Thứ Tư, 17 tháng 9, 2025

Súng, vi trùng và thép 4

Súng, vi trùng và thép 4

Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 16 - Tại sao Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc

Nhập cư, chính sách ưu đãi thành phần thiểu số, đa ngôn ngữ, đa dạng sắc tộc – bang California của tôi đã từng nằm trong số những bang đi tiên phong trong các chính sách gây tranh cãi này, song hiện nay lại đang đi tiên phong trong việc phản đối kịch liệt các chính sách đó. Chỉ cần liếc vào các lớp học trường công nơi các con tôi đang học là có thể thấy những cuộc tranh cãi trừu tượng kia được cụ thể hóa ra sao qua gương mặt các học sinh. Các trẻ em này nói trên 80 thứ tiếng khi ở nhà, trong khi người da trắng nói tiếng Anh chỉ là thiểu số. Trong số bạn cùng lớp của các con tôi, bất cứ đứa nào cũng có ít nhất cha hoặc mẹ hoặc một trong các ông bà nội ngoại sinh ra ở ngoài nước Mỹ; ba trong số bốn ông bà của các con tôi cũng vậy. Nhưng sự nhập cư đó đơn giản là đang phục hồi lại sự đa dạng mà châu Mỹ từng có suốt hàng ngàn năm. Trước khi người châu Âu di cư đến, vùng nội địa Hoa Kỳ ngày nay đã là nơi sinh sống của hàng trăm bộ lạc người châu Mỹ bản địa nói hàng trăm thứ tiếng, và chỉ trong mấy trăm năm trở lại đây thì tất cả mới được quy lại dưới sự kiểm soát của một chính phủ duy nhất.
Về các phương diện đó thì Hoa Kỳ là một đất nước hết sức “bình thường”. Trong số sáu nước đông dân nhất thế giới thì đã có đến năm nước là những cái “nồi lẩu” và chỉ gần đây mới đạt tới sự thống nhất về chính trị, các nước này vẫn đang bao gồm hàng trăm ngôn ngữ và nhóm dân tộc. Chẳng hạn, nước Nga, vốn ban đầu chỉ là một nhà nước Xlavơ nhỏ bé tập trung ở Mátxcơva, mãi đến năm 1582 mới bắt đầu bành trướng ra ngoài dãy Ural. Từ đó cho tới thế kỷ XIX, nước Nga tiếp tục nuốt chửng hàng tá dân tộc phi Xlavơ khác, nhiều dân tộc trong số đó đến nay vẫn giữ được ngôn ngữ và bản sắc văn hóa của mình. Cũng như lịch sử nước Mỹ là lịch sử về việc một phần Bắc Mỹ bành trướng thành nước Mỹ, lịch sử nước Nga là lịch sử về việc nước Nga trở thành Nga. Ấn Độ, Indonesia và Brazil cũng là những thực thể chính trị vừa được thành tạo gần đây (hoặc trong trường hợp Ấn Độ là tái tạo), nơi đến ngày nay vẫn có lần lượt 850, 670 và 210 ngôn ngữ.
Trường hợp ngoại lệ lớn đối với quy luật “nồi lẩu” này là nước đông dân nhất thế giới – Trung Quốc. Ngày nay, ít nhất là đối với người bình thường, Trung Quốc là một thể nguyên khối về chính trị, văn hóa và ngôn ngữ. Trung Quốc được thống nhất về chính trị ngay từ năm 221 TCN và vẫn thống nhất như vậy trong hầu hết các thế kỷ từ đó đến giờ. Ngay từ buổi đầu của văn tự ở Trung Quốc, đất nước này luôn luôn chỉ có một hệ chữ viết duy nhất, trong khi châu Âu ngày nay sử dụng hàng tá bảng chữ cái được điều chỉnh. Trong số 1,2 tỷ người Trung Quốc, hơn 800 triệu người nói tiếng Quan thoại, thứ ngôn ngữ có đông người dùng như tiếng mẹ đẻ nhất trên thế giới. Khoảng 300 triệu người khác nói bảy ngôn ngữ khác khá giống tiếng Quan thoại và cũng khá giống nhau như tiếng Tây Ban Nha giống tiếng Ý vậy. Như vậy, không những Trung Quốc chẳng phải là một nồi lẩu, mà thậm chí sẽ là ngớ ngẩn nếu đi hỏi Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc như thế nào. Trung Hoa vốn dĩ đã là Trung Quốc hầu như ngay từ đầu lịch sử thành văn của nó.
Chúng ta đã quá quen coi sự thống nhất bề ngoài này của Trung Quốc là chuyện tự nhiên đến nỗi quên mất rằng [thực ra] điều đó lạ lùng đến nhường nào. Một nguyên nhân khiến chúng ta lẽ ra không nên lầm tưởng về sự thống nhất ấy là yếu tố di truyền. Tuy rằng lối phân loại chủng tộc thô thiển thường gộp chung toàn bộ người Trung Quốc vào cái gọi là chủng Mongoloid, song cái tiêu chí gọi là Mongoloid đó ẩn chứa nhiều sự khác biệt hơn cả những sự khác biệt giữa người Thụy Điển, người Ý và người Ailen trong phạm vi châu Âu. Đặc biệt, người Bắc Trung Quốc và người Nam Trung Quốc khác nhau khá rõ về di truyền cũng như ngoại hình: trong khi người Bắc Trung Quốc gần người Tây Tạng và người Nepal hơn cả thì người Nam Trung Quốc lại gần người Việt Nam và người Philippines. Tôi có những người bạn quê ở cả Bắc Trung Quốc lẫn Nam Trung Quốc, thường thì chỉ cần liếc qua ngoại hình là có thể phân biệt ai với ai rồi: người Bắc Trung Quốc thường cao hơn, nặng cân hơn, da sáng màu hơn, mũi nhọn hơn, mắt thì nhỏ hơn và có vẻ “xếch” hơn (do cái gọi là “nếp bán nguyệt” của họ).
Bắc Trung Quốc và Nam Trung Quốc cũng khác nhau về môi trường và khí hậu. Miền Bắc khô, lạnh hơn, miền Nam ẩm, nóng hơn. Những khác biệt di truyền nảy sinh trong các môi trường khác nhau đó gợi ý rằng đã từng có một sự cách ly vừa phải giữa các dân tộc ở Bắc Trung Quốc với các dân tộc ở Nam Trung Quốc. Vậy làm thế nào rốt cuộc các dân tộc đó vẫn có cùng những ngôn ngữ và văn hóa như nhau hoặc rất giống nhau?
Vẻ ngoài gần như thống nhất về ngôn ngữ của Trung Quốc cũng còn khó hiểu nếu ta tính đến sự phi thống nhất về ngôn ngữ ở các khu vực khác có người ở từ lâu đời trên thế giới. Chẳng hạn, ở chương trước ta đã thấy rằng New Guinea, với diện tích chưa bằng một phần mười diện tích Trung Quốc và chỉ với 40.000 năm lịch sử loài người, lại có đến hàng ngàn ngôn ngữ, trong đó có những nhóm ngôn ngữ mà sự khác biệt giữa chúng còn lớn hơn gấp bội so với những khác biệt giữa tám ngôn ngữ chính của Trung Quốc. Tây Âu đã tiến hóa hoặc tiếp thu được khoảng 40 ngôn ngữ chỉ trong vòng 6.000-8.000 năm kể từ khi các ngôn ngữ Ấn-Âu xâm nhập khu vực này, trong đó có những ngôn ngữ khác xa nhau như tiếng Anh, tiếng Phần Lan và tiếng Nga. Thế nhưng di tích hóa thạch cho thấy con người đã hiện diện ở Trung Quốc từ trên nửa triệu năm trước. Thế thì chuyện gì đã xảy ra với hàng ngàn ngôn ngữ khác xa nhau mà ắt hẳn đã phát sinh ở Trung Quốc trong suốt quãng thời gian dài đến vậy?
Những nghịch lý đó gợi ý rằng kể cả Trung Quốc cũng từng có thời rất đa dạng [về dân tộc và ngôn ngữ] như bất cứ nước đông dân nào khác hiện nay. Trung Quốc chỉ khác ở chỗ đã được thống nhất từ sớm hơn nhiều. Sự “Trung Quốc hóa” của đất nước này nằm ở chỗ nó đã đồng nhất hóa cả một khu vực rộng lớn, biến nó thành một “nồi lẩu” tụ cư ngay từ thời cổ đại, đã giành lấy vùng Đông Nam Á nhiệt đới từ các cư dân bản địa, và đã gây ảnh hưởng to lớn đến Nhật Bản, Triều Tiên và có thể cả Ấn Độ nữa. Vì vậy, lịch sử Trung Quốc cho ta chìa khóa để thấu hiểu lịch sử Đông Á. Chương này sẽ thuật lại Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc như thế nào.
Điểm xuất phát thuận tiện cho chúng ta là một bản đồ chi tiết về các ngôn ngữ của Trung Quốc (Hình 16.1). Chỉ cần liếc vào bản đồ này, tất cả những ai trong chúng ta xưa nay vẫn cho rằng Trung Quốc là một khối đồng nhất đều sẽ sáng mắt ra. Hóa ra rằng bên cạnh tám ngôn ngữ “lớn” của Trung Quốc – tiếng Quan thoại và bảy ngôn ngữ có họ hàng gần (thường được gọi chung là “tiếng Trung Hoa” cho đơn giản), mỗi ngôn ngữ có từ 11 triệu đến 800 triệu người nói – Trung Quốc còn có trên 130 ngôn ngữ “nhỏ”, nhiều ngôn ngữ trong số đó chỉ có dăm ngàn người nói. Tất cả các ngôn ngữ đó, dù “lớn” hay “nhỏ”, được chia thành bốn ngữ hệ, các ngữ hệ này khác nhau rất nhiều ở mức độ phân bố dày đặc hay thưa thớt.
Ở một cực là tiếng Quan thoại và các ngôn ngữ họ hàng của nó, các thứ tiếng này là phân hệ Trung Hoa của ngữ hệ Hán-Tạng vốn được phân bố đều từ Bắc xuống Nam Trung Quốc. Ta có thể đi bộ ngang qua Trung Quốc, từ Mãn Châu ở phía bắc xuống Vịnh Bắc bộ ở phía nam mà suốt quãng đường đó chỉ đi qua toàn những vùng nơi cư dân nói tiếng Quan thoại và các thứ tiếng họ hàng của nó như tiếng mẹ đẻ. Ba ngữ hệ khác thì phân bố tản mác, những người nói các ngôn ngữ này tập trung trong những “ốc đảo” mà bao quanh là cả một “biển” những người nói tiếng Trung Hoa và các ngữ hệ khác.
Phân bố đặc biệt manh mún là ngữ hệ Mèo-Dao (còn gọi là Hmông-Miến), gồm 6 triệu người nói chia thành khoảng năm ngôn ngữ mang những cái tên đầy màu sắc là Mèo Đỏ, Mèo Trắng (cũng gọi là Mèo Sọc), Mèo Đen, Mèo Xanh và Dao. Người nói tiếng Mèo-Dao sống trong hàng tá vùng nhỏ bị bao quanh tứ phía bởi những người nói ngôn ngữ thuộc ngữ hệ khác và phân tán trên một diện tích rộng tới nửa triệu dặm vuông, kéo dài từ Nam Trung Quốc tới tận Thái Lan. Hơn 100.000 người nói tiếng Mèo xuất thân từ Việt Nam đã mang theo ngữ hệ của mình đến nước Mỹ nơi người ta thường biết đến họ dưới một cái tên khác là người Hmông.
Một nhóm ngôn ngữ phân bố manh mún khác là ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) mà trong đó các ngôn ngữ được nhiều người sử dụng nhất là tiếng Việt và tiếng Campuchia (Khmer). 60 triệu người nói các thứ tiếng Nam Đảo phân bố rải rác từ Việt Nam ở phía đông đến bán đảo Mã Lai ở phía nam và miền bắc Ấn Độ ở phía tây. Ngữ hệ thứ tư và cuối cùng của Trung Quốc là ngữ hệ Thái-Kadai (trong đó có tiếng Thái và tiếng Lào) gồm 50 triệu người nói, phân bố từ Nam Trung Quốc về phía nam đến miền nam Thái Lan và về phía tây đến Myanmar (Hình 16.1).
Lẽ tự nhiên, những người nói tiếng Mèo-Dao ngày nay sống phân tán như vậy không phải vì ngày xưa họ đã đi máy bay trực thăng rồi lần lượt kẻ hạ cánh chỗ này người hạ cánh chỗ kia trên khắp cả châu Á. Thay vì vậy, ta có thể phỏng đoán rằng đã có thời họ sống tập trung hơn, chỉ về sau mới trở nên phân tán khi những người nói các ngữ hệ khác bành trướng đến hoặc lôi cuốn họ từ bỏ tiếng nói của mình. Trên thực tế, hầu hết quá trình phân mảnh ngôn ngữ đó đã diễn ra trong vòng 1.500 năm trở lại đây và được ghi nhận khá kỹ trong lịch sử. Tổ tiên những người nói tiếng Thái, Lào và Miến Điện ngày nay đều đã từ miền nam Trung Quốc và các khu vực lân cận di cư xuống vị trí hiện tại trong quá trình lịch sử, liên tục nuốt chửng những kẻ vốn là hậu duệ của những đợt di dân từ trước và đang định cư ở các vùng này. Những người nói các ngôn ngữ Trung Quốc đặc biệt mạnh mẽ trong việc chiếm chỗ các nhóm dân tộc khác – những kẻ mà họ khinh miệt coi là man di mọi rợ – và [buộc] họ phải chuyển sang dùng các ngôn ngữ Trung Quốc. Lịch sử thành văn của triều Chu Trung Quốc từ năm 1100 đến năm 221 TCN mô tả rõ việc các nhà nước nói tiếng Trung Hoa đã chinh phục và hấp thu hầu hết các quần thể dân cư không nói tiếng Trung Hoa ở Trung Quốc.

Hình 16.1: Bốn ngữ hệ của Trung Quốc và Đông Nam Á.
Hình 16.2: Các biên giới chính trị ngày nay ở Đông Á và Đông Nam Á, dùng để diễn giải sự phân bố các ngữ hệ đã trình bày trong Hình 16.1.
Ta có thể vận dụng một số kiểu lập luận để xây dựng lại tấm bản đồ ngôn ngữ của vùng Đông Á vào mấy ngàn năm trước. Trước hết, ta có thể đảo ngược những quá trình bành trướng ngôn ngữ mà người ta đã biết trong mấy ngàn năm trở lại đây. Thứ hai, ta có thể lập luận rằng: những khu vực mà ngày nay chỉ có một ngôn ngữ duy nhất, hoặc một khu vực rộng lớn và liên tục nơi chỉ có một nhóm ngôn ngữ có họ hàng với nhau chiếm lĩnh, là bằng chứng cho thấy sự bành trướng về ngôn ngữ của nhóm đó vào một thời điểm chỉ mới gần đây, nghĩa là chưa có đủ thời gian lịch sử để ngôn ngữ đó phân hóa thành nhiều ngôn ngữ. Cuối cùng, ta có thể lập luận ngược lại, rằng khu vực nào mà ngày nay có sự đa dạng cao về ngôn ngữ song tất cả đều nằm trong một ngữ hệ nhất định, thì khu vực đó nằm gần hơn với trung tâm phân bố ban đầu của ngữ hệ đó.
Dùng ba kiểu lập luận đó để quay ngược đồng hồ ngôn ngữ học, ta [có thể] kết luận rằng thoạt kỳ thủy Bắc Trung Quốc là nơi sinh sống của những người nói tiếng Trung Quốc và các ngôn ngữ Hán-Tạng khác; rằng các vùng ở Nam Trung Quốc từng là nơi cư trú của những người nói các ngôn ngữ Mèo-Dao, Nam Á (Austroasiatic) và Thái-Kadai; và rằng những người nói ngôn ngữ Hán-Tạng đã chiếm chỗ những người nói các ngữ hệ khác đó trên khắp Nam Trung Quốc. Một biến động còn mạnh mẽ hơn thế nữa ắt hẳn đã quét qua vùng Đông Nam Á nhiệt đới nằm về phía nam Trung Quốc – ở Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, Việt Nam và bán đảo Mã Lai. Dù [cư dân gốc của các vùng này] trước đó nói ngôn ngữ gì đi nữa, các ngôn ngữ đó ắt đã hoàn toàn biến mất, bởi tất cả các ngôn ngữ được sử dụng ở các nước đó ngày nay dường như đều là những ngôn ngữ được du nhập về sau, chủ yếu là từ Nam Trung Quốc hoặc – trong một ít trường hợp – từ Indonesia. Bởi các ngôn ngữ Mèo-Dao chật vật lắm mới tồn tại đến ngày nay, chúng ta có thể đoán rằng Nam Trung Quốc từng là nơi tồn tại của những ngữ hệ khác nữa ngoài các ngữ hệ Mèo-Dao, Nam Á và Thái-Kadai, song không một ngôn ngữ nào thuộc các ngữ hệ khác đó còn sống sót đến ngày nay. Như ta sẽ thấy, ngữ hệ Nam Đảo (mọi ngôn ngữ Philippines và ngôn ngữ Polynesia đều thuộc nhóm này) có thể là một trong các ngữ hệ đó – các ngữ hệ từng biến mất khỏi Trung Hoa đại lục, và chúng ta chỉ biết đến nhờ chúng đã bành trướng sang các đảo Thái Bình Dương và còn tồn tại ở đó đến ngày nay.
Việc nhóm ngôn ngữ này thay thế nhóm ngôn ngữ khác ở Đông Á trong lịch sử làm chúng ta nhớ lại sự bành trướng của các ngôn ngữ châu Âu, đặc biệt là tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha sang Tân Thế giới, nơi mà trước đó từng là quê hương của hơn một ngàn ngôn ngữ châu Mỹ bản địa hay hơn nữa. Qua lịch sử nước Mỹ gần đây, chúng ta biết rằng tiếng Anh đã thay thế các ngôn ngữ Anh-điêng bản địa chẳng phải vì người Anh-điêng thấy tiếng Anh nghe du dương hơn. Trên thực tế, tiếng Anh đã thay thế các ngôn ngữ Anh-điêng là bởi những kẻ di dân nói tiếng Anh đã giết hại hầu hết người Anh-điêng bằng cách gây chiến tranh, ám sát và đổ bệnh cho người Anh-điêng, và những người Anh-điêng sống sót đã buộc phải chấp nhận tiếng Anh, ngôn ngữ của kẻ đa số mới. Nguyên nhân trực tiếp của việc thay thế ngôn ngữ này là bởi những người châu Âu xâm lăng kia có ưu thế về công nghệ và tổ chức chính trị – mà về sâu xa là từ lợi thế xuất phát sớm hơn trong việc sản xuất lương thực – so với người châu Mỹ bản địa. Rõ ràng cũng chính những quá trình đó là nguyên nhân sâu xa khiến cho tiếng Anh đã thế chỗ các ngôn ngữ Australia bản địa và các ngôn ngữ Bantu đã thế chỗ các ngôn ngữ Pygmie và Khoisan nguyên thủy của châu Phi hạ xích đạo.
Do đó, những biến động về ngôn ngữ ở Đông Á đặt ra cho ta một câu hỏi tương ứng: cái gì đã khiến những người nói các ngôn ngữ Hán-Tạng có thể bành trướng từ Bắc Trung Quốc xuống Nam Trung Quốc còn những người nói các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Đảo và các ngữ hệ nguyên thủy khác ở Nam Trung Quốc bành trướng về phía nam vào Đông Nam Á nhiệt đới? Ở đây ta phải viện đến ngành khảo cổ để tìm bằng chứng cho thấy một số dân tộc châu Á đã từng có ưu thế trong công nghệ, chính trị và nông nghiệp so với các dân tộc châu Á khác.
Cũng như mọi nơi khác trên thế giới, tư liệu khảo cổ đối với hầu hết lịch sử loài người ở Đông Á chỉ phát lộ được dấu vết của những người săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá thô không đánh bóng và không có đồ gốm. Bằng chứng về một cái gì đó không phải như vậy đã phát sinh đầu tiên ở Trung Quốc, nơi mà di tích cây trồng, xương gia súc, đồ gốm và công cụ đá có đánh bóng (Đồ đá mới) đã xuất hiện vào khoảng 7.500 năm TCN. Niên đại ấy nằm trong khoảng một ngàn năm kể từ lúc khởi đầu Thời đại Đồ đá mới và buổi đầu nền sản xuất lương thực ở Lưỡi liềm Phì nhiêu. Song, vì có ít bằng chứng khảo cổ về những gì diễn ra ở Trung Quốc trong một ngàn năm trước đó, nên hiện nay ta không thể biết chắc liệu nguồn phát nguyên sản xuất lương thực Trung Quốc là đồng thời, sớm hơn hay muộn hơn chút ít so với Lưỡi liềm Phì nhiêu. Ít nhất ta có thể nói rằng Trung Quốc là một trong các trung tâm thuần hóa cây trồng và vật nuôi sớm nhất.
Trên thực tế, Trung Quốc có thể bao gồm hai nguồn phát nguyên sản xuất lương thực độc lập hay nhiều hơn nữa. Trước đây tôi đã nhắc tới sự khác biệt về sinh thái giữa miền bắc Trung Quốc khô, mát với miền nam Trung Quốc nóng, ẩm. Ở cùng một vĩ độ cũng vẫn có sự khác biệt sinh thái giữa vùng đất thấp ven biển với vùng cao nội địa. Mỗi môi trường như vậy có những loài cây dại khác nhau, nên các nhà nông sơ khai ở từng vùng của Trung Quốc hẳn đã có trong tay những loài cây dại khác nhau [để thuần hóa]. Trên thực tế, những loại cây trồng xưa nhất đã xác định được là hai giống kê chịu hạn ở Bắc Trung Quốc nhưng ở Nam Trung Quốc thì lại là cây lúa, điều này cho thấy có thể đã có hai trung tâm thuần hóa cây trồng riêng biệt ở Trung Quốc [thời tiền sử], một ở miền bắc và một ở miền nam.
Các di chỉ Trung Quốc nơi có bằng chứng xưa nhất về cây trồng cũng chứa cả xương các loài gia súc gồm lợn, chó và gà. Các loài gia súc và cây trồng này dần dần được bổ sung thêm nhiều loài thuần hóa khác của Trung Quốc. Trong các loài vật nuôi, trâu là loài quan trọng nhất (để kéo cày), còn các loài khác là tằm, vịt và ngỗng. Các loại cây trồng muộn hơn của Trung Quốc gồm có đậu nành, gai dầu, chanh, trà, mơ, đào và lê. Ngoài ra, cũng như trục đông-tây của Âu-Á cho phép nhiều loài trong số các vật nuôi và cây trồng đó của Trung Quốc có thể bành trướng về phía tây trong thời cổ đại, các loài thuần hóa của Tây Á cũng bành trướng về phía đông đến Trung Quốc và trở thành quan trọng ở đó. Những đóng góp đặc biệt quan trọng của Tây Á vào nền kinh tế Trung Quốc cổ đại là lúa mì và lúa mạch, bò và ngựa, và (ở mức độ thấp hơn) cừu và dê.
Cũng như mọi nơi khác trên thế giới, ở Trung Quốc nền sản xuất lương thực dần dần đưa tới những dấu hiệu đặc thù khác của “văn minh” mà ta đã đề cập tới ở Chương 11-14. Một truyền thống luyện kim màu ưu việt ở Trung Quốc đã khởi nguồn từ thiên niên kỷ thứ ba TCN và cuối cùng dẫn đến việc Trung Quốc đã tạo ra được sản phẩm bằng gang đầu tiên trên thế giới từ rất sớm, khoảng 500 năm TCN. Khoảng 1.500 năm sau đó đánh dấu sự ra đời ồ ạt nhiều phát minh công nghệ ở Trung Quốc mà ta đã đề cập ở Chương 13 trong đó có giấy, la bàn, xe cút kít và thuốc súng. Các thành thị được xây kiên cố xuất hiện vào thiên niên kỷ thứ ba TCN, với những nghĩa địa mà trong đó có sự khác biệt lớn lao giữa các ngôi mộ đơn sơ với những ngôi mộ được trang hoàng xa xỉ, cho thấy đã bắt đầu nảy sinh sự phân chia giai cấp. Bằng chứng về những xã hội có phân chia giai cấp, nơi các nhà lãnh đạo có thể huy động nhân lực to lớn của thường dân, có thể thấy rõ qua những bức tường bảo vệ thành thị cao ngất ngưởng, những cung điện nguy nga và cuối cùng là con Kênh Lớn (con kênh dài nhất thế giới dài trên 1.600 km) nối liền Bắc Trung Quốc với Nam Trung Quốc. [Di tích xưa nhất về] chữ viết còn lại từ thiên niên kỷ thứ hai TCN song chữ viết có lẽ đã phát sinh sớm hơn. Kiến thức khảo cổ của chúng ta về những thành thị và nhà nước ra đời ở Trung Quốc thời kỳ này được bổ sung bởi các văn bản của những triều đại đầu tiên của Trung Quốc mà xưa nhất là nhà Hạ ra đời từ khoảng 2.000 năm TCN.
Còn về sản phẩm phụ tai hại của nền sản xuất lương thực là các bệnh truyền nhiễm, ta không thể chỉ ra chính xác các căn bệnh chính có nguồn gốc Cựu Thế giới đã nảy sinh ở những nơi nào của Cựu Thế giới. Tuy nhiên, các văn bản của châu Âu từ thời La Mã và thời trung cổ có thuật lại những trận dịch hạch và có thể cả đậu mùa từ phương đông đến, vì vậy các vi trùng đó có thể có nguồn gốc từ Trung Quốc hoặc Tây Á. Bệnh cúm (phát sinh từ lợn) còn có khả năng đã ra đời từ Trung Quốc sớm hơn thế nữa, bởi lợn đã được thuần hóa rất sớm và trở nên một loài vật nuôi quan trọng đến vậy ở khu vực này.
Quy mô rộng lớn và sự đa dạng về sinh thái của Trung Quốc đã khiến nảy sinh nhiều nền văn hóa địa phương riêng biệt, có thể phân biệt rõ về mặt khảo cổ qua những đồ gốm và vật phẩm thuộc nhiều phong cách khác nhau. Vào thiên niên kỷ thứ tư TCN các nền văn hóa địa phương đó đã bành trướng về địa lý và bắt đầu tiếp xúc, cạnh tranh với nhau và hợp nhất vào nhau. Cũng như sự trao đổi các loài thuần hóa giữa những khu vực khác nhau về sinh thái đã làm phong phú nền sản xuất lương thực của Trung Quốc, sự trao đổi giữa các khu vực khác nhau về văn hóa đã làm nền văn hóa và công nghệ Trung Quốc thêm phong phú, còn sự cạnh tranh khốc liệt giữa các tù trưởng quốc luôn giao tranh với nhau đã dẫn đến sự hình thành những nhà nước còn lớn hơn và tập trung hơn (Chương 14).
Tuy trục bắc-nam của Trung Quốc cũng kìm hãm sự phát tán các loại cây trồng, song rào cản này không nghiêm trọng như ở châu Mỹ hay châu Phi, bởi khoảng cách bắc nam của Trung Quốc nhỏ hơn và bởi Trung Quốc không bị sa mạc chia cắt như châu Phi hay phía bắc Mexico, cũng không bị một eo đất hẹp ngăn đôi như Trung Mỹ. Thay vì vậy, các dòng sông dài theo trục đông-tây (Hoàng Hà ở phía bắc, Dương Tử ở phía nam) giúp cây trồng và công nghệ có thể phát tán dễ dàng từ duyên hải vào nội địa và ngược lại, trong khi khoảng cách lớn giữa đông-tây và địa hình tương đối thoải không chỉ cho phép hai hệ thống sông lớn đó có thể nối với nhau bằng các con kênh mà còn tạo điều kiện cho sự trao đổi giữa miền nam và miền bắc. Tất cả các nhân tố địa lý này đã góp phần làm Trung Quốc sớm thống nhất về văn hóa và chính trị, trong khi miền tây châu Âu vốn cũng có diện tích tương tự nhưng địa hình lại hiểm trở hơn và không có các con sông nối liền nhau thì đã cưỡng lại sự thống nhất về văn hóa và chính trị cho mãi đến ngày nay.
Một số kỹ thuật đã bành trướng từ nam đến bắc ở Trung Quốc, đặc biệt là nấu quặng sắt và trồng lúa. Nhưng hướng bành trướng chính vẫn là từ bắc xuống nam. Xu hướng ấy rõ nhất là ở chữ viết: ngược lại với phía tây lục địa Âu-Á nơi đã ra đời một loạt các hệ chữ viết đầu tiên như chữ hình nêm Sumer, chữ tượng hình Ai Cập, các bảng chữ cái Hittite, Minoan và Semitic, Trung Quốc chỉ tạo nên một hệ chữ viết duy nhất có chứng cứ vững chắc. Hệ chữ viết đó được hoàn thiện ở Bắc Trung Quốc, bành trướng xuống phía nam và ngăn chặn hay đoạt mất cơ hội ra đời của các hệ chữ viết khác đang còn trong trứng nước, để rồi tiến hóa thành hệ chữ viết vẫn đang được dùng ở Trung Quốc ngày nay. Những đặc trưng chính khác của các xã hội Bắc Trung Quốc bành trướng xuống phía nam là kỹ nghệ đồng thiếc, các ngôn ngữ Hán-Tạng và sự hình thành nhà nước. Toàn bộ ba triều đại đầu tiên của Trung Quốc – nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu – đều nảy sinh ở Bắc Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai TCN.
Các văn bản từ thiên niên kỷ đầu tiên TCN còn lại đến nay cho thấy, ngay từ thời đó người Trung Quốc gốc Hán (nhiều người Trung Quốc ngày nay vẫn còn như vậy) đã có xu hướng coi mình là ưu việt hơn về văn hóa so với những kẻ “man di” không phải người Trung Quốc, trong khi người Bắc Trung Quốc thậm chí có xu hướng coi ngay cả người Nam Trung Quốc là mọi rợ man di. Chẳng hạn, một tác giả vào cuối thời nhà Chu vào thiên niên kỷ thứ nhất TCN đã mô tả các dân tộc khác của Trung Quốc như sau: “Dân ở năm vùng đó – các nước vùng giữa và các bộ tộc Nhung, Di và những bộ tộc man di khác xung quanh – có một số đặc tính riêng không thể nào thay đổi được. Các bộ tộc phía đông gọi là Di. Họ để tóc xõa xượi (không buộc) và xăm khắp người. Một số còn ăn đồ ăn không nấu bằng lửa”. Tác giả đời nhà Chu này tiếp tục mô tả các bộ tộc khác ở phía nam, tây và bắc Trung Quốc như những kẻ thích thú những tập quán cũng mọi rợ y như vậy, tỉ như đi mà hai bàn chân quặp vào trong, xăm trên trán, mặc da [thú?], sống trong hang, không ăn ngũ cốc và – dĩ nhiên – ăn đồ sống.
Các nhà nước do nhà Chu của Bắc Trung Quốc lập ra hoặc theo mô hình của nhà Chu đã bành trướng về Nam Trung Quốc trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất TCN mà đỉnh điểm là sự thống nhất Trung Quốc về chính trị dưới đời nhà Tần vào năm 221 TCN. Sự thống nhất văn hóa của Trung Quốc cũng tăng tốc trong cùng thời kỳ đó, bởi các nhà nước Trung Quốc “văn minh” hấp thụ các bộ tộc “dã man” vào mình hoặc trở thành mẫu mực cho các bộ tộc đó sao chép. Có những lúc sự thống nhất văn hóa đó diễn ra một cách tàn khốc: vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tần – Tần Thủy Hoàng – buộc tội hết thảy sử sách được viết ra trước đó đều là vô giá trị và hạ lệnh đem đốt hết, gây tổn thất lớn lao cho tri thức của chúng ta ngày nay về lịch sử và chữ viết Trung Quốc thời kỳ đầu. Những biện pháp tàn bạo như vậy ắt đã góp phần khiến cho các ngôn ngữ Hán-Tạng bành trướng ra hầu hết Trung Quốc, trong khi ngữ hệ Mèo-Dao và các ngữ hệ khác thì bị co hẹp lại thành những vùng phân bố manh mún như ngày nay.
Trong phạm vi Đông Á, lợi thế xuất phát trước của Trung Quốc trong lĩnh vực sản xuất lương thực, công nghệ, chữ viết và hình thành nhà nước đã dẫn đến hệ quả là những cách tân của Trung Quốc cũng đóng góp lớn lao vào những sự phát triển ở các khu vực láng giềng. Chẳng hạn, cho đến thiên niên kỷ thứ tư TCN hầu hết Đông Nam Á nhiệt đới vẫn còn là nơi sinh sống của những dân săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá cuội và đá phiến thuộc cái gọi là truyền thống Hòa Bình, đặt theo tên của vùng Hòa Bình ở Việt Nam. Từ đó trở đi, các cây trồng có gốc từ Trung Quốc, công nghệ Đồ đá mới, lối sống theo làng xã và đồ gốm tương tự như của Nam Trung Quốc mới bành trướng xuống Đông Nam Á nhiệt đới, đi kèm theo đó có thể là các ngữ hệ Nam Trung Quốc. Những sự bành trướng trong lịch sử của người Miến Điện, người Lào và người Thái từ Nam Trung Quốc về phía nam đã hoàn tất quá trình Hán hóa vùng Đông Nam Á nhiệt đới. Mọi dân tộc ở khu vực đó ngày nay đều là hậu duệ gần của những người anh em Nam Trung Quốc.
Sức mạnh áp đảo đó của Trung Quốc khủng khiếp đến nỗi các dân tộc từng có mặt ở Đông Nam Á nhiệt đới từ trước đó đã chẳng để lại được bao nhiêu dấu vết của mình ở cư dân khu vực đó ngày nay. Chỉ có ba nhóm săn bắt hái lượm còn sót lại – người Semang Negrito ở bán đảo Mã Lai, cư dân đảo Andaman và người Veddoid Neggito ở Sri Lanka – gợi cho ta nghĩ rằng những cư dân Đông Nam Á nhiệt đới xưa kia [trước khi các bộ tộc có gốc từ Nam Trung Quốc bành trướng xuống] có thể da màu thẫm và tóc xoăn như người New Guinea ngày nay chứ không da sáng, tóc thẳng như người Nam Trung Quốc và cư dân Đông Nam Á nhiệt đới vốn là hậu duệ của họ. Số người Negrito ít ỏi còn lại ở Đông Nam Á có thể là những kẻ cuối cùng sống sót từ những dân tộc đã từng đi thực dân hóa New Guinea. Những người Semang Negrito vẫn sống theo lối săn bắt hái lượm và trao đổi với các nông dân láng giềng nhưng lại tiếp thu một ngôn ngữ Nam Á từ các nhà nông đó, cũng như người săn bắt hái lượm Negrito ở Philippines và người Pygmy ở châu Phi đã tiếp thu ngôn ngữ từ các nhà nông mà họ có quan hệ trao đổi. Chỉ ở các hòn đảo Andaman xa xôi, các ngôn ngữ không có quan hệ gì với các ngữ hệ Nam Trung Quốc mới còn lại đến ngày nay – đó là những mảnh ngôn ngữ cuối cùng còn sót lại từ hàng trăm ngôn ngữ Đông Nam Á bản địa mà ngày nay đã hoàn toàn biến mất.
Thậm chí cả Triều Tiên và Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc cho dù nhờ vị trí địa lý tách biệt mà các nước này đã không đánh mất ngôn ngữ hoặc các đặc điểm về ngoại hình và di truyền khác biệt của mình như các dân tộc Đông Nam Á nhiệt đới. Triều Tiên và Nhật Bản tiếp thu gạo từ Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai TCN, nghề luyện đồng thiếc vào trước thiên niên kỷ thứ nhất TCN và chữ viết vào thiên niên kỷ thứ nhất CN. Trung Quốc cũng chuyển giao lúa và lúa mạch của vùng Tây Á cho Triều Tiên và Nhật Bản.
Tuy nhìn nhận Trung Quốc có vai trò hạt giống trong nền văn minh Đông Á, song chúng ta không nên phóng đại. Không phải bất kỳ tiến bộ văn hóa nào ở Đông Á cũng đều bắt nguồn từ Trung Quốc, cũng không phải người Triều Tiên, người Nhật Bản và người Đông Nam Á nhiệt đới đều là những kẻ dã man không có óc phát minh và không hề đóng góp được gì. Người Nhật cổ đại đã tạo ra được một trong những loại đồ gốm xưa nhất thế giới và tuy sống bằng săn bắt hái lượm nhưng đã định cư thành làng mạc nhờ có nguồn hải sản dồi dào của Nhật từ lâu trước khi sản xuất lương thực du nhập vào đất nước này. Một số loại cây trồng có thể đã được thuần hóa đầu tiên hoặc một cách độc lập ở Triều Tiên, Nhật Bản và Đông Nam Á nhiệt đới.
Song dù vậy vai trò của Trung Quốc vẫn rất lớn lao. Chẳng hạn, vị thế của văn hóa Trung Quốc ở Triều Tiên và Nhật Bản vẫn còn lớn đến mức Nhật Bản chưa bao giờ nghĩ đến việc từ bỏ hệ chữ viết có nguồn gốc từ Trung Quốc mặc dù thứ chữ đó bộc lộ nhiều nhược điểm trong việc thể hiện ngôn ngữ Nhật, trong khi Triều Tiên mãi mới gần đây mới chịu thay thế thứ chữ viết rườm rà có nguồn gốc từ Trung Quốc bằng bảng chữ cái han’gul tài tình của mình. Sự tồn tại dai dẳng đó của chữ viết Trung Quốc ở Triều Tiên và Nhật Bản là di sản sống động vào thế kỷ 20 của sự thuần hóa cây trồng và vật nuôi ở Trung Quốc gần 10.000 năm trước. Nhờ những thành tựu của các nhà nông đầu tiên ở Tây Á mà Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc và các dân tộc từ Thái Lan đến đảo Phục Sinh (như ta sẽ thấy ở chương sau) đã trở thành anh em của họ.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 17 - Tàu tốc hành đến Polynesia

Với tôi, lịch sử các đảo Thái Bình Dương từng được tóm lược trong một sự kiện thế này: tôi cùng ba người bạn Indonesia đi vào một cửa hiệu ở Jayapura, thủ đô của New Guinea thuộc Indonesia. Tên các bạn tôi là Achmad, Wiwor và Sauakari, còn chủ cửa hiệu tên là Ping Wah. Achmad, một viên chức chính phủ Indonesia, hành xử như ông chủ, bởi ông ta và tôi đang tổ chức một cuộc nghiên cứu sinh thái cho chính phủ và đã thuê Wiwor cùng Sauakari làm trợ lý tại chỗ. Nhưng Achmad chưa bao giờ đến vùng rừng núi New Guinea và không hề biết phải mua cái gì dự trữ. Kết quả thật khôi hài.
Đúng lúc các bạn tôi bước vào cửa hiệu, Ping Wah đang đọc một tờ báo tiếng Trung Quốc. Thấy Wiwor và Sauakari, ông ta vẫn tiếp tục đọc, nhưng vừa nhác thấy Achmad là ông ta liền lật đật dúi tờ báo xuống dưới quầy. Achmad nhặt một cái đầu rìu lên làm Wiwor và Sauakari cười ngất vì ông ta chúc ngược đầu rìu xuống. Wiwor và Sauakari bèn chỉ cho ông ta thấy phải cầm thế nào mới đúng để thử. Sau đó Achmad và Sauakari nhìn xuống cặp chân trần của Wiwor, ngón chân chõe hết ra bởi suốt đời không hề biết giày dép là gì. Sauakari nhặt đôi giày to nhất có trong hiệu đặng ướm vào chân Wiwor song đôi giày vẫn quá chật, lại khiến Achmad, Sauakari và Ping Wah cười lăn lộn. Achmad cầm lấy một cái lược nhựa rồi chải mái tóc thẳng, cứng và đen của mình. Liếc qua bộ tóc xoăn tít rắn câng của Wiwor, ông ta liền đưa lược cho Wiwor. Cái lược lập tức dính chặt vào tóc Wiwor, và ngay khi Wiwor cầm lược mà kéo thì lược gãy đôi ngay. Ai cũng cười, kể cả Wiwor. Wiwor đáp trả bằng cách nhắc Achmad rằng ông ta nên mua nhiều gạo bởi lên tới các làng vùng núi ở New Guinea thì sẽ chẳng có gì mua ngoại trừ khoai lang mà món đó thì sẽ làm Achmad sôi ruột – rồi sẽ vui lắm đây.
Mặc dù ai nấy cười nghiêng ngả, tôi vẫn cảm thấy có một sự căng thẳng ẩn đằng sau. Achmad là người Java, Ping Wah là người Trung Quốc, Wiwor là dân vùng cao New Guinea, còn Sauakari là dân vùng đất thấp duyên hải phía bắc New Guinea. Người Java thống trị chính phủ Indonesia, cái nhà nước đã sáp nhập vùng tây New Guinea vào Indonesia vào thập niên 1960 và đã dùng bom, súng máy nghiền nát các lực lượng New Guinea kháng cự. Về sau Achmad quyết định nán lại thị trấn, để tôi tiến hành nghiên cứu một mình cùng với Wiwor và Sauakari. Ông ta giải thích tại sao mình quyết định vậy bằng cách chỉ lên mái tóc thẳng, cứng của mình, khác xa tóc người New Guinea, rồi bảo rằng người New Guinea sẽ giết chết bất cứ ai có bộ tóc như vậy nếu họ tóm được anh ta ở nơi ngoài tầm hỗ trợ của quân đội.
Ping War đã giấu tờ báo đi bởi trên danh nghĩa việc du nhập chữ Trung Quốc vào New Guinea thuộc Indonesia là bất hợp pháp. Trên hầu khắp Indonesia, giới thương nhân đều là dân Trung Quốc nhập cư. Nỗi e ngại lẫn nhau giữa người Trung Quốc thống trị về kinh tế và người Java thống trị về chính trị vốn đã tiềm tàng từ lâu, đến năm 1966 thì bùng lên thành một cuộc cách mạng đẫm máu khi người Java tàn sát hàng trăm ngàn người Trung Quốc. Wiwor và Sauakari giống nhau ở chỗ, cũng như hầu hết những người New Guinea khác, đều oán ghét sự độc tài của người Java, nhưng họ cũng lại còn khinh khi nhau nữa. Dân vùng cao coi dân vùng thấp là lũ hết hơi chẳng biết ăn gì ngoài khoai sọ còn dân vùng thấp khinh dân vùng cao là bọn đầu to mọi rợ, cả vì bộ tóc to sù xoăn tít lẫn thói kiêu căng khét tiếng của dân này. Khi tôi dựng một trại biệt lập trong rừng cùng với Wiwor và Sauakari, chỉ trong vòng mấy hôm mà họ suýt nữa đã dùng rìu choảng nhau.
Những căng thẳng giữa các nhóm dân cư mà Achmad, Wiwor, Sauakari và Ping Wah là đại diện [là nhân tố] chi phối nền chính trị ở Indonesia, nước đông dân thứ tư thế giới. Những căng thẳng đó trong thời đại ngày nay có cội rễ sâu xa từ hàng ngàn năm trước. Mỗi khi nghĩ đến những luồng di dân lớn vượt biển, ta thường tập trung vào những luồng di dân từ sau khi Columbus phát hiện ra châu Mỹ và việc từ đó trở đi người châu Âu chiếm lấy lãnh thổ của những người không phải châu Âu trong các thời kỳ lịch sử. Thật ra còn có những luồng di dân lớn vượt biển khác từ rất lâu trước thời của Columbus, đã từng có việc những dân tộc phi châu Âu này chiếm lấy đất đai của những dân tộc phi châu Âu khác. Wiwor, Achmad và Sauakari đại diện cho ba làn sóng người tiền sử đã từ nội địa châu Á di cư sang Thái Bình Dương. Những người vùng cao như Wiwor có lẽ đã xuất phát từ một làn sóng di cư xa xưa từ châu Á đến định cư ở New Guinea từ hơn 40.000 năm trước. Tổ tiên của Achmad đã từ miền duyên hải Nam Trung Quốc đặt chân đến Java vào khoảng 4.000 năm trước, hoàn tất việc giành chỗ những người vốn có liên hệ với tổ tiên của Wiwor ở vùng này. Tổ tiên của Sauakari thì đặt chân đến New Guinea vào khoảng 3.600 năm trước như một phần của chính làn sóng di cư đó từ miền duyên hải Nam Trung Quốc, trong khi tổ tiên của Wing Pah hiện vẫn đang chiếm cứ Trung Hoa.
Dòng di dân đã đưa tổ tiên của Achmad đến Java và tổ tiên của Sauakari đến New Guinea, được mệnh danh là cuộc bành trướng Nam Đảo, là một trong những dòng di dân lớn nhất trong 6.000 năm trở lại đây. Một nhánh của nó trở thành người Polynesia đến sinh sống ở các đảo xa xôi trên Thái Bình Dương và là những người đi biển cừ khôi nhất trong số các dân tộc Thời đại Đồ đá mới. Các ngôn ngữ Nam Đảo ngày nay vẫn còn được dùng như tiếng mẹ đẻ ở khắp hơn một nửa chu vi thế giới, từ Madagascar đến đảo Phục Sinh. Trong cuốn sách này, những luồng di dân kể từ cuối các Thời đại Băng hà, [cái gọi là] cuộc bành trướng Nam Đảo chiếm một vị trí trung tâm, như một trong các hiện tượng quan trọng nhất cần được lý giải. Tại sao chính những người Nam Đảo, thoạt kỳ thủy vốn xuất thân từ nội địa Trung Quốc, đã di cư sang Java và phần còn lại của Indonesia và thay thế những cư dân nguyên thủy ở đó, chứ không phải người Indonesia di cư đến Trung Quốc và thay thế người Trung Quốc? Sau khi đã chiếm lĩnh toàn bộ Indonesia, tại sao người Nam Đảo lại không chiếm lĩnh được gì thêm ngoài một rẻo duyên hải hẹp của vùng đất thấp New Guinea, và tại sao họ đã hoàn toàn không thể đánh bật được dân tộc của Wiwor ra khỏi các vùng cao New Guinea? Hậu duệ của các di dân từ Trung Quốc đã chuyển hóa thành người Polynesia như thế nào?
Ngày nay dân số Java, hầu hết các đảo Indonesia khác (ngoại trừ các đảo ở cực đông) và Philippines tương đối đồng nhất. Về ngoại hình và di truyền, các cư dân đảo này tương tự với người Nam Trung Quốc, thậm chí còn gần dân Đông Nam Á nhiệt đới, nhất là dân bán đảo Mã Lai hơn nữa. Ngôn ngữ của họ cũng đồng nhất y như vậy: mặc dù có tới 374 ngôn ngữ được dùng ở Philippines cũng như tây và trung Indonesia nhưng tất cả các ngôn ngữ đó đều có quan hệ gần gũi nhau và nằm trong cùng một ngữ hệ con (Tây Mã Lai-Polynesia) thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Các ngôn ngữ Nam Đảo vươn đến tận nội địa châu Á trên bán đảo Mã Lai và vài nhóm nhỏ ở Việt Nam, Campuchia, gần các đảo cực tây Indonesia là Sumatra và Borneo, nhưng không hề xuất hiện ở đâu khác trong nội địa (Hình 17.1). Một số từ Nam Đảo được tiếng Anh vay mượn như “taboo” (điều húy kỵ) và “tattoo” (xăm mình) (từ một ngôn ngữ Polynesia), “boondocks” (chốn hoang sơ, xa chỗ văn minh) mượn từ một ngôn ngữ Tagalog của Philippines, “amok” (điên rồ, không kiểm soát được), “batik” (loại vải truyền thống sặc sỡ của Indonesia và Malaysia) và “oranggutan” (đười ươi) (từ tiếng Mã Lai).
Hình 17.1: Ngữ hệ Nam Đảo bao gồm bốn ngữ hệ con, ba trong số đó chỉ bó hẹp ở Đài Loan, còn một (Mã Lai-Polynesia) thì phổ biến rộng. Ngữ hệ con ngày đến lượt mình lại bao gồm hai ngữ hệ “cháu” là Tây Mã Lai-Polynesia (W-M-P, West Malayo-Polynesia) và Trung Mã Lai-Polynesia (C-E-M-P, Central Malayo-Polynesia). Ngữ hệ cháu C-E-M-P đến lượt nó lại chia thành bốn ngữ hệ “chắt”, gồm ngữ hệ Đại dương (Oceanic) rất phổ biến về phía Đông và ba ngữ hệ khác phân bố về phía Tây ở một khu vực nhỏ hơn nhiều gồm Halmahera, các đảo gần phía Đông Indonesia và chỏm cực Tây của New Guinea.
Sự đồng nhất đó về di truyền và ngôn ngữ của Indonesia và Philippines thoạt tiên cũng khiến người ta kinh ngạc như sự đồng nhất về ngôn ngữ ở Trung Quốc. Các hóa thạch lừng danh Homo erectus ở Java chứng minh rằng con người từng chiếm cứ ít nhất là vùng tây Indonesia trong suốt một triệu năm. Chừng đó là quá đủ thời gian để con người có thể tiến hóa một sự đa dạng về di truyền và ngôn ngữ cũng như phát triển để thích nghi với vùng nhiệt đới, chẳng hạn như da thẫm như nhiều dân tộc vùng nhiệt đới khác, thế nhưng người Indonesia và người Philippines thì da lại sáng.
Cũng lạ rằng người Indonesia và người Philippines lại giống người Đông Nam Á nhiệt đới và người Nam Trung Quốc đến thế, cả ở những đặc điểm thể chất khác ngoài màu da sáng và gen di truyền. Chỉ cần liếc qua bản đồ, ta sẽ thấy một điều hiển nhiên rằng Indonesia là con đường duy nhất để con người có thể đến được New Guinea và Australia vào 40.000 năm trước, nên người ta có thể suy ra một cách ngây thơ rằng người Indonesia hiện đại ắt phải giống người New Guinea hay người Australia bản địa mới phải. Trên thực tế, ở Philippines hay khu vực tây Indonesia chỉ có một vài nhóm dân cư là giống người New Guinea, đáng chú ý là người Negrito sống ở vùng núi Philippines. Cũng giống như ba nhóm dân khác trông giống người New Guinea mà tôi đã nhắc tới khi nói về Đông Nam Á nhiệt đới (Chương 16), người Negrito ở Philippines có thể là tàn dư còn sót lại của những cư dân vốn là tổ tiên dân tộc của Wiwor trước khi họ đặt chân tới New Guinea. Ngay cả những người Negrito đó cũng nói ngôn ngữ Nam Đảo tương tự như ngôn ngữ của người Philippines láng giềng, cho thấy rằng kể cả họ nữa (cũng như người Semang Negrito ở Malaysia và người Pygmy ở châu Phi) đã đánh mất ngôn ngữ nguyên thủy của mình.
Tất cả các sự kiện đó nói lên mạnh mẽ rằng rằng hoặc người Đông Nam Á nhiệt đới hoặc người Nam Trung Quốc sử dụng ngôn ngữ Nam Đảo đã bành trướng qua suốt Philippines và Indonesia vào một thời kỳ gần đây, giành chỗ toàn bộ cư dân đã sinh sống từ trước đó trên các đảo này – ngoại trừ người Negrito ở Philippines – đồng thời thay thế toàn bộ các ngôn ngữ đã tồn tại từ trước đó ở các đảo này. Sự kiện đó rõ ràng đã diễn ra rất gần đây, đến nỗi những kẻ thực dân đó không có đủ thời gian để tiến hóa được màu da thẫm, những ngữ hệ khác biệt, hay sự đa dạng hoặc khác biệt về di truyền. Các ngôn ngữ của họ dĩ nhiên là nhiều hơn gấp bội về số lượng so với tám ngôn ngữ chính của người Trung Quốc ở nội địa Trung Quốc, song không hề đa dạng hơn. Sở dĩ ở Philippines và Indonesia có lắm ngôn ngữ tương tự nhau đến vậy chỉ là do các đảo này chưa bao giờ trải qua một sự thống nhất về chính trị và văn hóa như Trung Quốc.
Các chi tiết phân bố ngôn ngữ cho ta những then chốt quý giá đặng có thể lần theo con đường bành trướng Nam Đảo giả định này. Toàn bộ ngữ hệ Nam Đảo bao gồm 959 ngôn ngữ chia thành bốn ngữ hệ con. Nhưng một trong các ngữ hệ con đó, nhóm Mã Lai-Polynesia, chiếm đến những 945 trong số 959 ngôn ngữ đó và trải rộng hầu như khắp toàn bộ phạm vi địa lý của ngữ hệ Nam Đảo. Trước khi diễn ra sự di cư vượt đại dương của những người châu Âu nói ngôn ngữ Ấn-Âu thì ngữ hệ Nam Đảo là ngữ hệ được phân bố rộng nhất trên thế giới. Điều đó gợi ý rằng ngữ hệ con Mã Lai-Polynesia chỉ gần đây mới tách khỏi ngữ hệ Nam Đảo và bành trướng xa ra khỏi quê hương Nam Đảo, làm phát sinh nhiều ngôn ngữ địa phương mà tất cả đều vẫn có họ hàng gần gũi với nhau bởi chúng có quá ít thời gian không đủ để phát triển được những khác biệt lớn về ngôn ngữ. Còn quê nhà Nam Đảo ấy nằm ở đâu thì chúng ta không nên nhìn về phía ngữ hệ con Mã Lai-Polynesia mà phải xét tới ba ngữ hệ con Nam Đảo còn lại, chúng khác nhau và khác nhóm Mã Lai-Polynesia một cách đáng kể hơn nhiều so với sự khác biệt giữa các nhóm nhỏ hơn trong nhóm Mã Lai-Polynesia với nhau.
Hóa ra cả ba ngữ hệ con đó đều có sự phân bố trùng khớp, cả ba đều được phân bố trên quy mô rất nhỏ bé so với quy mô phân bố của nhóm Mã Lai-Polynesia. Chúng chỉ bó hẹp ở các thổ dân bản địa đảo Đài Loan, chỉ cách Trung Hoa lục địa 90 dặm (hơn 140 km). Thổ dân đảo Đài Loan đã “một mình một cõi” làm chủ hòn đảo này mãi tới khi người Trung Quốc đại lục bắt đầu di cư đến với quy mô lớn trong một ngàn năm trở lại đây. Sau năm 1945 thì lại càng có nhiều người đại lục khác di cư đến Đài Loan, nhất là sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh bại Quốc dân Đảng vào năm 1949, khiến cho dân bản địa hiện nay chỉ còn chiếm 2% dân số Đài Loan. Việc ba trong bốn ngữ hệ con Nam Đảo tập trung ở Đài Loan gợi ý rằng, trong phạm vi Nam Đảo hiện nay, Đài Loan chính là quê hương nơi các ngôn ngữ Nam Đảo đã được sử dụng trong hầu hết lịch sử và do đó đã có đủ thời gian cần thiết để trở nên đa dạng [tiến hóa thành các ngôn ngữ khác nhau, ND]. Nếu đúng vậy thì mọi ngôn ngữ Nam Đảo khác, từ các ngôn ngữ Madagascar cho tới các ngôn ngữ trên đảo Phục Sinh, hẳn đã bắt nguồn từ một nhóm dân cư từ Đài Loan bành trướng ra các khu vực đó.
Giờ ta có thể quay lại các bằng chứng khảo cổ. Mặc dù di tích còn lại của các ngôi làng cổ không bao gồm những từ ngữ hóa thạch cùng xương thú và đồ gốm, song chúng vẫn tiết lộ cho ta về những dòng di dân và dòng di chuyển vật phẩm văn hóa mà ắt hẳn có cả ngôn ngữ đi kèm. Cũng như phần còn lại của thế giới, hầu hết địa vực Nam Đảo ngày nay – Đài Loan, Philippines, Indonesia và nhiều hòn đảo Thái Bình Dương – vốn là nơi sinh sống của những người săn bắt hái lượm không có đồ gốm, không có công cụ bằng đá đánh bóng, không có vật nuôi và cây trồng thuần hóa. (Ngoại lệ duy nhất đối với kết luận chung này là những hòn đảo Madagascar xa xôi phía đông Melanesia, Polynesia và Micronesia, nơi những người săn bắt hái lượm chưa bao giờ đặt chân tới và vẫn là vùng đất không người cho đến khi người Nam Đảo bành trướng đến). Những dấu hiệu khảo cổ đầu tiên về một cái gì không như vậy trong địa vực Nam Đảo là ở Đài Loan. Bắt đầu từ khoảng thiên niên kỷ thứ tư TCN, những công cụ đá đánh bóng và một phong cách đồ gốm trang trí đặc thù (gọi là đồ gốm Ta-p’en-k’eng) có xuất xứ từ đồ gốm xưa hơn ở vùng nội địa Nam Trung Quốc đã xuất hiện ở Đài Loan và vùng ven biển đối diện thuộc Trung Quốc đại lục. Di tích gạo và kê ở các di chỉ Đài Loan muộn hơn cho bằng chứng là đã có nghề nông ở vùng này.
Các di chỉ Ta-p’en-k’eng ở Đài Loan và miền duyên hải Nam Trung Quốc đều đầy xương cá và vỏ động vật thân mềm, cũng như chì lưới bằng đá và rìu lưỡi vòm thích hợp để đẽo xuồng gỗ. Rõ ràng là cư dân đầu tiên từ thời Đồ đá mới này ở Đài Loan đã có những phương tiện đi biển đủ để đánh bắt cá xa bờ và thường xuyên qua lại giữa Đài Loan với miền duyên hải Trung Quốc qua eo biển Đài Loan. Như vậy, eo biển Đài Loan rất có thể đã là cơ sở huấn luyện để người Trung Quốc lục địa trau dồi kỹ năng đi biển đặng có thể bành trướng ra khắp Thái Bình Dương.
Có một dạng vật phẩm đặc thù khiến người ta cho rằng văn hóa Ta-p’en-k’eng có quan hệ với các nền văn hóa Thái Bình Dương muộn hơn, ấy là cái tước vỏ cây, một công cụ bằng đá dùng để tước lớp vỏ sợi của một số loài cây đặng làm dây thừng, lưới và quần áo. Khi các dân tộc Thái Bình Dương đã bành trướng ra khỏi khu vực có các loài vật nuôi cho len cũng như các loại cây trồng cho sợi may quần áo, do đó cũng không thể may quần áo bằng sợi dệt được nữa, họ chỉ còn có thể dùng thứ “vải” bằng vỏ cây tước ra đó để làm quần áo mà thôi. Cư dân đảo Rennell, một hòn đảo Polynesia truyền thống mà mãi đến thập niên 1930 mới bị Tây phương hóa, đã bảo tôi rằng sự Tây phương hóa đã mang lại [ngoài những ích lợi khác] một ích lợi phụ tuyệt vời, ấy là hòn đảo đã trở nên yên tĩnh. Chẳng còn cái nỗi đi đâu cũng nghe tiếng đá tước vỏ cây từ sáng sớm đến tối mịt hết ngày này qua ngày khác nữa!
Trong vòng trên dưới một ngàn năm sau khi văn hóa Ta-p’en-k’eng đến được Đài Loan, bằng chứng khảo cổ cho thấy các nền văn hóa hiển nhiên bắt nguồn từ nó đã bành trướng càng ngày càng xa khỏi Đài Loan để rồi bao trùm khắp địa vực Nam Đảo (Hình 17.2). Những bằng chứng đó bao gồm các công cụ bằng đá, đồ gốm, xương lợn thuần hóa và di tích cây trồng. Chẳng hạn, đồ gốm Ta-p’en-k’eng có trang trí ở Đài Loan đã mở đường cho đồ gốm trơn không trang trí hay đồ gốm đỏ vốn cũng được phát hiện tại các di chỉ ở Philippines và trên các đảo Celebes và Timor thuộc Indonesia. “Gói” sản phẩm văn hóa này – gồm đồ gốm, công cụ bằng đá và các loài thuần hóa – đã xuất hiện vào khoảng 3.000 năm TCN ở Philippines, khoảng 2.500 năm TCN trên các đảo Celebes, phía bắc đảo Borneo và đảo Timor thuộc Indonesia, khoảng 2.000 năm TCN ở Java và Sumatra, và khoảng 1.600 năm TCN ở khu vực New Guinea. Ở đó, như chúng ta sẽ thấy, sự bành trướng này ắt hẳn đã diễn ra với tốc độ tàu cao tốc, bởi những người mang theo gói sản phẩm văn hóa này đã phăng phăng thẳng tiến về phía đông vào khu vực Thái Bình Dương, ra xa ngoài quần đảo Solomon nơi trước đó chưa hề có bóng người. Những giai đoạn cuối cùng của cuộc bành trướng này, vào khoảng thiên niên kỷ đầu tiên sau năm 1, đưa tới kết quả là bất cứ hòn đảo nào ở Polynesia và Micronesia mà có khả năng nuôi sống con người thì đều đã có người đến sống. Thật đáng ngạc nhiên, cuộc bành trướng đó cũng đã vươn ào ạt về phía tây ngang qua Ấn Độ Dương đến tận bờ đông châu Phi, kết quả là người Nam Đảo đã định cư ở hòn đảo Madagascar.
Ít nhất là cho đến khi cuộc bành trướng Nam Đảo vươn tới miền duyên hải New Guinea, có lẽ người ta cũng đã có thể đi lại giữa các đảo bằng những chiếc thuyền buồm có hai dầm dọc mà đến ngày nay vẫn còn phổ biến ở khắp Indonesia. Kiểu thuyền này là một bước tiến lớn so với kiểu thuyền độc mộc giản đơn mà các dân tộc truyền thống trên khắp thế giới vẫn dùng để đi lại trên các dòng chảy sâu trong nội địa. Thuyền độc mộc, đúng như tên gọi, là một chiếc thuyền được đẽo ra từ một thân cây duy nhất rồi vạt nhọn hai đầu bằng rìu lưỡi vòm. Bởi thuyền độc mộc có đáy tròn do thân cây dùng để đẽo cây vốn có dạng tròn, nên chỉ cần phân phối trọng lượng mất cân bằng một chút là thuyền sẽ nghiêng về phía nặng hơn ngay. Bất cứ khi nào tôi được những người New Guinea đưa đi bằng thuyền độc mộc trên các dòng sông New Guinea, hầu như suốt cả chuyến đi tôi cứ sợ đến mất mật: hình như nhất cử nhất động của tôi đều có nguy cơ làm lật thuyền, hất tôi cùng với cái ống nhòm xuống nước mà làm bạn với cá sấu. Người New Guinea luôn có vẻ ung dung khi chèo thuyền độc mộc dọc ngang các sông hồ phẳng lặng, thế nhưng ngay cả người New Guinea cũng không thể chèo thuyền độc mộc ở ngoài biển dù sóng êm đi nữa. Vì vậy một thiết bị nào đó để giữ thăng bằng cho thuyền là nhân tố thiết yếu không chỉ đối với cuộc bành trướng Nam Đảo ra khắp Indonesia mà còn với cả sự di cư nguyên thủy đến Đài Loan.
Hình 17.2: Những con đường bành trướng của nhóm Nam Đảo, với niên đại phỏng đoán theo thời điểm họ đặt chân đến từng khu vực. 4a = Borneo, 4b = Celebes, 4c = Timor (khoảng 2.500 năm TCN), 5a = Halmahera (khoảng 1.600 năm TCN), 5b = Java, 5c = Sumatra (khoảng 2.000 năm TCN), 6a = quần đảo Bismarck (khoảng 1.600 năm TCN), 6b = bán đảo Mã Lai, 6c = Việt Nam (khoảng 1.000 năm TCN), 7 = quần đảo Solomon (khoảng 1.200 năm TCN), 8 = Santa Cruz, 9c = Tonga, 9d = New Caledonia (khoảng 1.200 năm TCN), 10b = nhóm đảo Society, 10c = nhóm đảo Cook, 11a = quần đảo Tuamotu (khoảng năm 1 CN)
Giải pháp là buộc hai thanh gỗ nhỏ hơn (hai cái “dầm”) song song với thân thuyền nhưng cách chừng vài bộ (khoảng trên dưới 1m, ND) mỗi thanh ở một bên, nối với thân thuyền bằng những cái sào buộc vuông góc với thân thuyền và dầm. Mỗi khi thân thuyền bắt đầu chênh về một bên, sức nổi của cái dầm ở bên đó ngăn không cho dầm bị hụp xuống dưới nước khiến cho thân thuyền gần như không thể nào lật úp được. Phát minh thuyền buồm hai dầm dọc có thể chính là đột phá công nghệ đã khơi nên cuộc bành trướng của người Nam Đảo ra khỏi vùng nội địa Trung Quốc.
Hai sự trùng hợp kỳ lạ giữa bằng chứng khảo cổ và bằng chứng ngôn ngữ học hỗ trợ cho giả thuyết rằng những người đã mang văn hóa Đồ đá mới đến Đài Loan, Philippines và Indonesia cách đây hàng mấy ngàn năm là những kẻ dùng ngôn ngữ Nam Đảo và là tổ tiên của những người nói tiếng Nam Đảo vẫn còn sinh sống trên các hòn đảo đó ngày nay. Thứ nhất, cả hai loại bằng chứng đều nhất quán chỉ ra một điều: giai đoạn đầu tiên là những người Nam Đảo xuất phát từ miền duyên hải Nam Trung Quốc đến định cư ở Đài Loan, còn giai đoạn kế tiếp là họ từ Đài Loan đến chiếm lĩnh Philippines và Indonesia. Giá như cuộc bành trướng đó đã xuất phát từ bán đảo Mã Lai thuộc Đông Nam Á nhiệt đới đến hòn đảo Indonesia gần nhất là Sumatra, sau đó đến các hòn đảo Indonesia khác rồi cuối cùng mới đến Philippines và Đài Loan, thì ắt hẳn chúng ta sẽ tìm thấy sự phân hóa rất sâu sắc (phản ánh khoảng cách thời gian rất lớn) của ngữ hệ Nam Đảo giữa các ngôn ngữ hiện đại ở bán đảo Mã Lai và Sumatra, còn các ngôn ngữ ở Đài Loan và ở Philippines ắt hẳn đã tách nhau ra chỉ mới gần đây nhưng vẫn nằm trong một ngữ hệ con duy nhất. Thế nhưng, thực tế là sự phân hóa ngôn ngữ lớn nhất là ở Đài Loan, trong khi các ngôn ngữ ở bán đảo Mã Lai và ở Indonesia lại nằm trong cùng một ngữ hệ “cháu”: một nhóm gần đây thuộc ngữ hệ con Tây Mã Lai-Polynesia, ngữ hệ con này đến lượt mình lại là một nhóm tương đối gần đây thuộc ngữ hệ Mã Lai-Polynesia. Các chi tiết về mối quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ này hoàn toàn trùng hợp với bằng chứng khảo cổ rằng việc di cư đến bán đảo Mã Lai chỉ mới diễn ra gần đây và diễn ra sau chứ không phải trước việc di cư đến Đài Loan, Philippines và Indonesia.
Sự trùng hợp khác giữa bằng chứng khảo cổ và bằng chứng ngôn ngữ liên quan đến rào cản văn hóa mà những người Nam Đảo cổ đại từng sử dụng. Khoa khảo cổ cho ta bằng chứng trực tiếp về văn hóa dưới dạng đồ gốm, xương lợn, xương cá, v.v. Thoạt tiên, ta có thể tự hỏi làm cách nào các nhà ngôn ngữ học – vốn chỉ nghiên cứu các ngôn ngữ đương đại, còn dạng thức thủy tổ của các ngôn ngữ đó vào thời đại chưa có văn tự thì họ không hề biết – lại có thể hình dung được liệu những người Nam Đảo sống ở Đài Loan vào 6.000 năm trước có nuôi lợn hay không. Giải pháp [của họ] là phục dựng hệ ngữ vựng của các ngôn ngữ cổ đại đã biến mất (cái gọi là nguyên ngôn ngữ, protolanguage) bằng cách so sánh hệ ngữ vựng của các ngôn ngữ vốn bắt nguồn từ chúng.
Chẳng hạn, các từ có nghĩa là “cừu” trong nhiều ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Ấn-Âu phân bố từ Ailen đến Ấn Độ khá là giống nhau: “avis” trong tiếng Lithuania và tiếng Sanskrit, “ovis” trong tiếng La Tinh, “oveja” trong tiếng Tây Ban Nha, “ovtsa” trong tiếng Nga, “owis” trong tiếng Hy Lạp và “oi” trong tiếng Ailen. (Từ “sheep” trong tiếng Anh rõ ràng là từ một gốc khác, nhưng tiếng Anh vẫn còn giữ lại gốc nguyên thủy ở từ “ewe” cũng có nghĩa là cừu). So sánh sự chuyển hóa âm mà các ngôn ngữ Ấn-Âu hiện đại đã trải qua trong lịch sử, ta có thể suy ra rằng dạng gốc là “owis” trong ngôn ngữ Ấn-Âu nguyên thủy đã được dùng vào khoảng 6.000 năm trước. Ngôn ngữ thủy tổ bất thành văn đó được gọi là tiếng Nguyên Ấn Âu (Proto-Indo-European).
Rõ ràng người Nguyên Ấn Âu vào 6.000 năm trước đã có nuôi cừu, phù hợp với bằng chứng khảo cổ. Tương tự, chúng ta có thể phục dựng gần 2.000 từ trong ngữ vựng của họ, trong đó có các từ như “dê”, “ngựa”, “bánh xe”, “anh (em)” và “mắt”. Nhưng không thể nào phục dựng được từ Nguyên Ấn Âu nào cho chữ “súng” chẳng hạn, bởi từ này trong mỗi ngôn ngữ Ấn-Âu ngày nay dùng một gốc khác nhau: “gun” trong tiếng Anh, “fusil” trong tiếng Pháp, “ruzhyo” trong tiếng Nga, v.v. Điều đó chẳng có gì lạ: con người cách đây 6.000 năm không thể nào có một từ để gọi cây súng cả, bởi súng chỉ được phát minh trong vòng 1.000 năm trở lại đây. Chính vì không được thừa hưởng một gốc từ chung nào có nghĩa là “súng”, mỗi ngôn ngữ Ấn-Âu mới phải chế ra hoặc vay mượn một từ để gọi khi cây súng được phát minh.
Cũng theo cách đó ta có thể so sánh tiếng Đài Loan, tiếng Philippines, tiếng Indonesia và các ngôn ngữ Polynesia hiện đại nhằm phục dựng một ngôn ngữ Nguyên Nam Đảo từng được dùng trong quá khứ xa xôi. Chẳng có gì lạ rằng tiếng Nguyên Nam Đảo được phục dựng đó có những từ mang các nghĩa như “hai”, “chim”, “tai” và “chấy”: dĩ nhiên là những người Nguyên Nam Đảo biết đếm đến hai, đã biết tới chim, có tai và có chấy. Song điều thú vị hơn là ngôn ngữ được phục dựng này có những từ để gọi “lợn”, “chó” và “lúa”, những thứ ắt hẳn đã là một phần của văn hóa Nguyên Nam Đảo. Ngôn ngữ phục dựng đó đầy rẫy những từ biểu thị một nền kinh tế dựa trên nghề biển, như “thuyền chèo”, “buồm”, “sò lớn”, “bạch tuộc”, “bẫy cá” và “rùa biển”. Bằng chứng ngôn ngữ này về văn hóa của người Nguyên Nam Đảo, cho dù họ đã sống vào thời nào và ở nơi nào, thật trùng khớp với bằng chứng khảo cổ về những người biết làm đồ gốm, biết sản xuất lương thực và định hướng theo nghề biển của những người sống ở Đài Loan vào khoảng 6.000 năm trước.
Cũng có thể áp dụng đúng quy trình đó nhằm phục dựng tiếng Nguyên Mã Lai-Polynesia, ngôn ngữ cổ đại từng được những người Nam Đảo sử dụng sau khi di cư khỏi Đài Loan. Tiếng Nguyên Mã Lai-Polynesia có từ để gọi nhiều loại cây trồng nhiệt đới như khoai sọ, quả mì, chuối, khoai lang và dừa, trong khi với tiếng Nguyên Nam Đảo người ta không thể phục dựng từ nào để gọi các cây này. Như vậy, bằng chứng ngôn ngữ gợi ý rằng nhiều loại cây trồng nhiệt đới đã được bổ sung vào danh mục cây trồng của người Nam Đảo sau khi họ di cư từ Đài Loan. Kết luận này tương hợp với bằng chứng khảo cổ: khi các nhà nông Nam Đảo di cư từ Đài Loan (nằm cách xích đạo 23 độ về phía bắc) về phía nam đến vùng nhiệt đới xích đạo, họ ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các loài cây củ nhiệt đới và mang theo các loài này trong quá trình di cư sang các đảo Thái Bình Dương nhiệt đới.
Làm thế nào những nhà nông nói tiếng Nam Đảo xuất phát từ Nam Trung Quốc thông qua Đài Loan đó đã chiếm chỗ những người săn bắt hái lượm nguyên thủy ở Philippines và đông Indonesia một cách triệt để đến mức chẳng có bao nhiêu bằng chứng di truyền và thậm chí không một chút bằng chứng nào về ngôn ngữ từ dân tộc nguyên thủy đó còn lại đến ngày nay? Nguyên nhân ở đây cũng giống như nguyên nhân tại sao trước đó người châu Âu đã chiếm chỗ hoặc tiêu diệt người Australia bản địa trong vòng hai thế kỷ trở lại đây, tại sao người Nam Trung Quốc đã chiếm chỗ những người Đông Nam Á nhiệt đới bản địa: những nhà nông đó có dân số đông hơn nhiều, có công cụ và vũ khí ưu việt hơn, phương tiện đi biển và kỹ năng hàng hải phát triển hơn, và những căn bệnh truyền nhiễm mà các nông dân đó có ít nhiều kháng thể trong khi những người săn bắt hái lượm kia thì không. Tương tự, trên lục địa châu Á, các nhà nông nói tiếng Nam Đảo cũng đã chiếm chỗ của một số những người săn bắt hái lượm nguyên thủy trên bán đảo Mã Lai, bởi những người Nam Đảo đến chiếm cứ bán đảo này từ phía nam và phía đông (từ các đảo Sumatra và Borneo của Indonesia) cũng vào khoảng thời gian khi các nhà nông nói tiếng Nam Á đang tiến vào chiếm cứ bán đảo này từ phía bắc (từ Thái Lan). Những người Nam Đảo khác thì đến định cư ở một số vùng của Nam Việt Nam và Campuchia để trở thành tổ tiên của dân tộc Chăm thiểu số ở các nước đó ngày nay.
Tuy nhiên, các nhà nông Nam Đảo đã không thể bành trướng xa hơn vào nội địa Đông Nam Á bởi các nhà nông Nam Á và Thái-Kadai đã chiếm chỗ những người săn bắt hái lượm bản địa ở đó từ trước rồi, trong khi các nhà nông Nam Đảo chẳng có ưu thế nổi bật nào so với các nhà nông Nam Á và Thái-Kadai cả. Mặc dù ta suy ra rằng những người nói tiếng Nam Đảo đã xuất phát từ vùng duyên hải Nam Trung Quốc, nhưng các ngôn ngữ Nam Đảo ngày nay không hề được sử dụng ở bất cứ đâu trong nội địa Trung Quốc, có lẽ vì chúng nằm trong số hàng trăm ngôn ngữ nguyên thủy của Trung Quốc vốn đã bị loại bỏ trong quá trình bành trướng của những người nói tiếng Hán-Tạng [từ lưu vực Hoàng Hà ở phía bắc, ND] về phía nam. Song các ngữ hệ gần gũi nhất với ngôn ngữ Nam Đảo lại được cho là ngữ hệ Thái-Kadai, Nam Á và Mèo-Dao. Như vậy, tuy các ngôn ngữ Nam Đảo ở Trung Quốc có thể đã không sống nổi qua những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến Trung Quốc, nhưng một số ngôn ngữ anh em của chúng thì đã sống sót được.
Chúng ta đã dõi theo những giai đoạn đầu tiên của cuộc bành trướng của người Nam Đảo từ duyên hải Nam Trung Quốc ra xa 2.500 dặm (3.200 km) về phía nam, ngang qua Đài Loan và quần đảo Philippines, đến phía tây và trung Indonesia. Trong quá trình bành trướng đó, người Nam Đảo đã dần dần chiếm cứ bất kỳ khu vực nào có thể sinh sống được trên các đảo này, từ vùng duyên hải cho đến sâu trong nội địa, từ đất thấp cho đến núi cao. Cho đến 1.500 năm TCN, những di tích khảo cổ quen thuộc đặc thù của họ gồm xương lợn và đồ gốm trơn men đỏ cho thấy họ đã vươn tới đảo Halmahera ở phía tây Indonesia, cách chỏm cực tây hòn đảo lớn đầy núi non New Guinea chưa đầy 200 dặm (320 km). Họ có đã tiến lên chinh phục cả hòn đảo đó như đã chinh phục những hòn đảo lớn đầy núi non khác là Celebes, Borneo, Java và Sumatra hay không?
Họ đã không làm vậy – chỉ cần nhìn qua nét mặt của hầu hết người New Guinea ngày nay là đủ rõ, và các nghiên cứu chi tiết về New Guinea cũng xác nhận điều đó. Bạn Wiwor của tôi và tất cả dân vùng cao New Guinea khác đều khác biệt thấy rõ so với người Indonesia, người Philippines và người Nam Trung Quốc ở chỗ nước da thẫm, tóc xoăn tít và nét mặt. Hầu hết dân nội địa và dân vùng duyên hải New Guinea trông cũng giống dân vùng cao, có khác chăng là họ thường cao hơn. Các nhà di truyền học đã không tìm được dấu chỉ di truyền Nam Đảo nào trong các mẫu máu của dân vùng cao New Guinea.
Nhưng các dân tộc ở miền duyên hải phía bắc và đông New Guinea, cũng như ở các quần đảo Bismarck và Solomon về phía bắc và đông New Guinea, lại bày ra một bức tranh phức tạp hơn. Về ngoại hình, họ là một thể trung gian giữa những người vùng cao New Guinea như Wiwor với những người Indonesia như Achmad, tuy rằng nhìn chung họ gần với Wiwor hơn. Chẳng hạn, anh bạn Sauakari của tôi là dân miền duyên hải phía bắc có mái tóc lượn sóng, một thể trung gian giữa mái tóc thẳng của Achmad với mái tóc xoăn tít của Wiwor, da thì sáng hơn da Wiwor chút ít tuy vẫn thẫm hơn nhiều so với da Achmad. Về mặt di truyền, cư dân các quần đảo Bismarck và Solomon cũng như dân miền duyên hải phía bắc New Guinea giống người Nam Đảo khoảng 15%, còn lại 85% là giống dân vùng cao New Guinea. Từ đó suy ra, người Nam Đảo rõ ràng đã đặt chân đến khu vực New Guinea nhưng đã không hoàn toàn thâm nhập được vào nội địa đảo này và đã bị pha loãng về di truyền bởi những cư dân New Guinea sinh sống trên vùng duyên hải phía bắc và các đảo lân cận từ trước đó.
Các ngôn ngữ hiện đại [ở khu vực này, ND] cũng đưa đến cùng một kết luận đó nhưng bổ sung thêm chi tiết. Ở Chương 15 tôi đã giải thích rằng hầu hết các ngôn ngữ New Guinea, được gọi là ngôn ngữ Papua, chẳng có liên hệ với bất cứ ngữ hệ nào khác trên thế giới. Không hề có ngoại lệ, mọi ngôn ngữ được nói trên vùng núi New Guinea, toàn bộ vùng đất thấp ở tây nam và trung-nam New Guinea kể cả vùng duyên hải và vùng nội địa phía bắc New Guinea đều là ngôn ngữ Papua. Song các ngôn ngữ Nam Đảo lại được nói trong phạm vi một dải hẹp nằm ngay trên miền duyên hải phía bắc và phía đông nam. Hầu hết ngôn ngữ ở các quần đảo Bismarck và Solomon là ngôn ngữ Nam Đảo, còn ngôn ngữ Papua chỉ được nói ở một số khu vực cách biệt trên vài đảo mà thôi.
Các ngôn ngữ Nam Đảo được nói ở các quần đảo Bismarck và Solomon cũng như vùng duyên hải phía bắc New Guinea là một ngữ hệ “cháu” riêng biệt gọi là nhóm Đại dương (Oceanic) thuộc về một ngữ hệ “con” được sử dụng ở Halmahera và vùng phía tây New Guinea. Mối liên hệ về ngôn ngữ này xác nhận điều mà ta có thể giả định khi nhìn trên bản đồ, rằng những người nói ngôn ngữ Nam Đảo ở khu vực New Guinea đã đặt chân đến đây qua ngả Halmahera. Các chi tiết về ngôn ngữ Nam Đảo và ngôn ngữ Papua cũng như sự phân bố chúng ở Bắc New Guinea minh chứng cho quá trình tiếp xúc lâu dài giữa những người Nam Đảo đến xâm chiếm vùng này với những người bản địa nói tiếng Papua. Cả ngôn ngữ Nam Đảo lẫn ngôn ngữ Papua ở vùng này đều cho thấy chúng chịu ảnh hưởng to lớn của nhau về từ vựng và ngữ pháp, khiến cho khó mà xác định liệu có phải một số ngôn ngữ nào đó về căn bản là tiếng Nam Đảo song chịu ảnh hưởng của tiếng Papua hay ngược lại. Nếu du hành từ làng này đến làng khác dọc theo miền duyên hải phía bắc hoặc các hòn đảo dọc theo bờ biển, ta sẽ đi qua đầu tiên là một làng nói tiếng Nam Đảo kế đó là một làng nói tiếng Papua, sau đó lại một làng khác nói tiếng Nam Đảo mà không hề có sự thay đổi nào về đặc điểm di truyền ở những nơi giáp ranh giữa hai ngôn ngữ đó.
Những điều nói trên gợi ý rằng hậu duệ người Nam Đảo và hậu duệ của cư dân nguyên thủy ở New Guinea đã trao đổi hàng hóa, kết hôn với nhau và tiếp thu gen di truyền cũng như ngôn ngữ của nhau trong suốt mấy ngàn năm dọc theo vùng duyên hải Bắc New Guinea và các hòn đảo lân cận. Sự tiếp xúc lâu dài đó đã khiến cho các ngôn ngữ Nam Đảo được phát tán hữu hiệu hơn so với gen di truyền Nam Đảo, kết quả là hầu hết cư dân quần đảo Bismarck và Solomon ngày nay nói tiếng Nam Đảo cho dẫu ngoại hình và hầu hết gen của họ vẫn là của người Papua. Song không một gen nào cũng không một ngôn ngữ nào của người Nam Đảo thâm nhập vào được nội địa New Guinea. Như vậy, việc người Nam Đảo xâm chiếm New Guinea đã mang lại kết quả khác hẳn so với khi họ xâm chiếm Borneo, Celebes và các hòn đảo lớn khác của Indonesia, nơi mà thế lực áp đảo của họ đã loại bỏ hầu như mọi dấu vết về gen di truyền và ngôn ngữ của những cư dân có mặt ở các đảo này từ trước đó. Để hiểu hơn những gì đã xảy ra ở New Guinea, giờ chúng ta hãy quay lại bằng chứng của ngành khảo cổ.
Vào khoảng 1.600 năm TCN, hầu như cùng một lúc với khi xuất hiện ở Halmahera, những dấu tích khảo cổ quen thuộc về sự bành trướng của người Nam Đảo – lợn, gà, chó, đồ gốm trơn men đỏ, rìu lưỡi vòm bằng đá mài và bằng vỏ sò khổng lồ – cũng xuất hiện ở khu vực New Guinea. Tuy nhiên, có hai nét đặc thù khiến cho thời điểm người Nam Đảo đặt chân đến New Guinea khác với thời điểm họ đặt chân đến Philippines và Indonesia trước đó.
Nét đặc thù thứ nhất là kiểu dáng đồ gốm, vốn là những đặc điểm thẩm mỹ không có ý nghĩa gì về mặt kinh tế song lại khiến các nhà khảo cổ nhận ra ngay lập tức đâu là một di chỉ Nam Đảo. Trong khi hầu hết đồ gốm Nam Đảo ở Philippines và Indonesia ở giai đoạn sớm đều không có trang trí, thì đồ gốm ở khu vực New Guinea lại được trang trí đẹp đẽ bằng những hoa văn hình học bố trí thành từng dải ngang. Về những phương diện khác, đồ gốm này vẫn giữ nguyên nước áo màu đỏ và hình dạng đặc thù của đồ gốm Nam Đảo xưa hơn ở Indonesia. Rõ ràng là những người Nam Đảo định cư ở khu vực New Guinea đã nảy ra ý tưởng “xăm hình” lên đồ gốm, hẳn là được gợi ý từ những họa tiết hình học họ vẫn dùng để trang trí vải bằng vỏ cây và xăm lên mình. Phong cách này được gọi là đồ gốm Lapita, đặt theo tên di chỉ khảo cổ Lapita nơi nó được mô tả.
Nét đặc thù quan trọng hơn nhiều mang lại sự khác biệt của các di chỉ Nam Đảo sớm ở khu vực New Guinea là sự phân bố của chúng. Ngược lại với các di chỉ ở Philippines và Indonesia, nơi mà ngay cả di chỉ Nam Đảo sớm nhất ta đã biết đều ở trên các hòn đảo lớn như Luzon, Borneo và Celebes, các di chỉ có đồ gốm Lapita ở khu vực New Guinea hình như chỉ bó hẹp trên những hòn đảo nhỏ ven các hòn đảo lớn hơn ở ngoài xa. Đến nay người ta chỉ tìm thấy đồ gốm Lapita ở một di chỉ duy nhất (Aitape) trên bờ phía bắc của bản thân đảo New Guinea và ở một vài di chỉ trên quần đảo Solomon. Hầu hết di chỉ Lapita ở khu vực New Guinea đều nằm trên quần đảo Bismarck, trên những hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi các hòn đảo lớn hơn của quần đảo này, đôi khi cũng nằm trên bờ của bản thân các hòn đảo lớn hơn đó. Bởi (như ta sẽ thấy) những người làm ra đồ gốm Lapita có khả năng đi biển xa hàng ngàn dặm, nên việc họ đã không di chuyển làng mình thêm vài dặm đến các hòn đảo lớn hơn trong quần đảo Bismarck hoặc thêm vài chục dặm đến New Guinea rõ ràng không phải là vì họ không có khả năng đi đến đó.
Chúng ta có thể phục dựng cơ sở tồn tại của đồ gốm Lapita từ những đống rác mà các nhà khảo cổ khai quật được ở các di chỉ Lapita. Người Lapita sống chủ yếu dựa vào hải sản gồm cá, cá heo, rùa biển, cá mập và sò ốc. Họ nuôi lợn, gà và chó, và cũng ăn quả hay hạt của nhiều loại cây (trong đó có dừa). Tuy có thể họ cũng ăn những loại cây cho củ thường gặp ở người Nam Đảo như khoai sọ và khoai lang, song khó lòng thu thập được bằng chứng về các loài cây đó bởi các loại hạt cứng có thể tồn tại hàng ngàn năm trong các đống rác thải dễ hơn nhiều so với các loại củ mềm.
Lẽ tự nhiên, không thể chứng minh một cách trực tiếp rằng những người làm ra đồ gốm Lapita đã nói một ngôn ngữ thuộc nhóm Nam Đảo. Tuy nhiên, có hai sự kiện khiến suy luận này hầu như là chắc chắn. Thứ nhất, ngoài những họa tiết trang trí trên đồ gốm, thì bản thân các đồ gốm đó cùng các vật thể văn hóa đi cùng với chúng cũng tương tự như các di tích văn hóa tìm thấy ở các di chỉ Indonesia và Philippines vốn là tổ tiên của các xã hội dùng ngôn ngữ Nam Đảo ngày nay. Thứ hai, đồ gốm Lapita cũng xuất hiện ở các hòn đảo Thái Bình Dương xa xôi nơi trước đó chưa có người ở, cũng không có bằng chứng nào cho thấy đã có một làn sóng di cư lớn thứ hai nào sau làn sóng đã mang đồ gốm Lapita đến các đảo này, và cư dân ở các đảo đó ngày nay dùng ngôn ngữ Nam Đảo (ở đoạn sau sẽ nói thêm về việc này). Từ đó có thể giả định [mà không sợ hồ đồ] rằng đồ gốm Lapita đã đánh dấu việc người Nam Đảo đặt chân đến khu vực New Guinea.
Những người đã nặn ra đồ gốm Nam Đảo đó làm gì trên các hòn đảo nhỏ nằm cạnh các hòn đảo lớn hơn kia? Ắt hẳn là họ cũng sống theo cách giống như những người làm đồ gốm hiện đại sống trên các hòn đảo nhỏ trong khu vực New Guinea cho mãi tới gần đây. Vào năm 1972 tôi đã ghé thăm một hòn đảo như vậy trên đảo Mã Lai thuộc nhóm đảo Siassi ngoài khơi hòn đảo cỡ trung Umboi, đảo này lại nằm ngoài khơi hòn đảo lớn hơn là New Britain thuộc quần đảo Bismarck. Khi đặt chân lên đảo Mã Lai để tìm chim mà không hề biết tí gì về những người sống ở đó, tôi đã sửng sốt khi nhìn thấy quang cảnh trước mắt mình. Thay vì cảnh tượng thường thấy với những ngôi làng nhỏ gồm các căn lều thấp lè tè vây quanh, tôi thấy những khu vườn rộng đủ nuôi sống cả làng và dăm chiếc thuyền được kéo lên bãi cát, chiếm lĩnh hầu hết diện tích đảo Mã Lai là những căn nhà hai tầng bằng gỗ san sát bên nhau, chẳng còn để lại mảnh đất nào để làm vườn tược – đối với New Guinea cảnh này cũng tương đương như khu buôn bán Manhattan vậy. Trên bờ biển là những chiếc thuyền lớn xếp hàng dài. Hóa ra dân đảo Mã Lai không chỉ là dân đánh cá mà còn là dân đồ gốm, dân chạm khắc gỗ và dân buôn bán, sống bằng nghề làm những đồ gốm và bát gỗ trang trí đẹp rồi vận chuyển bằng thuyền đến các đảo lớn hơn đặng đổi lấy lợn, chó, rau và các nhu yếu phẩm khác. Ngay cả gỗ để đóng thuyền Mã Lai cũng có được bằng cách trao đổi với hòn đảo Umboi bên cạnh, bởi Mã Lai không có những cây đủ lớn để đẽo thành thuyền.
Vào thời trước khi có tàu biển của người Âu, việc trao đổi hàng qua lại giữa các hòn đảo trong khu vực New Guinea hoàn toàn nằm trong tay các nhóm chuyên gia gồm những người làm đồ gốm song biết cả đóng thuyền ấy, những người có thể đi biển mà không cần dụng cụ dẫn đường và sống trên những hòn đảo nhỏ xa bờ, thi thoảng mới sống trong những làng mạc dọc bờ biển trong nội địa. Cho tới khi tôi đặt chân đến Mã Lai vào năm 1972, những mạng lưới giao thương bản địa đó đã sụp đổ hoặc đã bị thu hẹp, một phần bởi sự cạnh tranh của những chiếc thuyền có động cơ và vật dụng bằng nhôm của châu Âu, một phần bởi chính phủ thuộc địa Australia cấm chỉ việc đi biển đường dài bằng thuyền sau khi xảy ra một số tai nạn khiến dân buôn chết đuối. Tôi phỏng đoán rằng những người làm ra đồ gốm Lapita chính là các nhà buôn xuyên đảo ở khu vực New Guinea trong các thế kỷ từ sau năm 1.600 TCN.
Sự bành trướng của các ngôn ngữ Nam Đảo lên bờ biển phía bắc của bản thân New Guinea và thậm chí lên các hòn đảo lớn nhất của quần đảo Bismarck và quần đảo Solomon ắt hẳn đã diễn ra hầu hết sau thời đại Lapita, bởi bản thân các di chỉ Lapita chỉ tập trung trên những đảo nhỏ của quần đảo Bismarck mà thôi. Mãi đến khoảng năm 1 thì đồ gốm phát sinh từ phong cách Lapita mới xuất hiện trên mạn nam của bán đảo phía đông nam New Guinea. Khi người châu Âu bắt đầu khai phá New Guinea vào cuối thế kỷ XIX, toàn bộ phần còn lại của miền duyên hải phía nam New Guinea vẫn chỉ có những người nói tiếng Papua sinh sống, cho dù những quần thể nói tiếng Nam Đảo đã an cư không chỉ ở bán đảo phía đông nam mà cả trên các đảo Aru và đảo Kei (cách bờ nam vùng phía tây New Guinea khoảng 70 đến 80 dặm – khoảng 110 đến 128 km). Như vậy, người Nam Đảo đã có đến hàng ngàn năm để có thể chiếm lĩnh vùng nội địa New Guinea và vùng duyên hải phía nam đảo này từ những căn cứ ở gần đó, song họ đã chẳng bao giờ làm vậy. Ngay cả dù họ đã chiếm lĩnh dải ven biển Bắc New Guinea, ấy cũng là về mặt ngôn ngữ hơn là về mặt di truyền: toàn bộ cư dân vùng duyên hải Bắc New Guinea về mặt di truyền vẫn cứ là người New Guinea. Giỏi lắm thì cũng chỉ một số người tiếp thu ngôn ngữ Nam Đảo, chắc là để trao đổi với các nhà buôn đường dài, những kẻ [đóng vai trò] cầu nối giữa các xã hội.
Như vậy, hậu quả việc người Nam Đảo bành trướng sang khu vực New Guinea ngược hẳn lại với khi họ bành trướng sang Indonesia và Philippines. Ở hai khu vực sau, cư dân bản địa trước đó đã biến mất – có lẽ họ đã bị xua đuổi, bị giết chết, bị nhiễm bệnh mà chết, hoặc đã bị đồng hóa hoàn toàn vào những kẻ xâm lăng. Trong khi đó, ở New Guinea, cư dân bản địa hầu như không cho phép kẻ xâm lăng bén mảng vào lãnh thổ của mình. Trong cả hai trường hợp, kẻ xâm lăng vẫn là một (người Nam Đảo), còn cư dân bản địa có thể cũng giống nhau về di truyền, nếu quả thực là cư dân bản địa Indonesia – những kẻ đã bị người Nam Đảo giành chỗ – có liên hệ với người New Guinea như tôi đã đề xuất trên đây. Tại sao ở mỗi nơi hậu quả lại một khác như vậy?
Câu trả lời trở nên rõ ràng nếu ta xét đến việc cư dân bản địa Indonesia và cư dân bản địa New Guinea mỗi bên có một hoàn cảnh văn hóa khác nhau. Trước khi người Nam Đảo đến, hầu hết Indonesia chỉ có những người săn bắt hái lượm sinh sống thưa thớt, những người này thậm chí không có cả công cụ bằng đá có đánh bóng. Ngược lại, nền sản xuất lương thực đã hình thành và phát triển từ suốt hàng ngàn năm trên vùng cao New Guinea, và có thể ở cả vùng thấp New Guinea cũng như các quần đảo Bismarck và Solomon nữa. Vùng cao New Guinea đã nuôi sống một trong những quần thể dân cư dày đặc nhất của thời Đồ đá so với bất cứ nơi nào khác trên thế giới.
Người Nam Đảo chẳng có bao nhiêu ưu thế để cạnh tranh với những dân cư New Guinea tự lâu đời kia. Một số loại cây trồng mà người Nam Đảo dùng làm lương thực chính như khoai sọ, khoai lang và chuối có thể đã được thuần hóa độc lập ở New Guinea trước khi người Nam Đảo đến vùng này. Người New Guinea đã rất sẵn lòng tiếp nhận gà, chó và đặc biệt là lợn của người Nam Đảo vào nền kinh tế sản xuất lương thực của họ. Ít nhất họ cũng đã có công cụ bằng đá có đánh bóng. Ít nhất họ cũng có sức đề kháng với các bệnh nhiệt đới như người Nam Đảo, bởi họ cũng mang năm loại cơ chế phòng thủ di truyền kháng bệnh sốt rét như người Nam Đảo, và một số hoặc tất cả các gen đó đã tiến hóa độc lập ở New Guinea. Người New Guinea đã là những nhà đi biển thiện nghệ, mặc dù có thể không thiện nghệ bằng những người làm ra đồ gốm Lapita. Hàng chục ngàn năm trước khi người Nam Đảo đến, người New Guinea đã chiếm lĩnh các quần đảo Bismarck và Solomon, và hoạt động trao đổi đá vỏ chai (obsidian, một loại đá núi lửa có thể dùng để chế tác những công cụ sắc bén) đã rất phát đạt ở quần đảo Bismarck từ ít nhất 18.000 năm trước khi người Nam Đảo đến. Người New Guinea thậm chí dường như đã bành trướng về phía tây vào một thời gian khá gần đây theo hướng ngược lại với làn sóng Nam Đảo, về phía đông Indonesia, nơi các ngôn ngữ được dùng trên các đảo Bắc Halmahera và đảo Timor là những ngôn ngữ Papua điển hình có họ hàng với một số ngôn ngữ của miền tây New Guinea.
Nói ngắn gọn, những hậu quả khác nhau từ sự bành trướng của người Nam Đảo minh chứng hùng hồn cho vai trò của sản xuất lương thực đối với các luồng di dân của loài người. Những người sản xuất lương thực Nam Đảo đã di cư đến hai khu vực (New Guinea và Indonesia) nơi các cư dân bản địa có lẽ là có quan hệ với nhau. Cư dân Indonesia lúc đó vẫn còn là dân săn bắt hái lượm, trong khi cư dân New Guinea đã biết sản xuất lương thực và đã phát triển được nhiều yếu tố đi liền với sản xuất lương thực (như mật độ dân số cao, bệnh truyền nhiễm, công nghệ tiên tiến hơn, vân vân). Kết quả là cuộc bành trướng của người Nam Đảo đã quét sạch cư dân bản địa Indonesia, thế nhưng người Nam Đảo đã không tiến xa được bao nhiêu vào khu vực của người New Guinea, cũng như đã không tiến xa được bao nhiêu vào lãnh thổ của những người Nam Á và người Thái-Kadai vốn cũng đã biết sản xuất lương thực ở vùng Đông Nam Á.
Đến đây chúng ta đã lần theo cuộc bành trướng của người Nam Đảo sang toàn bộ Indonesia cho đến các bờ biển New Guinea và Đông Nam Á nhiệt đới. Ở Chương 19 chúng ta sẽ lần theo cuộc bành trướng đó ngang qua Ấn Độ Dương đến Madagascar, còn ở Chương 15 chúng ta đã thấy rằng những khó khăn về sinh thái đã không cho phép người Nam Đảo đứng chân được ở phía bắc và phía tây Australia. Nhánh còn lại của cuộc bành trướng này đã bắt đầu vào lúc những New Guinea làm ra đồ gốm Lapita dong buồm mãi xa về phía đông ra Thái Bình Dương ngoài quần đảo Solomon, tới những hòn đảo trước đó chưa từng có con người đặt chân lên. Vào khoảng 1.200 năm TCN, các mảnh gốm Lapita, bộ ba quen thuộc gồm lợn, gà và chó, cũng như các dấu vết khảo cổ quen thuộc khác của người Nam Đảo đã xuất hiện trên các quần đảo Fiji, Samoa và Tonga thuộc Thái Bình Dương, cách quần đảo Solomon trên một ngàn dặm (1.600 km, ND) về phía đông. Vào đầu Công nguyên, hầu hết các dấu vết khảo cổ đó (đáng chú ý là ngoại trừ đồ gốm) cũng xuất hiện trên các hòn đảo đông Polynesia trong đó có các đảo Societes và Marquesas. Những cuộc hải hành đường dài bằng thuyền tiếp tục đưa người Nam Đảo về phía bắc đến Hawaii, về phía đông đến các đảo Pitcairn và đảo Phục Sinh, về phía nam đến New Zealand. Cư dân của hầu hết các đảo đó ngày nay là người Polynesia, mà người Polynesia như vậy là hậu duệ trực tiếp của những người làm ra đồ gốm Lapita. Họ nói các ngôn ngữ Nam Đảo có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ vùng New Guinea, còn các cây trồng chính của họ vẫn là những cây trồng Nam Đảo quen thuộc gồm khoai mỡ, khoai lang, chuối, dừa và quả bánh mì.
Với sự chiếm cứ quần đảo Chatham ngoài khơi New Zealand vào khoảng năm 1400, gần một thế kỷ trước khi những “nhà thám hiểm” châu Âu thâm nhập vào vùng Thái Bình Dương, thì nhiệm vụ thám hiểm Thái Bình Dương rốt cuộc đã được hoàn tất bởi người châu Á. Truyền thống thám hiểm của họ, vốn lưu truyền suốt hàng vạn năm nay, đã khởi đầu từ khi tổ tiên của Wiwor bành trướng ngang qua Indonesia đến New Guinea và Australia. Cuộc bành trướng đó chỉ kết thúc khi họ chẳng còn cái đích nào để đến nữa và hầu như bất cứ hòn đảo nào trên Thái Bình Dương mà con người có thể cư trú được thì họ đã chiếm lĩnh và định cư rồi.
Với bất cứ ai quan tâm đến lịch sử thế giới, các xã hội loài người ở Đông Á và khu vực Thái Bình Dương cho ta nhiều thông tin quý báu, bởi chúng cho quá nhiều ví dụ để thấy môi trường có tác động đến nhường nào tới lịch sử. Tùy theo vị trí địa lý của quê hương bản quán mình, các dân tộc Đông Á và Thái Bình Dương có cơ hội tiếp cận những loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa khác hẳn nhau, khả năng tiếp xúc với các dân tộc khác cũng không giống nhau. Bao giờ cũng vậy, những dân tộc nào có cơ hội tiếp xúc với các loài có thể thuần hóa – vốn là điều kiện tiên quyết để có thể tiến lên sản xuất lương thực – cũng như vị trí địa lý thuận lợi để tiếp nhận sự phát tán công nghệ từ các khu vực khác thì thể nào cũng sẽ chiếm chỗ những dân tộc nào thiếu các lợi thế kia. Bao giờ cũng vậy, khi một làn sóng di dân duy nhất bành trướng qua nhiều môi trường khác biệt nhau, thì hậu duệ của họ sẽ phát triển theo những hướng khác nhau tùy theo [các hậu duệ đó sống trong] môi trường nào.
Chẳng hạn, ta đã thấy rằng vùng Nam Trung Quốc đã phát triển được sản xuất lương thực và công nghệ bản địa, tiếp thu được chữ viết và thêm nhiều công nghệ nữa cũng như cơ cấu chính trị từ Bắc Trung Quốc, sau đó tiếp tục chiếm lĩnh dần Đông Nam Á và Đài Loan, thế chỗ phần lớn cư dân bản địa từ trước ở các khu vực đó. Trong phạm vi Đông Nam Á, trong số các hậu duệ hoặc họ hàng của những người sản xuất lương thực từ Nam Trung Quốc di cư đến đó, người Yumbri ở vùng rừng mưa trên miền núi Bắc Thái Lan và Lào trở lại sống bằng săn bắt hái lượm, trong khi họ hàng gần gũi của người Yumbri là người Việt Nam (nói một ngôn ngữ thuộc cùng ngữ hệ con Nam Á như tiếng Yumbri) lại vẫn tiếp tục sản xuất lương thực ở đồng bằng sông Hồng màu mỡ và thiết lập một vương quốc rộng lớn sử dụng công cụ bằng kim loại. Tương tự, trong số những nhà nông Nam Đảo di cư đến từ Đài Loan và Indonesia, người Punan ở vùng rừng mưa trên đảo Borneo buộc phải quay về lối sống săn bắt hái lượm, trong khi họ hàng của họ trên đảo Java có đất núi lửa màu mỡ thì vẫn tiếp tục sản xuất lương thực, thành lập một vương quốc chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, tiếp thu chữ viết và dựng lên ngôi đền Phật giáo vĩ đại ở Borobudur. Những người Nam Đảo đã tiếp tục di cư đến Polynesia đâm ra bị cách ly khỏi nghề luyện kim và chữ viết của Đông Á nên [từ đó về sau] vẫn không có chữ viết hay [công cụ bằng] kim loại. Tuy nhiên, như ta đã thấy ở Chương 2, tổ chức chính trị và xã hội cũng như các nền kinh tế của bản thân Polynesia cũng đã [tiến hóa theo] nhiều hướng khác nhau tùy theo môi trường của từng nơi. Trong vòng một thiên niên kỷ, những người di cư đến Đông Polynesia đã trở lại sống bằng săn bắt hái lượm trên quần đảo Chatham song lại xây nên một nhà nước sơ khai với nền sản xuất lương thực thâm canh trên đảo Hawaii.
Khi rốt cuộc người châu Âu đặt chân đến, ưu thế về công nghệ và những ưu thế khác của họ đã khiến họ có thể tạm thời thuộc địa hóa hầu hết vùng Đông Nam Á nhiệt đới và các đảo Thái Bình Dương. Tuy nhiên, các vi trùng bản địa và những người sản xuất lương thực bản địa đã ngăn không cho người châu Âu định cư ở hầu hết khu vực của họ với số lượng lớn. Trong khu vực này, duy chỉ New Zealand, New Caledonia và Hawaii – hòn đảo lớn nhất và xa nhất, cách xa xích đạo nhất và do đó gần với khí hậu ôn đới (giống châu Âu) nhất – ngày nay là có đông người châu Âu sinh sống mà thôi. Như vậy, khác Australia và châu Mỹ, Đông Á và hầu hết đảo các Thái Bình Dương ngày nay vẫn là nơi cư trú của các dân tộc Đông Á và dân tộc Thái Bình Dương.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 18 - Đụng độ giữa hai bán cầu

Trong tất cả các trường hợp nhóm người này giành chỗ nhóm người khác thì trường hợp có quy mô lớn nhất trong 13.000 năm trở lại đây là cuộc đụng độ gần đây giữa các xã hội Cựu Thế giới với các xã hội Tân Thế giới. Khoảnh khắc bi kịch và mang tính quyết định nhất của cuộc xung đột đó, như ta đã thấy ở Chương 3, xảy ra khi đội quân nhỏ bé của Pizarro bắt sống hoàng đế Atahualpa của đế quốc Inca, nhà lãnh đạo tuyệt đối của nhà nước lớn nhất, giàu có nhất, đông dân nhất và tiên tiến nhất về hành chính cũng như công nghệ của người châu Mỹ bản địa. Sự kiện bắt sống Atahualpa là biểu tượng cho việc người châu Âu chinh phục châu Mỹ, bởi cũng chính các nhân tố trực tiếp dẫn tới sự kiện đó hợp lại cũng là nguyên nhân khiến người châu Âu chinh phục được các xã hội châu Mỹ bản địa khác. Giờ ta hãy quay lại cuộc xung đột đó giữa hai bán cầu, áp dụng những gì ta đã biết được kể từ Chương 3. Câu hỏi cơ bản cần phải trả lời là: tại sao người châu Âu đến được và chinh phục được xứ sở của người châu Mỹ bản địa chứ không phải ngược lại? Điểm xuất phát của chúng ta sẽ là so sánh các xã hội Âu-Á với các xã hội châu Mỹ bản địa tại thời điểm năm 1492, năm mà Columbus “phát hiện” ra châu Mỹ.
Chúng ta bắt đầu so sánh từ chỗ sản xuất lương thực, nhân tố có tính quyết định đối với quy mô của quần thể dân cư và độ phức tạp của xã hội, do đó là nhân tố tối hậu quyết định khả năng chinh phục. Khác biệt nổi bật nhất giữa sản xuất lương thực châu Mỹ với sản xuất lương thực Âu-Á là ở các loài hữu nhũ thuần hóa lớn. Ở Chương 9 chúng ta đã gặp 13 loài của Âu-Á vốn đã trở thành nguồn chính cung cấp cho lục địa này protein động vật (thịt và sữa), len, da, phương tiện chính để vận chuyển người và hàng hóa, phương tiện chiến tranh không thể thiếu, và nhân tố quan trọng làm tăng năng suất cây trồng (bằng cách kéo cày và cung cấp phân bón). Cho đến khi bánh xe quay bằng sức nước và cối xay gió bắt đầu thay thế cho sức của các loài hữu nhũ ở Âu-Á vào thời trung đại, chúng cũng còn là nguồn chính cung cấp sức mạnh “công nghiệp” ngoài lực cơ bắp của con người, chẳng hạn như để xoay đá mài và vận hành máy nâng dùng sức nước. Ngược lại, châu Mỹ chỉ có mỗi một loài hữu nhũ thuần hóa lớn là lạc đà châu Mỹ (llama/alpaca), đã vậy loài này chỉ bó hẹp ở một khu vực nhỏ là vùng Andes và vùng duyên hải Peru lân cận. Tuy loài này được dùng để cho thịt, len, da và phương tiện vận chuyển, song nó chẳng bao giờ cho sữa để con người tiêu thụ, chẳng bao giờ được dùng để cưỡi, chẳng bao giờ kéo xe hoặc kéo cày, và chẳng bao giờ được dùng làm nguồn sinh công hay phương tiện chiến tranh.
Ấy là cả một loạt những khác biệt giữa các xã hội Âu-Á với các xã hội châu Mỹ bản địa – phần lớn là bởi hầu hết các loài hữu nhũ hoang dã lớn ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ đã tuyệt chủng (hay bị tiêu diệt?) vào cuối Kỷ Pleitoxen. Giá như không có những sự tuyệt chủng đó thì lịch sử hiện đại rất có thể đã diễn ra theo một chiều hướng khác. Giá như vậy thì lúc Cortés và đoàn thám hiểm lôi thôi lếch thếch của ông ta đổ bộ lên bờ biển Mexico vào năm 1519, ắt hẳn họ đã ngợp lút giữa hàng ngàn kỵ binh Aztec cưỡi trên những con ngựa châu Mỹ bản địa được thuần hóa. Thay vì người Aztec chết vì bệnh đậu mùa, người Tây Ban Nha ắt sẽ bị quét sạch bởi các vi trùng châu Mỹ do những người Aztec đã có kháng thể truyền sang. Các nền văn minh châu Mỹ dựa trên sức loài vật ắt hẳn đã cử những đoàn quân chinh phục của mình sang làm cỏ châu Âu. Song những hệ quả giả định đó đã không xảy ra bởi các loài hữu nhũ đã bị tuyệt chủng ở châu Mỹ từ hàng ngàn năm trước.
Những sự tuyệt chủng đó đã khiến Âu-Á có nhiều loài hoang dã có thể thuần hóa hơn gấp bội so với châu Mỹ. Hầu hết các ứng viên này bị loại khỏi danh sách có thể thuần hóa bởi một nguyên nhân bất kỳ trong sáu nguyên nhân. Do vậy mà rốt cuộc Âu-Á còn lại 13 loài hữu nhũ lớn được thuần hóa, còn châu Mỹ chỉ có vỏn vẹn một loài. Cả hai bán cầu đều có những loài chim và loài hữu nhũ nhỏ được thuần hóa – như ở châu Mỹ là gà tây, chuột ghinê và vịt Muscovy ở phạm vi rất hẹp còn chó thì phổ biến hơn, còn ở Âu-Á là gà, ngỗng, vịt, mèo, chó, thỏ, ong mật, tằm và vài loài khác. Nhưng tầm quan trọng của tất cả các loài thuần hóa nhỏ đó chẳng là bao so với tầm quan trọng của các loài hữu nhũ lớn.
Âu-Á và châu Mỹ cũng khác nhau ở nghề trồng trọt, mặc dù sự khác nhau ở đây không lớn như ở chăn nuôi. Vào năm 1492, trồng trọt đã phổ biến trên toàn bộ Âu-Á. Trong số ít ỏi các dân tộc săn bắt hái lượm không có cả cây trồng lẫn vật nuôi ở Âu-Á có những người Ainu ở Bắc Nhật Bản, các xã hội Siberia không có hươu, và những nhóm nhỏ sống rải rác khắp những cánh rừng Ấn Độ và Đông Nam Á nhiệt đới sống bằng săn bắt hái lượm và trao đổi với các nhà nông láng giềng. Một số dân tộc Âu-Á khác, đặc biệt là những dân tộc du mục Trung Á và các dân tộc chăn nuôi tuần lộc ở Bắc cực là người Lapp và người Samoyed thì có chăn nuôi gia súc nhưng ít hoặc không trồng trọt gì. Hầu như tất cả các xã hội Âu-Á khác đều có cả trồng trọt lẫn chăn nuôi.
Nông nghiệp cũng phổ biến ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ, song những người săn bắt hái lượm vẫn chiếm lĩnh một phần lớn diện tích châu Mỹ so với ở Âu-Á. Các khu vực không hề có sản xuất lương thực ở châu Mỹ bao gồm toàn bộ vùng phía bắc của Bắc Mỹ và phía nam của Nam Mỹ, vùng Đồng bằng Lớn Canada, và toàn bộ phía tây Bắc Mỹ ngoại trừ vài vùng nhỏ ở phía tây nam Hoa Kỳ nơi có nghề nông tưới tiêu. Điều đáng ngạc nhiên là những khu vực không có sản xuất lương thực ở châu Mỹ bản địa vào thời đó bao gồm cả những vùng mà ngày nay, sau khi người châu Âu đến Bắc Mỹ, đã trở thành những vựa lúa mì và bãi chăn thả trù phú nhất của cả Bắc Mỹ lẫn Nam Mỹ: các bang ven bờ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, dải lúa mì của Canada, đồng bằng pampa của Argentina và vùng khí hậu Địa Trung Hải của Chile. Sở dĩ các vùng này xưa kia không có sản xuất lương thực chẳng qua là bởi các vùng này khan hiếm những loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa, cũng như vì các rào cản địa lý và sinh thái ngăn không cho các loài cây trồng và dăm ba loài vật nuôi ít ỏi ở những vùng khác của châu Mỹ có thể thâm nhập vào được. Việc các vùng này trở nên năng sản là có lợi không chỉ cho người châu Âu đến định cư mà trong một số trường hợp còn cho cả chính người châu Mỹ bản địa, bởi người châu Âu đã mang đến các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa thích hợp với các vùng này. Chẳng hạn, các xã hội châu Mỹ bản địa đã trở nên lừng danh vì tài cưỡi ngựa thiện nghệ, trong một số trường hợp còn nổi tiếng cả về nuôi bò và cừu ở một số nơi thuộc vùng Đồng bằng Lớn, miền phía tây Hoa Kỳ và đồng bằng pampa ở Argentina. Ngày nay hễ nói đến người Anh-điêng châu Mỹ là người Mỹ da trắng hình dung đầu tiên đến những chiến binh cưỡi ngựa cùng những người Navajo chăn cừu và dệt vải, song cơ sở cho cái hình ảnh đó chỉ hình thành từ sau năm 1492. Các ví dụ này chỉ cho ta thấy: cái thành tố duy nhất hãy còn thiếu để có thể duy trì sản xuất lương thực ở những khu vực rộng lớn của châu Mỹ chính là bản thân các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa.
Ở những vùng của châu Mỹ nơi người châu Mỹ bản địa đã phát triển được sản xuất lương thực, nền sản xuất lương thực đó cũng bị bó hẹp bởi năm điều bất lợi chính so với nền nông nghiệp Âu-Á: quá phụ thuộc vào cây ngô vốn nghèo protein chứ không phải những loài ngũ cốc đa dạng và giàu protein như ở Âu-Á; phải trồng từng hạt một bằng tay chứ không phải gieo hàng loạt; cày cấy bằng tay chứ không cày bằng sức của loài vật, trong khi nếu cày bằng sức loài vật thì một người có thể canh tác trên một diện tích rộng hơn nhiều, ngoài ra còn có thể trồng trọt trên một số nơi đất màu mỡ nhưng rắn và những nơi đất khó gieo cấy bằng tay (tỉ như đất vùng Đồng bằng Lớn ở Bắc Mỹ); thiếu phân bón loài vật để làm giàu thêm đất; và chỉ có sức người chứ không có sức loài vật để làm những việc nhà nông như đập, xay và xây kênh mương. Những khác biệt đó gợi cho ta rằng nền nông nghiệp Âu-Á tại thời điểm năm 1492 có thể đã mang lại lượng calori và protein bình quân tính theo giờ công người cao hơn so với nền nông nghiệp châu Mỹ.
Những sự khác biệt đó trong nền sản xuất lương thực là một nguyên nhân tối hậu chính dẫn đến sự khác biệt giữa các xã hội Âu-Á với các xã hội châu Mỹ. Trong số các nhân tố trực tiếp phát sinh từ nguyên nhân tối hậu này và dẫn tới khả năng chinh phục của các xã hội Âu-Á, quan trọng nhất là những khác biệt về vi trùng, công nghệ, tổ chức chính trị và chữ viết. Trong số này, nhân tố có quan hệ gần gũi nhất với những khác biệt trong sản xuất lương thực là các loại vi trùng. Các căn bệnh truyền nhiễm vốn thường xuyên ghé thăm những xã hội Âu-Á có mật độ đông đúc – và do đó nhiều người Âu-Á đã được miễn dịch hoặc có cơ chế đề kháng – bao gồm tất cả các tác nhân giết người lớn nhất trong lịch sử: đậu mùa, sởi, cúm, dịch hạch, lao, sốt phát ban, dịch tả, sốt rét, vân vân. Trái ngược với cái danh sách hắc ám này, căn bệnh truyền nhiễm đám đông duy nhất mà ta có thể quy nguồn gốc về các xã hội châu Mỹ bản địa tiền Columbus là các bệnh khuẩn xoắn không phải giang mai. (Như tôi đã giải thích ở Chương 11, người ta vẫn chưa rõ liệu giang mai đã phát sinh từ Âu-Á hay từ châu Mỹ, và cũng đã có người tuyên bố rằng bệnh lao đã hiện diện ở châu Mỹ từ trước thời Columbus, nhưng theo tôi điều này vẫn chưa được kiểm chứng).
Thật nghịch lý rằng sự khác biệt giữa hai lục địa về các loại vi trùng độc hại phát sinh từ sự khác biệt giữa hai lục địa về các loài gia súc có ích. Hầu hết các vi trùng gây ra những bệnh truyền nhiễm đặc trưng cho xã hội loài người đông đúc đã tiến hóa từ chính các vi trùng thủy tổ tương tự vốn từng gây bệnh truyền nhiễm ở các loài thú thuần hóa, mà con người từ khi chuyển sang sản xuất lương thực vào khoảng 10.000 năm trước thì cũng bắt đầu tiếp xúc hằng ngày với các loài này. Âu-Á đã nuôi dưỡng nhiều loài thú thuần hóa và do đó đã làm phát triển nhiều loại vi trùng như vậy, trong khi châu Mỹ có rất ít loài thú thuần hóa nên cũng có rất ít vi trùng. Còn những nguyên nhân khác khiến các xã hội châu Mỹ bản địa có quá ít loài vi trùng chết người như vậy, ấy là do những làng mạc, vốn là chốn sinh sôi nảy nở lý tưởng cho các bệnh truyền nhiễm, ra đời ở châu Mỹ muộn hơn ở Âu-Á đến hàng ngàn năm; và ba vùng ở Tân Thế giới nơi có những xã hội có thành thị (vùng Andes, Trung Mỹ và vùng đông nam Hoa Kỳ) thì đã chẳng bao giờ được nối kết với nhau bằng con đường giao thương nhanh chóng với khối lượng lớn trên quy mô tương tự như đường giao thương vốn đã đưa bệnh dịch hạch, cúm và có thể cả đậu mùa từ châu Á sang châu Âu. Kết quả là ngay cả sốt rét và sốt hoàng nhiệt, những bệnh truyền nhiễm mà rốt cuộc đã trở thành trở ngại chính ngăn cản người châu Âu thực dân hóa vùng nhiệt đới châu Mỹ, cũng là rào cản lớn nhất kìm hãm việc xây dựng Kênh đào Panama, lại hoàn toàn không phải là những căn bệnh của châu Mỹ mà được gây ra bởi các vi trùng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới của Cựu Thế giới và do người châu Âu mang theo đến châu Mỹ.
Chẳng kém phần quan trọng so với vi trùng – với tư cách là nhân tố trực tiếp khiến tại sao châu Âu chinh phục được châu Mỹ – là sự khác biệt trên mọi phương diện về công nghệ. Những khác biệt đó xét đến cùng đều nảy sinh từ việc Âu-Á có một lịch sử lâu dài hơn gấp bội gồm những xã hội sống bằng sản xuất lương thực, có mật độ dân cư đông đúc, chuyên môn hóa về kinh tế, tập trung hóa về chính trị, tương tác và cạnh tranh với nhau. Có thể kể ra năm lĩnh vực công nghệ như sau:
Thứ nhất: kim loại – đầu tiên là đồng thiếc, sau đó là đồng thau, cuối cùng là sắt – được dùng làm công cụ ở tất cả các xã hội phức tạp ở Âu-Á vào năm 1492. Ngược lại, mặc dù đồng thiếc, bạc, vàng và hợp kim đã được dùng làm đồ trang trí ở vùng Andes và một số khu vực khác ở châu Mỹ, nhưng đá, gỗ và xương thú vẫn là vật liệu chính để chế tác công cụ tại hầu hết các xã hội châu Mỹ bản địa, các xã hội này chỉ sử dụng công cụ bằng đồng ở mức độ hạn chế.
Thứ hai, kỹ thuật quân sự ở Âu-Á hùng mạnh hơn nhiều so với ở châu Mỹ. Vũ khí châu Âu bao gồm gươm, giáo và dao găm bằng thép, được bổ sung bằng súng hỏa mai và pháo, binh sĩ thì được bảo vệ bằng áo giáp và mũ trụ làm bằng thép đặc hoặc các vòng thép xâu vào nhau. Thay vì thép, người châu Mỹ bản địa dùng dùi cui và rìu làm bằng đá hoặc gỗ (đôi khi mới làm bằng đồng ở vùng Andes), ná, cung tên, mặc áo giáp bằng vải chần, là những thứ vũ khí và phương tiện bảo vệ kém hiệu quả hơn nhiều. Thêm nữa, các quân đội châu Mỹ bản địa chẳng có vật cưỡi nào để đương đầu với ngựa, trong khi nhờ có loài ngựa dùng để tấn công và vận chuyển nhanh mà người châu Âu đã có ưu thế vượt trội trong giao chiến, cho mãi đến khi một số xã hội châu Mỹ bản địa cũng tự mình tiếp thu được ngựa.
Thứ ba, các xã hội Âu-Á có ưu thế rất lớn về các nguồn vận hành máy móc. Bước tiến đầu tiên so với sức người là sử dụng loài vật – bò, ngựa và lừa – để kéo cày, quay bánh xe xay hạt, nâng nước và tưới tiêu đồng ruộng. Bánh xe bằng sức nước xuất hiện từ thời La Mã và trở nên phổ biến rộng khắp cùng với cối xay dùng thủy triều và cối xay gió vào thời Trung cổ. Kết hợp với các hệ thống bánh xe có răng khớp, các động cơ trang bị sức nước và sức gió này không chỉ dùng để xay hạt và vận chuyển nước mà còn để phục vụ cho rất nhiều mục đích sản xuất khác như nghiền đường, kéo bễ lò rèn, nghiền quặng, làm giấy, đánh bóng đá, ép dầu, làm muối, dệt vải và cưa gỗ. Người ta thường định nghĩa cuộc Cách mạng Công nghiệp một cách tùy tiện là đã khởi đầu từ khi động cơ hơi nước xuất hiện tại Anh vào thế kỷ XVIII, song kỳ thực một cuộc cách mạng công nghiệp dựa trên sức nước và sức gió đã bắt đầu từ thời trung cổ tại nhiều vùng ở châu Âu. Đến năm 1492, tất cả những việc nào mà ở châu Âu được tiến hành bằng sức loài vật, sức nước và sức gió thì ở châu Mỹ vẫn chỉ được tiến hành bằng sức người.
Từ lâu trước khi bánh xe bắt đầu được sử dụng để chuyển đổi lực ở Âu-Á, nó đã trở thành cơ sở cho hầu hết việc vận chuyển trên bộ ở lục địa này – không chỉ đối với xe do súc vật kéo mà với cả xe cút kít do người đẩy, vốn cho phép một hay nhiều người dù chỉ sử dụng lực cơ bắp của con người nhưng vẫn vận chuyển được trọng lượng lớn hơn nhiều so với nếu không dùng xe cút kít. Bánh xe cũng được sử dụng trong nghề làm đồ gốm và làm đồng hồ ở Âu-Á. Không một ứng dụng nào của bánh xe trong số đó được áp dụng ở châu Mỹ – bằng chứng cho thấy ở lục địa này bánh xe chỉ được dùng trong những đồ chơi bằng gốm của người Mexico.
Lĩnh vực công nghệ còn lại cần nhắc tới là giao thông đường biển. Nhiều xã hội Âu-Á đã phát triển được những chiếc tàu buồm lớn, một số trong đó có khả năng đi ngược chiều gió và băng qua đại dương, được trang bị kính lục phân, la bàn nam châm, bánh lái và đại bác. Về công suất, tốc độ, tính cơ động và khả năng đi biển, những con tàu Âu-Á đó vượt xa những chiếc bè vẫn được dùng để tiến hành trao đổi hàng hóa giữa các xã hội tiên tiến nhất của châu Mỹ là các xã hội ở Andes và Trung Mỹ. Những chiếc bè đó nương theo chiều gió dọc theo bờ biển Thái Bình Dương. Tàu của Pizarro đã dễ dàng đuổi kịp và bắt sống một chiếc bè như vậy ngay trong chuyến hành trình đầu tiên của ông ta đến Peru.
Ngoài vi trùng và công nghệ, các xã hội Âu-Á và xã hội châu Mỹ bản địa còn khác nhau ở tổ chức chính trị. Cho đến cuối thời Trung cổ hoặc thời Phục hưng, hầu hết Âu-Á đã nằm dưới sự cai trị của các nhà nước có tổ chức. Trong số đó, nổi bật là các nhà nước Habsburg, Ottoman và Trung Quốc, nhà nước Mogul ở Ấn Độ và nhà nước Mông Cổ vào thời hoàng kim của nó ở thế kỷ 13 như những thể hợp nhất rộng lớn đa ngôn ngữ hình thành từ những cuộc chinh phục các nhà nước khác. Vì lý do đó các nhà nước này thường được gọi là đế quốc. Nhiều nhà nước và đế quốc ở Âu-Á có những tôn giáo chính thức góp phần vào sự cố kết của nhà nước, điều cần thiết để hợp thức hóa vị thế lãnh đạo về chính trị và chuẩn y những cuộc chiến tranh chống lại các dân tộc khác. Các xã hội bộ lạc và bầy người ở Âu-Á chủ yếu chỉ bao gồm một ít nhóm nhỏ như những người nuôi tuần lộc ở Bắc Cực, các dân tộc săn bắt hái lượm ở Siberia và những vùng săn bắt hái lượm cô lập ở tiểu lục địa Ấn Độ cũng như Đông Nam Á nhiệt đới.
Châu Mỹ có hai đế quốc, đế quốc Aztec và đế quốc Inca, hai đế quốc này cũng tương đương các đế quốc ở Âu-Á xét về kích thước, dân số, kết cấu đa ngôn ngữ, tôn giáo chính thức và nguồn gốc hình thành từ những cuộc chinh phục các nhà nước nhỏ hơn. Ở châu Mỹ, hai đế quốc này là hai đơn vị chính trị duy nhất có khả năng huy động nguồn lực để xây dựng các công trình công cộng hoặc tiến hành chiến tranh trên quy mô của nhiều nhà nước Âu-Á, trong khi bảy nhà nước Âu-Á (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển và Đan Mạch) đã có nguồn lực để có thể biến châu Mỹ thành thuộc địa trong khoảng từ năm 1492 đến năm 1666. Châu Mỹ cũng có nhiều tù trưởng quốc (một số trên thực tế là những nhà nước nhỏ) ở Nam Mỹ nhiệt đới, ở Trung Mỹ ngoài phạm vi cai trị của đế quốc Aztec, và ở vùng đông nam Hoa Kỳ. Phần còn lại của châu Mỹ chỉ mới ở cấp độ bộ lạc hoặc bầy người.
Nhân tố trực tiếp cuối cùng cần bàn tới là chữ viết. Hầu hết các nhà nước Âu-Á đều có tầng lớp quan lại có chữ viết, và ngoài quan lại ra thì một bộ phận đáng kể dân chúng cũng biết chữ. Chữ viết đã làm tăng sức mạnh cho các xã hội châu Âu do tạo điều kiện cho việc điều hành về chính trị và trao đổi kinh tế, thúc đẩy và hướng dẫn những cuộc thám hiểm và chiến tranh chinh phục, cho phép người ta thu nhận nhiều thông tin và trải nghiệm nhân sinh từ những xứ sở và thời đại xa xôi. Ngược lại, việc sử dụng chữ viết ở châu Mỹ chỉ giới hạn trong giới tinh hoa tại một khu vực nhỏ hẹp của Trung Mỹ. Đế quốc Inca sử dụng một hệ thống kế toán và dụng cụ ghi nhớ dựa trên những nút thắt (gọi là quipu), nhưng đã không đạt tới trình độ dùng chữ viết như một phương tiện để truyền tải thông tin chi tiết.
Như vậy, các xã hội Âu-Á vào thời Columbus đã có ưu thế to lớn so với các xã hội châu Mỹ bản địa về sản xuất lương thực, vi trùng, công nghệ (kể cả vũ khí), tổ chức chính trị và chữ viết. Đó là những nhân tố chính khiến cho hậu quả những cuộc xung đột sau thời Columbus lệch hẳn về một phía. Song những khác biệt đó tại thời điểm năm 1492 chỉ tiêu biểu cho một phân đoạn của những quỹ đạo lịch sử đã kéo dài ít nhất 13.000 năm ở châu Mỹ và còn lâu hơn gấp bội ở Âu-Á. Đặc biệt là với châu Mỹ, phân đoạn năm 1492 đánh dấu chỗ kết thúc quỹ đạo lịch sử độc lập của người châu Mỹ bản địa. Giờ chúng ta hãy lần ngược về những giai đoạn đầu tiên của các quỹ đạo đó.
Bảng 18.1 tóm lược niên đại gần đúng khi các phát triển chủ chốt xuất hiện ở những “nguyên quán” chính ở mỗi bán cầu (vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc ở Âu-Á, vùng Andes, Amazonia và Trung Mỹ ở châu Mỹ). Bảng này cũng bao gồm quỹ đạo lịch sử của một “nguyên quán” nhỏ tại Tân Thế giới là miền đông Hoa Kỳ và quỹ đạo lịch sử của nước Anh, vốn hoàn toàn chẳng phải là một “nguyên quán” nhưng được liệt kê vào đây để cho ta thấy những sự phát triển đó đã bành trướng ra khỏi vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu nhanh chóng đến nhường nào.
Bảng này cầm chắc sẽ làm cho bất cứ vị học giả uyên thâm nào cũng phải khiếp vía bởi nó quy giản những quá trình lịch sử cực kỳ phức tạp xuống chỉ còn dăm ba niên đại có vẻ như chính xác. Trên thực tế, tất cả các niên đại đó chẳng qua chỉ là những nỗ lực nhằm định danh những điểm còn tranh cãi trên một quá trình phát triển. Chẳng hạn, có tầm quan trọng hơn nhiều so với niên đại đầu tiên khi nhà khảo cổ nào đó tìm ra công cụ bằng kim loại đầu tiên, là niên đại khi có một tỷ lệ đáng kể công cụ được làm bằng kim loại, song công cụ bằng kim loại phải được sử dụng thường xuyên đến đâu thì mới có thể gọi là “phổ biến”? Cùng một nguyên quán đó và cùng một phát triển đó, nhưng niên đại xuất hiện ở nơi này có thể khác với ở nơi kia. Chẳng hạn, trong phạm vi khu vực Andes, đồ gốm xuất hiện ở miền duyên hải Ecuador (3.100 năm TCN) sớm hơn đến 1.300 năm so với ở Peru (1.800 năm TCN). Một số niên đại, tỉ như niên đại hình thành các tù trưởng quốc, khó mà suy ra được từ các cứ liệu khảo cổ, trong khi niên đại các vật thể như đồ gốm hay công cụ bằng kim loại thì có thể suy ra dễ hơn. Một số niên đại ở Bảng 18.1 rất không chắc chắn, đặc biệt là niên đại phát sinh nền sản xuất lương thực ở châu Mỹ. Dẫu vậy, chừng nào ta còn hiểu rằng bảng này chỉ là một sự đơn giản hóa thì nó vẫn còn hữu ích để ta có thể đối chiếu lịch sử giữa hai lục địa.
Bảng này gợi ý rằng sản xuất lương thực đã bắt đầu cung cấp một phần lớn thực đơn của con người tại những nguyên quán ở Âu-Á sớm hơn khoảng 5.000 năm so với tại những nguyên quán ở châu Mỹ. Ở đây phải nói ngay rằng, tuy người ta không còn hoài nghi gì về niên đại ra đời nền sản xuất lương thực ở Âu-Á song thời điểm phát sinh sản xuất lương thực ở châu Mỹ thì vẫn đang trong vòng tranh cãi. Đặc biệt, các nhà khảo cổ thường nhắc lại rằng họ đã phát hiện được di tích thuần hóa cây trồng ở hang Coxcatlán tại Mexico, hang Guitarrero tại Peru và ở một số di chỉ khác tại châu Mỹ với niên đại xưa hơn đáng kể so với các niên đại được cho trong bảng này. Hiện nay các niên đại công bố đó đang được xem xét lại vì một số lý do: trong thời gian gần đây, việc xác định niên đại trực tiếp bằng cácbon phóng xạ đối với bản thân di tích cây trồng đã cho niên đại sớm hơn trong một số trường hợp; các niên đại xưa hơn mà người ta công bố trước đây là dựa trên niên đại của than củi được cho là cùng niên đại với di tích cây trồng nhưng thật ra có lẽ không phải; và người ta hãy còn chưa biết chắc liệu di tích những loài cây có niên đại xưa hơn đó có đúng là cây trồng chăng hay thật ra chỉ là cây dại được [người tiền sử] thu lượm về. Lại nữa, thậm chí nếu việc thuần hóa cây trồng đã bắt đầu tại châu Mỹ sớm hơn so với niên đại được cho ở Bảng 18.1 thì điều chắc chắn vẫn là: nông nghiệp đã bắt đầu cung cấp phần lớn calori và tạo điều kiện để con người sống định cư ở các nguyên quán châu Mỹ vào thời điểm muộn hơn rất nhiều so với ở những nguyên quán Âu-Á.
Như ta đã thấy ở Chương 5 và Chương 10, chỉ một số khu vực tương đối nhỏ ở mỗi bán cầu đã đóng vai trò “nguyên quán”, nghĩa là nơi mà sản xuất lương thực đã phát sinh đầu tiên và bành trướng từ đó ra các khu vực khác. Các nguyên quán đó là vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc ở Âu-Á, vùng Andes, Amazonia, Trung Mỹ và miền đông Hoa Kỳ ở châu Mỹ. Chúng ta đặc biệt hiểu rõ tốc độ bành trướng của các phát triển chủ chốt ở châu Âu nhờ khu vực này có nhiều nhà khảo cổ đang làm việc. Như Bảng 18.1 tóm tắt đối với nước Anh, phải mất những 5.000 năm nền sản xuất lương thực và lối sống theo làng mạc từ vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu mới đến được nước Anh, song từ đó trở đi thì tốc độ tiếp thu của nước Anh đối với [hình thái] tù trưởng quốc, nhà nước, chữ viết và đặc biệt là công cụ bằng kim loại đã nhanh hơn rất nhiều: chỉ mất 2.000 năm để tiếp thu các công cụ kim loại phổ biến đầu tiên làm bằng đồng thiếc và đồng thau, và chỉ mất 250 năm để tiếp thu công cụ phổ biến làm bằng sắt. Rõ ràng, một xã hội đã có sẵn các nhà nông định cư thì sẽ “mượn” nghề luyện kim từ một xã hội khác dễ hơn nhiều so với một xã hội gồm toàn những người săn bắt hái lượm du cư “mượn” nền sản xuất lương thực từ các nhà nông định cư (hoặc bị hất cẳng bởi các nhà nông đó).
Bảng 18.1. Quỹ đạo lịch sử của Âu-Á và của châu Mỹ
Bảng này cung cấp niên đại phỏng đoán thời điểm một số phát minh quan trọng được tiếp nhận rộng rãi ở ba khu vực tại Âu-Á và bốn khu vực tại Châu Mỹ bản địa. Niên đại thuần hóa vật nuôi không tính loài chó, bởi loài này được thuần hóa sớm hơn các loài dùng để phục vụ sản xuất lương thực ở cả Âu-Á lẫn châu Mỹ.
Các tù trưởng quốc được phỏng đoán từ bằng chứng khảo cổ, chẳng hạn nơi mai tang, kiến trúc và nơi cư trú được phân chia theo thứ bậc. Bảng này là sự đơn giản hóa rất nhiều từ một khối sự kiện lịch sử vô cùng phức tạp – nội dung chương có nói rõ về một số trong nhiều thiếu sót nghiêm trọng ở bảng này.
Tại sao quỹ đạo của tất cả các phát triển chủ chốt lại lệch sang những niên đại muộn hơn ở châu Mỹ so với ở Âu-Á? Hẳn là do bốn nhóm nguyên nhân: so với Âu-Á thì châu Mỹ khởi đầu sản xuất lương thực muộn hơn, số loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa ít ỏi hơn, có nhiều rào cản lớn hơn ngăn cản sự phát tán, và có thể là do các khu vực đông dân cư ở châu Mỹ có quy mô nhỏ hơn hoặc biệt lập hơn so với ở Âu-Á.
Về lợi thế xuất phát trước của Âu-Á, con người đã chiếm lĩnh Âu-Á từ khoảng một triệu năm nay, lâu hơn rất nhiều so với ở châu Mỹ. Theo bằng chứng khảo cổ đã đề cập đến ở Chương 1, con người chỉ tiến sang châu Mỹ bằng ngả Alaska vào khoảng 12.000 năm TCN, bành trướng về phía nam các dải băng ở Canada với tư cách những thợ săn Clovis chỉ một vài thế kỷ trước 11.000 năm TCN, và đặt chân đến mũi phía nam của Nam Mỹ ngay trước 10.000 năm TCN. Thậm chí dù niên đại con người đến định cư ở châu Mỹ từ xưa hơn – mà các nhà khảo cổ vẫn còn tranh cãi – được chứng minh là đúng thì các cư dân tiền Clovis giả định kia vì nguyên nhân nào đó không rõ đã phân bố rất thưa thớt và không phát triển lên được thành những xã hội săn bắt hái lượm trù mật vào Kỷ Pleitoxen với dân số tăng nhanh, có công nghệ và nghệ thuật như ở Cựu Thế giới. Sản xuất lương thực đã phát sinh tại Lưỡi liềm Phì nhiêu chỉ 1.500 năm sau khi những người săn bắt hái lượm xuất thân từ các thợ săn Clovis đặt chân đến mỏm phía nam Nam Mỹ.
Có một số hậu quả khả dĩ của sự khởi đầu sớm tại Âu-Á cần được chúng ta xét kỹ hơn. Thứ nhất, liệu có phải mất một thời gian dài sau 11.000 năm trước CN để con người chiếm lĩnh toàn bộ châu Mỹ không? Nếu tính toán bằng con số, ta sẽ thấy khoảng thời gian đó có chăng cũng chỉ chiếm một phần nhỏ quãng thời gian muộn những 5.000 năm để sản xuất lương thực hình thành ở châu Mỹ. Tính toán ở Chương 1 cho ta biết rằng thậm chí dù chỉ có 100 người châu Mỹ bản địa tiên phong vượt qua ranh giới Canada để bước vào Hoa Kỳ ở phía nam và tăng dân số với tốc độ chỉ 1% một năm thì hậu duệ săn bắt hái lượm của họ cũng sẽ tràn ngập khắp toàn bộ châu Mỹ trong vòng 1.000 năm. Dù chỉ bành trướng về phía nam với tốc độ một dặm (1,6 km) một tháng, những nhà tiên phong đó cũng chỉ mất 700 năm kể từ khi băng qua ranh giới Canada để đến được mỏm cực nam của Nam Mỹ. Tốc độ tăng dân số và bành trướng giả định này là rất thấp so với tốc độ tăng dân số và bành trướng thực tế của những dân tộc đang chiếm lĩnh dần những vùng đất chưa có người ở hoặc có nhưng thưa thớt. Vì vậy, có lẽ chỉ trong vòng vài thế kỷ sau khi những người di cư đầu tiên [từ Âu-Á sang] châu Mỹ là toàn bộ châu Mỹ đã có những người săn bắt hái lượm sinh sống cả rồi.
Thứ hai, liệu có phải một phần lớn trong quãng 5.000 năm chậm trễ kia là thời gian cần thiết để những người châu Mỹ đầu tiên kia làm quen với các loài cây cỏ, chim muông và các loại đá mà họ gặp ở địa phương này? Nếu một lần nữa ta có thể suy luận theo phép tương đồng như khi những người săn bắt hái lượm và nông dân New Guinea và Polynesia chiếm lĩnh các môi trường xa lạ – như những người Maori chiếm lĩnh New Zealand hay người Tudawhe chiếm lĩnh vùng Lòng chảo Karimui ở New Guinea – những người mới đến có lẽ chỉ cần không tới một thế kỷ để phát hiện được nguồn đá nào tốt nhất và phân biệt được loài cây cỏ hay chim thú nào có ích còn loài nào độc hại.
Thứ ba, đâu là lợi thế xuất phát trước của Âu-Á trong việc phát triển công nghệ thích hợp với môi trường đặc thù của mình? Các nhà nông đầu tiên của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc được thừa hưởng cái công nghệ mà những người Homo sapiens hiện đại về mặt hành vi đã phát triển được nhằm khai thác tài nguyên địa phương ở các khu vực đó trong suốt hàng vạn năm. Chẳng hạn, những chiếc rìu bằng đá, hầm chứa ngầm dưới đất và các kỹ thuật khác mà những người săn bắt hái lượm vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã dần dần phát minh ra để sử dụng ngũ cốc dại, đều đã được lưu truyền cho các nhà nông trồng ngũ cốc đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Ngược lại, những người đầu tiên đến định cư ở châu Mỹ đã đặt chân tới Alaska trong khi những thiết bị họ có chỉ thích hợp với vùng đài nguyên Siberia Bắc cực. Họ đã phải tự phát minh ra các thiết bị thích hợp với từng môi trường mới mà họ gặp. Sự chậm trễ về công nghệ đó đã góp phần đáng kể khiến cho mọi phát triển ở châu Mỹ bản địa đều muộn hơn ở Âu-Á.
Một nhân tố thậm chí còn hiển nhiên hơn nữa tác động đến sự chậm trễ này là [châu Mỹ] có những loài cây dại và thú hoang nào có thể thuần hóa được. Như tôi đã bàn ở Chương 6, khi những người săn bắt hái lượm tiếp thu nền sản xuất lương thực, ấy chẳng phải vì họ tiên liệu được những lợi ích tiềm tàng mà phải đến đời con đời cháu họ may ra mới hưởng, mà chỉ bởi nền sản xuất lương thực sơ khai kia bắt đầu đem lại ưu thế so với lối sống săn bắt hái lượm. Sức cạnh tranh của sản xuất lương thực thời kỳ đầu so với săn bắt hái lượm tại châu Mỹ không bằng như ở Lưỡi liềm Phì nhiêu hay Trung Quốc, một phần bởi châu Mỹ thực sự thiếu các loài hữu nhũ lớn có thể thuần hóa. Vì vậy, các nhà nông đầu tiên ở châu Mỹ vẫn phải dựa vào thú hoang làm nguồn cung cấp protein và vẫn phải dành phân nửa thời gian để săn bắt hái lượm, trong khi ở cả Lưỡi liềm Phì nhiêu lẫn Trung Quốc việc thuần hóa vật nuôi diễn ra ngay sau thuần hóa cây trồng, [cả hai hợp lại] tạo thành một nền sản xuất lương thực trọn gói nhanh chóng tỏ ra ưu việt và thay thế dần lối sống săn bắt hái lượm. Ngoài ra, các loài súc vật thuần hóa cũng làm cho bản thân nghề nông Âu-Á có sức cạnh tranh hơn bởi cung cấp phân bón, về sau là sức kéo cày.
Các đặc tính của cây dại ở châu Mỹ cũng góp phần khiến cho sản xuất lương thực của châu Mỹ bản địa kém cạnh tranh hơn. Kết luận đó là rõ ràng nhất ở khu vực miền đông Hoa Kỳ, nơi chỉ có chưa đầy một tá loài cây được thuần hóa trong đó có những loài thân thảo hạt nhỏ nhưng chẳng có loài thân thảo nào có hạt to, và không có cây đỗ, cây cho sợi, cây ăn quả nào. Điều đó cũng rõ ràng đối với vùng Trung Mỹ, cây trồng chính ở đó là ngô, vốn cũng bành trướng để trở thành cây trồng chính ở cả một số vùng khác của châu Mỹ. Trong khi lúa mì và lúa mạch dại của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã tiến hóa thành cây trồng mà ít bị thay đổi nhất và chỉ trong vòng vài thế kỷ, thì cây teosinte dại đã phải trải qua những thay đổi triệt để trong cơ chế sinh sản, cơ chế phân phối năng lượng để sinh hạt, đánh mất lớp vỏ cứng như đá bọc quanh hạt còn lõi thì to ra rất nhiều.

Kết quả là, thậm chí dù ta chấp nhận các niên đại giả định muộn hơn mà giới khoa học đưa ra gần đây đối với thời điểm bắt đầu thuần hóa cây trồng ở châu Mỹ bản địa, thì cũng có một khoảng cách thời gian khoảng 1.500 hoặc 2.000 năm kể từ thời điểm đó (khoảng 3.000-2.500 năm TCN) và thời điểm xuất hiện những làng mạc định cư quanh năm (1.800-500 năm TCN) phổ biến ở Trung Mỹ, vùng nội địa Andes và miền đông Hoa Kỳ. Suốt một thời gian dài, trồng trọt ở châu Mỹ bản địa vẫn chỉ là một bổ sung nhỏ nhoi cho việc tìm kiếm thức ăn bằng săn bắt hái lượm và chỉ nuôi sống được một dân số ít oi. Còn nếu ta chấp nhận những niên đại xưa hơn như từ trước đến nay thì châu Mỹ đã phải mất đến 5.000 năm – chứ không phải 1.500 hay 2.000 năm – từ khi bắt đầu thuần hóa cây trồng cho đến khi sản xuất lương thực đủ khả năng nuôi sống các quần thể làm nông định cư thành làng mạc. Ngược lại, ở hầu hết Âu-Á làng mạc đã xuất hiện rất gần về thời gian so với thời điểm hình thành sản xuất lương thực. (Bản thân lối sống săn bắt hái lượm vẫn đủ năng sản để nuôi sống các làng định cư ngay cả trước khi người ta chuyển sang nông nghiệp ở một số vùng của cả hai bán cầu, như Nhật Bản và Lưỡi liềm Phì nhiêu ở Cựu Thế giới, vùng duyên hải Ecuador và Amazonia ở Tân Thế giới). Tân Thế giới bị giới hạn về chủng loại các loài thuần hóa, điều đó có thể thấy rõ qua việc bản thân các xã hội châu Mỹ bản địa đã chuyển biến như thế nào khi có những loài cây trồng hay vật nuôi khác từ nơi khác du nhập đến, dù là từ một vùng khác của châu Mỹ hay từ Âu-Á. Ví dụ tiêu biểu là những chuyển biến diễn ra khi cây ngô được du nhập vào miền đông Hoa Kỳ và Amazonia, loài llama được tiếp thu ở phía bắc Andes sau khi nó được thuần hóa ở phía nam, và khi loài ngựa [từ Âu-Á đến] xuất hiện ở nhiều vùng của Bắc Mỹ và Nam Mỹ.
Ngoài lợi thế xuất phát trước cũng như chủng loại cây dại và thú hoang của Âu-Á, các phát triển ở Âu-Á cũng được đẩy nhanh hơn nhờ lục địa này cho phép các loài súc vật, cây trồng, ý tưởng, công nghệ và bản thân con người phát tán dễ dàng hơn so với châu Mỹ do hệ quả của một số nhân tố địa lý và sinh thái. Trục chính của Âu-Á là đông-tây, khác với trục chính của châu Mỹ là nam-bắc, cho phép sự phát tán diễn ra mà không gặp sự thay đổi về vĩ độ và các biến thiên môi trường kèm theo sự thay đổi về vĩ độ. Trái ngược với bề ngang theo hướng đông-tây khá đồng nhất của Âu-Á, Tân Thế giới bị thắt nhỏ lại suốt cả chiều dài Trung Mỹ đặc biệt là ở Panama. Thế còn chưa hết, châu Mỹ lại còn bị phân mảnh hơn nữa vì những khu vực không thích hợp cho sản xuất lương thực hoặc cho con người sinh sống đông đúc. Các rào cản sinh thái đó bao gồm những khu rừng mưa ở eo biển Panama chia cắt các xã hội Trung Mỹ với các xã hội vùng Andes và Amazonia, các sa mạc phía bắc Mexico chia cắt Trung Mỹ với các xã hội vùng tây nam và đông nam Hoa Kỳ, những khu vực khô hạn ở Texas ngăn cách đông nam Hoa Kỳ với tây nam Hoa Kỳ, và những sa mạc cũng như núi cao ngăn cách vùng duyên hải Thái Bình Dương của Hoa Kỳ mà lẽ ra đã có thể thích hợp cho sản xuất lương thực. Hệ quả là đã chẳng hề có sự phát tán các loài thú nuôi, chữ viết hay các thể chế chính trị, còn phát tán cây trồng và công nghệ thì hạn chế hoặc diễn ra chậm chạp, giữa các trung tâm của Tân Thế giới là Trung Mỹ, miền đông Hoa Kỳ, vùng Andes và Amazonia.
Một số hậu quả đặc thù của các rào cản đó trong phạm vi châu Mỹ đáng cho ta chú ý. Sản xuất lương thực đã chẳng bao giờ phát tán ra khỏi miền tây nam Hoa Kỳ và thung lũng Mississippi để đến những vựa lúa mì California và Oregon ngày nay của Hoa Kỳ nơi các xã hội châu Mỹ bản địa [thời đó] vẫn tiếp tục sống theo lối săn bắt hái lượm chỉ vì thiếu các loài thuần hóa thích hợp. Lạc đà châu Mỹ (llama), chuột ghinê và khoai tây ở vùng cao nguyên Andes đã chẳng bao giờ đến được cao nguyên Mexico, cho nên Trung Mỹ và Bắc Mỹ vẫn chẳng có loài hữu nhũ thuần hóa nào ngoại trừ chó. Ngược lại, cây hướng dương thuần hóa ở vùng đông Hoa Kỳ đã chẳng bao giờ tới được Trung Mỹ, còn gà tây thuần hóa ở Trung Mỹ đã chẳng bao giờ tới được Nam Mỹ hay miền đông Hoa Kỳ. Ngô của Trung Mỹ phải mất những 3.000 năm còn đậu Trung Mỹ phải mất tới 4.000 năm để vượt qua khoảng cách 700 dặm (1.120 km, ND) từ các nông trại Mexico tới các nông trại ở miền đông Hoa Kỳ. Sau khi cây ngô tới được miền đông Hoa Kỳ, cũng phải mất thêm vài thế kỷ nữa thì việc phát triển một loài ngô năng sản trong điều kiện khí hậu Bắc Mỹ mới kích thích sự hưng thịnh của vùng Mississippi. Ngô, đậu và bí có thể đã phải mất mấy ngàn năm mới bành trướng được từ Trung Mỹ đến miền tây nam Hoa Kỳ. Trong khi các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu có thể bành trướng từ đông sang tây và ngược lại đủ nhanh khiến các vùng khác không kịp thuần hóa độc lập cũng các loài đó hoặc những loài tương tự, thì các rào cản ở châu Mỹ lại tạo điều kiện cho sự thuần hóa song song cùng một số loại cây trồng [ở nhiều khu vực khác nhau].
Cũng đáng chú ý như tác động của các rào cản đó đối với việc phát tán cây trồng và vật nuôi là tác động của chúng lên những đặc tính khác của xã hội loài người. Các bảng chữ cái có gốc gác nguyên thủy từ miền đông Địa Trung Hải đã phát tán ra tất cả các xã hội phức tạp của Âu-Á, từ nước Anh đến Indonesia, ngoại trừ những khu vực ở Đông Á nơi văn tự phổ biến là những hệ chữ viết xuất thân từ chữ Hán. Ngược lại, hệ chữ viết duy nhất ở Tân Thế giới – hệ chữ viết của Trung Mỹ – chẳng bao giờ bành trướng được đến các xã hội phức tạp ở vùng Andes và miền đông Hoa Kỳ mà lẽ ra đã có thể tiếp thu nó. Bánh xe được phát minh ở Trung Mỹ như một phần của các món đồ chơi song đã chẳng bao giờ gặp được các con lạc đà được thuần hóa ở vùng Andes để tạo thành một phương tiện vận chuyển cho Tân Thế giới. Từ đông sang tây ở Cựu Thế giới, đế quốc Macedonia và đế quốc La Mã đều trải rộng khắp 3.000 dặm (4.800 km, ND), đế quốc Mông Cổ thì đến tận 6.000 dặm (9.600 km, ND). Nhưng các đế quốc và nhà nước ở Trung Mỹ đã chẳng có hề quan hệ chính trị với – hình như thậm chí chưa hề nghe nói đến – các tù trưởng quốc ở miền đông Hoa Kỳ chỉ cách họ 700 dặm về phía bắc hoặc các đế quốc và nhà nước ở vùng Andes cách họ 1.200 dặm (hơn 1.900 km, ND) về phía nam.
Việc châu Mỹ bị phân mảnh nhiều hơn về địa lý so với Âu-Á cũng phản ánh ở sự phân bố ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học nhất trí chia tất cả các ngôn ngữ Âu-Á (chỉ trừ vài ngoại lệ) thành khoảng một tá ngữ hệ, mỗi ngữ hệ gồm vài trăm ngôn ngữ có họ hàng với nhau. Chẳng hạn, ngữ hệ Ấn-Âu – trong đó có tiếng Anh cũng như tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Hy Lạp và tiếng Hindi – bao gồm 144 ngôn ngữ. Chỉ một vài ngữ hệ trong số đó chiếm lĩnh những khu vực rộng lớn không bị chia cắt – trong trường hợp ngữ hệ Ấn-Âu, khu vực của nó bao gồm từ hầu hết châu Âu về phía đông cho đến phần lớn châu Á về phía tây đến tận Ấn Độ. Bằng chứng ngôn ngữ, bằng chứng lịch sử và bằng chứng khảo cổ hợp lại cho thấy rõ rằng mỗi một ngữ hệ được phân bố trên một khu vực rộng lớn và liên tục đó đều xuất phát từ sự bành trướng một ngôn ngữ thủy tổ trong lịch sử, tiếp theo đó là sự biệt hóa ngôn ngữ theo từng khu vực để hình thành một ngữ hệ gồm các ngôn ngữ có quan hệ họ hàng (Bảng 18.2). Hầu hết các ngôn ngữ thủy tổ đó sở dĩ bành trướng được hẳn là do ưu thế của những người sử dụng chúng – vốn thuộc về những xã hội sản xuất lương thực – so với các dân tộc săn bắt hái lượm. Ở Chương 16 và Chương 17 ta đã bàn tới những sự bành trướng đó trong lịch sử của các ngữ hệ Hán-Tạng, Nam Đảo và các ngữ hệ Đông Á khác. Trong số những sự bành trướng đó vào thiên niên kỷ gần đây nhất có những cuộc bành trướng đã đưa các ngôn ngữ Ấn-Âu từ châu Âu sang châu Mỹ và Australia, tiếng Nga từ Đông Âu ra khắp Siberia, và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Altai) từ Trung Á về phía tây đến Thổ Nhĩ Kỳ.
Trừ ngoại lệ là ngữ hệ Eskimo-Aleut ở vùng Bắc Cực châu Mỹ và ngữ hệ Na-Dene ở Alaska, vùng tây bắc Canada và tây nam Hoa Kỳ, châu Mỹ thiếu những ví dụ về các cuộc bành trướng ngôn ngữ trên quy mô lớn được các nhà ngôn ngữ học rộng rãi thừa nhận. Hầu hết giới ngôn ngữ học chuyên về các ngôn ngữ châu Mỹ bản địa không thừa nhận một nhóm ngôn ngữ lớn và rõ rệt nào khác ngoài các nhóm Eskimo-Aleut và NaDene. Giỏi lắm họ cũng chỉ xem các bằng chứng là vừa đủ để chia các ngôn ngữ châu Mỹ bản địa khác (khoảng từ 600 đến 2.000 tùy theo cách liệt kê khác nhau) thành khoảng một trăm hay trên một trăm nhóm ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ riêng biệt. Có một quan điểm thiểu số gây tranh cãi, ấy là quan điểm của nhà ngôn ngữ học Josepgh Greenberg – ông này chia toàn bộ các ngôn ngữ châu Mỹ bản địa khác ngoài các ngôn ngữ Eskimo-Aleut và Na-Dene thành một ngữ hệ duy nhất gọi là Amerind với khoảng một tá ngữ hệ con.
Một số ngữ hệ của Greenberg, cũng như một số nhóm ngôn ngữ theo cách phân loại của các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm truyền thống, có thể lại là di sản từ những cuộc bành trướng dân số ở Tân Thế giới mà động lực một phần là sản xuất lương thực. Các di sản đó có thể bao gồm các ngôn ngữ Uto-Aztec ở Trung Mỹ và miền tây Hoa Kỳ, các ngôn ngữ Oto-Manguea ở Trung Mỹ, các ngôn ngữ Natchez-Muskogea ở đông nam Hoa Kỳ, và các ngôn ngữ Arawak ở vùng Tây Ấn. Song những khó khăn mà các nhà ngôn ngữ học gặp phải trong việc phân loại các ngôn ngữ châu Mỹ bản địa chẳng qua phản ánh những khó khăn mà bản thân các xã hội phức tạp ở châu Mỹ bản địa từng gặp phải khi bành trướng trong phạm vi Tân Thế giới. Giá như có một dân tộc sản xuất lương thực nào ở châu Mỹ bản địa đã thành công trong việc bành trướng ra xa cùng các cây trồng và vật nuôi của mình để rồi nhanh chóng chiếm chỗ các dân tộc săn bắt hái lượm trên một khu vực rộng lớn, thì ắt hẳn họ đã để lại di sản dưới dạng những ngữ hệ có thể dễ dàng nhận diện cũng như ở Âu-Á, và mối quan hệ giữa các ngữ hệ châu Mỹ bản địa đã không rối rắm, gây nhiều tranh cãi đến vậy.
Bảng 18.2. Sự bành trướng các ngôn ngữ ở Cựu Thế giới

Niên đại suy ra

Ngữ hệ

Hướng bành trướng

Động lực tối hậu

6.000 hay 4.000 TCN

Ấn-Âu

Ukraina hoặc Anatolia -> châu Âu, Trung Á, Ấn Độ

Sản xuất lương thực hoặc chăn nuôi du mục cưỡi ngựa

6.000 TCN – 2.000 TCN

Elamo – Dravidian

Iran ->Ấn Độ

Sản xuất lương thực

4.000 TCN – hiện nay

Hán-Tạng

Cao nguyên Tây Tạng, Bắc Trung Quốc -> Nam Trung Quốc, Đông Nam Á nhiệt đới

Sản xuất lương thực

3.000 TCN – 1.000 TCN

Nam Đảo

Nam Trung Quốc -> Indonesia, các đảo Thái Bình Dương

Sản xuất lương thực

3.000 TCN

Bantu

Nigeria và Cameroon -> Nam Phi

Sản xuất lương thực

3.000 TCN – năm 1 CN

Nam Á

Nam Trung Quốc -> Đông Nam Á nhiệt đới

Sản xuất lương thực

1.000 TCN – năm 1.500 CN

Thái-Kadai, Mèo-Dao

Nam Trung Quốc -> Đông Nam Á nhiệt đới

Sản xuất lương thực

Năm 892 CN

Hungari

Dãy Ural -> Hungari

Chăn nuôi du mục cưỡi ngựa

1.000 CN – 1.300 CN

Altai (Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ)

Thảo nguyên châu Á -> châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc

Chăn nuôi du mục cưỡi ngựa

1.480 CN – 1.638 CN

Nga

Nga ở châu Âu -> Siberia ở châu Á

Sản xuất lương thực

Như vậy chúng ta đã xác định ba nhóm nhân tố tối hậu khiến người châu Âu có ưu thế vượt trội khi xâm lăng châu Mỹ: Âu-Á có lợi thế xuất phát là có người định cư từ sớm hơn nhiều; nền sản xuất lương thực ở Âu-Á hữu hiệu hơn do có nhiều hơn gấp bội các loài cây dại và đặc biệt là thú hoang có thể thuần hóa; và Âu-Á ít có những rào cản đáng sợ về địa lý và sinh thái ngăn trở sự phát tán trong phạm vi lục địa. Còn một nhân tố thứ tư nữa – mang tính phỏng đoán nhiều hơn – mà ta có thể luận ra từ việc có một số nhân tố mà rất lạ là châu Mỹ đã không phát minh ra được: các xã hội phức tạp ở vùng Andes đã không phát minh được chữ viết và bánh xe mặc dù độ dài lịch sử của các xã hội đó cũng xấp xỉ bằng của các xã hội phức tạp ở vùng Trung Mỹ trong khi các xã hội Trung Mỹ thì lại phát minh ra được; còn bánh xe thì tuy các xã hội Trung Mỹ phát minh ra nhưng lại chỉ được dùng trong các món đồ chơi và rốt cuộc thì biến mất, mặc dù lẽ ra người ta cũng có thể dùng nó để chế tạo xe cút kít do người kéo như ở Trung Quốc. Những trường hợp khó hiểu đó làm ta nhớ lại những trường hợp khác cũng khó hiểu không kém khi một số xã hội nhỏ biệt lập như người Tasmania bản địa, người Australia bản địa, người Nhật Bản, các đảo Polynesia và vùng Bắc cực châu Mỹ đã không phát minh được một số thứ hoặc [đã phát minh được hoặc tiếp thu được nhưng rồi] lại đánh mất. Dĩ nhiên, châu Mỹ [gồm Bắc Mỹ và Nam Mỹ] gộp lại chẳng hề nhỏ tí nào: tổng diện tích của chúng bằng 76% diện tích Âu-Á, còn dân số châu Mỹ tại thời điểm năm 1492 có lẽ cũng bằng một phần lớn dân số Âu-Á. Nhưng châu Mỹ, như ta đã thấy, bị chia cắt thành những “ốc đảo” với những xã hội chỉ liên hệ với nhau một cách yếu ớt. Hẳn là lịch sử bánh xe và lịch sử chữ viết của châu Mỹ bản địa là tiêu biểu cho những nguyên lý vốn đã được minh họa dưới hình thức cực đoan hơn qua trường hợp các xã hội đích thực là xã hội hải đảo.
Sau ít nhất 13.000 năm phát triển riêng biệt, các xã hội tiên tiến ở châu Mỹ và Âu-Á cuối cùng cũng đã đụng độ nhau trong vòng một ngàn năm trở lại đây. Cho tới khi đó, những tiếp xúc duy nhất giữa các xã hội loài người ở Tân Thế giới với các xã hội loài người ở Cựu Thế giới chỉ giới hạn ở những người săn bắt hái lượm ở hai bên bờ eo biển Bering.
Người châu Mỹ bản địa đã chẳng hề thử di cư sang Âu-Á, ngoại trừ ở eo Bering nơi một nhóm nhỏ người Inuit (Eskimo) xuất phát từ Alaska đã chuyển sang định cư ở vùng bờ biển Siberia phía bên kia eo Bering. Cuộc di cư đầu tiên của người Âu-Á sang châu Mỹ mà lịch sử ghi lại được là do người Norse [người Bắc Âu cổ, ND] tiến hành ở các vĩ độ Bắc Cực và dưới Bắc Cực (Hình 18.1). Người Norse từ Na Uy ngày nay di cư sang Iceland vào năm 986, và cuối cùng người Norse định cư ở Greenland bắt đầu thường xuyên đặt chân đến bờ biển Đông Bắc Bắc Mỹ trong khoảng từ năm 1000 đến năm 1350. Di chỉ khảo cổ Norse duy nhất được phát hiện ở châu Mỹ là ở Newfoundland, có lẽ là khu vực được gọi là Vinland trong các bản trường ca cổ (saga) của người Norse, nhưng các saga cũng còn nhắc đến những cuộc đổ bộ rõ ràng còn xa hơn về phía bắc, trên bờ biển Labrador và đảo Baffin.
Khí hậu Iceland cho phép chăn nuôi, trồng trọt tuy hết sức hạn chế, và diện tích đảo này vừa đủ để nuôi sống một quần thể dân cư có nguồn gốc Bắc Âu vẫn tồn tại đến ngày nay. Nhưng hầu hết đảo Greenland thì phủ dưới băng, và ngay cả ở hai vùng vịnh ven biển (fjord) thuận lợi nhất ở đây cũng khó lòng có thể sản xuất lương thực theo kiểu người Norse được. Dân số người Norse ở Greenland chưa bao giờ vượt quá dăm ngàn người. Các cư dân này vẫn phải nhập lương thực và sắt từ Na Uy, nhập gỗ từ vùng duyên hải Labrador. Khác với đảo Phục Sinh và các đảo Polynesia xa xôi khác, Greenland không đủ sức nuôi sống một xã hội sản xuất lương thực tự túc, mặc dù nó vẫn có thể nuôi sống các quần thể người Inuit săn bắt hái lượm tự túc cả trước, trong và sau thời kỳ người Norse chiếm cứ đảo này. Bản thân dân số Iceland và Na Uy quá ít ỏi và quá nghèo nên không thể tiếp tục hỗ trợ những người định cư ở Greenland nữa.
Hình 18.1: Sự bành trướng của người Norse từ Na Uy băng qua Bắc Đại Tây Dương, với niên đại phỏng đoán thời điểm họ đặt chân đến từng khu vực.
Vào thời kỳ Tiểu Băng Hà vào thế kỷ XIII, vùng Bắc Băng Dương trở nên lạnh hơn khiến cho việc sản xuất lương thực ở Greenland cũng như việc đi lại của người Norse từ Na Uy và Iceland đến Greenland càng trở nên khó khăn. Lần tiếp xúc cuối cùng của người Greenland với người châu Âu là vào năm 1410 khi một con tàu của Iceland cập bến [châu Âu] sau khi bị [bão] thổi chệch hướng. Khi người châu Âu rốt cuộc cũng ghé thăm Greenland trở lại vào năm 1577 thì ở đó đã chẳng còn khu định cư nào của người Norse nữa; các khu định cư đó đã biến mất trong thế kỷ XV mà được chẳng sách vở nào ghi lại.
Nhưng bờ biển Bắc Mỹ thì lại xa hẳn ngoài tầm với của các con tàu buồm xuất phát từ bản thân Na Uy bởi công nghệ tàu biển của Na Uy vào thời kỳ 986-1410 không cho phép. Để đến được Bắc Mỹ, người Norse chỉ có thể xuất phát từ chính đảo Greenland vốn chỉ cách Bắc Mỹ qua eo David rộng 200 dặm (320 km). Tuy nhiên, đối với dúm người Norse ít ỏi sống ở tận biên khu xa xôi kia thì khả năng khai phá, chinh phục và định cư lâu dài [trên một lục địa rộng lớn như] châu Mỹ là bằng không. Ngay cả di chỉ Norse duy nhất ở Newfoundland hình như cũng chẳng gì hơn là một khu cắm trại mùa đông của dăm chục người trong vòng vỏn vẹn mấy năm. Các saga của người Norse thuật lại việc trại Vinland của họ bị một giống dân gọi là Skraelings tấn công, rõ ràng dân “Skraelings” đó là những người Anh-điêng vùng Newfoundland hoặc những người Eskimo vùng Dorset.
Số phận của thuộc địa Greenland, tiền đồn xa xôi nhất của châu Âu thời Trung cổ, vẫn còn là một trong những bí ẩn lãng mạn của ngành khảo cổ. Liệu có phải những người Norse cuối cùng ở Greenland đã chết vì đói, hay họ đã cố tìm cách dong buồm ra đi, hay họ đã kết hôn với người Eskimo, hay họ đã chết sạch vì bệnh tật hoặc vì những mũi tên của người Eskimo? Tuy nguyên nhân trực tiếp khiến người Norse ở Greenland biến mất vẫn còn là câu hỏi chưa có lời đáp, song nguyên nhân tối hậu để người Norse không thành công trong việc thuộc địa hóa Greenland và châu Mỹ là quá rõ ràng. Ý đồ đó không thành công là bởi nguồn xuất phát (Na Uy), đích chinh phục (Greenland và Newfoundland) và thời điểm (năm 984 đến năm 1410) đều không đủ đảm bảo cho người châu Âu có thể áp dụng thành công ưu thế vốn có của mình về sản xuất lương thực, công nghệ và tổ chức chính trị. Ở một vĩ độ quá cao khó lòng sản xuất lương thực được nhiều, các công cụ bằng sắt trong tay một dúm người Norse vốn chỉ được hỗ trợ bởi một trong những nhà nước nghèo ở châu Âu không đủ để chọi lại với các công cụ bằng đá, xương thú và gỗ của những người săn bắt hái lượm Eskimo và Anh-điêng, những kẻ có kỹ năng điêu luyện nhất thế giới trong việc sống còn ở vùng địa cực.
Nỗ lực thứ hai của người Âu-Á hòng thuộc địa hóa châu Mỹ đã thành công là bởi nó bao gồm một nguồn xuất phát, một đích chinh phục và một thời điểm vốn dĩ cho phép những ưu thế tiềm tàng của châu Âu có thể phát huy tác dụng. Không như Na Uy, nước Tây Ban Nha đủ giàu và đủ đông dân để hỗ trợ những cuộc du hành thám hiểm và trợ cấp cho các thuộc địa. Người Tây Ban Nha đổ bộ lên các vĩ độ cận nhiệt đới của châu Mỹ, những nơi rất thích hợp cho sản xuất lương thực, ban đầu thì dựa hầu hết trên các loại cây trồng châu Mỹ bản địa song cũng dùng các loài vật nuôi của Âu-Á đặc biệt là bò và ngựa. Công cuộc thuộc địa hóa xuyên đại dương của Tây Ban Nha khởi đầu vào năm 1492, thời điểm kết thúc một thế kỷ phát triển nhanh chóng về công nghệ tàu biển vượt đại dương của châu Âu – cho đến lúc đó công nghệ này đã kết hợp được những tiến bộ trong kỹ thuật đi biển, kiểu dáng buồm và thiết kế tàu đã được phát triển bởi các xã hội Cựu Thế giới tại Ấn Độ Dương (thế giới Hồi giáo, Ấn Độ, Trung Quốc và Indonesia). Kết quả là những con tàu được đóng và trang bị nhân lực ở chính Tây Ban Nha đã có thể dong buồm đến vùng Tây Ấn; chẳng giống một chút nào so với cái nút cổ chai Greenland đã khiến cho công cuộc thuộc địa hóa của người Norse chết yểu. Chẳng mấy chốc các thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới sẽ có thêm bạn mới là những thuộc địa của nửa tá nhà nước châu Âu khác.
Những khu định cư đầu tiên của người châu Âu đến châu Mỹ, khởi đầu từ khu do Columbus thành lập vào năm 1492, là ở vùng Tây Ấn. Những người Anh-điêng bản địa sống trên các đảo này – mà dân số tại thời điểm được người châu Âu “phát hiện” lên tới hơn một triệu – đã nhanh chóng bị tiêu diệt trên hầu hết các đảo vì dịch bệnh, bị đánh đuổi, bị bắt làm nô lệ, vì chiến tranh và vì bị giết một cách tình cờ. Vào khoảng năm 1508 thuộc địa đầu tiên được thành lập trên nội địa châu Mỹ, tại eo Panama. Theo sau đó là cuộc chinh phục hai đế quốc lớn trong nội địa là đế quốc Aztecs vào năm 1519-1520 và đế quốc Inca vào năm 1532-1533. Trong cả hai cuộc chinh phục này, những bệnh truyền nhiễm lây qua người châu Âu (có lẽ là đậu mùa) đã góp phần quan trọng: giết chết bản thân các vị hoàng đế cũng như phần lớn dân số người bản địa. Ưu thế vượt trội về quân sự của dù chỉ một dúm kỵ binh Tây Ban Nha, cùng với kỹ năng chính trị của họ trong việc khai thác sự chia rẽ trong nội bộ người châu Mỹ bản địa, đã góp phần còn lại [để người châu Âu chiến thắng]. Người châu Âu tiếp tục chinh phục nốt các nhà nước bản địa còn lại ở Trung Mỹ và miền bắc của Bắc Mỹ trong các thế kỷ XVI và XVII.
Về phần các xã hội bản địa tiên tiến nhất ở Bắc Mỹ, các xã hội ở vùng đông nam Hoa Kỳ và hệ sông Mississippi, các xã hội đó đã bị hủy diệt chủ yếu chỉ bằng các vi trùng do những nhà thám hiểm châu Âu đầu tiên mang tới và đi trước bản thân các nhà thám hiểm đó. Trong khi người châu Âu bành trướng ra khắp châu Mỹ, nhiều xã hội bản địa khác như xã hội Mandan ở vùng Đồng bằng Lớn và xã hội của người Eskimo Sadlermiut ở Bắc Cực cũng bị quét sạch bởi bệnh tật mà chẳng cần đến hành động quân sự. Còn những xã hội nào không bị tiêu diệt bằng vi trùng theo cách đó thì bị hủy diệt bằng cùng một cách như các xã hội Aztec và Inca, nghĩa là bằng những cuộc chiến tranh toàn diện được tiến hành bởi binh sĩ châu Âu chuyên nghiệp và đồng minh bản địa của họ. Các binh sĩ đó được hậu thuẫn bởi các tổ chức chính trị đầu tiên là của các mẫu quốc châu Âu, sau đó là của các chính phủ thuộc địa của người Âu tại Tân Thế giới, cuối cùng là của các nhà nước độc lập mới theo kiểu châu Âu tiếp bước các chính phủ thuộc địa này.
Các xã hội bản địa nhỏ hơn thì bị hủy diệt một cách ngẫu nhiên hơn, bằng những cuộc tập kích và ám sát ở quy mô nhỏ do những công dân [người Âu] tiến hành trên tư cách cá nhân. Chẳng hạn, những người săn bắt hái lượm bản địa tại California ban đầu có tổng cộng khoảng 200 ngàn người nhưng lại chia manh mún thành khoảng một trăm bộ lạc nhỏ, từng bộ lạc trong số đó thì chẳng cần đến một cuộc chiến tranh cũng có thể đánh bại được. Hầu hết các bộ lạc nhỏ đó bị giết sạch hoặc chiếm đất trong hoặc ngay sau cơn sốt tìm vàng ở California vào năm 1848-1852 khi những người nhập cư châu Âu đổ xô vào bang này để tìm vàng. Một ví dụ tiêu biểu là bộ lạc Yahi ở bắc California, vốn có dân số khoảng 2.000 người và không có súng, đã bị tiêu diệt trong bốn cuộc tập kích của người da trắng có vũ trang: một cuộc tập kích lúc hoàng hôn của 17 người da trắng tấn công một làng Yahi vào ngày 6 tháng tám năm 1865, một cuộc thảm sát người Yahi trong một hẻm núi vào năm 1866, 33 người Yahi bị dồn vào một hang đá rồi bị thảm sát vào khoảng năm 1867, cuối cùng là 4 tay chăn bò giăng bẫy chừng 30 người Yahi, dồn vào một hang đá khác rồi thảm sát vào khoảng năm 1868. Tương tự, nhiều nhóm Anh-điêng ở vùng Amazonia cũng bị tiêu diệt bởi những người [da trắng] di cư trong cuộc bùng nổ cao su vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Những giai đoạn cuối cùng của cuộc chinh phục đó diễn ra trong thập niên hiện nay khi xã hội người Yanomamo và các xã hội Anh-điêng vùng Amazonia khác – mà đến nay vẫn còn độc lập không còn chống lại nổi với bệnh tật – đang bị những kẻ khai thác mỏ giết hại hoặc đang rơi vào vòng kiểm soát của các nhà truyền giáo hay đại diện chính phủ.
Kết quả cuối cùng là các xã hội châu Mỹ bản địa đông đúc đã bị loại trừ khỏi hầu hết các khu vực ôn hòa nhất thích hợp cho sản xuất lương thực và thể chất của người châu Âu. Ở Bắc Mỹ, những xã hội châu Mỹ bản địa nào còn tồn tại đến nay như những cộng đồng còn nguyên vẹn và có quy mô đáng kể thì hầu hết đều sống trong những khu bảo tồn hoặc những vùng đất khác được coi là không thích hợp cho nền sản xuất lương thực và khai mỏ của người Âu, chẳng hạn vùng Bắc Cực hoặc các khu vực khô cằn ở miền tây Hoa Kỳ. Người châu Mỹ bản địa ở nhiều khu vực nhiệt đới đã bị thế chỗ bằng những người di cư từ vùng nhiệt đới ở Cựu Thế giới sang (đặc biệt là người châu Phi đen, cùng với người Ấn Độ ở châu Á và người Java ở Surinam).
Ở nhiều khu vực của Trung Mỹ và vùng Andes, người châu Mỹ bản địa trước kia từng đông đúc đến nỗi thậm chí dù sau bao nhiêu dịch bệnh và chiến tranh, hầu hết cư dân ngày nay ở đó vẫn là người châu Mỹ bản địa hoặc lai [giữa châu Mỹ bản địa với các sắc dân khác]. Điều đó đặc biệt đúng ở các vĩ độ cao ở vùng Andes, nơi các phụ nữ người Âu về mặt di truyền thường gặp khó khăn về sinh lý ngay cả khi sinh sản, và các cây trồng Andes bản địa vẫn tiếp tục là những cây thích hợp nhất cho sản xuất lương thực. Tuy nhiên, ngay cả ở những nơi mà người châu Mỹ bản địa còn sống sót đến nay thì văn hóa và ngôn ngữ của họ cũng đã bị thay thế một cách triệt để bằng văn hóa và ngôn ngữ của Cựu Thế giới. Trong số hàng trăm ngôn ngữ châu Mỹ bản địa từng được dùng ở Bắc Mỹ thì ngoại trừ 187 thứ tiếng, tất cả các ngôn ngữ khác hoàn toàn không còn được sử dụng ngày nay, và trong số 187 thứ tiếng vẫn còn có người nói đó thì hết 149 thứ tiếng là những ngôn ngữ đang hấp hối, theo nghĩa chỉ còn những người già mới nói được trong khi trẻ em thì không còn học nữa. Trong số khoảng 40 dân tộc ở Tân Thế giới, toàn bộ ngày nay đều dùng một ngôn ngữ Ấn-Âu hoặc một ngôn ngữ pha trộn (tiếng creole) làm ngôn ngữ chính thức. Ngay cả ở những nước có số dân châu Mỹ bản địa còn sống sót đông nhất như Peru, Bolivia, Mexico và Guatemala, chỉ cần nhìn qua ảnh các lãnh tụ chính trị và doanh nhân hàng đầu là đủ thấy hầu hết đều là người Âu, trong khi một số quốc gia vùng Caribe có lãnh tụ là người châu Phi da đen còn Guyana thì có lãnh tụ là người Ấn Độ gốc châu Á.
Cư dân châu Mỹ bản địa nguyên thủy đã bị giảm sút với một tỷ lệ lớn, tuy rằng lớn bao nhiêu thì người ta vẫn còn tranh cãi: dự tính rằng ở Bắc Mỹ con số này lên tới 95%. Nhưng toàn bộ dân số loài người ở châu Mỹ ngày nay gần như lớn gấp mười lần so với tại thời điểm 1492 bởi có những người từ Cựu Thế giới (châu Âu, châu Phi và châu Á) đến. Dân số châu Mỹ ngày nay là một hỗn hợp giữa các dân tộc xuất phát từ mọi lục địa ngoại trừ Australia. Sự chuyển dịch nhân khẩu đó trong vòng 500 năm trở lại đây – cuộc chuyển dịch nhân khẩu lớn nhất trên mọi lục địa ngoại trừ Australia – có cội rễ sâu xa từ những sự phát triển trong khoảng từ 11.000 năm TCN cho đến năm thứ 1 công nguyên.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 19 - Châu phi đã trở thành đen như thế nào?

Dù ta đã đọc trước bao nhiêu sách vở về châu Phi đi nữa, ấn tượng đầu tiên khi ta thực sự đặt chân đến châu Phi cũng thật là choáng ngợp. Trên đường phố Windhoek, thủ đô nước Namibia vừa giành độc lập, tôi thấy người da đen Herero, người da đen Ovambo, người da trắng và người Nama, một giống dân chẳng giống da đen cũng chẳng giống da trắng. Họ không còn chỉ là những bức tranh minh họa trong sách giáo khoa mà là những con người sống động trước mắt tôi. Bên ngoài Windhoek, những kẻ cuối cùng còn sót lại của tộc người Bushmen vùng sa mạc Kalahari đã có thời đông đúc đang chật vật chiến đấu để sinh tồn. Nhưng cái làm tôi ngạc nhiên nhất ở Namibia là một bảng tên đường: một trong những con phố chính ở khu mua bán sầm uất tại Windhoek mang tên Phố Goering!
Lúc ấy tôi nghĩ: nhất định chẳng có xứ sở nào bị những tên phát xít Đức không hề biết ăn năn hối lỗi kia thống trị nặng nề đến nỗi phải lấy tên của tay phát xít khét tiếng Hermann Goering, ủy viên Đế chế Đức, kẻ sáng lập lực lượng Không quân Đức mà đặt cho một con đường cả! Nhưng hóa ra con đường này không phải lấy tên Hermann Goering mà là cha của y, Heinrich Goering, đại diện toàn quyền của Đế chế Đức, người sáng lập thuộc địa cũ của Đức tại vùng tây nam châu Phi mà sau này là xứ Namibia. Nhưng Heinrich còn là một nhân vật đầy phức tạp, bởi một phần di sản của ông ta là một trong cuộc các tấn công tàn bạo nhất của người châu Âu chống người châu Phi – cuộc chiến tranh năm 1904 của Đức nhằm tiêu diệt người Herero. Ngày nay, khi những sự kiện ở xứ Nam Phi láng giềng đang khiến cho thế giới quan tâm, Namibia đang chiến đấu để đối phó với quá khứ thuộc địa của mình và thiết lập một xã hội đa chủng tộc. Với tôi, Namibia là ví dụ minh họa cho thấy không thể tách rời quá khứ của châu Phi khỏi hiện tại của lục địa này.
Hầu hết người châu Phi và nhiều người châu Âu ngày nay vẫn đánh đồng người châu Phi bản địa với người da đen còn người châu Phi da trắng đều là những kẻ xâm lược mãi sau này, và coi lịch sử chủng tộc của châu Phi tương đương với lịch sử người Âu thuộc địa hóa châu Phi và buôn nô lệ người Phi. Có một lý do hiển nhiên tại sao chúng ta chỉ chú tâm vào các sự kiện cụ thể này: người da đen là những người châu Phi bản địa duy nhất quen thuộc với hầu hết người Mỹ, bởi họ đã được đưa sang Hoa Kỳ với số lượng lớn làm nô lệ. Song, thật ra, trên hầu hết châu Phi đen ngày nay ắt hẳn đã từng có những dân tộc rất khác nhau sinh sống cho mãi tới mấy ngàn năm trở lại đây, và bản thân cái gọi là người châu Phi da đen cũng không hề đồng nhất. Ngay trước khi thực dân da trắng đến châu Phi, lục địa này đã là nơi sinh sống không chỉ của người da đen mà là (như ta sẽ thấy) của đến năm trong sáu phân nhóm chính của loài người, và ba trong số đó chỉ sinh sống tại châu Phi. Một phần tư các ngôn ngữ trên toàn thế giới chỉ được sử dụng tại châu Phi. Không một lục địa nào khác đạt đến mức đa dạng về chủng loại người đến như vậy.
Sự đa dạng về dân tộc của châu Phi là kết quả của sự đa dạng về địa lý và giai đoạn tiền sử lâu dài của lục địa này. Châu Phi là lục địa duy nhất trải dài từ vùng ôn đới phía bắc xuống vùng ôn đới phía nam, đồng thời cũng bao hàm một số trong những sa mạc khô hạn nhất, rừng mưa nhiệt đới lớn nhất và ngọn núi vùng xích đạo cao nhất trên thế giới. Con người đã sống ở châu Phi lâu hơn ở bất cứ nơi nào khác: các tổ tiên xa xưa của chúng ta đã phát xuất từ đó cách đây 7 triệu năm, người Homo sapiens hiện đại về mặt giải phẫu cũng có thể đã ra đời từ đó. Sự tiếp xúc lâu dài giữa các dân tộc đa dạng của châu Phi đã khiến nảy sinh giai đoạn tiền sử đầy quyến rũ của lục địa này, trong đó có hai trong những làn sóng di dân lớn nhất trong 5.000 năm trở lại đây: cuộc bành trướng của người Bantu và công cuộc thuộc địa hóa Madagascar của người Indonesia. Tất cả những tiếp xúc đó trong quá khứ vẫn tiếp tục có hậu quả nặng nề đến ngày nay, bởi vấn đề nằm ở chỗ những ai đã đến những đâu trước những thời điểm nào để hình thành nên châu Phi ngày nay.
Làm thế nào năm phân nhóm đó của loài người đã đến được nơi họ đang sống ngày nay tại châu Phi? Tại sao chính người da đen là chủng người đã trở nên phổ biến đến vậy ở châu Phi ngày nay, chứ không phải bốn nhóm người kia mà ngày nay người Mỹ hầu như quên mất là họ có tồn tại? Làm sao ta có thể mong moi được lời giải đáp cho các câu hỏi đó từ quá khứ tiền văn tự của châu Phi nếu không có những bằng chứng thành văn khả dĩ cho ta biết về sự bành trướng của đế chế La Mã? Giai đoạn tiền sử của châu Phi là một bài toán đố trên quy mô lớn mà người chỉ mới giải được một phần. Hóa ra, câu chuyện ở đây có những sự tương đồng, mà ít người nhận thấy song rất đáng quan tâm, với giai đoạn tiền sử của châu Mỹ mà chúng ta đã gặp trong chương trước.
Năm nhóm người chính mà châu Phi là quê hương tại thời điểm năm 1000 là những nhóm mà dân không chuyên vẫn gọi một cách không chính xác lắm là người da đen, người da trắng, người Pygmy châu Phi, người Khoisan và người châu Á. Hình 19.1 minh họa sự phân phối năm nhóm người này, còn các ảnh chân dung theo sau trang 288 sẽ nhắc cho bạn nhớ sự khác biệt nổi bật giữa họ về màu da, hình dáng và màu sắc của tóc cũng như nét mặt. Người da đen trước kia chỉ sống tại châu Phi, người Pygmy và người Khoisan đến nay vẫn chỉ sinh sống ở đó, trong khi người da trắng và người châu Á thì sống ở ngoài châu Phi nhiều hơn gấp bội so với tại châu Phi. Năm nhóm này chính là hoặc đại diện cho toàn bộ năm nhóm chính của loài người, nếu không kể nhóm người Australia bản địa và các nhóm họ hàng của nhóm này.
Nhiều độc giả ắt sẽ phản đối: đừng có công thức hóa loài người bằng cách phân loại họ thành những “chủng tộc” đầy võ đoán như vậy chứ! Vâng, tôi thừa nhận rằng bản thân mỗi nhóm trong cái gọi là năm nhóm chính kia cũng rất đa dạng. Nếu xếp những dân tộc rất khác nhau như người Zulu, người Somali và người Ibo vào cùng một cái nhãn “da đen” theo kiểu vơ đũa cả nắm, ấy là ta chẳng đếm xỉa gì đến những khác biệt giữa họ cả. Chúng ta cũng chẳng đếm xỉa gì đến những khác biệt lớn lao không kém nếu gộp người Ai Cập và người Berber ở châu Phi lại với nhau rồi lại gộp chung họ với người Thụy Điển ở châu Âu vào cùng một danh xưng “da trắng”. Ngoài ra, sự phân biệt đâu là người da đen, đâu là người da trắng và các nhóm chính khác cũng rất là tùy tiện, bởi mỗi nhóm như vậy đều có sự chuyển tiếp lẫn nhau: tất cả các nhóm người trên trái đất đều đã từng hợp huyết với bất cứ nhóm nào khác mà họ gặp. Dẫu vậy, như ta đã thấy, việc thừa nhận các nhóm chính đó vẫn có ích trong việc giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử, cho nên tôi sẽ dùng tên các nhóm này mà gọi cho tiện, để không phải mỗi lần nói tới thì lại phải nhắc đi nhắc lại những điều trên.
Trong số năm nhóm châu Phi, các đại diện của nhiều quần thể người da đen và da trắng đã quen thuộc với người Mỹ và người châu Âu đến nỗi không cần phải mô tả ngoại hình của họ. Người da đen chiếm phần lớn nhất của châu Phi ngay từ năm 1400: vùng phía nam Sahara và hầu hết châu Phi hạ Sahara (xem Hình 19.1). Tuy người Mỹ da đen có nguồn gốc châu Phi xuất thân chủ yếu từ vùng duyên hải phía tây châu Phi, nhưng các dân tộc tương tự như vậy từ xưa còn chiếm lĩnh cả vùng Đông Phi nữa, phía bắc thì đến Sudan còn về phía nam thì đến vùng duyên hải tây nam của nước Nam Phi ngày nay. Người da trắng, bao gồm từ người Ai Cập đến người Lybia cho đến người Morocco, chiếm cứ vùng duyên hải phía bắc châu Phi và phía bắc sa mạc Sahara. Những người Bắc Phi đó khó lòng nhầm lẫn được với những người Thụy Điển mắt xanh tóc vàng, nhưng hầu hết dân không chuyên vẫn gọi là người “da trắng” vì họ có da sáng màu hơn và tóc thẳng hơn so với những dân tộc về phía nam được gọi là “da đen”. Hầu hết người da đen và da trắng châu Phi đều sống bằng trồng trọt hoặc chăn nuôi hoặc cả hai.
Ngược lại, hai nhóm kế tiếp là người Pygmy và người Khoisan gồm toàn những người sống bằng săn bắt hái lượm không biết trồng trọt hoặc chăn nuôi. Cũng như người da đen, người Pygmy có da thẫm và tóc xoăn tít. Tuy nhiên, người Pygmy khác người da đen ở chỗ họ nhỏ con hơn nhiều, da có sắc hơi đỏ hơn mà ít đen hơn, lông trên mặt và trên người rậm hơn, trán, mắt và răng lộ hơn. Người Pygmy chủ yếu là dân săn bắt hái lượm sống thành từng nhóm sống rải rác khắp vùng rừng mưa Trung Phi và trao đổi với hoặc làm việc cho những nhà nông da đen láng giềng.
Hình 19.1: Đọc lại nội dung Chương 19 về những thiếu sót khó tránh khi mô tả sự phân bố các dân tộc châu Phi theo cách phân loại quen thuộc nhưng có lắm vấn đề phải bàn này.
Người Khoisan hợp thành nhóm châu Phi mà ít người Mỹ biết đến nhất, có khi còn chưa hề nghe nói tới không chừng. Trước kia họ từng phân bố ở toàn bộ phần nam châu Phi, bao gồm không chỉ những nhóm săn bắt hái lượm nhỏ được gọi là San mà còn là những nhóm chăn nuôi lớn hơn được gọi là Khoi. (Những cái tên này hiện nay được chuộng hơn so với những cái tên Hottentot và Bushmen mà nhiều người biết đến hơn). Cả người Khoi lẫn người San đều rất đỗi không giống (hoặc đã từng không giống) với người da đen châu Phi: da họ có sắc hơi vàng, tóc họ xoăn tít, và phụ nữ thường có xu hướng tích mỡ ở mông (cái gọi là chứng “steatopygia”). Với tư cách một nhóm riêng biệt, người Khoi đã giảm sút rất nhiều về số lượng: thực dân châu Âu đã giết chóc, xua đuổi hoặc truyền bệnh cho nhiều người Khoi, và hầu hết những người sống sót đều đã hợp huyết với người châu Âu để sinh ra những người mà ở Nam Phi được gọi là người Colored hoặc người Baster. Người San cũng vậy, bị [người châu Âu] giết chóc, xua đuổi hoặc truyền bệnh, nhưng một nhóm nhỏ còn lại – mà ngày một teo nhỏ hơn – vẫn duy trì được sự khác biệt của mình ở sa mạc Namibia vốn không thích hợp cho nghề nông, như một bộ phim khá đông người xem cách đây mấy năm là Thượng đế cũng phải cười (The Gods Must be Crazy) đã miêu tả.
Việc người da trắng phân bố ở phía bắc châu Phi thì không có gì lạ, bởi những dân tộc có ngoại hình tương tự cũng sinh sống ở các khu vực lân cận tại Cận Đông và châu Âu. Trong suốt lịch sử thành văn, người ta vẫn thường xuyên qua lại giữa châu Âu, Cận Đông và Bắc Phi. Vì vậy tôi sẽ không nói thêm nhiều về người da trắng châu Phi trong chương này bởi nguồn gốc của họ chẳng có gì bí ẩn. Thay vì vậy, bí ẩn có chăng là ở người da đen, người Pygmy và người Khoisan, bởi sự phân bố của họ cho ta thấy đã từng có những biến động đột ngột về dân số trong quá khứ. Chẳng hạn, 200.000 người Pygmy hiện nay phân bố rất manh mún, rải rác xen giữa 120 triệu người da đen, điều đó cho thấy trước kia những thợ săn Pygmy từng phổ biến khắp cả vùng rừng nhiệt đới cho đến khi các nhà nông da đen [từ nơi khác đến] chiếm đất của họ và khiến họ trở nên bị cô lập. Khu vực người Khoisan ở phía nam châu Phi nhỏ bé đến kỳ lạ trong khi họ là một dân tộc rất ư khác biệt về giải phẫu học và ngôn ngữ. Liệu có phải ngay cả người Khoisan cũng đã từng phổ biến rộng khắp hơn, cho đến khi những quần thể nằm xa hơn về phía bắc của họ bị [người da đen] loại bỏ chăng?
Trường hợp khác thường hơn cả thì tôi xin để lại sau cùng. Hòn đảo lớn nhất châu Phi là Madagascar chỉ cách bờ biển Tây Phi 250 dặm (400 km), gần châu Phi hơn bất cứ lục địa nào khác, cách châu Á và Australia cả một Ấn Độ Dương rộng mênh mông. Dân cư Madagascar rõ là sự hòa trộn giữa hai yếu tố. Chẳng có gì lạ rằng một trong hai yếu tố đó là người châu Phi da đen, nhưng yếu tố còn lại thì bao gồm những người mà chỉ nhìn qua bề ngoài ta có thể nhận ra ngay là người Đông Nam Á nhiệt đới. Đặc biệt, ngôn ngữ mà toàn bộ cư dân Madagascar sử dụng – người châu Á, người da đen và người lai [giữa hai chủng đó] – là tiếng Nam Đảo và rất giống tiếng Ma’anyan được dùng trên đảo Borneo thuộc Indonesia cách Madagascar những 4.000 dặm (6.400 km) phía bên kia Ấn Độ Dương. Trong suốt hàng ngàn dặm ngăn cách giữa Borneo với Madagascar chẳng hề có dân tộc nào giống người Borneo dù chỉ hơi một tí thôi.
Những người Nam Đảo đó, với ngôn ngữ Nam Đảo và nền văn hóa Nam Đảo đã được biến đổi, đã định cư ở Madagascar vào thời điểm người châu Âu lần đầu tiên đặt chân lên Madagascar vào năm 1500. Tôi kinh ngạc trước sự kiện này, sự kiện kỳ lạ nhất trong sự phân bố loài người trên toàn thế giới. Thế cũng chẳng khác nào Columbus khi đặt chân đến Cuba thì thấy cư dân hòn đảo này là những người Scandinavia tóc vàng mắt xanh nói một thứ tiếng gần với tiếng Thụy Điển mặc dù trên lục địa Bắc Mỹ ngay gần đó toàn những người châu Mỹ bản địa nói tiếng Anh-điêng bản địa. Làm thế nào những người tiền sử ở Borneo đó – mà người ta cho rằng họ đi biển không có bản đồ hay la bàn – đã chu du đến tận Madagascar được?
Trường hợp Madagascar cho ta thấy rằng ngôn ngữ loài người – cũng như ngoại hình của họ – có thể cho ta những mấu chốt quan trọng để biết cội nguồn của họ. Chỉ cần nhìn cư dân Madagascar là đủ biết một số người trong họ có xuất xứ từ Đông Nam Á nhiệt đới, nhưng ta vẫn không thể biết đích xác từ khu vực nào của Đông Nam Á nhiệt đới, cũng không bao giờ có thể đoán được là từ Borneo. Vậy ta có thể biết thêm những gì qua các ngôn ngữ châu Phi, ngoài những gì ta đã biết khi nhìn vào khuôn mặt những người Phi?
Sự phức tạp đến đau đầu của các ngôn ngữ châu Phi – những 1.500 thứ tiếng – đã được làm sáng rõ bởi Joseph Greenberg, nhà ngôn ngữ học vĩ đại ở Đại học Stanford. Ông đã nhận ra rằng tất cả các ngôn ngữ đó chỉ thuộc về năm ngữ hệ (xem sự phân bố các ngữ hệ này ở Hình 19.2). Độc giả nào quen nghĩ rằng ngôn ngữ học là một thứ khoa học nhàm chán và quá chuyên môn hẳn sẽ ngạc nhiên khi biết được rằng Hình 19.2 có thể góp phần to lớn thế nào để giúp ta hiểu rõ hơn lịch sử châu Phi.
Nếu bắt đầu bằng cách so sánh Hình 19.2 với Hình 19.1, ta sẽ thấy một sự tương đồng đại khái giữa các ngữ hệ với các nhóm người đã được phân định về mặt giải phẫu học: các ngôn ngữ thuộc một ngữ hệ nhất định thường được dùng bởi một số người nhất định. Cụ thể, hầu hết những người nói các ngôn ngữ Phi-Á (Afroasiatic) là những người mà ta có thể phân loại là người da trắng hoặc da đen, những người nói tiếng Nilo-Sahara và tiếng Niger-Congo là người da đen, Khoisan thì nói tiếng Khoisan, còn người Nam Đảo thì nói tiếng Indonesia. Điều đó gợi ý rằng các ngôn ngữ thường có xu hướng tiến hóa song song với những người sử dụng chúng.
Hình 19.2: Các ngữ hệ ở châu Phi
Ẩn giấu ở mép trên cùng Hình 19.2 là điều ngạc nhiên đầu tiên của chúng ta, một cú sốc lớn cho những tín đồ của thuyết dĩ Âu vi trung vốn tin tưởng ở tính ưu việt của cái gọi là nền văn minh phương Tây. Chúng ta được dạy [ở trường] rằng nền văn minh phương Tây xuất phát ở vùng Cận Đông, được nâng lên những đỉnh cao sáng chói bởi người Hy Lạp và người La Mã, và sinh ra ba trong số các tôn giáo lớn nhất trên thế giới: đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái và đạo Hồi. Các tôn giáo này phát sinh từ những dân tộc nói ba thứ tiếng có quan hệ gần gũi với nhau được gọi là tiếng Semite: tiếng Aramaic (ngôn ngữ của Chúa Jesus và các thánh tông đồ), tiếng Hebrew và tiếng Arập. Một cách bản năng, chúng ta vẫn thường coi các dân tộc Semite là gắn liền với Cận Đông.
Tuy nhiên, Greenberg đã xác định rằng thực ra các ngôn ngữ Semite chỉ là một trong số ít nhất là sáu nhánh của một ngữ hệ lớn hơn nhiều là tiếng Phi-Á, và tất cả các nhánh khác của ngữ hệ này (cũng như 222 ngôn ngữ khác còn tồn tại đến nay) đều chỉ nằm ở châu Phi. Ngay cả bản thân ngữ hệ con Semite cũng chủ yếu là của châu Phi, bởi trong số 19 ngôn ngữ còn lại đến nay của ngữ hệ này thì đến 12 là chỉ ở Ethiopia. Điều đó cho thấy các ngôn ngữ Phi-Á đã phát sinh ở châu Phi, và chỉ một nhánh của ngữ hệ này đã bành trướng sang Cận Đông. Từ đó suy ra, rất có thể châu Phi mới chính là nơi đã khai sinh ngôn ngữ của các tác giả Cựu ước và Tân ước cũng như kinh Koran, những rường cột đạo đức của nền văn minh phương Tây.
Ngạc nhiên lớn thứ hai ở Hình 19.2 là một chi tiết có vẻ nhỏ nhặt mà mới đây tôi đã nhắc tới song không chú thích gì thêm, rằng các nhóm dân tộc khác nhau thì có xu hướng nói những ngôn ngữ khác nhau. Trong số năm nhóm người của châu Phi – da đen, da trắng, Pygmy, Khoisan và Indonesia – chỉ có người Pygmy là không nói những ngôn ngữ khác biệt [với các ngôn ngữ khác]: mỗi bộ lạc Pygmy đều nói cùng một thứ tiếng với các nhóm da đen làm nghề nông láng giềng của họ. Tuy nhiên, nếu so sánh một thứ tiếng cụ thể mà người Pygmy sử dụng với cùng thứ tiếng đó mà người da đen sử dụng, ta sẽ thấy dị bản của người Pygmy thường có một số từ riêng biệt với các phát âm khác biệt.
Dĩ nhiên là thoạt kỳ thủy những dân tộc khác biệt đến như người Pygmy, sống ở một nơi khác biệt đến như vùng rừng mưa xích đạo châu Phi, ắt hẳn là phải đủ biệt lập để hình thành một ngữ hệ riêng biệt. Tuy nhiên, ngày nay các ngôn ngữ biệt lập đó [của người Pygmy] không còn nữa, và ta đã thấy ở Hình 19.2 rằng dân số người Pygmy hiện nay phân bố hết sức manh mún. Như vậy, sự phân bố về địa lý kết hợp với đặc trưng về ngôn ngữ gợi ý rằng quê hương nguyên thủy của người Pygmy ngày xưa đã bị các nhà nông da đen xâm chiếm, những người Pygmy sống sót đã tiếp thu ngôn ngữ của các nhà nông da đen đó, còn ngôn ngữ nguyên thủy của họ chỉ còn để lại dấu vết ở một vài từ và một vài âm. Trước đây ta đã thấy rằng điều đó cũng đúng với những người Negrito ở Malaysia (người Semang) và người Negrito ở Philippines, những kẻ đã tiếp thu các ngôn ngữ Nam Á và Nam Đảo từ những người làm nghề nông [từ nơi khác đến] sống vây quanh họ.
Tương tự, sự phân bố manh mún của các ngôn ngữ Nilo-Sahara ở Hình 19.2 gợi ý rằng nhiều người nói các ngôn ngữ đó đã bị những người nói các ngôn ngữ Phi-Á hoặc ngôn ngữ Niger-Congo [từ nơi khác tới] nhấn chìm. Nhưng sự phân bố các ngôn ngữ Khoisan còn minh chứng cho một trường hợp nhấn chìm còn bi kịch hơn thế nữa. Các ngôn ngữ này vốn nổi tiếng thế giới bởi một nét đặc trưng độc nhất vô nhị là dùng những tiếng “tách” làm phụ âm. (Nếu bạn từng bối rối khi gặp cái tên!Kung Bushman, xin thưa với bạn rằng dấu chấm than kia không phải để biểu thị hơi quá sớm một nỗi kinh ngạc; đó chẳng qua là cách để các nhà ngôn ngữ học biểu thị một tiếng tách mà thôi). Mọi ngôn ngữ Khoisan còn lại đến nay đều chỉ bó hẹp ở miền nam châu Phi, trừ hai ngoại lệ. Hai ngoại lệ đó là các ngôn ngữ Khoisan rất khác biệt, dày đặc những tiếng tách được gọi là tiếng Hadza và tiếng Sandawe, lạc lõng tận Tanzania cách các ngôn ngữ Khoisan gần nhất ở miền nam châu Phi đến hơn 1.000 dặm (1.600 km).
Ngoài ra, tiếng Xhosa và một vài ngôn ngữ Niger-Congo khác ở nam châu Phi cũng đầy rẫy những tiếng tách. Còn bất ngờ hơn nữa, những tiếng tách hoặc các từ Khoisan cũng xuất hiện ở hai ngôn ngữ Phi-Á được người da đen sử dụng ở Kenya, mà so với hai nhóm Hadza và Sandawe ở Tanzania thì lại còn xa các dân tộc Khoisan hiện nay hơn nữa. Tất cả những điều trên gợi ý rằng xưa kia các ngôn ngữ và dân tộc Khoisan từng trải rộng hơn nhiều về phía bắc so với vùng phân bố của họ ở nam châu Phi ngày nay, nhưng rồi đến một lúc thì chính họ, cũng như người Pygmy, bị người da đen [từ nơi khác tới] nhấn chìm, và sự hiện diện trước kia của họ đến nay chỉ còn lưu lại dấu vết trong ngôn ngữ mà thôi. Đó là một phần đóng góp vô song cho bằng chứng về ngôn ngữ, điều mà chúng ta khó lòng đoán được nếu chỉ nghiên cứu ngoại hình của những người đang sống ngày nay.
Phần đóng góp xuất sắc nhất của khoa ngôn ngữ học thì tôi để lại sau cùng. Nếu nhìn lại lần nữa Hình 19.2, ta sẽ thấy rằng ngữ hệ Niger-Congo được phân bố khắp cả Tây Phi và hầu hết châu Phi hạ xích đạo, khiến dường như ta khó lòng biết được ngữ hệ này đã phát sinh tại khu vực cụ thể nào trong suốt vùng phân bố mênh mông đó. Tuy nhiên, Greenberg nhận ra rằng toàn bộ các ngôn ngữ Niger-Congo ở châu Phi hạ xích đạo đều thuộc một nhóm con duy nhất gọi là Bantu. Nhóm con này chiếm gần một nửa trong số 1.032 ngôn ngữ Niger-Congo và trên một nửa (gần 200 triệu người) sử dụng ngữ hệ Niger-Congo. Nhưng toàn bộ 500 ngôn ngữ Bantu đó gần nhau đến nỗi người ta từng mô tả chúng một cách hài hước là 500 phương ngữ của cùng một thứ tiếng duy nhất.
Gộp chung lại, các ngôn ngữ Bantu chỉ là một ngữ hệ con duy nhất ở nằm bậc thấp trong ngữ hệ Niger-Congo. Hầu hết 176 ngôn ngữ khác trong ngữ hệ này phân bố dày đặc ở Tây Phi, một phần nhỏ của toàn bộ dãy Niger-Congo. Đặc biệt, các ngôn ngữ Bantu khác biệt nhất, cùng các ngôn ngữ Niger-Congo không thuộc nhóm Bantu mà có quan hệ gần gũi nhất với ngôn ngữ Bantu, đều bị lèn chặt vào một khu vực bé tí của Cameroon và vùng lân cận là phía đông Nigeria.
Rõ ràng là ngữ hệ Niger-Congo đã phát sinh ở Tây Phi; nhánh Bantu của nó phát sinh ở cực phía đông của dãy đó, tại Cameroon và Nigeria; và sau đó nhánh Bantu bành trướng ra khỏi quê nhà nguyên thủy đó để lan ra khắp châu Phi hạ xích đạo. Sự bành trướng đó ắt đã diễn ra từ lâu, để ngôn ngữ Bantu thủy tổ có đủ thì giờ tách ra thành 500 ngôn ngữ con, song cũng không quá lâu nên tất cả các ngôn ngữ con đó vẫn còn rất giống nhau [chứ chưa có đủ thời gian tiến hóa để trở nên khác biệt nhau, ND]. Bởi tất cả những người nói các ngôn ngữ Niger-Congo khác cũng như ngôn ngữ Bantu đều là người da đen, nên ta không thể suy ra ai đã di cư theo hướng nào nếu chỉ căn cứ vào bằng chứng nhân chủng học.
Để làm sáng tỏ kiểu lập luận dựa trên ngôn ngữ học này, hãy cho tôi đưa ra một ví dụ quen thuộc: nguồn gốc địa lý của bản thân tiếng Anh. Ngày nay, đại đa số những người mà tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất [tiếng mẹ đẻ] sinh sống tại Bắc Mỹ, những người khác thì sống rải rác trên khắp thế giới, tại Anh, Australia và các nước khác. Mỗi nước trong số này đều có phương ngữ tiếng Anh riêng của mình. Nếu như chẳng biết gì về sự phân bố ngôn ngữ và lịch sử thì ắt hẳn ta đã phải đoán rằng tiếng Anh phát xuất từ Bắc Mỹ rồi được các thực dân Bắc Mỹ mang qua đại dương để đến Anh và Australia.
Thế nhưng toàn bộ các phương ngữ khác nhau đó của tiếng Anh cũng chỉ là một nhóm con có thứ bậc thấp trong ngữ hệ German. Tất cả các ngữ hệ con khác – các ngôn ngữ Scandinavia, tiếng Đức và tiếng Hà Lan – đều chỉ bó hẹp ở vùng tây bắc châu Âu. Đặc biệt, tiếng Frisia, ngôn ngữ German gần gũi với tiếng Anh nhất, chỉ gói gọn trong một vùng duyên hải bé tí của Hà Lan và miền tây nước Đức. Từ đó một nhà ngôn ngữ học có thể suy diễn một cách chí lý rằng tiếng Anh đã phát sinh từ vùng duyên hải tây bắc châu Âu và từ đó bành trướng ra toàn thế giới. Trên thực tế, nhờ lịch sử thành văn mà ta biết rằng tiếng Anh đã được mang từ tây bắc châu Âu sang đảo Anh bởi những người Anglo-Saxon xâm lược hòn đảo này vào thế kỷ V và VI.
Về cơ bản, cũng bằng cách lập luận như vậy ta có thể suy ra rằng gần 200 triệu người Bantu mà ngày nay sinh sống ở hầu khắp châu Phi vốn dĩ phát sinh từ Cameroon và Nigeria. Cùng với nguồn gốc Bắc Phi của người Semite và nguồn gốc châu Á của người Madagascar, đây là thêm một kết luận nữa mà chúng ta không thể rút ra nếu không có bằng chứng về ngôn ngữ.
Từ sự phân bố nhóm ngôn ngữ Khoisan và từ chỗ người Pygmy không có những ngôn ngữ riêng biệt của mình, chúng ta đã diễn dịch rằng các dân tộc Pygmy và Khoisan trước kia từng phân bố rộng hơn, cho đến khi họ bị người da đen [từ nơi khác đến] nhấn chìm. (Tôi dùng từ “nhấn chìm” như một từ có tính khái quát, trung tính, dù trên thực tế những người da đen kia đã chinh phục, đánh đuổi, hợp huyết, giết hại hay truyền bệnh cho các dân tộc này). Giờ thì ta đã thấy – từ sự phân bố các ngôn ngữ Niger-Congo – rằng những người da đen tiến hành cuộc nhấn chìm này là người Bantu. Bằng chứng về ngoại hình và bằng chứng về ngôn ngữ cho đến giờ đã giúp ta suy ra được những cuộc nhấn chìm đó vào thời tiền sử, nhưng nó vẫn chưa giải được cho ta những bí ẩn hàm chứa trong những cuộc nhấn chìm đó. Chỉ có bằng chứng mà tôi sẽ trình bày tiếp theo đây mới có thể giúp ta giải đáp thêm hai câu hỏi nữa: Người Bantu đã có những ưu thế nào để có thể chiếm chỗ người Pygmy và người Khoisan? Người Bantu đã đặt chân đến quê hương bản quán của người Pygmy và người Khoisan vào thời gian nào?
Để tiếp cận câu hỏi về những ưu thế của người Bantu, ta hãy xét loại bằng chứng còn lại từ hiện thực sống động, ấy là bằng chứng rút ra từ các loài cây trồng và vật nuôi được thuần hóa. Như ta đã thấy trong các chương trước, bằng chứng này quan trọng là bởi sản xuất lương thực dẫn đến mật độ dân số cao, vi trùng, công nghệ, tổ chức chính trị và các thành tố khác tạo nên sức mạnh. Do đó, những dân tộc nào mà do ngẫu nhiên về vị trí địa lý đã thừa hưởng được hoặc phát triển được nền sản xuất lương thực thì đều trở nên có khả năng nhấn chìm về mặt địa lý các dân tộc khác kém may mắn hơn.
Khi người châu Âu đến được châu Phi hạ Sahara vào thế kỷ XV, người châu Phi đang trồng năm bộ cây trồng (Hình 19.3), mỗi bộ trong đó đều có ý nghĩa rất lớn đối với lịch sử châu Phi. Bộ đầu tiên chỉ được trồng ở Bắc Phi, trải dài đến các vùng cao nguyên Ethiopia. Bắc Phi có khí hậu Địa Trung Hải mà đặc trưng là lượng mưa tập trung vào các tháng mùa đông. (Miền nam California cũng có khí hậu Địa Trung Hải, chính vì vậy mà tầng hầm của nhà tôi cũng như của hàng triệu người dân California khác hay bị ngập vào mùa đông nhưng lại khô hạn hết thuốc chữa trong mùa hè). Vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, nơi nghề nông phát sinh đầu tiên, cũng có mẫu hình khí hậu Địa Trung Hải mưa mùa đông như vậy.
Từ đó suy ra, các cây trồng nguyên thủy của Bắc Phi đều là những loài cây đã thích nghi với việc nảy mầm và mọc trong mùa đông nhiều mưa, và qua bằng chứng khảo cổ đến nay ta cũng biết rằng các cây này đã được thuần hóa lần đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu khoảng 10.000 năm trước. Các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu đó bành trướng đến các vùng lân cận có khí hậu tương tự ở Bắc Phi và làm cơ sở cho sự phát sinh nền văn minh Ai Cập. Đó là các loài cây quen thuộc như lúa, lúa mì, đỗ, đậu và nho. Chúng quen thuộc với chúng ta vì chúng đã bành trướng đến những vùng lân cận có khí hậu tương tự ở châu Âu rồi từ đó sang châu Mỹ và Australia mà trở thành một số trong những loài cây trồng chính của nông nghiệp vùng ôn đới trên toàn thế giới.
Hình 19.3: Khu vực khởi nguyên những cây trồng được canh tác từ xa xưa ở châu Phi (nghĩa là được trồng từ trước khi có các cây trồng do thực dân châu Âu đưa vào) với hai loài cây làm ví dụ cho từng khu vực.
Nếu du hành về phía nam ở châu Phi ngang qua sa mạc Sahara và lại gặp mưa ở vùng Sahel nằm ngay ở phía nam sa mạc, ta sẽ nhận ra rằng mưa ở vùng Sahel rơi vào mùa hè chứ không phải vào mùa đông. Cho dù nếu bằng cách nào đó các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu vốn đã thích nghi với mưa vào mùa đông vượt qua được Sahara đi nữa, chúng vẫn sẽ khó lòng mọc được ở vùng Sahel vốn chỉ mưa vào mùa hè. Thay vì vậy, ta gặp hai bộ cây trồng châu Phi khác mà các loài cây dại tổ tiên của chúng mọc ngay ở phía nam Sahara và đã thích nghi với mưa vào mùa hè cũng như với độ dài ngày ít thay đổi theo mùa hơn. Một bộ bao gồm những loài cây mà tổ tiên vốn đã phân bố rộng từ đông sang tây khắp vùng Sahel và có lẽ đã được thuần hóa ở đó. Trong số các loài này đáng chú ý có cây lúa miến và kê ngọc trai vốn đã trở thành các cây ngũ cốc chính ở hầu hết châu Phi hạ Sahara. Lúa miến đã tỏ ra là cây trồng có giá trị đến nỗi ngày nay được trồng ở các khu vực có khí hậu nóng, khô ở tất cả các lục địa trong đó có Hoa Kỳ.
Bộ cây trồng kia gồm các loài cây mà tổ tiên hoang dã mọc ở Ethiopia và có lẽ đã được thuần hóa ở các vùng cao nguyên tại đó. Hầu hết các loài này ngày nay vẫn chỉ được trồng chủ yếu ở Ethiopia và người Mỹ không biết tới, gồm cây chat chứa chất ma túy, cây ensere giống như cây chuối, cây noog có nhiều dầu, cây kê ngón tay (finger millet) dùng để làm loại bia đặc sản của Ethiopia, và cây ngũ cốc có hạt nhỏ xíu gọi là teff mà người Ethiopia dùng để làm loại bánh mì quốc hồn quốc túy. Song bất cứ độc giả nào nghiện cà phê đều có thể cám ơn các nhà nông Ethiopia cổ đại vì họ đã thuần hóa cây cà phê. Đầu tiên cà phê chỉ được trồng ở Ethiopia, nhưng rồi nó được ưa chuộng ở Arập và từ đó là trên toàn thế giới, và ngày nay cà phê là loài cây chính hỗ trợ nền kinh tế của những nước nằm rất xa Ethiopia như Brazil và Papua New Guinea.
Bộ cây trồng gần cuối của châu Phi phát sinh từ những tổ tiên hoang dã ở vùng khí hậu ẩm ướt của Tây Phi. Một số loài này, trong đó có gạo châu Phi, gần như vẫn chỉ giới hạn ở vùng đó; những loài khác chẳng hạn như khoai lang châu Phi thì bành trướng ra khắp các khu vực khác của châu Phi hạ Sahara; và có hai loài – cây cọ dầu và cây cho hạt kola – thì sang cả các lục địa khác. Người Tây Phi đã biết nhai caffeine chứa hạt kola như một thứ ma túy từ lâu trước khi công ty Coca-Cola dụ được người Mỹ và sau đó là toàn thế giới uống một thức uống mà thoạt đầu có pha tinh chất chiết xuất từ hạt này.
Bộ cây trồng châu Phi cuối cùng cũng được làm cho thích nghi với khí hậu ẩm ướt song lại chính là điều ngạc nhiên lớn nhất ở Hình 19.3. Cây chuối, khoai lang châu Phi và khoai sọ đã từng phổ biến khắp châu Phi hạ Sahara vào thế kỷ XV, và gạo châu Á đã đứng chân vững ở vùng duyên hải Đông Phi. Nhưng các cây trồng này đều có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Sự hiện diện của chúng ở châu Phi hẳn sẽ làm ta kinh ngạc nếu như sự hiện diện của người Indonesia ở Madagascar không cảnh báo trước cho ta rằng châu Á đã có liên hệ với châu Phi từ thời tiền sử. Phải chăng những người Nam Đảo di cư từ Borneo tới đã đổ bộ lên vùng duyên hải Đông Phi, mang các cây trồng của mình đến tặng cho các nhà nông châu Phi khiến những người này rất đỗi biết ơn, sau đó tuyển [một số] ngư dân châu Phi rồi dong buồm vào lúc rạng đông để đến chinh phục Madagascar mà không để lại dấu vết Nam Đảo nào ở châu Phi?
Điều ngạc nhiên còn lại là tất cả các cây trồng bản địa của châu Phi – từ vùng Sahel, Ethiopia cho đến Tây Phi – đều phát sinh từ phía bắc xích đạo. Không một loài nào phát sinh ở phía nam xích đạo cả. Điều này gợi ý cho chúng ta tại sao những người nói các ngôn ngữ Niger-Congo – vốn xuất thân từ phía bắc xích đạo – đã có thể chiếm chỗ được người Pygmy ở ngay xích đạo và người Khoisan ở phía nam xích đạo. Người Khoisan và người Pygmy đã không phát triển được nghề nông chẳng phải vì họ là những nhà nông kém cỏi, mà đơn giản là do các loài cây dại ở miền nam châu Phi hầu hết không thích hợp để thuần hóa. Về sau cả người Bantu lẫn người da trắng, dẫu thừa hưởng hàng ngàn năm kinh nghiệm nghề nông, cũng không thể nào phát triển các loài cây bản địa ở nam châu Phi thành cây trồng được cả.
Về các loài thú được thuần hóa của châu Phi, ta lại càng có thể tóm lược nhanh chóng hơn cả các loài cây bởi thú có quá ít loài. Con vật duy nhất mà ta biết chắc là đã được thuần hóa ở châu Phi – bởi tổ tiên hoang dã của nó chỉ sống ở đó – là một con chim giống như gà tây được gọi là gà guinea. Tổ tiên hoang dã của các loài thuần hóa như bò, lừa, lợn, chó và mèo đều là loài bản địa châu Phi song cũng là loài bản địa ở Tây Nam Á, nên ta không thể biết chắc chúng đã được thuần hóa đầu tiên ở đâu, mặc dù các niên đại xưa nhất mà ta biết đến nay về lừa và mèo nhà được thuần hóa là ở Ai Cập. Bằng chứng gần đây gợi ý rằng bò có thể đã được thuần hóa độc lập ở Bắc Phi, Tây Nam Á và Ấn Độ, và cả ba loài bò đó đã góp phần vào các chủng loại bò ở châu Phi ngày nay. Nếu không thì ắt hẳn tất cả loài gia súc còn lại ở châu Phi đều đã được thuần hóa ở nơi khác rồi mới được du nhập vào châu Phi sau khi đã thuần hóa, bởi các tổ tiên hoang dã của chúng đều chỉ có ở Âu-Á. Cừu và dê của châu Phi đều được thuần hóa ở Tây Nam Á, gà châu Phi thì thuần hóa ở Đông Nam Á, ngựa châu Phi được thuần hóa ở miền nam Nga, còn lạc đà châu Phi thì có lẽ được thuần hóa ở Arập.
Một bất ngờ nữa trong cái danh sách các loài vật nuôi thuần hóa của châu Phi, ấy là lại thêm một thứ không có nữa: danh sách này không bao gồm bất cứ một loài nào trong số các loài hữu nhũ hoang dã lớn mà nhờ chúng châu Phi mới nổi tiếng và ở lục địa này thì có hằng hà sa số: ngựa vằn và bò rừng, tê giác và hà mã, hươu cao cổ và trâu rừng. Như ta sẽ thấy, cái thực tế này mang lại lắm hậu quả đối với lịch sử châu Phi chẳng khác nào việc không có một loài cây trồng bản địa nào ở châu Phi hạ xích đạo.
Chuyến du lịch chớp nhoáng vòng quanh các loài cây trồng và vật nuôi chính của châu Phi là đủ để cho thấy một số loài trong đó đã chu du một quãng đường dài từ điểm phát nguyên của nó, đến các nơi khác ở châu Phi cũng như ra khỏi châu Phi. Ở châu Phi cũng như ở mọi nơi khác trên thế giới, một số dân tộc đã “gặp may” hơn các dân tộc khác, nhờ được thừa hưởng từ môi trường nơi họ sống những loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa được. Cũng tương tự như trường hợp thực dân Anh sống bằng lúa mì và [sữa, thịt] bò đã nhấn chìm những người săn bắt hái lượm Australia bản địa, ta buộc phải ngờ rằng một số dân tộc châu Phi “may mắn” đã tận dụng ưu thế của mình để nhấn chìm các láng giềng châu Phi của họ. Giờ thì rốt cuộc chúng ta hãy quay lại với tư liệu khảo cổ để tìm xem ai đã nhấn chìm ai và vào thời gian nào.
Khoa khảo cổ có thể cho ta biết những gì về những niên đại và địa điểm chính xác mà nghề nông và nghề chăn nuôi đã phát sinh tại châu Phi? Ta có thể lượng thứ cho độc giả nào quá đắm mình trong lịch sử văn minh phương Tây mà cứ đinh ninh rằng nền sản xuất lương thực châu Phi đã khởi đầu từ thung lũng sông Nile của Ai Cập, xứ sở của các vị pharaon và các kim tự tháp. Nói gì thì nói, cho đến khoảng 3.000 năm TCN, Ai Cập chắc chắn vẫn là nơi có xã hội phức tạp nhất ở châu Phi và là một trong những trung tâm chữ viết đầu tiên trên thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, bằng chứng khảo cổ xưa nhất về sản xuất lương thực ở châu Phi rất có thể lại không phải ở Ai Cập mà từ sa mạc Sahara.
Dĩ nhiên là ngày nay hầu hết Sahara khô hạn đến nỗi ngay cỏ cũng không mọc được. Nhưng trong khoảng từ 9.000 đến 4.000 năm TCN Sahara từng ẩm ướt hơn, có nhiều hồ và lắm thú hoang. Vào thời đó cư dân Sahara đã bắt đầu nuôi bò và làm đồ gốm, sau đó nuôi cừu và dê, thậm chí có thể đã bắt đầu thuần hóa cây lúa miến và kê. Nghề chăn nuôi ở Sahara ra đời sớm hơn cả niên đại xưa nhất ta đã biết (5.200 năm TCN) khi sản xuất lương thực xuất hiện ở Ai Cập, gồm cả cây trồng mùa đông lẫn gia súc của vùng Tây Nam Á. Sản xuất lương thực cũng phát sinh ở Tây Á và Ethiopia, và vào khoảng 2.500 năm TCN những người chăn nuôi bò đã vượt qua ranh giới ngày nay ngăn giữa Ethiopia với miền bắc Kenya.
Trong khi các bằng chứng đó đều dựa trên bằng chứng khảo cổ, cũng có một phương pháp độc lập để tính niên đại xuất hiện các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa, ấy là bằng cách so sánh những từ dùng để gọi chúng trong các ngôn ngữ ngày nay. So sánh từ dùng để gọi các loài cây trong các ngôn ngữ Nigeria thuộc ngữ hệ Niger-Congo, ta thấy các từ này chia làm ba nhóm. Trước hết là các trường hợp khi từ để gọi một cây cụ thể trong tất cả các ngôn ngữ miền nam Nigeria này rất giống nhau. Các cây trồng đó rõ ràng là những loài cây như khoai lang Tây Phi, cọ dầu và hạt kola, nghĩa là các loài cây mà dựa theo bằng chứng thực vật học và các bằng chứng khác người ta vốn vẫn tin là cây bản địa Tây Phi và được thuần hóa đầu tiên ở đó. Bởi đó là các cây trồng Tây Phi xưa nhất, cho nên mọi ngôn ngữ hiện đại ở Nigeria đều thừa hưởng những cái tên nguyên thủy được dùng để gọi chúng.
Kế đó là các cây trồng mà tên gọi chúng chỉ giống nhau trong phạm vi các ngôn ngữ thuộc cùng một nhóm nhỏ trong số các ngôn ngữ miền nam Nigeria đó. Đó là các cây trồng từng được cho là có nguồn gốc từ Indonesia, chẳng hạn chuối và khoai lang châu Á. Rõ ràng các cây trồng này chỉ đến được miền nam Nigeria sau khi các ngôn ngữ đã bắt đầu tách ra thành từng nhóm nhỏ, nên mỗi nhóm tự đặt ra hoặc tiếp thu những cái tên khác nhau cho cùng những loài cây trồng mới, trong khi [tên gọi nguyên thủy của chúng] thì chỉ các ngôn ngữ của riêng nhóm đó mới thừa hưởng đến nay mà thôi. Cuối cùng là các cây trồng mà tên gọi chúng hoàn toàn chẳng giống gì nhau giữa các nhóm ngôn ngữ, mà được du nhập theo những con đường trao đổi. Đó là các loài cây trồng của Tân Thế giới như ngô và lạc mà ta biết đã được du nhập vào châu Phi sau khi xuất hiện giao thông xuyên đại dương bằng tàu thủy (năm 1492) và phát tán từ đó trở đi dọc theo các con đường trao đổi, thường thì chúng mang những cái tên Bồ Đào Nha hoặc tên nước ngoài.
Như vậy, thậm chí dù không có chút bằng chứng nào về thực vật học hay khảo cổ mà chỉ có mỗi bằng chứng ngôn ngữ học, ta vẫn có thể suy ra rằng các cây trồng bản địa Tây Phi đã được thuần hóa đầu tiên ở đó, kế đến là các cây trồng Indonesia, cuối cùng là các cây trồng do người châu Âu du nhập vào. Sử gia Christopher Ehret của UCLA (Đại học California tại Los Angeles) đã áp dụng phương pháp ngôn ngữ học này để xác định xem các dân tộc thuộc từng ngữ hệ châu Phi đã bắt đầu sử dụng các loài cây trồng và vật nuôi theo trình tự nào. Bằng một phương pháp gọi là glottochronology (tạm dịch: biên niên ngôn ngữ học, ND), dựa trên những tính toán xem các từ thường có xu hướng thay đổi nhanh đến mức nào trong quá trình lịch sử, các nhà ngôn ngữ học so sánh thậm chí có thể dự tính được niên đại thuần hóa hoặc tiếp thu từng loại cây trồng.
Kết hợp bằng chứng khảo cổ trực tiếp về các cây trồng với bằng chứng ngôn ngữ học mang tính gián tiếp hơn, ta suy ra rằng các dân tộc từng thuần hóa lúa miến và kê ở Sahara hàng ngàn năm trước đã nói những ngôn ngữ vốn là thủy tổ của các ngôn ngữ Nilo-Sahara hiện đại. Tương tự, những người đầu tiên thuần hóa cây trồng ở vùng ẩm ướt Tây Phi đã nói những ngôn ngữ vốn là thủy tổ của các ngôn ngữ Niger-Congo hiện đại. Cuối cùng, những người nói các ngôn ngữ Phi-Á thủy tổ có thể đã tham gia thuần hóa các cây trồng bản địa Ethiopia, và chắc chắn chính họ đã đưa các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu đến khu vực Bắc Phi.
Như vậy, bằng chứng suy ra được từ tên gọi các cây trồng trong ngôn ngữ châu Phi hiện đại cho phép ta đoán được sự hiện hữu của ba ngôn ngữ từng được dùng ở châu Phi cách đây hàng ngàn năm: tiếng Nilo-Sahara cổ, tiếng Niger-Congo cổ và tiếng Phi-Á cổ. Ngoài ra, ta có thể đoán rằng cũng đã từng hiện hữu tiếng Khoisan cổ từ những bằng chứng ngôn ngữ học khác, mặc dù không phải thông qua tên các cây trồng (bởi người Khoisan cổ không thuần hóa một loài cây nào cả). Bởi châu Phi ngày nay có tới 1.500 ngôn ngữ, rõ ràng lục địa này đủ lớn để từng có không chỉ bốn ngôn ngữ thủy tổ đó vào thời điểm cách đây nhiều ngàn năm. Song tất cả các ngôn ngữ đó ắt hẳn đều đã biến mất – hoặc vì những người nói các ngôn ngữ đó vẫn còn sống nhưng đã đánh mất ngôn ngữ nguyên thủy của họ giống như người Pygmy, hoặc bởi bản thân những người đó đã biến mất.
Bốn ngữ hệ bản địa châu Phi (nghĩa là bốn ngữ hệ khác ngoài ngữ hệ Nam Đảo mới được du nhập về sau vào Madagascar) tồn tại được đến ngày nay chẳng phải vì tính ưu việt nội tại của các ngôn ngữ đó với tư cách phương tiện giao tiếp. Thay vì vậy, sở dĩ chúng tồn tại được chắc chắn là do sự tình cờ lịch sử: những người nói các ngôn ngữ Nilo-Sahara, Niger-Congo và Phi-Á thủy tổ kia đã tình cờ sống ở đúng nơi và đúng thời điểm để có được các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa cho phép họ nhân lên đông đúc và lấn chiếm đất đai của các dân tộc khác hoặc áp đặt ngôn ngữ của mình lên các dân tộc khác. Dăm ba người còn nói tiếng Khoisan ngày nay sở dĩ sống sót được chủ yếu là nhờ họ sống biệt lập ở những khu vực miền nam châu Phi không thích hợp với nghề nông của người Bantu.
Trước khi lần theo sự sống sót của người Khoisan sau làn sóng Bantu, ta hãy xem khoa khảo cổ nói gì với chúng ta về làn sóng di cư lớn thứ hai của châu Phi vào thời tiền sử – ấy là khi người Nam Đảo đến chiếm lĩnh đảo Madagascar. Các nhà khảo cổ học khi khảo sát Madagascar đã chứng minh được rằng người Nam Đảo đã đặt chân đến đây muộn nhất là trước năm 800, có thể là ngay từ năm 300. Ở đó người Nam Đảo đã gặp (sau đó thì hủy diệt) một thế giới xa lạ gồm những con vật lạ lùng đến nỗi cứ như từ hành tinh khác đến, bởi các con vật đó đã tiến hóa ở Madagascar trong suốt một thời gian cô lập rất dài. Đó là các loài chim voi khổng lồ, các loài linh trưởng gọi là lemur to như khỉ đột, hà mã tí hon. Di tích khảo cổ về những nơi định cư sớm nhất của con người ở Madagascar bao gồm các công cụ bằng sắt, gia súc và cây trồng, vậy những người đến định cư không chỉ là một dúm ngư dân đi trên một chiếc thuyền bị bão đánh dạt vào đây, mà họ đã đến như cả một đoàn thám hiểm đủ lề đủ bộ. Cuộc thám hiểm thời tiền sử xa những 4.000 dặm (6.400 km, ND) đó đã diễn ra như thế nào?
Có một dấu vết trong một cuốn sách cổ dẫn đường cho thủy thủ, ấy là cuốn Periplus ở vùng biển Erythrea (Periplus of the Erythrean Sea) do một nhà buôn vô danh sống ở Ai Cập viết vào khoảng năm 100. Nhà buôn này mô tả rằng đã có một nền thương mại biển rất ư thịnh vượng nối giữa Ấn Độ và Ai Cập với vùng duyên hải Đông Phi. Với sự bành trướng đạo Hồi từ sau năm 800, nền thương mại Ấn Độ dương trở nên có nhiều cứ liệu về khảo cổ nhờ số lượng lớn các sản phẩm từ Trung Đông (đôi khi của cả Trung Quốc!) như đồ gốm, thủy tinh và đồ sứ ở các khu định cư miền duyên hải Đông Phi. Các nhà buôn thường đợi khi gió thuận để băng qua Ấn Độ dương mà đi thẳng từ Đông Phi đến Ấn Độ hay ngược lại. Khi nhà hàng hải Bồ Đào Nha Vasco de Gama trở thành người châu Âu đầu tiên dong buồm vòng quanh mũi cực nam châu Phi mà đến được bờ biển Kenya vào năm 1498, ông đã gặp những khu định cư của người Swahili và chọn ra từ đó một hoa tiêu dẫn đường cho ông đi thẳng từ đó sang Ấn Độ.
Nhưng còn có một nền thương mại đường biển nhộn nhịp không kém từ Ấn Độ về phía đông, ấy là giữa Ấn Độ và Indonesia. Có lẽ những người Nam Đảo di cư đến Madagascar đã đi từ Indonesia đến Ấn Độ theo con đường thương mại phía đông đó, sau đấy thì tiếp tục xuôi con đường thương mại phía tây mà đến Đông Phi ở đó họ hợp nhất với người Đông Phi và khám phá Madagascar. Sự hợp nhất đó giữa người Nam Đảo với người Đông Phi vẫn tồn tại đến ngày nay trong ngôn ngữ của Madagascar, ấy là một ngôn ngữ về cơ bản là Nam Đảo song có những từ vay mượn từ ngôn ngữ Bantu vùng duyên hải Kenya. Nhưng không có sự vay mượn tương ứng các từ Nam Đảo trong ngôn ngữ Kenya, và các dấu vết khác của người Nam Đảo cũng rất mờ nhạt nếu đi sâu vào nội địa Đông Phi: có chăng chỉ là những nhạc cụ châu Phi mà nguồn gốc có thể từ Indonesia (mộc cầm (xylophone) và đàn tam thập lục) và – dĩ nhiên – các loài cây trồng Nam Đảo mà về sau trở nên rất quan trọng đối với nghề nông ở châu Phi. Từ đó ta phải tự hỏi liệu có phải người Nam Đảo, thay vì đi theo hải trình từ Ấn Độ và Đông Phi đến Madagascar vốn dễ hơn, vì lý do nào đó rất ư khó hiểu đã dong buồm băng qua Ấn Độ dương mà đến thẳng Madagascar, rồi chỉ sau đó mới nhập vào những con đường thương mại Đông Phi hay không. Vậy nên sự kiện lạ lùng nhất về sự phân bố loài người ở châu Phi đến nay vẫn là điều bí ẩn.
Ngành khảo cổ có thể cho ta biết những gì về cuộc di dân lớn khác trong thời tiền sử châu Phi – cuộc bành trướng của người Bantu? Qua bằng chứng về bản thân các dân tộc và bằng chứng về ngôn ngữ của các dân tộc đó, chúng ta đã thấy châu Phi hạ Sahara không phải bao giờ cũng là lục địa đen như ta nghĩ ngày nay. Thay vì vậy, bằng chứng này gợi ý rằng đã có thời người Pygmy phổ biến khắp cả vùng rừng mưa Trung Phi, trong khi người Khoisan đã từng sinh sống ở khắp các phần khô hạn hơn của châu Phi hạ xích đạo. Liệu các giả thuyết đó ngành khảo cổ có thể kiểm chứng được không?
Trong trường hợp người Pygmy, câu trả lời là “chưa”, đơn giản vì các nhà khảo cổ chưa phát hiện được xương người cổ đại ở vùng rừng mưa Trung Phi. Còn với người Khoisan, câu trả lời là “có”. Ở Zambia, về phía bắc vùng phân bố của người Khoisan ngày nay, các nhà khảo cổ đã tìm được sọ của những người có lẽ giống người Khoisan hiện đại, cũng như các công cụ bằng đá giống những công cụ mà người Khoisan vẫn đang còn chế tác ở miền nam châu Phi vào thời điểm người châu Âu đến.
Còn về việc người Bantu đã đến chiếm chỗ những người Bắc Khoisan đó như thế nào, bằng chứng khảo cổ và bằng chứng ngôn ngữ học gợi ý rằng sự bành trướng của các nhà nông Bantu cổ đại từ vùng đồng cỏ nội địa Tây Phi về phía nam đến các vùng rừng duyên hải ẩm ướt hơn có thể đã bắt đầu ngay từ 3.000 năm TCN (xem Hình 19.4). Các từ vẫn còn phổ biến trong mọi ngôn ngữ Bantu cho thấy rằng ngay từ khi đó người Bantu đã nuôi gia súc và trồng các cây thuộc vùng khí hậu ẩm như khoai sọ, nhưng họ vẫn chưa có kim loại và vẫn còn sống phần lớn dựa vào câu cá, săn bắt và hái lượm. Thậm chí gia súc họ nuôi còn chết vì bệnh do ruồi tsetse trong rừng gây ra. Khi họ bành trướng vào vùng rừng nhiệt đới của Lòng chảo Congo, phát hoang làm vườn và tăng dần về dân số, họ bắt đầu nhấn chìm những người săn bắt hái lượm Pygmy và dồn những người Pygmy đó vào rừng.
Chẳng bao lâu sau 1.000 năm trc.CN người Bantu đã từ rìa phía đông vùng rừng tiến ra vùng đất quang hơn là thung lũng Rift và Hồ Lớn của Đông Phi. Ở đây họ gặp một quần thể hỗn hợp gồm những người Phi-Á và người Nilo-Sahara trồng trọt và chăn nuôi trồng kê, lúa miến và nuôi gia súc ở các khu vực khô ráo hơn, cùng với những người săn bắt hái lượm Khoisan. Nhờ các cây trồng có nguồn gốc từ vùng khí hậu ẩm thừa hưởng được từ quê nhà Tây Phi, người Bantu có thể trồng trọt ở những khu vực ẩm ướt của Đông Phi vốn không thích hợp với tất cả những người đã sinh sống tại vùng này trước đó. Người Bantu ngày một tiến xa hơn, cho đến những thế kỷ cuối cùng trước Công nguyên thì rốt cuộc họ đã đặt chân đến vùng duyên hải Đông Phi.
Ở Đông Phi người Bantu bắt đầu tiếp thu cây kê và lúa miến (cùng với những cái tên của người Nilo-Sahara dùng để gọi các cây này) và tiếp thu trở lại các loài gia súc từ những người láng giềng Nilo-Sahara và Phi Á. Họ cũng tiếp thu được sắt, vốn chỉ mới bắt đầu luyện được ở vùng Sahel của châu Phi. Nguồn gốc nghề luyện sắt ở châu Phi hạ Sahara ngay sau 1.000 năm trc.CN đến nay vẫn chưa rõ. Niên đại đó gần một cách đáng ngờ với niên đại khi kỹ thuật luyện thép của vùng Cận Đông được du nhập vào Carthage trên bờ biển Bắc Phi. Vì vậy các sử gia thường giả định rằng tri thức về nghề luyện kim đã được du nhập vào châu Phi hạ Sahara từ phương Bắc. Mặt khác, nghề luyện đồng đã có mặt tại vùng Sahara và Sahel của Tây Phi từ ít nhất 2.000 năm TCN. Đó có thể là tiền đề để châu Phi phát minh nghề luyện sắt một cách độc lập [so với vùng Cận Đông, ND]. Giả thuyết này càng được củng cố bởi thực tế là kỹ thuật luyện của các thợ rèn châu Phi hạ Sahara khác xa với kỹ thuật của các thợ rèn Địa Trung Hải đến mức người ta buộc phải nghĩ rằng hai nghề luyện thép này đã phát triển độc lập với nhau: các thợ rèn châu Phi đã phát hiện được cách tạo ra nhiệt độ cao trong các lò rèn miệt vườn của họ và sản xuất được thép sớm hơn trên 2.000 năm so với các lò rèn Bessemer của châu Âu và châu Mỹ thế kỷ XIX.
Đã có các cây trồng vùng khí hậu ẩm, nay lại có thêm công cụ sắt, người Bantu rốt cuộc đã tạo ra được một sức mạnh quân sự – công nghiệp tổng hợp mà không một dân tộc nào khác tại châu Phi hạ xích đạo thời đó có thể ngăn lại nổi. Ở Đông Phi họ vẫn còn phải cạnh tranh với đông đảo người Nilo-Sahara và Phi Á biết làm nông nghiệp. Song về phía nam thì trải dài một vùng đất rộng những 2.000 dặm (3.200 km, ND) song chỉ thưa thớt những người Khoisan săn bắt hái lượm, không có cả công cụ bằng kim loại lẫn cây trồng. Chỉ trong vòng vài thế kỷ, các nhà nông Bantu đã tiến băng băng đến tận Natal trên vùng duyên hải phía đông của khu vực nay là Cộng hòa Nam Phi, làm nên một trong những bước tiến thuộc địa hóa thần tốc nhất trong thời tiền sử.
Hình 19.4: Những con đường mà theo phỏng đoán đã đưa những người nói tiêsng Bantu từ một vùng đất (gọi là H) ở góc Tây Bắc khu vực Bantu ngày nay bành trướng sang phía Đông và xuống phía Nam châu Phi từ 3.000 năm TCN đến năm 500.
Cuộc bành trướng đó nhất định là nhanh chóng và dữ dội, song nếu ta hình dung toàn bộ người Khoisan đã bị những đoàn người Bantu đông kìn kìn kia dẫm bẹp thì sẽ là đơn giản hóa vấn đề. Trên thực tế mọi chuyện phức tạp hơn. Các dân tộc Khoisan ở miền nam châu Phi đã tiếp thu được cừu và bò từ vài thế kỷ trước khi người Bantu bành trướng xuống. Những người Bantu đầu tiên đi tiên phong có lẽ là ít về số lượng, họ chỉ chọn những cánh rừng ẩm thích hợp với các cây trồng quen với khí hậu ẩm của mình mà bỏ qua những khu vực khô ráo hơn, để lại các khu đó cho những nhóm người Khoisan chăn nuôi và săn bắt hái lượm. Quan hệ trao đổi và phối ngẫu chắc chắn đã hình thành giữa những người Khoisan đó với các nhà nông Bantu, mỗi bên chiếm lĩnh một môi trường khác nhau song vẫn ở gần nhau, cũng như người Pygmy săn bắt hái lượm và người Bantu làm nghề nông ở châu Phi nhiệt đới vẫn làm ngay cả ngày nay. Chỉ dần dần về sau, khi người Bantu ngày một đông hơn, lại tiếp thu được các loài gia súc và ngũ cốc của vùng khí hậu khô vào nền kinh tế của mình, họ mới tràn ra chiếm cứ cả những khu vực khô ráo mà ngày xưa họ đã bỏ qua. Nhưng kết quả sau cùng thì vẫn là một: các nhà nông Bantu chiếm cứ hầu hết lãnh thổ trước kia thuộc người Khoisan; di sản của các cư dân Khoisan trước kia chỉ còn lại mỗi những tiếng tách trong các ngôn ngữ phi Khoisan phân bố rải rác ngày nay, cũng như những chiếc sọ và công cụ bằng đá vẫn còn bị chôn vùi đợi các nhà khảo cổ đến khám phá; và ngoại hình giống Khoisan của một vài dân tộc Bantu ở miền nam châu Phi.
Điều gì đã thực sự xảy ra với tất cả những người Khoisan ngày nay đã biến mất kia? Ta không biết. Ta chỉ có thể nói chắc mỗi một điều rằng, ở những nơi người Khoisan từng sống có lẽ lâu đến hàng vạn năm, nay chỉ còn mỗi người Bantu. Ta chỉ có thể liều phỏng đoán, bằng phép loại suy từ những sự kiện có người tai nghe mắt thấy trong thời hiện đại khi những người da trắng mang vũ khí bằng thép xung đột với những người Australia bản địa và người Anh-điêng California vẫn còn dùng công cụ bằng đá. Ở đó ta biết rằng những người săn bắt hái lượm đã nhanh chóng bị loại trừ bằng nhiều cách kết hợp: họ bị đuổi đi nơi khác, đàn ông bị giết hay bị bắt làm nô lệ, đàn bà bị bắt làm vợ, và cả đàn ông lẫn đàn bà đều lây bệnh truyền nhiễm từ các nhà nông nọ. Một ví dụ tiêu biểu về các căn bệnh kia ở châu Phi là bệnh sốt rét lây truyền qua loài muỗi vốn sinh sản quanh làng mạc của các nhà nông, căn bệnh mà những người Bantu đến xâm lăng đã có kháng thể còn những người săn bắt hái lượm Khoisan thì có lẽ là không.
Tuy nhiên, Hình 19.1 về sự phân bố chủng tộc ở châu Phi gần đây nhắc nhở ta rằng người Bantu đã không đè bẹp toàn bộ người Khoisan, bởi một số người Khoisan vẫn còn sống sót đến ngày nay ở một số khu vực tại nam châu Phi vốn không thích hợp cho nghề nông Bantu. Dân tộc Bantu tiến xa nhất về phía nam, người Xhosa, đã dừng chân nơi dòng Sông Cá trên vùng duyên hải phía nam của Nam Phi, cách Cape Town 500 dặm (800 km, ND) về phía đông. Chẳng phải vì bản thân vùng Mũi Hảo vọng quá khô không thể trồng trọt được, bởi ngày nay nó là vựa lúa của nước Nam Phi. Tuy nhiên, vùng Cape này có khí hậu Địa Trung Hải mưa nhiều vào mùa đông, không thích hợp cho các cây trồng Bantu vốn thích nghi với mưa vào mùa hè. Cho đến năm 1652, khi người Hà Lan đặt chân đến Cape Town mang theo các cây trồng có nguồn gốc Cận Đông thích nghi với mưa vào mùa đông, người Xhosa vẫn chưa bành trướng ra xa hơn dòng Sông Cá.
Cái chi tiết về địa lý cây trồng này thoạt trông chẳng có gì ghê gớm, nhưng nó lại có những hậu quả to lớn đối với chính trị ngày nay. Một hậu quả là, khi những người da trắng Nam Phi đã nhanh chóng giết chết hoặc xua đuổi sạch người Khoisan ra khỏi vùng Cape, người da trắng có thể tuyên bố một cách xác đáng rằng họ đã chiếm vùng Cape trước người Bantu nên họ có quyền ưu tiên chiếm vùng này. Chúng ta chẳng việc gì phải xem lời tuyên bố đó là nghiêm túc, bởi quyền ưu tiên của chính người Khoisan vùng Cape đã chẳng ngăn được người da trắng tước đoạt vùng đất này từ tay họ. Hậu quả nặng nề hơn nhiều, ấy là những người di cư Hà Lan vào năm 1652 chỉ phải giao chiến với một nhóm thưa thớt những người chăn nuôi Khoisan chứ không phải với những nhà nông Bantu đông đảo được trang bị vũ khí bằng thép. Khi người da trắng rốt cuộc cũng bành trướng về phía đông và chạm trán người Xhosa tại dòng Sông Cá vào năm 1702, một thời kỳ giao tranh khốc liệt bắt đầu. Thậm chí dù đến khi đó người châu Âu đã có thể xin quân chi viện từ căn cứ an toàn tại Cape thì cũng phải mất tới chín cuộc chiến tranh và 175 năm, với tốc độ tiến quân trung bình chưa tới một dặm (1,6 km, ND) một năm, quân đội châu Âu mới khuất phục nổi người Xhosa. Nếu như dăm ba chiếc tàu Hà Lan đầu tiên kia ngay từ đầu đã gặp phải sự kháng cự mãnh liệt đến thế thì liệu người da trắng có đứng chân nổi trên Cape hay không [chứ chưa nói là tiến sâu hơn vào nội địa châu Phi, ND]?
Như vậy, những vấn đề của Nam Phi hiện đại bắt nguồn ít nhất một phần từ sự ngẫu nhiên địa lý. Ngẫu nhiên mà Cape, quê hương bản quán của Khoisan chỉ có một số ít loài cây dại có thể thuần hóa được; ngẫu nhiên mà người Bantu thừa hưởng được từ tổ tiên họ cách đấy 5.000 năm những cây trồng thích nghi với mưa vào mùa hè; và ngẫu nhiên mà người châu Âu đã thừa hưởng được từ tổ tiên họ trước đó gần 10.000 năm những cây trồng thích nghi với mưa vào mùa đông. Đúng như cái biển hiệu “Phố Goering” ở thủ đô nước Namibia vừa giành độc lập đã nhắc cho tôi nhớ, quá khứ của châu Âu đã in dấu ấn sâu đậm lên hiện tại của châu Phi.
Như vậy, người Bantu đã có khả năng nhấn chìm người Khoisan chứ không phải là ngược lại. Giờ ta hãy quay lại câu hỏi còn lại trong bài toán khó về thời tiền sử của châu Phi: tại sao chính người châu Âu là những kẻ đã thuộc địa hóa châu Phi hạ Sahara. Tại sao không phải ngược lại mới là điều đặc biệt kỳ lạ, bởi châu Phi đã từng là cái nôi tiến hóa duy nhất của loài người trong suốt hàng triệu năm, cũng như có thể là quê hương của người Homo sapiens hiện đại về mặt giải phẫu. Đã vậy, ngoài lợi thế xuất phát trước này, châu Phi còn có những lợi thế lớn khác là khí hậu và môi trường hết sức đa dạng cũng như sự đa dạng về nhân chủng cao nhất trên thế giới. Nếu có một người ngoài hành tinh nào đó đến thăm Trái đất vào khoảng 10.000 năm trước, chúng ta chẳng thể trách anh ta nếu anh ta tiên đoán rằng về sau châu Âu sẽ là một loạt những nhà nước dã man chịu sự thống trị của một đế quốc châu Phi hạ Sahara hùng mạnh.
Những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến kết quả cuộc xung đột giữa châu Phi với châu Âu thì đã rõ. Cũng như khi đụng độ với người châu Mỹ bản địa, người châu Âu khi đến châu Phi đã có sẵn ưu thế vượt trội về súng và các công nghệ khác, về chữ viết và số người biết chữ, và tổ chức chính trị cần thiết để duy trì những chương trình thám hiểm và chinh phục lâu dài. Các ưu thế đó thể hiện ra hầu như ngay từ lúc các cuộc đụng độ mở màn: chưa đầy bốn năm sau khi Vasco de Gama đặt chân lên bờ biển Đông Phi lần đầu tiên, ông ta đã quay lại mang theo một hạm đội tua tủa đại bác để đòi Kilwa, cảng quan trọng nhất của Đông Phi, nơi kiểm soát con đường mua bán vàng của Zimbabwe phải đầu hàng. Nhưng tại sao người châu Âu đã phát triển được tất cả ba ưu thế đó trước người châu Phi hạ Sahara?
Như ta đã bàn trước đây, về phương diện lịch sử cả ba ưu thế đó đã phát sinh từ sự phát triển nền sản xuất lương thực. Nhưng sản xuất lương thực ở châu Phi hạ Sahara thì đã khởi đầu muộn hơn (so với Âu-Á) do châu Phi có ít loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa hơn, do diện tích thích hợp cho sản xuất lương thực bản địa ở châu Phi nhỏ hẹp hơn nhiều, và do trục bắc-nam của châu Phi kìm hãm sự bành trướng nền sản xuất lương thực và các phát minh. Ta hãy xét xem các nhân tố đó đã vận hành như thế nào.
Trước hết, về phần vật nuôi thuần hóa, ta đã thấy rằng các loài vật nuôi ở châu Phi hạ Sahara đều có nguồn gốc từ Âu-Á, có chăng chỉ loại trừ một vài loài từ Bắc Phi. Hệ quả là, mãi nhiều ngàn năm sau khi các loài vật nuôi bắt đầu được các nền văn minh mới nổi ở Âu-Á sử dụng, chúng mới được du nhập vào châu Phi hạ Sahara. Điều đó thoạt nhìn có vẻ đáng ngạc nhiên, bởi ta vẫn thường cho rằng châu Phi mới chính là lục địa có nhiều loài hữu nhũ lớn hoang dã nhất. Nhưng ở Chương 9 ta đã thấy rằng để có thể thuần hóa được thì một loài thú lớn phải đủ lành tính, phải chịu thuần phục con người, nuôi không quá tốn kém, phải miễn dịch với bệnh tật, phải lớn nhanh và sinh sản tốt trong điều kiện nuôi nhốt. Các loài bò, cừu, dê, ngựa và lợn bản địa ở Âu-Á nằm trong số ít những loài thú hoang dã lớn vượt qua được toàn bộ các bài sát hạch khắt khe kia. Các loài thú hoang dã lớn tương đương ở châu Phi – như trâu rừng châu Phi, ngựa vằn, lợn lòi, tê giác và hà mã – chưa bao giờ có thể thuần hóa được ngay cả trong thời đại gần đây.
Dĩ nhiên, đúng là một số loài thú lớn châu Phi đôi khi cũng đã được thuần dưỡng. Hannibal từng thuần dưỡng voi châu Phi trong cuộc chiến bất thành chống lại đế quốc La Mã, người Ai Cập cổ đại có thể đã từng thuần hóa ngựa vằn và những loài khác. Nhưng không một con vật được thuần dưỡng nào trong số đó đã thực sự thuần hóa nghĩa là được phối giống trong điều kiện nuôi nhốt và được điều chỉnh về đặc tính di truyền sao cho trở nên hữu ích hơn đối với con người. Giá như tê giác và hà mã của châu Phi đã được thuần hóa làm vật cưỡi thì chúng không chỉ có thể cung cấp thịt nuôi quân mà còn giúp [người châu Phi] có một lực lượng kỵ binh không gì cưỡng nổi đè bẹp kỵ binh cưỡi ngựa của người Âu. Khi đó quân đội Bantu cưỡi tê giác lẽ ra đã có thể lật nhào Đế quốc La Mã. Nhưng điều đó đã chẳng bao giờ xảy ra.
Một nhân tố thứ hai, song song với sự khác biệt về các loài vật nuôi tuy ở mức độ thấp hơn, là sự khác biệt về các loài cây dại có thể thuần hóa ở châu Phi hạ Sahara so với các loài ở lục địa Âu-Á. Vùng Sahel, Ethiopia và Tây Phi cũng có những loài cây trồng bản địa, song về chủng loại thì ít hơn nhiều so với ở Âu-Á. Bởi chủng loại các loài thích hợp để thuần hóa ít ỏi hơn, nên ngay cả nền nông nghiệp sớm nhất ở châu Phi cũng có thể đã ra đời muộn hơn ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đến hàng mấy ngàn năm.
Như vậy, nếu nói về sự thuần hóa cây trồng và vật nuôi thì lợi thế xuất phát và sự đa dạng cao là nằm ở Âu-Á chứ không phải châu Phi. Nhân tố thứ ba là diện tích của châu Phi chỉ bằng khoảng một nửa diện tích Âu-Á. Hơn nữa, chỉ chừng một phần ba diện tích đó nằm trong vùng hạ Sahara ở phía bắc xích đạo nơi đã có các nhà nông và người chăn nuôi từ trước 1.000 năm TCN. Ngày nay, dân số toàn bộ châu Phi không quá 700 triệu người, trong khi Âu-Á tới 4 tỷ người. Nhưng, cứ cho là mọi nhân tố khác đều như nhau, song ở đâu đất rộng người đông hơn thì có nhiều xã hội và nhiều phát minh hơn, từ đó mà cũng phát triển với tốc độ nhanh hơn.
Nhân tố còn lại khiến tốc độ phát triển ở châu Phi thời hậu Pleitoxen chậm hơn so với ở Âu-Á là hướng trục của hai lục địa này khác hẳn nhau. Cũng như trục châu Mỹ, trục chính của châu Phi là bắc-nam, trong khi trục chính của Âu-Á là đông-tây (Hình 10.1). Khi di chuyển dọc theo trục bắc-nam, ta đi qua những vùng rất khác nhau về khí hậu, môi trường, lượng mưa và thời gian mưa, độ dài của ngày, cũng như các bệnh cây trồng và gia súc. Vì vậy mà các cây trồng và gia súc được thuần hóa hoặc tiếp thu ở một khu vực của châu Phi rất khó lòng di chuyển sang các khu vực khác. Ngược lại, cây trồng vật nuôi có thể di chuyển dễ dàng giữa các xã hội của Âu-Á dù cách xa nhau đến hàng ngàn dặm, miễn sao các xã hội đó ở trên cùng một vĩ độ và có khí hậu cũng như độ dài ngày tương tự nhau.

Tình trạng cây trồng vật nuôi ở châu Phi rất khó hoặc hoàn toàn không thể phát tán theo hướng trục bắc-nam đưa đến những hậu quả nghiêm trọng. Chẳng hạn, các cây trồng Địa Trung Hải mà về sau trở thành những cây trồng chính của Ai Cập đòi hỏi mưa vào mùa đông và độ dài ngày thay đổi theo mùa thì mới nảy mầm được. Các cây trồng đó không thể bành trướng xa hơn về phía nam Sudan bởi từ đó trở đi thì mưa chỉ có vào mùa hè và độ dài ngày không thay đổi theo mùa. Lúa và lúa miến của Ai Cập đã chẳng bao giờ đến được vùng khí hậu Địa Trung Hải ở Mũi Hảo vọng cho mãi tới khi thực dân châu Âu mang chúng đến vùng này vào năm 1652, còn người Khoisan thì đã chẳng bao giờ phát triển được nghề nông. Tương tự, các cây trồng vùng Sahel, thích nghi với mưa vào mùa hè và độ dài ngày ít hoặc không thay đổi theo mùa, từng được người Bantu mang đến miền nam châu Phi nhưng không thể mọc ở chính vùng Cape khiến cho bước tiến của nền nông nghiệp Bantu bị chựng lại. Chuối và các cây trồng châu Á nhiệt đới khác nằm trong số các cây trồng năng sản nhất của nông nghiệp nhiệt đới châu Phi, nhưng chúng đã không thể đến được châu Phi bằng đường bộ. Hình như mãi đến thiên niên kỷ đầu tiên của công nguyên chúng mới đến được châu Phi, rất lâu sau khi được thuần hóa ở châu Á, bởi chúng phải đợi đến khi có những con đường giao thương với quy mô lớn bằng thuyền băng qua Ấn Độ Dương.
Trục bắc-nam của châu Phi cũng kìm hãm nghiêm trọng sự bành trướng của gia súc. Loài ruồi tsetse của châu Phi xích đạo mang con trùng mũi khoan gây bệnh ngủ, các loài hữu nhũ hoang dã châu Phi thì đã có kháng thể chống bệnh này, song với các loài gia súc có nguồn gốc từ Âu-Á và Bắc Phi chưa có kháng thể thì căn bệnh này là đại họa. Những con bò mà người Bantu tiếp thu được từ vùng Sahel vốn không có ruồi tsetse đã không thể sống nổi khi người Bantu bành trướng về phía nam ngang qua rừng xích đạo. Mặc dù ngựa đã được du nhập vào Ai Cập vào khoảng 1.800 năm TCN và chẳng bao lâu sau làm thay đổi hình thái chiến tranh ở Bắc Phi, song mãi đến thiên niên kỷ thứ nhất CN chúng mới vượt qua được sa mạc Sahara để khiến hình thành các vương quốc Tây Phi sử dụng kỵ binh, còn xa hơn về phía nam – vùng có ruồi tsetse – thì ngựa đã chẳng bao giờ đến được. Tuy bò, cừu và dê đã đến được rìa phía bắc vùng Serengeti vào thiên niên kỷ thứ ba TCN, nhưng phải mất hơn 2.000 năm sau các loài gia súc đó mới vượt qua được Serengeti để tiếp cận miền nam châu Phi.
Cũng chậm chạp như tốc độ bành trướng dọc theo trục bắc-nam của châu Phi là sự phát triển công nghệ của con người. Đồ gốm từng được ghi nhận ở Sudan và Sahara vào khoảng 8.000 năm TCN, nhưng mãi đến khoảng năm 1 CN chúng mới đến được vùng Cape ở cực nam châu Phi. Mặc dù chữ viết đã phát triển ở Ai Cập từ trước 3.000 năm TCN và bành trướng đến vương quốc Nubia ở Meroë dưới dạng bảng chữ cái, và mặc dù chữ viết dưới dạng chữ cái đã đến được Ethiopia (có thể là từ Arập), song chữ viết đã không phát sinh độc lập ở phần còn lại của châu Phi, thay vì vậy chữ viết ở vùng này được người Arập hoặc người châu Âu mang từ ngoài vào.
Nói ngắn gọn, việc châu Âu thuộc địa hóa châu Phi chẳng có liên quan gì đến sự khác biệt giữa bản thân các dân tộc châu Âu với bản thân các dân tộc châu Phi như các nhà phân biệt chủng tộc người da trắng thường nghĩ. Đúng hơn, nguyên nhân nằm ở sự ngẫu nhiên về địa lý và địa sinh học, cụ thể là sự khác nhau giữa hai lục địa về diện tích, trục chính, chủng loại cây dại và thú hoang. Có nghĩa là, xét đến cùng, quỹ đạo lịch sử của châu Phi và châu Âu sở dĩ khác nhau là do sự khác biệt về bất động sản giữa hai bên.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 20 - Người Nhật là ai?

Trong số các cường quốc trên thế giới hiện nay, cường quốc có nền văn hóa cũng như môi trường độc đáo nhất là người Nhật Bản. Nguồn gốc ngôn ngữ của người Nhật nằm trong số những vấn đề gây tranh cãi nhất của ngành ngôn ngữ học, bởi không có một ngôn ngữ nào khác trong số các ngôn ngữ chính trên thế giới mà lại như tiếng Nhật, có mối quan hệ đầy tồn nghi với những ngôn ngữ khác. Người Nhật Bản là ai, họ từ đâu đến Nhật Bản, và họ đã tạo ra thứ ngôn ngữ độc nhất vô nhị của mình như thế nào? Những câu hỏi đó có tầm quan trọng lớn lao đối với nhận thức của người Nhật về chính mình cũng như đối với cách nhìn của các dân tộc khác về người Nhật. Vị trí thống trị ngày càng tăng của Nhật Bản và những mối quan hệ đôi khi đầy nhạy cảm giữa Nhật Bản với các láng giềng khiến cho việc tước bỏ những huyền thoại dai dẳng từ xưa đến nay và tìm ra lời giải đáp [đích thực] càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Trong các ấn bản trước của Súng, Vi trùng và Thép, phần nhắc tới Nhật Bản rất ít ỏi, đó là thiếu sót lớn nhất trong diện bao quát về địa lý của tôi. Thông tin mới về đặc điểm di truyền và nguồn gốc ngôn ngữ của người Nhật tích lũy được kể từ khi sách xuất bản lần đầu đến nay đã khích lệ tôi kiểm chứng xem [trường hợp] Nhật Bản tương thích đến đâu với cái giả thuyết chung của tôi.
Tìm những câu trả lời không dễ vì bằng chứng quá mâu thuẫn. Một mặt, dân tộc Nhật chẳng có gì khác biệt về sinh học; về ngoại hình và di truyền họ rất giống các dân tộc Đông Á khác, đặc biệt là người Triều Tiên. Như người Nhật vẫn ưa nhấn mạnh, họ khá đồng nhất về mặt văn hóa và sinh học: có rất ít sự khác nhau giữa người dân các vùng khác nhau của Nhật, ngoại trừ một sắc dân rất khác biệt gọi là người Ainu trên hòn đảo xa nhất về phía bắc của Nhật Bản là Hokkaido. Tất cả những điều đó dường như gợi ý rằng người Nhật đã từ nội địa Đông Á đặt chân lên Nhật Bản trong thời gian gần đây và chiếm chỗ của người Ainu vốn là cư dân ở vùng này từ xa xưa. Nhưng nếu đúng như vậy thì lẽ ra tiếng Nhật hiển nhiên phải gần với một số ngôn ngữ của Đông Á lục địa, cũng như tiếng Anh có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ German khác bởi người Anglo-Saxon mãi tới thế kỷ thứ VI CN mới từ lục địa châu Âu [vượt biển sang] chiếm cứ đảo Anh. Làm sao ta có thể dung hòa mối mâu thuẫn giữa một đằng là thứ ngôn ngữ được cho là rất cổ của người Nhật với một đằng là tất cả những bằng chứng cho thấy họ chỉ mới từ một nguồn gốc nào đó [di cư sang Nhật Bản] cách đây không lâu?
Người ta đã đề xuất bốn lý thuyết, cả bốn đều xung đột nhau, mỗi lý thuyết đều được nước này ưa chuộng song nước khác thì bài bác. Được chuộng nhất ở Nhật là quan điểm cho rằng người Nhật đã tiến hóa dần dần từ những người cổ đại từ kỷ Băng hà từng chiếm cứ Nhật Bản từ lâu trước 20.000 năm TCN. Cũng phổ biến ở Nhật là thuyết cho rằng người Nhật Bản là hậu duệ của những người du mục cưỡi ngựa Trung Á đã băng qua Triều Tiên mà chinh phục Nhật Bản vào thế kỷ thứ IV CN song nhấn mạnh rằng những người du mục đó không phải người Triều Tiên. Một thuyết được nhiều nhà khảo cổ phương Tây cũng như người Triều Tiên ưa thích song một số giới ở Nhật không ưa thì lại cho rằng người Nhật là hậu duệ của những người Triều Tiên di cư sang Nhật Bản mang theo nền nông nghiệp lúa nước vào khoảng 400 năm TCN. Cuối cùng, một thuyết nữa cho rằng cả ba giống người được nhắc tới trong ba lý thuyết trên có thể đã hợp huyết lại mà thành người Nhật Bản ngày nay.
Khi những câu hỏi tương tự nảy sinh về nguồn gốc của các dân tộc khác, người ta có thể bàn cãi về chúng một cách vô tư không thiên vị. Song những câu hỏi về nguồn gốc người Nhật Bản thì không. Quả thật là một thành tựu xuất sắc khi Nhật Bản, khác với nhiều nước ngoài châu Âu khác, vẫn duy trì được sự độc lập về chính trị và văn hóa đồng thời vẫn vươn lên từ chỗ biệt lập và tạo nên một xã hội công nghiệp hóa vào cuối thế kỷ XIX. Giờ đây, cũng dễ hiểu rằng người Nhật rất quan tâm đến việc duy trì truyền thống của mình khi đối diện với ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa phương Tây. Họ muốn tin rằng ngôn ngữ và văn hóa của họ là độc đáo đến nỗi cần phải có những quá trình phát triển đặc biệt phức tạp, chẳng giống bất cứ quá trình phát triển nào ở các nơi khác trên thế giới. Thừa nhận rằng tiếng Nhật có liên hệ với bất kỳ ngôn ngữ nào khác dường như cũng chẳng khác nào thừa nhận mình không có một bản sắc văn hóa độc đáo có một không hai.
Từ năm 1946, các trường học ở Nhật bắt đầu dạy một huyền thoại về lịch sử Nhật Bản dựa trên những biên niên ký Nhật Bản xưa nhất từ năm 712 đến 720. Các biên niên ký này mô tả vị nữ thần mặt trời Amaterasu sinh ra từ con mắt trái của đấng sáng thế Izanagi, cử cháu của bà là Ninigi giáng trần xuống đảo Kyushu thuộc quần đảo Nhật Bản để lấy một vị thần dưới trần thế. Chắt của Ninigi là Jimmu, nhờ có sự trợ giúp của một con chim thiêng chói lòa khiến mọi kẻ thù của ông mất hết khả năng chiến đấu, đã trở thành vị hoàng đế Nhật Bản đầu tiên vào năm 660 TCN. Để lấp đầy khoảng trống giữa năm 660 TCN và thời kỳ các vị vua Nhật Bản xưa nhất được ghi trong lịch sử thành văn, các biên niên sử này bịa ra 13 vị hoàng đế khác mà hết thảy đều hư cấu như nhau.
Trước cuối Thế chiến Thứ hai, khi rốt cuộc Thiên hoàng Hirohito nói với thần dân Nhật Bản rằng ngài không phải là hậu duệ của thánh thần, các sử gia và nhà khảo cổ Nhật Bản đã phải đưa ra những cách diễn dịch phù hợp với điều đó. Tuy ngày nay họ có nhiều tự do hơn trong cách diễn dịch, song những sự câu thúc chưa phải đã hết. Những tượng đài khảo cổ quan trọng nhất của Nhật Bản – 158 ngôi mộ kofun khổng lồ được xây dựng trong khoảng từ năm 300 đến năm 686 – vẫn đang thuộc quyền sở hữu của hoàng gia. Việc khai quật các ngôi mộ đó bị cấm ngặt vì có thể sẽ khiến cho [hoàng gia Nhật Bản] mất thiêng, lại còn có thể soi sáng xem hoàng gia Nhật Bản gốc gác từ đâu tới (chẳng hạn từ Triều Tiên chăng?), điều mà [người Nhật] không mong muốn chút nào.
Trong khi các di tích khảo cổ ở Hoa Kỳ là do những dân tộc châu Mỹ bản địa vốn chẳng có liên quan gì đến hầu hết người Hoa Kỳ ngày nay để lại, thì những di tích ở Nhật Bản, dù cổ xưa đến mấy, vẫn được cho là do những vị tổ tiên trực hệ của chính người Nhật ngày nay để lại. Do vậy mà ngành khảo cổ ở Nhật Bản được hỗ trợ bởi những ngân sách cao ngất trời và thu hút sự chú ý của công luận đến mức thật khó lòng hình dung ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Hằng năm, các nhà khảo cổ Nhật Bản đào trên 10.000 hố khai quật và sử dụng tới 50.000 nhân công tại chỗ. Vì vậy, số di chỉ Đồ đá mới đã khai quật được ở Nhật Bản nhiều gấp hai mươi lần so với trên toàn bộ nước Trung Quốc. Các bài tường thuật về những vụ khai quật được đưa hầu như hàng ngày trên truyền hình và xuất hiện trên trang nhất các tờ báo lớn nhất của Nhật Bản. Quyết chí chứng minh rằng tổ tiên người Nhật ngày nay đã đến nước Nhật từ thời rất xa xưa, các nhà khảo cổ khi thuật lại các vụ khai quật đều nhấn mạnh rằng ngay từ thời xa xưa đó cư dân cổ của Nhật Bản đã khác xa với mọi dân tộc khác cùng thời, nhưng lại rất giống người Nhật ngày nay. Chẳng hạn, một nhà khảo cổ thuyết trình về một di chỉ có tuổi 2.000 năm sẽ lưu ý cử tọa về những hố rác mà cư dân ngày xưa ở di chỉ đó đã dùng để vứt rác, nhằm minh họa rằng ngay từ thuở xa xưa đó người Nhật cổ đã quen với tính sạch sẽ nổi tiếng mà người Nhật Bản [được cho là] hậu duệ của họ ngày nay vẫn lấy làm tự hào.
Việc bàn cãi về các vấn đề khảo cổ ở Nhật Bản một cách vô tư không thiên vị mà khó khăn đến thế là do cách người Nhật diễn giải về quá khứ của họ có ảnh hưởng đến hành vi của họ trong hiện tại. Trong số các dân tộc Đông Á, ai đã mang văn hóa đến cho ai, ai ưu việt hơn về mặt văn hóa còn ai là kẻ man di, và ai có quyền tuyên bố đất của kẻ nào đó khác vốn là lãnh thổ của mình trong quá khứ? Chẳng hạn, có rất nhiều bằng chứng khảo cổ cho thấy đã có sự trao đổi về con người và vật phẩm giữa Nhật Bản và Triều Tiên trong khoảng từ năm 300 đến năm 700. Người Nhật giải thích rằng ấy là do người Nhật đã chinh phục Triều Tiên rồi mang các nô lệ và thợ thủ công Triều Tiên về Nhật Bản; người Triều Tiên thì giải thích rằng ấy là do Triều Tiên chinh phục Nhật Bản, và những kẻ sáng lập nên hoàng gia Nhật Bản chính là người Triều Tiên.
Vì vậy nên khi Nhật Bản đưa quân sang Triều Tiên và chiếm xứ này làm thuộc địa vào năm 1910, giới lãnh đạo quân sự Nhật Bản đã ăn mừng việc đó như là “phục hồi một sự an bài chính đáng từ thuở xa xưa”. Trong suốt 35 năm sau đó, lực lượng chiếm đóng Nhật Bản đã ra sức tiệt trừ tận gốc rễ nền văn hóa Triều Tiên, thay tiếng Triều Tiên bằng tiếng Nhật ở trường học. Các gia đình Triều Tiên đã sống ở Nhật Bản đến hàng mấy thế hệ vẫn khó mà nhập được quốc tịch Nhật Bản. Những “nấm mồ mũi” ở Nhật vẫn còn chứa đựng mũi của 20.000 người Triều Tiên bị cắt ra đem về Nhật Bản như là chiến lợi phẩm của cuộc xâm lăng Triều Tiên do người Nhật tiến hành vào thế kỷ XVI. Chẳng có gì lạ rằng tâm trạng thù ghét người Nhật phổ biến ở Triều Tiên còn thái độ coi khinh người Triều Tiên thì phổ biến ở Nhật Bản.
Xung quanh chuyện những cuộc tranh cãi về khảo cổ tưởng như chứa đầy bí ẩn lại có thể khơi nên nỗi quan tâm cuồng nhiệt đến thế nào, chỉ cần đơn cử một ví dụ, ấy là một di vật khảo cổ nổi tiếng của nước Nhật từ thời chưa có sử thành văn: thanh gươm Eta-Funayama vào thế kỷ thứ V, được coi là báu vật quốc gia và cất giữ ở Bảo tàng Quốc gia Nhật Bản. Trên thanh gươm bằng sắt này có khảm những chữ Hán bằng bạc, một trong những ví dụ xưa nhất còn lại đến nay về chữ viết ở Nhật Bản, các chữ này nhắc tới một vị Đại Vương, một vị quan phụng sự nhà vua này, và một thư lại người Triều Tiên tên là Chōan. Một vài chữ Hán trong số đó không hoàn chỉnh, đã bị rỉ sét hoặc bị mất nên người ta đành phải đoán mò. Các học giả Nhật Bản xưa nay vẫn cho rằng các chữ bị thiếu đó cho biết tên của nhà vua nọ, ấy là hoàng đế Nhật Bản Mizuha-wake Răng Đẹp mà các biên niên sử Nhật Bản vào thế kỷ thứ VIII có nhắc tới. Tuy nhiên, vào năm 1966, một sử gia Triều Tiên là Kim Sokhyong đã làm các học giả Nhật Bản choáng váng khi đưa ra giả thuyết rằng thật ra cái tên bị thiếu đó là Vua Kaero của Triều Tiên, còn vị quan được nhắc tên kia là một trong các chư hầu của ngài mà vào lúc đó đang chiếm cứ một số vùng của Nhật Bản. Vậy thì thật ra cái “sự an bài chính đáng từ thuở xa xưa” đó là gì?
Ngày nay, cả Nhật Bản lẫn Hàn Quốc đều là những cường quốc kinh tế, đối diện nhau qua eo biển Tsushima, và nhìn nhau qua lăng kính bị nhiễm độc của các huyền thoại sai lệch và những sự kiện tàn khốc có thật trong quá khứ. Sẽ chẳng tốt lành gì cho tương lai vùng Đông Á nếu hai dân tộc lớn đó không thể tìm được một cơ sở chung. Hiểu một cách đúng đắn thật ra người Nhật Bản là ai, họ đã tách ra như thế nào từ dân tộc Triều Tiên vốn có quan hệ gần gũi, ấy là việc tối quan trọng để có thể tìm ra cái cơ sở chung đó.
Xuất phát điểm để hiểu được nền văn hóa độc đáo của Nhật Bản là phải hiểu điều kiện địa lý và môi trường có một không hai của nước này. Thoạt nhìn Nhật Bản có vẻ rất giống nước Anh về mặt địa lý, bởi cả hai đều là những quần đảo lớn nằm bên rìa lục địa Âu-Á, một ở phía đông một ở phía tây. Nhưng có những khác biệt về chi tiết tỏ ra quan trọng: Nhật Bản có phần lớn hơn và cách biệt hơn. Diện tích Nhật Bản là 146.000 dặm vuông (khoảng 378.000 km² – ND), rộng gấp rưỡi diện tích đảo Anh và gần bằng bang California. Đảo Anh chỉ cách bờ biển nước Pháp 22 dặm (khoảng 35 km – ND), nhưng Nhật Bản thì cách điểm gần nhất của nội địa châu Á (Hàn Quốc) đến những 110 dặm (176 km – ND), cách nội địa Nga 180 dặm (288 km – ND) và nội địa Trung Quốc đến 460 dặm (736 km – ND).
Có lẽ chính vì vậy mà trong suốt lịch sử của mình nước Anh dính líu với nội địa châu Âu chặt chẽ hơn nhiều so với Nhật Bản dính líu với nội địa châu Á. Chẳng hạn, kể từ thời Jesus đã có đến bốn cuộc xâm lược đảo Anh thành công từ phía châu Âu lục địa, nhưng lại không hề có cuộc xâm lược Nhật Bản nào từ phía châu Á lục địa (trừ phi người Triều Tiên quả thực đã từng chinh phục Nhật Bản vào thời chưa có lịch sử thành văn). Ngược lại, kể từ khi người Norman chinh phục nước Anh vào năm 1066 thì ở thế kỷ nào quân đội Anh cũng có tham chiến trên lục địa châu Âu, trong khi cho mãi đến cuối thế kỷ XIX nội địa châu Á vẫn không hề có bóng dáng quân đội Nhật Bản ngoại trừ vào thời chưa có sử thành văn và vào thập niên cuối của thế kỷ XVI. Như vậy, những chi tiết về địa lý đã khiến cho Nhật Bản biệt lập hơn và do đó còn độc đáo hơn nhiều về văn hóa so với nước Anh.
Còn về khí hậu Nhật Bản, lượng mưa của nước này có thể lên tới 160 inch (406 cm – ND) một năm, khiến cho Nhật Bản trở thành nước ôn đới ẩm ướt nhất trên thế giới. Chưa hết, ngược lại với hầu hết châu Âu vốn mưa chủ yếu vào mùa đông, mưa ở Nhật Bản chủ yếu tập trung vào mùa hè, mùa tăng trưởng của cây cối. Sự kết hợp đó giữa lượng mưa cao với mưa vào mùa hè mang lại cho nước Nhật năng suất cây trồng cao nhất so với bất cứ nước nào khác ở vùng ôn đới. Một nửa diện tích đất canh tác của Nhật Bản được dùng để trồng lúa nước thâm canh có tưới tiêu, sản lượng cao, nhờ có rất nhiều sông ngòi chảy từ những ngọn núi nhiều mưa xuống các đồng bằng thoai thoải ở dưới thấp. Tuy 80% diện tích đất của Nhật Bản toàn là núi non không thích hợp để trồng trọt và chỉ có 14% diện tích là đất canh tác, song mỗi km vuông đất canh tác đó lại nuôi sống được một dân số có mật độ cao gấp tám lần so với ở Anh. Trên thực tế, nếu xét theo tỷ lệ đất canh tác thì Nhật Bản là xã hội quy mô lớn có mật độ dân cư cao nhất trên thế giới.
Lượng mưa cao của Nhật Bản cũng đảm bảo cho rừng tái tạo nhanh sau khi bị đốn. Mặc dù nước Nhật đã bị cư dân đông đúc chiếm cứ suốt hàng ngàn năm, song ấn tượng đầu tiên của bất cứ ai về đất nước này là màu xanh của nó, bởi hơn 70% diện tích Nhật Bản vẫn còn phủ rừng (so với vỏn vẹn 10% diện tích nước Anh). Ngược lại, có tới ngần ấy diện tích rừng ở Nhật Bản thì cũng có nghĩa là chẳng hề có vùng đồng cỏ hay bãi chăn thả tự nhiên nào. Theo truyền thống, gia súc duy nhất được nuôi trên quy mô lớn để lấy thịt ở Nhật Bản là lợn; cừu và dê chưa bao giờ có vị trí quan trọng, còn bò thì được nuôi để kéo cày và kéo xe chứ không lấy thịt. Thịt bò do chính người Nhật nuôi luôn luôn là món ăn xa xỉ dành cho thiểu số người giàu, giá đến những 100 đôla Mỹ một pound (0,454 kg – ND).
Cấu trúc rừng ở Nhật thay đổi tùy vĩ độ và cao độ: rừng lá to xanh quanh năm ở miền nam và cao độ thấp, rừng lá to rụng vào mùa đông ở miền trung Nhật Bản, rừng lá kim ở miền bắc và cao độ lớn. Đối với con người thời tiền sử, rừng năng sản nhất là rừng lá to rụng vào mùa đông bởi có rất nhiều hạt ăn được như quả óc chó, hạt dẻ, hạt dẻ ngựa, quả sồi. Cũng như rừng Nhật Bản, các vùng nước ở Nhật có năng suất thủy hải sản đặc biệt cao. Các hồ, các sông ngòi, Nội Hải, Biển Nhật Bản về phía tây, Thái Bình Dương về phía đông đầy những loài cá như cá hồi, cá ngừ, cá mòi, cá thu, cá trích và cá tuyết. Các vùng nước của Nhật cũng rất giàu các loài vỏ cứng như trai, sò, tôm, cua cũng như các loài rong ăn được. Như ta sẽ thấy, năng suất cao đó ở cả trên bờ lẫn dưới nước đã đóng vai trò then chốt đối với thời kỳ tiền sử của Nhật Bản.
Trước khi quay lại bằng chứng về khảo cổ, ta hãy xét bằng chứng về nguồn gốc của người Nhật từ các ngành sinh vật học, ngôn ngữ học, chân dung và lịch sử thành văn về họ từ thuở đầu tiên. Mối xung đột giữa bốn loại bằng chứng quen thuộc đó chính là cái khiến cho vấn đề nguồn gốc người Nhật đâm ra đầy mâu thuẫn như vậy.
Từ tây nam lên đông bắc, bốn hòn đảo chính của Nhật Bản là Kyushu, Shikoku, Honshu (đảo lớn nhất) và Hokkaido. Mãi cho đến khi người Nhật di cư với quy mô lớn sang Hokkaido vào cuối thế kỷ XIX, hòn đảo này (và kể cả phía bắc Honshu) vẫn chỉ có người Ainu sinh sống từ thời tiền sử. Người Ainu theo lối sống săn bắt hái lượm, có trồng trọt nhưng chỉ hạn chế, trong khi người Nhật Bản chiếm cứ ba hòn đảo còn lại. Về gen di truyền và hệ xương cũng như về ngoại hình, người Nhật rất giống các dân tộc Đông Á khác bao gồm người Bắc Trung Quốc, người Đông Siberia và đặc biệt là người Triều Tiên. Ngay cả những người bạn Nhật Bản và Triều Tiên của tôi cũng nói đôi khi nếu chỉ nhìn mặt ai đó thì khó mà đoán được ấy là người Triều Tiên hay người Nhật.
Còn về người Ainu, ngoại hình khác biệt của họ đã khiến người ta tốn nhiều giấy mực để bàn về nguồn gốc và quan hệ họ hàng của họ hơn so với về bất cứ dân tộc riêng lẻ nào khác trên thế giới. Đàn ông Ainu có bộ râu sum suê và lông trên người rậm rạp nhất so với bất cứ giống dân nào khác. Điều đó, cộng với một số nét di truyền khác như kiểu vân tay và loại ráy tai, thường khiến người ta phân loại họ thành một nhóm Caucasoid (cái gọi là người da trắng) mà xưa kia đã bằng cách nào đó di cư ngang qua lục địa Âu-Á để cuối cùng dừng chân ở Nhật Bản. Tuy nhiên, nhìn đại thể thì kiểu di truyền của họ có quan hệ với các dân tộc Đông Á khác trong đó có người Nhật, người Triều Tiên và người Okinawa. Có lẽ ngoại hình chẳng giống ai của họ chỉ là do một số tương đối ít gen đã phát sinh thông qua chọn lọc giới tính sau khi họ đã di cư từ nội địa châu Á sang và trở thành [một dân tộc] biệt lập trên quần đảo Nhật Bản. Ngoại hình khác biệt và lối sống săn bắt hái lượm của người Ainu, cùng với ngoại hình không có gì khác biệt và lối sống nông nghiệp thâm canh của người Nhật Bản, thường được người ta viện dẫn khi đề xuất cách giải thích đơn giản rằng người Ainu là hậu duệ của cư dân săn bắt hái lượm nguyên thủy trên quần đảo Nhật Bản, còn người Nhật ngày nay là [hậu duệ của] những người từ nội địa châu Á di cư sang chiếm Nhật Bản vào một thời kỳ muộn hơn.
Song quan điểm này khó lòng thích ứng được với tính chất độc đáo của tiếng Nhật, thứ ngôn ngữ mà ai cũng đồng ý rằng không có liên hệ gần gũi nào về tiểu tiết với bất cứ ngôn ngữ nào khác trên thế giới (kiểu như tiếng Pháp gần với tiếng Tây Ban Nha). Trong chừng mực người ta có thể nói gì đó về quan hệ họ hàng của tiếng Nhật, nhiều học giả coi đây là một thành viên của ngữ hệ Altai ở châu Á bao gồm các ngôn ngữ Turk, các ngôn ngữ Mông Cổ và các ngôn ngữ Tungus ở Đông Siberia, song tiếng Nhật là một nhánh biệt lập trong ngữ hệ này. Tiếng Triều Tiên cũng thường được xem là một thành viên biệt lập của ngữ hệ này, và trong phạm vi ngữ hệ này thì tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên có thể có liên hệ với nhau nhiều hơn là với các ngôn ngữ Altai khác. Tuy nhiên, những tương đồng giữa tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên chỉ giới hạn ở các đặc điểm ngữ pháp chung và khoảng 15% ngữ vựng cơ bản, chứ không có chung từng tiểu tiết về ngữ pháp và từ vựng như giữa tiếng Pháp với tiếng Tây Ban Nha. Nếu người ta chấp nhận giả thuyết rằng tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên quả thực có họ hàng với nhau dù chỉ họ hàng xa, thì việc hai bên chỉ có chung 15% ngữ vựng cũng gợi ý rằng hai ngôn ngữ đó đã bắt đầu tách khỏi nhau từ trên 5.000 năm trước chứ không phải chỉ 2.000 năm hay thậm chí ít hơn như khoảng thời gian mà tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha tách khỏi nhau. Còn về tiếng Ainu, quan hệ họ hàng của nó hoàn toàn vẫn trong vòng nghi vấn; có thể nó chẳng có mối liên hệ đặc biệt nào với tiếng Nhật cả.
Tiếp theo bằng chứng sinh học và bằng chứng ngôn ngữ, loại bằng chứng thứ ba về nguồn gốc của người Nhật là những bức chân dung cổ. Chân dung xưa nhất còn giữ được về người Nhật là những bức tượng gọi là haniwa được dựng quanh các phần mộ vào khoảng 1.500 năm trước. Đặc biệt là ở hình dáng cặp mắt, các bức tượng đó rõ ràng là mô tả những người Đông Á, như người Nhật Bản hay người Triều Tiên ngày nay. Chúng chẳng hề giống những người Ainu râu rậm. [Điều đó nghĩa là] nếu người Nhật quả thật đã giành đất của người Ainu trên toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản về phía nam Hokkaido thì chuyện đó phải xảy ra trước năm 500 CN. Sau khi người Nhật Bản đã thiết lập những thương điếm trên đảo Hokkaido vào năm 1615, họ đi tới chỗ đối xử với người Ainu chẳng khác gì người Mỹ da trắng đối xử với người Anh-điêng bản địa châu Mỹ. Người Ainu bị khuất phục, bị quây vào những khu dành riêng cho họ, bị buộc phải làm việc cho các thương điếm, bị đuổi khỏi những vùng đất mà các nhà nông người Nhật muốn, người nào nổi lên kháng cự thì bị giết. Khi Nhật Bản sáp nhập Hokkaido vào năm 1869, các giáo viên ở nhà trường Nhật Bản đã tiến hành những nỗ lực đầy quyết tâm nhằm xóa sạch nền văn hóa và ngôn ngữ Ainu. Ngày nay tiếng Ainu hầu như đã tuyệt diệt và có lẽ chẳng có người Ainu thuần huyết nào còn sống sót.
Thông tin thành văn sớm nhất về Nhật Bản là từ các biên niên sử Trung Quốc, bởi Trung Quốc đã sáng chế ra chữ viết từ lâu trước khi chữ viết bành trướng từ Trung Quốc sang Triều Tiên hoặc Nhật Bản. Từ năm 108 TCN cho đến năm 313 CN, Trung Quốc đã chiếm một điểm định cư ở Bắc Triều Tiên và trao đổi sứ giả với Nhật Bản. Trong các tư liệu Trung Quốc về sau mà ở đó mô tả những dân tộc khác nhau được gọi chung là “bọn man di phía đông”, Nhật Bản được mô tả dưới cái tên Wa, và tư liệu nói rằng cư dân xứ đó chia ra thành hơn một trăm nước nhỏ thường xuyên đánh nhau ác liệt. Chỉ có một ít bản khắc Triều Tiên hay Nhật Bản từ trước năm 700 còn giữ được đến nay, song nhiều sử sách công phu đã được viết trong khoảng từ năm 712 đến 720 ở Nhật Bản và muộn hơn ở Triều Tiên. Tuy các biên niên sử Triều Tiên và Nhật Bản đó nhằm mục đích thuật lại lịch sử các thời đại trước đó, song chúng lại đầy rẫy những chuyện bịa đặt lộ liễu nhằm vinh danh và hợp thức hóa các hoàng gia cai trị, chẳng hạn như tư liệu của người Nhật mô tả Thiên hoàng là hậu duệ của nữ thần mặt trời Amaterasu. Tuy nhiên, các biên niên sử đó cũng đủ để làm rõ một điều rằng Triều Tiên, cũng như của Trung Quốc thông qua Triều Tiên, đã có ảnh hưởng to lớn đối với Nhật Bản, dẫn tới sự du nhập Phật giáo, chữ viết, nghề luyện kim, các nghề thủ công khác và các phương thức hành chính vào Nhật Bản. Các biên niên sử cũng đầy những tường thuật về người Triều Tiên ở Nhật Bản và về người Nhật Bản ở Triều Tiên, tuy nhiên giới sử gia Nhật Bản diễn giải các tường thuật đó như là bằng chứng về việc Nhật Bản từng chinh phục Triều Tiên, trong khi giới sử gia Triều Tiên thì diễn giải theo hướng ngược lại.
Như vậy, chúng ta đã thấy tổ tiên của người Nhật đã đặt chân đến Nhật Bản từ trước khi họ có chữ viết, và đặc điểm sinh học của họ gợi ý rằng họ đã đến Nhật Bản vào một thời kỳ khá gần đây song ngôn ngữ của họ thì lại cho thấy họ đã đến Nhật Bản từ ít nhất 5.000 năm trước. Giờ ta hãy quay lại bằng chứng khảo cổ để thử giải câu đố khó này. Ta sẽ thấy rằng các xã hội Nhật Bản cổ đại nằm trong số những xã hội đặc sắc nhất trên thế giới.
Các biển nông ngày nay bao quanh hầu hết bờ biển Nhật Bản và vùng duyên hải Đông Á. Vào kỷ Băng hà, khi hầu hết nước ở đại dương bị hãm dưới lớp băng và mực nước biển thấp hơn mực ngày nay khoảng 500 bộ (trên 150 mét – ND) thì các biển này đã bị cạn và trở thành đất liền. Vào thời đó, đảo cực bắc Nhật Bản là Hokkaido được nối liền với nội địa nước Nga qua một cầu đất liền bắc ngang đảo Sakhalin ngày nay; đảo cực nam Nhật Bản là Kyushu được nối liền với Hàn Quốc qua một cầu đất liền khác bắc qua eo biển Tsushima ngày nay; toàn bộ các đảo chính của Nhật Bản đều nối liền với nhau; và hầu hết diện tích Hoàng Hải và biển Hoa Đông ngày nay hãy còn là những vùng đất nối liền với nội địa Trung Quốc. Vì thế nên chẳng có gì lạ rằng các loài có vú đã di chuyển từ nội địa [Đông Á] ra Nhật Bản ngang qua các cầu đất liền vào thời đó không chỉ bao gồm tổ tiên các loài gấu và khỉ Nhật Bản ngày nay mà cả những con người cổ đại, từ rất lâu trước khi người ta phát minh ra chiếc thuyền. Những công cụ bằng đá chỉ ra rằng con người đã đặt chân đến Nhật Bản từ nửa triệu năm trước. Các công cụ đá ở miền bắc Nhật Bản giống các công cụ đá ở Siberia và bắc Trung Quốc, song các công cụ đá ở miền nam Nhật Bản thì lại giống các công cụ đá của Triều Tiên và nam Trung Quốc, điều này gợi ý rằng người [cổ đại] đã sử dụng cả cầu đất liền phía bắc lẫn cầu đất liền phía nam.
Nước Nhật vào kỷ Băng hà chẳng phải là một nơi dễ sống. Cho dù hầu hết Nhật Bản không bị băng bao phủ như nước Anh hay Canada, Nhật Bản vẫn là một xứ lạnh, khô, phủ dày đặc rừng tùng bách và rừng cây bulô chứ chẳng có bao nhiêu loài cây ăn được đối với con người. Những nhược điểm đó [của môi trường] càng khiến cho sự phát triển sớm của những người Nhật Bản vào kỷ Băng hà càng gây ấn tượng: khoảng 30.000 năm trước, họ nằm trong số những người đầu tiên trên thế giới làm ra công cụ bằng đá có cạnh được mài sắc chứ không chỉ là [cạnh sắc do] ghè đẽo hoặc tước ra. Trong khoa khảo cổ ở Anh, công cụ có cạnh mài sắc được coi là một bước tiến lớn về văn hóa đánh dấu sự chấm dứt Thời đại Đồ đá giữa mà bước sang Thời đại Đồ đá mới, thế nhưng các công cụ đó chỉ xuất hiện ở Anh khi nông nghiệp được du nhập vào vùng này chưa đến 7.000 năm trước.
Khoảng 13.000 năm trước, khi băng bắt đầu nhanh chóng tan ra trên khắp thế giới, điều kiện sống ở Nhật Bản được cải thiện rất nhiều đối với con người. Nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm đều tăng, nâng năng suất các loài cây lên mức cao như ở thời nay, cái năng suất khiến cho Nhật Bản nổi bật hẳn lên trong số các quốc gia ôn đới. Rừng lá to rụng vào mùa đông với nhiều cây cho hạt ăn được, vốn chỉ bó hẹp ở miền nam Nhật Bản trong kỷ Băng hà, nay đã có thể bành trướng lên phía bắc chiếm chỗ của rừng lá kim, vậy nghĩa là một loại rừng mà bấy lâu nay chẳng đem lại được gì cho con người đã được thay thế bởi một loại rừng khác cho nhiều sản vật hơn gấp bội. Mực nước biển tăng làm các cầu đất liền bị cắt rời, biến Nhật Bản từ chỗ là một mảnh của lục địa châu Á trở thành một quần đảo lớn, biến nơi từng là một đồng bằng thành những biển nông nhiều tôm cá, và tạo nên hàng ngàn km bờ biển mới với vô số đảo, vịnh, bãi triều và cửa sông, tất cả đều lèn chặt các loài hải sản.
Thời điểm kết thúc kỷ Băng hà đi kèm với sự thay đổi đầu tiên trong hai sự thay đổi có tầm quan trọng quyết định nhất trong thời tiền sử của Nhật Bản: phát minh ra đồ gốm. Lần đầu tiên trong lịch sử, con người nay đã có được những vật dụng kín chứa nước, muốn hình dáng nào cũng có. Nhờ nay đã có thể nấu, luộc hoặc ninh thức ăn, họ có thể tiêu thụ rất nhiều nguồn lương thực thực phẩm khác mà trước đây khó sử dụng được: những loại rau nhiều lá mà trước kia nếu chỉ nướng trên lửa thì sẽ cháy hoặc khô quắt lại; những con sò mà nhờ nấu trong nước nên có thể mở dễ dàng; và những thứ thức ăn như quả sồi hay hạt dẻ ngựa, vốn có chất độc hoặc vị đắng nhưng vẫn bổ dưỡng, nay thì có thể nhúng trong nước để tẩy chất độc đi. Nay người ta có thể bón thức ăn nấu mềm cho trẻ nhỏ, giúp trẻ cai sữa sớm hơn nhờ vậy các bà mẹ có thể sinh con cách quãng ngắn hơn. Những người già bị mất răng, vốn là nguồn lưu trữ thông tin quý báu vào thời xã hội chưa có chữ viết, nay có thể được nuôi ăn tốt và sống lâu hơn. Tất cả các hệ quả quan trọng đó của đồ gốm đã kích thích một sự bùng nổ dân số, khiến cho dân số Nhật Bản tăng vọt từ vỏn vẹn dăm ngàn người lên tới 1/4 triệu người.
Lẽ tự nhiên, người Nhật Bản không phải là dân tộc duy nhất trên thế giới có đồ gốm. Đồ gốm đã được phát minh độc lập ở nhiều thời điểm và tại nhiều địa điểm khác nhau trong thế giới cổ đại. Nhưng đồ gốm xưa nhất thế giới mà người ta từng biết đến được làm ra ở Nhật Bản từ 12.700 năm trước. Khi các niên đại cácbon phóng xạ đó được công bố vào năm 1960, ngay cả các nhà khoa học Nhật Bản ban đầu cũng không tin được. Theo kinh nghiệm thông thường của các nhà khảo cổ, các phát minh thường chỉ được truyền bá từ nội địa ra các đảo, và các xã hội nhỏ sống ở vùng biên thường không phải là kẻ đóng góp những thành tựu mang tính cách mạng cho phần còn lại của thế giới. Đặc biệt là theo kinh nghiệm của các nhà khảo cổ Nhật Bản, Trung Quốc được coi là cội nguồn của những đột phá về văn hóa ở Đông Á như nghề nông, chữ viết, nghề luyện kim và mọi thứ quan trọng khác. Ngày nay, gần 40 năm sau khi người ta đo được niên đại xa xưa đến vậy của đồ gốm Nhật Bản, các nhà khảo cổ vẫn đang còn bối rối bởi cú sốc cácbon 14 như họ gọi. Các đồ gốm xa xưa khác cũng đã được tìm thấy ở Trung Quốc và miền đông nước Nga (gần Vladivostok). Các nhà khảo cổ châu Á đang ra sức chạy đua để đánh bại kỷ lục của Nhật Bản. (Trên thực tế, tôi vừa nghe nói người Trung Quốc và người Nga đang sắp sửa đánh bại được rồi). Nhưng người Nhật vẫn đang nắm kỷ lục thế giới, bởi họ có những đồ gốm xưa hơn tới hàng ngàn năm so với đồ gốm xưa nhất ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu hoặc châu Âu.
Cái định kiến cho rằng đã là dân hải đảo thì phải học tập từ dân lục địa bởi dân lục địa ưu việt hơn chẳng phải là nguyên nhân duy nhất khiến cho kỷ lục của Nhật Bản về niên đại đồ gốm lại gây ra cú sốc như vậy. Ngoài ra, những người làm đồ gốm đầu tiên ở Nhật Bản đó rõ ràng là những người săn bắt hái lượm, điều đó cũng lại vi phạm những quan điểm đã quen thuộc của nhiều người. Hầu hết đồ gốm là vật sở hữu của các xã hội định cư, bởi có dân du mục nào mà mỗi khi chuyển trại lại muốn rằng ngoài vũ khí và con nhỏ ra lại còn vác theo cả một lô một lốc những chum với lọ nặng nề? Vì vậy những người săn bắt hái lượm thường không có đồ gốm, bởi hầu hết các xã hội định cư ở các nơi khác trên thế giới chỉ phát sinh từ khi [họ] tiếp thu nghề nông. Nhưng môi trường Nhật Bản thì lại năng sản đến mức đó là một trong số ít những địa điểm nơi người ta có thể định cư và làm ra đồ gốm mặc dù vẫn theo lối sống săn bắt hái lượm. Đồ gốm giúp những người Nhật Bản săn bắt hái lượm đó khai thác nguồn lương thực thực phẩm dồi dào từ môi trường sống của mình từ 10.000 năm trước khi nghề nông thâm canh được du nhập vào Nhật Bản. Ngược lại, mãi chừng 1.000 năm sau khi Lưỡi liềm Phì nhiêu áp dụng nghề nông thì đồ gốm mới được sử dụng ở vùng này.
Chẳng có gì lạ rằng đồ gốm cổ Nhật Bản khá đơn giản về công nghệ xét theo tiêu chuẩn của ngày nay. Nó không có nước men, làm bằng tay chứ không phải bằng bánh xoay, được nung trên lửa lộ thiên chứ không phải trong lò, và được nung ở nhiệt độ tương đối thấp. Song, cùng với thời gian, đồ gốm Nhật Bản dần dần được sản xuất với nhiều kiểu dáng vô cùng phong phú và được đánh giá là nghệ thuật đích thực theo tiêu chuẩn của mọi thời đại. Hầu hết chúng được trang trí bằng cách lăn hoặc ấn một đoạn thừng lên đất sét khi đất còn mềm. Bởi từ Nhật dùng để gọi cách trang trí này là jomon (thằng văn, tức “hoa văn dây thừng”) nên từ jomon cũng được dùng để gọi bản thân loại đồ gốm này, cũng như để gọi những người cổ đại đã làm ra chúng và cả toàn bộ thời kỳ đó trong thời tiền sử của Nhật Bản từ khi người ta phát minh ra đồ gốm và chỉ kết thúc vào khoảng 10.000 năm sau đó.
Đồ gốm Jomon sớm nhất có niên đại 12.700 năm trước phát sinh từ đảo Kyushu ở cực nam Nhật Bản. Từ đó đồ gốm bành trướng lên phía bắc, đến vùng ngoại ô Tokyo ngày nay vào khoảng 9.500 năm trước và đảo Hokkaido ở cực bắc vào khoảng 7.000 năm trước. Đồ gốm bành trướng về phía bắc theo sau sự bành trướng của rừng lá to rụng lá vốn giàu các loại cây cho hạt ăn được, điều này gợi ý rằng nhờ lương thực phong phú hơn mà con người thời đó đã có thể chuyển sang định cư và sản xuất đồ gốm. Phong cách đồ gốm Jomon thời kỳ đầu đó lại tương đối đồng nhất trên toàn quần đảo Nhật Bản, điều này càng củng cố thêm cho cách giải thích rằng người ta đã phát minh ra đồ gốm ở phía nam rồi từ nguồn phát nguyên duy nhất đó đồ gốm đã bành trướng [lên phía bắc]. Cùng với thời gian, vài chục phong cách khu vực đã phát triển trên toàn bộ chiều dài 1.500 dặm (2.400 km – ND) của quần đảo Nhật Bản.
Người Jomon đã kiếm sống như thế nào? Chúng ta có rất nhiều bằng chứng từ những đống rác họ để lại ở hàng trăm ngàn di chỉ khảo cổ đã khai quật và những đống vỏ khổng lồ rải rác trên toàn nước Nhật. Hóa ra, họ là những người săn bắt hái lượm và đánh cá, có một thực đơn rất đỗi phong phú và cân bằng mà ngay các nhà dinh dưỡng học ngày nay cũng phải lấy làm khâm phục.
Một loại lương thực chính là các loại hạt, đặc biệt là hạt dẻ và quả óc chó, cộng thêm hạt dẻ ngựa và quả sồi đã được tẩy sạch chất độc có vị đắng. Các loại hạt có thể thu hoạch vào mùa thu với khối lượng dồi dào, sau đó trữ lại để dành cho mùa đông trong những hầm chứa dưới lòng đất sâu 6 bộ (hơn 1,8 m – ND) và rộng 6 bộ. Các thực phẩm có nguồn gốc thực vật khác gồm có các loại quả, lá, mầm, củ và rễ. Khi phân tích rác thải thời Jomon, nhà khảo cổ đã xác định được tới 64 loài cây ăn được.
Từ hồi đó cũng như ngày nay, người Nhật luôn nằm trong số các dân tộc tiêu thụ hải sản nhiều nhất thế giới. Người Nhật cổ đâm cá ngừ bằng lao móc ngoài đại dương, lùa cá heo vào những vùng nước nông rồi dùng gậy đập hoặc lao đâm chết giống như ngày nay, giết hải cẩu trên bãi biển, đánh bắt cá hồi trên sông theo mùa sinh sản của chúng, dùng lưới, dựng đăng hoặc lưỡi câu làm bằng gạc nai để đánh bắt nhiều loại cá, còn sò, cua và rong biển thì được vớt ở các bãi triều hoặc thu hoạch nhờ các thợ lặn. Các bộ xương của người Jomon cho thấy có một tần số cao cái mà các nhà bệnh học gọi là auditory exostosis, nghĩa là chứng xương phát triển bất thường ở tai như thường thấy ở các thợ lặn ngày nay.
Trong số các loài thú trên bộ bị săn bắt, lợn lòi và hươu là những con mồi thường xuyên nhất, theo sau là dê núi và gấu. Người ta săn các con mồi này bằng bẫy, bắn bằng cung tên và dùng chó để dồn. Xương lợn xuất hiện vào thời Jomon trên các hòn đảo ngoài khơi vốn không phải là nơi lợn phát sinh ngoài tự nhiên, khiến người ta phải đặt câu hỏi liệu có phải người Jomon đã bắt đầu thử thuần hóa lợn hay không.
Câu hỏi gây nhiều tranh luận nhất về người Jomon là liệu nghề nông có phần đóng góp đến đâu trong cách sinh tồn của họ. Các di chỉ Jomon thường chứa di tích các loại cây ăn được vốn mọc hoang ở Nhật Bản nhưng cũng được canh tác như là cây trồng ngày nay, trong đó có đậu đỏ, đậu xanh và barnyard millet (một loại ngũ cốc ăn được). Các di tích từ thời Jomon không cho thấy có những đặc tính riêng biệt về hình thái của cây trồng khác với các loài tổ tiên hoang dại, nên ta không thể biết chắc liệu đó là cây mọc hoang hay cây được trồng có chủ ý. Các di chỉ cũng có vết tích những loài cây ăn được hoặc cây có ích vốn không phải nguồn gốc từ Nhật Bản nên ắt là đã được du nhập từ nội địa châu Á vì giá trị của chúng, chẳng hạn kiều mạch (buckwheat), dưa hấu, bầu nậm, gai dầu và cây shiso (tiếng Anh gọi là beefsteak plant) dùng làm gia vị. Khoảng 1.200 năm TCN, vào gần cuối thời kỳ Jomon, một số hạt lúa, lúa mạch, kê đuôi chồn và kê lông chổi (broomcorn millet), các loài cây ngũ cốc chính của Đông Á cũng bắt đầu xuất hiện. Tất cả các manh mối đó dễ khiến ta suy luận rằng người Jomon đã bắt đầu tiến hành một kiểu nghề nông đốt rừng làm rẫy nào đó, nhưng rõ ràng họ chỉ làm vậy một cách tình cờ, không chủ định, và việc đó chỉ đóng góp một phần nhỏ vào khẩu phần của họ thôi.
Tôi không định gây nên ấn tượng rằng bất kỳ thứ thực phẩm nào mà tôi nhắc tới trên đây cũng được tiêu thụ ở mọi miền Nhật Bản vào thời Jomon. Ở những khu rừng giàu các loại cây cho hạt ở miền bắc Nhật, các hầm trữ hạt có tầm quan trọng đặc biệt bên cạnh nghề săn hải cẩu và đánh bắt cá biển. Còn ở miền nam vốn không nhiều các loại cây cho hạt, thì đánh bắt các loài có vỏ (tôm, cua, sò…) có vai trò lớn hơn. Nhưng chế độ ăn uống ở bất cứ khu vực nào và thậm chí mỗi một bữa ăn Nhật Bản đều vẫn có nét đặc trưng là sự đa dạng. Chẳng hạn, như di tích còn lại từ các bữa ăn cho thấy, người Jomon biết trộn lẫn bột hạt dẻ và bột quả óc chó, thịt và máu lợn và dê, cùng với trứng chim theo những tỷ lệ khác nhau để làm thành những món bánh quy giàu hydrat cacbon hay bánh kẹp thịt giàu protein chẳng kém gì các món bánh quy hay hamburger thời nay. Những người săn bắt hái lượm Ainu ở thời đại gần chúng ta hơn thì để một cái nồi thường xuyên sôi sùng sục trên bếp lửa và ném tất tật các loại thức ăn vào đó; những người Jomon tiền bối của họ, vốn cũng sống ở các di chỉ đó và cũng ăn các loại lương thực thực phẩm đó, ắt cũng đã làm như vậy.
Tôi có nói rằng đồ gốm (gồm những vật nặng cao đến ba bộ – khoảng hơn 0,9 m – ND) gợi ý rằng những người săn bắt hái lượm Jomon ắt hẳn đã định cư chứ không phải là dân du cư. Ngoài ra còn có những bằng chứng khác củng cố thêm giả thiết rằng người Jomon đã định cư, ấy là những công cụ nặng bằng đá, di tích các căn nhà bề thế mà một nửa ngầm dưới đất với dấu hiệu cho thấy được xây theo kiểu mẫu có từ trước, những di tích trọn vẹn từng ngôi làng với hàng trăm căn nhà hay hơn nữa, và các nghĩa trang. Tất cả các đặc trưng đó khiến người Jomon khác hẳn với những người săn bắt hái lượm thời hiện đại vốn cứ vài tuần lại chuyển đi nơi khác, chỉ xây lều tạm bợ và chỉ sở hữu một ít món đồ nhẹ nhàng có thể mang theo. Sở dĩ người Jomon có thể định cư là do họ được hưởng một môi trường sống đa dạng giàu tài nguyên chỉ nằm cách nơi cư trú chính của họ không xa: các khu rừng, dòng sông, bờ biển, vịnh, biển và đại dương.
Người Jomon sinh sống với mật độ dân số cao nhất mà người ta từng ước đoán đối với người săn bắt hái lượm, đặc biệt là ở miền trung và miền bắc Nhật Bản nơi có những khu rừng giàu cây cho hạt, các dòng sông nhiều cá hồi theo mùa và biển nhiều hải sản. Tổng dân số Nhật Bản thời Jomon ước tính là 250.000 người vào lúc cao điểm, một con số chẳng lấy gì làm lớn so với dân số Nhật Bản ngày nay, song đối với thời săn bắt hái lượm thì là một dân số thật đáng kể. Cạnh tranh gần ngang ngửa về mật độ dân số với người Jomon có chăng chỉ là người Anh-điêng vùng tây bắc Thái Bình Dương và vùng California vào thời hiện đại, những người sống chủ yếu nhờ các khu rừng nhiều loại hạt ăn được, nhiều luồng cá hồi theo mùa và biển nhiều hải sản, một trường hợp nổi bật về sự tiến hóa đồng quy của các xã hội loài người.
Mặc dù nhấn mạnh người Jomon có được nhiều thứ là vậy, song ta cũng cần nói rõ người Jomon không có những gì. Họ không có nông nghiệp thâm canh, mà nói chung họ có hay không có nghề nông cũng hãy còn chưa rõ. Ngoài chó ra, họ không hề có loài gia súc nào khác (cũng có thể cả lợn, song không chắc). Họ không có công cụ bằng kim loại, không có chữ viết, không biết dệt vải. Các làng mạc và nghĩa trang của người Jomon không có một vài căn nhà và ngôi mộ được trang trí đẹp đẽ khác biệt với phần lớn các nhà và mộ của thường dân, mà hầu hết các căn nhà và ngôi mộ đều khá giống nhau, cho thấy xã hội Jomon hãy còn ít phân cấp thành tù trưởng và dân thường. Sự chuyển hóa về phong cách đồ gốm giữa các vùng gợi ý rằng người Jomon đã không tiến xa lắm về phương diện tập trung hóa và thống nhất về chính trị. Tất cả các nét tiêu cực đó tương phản với với những nét [tích cực] của các xã hội cùng thời ở nội địa Trung Quốc và Triều Tiên chỉ cách Nhật Bản thời Jomon vỏn vẹn vài trăm dặm, những xã hội với những sự thay đổi đã quét qua Nhật Bản sau năm 400 TCN.
Mặc dù có sự khác biệt nổi bật là vậy ngay cả so với vùng Đông Á vào thời đó, Nhật Bản thời Jomon vẫn không phải một vũ trụ hoàn toàn biệt lập. Sự phân bố của đồ gốm và đá obsidian (một loại đá núi lửa rất cứng mà người ta thích dùng để làm công cụ bằng đá) cho thấy người Jomon đã có phương tiện di chuyển trên biển để đi lại giữa các đảo trong chuỗi đảo Izu cách Tokyo 180 dặm (288 km – ND) về phía nam. Tương tự, đồ gốm, đá obsidian và lưỡi câu chứng minh rằng đã có sự trao đổi giữa Nhật Bản thời Jomon với Triều Tiên, Nga và Okinawa, cũng như việc du nhập sáu loài cây trồng chính của nội địa châu Á mà tôi đã nhắc trên đây. Nhưng các nhà khảo cổ nghiên cứu Nhật Bản thời Jomon chỉ tìm thấy một ít bằng chứng cho thấy có sự du nhập trực tiếp từ Trung Quốc, trong khi Trung Quốc lại có ảnh hưởng lớn đến lịch sử Nhật Bản về sau này. So sánh với các thời đại sau, điều gây ấn tượng ở nước Nhật thời Jomon không phải là việc nước này có ít nhiều tiếp xúc với thế giới bên ngoài, mà là việc điều đó có ảnh hưởng quá nhỏ bé đối với xã hội Jomon. Nước Nhật thời Jomon là một vũ trụ thu nhỏ mang tính bảo thủ cứ duy trì tính biệt lập của mình và ít thay đổi đến kỳ lạ trong suốt 10.000 năm – một ốc đảo ổn định trong một thế giới cùng thời đầy mong manh và đổi thay nhanh chóng xung quanh nó.
Để đặt tính chất khác biệt của nước Nhật thời Jomon trong một bối cảnh đương thời, ta hãy nhớ lại xem vào năm 400 TCN, lúc lối sống Jomon sắp bước vào hồi cáo chung thì các xã hội loài người trên nội địa châu Á, cách Nhật Bản chỉ vài trăm dặm về phía tây là như thế nào. Vào thời đó, Trung Quốc đã bao gồm các vương quốc gồm tầng lớp tinh hoa giàu có và thường dân nghèo, sống trong những đô thị có tường vây quanh, và đang tiến đến chỗ thống nhất về chính trị để trở thành đế quốc rộng lớn nhất trên thế giới. Bắt đầu từ khoảng 7.500 năm TCN, Trung Quốc đã có chữ viết được ít nhất là 900 năm, đã có công cụ bằng kim loại ít nhất là 1.500 năm, và vừa mới phát minh ra nghề luyện gang đầu tiên trên thế giới. Các thành tựu đó của Trung Quốc cũng đang bành trướng sang Triều Tiên, khu vực mà vào lúc đó đã có nghề nông được hàng mấy ngàn năm (trong đó có lúa nước từ 2.000 năm TCN) và kim loại từ 1.000 năm TCN.
Thoạt tiên ta sẽ lấy làm lạ tại sao chỉ cách nhau eo Tsushima và biển đông Nhật Bản mà vào năm 400 TCN trong khi ở Trung Quốc đang diễn ra những bước tiến như vậy trong suốt hàng ngàn năm thì ở Nhật Bản vẫn chỉ có những người săn bắt hái lượm không có chữ viết và dùng công cụ bằng đá song vẫn có trao đổi ít nhiều [phẩm vật] với Triều Tiên. Trong suốt lịch sử loài người, các nhà nước tập trung hóa có vũ khí bằng kim loại, có quân đội được hỗ trợ bằng dân số đông đúc làm nghề nông đã từng quét sạch các quần thể dân cư ít ỏi hơn sống bằng săn bắt hái lượm và dùng công cụ bằng đá. Thế thì làm cách nào nước Nhật thời Jomon đã sống sót được lâu đến vậy?
Để thấu hiểu câu trả lời cho nghịch lý này, ta cần phải nhớ rằng cho đến năm 400 TCN eo biển Tsushima là ranh giới ngăn cách không phải giữa những nhà nông giàu có với những người săn bắt hái lượm nghèo khổ, mà là ngăn cách giữa một bên là những nhà nông nghèo khổ với một bên là những người săn bắt hái lượm giàu có. Bản thân Trung Quốc và nước Nhật thời Jomon không tiếp xúc trực tiếp với nhau. Thay vì vậy, trao đổi buôn bán của Nhật Bản, nếu có thể nói vậy, chỉ là với Triều Tiên. Nhưng lúa đã được thuần hóa ở miền nam Trung Quốc ấm áp và chỉ bành trướng một cách chậm chạp về phía bắc đến Triều Tiên vốn mát hơn nhiều, bởi phải mất nhiều thời gian thì lúa mới phát triển được thành những giống mới chịu được lạnh. Nghề nông lúa nước ở Triều Tiên thời kỳ đầu sử dụng phương pháp ruộng khô chứ không phải ruộng có tưới tiêu nên năng suất cũng không cao lắm. Vì vậy, nghề nông Triều Tiên thời kỳ đầu không thể cạnh tranh với lối sống săn bắt hái lượm ở Nhật thời Jomon được. Bản thân người Jomon chẳng thấy có lợi lộc gì nếu tiếp thu nghề nông của Triều Tiên nếu như họ biết có một nghề nông như thế, còn các nông dân Triều Tiên nghèo khó cũng chẳng có ưu thế nào đặng có thể thâm nhập vào Nhật Bản. Như ta sẽ thấy, những ưu thế giữa hai bên rốt cuộc đã đảo ngược một cách bất ngờ và đầy kịch tính.
Tôi đã nói rằng sự phát minh ra đồ gốm ở Kyushu vào khoảng 12.700 năm trước và sự bùng nổ dân số Jomon từ đó mà ra là sự thay đổi thứ nhất trong hai sự thay đổi lớn trong lịch sử Nhật Bản. Sự thay đổi có tầm quan trọng quyết định thứ hai, kích thích sự bùng nổ dân số thứ hai, đã khởi đầu vào khoảng năm 400 TCN khi có sự du nhập một lối sống mới (và cả những con người mới?) từ Nam Triều Tiên. Sự chuyển hóa thứ hai này đặt ra một câu hỏi gay gắt về việc thật ra người Nhật là ai. Liệu sự chuyển hóa đó đã đánh dấu việc người Jomon bị những người từ Triều Tiên di cư đến giành chỗ, và chính những người từ Triều Tiên đến là tổ tiên của người Nhật ngày nay? Hay là cư dân nguyên thủy ở Nhật Bản thời Jomon đã vẫn tiếp tục chiếm cứ Nhật Bản đồng thời học hỏi được những kỹ năng quý báu mới [từ những người di cư Triều Tiên nọ]?
Lối sống mới xuất hiện đầu tiên ở bờ biển phía bắc của hòn đảo cực tây nam Nhật Bản là Kyushu, chỉ cách Nam Triều Tiên qua eo biển Tsushima. Các nhân tố mới quan trọng nhất là những công cụ kim loại đầu tiên của Nhật Bản được làm bằng sắt, và nghề nông toàn diện mà có bằng chứng không thể phủ nhận là đã xuất hiện lần đầu tiên ở nước này. Nghề nông đó được du nhập dưới dạng những cánh đồng lúa có tưới tiêu, cộng thêm những kênh mương, đê điều, bờ đắp, ruộng lúa và di tích lúa mà các khai quật khảo cổ đã làm phát lộ. Các nhà khảo cổ gọi lối sống mới này là “Yayoi” đặt theo tên một quận ở Tokyo nơi đồ gốm đặc trưng của nó được nhận diện lần đầu tiên vào năm 1884. Khác với đồ gốm Jomon, đồ gốm Yayoi có hình dáng rất giống đồ gốm Nam Triều Tiên cùng thời. Trong số nhiều yếu tố văn hóa Yayoi khác mà rõ ràng là của Triều Tiên song trước đó hãy còn lạ lẫm với người Nhật Bản còn có những vật phẩm bằng đồng, nghề dệt vải, hạt thủy tinh, các hầm chứa lúa dưới mặt đất, phong tục lưu giữ di hài người chết trong bình lọ, và các công cụ cũng như nhà ở mang phong cách Triều Tiên.
Tuy lúa là cây trồng quan trọng nhất ở thời Yayoi, song có 27 loại cây trồng khác mà trước đó Nhật Bản không có, cùng với lợn mà rõ ràng đã được thuần hóa, cũng được nuôi trồng. Các nhà nông Yayoi có thể đã thử tiến hành xen canh, tưới tiêu đồng ruộng để trồng lúa vào mùa hè, sau đó lại tháo khô cũng các cánh đồng đó để trồng các loại cây đất khô như kê, lúa mạch và lúa mì vào mùa đông. Một điều không tránh khỏi là hệ thống nông nghiệp thâm canh năng suất cao này đã lập tức kích thích một sự bùng nổ dân số ở Kyushu, nơi các nhà khảo cổ đã xác định được số di chỉ Yayoi nhiều hơn gấp bội so với di chỉ Jomon mặc dù thời kỳ Jomon kéo dài lâu hơn nhiều.
Hầu như ngay lập tức, nghề nông Yayoi đã lan từ Kyushu sang các đảo chính khác là Shikoku và Honshu, trong vòng 200 năm đã đặt chân đến vùng Tokyo và sang thế kỷ tiếp theo thì đến tận mũi cực bắc Honshu (cách những điểm định cư Yayoi đầu tiên ở Kyushu 1.000 dặm – 1.600 km). Các di chỉ Yayoi sớm nhất ở Kyushu bao gồm những chiếc nồi thuộc phong cách Yayoi mới lẫn phong cách Jomon cũ, nhưng văn hóa và đồ gốm Yayoi càng bành trướng lên phía bắc Nhật Bản qua đảo Honshu thì phong cách Jomon càng biến mất. Tuy nhiên, một số yếu tố văn hóa Jomon không biến mất hoàn toàn. Các nhà nông Yayoi vẫn tiếp tục sử dụng một số loại công cụ bằng đá đẽo kiểu Jomon mà ở Triều Tiên và Trung Quốc thì đã hoàn toàn bị thay thế bằng công cụ kim loại. Một số căn nhà Yayoi mang phong cách Yayoi, số khác lại mang cách Jomon. Đặc biệt là trong khi văn hóa Yayoi bành trướng lên phía bắc Tokyo, vào những vùng mát dịu hơn, nơi nông nghiệp lúa nước có năng suất thấp hơn và những người săn bắt hái lượm Jomon từng sinh sống với mật độ dân cao nhất, thì đã nảy sinh một nền văn hóa hỗn hợp Yayoi/Jomon, với những lưỡi câu làm bằng kim loại nhưng hình dáng thì lại theo kiểu Jomon, những chiếc nồi thì theo kiểu dáng Yayoi có sửa đổi nhưng lại mang hoa văn dây thừng của Jomon. Sau khi chiếm lĩnh phần cực bắc Honshu lạnh giá trong một thời gian ngắn, các nhà nông Yayoi đã từ bỏ khu vực đó, hẳn vì ở đó nghề trồng lúa nước không thể cạnh tranh với lối sống săn bắt hái lượm Jomon. Trong 2.000 năm sau đó, phần phía bắc Honshu vẫn là một vùng biên cương mà bên ngoài nó thì hòn đảo Hokkaido cực bắc Nhật Bản và cư dân săn bắt hái lượm Ainu ở đó thậm chí còn không được coi là một phần của nước Nhật cho mãi đến khi Nhật Bản sáp nhập đảo này vào thế kỷ XIX.
Các công cụ bằng sắt thời Yayoi ban đầu được du nhập từ Triều Tiên với số lượng rất lớn, cho tới khi Nhật Bản bắt đầu có thể tự luyện và sản xuất sắt sau đó vài thế kỷ. Cũng phải mất vài thế kỷ thì Nhật Bản thời Yayoi mới biểu lộ dấu hiệu có sự phân tầng xã hội, điều này đặc biệt được phản ánh ở các nghĩa trang. Sau khoảng 100 năm TCN, một số khu vực trong nghĩa trang bắt đầu được dành riêng cho một giai cấp thượng lưu rõ ràng là đang nổi lên, với đặc trưng là những vật phẩm xa xỉ nhập từ Trung Quốc như các vật bằng ngọc xinh đẹp và gương soi bằng đồng. Đến khi dân số Yayoi tiếp tục bùng nổ, và đến khi tất cả các vùng đất ngập nước tốt nhất hoặc các đồng bằng có thể tưới tiêu thích hợp để trồng lúa nước đều đã được tận dụng hết thì bằng chứng khảo cổ cho thấy chiến tranh xảy ra ngày một thường xuyên: những đầu tên với số lượng rất lớn, hào phòng vệ bao quanh các làng, và những bộ xương được chôn cất mang dấu vết bị đâm bằng vật nhọn. Những dấu hiệu về chiến tranh đó ở Nhật Bản thời Yayoi tương hợp với các biên niên sử xưa nhất của Trung Quốc khi nói về Nhật Bản, trong đó mô tả xứ sở tên là Wa [tức là Hòa trong Hán tự, một trong những cái tên cổ nhất của nước Nhật – ND] với hàng trăm đơn vị chính trị nhỏ đánh nhau liên miên.
Trong thời kỳ từ năm 300 đến năm 700 CN, cả các khai quật khảo cổ lẫn các biên niên sử vốn cực kỳ mơ hồ vào những thời kỳ sau đều cho ta nhìn thấy dù chỉ lờ mờ sự xuất hiện của một nước Nhật thống nhất về chính trị. Trước năm 300 CN, các ngôi mộ của giới thượng lưu hãy còn bé nhỏ và cho thấy sự đa dạng về phong cách mang tính địa phương. Bắt đầu từ khoảng năm 300 CN, ngày càng nhiều những ngôi mộ đất kỳ vĩ gọi là kofun với hình dáng lỗ khóa đã được xây dựng ở vùng Kinai của đảo Honshu và sau đó xuất hiện trên toàn bộ khu vực văn hóa Yayoi trước kia, từ Kyushu đến bắc Honshu. Sao lại là vùng Kinai? Có lẽ vì khu vực này có những vùng đất nông nghiệp tốt nhất nước Nhật, nơi mà ngày nay người ta nuôi giống bò thịt Kobe siêu đắt, cũng là nơi tọa lạc cố đô Kyoto cho đến khi nước này dời đô đến Tokyo vào năm 1868.
Các ngôi mộ kofun có thể dài tới 1.500 bộ (khoảng 457 mét – ND) và cao trên 100 bộ (khoảng 30,5 mét – ND), khiến cho chúng có lẽ là những ngôi mộ bằng đất lớn nhất trong thế giới cổ đại. Các ngôi mộ này đòi hỏi phải có lực lượng lao động khổng lồ mới xây dựng được, phong cách của chúng lại khá đồng nhất trên toàn Nhật Bản, cho thấy nước Nhật khi đó đã có những vị thủ lĩnh hùng mạnh có khả năng huy động lực lượng lao động lớn và Nhật Bản đang trong quá trình đạt tới sự thống nhất chính trị. Các ngôi mộ kofun đã được khai quật chứa cơ man nào những vật tùy táng, nhưng việc khai quật tất cả các ngôi mộ lớn nhất thì cho đến nay vẫn bị cấm bởi người ta cho rằng các ngôi mộ lớn nhất này chứa đựng [di hài] tổ tiên của hoàng gia Nhật Bản. Bằng chứng nhãn tiền mà các ngôi mộ kofun cung cấp về sự thống nhất chính trị củng cố thêm những gì nói về các hoàng đế Nhật Bản thời đại Kofun được ghi lại trong sử sách Nhật Bản và Triều Tiên mãi rất lâu về sau. Ảnh hưởng to lớn của Triều Tiên đối với Nhật Bản trong suốt thời đại Kofun – dù thông qua việc Triều Tiên chinh phục Nhật Bản (theo quan điểm Triều Tiên) hay do Nhật Bản chinh phục Triều Tiên (theo quan điểm của Nhật Bản) – đã đưa Phật giáo, chữ viết, [kỹ năng] cưỡi ngựa, các kỹ thuật đồ gốm và luyện kim mới từ nội địa châu Á sang Nhật Bản.
Cuối cùng, với sự hoàn thành bộ biên niên sử đầu tiên của Nhật Bản vào năm 712, một phần là huyền thoại còn một phần chép lại các sự kiện có thật, cuối cùng Nhật Bản cũng xuất đầu lộ diện trọn vẹn dưới ánh sáng lịch sử. Vào năm 712, rốt cuộc thì những người cư trú trên nước Nhật, không nghi ngờ gì nữa, đúng là người Nhật Bản, và ngôn ngữ của họ (được gọi là tiếng Nhật cổ), không nghi ngờ gì nữa, là tổ tiên của tiếng Nhật ngày nay. Hoàng đế Akihito của Nhật Bản đang trị vì hiện nay là hậu duệ trực hệ đời thứ 82 của vị hoàng đế từng cai trị vào thời bộ biên niên sử đầu tiên năm 712 được viết ra. Theo truyền thống, Akihito được coi là hậu duệ trực hệ thứ 125 của Jimmu, vị hoàng đế huyền thoại đầu tiên, cháu chắt mấy đời của nữ thần mặt trời Amaterasu.
Trong 700 năm thời đại Yayoi, nền văn hóa Nhật Bản trải qua sự thay đổi triệt để hơn nhiều so với trong suốt mười ngàn năm thời đại Jomon. Sự tương phản giữa tính ổn định (còn gọi là tính bảo thủ) của thời Jomon với sự thay đổi triệt để dưới thời Yayoi là đặc tính nổi bật nhất của lịch sử Nhật Bản. Hiển nhiên đã có một gì đó thật lớn lao xảy ra vào năm 400 TCN. Đó là cái gì vậy? Liệu có phải người Jomon, người Yayoi, hay người Jomon hợp với người Yayoi là tổ tiên của người Nhật ngày nay? Dân số Nhật Bản đã tăng với hệ số đáng kinh ngạc là 70 trong thời đại Yayoi: cái gì đã gây nên sự thay đổi đó? Một cuộc tranh cãi gay gắt đã từng rộ lên xung quanh ba giả thuyết khác nhau.
Một thuyết cho rằng chính những người săn bắt hái lượm Jomon đã dần dần tiến hóa thành người Nhật hiện đại. Bởi họ đã sống một cuộc sống định cư theo làng mạc trong suốt hàng ngàn năm nên ắt hẳn họ đã được thích nghi sẵn để tiếp thu nghề nông. Tại giai đoạn chuyển tiếp Yayoi, có lẽ đã chẳng có gì [to tát] xảy ra ngoài chuyện xã hội Jomon tiếp nhận các hạt giống lúa chịu được khí hậu lạnh cũng như thông tin về nghề trồng lúa nước từ Triều Tiên, cho phép họ sản xuất được nhiều lương thực hơn và tăng dân số lên. Thuyết này tỏ ra hấp dẫn đối với một số người Nhật ngày nay, bởi nó giảm đến tối thiểu sự đóng góp của gen Triều Tiên vào hệ gen Nhật Bản, điều mà [người Nhật] không mong muốn, và bởi nó minh họa người Nhật như là một dân tộc mà ngay từ ít nhất 12.000 năm trước đã là một dân tộc độc nhất vô nhị rồi.
Thuyết thứ hai thì chẳng hấp dẫn đối với những người Nhật nào chuộng thuyết thứ nhất. Thuyết này lập luận rằng trong thời kỳ chuyển tiếp Yayoi đã có sự di cư với quy mô lớn của người Triều Tiên sang Nhật Bản, mang theo nghề nông, nền văn hóa và gen di truyền của Triều Tiên. Kyushu ắt hẳn dường như là thiên đường đối với các nhà nông trồng lúa nước Triều Tiên bởi hòn đảo này ấm áp và ẩm ướt hơn Triều Tiên do đó trồng lúa sẽ tốt hơn. Theo một ước tính, nước Nhật thời Yayoi đã tiếp nhận vài triệu người di cư từ Triều Tiên, và [gen di truyền của] ngần ấy con người rõ ràng đã lấn át hoàn toàn gen di truyền của người Jomon (mặc dù người Jomon tại trước thời điểm chuyển tiếp Yayoi cũng có tới khoảng 75.000 người). Nếu đúng vậy thì người Nhật ngày nay là hậu duệ của những người di cư Triều Tiên, những kẻ đã có được một nền văn hóa của riêng mình trong suốt 2.000 năm trở lại đây.
Thuyết thứ ba thừa nhận bằng chứng về sự di dân từ Triều Tiên song không thừa nhận rằng sự di cư đó đã diễn ra trên quy mô lớn. Thay vì vậy, nghề nông có năng suất cao đã cho phép một số nhà nông lúa nước di cư, dù không đông đảo lắm, vẫn có thể sinh sôi nảy nở nhanh hơn nhiều so với những người săn bắt hái lượm Jomon và cuối cùng trở nên đông hơn người Jomon gấp bội. Chẳng hạn, giả sử rằng chỉ có vỏn vẹn 5.000 người Triều Tiên đã di cư sang Kyushu, nhưng nông nghiệp lúa nước đã cho phép họ nuôi con nhỏ [tốt hơn] và tăng dân số với tỷ lệ 1% một năm. Tỷ lệ đó cao hơn nhiều so với tỷ lệ sinh sản của người săn bắt hái lượm nhưng đối với những người làm nông thì có thể đạt được dễ dàng: dân số Kenya ngày nay tăng với tỷ lệ 4,5% một năm. Trong vòng 700 năm, 5.000 người nhập cư đó có thể sinh ra đến 5.000.000 hậu duệ, và số người này cũng lại hoàn toàn lấn át người Jomon. Cũng như thuyết thứ hai, thuyết này coi người Nhật ngày nay là hậu duệ của người Triều Tiên tuy có thay đổi chút ít, song phủ nhận việc đã có làn sóng di cư với quy mô lớn.
So sánh với những sự chuyển tiếp tương tự từng diễn ra ở những nơi khác trên thế giới, tôi thấy thuyết thứ hai hoặc thứ ba có vẻ hợp lý hơn thuyết thứ nhất. Trong suốt 12.000 năm trở lại đây, nông nghiệp đã nảy sinh ở không quá chín địa điểm trên bề mặt trái đất: Trung Quốc, Lưỡi liềm Phì nhiêu, và một vài khu vực khác. 12.000 năm trước, bất cứ ai sống trên bề mặt trái đất đều là người săn bắt hái lượm, còn ngày nay thì hầu như tất cả chúng ta đều là nhà nông hoặc được nuôi ăn bởi nhà nông. Sự bành trướng nghề nông từ một vài khu vực phát nguyên đó thường không diễn ra như là kết quả của việc những người săn bắt hái lượm ở nơi nào đó [tự giác] tiếp thu nghề nông, bởi người săn bắt hái lượm thường có xu hướng bảo thủ, đúng như người Jomon trong khoảng từ 10.700 năm đến 400 năm TCN. Thay vì vậy, sự bành trướng nghề nông diễn ra chủ yếu là do các nhà nông sinh sôi nảy nở nhanh hơn những người săn bắt hái lượm, phát triển được những công nghệ mạnh hơn, sau đó thì giết chết các thợ săn kia hoặc đuổi họ khỏi tất cả những vùng đất nào thích hợp với nghề nông. Vào thời hiện đại, các nhà nông châu Âu đã giành chỗ của các thợ săn Anh-điêng Bắc Mỹ, người Australia bản địa và người San ở Nam Phi bằng cách đó. Tương tự, vào thời tiền sử, các nhà nông sử dụng công cụ bằng đá đã giành chỗ các thợ săn trên khắp châu Âu, Đông Nam Á và Indonesia. So ra thì cái ưu thế độc nhất và khiêm nhường của các nhà nông đó trước những người săn bắt hái lượm vào thời tiền sử chẳng thấm vào đâu so với ưu thế to lớn của các nhà nông Triều Tiên trước các thợ săn Jomon vào năm 400 TCN, bởi người Triều Tiên đã sở hữu công cụ bằng sắt và một hình thức nông nghiệp thâm canh phát triển cao.
Thuyết nào trong ba thuyết trên là đúng đối với Nhật Bản? Cách trực tiếp duy nhất để trả lời câu hỏi đó là so sánh các bộ xương và gen Jomon và Yayoi với xương và gen của người Nhật hiện đại và người Ainu. Người ta đã tiến hành đo nhiều loạt xương như vậy. Ngoài ra, trong những năm gần đây, các nhà di truyền học phân tử đã bắt đầu phân lập DNA từ xương người cổ đại và so sánh gen người Nhật cổ với gen người Nhật hiện đại. Và người ta nhận thấy, xét trung bình thì xương người Jomon và xương người Yayoi khác hẳn nhau. Người Jomon thường có vóc thấp hơn, cánh tay trước và cẳng dưới dài hơn, hai mắt xa nhau hơn, khuôn mặt ngắn và rộng bề ngang hơn, và “địa hình” khuôn mặt “gồ ghề” hơn, có sống mày, mũi và sống mũi cao hơn nhiều. Người Yayoi thường cao hơn từ 1 đến 2 inch (từ 2,5 đến 5 cm – ND), hai mắt gần nhau hơn, khuôn mặt dài và hẹp, sống mày và mũi thấp hơn. Một số bộ xương thời Yayoi vẫn còn giống người Jomon về ngoại hình, song điều đó thì hầu như giả thuyết nào về sự chuyển hóa giữa Jomon với Yayoi cũng đều có thể dự kiến trước cả. Đến thời kỳ Kofun thì tất cả các bộ xương người Nhật ngoại trừ người Ainu đều là một nhóm đồng nhất, vừa giống người Nhật vừa giống người Triều Tiên ngày nay.
Trong tất cả các phương diện đó, các hộp sọ Jomon khác hẳn với sọ người Nhật hiện đại và giống hơn cả với sọ người Ainu hiện đại, trong khi sọ Yayoi thì giống hơn cả với sọ người Nhật hiện đại. Dựa trên giả định rằng người Nhật hiện đại đã phát sinh từ sự hỗn hợp giữa người Yayoi giống người Triều Tiên hiện đại với người Jomon giống người Ainu hiện đại, các nhà di truyền học đã thử tính toán phần đóng góp tương đối của mỗi hệ gen di truyền. Kết luận thu được là phần đóng góp của nhóm Triều Tiên/Yayoi nói chung chiếm phần áp đảo. Phần đóng góp của nhóm Ainu/Jomon là thấp nhất ở vùng tây nam Nhật Bản, nơi hầu hết các di dân Triều Tiên hẳn đã đặt chân đến đầu tiên và cư dân Jomon chỉ thưa thớt, và tương đối cao hơn ở miền bắc Nhật Bản nơi rừng giàu các loại cây cho hạt hơn và mật độ dân số Jomon cao nhất trong khi nông nghiệp lúa nước Yayoi là kém thành công nhất.
Như vậy, những người di cư từ Triều Tiên thực sự đã có phần đóng góp to lớn làm hình thành người Nhật hiện đại, mặc dù ta chưa thể biết chắc đấy là do đã có sự di cư từ Triều Tiên với quy mô lớn hay chỉ có một nhóm di dân không nhiều nhưng về sau đã đông lên nhanh chóng nhờ tỷ lệ sinh sản cao. Người Ainu [ngày nay] chắc hẳn là hậu duệ của cư dân Jomon ở Nhật Bản cổ đại, trộn lẫn với gen Triều Tiên của những người di dân Yayoi và của người Nhật hiện đại.

Xét ưu thế vượt trội mà nông nghiệp lúa nước rốt cuộc đã mang lại cho các nhà nông Triều Tiên trước những thợ săn Jomon, người ta buộc phải tự hỏi tại sao các nhà nông Triều Tiên đã đạt được thắng lợi một cách chóng vánh đến vậy sau khi đã chẳng tiến bộ được bao nhiêu ở Nhật Bản trong suốt hàng ngàn năm trước đó, kể từ khi nghề nông được du nhập vào Triều Tiên. Trước đây tôi đã nói rằng, vào thời kỳ đầu nghề nông Triều Tiên có năng suất tương đối thấp, nhà nông chẳng lấy gì làm sung túc nên không có gì gọi là ưu thế trước những người săn bắt hái lượm no đủ. Tuy nhiên, sở dĩ cán cân rốt cuộc ngả về phía các nhà nông và khiến cho thời kỳ chuyển tiếp Yayoi diễn ra có lẽ là do sự kết hợp bốn nhân tố xảy ra cùng một lúc: sự phát triển nghề nông trồng lúa nước thay vì nghề nông lúa khô vốn năng suất thấp hơn, sự cải thiện không ngừng các giống lúa thích nghi với khí hậu lạnh, sự gia tăng dân số người Triều Tiên tạo sức ép khiến người Triều Tiên phải di cư, và sự phát triển các công cụ bằng sắt để có thể sản xuất đại trà xẻng, cày cuốc bằng gỗ và các công cụ khác cần thiết để canh tác lúa nước. Việc [công cụ bằng] sắt và nghề nông thâm canh được du nhập vào Nhật Bản cùng một lúc khó có thể chỉ là một sự tình cờ.
Khi mở đầu chương này, tôi đã nhắc tới một cách giải thích bạch về việc tại sao những người Ainu (có ngoại hình khác biệt) với người Nhật (có ngoại hình không có gì khác biệt) đã cùng chia nhau đất nước Nhật Bản. Nếu chỉ xét theo bề ngoài, các sự kiện đó có vẻ như gợi ý rằng người Ainu là hậu duệ của cư dân nguyên thủy ở Nhật Bản còn người Nhật là hậu duệ của những người di cư đến Nhật Bản vào những thời kỳ sau. Ta cũng đã thấy bằng chứng kết hợp giữa ngành khảo cổ, ngành nhân học thể chất và ngành di truyền học cũng ủng hộ quan điểm này.
Nhưng ngay từ đầu tôi cũng đã nhắc rằng có một sự phản đối mạnh mẽ khiến cho hầu hết người ta (đặc biệt là chính người Nhật) đi tìm những cách giải thích khác. Nếu người Nhật quả thực là hậu duệ của người Triều Tiên di cư sang Nhật Bản vào thời kỳ sau thì đáng lẽ tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên phải rất giống nhau mới phải. Nói khái quát hơn, nếu người Nhật đã phát sinh trực tiếp từ một sự hợp huyết nào đó trên hòn đảo Kyushu, giữa người Jomon nguyên thủy (giống người Ainu ngày nay) với những người di cư Yayoi từ Triều Tiên đến, thì tiếng Nhật ắt phải có quan hệ gần gũi với cả tiếng Triều Tiên lẫn tiếng Ainu. Thế nhưng tiếng Nhật và tiếng Ainu chẳng hề tỏ ra có mối quan hệ nào với nhau, và mối quan hệ giữa tiếng Nhật với tiếng Triều Tiên cũng chỉ là họ hàng xa. Làm sao lại thế được nếu quả thật đã có một sự hợp huyết diễn ra chỉ mới cách đây 2.400 năm? Tôi đề xuất cách lý giải sau đây cho nghịch lý này: rằng trên thực tế, ngôn ngữ của cư dân Jomon trên đảo Kyushu không thể nào rất giống tiếng Ainu hiện đại, và ngôn ngữ của những người di cư Yayoi cũng không thể nào rất giống tiếng Triều Tiên cho được.
Trước tiên hãy xét tiếng Ainu, thứ tiếng mà ta biết là ngôn ngữ mà cho tới thời gian gần đây vẫn được sử dụng bởi người Ainu trên hòn đảo cực bắc Nhật Bản là Hokkaido. Vì vậy, cư dân Jomon ở Hokkaido có lẽ đã từng nói một thứ tiếng giống như tiếng Ainu, song rõ ràng là các cư dân Jomon trên đảo Kyushu thì không. Từ chỏm cực nam Kyushu đến chỏm cực bắc Hokkaido, quần đảo Nhật Bản trải dài gần 1.500 dặm (khoảng 2.400 km – ND). Ta biết rằng vào thời đại Jomon Nhật Bản đã có sự đa dạng rất lớn về phương thức sống cũng như phong cách đồ gốm và chưa bao giờ thống nhất về chính trị. Trong suốt 10.000 năm thời đại Jomon, người Jomon ắt hẳn đã tạo nên một sự đa dạng to lớn không kém về ngôn ngữ. Các ngôn ngữ của họ thậm chí có thể đã rất khác nhau ngay từ 12.000 năm trước nếu những người Jomon ở phía bắc đã đến Nhật Bản từ Nga còn những người Jomon ở phía nam thì đến Nhật Bản từ Triều Tiên qua các cầu đất liền, như bằng chứng khảo cổ dường như đã chỉ ra.
Trên thực tế, nhiều địa danh Nhật Bản trên đảo Hokkaido và phía bắc đảo Honshu vẫn bao gồm những từ Ainu dùng để gọi “sông” (nai hay betsu) hoặc “vịnh” (shiri), song xa hơn về phía nam Nhật Bản thì những cái tên mang nét Ainu đó không xuất hiện. Điều đó gợi ý rằng những người Yayoi và người Nhật tiên phong đã tiếp thu nhiều địa danh của người Ainu địa phương, cũng như người Mỹ da trắng tiếp thu nhiều địa danh của người châu Mỹ bản địa (chẳng hạn “Massachusetts”, “Missisippi”, vân vân), nhưng tiếng Ainu là ngôn ngữ Jomon được dùng chỉ ở miền cực bắc Nhật Bản mà thôi. Trong khi đó, ngôn ngữ Ainu ở đảo Kyushu có thể có cùng tổ tiên với ngữ hệ Nam Đảo bao gồm các ngôn ngữ Polynesia và ngôn ngữ Indonesia cũng như các ngôn ngữ bản địa của đảo Đài Loan. Như nhiều nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra, tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của các ngôn ngữ Nam Đảo ở chỗ chuộng dùng cái gọi là các âm tiết mở (một phụ âm theo sau là một nguyên âm, như trong cái tên “Hi-ro-hi-to”). Người Đài Loan cổ là những người đi biển cừ khôi mà hậu duệ bành trướng ra rất xa về phía nam, phía đông và phía tây; một số trong đó cũng có thể đã bành trướng về phía bắc, đến đảo Kyushu.
Vậy nghĩa là, tiếng Ainu ngày nay trên đảo Hokkaido không phải là hình mẫu của ngôn ngữ Jomon cổ đại trên đảo Kyushu. Cũng vậy, tiếng Triều Tiên hiện đại có thể không phải là hình mẫu chuẩn cho tiếng Yayoi cổ đại của những di dân Triều Tiên vào năm 400 TCN. Trong những thế kỷ trước khi Triều Tiên được thống nhất về chính trị vào năm 676 CN, nước này bao gồm ba vương quốc. Tiếng Triều Tiên hiện đại bắt nguồn từ ngôn ngữ của vương quốc Silla, vương quốc mà về sau đã đánh bại được hai vương quốc kia và thống nhất Triều Tiên, nhưng Silla lại không phải là vương quốc từng tiếp xúc chặt chẽ với Nhật Bản trong những thế kỷ trước đó. Các sử sách Triều Tiên thời kỳ đầu cho ta biết rằng các vương quốc Triều Tiên đó có ngôn ngữ khác nhau. Tuy ngày nay ta không biết được gì nhiều về ngôn ngữ của các vương quốc bị Silla đánh bại, song một ít từ còn giữ được đến nay của một trong hai vương quốc đó (Koguryo, tức Cao Câu Ly) thì lại giống hơn nhiều với các từ tương đương trong tiếng Nhật cổ so với các từ tương đương trong tiếng Triều Tiên hiện đại. Các ngôn ngữ Triều Tiên thậm chí có thể đã rất khác nhau ngay từ 400 năm TCN, trước khi sự thống nhất chính trị đạt đến giai đoạn hình thành ba vương quốc. Tôi ngờ rằng tiếng Triều Tiên mà [các di dân Triều Tiên] mang theo đến Nhật Bản vào năm 400 TCN và đến nay đã tiến hóa thành tiếng Nhật hiện đại là khác xa với tiếng Silla [cổ] vốn đã tiến hóa thành tiếng Triều Tiên hiện đại. Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên rằng người Nhật và người Triều Tiên ngày nay rất giống nhau về ngoại hình và gen di truyền song lại chẳng giống nhau cho lắm về ngôn ngữ.
Kết luận này có lẽ cả người Nhật Bản lẫn người Triều Tiên sẽ không thích, bởi hai dân tộc này hiện vẫn không ưa nhau. Lịch sử đã cho họ thừa lý do để ghét nhau: đặc biệt là người Triều Tiên ghét người Nhật Bản. Cũng như người Arập và người Do Thái, người Triều Tiên và người Nhật Bản là những dân tộc cùng huyết thống song cũng cùng một mối thâm thù. Nhưng hận thù chỉ dẫn đến sự hủy diệt cho cả hai bên, ở Đông Á cũng như ở Trung Đông. Dù người Nhật Bản và người Triều Tiên có phải thừa nhận điều này một cách miễn cưỡng đến đâu, họ vẫn là hai anh em sinh đôi có cùng những năm sinh thành và khôn lớn. Tương lai chính trị của Đông Á phụ thuộc phần lớn vào việc liệu hai dân tộc đó có khám phá lại được những mối dây từng gắn bó hai bên từ thời cổ đại hay không.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Lời kết - Tương lai của khoa lịch sử loài người như một ngành khoa học 

Câu hỏi của Yali đi vào tận cốt lõi thực trạng loài người hiện nay, cũng như vào thấu tâm điểm lịch sử loài người thời kỳ hậu Pleitoxen. Giờ đây, khi đã hoàn thành cuộc du ngoạn ngắn vòng quanh các lục địa, chúng ta sẽ trả lời Yali như thế nào đây?
Tôi sẽ nói với Yali: lịch sử dài hạn của các dân tộc trên những lục địa khác nhau sở dĩ khác biệt nhau đến vậy không phải vì những khác biệt bẩm sinh trong bản thân các dân tộc đó, mà là do những khác biệt trong môi trường sống của họ. Tôi tin rằng giá như người Australia bản địa và người Âu-Á có thể đổi chỗ cho nhau trong thời Hậu kỳ Pleitoxen thì ắt hẳn người Australia bản địa nguyên thủy giờ đây đã là những kẻ chiếm cứ hầu hết châu Mỹ và Australia cũng như Âu-Á, trong khi người Âu-Á bản địa hẳn đã bị teo nhỏ thành những nhóm dân manh mún bị chà đạp áp bức ở Australia. Có thể thoạt tiên người ta sẽ loại bỏ ngay giả thiết này, coi nó chẳng có ý nghĩa gì bởi chỉ thuần tưởng tượng thôi, không thể lấy gì kiểm chứng. Dẫu vậy các sử gia vẫn có cách để đánh giá các giả thuyết như vậy dựa trên những thử nghiệm hồi cố. Chẳng hạn, người ta có thể xét trường hợp điều gì đã xảy ra khi các nhà nông châu Âu được chuyển sang Greenland hay vùng Đồng bằng Lớn ở Hoa Kỳ, và khi các nhà nông vốn gốc gác nguyên thủy từ Trung Quốc di cư sang quần đảo Chatham, vùng rừng mưa ở Borneo hay vùng đất núi lửa ở Java hoặc Hawaii. Các thử nghiệm đó xác nhận một điều rằng, vẫn cùng những dân tộc cổ đại đó thôi, song tùy theo họ sống ở môi trường nào mà rốt cuộc họ bị diệt chủng, quay về lối sống săn bắt hái lượm hay tiến lên xây dựng được nhà nước phức tạp. Tương tự, những người săn bắt hái lượm Australia bản địa, tùy theo họ di cư sang quần đảo Flinders, Tasmania hay miền đông nam Australia [nghĩa là tùy theo môi trường họ sống – ND] mà cuối cùng họ đã bị tuyệt chủng, vẫn tiếp tục săn bắt hái lượm với thứ công nghệ giản đơn nhất trong thế giới hiện đại, hay biết xây dựng kênh đào để duy trì một nghề cá có năng suất cao.
Dĩ nhiên, các lục địa khác biệt nhau ở vô số đặc tính môi trường có khả năng ảnh hưởng đến quỹ đạo phát triển của xã hội loài người. Song nếu chỉ đưa ra một danh sách những khác biệt khả dĩ thì không đủ để trả lời câu hỏi của Yali. Đối với tôi, chỉ có bốn nhóm nhân tố trong số đó là những khác biệt quan trọng nhất.
Nhóm nhân tố đầu tiên là những sự khác biệt giữa các lục địa về chủng loại cây dại và thú hoang thích hợp để thuần hóa. Đó là bởi sản xuất lương thực là nhân tố tối quan trọng để có thể tích lũy lương thực thặng dư hầu nuôi sống những người làm công việc chuyên môn ngoài sản xuất lương thực, cũng như để hình thành dần một dân số đông đúc [mà hễ dân đông thì] sẽ có ưu thế về quân sự so với những nhóm dân ít ỏi ngay cả khi chưa phát triển được ưu thế về công nghệ hoặc tổ chức chính trị. Vì cả hai lý do trên, các vương quốc nhỏ sơ khai sở dĩ phát triển lên được thành những xã hội phức tạp về kinh tế, phân tầng về xã hội và tập trung hóa về chính trị thảy đều dựa trên sản xuất lương thực.
Song hầu hết cây dại và thú hoang đều đã tỏ ra không thích hợp để thuần hóa: nền sản xuất lương thực chỉ dựa trên một số loài cây trồng và vật nuôi khá ít ỏi. Số lượng các loài thích hợp để thuần hóa ở lục địa này khác biệt rất lớn với ở lục địa khác, bởi sự khác biệt giữa các khu vực trong từng lục địa và (trong trường hợp các loài hữu nhũ lớn) còn bởi sự tuyệt chủng vào hậu kỳ Pleitoxen. Sự tuyệt chủng đó ở Australia và châu Mỹ nghiêm trọng hơn nhiều so với ở Âu-Á hoặc châu Phi. Hậu quả là châu Phi ít phong phú hơn một chút về sinh học so với Âu-Á vốn rộng hơn nhiều, châu Mỹ còn càng kém phong phú hơn, Australia lại càng kém hơn nữa, cũng như New Guinea quê hương của Yali (với diện tích chỉ bằng một phần bảy mươi so với Âu-Á và tất cả các loài hữu nhũ lớn bản địa đều tuyệt chủng vào hậu kỳ Pleitoxen).
Trên mỗi lục địa, sự thuần hóa cây trồng và vật nuôi chỉ tập trung vào một số vùng có lợi thế đặc biệt, các vùng này chỉ chiếm một phần nhỏ tổng diện tích từng lục địa. Trong trường hợp cách tân công nghệ và thể chế chính trị cũng vậy, hầu hết các xã hội chủ yếu là tiếp thu từ các xã hội khác chứ không tự mình phát minh ra. Như vậy, sự phát tán và di cư trong phạm vi một lục địa góp phần quan trọng vào sự phát triển của các xã hội trên lục địa đó, vốn về lâu dài thường có xu hướng chia sẻ những thành tựu của nhau (trong phạm vi môi trường cho phép) thông qua những quá trình mà một ví dụ minh họa đơn giản là cuộc Chiến tranh Súng hỏa mai của người Maori ở New Zealand. Có nghĩa là, các xã hội vốn dĩ thiếu một ưu thế nào đó thường hoặc tiếp thu ưu thế đó từ các xã hội đang sở hữu nó hoặc, nếu không làm được vậy, sẽ bị các xã hội có sẵn ưu thế đó [tiêu diệt hoặc xua đuổi và] chiếm chỗ.
Từ đó ta có nhóm nhân tố thứ hai bao gồm những nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ bành trướng và di cư, tốc độ này rất khác nhau từ lục địa này sang lục địa kia. Tốc độ bành trướng và di cư nhanh nhất là ở Âu-Á, bởi trục chính của Âu-Á là đông-tây và lục địa này có những rào cản sinh thái và địa lý không lớn lắm. Lập luận này thật dễ hiểu đối với sự phát tán cây trồng vật nuôi, vốn tùy thuộc rất nhiều vào khí hậu và do đó tùy thuộc vào vĩ độ. Nhưng lập luận này cũng có thể áp dụng cho sự phát tán các phát minh công nghệ trong chừng mực người ta có thể ứng dụng chúng mà không phải điều chỉnh cho phù hợp với từng môi trường cụ thể. Sự phát tán đó chậm hơn ở châu Phi và đặc biệt chậm ở châu Mỹ vì các lục địa này có trục chính bắc-nam và nhiều rào cản địa lý cũng như rào cản sinh thái. Sự bành trướng cũng đặc biệt khó khăn ở New Guinea, nơi địa hình cắt xẻ và những dãy núi cao kéo dài ngăn cản mọi bước tiến đáng kể hướng đến sự thống nhất về chính trị và ngôn ngữ.
Liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát tán trong nội bộ từng lục địa là nhóm nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến sự phát tán giữa các lục địa với nhau – sự phát tán này vốn cũng có thể góp phần làm hình thành tổng thể các loài thuần hóa và công nghệ của từng lục địa. Sự phát tán giữa các lục địa cũng mỗi nơi một khác, bởi một số lục địa [có vị trí] cách biệt hơn so với các lục địa còn lại. Trong vòng 6.000 năm trở lại đây, sự phát tán dễ dàng nhất là giữa Âu-Á với châu Phi hạ Sahara, qua đó cung cấp cho châu Phi hầu hết các loài gia súc. Nhưng sự phát tán giữa hai bán cầu đã không hề đóng góp gì cho các xã hội phức tạp của người châu Mỹ bản địa bởi vì châu Mỹ ở các vĩ độ thấp thì bị ngăn cách với Âu-Á bởi đại dương bao la, còn ở vĩ độ cao thì lại ngăn cách bởi địa lý và khí hậu chỉ thích hợp cho lối sống săn bắt hái lượm. Đối với người Australia bản địa vốn bị ngăn cách với Âu-Á qua hàng rào biển cả và quần đảo Indonesia thì phần đóng góp duy nhất từ Âu-Á là loài chó dingo.
Nhóm nhân tố thứ tư và cuối cùng là những khác biệt về diện tích hoặc tổng dân số giữa các lục địa. Lục địa nào diện tích rộng hơn hoặc đông dân hơn thì cũng có nhiều nhà phát minh tiềm năng hơn, nhiều xã hội cạnh tranh hơn, nhiều phát minh để tiếp thu hơn, và cũng nhiều sức ép để phải tiếp thu và duy trì đổi mới hơn, bởi xã hội nào không làm được chuyện đó thường sẽ bị các xã hội cạnh tranh khác tiêu diệt. Đó là số phận của người Pygmy châu Phi và nhiều quần thể săn bắt hái lượm khác đã bị các nhà nông chiếm chỗ. Ngược lại, đó cũng là số phận của những nhà nông Norse bướng bỉnh và bảo thủ ở Greenland, đã bị những người săn bắt hái lượm Eskimo chiếm chỗ bởi phương pháp và kỹ năng để sinh tồn của người Eskimo là ưu việt hơn nhiều so với của người Norse trong điều kiện Greenland. Trong số các lục địa trên thế giới, diện tích rộng nhất và có nhiều xã hội cạnh tranh nhất là Âu-Á, nhỏ và ít hơn nhiều là ở Australia và New Guinea, đặc biệt ít ở Tasmania. Bắc Mỹ và Nam Mỹ tuy cộng lại thì rộng thật, song hai khối đất liền này bị ngăn cách khỏi nhau bởi [rào cản] địa lý và sinh thái cho nên trên thực tế chúng như là hai lục địa nhỏ gắn vào nhau một cách lỏng lẻo.
Bốn nhóm nhân tố nói trên tạo thành những khác biệt to lớn về môi trường mà ta có thể định lượng một cách khách quan và không cần phải bàn cãi. Tuy ai đó có thể hoài nghi trước ấn tượng chủ quan của tôi rằng người New Guinea nhìn chung thông minh hơn người Âu-Á, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng New Guinea có diện tích nhỏ hơn nhiều và số loài thú lớn ít hơn nhiều so với Âu-Á. Tuy nhiên, nhắc đến những khác biệt về môi trường này có thể khiến các sử gia dán cho cái nhãn là “quyết định luận địa lý” và khiến họ sửng cồ. Cái nhãn này xem ra có những hàm ý chẳng dễ nghe cho lắm, đại loại như tính sáng tạo của con người chẳng hề có ý nghĩa gì, hoặc con người chúng ta chẳng qua như những rôbốt mà khí hậu và hệ động thực vật đã lập trình cho thế nào thì đành chịu như thế ấy thôi. Dĩ nhiên, e ngại như thế là không đúng chỗ. Nếu không có tính sáng tạo của con người thì ắt hẳn ngày nay chúng ta vẫn cứ cắt thịt bằng công cụ đá và ăn sống như tổ tiên chúng ta cách đây hàng triệu năm. Mọi xã hội loài người đều có những người đầy tính phát minh. Chẳng qua là một số môi trường cung cấp cho con người nhiều vật liệu khởi đầu hơn, nhiều điều kiện thuận lợi hơn để sử dụng các phát minh so với những môi trường khác.
Những lời đáp đó cho câu hỏi của Yali dài hơn và phức tạp hơn so với chính Yali chờ đợi. Tuy nhiên, có khi các sử gia lại thấy chúng quá ngắn và quá đơn giản hóa. Nén 13.000 năm lịch sử trên mọi lục địa vào một cuốn sách dày 400 trang, vậy hóa ra cứ mỗi trang là dành cho 150 năm trên một lục địa, đã vậy thì làm sao tránh được quá sơ sài và đơn giản hóa. Thế nhưng, bù lại sự nén chặt đó có một cái lợi: nhờ đối chiếu các khu vực với nhau trên cơ sở dài hạn, ta mới rút ra được những điều không thể suy ra nếu chỉ nghiên cứu ngắn hạn từng xã hội một.
Lẽ tự nhiên, rất nhiều vấn đề mà câu hỏi của Yali nêu ra vẫn chưa có lời giải đáp. Hiện nay ta có thể đưa ra một số lời giải đáp từng phần và xác định những gì cần phải nghiên cứu trong tương lai, chứ một lý thuyết đầy đủ thì chưa. Thử thách bây giờ là phải phát triển khoa lịch sử nhân loại thành một ngành khoa học, ngang hàng với các khoa học lịch sử đã được thừa nhận như thiên văn học, địa chất học và sinh học tiến hóa. Do vậy hẳn sẽ là thích hợp nếu tôi khép lại cuốn sách này bằng cách nhìn đến tương lai của ngành lịch sử cũng như phác thảo những nét chính của một vài vấn đề còn chưa có lời giải đáp.
Phần khai triển đơn giản nhất cho cuốn sách này sẽ là tiếp tục xác định và qua đó chứng minh một cách thuyết phục hơn vai trò của sự khác biệt giữa các lục địa theo bốn nhóm nhân tố dường như là quan trọng nhất. Để minh họa những khác biệt về nguyên liệu khởi điểm cho việc thuần hóa, tôi đã đưa ra tổng số các loài hữu nhũ lớn ăn cỏ và ăn tạp sống trên đất liền của từng lục địa (Bảng 9.2) và các loài ngũ cốc hạt lớn của từng lục địa (Bảng 8.1). Một hướng khai triển khác là tập hợp các số liệu tương ứng về các loài cây rau có hạt lớn như đậu, đỗ và đậu tằm. Ngoài ra, tôi có nhắc tới các nhân tố khiến cho nhiều loài hữu nhũ lớn không hội đủ tư cách để được thuần hóa, nhưng tôi chưa lập bảng để chỉ ra bao nhiêu loài ứng viên đã bị loại bởi từng nhân tố trên từng lục địa. Nếu làm được vậy thì sẽ rất thú vị, nhất là đối với châu Phi nơi tỷ lệ các loài ứng viên bị loại là cao hơn so với ở Âu-Á: những nhân tố loại bỏ nào là quan trọng nhất ở châu Phi, và cái gì đã khiến các nhân tố đó xuất hiện với tần suất cao nơi các loài hữu nhũ châu Phi? Dữ liệu định lượng cũng cần được tổng hợp để kiểm chứng các tính toán sơ bộ của tôi về sự khác biệt giữa tốc độ phát tán dọc theo trục chính của Âu-Á so với dọc theo trục chính của châu Mỹ và châu Phi.
Sự khai triển thứ hai sẽ áp dụng cho những phạm vi địa lý nhỏ hơn và quãng thời gian ngắn hơn so với trong cuốn sách này. Chẳng hạn, câu hỏi hiển nhiên sau đây ắt hẳn đã nảy ra trong đầu bạn đọc: tại sao, trong nội bộ Âu-Á, chính các xã hội châu Âu, chứ không phải các xã hội vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, Trung Quốc hay Ấn Độ, đã trở thành những xã hội đi chinh phục châu Mỹ và Australia, dẫn đầu về công nghệ và trở thành kẻ thống trị về chính trị và kinh tế trong thế giới hiện đại? [Nếu có một] sử gia sống ở bất cứ thời kỳ nào trong khoảng từ 8.500 năm TCN đến năm 1450 mà ngay từ hồi đó đã cố thử tiên đoán các quỹ đạo lịch sử trong tương lai, ông ta ắt hẳn sẽ cho rằng châu Âu ít có khả năng trở thành kẻ thống trị hơn cả bởi trong hầu hết 10.000 năm đó châu Âu là khu vực chậm tiến nhất trong số ba khu vực nói trên của Cựu Thế giới. Từ năm 8500 TCN cho tới khi Hy Lạp và kế đó là bán đảo Italia hưng khởi sau năm 500 TCN, hầu như tất cả những cách tân quan trọng ở phía tây Âu-Á – thuần hóa vật nuôi, thuần hóa cây trồng, chữ viết, nghề luyện kim, bánh xe, nhà nước, v.v. – đều phát sinh ở Lưỡi liềm Phì nhiêu hoặc gần đó. Cho tới khi cối xay chạy bằng sức nước trở nên phổ biến vào khoảng năm 900, châu Âu về phía tây hay phía bắc dãy Alpes đã chẳng đóng góp được gì quan trọng cho công nghệ hay nền văn minh của Cựu Thế giới; thay vì vậy châu Âu chỉ tiếp thu các thành tựu từ vùng phía đông Địa Trung Hải, Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc. Thậm chí từ năm 1000 đến năm 1450 dòng chảy khoa học và công nghệ đổ vào châu Âu chủ yếu là từ các xã hội Hồi giáo trải dài từ Ấn Độ đến Bắc Phi chứ không phải là ngược lại. Cũng trong các thế kỷ đó Trung Quốc dẫn đầu thế giới về công nghệ, do đã tự mình khởi đầu sản xuất lương thực từ rất sớm, gần như cùng lúc với Lưỡi liềm Phì nhiêu.
Thế thì tại sao rốt cuộc Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc lại đánh mất lợi thế xuất phát to lớn – đi trước những hàng ngàn năm – về tay châu Âu vốn xuất phát muộn hơn? Dĩ nhiên, người ta có thể chỉ ra những nguyên nhân trực tiếp khiến châu Âu hưng khởi: sự phát triển tầng lớp thương nhân, chủ nghĩa tư bản và sự bảo hộ quyền phát minh ở châu Âu, ở châu Âu đã không xuất hiện các chính thể chuyên chế tuyệt đối và chế độ thuế khóa hà khắc, và truyền thống Hy Lạp – Do Thái – Thiên Chúa giáo của châu Âu vốn dĩ có tinh thần truy vấn có tính phê phán dựa trên kinh nghiệm (critical empirical inquiry). Thế nhưng, dẫu đã có tất cả các nguyên nhân trực tiếp đó rồi, người ta vẫn phải nêu lên câu hỏi về nguyên nhân tối hậu: tại sao bản thân các nguyên nhân trực tiếp đó lại phát sinh ở châu Âu chứ không phải ở Trung Quốc hay Lưỡi liềm Phì nhiêu?
Với Lưỡi liềm Phì nhiêu thì câu trả lời đã rõ. Một khi đã đánh mất lợi thế xuất phát ban đầu mà nó từng có được nhờ sự tập trung cao độ các loài cây và thú có thể thuần hóa, Lưỡi liềm Phì nhiêu không còn lợi thế nổi bật nào khác về địa lý. Ta có thể truy trở lại một cách chi tiết xem lợi thế xuất phát của Lưỡi liềm Phì nhiêu đã biến mất như thế nào, khi các đế quốc hùng mạnh dần dần dịch chuyển về phía tây. Sau khi các nhà nước vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu phát sinh vào thiên niên kỷ thứ IV TCN, trung tâm quyền lực lúc đầu vẫn nằm ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, luân chuyển giữa các nhà nước như Babylon, Hittite, Assyria và Ba Tư. Khi người Hy Lạp dưới thời Alexander Đại đế chinh phục tất cả các xã hội tiên tiến từ Hy Lạp đến tận Ấn Độ về phía đông vào cuối thế kỷ thứ IV TCN, cuối cùng quyền lực cũng bắt đầu chuyển dịch một cách không thể đảo ngược về phía tây. Nó tiếp tục chuyển dịch về phía tây khi La Mã chinh phục Hy Lạp vào thế kỷ thứ II TCN, và sau khi đế quốc La Mã diệt vong thì quyền lực lại dịch chuyển thêm một lần nữa, về phía tây và phía bắc châu Âu.
Nếu so sánh Lưỡi liềm Phì nhiêu ngày nay với những mô tả về nó vào thời cổ đại, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là nhân tố chính tác động đến những sự chuyển dịch này. Ngày nay, những cách diễn đạt kiểu như “Lưỡi liềm Phì nhiêu” hay “nơi dẫn đầu thế giới về sản xuất lương thực” nghe thật lố bịch. Nhiều khu vực rộng lớn của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu xưa kia nay chỉ là sa mạc, bán sa mạc, thảo nguyên hoặc những địa hình bị xâm thực hay nhiễm mặn nặng nề không thể trồng trọt được. Sự giàu có phù du của một số quốc gia trong khu vực đó ngày nay chỉ dựa trên mỗi tài nguyên dầu mỏ vốn không thể tái tạo được, nó che giấu sự thật rằng khu vực này vốn dĩ nghèo khó kinh niên, khó khăn lắm mới nuôi sống được bản thân mình.
Tuy nhiên, vào thời cổ đại hầu hết vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và khu vực đông Địa Trung Hải bao gồm Hy Lạp phủ kín toàn rừng. Lý do tại sao khu vực này chuyển hóa từ rừng cây phì nhiêu sang đất cằn hay sa mạc đã được các nhà cổ thực vật học và khảo cổ học làm sáng tỏ. Các vùng rừng ngày xưa đã bị phát quang để trồng trọt, bị đốn để lấy gỗ xây dựng, hoặc bị đốt làm củi hay làm vữa. Vì lượng mưa thấp và do đó năng suất ban đầu vốn dĩ đã thấp (tỷ lệ thuận với lượng mưa) nên tốc độ cây mọc lại không theo kịp tốc độ hủy diệt rừng, nhất là khi lại có quá nhiều dê gặm hết [mầm non]. Khi lớp thảm cây cỏ đã bị xóa bỏ, nạn xâm thực diễn ra và các thung lũng bị lắng bùn, trong khi nông nghiệp tưới tiêu trong môi trường ít mưa chỉ dẫn tới sự tích tụ muối. Các quá trình này khởi đầu vào thời Đồ đá mới và vẫn tiếp diễn cho đến thời hiện đại. Chẳng hạn, những cánh rừng cuối cùng gần kinh đô Nabatean cổ đại của xứ Petra ở Jordan ngày nay đã bị người Thổ Ottoman đốn hạ trong quá trình xây dựng tuyến đường sắt Hejaz ngay trước Thế chiến Thứ nhất.
Như vậy, các xã hội ở Lưỡi liềm Phì nhiêu và phía đông Địa Trung Hải đã có cái bất hạnh là phát sinh ở một môi trường nhạy cảm về sinh thái. Chúng đã tự sát về sinh thái khi tiến hành hủy diệt cơ sở tài nguyên của chính mình. Quyền lực cứ thế chuyển dần về phía tây khi các xã hội Địa Trung Hải lần lượt theo nhau tự làm suy yếu chính mình, bắt đầu từ các xã hội cổ nhất, các xã hội ở phía đông (vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu). Phía bắc và phía tây châu Âu không phải chịu số phận đó, chẳng phải vì cư dân vùng này thông minh hơn mà chỉ vì họ có được diễm phúc sống trong một môi trường sung sức hơn, nhiều mưa hơn nên cây cối có thể mọc lại nhanh chóng. Hầu hết miền bắc và miền tây châu Âu vẫn có thể hỗ trợ nông nghiệp thâm canh có năng suất cao ngay cả ở ngày nay, 7.000 năm sau khi nền sản xuất lương thực được du nhập. Hệ quả là châu Âu tiếp thu được cây trồng, vật nuôi, công nghệ và chữ viết từ Lưỡi liềm Phì nhiêu, trong khi Lưỡi liềm Phì nhiêu tự xóa tên mình khỏi [danh sách các] trung tâm chủ chốt về quyền lực và đổi mới.
Lưỡi liềm Phì nhiêu đã đánh mất lợi thế xuất phát to lớn của mình vào tay châu Âu như vậy. Nhưng tại sao Trung Quốc cũng đánh mất lợi thế xuất phát? Việc Trung Quốc tụt hậu thoạt trông có vẻ thật kỳ lạ, bởi Trung Quốc có những ưu thế không bàn cãi: sản xuất lương thực phát sinh ở đây cũng sớm gần như ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, sự đa dạng sinh thái từ bắc Trung Quốc xuống nam Trung Quốc và từ vùng duyên hải cho đến vùng núi cao Tây Tạng làm phát sinh nhiều chủng loại cây trồng, vật nuôi và công nghệ rất khác nhau, diện tích rộng mênh mông và đất đai năng sản có khả năng nuôi sống một dân số khu vực cao nhất trên thế giới, và một môi trường ít khô hơn hoặc ít nhạy cảm về sinh thái hơn so với môi trường của Lưỡi liềm Phì nhiêu, cho phép Trung Quốc mãi đến ngày nay – gần 10.000 năm sau – vẫn có thể duy trì một nền nông nghiệp thâm canh cao sản mặc cho các vấn nạn môi trường đang ngày càng tăng và nghiêm trọng hơn so với ở Tây Âu.
Các ưu thế cùng lợi thế xuất phát đó đã cho phép Trung Quốc thời trung đại dẫn đầu thế giới về công nghệ. Các phát minh công nghệ chính mà Trung Quốc đi đầu kể ra thì rất dài trong đó có gang, la bàn, thuốc súng, giấy, nghề in cùng nhiều thứ khác mà tôi đã nhắc tới trước đây. Vào đầu thế kỷ XV Trung Quốc đã cử những hạm đội tìm châu báu, mỗi đoàn gồm hàng trăm chiếc thuyền dài tới 400 bộ (122 m) và tổng số thủy thủ đoàn lên tới 28.000 người, băng qua Ấn Độ Dương đến tận bờ biển Đông Phi từ hàng mấy thập kỷ trước khi ba con tàu bé tí của Columbus băng qua Đại Tây Dương hẹp hơn nhiều để tới được bờ đông châu Mỹ. Tại sao những con tàu của Trung Quốc đã không vòng qua mũi cực nam châu Phi mà thẳng tiến về phía tây để chiếm châu Âu làm thuộc địa trước khi ba con tàu bé tí của Vasco da Gama vòng quanh Mũi Hảo Vọng để mở màn công cuộc chinh phục Đông Á của người châu Âu? Tại sao những con tàu của Trung Quốc đã không băng qua Thái Bình Dương để chiếm cứ bờ tây châu Mỹ? Nói ngắn gọn, tại sao Trung Quốc đã đánh mất lợi thế xuất phát về công nghệ của mình vào tay châu Âu mà vốn dĩ trước kia lạc hậu đến thế?
Nhìn kết cục của các hạm đội tìm châu báu của Trung Quốc, ta có thể suy ra được vài manh mối. Bảy hạm đội như vậy đã khởi hành từ Trung Quốc trong khoảng từ 1405 đến 1433. Sau đó thì các chuyến đi này bị đình hoãn vì một sai lầm điển hình của giới chính trị Trung Quốc, một sai lầm vốn cũng có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới: sự tranh giành quyền lực giữa hai phe phái trong triều đình Trung Quốc (một bên là các hoạn quan, bên kia là đối thủ của họ). Người ta đồng nhất việc tổ chức và cầm đầu các hạm đội vượt đại dương với phe các hoạn quan. Cho nên, khi phe đối thủ giành được lợi thế trong cuộc tranh giành quyền lực, họ cũng chấm dứt luôn các chuyến đi này, về sau còn phá hủy luôn các xưởng đóng tàu và cấm mọi cuộc hành trình vượt đại dương. Việc làm đó cũng tương tự như những điều luật vốn đã kìm hãm việc trang bị đèn điện công cộng ở London vào thập niên 1880, sự cô lập của Hoa Kỳ trong giai đoạn giữa Thế chiến Thứ nhất với Thế chiến Thứ hai, cũng như rất nhiều những bước thụt lùi khác ở rất nhiều nước khác, tất cả đều bắt nguồn từ những vấn đề chính trị cục bộ. Nhưng ở Trung Quốc thì có khác, bởi toàn bộ khu vực này được thống nhất về chính trị. Chỉ cần một quyết định đó là đủ để chấm dứt hoạt động của mọi hạm đội trên toàn cõi Trung Quốc. Một quyết định nhất thời là đủ trở thành không thể đảo ngược, bởi không một xưởng đóng tàu nào còn tồn tại và tiếp tục đóng tàu đặng chứng minh cho sự ngu xuẩn của cái quyết định nhất thời đó cũng như làm hạt nhân cho sự hồi sinh các xưởng đóng tàu khác.
Giờ ta hãy so sánh các sự kiện đó ở Trung Quốc với những gì đã diễn ra khi các đoàn tàu thám hiểm bắt đầu ra đi từ châu Âu vốn dĩ phân tán về chính trị. Christopher Columbus sinh ra là người Ý nhưng thệ nguyện trung thành với công tước Anjou của Pháp, sau đó thì với nhà vua Bồ Đào Nha. Khi vua Bồ Đào Nha từ chối yêu cầu của ông xin được cấp tàu để thám hiểm về phía tây, Columbus quay sang công tước Medina-Sedonia nhưng ông này cũng khước từ, kế đó sang bá tước Medina-Celi nhưng ông này cũng từ chối nốt, cuối cùng Columbus viện tới vua và hoàng hậu Tây Ban Nha, hai vị này đầu tiên khước từ đề nghị của Columbus nhưng cuối cùng lại ưng thuận. Giá như châu Âu khi đó cũng thống nhất dưới quyền một trong ba vị vua chúa đầu tiên đã nói trên đây thì cuộc chinh phục châu Mỹ hẳn đã chết từ trong trứng nước rồi.
Trên thực tế, chính vì châu Âu phân tán về chính trị mà Columbus đến lần thứ năm thì rốt cuộc cũng thuyết phục được một trong số hàng trăm vị vua chúa của châu Âu đồng ý tài trợ cho ông. Một khi Tây Ban Nha đã mở màn công cuộc chinh phục châu Mỹ, các nhà nước châu Âu khác nhìn thấy bao nhiêu của cải đổ về Tây Ban Nha, thế là lại thêm sáu nhà nước nữa tham gia biến châu Mỹ thành thuộc địa. Chuyện cũng tương tự như vậy đối với đại bác, đèn điện, nghề in, súng và vô số phát minh khác của châu Âu: đầu tiên mỗi phát minh như vậy bị người ta hờ hững hoặc phản đối ở một số vùng của châu Âu vì những lý do riêng, nhưng một khi đã được tiếp thu ở một khu vực thì rốt cuộc chúng cũng bành trướng sang phần còn lại của châu Âu.
Các hệ quả đó của sự phân tán về chính trị ở châu Âu tương phản sâu sắc với hệ quả của sự thống nhất về chính trị ở Trung Quốc. Từ thời này sang thời khác, triều đình Trung Quốc quyết định chấm dứt cả những hoạt động khác chứ không chỉ là thám hiểm vượt đại dương: triều đình đã từ bỏ việc phát triển một cỗ máy xe sợi tinh xảo chạy bằng sức nước, ấy là cả một bước lùi khi Trung Quốc đã đứng trên ngưỡng cửa cách mạng công nghiệp vào thế kỷ XIV, triều đình đã dẹp bỏ hay thậm chí hủy diệt hoàn toàn những chiếc đồng hồ cơ khí sau khi Trung Quốc từng dẫn đầu thế giới về ngành chế tạo đồng hồ, nói chung là khước từ thiết bị cơ giới và công nghệ [mà Trung Quốc từng có được] từ cuối thế kỷ XV. Những hậu quả tai hại tiềm tàng đó của sự thống nhất [về chính trị] lại nổi lên một lần nữa ở Trung Quốc ngày nay, đáng chú ý là trong thời kỳ cuộc Cách mạng Văn hóa điên rồ trong thập niên 1960 và 1970, khi một quyết định của một hay một dúm nhà lãnh đạo là đủ để đóng cửa hệ thống trường học của toàn bộ đất nước trong suốt năm năm.
Cả sự thống nhất thường xuyên của Trung Quốc lẫn sự phân tán trường kỳ của châu Âu đều có lịch sử lâu dài. Những khu vực năng sản nhất của Trung Quốc hiện đại đã được thống nhất về chính trị lần đầu tiên vào năm 221 TCN và hầu như vẫn luôn luôn thống nhất từ đó đến nay. Trung Quốc chỉ có một hệ chữ viết duy nhất ngay từ thuở đầu, một ngôn ngữ thống trị duy nhất trong suốt một thời gian dài, và một sự thống nhất đáng kể về văn hóa trong suốt hai ngàn năm. Ngược lại, châu Âu chưa bao giờ đạt tới sự thống nhất về chính trị: mãi đến thế kỷ 14 nó vẫn còn chia manh mún thành 1.000 nước nhỏ độc lập, đến năm 1500 vẫn còn phân tán thành 500 nước, đến 1980 thì xuống mức tối thiểu còn 25 nước, nhưng lại tăng lên gần 40 nước vào thời điểm tôi viết câu này. Châu Âu có tới 45 ngôn ngữ, mỗi ngôn ngữ dùng một bảng chữ cái được điều chỉnh riêng, đa dạng văn hóa thì lại càng cao hơn nữa. Việc châu Âu ngày nay cứ luôn bất đồng [về nhiều vấn đề] khiến ngay cả những nỗ lực khiêm nhường hầu đạt tới sự thống nhất châu Âu thông qua Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) cũng không hiệu quả chẳng qua chỉ là một triệu chứng của tính phân tán về chính trị vốn đã thâm căn cố đế ở châu Âu.
Do vậy, để thấu hiểu vì sao Trung Quốc đánh mất sự ưu việt về chính trị và công nghệ của mình vào tay châu Âu, chúng ta phải thấu hiểu sự thống nhất vốn ăn sâu bén rễ ở Trung Quốc và sự phân tán vốn ăn sâu bén rễ ở châu Âu. Một lần nữa, lời giải đáp có thể suy ra từ những tấm bản đồ. Châu Âu có bờ biển thụt sâu vào nhiều chỗ, với bốn bán đảo lớn có mức độ biệt lập gần như là những hải đảo, tất cả các bán đảo này đều có ngôn ngữ, nhóm dân tộc và chính phủ độc lập riêng: Hy Lạp, Italia, Iberia, Đan Mạch và Na Uy/Thụy Điển. Bờ biển Trung Quốc thì bằng phẳng hơn nhiều, chỉ có mỗi bán đảo Triều Tiên lân cận là khu vực có tầm quan trọng riêng. Châu Âu có hai hòn đảo (Anh và Ailen) đủ lớn để đòi quyền độc lập chính trị và duy trì ngôn ngữ cũng như nhóm dân tộc riêng, và một trong hai hòn đảo đó (Anh quốc) đủ lớn và đủ gần nội địa để trở thành một cường quốc độc lập chủ chốt ở châu Âu. Trong khi đó thì ngay cả hai hòn đảo lớn nhất của Trung Quốc là Đài Loan và Hải Nam mỗi hòn chỉ chưa bằng một nửa diện tích Ailen, không một đảo nào trong đó từng là một đế quốc độc lập chủ chốt cho mãi tới khi Đài Loan trỗi dậy trong những thập kỷ gần đây nhất; và sự biệt lập về địa lý của Nhật Bản khiến cho nước này đối với nội địa châu Á là biệt lập hơn nhiều về chính trị so với nước Anh trong tương quan với nội địa châu Âu. Châu Âu bị cắt xẻ thành nhiều đơn vị ngôn ngữ, dân tộc và chính trị độc lập bởi các dãy núi cao (Alpes, Pyrenees, Cácpát và các dãy núi vùng biên giới Na Uy), trong khi ở Trung Quốc núi non tập trung ở cao nguyên Tây Tạng và chỉ là một rào cản ít đáng sợ hơn nhiều. Vùng trung tâm Trung Quốc được nối liền từ đông sang tây bởi hai hệ thống sông dễ đi lại chảy qua những thung lũng giàu phù sa (sông Dương Tử và sông Hoàng Hà), lại được nối kết từ bắc xuống nam cũng dễ dàng như vậy cũng nhờ hai hệ thống sông này (về sau được nối với nhau bằng những kênh đào). Hệ quả là Trung Quốc từ rất sớm đã bị chi phối bởi hai khu vực địa lý then chốt có [nền sản xuất lương thực] năng suất cao, hai khu vực này không cách biệt nhau nhiều lắm và cuối cùng hợp nhất thành một khu vực duy nhất. Hai dòng sông lớn nhất của châu Âu – Rhine và Danube – thì nhỏ hơn và chỉ kết nối một phần không lớn của châu Âu. Khác với Trung Quốc, châu Âu có nhiều khu vực then chốt nhỏ rải rác nơi này nơi khác, không một khu vực nào trong số đó đủ lớn để chi phối các khu vực khác trong thời gian dài, và mỗi khu vực là trung tâm của những nhà nước thường là độc lập [trong quá trình lịch sử].
Từ khi Trung Quốc được thống nhất vào năm 221 TCN, không một nhà nước độc lập nào khác còn có cơ hội phát sinh và tồn tại lâu dài ở Trung Quốc nữa. Mặc dù cũng có một số thời kỳ phân liệt sau năm 221 TCN, nhưng rốt cuộc Trung Quốc vẫn được tái thống nhất. Nhưng sự thống nhất châu Âu thì chưa bao giờ đạt được dù các nhà chinh phục như Charlemagne, Napoleon hay Hitler có quyết tâm và nỗ lực đến thế nào đi nữa; ngay cả Đế quốc La Mã vào thời cực thịnh cũng chẳng bao giờ kiểm soát được quá nửa diện tích châu Âu.
So sánh bờ biển Trung Quốc với bờ biển châu Âu, vẽ theo cùng một tỷ lệ. Lưu ý rằng so với bờ biển Trung Quốc, bờ biển châu Âu có nhiều vùng lõm sâu hơn, có nhiều bán đảo lớn hơn và có hai hòn đảo lớn.
Như vậy, nhờ sự gắn kết và có ít rào cản về địa lý mà Trung Quốc đã có được lợi thế ban đầu. Bắc Trung Quốc, Nam Trung Quốc, vùng duyên hải Trung Quốc và nội địa Trung Quốc, mỗi nơi đóng góp những cây trồng, vật nuôi, công nghệ và nét văn hóa riêng vào nước Trung Hoa thống nhất. Chẳng hạn, nghề trồng kê, kỹ thuật luyện đồng và chữ viết phát sinh ở Bắc Trung Quốc, trong khi nghề trồng lúa và kỹ nghệ luyện gang thì ra đời ở Nam Trung Quốc. Trong hầu hết cuốn sách này tôi luôn nhấn mạnh, nếu không có những rào cản đáng sợ thì công nghệ có thể phát tán dễ dàng. Nhưng sự gắn kết của Trung Quốc cuối cùng lại trở thành điều bất lợi, bởi chỉ cần một quyết định của một kẻ chuyên quyền là đủ để chặn đứng sự cách tân, mà chuyện đó xảy ra không chỉ một lần. Ngược lại, sự chia cắt về địa lý của châu Âu dẫn đến việc hình thành hàng trăm nhà nước nhỏ độc lập và hàng trăm trung tâm đổi mới cạnh tranh với nhau. Nếu nước này không theo đuổi một phát minh nào đó thì sẽ có nước khác theo đuổi, buộc các nước láng giềng phải làm theo, nếu không thì sẽ bị chinh phục hay tụt hậu về kinh tế. Những rào cản của châu Âu đủ để ngăn cản sự thống nhất về chính trị, nhưng lại không đủ để ngăn cản sự bành trướng các công nghệ và ý tưởng. Chưa từng có kẻ chuyên quyền nào có thể chặn đứng mọi [con đường phát triển] trên toàn bộ châu Âu như ở Trung Quốc.
So sánh như vậy để thấy rằng sự nối kết về địa lý đã gây ra những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với sự tiến hóa của công nghệ. Hệ quả là, về lâu dài, công nghệ có thể phát triển nhanh nhất ở những khu vực nào có mức độ nối kết trung bình, không quá cao cũng không quá thấp. Diễn trình phát triển của công nghệ trong 1.000 năm qua ở Trung Quốc, châu Âu và tiểu lục địa Ấn Độ là tiêu biểu cho hệ quả của mức độ nối kết cao, trung bình và thấp ở lần lượt từng lục địa nói trên.
Lẽ dĩ nhiên, còn có những nhân tố khác góp phần làm tiến trình lịch sử ở mỗi khu vực của Âu-Á diễn ra một khác. Chẳng hạn, Lưỡi liềm Phì nhiêu, Trung Quốc và châu Âu khác nhau ở mức độ bị đe dọa thường xuyên bởi những cuộc xâm lăng man dã của các dân tộc du mục cưỡi ngựa ở vùng Trung Á. Một trong các nhóm du mục đó (người Mông Cổ) cuối cùng đã hủy diệt các hệ thống tưới tiêu từ thời cổ đại của Iran và Iraq, song không một nhóm du mục châu Á nào như vậy từng đi xa hơn được vùng đồng bằng Hungary để tiến sâu vào các khu rừng ở Tây Âu. Các nhân tố môi trường khác còn là vị trí địa lý mang tính trung gian của Lưỡi liềm Phì nhiêu, giúp khu vực này có thể kiểm soát các con đường giao thương nối liền Trung Quốc và Ấn Độ với châu Âu, cũng như vị trí tương đối xa của Trung Quốc so với các nền văn minh tiên tiến khác của Âu-Á, khiến cho Trung Quốc gần như trở thành một ốc đảo riêng biệt khổng lồ bên trong một lục địa. Vị trí tương đối biệt lập của Trung Quốc đặc biệt có liên quan đến việc Trung Quốc ban đầu tiếp thu các công nghệ nhưng rồi lại từ bỏ chúng, rất giống trường hợp Tasmania và các hòn đảo khác (Chương 13 và 15). Song những gì được bàn ngắn gọn trên đây ít nhất cũng có thể chỉ ra rằng các nhân tố môi trường có liên quan đến những mẫu hình lịch sử ở quy mô nhỏ và trong thời hạn ngắn, cũng như những mẫu hình chung nhất của lịch sử.
Lịch sử của Lưỡi liềm Phì nhiêu và lịch sử Trung Quốc cũng cho ta một bài học bổ ích cho thế giới ngày nay: hoàn cảnh đã đổi thay, ngày xưa ta ưu việt nhất, nhưng điều đó không bảo đảm rằng trong tương lai ta vẫn ưu việt nhất. Thậm chí người ta có thể tự hỏi biết đâu cách lập luận dựa trên các nhân tố địa lý được sử dụng trong toàn bộ sách này rốt cuộc lại hoàn toàn chẳng áp dụng được cho thế giới hiện đại, bởi ngày nay ý tưởng có thể được truyền bá khắp thế giới một cách tức thì qua Internet còn hàng hóa thì được chuyên chở bằng máy bay từ lục địa này qua lục địa khác trong vòng có một đêm. Hình như trong thế giới ngày nay có những quy luật hoàn toàn mới áp dụng cho sự cạnh tranh giữa các dân tộc, mà hệ quả là sự trỗi dậy của những thế lực mới như Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia và đặc biệt là Nhật Bản.
Tuy nhiên, nghĩ kỹ lại, ta sẽ thấy rằng những quy luật tưởng như mới đó chẳng qua chỉ là những biến thể của các quy luật cũ mà thôi. Phải, transistor, vốn được phát minh ở Phòng Thí nghiệm Bell tại miền đông Hoa Kỳ vào năm 1947, đã làm một cú nhảy xa 8.000 dặm (12.800 km, ND) làm khai sinh nền công nghiệp điện tử của Nhật Bản, song có những xứ gần Hoa Kỳ hơn nhiều so với Nhật Bản chẳng hạn như Zaire hay Paraguay mà tại sao transistor không nhảy tới đó để khai sinh nền công nghiệp nào tương tự? Những nước đang nổi lên vị trí cường quốc mới hiện nay cũng chính là những nước mà tự hàng ngàn năm trước đã là bộ phận của các trung tâm thống trị cũ dựa trên sản xuất lương thực, không thì cũng là những nước mà cư dân bản địa đã bị các dân tộc xuất phát từ các trung tâm đó di cư đến chiếm chỗ. Khác với Zaire hay Paraguay, Nhật Bản và các thế lực mới khác đã có khả năng khai thác transistor một cách nhanh chóng bởi cư dân của họ vốn đã trải qua một lịch sử lâu dài có chữ viết, có nghề cơ khí kim loại và chính phủ tập trung hóa. Hai trung tâm sản xuất lương thực xưa nhất trên thế giới – vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc – ngày nay vẫn thống trị thế giới hiện đại, hoặc thông qua các nước vốn là hậu duệ trực tiếp của chúng (Trung Quốc hiện đại) hoặc thông qua những nước nằm tại các khu vực láng giềng vốn chịu ảnh hưởng của hai trung tâm đó ngay từ sớm (Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và châu Âu), hoặc thông qua những nước do các dân tộc từ những trung tâm đó đến định cư hay thống trị (Hoa Kỳ, Australia, Brazil). Triển vọng để người châu Phi hạ Sahara, người Australia bản địa và người châu Mỹ bản địa vươn lên vị trí thống trị thế giới vẫn còn xa vời. Bàn tay của diễn trình lịch sử từ 8.000 năm TCN vẫn đang đè nặng lên chúng ta.
Trong số các nhân tố khác liên quan đến việc trả lời câu hỏi của Yali, các nhân tố văn hóa và ảnh hưởng của các cá nhân đóng vai trò quan trọng. Trước hết, nếu nói về nhân tố văn hóa thì những nét đặc thù văn hóa của loài người khác nhau rất nhiều từ nơi này sang nơi khác trên thế giới. Một số sự biến đổi về văn hóa đó chắc chắn là sản phẩm của sự biến đổi về môi trường, và tôi đã bàn nhiều ví dụ về điều đó trong cuốn sách này. Nhưng có một câu hỏi hệ trọng liên quan đến tầm quan trọng khả dĩ của các nhân tố văn hóa địa phương mà không liên quan gì đến môi trường. Một nét văn hóa nho nhỏ nào đó có thể phát sinh vì những nguyên nhân nhỏ nhặt, nhất thời có tính địa phương, nhưng rồi nó trở thành cố định, khiến cho cả một xã hội nghiêng về những lựa chọn quan trọng hơn về văn hóa, như việc ứng dụng lý thuyết hỗn độn vào những lĩnh vực khoa học khác đã gợi ý cho chúng ta. Những quá trình văn hóa như vậy nằm trong số những nhân tố khôn lường khiến cho lịch sử trở thành không thể tiên đoán được.
Ở Chương 13 tôi đã kể đến một ví dụ là chiếc bàn phím QWERTY dành cho người đánh máy. Ban đầu nó đã chọn để được áp dụng trong số nhiều kiểu bàn phím, vì những lý do cụ thể [mà thực chất là] nhỏ nhặt trong đó có ngành sản xuất máy chữ ban đầu tại Hoa Kỳ vào thập niên 1860, nghệ thuật bán máy chữ, một quyết định vào năm 1882 của một Cô Longley (Ms Longley) nào đó, người sáng lập Viện Tốc ký và Đánh máy tại Cincinnati, và thành công của học trò cưng lớp đánh máy của Cô Longley là Frank McGurrin, người đã đánh bại hoàn toàn Louis Taub, đối thủ trong một cuộc so tài đánh máy được công bố rộng rãi vào năm 1888 mà ở đó Taub không sử dụng bàn phím QWERTY. Lẽ ra người ta đã có thể quyết định chuyển sang dùng bất cứ loại bàn phím nào khác vào bất cứ thời điểm nào trong khoảng từ thập niên 1860 đến thập niên 1880; chẳng hề có nhân tố môi trường nào ở Hoa Kỳ tác động khiến cho bàn phím QWERTY được chuộng hơn các bàn phím khác. Thế nhưng, khi người ta đã quyết định rồi thì bàn phím QWERTY trở thành ăn sâu bén rễ đến mức một thế kỷ sau nó vẫn được dùng cho bàn phím máy vi tính. Cũng những lý do nhỏ nhặt tầm thường như vậy, mà nay đã chìm khuất trong quá khứ xa xôi, ắt hẳn đã tác động tới việc người Sumer quyết định dùng hệ đếm 12 thay cho hệ đếm thập phân (dẫn đến ngày nay chúng ta vẫn áp dụng các hệ thống một giờ gồm 60 phút, một ngày gồm 24 giờ, một năm gồm 12 tháng và vòng tròn với 360 độ), tương phản với hệ đếm dựa trên cơ số 20 ở nền văn minh Trung Mỹ (dẫn đến lịch của Trung Mỹ dùng hai chu kỳ song song, một chu kỳ gồm 360 ngày có đặt tên và một chu kỳ gồm 365 ngày).
Các chi tiết kiểu dáng máy chữ, đồng hồ và lịch như đã nói trên đây không ảnh hưởng đến sự thành công của các xã hội áp dụng những phát minh đó. Nhưng có thể dễ dàng hình dung rằng lẽ ra chúng đã có thể ảnh hưởng đến thế nào. Chẳng hạn, giá như bàn phím QWERTY của Hoa Kỳ đã không được áp dụng ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới – giả sử là, nếu Nhật Bản hay châu Âu đã áp dụng bàn phím Dvorak vốn hữu hiệu hơn nhiều – thì cái quyết định cỏn con đó vào thế kỷ XIX ắt đã có những hậu quả lớn lao đối với vị trí cạnh tranh của công nghệ Hoa Kỳ vào thế kỷ XX.
Tương tự, một nghiên cứu tiến hành ở trẻ em Trung Quốc cho thấy nếu được dạy bằng tiếng Trung Quốc phiên âm ra chữ cái (gọi là phiên âm pinyin) thì chúng học nhanh hơn so với học bằng chữ Trung Quốc truyền thống với hàng ngàn chữ tượng hình. Người ta từng cho rằng chữ tượng hình Trung Quốc ra đời là bởi nó rất tiện để phân biệt các từ trong tiếng Trung Quốc vốn rất nhiều từ đồng âm dị nghĩa. Nếu quả thật vậy thì việc tiếng Trung Quốc có quá nhiều từ đồng âm dị nghĩa có thể đã tác động đến vai trò của chữ viết trong xã hội Trung Quốc, song cũng khó mà nói rằng có một nhân tố nào đó trong môi trường của Trung Quốc ảnh hưởng đến việc tiếng Trung Quốc có nhiều từ đồng âm dị nghĩa. Phải chăng có một nhân tố ngôn ngữ hoặc văn hóa nào đó đã dẫn đến việc các nền văn minh phức tạp ở vùng Andes không phát minh được chữ viết, một thất bại mà nếu không phải vì lý do đó thì thật là khó hiểu? Phải chăng có một nhân tố nào đó trong môi trường Ấn Độ khiến nước này lựa chọn chế độ xã hội-kinh tế dựa trên sự phân biệt hà khắc về đẳng cấp, điều đã gây nên hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển công nghệ ở Ấn Độ? Phải chăng có gì đó trong môi trường Trung Quốc khiến nước này lựa chọn triết học Khổng giáo và chủ nghĩa bảo thủ về văn hóa, điều cũng đã gây tác động sâu xa đến lịch sử? Tại sao các tôn giáo có xu hướng cải đạo người khác (đạo Thiên chúa và đạo Hồi) đã là động lực cho sự thực dân hóa và chinh phục giữa người châu Âu với người Tây Á, nhưng lại không phải là động lực tương tự giữa người Trung Quốc với nhau?
Các ví dụ đó cho ta thấy có rất nhiều câu hỏi liên quan đến những đặc thù văn hóa vốn không liên quan gì đến môi trường và thoạt tiên chẳng lấy gì làm quan trọng, nhưng cuối cùng lại có thể tiến hóa thành những đặc tính văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ và trường tồn. Tầm quan trọng của các đặc thù văn hóa đó là một câu hỏi quan trọng chưa có lời giải đáp. Tốt nhất, ta nên tiếp cận câu hỏi đó bằng cách tập trung chú ý vào những mẫu hình lịch sử nào vẫn còn nhiều khó hiểu sau khi ta đã tính đến tác động của tất cả các nhân tố môi trường chính.
Thế còn tác động của các cá nhân có tính cách khác thường, đặc biệt thì sao? Một ví dụ khá nhiều người biết ở thời hiện đại là trường hợp âm mưu ám sát Hitler đồng thời nổi loạn ở Berlin vào ngày 20 tháng 7 năm 1944 nhưng rồi đã thất bại trong gang tấc. Cả hai kế hoạch này là mưu đồ của một số người Đức, những kẻ tin chắc rằng nước Đức sẽ không thể thắng trong cuộc chiến này và muốn tìm kiếm hòa bình, vào thời điểm khi mặt trận phía đông giữa người Đức với người Nga vẫn còn nằm chủ yếu bên trong biên giới nước Nga. Hitler bị thương vì một quả bom hẹn giờ cài trong một chiếc cặp đặt dưới một chiếc bàn trong phòng họp; giá như chiếc cặp được đặt gần ghế Hitler ngồi một chút thì lẽ ra ông ta đã chết. Giá như Hitler chết và Thế chiến Thứ hai đã chấm dứt ngay từ lúc đó thì bản đồ Đông Âu và diễn biến cuộc Chiến tranh Lạnh của thế giới ngày nay hẳn đã khác đi rất nhiều.
Một sự kiện khác ít người biết hơn nhưng lại còn có tính định mệnh hơn thế nữa là một tai nạn giao thông vào mùa hè năm 1930, hơn hai năm trước khi Hitler giành được chính quyền ở Đức, khi chiếc ôtô mà trong đó ông ta đang ngồi ở “ghế tử thần” (ghế hành khách phía trước bên phải, cạnh tài xế) đâm vào một chiếc xe tải nặng. Chiếc xe tải chỉ kịp phanh lại vừa đủ để không cán lên xe của Hitler mà nghiền nát ông ta. Tâm tính khác thường mang tính bệnh lý của Hitler có tầm quan trọng quyết định đối với chính sách và sự thành công của Đức quốc xã, thành thử nếu tay tài xế xe tải kia nhấn phanh chậm hơn chỉ một giây thôi thì hình thái của cuộc Thế chiến Thứ hai có lẽ đã khác đi nhiều lắm.
Ta có thể nghĩ đến những cá nhân khác mà tính cách khác thường của họ dường như đã ảnh hưởng đến lịch sử giống như tính cách khác thường của Hitler: Alexander Đại đế, Augustus, Phật Thích ca, Chúa Jesus, Martin Luther, Pachacuti hoàng đế Inca, Mohammed, William Nhà Chinh phục, và Shaka vua của người Zulu, ấy là chỉ mới kể một số ít. Mỗi người trong số họ đã thực sự làm thay đổi các sự kiện đến mức độ nào, chứ không phải “chỉ” tình cờ là người thích hợp nhất được đặt vào đúng vị trí nhất vào đúng thời điểm nhất? Nằm ở một thái cực là quan điểm của nhà sử học Thomas Carlyle: “Lịch sử phổ quát, cái lịch sử của những gì con người [viết thường, ND] thành tựu được trên thế giới này, chỉ nằm ở dưới đáy cái Lịch sử [viết hoa, ND] của những Vĩ Nhân [viết hoa, ND] đã từng hoạt động nơi đây”. Ở cực đối lập là quan điểm của nhà chính khách Phổ Otto von Bismarck, kẻ mà, khác với Carlyle, từng có kinh nghiệm dạn dày về những cơ chế vận hành nội tại của chính trị: “Nhiệm vụ của nhà chính khách là lắng nghe tiếng chân Thượng Đế [khi Người] bước ngang qua lịch sử và cố sao túm được đuôi áo Người khi Người bước ngang qua”.
Cũng như những nét đặc thù về văn hóa, tính cách khác thường của các cá nhân là những nhân tố khôn lường làm xoay chuyển tiến trình lịch sử. Chúng khiến cho lịch sử đâm ra không thể nào lý giải nếu ta chỉ tính tới các nhân tố môi trường hoặc thật ra là nếu chỉ tính tới bất kỳ nguyên nhân nào có thể khái quát hóa. Tuy nhiên, vì mục đích của cuốn sách này thì các nhân tố đó không liên quan cho lắm, bởi ngay cả kẻ bảo vệ lý thuyết Vĩ Nhân hăng hái nhất đi chăng nữa cũng khó lòng nói được rằng mẫu hình lớn nhất của lịch sử chỉ được quyết định chỉ bởi dăm ba Vĩ Nhân mà thôi. Có thể Alexander Đại đế quả thật đã thúc đẩy đôi chút tiến trình lịch sử của miền tây Âu-Á vốn đã có những nhà nước có chữ viết, sản xuất lương thực và có công cụ bằng sắt, nhưng ngài chẳng có liên quan gì đến chuyện trong khi miền tây Âu-Á hội đủ điều kiện để ra đời những nhà nước có chữ viết, sản xuất lương thực và công cụ bằng sắt thì cùng lúc đó Australia vẫn chỉ nuôi sống được những bộ lạc săn bắt hái lượm không có chữ viết cũng chẳng có công cụ bằng kim loại. Dẫu vậy, các cá nhân phi thường thực ra có tác động sâu rộng và lâu dài đến mức nào đến lịch sử, đó vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp.
Khoa lịch sử thường không được coi là khoa học mà gần với một ngành nhân văn hơn. Giỏi lắm thì lịch sử cũng chỉ được xếp làm một trong các ngành khoa học xã hội, nhưng là ngành ít mang tính khoa học nhất. Trong khi lĩnh vực chính quyền thường được gọi là “khoa học chính trị” còn giải Nobel về kinh tế thì liên quan đến “khoa học kinh tế”, các Ban lịch sử [ở trường đại học] chẳng mấy khi tự gọi mình là “Ban Khoa học lịch sử”. Nhiều sử gia không tự xem mình là nhà khoa học và ít được đào tạo về các ngành khoa học đã được thừa nhận cũng như các phương pháp luận của những ngành này. Từ “lịch sử” chẳng có nghĩa gì khác hơn là một mớ chi tiết được diễn đạt bằng nhiều cách ngôn như: “Lịch sử chẳng qua là một sự kiện này tiếp theo sự kiện kia», “Lịch sử không ít thì nhiều chỉ là chuyện tầm phào”, “Lịch sử chẳng hề có quy luật nào hơn ngoài quy luật kính vạn hoa”, vân vân.
Người ta không thể phủ nhận rằng, rút ra được những nguyên lý chung từ việc nghiên cứu lịch sử là việc khó hơn nhiều so với từ việc nghiên cứu quỹ đạo các hành tinh. Tuy nhiên, những khó khăn đó theo tôi không phải chỉ riêng ngành lịch sử mới có. Những ngành lịch sử khác vốn từ lâu đã được xếp vào hàng các khoa học tự nhiên như thiên văn học, khí hậu học, sinh thái học, sinh học tiến hóa, địa chất học và cổ sinh vật học cũng chẳng phải là không có những khó khăn tương tự. Song, thật không may, cách nhìn của người ta về ngành lịch sử lại thường dựa trên vật lý học và một vài khoa học khác có phương pháp luận tương tự khoa vật lý. Các nhà khoa học thuộc các ngành này thường có khuynh hướng coi khinh vô lối đối với những ngành mà ở đó các phương pháp luận này không áp dụng được mà phải đi tìm những phương pháp luận khác, chẳng hạn như lĩnh vực nghiên cứu của bản thân tôi là sinh thái học và sinh học tiến hóa. Nhưng ta hãy nhớ lại rằng bản thân từ science (khoa học) vốn có nghĩa là “tri thức” (từ chữ Latinh scire nghĩa là “biết” và scientia nghĩa là “tri thức”), cái tri thức mà người ta đạt được bằng bất cứ phương pháp nào phù hợp nhất với từng lĩnh vực cụ thể. Do vậy mà tôi rất thông cảm với các sinh viên học ngành lịch sử nhân loại, thông cảm với những khó khăn mà các em phải đương đầu.
Các khoa học lịch sử theo nghĩa rộng (kể cả thiên văn học và các ngành tương tự) có nhiều đặc tính chung khiến chúng khác biệt với các ngành khoa học phi lịch sử như vật lý học, hóa học và sinh học phân tử. Tôi xin nêu ra bốn đặc tính như vậy: phương pháp luận, tính nhân quả, tính tiên đoán và tính phức tạp.
Trong vật lý học, phương pháp chính để thu nhận tri thức là thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, trong đó người ta điều khiển thông số cần được nghiên cứu, tiến hành những thí nghiệm song song để đối chứng mà trong đó thông số này được giữ không đổi, giữ nguyên không đổi từ đầu đến cuối các thông số khác, lặp lại cả thí nghiệm chính và thí nghiệm đối chứng, sau đó thu được dữ liệu định lượng. Phương pháp này, vốn cũng áp dụng tốt với hóa học và sinh học phân tử, thường được đồng nhất với khoa học trong cách nghĩ của nhiều người, khiến người ta thường cho rằng thực nghiệm chính là bản chất của khoa học. Thế nhưng, rõ ràng là thực nghiệm trong phòng thí nghiệm chỉ có thể đóng vai trò nhỏ nhoi hay thậm chí chẳng có vai trò gì đối với nhiều ngành khoa học lịch sử. Người ta không thể dừng các thiên hà lại, không thể tùy ý khởi đầu những trận bão táp hoặc thời kỳ Băng hà rồi lại cho ngưng, không thể thử tiêu diệt hết gấu xám trong vài công viên quốc gia vì mục đích nghiên cứu, hoặc không thể cho diễn lại quá trình tiến hóa của khủng long. Thay vì vậy, trong các ngành khoa học lịch sử này người ta phải thu thập tri thức bằng những phương tiện khác, chẳng hạn như quan sát, so sánh, và cái gọi là thực nghiệm tự nhiên (lát nữa tôi sẽ quay lại điểm này).
Các khoa học lịch sử liên quan đến những chuỗi nhân quả trực tiếp và nhân quả tối hậu. Trong hầu hết vật lý học và hóa học, những khái niệm như “nguyên nhân tối hậu”, “mục đích” và “chức năng” là vô nghĩa, thế nhưng chính các khái niệm đó là tối quan trọng nếu ta muốn thấu hiểu các hệ sống nói chung và hoạt động của con người nói riêng. Chẳng hạn, nếu nghiên cứu loài thỏ hoang Bắc cực mà lông chuyển từ màu nâu vào mùa hè sang màu trắng vào mùa đông, nhà sinh học tiến hóa không thể thỏa mãn với việc xác định nguyên nhân trực tiếp khá ư xoàng xĩnh rằng lông thỏ sở dĩ đổi màu là do cấu trúc phân tử của sắc tố và những phương thức tổng hợp sinh học. Ông ta cần phải đào sâu nghiên cứu những câu hỏi quan trọng hơn, về chức năng của việc đổi màu lông (để ngụy trang trước các loài thú dữ?) và nguyên nhân tối hậu của việc đổi màu lông (có phải là sự chọn lọc tự nhiên khởi đầu từ một quần thể thỏ tổ tiên vốn dĩ không đổi màu lông theo mùa?) Tương tự, một sử gia nghiên cứu lịch sử châu Âu không thể hài lòng với việc mô tả tình trạng của châu Âu vào cả năm 1815 lẫn năm 1918 như là vừa đạt được hòa bình sau một chiến tranh toàn châu lục hao người tốn của. Có hiểu được những chuỗi sự kiện tương phản đã dẫn tới việc ký kết hai hiệp ước hòa bình vào hai năm đó thì [sử gia] mới hiểu được tại sao chỉ trong vòng vài thập kỷ sau cuộc chiến năm 1918 lại đã bùng ra một cuộc chiến toàn châu Âu còn hao người tốn của hơn nhiều, nhưng vài thập kỷ sau năm 1815 thì không có cuộc chiến nào như thế. Nhưng các nhà hóa học thì không cần phải gán một mục đích hay một chức năng nào đối với sự va chạm giữa hai phân tử khí, cũng chẳng phải đi tìm nguyên nhân tối hậu cho cuộc va chạm đó.
Một khác biệt khác nữa giữa các khoa học lịch sử với các khoa học phi lịch sử là tính tiên đoán. Trong hóa học và vật lý, để trắc nghiệm xem ai đó có thấu hiểu một hệ hay không thì chỉ cần xem liệu người đó có thể tiên đoán được hành trạng tương lai của hệ đó hay không. Một lần nữa, nhà vật lý lại có xu hướng xem thường sinh học tiến hóa và lịch sử bởi các khoa đó có vẻ như không qua được bài sát hạch này. Trong các khoa học lịch sử, người ta có thể đưa ra những lý giải khi mọi sự đã rồi (chẳng hạn vì sao một tiểu hành tinh chạm vào Trái đất từ 66 triệu năm trước có thể đã tận diệt loài khủng long nhưng nhiều loài khác thì không), nhưng để tiên đoán tương lai thì khó hơn (chúng ta không thể biết chắc những loài nào sẽ bị đưa đến diệt chủng nếu không có những sự kiện có thật trong quá khứ hầu dẫn dắt chúng ta). Tuy nhiên, các sử gia và nhà khoa học lịch sử vẫn tiên đoán, và kiểm chứng các tiên đoán đó, xem những dữ liệu được phát hiện trong tương lai sẽ soi sáng cho ta những gì về các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ.
Những thuộc tính của các hệ thống lịch sử mà làm cho nỗ lực tiên đoán đâm ra khó khăn có thể được mô tả theo nhiều cách. Có thể chỉ ra rằng các xã hội loài người và loài khủng long [là những hệ] cực kỳ phức tạp, mỗi bên đều có đặc thù là một lượng rất lớn các biến tố độc lập mà các biến tố này hô ứng lẫn nhau. Hệ quả là, những thay đổi nhỏ ở bậc thấp của tổ chức cũng có thể dẫn tới những thay đổi to lớn ở bậc cao hơn của tổ chức. Một ví dụ tiêu biểu là phản xạ phanh gấp của một tài xế xe tải, trong vụ tai nạn suýt nữa khiến Hitler mất mạng vào năm 1930, đã gây ra hiệu quả thế nào đối sinh mạng hàng trăm triệu con người bị giết chết hoặc bị thương trong Thế chiến Thứ hai. Mặc dù hầu hết các nhà sinh học đồng ý rằng, xét cho cùng, các hệ sinh học hoàn toàn được xác định bởi các thuộc tính vật lý của chúng và tuân theo các quy luật của cơ học lượng tử, song xét về mục đích thực tiễn thì tính phức tạp của hệ sinh học khiến cho tính nhân quả kiểu quyết định luận này không nhất thiết dẫn đến việc có thể tiên đoán trước về [hành trạng của] hệ thống. Tri thức về cơ học lượng tử chẳng giúp ai hiểu được tại sao các loài ăn thịt có vú được du nhập vào Australia đã tiêu diệt quá nhiều loài có túi ở lục địa này đến như vậy, hoặc tại sao chính phe Đồng minh chứ không phải phe Trung tâm đã thắng trong Thế chiến Thứ nhất.
Mỗi dòng sông băng, thiên hà, cơn bão, xã hội loài người và loài sinh học, thậm chí mỗi cá thể và mỗi tế bào của một loài có khả năng sinh sản bằng tính dục, đều là một [thực thể] có một không hai, bởi nó chịu ảnh hưởng của quá nhiều biến tố và được tạo thành bởi quá nhiều bộ phận có thể biến thiên. Ngược lại, với bất cứ hạt cơ bản và đồng vị nào của nhà vật lý hay bất cứ phân tử nào của nhà hóa học thì mọi cá thể của thực thể đều đồng nhất với nhau. Vì vậy các nhà vật lý và nhà hóa học có thể đề ra những quy luật có tính quyết định luận và phổ quát ở cấp độ vĩ mô, song các nhà sinh học và nhà sử học thì chỉ có thể đề ra những xu hướng có tính thống kê. Tôi có thể tiên đoán với xác suất đúng rất cao rằng trong số 1.000 trẻ sơ sinh chào đời sắp tới ở Trung tâm Y tế của Đại học California nơi tôi làm việc sẽ có không dưới 480 hoặc không quá 520 trẻ là trai. Thế nhưng tôi chẳng có cách nào biết trước được hai đứa con của chính mình liệu có phải là trai không. Tương tự, các sử gia nhận xét rằng các xã hội bộ lạc có thể có nhiều khả năng trở thành tù trưởng quốc hơn nếu quần thể cư dân ở đó đủ đông và mật độ đủ dày và nếu có tiềm năng sản xuất ra lương thực dự trữ, nếu không thì sẽ khó hơn. Nhưng mỗi một quần thể địa phương như vậy lại có những nét đặc thù vô song của riêng mình, hệ quả là đã có những tù trưởng quốc ra đời ở vùng cao nguyên Mexico, Guatemala, Peru và Madagascar nhưng ở cao nguyên New Guinea hay Guadalcanal thì không.
Lại còn một cách khác nữa để mô tả tính phức tạp và bất khả tiên đoán của các hệ lịch sử mặc dù xét đến cùng thì chúng vẫn có tính quyết định luận, ấy là nhận xét rằng những chuỗi nhân quả kéo dài có thể khiến cho kết quả sau cùng bị tách biệt hẳn khỏi nguyên nhân tối hậu vốn nằm ngoài lĩnh vực của ngành khoa học đó. Chẳng hạn, khủng long có thể đã bị tuyệt chủng do tác động của một tiểu hành tinh mà quỹ đạo của nó hoàn toàn được xác định bởi các định luật của cơ học cổ điển. Song, nếu như từng có nhà cổ sinh vật học nào sống vào 67 triệu năm trước, họ cũng chẳng thể tiên đoán được rằng loài khủng long sắp bị tiêu diệt tới nơi, bởi các tiểu hành tinh thuộc về một lĩnh vực khoa học mà giá trong hoàn cảnh khác thì rất xa lạ so với ngành sinh học khủng long. Tương tự, thời kỳ Tiểu Băng hà từ năm 1300 đến năm 1500 đã góp phần khiến người Norse ở Greenland tuyệt chủng, nhưng không một sử gia nào, thậm chí có thể không một nhà khí hậu học hiện đại nào có thể tiên đoán được rằng sẽ có một thời kỳ Tiểu Băng hà.
Như vậy, những khó khăn mà các nhà sử học phải đương đầu khi thiết lập những quan hệ nhân quả trong lịch sử các xã hội loài người là rất giống với những khó khăn mà các nhà thiên văn học, khí hậu học, sinh thái học, sinh học tiến hóa, địa chất học và cổ sinh vật học phải đương đầu. Ở nhiều mức độ khác nhau, mỗi ngành trong các ngành vừa kể đều gặp khó khăn bởi không thể tiến hành những sự can thiệp có kiểm soát nhằm mục đích thử nghiệm, bởi sự phức tạp do có quá nhiều yếu tố biến thiên và do đó là tính đặc thù độc nhất vô nhị của mỗi hệ, cũng từ đó mà không thể đề ra những quy luật phổ quát, và khó khăn trong việc tiên đoán các thuộc tính mới xuất hiện và hành trạng tương lai của hệ. Việc tiên đoán trong ngành lịch sử, cũng như trong các khoa học lịch sử khác, là khả thi hơn cả đối với những phạm vi không gian lớn và quãng thời gian dài, bởi khi đó thì những tính chất đặc thù của hàng triệu sự kiện nhỏ lẻ trở nên bị cào bằng. Cũng như tôi có thể tiên đoán tỷ lệ giới tính của 1.000 trẻ sơ sinh sắp chào đời nhưng giới tính của chính hai đứa con mình thì chẳng tiên đoán được, sử gia có thể nhận ra những nhân tố khiến cho cuộc xung đột giữa các xã hội châu Mỹ và xã hội ÂuÁ sau 13.000 năm phát triển riêng rẽ tất yếu phải dẫn đến hậu quả chung như ta thấy ngày nay, song kết quả cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1960 thì sử gia không thể tiên đoán được. Việc ứng viên nào đã nói những gì chỉ trong một cuộc tranh luận trên truyền hình vào tháng 10 năm 1960 có thể đã dẫn đến Nixon thắng cử chứ không phải Kennedy, nhưng dù cho ai đã nói cái gì thì cũng chẳng thể ngăn được người châu Âu chinh phục được người châu Mỹ bản địa.
Làm cách nào sinh viên ngành lịch sử loài người có thể hưởng lợi từ kinh nghiệm của các nhà khoa học trong những ngành khoa học lịch sử khác? Có một phương pháp luận tỏ ra hữu ích, ấy là phương pháp so sánh và cái gọi là thực nghiệm tự nhiên. Tuy không một nhà thiên văn nào nghiên cứu sự hình thành thiên hà cũng như không một sử gia nào nghiên cứu lịch sử loài người lại có thể thử nghiệm các hệ của mình trong phòng thí nghiệm, song cả hai đều có thể tận dụng các thực nghiệm tự nhiên, bằng cách so sánh các hệ vốn khác nhau ở chỗ có hay không có (hoặc chịu ảnh hưởng mạnh hay yếu của) một nhân tố có tính nhân quả giả định nào đó. Chẳng hạn, các nhà truyền nhiễm học tuy không được phép cho người ta ăn một lượng lớn muối nhằm mục đích thí nghiệm, nhưng họ vẫn có thể xác định tác động của việc hấp thụ nhiều muối bằng cách so sánh những nhóm người vốn dĩ đã khác nhau rất nhiều về lượng muối ăn vào; và các nhà nhân chủng học văn hóa, tuy không thể tiến hành thí nghiệm bằng cách cho một số nhóm người sống trong những môi trường có tài nguyên giàu nghèo khác nhau trong nhiều thế kỷ, song vẫn có thể nghiên cứu hậu quả lâu dài của việc giàu hay nghèo tài nguyên đối với xã hội loài người bằng cách so sánh các quần thể người Polynesia gần đây sinh sống trên những hòn đảo có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu nghèo khác nhau. Nghiên cứu lịch sử loài người có thể dựa trên nhiều thực nghiệm tự nhiên chứ không chỉ dựa trên so sánh giữa năm lục địa có người sinh sống. Để so sánh, người ta cũng có thể sử dụng những hòn đảo lớn có những xã hội phức tạp phát triển trong tình trạng biệt lập đáng kể (như Nhật Bản, Madagascar, đảo Hispaniola của người châu Mỹ bản địa, New Guinea, Hawaii và nhiều trường hợp khác) cũng như các xã hội trên hàng trăm hòn đảo nhỏ hơn và các xã hội khu vực trên từng lục địa.
Thực nghiệm tự nhiên trong bất kỳ lĩnh vực nào, dù sinh thái học hay lịch sử loài người, vốn dĩ đều có thể bị phê phán về mặt phương pháp luận. Người ta phê phán phương pháp này ở chỗ, [có thể] có sự biến thiên tự nhiên trong các biến tố khác ngoài biến tố được khảo sát gây nhiễu loạn [hệ], cũng như việc suy ra các chuỗi nhân quả từ mối tương quan quan sát được giữa các biến tố có không ít những khó khăn. Những khó khăn mang tính phương pháp luận đó từng được bàn cãi chi tiết đối với một số ngành khoa học lịch sử. Đặc biệt là truyền nhiễm học, ngành khoa học chuyên suy luận về các căn bệnh của loài người bằng cách so sánh các nhóm người (thường là qua nghiên cứu lịch sử hồi cố), từng suốt một thời gian dài sử dụng thành công các quy trình được quy phạm hóa để xử lý những vấn đề tương tự như các vấn đề đặt ra cho các sử gia nghiên cứu xã hội loài người. Các nhà sinh thái học cũng đã rất quan tâm đến các vấn đề thực nghiệm tự nhiên, một phương pháp luận mà họ phải viện tới trong nhiều trường hợp khi việc can thiệp trực tiếp để điều khiển các biến tố sinh thái liên quan nhằm mục đích thí nghiệm là hành vi vô đạo đức, không hợp pháp hoặc bất khả thi. Các nhà sinh học tiến hóa mới đây đã phát triển được những phương pháp còn phức tạp hơn nhằm rút ra kết luận từ sự so sánh các loài cây và thú khác nhau của những lịch sử tiến hóa mà chúng ta đã biết.
Nói ngắn gọn, tôi thừa nhận rằng, thấu hiểu lịch sử loài người là việc khó hơn nhiều so với thấu hiểu các vấn đề trong những ngành khoa học mà ở đó lịch sử là không quan trọng và có ít biến tố cá biệt vận hành hơn. Tuy nhiên, người ta đã đề ra được những phương pháp luận thành công nhằm phân tích các vấn đề lịch sử trong một vài lĩnh vực. Kết quả là lịch sử loài khủng long, lịch sử các tinh vân và lịch sử các sông băng thường được coi như thuộc về khoa học tự nhiên chứ không phải khoa học nhân văn. Song, khi nghĩ lại, ta sẽ thấu suốt được nhiều điều về con đường [tiến hóa] của con người hơn gấp bội so với của khủng long. Vì vậy tôi lạc quan rằng chúng ta có thể theo đuổi việc nghiên cứu lịch sử xã hội loài người một cách mang tính khoa học cũng như nghiên cứu khủng long, và qua đó có thể làm lợi cho xã hội chúng ta ngày nay bằng cách dạy cho ta biết cái gì đã nhào nặn nên thế giới hiện đại, cái gì có thể sẽ nhào nặn nên tương lai của chúng ta.
Jared Diamond
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nguyễn Trọng Luân và Đi tìm thời gian đã mất… Trong “10 truyện ngắn hay năm 2020” (Phụ bản số Tết Tân Sửu Báo Văn Nghệ) nhà văn Nguyễn T...