không có trang trí, thì đồ gốm ở
khu vực New Guinea lại được trang trí đẹp đẽ bằng những hoa văn hình học bố trí
thành từng dải ngang. Về những phương diện khác, đồ gốm này vẫn giữ nguyên nước
áo màu đỏ và hình dạng đặc thù của đồ gốm Nam Đảo xưa hơn ở Indonesia. Rõ ràng
là những người Nam Đảo định cư ở khu vực New Guinea đã nảy ra ý tưởng “xăm
hình” lên đồ gốm, hẳn là được gợi ý từ những họa tiết hình học họ vẫn dùng để
trang trí vải bằng vỏ cây và xăm lên mình. Phong cách này được gọi là đồ gốm
Lapita, đặt theo tên di chỉ khảo cổ Lapita nơi nó được mô tả.
Nét đặc thù quan trọng hơn nhiều mang lại sự khác biệt của
các di chỉ Nam Đảo sớm ở khu vực New Guinea là sự phân bố của chúng. Ngược lại
với các di chỉ ở Philippines và Indonesia, nơi mà ngay cả di chỉ Nam Đảo sớm nhất
ta đã biết đều ở trên các hòn đảo lớn như Luzon, Borneo và Celebes, các di chỉ
có đồ gốm Lapita ở khu vực New Guinea hình như chỉ bó hẹp trên những hòn đảo nhỏ
ven các hòn đảo lớn hơn ở ngoài xa. Đến nay người ta chỉ tìm thấy đồ gốm Lapita
ở một di chỉ duy nhất (Aitape) trên bờ phía bắc của bản thân đảo New Guinea và ở
một vài di chỉ trên quần đảo Solomon. Hầu hết di chỉ Lapita ở khu vực New
Guinea đều nằm trên quần đảo Bismarck, trên những hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi
các hòn đảo lớn hơn của quần đảo này, đôi khi cũng nằm trên bờ của bản thân các
hòn đảo lớn hơn đó. Bởi (như ta sẽ thấy) những người làm ra đồ gốm Lapita có khả
năng đi biển xa hàng ngàn dặm, nên việc họ đã không di chuyển làng mình thêm
vài dặm đến các hòn đảo lớn hơn trong quần đảo Bismarck hoặc thêm vài chục dặm
đến New Guinea rõ ràng không phải là vì họ không có khả năng đi đến đó.
Chúng ta có thể phục dựng cơ sở tồn tại của đồ gốm Lapita từ
những đống rác mà các nhà khảo cổ khai quật được ở các di chỉ Lapita. Người
Lapita sống chủ yếu dựa vào hải sản gồm cá, cá heo, rùa biển, cá mập và sò ốc.
Họ nuôi lợn, gà và chó, và cũng ăn quả hay hạt của nhiều loại cây (trong đó có
dừa). Tuy có thể họ cũng ăn những loại cây cho củ thường gặp ở người Nam Đảo
như khoai sọ và khoai lang, song khó lòng thu thập được bằng chứng về các loài
cây đó bởi các loại hạt cứng có thể tồn tại hàng ngàn năm trong các đống rác thải
dễ hơn nhiều so với các loại củ mềm.
Lẽ tự nhiên, không thể chứng minh một cách trực tiếp rằng những
người làm ra đồ gốm Lapita đã nói một ngôn ngữ thuộc nhóm Nam Đảo. Tuy nhiên,
có hai sự kiện khiến suy luận này hầu như là chắc chắn. Thứ nhất, ngoài những họa
tiết trang trí trên đồ gốm, thì bản thân các đồ gốm đó cùng các vật thể văn hóa
đi cùng với chúng cũng tương tự như các di tích văn hóa tìm thấy ở các di chỉ
Indonesia và Philippines vốn là tổ tiên của các xã hội dùng ngôn ngữ Nam Đảo
ngày nay. Thứ hai, đồ gốm Lapita cũng xuất hiện ở các hòn đảo Thái Bình Dương
xa xôi nơi trước đó chưa có người ở, cũng không có bằng chứng nào cho thấy đã
có một làn sóng di cư lớn thứ hai nào sau làn sóng đã mang đồ gốm Lapita đến
các đảo này, và cư dân ở các đảo đó ngày nay dùng ngôn ngữ Nam Đảo (ở đoạn sau
sẽ nói thêm về việc này). Từ đó có thể giả định [mà không sợ hồ đồ] rằng đồ gốm
Lapita đã đánh dấu việc người Nam Đảo đặt chân đến khu vực New Guinea.
Những người đã nặn ra đồ gốm Nam Đảo đó làm gì trên các hòn đảo
nhỏ nằm cạnh các hòn đảo lớn hơn kia? Ắt hẳn là họ cũng sống theo cách giống
như những người làm đồ gốm hiện đại sống trên các hòn đảo nhỏ trong khu vực New
Guinea cho mãi tới gần đây. Vào năm 1972 tôi đã ghé thăm một hòn đảo như vậy
trên đảo Mã Lai thuộc nhóm đảo Siassi ngoài khơi hòn đảo cỡ trung Umboi, đảo
này lại nằm ngoài khơi hòn đảo lớn hơn là New Britain thuộc quần đảo Bismarck.
Khi đặt chân lên đảo Mã Lai để tìm chim mà không hề biết tí gì về những người sống
ở đó, tôi đã sửng sốt khi nhìn thấy quang cảnh trước mắt mình. Thay vì cảnh tượng
thường thấy với những ngôi làng nhỏ gồm các căn lều thấp lè tè vây quanh, tôi
thấy những khu vườn rộng đủ nuôi sống cả làng và dăm chiếc thuyền được kéo lên
bãi cát, chiếm lĩnh hầu hết diện tích đảo Mã Lai là những căn nhà hai tầng bằng
gỗ san sát bên nhau, chẳng còn để lại mảnh đất nào để làm vườn tược – đối với
New Guinea cảnh này cũng tương đương như khu buôn bán Manhattan vậy. Trên bờ biển
là những chiếc thuyền lớn xếp hàng dài. Hóa ra dân đảo Mã Lai không chỉ là dân
đánh cá mà còn là dân đồ gốm, dân chạm khắc gỗ và dân buôn bán, sống bằng nghề
làm những đồ gốm và bát gỗ trang trí đẹp rồi vận chuyển bằng thuyền đến các đảo
lớn hơn đặng đổi lấy lợn, chó, rau và các nhu yếu phẩm khác. Ngay cả gỗ để đóng
thuyền Mã Lai cũng có được bằng cách trao đổi với hòn đảo Umboi bên cạnh, bởi
Mã Lai không có những cây đủ lớn để đẽo thành thuyền.
Vào thời trước khi có tàu biển của người Âu, việc trao đổi
hàng qua lại giữa các hòn đảo trong khu vực New Guinea hoàn toàn nằm trong tay
các nhóm chuyên gia gồm những người làm đồ gốm song biết cả đóng thuyền ấy, những
người có thể đi biển mà không cần dụng cụ dẫn đường và sống trên những hòn đảo
nhỏ xa bờ, thi thoảng mới sống trong những làng mạc dọc bờ biển trong nội địa.
Cho tới khi tôi đặt chân đến Mã Lai vào năm 1972, những mạng lưới giao thương bản
địa đó đã sụp đổ hoặc đã bị thu hẹp, một phần bởi sự cạnh tranh của những chiếc
thuyền có động cơ và vật dụng bằng nhôm của châu Âu, một phần bởi chính phủ thuộc
địa Australia cấm chỉ việc đi biển đường dài bằng thuyền sau khi xảy ra một số
tai nạn khiến dân buôn chết đuối. Tôi phỏng đoán rằng những người làm ra đồ gốm
Lapita chính là các nhà buôn xuyên đảo ở khu vực New Guinea trong các thế kỷ từ
sau năm 1.600 TCN.
Sự bành trướng của các ngôn ngữ Nam Đảo lên bờ biển phía bắc
của bản thân New Guinea và thậm chí lên các hòn đảo lớn nhất của quần đảo
Bismarck và quần đảo Solomon ắt hẳn đã diễn ra hầu hết sau thời đại Lapita, bởi
bản thân các di chỉ Lapita chỉ tập trung trên những đảo nhỏ của quần đảo
Bismarck mà thôi. Mãi đến khoảng năm 1 thì đồ gốm phát sinh từ phong cách
Lapita mới xuất hiện trên mạn nam của bán đảo phía đông nam New Guinea. Khi người
châu Âu bắt đầu khai phá New Guinea vào cuối thế kỷ XIX, toàn bộ phần còn lại của
miền duyên hải phía nam New Guinea vẫn chỉ có những người nói tiếng Papua sinh
sống, cho dù những quần thể nói tiếng Nam Đảo đã an cư không chỉ ở bán đảo phía
đông nam mà cả trên các đảo Aru và đảo Kei (cách bờ nam vùng phía tây New
Guinea khoảng 70 đến 80 dặm – khoảng 110 đến 128 km). Như vậy, người Nam Đảo đã
có đến hàng ngàn năm để có thể chiếm lĩnh vùng nội địa New Guinea và vùng duyên
hải phía nam đảo này từ những căn cứ ở gần đó, song họ đã chẳng bao giờ làm vậy.
Ngay cả dù họ đã chiếm lĩnh dải ven biển Bắc New Guinea, ấy cũng là về mặt ngôn
ngữ hơn là về mặt di truyền: toàn bộ cư dân vùng duyên hải Bắc New Guinea về mặt
di truyền vẫn cứ là người New Guinea. Giỏi lắm thì cũng chỉ một số người tiếp
thu ngôn ngữ Nam Đảo, chắc là để trao đổi với các nhà buôn đường dài, những kẻ
[đóng vai trò] cầu nối giữa các xã hội.
Như vậy, hậu quả việc người Nam Đảo bành trướng sang khu vực
New Guinea ngược hẳn lại với khi họ bành trướng sang Indonesia và Philippines. Ở
hai khu vực sau, cư dân bản địa trước đó đã biến mất – có lẽ họ đã bị xua đuổi,
bị giết chết, bị nhiễm bệnh mà chết, hoặc đã bị đồng hóa hoàn toàn vào những kẻ
xâm lăng. Trong khi đó, ở New Guinea, cư dân bản địa hầu như không cho phép kẻ
xâm lăng bén mảng vào lãnh thổ của mình. Trong cả hai trường hợp, kẻ xâm lăng vẫn
là một (người Nam Đảo), còn cư dân bản địa có thể cũng giống nhau về di truyền,
nếu quả thực là cư dân bản địa Indonesia – những kẻ đã bị người Nam Đảo giành
chỗ – có liên hệ với người New Guinea như tôi đã đề xuất trên đây. Tại sao ở mỗi
nơi hậu quả lại một khác như vậy?
Câu trả lời trở nên rõ ràng nếu ta xét đến việc cư dân bản địa
Indonesia và cư dân bản địa New Guinea mỗi bên có một hoàn cảnh văn hóa khác
nhau. Trước khi người Nam Đảo đến, hầu hết Indonesia chỉ có những người săn bắt
hái lượm sinh sống thưa thớt, những người này thậm chí không có cả công cụ bằng
đá có đánh bóng. Ngược lại, nền sản xuất lương thực đã hình thành và phát triển
từ suốt hàng ngàn năm trên vùng cao New Guinea, và có thể ở cả vùng thấp New
Guinea cũng như các quần đảo Bismarck và Solomon nữa. Vùng cao New Guinea đã
nuôi sống một trong những quần thể dân cư dày đặc nhất của thời Đồ đá so với bất
cứ nơi nào khác trên thế giới.
Người Nam Đảo chẳng có bao nhiêu ưu thế để cạnh tranh với những
dân cư New Guinea tự lâu đời kia. Một số loại cây trồng mà người Nam Đảo dùng
làm lương thực chính như khoai sọ, khoai lang và chuối có thể đã được thuần hóa
độc lập ở New Guinea trước khi người Nam Đảo đến vùng này. Người New Guinea đã
rất sẵn lòng tiếp nhận gà, chó và đặc biệt là lợn của người Nam Đảo vào nền
kinh tế sản xuất lương thực của họ. Ít nhất họ cũng đã có công cụ bằng đá có
đánh bóng. Ít nhất họ cũng có sức đề kháng với các bệnh nhiệt đới như người Nam
Đảo, bởi họ cũng mang năm loại cơ chế phòng thủ di truyền kháng bệnh sốt rét
như người Nam Đảo, và một số hoặc tất cả các gen đó đã tiến hóa độc lập ở New
Guinea. Người New Guinea đã là những nhà đi biển thiện nghệ, mặc dù có thể
không thiện nghệ bằng những người làm ra đồ gốm Lapita. Hàng chục ngàn năm trước
khi người Nam Đảo đến, người New Guinea đã chiếm lĩnh các quần đảo Bismarck và
Solomon, và hoạt động trao đổi đá vỏ chai (obsidian, một loại đá núi lửa có thể
dùng để chế tác những công cụ sắc bén) đã rất phát đạt ở quần đảo Bismarck từ
ít nhất 18.000 năm trước khi người Nam Đảo đến. Người New Guinea thậm chí dường
như đã bành trướng về phía tây vào một thời gian khá gần đây theo hướng ngược lại
với làn sóng Nam Đảo, về phía đông Indonesia, nơi các ngôn ngữ được dùng trên
các đảo Bắc Halmahera và đảo Timor là những ngôn ngữ Papua điển hình có họ hàng
với một số ngôn ngữ của miền tây New Guinea.
Nói ngắn gọn, những hậu quả khác nhau từ sự bành trướng của
người Nam Đảo minh chứng hùng hồn cho vai trò của sản xuất lương thực đối với
các luồng di dân của loài người. Những người sản xuất lương thực Nam Đảo đã di
cư đến hai khu vực (New Guinea và Indonesia) nơi các cư dân bản địa có lẽ là có
quan hệ với nhau. Cư dân Indonesia lúc đó vẫn còn là dân săn bắt hái lượm,
trong khi cư dân New Guinea đã biết sản xuất lương thực và đã phát triển được
nhiều yếu tố đi liền với sản xuất lương thực (như mật độ dân số cao, bệnh truyền
nhiễm, công nghệ tiên tiến hơn, vân vân). Kết quả là cuộc bành trướng của người
Nam Đảo đã quét sạch cư dân bản địa Indonesia, thế nhưng người Nam Đảo đã không
tiến xa được bao nhiêu vào khu vực của người New Guinea, cũng như đã không tiến
xa được bao nhiêu vào lãnh thổ của những người Nam Á và người Thái-Kadai vốn
cũng đã biết sản xuất lương thực ở vùng Đông Nam Á.
Đến đây chúng ta đã lần theo cuộc bành trướng của người Nam Đảo
sang toàn bộ Indonesia cho đến các bờ biển New Guinea và Đông Nam Á nhiệt đới. Ở
Chương 19 chúng ta sẽ lần theo cuộc bành trướng đó ngang qua Ấn Độ Dương đến
Madagascar, còn ở Chương 15 chúng ta đã thấy rằng những khó khăn về sinh thái
đã không cho phép người Nam Đảo đứng chân được ở phía bắc và phía tây
Australia. Nhánh còn lại của cuộc bành trướng này đã bắt đầu vào lúc những New
Guinea làm ra đồ gốm Lapita dong buồm mãi xa về phía đông ra Thái Bình Dương
ngoài quần đảo Solomon, tới những hòn đảo trước đó chưa từng có con người đặt
chân lên. Vào khoảng 1.200 năm TCN, các mảnh gốm Lapita, bộ ba quen thuộc gồm lợn,
gà và chó, cũng như các dấu vết khảo cổ quen thuộc khác của người Nam Đảo đã xuất
hiện trên các quần đảo Fiji, Samoa và Tonga thuộc Thái Bình Dương, cách quần đảo
Solomon trên một ngàn dặm (1.600 km, ND) về phía đông. Vào đầu Công nguyên, hầu
hết các dấu vết khảo cổ đó (đáng chú ý là ngoại trừ đồ gốm) cũng xuất hiện trên
các hòn đảo đông Polynesia trong đó có các đảo Societes và Marquesas. Những cuộc
hải hành đường dài bằng thuyền tiếp tục đưa người Nam Đảo về phía bắc đến
Hawaii, về phía đông đến các đảo Pitcairn và đảo Phục Sinh, về phía nam đến New
Zealand. Cư dân của hầu hết các đảo đó ngày nay là người Polynesia, mà người
Polynesia như vậy là hậu duệ trực tiếp của những người làm ra đồ gốm Lapita. Họ
nói các ngôn ngữ Nam Đảo có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ vùng New Guinea,
còn các cây trồng chính của họ vẫn là những cây trồng Nam Đảo quen thuộc gồm
khoai mỡ, khoai lang, chuối, dừa và quả bánh mì.
Với sự chiếm cứ quần đảo Chatham ngoài khơi New Zealand vào
khoảng năm 1400, gần một thế kỷ trước khi những “nhà thám hiểm” châu Âu thâm nhập
vào vùng Thái Bình Dương, thì nhiệm vụ thám hiểm Thái Bình Dương rốt cuộc đã được
hoàn tất bởi người châu Á. Truyền thống thám hiểm của họ, vốn lưu truyền suốt
hàng vạn năm nay, đã khởi đầu từ khi tổ tiên của Wiwor bành trướng ngang qua
Indonesia đến New Guinea và Australia. Cuộc bành trướng đó chỉ kết thúc khi họ
chẳng còn cái đích nào để đến nữa và hầu như bất cứ hòn đảo nào trên Thái Bình
Dương mà con người có thể cư trú được thì họ đã chiếm lĩnh và định cư rồi.
Với bất cứ ai quan tâm đến lịch sử thế giới, các xã hội loài
người ở Đông Á và khu vực Thái Bình Dương cho ta nhiều thông tin quý báu, bởi
chúng cho quá nhiều ví dụ để thấy môi trường có tác động đến nhường nào tới lịch
sử. Tùy theo vị trí địa lý của quê hương bản quán mình, các dân tộc Đông Á và
Thái Bình Dương có cơ hội tiếp cận những loài cây dại và thú hoang có thể thuần
hóa khác hẳn nhau, khả năng tiếp xúc với các dân tộc khác cũng không giống
nhau. Bao giờ cũng vậy, những dân tộc nào có cơ hội tiếp xúc với các loài có thể
thuần hóa – vốn là điều kiện tiên quyết để có thể tiến lên sản xuất lương thực
– cũng như vị trí địa lý thuận lợi để tiếp nhận sự phát tán công nghệ từ các
khu vực khác thì thể nào cũng sẽ chiếm chỗ những dân tộc nào thiếu các lợi thế
kia. Bao giờ cũng vậy, khi một làn sóng di dân duy nhất bành trướng qua nhiều
môi trường khác biệt nhau, thì hậu duệ của họ sẽ phát triển theo những hướng
khác nhau tùy theo [các hậu duệ đó sống trong] môi trường nào.
Chẳng hạn, ta đã thấy rằng vùng Nam Trung Quốc đã phát triển
được sản xuất lương thực và công nghệ bản địa, tiếp thu được chữ viết và thêm
nhiều công nghệ nữa cũng như cơ cấu chính trị từ Bắc Trung Quốc, sau đó tiếp tục
chiếm lĩnh dần Đông Nam Á và Đài Loan, thế chỗ phần lớn cư dân bản địa từ trước
ở các khu vực đó. Trong phạm vi Đông Nam Á, trong số các hậu duệ hoặc họ hàng của
những người sản xuất lương thực từ Nam Trung Quốc di cư đến đó, người Yumbri ở
vùng rừng mưa trên miền núi Bắc Thái Lan và Lào trở lại sống bằng săn bắt hái
lượm, trong khi họ hàng gần gũi của người Yumbri là người Việt Nam (nói một
ngôn ngữ thuộc cùng ngữ hệ con Nam Á như tiếng Yumbri) lại vẫn tiếp tục sản xuất
lương thực ở đồng bằng sông Hồng màu mỡ và thiết lập một vương quốc rộng lớn sử
dụng công cụ bằng kim loại. Tương tự, trong số những nhà nông Nam Đảo di cư đến
từ Đài Loan và Indonesia, người Punan ở vùng rừng mưa trên đảo Borneo buộc phải
quay về lối sống săn bắt hái lượm, trong khi họ hàng của họ trên đảo Java có đất
núi lửa màu mỡ thì vẫn tiếp tục sản xuất lương thực, thành lập một vương quốc
chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, tiếp thu chữ viết và dựng lên ngôi đền Phật giáo vĩ đại
ở Borobudur. Những người Nam Đảo đã tiếp tục di cư đến Polynesia đâm ra bị cách
ly khỏi nghề luyện kim và chữ viết của Đông Á nên [từ đó về sau] vẫn không có
chữ viết hay [công cụ bằng] kim loại. Tuy nhiên, như ta đã thấy ở Chương 2, tổ
chức chính trị và xã hội cũng như các nền kinh tế của bản thân Polynesia cũng
đã [tiến hóa theo] nhiều hướng khác nhau tùy theo môi trường của từng nơi.
Trong vòng một thiên niên kỷ, những người di cư đến Đông Polynesia đã trở lại sống
bằng săn bắt hái lượm trên quần đảo Chatham song lại xây nên một nhà nước sơ
khai với nền sản xuất lương thực thâm canh trên đảo Hawaii.
Khi rốt cuộc người châu Âu đặt chân đến, ưu thế về công nghệ
và những ưu thế khác của họ đã khiến họ có thể tạm thời thuộc địa hóa hầu hết
vùng Đông Nam Á nhiệt đới và các đảo Thái Bình Dương. Tuy nhiên, các vi trùng bản
địa và những người sản xuất lương thực bản địa đã ngăn không cho người châu Âu
định cư ở hầu hết khu vực của họ với số lượng lớn. Trong khu vực này, duy chỉ
New Zealand, New Caledonia và Hawaii – hòn đảo lớn nhất và xa nhất, cách xa
xích đạo nhất và do đó gần với khí hậu ôn đới (giống châu Âu) nhất – ngày nay
là có đông người châu Âu sinh sống mà thôi. Như vậy, khác Australia và châu Mỹ,
Đông Á và hầu hết đảo các Thái Bình Dương ngày nay vẫn là nơi cư trú của các
dân tộc Đông Á và dân tộc Thái Bình Dương.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 18 - Đụng độ giữa hai bán cầu
Trong tất cả các trường hợp nhóm người này giành chỗ nhóm người
khác thì trường hợp có quy mô lớn nhất trong 13.000 năm trở lại đây là cuộc đụng
độ gần đây giữa các xã hội Cựu Thế giới với các xã hội Tân Thế giới. Khoảnh khắc
bi kịch và mang tính quyết định nhất của cuộc xung đột đó, như ta đã thấy ở
Chương 3, xảy ra khi đội quân nhỏ bé của Pizarro bắt sống hoàng đế Atahualpa của
đế quốc Inca, nhà lãnh đạo tuyệt đối của nhà nước lớn nhất, giàu có nhất, đông
dân nhất và tiên tiến nhất về hành chính cũng như công nghệ của người châu Mỹ bản
địa. Sự kiện bắt sống Atahualpa là biểu tượng cho việc người châu Âu chinh phục
châu Mỹ, bởi cũng chính các nhân tố trực tiếp dẫn tới sự kiện đó hợp lại cũng
là nguyên nhân khiến người châu Âu chinh phục được các xã hội châu Mỹ bản địa
khác. Giờ ta hãy quay lại cuộc xung đột đó giữa hai bán cầu, áp dụng những gì
ta đã biết được kể từ Chương 3. Câu hỏi cơ bản cần phải trả lời là: tại sao người
châu Âu đến được và chinh phục được xứ sở của người châu Mỹ bản địa chứ không
phải ngược lại? Điểm xuất phát của chúng ta sẽ là so sánh các xã hội Âu-Á với
các xã hội châu Mỹ bản địa tại thời điểm năm 1492, năm mà Columbus “phát hiện”
ra châu Mỹ.
Chúng ta bắt đầu so sánh từ chỗ sản xuất lương thực, nhân tố
có tính quyết định đối với quy mô của quần thể dân cư và độ phức tạp của xã hội,
do đó là nhân tố tối hậu quyết định khả năng chinh phục. Khác biệt nổi bật nhất
giữa sản xuất lương thực châu Mỹ với sản xuất lương thực Âu-Á là ở các loài hữu
nhũ thuần hóa lớn. Ở Chương 9 chúng ta đã gặp 13 loài của Âu-Á vốn đã trở thành
nguồn chính cung cấp cho lục địa này protein động vật (thịt và sữa), len, da,
phương tiện chính để vận chuyển người và hàng hóa, phương tiện chiến tranh
không thể thiếu, và nhân tố quan trọng làm tăng năng suất cây trồng (bằng cách
kéo cày và cung cấp phân bón). Cho đến khi bánh xe quay bằng sức nước và cối
xay gió bắt đầu thay thế cho sức của các loài hữu nhũ ở Âu-Á vào thời trung đại,
chúng cũng còn là nguồn chính cung cấp sức mạnh “công nghiệp” ngoài lực cơ bắp
của con người, chẳng hạn như để xoay đá mài và vận hành máy nâng dùng sức nước.
Ngược lại, châu Mỹ chỉ có mỗi một loài hữu nhũ thuần hóa lớn là lạc đà châu Mỹ
(llama/alpaca), đã vậy loài này chỉ bó hẹp ở một khu vực nhỏ là vùng Andes và
vùng duyên hải Peru lân cận. Tuy loài này được dùng để cho thịt, len, da và
phương tiện vận chuyển, song nó chẳng bao giờ cho sữa để con người tiêu thụ, chẳng
bao giờ được dùng để cưỡi, chẳng bao giờ kéo xe hoặc kéo cày, và chẳng bao giờ
được dùng làm nguồn sinh công hay phương tiện chiến tranh.
Ấy là cả một loạt những khác biệt giữa các xã hội Âu-Á với
các xã hội châu Mỹ bản địa – phần lớn là bởi hầu hết các loài hữu nhũ hoang dã
lớn ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ đã tuyệt chủng (hay bị tiêu diệt?) vào cuối Kỷ
Pleitoxen. Giá như không có những sự tuyệt chủng đó thì lịch sử hiện đại rất có
thể đã diễn ra theo một chiều hướng khác. Giá như vậy thì lúc Cortés và đoàn
thám hiểm lôi thôi lếch thếch của ông ta đổ bộ lên bờ biển Mexico vào năm 1519,
ắt hẳn họ đã ngợp lút giữa hàng ngàn kỵ binh Aztec cưỡi trên những con ngựa
châu Mỹ bản địa được thuần hóa. Thay vì người Aztec chết vì bệnh đậu mùa, người
Tây Ban Nha ắt sẽ bị quét sạch bởi các vi trùng châu Mỹ do những người Aztec đã
có kháng thể truyền sang. Các nền văn minh châu Mỹ dựa trên sức loài vật ắt hẳn
đã cử những đoàn quân chinh phục của mình sang làm cỏ châu Âu. Song những hệ quả
giả định đó đã không xảy ra bởi các loài hữu nhũ đã bị tuyệt chủng ở châu Mỹ từ
hàng ngàn năm trước.
Những sự tuyệt chủng đó đã khiến Âu-Á có nhiều loài hoang dã
có thể thuần hóa hơn gấp bội so với châu Mỹ. Hầu hết các ứng viên này bị loại
khỏi danh sách có thể thuần hóa bởi một nguyên nhân bất kỳ trong sáu nguyên
nhân. Do vậy mà rốt cuộc Âu-Á còn lại 13 loài hữu nhũ lớn được thuần hóa, còn
châu Mỹ chỉ có vỏn vẹn một loài. Cả hai bán cầu đều có những loài chim và loài
hữu nhũ nhỏ được thuần hóa – như ở châu Mỹ là gà tây, chuột ghinê và vịt
Muscovy ở phạm vi rất hẹp còn chó thì phổ biến hơn, còn ở Âu-Á là gà, ngỗng, vịt,
mèo, chó, thỏ, ong mật, tằm và vài loài khác. Nhưng tầm quan trọng của tất cả
các loài thuần hóa nhỏ đó chẳng là bao so với tầm quan trọng của các loài hữu
nhũ lớn.
Âu-Á và châu Mỹ cũng khác nhau ở nghề trồng trọt, mặc dù sự
khác nhau ở đây không lớn như ở chăn nuôi. Vào năm 1492, trồng trọt đã phổ biến
trên toàn bộ Âu-Á. Trong số ít ỏi các dân tộc săn bắt hái lượm không có cả cây
trồng lẫn vật nuôi ở Âu-Á có những người Ainu ở Bắc Nhật Bản, các xã hội
Siberia không có hươu, và những nhóm nhỏ sống rải rác khắp những cánh rừng Ấn Độ
và Đông Nam Á nhiệt đới sống bằng săn bắt hái lượm và trao đổi với các nhà nông
láng giềng. Một số dân tộc Âu-Á khác, đặc biệt là những dân tộc du mục Trung Á
và các dân tộc chăn nuôi tuần lộc ở Bắc cực là người Lapp và người Samoyed thì
có chăn nuôi gia súc nhưng ít hoặc không trồng trọt gì. Hầu như tất cả các xã hội
Âu-Á khác đều có cả trồng trọt lẫn chăn nuôi.
Nông nghiệp cũng phổ biến ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ, song những người
săn bắt hái lượm vẫn chiếm lĩnh một phần lớn diện tích châu Mỹ so với ở Âu-Á.
Các khu vực không hề có sản xuất lương thực ở châu Mỹ bao gồm toàn bộ vùng phía
bắc của Bắc Mỹ và phía nam của Nam Mỹ, vùng Đồng bằng Lớn Canada, và toàn bộ
phía tây Bắc Mỹ ngoại trừ vài vùng nhỏ ở phía tây nam Hoa Kỳ nơi có nghề nông
tưới tiêu. Điều đáng ngạc nhiên là những khu vực không có sản xuất lương thực ở
châu Mỹ bản địa vào thời đó bao gồm cả những vùng mà ngày nay, sau khi người
châu Âu đến Bắc Mỹ, đã trở thành những vựa lúa mì và bãi chăn thả trù phú nhất
của cả Bắc Mỹ lẫn Nam Mỹ: các bang ven bờ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, dải lúa
mì của Canada, đồng bằng pampa của Argentina và vùng khí hậu Địa Trung Hải của
Chile. Sở dĩ các vùng này xưa kia không có sản xuất lương thực chẳng qua là bởi
các vùng này khan hiếm những loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa, cũng
như vì các rào cản địa lý và sinh thái ngăn không cho các loài cây trồng và dăm
ba loài vật nuôi ít ỏi ở những vùng khác của châu Mỹ có thể thâm nhập vào được.
Việc các vùng này trở nên năng sản là có lợi không chỉ cho người châu Âu đến định
cư mà trong một số trường hợp còn cho cả chính người châu Mỹ bản địa, bởi người
châu Âu đã mang đến các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa thích hợp với các
vùng này. Chẳng hạn, các xã hội châu Mỹ bản địa đã trở nên lừng danh vì tài cưỡi
ngựa thiện nghệ, trong một số trường hợp còn nổi tiếng cả về nuôi bò và cừu ở một
số nơi thuộc vùng Đồng bằng Lớn, miền phía tây Hoa Kỳ và đồng bằng pampa ở
Argentina. Ngày nay hễ nói đến người Anh-điêng châu Mỹ là người Mỹ da trắng
hình dung đầu tiên đến những chiến binh cưỡi ngựa cùng những người Navajo chăn
cừu và dệt vải, song cơ sở cho cái hình ảnh đó chỉ hình thành từ sau năm 1492.
Các ví dụ này chỉ cho ta thấy: cái thành tố duy nhất hãy còn thiếu để có thể
duy trì sản xuất lương thực ở những khu vực rộng lớn của châu Mỹ chính là bản
thân các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa.
Ở những vùng của châu Mỹ nơi người châu Mỹ bản địa đã phát
triển được sản xuất lương thực, nền sản xuất lương thực đó cũng bị bó hẹp bởi
năm điều bất lợi chính so với nền nông nghiệp Âu-Á: quá phụ thuộc vào cây ngô vốn
nghèo protein chứ không phải những loài ngũ cốc đa dạng và giàu protein như ở
Âu-Á; phải trồng từng hạt một bằng tay chứ không phải gieo hàng loạt; cày cấy bằng
tay chứ không cày bằng sức của loài vật, trong khi nếu cày bằng sức loài vật
thì một người có thể canh tác trên một diện tích rộng hơn nhiều, ngoài ra còn
có thể trồng trọt trên một số nơi đất màu mỡ nhưng rắn và những nơi đất khó
gieo cấy bằng tay (tỉ như đất vùng Đồng bằng Lớn ở Bắc Mỹ); thiếu phân bón loài
vật để làm giàu thêm đất; và chỉ có sức người chứ không có sức loài vật để làm
những việc nhà nông như đập, xay và xây kênh mương. Những khác biệt đó gợi cho
ta rằng nền nông nghiệp Âu-Á tại thời điểm năm 1492 có thể đã mang lại lượng
calori và protein bình quân tính theo giờ công người cao hơn so với nền nông
nghiệp châu Mỹ.
Những sự khác biệt đó trong nền sản xuất lương thực là một
nguyên nhân tối hậu chính dẫn đến sự khác biệt giữa các xã hội Âu-Á với các xã
hội châu Mỹ. Trong số các nhân tố trực tiếp phát sinh từ nguyên nhân tối hậu
này và dẫn tới khả năng chinh phục của các xã hội Âu-Á, quan trọng nhất là những
khác biệt về vi trùng, công nghệ, tổ chức chính trị và chữ viết. Trong số này,
nhân tố có quan hệ gần gũi nhất với những khác biệt trong sản xuất lương thực
là các loại vi trùng. Các căn bệnh truyền nhiễm vốn thường xuyên ghé thăm những
xã hội Âu-Á có mật độ đông đúc – và do đó nhiều người Âu-Á đã được miễn dịch hoặc
có cơ chế đề kháng – bao gồm tất cả các tác nhân giết người lớn nhất trong lịch
sử: đậu mùa, sởi, cúm, dịch hạch, lao, sốt phát ban, dịch tả, sốt rét, vân vân.
Trái ngược với cái danh sách hắc ám này, căn bệnh truyền nhiễm đám đông duy nhất
mà ta có thể quy nguồn gốc về các xã hội châu Mỹ bản địa tiền Columbus là các bệnh
khuẩn xoắn không phải giang mai. (Như tôi đã giải thích ở Chương 11, người ta vẫn
chưa rõ liệu giang mai đã phát sinh từ Âu-Á hay từ châu Mỹ, và cũng đã có người
tuyên bố rằng bệnh lao đã hiện diện ở châu Mỹ từ trước thời Columbus, nhưng
theo tôi điều này vẫn chưa được kiểm chứng).
Thật nghịch lý rằng sự khác biệt giữa hai lục địa về các loại
vi trùng độc hại phát sinh từ sự khác biệt giữa hai lục địa về các loài gia súc
có ích. Hầu hết các vi trùng gây ra những bệnh truyền nhiễm đặc trưng cho xã hội
loài người đông đúc đã tiến hóa từ chính các vi trùng thủy tổ tương tự vốn từng
gây bệnh truyền nhiễm ở các loài thú thuần hóa, mà con người từ khi chuyển sang
sản xuất lương thực vào khoảng 10.000 năm trước thì cũng bắt đầu tiếp xúc hằng
ngày với các loài này. Âu-Á đã nuôi dưỡng nhiều loài thú thuần hóa và do đó đã
làm phát triển nhiều loại vi trùng như vậy, trong khi châu Mỹ có rất ít loài
thú thuần hóa nên cũng có rất ít vi trùng. Còn những nguyên nhân khác khiến các
xã hội châu Mỹ bản địa có quá ít loài vi trùng chết người như vậy, ấy là do những
làng mạc, vốn là chốn sinh sôi nảy nở lý tưởng cho các bệnh truyền nhiễm, ra đời
ở châu Mỹ muộn hơn ở Âu-Á đến hàng ngàn năm; và ba vùng ở Tân Thế giới nơi có
những xã hội có thành thị (vùng Andes, Trung Mỹ và vùng đông nam Hoa Kỳ) thì đã
chẳng bao giờ được nối kết với nhau bằng con đường giao thương nhanh chóng với
khối lượng lớn trên quy mô tương tự như đường giao thương vốn đã đưa bệnh dịch
hạch, cúm và có thể cả đậu mùa từ châu Á sang châu Âu. Kết quả là ngay cả sốt
rét và sốt hoàng nhiệt, những bệnh truyền nhiễm mà rốt cuộc đã trở thành trở ngại
chính ngăn cản người châu Âu thực dân hóa vùng nhiệt đới châu Mỹ, cũng là rào cản
lớn nhất kìm hãm việc xây dựng Kênh đào Panama, lại hoàn toàn không phải là những
căn bệnh của châu Mỹ mà được gây ra bởi các vi trùng có nguồn gốc từ vùng nhiệt
đới của Cựu Thế giới và do người châu Âu mang theo đến châu Mỹ.
Chẳng kém phần quan trọng so với vi trùng – với tư cách là
nhân tố trực tiếp khiến tại sao châu Âu chinh phục được châu Mỹ – là sự khác biệt
trên mọi phương diện về công nghệ. Những khác biệt đó xét đến cùng đều nảy sinh
từ việc Âu-Á có một lịch sử lâu dài hơn gấp bội gồm những xã hội sống bằng sản
xuất lương thực, có mật độ dân cư đông đúc, chuyên môn hóa về kinh tế, tập
trung hóa về chính trị, tương tác và cạnh tranh với nhau. Có thể kể ra năm lĩnh
vực công nghệ như sau:
Thứ nhất: kim loại – đầu tiên là đồng thiếc, sau đó là đồng
thau, cuối cùng là sắt – được dùng làm công cụ ở tất cả các xã hội phức tạp ở
Âu-Á vào năm 1492. Ngược lại, mặc dù đồng thiếc, bạc, vàng và hợp kim đã được
dùng làm đồ trang trí ở vùng Andes và một số khu vực khác ở châu Mỹ, nhưng đá,
gỗ và xương thú vẫn là vật liệu chính để chế tác công cụ tại hầu hết các xã hội
châu Mỹ bản địa, các xã hội này chỉ sử dụng công cụ bằng đồng ở mức độ hạn chế.
Thứ hai, kỹ thuật quân sự ở Âu-Á hùng mạnh hơn nhiều so với ở
châu Mỹ. Vũ khí châu Âu bao gồm gươm, giáo và dao găm bằng thép, được bổ sung bằng
súng hỏa mai và pháo, binh sĩ thì được bảo vệ bằng áo giáp và mũ trụ làm bằng
thép đặc hoặc các vòng thép xâu vào nhau. Thay vì thép, người châu Mỹ bản địa
dùng dùi cui và rìu làm bằng đá hoặc gỗ (đôi khi mới làm bằng đồng ở vùng
Andes), ná, cung tên, mặc áo giáp bằng vải chần, là những thứ vũ khí và phương
tiện bảo vệ kém hiệu quả hơn nhiều. Thêm nữa, các quân đội châu Mỹ bản địa chẳng
có vật cưỡi nào để đương đầu với ngựa, trong khi nhờ có loài ngựa dùng để tấn
công và vận chuyển nhanh mà người châu Âu đã có ưu thế vượt trội trong giao chiến,
cho mãi đến khi một số xã hội châu Mỹ bản địa cũng tự mình tiếp thu được ngựa.
Thứ ba, các xã hội Âu-Á có ưu thế rất lớn về các nguồn vận
hành máy móc. Bước tiến đầu tiên so với sức người là sử dụng loài vật – bò, ngựa
và lừa – để kéo cày, quay bánh xe xay hạt, nâng nước và tưới tiêu đồng ruộng.
Bánh xe bằng sức nước xuất hiện từ thời La Mã và trở nên phổ biến rộng khắp
cùng với cối xay dùng thủy triều và cối xay gió vào thời Trung cổ. Kết hợp với
các hệ thống bánh xe có răng khớp, các động cơ trang bị sức nước và sức gió này
không chỉ dùng để xay hạt và vận chuyển nước mà còn để phục vụ cho rất nhiều mục
đích sản xuất khác như nghiền đường, kéo bễ lò rèn, nghiền quặng, làm giấy,
đánh bóng đá, ép dầu, làm muối, dệt vải và cưa gỗ. Người ta thường định nghĩa
cuộc Cách mạng Công nghiệp một cách tùy tiện là đã khởi đầu từ khi động cơ hơi
nước xuất hiện tại Anh vào thế kỷ XVIII, song kỳ thực một cuộc cách mạng công
nghiệp dựa trên sức nước và sức gió đã bắt đầu từ thời trung cổ tại nhiều vùng ở
châu Âu. Đến năm 1492, tất cả những việc nào mà ở châu Âu được tiến hành bằng sức
loài vật, sức nước và sức gió thì ở châu Mỹ vẫn chỉ được tiến hành bằng sức người.
Từ lâu trước khi bánh xe bắt đầu được sử dụng để chuyển đổi lực
ở Âu-Á, nó đã trở thành cơ sở cho hầu hết việc vận chuyển trên bộ ở lục địa này
– không chỉ đối với xe do súc vật kéo mà với cả xe cút kít do người đẩy, vốn
cho phép một hay nhiều người dù chỉ sử dụng lực cơ bắp của con người nhưng vẫn
vận chuyển được trọng lượng lớn hơn nhiều so với nếu không dùng xe cút kít.
Bánh xe cũng được sử dụng trong nghề làm đồ gốm và làm đồng hồ ở Âu-Á. Không một
ứng dụng nào của bánh xe trong số đó được áp dụng ở châu Mỹ – bằng chứng cho thấy
ở lục địa này bánh xe chỉ được dùng trong những đồ chơi bằng gốm của người
Mexico.
Lĩnh vực công nghệ còn lại cần nhắc tới là giao thông đường
biển. Nhiều xã hội Âu-Á đã phát triển được những chiếc tàu buồm lớn, một số
trong đó có khả năng đi ngược chiều gió và băng qua đại dương, được trang bị
kính lục phân, la bàn nam châm, bánh lái và đại bác. Về công suất, tốc độ, tính
cơ động và khả năng đi biển, những con tàu Âu-Á đó vượt xa những chiếc bè vẫn
được dùng để tiến hành trao đổi hàng hóa giữa các xã hội tiên tiến nhất của
châu Mỹ là các xã hội ở Andes và Trung Mỹ. Những chiếc bè đó nương theo chiều
gió dọc theo bờ biển Thái Bình Dương. Tàu của Pizarro đã dễ dàng đuổi kịp và bắt
sống một chiếc bè như vậy ngay trong chuyến hành trình đầu tiên của ông ta đến
Peru.
Ngoài vi trùng và công nghệ, các xã hội Âu-Á và xã hội châu Mỹ
bản địa còn khác nhau ở tổ chức chính trị. Cho đến cuối thời Trung cổ hoặc thời
Phục hưng, hầu hết Âu-Á đã nằm dưới sự cai trị của các nhà nước có tổ chức.
Trong số đó, nổi bật là các nhà nước Habsburg, Ottoman và Trung Quốc, nhà nước
Mogul ở Ấn Độ và nhà nước Mông Cổ vào thời hoàng kim của nó ở thế kỷ 13 như những
thể hợp nhất rộng lớn đa ngôn ngữ hình thành từ những cuộc chinh phục các nhà
nước khác. Vì lý do đó các nhà nước này thường được gọi là đế quốc. Nhiều nhà
nước và đế quốc ở Âu-Á có những tôn giáo chính thức góp phần vào sự cố kết của
nhà nước, điều cần thiết để hợp thức hóa vị thế lãnh đạo về chính trị và chuẩn
y những cuộc chiến tranh chống lại các dân tộc khác. Các xã hội bộ lạc và bầy
người ở Âu-Á chủ yếu chỉ bao gồm một ít nhóm nhỏ như những người nuôi tuần lộc ở
Bắc Cực, các dân tộc săn bắt hái lượm ở Siberia và những vùng săn bắt hái lượm
cô lập ở tiểu lục địa Ấn Độ cũng như Đông Nam Á nhiệt đới.
Châu Mỹ có hai đế quốc, đế quốc Aztec và đế quốc Inca, hai đế
quốc này cũng tương đương các đế quốc ở Âu-Á xét về kích thước, dân số, kết cấu
đa ngôn ngữ, tôn giáo chính thức và nguồn gốc hình thành từ những cuộc chinh phục
các nhà nước nhỏ hơn. Ở châu Mỹ, hai đế quốc này là hai đơn vị chính trị duy nhất
có khả năng huy động nguồn lực để xây dựng các công trình công cộng hoặc tiến
hành chiến tranh trên quy mô của nhiều nhà nước Âu-Á, trong khi bảy nhà nước
Âu-Á (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển và Đan Mạch) đã có
nguồn lực để có thể biến châu Mỹ thành thuộc địa trong khoảng từ năm 1492 đến
năm 1666. Châu Mỹ cũng có nhiều tù trưởng quốc (một số trên thực tế là những
nhà nước nhỏ) ở Nam Mỹ nhiệt đới, ở Trung Mỹ ngoài phạm vi cai trị của đế quốc
Aztec, và ở vùng đông nam Hoa Kỳ. Phần còn lại của châu Mỹ chỉ mới ở cấp độ bộ
lạc hoặc bầy người.
Nhân tố trực tiếp cuối cùng cần bàn tới là chữ viết. Hầu hết
các nhà nước Âu-Á đều có tầng lớp quan lại có chữ viết, và ngoài quan lại ra
thì một bộ phận đáng kể dân chúng cũng biết chữ. Chữ viết đã làm tăng sức mạnh
cho các xã hội châu Âu do tạo điều kiện cho việc điều hành về chính trị và trao
đổi kinh tế, thúc đẩy và hướng dẫn những cuộc thám hiểm và chiến tranh chinh phục,
cho phép người ta thu nhận nhiều thông tin và trải nghiệm nhân sinh từ những xứ
sở và thời đại xa xôi. Ngược lại, việc sử dụng chữ viết ở châu Mỹ chỉ giới hạn
trong giới tinh hoa tại một khu vực nhỏ hẹp của Trung Mỹ. Đế quốc Inca sử dụng
một hệ thống kế toán và dụng cụ ghi nhớ dựa trên những nút thắt (gọi là quipu),
nhưng đã không đạt tới trình độ dùng chữ viết như một phương tiện để truyền tải
thông tin chi tiết.
Như vậy, các xã hội Âu-Á vào thời Columbus đã có ưu thế to lớn
so với các xã hội châu Mỹ bản địa về sản xuất lương thực, vi trùng, công nghệ
(kể cả vũ khí), tổ chức chính trị và chữ viết. Đó là những nhân tố chính khiến
cho hậu quả những cuộc xung đột sau thời Columbus lệch hẳn về một phía. Song những
khác biệt đó tại thời điểm năm 1492 chỉ tiêu biểu cho một phân đoạn của những
quỹ đạo lịch sử đã kéo dài ít nhất 13.000 năm ở châu Mỹ và còn lâu hơn gấp bội ở
Âu-Á. Đặc biệt là với châu Mỹ, phân đoạn năm 1492 đánh dấu chỗ kết thúc quỹ đạo
lịch sử độc lập của người châu Mỹ bản địa. Giờ chúng ta hãy lần ngược về những
giai đoạn đầu tiên của các quỹ đạo đó.
Bảng 18.1 tóm lược niên đại gần đúng khi các phát triển chủ
chốt xuất hiện ở những “nguyên quán” chính ở mỗi bán cầu (vùng Lưỡi liềm Phì
nhiêu và Trung Quốc ở Âu-Á, vùng Andes, Amazonia và Trung Mỹ ở châu Mỹ). Bảng
này cũng bao gồm quỹ đạo lịch sử của một “nguyên quán” nhỏ tại Tân Thế giới là
miền đông Hoa Kỳ và quỹ đạo lịch sử của nước Anh, vốn hoàn toàn chẳng phải là một
“nguyên quán” nhưng được liệt kê vào đây để cho ta thấy những sự phát triển đó
đã bành trướng ra khỏi vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu nhanh chóng đến nhường nào.
Bảng này cầm chắc sẽ làm cho bất cứ vị học giả uyên thâm nào
cũng phải khiếp vía bởi nó quy giản những quá trình lịch sử cực kỳ phức tạp xuống
chỉ còn dăm ba niên đại có vẻ như chính xác. Trên thực tế, tất cả các niên đại
đó chẳng qua chỉ là những nỗ lực nhằm định danh những điểm còn tranh cãi trên một
quá trình phát triển. Chẳng hạn, có tầm quan trọng hơn nhiều so với niên đại đầu
tiên khi nhà khảo cổ nào đó tìm ra công cụ bằng kim loại đầu tiên, là niên đại
khi có một tỷ lệ đáng kể công cụ được làm bằng kim loại, song công cụ bằng kim
loại phải được sử dụng thường xuyên đến đâu thì mới có thể gọi là “phổ biến”?
Cùng một nguyên quán đó và cùng một phát triển đó, nhưng niên đại xuất hiện ở
nơi này có thể khác với ở nơi kia. Chẳng hạn, trong phạm vi khu vực Andes, đồ gốm
xuất hiện ở miền duyên hải Ecuador (3.100 năm TCN) sớm hơn đến 1.300 năm so với
ở Peru (1.800 năm TCN). Một số niên đại, tỉ như niên đại hình thành các tù trưởng
quốc, khó mà suy ra được từ các cứ liệu khảo cổ, trong khi niên đại các vật thể
như đồ gốm hay công cụ bằng kim loại thì có thể suy ra dễ hơn. Một số niên đại ở
Bảng 18.1 rất không chắc chắn, đặc biệt là niên đại phát sinh nền sản xuất
lương thực ở châu Mỹ. Dẫu vậy, chừng nào ta còn hiểu rằng bảng này chỉ là một sự
đơn giản hóa thì nó vẫn còn hữu ích để ta có thể đối chiếu lịch sử giữa hai lục
địa.
Bảng này gợi ý rằng sản xuất lương thực đã bắt đầu cung cấp một
phần lớn thực đơn của con người tại những nguyên quán ở Âu-Á sớm hơn khoảng
5.000 năm so với tại những nguyên quán ở châu Mỹ. Ở đây phải nói ngay rằng, tuy
người ta không còn hoài nghi gì về niên đại ra đời nền sản xuất lương thực ở
Âu-Á song thời điểm phát sinh sản xuất lương thực ở châu Mỹ thì vẫn đang trong
vòng tranh cãi. Đặc biệt, các nhà khảo cổ thường nhắc lại rằng họ đã phát hiện
được di tích thuần hóa cây trồng ở hang Coxcatlán tại Mexico, hang Guitarrero tại
Peru và ở một số di chỉ khác tại châu Mỹ với niên đại xưa hơn đáng kể so với
các niên đại được cho trong bảng này. Hiện nay các niên đại công bố đó đang được
xem xét lại vì một số lý do: trong thời gian gần đây, việc xác định niên đại trực
tiếp bằng cácbon phóng xạ đối với bản thân di tích cây trồng đã cho niên đại sớm
hơn trong một số trường hợp; các niên đại xưa hơn mà người ta công bố trước đây
là dựa trên niên đại của than củi được cho là cùng niên đại với di tích cây trồng
nhưng thật ra có lẽ không phải; và người ta hãy còn chưa biết chắc liệu di tích
những loài cây có niên đại xưa hơn đó có đúng là cây trồng chăng hay thật ra chỉ
là cây dại được [người tiền sử] thu lượm về. Lại nữa, thậm chí nếu việc thuần
hóa cây trồng đã bắt đầu tại châu Mỹ sớm hơn so với niên đại được cho ở Bảng
18.1 thì điều chắc chắn vẫn là: nông nghiệp đã bắt đầu cung cấp phần lớn calori
và tạo điều kiện để con người sống định cư ở các nguyên quán châu Mỹ vào thời
điểm muộn hơn rất nhiều so với ở những nguyên quán Âu-Á.
Như ta đã thấy ở Chương 5 và Chương 10, chỉ một số khu vực
tương đối nhỏ ở mỗi bán cầu đã đóng vai trò “nguyên quán”, nghĩa là nơi mà sản
xuất lương thực đã phát sinh đầu tiên và bành trướng từ đó ra các khu vực khác.
Các nguyên quán đó là vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc ở Âu-Á, vùng
Andes, Amazonia, Trung Mỹ và miền đông Hoa Kỳ ở châu Mỹ. Chúng ta đặc biệt hiểu
rõ tốc độ bành trướng của các phát triển chủ chốt ở châu Âu nhờ khu vực này có
nhiều nhà khảo cổ đang làm việc. Như Bảng 18.1 tóm tắt đối với nước Anh, phải mất
những 5.000 năm nền sản xuất lương thực và lối sống theo làng mạc từ vùng Lưỡi
liềm Phì nhiêu mới đến được nước Anh, song từ đó trở đi thì tốc độ tiếp thu của
nước Anh đối với [hình thái] tù trưởng quốc, nhà nước, chữ viết và đặc biệt là
công cụ bằng kim loại đã nhanh hơn rất nhiều: chỉ mất 2.000 năm để tiếp thu các
công cụ kim loại phổ biến đầu tiên làm bằng đồng thiếc và đồng thau, và chỉ mất
250 năm để tiếp thu công cụ phổ biến làm bằng sắt. Rõ ràng, một xã hội đã có sẵn
các nhà nông định cư thì sẽ “mượn” nghề luyện kim từ một xã hội khác dễ hơn nhiều
so với một xã hội gồm toàn những người săn bắt hái lượm du cư “mượn” nền sản xuất
lương thực từ các nhà nông định cư (hoặc bị hất cẳng bởi các nhà nông đó).Bảng 18.1. Quỹ đạo lịch sử của Âu-Á và của châu Mỹ
Bảng này cung cấp niên đại phỏng đoán thời điểm một số phát
minh quan trọng được tiếp nhận rộng rãi ở ba khu vực tại Âu-Á và bốn khu vực tại
Châu Mỹ bản địa. Niên đại thuần hóa vật nuôi không tính loài chó, bởi loài này
được thuần hóa sớm hơn các loài dùng để phục vụ sản xuất lương thực ở cả Âu-Á lẫn
châu Mỹ.
Các tù trưởng quốc được phỏng đoán từ bằng chứng khảo cổ, chẳng
hạn nơi mai tang, kiến trúc và nơi cư trú được phân chia theo thứ bậc. Bảng này
là sự đơn giản hóa rất nhiều từ một khối sự kiện lịch sử vô cùng phức tạp – nội
dung chương có nói rõ về một số trong nhiều thiếu sót nghiêm trọng ở bảng này.
Tại sao quỹ đạo của tất cả các phát triển chủ chốt lại lệch
sang những niên đại muộn hơn ở châu Mỹ so với ở Âu-Á? Hẳn là do bốn nhóm nguyên
nhân: so với Âu-Á thì châu Mỹ khởi đầu sản xuất lương thực muộn hơn, số loài
cây dại và thú hoang có thể thuần hóa ít ỏi hơn, có nhiều rào cản lớn hơn ngăn
cản sự phát tán, và có thể là do các khu vực đông dân cư ở châu Mỹ có quy mô nhỏ
hơn hoặc biệt lập hơn so với ở Âu-Á.
Về lợi thế xuất phát trước của Âu-Á, con người đã chiếm lĩnh
Âu-Á từ khoảng một triệu năm nay, lâu hơn rất nhiều so với ở châu Mỹ. Theo bằng
chứng khảo cổ đã đề cập đến ở Chương 1, con người chỉ tiến sang châu Mỹ bằng ngả
Alaska vào khoảng 12.000 năm TCN, bành trướng về phía nam các dải băng ở Canada
với tư cách những thợ săn Clovis chỉ một vài thế kỷ trước 11.000 năm TCN, và đặt
chân đến mũi phía nam của Nam Mỹ ngay trước 10.000 năm TCN. Thậm chí dù niên đại
con người đến định cư ở châu Mỹ từ xưa hơn – mà các nhà khảo cổ vẫn còn tranh
cãi – được chứng minh là đúng thì các cư dân tiền Clovis giả định kia vì nguyên
nhân nào đó không rõ đã phân bố rất thưa thớt và không phát triển lên được
thành những xã hội săn bắt hái lượm trù mật vào Kỷ Pleitoxen với dân số tăng
nhanh, có công nghệ và nghệ thuật như ở Cựu Thế giới. Sản xuất lương thực đã
phát sinh tại Lưỡi liềm Phì nhiêu chỉ 1.500 năm sau khi những người săn bắt hái
lượm xuất thân từ các thợ săn Clovis đặt chân đến mỏm phía nam Nam Mỹ.
Có một số hậu quả khả dĩ của sự khởi đầu sớm tại Âu-Á cần được
chúng ta xét kỹ hơn. Thứ nhất, liệu có phải mất một thời gian dài sau 11.000
năm trước CN để con người chiếm lĩnh toàn bộ châu Mỹ không? Nếu tính toán bằng
con số, ta sẽ thấy khoảng thời gian đó có chăng cũng chỉ chiếm một phần nhỏ
quãng thời gian muộn những 5.000 năm để sản xuất lương thực hình thành ở châu Mỹ.
Tính toán ở Chương 1 cho ta biết rằng thậm chí dù chỉ có 100 người châu Mỹ bản
địa tiên phong vượt qua ranh giới Canada để bước vào Hoa Kỳ ở phía nam và tăng
dân số với tốc độ chỉ 1% một năm thì hậu duệ săn bắt hái lượm của họ cũng sẽ
tràn ngập khắp toàn bộ châu Mỹ trong vòng 1.000 năm. Dù chỉ bành trướng về phía
nam với tốc độ một dặm (1,6 km) một tháng, những nhà tiên phong đó cũng chỉ mất
700 năm kể từ khi băng qua ranh giới Canada để đến được mỏm cực nam của Nam Mỹ.
Tốc độ tăng dân số và bành trướng giả định này là rất thấp so với tốc độ tăng
dân số và bành trướng thực tế của những dân tộc đang chiếm lĩnh dần những vùng
đất chưa có người ở hoặc có nhưng thưa thớt. Vì vậy, có lẽ chỉ trong vòng vài
thế kỷ sau khi những người di cư đầu tiên [từ Âu-Á sang] châu Mỹ là toàn bộ
châu Mỹ đã có những người săn bắt hái lượm sinh sống cả rồi.
Thứ hai, liệu có phải một phần lớn trong quãng 5.000 năm chậm
trễ kia là thời gian cần thiết để những người châu Mỹ đầu tiên kia làm quen với
các loài cây cỏ, chim muông và các loại đá mà họ gặp ở địa phương này? Nếu một
lần nữa ta có thể suy luận theo phép tương đồng như khi những người săn bắt hái
lượm và nông dân New Guinea và Polynesia chiếm lĩnh các môi trường xa lạ – như
những người Maori chiếm lĩnh New Zealand hay người Tudawhe chiếm lĩnh vùng Lòng
chảo Karimui ở New Guinea – những người mới đến có lẽ chỉ cần không tới một thế
kỷ để phát hiện được nguồn đá nào tốt nhất và phân biệt được loài cây cỏ hay
chim thú nào có ích còn loài nào độc hại.
Thứ ba, đâu là lợi thế xuất phát trước của Âu-Á trong việc
phát triển công nghệ thích hợp với môi trường đặc thù của mình? Các nhà nông đầu
tiên của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc được thừa hưởng cái công nghệ
mà những người Homo sapiens hiện đại về mặt hành vi đã phát triển được nhằm
khai thác tài nguyên địa phương ở các khu vực đó trong suốt hàng vạn năm. Chẳng
hạn, những chiếc rìu bằng đá, hầm chứa ngầm dưới đất và các kỹ thuật khác mà những
người săn bắt hái lượm vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã dần dần phát minh ra để sử dụng
ngũ cốc dại, đều đã được lưu truyền cho các nhà nông trồng ngũ cốc đầu tiên ở
vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Ngược lại, những người đầu tiên đến định cư ở châu Mỹ
đã đặt chân tới Alaska trong khi những thiết bị họ có chỉ thích hợp với vùng
đài nguyên Siberia Bắc cực. Họ đã phải tự phát minh ra các thiết bị thích hợp với
từng môi trường mới mà họ gặp. Sự chậm trễ về công nghệ đó đã góp phần đáng kể
khiến cho mọi phát triển ở châu Mỹ bản địa đều muộn hơn ở Âu-Á.
Một nhân tố thậm chí còn hiển nhiên hơn nữa tác động đến sự
chậm trễ này là [châu Mỹ] có những loài cây dại và thú hoang nào có thể thuần
hóa được. Như tôi đã bàn ở Chương 6, khi những người săn bắt hái lượm tiếp thu
nền sản xuất lương thực, ấy chẳng phải vì họ tiên liệu được những lợi ích tiềm
tàng mà phải đến đời con đời cháu họ may ra mới hưởng, mà chỉ bởi nền sản xuất
lương thực sơ khai kia bắt đầu đem lại ưu thế so với lối sống săn bắt hái lượm.
Sức cạnh tranh của sản xuất lương thực thời kỳ đầu so với săn bắt hái lượm tại
châu Mỹ không bằng như ở Lưỡi liềm Phì nhiêu hay Trung Quốc, một phần bởi châu
Mỹ thực sự thiếu các loài hữu nhũ lớn có thể thuần hóa. Vì vậy, các nhà nông đầu
tiên ở châu Mỹ vẫn phải dựa vào thú hoang làm nguồn cung cấp protein và vẫn phải
dành phân nửa thời gian để săn bắt hái lượm, trong khi ở cả Lưỡi liềm Phì nhiêu
lẫn Trung Quốc việc thuần hóa vật nuôi diễn ra ngay sau thuần hóa cây trồng, [cả
hai hợp lại] tạo thành một nền sản xuất lương thực trọn gói nhanh chóng tỏ ra
ưu việt và thay thế dần lối sống săn bắt hái lượm. Ngoài ra, các loài súc vật
thuần hóa cũng làm cho bản thân nghề nông Âu-Á có sức cạnh tranh hơn bởi cung cấp
phân bón, về sau là sức kéo cày.
Các đặc tính của cây dại ở châu Mỹ cũng góp phần khiến cho sản
xuất lương thực của châu Mỹ bản địa kém cạnh tranh hơn. Kết luận đó là rõ ràng
nhất ở khu vực miền đông Hoa Kỳ, nơi chỉ có chưa đầy một tá loài cây được thuần
hóa trong đó có những loài thân thảo hạt nhỏ nhưng chẳng có loài thân thảo nào
có hạt to, và không có cây đỗ, cây cho sợi, cây ăn quả nào. Điều đó cũng rõ
ràng đối với vùng Trung Mỹ, cây trồng chính ở đó là ngô, vốn cũng bành trướng để
trở thành cây trồng chính ở cả một số vùng khác của châu Mỹ. Trong khi lúa mì
và lúa mạch dại của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã tiến hóa thành cây trồng mà ít
bị thay đổi nhất và chỉ trong vòng vài thế kỷ, thì cây teosinte dại đã phải trải
qua những thay đổi triệt để trong cơ chế sinh sản, cơ chế phân phối năng lượng
để sinh hạt, đánh mất lớp vỏ cứng như đá bọc quanh hạt còn lõi thì to ra rất
nhiều.
Kết quả là, thậm chí dù ta chấp nhận các niên đại giả định muộn
hơn mà giới khoa học đưa ra gần đây đối với thời điểm bắt đầu thuần hóa cây trồng
ở châu Mỹ bản địa, thì cũng có một khoảng cách thời gian khoảng 1.500 hoặc
2.000 năm kể từ thời điểm đó (khoảng 3.000-2.500 năm TCN) và thời điểm xuất hiện
những làng mạc định cư quanh năm (1.800-500 năm TCN) phổ biến ở Trung Mỹ, vùng
nội địa Andes và miền đông Hoa Kỳ. Suốt một thời gian dài, trồng trọt ở châu Mỹ
bản địa vẫn chỉ là một bổ sung nhỏ nhoi cho việc tìm kiếm thức ăn bằng săn bắt
hái lượm và chỉ nuôi sống được một dân số ít oi. Còn nếu ta chấp nhận những
niên đại xưa hơn như từ trước đến nay thì châu Mỹ đã phải mất đến 5.000 năm –
chứ không phải 1.500 hay 2.000 năm – từ khi bắt đầu thuần hóa cây trồng cho đến
khi sản xuất lương thực đủ khả năng nuôi sống các quần thể làm nông định cư
thành làng mạc. Ngược lại, ở hầu hết Âu-Á làng mạc đã xuất hiện rất gần về thời
gian so với thời điểm hình thành sản xuất lương thực. (Bản thân lối sống săn bắt
hái lượm vẫn đủ năng sản để nuôi sống các làng định cư ngay cả trước khi người
ta chuyển sang nông nghiệp ở một số vùng của cả hai bán cầu, như Nhật Bản và Lưỡi
liềm Phì nhiêu ở Cựu Thế giới, vùng duyên hải Ecuador và Amazonia ở Tân Thế giới).
Tân Thế giới bị giới hạn về chủng loại các loài thuần hóa, điều đó có thể thấy
rõ qua việc bản thân các xã hội châu Mỹ bản địa đã chuyển biến như thế nào khi
có những loài cây trồng hay vật nuôi khác từ nơi khác du nhập đến, dù là từ một
vùng khác của châu Mỹ hay từ Âu-Á. Ví dụ tiêu biểu là những chuyển biến diễn ra
khi cây ngô được du nhập vào miền đông Hoa Kỳ và Amazonia, loài llama được tiếp
thu ở phía bắc Andes sau khi nó được thuần hóa ở phía nam, và khi loài ngựa [từ
Âu-Á đến] xuất hiện ở nhiều vùng của Bắc Mỹ và Nam Mỹ.
Ngoài lợi thế xuất phát trước cũng như chủng loại cây dại và
thú hoang của Âu-Á, các phát triển ở Âu-Á cũng được đẩy nhanh hơn nhờ lục địa
này cho phép các loài súc vật, cây trồng, ý tưởng, công nghệ và bản thân con
người phát tán dễ dàng hơn so với châu Mỹ do hệ quả của một số nhân tố địa lý
và sinh thái. Trục chính của Âu-Á là đông-tây, khác với trục chính của châu Mỹ
là nam-bắc, cho phép sự phát tán diễn ra mà không gặp sự thay đổi về vĩ độ và
các biến thiên môi trường kèm theo sự thay đổi về vĩ độ. Trái ngược với bề
ngang theo hướng đông-tây khá đồng nhất của Âu-Á, Tân Thế giới bị thắt nhỏ lại
suốt cả chiều dài Trung Mỹ đặc biệt là ở Panama. Thế còn chưa hết, châu Mỹ lại
còn bị phân mảnh hơn nữa vì những khu vực không thích hợp cho sản xuất lương thực
hoặc cho con người sinh sống đông đúc. Các rào cản sinh thái đó bao gồm những
khu rừng mưa ở eo biển Panama chia cắt các xã hội Trung Mỹ với các xã hội vùng
Andes và Amazonia, các sa mạc phía bắc Mexico chia cắt Trung Mỹ với các xã hội
vùng tây nam và đông nam Hoa Kỳ, những khu vực khô hạn ở Texas ngăn cách đông
nam Hoa Kỳ với tây nam Hoa Kỳ, và những sa mạc cũng như núi cao ngăn cách vùng
duyên hải Thái Bình Dương của Hoa Kỳ mà lẽ ra đã có thể thích hợp cho sản xuất
lương thực. Hệ quả là đã chẳng hề có sự phát tán các loài thú nuôi, chữ viết
hay các thể chế chính trị, còn phát tán cây trồng và công nghệ thì hạn chế hoặc
diễn ra chậm chạp, giữa các trung tâm của Tân Thế giới là Trung Mỹ, miền đông
Hoa Kỳ, vùng Andes và Amazonia.
Một số hậu quả đặc thù của các rào cản đó trong phạm vi châu
Mỹ đáng cho ta chú ý. Sản xuất lương thực đã chẳng bao giờ phát tán ra khỏi miền
tây nam Hoa Kỳ và thung lũng Mississippi để đến những vựa lúa mì California và
Oregon ngày nay của Hoa Kỳ nơi các xã hội châu Mỹ bản địa [thời đó] vẫn tiếp tục
sống theo lối săn bắt hái lượm chỉ vì thiếu các loài thuần hóa thích hợp. Lạc
đà châu Mỹ (llama), chuột ghinê và khoai tây ở vùng cao nguyên Andes đã chẳng
bao giờ đến được cao nguyên Mexico, cho nên Trung Mỹ và Bắc Mỹ vẫn chẳng có
loài hữu nhũ thuần hóa nào ngoại trừ chó. Ngược lại, cây hướng dương thuần hóa ở
vùng đông Hoa Kỳ đã chẳng bao giờ tới được Trung Mỹ, còn gà tây thuần hóa ở
Trung Mỹ đã chẳng bao giờ tới được Nam Mỹ hay miền đông Hoa Kỳ. Ngô của Trung Mỹ
phải mất những 3.000 năm còn đậu Trung Mỹ phải mất tới 4.000 năm để vượt qua
khoảng cách 700 dặm (1.120 km, ND) từ các nông trại Mexico tới các nông trại ở
miền đông Hoa Kỳ. Sau khi cây ngô tới được miền đông Hoa Kỳ, cũng phải mất thêm
vài thế kỷ nữa thì việc phát triển một loài ngô năng sản trong điều kiện khí hậu
Bắc Mỹ mới kích thích sự hưng thịnh của vùng Mississippi. Ngô, đậu và bí có thể
đã phải mất mấy ngàn năm mới bành trướng được từ Trung Mỹ đến miền tây nam Hoa
Kỳ. Trong khi các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu có thể bành trướng từ đông sang
tây và ngược lại đủ nhanh khiến các vùng khác không kịp thuần hóa độc lập cũng
các loài đó hoặc những loài tương tự, thì các rào cản ở châu Mỹ lại tạo điều kiện
cho sự thuần hóa song song cùng một số loại cây trồng [ở nhiều khu vực khác
nhau].
Cũng đáng chú ý như tác động của các rào cản đó đối với việc
phát tán cây trồng và vật nuôi là tác động của chúng lên những đặc tính khác của
xã hội loài người. Các bảng chữ cái có gốc gác nguyên thủy từ miền đông Địa
Trung Hải đã phát tán ra tất cả các xã hội phức tạp của Âu-Á, từ nước Anh đến
Indonesia, ngoại trừ những khu vực ở Đông Á nơi văn tự phổ biến là những hệ chữ
viết xuất thân từ chữ Hán. Ngược lại, hệ chữ viết duy nhất ở Tân Thế giới – hệ
chữ viết của Trung Mỹ – chẳng bao giờ bành trướng được đến các xã hội phức tạp ở
vùng Andes và miền đông Hoa Kỳ mà lẽ ra đã có thể tiếp thu nó. Bánh xe được
phát minh ở Trung Mỹ như một phần của các món đồ chơi song đã chẳng bao giờ gặp
được các con lạc đà được thuần hóa ở vùng Andes để tạo thành một phương tiện vận
chuyển cho Tân Thế giới. Từ đông sang tây ở Cựu Thế giới, đế quốc Macedonia và
đế quốc La Mã đều trải rộng khắp 3.000 dặm (4.800 km, ND), đế quốc Mông Cổ thì
đến tận 6.000 dặm (9.600 km, ND). Nhưng các đế quốc và nhà nước ở Trung Mỹ đã
chẳng có hề quan hệ chính trị với – hình như thậm chí chưa hề nghe nói đến –
các tù trưởng quốc ở miền đông Hoa Kỳ chỉ cách họ 700 dặm về phía bắc hoặc các
đế quốc và nhà nước ở vùng Andes cách họ 1.200 dặm (hơn 1.900 km, ND) về phía
nam.
Việc châu Mỹ bị phân mảnh nhiều hơn về địa lý so với Âu-Á
cũng phản ánh ở sự phân bố ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học nhất trí chia tất cả
các ngôn ngữ Âu-Á (chỉ trừ vài ngoại lệ) thành khoảng một tá ngữ hệ, mỗi ngữ hệ
gồm vài trăm ngôn ngữ có họ hàng với nhau. Chẳng hạn, ngữ hệ Ấn-Âu – trong đó
có tiếng Anh cũng như tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Hy Lạp và tiếng Hindi – bao
gồm 144 ngôn ngữ. Chỉ một vài ngữ hệ trong số đó chiếm lĩnh những khu vực rộng
lớn không bị chia cắt – trong trường hợp ngữ hệ Ấn-Âu, khu vực của nó bao gồm từ
hầu hết châu Âu về phía đông cho đến phần lớn châu Á về phía tây đến tận Ấn Độ.
Bằng chứng ngôn ngữ, bằng chứng lịch sử và bằng chứng khảo cổ hợp lại cho thấy
rõ rằng mỗi một ngữ hệ được phân bố trên một khu vực rộng lớn và liên tục đó đều
xuất phát từ sự bành trướng một ngôn ngữ thủy tổ trong lịch sử, tiếp theo đó là
sự biệt hóa ngôn ngữ theo từng khu vực để hình thành một ngữ hệ gồm các ngôn ngữ
có quan hệ họ hàng (Bảng 18.2). Hầu hết các ngôn ngữ thủy tổ đó sở dĩ bành trướng
được hẳn là do ưu thế của những người sử dụng chúng – vốn thuộc về những xã hội
sản xuất lương thực – so với các dân tộc săn bắt hái lượm. Ở Chương 16 và
Chương 17 ta đã bàn tới những sự bành trướng đó trong lịch sử của các ngữ hệ
Hán-Tạng, Nam Đảo và các ngữ hệ Đông Á khác. Trong số những sự bành trướng đó
vào thiên niên kỷ gần đây nhất có những cuộc bành trướng đã đưa các ngôn ngữ Ấn-Âu
từ châu Âu sang châu Mỹ và Australia, tiếng Nga từ Đông Âu ra khắp Siberia, và
tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Altai) từ Trung Á về phía tây đến
Thổ Nhĩ Kỳ.
Trừ ngoại lệ là ngữ hệ Eskimo-Aleut ở vùng Bắc Cực châu Mỹ và
ngữ hệ Na-Dene ở Alaska, vùng tây bắc Canada và tây nam Hoa Kỳ, châu Mỹ thiếu
những ví dụ về các cuộc bành trướng ngôn ngữ trên quy mô lớn được các nhà ngôn
ngữ học rộng rãi thừa nhận. Hầu hết giới ngôn ngữ học chuyên về các ngôn ngữ
châu Mỹ bản địa không thừa nhận một nhóm ngôn ngữ lớn và rõ rệt nào khác ngoài
các nhóm Eskimo-Aleut và NaDene. Giỏi lắm họ cũng chỉ xem các bằng chứng là vừa
đủ để chia các ngôn ngữ châu Mỹ bản địa khác (khoảng từ 600 đến 2.000 tùy theo
cách liệt kê khác nhau) thành khoảng một trăm hay trên một trăm nhóm ngôn ngữ
hoặc ngôn ngữ riêng biệt. Có một quan điểm thiểu số gây tranh cãi, ấy là quan
điểm của nhà ngôn ngữ học Josepgh Greenberg – ông này chia toàn bộ các ngôn ngữ
châu Mỹ bản địa khác ngoài các ngôn ngữ Eskimo-Aleut và Na-Dene thành một ngữ hệ
duy nhất gọi là Amerind với khoảng một tá ngữ hệ con.
Một số ngữ hệ của Greenberg, cũng như một số nhóm ngôn ngữ
theo cách phân loại của các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm truyền thống, có thể
lại là di sản từ những cuộc bành trướng dân số ở Tân Thế giới mà động lực một
phần là sản xuất lương thực. Các di sản đó có thể bao gồm các ngôn ngữ
Uto-Aztec ở Trung Mỹ và miền tây Hoa Kỳ, các ngôn ngữ Oto-Manguea ở Trung Mỹ,
các ngôn ngữ Natchez-Muskogea ở đông nam Hoa Kỳ, và các ngôn ngữ Arawak ở vùng
Tây Ấn. Song những khó khăn mà các nhà ngôn ngữ học gặp phải trong việc phân loại
các ngôn ngữ châu Mỹ bản địa chẳng qua phản ánh những khó khăn mà bản thân các
xã hội phức tạp ở châu Mỹ bản địa từng gặp phải khi bành trướng trong phạm vi
Tân Thế giới. Giá như có một dân tộc sản xuất lương thực nào ở châu Mỹ bản địa
đã thành công trong việc bành trướng ra xa cùng các cây trồng và vật nuôi của
mình để rồi nhanh chóng chiếm chỗ các dân tộc săn bắt hái lượm trên một khu vực
rộng lớn, thì ắt hẳn họ đã để lại di sản dưới dạng những ngữ hệ có thể dễ dàng
nhận diện cũng như ở Âu-Á, và mối quan hệ giữa các ngữ hệ châu Mỹ bản địa đã
không rối rắm, gây nhiều tranh cãi đến vậy.
Bảng 18.2. Sự bành trướng các ngôn ngữ ở Cựu Thế giới
|
Niên đại suy ra |
Ngữ hệ |
Hướng bành trướng |
Động lực tối hậu |
|
6.000 hay 4.000 TCN |
Ấn-Âu |
Ukraina hoặc Anatolia -> châu Âu, Trung Á, Ấn Độ |
Sản xuất lương thực hoặc chăn nuôi du mục cưỡi ngựa |
|
6.000 TCN – 2.000 TCN |
Elamo – Dravidian |
Iran ->Ấn Độ |
Sản xuất lương thực |
|
4.000 TCN – hiện nay |
Hán-Tạng |
Cao nguyên Tây Tạng, Bắc Trung Quốc -> Nam Trung Quốc,
Đông Nam Á nhiệt đới |
Sản xuất lương thực |
|
3.000 TCN – 1.000 TCN |
Nam Đảo |
Nam Trung Quốc -> Indonesia, các đảo Thái Bình Dương |
Sản xuất lương thực |
|
3.000 TCN |
Bantu |
Nigeria và Cameroon -> Nam Phi |
Sản xuất lương thực |
|
3.000 TCN – năm 1 CN |
Nam Á |
Nam Trung Quốc -> Đông Nam Á nhiệt đới |
Sản xuất lương thực |
|
1.000 TCN – năm 1.500 CN |
Thái-Kadai, Mèo-Dao |
Nam Trung Quốc -> Đông Nam Á nhiệt đới |
Sản xuất lương thực |
|
Năm 892 CN |
Hungari |
Dãy Ural -> Hungari |
Chăn nuôi du mục cưỡi ngựa |
|
1.000 CN – 1.300 CN |
Altai (Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ) |
Thảo nguyên châu Á -> châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc |
Chăn nuôi du mục cưỡi ngựa |
|
1.480 CN – 1.638 CN |
Nga |
Nga ở châu Âu -> Siberia ở châu Á |
Sản xuất lương thực |
Như vậy chúng ta đã xác định ba nhóm nhân tố tối hậu khiến
người châu Âu có ưu thế vượt trội khi xâm lăng châu Mỹ: Âu-Á có lợi thế xuất
phát là có người định cư từ sớm hơn nhiều; nền sản xuất lương thực ở Âu-Á hữu
hiệu hơn do có nhiều hơn gấp bội các loài cây dại và đặc biệt là thú hoang có
thể thuần hóa; và Âu-Á ít có những rào cản đáng sợ về địa lý và sinh thái ngăn
trở sự phát tán trong phạm vi lục địa. Còn một nhân tố thứ tư nữa – mang tính
phỏng đoán nhiều hơn – mà ta có thể luận ra từ việc có một số nhân tố mà rất lạ
là châu Mỹ đã không phát minh ra được: các xã hội phức tạp ở vùng Andes đã
không phát minh được chữ viết và bánh xe mặc dù độ dài lịch sử của các xã hội
đó cũng xấp xỉ bằng của các xã hội phức tạp ở vùng Trung Mỹ trong khi các xã hội
Trung Mỹ thì lại phát minh ra được; còn bánh xe thì tuy các xã hội Trung Mỹ
phát minh ra nhưng lại chỉ được dùng trong các món đồ chơi và rốt cuộc thì biến
mất, mặc dù lẽ ra người ta cũng có thể dùng nó để chế tạo xe cút kít do người
kéo như ở Trung Quốc. Những trường hợp khó hiểu đó làm ta nhớ lại những trường
hợp khác cũng khó hiểu không kém khi một số xã hội nhỏ biệt lập như người
Tasmania bản địa, người Australia bản địa, người Nhật Bản, các đảo Polynesia và
vùng Bắc cực châu Mỹ đã không phát minh được một số thứ hoặc [đã phát minh được
hoặc tiếp thu được nhưng rồi] lại đánh mất. Dĩ nhiên, châu Mỹ [gồm Bắc Mỹ và
Nam Mỹ] gộp lại chẳng hề nhỏ tí nào: tổng diện tích của chúng bằng 76% diện
tích Âu-Á, còn dân số châu Mỹ tại thời điểm năm 1492 có lẽ cũng bằng một phần lớn
dân số Âu-Á. Nhưng châu Mỹ, như ta đã thấy, bị chia cắt thành những “ốc đảo” với
những xã hội chỉ liên hệ với nhau một cách yếu ớt. Hẳn là lịch sử bánh xe và lịch
sử chữ viết của châu Mỹ bản địa là tiêu biểu cho những nguyên lý vốn đã được
minh họa dưới hình thức cực đoan hơn qua trường hợp các xã hội đích thực là xã
hội hải đảo.
Sau ít nhất 13.000 năm phát triển riêng biệt, các xã hội tiên
tiến ở châu Mỹ và Âu-Á cuối cùng cũng đã đụng độ nhau trong vòng một ngàn năm
trở lại đây. Cho tới khi đó, những tiếp xúc duy nhất giữa các xã hội loài người
ở Tân Thế giới với các xã hội loài người ở Cựu Thế giới chỉ giới hạn ở những
người săn bắt hái lượm ở hai bên bờ eo biển Bering.
Người châu Mỹ bản địa đã chẳng hề thử di cư sang Âu-Á, ngoại
trừ ở eo Bering nơi một nhóm nhỏ người Inuit (Eskimo) xuất phát từ Alaska đã
chuyển sang định cư ở vùng bờ biển Siberia phía bên kia eo Bering. Cuộc di cư đầu
tiên của người Âu-Á sang châu Mỹ mà lịch sử ghi lại được là do người Norse [người
Bắc Âu cổ, ND] tiến hành ở các vĩ độ Bắc Cực và dưới Bắc Cực (Hình 18.1). Người
Norse từ Na Uy ngày nay di cư sang Iceland vào năm 986, và cuối cùng người
Norse định cư ở Greenland bắt đầu thường xuyên đặt chân đến bờ biển Đông Bắc Bắc
Mỹ trong khoảng từ năm 1000 đến năm 1350. Di chỉ khảo cổ Norse duy nhất được
phát hiện ở châu Mỹ là ở Newfoundland, có lẽ là khu vực được gọi là Vinland
trong các bản trường ca cổ (saga) của người Norse, nhưng các saga cũng còn nhắc
đến những cuộc đổ bộ rõ ràng còn xa hơn về phía bắc, trên bờ biển Labrador và đảo
Baffin.
Khí hậu Iceland cho phép chăn nuôi, trồng trọt tuy hết sức hạn
chế, và diện tích đảo này vừa đủ để nuôi sống một quần thể dân cư có nguồn gốc
Bắc Âu vẫn tồn tại đến ngày nay. Nhưng hầu hết đảo Greenland thì phủ dưới băng,
và ngay cả ở hai vùng vịnh ven biển (fjord) thuận lợi nhất ở đây cũng khó lòng
có thể sản xuất lương thực theo kiểu người Norse được. Dân số người Norse ở
Greenland chưa bao giờ vượt quá dăm ngàn người. Các cư dân này vẫn phải nhập
lương thực và sắt từ Na Uy, nhập gỗ từ vùng duyên hải Labrador. Khác với đảo Phục
Sinh và các đảo Polynesia xa xôi khác, Greenland không đủ sức nuôi sống một xã
hội sản xuất lương thực tự túc, mặc dù nó vẫn có thể nuôi sống các quần thể người
Inuit săn bắt hái lượm tự túc cả trước, trong và sau thời kỳ người Norse chiếm
cứ đảo này. Bản thân dân số Iceland và Na Uy quá ít ỏi và quá nghèo nên không
thể tiếp tục hỗ trợ những người định cư ở Greenland nữa.Hình 18.1: Sự bành trướng của người Norse từ Na Uy băng qua Bắc
Đại Tây Dương, với niên đại phỏng đoán thời điểm họ đặt chân đến từng khu vực.
Vào thời kỳ Tiểu Băng Hà vào thế kỷ XIII, vùng Bắc Băng Dương
trở nên lạnh hơn khiến cho việc sản xuất lương thực ở Greenland cũng như việc
đi lại của người Norse từ Na Uy và Iceland đến Greenland càng trở nên khó khăn.
Lần tiếp xúc cuối cùng của người Greenland với người châu Âu là vào năm 1410
khi một con tàu của Iceland cập bến [châu Âu] sau khi bị [bão] thổi chệch hướng.
Khi người châu Âu rốt cuộc cũng ghé thăm Greenland trở lại vào năm 1577 thì ở
đó đã chẳng còn khu định cư nào của người Norse nữa; các khu định cư đó đã biến
mất trong thế kỷ XV mà được chẳng sách vở nào ghi lại.
Nhưng bờ biển Bắc Mỹ thì lại xa hẳn ngoài tầm với của các con
tàu buồm xuất phát từ bản thân Na Uy bởi công nghệ tàu biển của Na Uy vào thời
kỳ 986-1410 không cho phép. Để đến được Bắc Mỹ, người Norse chỉ có thể xuất
phát từ chính đảo Greenland vốn chỉ cách Bắc Mỹ qua eo David rộng 200 dặm (320
km). Tuy nhiên, đối với dúm người Norse ít ỏi sống ở tận biên khu xa xôi kia
thì khả năng khai phá, chinh phục và định cư lâu dài [trên một lục địa rộng lớn
như] châu Mỹ là bằng không. Ngay cả di chỉ Norse duy nhất ở Newfoundland hình
như cũng chẳng gì hơn là một khu cắm trại mùa đông của dăm chục người trong
vòng vỏn vẹn mấy năm. Các saga của người Norse thuật lại việc trại Vinland của
họ bị một giống dân gọi là Skraelings tấn công, rõ ràng dân “Skraelings” đó là
những người Anh-điêng vùng Newfoundland hoặc những người Eskimo vùng Dorset.
Số phận của thuộc địa Greenland, tiền đồn xa xôi nhất của
châu Âu thời Trung cổ, vẫn còn là một trong những bí ẩn lãng mạn của ngành khảo
cổ. Liệu có phải những người Norse cuối cùng ở Greenland đã chết vì đói, hay họ
đã cố tìm cách dong buồm ra đi, hay họ đã kết hôn với người Eskimo, hay họ đã
chết sạch vì bệnh tật hoặc vì những mũi tên của người Eskimo? Tuy nguyên nhân
trực tiếp khiến người Norse ở Greenland biến mất vẫn còn là câu hỏi chưa có lời
đáp, song nguyên nhân tối hậu để người Norse không thành công trong việc thuộc
địa hóa Greenland và châu Mỹ là quá rõ ràng. Ý đồ đó không thành công là bởi
nguồn xuất phát (Na Uy), đích chinh phục (Greenland và Newfoundland) và thời điểm
(năm 984 đến năm 1410) đều không đủ đảm bảo cho người châu Âu có thể áp dụng
thành công ưu thế vốn có của mình về sản xuất lương thực, công nghệ và tổ chức
chính trị. Ở một vĩ độ quá cao khó lòng sản xuất lương thực được nhiều, các
công cụ bằng sắt trong tay một dúm người Norse vốn chỉ được hỗ trợ bởi một
trong những nhà nước nghèo ở châu Âu không đủ để chọi lại với các công cụ bằng
đá, xương thú và gỗ của những người săn bắt hái lượm Eskimo và Anh-điêng, những
kẻ có kỹ năng điêu luyện nhất thế giới trong việc sống còn ở vùng địa cực.
Nỗ lực thứ hai của người Âu-Á hòng thuộc địa hóa châu Mỹ đã
thành công là bởi nó bao gồm một nguồn xuất phát, một đích chinh phục và một thời
điểm vốn dĩ cho phép những ưu thế tiềm tàng của châu Âu có thể phát huy tác dụng.
Không như Na Uy, nước Tây Ban Nha đủ giàu và đủ đông dân để hỗ trợ những cuộc
du hành thám hiểm và trợ cấp cho các thuộc địa. Người Tây Ban Nha đổ bộ lên các
vĩ độ cận nhiệt đới của châu Mỹ, những nơi rất thích hợp cho sản xuất lương thực,
ban đầu thì dựa hầu hết trên các loại cây trồng châu Mỹ bản địa song cũng dùng
các loài vật nuôi của Âu-Á đặc biệt là bò và ngựa. Công cuộc thuộc địa hóa
xuyên đại dương của Tây Ban Nha khởi đầu vào năm 1492, thời điểm kết thúc một
thế kỷ phát triển nhanh chóng về công nghệ tàu biển vượt đại dương của châu Âu
– cho đến lúc đó công nghệ này đã kết hợp được những tiến bộ trong kỹ thuật đi
biển, kiểu dáng buồm và thiết kế tàu đã được phát triển bởi các xã hội Cựu Thế
giới tại Ấn Độ Dương (thế giới Hồi giáo, Ấn Độ, Trung Quốc và Indonesia). Kết
quả là những con tàu được đóng và trang bị nhân lực ở chính Tây Ban Nha đã có
thể dong buồm đến vùng Tây Ấn; chẳng giống một chút nào so với cái nút cổ chai
Greenland đã khiến cho công cuộc thuộc địa hóa của người Norse chết yểu. Chẳng
mấy chốc các thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới sẽ có thêm bạn mới là những
thuộc địa của nửa tá nhà nước châu Âu khác.
Những khu định cư đầu tiên của người châu Âu đến châu Mỹ, khởi
đầu từ khu do Columbus thành lập vào năm 1492, là ở vùng Tây Ấn. Những người
Anh-điêng bản địa sống trên các đảo này – mà dân số tại thời điểm được người
châu Âu “phát hiện” lên tới hơn một triệu – đã nhanh chóng bị tiêu diệt trên hầu
hết các đảo vì dịch bệnh, bị đánh đuổi, bị bắt làm nô lệ, vì chiến tranh và vì
bị giết một cách tình cờ. Vào khoảng năm 1508 thuộc địa đầu tiên được thành lập
trên nội địa châu Mỹ, tại eo Panama. Theo sau đó là cuộc chinh phục hai đế quốc
lớn trong nội địa là đế quốc Aztecs vào năm 1519-1520 và đế quốc Inca vào năm
1532-1533. Trong cả hai cuộc chinh phục này, những bệnh truyền nhiễm lây qua
người châu Âu (có lẽ là đậu mùa) đã góp phần quan trọng: giết chết bản thân các
vị hoàng đế cũng như phần lớn dân số người bản địa. Ưu thế vượt trội về quân sự
của dù chỉ một dúm kỵ binh Tây Ban Nha, cùng với kỹ năng chính trị của họ trong
việc khai thác sự chia rẽ trong nội bộ người châu Mỹ bản địa, đã góp phần còn lại
[để người châu Âu chiến thắng]. Người châu Âu tiếp tục chinh phục nốt các nhà
nước bản địa còn lại ở Trung Mỹ và miền bắc của Bắc Mỹ trong các thế kỷ XVI và
XVII.
Về phần các xã hội bản địa tiên tiến nhất ở Bắc Mỹ, các xã hội
ở vùng đông nam Hoa Kỳ và hệ sông Mississippi, các xã hội đó đã bị hủy diệt chủ
yếu chỉ bằng các vi trùng do những nhà thám hiểm châu Âu đầu tiên mang tới và
đi trước bản thân các nhà thám hiểm đó. Trong khi người châu Âu bành trướng ra
khắp châu Mỹ, nhiều xã hội bản địa khác như xã hội Mandan ở vùng Đồng bằng Lớn
và xã hội của người Eskimo Sadlermiut ở Bắc Cực cũng bị quét sạch bởi bệnh tật
mà chẳng cần đến hành động quân sự. Còn những xã hội nào không bị tiêu diệt bằng
vi trùng theo cách đó thì bị hủy diệt bằng cùng một cách như các xã hội Aztec
và Inca, nghĩa là bằng những cuộc chiến tranh toàn diện được tiến hành bởi binh
sĩ châu Âu chuyên nghiệp và đồng minh bản địa của họ. Các binh sĩ đó được hậu
thuẫn bởi các tổ chức chính trị đầu tiên là của các mẫu quốc châu Âu, sau đó là
của các chính phủ thuộc địa của người Âu tại Tân Thế giới, cuối cùng là của các
nhà nước độc lập mới theo kiểu châu Âu tiếp bước các chính phủ thuộc địa này.
Các xã hội bản địa nhỏ hơn thì bị hủy diệt một cách ngẫu
nhiên hơn, bằng những cuộc tập kích và ám sát ở quy mô nhỏ do những công dân
[người Âu] tiến hành trên tư cách cá nhân. Chẳng hạn, những người săn bắt hái
lượm bản địa tại California ban đầu có tổng cộng khoảng 200 ngàn người nhưng lại
chia manh mún thành khoảng một trăm bộ lạc nhỏ, từng bộ lạc trong số đó thì chẳng
cần đến một cuộc chiến tranh cũng có thể đánh bại được. Hầu hết các bộ lạc nhỏ
đó bị giết sạch hoặc chiếm đất trong hoặc ngay sau cơn sốt tìm vàng ở
California vào năm 1848-1852 khi những người nhập cư châu Âu đổ xô vào bang này
để tìm vàng. Một ví dụ tiêu biểu là bộ lạc Yahi ở bắc California, vốn có dân số
khoảng 2.000 người và không có súng, đã bị tiêu diệt trong bốn cuộc tập kích của
người da trắng có vũ trang: một cuộc tập kích lúc hoàng hôn của 17 người da trắng
tấn công một làng Yahi vào ngày 6 tháng tám năm 1865, một cuộc thảm sát người
Yahi trong một hẻm núi vào năm 1866, 33 người Yahi bị dồn vào một hang đá rồi bị
thảm sát vào khoảng năm 1867, cuối cùng là 4 tay chăn bò giăng bẫy chừng 30 người
Yahi, dồn vào một hang đá khác rồi thảm sát vào khoảng năm 1868. Tương tự, nhiều
nhóm Anh-điêng ở vùng Amazonia cũng bị tiêu diệt bởi những người [da trắng] di
cư trong cuộc bùng nổ cao su vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Những giai đoạn
cuối cùng của cuộc chinh phục đó diễn ra trong thập niên hiện nay khi xã hội
người Yanomamo và các xã hội Anh-điêng vùng Amazonia khác – mà đến nay vẫn còn
độc lập không còn chống lại nổi với bệnh tật – đang bị những kẻ khai thác mỏ giết
hại hoặc đang rơi vào vòng kiểm soát của các nhà truyền giáo hay đại diện chính
phủ.
Kết quả cuối cùng là các xã hội châu Mỹ bản địa đông đúc đã bị
loại trừ khỏi hầu hết các khu vực ôn hòa nhất thích hợp cho sản xuất lương thực
và thể chất của người châu Âu. Ở Bắc Mỹ, những xã hội châu Mỹ bản địa nào còn tồn
tại đến nay như những cộng đồng còn nguyên vẹn và có quy mô đáng kể thì hầu hết
đều sống trong những khu bảo tồn hoặc những vùng đất khác được coi là không
thích hợp cho nền sản xuất lương thực và khai mỏ của người Âu, chẳng hạn vùng Bắc
Cực hoặc các khu vực khô cằn ở miền tây Hoa Kỳ. Người châu Mỹ bản địa ở nhiều
khu vực nhiệt đới đã bị thế chỗ bằng những người di cư từ vùng nhiệt đới ở Cựu
Thế giới sang (đặc biệt là người châu Phi đen, cùng với người Ấn Độ ở châu Á và
người Java ở Surinam).
Ở nhiều khu vực của Trung Mỹ và vùng Andes, người châu Mỹ bản
địa trước kia từng đông đúc đến nỗi thậm chí dù sau bao nhiêu dịch bệnh và chiến
tranh, hầu hết cư dân ngày nay ở đó vẫn là người châu Mỹ bản địa hoặc lai [giữa
châu Mỹ bản địa với các sắc dân khác]. Điều đó đặc biệt đúng ở các vĩ độ cao ở
vùng Andes, nơi các phụ nữ người Âu về mặt di truyền thường gặp khó khăn về
sinh lý ngay cả khi sinh sản, và các cây trồng Andes bản địa vẫn tiếp tục là những
cây thích hợp nhất cho sản xuất lương thực. Tuy nhiên, ngay cả ở những nơi mà
người châu Mỹ bản địa còn sống sót đến nay thì văn hóa và ngôn ngữ của họ cũng
đã bị thay thế một cách triệt để bằng văn hóa và ngôn ngữ của Cựu Thế giới.
Trong số hàng trăm ngôn ngữ châu Mỹ bản địa từng được dùng ở Bắc Mỹ thì ngoại
trừ 187 thứ tiếng, tất cả các ngôn ngữ khác hoàn toàn không còn được sử dụng
ngày nay, và trong số 187 thứ tiếng vẫn còn có người nói đó thì hết 149 thứ tiếng
là những ngôn ngữ đang hấp hối, theo nghĩa chỉ còn những người già mới nói được
trong khi trẻ em thì không còn học nữa. Trong số khoảng 40 dân tộc ở Tân Thế giới,
toàn bộ ngày nay đều dùng một ngôn ngữ Ấn-Âu hoặc một ngôn ngữ pha trộn (tiếng
creole) làm ngôn ngữ chính thức. Ngay cả ở những nước có số dân châu Mỹ bản địa
còn sống sót đông nhất như Peru, Bolivia, Mexico và Guatemala, chỉ cần nhìn qua
ảnh các lãnh tụ chính trị và doanh nhân hàng đầu là đủ thấy hầu hết đều là người
Âu, trong khi một số quốc gia vùng Caribe có lãnh tụ là người châu Phi da đen
còn Guyana thì có lãnh tụ là người Ấn Độ gốc châu Á.
Cư dân châu Mỹ bản địa nguyên thủy đã bị giảm sút với một tỷ
lệ lớn, tuy rằng lớn bao nhiêu thì người ta vẫn còn tranh cãi: dự tính rằng ở Bắc
Mỹ con số này lên tới 95%. Nhưng toàn bộ dân số loài người ở châu Mỹ ngày nay gần
như lớn gấp mười lần so với tại thời điểm 1492 bởi có những người từ Cựu Thế giới
(châu Âu, châu Phi và châu Á) đến. Dân số châu Mỹ ngày nay là một hỗn hợp giữa
các dân tộc xuất phát từ mọi lục địa ngoại trừ Australia. Sự chuyển dịch nhân
khẩu đó trong vòng 500 năm trở lại đây – cuộc chuyển dịch nhân khẩu lớn nhất
trên mọi lục địa ngoại trừ Australia – có cội rễ sâu xa từ những sự phát triển
trong khoảng từ 11.000 năm TCN cho đến năm thứ 1 công nguyên.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 19 - Châu phi
đã trở thành đen như thế nào?
Dù ta đã đọc trước bao nhiêu sách vở về châu Phi đi nữa, ấn
tượng đầu tiên khi ta thực sự đặt chân đến châu Phi cũng thật là choáng ngợp.
Trên đường phố Windhoek, thủ đô nước Namibia vừa giành độc lập, tôi thấy người
da đen Herero, người da đen Ovambo, người da trắng và người Nama, một giống dân
chẳng giống da đen cũng chẳng giống da trắng. Họ không còn chỉ là những bức
tranh minh họa trong sách giáo khoa mà là những con người sống động trước mắt
tôi. Bên ngoài Windhoek, những kẻ cuối cùng còn sót lại của tộc người Bushmen
vùng sa mạc Kalahari đã có thời đông đúc đang chật vật chiến đấu để sinh tồn.
Nhưng cái làm tôi ngạc nhiên nhất ở Namibia là một bảng tên đường: một trong những
con phố chính ở khu mua bán sầm uất tại Windhoek mang tên Phố Goering!
Lúc ấy tôi nghĩ: nhất định chẳng có xứ sở nào bị những tên
phát xít Đức không hề biết ăn năn hối lỗi kia thống trị nặng nề đến nỗi phải lấy
tên của tay phát xít khét tiếng Hermann Goering, ủy viên Đế chế Đức, kẻ sáng lập
lực lượng Không quân Đức mà đặt cho một con đường cả! Nhưng hóa ra con đường
này không phải lấy tên Hermann Goering mà là cha của y, Heinrich Goering, đại
diện toàn quyền của Đế chế Đức, người sáng lập thuộc địa cũ của Đức tại vùng
tây nam châu Phi mà sau này là xứ Namibia. Nhưng Heinrich còn là một nhân vật đầy
phức tạp, bởi một phần di sản của ông ta là một trong cuộc các tấn công tàn bạo
nhất của người châu Âu chống người châu Phi – cuộc chiến tranh năm 1904 của Đức
nhằm tiêu diệt người Herero. Ngày nay, khi những sự kiện ở xứ Nam Phi láng giềng
đang khiến cho thế giới quan tâm, Namibia đang chiến đấu để đối phó với quá khứ
thuộc địa của mình và thiết lập một xã hội đa chủng tộc. Với tôi, Namibia là ví
dụ minh họa cho thấy không thể tách rời quá khứ của châu Phi khỏi hiện tại của
lục địa này.
Hầu hết người châu Phi và nhiều người châu Âu ngày nay vẫn
đánh đồng người châu Phi bản địa với người da đen còn người châu Phi da trắng đều
là những kẻ xâm lược mãi sau này, và coi lịch sử chủng tộc của châu Phi tương
đương với lịch sử người Âu thuộc địa hóa châu Phi và buôn nô lệ người Phi. Có một
lý do hiển nhiên tại sao chúng ta chỉ chú tâm vào các sự kiện cụ thể này: người
da đen là những người châu Phi bản địa duy nhất quen thuộc với hầu hết người Mỹ,
bởi họ đã được đưa sang Hoa Kỳ với số lượng lớn làm nô lệ. Song, thật ra, trên
hầu hết châu Phi đen ngày nay ắt hẳn đã từng có những dân tộc rất khác nhau
sinh sống cho mãi tới mấy ngàn năm trở lại đây, và bản thân cái gọi là người
châu Phi da đen cũng không hề đồng nhất. Ngay trước khi thực dân da trắng đến
châu Phi, lục địa này đã là nơi sinh sống không chỉ của người da đen mà là (như
ta sẽ thấy) của đến năm trong sáu phân nhóm chính của loài người, và ba trong số
đó chỉ sinh sống tại châu Phi. Một phần tư các ngôn ngữ trên toàn thế giới chỉ
được sử dụng tại châu Phi. Không một lục địa nào khác đạt đến mức đa dạng về chủng
loại người đến như vậy.
Sự đa dạng về dân tộc của châu Phi là kết quả của sự đa dạng
về địa lý và giai đoạn tiền sử lâu dài của lục địa này. Châu Phi là lục địa duy
nhất trải dài từ vùng ôn đới phía bắc xuống vùng ôn đới phía nam, đồng thời
cũng bao hàm một số trong những sa mạc khô hạn nhất, rừng mưa nhiệt đới lớn nhất
và ngọn núi vùng xích đạo cao nhất trên thế giới. Con người đã sống ở châu Phi
lâu hơn ở bất cứ nơi nào khác: các tổ tiên xa xưa của chúng ta đã phát xuất từ
đó cách đây 7 triệu năm, người Homo sapiens hiện đại về mặt giải phẫu cũng có
thể đã ra đời từ đó. Sự tiếp xúc lâu dài giữa các dân tộc đa dạng của châu Phi
đã khiến nảy sinh giai đoạn tiền sử đầy quyến rũ của lục địa này, trong đó có
hai trong những làn sóng di dân lớn nhất trong 5.000 năm trở lại đây: cuộc bành
trướng của người Bantu và công cuộc thuộc địa hóa Madagascar của người
Indonesia. Tất cả những tiếp xúc đó trong quá khứ vẫn tiếp tục có hậu quả nặng
nề đến ngày nay, bởi vấn đề nằm ở chỗ những ai đã đến những đâu trước những thời
điểm nào để hình thành nên châu Phi ngày nay.
Làm thế nào năm phân nhóm đó của loài người đã đến được nơi họ
đang sống ngày nay tại châu Phi? Tại sao chính người da đen là chủng người đã
trở nên phổ biến đến vậy ở châu Phi ngày nay, chứ không phải bốn nhóm người kia
mà ngày nay người Mỹ hầu như quên mất là họ có tồn tại? Làm sao ta có thể mong
moi được lời giải đáp cho các câu hỏi đó từ quá khứ tiền văn tự của châu Phi nếu
không có những bằng chứng thành văn khả dĩ cho ta biết về sự bành trướng của đế
chế La Mã? Giai đoạn tiền sử của châu Phi là một bài toán đố trên quy mô lớn mà
người chỉ mới giải được một phần. Hóa ra, câu chuyện ở đây có những sự tương đồng,
mà ít người nhận thấy song rất đáng quan tâm, với giai đoạn tiền sử của châu Mỹ
mà chúng ta đã gặp trong chương trước.
Năm nhóm người chính mà châu Phi là quê hương tại thời điểm
năm 1000 là những nhóm mà dân không chuyên vẫn gọi một cách không chính xác lắm
là người da đen, người da trắng, người Pygmy châu Phi, người Khoisan và người
châu Á. Hình 19.1 minh họa sự phân phối năm nhóm người này, còn các ảnh chân
dung theo sau trang 288 sẽ nhắc cho bạn nhớ sự khác biệt nổi bật giữa họ về màu
da, hình dáng và màu sắc của tóc cũng như nét mặt. Người da đen trước kia chỉ sống
tại châu Phi, người Pygmy và người Khoisan đến nay vẫn chỉ sinh sống ở đó,
trong khi người da trắng và người châu Á thì sống ở ngoài châu Phi nhiều hơn gấp
bội so với tại châu Phi. Năm nhóm này chính là hoặc đại diện cho toàn bộ năm
nhóm chính của loài người, nếu không kể nhóm người Australia bản địa và các
nhóm họ hàng của nhóm này.
Nhiều độc giả ắt sẽ phản đối: đừng có công thức hóa loài người
bằng cách phân loại họ thành những “chủng tộc” đầy võ đoán như vậy chứ! Vâng,
tôi thừa nhận rằng bản thân mỗi nhóm trong cái gọi là năm nhóm chính kia cũng rất
đa dạng. Nếu xếp những dân tộc rất khác nhau như người Zulu, người Somali và
người Ibo vào cùng một cái nhãn “da đen” theo kiểu vơ đũa cả nắm, ấy là ta chẳng
đếm xỉa gì đến những khác biệt giữa họ cả. Chúng ta cũng chẳng đếm xỉa gì đến
những khác biệt lớn lao không kém nếu gộp người Ai Cập và người Berber ở châu
Phi lại với nhau rồi lại gộp chung họ với người Thụy Điển ở châu Âu vào cùng một
danh xưng “da trắng”. Ngoài ra, sự phân biệt đâu là người da đen, đâu là người
da trắng và các nhóm chính khác cũng rất là tùy tiện, bởi mỗi nhóm như vậy đều
có sự chuyển tiếp lẫn nhau: tất cả các nhóm người trên trái đất đều đã từng hợp
huyết với bất cứ nhóm nào khác mà họ gặp. Dẫu vậy, như ta đã thấy, việc thừa nhận
các nhóm chính đó vẫn có ích trong việc giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử, cho
nên tôi sẽ dùng tên các nhóm này mà gọi cho tiện, để không phải mỗi lần nói tới
thì lại phải nhắc đi nhắc lại những điều trên.
Trong số năm nhóm châu Phi, các đại diện của nhiều quần thể
người da đen và da trắng đã quen thuộc với người Mỹ và người châu Âu đến nỗi
không cần phải mô tả ngoại hình của họ. Người da đen chiếm phần lớn nhất của
châu Phi ngay từ năm 1400: vùng phía nam Sahara và hầu hết châu Phi hạ Sahara
(xem Hình 19.1). Tuy người Mỹ da đen có nguồn gốc châu Phi xuất thân chủ yếu từ
vùng duyên hải phía tây châu Phi, nhưng các dân tộc tương tự như vậy từ xưa còn
chiếm lĩnh cả vùng Đông Phi nữa, phía bắc thì đến Sudan còn về phía nam thì đến
vùng duyên hải tây nam của nước Nam Phi ngày nay. Người da trắng, bao gồm từ
người Ai Cập đến người Lybia cho đến người Morocco, chiếm cứ vùng duyên hải
phía bắc châu Phi và phía bắc sa mạc Sahara. Những người Bắc Phi đó khó lòng nhầm
lẫn được với những người Thụy Điển mắt xanh tóc vàng, nhưng hầu hết dân không
chuyên vẫn gọi là người “da trắng” vì họ có da sáng màu hơn và tóc thẳng hơn so
với những dân tộc về phía nam được gọi là “da đen”. Hầu hết người da đen và da
trắng châu Phi đều sống bằng trồng trọt hoặc chăn nuôi hoặc cả hai.
Ngược lại, hai nhóm kế tiếp là người Pygmy và người Khoisan gồm
toàn những người sống bằng săn bắt hái lượm không biết trồng trọt hoặc chăn
nuôi. Cũng như người da đen, người Pygmy có da thẫm và tóc xoăn tít. Tuy nhiên,
người Pygmy khác người da đen ở chỗ họ nhỏ con hơn nhiều, da có sắc hơi đỏ hơn
mà ít đen hơn, lông trên mặt và trên người rậm hơn, trán, mắt và răng lộ hơn.
Người Pygmy chủ yếu là dân săn bắt hái lượm sống thành từng nhóm sống rải rác
khắp vùng rừng mưa Trung Phi và trao đổi với hoặc làm việc cho những nhà nông
da đen láng giềng.Hình 19.1: Đọc lại nội dung Chương 19 về những thiếu sót khó
tránh khi mô tả sự phân bố các dân tộc châu Phi theo cách phân loại quen thuộc
nhưng có lắm vấn đề phải bàn này.
Người Khoisan hợp thành nhóm châu Phi mà ít người Mỹ biết đến
nhất, có khi còn chưa hề nghe nói tới không chừng. Trước kia họ từng phân bố ở
toàn bộ phần nam châu Phi, bao gồm không chỉ những nhóm săn bắt hái lượm nhỏ được
gọi là San mà còn là những nhóm chăn nuôi lớn hơn được gọi là Khoi. (Những cái
tên này hiện nay được chuộng hơn so với những cái tên Hottentot và Bushmen mà
nhiều người biết đến hơn). Cả người Khoi lẫn người San đều rất đỗi không giống
(hoặc đã từng không giống) với người da đen châu Phi: da họ có sắc hơi vàng,
tóc họ xoăn tít, và phụ nữ thường có xu hướng tích mỡ ở mông (cái gọi là chứng
“steatopygia”). Với tư cách một nhóm riêng biệt, người Khoi đã giảm sút rất nhiều
về số lượng: thực dân châu Âu đã giết chóc, xua đuổi hoặc truyền bệnh cho nhiều
người Khoi, và hầu hết những người sống sót đều đã hợp huyết với người châu Âu
để sinh ra những người mà ở Nam Phi được gọi là người Colored hoặc người
Baster. Người San cũng vậy, bị [người châu Âu] giết chóc, xua đuổi hoặc truyền
bệnh, nhưng một nhóm nhỏ còn lại – mà ngày một teo nhỏ hơn – vẫn duy trì được sự
khác biệt của mình ở sa mạc Namibia vốn không thích hợp cho nghề nông, như một
bộ phim khá đông người xem cách đây mấy năm là Thượng đế cũng phải cười (The
Gods Must be Crazy) đã miêu tả.
Việc người da trắng phân bố ở phía bắc châu Phi thì không có
gì lạ, bởi những dân tộc có ngoại hình tương tự cũng sinh sống ở các khu vực
lân cận tại Cận Đông và châu Âu. Trong suốt lịch sử thành văn, người ta vẫn thường
xuyên qua lại giữa châu Âu, Cận Đông và Bắc Phi. Vì vậy tôi sẽ không nói thêm
nhiều về người da trắng châu Phi trong chương này bởi nguồn gốc của họ chẳng có
gì bí ẩn. Thay vì vậy, bí ẩn có chăng là ở người da đen, người Pygmy và người
Khoisan, bởi sự phân bố của họ cho ta thấy đã từng có những biến động đột ngột
về dân số trong quá khứ. Chẳng hạn, 200.000 người Pygmy hiện nay phân bố rất
manh mún, rải rác xen giữa 120 triệu người da đen, điều đó cho thấy trước kia
những thợ săn Pygmy từng phổ biến khắp cả vùng rừng nhiệt đới cho đến khi các
nhà nông da đen [từ nơi khác đến] chiếm đất của họ và khiến họ trở nên bị cô lập.
Khu vực người Khoisan ở phía nam châu Phi nhỏ bé đến kỳ lạ trong khi họ là một
dân tộc rất ư khác biệt về giải phẫu học và ngôn ngữ. Liệu có phải ngay cả người
Khoisan cũng đã từng phổ biến rộng khắp hơn, cho đến khi những quần thể nằm xa
hơn về phía bắc của họ bị [người da đen] loại bỏ chăng?
Trường hợp khác thường hơn cả thì tôi xin để lại sau cùng.
Hòn đảo lớn nhất châu Phi là Madagascar chỉ cách bờ biển Tây Phi 250 dặm (400
km), gần châu Phi hơn bất cứ lục địa nào khác, cách châu Á và Australia cả một Ấn
Độ Dương rộng mênh mông. Dân cư Madagascar rõ là sự hòa trộn giữa hai yếu tố.
Chẳng có gì lạ rằng một trong hai yếu tố đó là người châu Phi da đen, nhưng yếu
tố còn lại thì bao gồm những người mà chỉ nhìn qua bề ngoài ta có thể nhận ra
ngay là người Đông Nam Á nhiệt đới. Đặc biệt, ngôn ngữ mà toàn bộ cư dân
Madagascar sử dụng – người châu Á, người da đen và người lai [giữa hai chủng
đó] – là tiếng Nam Đảo và rất giống tiếng Ma’anyan được dùng trên đảo Borneo
thuộc Indonesia cách Madagascar những 4.000 dặm (6.400 km) phía bên kia Ấn Độ
Dương. Trong suốt hàng ngàn dặm ngăn cách giữa Borneo với Madagascar chẳng hề
có dân tộc nào giống người Borneo dù chỉ hơi một tí thôi.
Những người Nam Đảo đó, với ngôn ngữ Nam Đảo và nền văn hóa
Nam Đảo đã được biến đổi, đã định cư ở Madagascar vào thời điểm người châu Âu lần
đầu tiên đặt chân lên Madagascar vào năm 1500. Tôi kinh ngạc trước sự kiện này,
sự kiện kỳ lạ nhất trong sự phân bố loài người trên toàn thế giới. Thế cũng chẳng
khác nào Columbus khi đặt chân đến Cuba thì thấy cư dân hòn đảo này là những
người Scandinavia tóc vàng mắt xanh nói một thứ tiếng gần với tiếng Thụy Điển mặc
dù trên lục địa Bắc Mỹ ngay gần đó toàn những người châu Mỹ bản địa nói tiếng
Anh-điêng bản địa. Làm thế nào những người tiền sử ở Borneo đó – mà người ta
cho rằng họ đi biển không có bản đồ hay la bàn – đã chu du đến tận Madagascar
được?
Trường hợp Madagascar cho ta thấy rằng ngôn ngữ loài người –
cũng như ngoại hình của họ – có thể cho ta những mấu chốt quan trọng để biết cội
nguồn của họ. Chỉ cần nhìn cư dân Madagascar là đủ biết một số người trong họ
có xuất xứ từ Đông Nam Á nhiệt đới, nhưng ta vẫn không thể biết đích xác từ khu
vực nào của Đông Nam Á nhiệt đới, cũng không bao giờ có thể đoán được là từ
Borneo. Vậy ta có thể biết thêm những gì qua các ngôn ngữ châu Phi, ngoài những
gì ta đã biết khi nhìn vào khuôn mặt những người Phi?
Sự phức tạp đến đau đầu của các ngôn ngữ châu Phi – những
1.500 thứ tiếng – đã được làm sáng rõ bởi Joseph Greenberg, nhà ngôn ngữ học vĩ
đại ở Đại học Stanford. Ông đã nhận ra rằng tất cả các ngôn ngữ đó chỉ thuộc về
năm ngữ hệ (xem sự phân bố các ngữ hệ này ở Hình 19.2). Độc giả nào quen nghĩ rằng
ngôn ngữ học là một thứ khoa học nhàm chán và quá chuyên môn hẳn sẽ ngạc nhiên
khi biết được rằng Hình 19.2 có thể góp phần to lớn thế nào để giúp ta hiểu rõ
hơn lịch sử châu Phi.
Nếu bắt đầu bằng cách so sánh Hình 19.2 với Hình 19.1, ta sẽ
thấy một sự tương đồng đại khái giữa các ngữ hệ với các nhóm người đã được phân
định về mặt giải phẫu học: các ngôn ngữ thuộc một ngữ hệ nhất định thường được
dùng bởi một số người nhất định. Cụ thể, hầu hết những người nói các ngôn ngữ
Phi-Á (Afroasiatic) là những người mà ta có thể phân loại là người da trắng hoặc
da đen, những người nói tiếng Nilo-Sahara và tiếng Niger-Congo là người da đen,
Khoisan thì nói tiếng Khoisan, còn người Nam Đảo thì nói tiếng Indonesia. Điều
đó gợi ý rằng các ngôn ngữ thường có xu hướng tiến hóa song song với những người
sử dụng chúng.Hình 19.2: Các ngữ hệ ở châu Phi
Ẩn giấu ở mép trên cùng Hình 19.2 là điều ngạc nhiên đầu tiên
của chúng ta, một cú sốc lớn cho những tín đồ của thuyết dĩ Âu vi trung vốn tin
tưởng ở tính ưu việt của cái gọi là nền văn minh phương Tây. Chúng ta được dạy
[ở trường] rằng nền văn minh phương Tây xuất phát ở vùng Cận Đông, được nâng
lên những đỉnh cao sáng chói bởi người Hy Lạp và người La Mã, và sinh ra ba
trong số các tôn giáo lớn nhất trên thế giới: đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái và đạo
Hồi. Các tôn giáo này phát sinh từ những dân tộc nói ba thứ tiếng có quan hệ gần
gũi với nhau được gọi là tiếng Semite: tiếng Aramaic (ngôn ngữ của Chúa Jesus
và các thánh tông đồ), tiếng Hebrew và tiếng Arập. Một cách bản năng, chúng ta
vẫn thường coi các dân tộc Semite là gắn liền với Cận Đông.
Tuy nhiên, Greenberg đã xác định rằng thực ra các ngôn ngữ
Semite chỉ là một trong số ít nhất là sáu nhánh của một ngữ hệ lớn hơn nhiều là
tiếng Phi-Á, và tất cả các nhánh khác của ngữ hệ này (cũng như 222 ngôn ngữ
khác còn tồn tại đến nay) đều chỉ nằm ở châu Phi. Ngay cả bản thân ngữ hệ con
Semite cũng chủ yếu là của châu Phi, bởi trong số 19 ngôn ngữ còn lại đến nay của
ngữ hệ này thì đến 12 là chỉ ở Ethiopia. Điều đó cho thấy các ngôn ngữ Phi-Á đã
phát sinh ở châu Phi, và chỉ một nhánh của ngữ hệ này đã bành trướng sang Cận
Đông. Từ đó suy ra, rất có thể châu Phi mới chính là nơi đã khai sinh ngôn ngữ
của các tác giả Cựu ước và Tân ước cũng như kinh Koran, những rường cột đạo đức
của nền văn minh phương Tây.
Ngạc nhiên lớn thứ hai ở Hình 19.2 là một chi tiết có vẻ nhỏ
nhặt mà mới đây tôi đã nhắc tới song không chú thích gì thêm, rằng các nhóm dân
tộc khác nhau thì có xu hướng nói những ngôn ngữ khác nhau. Trong số năm nhóm
người của châu Phi – da đen, da trắng, Pygmy, Khoisan và Indonesia – chỉ có người
Pygmy là không nói những ngôn ngữ khác biệt [với các ngôn ngữ khác]: mỗi bộ lạc
Pygmy đều nói cùng một thứ tiếng với các nhóm da đen làm nghề nông láng giềng của
họ. Tuy nhiên, nếu so sánh một thứ tiếng cụ thể mà người Pygmy sử dụng với cùng
thứ tiếng đó mà người da đen sử dụng, ta sẽ thấy dị bản của người Pygmy thường
có một số từ riêng biệt với các phát âm khác biệt.
Dĩ nhiên là thoạt kỳ thủy những dân tộc khác biệt đến như người
Pygmy, sống ở một nơi khác biệt đến như vùng rừng mưa xích đạo châu Phi, ắt hẳn
là phải đủ biệt lập để hình thành một ngữ hệ riêng biệt. Tuy nhiên, ngày nay
các ngôn ngữ biệt lập đó [của người Pygmy] không còn nữa, và ta đã thấy ở Hình
19.2 rằng dân số người Pygmy hiện nay phân bố hết sức manh mún. Như vậy, sự
phân bố về địa lý kết hợp với đặc trưng về ngôn ngữ gợi ý rằng quê hương nguyên
thủy của người Pygmy ngày xưa đã bị các nhà nông da đen xâm chiếm, những người
Pygmy sống sót đã tiếp thu ngôn ngữ của các nhà nông da đen đó, còn ngôn ngữ
nguyên thủy của họ chỉ còn để lại dấu vết ở một vài từ và một vài âm. Trước đây
ta đã thấy rằng điều đó cũng đúng với những người Negrito ở Malaysia (người
Semang) và người Negrito ở Philippines, những kẻ đã tiếp thu các ngôn ngữ Nam Á
và Nam Đảo từ những người làm nghề nông [từ nơi khác đến] sống vây quanh họ.
Tương tự, sự phân bố manh mún của các ngôn ngữ Nilo-Sahara ở
Hình 19.2 gợi ý rằng nhiều người nói các ngôn ngữ đó đã bị những người nói các
ngôn ngữ Phi-Á hoặc ngôn ngữ Niger-Congo [từ nơi khác tới] nhấn chìm. Nhưng sự
phân bố các ngôn ngữ Khoisan còn minh chứng cho một trường hợp nhấn chìm còn bi
kịch hơn thế nữa. Các ngôn ngữ này vốn nổi tiếng thế giới bởi một nét đặc trưng
độc nhất vô nhị là dùng những tiếng “tách” làm phụ âm. (Nếu bạn từng bối rối
khi gặp cái tên!Kung Bushman, xin thưa với bạn rằng dấu chấm than kia không phải
để biểu thị hơi quá sớm một nỗi kinh ngạc; đó chẳng qua là cách để các nhà ngôn
ngữ học biểu thị một tiếng tách mà thôi). Mọi ngôn ngữ Khoisan còn lại đến nay
đều chỉ bó hẹp ở miền nam châu Phi, trừ hai ngoại lệ. Hai ngoại lệ đó là các
ngôn ngữ Khoisan rất khác biệt, dày đặc những tiếng tách được gọi là tiếng
Hadza và tiếng Sandawe, lạc lõng tận Tanzania cách các ngôn ngữ Khoisan gần nhất
ở miền nam châu Phi đến hơn 1.000 dặm (1.600 km).
Ngoài ra, tiếng Xhosa và một vài ngôn ngữ Niger-Congo khác ở
nam châu Phi cũng đầy rẫy những tiếng tách. Còn bất ngờ hơn nữa, những tiếng
tách hoặc các từ Khoisan cũng xuất hiện ở hai ngôn ngữ Phi-Á được người da đen
sử dụng ở Kenya, mà so với hai nhóm Hadza và Sandawe ở Tanzania thì lại còn xa
các dân tộc Khoisan hiện nay hơn nữa. Tất cả những điều trên gợi ý rằng xưa kia
các ngôn ngữ và dân tộc Khoisan từng trải rộng hơn nhiều về phía bắc so với
vùng phân bố của họ ở nam châu Phi ngày nay, nhưng rồi đến một lúc thì chính họ,
cũng như người Pygmy, bị người da đen [từ nơi khác tới] nhấn chìm, và sự hiện
diện trước kia của họ đến nay chỉ còn lưu lại dấu vết trong ngôn ngữ mà thôi.
Đó là một phần đóng góp vô song cho bằng chứng về ngôn ngữ, điều mà chúng ta
khó lòng đoán được nếu chỉ nghiên cứu ngoại hình của những người đang sống ngày
nay.
Phần đóng góp xuất sắc nhất của khoa ngôn ngữ học thì tôi để
lại sau cùng. Nếu nhìn lại lần nữa Hình 19.2, ta sẽ thấy rằng ngữ hệ
Niger-Congo được phân bố khắp cả Tây Phi và hầu hết châu Phi hạ xích đạo, khiến
dường như ta khó lòng biết được ngữ hệ này đã phát sinh tại khu vực cụ thể nào
trong suốt vùng phân bố mênh mông đó. Tuy nhiên, Greenberg nhận ra rằng toàn bộ
các ngôn ngữ Niger-Congo ở châu Phi hạ xích đạo đều thuộc một nhóm con duy nhất
gọi là Bantu. Nhóm con này chiếm gần một nửa trong số 1.032 ngôn ngữ
Niger-Congo và trên một nửa (gần 200 triệu người) sử dụng ngữ hệ Niger-Congo.
Nhưng toàn bộ 500 ngôn ngữ Bantu đó gần nhau đến nỗi người ta từng mô tả chúng
một cách hài hước là 500 phương ngữ của cùng một thứ tiếng duy nhất.
Gộp chung lại, các ngôn ngữ Bantu chỉ là một ngữ hệ con duy
nhất ở nằm bậc thấp trong ngữ hệ Niger-Congo. Hầu hết 176 ngôn ngữ khác trong
ngữ hệ này phân bố dày đặc ở Tây Phi, một phần nhỏ của toàn bộ dãy Niger-Congo.
Đặc biệt, các ngôn ngữ Bantu khác biệt nhất, cùng các ngôn ngữ Niger-Congo
không thuộc nhóm Bantu mà có quan hệ gần gũi nhất với ngôn ngữ Bantu, đều bị
lèn chặt vào một khu vực bé tí của Cameroon và vùng lân cận là phía đông
Nigeria.
Rõ ràng là ngữ hệ Niger-Congo đã phát sinh ở Tây Phi; nhánh
Bantu của nó phát sinh ở cực phía đông của dãy đó, tại Cameroon và Nigeria; và
sau đó nhánh Bantu bành trướng ra khỏi quê nhà nguyên thủy đó để lan ra khắp
châu Phi hạ xích đạo. Sự bành trướng đó ắt đã diễn ra từ lâu, để ngôn ngữ Bantu
thủy tổ có đủ thì giờ tách ra thành 500 ngôn ngữ con, song cũng không quá lâu
nên tất cả các ngôn ngữ con đó vẫn còn rất giống nhau [chứ chưa có đủ thời gian
tiến hóa để trở nên khác biệt nhau, ND]. Bởi tất cả những người nói các ngôn ngữ
Niger-Congo khác cũng như ngôn ngữ Bantu đều là người da đen, nên ta không thể
suy ra ai đã di cư theo hướng nào nếu chỉ căn cứ vào bằng chứng nhân chủng học.
Để làm sáng tỏ kiểu lập luận dựa trên ngôn ngữ học này, hãy
cho tôi đưa ra một ví dụ quen thuộc: nguồn gốc địa lý của bản thân tiếng Anh.
Ngày nay, đại đa số những người mà tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất [tiếng mẹ đẻ]
sinh sống tại Bắc Mỹ, những người khác thì sống rải rác trên khắp thế giới, tại
Anh, Australia và các nước khác. Mỗi nước trong số này đều có phương ngữ tiếng
Anh riêng của mình. Nếu như chẳng biết gì về sự phân bố ngôn ngữ và lịch sử thì
ắt hẳn ta đã phải đoán rằng tiếng Anh phát xuất từ Bắc Mỹ rồi được các thực dân
Bắc Mỹ mang qua đại dương để đến Anh và Australia.
Thế nhưng toàn bộ các phương ngữ khác nhau đó của tiếng Anh
cũng chỉ là một nhóm con có thứ bậc thấp trong ngữ hệ German. Tất cả các ngữ hệ
con khác – các ngôn ngữ Scandinavia, tiếng Đức và tiếng Hà Lan – đều chỉ bó hẹp
ở vùng tây bắc châu Âu. Đặc biệt, tiếng Frisia, ngôn ngữ German gần gũi với tiếng
Anh nhất, chỉ gói gọn trong một vùng duyên hải bé tí của Hà Lan và miền tây nước
Đức. Từ đó một nhà ngôn ngữ học có thể suy diễn một cách chí lý rằng tiếng Anh
đã phát sinh từ vùng duyên hải tây bắc châu Âu và từ đó bành trướng ra toàn thế
giới. Trên thực tế, nhờ lịch sử thành văn mà ta biết rằng tiếng Anh đã được
mang từ tây bắc châu Âu sang đảo Anh bởi những người Anglo-Saxon xâm lược hòn đảo
này vào thế kỷ V và VI.
Về cơ bản, cũng bằng cách lập luận như vậy ta có thể suy ra rằng
gần 200 triệu người Bantu mà ngày nay sinh sống ở hầu khắp châu Phi vốn dĩ phát
sinh từ Cameroon và Nigeria. Cùng với nguồn gốc Bắc Phi của người Semite và nguồn
gốc châu Á của người Madagascar, đây là thêm một kết luận nữa mà chúng ta không
thể rút ra nếu không có bằng chứng về ngôn ngữ.
Từ sự phân bố nhóm ngôn ngữ Khoisan và từ chỗ người Pygmy
không có những ngôn ngữ riêng biệt của mình, chúng ta đã diễn dịch rằng các dân
tộc Pygmy và Khoisan trước kia từng phân bố rộng hơn, cho đến khi họ bị người
da đen [từ nơi khác đến] nhấn chìm. (Tôi dùng từ “nhấn chìm” như một từ có tính
khái quát, trung tính, dù trên thực tế những người da đen kia đã chinh phục,
đánh đuổi, hợp huyết, giết hại hay truyền bệnh cho các dân tộc này). Giờ thì ta
đã thấy – từ sự phân bố các ngôn ngữ Niger-Congo – rằng những người da đen tiến
hành cuộc nhấn chìm này là người Bantu. Bằng chứng về ngoại hình và bằng chứng
về ngôn ngữ cho đến giờ đã giúp ta suy ra được những cuộc nhấn chìm đó vào thời
tiền sử, nhưng nó vẫn chưa giải được cho ta những bí ẩn hàm chứa trong những cuộc
nhấn chìm đó. Chỉ có bằng chứng mà tôi sẽ trình bày tiếp theo đây mới có thể
giúp ta giải đáp thêm hai câu hỏi nữa: Người Bantu đã có những ưu thế nào để có
thể chiếm chỗ người Pygmy và người Khoisan? Người Bantu đã đặt chân đến quê
hương bản quán của người Pygmy và người Khoisan vào thời gian nào?
Để tiếp cận câu hỏi về những ưu thế của người Bantu, ta hãy
xét loại bằng chứng còn lại từ hiện thực sống động, ấy là bằng chứng rút ra từ
các loài cây trồng và vật nuôi được thuần hóa. Như ta đã thấy trong các chương
trước, bằng chứng này quan trọng là bởi sản xuất lương thực dẫn đến mật độ dân
số cao, vi trùng, công nghệ, tổ chức chính trị và các thành tố khác tạo nên sức
mạnh. Do đó, những dân tộc nào mà do ngẫu nhiên về vị trí địa lý đã thừa hưởng
được hoặc phát triển được nền sản xuất lương thực thì đều trở nên có khả năng
nhấn chìm về mặt địa lý các dân tộc khác kém may mắn hơn.
Khi người châu Âu đến được châu Phi hạ Sahara vào thế kỷ XV,
người châu Phi đang trồng năm bộ cây trồng (Hình 19.3), mỗi bộ trong đó đều có
ý nghĩa rất lớn đối với lịch sử châu Phi. Bộ đầu tiên chỉ được trồng ở Bắc Phi,
trải dài đến các vùng cao nguyên Ethiopia. Bắc Phi có khí hậu Địa Trung Hải mà
đặc trưng là lượng mưa tập trung vào các tháng mùa đông. (Miền nam California
cũng có khí hậu Địa Trung Hải, chính vì vậy mà tầng hầm của nhà tôi cũng như của
hàng triệu người dân California khác hay bị ngập vào mùa đông nhưng lại khô hạn
hết thuốc chữa trong mùa hè). Vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, nơi nghề nông phát sinh
đầu tiên, cũng có mẫu hình khí hậu Địa Trung Hải mưa mùa đông như vậy.
Từ đó suy ra, các cây trồng nguyên thủy của Bắc Phi đều là những
loài cây đã thích nghi với việc nảy mầm và mọc trong mùa đông nhiều mưa, và qua
bằng chứng khảo cổ đến nay ta cũng biết rằng các cây này đã được thuần hóa lần
đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu khoảng 10.000 năm trước. Các cây trồng Lưỡi
liềm Phì nhiêu đó bành trướng đến các vùng lân cận có khí hậu tương tự ở Bắc
Phi và làm cơ sở cho sự phát sinh nền văn minh Ai Cập. Đó là các loài cây quen
thuộc như lúa, lúa mì, đỗ, đậu và nho. Chúng quen thuộc với chúng ta vì chúng
đã bành trướng đến những vùng lân cận có khí hậu tương tự ở châu Âu rồi từ đó
sang châu Mỹ và Australia mà trở thành một số trong những loài cây trồng chính
của nông nghiệp vùng ôn đới trên toàn thế giới.Hình 19.3: Khu vực khởi nguyên những cây trồng được canh tác
từ xa xưa ở châu Phi (nghĩa là được trồng từ trước khi có các cây trồng do thực
dân châu Âu đưa vào) với hai loài cây làm ví dụ cho từng khu vực.
Nếu du hành về phía nam ở châu Phi ngang qua sa mạc Sahara và
lại gặp mưa ở vùng Sahel nằm ngay ở phía nam sa mạc, ta sẽ nhận ra rằng mưa ở
vùng Sahel rơi vào mùa hè chứ không phải vào mùa đông. Cho dù nếu bằng cách nào
đó các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu vốn đã thích nghi với mưa vào mùa đông vượt
qua được Sahara đi nữa, chúng vẫn sẽ khó lòng mọc được ở vùng Sahel vốn chỉ mưa
vào mùa hè. Thay vì vậy, ta gặp hai bộ cây trồng châu Phi khác mà các loài cây
dại tổ tiên của chúng mọc ngay ở phía nam Sahara và đã thích nghi với mưa vào
mùa hè cũng như với độ dài ngày ít thay đổi theo mùa hơn. Một bộ bao gồm những
loài cây mà tổ tiên vốn đã phân bố rộng từ đông sang tây khắp vùng Sahel và có
lẽ đã được thuần hóa ở đó. Trong số các loài này đáng chú ý có cây lúa miến và
kê ngọc trai vốn đã trở thành các cây ngũ cốc chính ở hầu hết châu Phi hạ
Sahara. Lúa miến đã tỏ ra là cây trồng có giá trị đến nỗi ngày nay được trồng ở
các khu vực có khí hậu nóng, khô ở tất cả các lục địa trong đó có Hoa Kỳ.
Bộ cây trồng kia gồm các loài cây mà tổ tiên hoang dã mọc ở
Ethiopia và có lẽ đã được thuần hóa ở các vùng cao nguyên tại đó. Hầu hết các
loài này ngày nay vẫn chỉ được trồng chủ yếu ở Ethiopia và người Mỹ không biết
tới, gồm cây chat chứa chất ma túy, cây ensere giống như cây chuối, cây noog có
nhiều dầu, cây kê ngón tay (finger millet) dùng để làm loại bia đặc sản của
Ethiopia, và cây ngũ cốc có hạt nhỏ xíu gọi là teff mà người Ethiopia dùng để
làm loại bánh mì quốc hồn quốc túy. Song bất cứ độc giả nào nghiện cà phê đều
có thể cám ơn các nhà nông Ethiopia cổ đại vì họ đã thuần hóa cây cà phê. Đầu
tiên cà phê chỉ được trồng ở Ethiopia, nhưng rồi nó được ưa chuộng ở Arập và từ
đó là trên toàn thế giới, và ngày nay cà phê là loài cây chính hỗ trợ nền kinh
tế của những nước nằm rất xa Ethiopia như Brazil và Papua New Guinea.
Bộ cây trồng gần cuối của châu Phi phát sinh từ những tổ tiên
hoang dã ở vùng khí hậu ẩm ướt của Tây Phi. Một số loài này, trong đó có gạo
châu Phi, gần như vẫn chỉ giới hạn ở vùng đó; những loài khác chẳng hạn như
khoai lang châu Phi thì bành trướng ra khắp các khu vực khác của châu Phi hạ
Sahara; và có hai loài – cây cọ dầu và cây cho hạt kola – thì sang cả các lục địa
khác. Người Tây Phi đã biết nhai caffeine chứa hạt kola như một thứ ma túy từ
lâu trước khi công ty Coca-Cola dụ được người Mỹ và sau đó là toàn thế giới uống
một thức uống mà thoạt đầu có pha tinh chất chiết xuất từ hạt này.
Bộ cây trồng châu Phi cuối cùng cũng được làm cho thích nghi
với khí hậu ẩm ướt song lại chính là điều ngạc nhiên lớn nhất ở Hình 19.3. Cây
chuối, khoai lang châu Phi và khoai sọ đã từng phổ biến khắp châu Phi hạ Sahara
vào thế kỷ XV, và gạo châu Á đã đứng chân vững ở vùng duyên hải Đông Phi. Nhưng
các cây trồng này đều có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Sự hiện diện của chúng ở châu
Phi hẳn sẽ làm ta kinh ngạc nếu như sự hiện diện của người Indonesia ở
Madagascar không cảnh báo trước cho ta rằng châu Á đã có liên hệ với châu Phi từ
thời tiền sử. Phải chăng những người Nam Đảo di cư từ Borneo tới đã đổ bộ lên
vùng duyên hải Đông Phi, mang các cây trồng của mình đến tặng cho các nhà nông
châu Phi khiến những người này rất đỗi biết ơn, sau đó tuyển [một số] ngư dân
châu Phi rồi dong buồm vào lúc rạng đông để đến chinh phục Madagascar mà không
để lại dấu vết Nam Đảo nào ở châu Phi?
Điều ngạc nhiên còn lại là tất cả các cây trồng bản địa của
châu Phi – từ vùng Sahel, Ethiopia cho đến Tây Phi – đều phát sinh từ phía bắc
xích đạo. Không một loài nào phát sinh ở phía nam xích đạo cả. Điều này gợi ý
cho chúng ta tại sao những người nói các ngôn ngữ Niger-Congo – vốn xuất thân từ
phía bắc xích đạo – đã có thể chiếm chỗ được người Pygmy ở ngay xích đạo và người
Khoisan ở phía nam xích đạo. Người Khoisan và người Pygmy đã không phát triển
được nghề nông chẳng phải vì họ là những nhà nông kém cỏi, mà đơn giản là do
các loài cây dại ở miền nam châu Phi hầu hết không thích hợp để thuần hóa. Về
sau cả người Bantu lẫn người da trắng, dẫu thừa hưởng hàng ngàn năm kinh nghiệm
nghề nông, cũng không thể nào phát triển các loài cây bản địa ở nam châu Phi
thành cây trồng được cả.
Về các loài thú được thuần hóa của châu Phi, ta lại càng có
thể tóm lược nhanh chóng hơn cả các loài cây bởi thú có quá ít loài. Con vật
duy nhất mà ta biết chắc là đã được thuần hóa ở châu Phi – bởi tổ tiên hoang dã
của nó chỉ sống ở đó – là một con chim giống như gà tây được gọi là gà guinea.
Tổ tiên hoang dã của các loài thuần hóa như bò, lừa, lợn, chó và mèo đều là
loài bản địa châu Phi song cũng là loài bản địa ở Tây Nam Á, nên ta không thể
biết chắc chúng đã được thuần hóa đầu tiên ở đâu, mặc dù các niên đại xưa nhất
mà ta biết đến nay về lừa và mèo nhà được thuần hóa là ở Ai Cập. Bằng chứng gần
đây gợi ý rằng bò có thể đã được thuần hóa độc lập ở Bắc Phi, Tây Nam Á và Ấn Độ,
và cả ba loài bò đó đã góp phần vào các chủng loại bò ở châu Phi ngày nay. Nếu
không thì ắt hẳn tất cả loài gia súc còn lại ở châu Phi đều đã được thuần hóa ở
nơi khác rồi mới được du nhập vào châu Phi sau khi đã thuần hóa, bởi các tổ
tiên hoang dã của chúng đều chỉ có ở Âu-Á. Cừu và dê của châu Phi đều được thuần
hóa ở Tây Nam Á, gà châu Phi thì thuần hóa ở Đông Nam Á, ngựa châu Phi được thuần
hóa ở miền nam Nga, còn lạc đà châu Phi thì có lẽ được thuần hóa ở Arập.
Một bất ngờ nữa trong cái danh sách các loài vật nuôi thuần
hóa của châu Phi, ấy là lại thêm một thứ không có nữa: danh sách này không bao
gồm bất cứ một loài nào trong số các loài hữu nhũ hoang dã lớn mà nhờ chúng
châu Phi mới nổi tiếng và ở lục địa này thì có hằng hà sa số: ngựa vằn và bò rừng,
tê giác và hà mã, hươu cao cổ và trâu rừng. Như ta sẽ thấy, cái thực tế này
mang lại lắm hậu quả đối với lịch sử châu Phi chẳng khác nào việc không có một
loài cây trồng bản địa nào ở châu Phi hạ xích đạo.
Chuyến du lịch chớp nhoáng vòng quanh các loài cây trồng và vật
nuôi chính của châu Phi là đủ để cho thấy một số loài trong đó đã chu du một
quãng đường dài từ điểm phát nguyên của nó, đến các nơi khác ở châu Phi cũng
như ra khỏi châu Phi. Ở châu Phi cũng như ở mọi nơi khác trên thế giới, một số
dân tộc đã “gặp may” hơn các dân tộc khác, nhờ được thừa hưởng từ môi trường
nơi họ sống những loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa được. Cũng tương tự
như trường hợp thực dân Anh sống bằng lúa mì và [sữa, thịt] bò đã nhấn chìm những
người săn bắt hái lượm Australia bản địa, ta buộc phải ngờ rằng một số dân tộc
châu Phi “may mắn” đã tận dụng ưu thế của mình để nhấn chìm các láng giềng châu
Phi của họ. Giờ thì rốt cuộc chúng ta hãy quay lại với tư liệu khảo cổ để tìm
xem ai đã nhấn chìm ai và vào thời gian nào.
Khoa khảo cổ có thể cho ta biết những gì về những niên đại và
địa điểm chính xác mà nghề nông và nghề chăn nuôi đã phát sinh tại châu Phi? Ta
có thể lượng thứ cho độc giả nào quá đắm mình trong lịch sử văn minh phương Tây
mà cứ đinh ninh rằng nền sản xuất lương thực châu Phi đã khởi đầu từ thung lũng
sông Nile của Ai Cập, xứ sở của các vị pharaon và các kim tự tháp. Nói gì thì
nói, cho đến khoảng 3.000 năm TCN, Ai Cập chắc chắn vẫn là nơi có xã hội phức tạp
nhất ở châu Phi và là một trong những trung tâm chữ viết đầu tiên trên thế giới.
Tuy nhiên, trên thực tế, bằng chứng khảo cổ xưa nhất về sản xuất lương thực ở
châu Phi rất có thể lại không phải ở Ai Cập mà từ sa mạc Sahara.
Dĩ nhiên là ngày nay hầu hết Sahara khô hạn đến nỗi ngay cỏ
cũng không mọc được. Nhưng trong khoảng từ 9.000 đến 4.000 năm TCN Sahara từng ẩm
ướt hơn, có nhiều hồ và lắm thú hoang. Vào thời đó cư dân Sahara đã bắt đầu
nuôi bò và làm đồ gốm, sau đó nuôi cừu và dê, thậm chí có thể đã bắt đầu thuần
hóa cây lúa miến và kê. Nghề chăn nuôi ở Sahara ra đời sớm hơn cả niên đại xưa
nhất ta đã biết (5.200 năm TCN) khi sản xuất lương thực xuất hiện ở Ai Cập, gồm
cả cây trồng mùa đông lẫn gia súc của vùng Tây Nam Á. Sản xuất lương thực cũng
phát sinh ở Tây Á và Ethiopia, và vào khoảng 2.500 năm TCN những người chăn
nuôi bò đã vượt qua ranh giới ngày nay ngăn giữa Ethiopia với miền bắc Kenya.
Trong khi các bằng chứng đó đều dựa trên bằng chứng khảo cổ,
cũng có một phương pháp độc lập để tính niên đại xuất hiện các loài cây trồng
và vật nuôi thuần hóa, ấy là bằng cách so sánh những từ dùng để gọi chúng trong
các ngôn ngữ ngày nay. So sánh từ dùng để gọi các loài cây trong các ngôn ngữ
Nigeria thuộc ngữ hệ Niger-Congo, ta thấy các từ này chia làm ba nhóm. Trước hết
là các trường hợp khi từ để gọi một cây cụ thể trong tất cả các ngôn ngữ miền
nam Nigeria này rất giống nhau. Các cây trồng đó rõ ràng là những loài cây như
khoai lang Tây Phi, cọ dầu và hạt kola, nghĩa là các loài cây mà dựa theo bằng
chứng thực vật học và các bằng chứng khác người ta vốn vẫn tin là cây bản địa
Tây Phi và được thuần hóa đầu tiên ở đó. Bởi đó là các cây trồng Tây Phi xưa nhất,
cho nên mọi ngôn ngữ hiện đại ở Nigeria đều thừa hưởng những cái tên nguyên thủy
được dùng để gọi chúng.
Kế đó là các cây trồng mà tên gọi chúng chỉ giống nhau trong
phạm vi các ngôn ngữ thuộc cùng một nhóm nhỏ trong số các ngôn ngữ miền nam
Nigeria đó. Đó là các cây trồng từng được cho là có nguồn gốc từ Indonesia, chẳng
hạn chuối và khoai lang châu Á. Rõ ràng các cây trồng này chỉ đến được miền nam
Nigeria sau khi các ngôn ngữ đã bắt đầu tách ra thành từng nhóm nhỏ, nên mỗi
nhóm tự đặt ra hoặc tiếp thu những cái tên khác nhau cho cùng những loài cây trồng
mới, trong khi [tên gọi nguyên thủy của chúng] thì chỉ các ngôn ngữ của riêng
nhóm đó mới thừa hưởng đến nay mà thôi. Cuối cùng là các cây trồng mà tên gọi
chúng hoàn toàn chẳng giống gì nhau giữa các nhóm ngôn ngữ, mà được du nhập
theo những con đường trao đổi. Đó là các loài cây trồng của Tân Thế giới như
ngô và lạc mà ta biết đã được du nhập vào châu Phi sau khi xuất hiện giao thông
xuyên đại dương bằng tàu thủy (năm 1492) và phát tán từ đó trở đi dọc theo các
con đường trao đổi, thường thì chúng mang những cái tên Bồ Đào Nha hoặc tên nước
ngoài.
Như vậy, thậm chí dù không có chút bằng chứng nào về thực vật
học hay khảo cổ mà chỉ có mỗi bằng chứng ngôn ngữ học, ta vẫn có thể suy ra rằng
các cây trồng bản địa Tây Phi đã được thuần hóa đầu tiên ở đó, kế đến là các
cây trồng Indonesia, cuối cùng là các cây trồng do người châu Âu du nhập vào. Sử
gia Christopher Ehret của UCLA (Đại học California tại Los Angeles) đã áp dụng
phương pháp ngôn ngữ học này để xác định xem các dân tộc thuộc từng ngữ hệ châu
Phi đã bắt đầu sử dụng các loài cây trồng và vật nuôi theo trình tự nào. Bằng một
phương pháp gọi là glottochronology (tạm dịch: biên niên ngôn ngữ học, ND), dựa
trên những tính toán xem các từ thường có xu hướng thay đổi nhanh đến mức nào
trong quá trình lịch sử, các nhà ngôn ngữ học so sánh thậm chí có thể dự tính
được niên đại thuần hóa hoặc tiếp thu từng loại cây trồng.
Kết hợp bằng chứng khảo cổ trực tiếp về các cây trồng với bằng
chứng ngôn ngữ học mang tính gián tiếp hơn, ta suy ra rằng các dân tộc từng thuần
hóa lúa miến và kê ở Sahara hàng ngàn năm trước đã nói những ngôn ngữ vốn là thủy
tổ của các ngôn ngữ Nilo-Sahara hiện đại. Tương tự, những người đầu tiên thuần
hóa cây trồng ở vùng ẩm ướt Tây Phi đã nói những ngôn ngữ vốn là thủy tổ của
các ngôn ngữ Niger-Congo hiện đại. Cuối cùng, những người nói các ngôn ngữ
Phi-Á thủy tổ có thể đã tham gia thuần hóa các cây trồng bản địa Ethiopia, và
chắc chắn chính họ đã đưa các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu đến khu vực Bắc
Phi.
Như vậy, bằng chứng suy ra được từ tên gọi các cây trồng
trong ngôn ngữ châu Phi hiện đại cho phép ta đoán được sự hiện hữu của ba ngôn
ngữ từng được dùng ở châu Phi cách đây hàng ngàn năm: tiếng Nilo-Sahara cổ, tiếng
Niger-Congo cổ và tiếng Phi-Á cổ. Ngoài ra, ta có thể đoán rằng cũng đã từng hiện
hữu tiếng Khoisan cổ từ những bằng chứng ngôn ngữ học khác, mặc dù không phải
thông qua tên các cây trồng (bởi người Khoisan cổ không thuần hóa một loài cây
nào cả). Bởi châu Phi ngày nay có tới 1.500 ngôn ngữ, rõ ràng lục địa này đủ lớn
để từng có không chỉ bốn ngôn ngữ thủy tổ đó vào thời điểm cách đây nhiều ngàn
năm. Song tất cả các ngôn ngữ đó ắt hẳn đều đã biến mất – hoặc vì những người
nói các ngôn ngữ đó vẫn còn sống nhưng đã đánh mất ngôn ngữ nguyên thủy của họ
giống như người Pygmy, hoặc bởi bản thân những người đó đã biến mất.
Bốn ngữ hệ bản địa châu Phi (nghĩa là bốn ngữ hệ khác ngoài
ngữ hệ Nam Đảo mới được du nhập về sau vào Madagascar) tồn tại được đến ngày
nay chẳng phải vì tính ưu việt nội tại của các ngôn ngữ đó với tư cách phương
tiện giao tiếp. Thay vì vậy, sở dĩ chúng tồn tại được chắc chắn là do sự tình cờ
lịch sử: những người nói các ngôn ngữ Nilo-Sahara, Niger-Congo và Phi-Á thủy tổ
kia đã tình cờ sống ở đúng nơi và đúng thời điểm để có được các loài cây trồng
và vật nuôi thuần hóa cho phép họ nhân lên đông đúc và lấn chiếm đất đai của
các dân tộc khác hoặc áp đặt ngôn ngữ của mình lên các dân tộc khác. Dăm ba người
còn nói tiếng Khoisan ngày nay sở dĩ sống sót được chủ yếu là nhờ họ sống biệt
lập ở những khu vực miền nam châu Phi không thích hợp với nghề nông của người
Bantu.
Trước khi lần theo sự sống sót của người Khoisan sau làn sóng
Bantu, ta hãy xem khoa khảo cổ nói gì với chúng ta về làn sóng di cư lớn thứ
hai của châu Phi vào thời tiền sử – ấy là khi người Nam Đảo đến chiếm lĩnh đảo
Madagascar. Các nhà khảo cổ học khi khảo sát Madagascar đã chứng minh được rằng
người Nam Đảo đã đặt chân đến đây muộn nhất là trước năm 800, có thể là ngay từ
năm 300. Ở đó người Nam Đảo đã gặp (sau đó thì hủy diệt) một thế giới xa lạ gồm
những con vật lạ lùng đến nỗi cứ như từ hành tinh khác đến, bởi các con vật đó
đã tiến hóa ở Madagascar trong suốt một thời gian cô lập rất dài. Đó là các
loài chim voi khổng lồ, các loài linh trưởng gọi là lemur to như khỉ đột, hà mã
tí hon. Di tích khảo cổ về những nơi định cư sớm nhất của con người ở
Madagascar bao gồm các công cụ bằng sắt, gia súc và cây trồng, vậy những người
đến định cư không chỉ là một dúm ngư dân đi trên một chiếc thuyền bị bão đánh dạt
vào đây, mà họ đã đến như cả một đoàn thám hiểm đủ lề đủ bộ. Cuộc thám hiểm thời
tiền sử xa những 4.000 dặm (6.400 km, ND) đó đã diễn ra như thế nào?
Có một dấu vết trong một cuốn sách cổ dẫn đường cho thủy thủ,
ấy là cuốn Periplus ở vùng biển Erythrea (Periplus of the Erythrean Sea) do một
nhà buôn vô danh sống ở Ai Cập viết vào khoảng năm 100. Nhà buôn này mô tả rằng
đã có một nền thương mại biển rất ư thịnh vượng nối giữa Ấn Độ và Ai Cập với
vùng duyên hải Đông Phi. Với sự bành trướng đạo Hồi từ sau năm 800, nền thương
mại Ấn Độ dương trở nên có nhiều cứ liệu về khảo cổ nhờ số lượng lớn các sản phẩm
từ Trung Đông (đôi khi của cả Trung Quốc!) như đồ gốm, thủy tinh và đồ sứ ở các
khu định cư miền duyên hải Đông Phi. Các nhà buôn thường đợi khi gió thuận để
băng qua Ấn Độ dương mà đi thẳng từ Đông Phi đến Ấn Độ hay ngược lại. Khi nhà
hàng hải Bồ Đào Nha Vasco de Gama trở thành người châu Âu đầu tiên dong buồm
vòng quanh mũi cực nam châu Phi mà đến được bờ biển Kenya vào năm 1498, ông đã
gặp những khu định cư của người Swahili và chọn ra từ đó một hoa tiêu dẫn đường
cho ông đi thẳng từ đó sang Ấn Độ.
Nhưng còn có một nền thương mại đường biển nhộn nhịp không
kém từ Ấn Độ về phía đông, ấy là giữa Ấn Độ và Indonesia. Có lẽ những người Nam
Đảo di cư đến Madagascar đã đi từ Indonesia đến Ấn Độ theo con đường thương mại
phía đông đó, sau đấy thì tiếp tục xuôi con đường thương mại phía tây mà đến
Đông Phi ở đó họ hợp nhất với người Đông Phi và khám phá Madagascar. Sự hợp nhất
đó giữa người Nam Đảo với người Đông Phi vẫn tồn tại đến ngày nay trong ngôn ngữ
của Madagascar, ấy là một ngôn ngữ về cơ bản là Nam Đảo song có những từ vay mượn
từ ngôn ngữ Bantu vùng duyên hải Kenya. Nhưng không có sự vay mượn tương ứng
các từ Nam Đảo trong ngôn ngữ Kenya, và các dấu vết khác của người Nam Đảo cũng
rất mờ nhạt nếu đi sâu vào nội địa Đông Phi: có chăng chỉ là những nhạc cụ châu
Phi mà nguồn gốc có thể từ Indonesia (mộc cầm (xylophone) và đàn tam thập lục)
và – dĩ nhiên – các loài cây trồng Nam Đảo mà về sau trở nên rất quan trọng đối
với nghề nông ở châu Phi. Từ đó ta phải tự hỏi liệu có phải người Nam Đảo, thay
vì đi theo hải trình từ Ấn Độ và Đông Phi đến Madagascar vốn dễ hơn, vì lý do
nào đó rất ư khó hiểu đã dong buồm băng qua Ấn Độ dương mà đến thẳng
Madagascar, rồi chỉ sau đó mới nhập vào những con đường thương mại Đông Phi hay
không. Vậy nên sự kiện lạ lùng nhất về sự phân bố loài người ở châu Phi đến nay
vẫn là điều bí ẩn.
Ngành khảo cổ có thể cho ta biết những gì về cuộc di dân lớn
khác trong thời tiền sử châu Phi – cuộc bành trướng của người Bantu? Qua bằng
chứng về bản thân các dân tộc và bằng chứng về ngôn ngữ của các dân tộc đó,
chúng ta đã thấy châu Phi hạ Sahara không phải bao giờ cũng là lục địa đen như
ta nghĩ ngày nay. Thay vì vậy, bằng chứng này gợi ý rằng đã có thời người Pygmy
phổ biến khắp cả vùng rừng mưa Trung Phi, trong khi người Khoisan đã từng sinh
sống ở khắp các phần khô hạn hơn của châu Phi hạ xích đạo. Liệu các giả thuyết
đó ngành khảo cổ có thể kiểm chứng được không?
Trong trường hợp người Pygmy, câu trả lời là “chưa”, đơn giản
vì các nhà khảo cổ chưa phát hiện được xương người cổ đại ở vùng rừng mưa Trung
Phi. Còn với người Khoisan, câu trả lời là “có”. Ở Zambia, về phía bắc vùng
phân bố của người Khoisan ngày nay, các nhà khảo cổ đã tìm được sọ của những
người có lẽ giống người Khoisan hiện đại, cũng như các công cụ bằng đá giống những
công cụ mà người Khoisan vẫn đang còn chế tác ở miền nam châu Phi vào thời điểm
người châu Âu đến.
Còn về việc người Bantu đã đến chiếm chỗ những người Bắc
Khoisan đó như thế nào, bằng chứng khảo cổ và bằng chứng ngôn ngữ học gợi ý rằng
sự bành trướng của các nhà nông Bantu cổ đại từ vùng đồng cỏ nội địa Tây Phi về
phía nam đến các vùng rừng duyên hải ẩm ướt hơn có thể đã bắt đầu ngay từ 3.000
năm TCN (xem Hình 19.4). Các từ vẫn còn phổ biến trong mọi ngôn ngữ Bantu cho
thấy rằng ngay từ khi đó người Bantu đã nuôi gia súc và trồng các cây thuộc
vùng khí hậu ẩm như khoai sọ, nhưng họ vẫn chưa có kim loại và vẫn còn sống phần
lớn dựa vào câu cá, săn bắt và hái lượm. Thậm chí gia súc họ nuôi còn chết vì bệnh
do ruồi tsetse trong rừng gây ra. Khi họ bành trướng vào vùng rừng nhiệt đới của
Lòng chảo Congo, phát hoang làm vườn và tăng dần về dân số, họ bắt đầu nhấn
chìm những người săn bắt hái lượm Pygmy và dồn những người Pygmy đó vào rừng.
Chẳng bao lâu sau 1.000 năm trc.CN người Bantu đã từ rìa phía
đông vùng rừng tiến ra vùng đất quang hơn là thung lũng Rift và Hồ Lớn của Đông
Phi. Ở đây họ gặp một quần thể hỗn hợp gồm những người Phi-Á và người
Nilo-Sahara trồng trọt và chăn nuôi trồng kê, lúa miến và nuôi gia súc ở các
khu vực khô ráo hơn, cùng với những người săn bắt hái lượm Khoisan. Nhờ các cây
trồng có nguồn gốc từ vùng khí hậu ẩm thừa hưởng được từ quê nhà Tây Phi, người
Bantu có thể trồng trọt ở những khu vực ẩm ướt của Đông Phi vốn không thích hợp
với tất cả những người đã sinh sống tại vùng này trước đó. Người Bantu ngày một
tiến xa hơn, cho đến những thế kỷ cuối cùng trước Công nguyên thì rốt cuộc họ
đã đặt chân đến vùng duyên hải Đông Phi.
Ở Đông Phi người Bantu bắt đầu tiếp thu cây kê và lúa miến
(cùng với những cái tên của người Nilo-Sahara dùng để gọi các cây này) và tiếp
thu trở lại các loài gia súc từ những người láng giềng Nilo-Sahara và Phi Á. Họ
cũng tiếp thu được sắt, vốn chỉ mới bắt đầu luyện được ở vùng Sahel của châu
Phi. Nguồn gốc nghề luyện sắt ở châu Phi hạ Sahara ngay sau 1.000 năm trc.CN đến
nay vẫn chưa rõ. Niên đại đó gần một cách đáng ngờ với niên đại khi kỹ thuật
luyện thép của vùng Cận Đông được du nhập vào Carthage trên bờ biển Bắc Phi. Vì
vậy các sử gia thường giả định rằng tri thức về nghề luyện kim đã được du nhập
vào châu Phi hạ Sahara từ phương Bắc. Mặt khác, nghề luyện đồng đã có mặt tại
vùng Sahara và Sahel của Tây Phi từ ít nhất 2.000 năm TCN. Đó có thể là tiền đề
để châu Phi phát minh nghề luyện sắt một cách độc lập [so với vùng Cận Đông,
ND]. Giả thuyết này càng được củng cố bởi thực tế là kỹ thuật luyện của các thợ
rèn châu Phi hạ Sahara khác xa với kỹ thuật của các thợ rèn Địa Trung Hải đến mức
người ta buộc phải nghĩ rằng hai nghề luyện thép này đã phát triển độc lập với
nhau: các thợ rèn châu Phi đã phát hiện được cách tạo ra nhiệt độ cao trong các
lò rèn miệt vườn của họ và sản xuất được thép sớm hơn trên 2.000 năm so với các
lò rèn Bessemer của châu Âu và châu Mỹ thế kỷ XIX.
Đã có các cây trồng vùng khí hậu ẩm, nay lại có thêm công cụ
sắt, người Bantu rốt cuộc đã tạo ra được một sức mạnh quân sự – công nghiệp tổng
hợp mà không một dân tộc nào khác tại châu Phi hạ xích đạo thời đó có thể ngăn
lại nổi. Ở Đông Phi họ vẫn còn phải cạnh tranh với đông đảo người Nilo-Sahara
và Phi Á biết làm nông nghiệp. Song về phía nam thì trải dài một vùng đất rộng
những 2.000 dặm (3.200 km, ND) song chỉ thưa thớt những người Khoisan săn bắt
hái lượm, không có cả công cụ bằng kim loại lẫn cây trồng. Chỉ trong vòng vài
thế kỷ, các nhà nông Bantu đã tiến băng băng đến tận Natal trên vùng duyên hải
phía đông của khu vực nay là Cộng hòa Nam Phi, làm nên một trong những bước tiến
thuộc địa hóa thần tốc nhất trong thời tiền sử.Hình 19.4: Những con đường mà theo phỏng đoán đã đưa những
người nói tiêsng Bantu từ một vùng đất (gọi là H) ở góc Tây Bắc khu vực Bantu
ngày nay bành trướng sang phía Đông và xuống phía Nam châu Phi từ 3.000 năm TCN
đến năm 500.
Cuộc bành trướng đó nhất định là nhanh chóng và dữ dội, song
nếu ta hình dung toàn bộ người Khoisan đã bị những đoàn người Bantu đông kìn
kìn kia dẫm bẹp thì sẽ là đơn giản hóa vấn đề. Trên thực tế mọi chuyện phức tạp
hơn. Các dân tộc Khoisan ở miền nam châu Phi đã tiếp thu được cừu và bò từ vài
thế kỷ trước khi người Bantu bành trướng xuống. Những người Bantu đầu tiên đi
tiên phong có lẽ là ít về số lượng, họ chỉ chọn những cánh rừng ẩm thích hợp với
các cây trồng quen với khí hậu ẩm của mình mà bỏ qua những khu vực khô ráo hơn,
để lại các khu đó cho những nhóm người Khoisan chăn nuôi và săn bắt hái lượm.
Quan hệ trao đổi và phối ngẫu chắc chắn đã hình thành giữa những người Khoisan
đó với các nhà nông Bantu, mỗi bên chiếm lĩnh một môi trường khác nhau song vẫn
ở gần nhau, cũng như người Pygmy săn bắt hái lượm và người Bantu làm nghề nông ở
châu Phi nhiệt đới vẫn làm ngay cả ngày nay. Chỉ dần dần về sau, khi người
Bantu ngày một đông hơn, lại tiếp thu được các loài gia súc và ngũ cốc của vùng
khí hậu khô vào nền kinh tế của mình, họ mới tràn ra chiếm cứ cả những khu vực
khô ráo mà ngày xưa họ đã bỏ qua. Nhưng kết quả sau cùng thì vẫn là một: các
nhà nông Bantu chiếm cứ hầu hết lãnh thổ trước kia thuộc người Khoisan; di sản
của các cư dân Khoisan trước kia chỉ còn lại mỗi những tiếng tách trong các
ngôn ngữ phi Khoisan phân bố rải rác ngày nay, cũng như những chiếc sọ và công
cụ bằng đá vẫn còn bị chôn vùi đợi các nhà khảo cổ đến khám phá; và ngoại hình
giống Khoisan của một vài dân tộc Bantu ở miền nam châu Phi.
Điều gì đã thực sự xảy ra với tất cả những người Khoisan ngày
nay đã biến mất kia? Ta không biết. Ta chỉ có thể nói chắc mỗi một điều rằng, ở
những nơi người Khoisan từng sống có lẽ lâu đến hàng vạn năm, nay chỉ còn mỗi
người Bantu. Ta chỉ có thể liều phỏng đoán, bằng phép loại suy từ những sự kiện
có người tai nghe mắt thấy trong thời hiện đại khi những người da trắng mang vũ
khí bằng thép xung đột với những người Australia bản địa và người Anh-điêng
California vẫn còn dùng công cụ bằng đá. Ở đó ta biết rằng những người săn bắt
hái lượm đã nhanh chóng bị loại trừ bằng nhiều cách kết hợp: họ bị đuổi đi nơi
khác, đàn ông bị giết hay bị bắt làm nô lệ, đàn bà bị bắt làm vợ, và cả đàn ông
lẫn đàn bà đều lây bệnh truyền nhiễm từ các nhà nông nọ. Một ví dụ tiêu biểu về
các căn bệnh kia ở châu Phi là bệnh sốt rét lây truyền qua loài muỗi vốn sinh sản
quanh làng mạc của các nhà nông, căn bệnh mà những người Bantu đến xâm lăng đã
có kháng thể còn những người săn bắt hái lượm Khoisan thì có lẽ là không.
Tuy nhiên, Hình 19.1 về sự phân bố chủng tộc ở châu Phi gần
đây nhắc nhở ta rằng người Bantu đã không đè bẹp toàn bộ người Khoisan, bởi một
số người Khoisan vẫn còn sống sót đến ngày nay ở một số khu vực tại nam châu
Phi vốn không thích hợp cho nghề nông Bantu. Dân tộc Bantu tiến xa nhất về phía
nam, người Xhosa, đã dừng chân nơi dòng Sông Cá trên vùng duyên hải phía nam của
Nam Phi, cách Cape Town 500 dặm (800 km, ND) về phía đông. Chẳng phải vì bản
thân vùng Mũi Hảo vọng quá khô không thể trồng trọt được, bởi ngày nay nó là vựa
lúa của nước Nam Phi. Tuy nhiên, vùng Cape này có khí hậu Địa Trung Hải mưa nhiều
vào mùa đông, không thích hợp cho các cây trồng Bantu vốn thích nghi với mưa
vào mùa hè. Cho đến năm 1652, khi người Hà Lan đặt chân đến Cape Town mang theo
các cây trồng có nguồn gốc Cận Đông thích nghi với mưa vào mùa đông, người
Xhosa vẫn chưa bành trướng ra xa hơn dòng Sông Cá.
Cái chi tiết về địa lý cây trồng này thoạt trông chẳng có gì
ghê gớm, nhưng nó lại có những hậu quả to lớn đối với chính trị ngày nay. Một hậu
quả là, khi những người da trắng Nam Phi đã nhanh chóng giết chết hoặc xua đuổi
sạch người Khoisan ra khỏi vùng Cape, người da trắng có thể tuyên bố một cách
xác đáng rằng họ đã chiếm vùng Cape trước người Bantu nên họ có quyền ưu tiên
chiếm vùng này. Chúng ta chẳng việc gì phải xem lời tuyên bố đó là nghiêm túc,
bởi quyền ưu tiên của chính người Khoisan vùng Cape đã chẳng ngăn được người da
trắng tước đoạt vùng đất này từ tay họ. Hậu quả nặng nề hơn nhiều, ấy là những
người di cư Hà Lan vào năm 1652 chỉ phải giao chiến với một nhóm thưa thớt những
người chăn nuôi Khoisan chứ không phải với những nhà nông Bantu đông đảo được
trang bị vũ khí bằng thép. Khi người da trắng rốt cuộc cũng bành trướng về phía
đông và chạm trán người Xhosa tại dòng Sông Cá vào năm 1702, một thời kỳ giao
tranh khốc liệt bắt đầu. Thậm chí dù đến khi đó người châu Âu đã có thể xin
quân chi viện từ căn cứ an toàn tại Cape thì cũng phải mất tới chín cuộc chiến
tranh và 175 năm, với tốc độ tiến quân trung bình chưa tới một dặm (1,6 km, ND)
một năm, quân đội châu Âu mới khuất phục nổi người Xhosa. Nếu như dăm ba chiếc
tàu Hà Lan đầu tiên kia ngay từ đầu đã gặp phải sự kháng cự mãnh liệt đến thế
thì liệu người da trắng có đứng chân nổi trên Cape hay không [chứ chưa nói là
tiến sâu hơn vào nội địa châu Phi, ND]?
Như vậy, những vấn đề của Nam Phi hiện đại bắt nguồn ít nhất
một phần từ sự ngẫu nhiên địa lý. Ngẫu nhiên mà Cape, quê hương bản quán của
Khoisan chỉ có một số ít loài cây dại có thể thuần hóa được; ngẫu nhiên mà người
Bantu thừa hưởng được từ tổ tiên họ cách đấy 5.000 năm những cây trồng thích
nghi với mưa vào mùa hè; và ngẫu nhiên mà người châu Âu đã thừa hưởng được từ tổ
tiên họ trước đó gần 10.000 năm những cây trồng thích nghi với mưa vào mùa
đông. Đúng như cái biển hiệu “Phố Goering” ở thủ đô nước Namibia vừa giành độc
lập đã nhắc cho tôi nhớ, quá khứ của châu Âu đã in dấu ấn sâu đậm lên hiện tại
của châu Phi.
Như vậy, người Bantu đã có khả năng nhấn chìm người Khoisan
chứ không phải là ngược lại. Giờ ta hãy quay lại câu hỏi còn lại trong bài toán
khó về thời tiền sử của châu Phi: tại sao chính người châu Âu là những kẻ đã
thuộc địa hóa châu Phi hạ Sahara. Tại sao không phải ngược lại mới là điều đặc
biệt kỳ lạ, bởi châu Phi đã từng là cái nôi tiến hóa duy nhất của loài người
trong suốt hàng triệu năm, cũng như có thể là quê hương của người Homo sapiens
hiện đại về mặt giải phẫu. Đã vậy, ngoài lợi thế xuất phát trước này, châu Phi
còn có những lợi thế lớn khác là khí hậu và môi trường hết sức đa dạng cũng như
sự đa dạng về nhân chủng cao nhất trên thế giới. Nếu có một người ngoài hành
tinh nào đó đến thăm Trái đất vào khoảng 10.000 năm trước, chúng ta chẳng thể
trách anh ta nếu anh ta tiên đoán rằng về sau châu Âu sẽ là một loạt những nhà
nước dã man chịu sự thống trị của một đế quốc châu Phi hạ Sahara hùng mạnh.
Những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến kết quả cuộc xung đột giữa
châu Phi với châu Âu thì đã rõ. Cũng như khi đụng độ với người châu Mỹ bản địa,
người châu Âu khi đến châu Phi đã có sẵn ưu thế vượt trội về súng và các công
nghệ khác, về chữ viết và số người biết chữ, và tổ chức chính trị cần thiết để
duy trì những chương trình thám hiểm và chinh phục lâu dài. Các ưu thế đó thể
hiện ra hầu như ngay từ lúc các cuộc đụng độ mở màn: chưa đầy bốn năm sau khi
Vasco de Gama đặt chân lên bờ biển Đông Phi lần đầu tiên, ông ta đã quay lại
mang theo một hạm đội tua tủa đại bác để đòi Kilwa, cảng quan trọng nhất của
Đông Phi, nơi kiểm soát con đường mua bán vàng của Zimbabwe phải đầu hàng.
Nhưng tại sao người châu Âu đã phát triển được tất cả ba ưu thế đó trước người
châu Phi hạ Sahara?
Như ta đã bàn trước đây, về phương diện lịch sử cả ba ưu thế
đó đã phát sinh từ sự phát triển nền sản xuất lương thực. Nhưng sản xuất lương
thực ở châu Phi hạ Sahara thì đã khởi đầu muộn hơn (so với Âu-Á) do châu Phi có
ít loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa hơn, do diện tích thích hợp cho sản
xuất lương thực bản địa ở châu Phi nhỏ hẹp hơn nhiều, và do trục bắc-nam của
châu Phi kìm hãm sự bành trướng nền sản xuất lương thực và các phát minh. Ta
hãy xét xem các nhân tố đó đã vận hành như thế nào.
Trước hết, về phần vật nuôi thuần hóa, ta đã thấy rằng các
loài vật nuôi ở châu Phi hạ Sahara đều có nguồn gốc từ Âu-Á, có chăng chỉ loại
trừ một vài loài từ Bắc Phi. Hệ quả là, mãi nhiều ngàn năm sau khi các loài vật
nuôi bắt đầu được các nền văn minh mới nổi ở Âu-Á sử dụng, chúng mới được du nhập
vào châu Phi hạ Sahara. Điều đó thoạt nhìn có vẻ đáng ngạc nhiên, bởi ta vẫn
thường cho rằng châu Phi mới chính là lục địa có nhiều loài hữu nhũ lớn hoang
dã nhất. Nhưng ở Chương 9 ta đã thấy rằng để có thể thuần hóa được thì một loài
thú lớn phải đủ lành tính, phải chịu thuần phục con người, nuôi không quá tốn
kém, phải miễn dịch với bệnh tật, phải lớn nhanh và sinh sản tốt trong điều kiện
nuôi nhốt. Các loài bò, cừu, dê, ngựa và lợn bản địa ở Âu-Á nằm trong số ít những
loài thú hoang dã lớn vượt qua được toàn bộ các bài sát hạch khắt khe kia. Các
loài thú hoang dã lớn tương đương ở châu Phi – như trâu rừng châu Phi, ngựa vằn,
lợn lòi, tê giác và hà mã – chưa bao giờ có thể thuần hóa được ngay cả trong thời
đại gần đây.
Dĩ nhiên, đúng là một số loài thú lớn châu Phi đôi khi cũng
đã được thuần dưỡng. Hannibal từng thuần dưỡng voi châu Phi trong cuộc chiến bất
thành chống lại đế quốc La Mã, người Ai Cập cổ đại có thể đã từng thuần hóa ngựa
vằn và những loài khác. Nhưng không một con vật được thuần dưỡng nào trong số
đó đã thực sự thuần hóa nghĩa là được phối giống trong điều kiện nuôi nhốt và
được điều chỉnh về đặc tính di truyền sao cho trở nên hữu ích hơn đối với con
người. Giá như tê giác và hà mã của châu Phi đã được thuần hóa làm vật cưỡi thì
chúng không chỉ có thể cung cấp thịt nuôi quân mà còn giúp [người châu Phi] có
một lực lượng kỵ binh không gì cưỡng nổi đè bẹp kỵ binh cưỡi ngựa của người Âu.
Khi đó quân đội Bantu cưỡi tê giác lẽ ra đã có thể lật nhào Đế quốc La Mã.
Nhưng điều đó đã chẳng bao giờ xảy ra.
Một nhân tố thứ hai, song song với sự khác biệt về các loài vật
nuôi tuy ở mức độ thấp hơn, là sự khác biệt về các loài cây dại có thể thuần
hóa ở châu Phi hạ Sahara so với các loài ở lục địa Âu-Á. Vùng Sahel, Ethiopia
và Tây Phi cũng có những loài cây trồng bản địa, song về chủng loại thì ít hơn
nhiều so với ở Âu-Á. Bởi chủng loại các loài thích hợp để thuần hóa ít ỏi hơn,
nên ngay cả nền nông nghiệp sớm nhất ở châu Phi cũng có thể đã ra đời muộn hơn ở
vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đến hàng mấy ngàn năm.
Như vậy, nếu nói về sự thuần hóa cây trồng và vật nuôi thì lợi
thế xuất phát và sự đa dạng cao là nằm ở Âu-Á chứ không phải châu Phi. Nhân tố
thứ ba là diện tích của châu Phi chỉ bằng khoảng một nửa diện tích Âu-Á. Hơn nữa,
chỉ chừng một phần ba diện tích đó nằm trong vùng hạ Sahara ở phía bắc xích đạo
nơi đã có các nhà nông và người chăn nuôi từ trước 1.000 năm TCN. Ngày nay, dân
số toàn bộ châu Phi không quá 700 triệu người, trong khi Âu-Á tới 4 tỷ người.
Nhưng, cứ cho là mọi nhân tố khác đều như nhau, song ở đâu đất rộng người đông
hơn thì có nhiều xã hội và nhiều phát minh hơn, từ đó mà cũng phát triển với tốc
độ nhanh hơn.
Nhân tố còn lại khiến tốc độ phát triển ở châu Phi thời hậu
Pleitoxen chậm hơn so với ở Âu-Á là hướng trục của hai lục địa này khác hẳn
nhau. Cũng như trục châu Mỹ, trục chính của châu Phi là bắc-nam, trong khi trục
chính của Âu-Á là đông-tây (Hình 10.1). Khi di chuyển dọc theo trục bắc-nam, ta
đi qua những vùng rất khác nhau về khí hậu, môi trường, lượng mưa và thời gian
mưa, độ dài của ngày, cũng như các bệnh cây trồng và gia súc. Vì vậy mà các cây
trồng và gia súc được thuần hóa hoặc tiếp thu ở một khu vực của châu Phi rất
khó lòng di chuyển sang các khu vực khác. Ngược lại, cây trồng vật nuôi có thể
di chuyển dễ dàng giữa các xã hội của Âu-Á dù cách xa nhau đến hàng ngàn dặm,
miễn sao các xã hội đó ở trên cùng một vĩ độ và có khí hậu cũng như độ dài ngày
tương tự nhau.
Tình trạng cây trồng vật nuôi ở châu Phi rất khó hoặc hoàn
toàn không thể phát tán theo hướng trục bắc-nam đưa đến những hậu quả nghiêm trọng.
Chẳng hạn, các cây trồng Địa Trung Hải mà về sau trở thành những cây trồng
chính của Ai Cập đòi hỏi mưa vào mùa đông và độ dài ngày thay đổi theo mùa thì
mới nảy mầm được. Các cây trồng đó không thể bành trướng xa hơn về phía nam
Sudan bởi từ đó trở đi thì mưa chỉ có vào mùa hè và độ dài ngày không thay đổi
theo mùa. Lúa và lúa miến của Ai Cập đã chẳng bao giờ đến được vùng khí hậu Địa
Trung Hải ở Mũi Hảo vọng cho mãi tới khi thực dân châu Âu mang chúng đến vùng
này vào năm 1652, còn người Khoisan thì đã chẳng bao giờ phát triển được nghề
nông. Tương tự, các cây trồng vùng Sahel, thích nghi với mưa vào mùa hè và độ
dài ngày ít hoặc không thay đổi theo mùa, từng được người Bantu mang đến miền
nam châu Phi nhưng không thể mọc ở chính vùng Cape khiến cho bước tiến của nền
nông nghiệp Bantu bị chựng lại. Chuối và các cây trồng châu Á nhiệt đới khác nằm
trong số các cây trồng năng sản nhất của nông nghiệp nhiệt đới châu Phi, nhưng
chúng đã không thể đến được châu Phi bằng đường bộ. Hình như mãi đến thiên niên
kỷ đầu tiên của công nguyên chúng mới đến được châu Phi, rất lâu sau khi được
thuần hóa ở châu Á, bởi chúng phải đợi đến khi có những con đường giao thương với
quy mô lớn bằng thuyền băng qua Ấn Độ Dương.
Trục bắc-nam của châu Phi cũng kìm hãm nghiêm trọng sự bành
trướng của gia súc. Loài ruồi tsetse của châu Phi xích đạo mang con trùng mũi
khoan gây bệnh ngủ, các loài hữu nhũ hoang dã châu Phi thì đã có kháng thể chống
bệnh này, song với các loài gia súc có nguồn gốc từ Âu-Á và Bắc Phi chưa có
kháng thể thì căn bệnh này là đại họa. Những con bò mà người Bantu tiếp thu được
từ vùng Sahel vốn không có ruồi tsetse đã không thể sống nổi khi người Bantu
bành trướng về phía nam ngang qua rừng xích đạo. Mặc dù ngựa đã được du nhập
vào Ai Cập vào khoảng 1.800 năm TCN và chẳng bao lâu sau làm thay đổi hình thái
chiến tranh ở Bắc Phi, song mãi đến thiên niên kỷ thứ nhất CN chúng mới vượt
qua được sa mạc Sahara để khiến hình thành các vương quốc Tây Phi sử dụng kỵ
binh, còn xa hơn về phía nam – vùng có ruồi tsetse – thì ngựa đã chẳng bao giờ
đến được. Tuy bò, cừu và dê đã đến được rìa phía bắc vùng Serengeti vào thiên
niên kỷ thứ ba TCN, nhưng phải mất hơn 2.000 năm sau các loài gia súc đó mới vượt
qua được Serengeti để tiếp cận miền nam châu Phi.
Cũng chậm chạp như tốc độ bành trướng dọc theo trục bắc-nam của
châu Phi là sự phát triển công nghệ của con người. Đồ gốm từng được ghi nhận ở
Sudan và Sahara vào khoảng 8.000 năm TCN, nhưng mãi đến khoảng năm 1 CN chúng mới
đến được vùng Cape ở cực nam châu Phi. Mặc dù chữ viết đã phát triển ở Ai Cập từ
trước 3.000 năm TCN và bành trướng đến vương quốc Nubia ở Meroë dưới dạng bảng
chữ cái, và mặc dù chữ viết dưới dạng chữ cái đã đến được Ethiopia (có thể là từ
Arập), song chữ viết đã không phát sinh độc lập ở phần còn lại của châu Phi,
thay vì vậy chữ viết ở vùng này được người Arập hoặc người châu Âu mang từ
ngoài vào.
Nói ngắn gọn, việc châu Âu thuộc địa hóa châu Phi chẳng có
liên quan gì đến sự khác biệt giữa bản thân các dân tộc châu Âu với bản thân
các dân tộc châu Phi như các nhà phân biệt chủng tộc người da trắng thường
nghĩ. Đúng hơn, nguyên nhân nằm ở sự ngẫu nhiên về địa lý và địa sinh học, cụ
thể là sự khác nhau giữa hai lục địa về diện tích, trục chính, chủng loại cây dại
và thú hoang. Có nghĩa là, xét đến cùng, quỹ đạo lịch sử của châu Phi và châu
Âu sở dĩ khác nhau là do sự khác biệt về bất động sản giữa hai bên.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 20 - Người Nhật là ai?
Trong số các cường quốc trên thế giới hiện nay, cường quốc có
nền văn hóa cũng như môi trường độc đáo nhất là người Nhật Bản. Nguồn gốc ngôn
ngữ của người Nhật nằm trong số những vấn đề gây tranh cãi nhất của ngành ngôn
ngữ học, bởi không có một ngôn ngữ nào khác trong số các ngôn ngữ chính trên thế
giới mà lại như tiếng Nhật, có mối quan hệ đầy tồn nghi với những ngôn ngữ
khác. Người Nhật Bản là ai, họ từ đâu đến Nhật Bản, và họ đã tạo ra thứ ngôn ngữ
độc nhất vô nhị của mình như thế nào? Những câu hỏi đó có tầm quan trọng lớn
lao đối với nhận thức của người Nhật về chính mình cũng như đối với cách nhìn của
các dân tộc khác về người Nhật. Vị trí thống trị ngày càng tăng của Nhật Bản và
những mối quan hệ đôi khi đầy nhạy cảm giữa Nhật Bản với các láng giềng khiến
cho việc tước bỏ những huyền thoại dai dẳng từ xưa đến nay và tìm ra lời giải
đáp [đích thực] càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Trong các ấn bản trước của Súng, Vi trùng và Thép, phần nhắc
tới Nhật Bản rất ít ỏi, đó là thiếu sót lớn nhất trong diện bao quát về địa lý
của tôi. Thông tin mới về đặc điểm di truyền và nguồn gốc ngôn ngữ của người Nhật
tích lũy được kể từ khi sách xuất bản lần đầu đến nay đã khích lệ tôi kiểm chứng
xem [trường hợp] Nhật Bản tương thích đến đâu với cái giả thuyết chung của tôi.
Tìm những câu trả lời không dễ vì bằng chứng quá mâu thuẫn. Một
mặt, dân tộc Nhật chẳng có gì khác biệt về sinh học; về ngoại hình và di truyền
họ rất giống các dân tộc Đông Á khác, đặc biệt là người Triều Tiên. Như người
Nhật vẫn ưa nhấn mạnh, họ khá đồng nhất về mặt văn hóa và sinh học: có rất ít sự
khác nhau giữa người dân các vùng khác nhau của Nhật, ngoại trừ một sắc dân rất
khác biệt gọi là người Ainu trên hòn đảo xa nhất về phía bắc của Nhật Bản là
Hokkaido. Tất cả những điều đó dường như gợi ý rằng người Nhật đã từ nội địa
Đông Á đặt chân lên Nhật Bản trong thời gian gần đây và chiếm chỗ của người
Ainu vốn là cư dân ở vùng này từ xa xưa. Nhưng nếu đúng như vậy thì lẽ ra tiếng
Nhật hiển nhiên phải gần với một số ngôn ngữ của Đông Á lục địa, cũng như tiếng
Anh có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ German khác bởi người Anglo-Saxon mãi tới
thế kỷ thứ VI CN mới từ lục địa châu Âu [vượt biển sang] chiếm cứ đảo Anh. Làm
sao ta có thể dung hòa mối mâu thuẫn giữa một đằng là thứ ngôn ngữ được cho là
rất cổ của người Nhật với một đằng là tất cả những bằng chứng cho thấy họ chỉ mới
từ một nguồn gốc nào đó [di cư sang Nhật Bản] cách đây không lâu?
Người ta đã đề xuất bốn lý thuyết, cả bốn đều xung đột nhau,
mỗi lý thuyết đều được nước này ưa chuộng song nước khác thì bài bác. Được chuộng
nhất ở Nhật là quan điểm cho rằng người Nhật đã tiến hóa dần dần từ những người
cổ đại từ kỷ Băng hà từng chiếm cứ Nhật Bản từ lâu trước 20.000 năm TCN. Cũng
phổ biến ở Nhật là thuyết cho rằng người Nhật Bản là hậu duệ của những người du
mục cưỡi ngựa Trung Á đã băng qua Triều Tiên mà chinh phục Nhật Bản vào thế kỷ
thứ IV CN song nhấn mạnh rằng những người du mục đó không phải người Triều
Tiên. Một thuyết được nhiều nhà khảo cổ phương Tây cũng như người Triều Tiên ưa
thích song một số giới ở Nhật không ưa thì lại cho rằng người Nhật là hậu duệ của
những người Triều Tiên di cư sang Nhật Bản mang theo nền nông nghiệp lúa nước
vào khoảng 400 năm TCN. Cuối cùng, một thuyết nữa cho rằng cả ba giống người được
nhắc tới trong ba lý thuyết trên có thể đã hợp huyết lại mà thành người Nhật Bản
ngày nay.
Khi những câu hỏi tương tự nảy sinh về nguồn gốc của các dân
tộc khác, người ta có thể bàn cãi về chúng một cách vô tư không thiên vị. Song
những câu hỏi về nguồn gốc người Nhật Bản thì không. Quả thật là một thành tựu
xuất sắc khi Nhật Bản, khác với nhiều nước ngoài châu Âu khác, vẫn duy trì được
sự độc lập về chính trị và văn hóa đồng thời vẫn vươn lên từ chỗ biệt lập và tạo
nên một xã hội công nghiệp hóa vào cuối thế kỷ XIX. Giờ đây, cũng dễ hiểu rằng
người Nhật rất quan tâm đến việc duy trì truyền thống của mình khi đối diện với
ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa phương Tây. Họ muốn tin rằng ngôn ngữ và văn hóa
của họ là độc đáo đến nỗi cần phải có những quá trình phát triển đặc biệt phức
tạp, chẳng giống bất cứ quá trình phát triển nào ở các nơi khác trên thế giới.
Thừa nhận rằng tiếng Nhật có liên hệ với bất kỳ ngôn ngữ nào khác dường như
cũng chẳng khác nào thừa nhận mình không có một bản sắc văn hóa độc đáo có một
không hai.
Từ năm 1946, các trường học ở Nhật bắt đầu dạy một huyền thoại
về lịch sử Nhật Bản dựa trên những biên niên ký Nhật Bản xưa nhất từ năm 712 đến
720. Các biên niên ký này mô tả vị nữ thần mặt trời Amaterasu sinh ra từ con mắt
trái của đấng sáng thế Izanagi, cử cháu của bà là Ninigi giáng trần xuống đảo
Kyushu thuộc quần đảo Nhật Bản để lấy một vị thần dưới trần thế. Chắt của
Ninigi là Jimmu, nhờ có sự trợ giúp của một con chim thiêng chói lòa khiến mọi
kẻ thù của ông mất hết khả năng chiến đấu, đã trở thành vị hoàng đế Nhật Bản đầu
tiên vào năm 660 TCN. Để lấp đầy khoảng trống giữa năm 660 TCN và thời kỳ các vị
vua Nhật Bản xưa nhất được ghi trong lịch sử thành văn, các biên niên sử này bịa
ra 13 vị hoàng đế khác mà hết thảy đều hư cấu như nhau.
Trước cuối Thế chiến Thứ hai, khi rốt cuộc Thiên hoàng
Hirohito nói với thần dân Nhật Bản rằng ngài không phải là hậu duệ của thánh thần,
các sử gia và nhà khảo cổ Nhật Bản đã phải đưa ra những cách diễn dịch phù hợp
với điều đó. Tuy ngày nay họ có nhiều tự do hơn trong cách diễn dịch, song những
sự câu thúc chưa phải đã hết. Những tượng đài khảo cổ quan trọng nhất của Nhật
Bản – 158 ngôi mộ kofun khổng lồ được xây dựng trong khoảng từ năm 300 đến năm
686 – vẫn đang thuộc quyền sở hữu của hoàng gia. Việc khai quật các ngôi mộ đó
bị cấm ngặt vì có thể sẽ khiến cho [hoàng gia Nhật Bản] mất thiêng, lại còn có
thể soi sáng xem hoàng gia Nhật Bản gốc gác từ đâu tới (chẳng hạn từ Triều Tiên
chăng?), điều mà [người Nhật] không mong muốn chút nào.
Trong khi các di tích khảo cổ ở Hoa Kỳ là do những dân tộc
châu Mỹ bản địa vốn chẳng có liên quan gì đến hầu hết người Hoa Kỳ ngày nay để
lại, thì những di tích ở Nhật Bản, dù cổ xưa đến mấy, vẫn được cho là do những
vị tổ tiên trực hệ của chính người Nhật ngày nay để lại. Do vậy mà ngành khảo cổ
ở Nhật Bản được hỗ trợ bởi những ngân sách cao ngất trời và thu hút sự chú ý của
công luận đến mức thật khó lòng hình dung ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.
Hằng năm, các nhà khảo cổ Nhật Bản đào trên 10.000 hố khai quật và sử dụng tới
50.000 nhân công tại chỗ. Vì vậy, số di chỉ Đồ đá mới đã khai quật được ở Nhật
Bản nhiều gấp hai mươi lần so với trên toàn bộ nước Trung Quốc. Các bài tường
thuật về những vụ khai quật được đưa hầu như hàng ngày trên truyền hình và xuất
hiện trên trang nhất các tờ báo lớn nhất của Nhật Bản. Quyết chí chứng minh rằng
tổ tiên người Nhật ngày nay đã đến nước Nhật từ thời rất xa xưa, các nhà khảo cổ
khi thuật lại các vụ khai quật đều nhấn mạnh rằng ngay từ thời xa xưa đó cư dân
cổ của Nhật Bản đã khác xa với mọi dân tộc khác cùng thời, nhưng lại rất giống
người Nhật ngày nay. Chẳng hạn, một nhà khảo cổ thuyết trình về một di chỉ có
tuổi 2.000 năm sẽ lưu ý cử tọa về những hố rác mà cư dân ngày xưa ở di chỉ đó
đã dùng để vứt rác, nhằm minh họa rằng ngay từ thuở xa xưa đó người Nhật cổ đã
quen với tính sạch sẽ nổi tiếng mà người Nhật Bản [được cho là] hậu duệ của họ
ngày nay vẫn lấy làm tự hào.
Việc bàn cãi về các vấn đề khảo cổ ở Nhật Bản một cách vô tư
không thiên vị mà khó khăn đến thế là do cách người Nhật diễn giải về quá khứ của
họ có ảnh hưởng đến hành vi của họ trong hiện tại. Trong số các dân tộc Đông Á,
ai đã mang văn hóa đến cho ai, ai ưu việt hơn về mặt văn hóa còn ai là kẻ man
di, và ai có quyền tuyên bố đất của kẻ nào đó khác vốn là lãnh thổ của mình
trong quá khứ? Chẳng hạn, có rất nhiều bằng chứng khảo cổ cho thấy đã có sự
trao đổi về con người và vật phẩm giữa Nhật Bản và Triều Tiên trong khoảng từ
năm 300 đến năm 700. Người Nhật giải thích rằng ấy là do người Nhật đã chinh phục
Triều Tiên rồi mang các nô lệ và thợ thủ công Triều Tiên về Nhật Bản; người Triều
Tiên thì giải thích rằng ấy là do Triều Tiên chinh phục Nhật Bản, và những kẻ
sáng lập nên hoàng gia Nhật Bản chính là người Triều Tiên.
Vì vậy nên khi Nhật Bản đưa quân sang Triều Tiên và chiếm xứ
này làm thuộc địa vào năm 1910, giới lãnh đạo quân sự Nhật Bản đã ăn mừng việc
đó như là “phục hồi một sự an bài chính đáng từ thuở xa xưa”. Trong suốt 35 năm
sau đó, lực lượng chiếm đóng Nhật Bản đã ra sức tiệt trừ tận gốc rễ nền văn hóa
Triều Tiên, thay tiếng Triều Tiên bằng tiếng Nhật ở trường học. Các gia đình
Triều Tiên đã sống ở Nhật Bản đến hàng mấy thế hệ vẫn khó mà nhập được quốc tịch
Nhật Bản. Những “nấm mồ mũi” ở Nhật vẫn còn chứa đựng mũi của 20.000 người Triều
Tiên bị cắt ra đem về Nhật Bản như là chiến lợi phẩm của cuộc xâm lăng Triều
Tiên do người Nhật tiến hành vào thế kỷ XVI. Chẳng có gì lạ rằng tâm trạng thù
ghét người Nhật phổ biến ở Triều Tiên còn thái độ coi khinh người Triều Tiên
thì phổ biến ở Nhật Bản.
Xung quanh chuyện những cuộc tranh cãi về khảo cổ tưởng như
chứa đầy bí ẩn lại có thể khơi nên nỗi quan tâm cuồng nhiệt đến thế nào, chỉ cần
đơn cử một ví dụ, ấy là một di vật khảo cổ nổi tiếng của nước Nhật từ thời chưa
có sử thành văn: thanh gươm Eta-Funayama vào thế kỷ thứ V, được coi là báu vật
quốc gia và cất giữ ở Bảo tàng Quốc gia Nhật Bản. Trên thanh gươm bằng sắt này
có khảm những chữ Hán bằng bạc, một trong những ví dụ xưa nhất còn lại đến nay
về chữ viết ở Nhật Bản, các chữ này nhắc tới một vị Đại Vương, một vị quan phụng
sự nhà vua này, và một thư lại người Triều Tiên tên là Chōan. Một vài chữ Hán
trong số đó không hoàn chỉnh, đã bị rỉ sét hoặc bị mất nên người ta đành phải
đoán mò. Các học giả Nhật Bản xưa nay vẫn cho rằng các chữ bị thiếu đó cho biết
tên của nhà vua nọ, ấy là hoàng đế Nhật Bản Mizuha-wake Răng Đẹp mà các biên
niên sử Nhật Bản vào thế kỷ thứ VIII có nhắc tới. Tuy nhiên, vào năm 1966, một
sử gia Triều Tiên là Kim Sokhyong đã làm các học giả Nhật Bản choáng váng khi
đưa ra giả thuyết rằng thật ra cái tên bị thiếu đó là Vua Kaero của Triều Tiên,
còn vị quan được nhắc tên kia là một trong các chư hầu của ngài mà vào lúc đó
đang chiếm cứ một số vùng của Nhật Bản. Vậy thì thật ra cái “sự an bài chính
đáng từ thuở xa xưa” đó là gì?
Ngày nay, cả Nhật Bản lẫn Hàn Quốc đều là những cường quốc
kinh tế, đối diện nhau qua eo biển Tsushima, và nhìn nhau qua lăng kính bị nhiễm
độc của các huyền thoại sai lệch và những sự kiện tàn khốc có thật trong quá khứ.
Sẽ chẳng tốt lành gì cho tương lai vùng Đông Á nếu hai dân tộc lớn đó không thể
tìm được một cơ sở chung. Hiểu một cách đúng đắn thật ra người Nhật Bản là ai,
họ đã tách ra như thế nào từ dân tộc Triều Tiên vốn có quan hệ gần gũi, ấy là
việc tối quan trọng để có thể tìm ra cái cơ sở chung đó.
Xuất phát điểm để hiểu được nền văn hóa độc đáo của Nhật Bản
là phải hiểu điều kiện địa lý và môi trường có một không hai của nước này. Thoạt
nhìn Nhật Bản có vẻ rất giống nước Anh về mặt địa lý, bởi cả hai đều là những
quần đảo lớn nằm bên rìa lục địa Âu-Á, một ở phía đông một ở phía tây. Nhưng có
những khác biệt về chi tiết tỏ ra quan trọng: Nhật Bản có phần lớn hơn và cách
biệt hơn. Diện tích Nhật Bản là 146.000 dặm vuông (khoảng 378.000 km² – ND), rộng
gấp rưỡi diện tích đảo Anh và gần bằng bang California. Đảo Anh chỉ cách bờ biển
nước Pháp 22 dặm (khoảng 35 km – ND), nhưng Nhật Bản thì cách điểm gần nhất của
nội địa châu Á (Hàn Quốc) đến những 110 dặm (176 km – ND), cách nội địa Nga 180
dặm (288 km – ND) và nội địa Trung Quốc đến 460 dặm (736 km – ND).
Có lẽ chính vì vậy mà trong suốt lịch sử của mình nước Anh
dính líu với nội địa châu Âu chặt chẽ hơn nhiều so với Nhật Bản dính líu với nội
địa châu Á. Chẳng hạn, kể từ thời Jesus đã có đến bốn cuộc xâm lược đảo Anh
thành công từ phía châu Âu lục địa, nhưng lại không hề có cuộc xâm lược Nhật Bản
nào từ phía châu Á lục địa (trừ phi người Triều Tiên quả thực đã từng chinh phục
Nhật Bản vào thời chưa có lịch sử thành văn). Ngược lại, kể từ khi người Norman
chinh phục nước Anh vào năm 1066 thì ở thế kỷ nào quân đội Anh cũng có tham chiến
trên lục địa châu Âu, trong khi cho mãi đến cuối thế kỷ XIX nội địa châu Á vẫn
không hề có bóng dáng quân đội Nhật Bản ngoại trừ vào thời chưa có sử thành văn
và vào thập niên cuối của thế kỷ XVI. Như vậy, những chi tiết về địa lý đã khiến
cho Nhật Bản biệt lập hơn và do đó còn độc đáo hơn nhiều về văn hóa so với nước
Anh.
Còn về khí hậu Nhật Bản, lượng mưa của nước này có thể lên tới
160 inch (406 cm – ND) một năm, khiến cho Nhật Bản trở thành nước ôn đới ẩm ướt
nhất trên thế giới. Chưa hết, ngược lại với hầu hết châu Âu vốn mưa chủ yếu vào
mùa đông, mưa ở Nhật Bản chủ yếu tập trung vào mùa hè, mùa tăng trưởng của cây
cối. Sự kết hợp đó giữa lượng mưa cao với mưa vào mùa hè mang lại cho nước Nhật
năng suất cây trồng cao nhất so với bất cứ nước nào khác ở vùng ôn đới. Một nửa
diện tích đất canh tác của Nhật Bản được dùng để trồng lúa nước thâm canh có tưới
tiêu, sản lượng cao, nhờ có rất nhiều sông ngòi chảy từ những ngọn núi nhiều
mưa xuống các đồng bằng thoai thoải ở dưới thấp. Tuy 80% diện tích đất của Nhật
Bản toàn là núi non không thích hợp để trồng trọt và chỉ có 14% diện tích là đất
canh tác, song mỗi km vuông đất canh tác đó lại nuôi sống được một dân số có mật
độ cao gấp tám lần so với ở Anh. Trên thực tế, nếu xét theo tỷ lệ đất canh tác
thì Nhật Bản là xã hội quy mô lớn có mật độ dân cư cao nhất trên thế giới.
Lượng mưa cao của Nhật Bản cũng đảm bảo cho rừng tái tạo
nhanh sau khi bị đốn. Mặc dù nước Nhật đã bị cư dân đông đúc chiếm cứ suốt hàng
ngàn năm, song ấn tượng đầu tiên của bất cứ ai về đất nước này là màu xanh của
nó, bởi hơn 70% diện tích Nhật Bản vẫn còn phủ rừng (so với vỏn vẹn 10% diện
tích nước Anh). Ngược lại, có tới ngần ấy diện tích rừng ở Nhật Bản thì cũng có
nghĩa là chẳng hề có vùng đồng cỏ hay bãi chăn thả tự nhiên nào. Theo truyền thống,
gia súc duy nhất được nuôi trên quy mô lớn để lấy thịt ở Nhật Bản là lợn; cừu
và dê chưa bao giờ có vị trí quan trọng, còn bò thì được nuôi để kéo cày và kéo
xe chứ không lấy thịt. Thịt bò do chính người Nhật nuôi luôn luôn là món ăn xa
xỉ dành cho thiểu số người giàu, giá đến những 100 đôla Mỹ một pound (0,454 kg
– ND).
Cấu trúc rừng ở Nhật thay đổi tùy vĩ độ và cao độ: rừng lá to
xanh quanh năm ở miền nam và cao độ thấp, rừng lá to rụng vào mùa đông ở miền
trung Nhật Bản, rừng lá kim ở miền bắc và cao độ lớn. Đối với con người thời tiền
sử, rừng năng sản nhất là rừng lá to rụng vào mùa đông bởi có rất nhiều hạt ăn
được như quả óc chó, hạt dẻ, hạt dẻ ngựa, quả sồi. Cũng như rừng Nhật Bản, các
vùng nước ở Nhật có năng suất thủy hải sản đặc biệt cao. Các hồ, các sông ngòi,
Nội Hải, Biển Nhật Bản về phía tây, Thái Bình Dương về phía đông đầy những loài
cá như cá hồi, cá ngừ, cá mòi, cá thu, cá trích và cá tuyết. Các vùng nước của
Nhật cũng rất giàu các loài vỏ cứng như trai, sò, tôm, cua cũng như các loài
rong ăn được. Như ta sẽ thấy, năng suất cao đó ở cả trên bờ lẫn dưới nước đã
đóng vai trò then chốt đối với thời kỳ tiền sử của Nhật Bản.
Trước khi quay lại bằng chứng về khảo cổ, ta hãy xét bằng chứng
về nguồn gốc của người Nhật từ các ngành sinh vật học, ngôn ngữ học, chân dung
và lịch sử thành văn về họ từ thuở đầu tiên. Mối xung đột giữa bốn loại bằng chứng
quen thuộc đó chính là cái khiến cho vấn đề nguồn gốc người Nhật đâm ra đầy mâu
thuẫn như vậy.
Từ tây nam lên đông bắc, bốn hòn đảo chính của Nhật Bản là
Kyushu, Shikoku, Honshu (đảo lớn nhất) và Hokkaido. Mãi cho đến khi người Nhật
di cư với quy mô lớn sang Hokkaido vào cuối thế kỷ XIX, hòn đảo này (và kể cả
phía bắc Honshu) vẫn chỉ có người Ainu sinh sống từ thời tiền sử. Người Ainu
theo lối sống săn bắt hái lượm, có trồng trọt nhưng chỉ hạn chế, trong khi người
Nhật Bản chiếm cứ ba hòn đảo còn lại. Về gen di truyền và hệ xương cũng như về
ngoại hình, người Nhật rất giống các dân tộc Đông Á khác bao gồm người Bắc
Trung Quốc, người Đông Siberia và đặc biệt là người Triều Tiên. Ngay cả những
người bạn Nhật Bản và Triều Tiên của tôi cũng nói đôi khi nếu chỉ nhìn mặt ai
đó thì khó mà đoán được ấy là người Triều Tiên hay người Nhật.
Còn về người Ainu, ngoại hình khác biệt của họ đã khiến người
ta tốn nhiều giấy mực để bàn về nguồn gốc và quan hệ họ hàng của họ hơn so với
về bất cứ dân tộc riêng lẻ nào khác trên thế giới. Đàn ông Ainu có bộ râu sum
suê và lông trên người rậm rạp nhất so với bất cứ giống dân nào khác. Điều đó,
cộng với một số nét di truyền khác như kiểu vân tay và loại ráy tai, thường khiến
người ta phân loại họ thành một nhóm Caucasoid (cái gọi là người da trắng) mà
xưa kia đã bằng cách nào đó di cư ngang qua lục địa Âu-Á để cuối cùng dừng chân
ở Nhật Bản. Tuy nhiên, nhìn đại thể thì kiểu di truyền của họ có quan hệ với
các dân tộc Đông Á khác trong đó có người Nhật, người Triều Tiên và người
Okinawa. Có lẽ ngoại hình chẳng giống ai của họ chỉ là do một số tương đối ít
gen đã phát sinh thông qua chọn lọc giới tính sau khi họ đã di cư từ nội địa
châu Á sang và trở thành [một dân tộc] biệt lập trên quần đảo Nhật Bản. Ngoại
hình khác biệt và lối sống săn bắt hái lượm của người Ainu, cùng với ngoại hình
không có gì khác biệt và lối sống nông nghiệp thâm canh của người Nhật Bản, thường
được người ta viện dẫn khi đề xuất cách giải thích đơn giản rằng người Ainu là
hậu duệ của cư dân săn bắt hái lượm nguyên thủy trên quần đảo Nhật Bản, còn người
Nhật ngày nay là [hậu duệ của] những người từ nội địa châu Á di cư sang chiếm
Nhật Bản vào một thời kỳ muộn hơn.
Song quan điểm này khó lòng thích ứng được với tính chất độc
đáo của tiếng Nhật, thứ ngôn ngữ mà ai cũng đồng ý rằng không có liên hệ gần
gũi nào về tiểu tiết với bất cứ ngôn ngữ nào khác trên thế giới (kiểu như tiếng
Pháp gần với tiếng Tây Ban Nha). Trong chừng mực người ta có thể nói gì đó về
quan hệ họ hàng của tiếng Nhật, nhiều học giả coi đây là một thành viên của ngữ
hệ Altai ở châu Á bao gồm các ngôn ngữ Turk, các ngôn ngữ Mông Cổ và các ngôn
ngữ Tungus ở Đông Siberia, song tiếng Nhật là một nhánh biệt lập trong ngữ hệ
này. Tiếng Triều Tiên cũng thường được xem là một thành viên biệt lập của ngữ hệ
này, và trong phạm vi ngữ hệ này thì tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên có thể có
liên hệ với nhau nhiều hơn là với các ngôn ngữ Altai khác. Tuy nhiên, những
tương đồng giữa tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên chỉ giới hạn ở các đặc điểm ngữ
pháp chung và khoảng 15% ngữ vựng cơ bản, chứ không có chung từng tiểu tiết về
ngữ pháp và từ vựng như giữa tiếng Pháp với tiếng Tây Ban Nha. Nếu người ta chấp
nhận giả thuyết rằng tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên quả thực có họ hàng với
nhau dù chỉ họ hàng xa, thì việc hai bên chỉ có chung 15% ngữ vựng cũng gợi ý rằng
hai ngôn ngữ đó đã bắt đầu tách khỏi nhau từ trên 5.000 năm trước chứ không phải
chỉ 2.000 năm hay thậm chí ít hơn như khoảng thời gian mà tiếng Pháp và tiếng
Tây Ban Nha tách khỏi nhau. Còn về tiếng Ainu, quan hệ họ hàng của nó hoàn toàn
vẫn trong vòng nghi vấn; có thể nó chẳng có mối liên hệ đặc biệt nào với tiếng
Nhật cả.
Tiếp theo bằng chứng sinh học và bằng chứng ngôn ngữ, loại bằng
chứng thứ ba về nguồn gốc của người Nhật là những bức chân dung cổ. Chân dung
xưa nhất còn giữ được về người Nhật là những bức tượng gọi là haniwa được dựng
quanh các phần mộ vào khoảng 1.500 năm trước. Đặc biệt là ở hình dáng cặp mắt,
các bức tượng đó rõ ràng là mô tả những người Đông Á, như người Nhật Bản hay
người Triều Tiên ngày nay. Chúng chẳng hề giống những người Ainu râu rậm. [Điều
đó nghĩa là] nếu người Nhật quả thật đã giành đất của người Ainu trên toàn bộ
lãnh thổ Nhật Bản về phía nam Hokkaido thì chuyện đó phải xảy ra trước năm 500
CN. Sau khi người Nhật Bản đã thiết lập những thương điếm trên đảo Hokkaido vào
năm 1615, họ đi tới chỗ đối xử với người Ainu chẳng khác gì người Mỹ da trắng đối
xử với người Anh-điêng bản địa châu Mỹ. Người Ainu bị khuất phục, bị quây vào
những khu dành riêng cho họ, bị buộc phải làm việc cho các thương điếm, bị đuổi
khỏi những vùng đất mà các nhà nông người Nhật muốn, người nào nổi lên kháng cự
thì bị giết. Khi Nhật Bản sáp nhập Hokkaido vào năm 1869, các giáo viên ở nhà
trường Nhật Bản đã tiến hành những nỗ lực đầy quyết tâm nhằm xóa sạch nền văn
hóa và ngôn ngữ Ainu. Ngày nay tiếng Ainu hầu như đã tuyệt diệt và có lẽ chẳng
có người Ainu thuần huyết nào còn sống sót.
Thông tin thành văn sớm nhất về Nhật Bản là từ các biên niên
sử Trung Quốc, bởi Trung Quốc đã sáng chế ra chữ viết từ lâu trước khi chữ viết
bành trướng từ Trung Quốc sang Triều Tiên hoặc Nhật Bản. Từ năm 108 TCN cho đến
năm 313 CN, Trung Quốc đã chiếm một điểm định cư ở Bắc Triều Tiên và trao đổi sứ
giả với Nhật Bản. Trong các tư liệu Trung Quốc về sau mà ở đó mô tả những dân tộc
khác nhau được gọi chung là “bọn man di phía đông”, Nhật Bản được mô tả dưới
cái tên Wa, và tư liệu nói rằng cư dân xứ đó chia ra thành hơn một trăm nước nhỏ
thường xuyên đánh nhau ác liệt. Chỉ có một ít bản khắc Triều Tiên hay Nhật Bản
từ trước năm 700 còn giữ được đến nay, song nhiều sử sách công phu đã được viết
trong khoảng từ năm 712 đến 720 ở Nhật Bản và muộn hơn ở Triều Tiên. Tuy các
biên niên sử Triều Tiên và Nhật Bản đó nhằm mục đích thuật lại lịch sử các thời
đại trước đó, song chúng lại đầy rẫy những chuyện bịa đặt lộ liễu nhằm vinh
danh và hợp thức hóa các hoàng gia cai trị, chẳng hạn như tư liệu của người Nhật
mô tả Thiên hoàng là hậu duệ của nữ thần mặt trời Amaterasu. Tuy nhiên, các
biên niên sử đó cũng đủ để làm rõ một điều rằng Triều Tiên, cũng như của Trung
Quốc thông qua Triều Tiên, đã có ảnh hưởng to lớn đối với Nhật Bản, dẫn tới sự
du nhập Phật giáo, chữ viết, nghề luyện kim, các nghề thủ công khác và các
phương thức hành chính vào Nhật Bản. Các biên niên sử cũng đầy những tường thuật
về người Triều Tiên ở Nhật Bản và về người Nhật Bản ở Triều Tiên, tuy nhiên giới
sử gia Nhật Bản diễn giải các tường thuật đó như là bằng chứng về việc Nhật Bản
từng chinh phục Triều Tiên, trong khi giới sử gia Triều Tiên thì diễn giải theo
hướng ngược lại.
Như vậy, chúng ta đã thấy tổ tiên của người Nhật đã đặt chân
đến Nhật Bản từ trước khi họ có chữ viết, và đặc điểm sinh học của họ gợi ý rằng
họ đã đến Nhật Bản vào một thời kỳ khá gần đây song ngôn ngữ của họ thì lại cho
thấy họ đã đến Nhật Bản từ ít nhất 5.000 năm trước. Giờ ta hãy quay lại bằng chứng
khảo cổ để thử giải câu đố khó này. Ta sẽ thấy rằng các xã hội Nhật Bản cổ đại
nằm trong số những xã hội đặc sắc nhất trên thế giới.
Các biển nông ngày nay bao quanh hầu hết bờ biển Nhật Bản và
vùng duyên hải Đông Á. Vào kỷ Băng hà, khi hầu hết nước ở đại dương bị hãm dưới
lớp băng và mực nước biển thấp hơn mực ngày nay khoảng 500 bộ (trên 150 mét –
ND) thì các biển này đã bị cạn và trở thành đất liền. Vào thời đó, đảo cực bắc
Nhật Bản là Hokkaido được nối liền với nội địa nước Nga qua một cầu đất liền bắc
ngang đảo Sakhalin ngày nay; đảo cực nam Nhật Bản là Kyushu được nối liền với
Hàn Quốc qua một cầu đất liền khác bắc qua eo biển Tsushima ngày nay; toàn bộ
các đảo chính của Nhật Bản đều nối liền với nhau; và hầu hết diện tích Hoàng Hải
và biển Hoa Đông ngày nay hãy còn là những vùng đất nối liền với nội địa Trung
Quốc. Vì thế nên chẳng có gì lạ rằng các loài có vú đã di chuyển từ nội địa
[Đông Á] ra Nhật Bản ngang qua các cầu đất liền vào thời đó không chỉ bao gồm tổ
tiên các loài gấu và khỉ Nhật Bản ngày nay mà cả những con người cổ đại, từ rất
lâu trước khi người ta phát minh ra chiếc thuyền. Những công cụ bằng đá chỉ ra
rằng con người đã đặt chân đến Nhật Bản từ nửa triệu năm trước. Các công cụ đá ở
miền bắc Nhật Bản giống các công cụ đá ở Siberia và bắc Trung Quốc, song các
công cụ đá ở miền nam Nhật Bản thì lại giống các công cụ đá của Triều Tiên và
nam Trung Quốc, điều này gợi ý rằng người [cổ đại] đã sử dụng cả cầu đất liền
phía bắc lẫn cầu đất liền phía nam.
Nước Nhật vào kỷ Băng hà chẳng phải là một nơi dễ sống. Cho
dù hầu hết Nhật Bản không bị băng bao phủ như nước Anh hay Canada, Nhật Bản vẫn
là một xứ lạnh, khô, phủ dày đặc rừng tùng bách và rừng cây bulô chứ chẳng có
bao nhiêu loài cây ăn được đối với con người. Những nhược điểm đó [của môi trường]
càng khiến cho sự phát triển sớm của những người Nhật Bản vào kỷ Băng hà càng
gây ấn tượng: khoảng 30.000 năm trước, họ nằm trong số những người đầu tiên
trên thế giới làm ra công cụ bằng đá có cạnh được mài sắc chứ không chỉ là [cạnh
sắc do] ghè đẽo hoặc tước ra. Trong khoa khảo cổ ở Anh, công cụ có cạnh mài sắc
được coi là một bước tiến lớn về văn hóa đánh dấu sự chấm dứt Thời đại Đồ đá giữa
mà bước sang Thời đại Đồ đá mới, thế nhưng các công cụ đó chỉ xuất hiện ở Anh
khi nông nghiệp được du nhập vào vùng này chưa đến 7.000 năm trước.
Khoảng 13.000 năm trước, khi băng bắt đầu nhanh chóng tan ra
trên khắp thế giới, điều kiện sống ở Nhật Bản được cải thiện rất nhiều đối với
con người. Nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm đều tăng, nâng năng suất các loài cây
lên mức cao như ở thời nay, cái năng suất khiến cho Nhật Bản nổi bật hẳn lên
trong số các quốc gia ôn đới. Rừng lá to rụng vào mùa đông với nhiều cây cho hạt
ăn được, vốn chỉ bó hẹp ở miền nam Nhật Bản trong kỷ Băng hà, nay đã có thể
bành trướng lên phía bắc chiếm chỗ của rừng lá kim, vậy nghĩa là một loại rừng
mà bấy lâu nay chẳng đem lại được gì cho con người đã được thay thế bởi một loại
rừng khác cho nhiều sản vật hơn gấp bội. Mực nước biển tăng làm các cầu đất liền
bị cắt rời, biến Nhật Bản từ chỗ là một mảnh của lục địa châu Á trở thành một
quần đảo lớn, biến nơi từng là một đồng bằng thành những biển nông nhiều tôm
cá, và tạo nên hàng ngàn km bờ biển mới với vô số đảo, vịnh, bãi triều và cửa
sông, tất cả đều lèn chặt các loài hải sản.
Thời điểm kết thúc kỷ Băng hà đi kèm với sự thay đổi đầu tiên
trong hai sự thay đổi có tầm quan trọng quyết định nhất trong thời tiền sử của
Nhật Bản: phát minh ra đồ gốm. Lần đầu tiên trong lịch sử, con người nay đã có
được những vật dụng kín chứa nước, muốn hình dáng nào cũng có. Nhờ nay đã có thể
nấu, luộc hoặc ninh thức ăn, họ có thể tiêu thụ rất nhiều nguồn lương thực thực
phẩm khác mà trước đây khó sử dụng được: những loại rau nhiều lá mà trước kia nếu
chỉ nướng trên lửa thì sẽ cháy hoặc khô quắt lại; những con sò mà nhờ nấu trong
nước nên có thể mở dễ dàng; và những thứ thức ăn như quả sồi hay hạt dẻ ngựa, vốn
có chất độc hoặc vị đắng nhưng vẫn bổ dưỡng, nay thì có thể nhúng trong nước để
tẩy chất độc đi. Nay người ta có thể bón thức ăn nấu mềm cho trẻ nhỏ, giúp trẻ
cai sữa sớm hơn nhờ vậy các bà mẹ có thể sinh con cách quãng ngắn hơn. Những
người già bị mất răng, vốn là nguồn lưu trữ thông tin quý báu vào thời xã hội
chưa có chữ viết, nay có thể được nuôi ăn tốt và sống lâu hơn. Tất cả các hệ quả
quan trọng đó của đồ gốm đã kích thích một sự bùng nổ dân số, khiến cho dân số
Nhật Bản tăng vọt từ vỏn vẹn dăm ngàn người lên tới 1/4 triệu người.
Lẽ tự nhiên, người Nhật Bản không phải là dân tộc duy nhất
trên thế giới có đồ gốm. Đồ gốm đã được phát minh độc lập ở nhiều thời điểm và
tại nhiều địa điểm khác nhau trong thế giới cổ đại. Nhưng đồ gốm xưa nhất thế
giới mà người ta từng biết đến được làm ra ở Nhật Bản từ 12.700 năm trước. Khi
các niên đại cácbon phóng xạ đó được công bố vào năm 1960, ngay cả các nhà khoa
học Nhật Bản ban đầu cũng không tin được. Theo kinh nghiệm thông thường của các
nhà khảo cổ, các phát minh thường chỉ được truyền bá từ nội địa ra các đảo, và
các xã hội nhỏ sống ở vùng biên thường không phải là kẻ đóng góp những thành tựu
mang tính cách mạng cho phần còn lại của thế giới. Đặc biệt là theo kinh nghiệm
của các nhà khảo cổ Nhật Bản, Trung Quốc được coi là cội nguồn của những đột
phá về văn hóa ở Đông Á như nghề nông, chữ viết, nghề luyện kim và mọi thứ quan
trọng khác. Ngày nay, gần 40 năm sau khi người ta đo được niên đại xa xưa đến vậy
của đồ gốm Nhật Bản, các nhà khảo cổ vẫn đang còn bối rối bởi cú sốc cácbon 14
như họ gọi. Các đồ gốm xa xưa khác cũng đã được tìm thấy ở Trung Quốc và miền
đông nước Nga (gần Vladivostok). Các nhà khảo cổ châu Á đang ra sức chạy đua để
đánh bại kỷ lục của Nhật Bản. (Trên thực tế, tôi vừa nghe nói người Trung Quốc
và người Nga đang sắp sửa đánh bại được rồi). Nhưng người Nhật vẫn đang nắm kỷ
lục thế giới, bởi họ có những đồ gốm xưa hơn tới hàng ngàn năm so với đồ gốm
xưa nhất ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu hoặc châu Âu.
Cái định kiến cho rằng đã là dân hải đảo thì phải học tập từ
dân lục địa bởi dân lục địa ưu việt hơn chẳng phải là nguyên nhân duy nhất khiến
cho kỷ lục của Nhật Bản về niên đại đồ gốm lại gây ra cú sốc như vậy. Ngoài ra,
những người làm đồ gốm đầu tiên ở Nhật Bản đó rõ ràng là những người săn bắt
hái lượm, điều đó cũng lại vi phạm những quan điểm đã quen thuộc của nhiều người.
Hầu hết đồ gốm là vật sở hữu của các xã hội định cư, bởi có dân du mục nào mà mỗi
khi chuyển trại lại muốn rằng ngoài vũ khí và con nhỏ ra lại còn vác theo cả một
lô một lốc những chum với lọ nặng nề? Vì vậy những người săn bắt hái lượm thường
không có đồ gốm, bởi hầu hết các xã hội định cư ở các nơi khác trên thế giới chỉ
phát sinh từ khi [họ] tiếp thu nghề nông. Nhưng môi trường Nhật Bản thì lại
năng sản đến mức đó là một trong số ít những địa điểm nơi người ta có thể định
cư và làm ra đồ gốm mặc dù vẫn theo lối sống săn bắt hái lượm. Đồ gốm giúp những
người Nhật Bản săn bắt hái lượm đó khai thác nguồn lương thực thực phẩm dồi dào
từ môi trường sống của mình từ 10.000 năm trước khi nghề nông thâm canh được du
nhập vào Nhật Bản. Ngược lại, mãi chừng 1.000 năm sau khi Lưỡi liềm Phì nhiêu
áp dụng nghề nông thì đồ gốm mới được sử dụng ở vùng này.
Chẳng có gì lạ rằng đồ gốm cổ Nhật Bản khá đơn giản về công
nghệ xét theo tiêu chuẩn của ngày nay. Nó không có nước men, làm bằng tay chứ
không phải bằng bánh xoay, được nung trên lửa lộ thiên chứ không phải trong lò,
và được nung ở nhiệt độ tương đối thấp. Song, cùng với thời gian, đồ gốm Nhật Bản
dần dần được sản xuất với nhiều kiểu dáng vô cùng phong phú và được đánh giá là
nghệ thuật đích thực theo tiêu chuẩn của mọi thời đại. Hầu hết chúng được trang
trí bằng cách lăn hoặc ấn một đoạn thừng lên đất sét khi đất còn mềm. Bởi từ Nhật
dùng để gọi cách trang trí này là jomon (thằng văn, tức “hoa văn dây thừng”)
nên từ jomon cũng được dùng để gọi bản thân loại đồ gốm này, cũng như để gọi những
người cổ đại đã làm ra chúng và cả toàn bộ thời kỳ đó trong thời tiền sử của Nhật
Bản từ khi người ta phát minh ra đồ gốm và chỉ kết thúc vào khoảng 10.000 năm
sau đó.
Đồ gốm Jomon sớm nhất có niên đại 12.700 năm trước phát sinh
từ đảo Kyushu ở cực nam Nhật Bản. Từ đó đồ gốm bành trướng lên phía bắc, đến
vùng ngoại ô Tokyo ngày nay vào khoảng 9.500 năm trước và đảo Hokkaido ở cực bắc
vào khoảng 7.000 năm trước. Đồ gốm bành trướng về phía bắc theo sau sự bành trướng
của rừng lá to rụng lá vốn giàu các loại cây cho hạt ăn được, điều này gợi ý rằng
nhờ lương thực phong phú hơn mà con người thời đó đã có thể chuyển sang định cư
và sản xuất đồ gốm. Phong cách đồ gốm Jomon thời kỳ đầu đó lại tương đối đồng
nhất trên toàn quần đảo Nhật Bản, điều này càng củng cố thêm cho cách giải
thích rằng người ta đã phát minh ra đồ gốm ở phía nam rồi từ nguồn phát nguyên
duy nhất đó đồ gốm đã bành trướng [lên phía bắc]. Cùng với thời gian, vài chục
phong cách khu vực đã phát triển trên toàn bộ chiều dài 1.500 dặm (2.400 km –
ND) của quần đảo Nhật Bản.
Người Jomon đã kiếm sống như thế nào? Chúng ta có rất nhiều bằng
chứng từ những đống rác họ để lại ở hàng trăm ngàn di chỉ khảo cổ đã khai quật
và những đống vỏ khổng lồ rải rác trên toàn nước Nhật. Hóa ra, họ là những người
săn bắt hái lượm và đánh cá, có một thực đơn rất đỗi phong phú và cân bằng mà
ngay các nhà dinh dưỡng học ngày nay cũng phải lấy làm khâm phục.
Một loại lương thực chính là các loại hạt, đặc biệt là hạt dẻ
và quả óc chó, cộng thêm hạt dẻ ngựa và quả sồi đã được tẩy sạch chất độc có vị
đắng. Các loại hạt có thể thu hoạch vào mùa thu với khối lượng dồi dào, sau đó
trữ lại để dành cho mùa đông trong những hầm chứa dưới lòng đất sâu 6 bộ (hơn
1,8 m – ND) và rộng 6 bộ. Các thực phẩm có nguồn gốc thực vật khác gồm có các
loại quả, lá, mầm, củ và rễ. Khi phân tích rác thải thời Jomon, nhà khảo cổ đã
xác định được tới 64 loài cây ăn được.
Từ hồi đó cũng như ngày nay, người Nhật luôn nằm trong số các
dân tộc tiêu thụ hải sản nhiều nhất thế giới. Người Nhật cổ đâm cá ngừ bằng lao
móc ngoài đại dương, lùa cá heo vào những vùng nước nông rồi dùng gậy đập hoặc
lao đâm chết giống như ngày nay, giết hải cẩu trên bãi biển, đánh bắt cá hồi
trên sông theo mùa sinh sản của chúng, dùng lưới, dựng đăng hoặc lưỡi câu làm bằng
gạc nai để đánh bắt nhiều loại cá, còn sò, cua và rong biển thì được vớt ở các
bãi triều hoặc thu hoạch nhờ các thợ lặn. Các bộ xương của người Jomon cho thấy
có một tần số cao cái mà các nhà bệnh học gọi là auditory exostosis, nghĩa là
chứng xương phát triển bất thường ở tai như thường thấy ở các thợ lặn ngày nay.
Trong số các loài thú trên bộ bị săn bắt, lợn lòi và hươu là
những con mồi thường xuyên nhất, theo sau là dê núi và gấu. Người ta săn các
con mồi này bằng bẫy, bắn bằng cung tên và dùng chó để dồn. Xương lợn xuất hiện
vào thời Jomon trên các hòn đảo ngoài khơi vốn không phải là nơi lợn phát sinh
ngoài tự nhiên, khiến người ta phải đặt câu hỏi liệu có phải người Jomon đã bắt
đầu thử thuần hóa lợn hay không.
Câu hỏi gây nhiều tranh luận nhất về người Jomon là liệu nghề
nông có phần đóng góp đến đâu trong cách sinh tồn của họ. Các di chỉ Jomon thường
chứa di tích các loại cây ăn được vốn mọc hoang ở Nhật Bản nhưng cũng được canh
tác như là cây trồng ngày nay, trong đó có đậu đỏ, đậu xanh và barnyard millet
(một loại ngũ cốc ăn được). Các di tích từ thời Jomon không cho thấy có những đặc
tính riêng biệt về hình thái của cây trồng khác với các loài tổ tiên hoang dại,
nên ta không thể biết chắc liệu đó là cây mọc hoang hay cây được trồng có chủ
ý. Các di chỉ cũng có vết tích những loài cây ăn được hoặc cây có ích vốn không
phải nguồn gốc từ Nhật Bản nên ắt là đã được du nhập từ nội địa châu Á vì giá
trị của chúng, chẳng hạn kiều mạch (buckwheat), dưa hấu, bầu nậm, gai dầu và
cây shiso (tiếng Anh gọi là beefsteak plant) dùng làm gia vị. Khoảng 1.200 năm
TCN, vào gần cuối thời kỳ Jomon, một số hạt lúa, lúa mạch, kê đuôi chồn và kê
lông chổi (broomcorn millet), các loài cây ngũ cốc chính của Đông Á cũng bắt đầu
xuất hiện. Tất cả các manh mối đó dễ khiến ta suy luận rằng người Jomon đã bắt
đầu tiến hành một kiểu nghề nông đốt rừng làm rẫy nào đó, nhưng rõ ràng họ chỉ
làm vậy một cách tình cờ, không chủ định, và việc đó chỉ đóng góp một phần nhỏ
vào khẩu phần của họ thôi.
Tôi không định gây nên ấn tượng rằng bất kỳ thứ thực phẩm nào
mà tôi nhắc tới trên đây cũng được tiêu thụ ở mọi miền Nhật Bản vào thời Jomon.
Ở những khu rừng giàu các loại cây cho hạt ở miền bắc Nhật, các hầm trữ hạt có
tầm quan trọng đặc biệt bên cạnh nghề săn hải cẩu và đánh bắt cá biển. Còn ở miền
nam vốn không nhiều các loại cây cho hạt, thì đánh bắt các loài có vỏ (tôm,
cua, sò…) có vai trò lớn hơn. Nhưng chế độ ăn uống ở bất cứ khu vực nào và thậm
chí mỗi một bữa ăn Nhật Bản đều vẫn có nét đặc trưng là sự đa dạng. Chẳng hạn,
như di tích còn lại từ các bữa ăn cho thấy, người Jomon biết trộn lẫn bột hạt dẻ
và bột quả óc chó, thịt và máu lợn và dê, cùng với trứng chim theo những tỷ lệ
khác nhau để làm thành những món bánh quy giàu hydrat cacbon hay bánh kẹp thịt
giàu protein chẳng kém gì các món bánh quy hay hamburger thời nay. Những người
săn bắt hái lượm Ainu ở thời đại gần chúng ta hơn thì để một cái nồi thường
xuyên sôi sùng sục trên bếp lửa và ném tất tật các loại thức ăn vào đó; những
người Jomon tiền bối của họ, vốn cũng sống ở các di chỉ đó và cũng ăn các loại
lương thực thực phẩm đó, ắt cũng đã làm như vậy.
Tôi có nói rằng đồ gốm (gồm những vật nặng cao đến ba bộ –
khoảng hơn 0,9 m – ND) gợi ý rằng những người săn bắt hái lượm Jomon ắt hẳn đã
định cư chứ không phải là dân du cư. Ngoài ra còn có những bằng chứng khác củng
cố thêm giả thiết rằng người Jomon đã định cư, ấy là những công cụ nặng bằng
đá, di tích các căn nhà bề thế mà một nửa ngầm dưới đất với dấu hiệu cho thấy
được xây theo kiểu mẫu có từ trước, những di tích trọn vẹn từng ngôi làng với
hàng trăm căn nhà hay hơn nữa, và các nghĩa trang. Tất cả các đặc trưng đó khiến
người Jomon khác hẳn với những người săn bắt hái lượm thời hiện đại vốn cứ vài
tuần lại chuyển đi nơi khác, chỉ xây lều tạm bợ và chỉ sở hữu một ít món đồ nhẹ
nhàng có thể mang theo. Sở dĩ người Jomon có thể định cư là do họ được hưởng một
môi trường sống đa dạng giàu tài nguyên chỉ nằm cách nơi cư trú chính của họ
không xa: các khu rừng, dòng sông, bờ biển, vịnh, biển và đại dương.
Người Jomon sinh sống với mật độ dân số cao nhất mà người ta
từng ước đoán đối với người săn bắt hái lượm, đặc biệt là ở miền trung và miền
bắc Nhật Bản nơi có những khu rừng giàu cây cho hạt, các dòng sông nhiều cá hồi
theo mùa và biển nhiều hải sản. Tổng dân số Nhật Bản thời Jomon ước tính là
250.000 người vào lúc cao điểm, một con số chẳng lấy gì làm lớn so với dân số
Nhật Bản ngày nay, song đối với thời săn bắt hái lượm thì là một dân số thật
đáng kể. Cạnh tranh gần ngang ngửa về mật độ dân số với người Jomon có chăng chỉ
là người Anh-điêng vùng tây bắc Thái Bình Dương và vùng California vào thời hiện
đại, những người sống chủ yếu nhờ các khu rừng nhiều loại hạt ăn được, nhiều luồng
cá hồi theo mùa và biển nhiều hải sản, một trường hợp nổi bật về sự tiến hóa đồng
quy của các xã hội loài người.
Mặc dù nhấn mạnh người Jomon có được nhiều thứ là vậy, song
ta cũng cần nói rõ người Jomon không có những gì. Họ không có nông nghiệp thâm
canh, mà nói chung họ có hay không có nghề nông cũng hãy còn chưa rõ. Ngoài chó
ra, họ không hề có loài gia súc nào khác (cũng có thể cả lợn, song không chắc).
Họ không có công cụ bằng kim loại, không có chữ viết, không biết dệt vải. Các
làng mạc và nghĩa trang của người Jomon không có một vài căn nhà và ngôi mộ được
trang trí đẹp đẽ khác biệt với phần lớn các nhà và mộ của thường dân, mà hầu hết
các căn nhà và ngôi mộ đều khá giống nhau, cho thấy xã hội Jomon hãy còn ít
phân cấp thành tù trưởng và dân thường. Sự chuyển hóa về phong cách đồ gốm giữa
các vùng gợi ý rằng người Jomon đã không tiến xa lắm về phương diện tập trung
hóa và thống nhất về chính trị. Tất cả các nét tiêu cực đó tương phản với với
những nét [tích cực] của các xã hội cùng thời ở nội địa Trung Quốc và Triều
Tiên chỉ cách Nhật Bản thời Jomon vỏn vẹn vài trăm dặm, những xã hội với những
sự thay đổi đã quét qua Nhật Bản sau năm 400 TCN.
Mặc dù có sự khác biệt nổi bật là vậy ngay cả so với vùng
Đông Á vào thời đó, Nhật Bản thời Jomon vẫn không phải một vũ trụ hoàn toàn biệt
lập. Sự phân bố của đồ gốm và đá obsidian (một loại đá núi lửa rất cứng mà người
ta thích dùng để làm công cụ bằng đá) cho thấy người Jomon đã có phương tiện di
chuyển trên biển để đi lại giữa các đảo trong chuỗi đảo Izu cách Tokyo 180 dặm
(288 km – ND) về phía nam. Tương tự, đồ gốm, đá obsidian và lưỡi câu chứng minh
rằng đã có sự trao đổi giữa Nhật Bản thời Jomon với Triều Tiên, Nga và Okinawa,
cũng như việc du nhập sáu loài cây trồng chính của nội địa châu Á mà tôi đã nhắc
trên đây. Nhưng các nhà khảo cổ nghiên cứu Nhật Bản thời Jomon chỉ tìm thấy một
ít bằng chứng cho thấy có sự du nhập trực tiếp từ Trung Quốc, trong khi Trung
Quốc lại có ảnh hưởng lớn đến lịch sử Nhật Bản về sau này. So sánh với các thời
đại sau, điều gây ấn tượng ở nước Nhật thời Jomon không phải là việc nước này
có ít nhiều tiếp xúc với thế giới bên ngoài, mà là việc điều đó có ảnh hưởng
quá nhỏ bé đối với xã hội Jomon. Nước Nhật thời Jomon là một vũ trụ thu nhỏ
mang tính bảo thủ cứ duy trì tính biệt lập của mình và ít thay đổi đến kỳ lạ
trong suốt 10.000 năm – một ốc đảo ổn định trong một thế giới cùng thời đầy
mong manh và đổi thay nhanh chóng xung quanh nó.
Để đặt tính chất khác biệt của nước Nhật thời Jomon trong một
bối cảnh đương thời, ta hãy nhớ lại xem vào năm 400 TCN, lúc lối sống Jomon sắp
bước vào hồi cáo chung thì các xã hội loài người trên nội địa châu Á, cách Nhật
Bản chỉ vài trăm dặm về phía tây là như thế nào. Vào thời đó, Trung Quốc đã bao
gồm các vương quốc gồm tầng lớp tinh hoa giàu có và thường dân nghèo, sống
trong những đô thị có tường vây quanh, và đang tiến đến chỗ thống nhất về chính
trị để trở thành đế quốc rộng lớn nhất trên thế giới. Bắt đầu từ khoảng 7.500
năm TCN, Trung Quốc đã có chữ viết được ít nhất là 900 năm, đã có công cụ bằng
kim loại ít nhất là 1.500 năm, và vừa mới phát minh ra nghề luyện gang đầu tiên
trên thế giới. Các thành tựu đó của Trung Quốc cũng đang bành trướng sang Triều
Tiên, khu vực mà vào lúc đó đã có nghề nông được hàng mấy ngàn năm (trong đó có
lúa nước từ 2.000 năm TCN) và kim loại từ 1.000 năm TCN.
Thoạt tiên ta sẽ lấy làm lạ tại sao chỉ cách nhau eo Tsushima
và biển đông Nhật Bản mà vào năm 400 TCN trong khi ở Trung Quốc đang diễn ra những
bước tiến như vậy trong suốt hàng ngàn năm thì ở Nhật Bản vẫn chỉ có những người
săn bắt hái lượm không có chữ viết và dùng công cụ bằng đá song vẫn có trao đổi
ít nhiều [phẩm vật] với Triều Tiên. Trong suốt lịch sử loài người, các nhà nước
tập trung hóa có vũ khí bằng kim loại, có quân đội được hỗ trợ bằng dân số đông
đúc làm nghề nông đã từng quét sạch các quần thể dân cư ít ỏi hơn sống bằng săn
bắt hái lượm và dùng công cụ bằng đá. Thế thì làm cách nào nước Nhật thời Jomon
đã sống sót được lâu đến vậy?
Để thấu hiểu câu trả lời cho nghịch lý này, ta cần phải nhớ rằng
cho đến năm 400 TCN eo biển Tsushima là ranh giới ngăn cách không phải giữa những
nhà nông giàu có với những người săn bắt hái lượm nghèo khổ, mà là ngăn cách giữa
một bên là những nhà nông nghèo khổ với một bên là những người săn bắt hái lượm
giàu có. Bản thân Trung Quốc và nước Nhật thời Jomon không tiếp xúc trực tiếp với
nhau. Thay vì vậy, trao đổi buôn bán của Nhật Bản, nếu có thể nói vậy, chỉ là với
Triều Tiên. Nhưng lúa đã được thuần hóa ở miền nam Trung Quốc ấm áp và chỉ bành
trướng một cách chậm chạp về phía bắc đến Triều Tiên vốn mát hơn nhiều, bởi phải
mất nhiều thời gian thì lúa mới phát triển được thành những giống mới chịu được
lạnh. Nghề nông lúa nước ở Triều Tiên thời kỳ đầu sử dụng phương pháp ruộng khô
chứ không phải ruộng có tưới tiêu nên năng suất cũng không cao lắm. Vì vậy, nghề
nông Triều Tiên thời kỳ đầu không thể cạnh tranh với lối sống săn bắt hái lượm ở
Nhật thời Jomon được. Bản thân người Jomon chẳng thấy có lợi lộc gì nếu tiếp
thu nghề nông của Triều Tiên nếu như họ biết có một nghề nông như thế, còn các
nông dân Triều Tiên nghèo khó cũng chẳng có ưu thế nào đặng có thể thâm nhập
vào Nhật Bản. Như ta sẽ thấy, những ưu thế giữa hai bên rốt cuộc đã đảo ngược một
cách bất ngờ và đầy kịch tính.
Tôi đã nói rằng sự phát minh ra đồ gốm ở Kyushu vào khoảng
12.700 năm trước và sự bùng nổ dân số Jomon từ đó mà ra là sự thay đổi thứ nhất
trong hai sự thay đổi lớn trong lịch sử Nhật Bản. Sự thay đổi có tầm quan trọng
quyết định thứ hai, kích thích sự bùng nổ dân số thứ hai, đã khởi đầu vào khoảng
năm 400 TCN khi có sự du nhập một lối sống mới (và cả những con người mới?) từ
Nam Triều Tiên. Sự chuyển hóa thứ hai này đặt ra một câu hỏi gay gắt về việc thật
ra người Nhật là ai. Liệu sự chuyển hóa đó đã đánh dấu việc người Jomon bị những
người từ Triều Tiên di cư đến giành chỗ, và chính những người từ Triều Tiên đến
là tổ tiên của người Nhật ngày nay? Hay là cư dân nguyên thủy ở Nhật Bản thời
Jomon đã vẫn tiếp tục chiếm cứ Nhật Bản đồng thời học hỏi được những kỹ năng
quý báu mới [từ những người di cư Triều Tiên nọ]?
Lối sống mới xuất hiện đầu tiên ở bờ biển phía bắc của hòn đảo
cực tây nam Nhật Bản là Kyushu, chỉ cách Nam Triều Tiên qua eo biển Tsushima.
Các nhân tố mới quan trọng nhất là những công cụ kim loại đầu tiên của Nhật Bản
được làm bằng sắt, và nghề nông toàn diện mà có bằng chứng không thể phủ nhận
là đã xuất hiện lần đầu tiên ở nước này. Nghề nông đó được du nhập dưới dạng những
cánh đồng lúa có tưới tiêu, cộng thêm những kênh mương, đê điều, bờ đắp, ruộng
lúa và di tích lúa mà các khai quật khảo cổ đã làm phát lộ. Các nhà khảo cổ gọi
lối sống mới này là “Yayoi” đặt theo tên một quận ở Tokyo nơi đồ gốm đặc trưng
của nó được nhận diện lần đầu tiên vào năm 1884. Khác với đồ gốm Jomon, đồ gốm
Yayoi có hình dáng rất giống đồ gốm Nam Triều Tiên cùng thời. Trong số nhiều yếu
tố văn hóa Yayoi khác mà rõ ràng là của Triều Tiên song trước đó hãy còn lạ lẫm
với người Nhật Bản còn có những vật phẩm bằng đồng, nghề dệt vải, hạt thủy
tinh, các hầm chứa lúa dưới mặt đất, phong tục lưu giữ di hài người chết trong
bình lọ, và các công cụ cũng như nhà ở mang phong cách Triều Tiên.
Tuy lúa là cây trồng quan trọng nhất ở thời Yayoi, song có 27
loại cây trồng khác mà trước đó Nhật Bản không có, cùng với lợn mà rõ ràng đã
được thuần hóa, cũng được nuôi trồng. Các nhà nông Yayoi có thể đã thử tiến
hành xen canh, tưới tiêu đồng ruộng để trồng lúa vào mùa hè, sau đó lại tháo
khô cũng các cánh đồng đó để trồng các loại cây đất khô như kê, lúa mạch và lúa
mì vào mùa đông. Một điều không tránh khỏi là hệ thống nông nghiệp thâm canh
năng suất cao này đã lập tức kích thích một sự bùng nổ dân số ở Kyushu, nơi các
nhà khảo cổ đã xác định được số di chỉ Yayoi nhiều hơn gấp bội so với di chỉ
Jomon mặc dù thời kỳ Jomon kéo dài lâu hơn nhiều.
Hầu như ngay lập tức, nghề nông Yayoi đã lan từ Kyushu sang
các đảo chính khác là Shikoku và Honshu, trong vòng 200 năm đã đặt chân đến
vùng Tokyo và sang thế kỷ tiếp theo thì đến tận mũi cực bắc Honshu (cách những
điểm định cư Yayoi đầu tiên ở Kyushu 1.000 dặm – 1.600 km). Các di chỉ Yayoi sớm
nhất ở Kyushu bao gồm những chiếc nồi thuộc phong cách Yayoi mới lẫn phong cách
Jomon cũ, nhưng văn hóa và đồ gốm Yayoi càng bành trướng lên phía bắc Nhật Bản
qua đảo Honshu thì phong cách Jomon càng biến mất. Tuy nhiên, một số yếu tố văn
hóa Jomon không biến mất hoàn toàn. Các nhà nông Yayoi vẫn tiếp tục sử dụng một
số loại công cụ bằng đá đẽo kiểu Jomon mà ở Triều Tiên và Trung Quốc thì đã
hoàn toàn bị thay thế bằng công cụ kim loại. Một số căn nhà Yayoi mang phong
cách Yayoi, số khác lại mang cách Jomon. Đặc biệt là trong khi văn hóa Yayoi
bành trướng lên phía bắc Tokyo, vào những vùng mát dịu hơn, nơi nông nghiệp lúa
nước có năng suất thấp hơn và những người săn bắt hái lượm Jomon từng sinh sống
với mật độ dân cao nhất, thì đã nảy sinh một nền văn hóa hỗn hợp Yayoi/Jomon, với
những lưỡi câu làm bằng kim loại nhưng hình dáng thì lại theo kiểu Jomon, những
chiếc nồi thì theo kiểu dáng Yayoi có sửa đổi nhưng lại mang hoa văn dây thừng
của Jomon. Sau khi chiếm lĩnh phần cực bắc Honshu lạnh giá trong một thời gian
ngắn, các nhà nông Yayoi đã từ bỏ khu vực đó, hẳn vì ở đó nghề trồng lúa nước
không thể cạnh tranh với lối sống săn bắt hái lượm Jomon. Trong 2.000 năm sau
đó, phần phía bắc Honshu vẫn là một vùng biên cương mà bên ngoài nó thì hòn đảo
Hokkaido cực bắc Nhật Bản và cư dân săn bắt hái lượm Ainu ở đó thậm chí còn
không được coi là một phần của nước Nhật cho mãi đến khi Nhật Bản sáp nhập đảo
này vào thế kỷ XIX.
Các công cụ bằng sắt thời Yayoi ban đầu được du nhập từ Triều
Tiên với số lượng rất lớn, cho tới khi Nhật Bản bắt đầu có thể tự luyện và sản
xuất sắt sau đó vài thế kỷ. Cũng phải mất vài thế kỷ thì Nhật Bản thời Yayoi mới
biểu lộ dấu hiệu có sự phân tầng xã hội, điều này đặc biệt được phản ánh ở các
nghĩa trang. Sau khoảng 100 năm TCN, một số khu vực trong nghĩa trang bắt đầu
được dành riêng cho một giai cấp thượng lưu rõ ràng là đang nổi lên, với đặc
trưng là những vật phẩm xa xỉ nhập từ Trung Quốc như các vật bằng ngọc xinh đẹp
và gương soi bằng đồng. Đến khi dân số Yayoi tiếp tục bùng nổ, và đến khi tất cả
các vùng đất ngập nước tốt nhất hoặc các đồng bằng có thể tưới tiêu thích hợp để
trồng lúa nước đều đã được tận dụng hết thì bằng chứng khảo cổ cho thấy chiến
tranh xảy ra ngày một thường xuyên: những đầu tên với số lượng rất lớn, hào
phòng vệ bao quanh các làng, và những bộ xương được chôn cất mang dấu vết bị
đâm bằng vật nhọn. Những dấu hiệu về chiến tranh đó ở Nhật Bản thời Yayoi tương
hợp với các biên niên sử xưa nhất của Trung Quốc khi nói về Nhật Bản, trong đó
mô tả xứ sở tên là Wa [tức là Hòa trong Hán tự, một trong những cái tên cổ nhất
của nước Nhật – ND] với hàng trăm đơn vị chính trị nhỏ đánh nhau liên miên.
Trong thời kỳ từ năm 300 đến năm 700 CN, cả các khai quật khảo
cổ lẫn các biên niên sử vốn cực kỳ mơ hồ vào những thời kỳ sau đều cho ta nhìn
thấy dù chỉ lờ mờ sự xuất hiện của một nước Nhật thống nhất về chính trị. Trước
năm 300 CN, các ngôi mộ của giới thượng lưu hãy còn bé nhỏ và cho thấy sự đa dạng
về phong cách mang tính địa phương. Bắt đầu từ khoảng năm 300 CN, ngày càng nhiều
những ngôi mộ đất kỳ vĩ gọi là kofun với hình dáng lỗ khóa đã được xây dựng ở
vùng Kinai của đảo Honshu và sau đó xuất hiện trên toàn bộ khu vực văn hóa
Yayoi trước kia, từ Kyushu đến bắc Honshu. Sao lại là vùng Kinai? Có lẽ vì khu
vực này có những vùng đất nông nghiệp tốt nhất nước Nhật, nơi mà ngày nay người
ta nuôi giống bò thịt Kobe siêu đắt, cũng là nơi tọa lạc cố đô Kyoto cho đến
khi nước này dời đô đến Tokyo vào năm 1868.
Các ngôi mộ kofun có thể dài tới 1.500 bộ (khoảng 457 mét –
ND) và cao trên 100 bộ (khoảng 30,5 mét – ND), khiến cho chúng có lẽ là những
ngôi mộ bằng đất lớn nhất trong thế giới cổ đại. Các ngôi mộ này đòi hỏi phải
có lực lượng lao động khổng lồ mới xây dựng được, phong cách của chúng lại khá
đồng nhất trên toàn Nhật Bản, cho thấy nước Nhật khi đó đã có những vị thủ lĩnh
hùng mạnh có khả năng huy động lực lượng lao động lớn và Nhật Bản đang trong
quá trình đạt tới sự thống nhất chính trị. Các ngôi mộ kofun đã được khai quật
chứa cơ man nào những vật tùy táng, nhưng việc khai quật tất cả các ngôi mộ lớn
nhất thì cho đến nay vẫn bị cấm bởi người ta cho rằng các ngôi mộ lớn nhất này
chứa đựng [di hài] tổ tiên của hoàng gia Nhật Bản. Bằng chứng nhãn tiền mà các
ngôi mộ kofun cung cấp về sự thống nhất chính trị củng cố thêm những gì nói về
các hoàng đế Nhật Bản thời đại Kofun được ghi lại trong sử sách Nhật Bản và Triều
Tiên mãi rất lâu về sau. Ảnh hưởng to lớn của Triều Tiên đối với Nhật Bản trong
suốt thời đại Kofun – dù thông qua việc Triều Tiên chinh phục Nhật Bản (theo
quan điểm Triều Tiên) hay do Nhật Bản chinh phục Triều Tiên (theo quan điểm của
Nhật Bản) – đã đưa Phật giáo, chữ viết, [kỹ năng] cưỡi ngựa, các kỹ thuật đồ gốm
và luyện kim mới từ nội địa châu Á sang Nhật Bản.
Cuối cùng, với sự hoàn thành bộ biên niên sử đầu tiên của Nhật
Bản vào năm 712, một phần là huyền thoại còn một phần chép lại các sự kiện có
thật, cuối cùng Nhật Bản cũng xuất đầu lộ diện trọn vẹn dưới ánh sáng lịch sử.
Vào năm 712, rốt cuộc thì những người cư trú trên nước Nhật, không nghi ngờ gì
nữa, đúng là người Nhật Bản, và ngôn ngữ của họ (được gọi là tiếng Nhật cổ),
không nghi ngờ gì nữa, là tổ tiên của tiếng Nhật ngày nay. Hoàng đế Akihito của
Nhật Bản đang trị vì hiện nay là hậu duệ trực hệ đời thứ 82 của vị hoàng đế từng
cai trị vào thời bộ biên niên sử đầu tiên năm 712 được viết ra. Theo truyền thống,
Akihito được coi là hậu duệ trực hệ thứ 125 của Jimmu, vị hoàng đế huyền thoại
đầu tiên, cháu chắt mấy đời của nữ thần mặt trời Amaterasu.
Trong 700 năm thời đại Yayoi, nền văn hóa Nhật Bản trải qua sự
thay đổi triệt để hơn nhiều so với trong suốt mười ngàn năm thời đại Jomon. Sự
tương phản giữa tính ổn định (còn gọi là tính bảo thủ) của thời Jomon với sự
thay đổi triệt để dưới thời Yayoi là đặc tính nổi bật nhất của lịch sử Nhật Bản.
Hiển nhiên đã có một gì đó thật lớn lao xảy ra vào năm 400 TCN. Đó là cái gì vậy?
Liệu có phải người Jomon, người Yayoi, hay người Jomon hợp với người Yayoi là tổ
tiên của người Nhật ngày nay? Dân số Nhật Bản đã tăng với hệ số đáng kinh ngạc
là 70 trong thời đại Yayoi: cái gì đã gây nên sự thay đổi đó? Một cuộc tranh
cãi gay gắt đã từng rộ lên xung quanh ba giả thuyết khác nhau.
Một thuyết cho rằng chính những người săn bắt hái lượm Jomon
đã dần dần tiến hóa thành người Nhật hiện đại. Bởi họ đã sống một cuộc sống định
cư theo làng mạc trong suốt hàng ngàn năm nên ắt hẳn họ đã được thích nghi sẵn
để tiếp thu nghề nông. Tại giai đoạn chuyển tiếp Yayoi, có lẽ đã chẳng có gì
[to tát] xảy ra ngoài chuyện xã hội Jomon tiếp nhận các hạt giống lúa chịu được
khí hậu lạnh cũng như thông tin về nghề trồng lúa nước từ Triều Tiên, cho phép
họ sản xuất được nhiều lương thực hơn và tăng dân số lên. Thuyết này tỏ ra hấp
dẫn đối với một số người Nhật ngày nay, bởi nó giảm đến tối thiểu sự đóng góp của
gen Triều Tiên vào hệ gen Nhật Bản, điều mà [người Nhật] không mong muốn, và bởi
nó minh họa người Nhật như là một dân tộc mà ngay từ ít nhất 12.000 năm trước
đã là một dân tộc độc nhất vô nhị rồi.
Thuyết thứ hai thì chẳng hấp dẫn đối với những người Nhật nào
chuộng thuyết thứ nhất. Thuyết này lập luận rằng trong thời kỳ chuyển tiếp
Yayoi đã có sự di cư với quy mô lớn của người Triều Tiên sang Nhật Bản, mang
theo nghề nông, nền văn hóa và gen di truyền của Triều Tiên. Kyushu ắt hẳn dường
như là thiên đường đối với các nhà nông trồng lúa nước Triều Tiên bởi hòn đảo
này ấm áp và ẩm ướt hơn Triều Tiên do đó trồng lúa sẽ tốt hơn. Theo một ước
tính, nước Nhật thời Yayoi đã tiếp nhận vài triệu người di cư từ Triều Tiên, và
[gen di truyền của] ngần ấy con người rõ ràng đã lấn át hoàn toàn gen di truyền
của người Jomon (mặc dù người Jomon tại trước thời điểm chuyển tiếp Yayoi cũng
có tới khoảng 75.000 người). Nếu đúng vậy thì người Nhật ngày nay là hậu duệ của
những người di cư Triều Tiên, những kẻ đã có được một nền văn hóa của riêng
mình trong suốt 2.000 năm trở lại đây.
Thuyết thứ ba thừa nhận bằng chứng về sự di dân từ Triều Tiên
song không thừa nhận rằng sự di cư đó đã diễn ra trên quy mô lớn. Thay vì vậy,
nghề nông có năng suất cao đã cho phép một số nhà nông lúa nước di cư, dù không
đông đảo lắm, vẫn có thể sinh sôi nảy nở nhanh hơn nhiều so với những người săn
bắt hái lượm Jomon và cuối cùng trở nên đông hơn người Jomon gấp bội. Chẳng hạn,
giả sử rằng chỉ có vỏn vẹn 5.000 người Triều Tiên đã di cư sang Kyushu, nhưng
nông nghiệp lúa nước đã cho phép họ nuôi con nhỏ [tốt hơn] và tăng dân số với tỷ
lệ 1% một năm. Tỷ lệ đó cao hơn nhiều so với tỷ lệ sinh sản của người săn bắt
hái lượm nhưng đối với những người làm nông thì có thể đạt được dễ dàng: dân số
Kenya ngày nay tăng với tỷ lệ 4,5% một năm. Trong vòng 700 năm, 5.000 người nhập
cư đó có thể sinh ra đến 5.000.000 hậu duệ, và số người này cũng lại hoàn toàn
lấn át người Jomon. Cũng như thuyết thứ hai, thuyết này coi người Nhật ngày nay
là hậu duệ của người Triều Tiên tuy có thay đổi chút ít, song phủ nhận việc đã
có làn sóng di cư với quy mô lớn.
So sánh với những sự chuyển tiếp tương tự từng diễn ra ở những
nơi khác trên thế giới, tôi thấy thuyết thứ hai hoặc thứ ba có vẻ hợp lý hơn
thuyết thứ nhất. Trong suốt 12.000 năm trở lại đây, nông nghiệp đã nảy sinh ở
không quá chín địa điểm trên bề mặt trái đất: Trung Quốc, Lưỡi liềm Phì nhiêu,
và một vài khu vực khác. 12.000 năm trước, bất cứ ai sống trên bề mặt trái đất
đều là người săn bắt hái lượm, còn ngày nay thì hầu như tất cả chúng ta đều là
nhà nông hoặc được nuôi ăn bởi nhà nông. Sự bành trướng nghề nông từ một vài
khu vực phát nguyên đó thường không diễn ra như là kết quả của việc những người
săn bắt hái lượm ở nơi nào đó [tự giác] tiếp thu nghề nông, bởi người săn bắt
hái lượm thường có xu hướng bảo thủ, đúng như người Jomon trong khoảng từ
10.700 năm đến 400 năm TCN. Thay vì vậy, sự bành trướng nghề nông diễn ra chủ yếu
là do các nhà nông sinh sôi nảy nở nhanh hơn những người săn bắt hái lượm, phát
triển được những công nghệ mạnh hơn, sau đó thì giết chết các thợ săn kia hoặc
đuổi họ khỏi tất cả những vùng đất nào thích hợp với nghề nông. Vào thời hiện đại,
các nhà nông châu Âu đã giành chỗ của các thợ săn Anh-điêng Bắc Mỹ, người
Australia bản địa và người San ở Nam Phi bằng cách đó. Tương tự, vào thời tiền
sử, các nhà nông sử dụng công cụ bằng đá đã giành chỗ các thợ săn trên khắp
châu Âu, Đông Nam Á và Indonesia. So ra thì cái ưu thế độc nhất và khiêm nhường
của các nhà nông đó trước những người săn bắt hái lượm vào thời tiền sử chẳng
thấm vào đâu so với ưu thế to lớn của các nhà nông Triều Tiên trước các thợ săn
Jomon vào năm 400 TCN, bởi người Triều Tiên đã sở hữu công cụ bằng sắt và một
hình thức nông nghiệp thâm canh phát triển cao.
Thuyết nào trong ba thuyết trên là đúng đối với Nhật Bản?
Cách trực tiếp duy nhất để trả lời câu hỏi đó là so sánh các bộ xương và gen
Jomon và Yayoi với xương và gen của người Nhật hiện đại và người Ainu. Người ta
đã tiến hành đo nhiều loạt xương như vậy. Ngoài ra, trong những năm gần đây,
các nhà di truyền học phân tử đã bắt đầu phân lập DNA từ xương người cổ đại và
so sánh gen người Nhật cổ với gen người Nhật hiện đại. Và người ta nhận thấy,
xét trung bình thì xương người Jomon và xương người Yayoi khác hẳn nhau. Người
Jomon thường có vóc thấp hơn, cánh tay trước và cẳng dưới dài hơn, hai mắt xa
nhau hơn, khuôn mặt ngắn và rộng bề ngang hơn, và “địa hình” khuôn mặt “gồ ghề”
hơn, có sống mày, mũi và sống mũi cao hơn nhiều. Người Yayoi thường cao hơn từ
1 đến 2 inch (từ 2,5 đến 5 cm – ND), hai mắt gần nhau hơn, khuôn mặt dài và hẹp,
sống mày và mũi thấp hơn. Một số bộ xương thời Yayoi vẫn còn giống người Jomon
về ngoại hình, song điều đó thì hầu như giả thuyết nào về sự chuyển hóa giữa
Jomon với Yayoi cũng đều có thể dự kiến trước cả. Đến thời kỳ Kofun thì tất cả
các bộ xương người Nhật ngoại trừ người Ainu đều là một nhóm đồng nhất, vừa giống
người Nhật vừa giống người Triều Tiên ngày nay.
Trong tất cả các phương diện đó, các hộp sọ Jomon khác hẳn với
sọ người Nhật hiện đại và giống hơn cả với sọ người Ainu hiện đại, trong khi sọ
Yayoi thì giống hơn cả với sọ người Nhật hiện đại. Dựa trên giả định rằng người
Nhật hiện đại đã phát sinh từ sự hỗn hợp giữa người Yayoi giống người Triều
Tiên hiện đại với người Jomon giống người Ainu hiện đại, các nhà di truyền học
đã thử tính toán phần đóng góp tương đối của mỗi hệ gen di truyền. Kết luận thu
được là phần đóng góp của nhóm Triều Tiên/Yayoi nói chung chiếm phần áp đảo. Phần
đóng góp của nhóm Ainu/Jomon là thấp nhất ở vùng tây nam Nhật Bản, nơi hầu hết
các di dân Triều Tiên hẳn đã đặt chân đến đầu tiên và cư dân Jomon chỉ thưa thớt,
và tương đối cao hơn ở miền bắc Nhật Bản nơi rừng giàu các loại cây cho hạt hơn
và mật độ dân số Jomon cao nhất trong khi nông nghiệp lúa nước Yayoi là kém
thành công nhất.
Như vậy, những người di cư từ Triều Tiên thực sự đã có phần
đóng góp to lớn làm hình thành người Nhật hiện đại, mặc dù ta chưa thể biết chắc
đấy là do đã có sự di cư từ Triều Tiên với quy mô lớn hay chỉ có một nhóm di
dân không nhiều nhưng về sau đã đông lên nhanh chóng nhờ tỷ lệ sinh sản cao.
Người Ainu [ngày nay] chắc hẳn là hậu duệ của cư dân Jomon ở Nhật Bản cổ đại,
trộn lẫn với gen Triều Tiên của những người di dân Yayoi và của người Nhật hiện
đại.
Xét ưu thế vượt trội mà nông nghiệp lúa nước rốt cuộc đã mang
lại cho các nhà nông Triều Tiên trước những thợ săn Jomon, người ta buộc phải tự
hỏi tại sao các nhà nông Triều Tiên đã đạt được thắng lợi một cách chóng vánh đến
vậy sau khi đã chẳng tiến bộ được bao nhiêu ở Nhật Bản trong suốt hàng ngàn năm
trước đó, kể từ khi nghề nông được du nhập vào Triều Tiên. Trước đây tôi đã nói
rằng, vào thời kỳ đầu nghề nông Triều Tiên có năng suất tương đối thấp, nhà
nông chẳng lấy gì làm sung túc nên không có gì gọi là ưu thế trước những người
săn bắt hái lượm no đủ. Tuy nhiên, sở dĩ cán cân rốt cuộc ngả về phía các nhà
nông và khiến cho thời kỳ chuyển tiếp Yayoi diễn ra có lẽ là do sự kết hợp bốn
nhân tố xảy ra cùng một lúc: sự phát triển nghề nông trồng lúa nước thay vì nghề
nông lúa khô vốn năng suất thấp hơn, sự cải thiện không ngừng các giống lúa
thích nghi với khí hậu lạnh, sự gia tăng dân số người Triều Tiên tạo sức ép khiến
người Triều Tiên phải di cư, và sự phát triển các công cụ bằng sắt để có thể sản
xuất đại trà xẻng, cày cuốc bằng gỗ và các công cụ khác cần thiết để canh tác
lúa nước. Việc [công cụ bằng] sắt và nghề nông thâm canh được du nhập vào Nhật
Bản cùng một lúc khó có thể chỉ là một sự tình cờ.
Khi mở đầu chương này, tôi đã nhắc tới một cách giải thích bạch
về việc tại sao những người Ainu (có ngoại hình khác biệt) với người Nhật (có
ngoại hình không có gì khác biệt) đã cùng chia nhau đất nước Nhật Bản. Nếu chỉ
xét theo bề ngoài, các sự kiện đó có vẻ như gợi ý rằng người Ainu là hậu duệ của
cư dân nguyên thủy ở Nhật Bản còn người Nhật là hậu duệ của những người di cư đến
Nhật Bản vào những thời kỳ sau. Ta cũng đã thấy bằng chứng kết hợp giữa ngành
khảo cổ, ngành nhân học thể chất và ngành di truyền học cũng ủng hộ quan điểm
này.
Nhưng ngay từ đầu tôi cũng đã nhắc rằng có một sự phản đối mạnh
mẽ khiến cho hầu hết người ta (đặc biệt là chính người Nhật) đi tìm những cách
giải thích khác. Nếu người Nhật quả thực là hậu duệ của người Triều Tiên di cư
sang Nhật Bản vào thời kỳ sau thì đáng lẽ tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên phải rất
giống nhau mới phải. Nói khái quát hơn, nếu người Nhật đã phát sinh trực tiếp từ
một sự hợp huyết nào đó trên hòn đảo Kyushu, giữa người Jomon nguyên thủy (giống
người Ainu ngày nay) với những người di cư Yayoi từ Triều Tiên đến, thì tiếng
Nhật ắt phải có quan hệ gần gũi với cả tiếng Triều Tiên lẫn tiếng Ainu. Thế
nhưng tiếng Nhật và tiếng Ainu chẳng hề tỏ ra có mối quan hệ nào với nhau, và mối
quan hệ giữa tiếng Nhật với tiếng Triều Tiên cũng chỉ là họ hàng xa. Làm sao lại
thế được nếu quả thật đã có một sự hợp huyết diễn ra chỉ mới cách đây 2.400
năm? Tôi đề xuất cách lý giải sau đây cho nghịch lý này: rằng trên thực tế,
ngôn ngữ của cư dân Jomon trên đảo Kyushu không thể nào rất giống tiếng Ainu hiện
đại, và ngôn ngữ của những người di cư Yayoi cũng không thể nào rất giống tiếng
Triều Tiên cho được.
Trước tiên hãy xét tiếng Ainu, thứ tiếng mà ta biết là ngôn
ngữ mà cho tới thời gian gần đây vẫn được sử dụng bởi người Ainu trên hòn đảo cực
bắc Nhật Bản là Hokkaido. Vì vậy, cư dân Jomon ở Hokkaido có lẽ đã từng nói một
thứ tiếng giống như tiếng Ainu, song rõ ràng là các cư dân Jomon trên đảo
Kyushu thì không. Từ chỏm cực nam Kyushu đến chỏm cực bắc Hokkaido, quần đảo Nhật
Bản trải dài gần 1.500 dặm (khoảng 2.400 km – ND). Ta biết rằng vào thời đại
Jomon Nhật Bản đã có sự đa dạng rất lớn về phương thức sống cũng như phong cách
đồ gốm và chưa bao giờ thống nhất về chính trị. Trong suốt 10.000 năm thời đại
Jomon, người Jomon ắt hẳn đã tạo nên một sự đa dạng to lớn không kém về ngôn ngữ.
Các ngôn ngữ của họ thậm chí có thể đã rất khác nhau ngay từ 12.000 năm trước nếu
những người Jomon ở phía bắc đã đến Nhật Bản từ Nga còn những người Jomon ở
phía nam thì đến Nhật Bản từ Triều Tiên qua các cầu đất liền, như bằng chứng khảo
cổ dường như đã chỉ ra.
Trên thực tế, nhiều địa danh Nhật Bản trên đảo Hokkaido và
phía bắc đảo Honshu vẫn bao gồm những từ Ainu dùng để gọi “sông” (nai hay
betsu) hoặc “vịnh” (shiri), song xa hơn về phía nam Nhật Bản thì những cái tên
mang nét Ainu đó không xuất hiện. Điều đó gợi ý rằng những người Yayoi và người
Nhật tiên phong đã tiếp thu nhiều địa danh của người Ainu địa phương, cũng như
người Mỹ da trắng tiếp thu nhiều địa danh của người châu Mỹ bản địa (chẳng hạn
“Massachusetts”, “Missisippi”, vân vân), nhưng tiếng Ainu là ngôn ngữ Jomon được
dùng chỉ ở miền cực bắc Nhật Bản mà thôi. Trong khi đó, ngôn ngữ Ainu ở đảo
Kyushu có thể có cùng tổ tiên với ngữ hệ Nam Đảo bao gồm các ngôn ngữ Polynesia
và ngôn ngữ Indonesia cũng như các ngôn ngữ bản địa của đảo Đài Loan. Như nhiều
nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra, tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của các ngôn ngữ Nam Đảo ở
chỗ chuộng dùng cái gọi là các âm tiết mở (một phụ âm theo sau là một nguyên
âm, như trong cái tên “Hi-ro-hi-to”). Người Đài Loan cổ là những người đi biển
cừ khôi mà hậu duệ bành trướng ra rất xa về phía nam, phía đông và phía tây; một
số trong đó cũng có thể đã bành trướng về phía bắc, đến đảo Kyushu.
Vậy nghĩa là, tiếng Ainu ngày nay trên đảo Hokkaido không phải
là hình mẫu của ngôn ngữ Jomon cổ đại trên đảo Kyushu. Cũng vậy, tiếng Triều
Tiên hiện đại có thể không phải là hình mẫu chuẩn cho tiếng Yayoi cổ đại của những
di dân Triều Tiên vào năm 400 TCN. Trong những thế kỷ trước khi Triều Tiên được
thống nhất về chính trị vào năm 676 CN, nước này bao gồm ba vương quốc. Tiếng
Triều Tiên hiện đại bắt nguồn từ ngôn ngữ của vương quốc Silla, vương quốc mà về
sau đã đánh bại được hai vương quốc kia và thống nhất Triều Tiên, nhưng Silla lại
không phải là vương quốc từng tiếp xúc chặt chẽ với Nhật Bản trong những thế kỷ
trước đó. Các sử sách Triều Tiên thời kỳ đầu cho ta biết rằng các vương quốc
Triều Tiên đó có ngôn ngữ khác nhau. Tuy ngày nay ta không biết được gì nhiều về
ngôn ngữ của các vương quốc bị Silla đánh bại, song một ít từ còn giữ được đến
nay của một trong hai vương quốc đó (Koguryo, tức Cao Câu Ly) thì lại giống hơn
nhiều với các từ tương đương trong tiếng Nhật cổ so với các từ tương đương
trong tiếng Triều Tiên hiện đại. Các ngôn ngữ Triều Tiên thậm chí có thể đã rất
khác nhau ngay từ 400 năm TCN, trước khi sự thống nhất chính trị đạt đến giai
đoạn hình thành ba vương quốc. Tôi ngờ rằng tiếng Triều Tiên mà [các di dân Triều
Tiên] mang theo đến Nhật Bản vào năm 400 TCN và đến nay đã tiến hóa thành tiếng
Nhật hiện đại là khác xa với tiếng Silla [cổ] vốn đã tiến hóa thành tiếng Triều
Tiên hiện đại. Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên rằng người Nhật và người Triều
Tiên ngày nay rất giống nhau về ngoại hình và gen di truyền song lại chẳng giống
nhau cho lắm về ngôn ngữ.
Kết luận này có lẽ cả người Nhật Bản lẫn người Triều Tiên sẽ
không thích, bởi hai dân tộc này hiện vẫn không ưa nhau. Lịch sử đã cho họ thừa
lý do để ghét nhau: đặc biệt là người Triều Tiên ghét người Nhật Bản. Cũng như
người Arập và người Do Thái, người Triều Tiên và người Nhật Bản là những dân tộc
cùng huyết thống song cũng cùng một mối thâm thù. Nhưng hận thù chỉ dẫn đến sự
hủy diệt cho cả hai bên, ở Đông Á cũng như ở Trung Đông. Dù người Nhật Bản và
người Triều Tiên có phải thừa nhận điều này một cách miễn cưỡng đến đâu, họ vẫn
là hai anh em sinh đôi có cùng những năm sinh thành và khôn lớn. Tương lai
chính trị của Đông Á phụ thuộc phần lớn vào việc liệu hai dân tộc đó có khám
phá lại được những mối dây từng gắn bó hai bên từ thời cổ đại hay không.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Lời kết
- Tương lai của khoa lịch sử loài người như một ngành khoa học
Câu hỏi của Yali đi vào tận cốt lõi thực trạng loài người hiện
nay, cũng như vào thấu tâm điểm lịch sử loài người thời kỳ hậu Pleitoxen. Giờ
đây, khi đã hoàn thành cuộc du ngoạn ngắn vòng quanh các lục địa, chúng ta sẽ
trả lời Yali như thế nào đây?
Tôi sẽ nói với Yali: lịch sử dài hạn của các dân tộc trên những
lục địa khác nhau sở dĩ khác biệt nhau đến vậy không phải vì những khác biệt bẩm
sinh trong bản thân các dân tộc đó, mà là do những khác biệt trong môi trường sống
của họ. Tôi tin rằng giá như người Australia bản địa và người Âu-Á có thể đổi
chỗ cho nhau trong thời Hậu kỳ Pleitoxen thì ắt hẳn người Australia bản địa
nguyên thủy giờ đây đã là những kẻ chiếm cứ hầu hết châu Mỹ và Australia cũng
như Âu-Á, trong khi người Âu-Á bản địa hẳn đã bị teo nhỏ thành những nhóm dân
manh mún bị chà đạp áp bức ở Australia. Có thể thoạt tiên người ta sẽ loại bỏ
ngay giả thiết này, coi nó chẳng có ý nghĩa gì bởi chỉ thuần tưởng tượng thôi,
không thể lấy gì kiểm chứng. Dẫu vậy các sử gia vẫn có cách để đánh giá các giả
thuyết như vậy dựa trên những thử nghiệm hồi cố. Chẳng hạn, người ta có thể xét
trường hợp điều gì đã xảy ra khi các nhà nông châu Âu được chuyển sang
Greenland hay vùng Đồng bằng Lớn ở Hoa Kỳ, và khi các nhà nông vốn gốc gác
nguyên thủy từ Trung Quốc di cư sang quần đảo Chatham, vùng rừng mưa ở Borneo
hay vùng đất núi lửa ở Java hoặc Hawaii. Các thử nghiệm đó xác nhận một điều rằng,
vẫn cùng những dân tộc cổ đại đó thôi, song tùy theo họ sống ở môi trường nào
mà rốt cuộc họ bị diệt chủng, quay về lối sống săn bắt hái lượm hay tiến lên
xây dựng được nhà nước phức tạp. Tương tự, những người săn bắt hái lượm
Australia bản địa, tùy theo họ di cư sang quần đảo Flinders, Tasmania hay miền
đông nam Australia [nghĩa là tùy theo môi trường họ sống – ND] mà cuối cùng họ
đã bị tuyệt chủng, vẫn tiếp tục săn bắt hái lượm với thứ công nghệ giản đơn nhất
trong thế giới hiện đại, hay biết xây dựng kênh đào để duy trì một nghề cá có
năng suất cao.
Dĩ nhiên, các lục địa khác biệt nhau ở vô số đặc tính môi trường
có khả năng ảnh hưởng đến quỹ đạo phát triển của xã hội loài người. Song nếu chỉ
đưa ra một danh sách những khác biệt khả dĩ thì không đủ để trả lời câu hỏi của
Yali. Đối với tôi, chỉ có bốn nhóm nhân tố trong số đó là những khác biệt quan
trọng nhất.
Nhóm nhân tố đầu tiên là những sự khác biệt giữa các lục địa
về chủng loại cây dại và thú hoang thích hợp để thuần hóa. Đó là bởi sản xuất
lương thực là nhân tố tối quan trọng để có thể tích lũy lương thực thặng dư hầu
nuôi sống những người làm công việc chuyên môn ngoài sản xuất lương thực, cũng
như để hình thành dần một dân số đông đúc [mà hễ dân đông thì] sẽ có ưu thế về
quân sự so với những nhóm dân ít ỏi ngay cả khi chưa phát triển được ưu thế về
công nghệ hoặc tổ chức chính trị. Vì cả hai lý do trên, các vương quốc nhỏ sơ
khai sở dĩ phát triển lên được thành những xã hội phức tạp về kinh tế, phân tầng
về xã hội và tập trung hóa về chính trị thảy đều dựa trên sản xuất lương thực.
Song hầu hết cây dại và thú hoang đều đã tỏ ra không thích hợp
để thuần hóa: nền sản xuất lương thực chỉ dựa trên một số loài cây trồng và vật
nuôi khá ít ỏi. Số lượng các loài thích hợp để thuần hóa ở lục địa này khác biệt
rất lớn với ở lục địa khác, bởi sự khác biệt giữa các khu vực trong từng lục địa
và (trong trường hợp các loài hữu nhũ lớn) còn bởi sự tuyệt chủng vào hậu kỳ
Pleitoxen. Sự tuyệt chủng đó ở Australia và châu Mỹ nghiêm trọng hơn nhiều so với
ở Âu-Á hoặc châu Phi. Hậu quả là châu Phi ít phong phú hơn một chút về sinh học
so với Âu-Á vốn rộng hơn nhiều, châu Mỹ còn càng kém phong phú hơn, Australia lại
càng kém hơn nữa, cũng như New Guinea quê hương của Yali (với diện tích chỉ bằng
một phần bảy mươi so với Âu-Á và tất cả các loài hữu nhũ lớn bản địa đều tuyệt
chủng vào hậu kỳ Pleitoxen).
Trên mỗi lục địa, sự thuần hóa cây trồng và vật nuôi chỉ tập
trung vào một số vùng có lợi thế đặc biệt, các vùng này chỉ chiếm một phần nhỏ
tổng diện tích từng lục địa. Trong trường hợp cách tân công nghệ và thể chế
chính trị cũng vậy, hầu hết các xã hội chủ yếu là tiếp thu từ các xã hội khác
chứ không tự mình phát minh ra. Như vậy, sự phát tán và di cư trong phạm vi một
lục địa góp phần quan trọng vào sự phát triển của các xã hội trên lục địa đó, vốn
về lâu dài thường có xu hướng chia sẻ những thành tựu của nhau (trong phạm vi
môi trường cho phép) thông qua những quá trình mà một ví dụ minh họa đơn giản
là cuộc Chiến tranh Súng hỏa mai của người Maori ở New Zealand. Có nghĩa là,
các xã hội vốn dĩ thiếu một ưu thế nào đó thường hoặc tiếp thu ưu thế đó từ các
xã hội đang sở hữu nó hoặc, nếu không làm được vậy, sẽ bị các xã hội có sẵn ưu
thế đó [tiêu diệt hoặc xua đuổi và] chiếm chỗ.
Từ đó ta có nhóm nhân tố thứ hai bao gồm những nhân tố ảnh hưởng
đến tốc độ bành trướng và di cư, tốc độ này rất khác nhau từ lục địa này sang lục
địa kia. Tốc độ bành trướng và di cư nhanh nhất là ở Âu-Á, bởi trục chính của
Âu-Á là đông-tây và lục địa này có những rào cản sinh thái và địa lý không lớn
lắm. Lập luận này thật dễ hiểu đối với sự phát tán cây trồng vật nuôi, vốn tùy
thuộc rất nhiều vào khí hậu và do đó tùy thuộc vào vĩ độ. Nhưng lập luận này
cũng có thể áp dụng cho sự phát tán các phát minh công nghệ trong chừng mực người
ta có thể ứng dụng chúng mà không phải điều chỉnh cho phù hợp với từng môi trường
cụ thể. Sự phát tán đó chậm hơn ở châu Phi và đặc biệt chậm ở châu Mỹ vì các lục
địa này có trục chính bắc-nam và nhiều rào cản địa lý cũng như rào cản sinh
thái. Sự bành trướng cũng đặc biệt khó khăn ở New Guinea, nơi địa hình cắt xẻ
và những dãy núi cao kéo dài ngăn cản mọi bước tiến đáng kể hướng đến sự thống
nhất về chính trị và ngôn ngữ.
Liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát tán trong nội
bộ từng lục địa là nhóm nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến sự phát tán giữa các lục địa
với nhau – sự phát tán này vốn cũng có thể góp phần làm hình thành tổng thể các
loài thuần hóa và công nghệ của từng lục địa. Sự phát tán giữa các lục địa cũng
mỗi nơi một khác, bởi một số lục địa [có vị trí] cách biệt hơn so với các lục địa
còn lại. Trong vòng 6.000 năm trở lại đây, sự phát tán dễ dàng nhất là giữa
Âu-Á với châu Phi hạ Sahara, qua đó cung cấp cho châu Phi hầu hết các loài gia
súc. Nhưng sự phát tán giữa hai bán cầu đã không hề đóng góp gì cho các xã hội
phức tạp của người châu Mỹ bản địa bởi vì châu Mỹ ở các vĩ độ thấp thì bị ngăn
cách với Âu-Á bởi đại dương bao la, còn ở vĩ độ cao thì lại ngăn cách bởi địa
lý và khí hậu chỉ thích hợp cho lối sống săn bắt hái lượm. Đối với người
Australia bản địa vốn bị ngăn cách với Âu-Á qua hàng rào biển cả và quần đảo
Indonesia thì phần đóng góp duy nhất từ Âu-Á là loài chó dingo.
Nhóm nhân tố thứ tư và cuối cùng là những khác biệt về diện
tích hoặc tổng dân số giữa các lục địa. Lục địa nào diện tích rộng hơn hoặc
đông dân hơn thì cũng có nhiều nhà phát minh tiềm năng hơn, nhiều xã hội cạnh
tranh hơn, nhiều phát minh để tiếp thu hơn, và cũng nhiều sức ép để phải tiếp
thu và duy trì đổi mới hơn, bởi xã hội nào không làm được chuyện đó thường sẽ bị
các xã hội cạnh tranh khác tiêu diệt. Đó là số phận của người Pygmy châu Phi và
nhiều quần thể săn bắt hái lượm khác đã bị các nhà nông chiếm chỗ. Ngược lại,
đó cũng là số phận của những nhà nông Norse bướng bỉnh và bảo thủ ở Greenland,
đã bị những người săn bắt hái lượm Eskimo chiếm chỗ bởi phương pháp và kỹ năng
để sinh tồn của người Eskimo là ưu việt hơn nhiều so với của người Norse trong
điều kiện Greenland. Trong số các lục địa trên thế giới, diện tích rộng nhất và
có nhiều xã hội cạnh tranh nhất là Âu-Á, nhỏ và ít hơn nhiều là ở Australia và
New Guinea, đặc biệt ít ở Tasmania. Bắc Mỹ và Nam Mỹ tuy cộng lại thì rộng thật,
song hai khối đất liền này bị ngăn cách khỏi nhau bởi [rào cản] địa lý và sinh
thái cho nên trên thực tế chúng như là hai lục địa nhỏ gắn vào nhau một cách lỏng
lẻo.
Bốn nhóm nhân tố nói trên tạo thành những khác biệt to lớn về
môi trường mà ta có thể định lượng một cách khách quan và không cần phải bàn
cãi. Tuy ai đó có thể hoài nghi trước ấn tượng chủ quan của tôi rằng người New
Guinea nhìn chung thông minh hơn người Âu-Á, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng
New Guinea có diện tích nhỏ hơn nhiều và số loài thú lớn ít hơn nhiều so với
Âu-Á. Tuy nhiên, nhắc đến những khác biệt về môi trường này có thể khiến các sử
gia dán cho cái nhãn là “quyết định luận địa lý” và khiến họ sửng cồ. Cái nhãn
này xem ra có những hàm ý chẳng dễ nghe cho lắm, đại loại như tính sáng tạo của
con người chẳng hề có ý nghĩa gì, hoặc con người chúng ta chẳng qua như những
rôbốt mà khí hậu và hệ động thực vật đã lập trình cho thế nào thì đành chịu như
thế ấy thôi. Dĩ nhiên, e ngại như thế là không đúng chỗ. Nếu không có tính sáng
tạo của con người thì ắt hẳn ngày nay chúng ta vẫn cứ cắt thịt bằng công cụ đá
và ăn sống như tổ tiên chúng ta cách đây hàng triệu năm. Mọi xã hội loài người
đều có những người đầy tính phát minh. Chẳng qua là một số môi trường cung cấp
cho con người nhiều vật liệu khởi đầu hơn, nhiều điều kiện thuận lợi hơn để sử
dụng các phát minh so với những môi trường khác.
Những lời đáp đó cho câu hỏi của Yali dài hơn và phức tạp hơn
so với chính Yali chờ đợi. Tuy nhiên, có khi các sử gia lại thấy chúng quá ngắn
và quá đơn giản hóa. Nén 13.000 năm lịch sử trên mọi lục địa vào một cuốn sách
dày 400 trang, vậy hóa ra cứ mỗi trang là dành cho 150 năm trên một lục địa, đã
vậy thì làm sao tránh được quá sơ sài và đơn giản hóa. Thế nhưng, bù lại sự nén
chặt đó có một cái lợi: nhờ đối chiếu các khu vực với nhau trên cơ sở dài hạn,
ta mới rút ra được những điều không thể suy ra nếu chỉ nghiên cứu ngắn hạn từng
xã hội một.
Lẽ tự nhiên, rất nhiều vấn đề mà câu hỏi của Yali nêu ra vẫn
chưa có lời giải đáp. Hiện nay ta có thể đưa ra một số lời giải đáp từng phần
và xác định những gì cần phải nghiên cứu trong tương lai, chứ một lý thuyết đầy
đủ thì chưa. Thử thách bây giờ là phải phát triển khoa lịch sử nhân loại thành
một ngành khoa học, ngang hàng với các khoa học lịch sử đã được thừa nhận như
thiên văn học, địa chất học và sinh học tiến hóa. Do vậy hẳn sẽ là thích hợp nếu
tôi khép lại cuốn sách này bằng cách nhìn đến tương lai của ngành lịch sử cũng
như phác thảo những nét chính của một vài vấn đề còn chưa có lời giải đáp.
Phần khai triển đơn giản nhất cho cuốn sách này sẽ là tiếp tục
xác định và qua đó chứng minh một cách thuyết phục hơn vai trò của sự khác biệt
giữa các lục địa theo bốn nhóm nhân tố dường như là quan trọng nhất. Để minh họa
những khác biệt về nguyên liệu khởi điểm cho việc thuần hóa, tôi đã đưa ra tổng
số các loài hữu nhũ lớn ăn cỏ và ăn tạp sống trên đất liền của từng lục địa (Bảng
9.2) và các loài ngũ cốc hạt lớn của từng lục địa (Bảng 8.1). Một hướng khai
triển khác là tập hợp các số liệu tương ứng về các loài cây rau có hạt lớn như
đậu, đỗ và đậu tằm. Ngoài ra, tôi có nhắc tới các nhân tố khiến cho nhiều loài
hữu nhũ lớn không hội đủ tư cách để được thuần hóa, nhưng tôi chưa lập bảng để
chỉ ra bao nhiêu loài ứng viên đã bị loại bởi từng nhân tố trên từng lục địa. Nếu
làm được vậy thì sẽ rất thú vị, nhất là đối với châu Phi nơi tỷ lệ các loài ứng
viên bị loại là cao hơn so với ở Âu-Á: những nhân tố loại bỏ nào là quan trọng
nhất ở châu Phi, và cái gì đã khiến các nhân tố đó xuất hiện với tần suất cao
nơi các loài hữu nhũ châu Phi? Dữ liệu định lượng cũng cần được tổng hợp để kiểm
chứng các tính toán sơ bộ của tôi về sự khác biệt giữa tốc độ phát tán dọc theo
trục chính của Âu-Á so với dọc theo trục chính của châu Mỹ và châu Phi.
Sự khai triển thứ hai sẽ áp dụng cho những phạm vi địa lý nhỏ
hơn và quãng thời gian ngắn hơn so với trong cuốn sách này. Chẳng hạn, câu hỏi
hiển nhiên sau đây ắt hẳn đã nảy ra trong đầu bạn đọc: tại sao, trong nội bộ
Âu-Á, chính các xã hội châu Âu, chứ không phải các xã hội vùng Lưỡi liềm Phì
nhiêu, Trung Quốc hay Ấn Độ, đã trở thành những xã hội đi chinh phục châu Mỹ và
Australia, dẫn đầu về công nghệ và trở thành kẻ thống trị về chính trị và kinh
tế trong thế giới hiện đại? [Nếu có một] sử gia sống ở bất cứ thời kỳ nào trong
khoảng từ 8.500 năm TCN đến năm 1450 mà ngay từ hồi đó đã cố thử tiên đoán các
quỹ đạo lịch sử trong tương lai, ông ta ắt hẳn sẽ cho rằng châu Âu ít có khả
năng trở thành kẻ thống trị hơn cả bởi trong hầu hết 10.000 năm đó châu Âu là
khu vực chậm tiến nhất trong số ba khu vực nói trên của Cựu Thế giới. Từ năm
8500 TCN cho tới khi Hy Lạp và kế đó là bán đảo Italia hưng khởi sau năm 500
TCN, hầu như tất cả những cách tân quan trọng ở phía tây Âu-Á – thuần hóa vật
nuôi, thuần hóa cây trồng, chữ viết, nghề luyện kim, bánh xe, nhà nước, v.v. –
đều phát sinh ở Lưỡi liềm Phì nhiêu hoặc gần đó. Cho tới khi cối xay chạy bằng
sức nước trở nên phổ biến vào khoảng năm 900, châu Âu về phía tây hay phía bắc
dãy Alpes đã chẳng đóng góp được gì quan trọng cho công nghệ hay nền văn minh của
Cựu Thế giới; thay vì vậy châu Âu chỉ tiếp thu các thành tựu từ vùng phía đông
Địa Trung Hải, Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc. Thậm chí từ năm 1000 đến năm
1450 dòng chảy khoa học và công nghệ đổ vào châu Âu chủ yếu là từ các xã hội Hồi
giáo trải dài từ Ấn Độ đến Bắc Phi chứ không phải là ngược lại. Cũng trong các
thế kỷ đó Trung Quốc dẫn đầu thế giới về công nghệ, do đã tự mình khởi đầu sản
xuất lương thực từ rất sớm, gần như cùng lúc với Lưỡi liềm Phì nhiêu.
Thế thì tại sao rốt cuộc Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc lại
đánh mất lợi thế xuất phát to lớn – đi trước những hàng ngàn năm – về tay châu
Âu vốn xuất phát muộn hơn? Dĩ nhiên, người ta có thể chỉ ra những nguyên nhân
trực tiếp khiến châu Âu hưng khởi: sự phát triển tầng lớp thương nhân, chủ
nghĩa tư bản và sự bảo hộ quyền phát minh ở châu Âu, ở châu Âu đã không xuất hiện
các chính thể chuyên chế tuyệt đối và chế độ thuế khóa hà khắc, và truyền thống
Hy Lạp – Do Thái – Thiên Chúa giáo của châu Âu vốn dĩ có tinh thần truy vấn có
tính phê phán dựa trên kinh nghiệm (critical empirical inquiry). Thế nhưng, dẫu
đã có tất cả các nguyên nhân trực tiếp đó rồi, người ta vẫn phải nêu lên câu hỏi
về nguyên nhân tối hậu: tại sao bản thân các nguyên nhân trực tiếp đó lại phát
sinh ở châu Âu chứ không phải ở Trung Quốc hay Lưỡi liềm Phì nhiêu?
Với Lưỡi liềm Phì nhiêu thì câu trả lời đã rõ. Một khi đã
đánh mất lợi thế xuất phát ban đầu mà nó từng có được nhờ sự tập trung cao độ
các loài cây và thú có thể thuần hóa, Lưỡi liềm Phì nhiêu không còn lợi thế nổi
bật nào khác về địa lý. Ta có thể truy trở lại một cách chi tiết xem lợi thế xuất
phát của Lưỡi liềm Phì nhiêu đã biến mất như thế nào, khi các đế quốc hùng mạnh
dần dần dịch chuyển về phía tây. Sau khi các nhà nước vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu
phát sinh vào thiên niên kỷ thứ IV TCN, trung tâm quyền lực lúc đầu vẫn nằm ở
Lưỡi liềm Phì nhiêu, luân chuyển giữa các nhà nước như Babylon, Hittite,
Assyria và Ba Tư. Khi người Hy Lạp dưới thời Alexander Đại đế chinh phục tất cả
các xã hội tiên tiến từ Hy Lạp đến tận Ấn Độ về phía đông vào cuối thế kỷ thứ
IV TCN, cuối cùng quyền lực cũng bắt đầu chuyển dịch một cách không thể đảo ngược
về phía tây. Nó tiếp tục chuyển dịch về phía tây khi La Mã chinh phục Hy Lạp
vào thế kỷ thứ II TCN, và sau khi đế quốc La Mã diệt vong thì quyền lực lại dịch
chuyển thêm một lần nữa, về phía tây và phía bắc châu Âu.
Nếu so sánh Lưỡi liềm Phì nhiêu ngày nay với những mô tả về
nó vào thời cổ đại, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là nhân tố chính tác động đến những
sự chuyển dịch này. Ngày nay, những cách diễn đạt kiểu như “Lưỡi liềm Phì
nhiêu” hay “nơi dẫn đầu thế giới về sản xuất lương thực” nghe thật lố bịch. Nhiều
khu vực rộng lớn của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu xưa kia nay chỉ là sa mạc, bán sa
mạc, thảo nguyên hoặc những địa hình bị xâm thực hay nhiễm mặn nặng nề không thể
trồng trọt được. Sự giàu có phù du của một số quốc gia trong khu vực đó ngày
nay chỉ dựa trên mỗi tài nguyên dầu mỏ vốn không thể tái tạo được, nó che giấu
sự thật rằng khu vực này vốn dĩ nghèo khó kinh niên, khó khăn lắm mới nuôi sống
được bản thân mình.
Tuy nhiên, vào thời cổ đại hầu hết vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu
và khu vực đông Địa Trung Hải bao gồm Hy Lạp phủ kín toàn rừng. Lý do tại sao
khu vực này chuyển hóa từ rừng cây phì nhiêu sang đất cằn hay sa mạc đã được
các nhà cổ thực vật học và khảo cổ học làm sáng tỏ. Các vùng rừng ngày xưa đã bị
phát quang để trồng trọt, bị đốn để lấy gỗ xây dựng, hoặc bị đốt làm củi hay
làm vữa. Vì lượng mưa thấp và do đó năng suất ban đầu vốn dĩ đã thấp (tỷ lệ thuận
với lượng mưa) nên tốc độ cây mọc lại không theo kịp tốc độ hủy diệt rừng, nhất
là khi lại có quá nhiều dê gặm hết [mầm non]. Khi lớp thảm cây cỏ đã bị xóa bỏ,
nạn xâm thực diễn ra và các thung lũng bị lắng bùn, trong khi nông nghiệp tưới
tiêu trong môi trường ít mưa chỉ dẫn tới sự tích tụ muối. Các quá trình này khởi
đầu vào thời Đồ đá mới và vẫn tiếp diễn cho đến thời hiện đại. Chẳng hạn, những
cánh rừng cuối cùng gần kinh đô Nabatean cổ đại của xứ Petra ở Jordan ngày nay
đã bị người Thổ Ottoman đốn hạ trong quá trình xây dựng tuyến đường sắt Hejaz
ngay trước Thế chiến Thứ nhất.
Như vậy, các xã hội ở Lưỡi liềm Phì nhiêu và phía đông Địa
Trung Hải đã có cái bất hạnh là phát sinh ở một môi trường nhạy cảm về sinh
thái. Chúng đã tự sát về sinh thái khi tiến hành hủy diệt cơ sở tài nguyên của
chính mình. Quyền lực cứ thế chuyển dần về phía tây khi các xã hội Địa Trung Hải
lần lượt theo nhau tự làm suy yếu chính mình, bắt đầu từ các xã hội cổ nhất,
các xã hội ở phía đông (vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu). Phía bắc và phía tây châu Âu
không phải chịu số phận đó, chẳng phải vì cư dân vùng này thông minh hơn mà chỉ
vì họ có được diễm phúc sống trong một môi trường sung sức hơn, nhiều mưa hơn
nên cây cối có thể mọc lại nhanh chóng. Hầu hết miền bắc và miền tây châu Âu vẫn
có thể hỗ trợ nông nghiệp thâm canh có năng suất cao ngay cả ở ngày nay, 7.000
năm sau khi nền sản xuất lương thực được du nhập. Hệ quả là châu Âu tiếp thu được
cây trồng, vật nuôi, công nghệ và chữ viết từ Lưỡi liềm Phì nhiêu, trong khi Lưỡi
liềm Phì nhiêu tự xóa tên mình khỏi [danh sách các] trung tâm chủ chốt về quyền
lực và đổi mới.
Lưỡi liềm Phì nhiêu đã đánh mất lợi thế xuất phát to lớn của
mình vào tay châu Âu như vậy. Nhưng tại sao Trung Quốc cũng đánh mất lợi thế xuất
phát? Việc Trung Quốc tụt hậu thoạt trông có vẻ thật kỳ lạ, bởi Trung Quốc có
những ưu thế không bàn cãi: sản xuất lương thực phát sinh ở đây cũng sớm gần
như ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, sự đa dạng sinh thái từ bắc Trung Quốc xuống nam
Trung Quốc và từ vùng duyên hải cho đến vùng núi cao Tây Tạng làm phát sinh nhiều
chủng loại cây trồng, vật nuôi và công nghệ rất khác nhau, diện tích rộng mênh
mông và đất đai năng sản có khả năng nuôi sống một dân số khu vực cao nhất trên
thế giới, và một môi trường ít khô hơn hoặc ít nhạy cảm về sinh thái hơn so với
môi trường của Lưỡi liềm Phì nhiêu, cho phép Trung Quốc mãi đến ngày nay – gần
10.000 năm sau – vẫn có thể duy trì một nền nông nghiệp thâm canh cao sản mặc
cho các vấn nạn môi trường đang ngày càng tăng và nghiêm trọng hơn so với ở Tây
Âu.
Các ưu thế cùng lợi thế xuất phát đó đã cho phép Trung Quốc
thời trung đại dẫn đầu thế giới về công nghệ. Các phát minh công nghệ chính mà
Trung Quốc đi đầu kể ra thì rất dài trong đó có gang, la bàn, thuốc súng, giấy,
nghề in cùng nhiều thứ khác mà tôi đã nhắc tới trước đây. Vào đầu thế kỷ XV
Trung Quốc đã cử những hạm đội tìm châu báu, mỗi đoàn gồm hàng trăm chiếc thuyền
dài tới 400 bộ (122 m) và tổng số thủy thủ đoàn lên tới 28.000 người, băng qua Ấn
Độ Dương đến tận bờ biển Đông Phi từ hàng mấy thập kỷ trước khi ba con tàu bé
tí của Columbus băng qua Đại Tây Dương hẹp hơn nhiều để tới được bờ đông châu Mỹ.
Tại sao những con tàu của Trung Quốc đã không vòng qua mũi cực nam châu Phi mà
thẳng tiến về phía tây để chiếm châu Âu làm thuộc địa trước khi ba con tàu bé
tí của Vasco da Gama vòng quanh Mũi Hảo Vọng để mở màn công cuộc chinh phục
Đông Á của người châu Âu? Tại sao những con tàu của Trung Quốc đã không băng
qua Thái Bình Dương để chiếm cứ bờ tây châu Mỹ? Nói ngắn gọn, tại sao Trung Quốc
đã đánh mất lợi thế xuất phát về công nghệ của mình vào tay châu Âu mà vốn dĩ
trước kia lạc hậu đến thế?
Nhìn kết cục của các hạm đội tìm châu báu của Trung Quốc, ta
có thể suy ra được vài manh mối. Bảy hạm đội như vậy đã khởi hành từ Trung Quốc
trong khoảng từ 1405 đến 1433. Sau đó thì các chuyến đi này bị đình hoãn vì một
sai lầm điển hình của giới chính trị Trung Quốc, một sai lầm vốn cũng có thể xảy
ra ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới: sự tranh giành quyền lực giữa hai phe
phái trong triều đình Trung Quốc (một bên là các hoạn quan, bên kia là đối thủ
của họ). Người ta đồng nhất việc tổ chức và cầm đầu các hạm đội vượt đại dương
với phe các hoạn quan. Cho nên, khi phe đối thủ giành được lợi thế trong cuộc
tranh giành quyền lực, họ cũng chấm dứt luôn các chuyến đi này, về sau còn phá
hủy luôn các xưởng đóng tàu và cấm mọi cuộc hành trình vượt đại dương. Việc làm
đó cũng tương tự như những điều luật vốn đã kìm hãm việc trang bị đèn điện công
cộng ở London vào thập niên 1880, sự cô lập của Hoa Kỳ trong giai đoạn giữa Thế
chiến Thứ nhất với Thế chiến Thứ hai, cũng như rất nhiều những bước thụt lùi
khác ở rất nhiều nước khác, tất cả đều bắt nguồn từ những vấn đề chính trị cục
bộ. Nhưng ở Trung Quốc thì có khác, bởi toàn bộ khu vực này được thống nhất về
chính trị. Chỉ cần một quyết định đó là đủ để chấm dứt hoạt động của mọi hạm đội
trên toàn cõi Trung Quốc. Một quyết định nhất thời là đủ trở thành không thể đảo
ngược, bởi không một xưởng đóng tàu nào còn tồn tại và tiếp tục đóng tàu đặng
chứng minh cho sự ngu xuẩn của cái quyết định nhất thời đó cũng như làm hạt
nhân cho sự hồi sinh các xưởng đóng tàu khác.
Giờ ta hãy so sánh các sự kiện đó ở Trung Quốc với những gì
đã diễn ra khi các đoàn tàu thám hiểm bắt đầu ra đi từ châu Âu vốn dĩ phân tán
về chính trị. Christopher Columbus sinh ra là người Ý nhưng thệ nguyện trung
thành với công tước Anjou của Pháp, sau đó thì với nhà vua Bồ Đào Nha. Khi vua
Bồ Đào Nha từ chối yêu cầu của ông xin được cấp tàu để thám hiểm về phía tây,
Columbus quay sang công tước Medina-Sedonia nhưng ông này cũng khước từ, kế đó
sang bá tước Medina-Celi nhưng ông này cũng từ chối nốt, cuối cùng Columbus viện
tới vua và hoàng hậu Tây Ban Nha, hai vị này đầu tiên khước từ đề nghị của
Columbus nhưng cuối cùng lại ưng thuận. Giá như châu Âu khi đó cũng thống nhất
dưới quyền một trong ba vị vua chúa đầu tiên đã nói trên đây thì cuộc chinh phục
châu Mỹ hẳn đã chết từ trong trứng nước rồi.
Trên thực tế, chính vì châu Âu phân tán về chính trị mà
Columbus đến lần thứ năm thì rốt cuộc cũng thuyết phục được một trong số hàng
trăm vị vua chúa của châu Âu đồng ý tài trợ cho ông. Một khi Tây Ban Nha đã mở
màn công cuộc chinh phục châu Mỹ, các nhà nước châu Âu khác nhìn thấy bao nhiêu
của cải đổ về Tây Ban Nha, thế là lại thêm sáu nhà nước nữa tham gia biến châu
Mỹ thành thuộc địa. Chuyện cũng tương tự như vậy đối với đại bác, đèn điện, nghề
in, súng và vô số phát minh khác của châu Âu: đầu tiên mỗi phát minh như vậy bị
người ta hờ hững hoặc phản đối ở một số vùng của châu Âu vì những lý do riêng,
nhưng một khi đã được tiếp thu ở một khu vực thì rốt cuộc chúng cũng bành trướng
sang phần còn lại của châu Âu.
Các hệ quả đó của sự phân tán về chính trị ở châu Âu tương phản
sâu sắc với hệ quả của sự thống nhất về chính trị ở Trung Quốc. Từ thời này
sang thời khác, triều đình Trung Quốc quyết định chấm dứt cả những hoạt động
khác chứ không chỉ là thám hiểm vượt đại dương: triều đình đã từ bỏ việc phát
triển một cỗ máy xe sợi tinh xảo chạy bằng sức nước, ấy là cả một bước lùi khi
Trung Quốc đã đứng trên ngưỡng cửa cách mạng công nghiệp vào thế kỷ XIV, triều
đình đã dẹp bỏ hay thậm chí hủy diệt hoàn toàn những chiếc đồng hồ cơ khí sau
khi Trung Quốc từng dẫn đầu thế giới về ngành chế tạo đồng hồ, nói chung là khước
từ thiết bị cơ giới và công nghệ [mà Trung Quốc từng có được] từ cuối thế kỷ
XV. Những hậu quả tai hại tiềm tàng đó của sự thống nhất [về chính trị] lại nổi
lên một lần nữa ở Trung Quốc ngày nay, đáng chú ý là trong thời kỳ cuộc Cách mạng
Văn hóa điên rồ trong thập niên 1960 và 1970, khi một quyết định của một hay một
dúm nhà lãnh đạo là đủ để đóng cửa hệ thống trường học của toàn bộ đất nước
trong suốt năm năm.
Cả sự thống nhất thường xuyên của Trung Quốc lẫn sự phân tán
trường kỳ của châu Âu đều có lịch sử lâu dài. Những khu vực năng sản nhất của
Trung Quốc hiện đại đã được thống nhất về chính trị lần đầu tiên vào năm 221
TCN và hầu như vẫn luôn luôn thống nhất từ đó đến nay. Trung Quốc chỉ có một hệ
chữ viết duy nhất ngay từ thuở đầu, một ngôn ngữ thống trị duy nhất trong suốt
một thời gian dài, và một sự thống nhất đáng kể về văn hóa trong suốt hai ngàn
năm. Ngược lại, châu Âu chưa bao giờ đạt tới sự thống nhất về chính trị: mãi đến
thế kỷ 14 nó vẫn còn chia manh mún thành 1.000 nước nhỏ độc lập, đến năm 1500 vẫn
còn phân tán thành 500 nước, đến 1980 thì xuống mức tối thiểu còn 25 nước,
nhưng lại tăng lên gần 40 nước vào thời điểm tôi viết câu này. Châu Âu có tới
45 ngôn ngữ, mỗi ngôn ngữ dùng một bảng chữ cái được điều chỉnh riêng, đa dạng
văn hóa thì lại càng cao hơn nữa. Việc châu Âu ngày nay cứ luôn bất đồng [về
nhiều vấn đề] khiến ngay cả những nỗ lực khiêm nhường hầu đạt tới sự thống nhất
châu Âu thông qua Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) cũng không hiệu quả chẳng qua
chỉ là một triệu chứng của tính phân tán về chính trị vốn đã thâm căn cố đế ở
châu Âu.
Do vậy, để thấu hiểu vì sao Trung Quốc đánh mất sự ưu việt về
chính trị và công nghệ của mình vào tay châu Âu, chúng ta phải thấu hiểu sự thống
nhất vốn ăn sâu bén rễ ở Trung Quốc và sự phân tán vốn ăn sâu bén rễ ở châu Âu.
Một lần nữa, lời giải đáp có thể suy ra từ những tấm bản đồ. Châu Âu có bờ biển
thụt sâu vào nhiều chỗ, với bốn bán đảo lớn có mức độ biệt lập gần như là những
hải đảo, tất cả các bán đảo này đều có ngôn ngữ, nhóm dân tộc và chính phủ độc
lập riêng: Hy Lạp, Italia, Iberia, Đan Mạch và Na Uy/Thụy Điển. Bờ biển Trung
Quốc thì bằng phẳng hơn nhiều, chỉ có mỗi bán đảo Triều Tiên lân cận là khu vực
có tầm quan trọng riêng. Châu Âu có hai hòn đảo (Anh và Ailen) đủ lớn để đòi
quyền độc lập chính trị và duy trì ngôn ngữ cũng như nhóm dân tộc riêng, và một
trong hai hòn đảo đó (Anh quốc) đủ lớn và đủ gần nội địa để trở thành một cường
quốc độc lập chủ chốt ở châu Âu. Trong khi đó thì ngay cả hai hòn đảo lớn nhất
của Trung Quốc là Đài Loan và Hải Nam mỗi hòn chỉ chưa bằng một nửa diện tích
Ailen, không một đảo nào trong đó từng là một đế quốc độc lập chủ chốt cho mãi
tới khi Đài Loan trỗi dậy trong những thập kỷ gần đây nhất; và sự biệt lập về địa
lý của Nhật Bản khiến cho nước này đối với nội địa châu Á là biệt lập hơn nhiều
về chính trị so với nước Anh trong tương quan với nội địa châu Âu. Châu Âu bị cắt
xẻ thành nhiều đơn vị ngôn ngữ, dân tộc và chính trị độc lập bởi các dãy núi
cao (Alpes, Pyrenees, Cácpát và các dãy núi vùng biên giới Na Uy), trong khi ở
Trung Quốc núi non tập trung ở cao nguyên Tây Tạng và chỉ là một rào cản ít
đáng sợ hơn nhiều. Vùng trung tâm Trung Quốc được nối liền từ đông sang tây bởi
hai hệ thống sông dễ đi lại chảy qua những thung lũng giàu phù sa (sông Dương Tử
và sông Hoàng Hà), lại được nối kết từ bắc xuống nam cũng dễ dàng như vậy cũng
nhờ hai hệ thống sông này (về sau được nối với nhau bằng những kênh đào). Hệ quả
là Trung Quốc từ rất sớm đã bị chi phối bởi hai khu vực địa lý then chốt có [nền
sản xuất lương thực] năng suất cao, hai khu vực này không cách biệt nhau nhiều
lắm và cuối cùng hợp nhất thành một khu vực duy nhất. Hai dòng sông lớn nhất của
châu Âu – Rhine và Danube – thì nhỏ hơn và chỉ kết nối một phần không lớn của
châu Âu. Khác với Trung Quốc, châu Âu có nhiều khu vực then chốt nhỏ rải rác
nơi này nơi khác, không một khu vực nào trong số đó đủ lớn để chi phối các khu
vực khác trong thời gian dài, và mỗi khu vực là trung tâm của những nhà nước
thường là độc lập [trong quá trình lịch sử].
Từ khi Trung Quốc được thống nhất vào năm 221 TCN, không một
nhà nước độc lập nào khác còn có cơ hội phát sinh và tồn tại lâu dài ở Trung Quốc
nữa. Mặc dù cũng có một số thời kỳ phân liệt sau năm 221 TCN, nhưng rốt cuộc
Trung Quốc vẫn được tái thống nhất. Nhưng sự thống nhất châu Âu thì chưa bao giờ
đạt được dù các nhà chinh phục như Charlemagne, Napoleon hay Hitler có quyết
tâm và nỗ lực đến thế nào đi nữa; ngay cả Đế quốc La Mã vào thời cực thịnh cũng
chẳng bao giờ kiểm soát được quá nửa diện tích châu Âu.So sánh bờ biển Trung Quốc với bờ biển châu Âu, vẽ theo cùng
một tỷ lệ. Lưu ý rằng so với bờ biển Trung Quốc, bờ biển châu Âu có nhiều vùng
lõm sâu hơn, có nhiều bán đảo lớn hơn và có hai hòn đảo lớn.
Như vậy, nhờ sự gắn kết và có ít rào cản về địa lý mà Trung
Quốc đã có được lợi thế ban đầu. Bắc Trung Quốc, Nam Trung Quốc, vùng duyên hải
Trung Quốc và nội địa Trung Quốc, mỗi nơi đóng góp những cây trồng, vật nuôi,
công nghệ và nét văn hóa riêng vào nước Trung Hoa thống nhất. Chẳng hạn, nghề
trồng kê, kỹ thuật luyện đồng và chữ viết phát sinh ở Bắc Trung Quốc, trong khi
nghề trồng lúa và kỹ nghệ luyện gang thì ra đời ở Nam Trung Quốc. Trong hầu hết
cuốn sách này tôi luôn nhấn mạnh, nếu không có những rào cản đáng sợ thì công
nghệ có thể phát tán dễ dàng. Nhưng sự gắn kết của Trung Quốc cuối cùng lại trở
thành điều bất lợi, bởi chỉ cần một quyết định của một kẻ chuyên quyền là đủ để
chặn đứng sự cách tân, mà chuyện đó xảy ra không chỉ một lần. Ngược lại, sự
chia cắt về địa lý của châu Âu dẫn đến việc hình thành hàng trăm nhà nước nhỏ độc
lập và hàng trăm trung tâm đổi mới cạnh tranh với nhau. Nếu nước này không theo
đuổi một phát minh nào đó thì sẽ có nước khác theo đuổi, buộc các nước láng giềng
phải làm theo, nếu không thì sẽ bị chinh phục hay tụt hậu về kinh tế. Những rào
cản của châu Âu đủ để ngăn cản sự thống nhất về chính trị, nhưng lại không đủ để
ngăn cản sự bành trướng các công nghệ và ý tưởng. Chưa từng có kẻ chuyên quyền
nào có thể chặn đứng mọi [con đường phát triển] trên toàn bộ châu Âu như ở
Trung Quốc.
So sánh như vậy để thấy rằng sự nối kết về địa lý đã gây ra
những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với sự tiến hóa của công nghệ. Hệ quả
là, về lâu dài, công nghệ có thể phát triển nhanh nhất ở những khu vực nào có mức
độ nối kết trung bình, không quá cao cũng không quá thấp. Diễn trình phát triển
của công nghệ trong 1.000 năm qua ở Trung Quốc, châu Âu và tiểu lục địa Ấn Độ
là tiêu biểu cho hệ quả của mức độ nối kết cao, trung bình và thấp ở lần lượt từng
lục địa nói trên.
Lẽ dĩ nhiên, còn có những nhân tố khác góp phần làm tiến
trình lịch sử ở mỗi khu vực của Âu-Á diễn ra một khác. Chẳng hạn, Lưỡi liềm Phì
nhiêu, Trung Quốc và châu Âu khác nhau ở mức độ bị đe dọa thường xuyên bởi những
cuộc xâm lăng man dã của các dân tộc du mục cưỡi ngựa ở vùng Trung Á. Một trong
các nhóm du mục đó (người Mông Cổ) cuối cùng đã hủy diệt các hệ thống tưới tiêu
từ thời cổ đại của Iran và Iraq, song không một nhóm du mục châu Á nào như vậy
từng đi xa hơn được vùng đồng bằng Hungary để tiến sâu vào các khu rừng ở Tây
Âu. Các nhân tố môi trường khác còn là vị trí địa lý mang tính trung gian của
Lưỡi liềm Phì nhiêu, giúp khu vực này có thể kiểm soát các con đường giao
thương nối liền Trung Quốc và Ấn Độ với châu Âu, cũng như vị trí tương đối xa của
Trung Quốc so với các nền văn minh tiên tiến khác của Âu-Á, khiến cho Trung Quốc
gần như trở thành một ốc đảo riêng biệt khổng lồ bên trong một lục địa. Vị trí
tương đối biệt lập của Trung Quốc đặc biệt có liên quan đến việc Trung Quốc ban
đầu tiếp thu các công nghệ nhưng rồi lại từ bỏ chúng, rất giống trường hợp
Tasmania và các hòn đảo khác (Chương 13 và 15). Song những gì được bàn ngắn gọn
trên đây ít nhất cũng có thể chỉ ra rằng các nhân tố môi trường có liên quan đến
những mẫu hình lịch sử ở quy mô nhỏ và trong thời hạn ngắn, cũng như những mẫu
hình chung nhất của lịch sử.
Lịch sử của Lưỡi liềm Phì nhiêu và lịch sử Trung Quốc cũng
cho ta một bài học bổ ích cho thế giới ngày nay: hoàn cảnh đã đổi thay, ngày
xưa ta ưu việt nhất, nhưng điều đó không bảo đảm rằng trong tương lai ta vẫn ưu
việt nhất. Thậm chí người ta có thể tự hỏi biết đâu cách lập luận dựa trên các
nhân tố địa lý được sử dụng trong toàn bộ sách này rốt cuộc lại hoàn toàn chẳng
áp dụng được cho thế giới hiện đại, bởi ngày nay ý tưởng có thể được truyền bá
khắp thế giới một cách tức thì qua Internet còn hàng hóa thì được chuyên chở bằng
máy bay từ lục địa này qua lục địa khác trong vòng có một đêm. Hình như trong
thế giới ngày nay có những quy luật hoàn toàn mới áp dụng cho sự cạnh tranh giữa
các dân tộc, mà hệ quả là sự trỗi dậy của những thế lực mới như Đài Loan, Hàn
Quốc, Malaysia và đặc biệt là Nhật Bản.
Tuy nhiên, nghĩ kỹ lại, ta sẽ thấy rằng những quy luật tưởng
như mới đó chẳng qua chỉ là những biến thể của các quy luật cũ mà thôi. Phải,
transistor, vốn được phát minh ở Phòng Thí nghiệm Bell tại miền đông Hoa Kỳ vào
năm 1947, đã làm một cú nhảy xa 8.000 dặm (12.800 km, ND) làm khai sinh nền
công nghiệp điện tử của Nhật Bản, song có những xứ gần Hoa Kỳ hơn nhiều so với
Nhật Bản chẳng hạn như Zaire hay Paraguay mà tại sao transistor không nhảy tới
đó để khai sinh nền công nghiệp nào tương tự? Những nước đang nổi lên vị trí cường
quốc mới hiện nay cũng chính là những nước mà tự hàng ngàn năm trước đã là bộ
phận của các trung tâm thống trị cũ dựa trên sản xuất lương thực, không thì
cũng là những nước mà cư dân bản địa đã bị các dân tộc xuất phát từ các trung
tâm đó di cư đến chiếm chỗ. Khác với Zaire hay Paraguay, Nhật Bản và các thế lực
mới khác đã có khả năng khai thác transistor một cách nhanh chóng bởi cư dân của
họ vốn đã trải qua một lịch sử lâu dài có chữ viết, có nghề cơ khí kim loại và
chính phủ tập trung hóa. Hai trung tâm sản xuất lương thực xưa nhất trên thế giới
– vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc – ngày nay vẫn thống trị thế giới hiện
đại, hoặc thông qua các nước vốn là hậu duệ trực tiếp của chúng (Trung Quốc hiện
đại) hoặc thông qua những nước nằm tại các khu vực láng giềng vốn chịu ảnh hưởng
của hai trung tâm đó ngay từ sớm (Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và châu Âu), hoặc
thông qua những nước do các dân tộc từ những trung tâm đó đến định cư hay thống
trị (Hoa Kỳ, Australia, Brazil). Triển vọng để người châu Phi hạ Sahara, người
Australia bản địa và người châu Mỹ bản địa vươn lên vị trí thống trị thế giới vẫn
còn xa vời. Bàn tay của diễn trình lịch sử từ 8.000 năm TCN vẫn đang đè nặng
lên chúng ta.
Trong số các nhân tố khác liên quan đến việc trả lời câu hỏi
của Yali, các nhân tố văn hóa và ảnh hưởng của các cá nhân đóng vai trò quan trọng.
Trước hết, nếu nói về nhân tố văn hóa thì những nét đặc thù văn hóa của loài
người khác nhau rất nhiều từ nơi này sang nơi khác trên thế giới. Một số sự biến
đổi về văn hóa đó chắc chắn là sản phẩm của sự biến đổi về môi trường, và tôi
đã bàn nhiều ví dụ về điều đó trong cuốn sách này. Nhưng có một câu hỏi hệ trọng
liên quan đến tầm quan trọng khả dĩ của các nhân tố văn hóa địa phương mà không
liên quan gì đến môi trường. Một nét văn hóa nho nhỏ nào đó có thể phát sinh vì
những nguyên nhân nhỏ nhặt, nhất thời có tính địa phương, nhưng rồi nó trở
thành cố định, khiến cho cả một xã hội nghiêng về những lựa chọn quan trọng hơn
về văn hóa, như việc ứng dụng lý thuyết hỗn độn vào những lĩnh vực khoa học
khác đã gợi ý cho chúng ta. Những quá trình văn hóa như vậy nằm trong số những
nhân tố khôn lường khiến cho lịch sử trở thành không thể tiên đoán được.
Ở Chương 13 tôi đã kể đến một ví dụ là chiếc bàn phím QWERTY
dành cho người đánh máy. Ban đầu nó đã chọn để được áp dụng trong số nhiều kiểu
bàn phím, vì những lý do cụ thể [mà thực chất là] nhỏ nhặt trong đó có ngành sản
xuất máy chữ ban đầu tại Hoa Kỳ vào thập niên 1860, nghệ thuật bán máy chữ, một
quyết định vào năm 1882 của một Cô Longley (Ms Longley) nào đó, người sáng lập
Viện Tốc ký và Đánh máy tại Cincinnati, và thành công của học trò cưng lớp đánh
máy của Cô Longley là Frank McGurrin, người đã đánh bại hoàn toàn Louis Taub, đối
thủ trong một cuộc so tài đánh máy được công bố rộng rãi vào năm 1888 mà ở đó
Taub không sử dụng bàn phím QWERTY. Lẽ ra người ta đã có thể quyết định chuyển
sang dùng bất cứ loại bàn phím nào khác vào bất cứ thời điểm nào trong khoảng từ
thập niên 1860 đến thập niên 1880; chẳng hề có nhân tố môi trường nào ở Hoa Kỳ
tác động khiến cho bàn phím QWERTY được chuộng hơn các bàn phím khác. Thế
nhưng, khi người ta đã quyết định rồi thì bàn phím QWERTY trở thành ăn sâu bén
rễ đến mức một thế kỷ sau nó vẫn được dùng cho bàn phím máy vi tính. Cũng những
lý do nhỏ nhặt tầm thường như vậy, mà nay đã chìm khuất trong quá khứ xa xôi, ắt
hẳn đã tác động tới việc người Sumer quyết định dùng hệ đếm 12 thay cho hệ đếm
thập phân (dẫn đến ngày nay chúng ta vẫn áp dụng các hệ thống một giờ gồm 60
phút, một ngày gồm 24 giờ, một năm gồm 12 tháng và vòng tròn với 360 độ), tương
phản với hệ đếm dựa trên cơ số 20 ở nền văn minh Trung Mỹ (dẫn đến lịch của
Trung Mỹ dùng hai chu kỳ song song, một chu kỳ gồm 360 ngày có đặt tên và một
chu kỳ gồm 365 ngày).
Các chi tiết kiểu dáng máy chữ, đồng hồ và lịch như đã nói
trên đây không ảnh hưởng đến sự thành công của các xã hội áp dụng những phát
minh đó. Nhưng có thể dễ dàng hình dung rằng lẽ ra chúng đã có thể ảnh hưởng đến
thế nào. Chẳng hạn, giá như bàn phím QWERTY của Hoa Kỳ đã không được áp dụng ở
bất cứ nơi nào khác trên thế giới – giả sử là, nếu Nhật Bản hay châu Âu đã áp dụng
bàn phím Dvorak vốn hữu hiệu hơn nhiều – thì cái quyết định cỏn con đó vào thế
kỷ XIX ắt đã có những hậu quả lớn lao đối với vị trí cạnh tranh của công nghệ
Hoa Kỳ vào thế kỷ XX.
Tương tự, một nghiên cứu tiến hành ở trẻ em Trung Quốc cho thấy
nếu được dạy bằng tiếng Trung Quốc phiên âm ra chữ cái (gọi là phiên âm pinyin)
thì chúng học nhanh hơn so với học bằng chữ Trung Quốc truyền thống với hàng
ngàn chữ tượng hình. Người ta từng cho rằng chữ tượng hình Trung Quốc ra đời là
bởi nó rất tiện để phân biệt các từ trong tiếng Trung Quốc vốn rất nhiều từ đồng
âm dị nghĩa. Nếu quả thật vậy thì việc tiếng Trung Quốc có quá nhiều từ đồng âm
dị nghĩa có thể đã tác động đến vai trò của chữ viết trong xã hội Trung Quốc,
song cũng khó mà nói rằng có một nhân tố nào đó trong môi trường của Trung Quốc
ảnh hưởng đến việc tiếng Trung Quốc có nhiều từ đồng âm dị nghĩa. Phải chăng có
một nhân tố ngôn ngữ hoặc văn hóa nào đó đã dẫn đến việc các nền văn minh phức
tạp ở vùng Andes không phát minh được chữ viết, một thất bại mà nếu không phải
vì lý do đó thì thật là khó hiểu? Phải chăng có một nhân tố nào đó trong môi
trường Ấn Độ khiến nước này lựa chọn chế độ xã hội-kinh tế dựa trên sự phân biệt
hà khắc về đẳng cấp, điều đã gây nên hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển
công nghệ ở Ấn Độ? Phải chăng có gì đó trong môi trường Trung Quốc khiến nước
này lựa chọn triết học Khổng giáo và chủ nghĩa bảo thủ về văn hóa, điều cũng đã
gây tác động sâu xa đến lịch sử? Tại sao các tôn giáo có xu hướng cải đạo người
khác (đạo Thiên chúa và đạo Hồi) đã là động lực cho sự thực dân hóa và chinh phục
giữa người châu Âu với người Tây Á, nhưng lại không phải là động lực tương tự
giữa người Trung Quốc với nhau?
Các ví dụ đó cho ta thấy có rất nhiều câu hỏi liên quan đến
những đặc thù văn hóa vốn không liên quan gì đến môi trường và thoạt tiên chẳng
lấy gì làm quan trọng, nhưng cuối cùng lại có thể tiến hóa thành những đặc tính
văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ và trường tồn. Tầm quan trọng của các đặc thù văn
hóa đó là một câu hỏi quan trọng chưa có lời giải đáp. Tốt nhất, ta nên tiếp cận
câu hỏi đó bằng cách tập trung chú ý vào những mẫu hình lịch sử nào vẫn còn nhiều
khó hiểu sau khi ta đã tính đến tác động của tất cả các nhân tố môi trường
chính.
Thế còn tác động của các cá nhân có tính cách khác thường, đặc
biệt thì sao? Một ví dụ khá nhiều người biết ở thời hiện đại là trường hợp âm
mưu ám sát Hitler đồng thời nổi loạn ở Berlin vào ngày 20 tháng 7 năm 1944
nhưng rồi đã thất bại trong gang tấc. Cả hai kế hoạch này là mưu đồ của một số
người Đức, những kẻ tin chắc rằng nước Đức sẽ không thể thắng trong cuộc chiến
này và muốn tìm kiếm hòa bình, vào thời điểm khi mặt trận phía đông giữa người
Đức với người Nga vẫn còn nằm chủ yếu bên trong biên giới nước Nga. Hitler bị
thương vì một quả bom hẹn giờ cài trong một chiếc cặp đặt dưới một chiếc bàn
trong phòng họp; giá như chiếc cặp được đặt gần ghế Hitler ngồi một chút thì lẽ
ra ông ta đã chết. Giá như Hitler chết và Thế chiến Thứ hai đã chấm dứt ngay từ
lúc đó thì bản đồ Đông Âu và diễn biến cuộc Chiến tranh Lạnh của thế giới ngày
nay hẳn đã khác đi rất nhiều.
Một sự kiện khác ít người biết hơn nhưng lại còn có tính định
mệnh hơn thế nữa là một tai nạn giao thông vào mùa hè năm 1930, hơn hai năm trước
khi Hitler giành được chính quyền ở Đức, khi chiếc ôtô mà trong đó ông ta đang
ngồi ở “ghế tử thần” (ghế hành khách phía trước bên phải, cạnh tài xế) đâm vào
một chiếc xe tải nặng. Chiếc xe tải chỉ kịp phanh lại vừa đủ để không cán lên
xe của Hitler mà nghiền nát ông ta. Tâm tính khác thường mang tính bệnh lý của
Hitler có tầm quan trọng quyết định đối với chính sách và sự thành công của Đức
quốc xã, thành thử nếu tay tài xế xe tải kia nhấn phanh chậm hơn chỉ một giây
thôi thì hình thái của cuộc Thế chiến Thứ hai có lẽ đã khác đi nhiều lắm.
Ta có thể nghĩ đến những cá nhân khác mà tính cách khác thường
của họ dường như đã ảnh hưởng đến lịch sử giống như tính cách khác thường của
Hitler: Alexander Đại đế, Augustus, Phật Thích ca, Chúa Jesus, Martin Luther,
Pachacuti hoàng đế Inca, Mohammed, William Nhà Chinh phục, và Shaka vua của người
Zulu, ấy là chỉ mới kể một số ít. Mỗi người trong số họ đã thực sự làm thay đổi
các sự kiện đến mức độ nào, chứ không phải “chỉ” tình cờ là người thích hợp nhất
được đặt vào đúng vị trí nhất vào đúng thời điểm nhất? Nằm ở một thái cực là
quan điểm của nhà sử học Thomas Carlyle: “Lịch sử phổ quát, cái lịch sử của những
gì con người [viết thường, ND] thành tựu được trên thế giới này, chỉ nằm ở dưới
đáy cái Lịch sử [viết hoa, ND] của những Vĩ Nhân [viết hoa, ND] đã từng hoạt động
nơi đây”. Ở cực đối lập là quan điểm của nhà chính khách Phổ Otto von Bismarck,
kẻ mà, khác với Carlyle, từng có kinh nghiệm dạn dày về những cơ chế vận hành nội
tại của chính trị: “Nhiệm vụ của nhà chính khách là lắng nghe tiếng chân Thượng
Đế [khi Người] bước ngang qua lịch sử và cố sao túm được đuôi áo Người khi Người
bước ngang qua”.
Cũng như những nét đặc thù về văn hóa, tính cách khác thường
của các cá nhân là những nhân tố khôn lường làm xoay chuyển tiến trình lịch sử.
Chúng khiến cho lịch sử đâm ra không thể nào lý giải nếu ta chỉ tính tới các
nhân tố môi trường hoặc thật ra là nếu chỉ tính tới bất kỳ nguyên nhân nào có
thể khái quát hóa. Tuy nhiên, vì mục đích của cuốn sách này thì các nhân tố đó
không liên quan cho lắm, bởi ngay cả kẻ bảo vệ lý thuyết Vĩ Nhân hăng hái nhất
đi chăng nữa cũng khó lòng nói được rằng mẫu hình lớn nhất của lịch sử chỉ được
quyết định chỉ bởi dăm ba Vĩ Nhân mà thôi. Có thể Alexander Đại đế quả thật đã
thúc đẩy đôi chút tiến trình lịch sử của miền tây Âu-Á vốn đã có những nhà nước
có chữ viết, sản xuất lương thực và có công cụ bằng sắt, nhưng ngài chẳng có
liên quan gì đến chuyện trong khi miền tây Âu-Á hội đủ điều kiện để ra đời những
nhà nước có chữ viết, sản xuất lương thực và công cụ bằng sắt thì cùng lúc đó
Australia vẫn chỉ nuôi sống được những bộ lạc săn bắt hái lượm không có chữ viết
cũng chẳng có công cụ bằng kim loại. Dẫu vậy, các cá nhân phi thường thực ra có
tác động sâu rộng và lâu dài đến mức nào đến lịch sử, đó vẫn còn là một câu hỏi
chưa có lời giải đáp.
Khoa lịch sử thường không được coi là khoa học mà gần với một
ngành nhân văn hơn. Giỏi lắm thì lịch sử cũng chỉ được xếp làm một trong các
ngành khoa học xã hội, nhưng là ngành ít mang tính khoa học nhất. Trong khi
lĩnh vực chính quyền thường được gọi là “khoa học chính trị” còn giải Nobel về
kinh tế thì liên quan đến “khoa học kinh tế”, các Ban lịch sử [ở trường đại học]
chẳng mấy khi tự gọi mình là “Ban Khoa học lịch sử”. Nhiều sử gia không tự xem
mình là nhà khoa học và ít được đào tạo về các ngành khoa học đã được thừa nhận
cũng như các phương pháp luận của những ngành này. Từ “lịch sử” chẳng có nghĩa
gì khác hơn là một mớ chi tiết được diễn đạt bằng nhiều cách ngôn như: “Lịch sử
chẳng qua là một sự kiện này tiếp theo sự kiện kia», “Lịch sử không ít thì nhiều
chỉ là chuyện tầm phào”, “Lịch sử chẳng hề có quy luật nào hơn ngoài quy luật
kính vạn hoa”, vân vân.
Người ta không thể phủ nhận rằng, rút ra được những nguyên lý
chung từ việc nghiên cứu lịch sử là việc khó hơn nhiều so với từ việc nghiên cứu
quỹ đạo các hành tinh. Tuy nhiên, những khó khăn đó theo tôi không phải chỉ
riêng ngành lịch sử mới có. Những ngành lịch sử khác vốn từ lâu đã được xếp vào
hàng các khoa học tự nhiên như thiên văn học, khí hậu học, sinh thái học, sinh
học tiến hóa, địa chất học và cổ sinh vật học cũng chẳng phải là không có những
khó khăn tương tự. Song, thật không may, cách nhìn của người ta về ngành lịch sử
lại thường dựa trên vật lý học và một vài khoa học khác có phương pháp luận
tương tự khoa vật lý. Các nhà khoa học thuộc các ngành này thường có khuynh hướng
coi khinh vô lối đối với những ngành mà ở đó các phương pháp luận này không áp
dụng được mà phải đi tìm những phương pháp luận khác, chẳng hạn như lĩnh vực
nghiên cứu của bản thân tôi là sinh thái học và sinh học tiến hóa. Nhưng ta hãy
nhớ lại rằng bản thân từ science (khoa học) vốn có nghĩa là “tri thức” (từ chữ
Latinh scire nghĩa là “biết” và scientia nghĩa là “tri thức”), cái tri thức mà
người ta đạt được bằng bất cứ phương pháp nào phù hợp nhất với từng lĩnh vực cụ
thể. Do vậy mà tôi rất thông cảm với các sinh viên học ngành lịch sử nhân loại,
thông cảm với những khó khăn mà các em phải đương đầu.
Các khoa học lịch sử theo nghĩa rộng (kể cả thiên văn học và
các ngành tương tự) có nhiều đặc tính chung khiến chúng khác biệt với các ngành
khoa học phi lịch sử như vật lý học, hóa học và sinh học phân tử. Tôi xin nêu
ra bốn đặc tính như vậy: phương pháp luận, tính nhân quả, tính tiên đoán và
tính phức tạp.
Trong vật lý học, phương pháp chính để thu nhận tri thức là
thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, trong đó người ta điều khiển thông số cần
được nghiên cứu, tiến hành những thí nghiệm song song để đối chứng mà trong đó
thông số này được giữ không đổi, giữ nguyên không đổi từ đầu đến cuối các thông
số khác, lặp lại cả thí nghiệm chính và thí nghiệm đối chứng, sau đó thu được dữ
liệu định lượng. Phương pháp này, vốn cũng áp dụng tốt với hóa học và sinh học
phân tử, thường được đồng nhất với khoa học trong cách nghĩ của nhiều người,
khiến người ta thường cho rằng thực nghiệm chính là bản chất của khoa học. Thế
nhưng, rõ ràng là thực nghiệm trong phòng thí nghiệm chỉ có thể đóng vai trò nhỏ
nhoi hay thậm chí chẳng có vai trò gì đối với nhiều ngành khoa học lịch sử. Người
ta không thể dừng các thiên hà lại, không thể tùy ý khởi đầu những trận bão táp
hoặc thời kỳ Băng hà rồi lại cho ngưng, không thể thử tiêu diệt hết gấu xám
trong vài công viên quốc gia vì mục đích nghiên cứu, hoặc không thể cho diễn lại
quá trình tiến hóa của khủng long. Thay vì vậy, trong các ngành khoa học lịch sử
này người ta phải thu thập tri thức bằng những phương tiện khác, chẳng hạn như
quan sát, so sánh, và cái gọi là thực nghiệm tự nhiên (lát nữa tôi sẽ quay lại
điểm này).
Các khoa học lịch sử liên quan đến những chuỗi nhân quả trực
tiếp và nhân quả tối hậu. Trong hầu hết vật lý học và hóa học, những khái niệm
như “nguyên nhân tối hậu”, “mục đích” và “chức năng” là vô nghĩa, thế nhưng
chính các khái niệm đó là tối quan trọng nếu ta muốn thấu hiểu các hệ sống nói
chung và hoạt động của con người nói riêng. Chẳng hạn, nếu nghiên cứu loài thỏ
hoang Bắc cực mà lông chuyển từ màu nâu vào mùa hè sang màu trắng vào mùa đông,
nhà sinh học tiến hóa không thể thỏa mãn với việc xác định nguyên nhân trực tiếp
khá ư xoàng xĩnh rằng lông thỏ sở dĩ đổi màu là do cấu trúc phân tử của sắc tố
và những phương thức tổng hợp sinh học. Ông ta cần phải đào sâu nghiên cứu những
câu hỏi quan trọng hơn, về chức năng của việc đổi màu lông (để ngụy trang trước
các loài thú dữ?) và nguyên nhân tối hậu của việc đổi màu lông (có phải là sự
chọn lọc tự nhiên khởi đầu từ một quần thể thỏ tổ tiên vốn dĩ không đổi màu
lông theo mùa?) Tương tự, một sử gia nghiên cứu lịch sử châu Âu không thể hài
lòng với việc mô tả tình trạng của châu Âu vào cả năm 1815 lẫn năm 1918 như là
vừa đạt được hòa bình sau một chiến tranh toàn châu lục hao người tốn của. Có
hiểu được những chuỗi sự kiện tương phản đã dẫn tới việc ký kết hai hiệp ước
hòa bình vào hai năm đó thì [sử gia] mới hiểu được tại sao chỉ trong vòng vài
thập kỷ sau cuộc chiến năm 1918 lại đã bùng ra một cuộc chiến toàn châu Âu còn
hao người tốn của hơn nhiều, nhưng vài thập kỷ sau năm 1815 thì không có cuộc
chiến nào như thế. Nhưng các nhà hóa học thì không cần phải gán một mục đích
hay một chức năng nào đối với sự va chạm giữa hai phân tử khí, cũng chẳng phải
đi tìm nguyên nhân tối hậu cho cuộc va chạm đó.
Một khác biệt khác nữa giữa các khoa học lịch sử với các khoa
học phi lịch sử là tính tiên đoán. Trong hóa học và vật lý, để trắc nghiệm xem
ai đó có thấu hiểu một hệ hay không thì chỉ cần xem liệu người đó có thể tiên
đoán được hành trạng tương lai của hệ đó hay không. Một lần nữa, nhà vật lý lại
có xu hướng xem thường sinh học tiến hóa và lịch sử bởi các khoa đó có vẻ như
không qua được bài sát hạch này. Trong các khoa học lịch sử, người ta có thể
đưa ra những lý giải khi mọi sự đã rồi (chẳng hạn vì sao một tiểu hành tinh chạm
vào Trái đất từ 66 triệu năm trước có thể đã tận diệt loài khủng long nhưng nhiều
loài khác thì không), nhưng để tiên đoán tương lai thì khó hơn (chúng ta không
thể biết chắc những loài nào sẽ bị đưa đến diệt chủng nếu không có những sự kiện
có thật trong quá khứ hầu dẫn dắt chúng ta). Tuy nhiên, các sử gia và nhà khoa
học lịch sử vẫn tiên đoán, và kiểm chứng các tiên đoán đó, xem những dữ liệu được
phát hiện trong tương lai sẽ soi sáng cho ta những gì về các sự kiện đã xảy ra
trong quá khứ.
Những thuộc tính của các hệ thống lịch sử mà làm cho nỗ lực
tiên đoán đâm ra khó khăn có thể được mô tả theo nhiều cách. Có thể chỉ ra rằng
các xã hội loài người và loài khủng long [là những hệ] cực kỳ phức tạp, mỗi bên
đều có đặc thù là một lượng rất lớn các biến tố độc lập mà các biến tố này hô ứng
lẫn nhau. Hệ quả là, những thay đổi nhỏ ở bậc thấp của tổ chức cũng có thể dẫn
tới những thay đổi to lớn ở bậc cao hơn của tổ chức. Một ví dụ tiêu biểu là phản
xạ phanh gấp của một tài xế xe tải, trong vụ tai nạn suýt nữa khiến Hitler mất
mạng vào năm 1930, đã gây ra hiệu quả thế nào đối sinh mạng hàng trăm triệu con
người bị giết chết hoặc bị thương trong Thế chiến Thứ hai. Mặc dù hầu hết các
nhà sinh học đồng ý rằng, xét cho cùng, các hệ sinh học hoàn toàn được xác định
bởi các thuộc tính vật lý của chúng và tuân theo các quy luật của cơ học lượng
tử, song xét về mục đích thực tiễn thì tính phức tạp của hệ sinh học khiến cho
tính nhân quả kiểu quyết định luận này không nhất thiết dẫn đến việc có thể
tiên đoán trước về [hành trạng của] hệ thống. Tri thức về cơ học lượng tử chẳng
giúp ai hiểu được tại sao các loài ăn thịt có vú được du nhập vào Australia đã
tiêu diệt quá nhiều loài có túi ở lục địa này đến như vậy, hoặc tại sao chính
phe Đồng minh chứ không phải phe Trung tâm đã thắng trong Thế chiến Thứ nhất.
Mỗi dòng sông băng, thiên hà, cơn bão, xã hội loài người và
loài sinh học, thậm chí mỗi cá thể và mỗi tế bào của một loài có khả năng sinh
sản bằng tính dục, đều là một [thực thể] có một không hai, bởi nó chịu ảnh hưởng
của quá nhiều biến tố và được tạo thành bởi quá nhiều bộ phận có thể biến
thiên. Ngược lại, với bất cứ hạt cơ bản và đồng vị nào của nhà vật lý hay bất cứ
phân tử nào của nhà hóa học thì mọi cá thể của thực thể đều đồng nhất với nhau.
Vì vậy các nhà vật lý và nhà hóa học có thể đề ra những quy luật có tính quyết
định luận và phổ quát ở cấp độ vĩ mô, song các nhà sinh học và nhà sử học thì
chỉ có thể đề ra những xu hướng có tính thống kê. Tôi có thể tiên đoán với xác
suất đúng rất cao rằng trong số 1.000 trẻ sơ sinh chào đời sắp tới ở Trung tâm
Y tế của Đại học California nơi tôi làm việc sẽ có không dưới 480 hoặc không
quá 520 trẻ là trai. Thế nhưng tôi chẳng có cách nào biết trước được hai đứa
con của chính mình liệu có phải là trai không. Tương tự, các sử gia nhận xét rằng
các xã hội bộ lạc có thể có nhiều khả năng trở thành tù trưởng quốc hơn nếu quần
thể cư dân ở đó đủ đông và mật độ đủ dày và nếu có tiềm năng sản xuất ra lương
thực dự trữ, nếu không thì sẽ khó hơn. Nhưng mỗi một quần thể địa phương như vậy
lại có những nét đặc thù vô song của riêng mình, hệ quả là đã có những tù trưởng
quốc ra đời ở vùng cao nguyên Mexico, Guatemala, Peru và Madagascar nhưng ở cao
nguyên New Guinea hay Guadalcanal thì không.
Lại còn một cách khác nữa để mô tả tính phức tạp và bất khả
tiên đoán của các hệ lịch sử mặc dù xét đến cùng thì chúng vẫn có tính quyết định
luận, ấy là nhận xét rằng những chuỗi nhân quả kéo dài có thể khiến cho kết quả
sau cùng bị tách biệt hẳn khỏi nguyên nhân tối hậu vốn nằm ngoài lĩnh vực của
ngành khoa học đó. Chẳng hạn, khủng long có thể đã bị tuyệt chủng do tác động của
một tiểu hành tinh mà quỹ đạo của nó hoàn toàn được xác định bởi các định luật
của cơ học cổ điển. Song, nếu như từng có nhà cổ sinh vật học nào sống vào 67
triệu năm trước, họ cũng chẳng thể tiên đoán được rằng loài khủng long sắp bị
tiêu diệt tới nơi, bởi các tiểu hành tinh thuộc về một lĩnh vực khoa học mà giá
trong hoàn cảnh khác thì rất xa lạ so với ngành sinh học khủng long. Tương tự,
thời kỳ Tiểu Băng hà từ năm 1300 đến năm 1500 đã góp phần khiến người Norse ở
Greenland tuyệt chủng, nhưng không một sử gia nào, thậm chí có thể không một
nhà khí hậu học hiện đại nào có thể tiên đoán được rằng sẽ có một thời kỳ Tiểu
Băng hà.
Như vậy, những khó khăn mà các nhà sử học phải đương đầu khi
thiết lập những quan hệ nhân quả trong lịch sử các xã hội loài người là rất giống
với những khó khăn mà các nhà thiên văn học, khí hậu học, sinh thái học, sinh học
tiến hóa, địa chất học và cổ sinh vật học phải đương đầu. Ở nhiều mức độ khác
nhau, mỗi ngành trong các ngành vừa kể đều gặp khó khăn bởi không thể tiến hành
những sự can thiệp có kiểm soát nhằm mục đích thử nghiệm, bởi sự phức tạp do có
quá nhiều yếu tố biến thiên và do đó là tính đặc thù độc nhất vô nhị của mỗi hệ,
cũng từ đó mà không thể đề ra những quy luật phổ quát, và khó khăn trong việc
tiên đoán các thuộc tính mới xuất hiện và hành trạng tương lai của hệ. Việc
tiên đoán trong ngành lịch sử, cũng như trong các khoa học lịch sử khác, là khả
thi hơn cả đối với những phạm vi không gian lớn và quãng thời gian dài, bởi khi
đó thì những tính chất đặc thù của hàng triệu sự kiện nhỏ lẻ trở nên bị cào bằng.
Cũng như tôi có thể tiên đoán tỷ lệ giới tính của 1.000 trẻ sơ sinh sắp chào đời
nhưng giới tính của chính hai đứa con mình thì chẳng tiên đoán được, sử gia có
thể nhận ra những nhân tố khiến cho cuộc xung đột giữa các xã hội châu Mỹ và xã
hội ÂuÁ sau 13.000 năm phát triển riêng rẽ tất yếu phải dẫn đến hậu quả chung
như ta thấy ngày nay, song kết quả cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1960 thì sử
gia không thể tiên đoán được. Việc ứng viên nào đã nói những gì chỉ trong một
cuộc tranh luận trên truyền hình vào tháng 10 năm 1960 có thể đã dẫn đến Nixon
thắng cử chứ không phải Kennedy, nhưng dù cho ai đã nói cái gì thì cũng chẳng
thể ngăn được người châu Âu chinh phục được người châu Mỹ bản địa.
Làm cách nào sinh viên ngành lịch sử loài người có thể hưởng
lợi từ kinh nghiệm của các nhà khoa học trong những ngành khoa học lịch sử
khác? Có một phương pháp luận tỏ ra hữu ích, ấy là phương pháp so sánh và cái gọi
là thực nghiệm tự nhiên. Tuy không một nhà thiên văn nào nghiên cứu sự hình
thành thiên hà cũng như không một sử gia nào nghiên cứu lịch sử loài người lại
có thể thử nghiệm các hệ của mình trong phòng thí nghiệm, song cả hai đều có thể
tận dụng các thực nghiệm tự nhiên, bằng cách so sánh các hệ vốn khác nhau ở chỗ
có hay không có (hoặc chịu ảnh hưởng mạnh hay yếu của) một nhân tố có tính nhân
quả giả định nào đó. Chẳng hạn, các nhà truyền nhiễm học tuy không được phép
cho người ta ăn một lượng lớn muối nhằm mục đích thí nghiệm, nhưng họ vẫn có thể
xác định tác động của việc hấp thụ nhiều muối bằng cách so sánh những nhóm người
vốn dĩ đã khác nhau rất nhiều về lượng muối ăn vào; và các nhà nhân chủng học
văn hóa, tuy không thể tiến hành thí nghiệm bằng cách cho một số nhóm người sống
trong những môi trường có tài nguyên giàu nghèo khác nhau trong nhiều thế kỷ,
song vẫn có thể nghiên cứu hậu quả lâu dài của việc giàu hay nghèo tài nguyên đối
với xã hội loài người bằng cách so sánh các quần thể người Polynesia gần đây
sinh sống trên những hòn đảo có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu nghèo khác
nhau. Nghiên cứu lịch sử loài người có thể dựa trên nhiều thực nghiệm tự nhiên
chứ không chỉ dựa trên so sánh giữa năm lục địa có người sinh sống. Để so sánh,
người ta cũng có thể sử dụng những hòn đảo lớn có những xã hội phức tạp phát
triển trong tình trạng biệt lập đáng kể (như Nhật Bản, Madagascar, đảo
Hispaniola của người châu Mỹ bản địa, New Guinea, Hawaii và nhiều trường hợp
khác) cũng như các xã hội trên hàng trăm hòn đảo nhỏ hơn và các xã hội khu vực
trên từng lục địa.
Thực nghiệm tự nhiên trong bất kỳ lĩnh vực nào, dù sinh thái
học hay lịch sử loài người, vốn dĩ đều có thể bị phê phán về mặt phương pháp luận.
Người ta phê phán phương pháp này ở chỗ, [có thể] có sự biến thiên tự nhiên
trong các biến tố khác ngoài biến tố được khảo sát gây nhiễu loạn [hệ], cũng
như việc suy ra các chuỗi nhân quả từ mối tương quan quan sát được giữa các biến
tố có không ít những khó khăn. Những khó khăn mang tính phương pháp luận đó từng
được bàn cãi chi tiết đối với một số ngành khoa học lịch sử. Đặc biệt là truyền
nhiễm học, ngành khoa học chuyên suy luận về các căn bệnh của loài người bằng
cách so sánh các nhóm người (thường là qua nghiên cứu lịch sử hồi cố), từng suốt
một thời gian dài sử dụng thành công các quy trình được quy phạm hóa để xử lý
những vấn đề tương tự như các vấn đề đặt ra cho các sử gia nghiên cứu xã hội
loài người. Các nhà sinh thái học cũng đã rất quan tâm đến các vấn đề thực nghiệm
tự nhiên, một phương pháp luận mà họ phải viện tới trong nhiều trường hợp khi
việc can thiệp trực tiếp để điều khiển các biến tố sinh thái liên quan nhằm mục
đích thí nghiệm là hành vi vô đạo đức, không hợp pháp hoặc bất khả thi. Các nhà
sinh học tiến hóa mới đây đã phát triển được những phương pháp còn phức tạp hơn
nhằm rút ra kết luận từ sự so sánh các loài cây và thú khác nhau của những lịch
sử tiến hóa mà chúng ta đã biết.
Nói ngắn gọn, tôi thừa nhận rằng, thấu hiểu lịch sử loài người
là việc khó hơn nhiều so với thấu hiểu các vấn đề trong những ngành khoa học mà
ở đó lịch sử là không quan trọng và có ít biến tố cá biệt vận hành hơn. Tuy
nhiên, người ta đã đề ra được những phương pháp luận thành công nhằm phân tích
các vấn đề lịch sử trong một vài lĩnh vực. Kết quả là lịch sử loài khủng long,
lịch sử các tinh vân và lịch sử các sông băng thường được coi như thuộc về khoa
học tự nhiên chứ không phải khoa học nhân văn. Song, khi nghĩ lại, ta sẽ thấu
suốt được nhiều điều về con đường [tiến hóa] của con người hơn gấp bội so với của
khủng long. Vì vậy tôi lạc quan rằng chúng ta có thể theo đuổi việc nghiên cứu
lịch sử xã hội loài người một cách mang tính khoa học cũng như nghiên cứu khủng
long, và qua đó có thể làm lợi cho xã hội chúng ta ngày nay bằng cách dạy cho
ta biết cái gì đã nhào nặn nên thế giới hiện đại, cái gì có thể sẽ nhào nặn nên
tương lai của chúng ta.
Jared Diamond
Theo https://thuvienonline.org/














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét