Thứ Tư, 17 tháng 9, 2025

Súng, vi trùng và thép 3

Súng, vi trùng và thép 3

Phần 3: Từ lương thực đến súng, vi trùng và thép
Chương 12 - Bản gốc và những chữ cái vay mượn

Các tác giả thế kỷ mười chín có xu hướng lý giải lịch sử như là sự hành tiến từ dã man đến văn minh. Những cột mốc chủ yếu trong quá trình chuyển hóa này là sự phát triển nông nghiệp, nghề luyện kim, công nghệ tinh vi, chính phủ tập trung hóa, và chữ viết. Trong số đó, chữ viết xưa nay vẫn được coi là cột mốc có tính giới hạn nhất về địa lý: mãi đến khi đạo Hồi bành trướng và người châu Âu bắt đầu đi chinh phục thuộc địa, chữ viết vẫn hoàn toàn vắng mặt ở châu Úc, các đảo Thái Bình Dương, châu Phi hạ xích đạo và toàn bộ Tân Thế Giới ngoại trừ một phần nhỏ Trung Mỹ. Do hậu quả việc chữ viết phân bố không đồng đều đó, những kẻ tự hào là kẻ văn minh vẫn cho rằng chữ viết là sự khác biệt rõ ràng nhất nâng họ lên vị trí cao hơn so với những lũ người “dã man” hay “mọi rợ”.
Tri thức mang lại quyền lực. Thế nên chữ viết mang lại quyền lực cho xã hội văn minh, bởi nhờ chữ viết mà tri thức có thể được truyền tải chính xác hơn nhiều, với số lượng lớn hơn nhiều và chi tiết hơn nhiều, từ những vùng xa xôi hơn và những thời đại xa xưa hơn. Dĩ nhiên, một số dân tộc (đặc biệt người Inca) đã từng cai quản được cả một đế quốc mà không cần đến chữ viết, và các dân tộc “văn minh” không phải bao giờ cũng đánh bại được các dân tộc “dã man” – các đạo quân La Mã khi đương đầu với các tộc Hung nô đã học được bài học đó. Nhưng việc người châu Âu chinh phục được châu Mỹ, Siberia và châu Úc đã minh họa cho hệ quả điển hình của việc sở hữu chữ viết trong lịch sử.
Chữ viết song hành cùng vũ khí, vi trùng và tổ chức chính trị tập trung hóa như một trong các tác nhân chinh phục ở thời hiện đại. Mệnh lệnh của các tu sĩ và thương gia, những kẻ tổ chức các đoàn tàu chinh phục thuộc địa, đều được truyền đạt bằng chữ viết. Các đoàn tàu chinh phục thuộc địa xác định hải trình nhờ các bản đồ và văn bản hướng dẫn đi biển đã được lập từ những chuyến đi trước đó. Những báo cáo thành văn về các chuyến đi trước đó là tác nhân kích thích cho những chuyến đi sau, bằng cách mô tả sự giàu có và những vùng đất màu mỡ đang đợi người chinh phục. Những báo cáo đó cảnh báo cho các nhà du hành tiếp bước về những khó khăn họ sẽ phải đối mặt và giúp họ chuẩn bị sẵn sàng. Các đế quốc ra đời từ những chuyến đi này được cai quản nhờ chữ viết. Tuy toàn bộ các loại thông tin kể trên cũng được truyền tải bằng những phương tiện khác trong các xã hội chưa có chữ viết, song chữ viết giúp cho việc truyền tải đó dễ dàng hơn, chi tiết hơn, chính xác hơn và giàu thuyết phục hơn.
Nếu vậy thì tại sao chỉ một số dân tộc này chứ không phải những dân tộc khác đã tạo ra chữ viết một khi nó đã có giá trị áp đảo như vậy? Chẳng hạn, tại sao các xã hội săn bắt hái lượm truyền thống đã không phát minh ra hoặc tiếp thu chữ viết? Cùng là đế quốc hải đảo như nhau, song tại sao chữ viết chỉ phát sinh ở nền văn minh Minoa đảo Crete chứ không phải ở đảo Tonga thuộc Polynesia? Chữ viết đã phát sinh bao nhiêu lần cách biệt nhau trong lịch sử loài người, trong những hoàn cảnh nào, vì những mục đích nào? Trong các dân tộc đã phát minh ra chữ viết, tại sao một số dân tộc làm việc đó sớm hơn nhiều so với các dân tộc khác? Chẳng hạn, ngày nay hầu như tất cả người Nhật và người Scandinavia đều biết đọc còn hầu hết người Iraq thì không, thế nhưng tại sao chữ viết đã phát sinh ở chính Iraq gần bốn ngàn năm trước?
Sự phân bố chữ viết từ các khu vực phát nguyên cũng dấy lên những câu hỏi hệ trọng. Chẳng hạn, tại sao chữ viết bành trướng từ vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu sang Ethiopia và Arập nhưng lại không bành trướng từ vùng Andes đến Mexico? Các hệ chữ viết đã bành trướng bằng cách được người ta sao chép, hay các hệ chữ viết phát sinh sớm hơn đã kích thích các dân tộc láng giềng phát minh ra hệ chữ viết của riêng họ? Giả sử ta được cho một hệ chữ viết rất thích hợp với một ngôn ngữ, làm sao ta có thể phát minh một hệ chữ viết khác cho một ngôn ngữ khác? Những câu hỏi tương tự nảy sinh bất cứ lúc nào ta cố hiểu nguồn gốc và sự bành trướng của nhiều khía cạnh khác của văn hóa loài người chẳng hạn như công nghệ, tôn giáo và sản xuất lương thực. Giới sử gia quan tâm đến vấn đề chữ viết thì có lợi thế ở chỗ họ thường tìm được lời giải đáp chi tiết thông qua chính các bản văn. Vì vậy chúng ta sẽ khảo sát sự phát triển của chữ viết, không phải chỉ vì tầm quan trọng tự thân của chữ viết, mà còn bởi nó cho ta có cái nhìn thấu đáo về lịch sử văn hóa nói chung.
Các hệ chữ viết khác nhau ở chỗ mỗi ký hiệu được dùng để biểu đạt một đơn vị lời nói lớn hay nhỏ. Có ba loại giải pháp: một là mỗi ký hiệu biểu đạt một âm tiết cơ bản duy nhất, hai là biểu đạt trọn một âm tiết, ba là biểu đạt trọn một từ. Trong số này, giải pháp được hầu hết các dân tộc sử dụng ngày nay là bảng chữ cái ghi âm. Trong trường hợp lý tưởng, bảng chữ cái sử dụng một ký hiệu đơn nhất (gọi là chữ cái) để ghi mỗi âm cơ bản của ngôn ngữ (gọi là âm vị). Trên thực tế, hầu hết các bảng chữ cái chỉ gồm từ 20 đến 30 chữ cái, và hầu hết các ngôn ngữ có số lượng âm vị nhiều hơn số chữ cái trong bảng chữ cái. Chẳng hạn, tiếng Anh chỉ dùng 26 chữ cái để ký âm khoảng 40 âm vị. Do đó hầu hết các hệ chữ viết dùng bảng chữ cái – trong đó có tiếng Anh – buộc phải gán nhiều âm vị khác nhau cho cùng một chữ cái và biểu đạt một số âm vị bằng cách kết hợp nhiều chữ cái, chẳng hạn các kết hợp gồm hai chữ cái sh và th trong tiếng Anh (mỗi âm vị này trong tiếng Nga và tiếng Hy Lạp chỉ được biểu thị bằng một chữ cái).
Giải pháp thứ hai sử dụng cái gọi là chữ biểu tự (logogram), nghĩa là mỗi chữ viết biểu thị toàn bộ một từ. Đó là chức năng của nhiều ký tự chữ Hán và là phần chủ yếu trong hệ chữ viết của tiếng Nhật (gọi là kanji). Trước khi chữ viết bằng chữ cái ghi âm trở nên phổ biến, các hệ chữ viết dùng logogram từng thông dụng hơn, bao gồm chữ tượng hình Ai Cập, chữ Maya và chữ hình nêm của người Sumer.
Giải pháp thứ ba, ít quen thuộc hơn với hầu hết độc giả cuốn sách này, là sử dụng một ký tự cho từng âm tiết. Trên thực tế, hầu hết các hệ chữ viết này (gọi là syllabary, hay chữ biểu vần) dùng từng ký hiệu riêng để ghi từng âm tiết gồm một phụ âm theo sau là một nguyên âm (chẳng hạn như các âm tiết trong từ family (gia đình): fa-mi-ly), và sử dụng nhiều thủ thuật khác nhau để viết những loại âm tiết khác nhờ các ký hiệu này. Chữ biểu vần rất phổ biến vào thời cổ đại, chẳng hạn Chữ kẻ vạch kiểu B (Linear B) của nền văn minh Mycene thuộc Hy Lạp. Một số hệ chữ biểu vần vẫn tồn tại đến ngày nay, trong số đó quan trọng nhất là chữ kana mà người Nhật vẫn dùng để đánh điện tín, bản kê ngân hàng và văn bản cho người mù.
Tôi đã chủ ý gọi ba cách nói trên là “giải pháp” chứ không phải hệ chữ viết. Thật ra, không một hệ chữ viết nào chỉ thuần sử dụng một trong ba giải pháp đó mà thôi. Chữ Hán không thuần là chữ biểu tự, chữ Anh không thuần là chữ cái. Cũng như mọi hệ chữ viết dùng chữ cái ghi âm, tiếng Anh dùng nhiều chữ biểu tự như các chữ số, các dấu $, % và + nghĩa là những ký tự võ đoán, không tạo thành bởi các yếu tố ký âm mà đại diện cho toàn bộ một từ. Chữ “biểu âm” kẻ vạch B thật ra có nhiều chữ biểu tự, còn các chữ “tượng hình” (tức biểu tự, ND) Ai Cập có cả nhiều ký tự biểu vần cũng như hẳn một bộ chữ cái với từng chữ riêng cho mỗi phụ âm.
Phát minh một hệ chữ viết từ con số không ắt hẳn là việc khó hơn vạn bội lần so với vay mượn và cải biên một hệ chữ viết có sẵn. Các thư lại đầu tiên đã phải tranh cãi với nhau về những nguyên lý cơ bản mà ngày nay ta vẫn coi là chuyện đương nhiên. Chẳng hạn, họ phải hình dung làm cách nào tách một chuỗi phát âm liên tục thành từng đơn vị lời dù các đơn vị đó được coi là từ, âm tiết hay âm vị. Họ phải học cách nhận ra cùng một âm hay đơn vị lời đó qua toàn bộ các biến thể thông thường của chúng ta về âm lượng, ngữ điệu, tốc độ, cách nhấn giọng, cách ngắt cụm từ, và những dị biệt trong cách phát âm của mỗi người. Họ phải quyết định rằng hệ chữ viết nên bỏ qua tất cả những biến thể đó hay không. Thế rồi họ phải phát minh ra những cách ghi các âm đó bằng biểu tượng.
Bằng cách này hay cách khác, những thư lại đầu tiên đã giải quyết được tất cả các vấn đề đó dù không có trong tay hệ một chữ viết hoàn chỉnh nào làm ví dụ đặng hướng dẫn cho nỗ lực của mình. Nhiệm vụ đó rõ ràng là khó khăn đến nỗi chỉ có vỏn vẹn dăm trường hợp trong lịch sử người ta tự phát minh ra chữ viết từ chỗ chưa có gì. Hai trường hợp phát minh chữ viết hoàn toàn độc lập mà ngày nay ta có bằng chứng chắc chắn là chữ viết của người Sumer vùng Lưỡng hà vào khoảng trước năm 3.000 TCN và chữ viết của người Anh-điêng Mexico trước năm 600 TCN (Hình 12.1); bên cạnh đó, chữ viết Ai Cập vào năm 3.000 TCN và chữ viết Trung Hoa (trước 1.300 năm TCN) cũng có thể đã phát sinh độc lập. Có lẽ tất cả các dân tộc khác từng tạo ra chữ viết từ sau đó trở đi đều đã vay mượn, cải biên các hệ chữ viết khác hay ít nhất là được gợi ý nhờ các hệ chữ viết khác.
Phát minh chữ viết độc lập mà chúng ta có thể truy nguyên một cách chi tiết nhất chính là hệ chữ viết xưa nhất trong lịch sử, chữ hình nêm Sumer (Hình 12.1). Hàng ngàn năm trước khi chữ viết này hình thành đầy đủ, người dân ở một số làng mạc làm nông nghiệp ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã dùng những vật bằng đất sét có nhiều hình dạng đơn giản khác nhau nhằm mục đích kế toán, chẳng hạn như ghi nhận số cừu hay khối lượng hạt. Trong những thế kỷ cuối cùng trước 3.000 năm TCN, những tiến triển trong kỹ thuật kế toán, dạng thức và ký hiệu đã nhanh chóng dẫn tới hệ chữ viết đầu tiên. Một trong các cách tân như vậy là sử dụng những tấm bảng phẳng bằng đất sét làm bề mặt viết chữ, rất tiện lợi. Lúc đầu người ta dùng các dụng cụ vót nhọn để vạch chữ lên đất sét, về sau họ dần dần chuyển sang dùng bút sậy để ấn những điểm rõ nét lên tấm bảng. Những cải tiến về dạng thức bao gồm việc dần dần áp dụng những quy ước mà ngày nay cả thế giới thừa nhận là cần thiết: rằng chữ viết cần phải được tổ chức thành từng hàng hay từng cột theo quy củ (theo hàng ngang đối với người Sumer cũng như người châu Âu ngày nay), rằng phải đọc các hàng theo một hướng nhất quán (từ trái sang phải đối với người Sumer cũng như với người châu Âu ngày nay), và phải đọc các dòng từ trên xuống dưới bảng chứ không phải ngược lại.

Nguồn độc lập hoặc có thể là độc lập

Bảng chữ cái

Khác

1. Sumer

9. Tây Semites, Phênixi

5. Tiền Elamite

2. Trung Mỹ

10. Ethiopia

7. Hittite

3. Trung Hoa

11. Triều Tiên (han’gul)

8. Thung lũng Ấn hà

4. Ai Cập

13. Italy (La Mã, Etruscan)

9. Đảo Phục Sinh

 

14. Hy Lạp

 

 

15. Ireland (ogham)

 

 

 

Chữ biểu vần

 

 

6. Crete (Chữ kẻ vạch A và B)

 

 

12. Nhật Bản (kana)

 

 

16. Cherokee

 

 

Hình 12.1. Dấu hỏi bên cạnh Trung Hoa và Ai Cập biểu thị rằng vẫn còn nghi vấn liệu chữ viết xa xưa ở các khu vực đó có phải là phát minh độc lập hay do được kích thích từ các hệ chữ viết đã phát sinh sớm hơn ở một nơi nào khác. “Khác” hàm ý những chữ viết không phải là bảng chữ cái cũng không phải chữ biểu vần và có lẽ đã phát sinh do chịu ảnh hưởng của các hệ chữ viết sớm hơn.
Song sự thay đổi tối quan trọng chính là việc giải quyết vấn đề cơ bản đối với hầu hết các hệ chữ viết: làm cách nào phát minh ra những ký hiệu dễ nhận biết mà mọi người đều chấp thuận để biểu thị những âm thanh thực sự được nói ra, chứ không phải chỉ những ý tưởng hay những từ ngữ độc lập với cách phát âm của chúng. Về những giai đoạn đầu tiên trong sự hình thành giải pháp này, đặc biệt người ta đã phát hiện được hàng ngàn tấm bảng đất sét được khai quật từ di tích đổ nát của một thành phố Sumer ngày xưa là Uruk trên bờ sông Euphrates cách Baghdad ngày nay khoảng 200 dặm (320 km, ND) về phía đông nam. Những ký hiệu chữ viết Sumer đầu tiên là những bức tranh dễ nhận ra về đối tượng được nói tới (chẳng hạn tranh vẽ con cá hay con chim). Lẽ tự nhiên, các ký hiệu có tính tranh vẽ này bao gồm chủ yếu là chữ số cộng với những danh từ gọi những vật thể nhìn thấy được; các văn bản dùng những ký hiệu này chỉ như những báo cáo kế toán viết bằng chữ tốc ký mà không có những yếu tố ngữ pháp. Dần dần, dạng thức các ký hiệu trở nên trừu tượng hơn, nhất là khi những dụng cụ viết vót nhọn được thay bằng bút sậy. Người ta sáng tạo ra những ký hiệu mới bằng cách kết hợp những ký hiệu cũ để biểu thị những nghĩa mới; chẳng hạn, ký hiệu chỉ cái đầu được kết hợp với ký hiệu chỉ bánh mì để cho ký hiệu hàm nghĩa ăn.
Chữ viết Sumer xưa nhất bao gồm những chữ biểu tự không ký âm. Nói vậy nghĩa là, chữ viết này không dựa trên những âm cụ thể của tiếng Sumer và cũng có thể được phát âm bằng những âm hoàn toàn khác để biểu thị cũng nghĩa đó trong bất kỳ ngôn ngữ nào khác, cũng như ký hiệu số 4 có thể phát âm theo những cách khác nhau như four, chetwíre, neljä và empat tùy theo tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Phần Lan hay tiếng Indonesia vậy. Có lẽ bước tiến quan trọng nhất trong toàn bộ lịch sử chữ viết là sự kiện người Sumer phát minh ra việc ký âm, thoạt tiên bằng cách ghi một danh từ trừu tượng (vốn không thể vẽ thành một bức tranh) bằng một ký hiệu vốn dùng để ghi một danh từ cụ thể và có cùng cách phát âm. Chẳng hạn, vẽ một bức tranh biểu thị mũi tên thì dễ, vẽ một bức tranh biểu thị cuộc sống thì khó, nhưng cả hai [khái niệm] đều được phát âm trong tiếng Sumer là ti, thế là bức vẽ một mũi tên trở thành ký hiệu dùng để chỉ cả mũi tên lẫn cuộc sống. Để tránh nhầm lẫn, người ta thêm vào một ký hiệu câm được gọi là từ hạn định (determinative) để biểu thị từ loại của đối tượng mà người ta muốn nói. Các nhà ngôn ngữ học gọi đây là một cách tân có vai trò quyết định, cái mà đến ngày nay vẫn là nguyên lý nền tảng của các trò chơi chữ, nguyên lý đố chữ (rebus principle).
Khi người Sumer đã nghĩ ra được nguyên lý ký âm này, họ bắt đầu dùng nó không chỉ để ghi danh từ trừu tượng mà còn vào lắm việc hơn thế. Họ dùng nó để ghi các âm tiết hoặc chữ cái đứng cuối về phương diện ngữ pháp. Chẳng hạn, trong tiếng Anh, rõ ràng ta không thể biết chắc làm cách nào vẽ một bức tranh biểu thị âm tiết thường gặp [ở cuối nhiều từ] là -tion, song thay vào đó ta có thể vẽ một bức tranh để mô tả động từ shun vốn cũng phát âm giống vậy. Người ta cũng dùng các ký hiệu biểu âm để “đánh vần” những từ dài hơn, [nói cách khác là] vẽ một chuỗi tranh liên tiếp, mỗi bức diễn tả một âm tiết trong từ đó. Chẳng khác nào để viết từ believe (tin, tin tưởng), người Anh sẽ vẽ một bức tranh gồm một con ong (bee) theo sau là bức tranh vẽ một chiếc lá (leaf). Ký hiệu biểu âm cũng cho phép các thư lại sử dụng cùng một ký hiệu tranh vẽ để ghi một loạt từ có liên quan với nhau (chẳng hạn như răng, lời nói và người nói) song thêm vào đó một ký hiệu biểu âm để tránh nhầm lẫn (chẳng hạn như chọn lựa một trong các ký hiệu biểu thị số hai, mỗi hay đỉnh, chóp).
Như vậy, chữ viết Sumer dần dần trở thành một hỗn hợp phức tạp giữa ba loại ký hiệu: chữ biểu tự, dùng để ghi toàn bộ một từ hay một cái tên; ký hiệu biểu âm, dùng để đánh vần từng âm tiết, chữ cái, yếu tố ngữ pháp hay từng bộ phận của từ; và từ hạn định không có chức năng phát âm mà chỉ dùng để tránh nhầm lẫn. Tuy nhiên, ký hiệu biểu âm trong chữ viết Sumer còn xa mới là một hệ chữ biểu âm hay bảng chữ cái hoàn chỉnh. Một số âm tiết trong tiếng Sumer không hề có ký hiệu chữ viết riêng để ghi; cùng một ký hiệu có thể được phát âm theo nhiều cách, và cùng một ký hiệu có thể được đọc như một từ, một âm tiết hay một chữ cái.
Một ví dụ về chữ viết hình nêm Babylon vốn bắt nguồn từ chữ hình nêm Sumer.
Ngoài chữ hình nêm Sumer, một trường hợp chắc chắn khác về nguồn phát sinh chữ viết độc lập trong lịch sử loài người là của các xã hội châu Mỹ bản địa ở Trung Mỹ, có lẽ là phía nam Mexico. Chữ viết Trung Mỹ được cho là đã phát sinh độc lập với chữ viết của Cựu Thế giới, bởi không có bằng chứng nào đủ thuyết phục cho thấy có sự tiếp xúc giữa các xã hội Tân Thế giới với các xã hội Cựu Thế giới có chữ viết trước khi người Bắc Âu đổ bộ đến Tân Thế giới lần đầu tiên. Ngoài ra, hình thức của ký hiệu chữ viết Trung Mỹ hoàn toàn khác với của bất cứ chữ viết nào của Cựu Thế giới. Người ta đã được biết chừng một tá chữ viết Trung Mỹ, tất cả hoặc hầu hết đều hình như có liên hệ với nhau (chẳng hạn như trong hệ đếm hay hệ lịch) và hầu hết chỉ mới được giải mã một phần. Hiện nay chữ viết Trung Mỹ xưa nhất còn giữ được là chữ viết ở vùng Zapotec phía Nam Mexico từ khoảng 600 năm TCN, nhưng thứ chữ viết được tìm hiểu kỹ hơn hết là chữ viết ở vùng đất thấp Maya, nơi niên đại chữ viết xưa nhất còn giữ được ứng với năm 292.
Tuy có nguồn gốc độc lập và hình thức ký hiệu khác hẳn, song chữ viết Maya vẫn được tổ chức theo những nguyên lý mà về cơ bản tương tự với chữ viết Sumer và các hệ chữ viết Tây Âu-Á khác được gợi ý từ chữ Sumer. Cũng như chữ Sumer, chữ Maya dùng cả ký hiệu biểu từ lẫn ký hiệu biểu âm. Ký hiệu biểu âm cho các từ trừu tượng thường được suy ra từ nguyên lý đố chữ. Nghĩa là, một từ trừu tượng được viết bằng một ký hiệu vốn dùng để ghi một từ khác phát âm tương tự nhưng có nghĩa khác, và nghĩa này có thể dễ dàng miêu tả được. Cũng như các ký hiệu chữ kana của Nhật và chữ Kẻ vạch B của nền văn minh Mycene Hy Lạp, ký hiệu biểu âm Maya hầu hết là những ký hiệu ghi từng âm tiết gồm một phụ âm cộng với một nguyên âm (như ta, te, ti, to, tu). Cũng như các con chữ của bảng chữ cái Sumer thời kỳ đầu, ký hiệu biểu vần Maya bắt nguồn từ những bức tranh mô tả những vật mà cách phát âm bắt đầu bằng âm tiết đó (chẳng hạn, ký hiệu biểu vần Maya “ne” giống như một cái đuôi bởi từ “đuôi” trong tiếng Maya là neh).
Một bức họa thuộc trường phái Rajasthani hoặc Gujarati của tiểu lục địa Ấn Độ vào đầu thế kỷ XVII. Chữ viết ở đây, cũng như hầu hết các chữ viết Ấn Độ hiện nay, bắt nguồn từ chữ Brahmi của Ấn Độ cổ đại, đến lượt mình loại chữ này lại bắt nguồn từ bảng chữ cái Aramaic vào khoảng thế kỷ VII TCN qua sự lan truyền ý tưởng. Các hệ chữ viết Ấn Độ áp dụng nguyên lý bảng chữ cái, song về hình dạng các con chữ, thứ tự các con chữ và cách xử lý nguyên âm thì là phát minh của riêng Ấn Độ chứ không sao chép từ bản gốc.
Tất cả những sự song hành đó giữa chữ viết Trung Mỹ với chữ viết cổ đại vùng Tây Âu-Á minh chứng cho tính phổ quát tiềm ẩn trong mọi sáng tạo của loài người. Tuy ngôn ngữ Sumer và các ngôn ngữ Trung Mỹ không hề có mối liên hệ đặc biệt nào với nhau trong số các ngôn ngữ của nhân loại, song cả hai đều khiến nảy sinh những vấn đề cơ bản giống nhau khi người ta muốn đưa chúng vào chữ viết. Những giải pháp mà người Sumer phát minh ra từ trước 3.000 năm TCN lại được người Anh-điêng Trung Mỹ thời kỳ đầu ở cách nửa vòng trái đất tái phát minh vào trước 600 năm TCN.
Trừ những trường hợp có khả năng là ngoại lệ như chữ viết Ai Cập, chữ viết Trung Hoa và chữ viết của đảo Phục Sinh mà ta sẽ xét sau đây, tất cả các hệ chữ viết khác được phát minh ở bất cứ nơi nào trên thế giới, vào bất cứ thời nào, có lẽ đều là hậu duệ của những hệ chữ viết được cải biên từ hay ít nhất là được gợi ý từ chữ viết Sumer hay chữ viết Maya thời kỳ đầu. Một nguyên nhân khiến tại sao có quá ít nguồn phát sinh chữ viết độc lập đến vậy là bởi phát minh một chữ viết từ chỗ chưa có gì là việc cực khó, như ta đã đề cập trên đây. Một nguyên nhân khác là, [nếu trong lịch sử] đã có cơ hội nào để phát minh chữ viết một cách độc lập thì chữ viết Sumer hay chữ viết Trung Mỹ thời kỳ đầu và các hậu duệ của chúng đều hưởng trước cả rồi.
Ta biết rằng việc phát triển chữ viết Sumer đã mất ít nhất hàng trăm năm, có khi tới hàng ngàn năm. Như ta sẽ thấy, để có thể phát triển một chữ viết như vậy thì điều kiện tiên quyết là xã hội loài người phải bao gồm một số đặc tính, các đặc tính này ấn định liệu xã hội đó có coi chữ viết là hữu ích hay không và liệu xã hội đó có khả năng nuôi sống một số thư lại không phải làm gì khác ngoài công việc của mình hay không. Nhiều xã hội khác ngoài các xã hội Sumer và xã hội Mexico thời kỳ đầu – như các xã hội cổ Ấn Độ, đảo Crete và Ethiopia – cũng đã tạo ra được những điều kiện tiên quyết đó. Tuy nhiên, người Sumer và người Mexico cổ đã tình cờ là những kẻ đầu tiên tạo ra được các điều kiện đó ở Cựu Thế giới và Tân Thế giới. Khi người Sumer và người Mexico cổ đã phát minh ra chữ viết rồi, các chi tiết của nguyên lý chữ viết của họ nhanh chóng bành trướng sang những xã hội khác trước khi các xã hội này kịp tiến hóa thêm hàng trăm hay hàng ngàn năm để đạt đến chỗ có khả năng thử nghiệm những hệ chữ viết hoàn toàn của riêng mình. Như vậy, lẽ ra một số khu vực khác cũng đã có khả năng tiến hành thử nghiệm độc lập về chữ viết, song vì hai khu vực nói trên đã “giành trước” cơ hội nên cái tiềm năng nọ bị phí hoài.
Sự bành trướng của chữ viết đã diễn ra bằng một trong hai cách trái ngược nhau, hai cách này song hành với những cách bành trướng công nghệ và ý tưởng trong suốt lịch sử nhân loại. Ai đó đã phát minh ra một cái gì đó rồi đưa vào sử dụng. [Đã vậy] thì tại sao bạn, một kẻ có thể sẽ sử dụng phát minh đó, lại mất công mày mò phát minh một cái gì tương tự để dùng nếu bạn biết đã có người khác tạo ra rồi và mẫu của người đó vận hành tốt?
Sự chuyển giao phát minh này diễn ra dưới nhiều dạng khác nhau. Ở một cực là “sao chép bản gốc”, nghĩa là sao chép hoặc cải biên một bản thảo chi tiết đã có sẵn. Ở cực đối lập là “lan truyền ý tưởng”, nghĩa là người ta chẳng nhận được gì nhiều ngoài ý tưởng cơ bản và buộc phải phát minh lại từ đầu các chi tiết. Biết rằng người khác đã làm được, bạn có động lực để cố gắng tự mình làm, song giải pháp cuối cùng của bạn có thể giống với của nhà phát minh đầu tiên mà cũng có thể không.
Hãy lấy một ví dụ gần đây: các sử gia vẫn đang còn tranh cãi xem trong trường hợp người Nga chế tạo bom nguyên tử, ấy là “sao chép bản gốc” hay “lan truyền ý tưởng”. Có phải nỗ lực chế tạo bom của người Nga chủ yếu là dựa trên bản gốc có sẵn từ các quả bom mà người Mỹ đã chế tạo rồi, bị gián điệp đánh cắp mà chuyển sang Nga? Hay chính vì người Mỹ đã ném thành công một quả bom A xuống Hiroshima mà rốt cuộc Stalin cũng tin rằng quả thật người ta có thể chế ra một quả bom như vậy, sau đó các bác học Nga đã tái phát minh nguyên lý chế tạo bom một cách độc lập dù không nắm được nhiều chi tiết về quá trình phát minh trước đó của người Mỹ đặng làm nguồn hướng dẫn? Những câu hỏi tương tự cũng nảy sinh đối với lịch sử phát minh bánh xe, kim tự tháp và thuốc súng. Giờ ta hãy xét xem việc sao chép bản gốc và lan truyền ý tưởng đã đóng góp thế nào vào sự bành trướng của các hệ chữ viết.
Ngày nay, các nhà ngôn ngữ học chuyên nghiệp xây dựng hệ chữ viết cho những ngôn ngữ chưa có chữ viết bằng phương pháp sao chép bản gốc. Hầu hết các hệ chữ viết này là cải biên từ những bảng chữ cái có sẵn, tuy cũng có một số người xây dựng hệ chữ viết mới bằng ký hiệu biểu vần. Chẳng hạn, các nhà ngôn ngữ học kiêm truyền giáo đang cải biên bảng chữ cái La Mã cho hàng trăm ngôn ngữ New Guinea và châu Mỹ bản địa. Các nhà ngôn ngữ học của chính phủ đã phát minh bảng chữ cái La Mã cải biên được Thổ Nhĩ Kỳ đưa vào áp dụng vào năm 1928 cho tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, cũng như bảng chữ cái Cyrillic được cải biên cho ngôn ngữ của nhiều bộ tộc ở Nga.
Trong một ít trường hợp, ta cũng biết đôi điều về những cá nhân đã xây dựng nên các hệ chữ viết bằng cách sao chép những bản gốc trong quá khứ xa xôi. Chẳng hạn, bản thân bảng chữ cái Cyrillic (ngày nay vẫn được sử dụng ở Nga) bắt nguồn từ việc cải biên các chữ cái Hy Lạp và Do Thái do Thánh Cyril, một nhà tu hành Hy Lạp truyền giáo cho người Xlavơ vào thế kỷ chín phát minh ra. Những văn bản xưa nhất về nhóm ngôn ngữ Giécmanh (trong đó có tiếng Anh) còn lại đến ngày nay được viết bằng bảng chữ cái Gothic được phát minh bởi Giám mục Ulfilas, một nhà truyền giáo sống cùng với dân bộ lạc Visigoths ở vùng nay là Bulgaria vào thế kỷ thứ tư. Cũng như phát minh của Thánh Cyril, bảng chữ cái của Ulfilas là một mớ hỗn hợp gồm những chữ cái vay mượn từ nhiều nguồn khác nhau: chừng 20 chữ cái Hy Lạp, khoảng 5 chữ cái La Mã và 2 chữ cái hoặc lấy từ bảng chữ cái Runes hoặc do Ulfilas tự chế ra. Song thường là chúng ta chẳng biết gì về cá nhân những người phát minh những bảng chữ cái lừng danh trong quá khứ. Nhưng ta vẫn có thể so sánh những hệ chữ viết mới nảy sinh trong quá khứ với những hệ chữ viết đã tồn tại từ trước đó và có thể suy ra từ hình thái các con chữ xem những chữ nào đã được dùng làm mẫu. Chính vì lý do đó, ta có thể tin chắc rằng hệ chữ biểu vần kẻ vạch B của văn minh Mycene Hy Lạp đã được cải biên vào khoảng 1.400 năm TCN từ hệ chữ biểu vần Kẻ vạch A của văn minh Minoa trên đảo Crete.
Trong suốt hàng mấy trăm lần một hệ chữ viết hiện có được dùng làm bản gốc để cải biên cho một ngôn ngữ khác, thế nào cũng có một vài vấn đề nảy sinh bởi không hề có hai thứ tiếng nào có hệ ngữ âm hoàn toàn giống nhau. Một số chữ cái hay ký hiệu sẽ bị loại bỏ nếu những âm mà các chữ cái đó được dùng để ký âm trong ngôn ngữ cho mượn lại không có ở ngôn ngữ mượn. Chẳng hạn, nhiều âm mà nhiều ngôn ngữ châu Âu biểu thị bằng các chữ cái b, c, f, g, w, x và z lại không có ở tiếng Phần Lan, nên người Phần Lan bỏ luôn các chữ cái này ra khỏi bảng chữ cái cải biên của mình. Lại cũng xảy ra vấn đề ngược lại, ấy là người ta phải chế ra những chữ cái để ghi những âm “mới” có trong ngôn ngữ mượn song lại không có ở ngôn ngữ cho mượn. Khó khăn này được giải quyết bằng nhiều cách khác nhau: chẳng hạn như dùng một kết hợp tùy tiện gồm hai chữ cái hoặc nhiều hơn (chẳng hạn trong tiếng Anh, th được dùng để ghi một âm mà bảng chữ cái Hy Lạp và chữ cái Rune chỉ ghi bằng một chữ cái); thêm một dấu nhỏ vào một chữ cái có sẵn để dễ phân biệt (như dấu ngã trong chữ cái ñ của tiếng Tây Ban Nha, chữ cái ö trong tiếng Đức, và cơ man nào những dấu phụ nhảy múa quanh các con chữ Ba Lan và Thổ Nhĩ Kỳ); dùng lại những chữ cái hiện có mà ngôn ngữ mượn vốn dĩ không sử dụng (như người Séc ngày nay dùng lại chữ cái c của bảng chữ cái La Mã để ghi âm ts trong tiếng Séc), hoặc đơn giản là phát minh một chữ cái mới (như các bậc tổ tiên thời trung cổ của chúng ta đã làm khi họ tạo ra các chữ cái mới j, u và w).
Bản thân bảng chữ cái La Mã cũng là sản phẩm cuối cùng của một chuỗi sao chép bản gốc kéo dài. Các bảng chữ cái hình như đã chỉ phát sinh một lần duy nhất trong lịch sử loài người: ở những người nói các ngôn ngữ Semites, tại khu vực nay là từ Syria đến bán đảo Sinai, vào thiên niên kỷ thứ hai TCN. Tất cả các bảng chữ cái từng tồn tại trong lịch sử cũng như còn tồn tại đến ngày nay đều bắt nguồn từ bảng chữ cái Semites thủy tổ đó, trong một vài trường hợp (như bảng chữ cái ogham của người Ireland) bằng cách lan truyền ý tưởng, nhưng trong hầu hết trường hợp là bằng cách sao chép và cải biên hình thức các chữ cái.
Sự tiến hóa đó của bảng chữ cái có thể truy nguyên về các chữ tượng hình Ai Cập vốn bao gồm một bộ 24 ký hiệu cho 24 phụ âm của tiếng Ai Cập. Người Ai Cập chưa bao giờ tiến hành bước kế tiếp, bước đi mà đối với chúng ta ngày nay là hợp lý, ấy là loại bỏ tất cả các ký hiệu biểu tự, từ hạn định và ký hiệu dùng để ghi những cặp đôi hay bộ ba phụ âm, thay vào đó chỉ sử dụng bảng chữ cái ghi âm. Tuy nhiên, bắt đầu từ khoảng 1.700 năm TCN, những người Semites vốn quen thuộc với chữ tượng hình Ai Cập cũng đã bắt đầu thử nghiệm cái bước đi hợp lý này.
Dùng ký hiệu chỉ để ghi các phụ âm thôi, đó chỉ là cách tân đầu tiên trong những cách tân chủ chốt làm nên sự khác biệt giữa bảng chữ cái với các hệ chữ viết nguyên thủy. Bước thứ hai là giúp người sử dụng nhớ thuộc lòng các chữ cái bằng cách sắp xếp các chữ cái theo một thứ tự cố định và đặt cho chúng những cái tên dễ nhớ. Những cái tên trong tiếng Anh dùng để gọi các chữ cái chỉ là những đơn âm vô nghĩa (“ây”, “bi”, “si”, “di”, vân vân). Nhưng tên của người Semites đặt cho các chữ cái thì có nghĩa trong tiếng Semites; đó là các từ dùng để gọi những sự vật quen thuộc (‘aleph: bò đực, beth: nhà, gimel: lạc đà, daleth: cửa, vân vân). Các từ Semites này có liên hệ theo cách trùng âm đầu (acrophonic) với các phụ âm tiếng Semites mà chúng được dùng để gọi: nghĩa là, chữ cái đầu của từ để gọi sự vật đó cũng chính là chữ cái được đặt tên bằng sự vật đó (‘a, b, g, d, vân vân). Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, hình thức đầu tiên của các chữ cái Semites cũng là hình vẽ chính các sự vật kia. Tất cả các đặc tính này giúp người ta dễ nhớ hình dạng, tên và thứ tự của các chữ cái Semites. Nhiều bảng chữ cái hiện đại, trong đó có bảng chữ cái tiếng Anh, vẫn duy trì thứ tự các chữ cái đã có từ hơn 3.000 năm trước ấy, nếu có điều chỉnh thì cũng rất ít (trong trường hợp bảng chữ cái Hy Lạp thì thậm chí tên các chữ cái cũng giữ nguyên như xưa: alpha, beta, gamma, vân vân). Có một thay đổi nhỏ mà độc giả hẳn đã nhận thấy, đó là chữ g trong bảng chữ cái Semites và Hy Lạp đã trở thành chữ c trong bảng chữ cái La Mã và Anh, trong khi người La Mã chế ra một chữ g mới ở vị trí hiện nay.
Cách tân thứ ba và cuối cùng dẫn tới các bảng chữ cái ngày nay là việc ghi các nguyên âm. Ngay từ thuở đầu của bảng chữ cái Semites người ta đã bắt đầu thử nghiệm những phương pháp viết nguyên âm, bằng cách bổ sung những chữ cái phụ nhỏ để biểu thị một số nguyên âm đã chọn, hoặc thêm những chấm, vạch hoặc móc câu xúm xít quanh các chữ cái ghi phụ âm. Vào thế kỷ chín TCN người Hy Lạp trở thành những kẻ đầu tiên ghi ra các nguyên âm bằng cùng những loại chữ cái vốn chỉ được dùng để ghi phụ âm. Người Hy Lạp nghĩ ra hình thức cho các chữ cái ghi nguyên âm của mình α – ε – η – ι – ο bằng cách “mượn” năm chữ cái vốn được dùng trong bảng chữ cái Phênixi để ghi những phụ âm không có trong tiếng Hy Lạp.
Từ các bảng chữ cái Semites xưa nhất đó, một dòng tiến hóa theo hướng sao chép bản gốc và cải biên đã dẫn đến bảng chữ cái Ethiopia hiện đại thông qua các bảng chữ cái Arập. Một dòng quan trọng hơn nhiều đã tiến hóa theo lối bảng chữ cái Aramaic vốn được dùng để ghi các văn bản chính thức của đế quốc Ba Tư, dẫn đến các bảng chữ cái Arập, Do Thái, Ấn Độ và Đông Nam Á ngày nay. Nhưng dòng tiến hóa gần gũi nhất với các độc giả châu Âu và Mỹ là dòng thông qua người Phênixi đến người Hy Lạp vào đầu thế kỷ thứ tám TCN, sau đó đến người Etrusque vào cùng thế kỷ đó, sang thế kỷ kế tiếp thì đến người La Mã, và bảng chữ cái La Mã có điều chỉnh chút ít chính là bảng chữ cái được dùng để in cuốn sách này. Nhờ ưu thế tiềm tàng của mình là có thể kết hợp tính chính xác với sự đơn giản, các bảng chữ cái đã được áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực trên toàn thế giới ngày nay.
Tuy sao chép bản gốc và cải biên là phương cách đơn giản nhất để lan truyền công nghệ, song đôi khi cách đó cũng chẳng khả thi. Các bản gốc có thể bị giữ kín chẳng cho ai đọc, hoặc nếu người ta chưa thấm nhuần về công nghệ đó thì có đọc cũng chẳng hiểu gì. Người ta có thể đồn đãi về một phát minh đã được tiến hành ở đâu đó xa xôi, song chi tiết thế nào thì chẳng đến tai ta được. Có thể người ta chỉ được biết về ý tưởng cơ bản [của phát minh đó] mà thôi: có ai đó, bằng cách nào đó, đã thành công và đạt được kết quả cuối cùng nào đó. Cái tri thức đó có thể chẳng bao giờ gây cảm hứng cho những người khác, theo cách lan truyền ý tưởng, để họ phát minh ra những con đường riêng của mình đặng dẫn đến cùng kết quả như vậy.
Một ví dụ nổi bật trong lịch sử là nguồn gốc của hệ chữ biểu vần được một người Anh-điêng thuộc bộ lạc Cherokee tên là Sequoyah phát minh tại Arkansas vào khoảng năm 1820 để ghi ngôn ngữ Cherokee. Sequoyah quan sát thấy người da trắng ghi những ký hiệu gì đó trên giấy, và nhờ những ký hiệu đó họ có lợi thế rất lớn là ghi lại được và có thể nhắc lại cả những bài nói dài lê thê. Tuy nhiên, cụ thể các ký hiệu đó vận hành ra sao thì đối với ông vẫn là một điều bí ẩn, bởi vì (cũng như hầu hết người Cherokee trước năm 1820) Sequoyah vốn mù chữ và không nói cũng chẳng đọc được tiếng Anh. Do là thợ rèn, Sequoyah khởi đầu bằng việc chế ra một hệ thống kế toán để giúp ông theo dõi các khoản nợ của khách hàng. Ông vẽ một bức tranh riêng cho mỗi khách hàng, kế đó ông vẽ những hình tròn và đường kẻ với kích thước khác nhau để biểu thị số tiền mà người đó nợ.
Vào khoảng 1810, Sequoyah quyết định tiến tới xây dựng một hệ chữ viết cho tiếng Cherokee. Ông bắt đầu từ chỗ vẽ tranh, nhưng rồi lại thôi vì tranh vẽ thì quá phức tạp và đòi hỏi quá cao về tính nghệ thuật. Sau đó ông bắt đầu phát minh ra những ký hiệu riêng cho từng từ một, thế rồi cũng đâm ra không thỏa mãn vì dù đã chế ra đến hàng ngàn ký hiệu nhưng vẫn còn phải tạo nhiều hơn nữa.
Bộ ký hiệu mà Sequoyah phát minh ra để ghi các âm tiết của tiếng Cherokee.
Cuối cùng Sequoyah nhận ra rằng các từ được tạo ra bằng một số lượng không nhiều các âm khác nhau, các âm này trở đi trở lại trong nhiều từ khác nhau, cái mà ngày nay ta gọi là âm tiết. Đầu tiên ông chế ra 200 ký hiệu ghi âm tiết, dần dần rút xuống còn 85, hầu hết trong số đó là kết hợp giữa một phụ âm với một nguyên âm.
Để phát minh ra những chữ cái của mình, Sequoyah một phần sao chép những chữ cái trong một cuốn sách tập đánh vần tiếng Anh mà một thầy giáo cho ông mượn. Khoảng một tá chữ cái trong bảng chữ cái biểu vần Cherokee được lấy trực tiếp từ các chữ cái tiếng Anh đó, mặc dù dĩ nhiên là ý nghĩa hoàn toàn thay đổi bởi Sequoyah không biết nghĩa tiếng Anh. Chẳng hạn, ông chọn hình dạng các con chữ D, R, b, h để biểu thị các âm tiết a, e, si và ni trong tiếng Cherokee, trong khi hình dạng của con số 4 được ông chọn để ghi âm tiết se. Ông tự chế ra những ký hiệu khác bằng cách cải biên chữ cái tiếng Anh, chẳng hạn như chế ra các ký hiệu để ghi các âm tiết yu, sa và na. Lại có những ký hiệu khác hoàn toàn do ông sáng tạo ra để ghi các âm tiết ho, li và nu. Bảng chữ cái biểu vần của Sequoyah được đông đảo các nhà ngôn ngữ học chuyên nghiệp khâm phục bởi nó hoàn toàn thích hợp với các âm của tiếng Cherokee và lại rất dễ học. Chỉ trong một thời gian ngắn, người Cherokee đã đạt được tỷ lệ hầu như 100% biết đọc biết viết bằng bảng chữ cái này, họ mua hẳn một nhà in, đúc chữ in bằng mẫu tự Cherokee và bắt đầu in sách báo.
Chữ viết Cherokee đến nay vẫn là một trong những ví dụ hùng hồn nhất về một chữ viết nảy sinh từ sự lan truyền ý tưởng. Ta biết rằng Sequoyah đã có được giấy và các vật liệu khác dùng để viết, ý tưởng về một hệ chữ viết, ý tưởng dùng những ký hiệu riêng biệt, và hình thức của một loạt mấy chục ký hiệu. Tuy nhiên, vì Sequoyah không đọc được cũng chẳng viết được tiếng Anh, ông chẳng hề biết các chi tiết hay thậm chí không hề nắm được những nguyên lý của các hệ chữ viết đang tồn tại quanh ông. Nhìn thấy quanh mình toàn những bảng chữ cái mà ông không hiểu được, ông bèn phát minh lại một bảng chữ cái biểu vần mà không hề biết rằng người đảo Minoa ở đảo Crete từng tạo ra một bảng chữ cái biểu vần khác những 3.500 năm trước.
Ví dụ của Sequoyah có thể là tiêu biểu cho thấy việc lan truyền ý tưởng cũng có thể đã dẫn tới nhiều hệ chữ viết vào thời cổ đại. Bảng chữ cái han’gul do Hoàng đế Sejong của Triều Tiên phát minh vào năm 1446 cho tiếng Triều Tiên rõ ràng là lấy ý tưởng từ dạng hình vuông của chữ Hán và từ nguyên lý chữ cái của chữ viết Phật giáo Mông Cổ hoặc Tây Tạng. Tuy nhiên, vua Sejong đã phát minh ra hình thức của các chữ cái han’gul và một số đặc tính riêng biệt cho bảng chữ cái của ông, trong đó có sự kết hợp các chữ cái theo âm tiết thành từng khối vuông, dùng các dạng chữ có liên quan để ghi những phụ âm hoặc nguyên âm có liên quan, và các dạng chữ ghi phụ âm để mô tả vị trí giữ môi hoặc lưỡi khi phát âm phụ âm đó. Tương tự, bảng chữ cái ogham từng được dùng ở Ireland và một phần của vùng văn hóa Celte trên đảo Anh vào khoảng thế kỷ thứ 4 cũng áp dụng nguyên lý chữ cái (trong trường hợp này là của các hệ chữ cái châu Âu) nhưng ở đây người ta cũng lại tạo ra những con chữ hoàn toàn của riêng mình, có lẽ dựa trên hệ thống ký hiệu của ngôn ngữ bàn tay vốn sử dụng năm ngón tay.
Ta có thể tự tin nhận định rằng han’gul và ogham là những hệ chữ viết ra đời từ sự lan truyền ý tưởng chứ không phải là phát minh ra đời một cách độc lập và cô biệt, bởi ta biết rằng cả hai xã hội [tạo ra những hệ chữ viết này] đều có tiếp xúc chặt chẽ với các xã hội vốn đã có sẵn chữ viết, và bởi ta cũng thấy rõ những hệ chữ viết ngoại lai nào đã gợi ý cho họ. Ngược lại, ta có thể tự tin mà nói rằng chữ viết hình nêm Sumer và chữ viết Trung Mỹ thời kỳ đầu là những phát minh độc lập, bởi vào thời điểm chúng xuất hiện đầu tiên thì chưa hề có hệ chữ viết nào tồn tại trước đó ở bán cầu của họ để gợi ý cho họ cả. Còn về trường hợp nguồn gốc chữ viết ở đảo Phục Sinh, ở Trung Hoa và ở Ai Cập, người ta vẫn đang tranh cãi.
Người Polynesia sinh sống trên Đảo Phục Sinh giữa Thái Bình Dương có một chữ viết độc nhất vô nhị mà những mẫu xưa nhất còn giữ được có niên đại rất mới, chỉ khoảng 1851, một thời gian lâu sau khi người châu Âu đặt chân đến Phục Sinh vào năm 1722. Có lẽ chữ viết đã phát sinh một cách độc lập trên Phục Sinh từ trước khi người châu Âu đến, mặc dù không có bằng chứng nào còn sót lại. Song cách giải thích đơn giản nhất là chấp nhận các sự kiện như chúng có, nghĩa là hãy cứ giả định rằng dân đảo Phục Sinh, sau khi nhìn thấy bản tuyên bố sáp nhập – vốn được viết bằng chữ – mà một đoàn thám hiểm Tây Ban Nha trao cho họ vào năm 1770, đã lấy ý tưởng từ đó để phát minh ra chữ viết của riêng mình.
Một văn bản Triều Tiên (bài thơ “Hoa trên đồi” của So-Wol Kim) minh họa cho hệ chữ viết độc đáo han’gul. Mỗi khối vuông biểu thị một âm tiết, song mỗi ký hiệu cấu thành bên trong mỗi khối lại biểu thị một chữ cái.
Còn về chữ viết Trung Hoa, mà dấu vết xưa nhất được chứng thực là khoảng 1.300 năm TCN nhưng có thể còn xưa hơn thế, cũng có những ký hiệu độc đáo và một số nguyên lý độc đáo không đâu khác có, và hầu hết các học giả đều cho rằng cũng đã phát sinh độc lập. Chữ viết đã phát triển từ trước 3.000 năm TCN ở Sumer, cách những trung tâm đô thị của Trung Hoa thời cổ những 4.000 dặm (khoảng 6.400 km, ND) về phía tây, và xuất hiện vào trước năm 2.200 TCN ở thung lũng Ấn hà, cách Trung Hoa 2.600 dặm (khoảng gần 4.200 km, ND) về phía tây, nhưng trên toàn bộ khu vực giữa thung lũng Ấn Hà và Trung Hoa thì không có một hệ chữ viết cổ nào được biết đến cả. Như vậy, không có bằng chứng nào cho thấy các thư lại Trung Hoa xưa nhất đã không hề biết tới một hệ chữ viết nào khác hầu gợi ý cho họ.
Chữ tượng hình Ai Cập, loại chữ lừng danh nhất trong mọi hệ chữ viết cổ đại, cũng thường được cho là sản phẩm phát minh độc lập, nhưng cũng có cách giải thích khác rằng đó là sản phẩm của sự lan truyền ý tưởng, và so với trường hợp chữ Hán thì khả năng này lớn hơn. Chữ tượng hình xuất hiện khá đột ngột, gần như trọn vẹn về hình thức, vào khoảng 3.000 năm TCN. Ai Cập chỉ cách Sumer 800 dặm (1.280 km, ND) về phía tây và có quan hệ giao thương với Sumer. Tôi thấy thật đáng ngờ rằng không một chứng cứ nào về sự dần dần hình thành chữ tượng hình Ai Cập còn lại đến ngày nay mặc dù khí hậu khô ráo của Ai Cập lẽ ra thuận lợi cho việc bảo tồn những thử nghiệm đầu tiên về chữ viết, trong khi khí hậu Sumer vốn cũng khô ráo như vậy nên đã bảo quản được rất nhiều chứng cứ về sự hình thành chữ hình nêm Sumer trong ít nhất vài thế kỷ trước 3.000 năm TCN. Cũng đáng ngờ như vậy là sự xuất hiện của một số hệ chữ viết khác mà thoạt nhìn có vẻ như đã được phát minh độc lập, đó là các hệ chữ viết ở Iran, đảo Crete và Thổ Nhĩ Kỳ (cái gọi là chữ viết tiền Elamite, chữ viết bằng hình vẽ Crete và chữ tượng hình Hittite) sau khi chữ Sumer và chữ Ai Cập đã trở nên hưng thịnh. Mặc dù mỗi hệ trong ba hệ kể trên đều dùng những bộ ký hiệu riêng biệt không vay mượn từ chữ Sumer hay Ai Cập, nhưng khó lòng có chuyện những dân tộc tạo ra các chữ viết đó lại không biết đến chữ viết của các dân tộc láng giềng mà họ vẫn hay giao thương.
Sẽ là sự trùng hợp khác thường nếu như, sau hàng triệu năm loài người tồn tại không có chữ viết, tất cả các xã hội sống ở vùng Địa Trung Hải và Cận Đông đó, không ai bảo ai lại tình cờ nảy ra ý tưởng phát minh chữ viết cách nhau chỉ vài thế kỷ. Bởi vậy nên, theo tôi, có thể lý giải đây là trường hợp có sự lan truyền ý tưởng, cũng như trường hợp hệ chữ biểu vần của Sequoyah. Nghĩa là, người Ai Cập và các dân tộc khác có thể đã học được từ người Sumer ý tưởng chữ viết và có thể cả một vài nguyên lý, sau đó họ phát minh ra những nguyên lý khác và toàn bộ hình dạng cụ thể các con chữ của riêng mình.
Một ví dụ về chữ viết Trung Hoa: một bản giấy cuộn của Wu Li, năm 1679.
Giờ ta hãy quay lại với câu hỏi chính đặt ra ở phần đầu chương này: tại sao chữ viết đã phát sinh và bành trướng đến một số xã hội này chứ không đến nhiều xã hội khác? Xuất phát điểm thuận lợi để chúng ta bàn là khả năng hạn chế, công dụng hạn chế và số người dùng hạn chế của các hệ chữ viết xưa nhất.
Các hệ chữ viết xưa nhất hãy còn chưa hoàn chỉnh, tùy tiện hoặc rắc rối, hoặc cả ba. Chẳng hạn, những chữ hình nêm Sumer cổ nhất không thể dùng để ghi văn xuôi bình thường mà chỉ là một thứ tốc ký kiểu như điện tín, vốn từ chỉ giới hạn ở những tên riêng, chữ số, đơn vị đo lường, những từ dùng để gọi các đối tượng được đếm, và dăm ba tính từ. Đó cũng chẳng khác nào một thư ký tòa án ở Mỹ ngày nay buộc phải ghi “John 27 fat sheep” (John 27 cừu béo) bởi chữ viết Anh thiếu những từ và ngữ pháp cần thiết để viết trọn câu “We order John to deliver the 27 fat sheep that he owes to the government” (Tòa ra lệnh cho John giao nộp 27 con cừu béo mà anh ta còn nợ chính phủ). Chữ hình nêm Sumer thời kỳ sau thì có thể ghi lại văn xuôi, nhưng lại bằng một cách rối rắm như tôi đã nói ở trên, trộn lẫn giữa chữ biểu tự, ký hiệu ghi âm và những từ hạn định không có chức năng phát âm, cộng lại đến hàng trăm ký hiệu riêng biệt. Chữ Kẻ vạch B, chữ viết của văn minh Mycene thuộc Hy Lạp thì ít ra cũng đơn giản hơn, dựa trên một hệ chữ biểu vần gồm khoảng 90 ký hiệu cộng với các chữ biểu tự. Song bù lại ưu điểm đó, chữ Kẻ vạch B lại khá là tùy tiện. Nó lược bỏ bất cứ phụ âm nào ở cuối từ, lại dùng cùng một ký hiệu để ghi đến mấy phụ âm có liên quan với nhau (chẳng hạn cùng một ký hiệu cho cả l lẫn r, cùng một ký hiệu khác cho cả b lẫn ph, lại cùng một ký hiệu nữa cho cả g, k lẫn kh). Chúng ta (người Mỹ, ND) đều biết, khi nghe những người Nhật chính hiệu nói tiếng Anh mà không phân biệt nổi l và r thì chúng ta bối rối ra sao; cứ thử hình dung mọi chuyện sẽ rối thế nào nếu bảng chữ cái tiếng Anh cũng làm tương tự là gộp các phụ âm khác lại cho vào cùng một chữ như tôi đã nói! Chẳng khác gì người Mỹ sẽ đánh vần những chữ “lap”, “rap”, “lab” và “laugh” giống hệt như nhau vậy.
Một hạn chế có liên quan nữa, ấy là chỉ một số ít người được học để dùng các hệ chữ viết cổ xưa đó. Tri thức về chữ viết chỉ bó hẹp ở một số thư lại chuyên nghiệp thuộc quyền sử dụng của nhà vua hoặc đền thờ. Chẳng hạn, không hề có bằng chứng nào cho thấy bất cứ người Hy Lạp Mycene nào cũng hiểu được chữ Kẻ vạch B nếu không kể các viên chức nhỏ trong bộ máy quan lại ở cung điện. Bởi chúng ta có thể phân biệt cá nhân từng thư lại một qua chữ viết tay của họ trên các văn bản còn lưu giữ được, nên có thể nói rằng toàn bộ các văn bản bằng chữ Kẻ vạch B còn giữ được ở các cung điện Mycene Hy Lạp là công trình của vỏn vẹn 75 thư lại (trong trường hợp Knossos) và 40 thư lại (trong trường hợp Pylos).
Công dụng của các hệ chữ viết cổ nhất có tính tốc ký, cồng kềnh và tùy tiện đó cũng hạn chế như số người dùng chúng. Bất cứ ai hy vọng phát hiện được tâm tư tình cảm của người Sumer hồi 3.000 năm TCN cầm chắc là sẽ thất vọng. Có chăng, các văn bản Sumer đầu tiên chỉ là những bảng tường trình vô cảm của các quan lại trong cung điện và đền thờ. Khoảng 90% các bảng ghi trong văn khố Sumer xưa nhất ở thành phố Uruk mà ngày nay ta biết là những hồ sơ hành chính ghi về các hàng hóa được nhập vào, những khoản trả cho nhân công và các sản phẩm nông nghiệp được phân phối. Chỉ về sau, khi người Sumer tiến xa hơn chữ biểu tự mà phát minh ra chữ viết ghi âm, họ mới bắt đầu ghi chép văn xuôi tự sự, chẳng hạn các bố cáo và huyền thoại.
Người Hy Lạp Mycene thậm chí chưa bao giờ đạt tới cái giai đoạn bố-cáo-và-huyền-thoại đó. Một phần ba tất cả các bản văn Kẻ vạch B ở cung điện Knossos là những báo cáo kế toán về số cừu và len, còn với chữ viết ở cung điện Pylos thì chiếm tỷ lệ cao bất thường là các bản ghi về vải lanh. Chữ Kẻ vạch B vốn dĩ tùy tiện đến mức nó chỉ được dùng trong các báo cáo ở cung điện, nơi mà do văn cảnh và lượng từ hạn chế nên dù có mập mờ người ta vẫn có thể suy ra được. Không có dấu vết nào cho thấy người ta dùng nó để ghi lại văn chương. Các anh hùng ca Ilyad và Odyssey được sáng tác và lưu truyền bởi những nghệ nhân mù chữ cho những người nghe mù chữ, mãi đến khi bảng chữ cái Hy Lạp hình thành hàng mấy thế kỷ sau thì mới được ghi lại thành văn bản.
Các chữ viết Ai Cập, Trung Mỹ và Trung Hoa thời kỳ đầu cũng được sử dụng một cách hạn chế như vậy. Chữ tượng hình Ai Cập sớm chỉ dùng để ghi các bố cáo của tăng lữ và nhà nước cũng như báo cáo của quan lại. Tương tự, chữ viết Maya còn giữ được đến nay cũng chỉ dùng để ghi lại các bố cáo, sự ra đời, sự đăng quang và chiến công của các ông vua, cùng những quan sát thiên văn của các tăng lữ. Chữ viết Trung Hoa xưa nhất còn giữ được từ cuối thời nhà Thương chỉ gồm những lời bói toán về cơ sự của triều đình, cái gọi là bốc từ. Một văn bản tiêu biểu đời nhà Thương viết như sau: “Đọc vết nứt [trên mảnh xương thú sau khi nung] xong, nhà vua nói: Nếu hài nhi sinh vào ngày canh, ấy là điềm đại cát”.
Chúng ta ngày nay hẳn muốn đặt câu hỏi tại sao các xã hội từng phát minh ra chữ viết đầu tiên đó lại chấp nhận sự tùy tiện kia để khiến chữ viết chỉ phục vụ cho vài chức năng ít ỏi và chỉ nằm trong tay một dúm vài thư lại. Nhưng ngay cả việc đặt ra câu hỏi đó cũng đã cho thấy cái khoảng cách giữa cách nghĩ của người xưa với những đòi hỏi của chúng ta ngày nay trong thời đại ai cũng biết đọc biết viết. Chính là người ta đã cố tình giữ cho chữ viết cổ chỉ hạn chế trong một vài công dụng ít ỏi kia, khiến những ai muốn phát minh ra những hệ chữ viết ít tùy tiện hơn đều phải thối chí. Các ông vua và tăng lữ Sumer cổ đại muốn chữ viết chỉ được dùng bởi các thư lại chuyên nghiệp để ghi số cừu cần nộp thuế mà thôi, chứ không muốn quảng đại quần chúng dùng nó để viết thơ và bày đặt mưu đồ phản loạn. Chỉ mãi về sau mới có chuyện dân thường sử dụng chữ viết, khi các hệ chữ viết đã trở nên đơn giản hơn và mang tính biểu cảm hơn.
Chẳng hạn, với sự suy tàn của nền văn minh Mycene Hy Lạp vào khoảng 1.200 năm TCN, chữ Kẻ vạch B biến mất và Hy Lạp lại quay về thời kỳ không văn tự. Khi chữ viết rốt cuộc cũng quay về với Hy Lạp vào thế kỷ thứ 8 TCN thì chữ viết Hy Lạp mới, những người sử dụng nó và công dụng của nó đã khác lắm rồi. Chữ viết Hy Lạp lúc này không còn là một hệ thống tùy tiện trộn lẫn giữa chữ biểu vần với chữ biểu tự, mà là một bảng chữ cái vay mượn từ bảng chữ cái ghi phụ âm của người Phênixi được hoàn thiện thêm bằng những chữ cái ghi nguyên âm do chính người Hy Lạp chế ra. Thay vì những danh mục liệt kê cừu mà chỉ các thư lại mới đọc được và chỉ được đọc trong cung điện, bảng chữ cái Hy Lạp mới này ngay từ lúc ra đời đã là phương tiện ghi chép thơ ca và tác phẩm hài hước, được dân thường đọc trong nhà riêng của họ. Chẳng hạn, ví dụ xưa nhất còn lại đến nay về bảng chữ cái Hy Lạp được khắc lên một vò rượu Athenes vào khoảng năm 740 TCN là một dòng thơ thông báo về một cuộc thi múa: “Người nào tham dự mà múa thanh thoát nhất thì sẽ được phần thưởng là chiếc vò này”. Ví dụ kế tiếp là ba dòng thơ dactin sáu âm tiết khắc lên một chiếc cốc uống: “Tôi là chiếc cốc uống ngọt ngào của Nestor. Ai uống cốc này thì dục vọng của nàng Aphrodite mang vương miện đẹp đẽ sẽ tóm lấy y”. Những ví dụ xưa nhất còn giữ được về bảng chữ cái Etruscan và bảng chữ cái La Mã cũng là những dòng chữ khắc trên cốc uống và vật đựng rượu. Mãi đến về sau, nhờ dễ học, bảng chữ cái ghi âm – vốn ban đầu chỉ là phương tiện thông tri có tính cá nhân – mới được dùng vào mục đích công cộng và hành chính. Như vậy, trình tự hình thành các công dụng của bảng chữ cái ghi âm là ngược lại với các hệ chữ cái biểu vần và biểu tự trước kia.
Hẳn chính vì công dụng ít ỏi và số người sử dụng hạn chế nên chữ viết mới xuất hiện muộn màng như vậy trong lịch sử tiến hóa của loài người. Tất cả các hệ chữ viết mà có thể đã được phát minh độc lập (ở Sumer, Mexico, Trung Hoa và Ai Cập) và tất cả các hệ chữ viết đầu tiên được cải biên từ các hệ đó (chẳng hạn như ở Crete, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, thung lũng Ấn hà và khu vực Maya) đều hình thành ở những xã hội có phân chia đẳng cấp với những thiết chế chính trị phức tạp và tập trung hóa, mà các xã hội này đều có liên quan mật thiết với nền sản xuất lương thực, về điều này chúng ta đã khảo sát ở chương trước. Chữ viết ban đầu phục vụ cho nhu cầu của các thiết chế chính trị này (chẳng hạn như lưu trữ hồ sơ và bố cáo lệnh của nhà vua), và người sử dụng chữ viết là những thư lại chuyên môn dành trọn thời gian cho việc đó, [bản thân không sản xuất lương thực mà] sống nhờ lương thực thặng dư do các nông dân sản xuất lương thực làm ra. Các xã hội săn bắt hái lượm thì đã chẳng bao giờ phát minh ra hay thậm chí chưa bao giờ tiếp thu chữ viết, bởi họ không có cả nhu cầu sử dụng chữ viết một cách thể chế hóa lẫn cơ chế xã hội và nông nghiệp cần thiết để tạo thặng dư lương thực đặng nuôi các thư lại chuyên nghiệp.
Như vậy, nền sản xuất lương thực, cùng với hàng ngàn năm tiến hóa xã hội theo sau sự tiếp thu nền sản xuất lương thực, là nhân tố có tầm quan trọng thiết yếu cho sự tiến hóa của chữ viết cũng như cho sự tiến hóa của vi trùng gây bệnh truyền nhiễm cho người. Chữ viết đã chỉ phát sinh độc lập ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, Mexico và có thể ở Trung Hoa chính bởi đó là những khu vực đầu tiên mà sản xuất lương thực đã nảy sinh ở Tân Thế giới hoặc ở Cựu Thế giới. Một khi chữ viết đã được một vài xã hội đó phát minh ra, nó liền bành trướng nhờ sự giao thương, bằng những cuộc chinh phục và qua đường tôn giáo đến những xã hội khác có nền kinh tế và tổ chức chính trị tương tự.
Tuy sản xuất lương thực là một điều kiện cần thiết cho việc sớm phát minh hoặc sớm tiếp thu chữ viết, song đó không phải điều kiện đủ. Ở đầu chương này tôi đã nhắc đến việc một số xã hội có sản xuất lương thực và tổ chức chính trị phức tạp lại đã không phát minh hoặc không tiếp thu được chữ viết cho mãi tới thời hiện đại. Những trường hợp đó, mà thoạt trông có vẻ khó hiểu với chúng ta, những người hiện đại vốn đã quen coi chữ viết là thứ không thể thiếu đối với một xã hội phức tạp, bao gồm một trong những đế quốc lớn nhất trên thế giới vào thời điểm năm 1520, ấy là đế quốc Inca ở Nam Mỹ. Đó còn là trường hợp đế quốc sơ khai Tonga vùng hải đảo, nhà nước Hawaii vốn đã hình thành vào cuối thế kỷ 18, tất cả các nhà nước và tù trưởng quốc ở châu Phi hạ xích đạo và Tây Phi hạ Sahara trước khi đạo Hồi bành trướng đến vùng này, và những xã hội lớn nhất của người Bắc Mỹ bản địa, các xã hội ở thung lũng sông Missisippi và các phụ lưu của nó. Tại sao hết thảy các xã hội đó đã không có được chữ viết mặc dù chúng đều có những điều kiện tiên quyết giống như các xã hội có chữ viết?
Ở đây ta phải tự nhắc mình rằng đại đa số các xã hội có chữ viết đã có được nó bằng cách hoặc vay mượn từ các xã hội láng giềng hoặc tự mình phát minh ra. Các xã hội không có chữ viết mà tôi vừa liệt kê trên đây là những xã hội đã khởi đầu sản xuất lương thực muộn hơn so với Sumer, Mexico và Trung Hoa. (Trường hợp duy nhất không chắc lắm ở đây là niên đại tương đối của khởi đầu sản xuất lương thực ở Mexico và ở vùng Andes mà xét cho cùng là lãnh địa của đế quốc Inca). Giá như có đủ thời gian, các xã hội chưa có chữ viết đó ắt hẳn cũng đã tự phát triển nên chữ viết của riêng mình. Giá như nằm gần Sumer, Mexico và Trung Hoa hơn, các xã hội đó hẳn đã tiếp thu được chữ viết hoặc ý tưởng về chữ viết từ các trung tâm đó, cũng như Ấn Độ, Maya và hầu hết các xã hội có chữ viết khác đã làm. Nhưng các xã hội đó lại nằm quá xa các trung tâm chữ viết đầu tiên kia nên mãi đến thời hiện đại mới tiếp thu được chữ viết.
Tầm quan trọng của vị trí cô biệt là hiển nhiên nhất trong trường hợp Hawaii và Tonga, cả hai đều cách những xã hội có chữ viết gần nhất tối thiểu 4.000 dặm (6.400 km, ND) qua đại dương. Các xã hội [không có chữ viết] khác thì minh chứng cho một điểm quan trọng rằng khoảng cách theo đường chim bay chẳng phải là cách đo lường thích hợp cho sự cô biệt ở loài người. Vùng Andes chỉ cách Mexico 1.200 dặm (1.920 km), các vương quốc ở Tây Phi chỉ cách Bắc Phi 1.500 dặm (2.400 km) và vùng cửa sông Missisippi chỉ cách Mexico vỏn vẹn 700 dặm (1.120 km). Các khoảng cách đó ngắn hơn nhiều so với khoảng cách mà bảng chữ cái đã phải vượt qua để từ quê hương của nó ở bờ đông Địa Trung Hải đến Ireland, Ethiopia và Đông Nam Á trong vòng 2.000 năm sau khi nó được phát minh. Thế nhưng con người lại bị cản trở vì những rào cản sinh thái và rào cản bằng mặt nước mà chim có thể bay qua dễ dàng. Các nhà nước ở Bắc Phi (có chữ viết) và Tây Phi (không có chữ viết) bị ngăn cách với nhau bởi sa mạc Sahara vốn không thích hợp cho nông nghiệp và thành thị. Tương tự, các sa mạc ở phía bắc Mexico ngăn cách các trung tâm đô thị của miền nam Mexico với các tù trưởng quốc ở thung lũng Missisippi. Việc liên lạc giữa miền nam Mexico với vùng Andes đòi hỏi phải đi bằng đường biển hoặc phải đi đường bộ một quãng dài băng qua eo đất Darien nhỏ hẹp, đầy rừng rậm và chưa bao giờ có thành thị. Chính vì vậy mà vùng Andes, Tây Phi và thung lũng Missisippi bị cách ly hẳn với các xã hội có chữ viết.
Nói vậy không phải có nghĩa là các xã hội không có chữ viết đã hoàn toàn bị cách ly. Tây Phi rốt cuộc cũng đã tiếp thu được các gia súc của Lưỡi liềm Phì nhiêu băng qua sa mạc Sahara, sau đó thì tiếp nhận ảnh hưởng của Hồi giáo trong đó có chữ Arập. Ngô đã phát tán từ Mexico đến vùng Andes và từ Mexico đến thung lũng Missisippi song chậm hơn. Nhưng ta đã thấy ở Chương 10 rằng trục bắc-nam và các rào cản sinh thái ở châu Phi và châu Mỹ đã kìm hãm việc phát tán các loài cây trồng và vật nuôi. Lịch sử chữ viết minh họa rõ cho ta thấy rằng, tương tự như vậy, [rào cản] địa lý và sinh thái có ảnh hưởng thế nào đến sự truyền bá các phát minh của loài người.
Phần 3: Từ lương thực đến súng, vi trùng và thép
Chương 13 - Mẹ đẻ của nhu cầu
Vào ngày 3 tháng bảy năm 1908, các nhà khảo cổ tiến hành khai quật cung điện Minoa thời cổ đại ở Phaistos trên đảo Crete và tình cờ bắt gặp một trong những mẫu vật đặc sắc nhất trong lịch sử công nghệ. Thoạt trông nó chẳng có gì đặc biệt: chỉ là một chiếc đĩa tròn nhỏ, phẳng, không vẽ vời gì, làm bằng đất sét nung kỹ, đường kính 6 inch rưỡi (khoảng 16,5 cm, ND). Song khi quan sát kỹ người ta phát hiện rằng mỗi mặt đĩa đều phủ đầy những chữ viết nằm trên một đường cong xoáy trôn ốc theo chiều kim đồng hồ tạo thành năm vòng từ mép đĩa vào trung tâm đĩa. Tổng cộng có 241 ký hiệu, được phân chia rõ rệt thành vài nhóm ký hiệu (có lẽ là bao gồm những từ), ngăn cách nhau bởi những vạch khắc thẳng đứng. Người viết ắt đã trù tính trước và thực hiện cái đĩa này một cách cẩn trọng, viết lên toàn bộ không gian trống bắt đầu từ mép đĩa, men theo đường xoáy trôn ốc sao cho khi vào đến chính giữa đĩa thì vẫn không thiếu chỗ.
Ngay từ khi được khai quật, chiếc đĩa đã là một bí ẩn đối với các sử gia chuyên về chữ viết. Số lượng ký tự riêng biệt (45) gợi ý rằng đây là một hệ chữ biểu vần chứ không phải hệ chữ cái ghi âm, nhưng người ta vẫn chưa giải mã được nó, và hình dạng các ký hiệu cũng chẳng giống bất cứ hệ chữ viết nào người ta đã gặp. Người ta cũng không hề phát hiện được thêm một mẩu nào của loại chữ lạ này trong suốt 89 năm từ khi phát hiện ra nó. Do vậy vẫn còn chưa rõ liệu đây có phải là chữ viết bản địa của Crete hay là một chữ viết từ nơi khác du nhập đến.
Một mặt chiếc đĩa Phaistos gồm hai mặt.
Đối với các nhà lịch sử công nghệ, chiếc đĩa Phaistos thậm chí còn khó hiểu hơn; niên đại dự đoán là 1.700 năm TCN làm nó nghiễm nhiên trở thành văn bản in sớm nhất trên thế giới. Thay vì được khắc bằng tay như tất cả các văn bản bằng chữ viết Kẻ vạch A và Kẻ vạch B, các ký hiệu trên đĩa này được dập lên đất sét mềm (sau đó được nung cứng) bằng những con dấu có khắc nổi các ký hiệu. Rõ ràng là người in đã có một bộ gồm ít nhất 45 con dấu, mỗi con cho một ký hiệu xuất hiện trên đĩa. Chế tác những con dấu đó ắt hẳn đòi hỏi rất nhiều công sức, và chắc chắn người ta làm ra những con dấu đó không phải chỉ để in mỗi một văn bản này. Dù người sử dụng chúng là ai, có lẽ họ đã viết và in nhiều thứ. Với những con dấu đó, chủ nhân chúng có thể sản xuất các bản sao nhanh và gọn hơn nhiều so với nếu phải hì hụi viết từng ký hiệu một vốn dĩ phức tạp của thứ chữ viết này.
Đĩa Phaistos là một bước tiên phong trong kỹ nghệ in. Đến khi loài người nỗ lực phát minh nghề in vào những lần sau, họ cũng khắc các con chữ hay khối chữ in theo cách tương tự, song dùng mực in lên giấy chứ không phải in lên đất sét không dùng mực. Tuy nhiên, mãi 2.500 năm sau người ta mới lại nỗ lực phát minh nghề in ở Trung Hoa còn ở châu Âu Trung cổ thì phải đến tận 3.700 năm sau. Tại sao kỹ thuật chế tác chiếc đĩa này phát triển từ sớm như vậy song lại không được áp dụng rộng rãi ở Hy Lạp hay nơi nào khác ở Địa Trung Hải thời cổ đại? Tại sao phương pháp in đĩa đó đã được phát minh ở Crete vào khoảng 1.700 năm TCN chứ không phải vào một thời nào khác ở vùng Lưỡng Hà, Mexico hay bất cứ trung tâm chữ viết cổ đại nào khác? Tại sao phải mất hàng ngàn năm sau người ta mới nảy ra thêm ý tưởng dùng mực và máy để rồi đi đến giải pháp máy in? Vậy nên chiếc đĩa này là một thách thức to lớn cho các nhà sử học. Nếu mọi phát minh đều tương tự như có thể suy ra từ trường hợp chiếc đĩa này – độc nhất vô nhị và bất khả đoán – thì mọi nỗ lực hòng khái quát hóa về lịch sử công nghệ có nguy cơ thất bại ngay từ đầu.
Kỹ thuật, dưới dạng vũ khí và công cụ vận chuyển, là phương tiện trực tiếp nhất để một số dân tộc có thể bành trướng lãnh địa và chinh phục các dân tộc khác. Điều đó khiến cho công nghệ trở thành nguyên nhân chủ đạo trong mẫu hình lớn nhất của lịch sử. Nhưng tại sao chính người Âu-Á chứ không phải người châu Mỹ bản địa hay người châu Phi hạ Sahara là những kẻ đã phát minh ra súng, tàu vượt đại dương và thiết bị bằng thép? Không chỉ những phát minh kể trên mà hầu hết các thành tựu công nghệ quan trọng, từ máy in đến thủy tinh và động cơ hơi nước, tất cả đều có sự khác biệt đó. Tại sao tất cả đều là phát minh của người Âu-Á? Tại sao tất cả người New Guinea và châu Úc bản địa vào năm 1800 đều vẫn đang dùng công cụ bằng đá giống như những công cụ mà Âu-Á và hầu hết châu Phi đã vứt bỏ từ mấy ngàn năm trước, mặc dù một số trữ lượng đồng và sắt dồi dào nhất thế giới nằm ở chính New Guinea và châu Úc? Tất cả các nhân tố đó lý giải vì sao nhiều người không hiểu biết thường vẫn cho rằng người Âu-Á vốn dĩ ưu việt hơn các dân tộc khác về khả năng sáng tạo và trí thông minh.
Mặt khác, nếu như không hề có sự khác biệt nào về sinh học thần kinh giữa các dân tộc để dẫn tới sự khác biệt nói trên giữa các lục địa trong sự phát triển công nghệ, thì cái gì đã dẫn tới sự khác biệt đó? Có một quan điểm khác dựa vào lý thuyết “người hùng phát minh”. Theo thuyết đó, tiến bộ công nghệ dường như chỉ là thành quả của một số ít cá nhân, những thiên tài cực kỳ hiếm hoi cỡ Johannes Gutenberg, James Watt, Thomas Edison và anh em nhà Wright. Họ là người châu Âu hoặc hậu duệ của người châu Âu di cư sang châu Mỹ, cũng như Archimedes và các thiên tài hiếm hoi khác vào thời cổ đại. Liệu những thiên tài như vậy cũng có thể sinh ra ở Tasmania hay Namibia không? Phải chăng lịch sử công nghệ không tùy thuộc vào cái gì khác ngoài việc dăm ba thiên tài phát minh tình cờ ra đời ở nơi này chứ không phải ở nơi nọ?
Lại còn một quan điểm khác cho rằng vấn đề không phải ở tài phát minh của một ít cá nhân, mà là khả năng tiếp nhận của toàn bộ xã hội đối với sự đổi mới. Một vài xã hội hình như bảo thủ hết thuốc chữa, chỉ biết nhìn vào bên trong và thù địch với sự thay đổi. Đó là ấn tượng của nhiều người phương Tây từng ra sức giúp các dân tộc Thế giới Thứ ba để rồi thất vọng ê chề. Từng cá nhân một trong dân tộc thì có thể rất ư thông minh; vấn đề là ở xã hội của các dân tộc đó. Nếu không thì làm thế nào lý giải do đâu dân bản địa vùng đông bắc Australia đã không tiếp thu cung tên dù đã nhìn thấy cư dân hải đảo vùng Eo biển Torres (mà họ vẫn hay qua lại buôn bán) sử dụng cung tên? Liệu có thể chỉ là do tất cả các xã hội trên toàn bộ một lục địa đều không có tính tiếp thu [cái mới] cho nên công nghệ ở đó chậm phát triển không? Trong chương này rốt cuộc chúng ta sẽ đề cập đến một vấn đề trung tâm của cuốn sách này: câu hỏi vì sao công nghệ đã hình thành và tiến hóa trên các lục địa với tốc độ khác nhau đến vậy.
Xuất phát điểm để chúng ta thảo luận là quan niệm thường tình vốn vẫn cho rằng “Nhu cầu là mẹ của phát minh”. Nghĩa là, người ta cho rằng phát minh sẽ xuất hiện khi một xã hội có những nhu cầu chưa được thỏa mãn: một số công nghệ bị [xã hội đó nói chung] coi là chưa đủ hoặc còn hạn chế. Một số người, vì động cơ tiền bạc hoặc công danh, nhận thức được nhu cầu ấy và cố tìm cách thỏa mãn nó. Một số nhà phát minh rốt cuộc cũng tìm ra một giải pháp ưu việt hơn kỹ thuật hiện có và còn hạn chế kia. Xã hội tiếp nhận giải pháp này nếu nó tương hợp với các giá trị và các công nghệ khác của xã hội ấy.
Chỉ một số rất ít phát minh là phù hợp với quan niệm thường tình “nhu cầu là mẹ của phát minh”. Năm 1942, giữa chừng Thế chiến Thứ hai, chính phủ Mỹ lập ra Dự án Manhattan với mục tiêu hiển nhiên là phát minh công nghệ phục vụ cho việc chế tạo bom nguyên tử sớm hơn Đức quốc xã. Dự án đó kéo dài trong ba năm với phí tổn 2 tỉ đô-la (tương đương trên 20 tỉ đô-la ngày nay). Những trường hợp khác gồm phát minh máy tỉa hột bông của Eli Whitney vào năm 1794 để thay cho việc chải bằng tay cây bông vải (trồng ở miền nam Hoa Kỳ) vốn rất ư vất vả, và phát minh động cơ hơi nước của James Watt vào năm 1769 để giải quyết vấn đề bơm nước ra khỏi các mỏ than của nước Anh.
Những ví dụ quen thuộc này dễ khiến ta lầm tưởng rằng mọi phát minh quan trọng khác đều là để đáp ứng những nhu cầu thấy rõ. Trên thực tế, nhiều hoặc thậm chí hầu hết phát minh đều ra đời bởi những người vốn dĩ thích tò mò hoặc tính ưa táy máy, chứ thoạt tiên [xã hội] không hề có nhu cầu về cái sản phẩm họ đang muốn làm ra kia. Một khi thiết bị đã ra đời, nhà phát minh mới phải tìm cách ứng dụng nó. Chỉ sau khi phát minh đã được sử dụng trong một thời gian đáng kể thì người tiêu thụ mới bắt đầu cảm thấy họ “cần” nó. Lại có những thiết bị khác vốn được phát minh để phục vụ mục đích này nhưng rốt cuộc lại được áp dụng vào những mục đích khác mà [nhà phát minh] không sao ngờ trước được. Ta có thể sẽ ngạc nhiên nếu biết được rằng những phát minh ban đầu “chưa biết dùng để làm gì” ấy bao gồm hầu hết những đột phá công nghệ quan trọng của thời hiện đại, từ máy bay và xe hơi cho đến động cơ đốt trong, bóng đèn điện, máy quay đĩa và transistor. Như vậy, phát minh thường là mẹ của nhu cầu, chứ không phải ngược lại.
Một ví dụ hay về việc này là lịch sử chiếc máy quay đĩa của Thomas Edison, phát minh độc đáo nhất của nhà phát minh vĩ đại nhất thời hiện đại. Khi Edison tạo ra chiếc máy quay đĩa đầu tiên vào năm 1877, ông cho đăng một bài báo trong đó đề xuất mười công dụng khả dĩ cho phát minh của ông. Trong số đó có những công dụng như ghi lại lời trăn trối của người hấp hối, thu sách vào băng cho người mù nghe, báo giờ, dạy chính tả. Việc thu các bản nhạc không nằm ở vị trí ưu tiên trong danh sách của Edison. Mấy năm sau Edison bảo người trợ lý rằng phát minh của ông không có giá trị thương mại. Chỉ mấy năm sau nữa ông đã đổi ý và bước vào nghề kinh doanh bán máy quay đĩa, nhưng là để dùng làm máy đọc ghi trong công sở. Khi các doanh nhân khác chế ra máy nghe nhạc bằng cách thiết kế sao cho máy quay đĩa phát những bản nhạc phổ thông khi người ta nhét vào một đồng bạc, Edison bèn chống đối, cho rằng làm vậy là hạ thấp giá trị phát minh của ông, vốn được làm ra là để sử dụng vào những công việc công sở nghiêm túc. Mãi 20 năm sau Edison mới miễn cưỡng thừa nhận rằng công dụng chính của chiếc máy quay đĩa của ông là thu và phát nhạc.
Xe hơi là một phát minh khác mà công dụng ngày nay thật hiển nhiên. Thế nhưng, người ta đã phát minh ra nó chẳng phải để đáp ứng nhu cầu nào cả. Khi Nikolaus Otto chế ra chiếc động cơ hơi đốt đầu tiên vào năm 1866, ngựa vẫn đang đáp ứng tốt nhu cầu giao thông đường bộ của con người suốt gần 6.000 năm, lại thêm ngày càng được tăng cường bởi đường sắt chạy bằng động cơ hơi nước từ mấy chục năm trước đó. Chẳng hề có khủng hoảng thiếu về ngựa, cũng chẳng phải đường sắt khiến người ta chưa thỏa mãn.
Do động cơ của Otto hãy còn yếu ớt, nặng trịch lại cồng kềnh, cao những 7 bộ (khoảng hơn 2,1 m, ND), nó không hề tỏ ra có ưu thế gì so với ngựa. Mãi đến năm 1885 động cơ mới được cải tiến đến mức Gottfried Daimler tìm cách lắp động cơ lên xe đạp để tạo thành chiếc xe máy hai bánh đầu tiên, và mãi tới năm 1896 ông mới tạo ra chiếc xe tải đầu tiên.
Năm 1905, xe hơi vẫn còn là món đồ chơi đắt tiền, không đáng tin cậy chỉ dành cho người giàu. Đông đảo thiên hạ vẫn hài lòng với ngựa và đường sắt cho mãi đến Thế chiến thứ nhất, khi giới quân sự kết luận rằng quả thật họ cần xe tải. Những vận động ráo riết của giới sản xuất xe tải và quân đội trong những năm hậu chiến rốt cuộc đã thuyết phục được công chúng rằng quả thật họ cần tới phát minh này, nhờ vậy xe tải mới bắt đầu thay thế những cỗ xe ngựa kéo ở các nước công nghiệp hóa. Ngay cả ở những thành phố lớn nhất của Mỹ, sự đổi thay này cũng mất tới 50 năm.
Các nhà phát minh thường phải kiên trì mày mò tìm kiếm suốt một thời gian dài trong khi xã hội không hề cần tới, bởi các mẫu đầu tiên thường hãy còn quá thô sơ nên chưa thể hữu dụng. Những chiếc máy ảnh, máy đánh chữ và tivi đầu tiên trông cũng khiếp đảm như động cơ hơi nước cao 2,1 m của Otto. Điều đó khiến nhà phát minh khó lòng tiên liệu được liệu cái bản mẫu kinh khiếp đó của mình sẽ có bao giờ dùng được vào việc gì đó đặng đền bù cho thì giờ và chi phí bỏ ra phát triển nó không. Hàng năm, Hoa Kỳ cấp khoảng 70.000 bằng phát minh, nhưng chỉ một số ít trong đó cuối cùng tiến đến được giai đoạn sản xuất thương mại. Cứ mỗi phát minh cuối cùng tìm được công dụng nào đó thì lại có vô số phát minh khác không tìm được. Ngay cả những phát minh đáp ứng được nhu cầu mà [nhà phát minh] nhắm tới ban đầu thì về sau có khi nó lại tỏ ra hữu ích hơn khi đáp ứng những nhu cầu mà người ta không thể tiên liệu trước. Tuy James Watt thiết kế động cơ hơi nước để bơm nước ra khỏi các mỏ than, song chẳng bao lâu nó được dùng để cấp điện cho cối xay bông, sau đó làm sức đẩy cho đầu máy xe lửa và tàu thuyền (sinh lãi hơn nhiều).
Như vậy, cái quan niệm thường tình về phát minh (mà chúng ta dùng làm xuất phát điểm trên đây) đã đảo ngược vai trò của phát minh và nhu cầu. Nó cũng cường điệu tầm quan trọng của những thiên tài hiếm hoi như Watt và Edison. Cái lý thuyết “người hùng phát minh” (heroic theory of invention) như người ta thường gọi càng được luật cấp bằng phát minh khích lệ thêm, bởi một ứng viên xin được cấp bằng phải chứng minh rằng phát minh của anh ta là mới mẻ. Vì vậy, nhà phát minh được khuyến khích về tài chính mà đâm ra coi thường hoặc không thèm quan tâm tới những phát minh có trước mình. Xét từ quan điểm của luật gia chuyên cấp bằng sáng chế, phát minh lý tưởng là phát minh nảy sinh không hề có tiền lệ, kiểu như nữ thần Athena mới sinh đã là người lớn nhảy bật ra từ trán thần Zeus vậy.
Trên thực tế, ngay cả với những phát minh nổi tiếng nhất và rõ ràng là mang tính quyết định nhất, đằng sau lời công bố trần trụi “X đã phát minh ra Y” luôn luôn có bóng dáng những bậc tiền bối bị lãng quên. Chẳng hạn, người ta thường bảo chúng ta rằng “James Watt đã phát minh ra động cơ hơi nước vào năm 1769”, cho rằng Watt đã tìm ra ý tưởng từ việc quan sát hơi nước bốc lên từ vòi ấm nước. Thật chẳng may là, ngược lại với sự hư cấu đẹp đẽ này, thực ra Watt đã có được ý tưởng về giải pháp động cơ hơi nước của riêng mình trong khi đang sửa chữa một mẫu động cơ hơi nước của Thomas Newcomen mà ông này đã phát minh ra từ 57 năm trước đó cùng hàng ngàn cái đã được sản xuất ở Anh vào thời điểm Watt sửa cái động cơ kia. Đến lượt mình, động cơ của Newcomen lại theo mẫu động cơ hơi nước mà Thomas Savery, một người Anh khác đã phát minh vào năm 1698 và được cấp bằng sáng chế, động cơ của Thomas Savery lại theo mẫu động cơ hơi nước do Denis Papin người Pháp thiết kế (nhưng không chế tạo) vào khoảng năm 1680, mẫu này đến lượt mình lại lấy ý tưởng từ nhà khoa học người Hà Lan Christiaan Huyghens và những người khác. Nói vậy không có nghĩa phủ nhận việc Watt đã cải tiến rất nhiều động cơ của Newcomen (bằng cách đưa vào một bộ ngưng tụ hơi nước riêng biệt và một xylanh tác động kép), cũng như Newcomen đã cải tiến rất nhiều động cơ của Savery.
Tất cả phát minh hiện đại mà người ta có đầy đủ tư liệu cũng đều trải qua một lịch sử tương tự thế. Người hùng mà người ta vẫn coi là nhà phát minh kia thật ra chỉ theo chân các nhà phát minh tiền bối, các tiền bối ấy cũng có mục đích tương tự và từng tạo ra những bản thiết kế tương tự, những mẫu thử nghiệm tương tự, hoặc (trong trường hợp động cơ hơi nước của Newcomen) những mẫu thành công về thương mại. “Phát minh” bóng đèn nổi tiếng của Edison vào đêm 21 tháng Mười năm 1879 là mẫu cải tiến từ nhiều bóng đèn khác đã được cấp bằng sáng chế của nhiều nhà phát minh khác từ năm 1841 đến năm 1878. Tương tự, máy bay có người lái của anh em nhà Wright vốn có tiền thân là tàu lượn có người lái của Otto Lilienthal và máy bay không người lái của Samuel Langley; máy điện tín của Samuel Morse có tiền thân là các mẫu của Joseph Henry, William Cooke và Charles Wheatstone; và máy tỉa hột bông của Eli Whitney dùng để tỉa hột bông thân ngắn (giống bông nội địa) là mẫu cải tiến từ máy tỉa vốn đã được dùng để tỉa hột bông thân dài (giống ở Sea Island) từ hàng ngàn năm nay.
Nói vậy không phải để phủ nhận rằng Watt, Edison, anh em nhà Wright, Morse và Whitney đã thực hiện những cải tiến lớn lao giúp cho phát minh bắt đầu có hoặc có thêm thành công thương mại. Hình thức sau cùng của phát minh được đưa vào ứng dụng hẳn đã khác đi đôi chút nếu không có phần đóng góp của nhà phát minh được thừa nhận. Nhưng câu hỏi chúng ta cần đặt ra cho mục đích của sách này là: Liệu có phải mẫu hình lớn của lịch sử có thể đã khác đi đáng kể hay chăng nếu một số nhà phát minh thiên tài đã không ra đời tại một nơi nhất định, vào một thời điểm nhất định. Câu trả lời thật rõ ràng: chưa từng bao giờ có người nào như thế cả. Tất cả các nhà phát minh lừng danh được thừa nhận đều có những bậc tiền bối cũng như những kẻ tiếp bước mình, và đã tiến hành cải tiến tại một thời điểm khi xã hội có khả năng sử dụng sản phẩm của họ. Như ta sẽ thấy, bi kịch của “người hùng” từng hoàn thiện những con dấu dùng cho chiếc đĩa Phaistos là ở chỗ: ông hay bà ta đã phát minh ra một thứ mà xã hội đương thời không thể sử dụng trên quy mô lớn.
Các ví dụ của tôi cho đến nay đều lấy từ các công nghệ hiện đại bởi người ta biết rõ lịch sử ra đời của chúng. Hai kết luận chính của tôi là: công nghệ được hình thành một cách lũy tiến chứ không phải là những hành vi đơn độc của các người hùng, và hầu hết các công dụng của một phát minh chỉ xuất hiện sau khi phát minh đã ra đời, chứ không phải phát minh ra đời để đáp ứng một nhu cầu có thể tiên liệu trước. Các kết luận đó nhất định là càng đúng hơn nhiều đối với lịch sử bất thành văn của các công nghệ thời cổ đại. Khi những người săn bắt hái lượm vào Kỷ Băng hà để ý tới cát bị nung và cặn vôi còn lại trong bếp lò của mình, họ không thể tiên liệu trước sự tích lũy lâu dài những phát minh ngẫu nhiên dẫn đến những cánh cửa sổ bằng kính đầu tiên của đế quốc La Mã (khoảng năm thứ 1) thông qua những vật thể đầu tiên có bề mặt tráng men (khoảng 4.000 năm TCN), những vật đơn lập bằng thủy tinh đầu tiên của Ai Cập và vùng Lưỡng Hà (khoảng 2.500 năm TCN) và những chai lọ bằng thủy tinh đầu tiên (khoảng 1.500 năm TCN).
Bản thân những lớp men bề mặt xa xưa nhất đó đã được phát minh như thế nào, chúng ta hoàn toàn chẳng biết tí gì. Tuy nhiên, chúng ta có thể suy ra các phương pháp phát minh thời cổ đại đó bằng cách quan sát những dân tộc “sơ khai” về công nghệ ngày nay, chẳng hạn những người New Guinea mà tôi đang cùng làm việc. Trước đây tôi đã nhắc đến việc họ hiểu biết tường tận về hàng trăm loài cây và loài thú địa phương, loài nào ăn được loài nào không, giá trị làm thuốc và những công dụng khác. Tương tự, người New Guinea cũng cho tôi biết về hàng chục loại đá trong môi trường của họ, độ cứng, màu sắc của từng loại, phản ứng của từng loại khi bị ghè hay tước thành từng mảnh, và công dụng của từng loại. Toàn bộ tri thức đó đều có được nhờ quan sát cũng như bằng phương pháp thử và sai. Họ thường xuyên nhặt nhạnh những thứ lạ lẫm trong rừng, táy máy mày mò chúng và tình cờ nhận ra rằng chúng có ích, đáng để mang về nhà. Tôi đã chứng kiến họ làm đúng như vậy khi tôi rời một địa điểm cắm trại và dân địa phương kéo đến bới móc những gì còn lại. Họ vừa nghịch những thứ tôi bỏ lại vừa cố hình dung xem liệu chúng có thể có ích gì trong xã hội New Guinea không. Những vỏ đồ hộp bỏ lại thì dễ: rốt cuộc họ cũng dùng lại chúng để chứa đồ. Những vật khác thì được họ dùng thử vào những việc khác xa với công dụng ban đầu của chúng. Làm sao cây bút chì màu vàng số 2 kia lại có thể trông như một món trang sức xiên qua dái tai hay chân rốn được? Liệu mảnh kính vỡ kia có đủ sắc và khỏe để làm dao không? Thật đến là tài!
Chất liệu thô có trong tay các dân tộc cổ đại là những vật liệu tự nhiên như đá, gỗ, xương, da thú, sợi, đất sét, cát, vôi và khoáng chất, tất cả đều có vô số loại. Từ các chất liệu đó người ta dần dần học được cách xử lý một số loại đá, gỗ và xương để chế tác thành công cụ; chuyển một số loại đất sét thành đồ gốm và gạch; chuyển một số hỗn hợp giữa cát, vôi và những thứ “bùn” khác thành thủy tinh; và khai thác những kim loại mềm nguyên chất như đồng và vàng, sau đó chiết xuất từ quặng ra kim loại, cuối cùng là khai thác những kim loại nặng như đồng, thiếc và sắt.
Một ví dụ tiêu biểu cho lịch sử phát minh thông qua phương pháp thử và sai là quá trình hình thành thuốc súng và dầu hỏa từ các nguyên liệu thô. Các sản phẩm dễ cháy trong thiên nhiên nhất định là rất dễ nhận ra, chẳng hạn như khi một khúc thân cây có nhựa nổ tung trong một đống lửa. Người Hy Lạp cổ đại đã khám phá ra công dụng của nhiều hỗn hợp khác nhau giữa dầu thô, hắc ín, nhựa cây, lưu huỳnh và vôi lime, ấy là để làm vũ khí gây cháy phóng bằng ná, tên, bom cháy và thuyền. Kỹ thuật chưng cất mà các nhà giả kim Hồi giáo thời trung cổ phát minh ra để sản xuất rượu và nước hoa cũng cho phép họ chưng cất dầu thô thành nhiều phân chất khác nhau, một số trong đó thậm chí là những chất gây cháy còn mạnh hơn nữa. Được dùng trong lựu đạn, tên lửa và ngư lôi, các chất gây cháy này đóng một vai trò trọng yếu giúp người Hồi giáo rốt cuộc đã đánh bại được các Chiến binh Chữ thập. Đến khi đó thì người Trung Hoa đã quan sát thấy có một hỗn hợp nhất định giữa lưu huỳnh, than cốc và nitrat kali – về sau được gọi là thuốc súng – có sức nổ đặc biệt mạnh. Một chuyên luận về hóa học của người Hồi giáo vào khoảng năm 1100 mô tả bảy công thức thuốc súng, còn một chuyên luận vào khoảng năm 1280 cung cấp trên 70 công thức vốn đã tỏ ra thích hợp cho nhiều mục đích khác nhau (một công thức cho tên lửa, một công thức khác cho đại bác).
Còn về [kỹ thuật] chưng cất dầu thô sau thời trung cổ, các nhà hóa học thế kỷ XIX đã tìm được sản phẩm chưng cất dùng làm nhiên liệu đốt đèn dầu. Các nhà hóa học đã loại bỏ phân chất dễ bay hơi nhất (khí đốt) như một thứ phế phẩm không may, cho đến khi người ta lại nhận ra rằng khí đốt là một nhiên liệu lý tưởng cho động cơ đốt trong. Ngày nay ai còn nhớ rằng khí đốt, nhiên liệu của nền văn minh hiện đại, đã có lúc là một phát minh mà người ta chẳng biết dùng để làm gì?
Khi nhà phát minh đã khám phá ra một công dụng cho một công nghệ mới, thì bước kế tiếp là thuyết phục xã hội áp dụng phát minh đó. Chỉ đơn thuần có một thiết bị lớn hơn, nhanh hơn và mạnh hơn để làm một việc gì đó thì chưa đủ để bảo đảm rằng xã hội sẽ sẵn sàng chấp nhận. Vô số những công nghệ như vậy hoặc hoàn toàn không được áp dụng hoặc chỉ được áp dụng sau một thời gian dài bị xã hội từ chối. Những ví dụ khét tiếng về các trường hợp này là khi Quốc hội Hoa Kỳ từ chối cấp ngân sách để phát triển giao thông bằng máy bay siêu âm vào năm 1971, cả thế giới mãi vẫn không chịu áp dụng một bàn phím đánh chữ được thiết kế sao cho hiệu quả nhất, và nước Anh suốt một thời gian dài vẫn chỉ áp dụng đèn điện một cách miễn cưỡng. Thế thì cái gì là nhân tố đẩy nhanh việc xã hội chấp nhận một phát minh?
Ta hãy bắt đầu bằng việc so sánh sự tiếp nhận những phát minh khác nhau trong cùng một xã hội. Hóa ra, có ít nhất bốn nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp nhận này.
Nhân tố đầu tiên và hiển nhiên nhất là: công nghệ mới phải có ưu thế tương đối về kinh tế so với công nghệ hiện có. Bánh xe rất có ích trong các xã hội công nghiệp hiện đại nhưng ở một số xã hội khác ngày xưa thì lại chẳng có ích cho lắm. Người châu Mỹ bản địa cổ đại đã phát minh ra những chiếc xe có bánh và trục, nhưng chỉ dùng làm đồ chơi chứ không dùng làm phương tiện vận chuyển. Điều đó nghe thật khó tin, nhưng nếu nhớ lại rằng người Mexico thiếu những loài gia súc thích hợp để kéo xe có bánh thì ta sẽ chẳng ngạc nhiên rằng [ở đấy vào thời ấy] bánh xe chẳng có ưu thế gì so với phu khuân vác.
Nhân tố thứ hai cần xét là giá trị và uy thế của công nghệ mới, những cái vốn có thể lấn lướt tính lợi ích (hay sự thiếu lợi ích) về kinh tế. Ngày nay hàng triệu người mua những chiếc quần jean hàng hiệu với giá gấp đôi so với quần jean thường vốn cũng bền chẳng kém, đơn giản vì dấu ấn xã hội của thương hiệu nhà thiết kế là đáng giá hơn nhiều so với số tiền người ta phải bỏ ra thêm. Tương tự, Nhật Bản tiếp tục sử dụng hệ chữ viết kanji cực kỳ rắc rối chứ không chịu thay bằng những bảng chữ cái hữu hiệu hơn hoặc hệ chữ biểu vần của chính họ vốn cũng hữu hiệu không kém, đơn giản vì cái uy thế gắn liền với chữ kanji là quá lớn.
Còn một nhân tố nữa là công nghệ mới phải thích ứng với một số giới có những lợi ích riêng, Cuốn sách này, cũng như hầu hết các ấn bản khác mà bạn từng đọc, được gõ bằng bàn phím QWERTY – tên của bàn phím này được đặt theo sáu phím ngoài cùng của hàng phím chữ trên cùng. Nghe thì thật khó tin, nhưng bố cục bàn phím này được thiết kế rất ư là phản công nghệ vào năm 1873. Nó sử dụng cả một loạt những mánh khóe tai ác để buộc máy đánh chữ phải gõ càng chậm càng tốt, chẳng hạn như phân tán những chữ cái thường dùng nhất ra khắp các hàng chữ và tập trung chúng vào bên trái (trong khi những người đánh máy đa phần thuận tay phải nên tay trái yếu hơn). Nguyên nhân đằng sau tất cả những đặc tính thoạt nghe có vẻ phản kỹ thuật này là máy đánh chữ vào năm 1873 thường bị hóc nếu các phím gần nhau được nhấn nhanh liên tiếp, vì vậy nhà sản xuất phải tìm cách nào đó để kìm bớt tốc độ gõ. Khi những cải tiến kỹ thuật đối với máy đánh chữ đã loại trừ được vấn đề hóc phím, các thử nghiệm vào năm 1932 chứng minh rằng nếu bàn phím được bố trí lại một cách hiệu quả hơn thì sẽ giúp tăng gấp đôi tốc độ gõ và người gõ sẽ đỡ mất sức đến 95%. Thế nhưng, đến khi đó bàn phím QWERTY đã quá ăn sâu bén rễ. Trong suốt hơn sáu chục năm trời, nhóm có lợi ích riêng [gắn với việc dùng công nghệ cũ, ND] gồm hàng trăm triệu người đánh máy, thầy dạy đánh máy, máy đánh chữ, nhân viên bán máy và nhà sản xuất máy đã [cùng nhau] bóp chết mọi vận động nhằm đến tính hiệu quả của bàn phím.
Tuy câu chuyện bàn phím QWERTY nghe có vẻ nực cười, song nhiều trường hợp tương tự đã kéo theo những hậu quả nặng nề hơn nhiều về kinh tế. Tại sao Nhật Bản ngày nay thống trị thị trường thế giới về các sản phẩm điện tử tiêu dùng sử dụng transistor đến độ làm phương hại đến cán cân thanh toán của Hoa Kỳ với Nhật Bản, cho dù transistor là do người Mỹ phát minh ra và được cấp bằng sáng chế tại Hoa Kỳ? Ấy là do hãng Sony đã mua bản quyền sử dụng transistor từ công ty Western Electric vào thời điểm ngành điện tử tiêu dùng của Hoa Kỳ vẫn đang sản xuất các mẫu ống chân không và rất miễn cưỡng trong việc cạnh tranh với sản phẩm của chính mình. Tại sao các thành phố của Anh vẫn sử dụng đèn đường bằng khí đốt cho mãi tới thập niên 1920, mãi lâu sau khi Hoa Kỳ và Đức đã chuyển sang đèn đường dùng điện? Ấy là bởi chính quyền các thành phố ở Anh đã đầu tư quá nhiều vào ngành chiếu sáng bằng khí đốt và đã áp đặt những quy định nhằm gây trở ngại cho các công ty chiếu sáng bằng điện muốn cạnh tranh.
Nhân tố còn lại để xã hội có chấp nhận công nghệ mới hay không là liệu người ta có dễ mục sở thị những ưu việt của công nghệ mới đó hay không. Vào năm 1340, khi vũ khí phóng hỏa hãy còn xa lạ với hầu hết châu Âu, bá tước vùng Derby và bá tước vùng Salisbury của nước Anh đã tình cờ có mặt ở Tây Ban Nha tại trận chiến Tarifa nơi người Arập dùng đại bác để chống lại người Tây Ban Nha. Những gì các vị bá tước nhìn thấy đã gây ấn tượng cho họ, thế là họ giới thiệu súng đại bác với quân đội Anh. Quân đội Anh hồ hởi tiếp thu vũ khí mới và sáu năm sau đã có thể dùng đại bác để chống lại binh lính Pháp trong trận Crécy.
Như vậy, bánh xe, quần jeans hàng hiệu và bàn phím QWERTY minh họa cho những lý do khiến vì sao cùng một xã hội lại không chấp nhận một cách dễ dàng như nhau tất cả các phát minh. Ngược lại, sự tiếp nhận cùng một phát minh cũng lại rất khác nhau tùy theo từng xã hội cùng thời đại. Tất cả chúng ta đều quen với lối nhận định chung chung rằng các xã hội nặng về nông nghiệp ở Thế giới thứ ba có khả năng tiếp thu cái mới kém hơn so với các xã hội công nghiệp hóa theo kiểu phương Tây. Thế nhưng, ngay giữa các xã hội công nghiệp hóa như nhau, một số khu vực cũng dễ dàng tiếp thu cái mới hơn nhiều so với những khu vực khác. Những khác biệt đó, nếu tồn tại trên phạm vi lục địa, có thể cho ta hiểu tại sao công nghệ đã phát triển nhanh hơn ở vài châu lục này so với ở các châu lục khác. Chẳng hạn, nếu như tất cả các xã hội châu Úc bản địa vì lý do nào đó đều cưỡng lại sự đổi mới như nhau, đó có thể là lý do khiến họ vẫn tiếp tục dùng công cụ bằng đá sau khi công cụ bằng kim loại đã xuất hiện trên tất cả các châu lục khác. Tại sao lại có sự khác biệt đó trong khả năng tiếp nhận cái mới giữa các xã hội?
Các sử gia về lịch sử công nghệ đã đề xuất một danh mục gồm ít nhất 14 nhân tố hầu lý giải cho điều đó. Một nhân tố trong đó là tuổi thọ [của con người]. Về lý thuyết, tuổi thọ cao có thể giúp các nhà phát minh tiềm năng có đủ số năm cần thiết để tích lũy tri thức về công nghệ, cũng như có đủ lòng kiên trì và sự bảo đảm cần thiết để dấn thân vào những chương trình nghiên cứu lâu dài mà thành quả nếu có chăng cũng đến muộn màng. Do đó, tuổi thọ trung bình được nâng cao đáng kể nhờ y học hiện đại hẳn đã góp phần đẩy nhanh tốc độ của các phát minh trong những thời kỳ gần đây.
Năm nhân tố tiếp theo là nền kinh tế hay cơ cấu tổ chức của xã hội: (1) Người ta cho rằng lao động nô lệ rẻ tiền vào thời cổ đại đã là nhân tố kìm hãm phát minh vào thời đó, trong khi lương cao hoặc sự khan hiếm lao động ngày nay lại kích thích việc tìm kiếm những giải pháp công nghệ. Chẳng hạn, khi chính sách nhập cư thay đổi đe dọa cắt đứt nguồn cung cấp nhân công thời vụ rẻ tiền cho các đồn điền ở California, đó đã là nguyên nhân trực tiếp kích thích sự phát triển một giống cà chua có thể thu hoạch bằng máy ở bang này. (2) Bằng sáng chế và nhiều luật khác, với vai trò bảo vệ quyền sở hữu của nhà phát minh, có vai trò khích lệ sự đổi mới ở phương Tây hiện đại, trong khi tình trạng thiếu những cơ chế bảo vệ như vậy làm thui chột sự đổi mới ở Trung Quốc. (3) Các xã hội công nghiệp hiện đại cung cấp những cơ hội to lớn cho đào tạo về kỹ thuật, điều mà xã hội Hồi giáo thời trung cổ từng không có và nước Zaire ngày nay không có. (4) Chủ nghĩa tư bản hiện đại được tổ chức sao cho đầu tư vốn vào phát triển công nghệ thì có khả năng sinh lãi, trong khi xã hội La Mã cổ đại thì không. (5) Chủ nghĩa cá nhân mạnh mẽ của xã hội Hoa Kỳ cho phép những nhà phát minh thành công giữ khoản thu nhập cho riêng mình, trong khi những quan hệ gia đình bền chặt ở xã hội New Guinea khiến cho bất cứ ai hễ bắt đầu kiếm ra tiền là y như rằng phải cưu mang giúp đỡ hàng tá họ hàng đánh hơi được mà kéo đến.
Bốn nhân tố khác theo họ là những nhân tố mang tính ý thức chứ không phải kinh tế hay cơ cấu xã hội: (1) Hành vi chấp nhận rủi ro, điều có tầm quan trọng thiết yếu trong nỗ lực cách tân, có tính phổ biến hơn ở một số xã hội nào đó so với những xã hội khác. (2) Quan điểm mang tính khoa học là một đặc tính có một không hai của xã hội châu Âu thời hậu Phục hưng, góp phần to lớn vào sự vượt trội về công nghệ của châu lục này trong thời hiện đại. (3) Sự khoan dung đối với những quan điểm khác và những kẻ “dị giáo” tạo điều kiện cho đổi mới, trong khi một quan điểm đặt nặng vào truyền thống (chẳng hạn như nhất nhất cái gì cũng theo sách vở thánh hiền ở Trung Hoa) thì bóp nghẹt đổi mới. (4) Các tôn giáo có thái độ rất khác nhau đối với đổi mới công nghệ: một vài chi phái của đạo Do Thái và đạo Thiên chúa được cho là đặc biệt tương thích với đổi mới công nghệ, trong khi một số chi phái của Hồi giáo, Ấn độ giáo và Bà la môn giáo có thể là đặc biệt bất tương thích với nó.
Cả mười giả thuyết nói trên đều hợp lý. Song chẳng một giả thuyết nào trong số đó nhất thiết gắn liền với yếu tố địa lý. Nếu bằng sáng chế, chủ nghĩa tư bản và một số tôn giáo nào đó quả thật tạo điều kiện cho công nghệ, thì do đâu những nhân tố đó tồn tại ở châu Âu hậu kỳ Trung cổ chứ không phải ở Trung Hoa hay Ấn Độ cùng thời?
Ít nhất thì chiều hướng ảnh hưởng của mười nhân tố đó đối với công nghệ dường như khá rõ. Bốn nhân tố được đề xuất còn lại – chiến tranh, chính phủ tập trung hóa, khí hậu và nguồn tài nguyên – hình như lại tác động một cách không nhất quán: có khi chúng kích thích công nghệ, có khi chúng lại ngăn cấm nó. (1) Trong suốt lịch sử, chiến tranh thường là một nhân tố kích thích sự cách tân công nghệ. Chẳng hạn, những khoản đầu tư kếch sù vào vũ khí hạt nhân trong Thế chiến Thứ hai và vào máy bay, xe tải trong Thế chiến Thứ nhất đã khai sinh hẳn những ngành mới trong công nghệ. Nhưng chiến tranh cũng có thể gây nên sự kìm hãm tai hại đối với sự phát triển công nghệ. (2) Chính phủ tập trung hóa đã làm đẩy mạnh công nghệ ở Đức và Nhật vào cuối thế kỷ XIX, nhưng cũng đã bóp chết công nghệ ở Trung Hoa sau năm 1500. (3) Nhiều người Bắc Âu cho rằng công nghệ thường hưng khởi ở nơi khí hậu khắc nghiệt khiến cho nếu thiếu công nghệ thì không thể sống còn, trong khi ở những nơi khí hậu ôn hòa, không phải lo chuyện mặc ấm và chuối cứ chín cây là rụng thì công nghệ ít có cơ phát triển. Một quan điểm ngược lại thì cho rằng môi trường khí hậu ôn hòa giúp người ta không phải thường xuyên vật lộn để sinh tồn nhờ vậy có thể tự do hiến mình cho những tìm tòi đổi mới. (4) Người ta cũng từng tranh luận xem liệu công nghệ được phát triển là nhờ sự dồi dào hay nhờ sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên. Nguồn tài nguyên phong phú có thể kích thích sự phát triển những phát minh sử dụng những tài nguyên đó, như kỹ thuật xay bằng sức nước ở các nước Bắc Âu nhiều mưa và có nhiều sông – nhưng tại sao kỹ thuật xay bằng sức nước đã không phát triển nhanh hơn ở New Guinea vốn còn nhiều mưa hơn nữa? Việc những cánh rừng nước Anh bị hủy diệt được cho là nguyên nhân khiến đất nước này dẫn đầu về phát triển công nghệ than, nhưng tại sao việc phá rừng lại không có cùng một hệ quả như vậy ở Trung Quốc?
Nói thế cũng chưa phải đã hết danh sách những nguyên nhân người ta đưa ra hòng giải thích tại sao xã hội này khác xã hội khác ở khả năng tiếp thu công nghệ mới. Còn tệ hơn thế, tất cả những cách giải thích trực tiếp kia đều bỏ qua những nhân tố sâu xa nhất ẩn đằng sau chúng. Điều này thoạt nhìn có vẻ như là một trở ngại đáng nản lòng cho nỗ lực của chúng ta nhằm thấu hiểu tiến trình lịch sử, bởi vì công nghệ chắc chắn là một trong những lực quan trọng nhất của lịch sử. Tuy nhiên, sau đây tôi sẽ biện luận rằng, thật ra, sự đa dạng của các nhân tố độc lập ẩn sau sự đổi mới công nghệ sẽ giúp ta thấu hiểu mẫu hình lớn của lịch sử một cách dễ dàng hơn, chứ không phải khó khăn hơn.
Vì mục đích của sách này, câu hỏi then chốt về danh sách các nhân tố này là: liệu có phải những nhân tố đó khác biệt nhau một cách có hệ thống từ châu lục này sang châu lục khác và qua đó dẫn đến những khác biệt giữa các châu lục trong sự phát triển công nghệ hay không. Hầu hết dân “ngoại đạo” và nhiều sử gia vẫn công khai hoặc ngấm ngầm cho rằng câu trả lời là có. Chẳng hạn, nhiều người vẫn tin rằng người châu Úc bản địa, với tư cách một quần thể, có chung những đặc tính về ý thức khiến cho họ lạc hậu về công nghệ: họ đã từng (hoặc vẫn đang) bị coi là những kẻ bảo thủ, luôn sống trong một Thời đại Trong mơ thuần túy tưởng tượng về quá khứ khai thiên lập địa, chứ không chịu tập trung vào những phương cách thực tế hầu cải thiện hiện tại. Một sử gia hàng đầu về châu Phi mô tả đặc tính của người châu Phi là hướng nội và thiếu động lực bành trướng ra bên ngoài như ở người châu Âu.
Song tất cả các tuyên bố ấy đều chỉ dựa trên suy đoán thuần túy. Chưa hề có một công trình nghiên cứu nào về nhiều xã hội dưới cùng những điều kiện kinh tế-xã hội tương tự nhau trên từng hai châu lục, trình bày những khác biệt có hệ thống về ý thức giữa các dân tộc trên hai châu lục. Thay vào đó, người ta thường đưa ra lập luận sau: bởi có sự khác biệt về công nghệ cho nên, suy ra, cũng phải có sự khác biệt tương ứng về ý thức.
Trên thực tế, tôi thường xuyên quan sát được ở New Guinea rằng các xã hội bản địa tại đó khác nhau rất lớn về quan điểm. Cũng như châu Âu và châu Mỹ công nghiệp hóa, New Guinea truyền thống có những xã hội bảo thủ không chịu tiếp nhận cái mới, song các xã hội này sống ngay bên cạnh những xã hội cách tân biết tiếp thu cái mới một cách có chọn lọc. Kết quả là, cùng với sự xuất hiện công nghệ của phương Tây, những xã hội dám chấp nhận rủi ro hơn giờ đây đang vận dụng công nghệ phương Tây nhằm áp đảo những người láng giềng bảo thủ của mình.
Chẳng hạn, khi người châu Âu đặt chân đến vùng cao nguyên phía đông New Guinea lần đầu tiên vào thập niên 1930, họ “phát hiện” ra hàng tá bộ lạc từ thời Đồ đá mà từ xưa đến nay chưa bao giờ tiếp xúc với thế giới văn minh. Trong các bộ lạc đó, bộ lạc Chimbu tỏ ra đặc biệt xông xáo trong việc tiếp thu công nghệ phương Tây. Khi người Chimbu thấy những người định cư da trắng trồng cây cà phê, họ cũng bắt đầu tự trồng cà phê để thu hoa lợi. Vào năm 1964 tôi gặp một người Chimbu 50 tuổi không biết đọc, mặc áo truyền thống dệt bằng sợi cỏ, sinh ra trong một xã hội vẫn còn dùng công cụ bằng đá, nhưng đã làm giàu được nhờ trồng cà phê, dùng lãi thu được để tậu một nhà máy xay với giá 100.000 đô la tiền mặt, lại mua một đội xe tải đặng chở cà phê và gỗ của mình đến thị trường. Ngược lại, người Daribi mà tôi từng cùng làm việc trong suốt tám năm, một bộ lạc vùng cao láng giềng của người Chimbu, lại đặc biệt bảo thủ và không quan tâm đến công nghệ mới. Khi chiếc trực thăng đầu tiên hạ cánh xuống khu vực của người Daribi, họ chỉ ngó qua rồi lại ai làm việc nấy; trong khi giá là người Chimbu thì hẳn đã xúm lại trả giá để thuê chiếc máy bay rồi. Hệ quả là người Chimbu hiện nay đang chiếm lĩnh dần khu vực của người Daribi, biến nó thành những đồn điền, còn người Daribi thì trở thành kẻ làm thuê cho họ.
Trên mọi châu lục khác cũng vậy, một số xã hội bản địa tỏ ra rất tích cực tiếp thu những phương pháp và công nghệ của nước ngoài một cách có chọn lọc và tích hợp chúng thành công vào xã hội của mình. Ở Nigeria, dân tộc Ibo trở thành những kẻ tiên phong đổi mới, tương tự như người Chimbu ở New Guinea. Ngày nay, bộ lạc châu Mỹ bản địa đông dân nhất ở Hoa Kỳ là người Navajo. Khi người châu Âu đặt chân đến, người Navajo chỉ là một trong số hàng trăm bộ lạc. Nhưng người Navajo đã tỏ ra đặc biệt linh hoạt và có khả năng tiếp thu sự đổi mới một cách có chọn lọc. Họ áp dụng thuốc nhuộm của phương Tây vào vải dệt của mình, họ trở thành thợ bạc và nhà chăn nuôi gia súc, và ngày nay họ lái xe tải trong khi vẫn tiếp tục sinh sống trong những căn nhà truyền thống.
Trong số những người châu Úc bản địa vốn vẫn bị coi là bảo thủ cũng vậy, có những xã hội cởi mở bên cạnh những xã hội bảo thủ. Ở một thái cực, người Tasmania vẫn tiếp tục dùng những công cụ đá vốn đã biến mất từ hàng vạn năm trước ở châu Âu và ngay ở hầu hết châu Úc cũng đã bị thay thế bằng những công cụ khác. Ở cực đối lập, một số nhóm người bản địa chuyên câu cá ở vùng đông nam Australia phát minh ra những công nghệ tinh vi để kiểm soát số lượng đàn cá, trong đó có đào kênh, xây đập và bẫy đứng.
Như vậy, việc phát triển và tiếp thu những phát minh thay đổi rất lớn từ xã hội này sang xã hội khác trên cùng một châu lục. Thậm chí trong cùng một xã hội, việc đó cũng thay đổi rất nhiều theo thời gian. Ngày nay, các xã hội Hồi giáo ở vùng Trung Đông khá là bảo thủ và không đứng đầu về công nghệ. Thế nhưng Hồi giáo thời trung đại cũng ở chính khu vực đó lại là một xã hội tiên tiến về công nghệ và cởi mở với cách tân. Xã hội đó từng có tỷ lệ biết chữ cao hơn nhiều so với châu Âu cùng thời; nó đã tích hợp được di sản văn minh cổ đại Hy Lạp đến mức nhiều trước tác kinh điển của Hy Lạp chỉ đến được với chúng ta ngày nay qua bản dịch tiếng Arập; nó đã đạt được tiến bộ to lớn trong lĩnh vực luyện kim, cơ khí, hóa học và các phương pháp tưới tiêu; nó đã tiếp thu giấy và thuốc súng từ Trung Hoa đặng truyền bá sang châu Âu. Vào thời Trung cổ, dòng chảy công nghệ chủ yếu là từ thế giới Hồi giáo sang châu Âu chứ không phải từ châu Âu sang thế giới Hồi giáo như ngày nay. Chỉ khoảng sau năm 1.500 hướng của dòng chảy đó mới bắt đầu quay ngược lại.
Sự cách tân ở Trung Hoa cũng biến thiên đáng kể theo thời gian. Cho đến khoảng năm 1450, Trung Hoa vẫn cách tân và tiên tiến hơn châu Âu rất nhiều về công nghệ, thậm chí còn hơn cả thế giới Hồi giáo trung đại. Danh sách dài những phát minh của Trung Hoa bao gồm cửa van khóa kênh, gang, kỹ thuật khoan sâu, yên cương, thuốc súng, diều, la bàn, chữ in rời, giấy, đồ sứ, nghề in (chỉ loại trừ chiếc đĩa Phaistos), bánh lái đuôi tàu và xe cút kít. Nhưng rồi Trung Hoa lại thôi không cách tân nữa vì những nguyên nhân mà chúng ta sẽ đề cập tới ở Phần kết. Ngược lại, chúng ta vẫn quen nghĩ về các xã hội Tây Âu và Bắc Mỹ (vốn bắt nguồn từ Tây Âu mà ra) như những xã hội dẫn đầu thế giới hiện đại về cách tân công nghệ, thế nhưng, mãi đến cuối thời Trung đại, công nghệ ở châu Âu vẫn còn kém phát triển hơn nhiều so với bất cứ khu vực “văn minh” nào khác ở Cựu Thế giới.
Như vậy, thật không đúng nếu bảo rằng có những lục địa gồm toàn những xã hội có khuynh hướng cách tân và có những xã hội mà các xã hội ở đó có khuynh hướng bảo thủ. Ở châu lục nào cũng vậy, thời nào cũng vậy, luôn luôn có những xã hội cách tân và cũng có những xã hội bảo thủ. Ngoài ra, mức độ cởi mở với cách tân cũng thay đổi theo thời gian trong cùng một khu vực.
Ngẫm kỹ sẽ thấy, những kết luận trên chính là những gì ta chờ đợi nếu như tính cởi mở đối với đổi mới của một xã hội được quy định bởi nhiều nhân tố độc lập. Nếu không thấu hiểu tường tận tất cả các nhân tố đó thì ta không thể tiên đoán trước [liệu xã hội này hay xã hội kia] sẽ cởi mở hay không đối với cách tân. Chính vì vậy các nhà xã hội học vẫn không thôi tranh cãi xem vì những nguyên nhân cụ thể nào mà tính cởi mở lại thay đổi [theo thời gian] ở thế giới Hồi giáo, Trung Hoa và châu Âu, và tại sao người Chimbu, Ibo và Navajo lại cởi mở với cái mới hơn so với những láng giềng của họ. Tuy nhiên, đối với người nghiên cứu mẫu hình lớn của lịch sử, dù những nguyên nhân cụ thể đó trong từng trường hợp kể trên là gì đi nữa thì cũng chẳng quan trọng lắm. Thật nghịch lý rằng, tuy có vô số nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến tính cách tân [của một xã hội] nhưng chính điều đó lại khiến cho nhiệm vụ của sử gia trở nên dễ dàng hơn: họ chỉ cần đảo ngược biến tố xã hội của tính cách tân cho nó trở thành một biến tố mà về cơ bản là ngẫu nhiên. Có nghĩa là, trên một khu vực rộng lớn cỡ bằng một lục địa, vào một thời điểm nhất định luôn có một tỉ lệ nào đó những xã hội mang xu hướng cách tân.
Những cách tân đó, thật ra chúng từ đâu đến? Đối với hầu hết các xã hội – ngoại trừ một số ít xã hội trong quá khứ vốn hoàn toàn bị cô lập – nhiều hoặc hầu hết các công nghệ mới không được phát minh tại chỗ mà đều được vay mượn từ những xã hội khác. Tầm quan trọng tương đối của việc phát minh tại chỗ hay phát minh vay mượn tùy thuộc chủ yếu vào hai nhân tố: việc phát minh ra công nghệ đó có dễ hay không, và xã hội này có nằm gần những xã hội khác hay không.
Một số phát minh nảy sinh đơn giản từ việc xử lý các nguyên vật liệu tự nhiên. Các phát minh đó ra đời trong nhiều trường hợp độc lập với nhau trong lịch sử thế giới, tại những nơi khác nhau và vào nhiều thời điểm khác nhau. Một ví dụ mà chúng ta đã đề cập khá dài là sự thuần hóa cây trồng, vốn có ít nhất là chín nguồn phát nguyên độc lập. Một ví dụ khác là đồ gốm, vốn có thể đã ra đời từ việc quan sát hành trạng của đất sét, một chất liệu tự nhiên rất phổ biến, khi được phơi khô hoặc được nung. Đồ gốm xuất hiện ở Nhật Bản vào khoảng 14.000 năm trước, ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Hoa vào khoảng 10.000 năm trước, sau đó là ở vùng Amazonia, vùng Sahel của châu Phi, vùng đông nam Hoa Kỳ và Mexico.
Về những phát minh khó khăn hơn thế nhiều thì ví dụ tiêu biểu là chữ viết, bởi người ta không thể quan sát ở bất cứ chất liệu tự nhiên nào để nảy ra nó cả. Như ta đã thấy ở Chương 12, chữ viết chỉ có một ít nguồn phát nguyên độc lập, và bảng chữ cái hình như chỉ phát sinh một lần duy nhất trong lịch sử thế giới. Những phát minh nhọc nhằn khác gồm có bánh xe chạy bằng nước, cối quay tay, cơ cấu bánh răng, la bàn nam châm, cối xay gió và phòng tối, tất cả đều chỉ được phát minh một hoặc hai lần ở Cựu Thế giới và không hề được phát minh ở Tân Thế giới.
Những phát minh phức tạp đó thường có được nhờ vay mượn, bởi chúng bành trướng nhanh hơn so với được phát minh tại chỗ. Một ví dụ rõ ràng là bánh xe, mà bằng chứng xưa nhất được kiểm chứng là vào khoảng 3.400 năm TCN gần Biển Đen, sau đó chỉ trong vòng vài thế kỷ đã lan ra hầu hết châu Âu và châu Á. Tất cả các bánh xe ở Cựu Thế giới thời kỳ đầu đó đều có một thiết kế kỳ dị: một vòng tròn gỗ đặc ruột gồm ba phiến được lắp vào nhau chứ không phải một vành có nan hoa. Ngược lại, những bánh xe duy nhất của các xã hội châu Mỹ bản địa (được minh họa trên những đồ gốm của Mexico) chỉ gồm một mảnh duy nhất, cho thấy bánh xe châu Mỹ là một phát minh độc lập so với bánh xe của Cựu Thế giới – người ta có thể suy ra điều đó từ một bằng chứng khác là sự tách biệt của các nền văn minh Tân Thế giới so với các nền văn minh Cựu Thế giới.
Chẳng ai lại nghĩ rằng cùng một kiểu bánh xe kỳ khôi đó của Cựu Thế giới đã tình cờ xuất hiện nhiều lần ở nhiều vùng khác nhau của Cựu Thế giới mỗi lần cách nhau vài thế kỷ, sau suốt 7 triệu năm loài người không biết đến bánh xe. Thay vào đó, nhất định là chỉ nhờ tiện dụng mà bánh xe đã dễ dàng bành trướng từ nguồn phát nguyên duy nhất sang cả đông lẫn tây khắp cả Cựu Thế giới. Những công nghệ phức tạp khác từng phát tán từ một nguồn phát nguyên duy nhất ở Tây Á ra cả đông lẫn tây ở Cựu Thế giới thời cổ đại thì tiêu biểu gồm có khóa cửa, ròng rọc, cối quay tay, máy xay dùng hơi nước và bảng chữ cái. Ở Tân Thế giới thì ví dụ tiêu biểu cho sự bành trướng công nghệ là nghề luyện kim, vốn đã phát tán từ vùng Andes ngang qua Panama đến Trung Mỹ.
Khi một phát minh hữu ích đã ra đời ở một xã hội, nó có xu hướng bành trướng ra ngoài theo hai cách. Một là các xã hội khác nhìn thấy hoặc được biết về phát minh đó, cởi mở đón nhận và tiếp thu nó. Cách thứ hai là những xã hội nào chưa có phát minh đó sẽ nhận thấy mình lâm vào thế bất lợi khi đối diện với xã hội đã phát minh ra nó, thế rồi họ sẽ bị áp đảo và bị giành chỗ nếu sự bất lợi đó đủ lớn. Một ví dụ đơn giản là sự bành trướng của súng hỏa mai giữa các bộ lạc Maori ở New Zealand. Một bộ lạc Maori, người Ngapuhi, tiếp thu súng hỏa mai từ các nhà buôn châu Âu vào khoảng năm 1818. Trong vòng 15 năm sau đó, New Zealand rung chuyển vì cái gọi là Cuộc chiến Súng hỏa mai, khi các bộ lạc chưa có súng hỏa mai phải lo tìm cách trang bị súng hỏa mai nếu không thì bị các bộ lạc đã trang bị súng hỏa mai khuất phục. Hậu quả là, đến năm 1833 công nghệ súng hỏa mai đã bành trướng ra toàn bộ New Zealand: bất cứ bộ lạc Maori nào còn sống sót cho tới khi đó đều có súng hỏa mai.
Khi các xã hội tiếp thu một công nghệ mới từ xã hội đã phát minh ra nó, sự phát tán có thể diễn ra dưới nhiều bối cảnh khác nhau. Có thể là buôn bán hòa bình (như sự phát tán transistor từ Hoa Kỳ sang Nhật Bản vào năm 1954), gián điệp (việc đưa lậu con tằm từ Đông Nam Á sang Trung Đông vào năm 552), di cư (sự bành trướng của nghề thủy tinh và kỹ thuật sản xuất vải của Pháp ra khắp châu Âu bởi 200.000 người Huguenot bị trục xuất khỏi Pháp vào năm 1685), và chiến tranh. Một ví dụ quan trọng về trường hợp cuối cùng là việc đưa kỹ nghệ làm giấy của Trung Hoa sang thế giới Hồi giáo chỉ xảy ra khi quân đội Arập đánh bại quân đội Trung Hoa tại trận đánh trên sông Talas ở Trung Á vào năm 751 và bắt gặp một số thợ làm giấy trong số tù binh đối phương, bèn đưa họ về Samarkand để thiết lập ngành sản xuất giấy.
Ở Chương 12 ta đã thấy, sự phát tán [các thành tựu] văn hóa có thể diễn ra hoặc dưới dạng “bản gốc chi tiết” hoặc chỉ là dưới dạng những ý tưởng mơ hồ có tác dụng kích thích (còn các chi tiết thì người ta phải phát minh lại từ đầu). Chương 12 đã minh họa hai cách phát tán khác nhau đó trong trường hợp chữ viết, song cũng có thể áp dụng cho trường hợp phát tán công nghệ. Đoạn trên đây đã cho ví dụ về trường hợp sao chép từ bản gốc, trong khi việc chuyển công nghệ đồ sứ từ Trung Hoa sang châu Âu là một ví dụ về phát tán ý tưởng trong suốt một thời gian dài. Đồ sứ, một thứ đồ gốm trong suốt mịn hạt, được phát minh ở Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thứ VII. Khi đồ sứ bắt đầu đến được châu Âu theo Con đường Tơ lụa vào thế kỷ XIV, người châu Âu rất khâm phục nó (tuy nó được sản xuất ra sao thì họ hoàn toàn chẳng biết gì) và đã nhiều lần cố gắng bắt chước làm ra nó nhưng không thành công. Cho mãi đến năm 1707, nhà giả kim người Đức Johann Böttger, sau nhiều năm thử nghiệm rất nhiều quy trình, trộn lẫn nhiều hỗn hợp khác nhau giữa khoáng chất và đất sét, mới tìm ra giải pháp và sáng lập ra những xưởng đồ sứ Meissen lừng tiếng ngày nay. Những thử nghiệm ít nhiều độc lập về sau tại Pháp và Anh đã dẫn đến đồ sứ Sèvres, Wedgwood và Spode. Như vậy, các nhà làm đồ sứ châu Âu đã phải phát minh lại lần nữa những phương pháp sản xuất đồ sứ của Trung Hoa, nhưng họ được khích lệ nhờ đã có trước mặt mình sản phẩm mẫu mà họ muốn làm.
Tùy theo vị trí địa lý, các xã hội khác nhau ở chỗ họ sẵn sàng tiếp thu công nghệ đến mức nào qua phương thức phát tán từ các xã hội khác. Dân tộc cách ly nhất trên Trái đất trong lịch sử cận đại là người Tasmania bản địa, sống mà hoàn toàn không có phương tiện đi biển trên một hòn đảo cách châu Úc 100 dặm (160 km), mà bản thân châu Úc cũng lại là lục địa cô lập nhất trên trái đất. Người Tasmania không hề giao tiếp với các dân tộc khác trong suốt 10.000 năm và không hề tiếp thu một công nghệ nào khác ngoài những thứ tự họ phát minh ra. Người châu Úc và người New Guinea, bị chuỗi quần đảo Indonesia chia cách khỏi châu Á đại lục, chỉ nhận được một dúm phát minh ít ỏi từ châu Á. Các xã hội có thể tiếp thu các phát minh bằng đường phát tán một cách dễ dàng nhất là những xã hội nằm trong các lục địa chính. Ở các xã hội này công nghệ phát triển nhanh chóng nhất, bởi các xã hội đó không chỉ tích lũy các phát minh của chính mình mà cả phát minh của những xã hội khác nữa. Chẳng hạn, thế giới Hồi giáo trung đại, nhờ nằm ngay chính giữa lục địa Âu-Á, đã tiếp thu được các phát minh từ cả Ấn Độ lẫn Trung Hoa, lại thừa hưởng được vốn tri thức của Hy Lạp cổ đại.
Phương thức phát tán, cùng với vị trí địa lý giúp cho sự phát tán có thể diễn ra, là [nhân tố] rất quan trọng. Điều đó có thể thấy rõ qua những trường hợp thoạt nhìn có vẻ khó hiểu, khi có những xã hội đã tiếp thu được những công nghệ mạnh nhưng rồi lại từ bỏ chúng. Chúng ta thường vẫn cho rằng những công nghệ hữu ích một khi đã được xã hội tiếp nhận rồi thì cầm chắc sẽ tồn tại lâu dài cho đến khi bị công nghệ khác ưu việt hơn thay thế mới thôi. Trên thực tế, người ta không phải chỉ tiếp thu công nghệ là đủ mà còn phải duy trì nó nữa, mà ngay điều đó cũng tùy thuộc vào nhiều nhân tố không thể tiên đoán trước. Bất cứ xã hội nào cũng kinh qua những phong trào xã hội hay những mốt nhất thời khi những vật vốn dĩ vô dụng về kinh tế lại trở nên có giá còn những vật hữu ích thì tạm thời mất giá. Ngày nay, khi hầu hết các xã hội trên Trái đất được kết nối với nhau, chúng ta không thể hình dung có một mốt nhất thời nào lại có thể đi xa đến mức khiến một công nghệ quan trọng hoàn toàn bị cho ra rìa. Một xã hội tạm thời quay lưng lại với một công nghệ mạnh sẽ vẫn thấy các xã hội khác tiếp tục dùng công nghệ đó và vẫn có cơ hội tiếp thu lại nó một lần nữa bằng phương thức phát tán (nếu không thì sẽ bị những láng giềng kia khuất phục). Song những mốt nhất thời đó có thể tồn tại dai dẳng ở những xã hội cô lập.
Một ví dụ nổi tiếng là việc Nhật Bản từ bỏ súng. Súng xuất hiện lần đầu tại Nhật Bản vào năm 1543 khi có hai nhà thám hiểm Bồ Đào Nha vũ trang bằng súng hỏa mai đặt chân đến nước này trên một chiếc tàu hàng Trung Hoa. Người Nhật có ấn tượng mạnh trước thứ vũ khí mới này đến nỗi họ bắt đầu tiến hành sản xuất thuốc súng ngay ở nước mình, cải tiến đáng kể kỹ thuật súng ống, và đến năm 1600 họ đã sở hữu súng nhiều hơn – đã vậy toàn là súng tốt hơn – so với bất cứ nước nào khác trên thế giới.
Nhưng lại cũng có những nhân tố đi ngược lại việc tiếp nhận súng ở Nhật Bản. Nước này có một tầng lớp võ sĩ đông đảo là các samurai; đối với họ thanh gươm được coi là biểu tượng của đẳng cấp và là tác phẩm nghệ thuật (cũng như là một phương tiện để khuất phục những tầng lớp hèn kém hơn). Xưa nay chiến tranh ở Nhật vẫn là những trận giao đấu tay đôi giữa các kiếm sĩ samurai, cả hai đứng giữa đất trống, mỗi bên nói những lời tự giới thiệu dông dài theo nghi thức rồi mới bắt đầu giáp chiến một cách đầy kiêu hãnh và thượng võ. Nhưng từ khi xuất hiện những binh lính xuất thân nông dân chẳng cần biết nghi thức và thượng võ là gì mà cứ thế nổ súng thì hành xử theo lối đó chỉ có chết. Ngoài ra, súng là một phát minh của ngoại bang nên dần dần bị coi khinh, cũng như bất cứ thứ gì khác du nhập từ nước ngoài vào Nhật Bản sau năm 1600. Chính phủ Nhật do giới võ sĩ đạo chi phối bắt đầu hạn chế việc sản xuất súng, chỉ cho phép sản xuất ở một vài thành phố, về sau thì quy định dù chỉ sản xuất một khẩu súng thôi cũng phải xin giấy phép của chính phủ, sau nữa thì chỉ cấp phép sản xuất súng theo đặt hàng của chính phủ mà thôi, cuối cùng thì cắt giảm dần đơn đặt hàng súng của chính phủ, cho tới khi nước Nhật hầu như không còn một khẩu súng nào được sử dụng nữa.
Trong số các nhà lãnh đạo châu Âu cùng thời cũng có cả những người coi thường súng và ra sức hạn chế sao cho càng ít súng càng hay. Song những biện pháp đó đã chẳng bao giờ đi xa được ở châu Âu, bởi bất cứ nước nào tạm thời từ bỏ súng là ngay lập tức sẽ bị những nước láng giềng đầy súng ống của mình đè bẹp. Chỉ nhờ nước Nhật là một hòn đảo vừa cách biệt vừa đông dân nên họ có thể khước từ cái kỹ thuật quân sự mới mẻ đáng gờm kia mà vẫn giữ được chủ quyền. Vị thế cô lập an toàn đó của họ chấm dứt vào năm 1853 khi đội tàu của Thuyền trưởng Perry ghé thăm Nhật Bản: nhìn thấy những con tàu tua tủa đại bác kia, người Nhật mới tin rằng quả thật họ cần phải khôi phục lại ngành sản xuất súng ở xứ mình.
Việc Nhật Bản từ bỏ súng, và việc Trung Hoa từ bỏ những con tàu vượt đại dương (cũng như đồng hồ cơ khí và máy xe tơ chạy bằng sức nước) là những trường hợp nhiều người biết trong lịch sử khi những xã hội cô lập hoặc bán cô lập khước từ phát minh công nghệ. Những trường hợp khước từ công nghệ khác đã từng xảy ra trong thời tiền sử. Trường hợp cực đoan nhất là người Tasmania bản địa, họ đã khước từ ngay cả công cụ bằng xương và nghề đánh cá để trở thành xã hội có công nghệ giản đơn nhất trong thế giới hiện đại (Chương 15). Người châu Úc bản địa có thể đã tiếp thu cung tên nhưng rồi lại từ bỏ. Cư dân đảo Torres đã từ bỏ xuồng, trong khi dân đảo Gaua từ bỏ xuồng rồi lại tiếp thu trở lại. Đồ sứ bị từ bỏ trên khắp quần đảo Polynesia. Hầu hết người Polynesia và nhiều người Melanesia đã từ bỏ việc sử dụng cung tên trong chiến tranh. Người Eskimo vùng địa cực đánh mất cung tên và xuồng kayak, trong khi người Eskimo vùng Dorset đánh mất cung tên, dụng cụ tạo lửa và loài chó.
Những ví dụ đó, thoạt nhìn có vẻ thật lạ lùng, minh họa rõ vai trò của địa lý và của sự phát tán trong lịch sử công nghệ. Nếu không có sự phát tán thì các xã hội tiếp thu được ít phát minh mới hơn và đánh mất nhiều công nghệ hiện có hơn.
Do công nghệ sinh ra thêm nhiều công nghệ, cho nên tầm quan trọng của sự phát tán một phát minh có khả năng lấn át tầm quan trọng của phát minh nguyên thủy. Lịch sử công nghệ tiêu biểu cho cái gọi là quá trình tự xúc tác, nghĩa là một quá trình ngày một nhanh hơn với tỷ lệ tăng tốc ngày càng tăng bởi quá trình đó tự làm xúc tác cho chính nó. Sự bùng nổ công nghệ từ sau cuộc Cách mạng Công nghiệp thật là kỳ vĩ đối với chúng ta ngày nay, song sự bùng nổ công nghệ vào thời trung cổ cũng từng kỳ vĩ y như vậy nếu so với sự bùng nổ công nghệ vào thời đại Đồ đồng, sự bùng nổ này đến lượt nó lại vô cùng kỳ vĩ so với sự bùng nổ công nghệ vào Sơ kỳ Đồ đá cũ.
Một lý do tại sao công nghệ có xu hướng tự xúc tác để làm nảy sinh thêm công nghệ là do muốn cải tiến thì trước hết người ta phải xử lý được tinh tường những vấn đề đơn giản hơn cái đã. Chẳng hạn, các nhà nông thời Đồ đá không thể tiến thẳng đến chỗ khai thác và chế tác sắt được, bởi muốn làm vậy thì trước hết họ phải làm ra được lò luyện kim nhiệt độ cao. Thay vào đó, nghề luyện quặng sắt đã hình thành và phát triển sau hàng ngàn năm con người quen tiếp xúc với những vỉa kim loại tinh chất lộ thiên đủ mềm để có thể gò thành hình này hay dạng khác mà không phải nung chảy (như đồng và vàng). Nó cũng đã hình thành từ hàng ngàn năm phát triển những lò nung đơn giản để làm đồ gốm, sau đó là để chiết xuất quặng đồng và tạo hợp kim đồng (đồng thiếc), một việc vốn không đòi hỏi nhiệt độ cao như sắt. Ở cả vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu lẫn Trung Hoa, đồ sắt chỉ trở nên phổ biến khoảng 2.000 năm sau khi người ta đã tiến hành luyện kim màu. Các xã hội Tân Thế giới chỉ mới bắt đầu chế tác vật thể bằng đồng chứ chưa làm ra được vật thể bằng sắt vào thời điểm người châu Âu sang và cắt đứt con đường phát triển độc lập hãy còn ngắn ngủi của Tân Thế giới.
Một nguyên nhân chính khác để công nghệ tự xúc tác sinh ra công nghệ, ấy là, nhờ có các công nghệ và vật liệu mới, người ta có thể tạo ra thêm những công nghệ mới bằng cách tái kết hợp [những gì đã có]. Chẳng hạn, tại sao nghề in đã bành trướng với tốc độ bùng nổ tại châu Âu thời trung đại sau khi Gutenberg in Kinh thánh vào năm 1455 nhưng đã không bùng nổ sau khi nhà in vô danh nọ in cái đĩa Phaistos vào năm 1700 TCN? Có thể lý giải một phần là do các nhà in châu Âu thời trung đại đã có thể kết hợp sáu tiến bộ công nghệ mà hầu hết trong số đó chưa hề tồn tại vào thời của nhà in làm ra đĩa Phaistos. Trong số các tiến bộ đó – giấy, chữ in rời, nghề luyện kim, máy in, mực và chữ viết – thì giấy và ý tưởng về chữ in rời là từ Trung Hoa du nhập vào châu Âu. Sở dĩ Gutenberg phát minh được kỹ thuật đúc chữ in từ khuôn kim loại – do vậy khắc phục được vấn đề hóc búa là các con chữ in có kích cỡ không đều cái to cái nhỏ – là nhờ có những cải tiến trong ngành luyện kim: có thép để làm máy dập chữ, hợp kim đồng thau hoặc đồng thiếc (về sau được thay bằng thép) để làm khuôn rập, chì để đúc khuôn, và hợp kim thiếc-kẽm-chì để làm con chữ. Máy in của Gutenberg dựa trên những máy ép xoay đang được dùng trong nghề ép nho làm rượu và ép dầu ôliu vào thời đó, trong khi mực mà ông sử dụng là một sản phẩm dựa trên dầu cải tiến từ các loại mực hiện có. Các hệ chữ viết dựa trên bảng chữ cái mà châu Âu trung đại thừa hưởng được từ ba thiên niên kỷ phát triển chữ viết rất thích hợp để in bằng chữ in rời, bởi chỉ cần phải đúc vài chục con chữ chứ không phải hàng ngàn ký tự như trường hợp chữ viết Trung Hoa.
Trong tất cả sáu phương diện trên, người làm ra chiếc đĩa Phaistos chỉ có thể tiếp cận rất ít công nghệ hầu có thể kết hợp thành một kỹ thuật in hoàn chỉnh so với Gutenberg. Phương tiện viết của chiếc đĩa là đất sét, một chất liệu so với giấy thì cồng kềnh và nặng hơn nhiều. Kỹ năng luyện kim, mực và kỹ thuật in của đảo Crete vào năm 1700 TCN hãy còn thô sơ hơn nhiều so với của nước Đức vào năm 1455, cho nên người ta đã phải đột từng chữ một vào chiếc đĩa bằng tay, chứ không phải in bằng những chữ in rời lắp vào một khung kim loại, được phết mực rồi dùng lực mà ấn. Chữ viết trên chiếc đĩa là một hệ chữ biểu vần có nhiều ký hiệu hơn, dạng chữ phức tạp hơn so với chữ cái La Mã mà Gutenberg sử dụng. Hệ quả là công nghệ in chiếc đĩa Phaistos thô vụng hơn nhiều và chẳng ưu việt là bao so với viết bằng tay, chứ không phải như máy in của Gutenberg. Ngoài tất cả các điểm yếu về công nghệ đó, chiếc đĩa Phaistos lại còn được in vào một thời khi chỉ có một vài cung điện hoặc dăm ba thư lại trong đền thờ mới biết đọc biết viết. Vì thế nên [xã hội] chẳng có mấy nhu cầu đối với sản phẩm đẹp đẽ của người làm ra chiếc đĩa Phaistos nọ, cũng chẳng có mấy động cơ đặng người ta đầu tư vào việc đột hàng tá chữ bằng tay. Ngược lại, thị trường đại chúng tiềm tàng đối với nghề in ở châu Âu thời trung đại đã lôi cuốn nhiều người đầu tư tiền cho Gutenberg vay mượn.
Công nghệ của loài người phát triển từ những công cụ bằng đá đầu tiên, được sử dụng trong khoảng hai triệu rưỡi năm trước đây, cho đến chiếc máy in laser năm 1996 vốn đã thay thế chiếc máy in laser năm 1992 của tôi mà nay đã thành lạc hậu và được dùng để in bản thảo cuốn sách này. Tốc độ phát triển công nghệ ắt hẳn là chậm chạp vào buổi đầu, bởi hàng trăm ngàn năm trôi qua mà chẳng có thay đổi nào đáng chú ý ở công cụ bằng đá của loài người, cũng không còn lại bằng chứng nào cho thấy có những vật được tạo tác bằng chất liệu khác. Ngày nay, công nghệ tiến triển nhanh đến mức báo chí ngày nào cũng phải đưa tin.
Trong cái lịch sử phát triển lâu dài càng về sau càng tăng tốc đó, ta có thể khu biệt hai cú nhảy đặc biệt quan trọng. Cú nhảy thứ nhất, xảy ra trong khoảng từ 100.000 đến 50.000 năm trước, hẳn đã xảy ra được là nhờ những thay đổi di truyền trong cơ thể chúng ta; cụ thể là, nhờ sự tiến hóa của cơ thể về giải phẫu học mà con người có được khả năng ngôn ngữ hoặc chức năng não bộ như ngày nay hoặc cả hai. Cú nhảy đó dẫn đến các công cụ bằng xương, công cụ chuyên dùng và công cụ hỗn hợp. Cú nhảy thứ hai dẫn đến việc loài người chuyển sang lối sống định cư, việc này diễn ra vào những thời điểm khác nhau tùy từng khu vực trên thế giới, ở một số khu vực thì chỉ mới diễn ra khoảng 13.000 năm trước, ở vài khu vực thì thậm chí chưa xảy ra đến tận ngày nay. Đối với hầu hết khu vực, việc chuyển sang sống định cư gắn liền với việc tiếp thu nền sản xuất lương thực vốn đòi hỏi chúng ta phải sống gần đồng ruộng, vườn tược và lưu trữ lương thực thặng dư.
Lối sống định cư có tầm quan trọng quyết định trong lịch sử công nghệ, bởi nó cho phép người ta tích lũy dần những của cải không thể mang theo được. Những người săn bắt hái lượm du cư thì chỉ có thể sử dụng công nghệ nào có thể mang theo mình được mà thôi. Nếu ta di chuyển thường xuyên mà lại không có xe cộ hay súc vật kéo thì ta chỉ có thể sở hữu một lượng tối thiểu những đứa trẻ, vũ khí và những thứ tối cần thiết khác đủ nhỏ để có thể mang theo được. Ta không thể hễ chuyển trại đi đâu là lại vác những thứ như đồ gốm hay máy in theo đến đó. Cái khó rất thực tế đó hẳn có thể là nguyên nhân tại sao có một vài công nghệ xuất hiện sớm thoạt trông thật hấp dẫn nhưng rồi mãi một thời gian dài vẫn không sao phát triển thêm lên được. Chẳng hạn, những đồ gốm xưa nhất mà người ta kiểm chứng được là những hình nhân bằng đất sét nung được làm ở khu vực nay là nước Tiệp Khắc vào 27.000 năm trước, từ lâu trước khi có những chum vại bằng đất sét nung xưa nhất mà người ta đã biết (ở Nhật Bản cách đây 14.000 năm). Cũng một khu vực đó ở Tiệp Khắc cũng vào thời đó đã cho bằng chứng xưa nhất về nghề dệt, thế nhưng những chiếc giỏ đan xưa nhất mà người ta đã kiểm chứng được lại chỉ ra đời khoảng 13.000 năm trước, còn tấm vải dệt xưa nhất người ta đã biết thì vào khoảng 9.000 năm trước. Mặc dù đồ gốm và nghề dệt vải đã từng có những bước đi đầu tiên sớm sủa đến như vậy, song các công nghệ đó chỉ cất cánh khi con người đã chuyển sang định cư, nhờ vậy mới thoát được cái nỗi khó là đi đâu cũng phải kè kè vác theo chum lọ và khung cửi.
Sản xuất lương thực không chỉ cho phép con người sống định cư và tích lũy của cải, mà còn có ý nghĩa quyết định trong lịch sử công nghệ vì một nguyên nhân khác nữa. Lần đầu tiên trong lịch sử tiến hóa của nhân loại đã có thể hình thành những xã hội chuyên môn hóa về kinh tế trong đó có những chuyên gia không sản xuất lương thực, [chỉ làm công việc chuyên môn của mình và] được các nông dân sản xuất lương thực nuôi ăn. Song chúng ta đã thấy ở Phần II của sách này rằng sản xuất lương thực đã nảy sinh vào những thời điểm khác nhau trên những lục địa khác nhau. Ngoài ra, như ta đã thấy trong chương này, công nghệ của từng khu vực, cả nguồn gốc của nó lẫn việc duy trì nó, phụ thuộc không chỉ vào phát minh nội địa mà còn phụ thuộc vào sự phát tán công nghệ từ nơi khác tới. Điều đó có xu hướng khiến cho công nghệ phát triển nhanh hơn ở những châu lục nào có ít rào cản về địa lý và sinh thái cho sự phát tán công nghệ trong nội bộ châu lục đó hoặc giữa châu lục đó với các châu lục khác. Cuối cùng, cứ thêm mỗi xã hội trên từng châu lục là lại thêm một cơ hội phát minh và tiếp thu công nghệ, bởi xã hội này khác xã hội kia rất nhiều về tính cởi mở đối với cách tân, do nhiều nguyên nhân rất khác nhau. Từ đó suy ra, nếu mọi nhân tố đều như nhau thì công nghệ thường phát triển nhanh nhất ở các khu vực rộng lớn và năng sản với dân cư đông đúc, có nhiều nhà phát minh tiềm năng và nhiều xã hội cạnh tranh nhau.
Giờ ta hãy tóm tắt xem những biến thể trong ba nhân tố đó – thời điểm nảy sinh sản xuất lương thực, những rào cản đối với sự phát tán, và quy mô dân số loài người – đã dẫn thẳng đến những khác biệt như ta đã thấy giữa các lục địa trong sự phát triển công nghệ. Âu-Á (thật ra gồm cả Bắc Phi) là lục địa lớn nhất trên thế giới, bao gồm nhiều xã hội cạnh tranh nhất. Đó cũng là lục địa có hai trung tâm phát nguyên sản xuất lương thực đầu tiên: vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Hoa. Trục đông-tây của nó cho phép nhiều phát minh tiếp thu được ở một bộ phận của Âu-Á có thể bành trướng nhanh chóng sang các xã hội nằm trên vĩ độ và vùng khí hậu tương tự ở những nơi khác thuộc Âu-Á. Bề ngang của lục địa Âu-Á ngay ở chỗ nhỏ nhất của nó (theo trục bắc-nam) cũng lớn hơn nhiều so với chỗ thắt quá hẹp ở eo Isthmus thuộc Panama của châu Mỹ. Nó không có những rào cản ngặt nghèo về sinh thái chẹn ngang qua trục chính của nó giống như châu Mỹ và châu Phi. Như vậy, các rào cản địa lý và sinh thái đối với sự phát tán công nghệ ở Âu-Á là ít ngặt nghèo hơn so với ở các châu lục khác. Nhờ tất cả các nhân tố đó, Âu-Á là lục địa nơi công nghệ đã bắt đầu sớm nhất giai đoạn tăng tốc vào hậu kỳ Đồ đá, hệ quả là lục địa này là nơi tích lũy công nghệ lớn nhất.

Bắc Mỹ và Nam Mỹ thường được coi là hai châu lục riêng biệt, nhưng thật ra chúng đã gắn liền với nhau suốt mấy triệu năm, có những vấn đề tương tự nhau trong lịch sử và có thể cùng gộp chung làm một khi so sánh với lục địa Âu-Á. Châu Mỹ là lục địa lớn thứ nhì trên thế giới, nhỏ hơn Âu-Á nhiều. Tuy nhiên, châu Mỹ bị chia cắt về địa lý và sinh thái: eo Isthmus ở Panama, rộng vỏn vẹn có 40 dặm (64 km, ND) bề ngang, gần như cắt rời châu Mỹ làm đôi về địa lý, cũng như những cánh rừng mưa Darien ở eo đất này và sa mạc bắc Mexico về sinh thái. Sa mạc này ngăn cách những xã hội loài người tiên tiến ở vùng Trung Mỹ khỏi các xã hội loài người tiên tiến ở Bắc Mỹ, trong khi eo Isthmus ngăn cách các xã hội tiên tiến của Trung Mỹ khỏi các xã hội tiên tiến ở vùng Andes và Amazonia. Ngoài ta, trục chính của châu Mỹ là bắc-nam, buộc hầu hết [cây trồng, vật nuôi và công nghệ] để phát tán thì phải vượt qua những vĩ độ (và vùng khí hậu) khác nhau chứ không phải lan ra trên cùng một vĩ độ. Chẳng hạn, bánh xe được phát minh ở Trung Mỹ còn lạc đà châu Mỹ (llama) được thuần hóa ở miền trung Andes từ trước năm 3.000 TCN, nhưng mãi 5.000 năm sau, loài gia súc thồ hàng duy nhất và những bánh xe duy nhất của châu Mỹ vẫn không thể gặp nhau mặc dù khoảng cách giữa các xã hội Maya vùng Trung Mỹ với biên giới phía bắc của đế quốc Inca (1.200 dặm hay hơn 1.900 km) là nhỏ hơn nhiều so với khoảng cách 6.000 dặm (9.600 km) ngăn giữa nước Pháp và Trung Hoa, thế mà hai nước sau này vẫn có thể cùng có bánh xe và cùng nuôi ngựa. Theo tôi, các yếu tố đó chính là nguyên nhân khiến công nghệ ở châu Mỹ tụt hậu so với ở Âu-Á.

Châu Phi hạ Sahara là lục địa lớn thứ ba thế giới, nhỏ hơn đáng kể so với châu Mỹ. Trong suốt lịch sử loài người, so với châu Mỹ thì châu Phi là nơi dễ tiếp cận hơn nhiều đối với Âu-Á, thế nhưng sa mạc Sahara vẫn là một rào cản sinh thái lớn ngăn cách châu Phi hạ Sahara ra khỏi Âu-Á cộng thêm Bắc Phi. Trục bắc-nam của châu Phi lại là thêm một chướng ngại nữa cho sự phát tán công nghệ cả giữa Âu-Á với châu Phi hạ Sahara lẫn trong chính phạm vi châu Phi hạ Sahara. Minh họa cho chướng ngại thứ hai này là việc nghề luyện kim và nghề đồ gốm đã phát sinh tại hoặc được du nhập vào vùng Sahel của châu Phi hạ Sahara (phía bắc xích đạo) muộn nhất cũng là đồng thời với khi chúng du nhập vào Tây Âu. Thế nhưng, mãi đến năm thứ 1 CN đồ gốm mới đến được mỏm cực nam của châu Phi, còn ngành luyện kim thì đã không thể nào phát tán đến cực nam châu Phi bằng đường bộ cho mãi đến khi nó được đưa đến đó bằng những con tàu của châu Âu.

Cuối cùng, Australia là lục địa nhỏ nhất. Lượng mưa và năng suất rất thấp trên hầu hết Australia khiến cho lục địa này càng nhỏ bé hơn về khả năng duy trì dân số loài người. Nó cũng là lục địa cô lập nhất. Ngoài ra, sản xuất lương thực chưa từng bao giờ phát sinh độc lập ở Australia. Các nhân tố đó hợp lại khiến cho Australia là lục địa duy nhất mà mãi đến thời hiện đại vẫn không chế tác được vật gì bằng kim loại.

Bảng 13.1 chuyển các nhân tố nói trên thành số liệu, bằng cách so sánh các lục địa với nhau về diện tích và dân số ngày nay. Dân số các lục địa cách đây 10.000 năm, ngay trước khi phát sinh nền sản xuất lương thực, chúng ta không thể biết chính xác, song nhất định là cũng theo đúng thứ tự này, bởi nhiều khu vực đang sản xuất nhiều lương thực nhất ngày nay thì ắt cũng đã là những khu vực năng sản nhất cho những người săn bắt hái lượm vào 10.000 năm trước. Sự khác biệt về dân số giữa các lục địa thật là nổi bật: dân số của Âu-Á (kể cả Bắc Phi) đông gần gấp 6 lần dân số châu Mỹ, gần gấp 8 lần dân số châu Phi và gấp 230 lần dân số châu Úc. Dân số càng đông thì càng có nhiều nhà phát minh và nhiều xã hội cạnh tranh. Bảng 13.1 tự nó đã là lời giải thích hùng hồn về việc tại sao súng và thép đã ra đời ở chính lục địa Âu-Á.

Bảng 13.1: Dân số loài người trên các lục địa

Lục địa

Dân số vào năm 1990

Diện tích (dặm vuông)

Âu-Á và Bắc Phi

4.120.000.000

24.200.000

(Âu-Á)

(4.000.000.000)

(21.500.000)

(Bắc Phi)

(120.000.000)

(2.700.000)

Bắc Mỹ và Nam Mỹ

736.000.000

16.400.000

Châu Phi hạ Sahara

535.000.000

9.100.000

Australia

18.000.000

3.000.000

Tác động của sự khác biệt về diện tích, dân số, sự dễ dàng phát tán và thời điểm khởi đầu sản xuất lương thực giữa các lục địa đối với sự hình thành công nghệ lại càng rõ rệt hơn bởi vì, [như đã nói], công nghệ có tính tự xúc tác, [công nghệ này làm nảy sinh công nghệ khác]. Chính vì vậy, ưu thế ban đầu của Âu-Á thể hiện ở việc lục địa này đã đi trước các lục địa khác một quãng dài về công nghệ vào thời điểm năm 1492 – ấy là nhờ những nguyên nhân nằm ở sự khác biệt về địa lý, chứ không phải sự khác biệt về trí thông minh của con người. Trong số những người New Guinea mà tôi biết, có tiềm tàng những nhà phát minh tài ba. Nhưng họ hướng tài năng của họ vào những vấn đề công nghệ đặc thù cho hoàn cảnh của mình: làm cách nào để sống mà không có thứ đồ nhập cảng nào giữa thung lũng New Guinea, chứ không phải làm cách nào phát minh ra máy ảnh.

Phần 3: Từ lương thực đến súng, vi trùng và thép
Chương 14 - Từ chủ nghĩa bình quyền đến chính quyền ăn cướp  

Hồi năm 1979, trong khi cùng vài người bạn là nhà truyền giáo ngồi máy bay lượn trên một vùng đầm lầy ở New Guinea, tôi nhìn thấy vài túp lều cách đó nhiều dặm. Viên phi công giải thích cho tôi biết rằng mới đây, ở nơi nào đó giữa vùng đầm lầy mênh mông dưới kia, một nhóm thợ săn cá sấu người Indonesia đã tình cờ chạm trán một nhóm dân du mục New Guinea. Cả hai nhóm đều hoảng loạn, và cuộc đụng độ kết thúc bằng việc nhóm người Indonesia bắn chết mấy người trong đám dân du mục.

Những người bạn truyền giáo của tôi đoán rằng toán dân du mục kia thuộc một nhóm gọi là người Fayu chưa hề tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Người ta chỉ biết đến họ qua lời tường thuật của những người láng giềng vốn sợ họ đến chết khiếp, ấy là nhóm du mục Kirikiri từng được tiếp xúc với các nhà truyền giáo. Những tiếp xúc đầu tiên giữa người ngoài với các nhóm dân New Guinea luôn ẩn chứa hiểm nguy, nhưng lần này thì đặc biệt lành ít dữ nhiều. Dẫu vậy, anh bạn Doug của tôi vẫn dùng trực thăng bay vào gặp người Fayu, những mong lập được quan hệ hữu hảo với họ. Cuối cùng anh cũng quay về, bình an vô sự nhưng thần hồn nát thần tính, và anh kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện ly kỳ.

Hóa ra người Fayu sống thành từng gia đình rải rác khắp nơi trên đầm lầy, mỗi năm chỉ gặp nhau một, hai lần để trao đổi cô dâu. Doug đến thăm đúng vào một dịp người Fayu tụ tập nhau như vậy, khoảng vài chục người. Với chúng ta, vài chục người chỉ là một cuộc tụ tập nhỏ, bình thường, nhưng với người Fayu đó là một sự kiện hiếm có và đáng sợ. Những kẻ giết người bất ngờ chạm trán với người thân của kẻ mình đã giết. Chẳng hạn, một người Fayu phát hiện ra một người là kẻ giết cha mình. Người con trai vung rìu lên nhảy bổ vào kẻ sát nhân nhưng lại bị mấy người bạn vật ngã xuống đất; thế rồi kẻ giết người cũng xách rìu xông vào chàng trai lúc này đang nằm bất lực, nhưng chính y cũng bị người ta quật xuống đất. Cả hai đều bị giữ chặt, cứ gào thét vì phẫn uất cho đến khi kiệt sức không làm gì nổi nữa mới được buông ra. Những người khác luôn mồm thóa mạ, lăng nhục nhau, run lên vì giận dữ và bực tức, tay cầm rìu chém sa sả xuống đất. Sự căng thẳng đó kéo dài suốt mấy ngày tụ tập, trong khi Doug cứ vái trời sao cho chuyến viếng thăm này đừng kết thúc trong bạo lực.

Người Fayu gồm khoảng 400 người săn bắt hái lượm, chia thành bốn bầy người, lang thang trên một vùng rộng mấy trăm dặm vuông. Theo chính họ kể thì trước kia họ từng có khoảng 2.000 người, nhưng dân số của họ đã giảm sút đáng kể vì tình trạng người Fayu giết người Fayu. Họ thiếu những cơ chế chính trị và xã hội mà chúng ta mặc nhiên coi như phải có nhằm đạt được giải pháp hòa bình cho những cuộc tranh chấp nghiêm trọng. Cuối cùng, nhờ có chuyến viếng thăm của Doug, một nhóm người Fayu cũng mời một cặp vợ chồng nhà truyền giáo đủ gan đến sống với họ. Đến nay cặp vợ chồng truyền giáo đó đã sống cùng người Fayu được mười hai năm và dần dần thuyết phục được họ từ bỏ bạo lực. Thế là người Fayu được đưa ra tiếp xúc với thế giới hiện đại nơi họ đối mặt với một tương lai bấp bênh.

Nhiều nhóm người New Guinea và người da đỏ Amazon chưa được tiếp xúc trước đây cũng đã nhờ các nhà truyền giáo mới hòa hợp được vào xã hội hiện đại. Theo chân các nhà truyền giáo là giáo viên, bác sĩ, quan chức và binh lính. Như vậy, sự bành trướng của chính phủ và của tôn giáo có liên hệ mật thiết với nhau trong suốt lịch sử thành văn, dù sự bành trướng đó là hòa bình (như với người Fayu) hay bằng vũ lực. Trong trường hợp sau, thường thì chính phủ là kẻ tổ chức chinh phạt, còn tôn giáo thì biện chính cho cuộc chinh phạt đó. Tuy đôi khi người du mục và dân bộ lạc cũng đánh bại được chính phủ và tôn giáo vốn được tổ chức tốt, song xu hướng chung trong suốt 13.000 năm qua là người du mục và dân bộ lạc thường thua cuộc.

Vào cuối thời kỳ Băng hà, hầu hết cư dân trên thế giới đều sống trong những xã hội tương tự như xã hội Fayu ngày nay, vào thời đó chẳng có ai sống trong một xã hội nào phức tạp hơn so với xã hội đó. Mãi tới năm 1.500 CN, chỉ chưa đầy 20% đất đai thế giới được phân ranh giới thành những quốc gia do quan chức điều hành và được cầm trịch bằng luật pháp. Ngày nay, mọi châu lục trừ Nam cực đều được phân chia như thế. Xã hội nào đạt tới trình độ chính quyền tập trung hóa và tôn giáo có tổ chức sớm nhất thì hậu duệ của xã hội đó rốt cuộc cũng là những người đang thống trị thế giới hiện đại. Vậy là, sự kết hợp giữa chính phủ và tôn giáo, cùng với súng, chữ viết và công nghệ, đã có tác dụng như một trong bốn nhóm tác nhân trực tiếp nhất dẫn tới mẫu hình phổ biến nhất của lịch sử. Chính phủ và tôn giáo đã phát sinh như thế nào?

Các nhóm người Fayu và các quốc gia hiện đại là tiêu biểu cho hai cực đối lập trong phổ hệ các xã hội loài người. Xã hội Hoa Kỳ hiện đại và người Fayu khác nhau ở chỗ có hay không có lực lượng cảnh sát chuyên nghiệp, đô thị, tiền tệ, sự phân biệt giàu nghèo và nhiều thiết chế chính trị, kinh tế và xã hội khác. Liệu tất cả các thiết chế đó đã phát sinh đồng thời hay cái trước cái sau? Lời đáp cho câu hỏi trên có thể suy ra bằng cách so sánh các xã hội hiện đại ở nhiều cấp độ tổ chức khác nhau, bằng cách nghiên cứu các tư liệu thành văn hoặc bằng chứng khảo cổ về các xã hội trong quá khứ, và bằng cách quan sát xem một thiết chế xã hội thay đổi như thế nào qua thời gian.

Để mô tả sự đa dạng của các xã hội loài người, các nhà khảo cổ học văn hóa thường chia chúng thành sáu loại hình. Mọi nỗ lực theo cách này hầu khu biệt các giai đoạn trong bất kỳ chuỗi tiến hóa hoặc phát triển nào – dù là phong cách âm nhạc, các giai đoạn của đời người hay xã hội loài người – đều rất dễ rơi vào chỗ thiếu hoàn thiện. Trước hết, bởi vì mỗi giai đoạn đều nảy sinh từ trong một giai đoạn trước đó, cho nên mọi tuyến phân giới đều không tránh khỏi võ đoán. (Chẳng hạn, một người 19 tuổi là vị thành niên hay là thành niên trẻ tuổi?) Thứ hai, các giai đoạn phát triển thường không phải bất biến, cho nên những ví dụ mà người ta hay gán ghép cho cùng một giai đoạn đều thường cọc cạch, không đồng nhất (chẳng hạn, Brahms và Liszt chắc phải đội mồ sống dậy nếu như hai ông biết ngày nay người ta xếp hai ông vào cùng một thời kỳ lãng mạn). Tuy nhiên, việc phân giới các giai đoạn một cách võ đoán vẫn có ích, bởi nhờ vậy ta có một cái nhìn khái quát ngõ hầu có thể thảo luận về sự đa dạng của âm nhạc và các xã hội loài người, miễn là ta luôn luôn ghi nhớ những hạn chế nói trên. Trong tinh thần đó, ta sẽ dùng một cách phân loại đơn giản chỉ dựa trên bốn loại hình: bầy người (band), bộ lạc (tribe), “tù trưởng quốc” (chiefdom) và quốc gia (state) (xem Bảng 14.1) để hiểu các xã hội loài người.

Bảng 14.1. Các loài hình xã hội

 

Bầy người

Bộ lạc

Tù trưởng quốc

Nhà nước

Thành viên

 

 

 

 

Số người

Vài tá

Vài trăm

Vài ngàn

Trên 50 ngàn

Tập quán sinh sống

Du cư

Định cư: 1 làng

Định cư: 1 làng hoặc hơn

Định cư: nhiều làng và thành phố

Quan hệ cơ bản

Quan hệ huyết thống

Các thị tộc dựa trên quan hệ huyết thống

Giai cấp và nơi cư trú

Giai cấp và nơi cư trú

Số dân tộc và ngôn ngữ

1

1

1

1 hoặc hơn

Chính quyền

 

 

 

 

Cơ chế lãnh đạo và ra quyết định

“bình quyền”

“bình quyền” hoặc có người chủ trì

Tập trung hóa, cha truyền con nối

Tập trung hóa

Quan lại

Không có

Không có

Không có, hoặc 1-2 cấp

Nhiều cấp

Độc quyền nắm giữ vũ lực và thông tin

Không

Không

Giải quyết xung đột

Không chính thức

Không chính thức

Tập trung hóa

Luật pháp, toàn án

Thứ bậc quyền lực

Không

Không

Không -> làng chính

Thủ đô

Tôn giáo

 

 

 

 

Biện minh cho chính quyền ăn cướp?

Không

không

Có -> không

Kinh tế

 

 

 

 

Sản xuất lương thực

Không

Không

Có -> thâm canh

Thâm canh

Phân công lao động

Không

Không

Không -> có

Trao đổi

Qua lại

Qua lại

Phân phối lại (“cống vật”)

Phân phối lại (“thuế”)

Kiểm soát đất đai

Bầy người

Bộ lạc

Tù trưởng

Nhiều đối tượng

Xã hội

 

 

 

 

Phân tầng

Không

Không

Có, theo huyết thống

Có, không theo huyết thống

Nô lệ

Không

Không

Quy mô nhỏ

Quy mô lớn

Hàng hóa xa xỉ

Không

Không

Kiến trúc công cộng

Không

Không

Không -> có

Chữ viết bản địa

Không

Không

Không

Thường có

Bầy người là đơn vị xã hội nhỏ nhất, thường chỉ từ 5 đến 80 người, hầu hết có quan hệ gần gũi theo huyết thống hoặc hôn nhân. Trên thực tế, bầy người là một gia đình mở rộng hay vài gia đình mở rộng có liên hệ với nhau. Ngày nay, các bầy người sinh sống tự trị hầu như chỉ còn sót lại ở những vùng xa xôi nhất của New Guinea và Amazonia, nhưng cũng trong thời hiện đại từng có nhiều bầy người khác rơi vào sự kiểm soát của chính phủ, bị đồng hóa hoặc diệt chủng cách đây không lâu. Đó là nhiều hay hầu hết các bầy người Pygmie châu Phi, những người săn bắt hái lượm San ở Nam Phi (thường gọi là người Bushmen), người châu Úc bản địa, người Eskimo (Inuit) và người châu Mỹ bản địa ở một số khu vực nghèo tài nguyên ở châu Mỹ như Tierra del Fuego và các khu rừng khí hậu lạnh ở phía Bắc. Tất cả các bầy người hiện đại này vẫn đang là hoặc đã từng là người săn bắt hái lượm du cư chứ không phải người sản xuất lương thực định cư. Có lẽ toàn bộ nhân loại đã từng sống theo bầy người ít nhất là cho đến 40.000 năm trước, và mãi đến 11.000 năm trước hầu hết nhân loại vẫn còn sống thành bầy người.
Các bầy người không có nhiều thiết chế mà chúng ta thường cho là không thiếu được trong xã hội ngày nay. Họ không có nơi thường trú duy nhất. Đất đai của bầy người được toàn bộ quần thể sử dụng chung, chứ không được chia cho từng nhóm nhỏ hoặc cá nhân. Không có sự phân công kinh tế thường trực, ngoại trừ phân công theo lứa tuổi và giới tính: tất cả những ai có sức đều phải tìm kiếm cái ăn. Không có những thiết chế chính thức như luật pháp, cảnh sát và những khế ước nhằm giải quyết xung đột trong nội bộ bầy và giữa các bầy. Tổ chức bầy người thường được miêu tả là “bình đẳng”: không có sự phân tầng xã hội chính thức thành lớp thượng lưu và lớp hạ lưu, không có chức vị cầm quyền chính thức hoặc cha truyền con nối, không có sự độc quyền nắm thông tin và độc quyền ra quyết định. Tuy nhiên, “bình đẳng” ở đây không nên hiểu là mọi thành viên trong bầy đều bình đẳng về uy tín và đều góp phần như nhau vào việc đưa ra quyết định. Đúng hơn, “bình đẳng” chỉ có nghĩa là mọi vai trò “lãnh đạo” trong bầy đều là không chính thức và chỉ ai có những phẩm chất như nhân cách, sức khỏe, trí thông minh và khả năng chiến đấu thì mới có thể làm lãnh đạo.
Tôi đã thu thập được kinh nghiệm về bầy người từ khi còn ở vùng đất thấp lắm đầm lầy ở New Guinea nơi người Fayu sinh sống, một vùng được gọi là Bình nguyên Hồ. Ở đó tôi vẫn còn gặp những gia đình mở rộng chỉ gồm dăm người lớn cùng với con cái và người già kèm theo, sống trong những túp lều thô sơ dọc theo dòng nước, đi lại bằng ghe hoặc đi bộ. Tại sao cư dân Bình nguyên Hồ vẫn tiếp tục sống như những bầy người du cư trong khi hầu hết những dân tộc New Guinea khác và hầu hết các dân tộc khác trên khắp thế giới ngày nay đều sống thành những quần thể định cư lớn? Lý do là ở chỗ vùng này thiếu những nguồn tài nguyên địa phương tập trung cho phép nhiều người có thể sống cùng nhau, và (cho đến khi các nhà truyền giáo đưa các loại cây trồng vào) vùng này cũng thiếu những loại cây bản địa khả dĩ cho phép canh tác với năng suất cao. Lương thực chính của các bầy người vùng này là cây cọ sago, lõi cây cho một thứ bột cứng như hồ khi cây đến tuổi trưởng thành. Các bầy người này sống du cư bởi một khi đã cắt hết cây sago trưởng thành ở một vùng thì họ phải đi nơi khác. Số lượng người trong bầy người luôn luôn ít ỏi là vì dịch bệnh (nhất là sốt rét), thiếu nguyên liệu thô trong đầm lầy (kể cả đá để làm công cụ cũng phải trao đổi mới có), và bởi vùng đầm lầy chỉ có thể cho con người một lượng lương thực hạn chế. Những hạn chế tương tự đối với các nguồn tài nguyên mà công nghệ hiện nay có thể tiếp cận cũng tồn tại cả ở những vùng trên thế giới nơi mới đây thôi còn do các bầy người khác chiếm cứ.
Các loài vật gần gũi chúng ta nhất là hắc tinh tinh, khỉ đột và đười ươi châu Phi (bonobo) cũng sống theo bầy. Toàn thể loài người hẳn cũng từng sống theo bầy, cho tới khi công nghệ tìm kiếm lương thực được cải tiến cho phép một số người săn bắt hái lượm có thể định cư ở một số khu vực giàu tài nguyên. Bầy người là tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội mà chúng ta thừa hưởng từ lịch sử tiến hóa hàng triệu năm của nhân loại. Mọi sự phát triển của chúng ta sau giai đoạn bầy người chỉ diễn ra trong vòng vài vạn năm trở lại đây.
Giai đoạn đầu tiên tiếp theo bầy người được gọi là bộ lạc. Khác với bầy người, bộ lạc có quy mô lớn hơn (thường vài trăm người chứ không phải chỉ vài chục người) và thường có nơi cư trú cố định. Tuy nhiên, một số bộ lạc, thậm chí một số tù trưởng quốc cũng bao gồm những người chăn nuôi di chuyển theo mùa.
Tiêu biểu cho tổ chức bộ lạc là những cư dân vùng cao ở New Guinea. Đơn vị chính trị của những người này trước khi xuất hiện chính quyền thuộc địa là làng hoặc một cụm làng có quan hệ mật thiết với nhau. Định nghĩa chính trị này về “bộ lạc” thường nhỏ hơn nhiều so với cái mà các nhà ngôn ngữ học và nhân chủng học hàm ý khi định nghĩa về bộ lạc, cụ thể là một nhóm người cùng chung ngôn ngữ và văn hóa. Chẳng hạn, vào năm 1964 tôi bắt đầu làm việc giữa một nhóm dân vùng cao gọi là người Foré. Theo tiêu chí ngôn ngữ và văn hóa thì khi đó có 120.000 người Foré, nói hai phương ngữ khác nhau nhưng có thể hiểu nhau và sống trong 65 làng, mỗi làng khoảng vài trăm người. Nhưng chẳng có sự thống nhất chính trị nào giữa các làng thuộc nhóm ngôn ngữ Foré cả. Mỗi làng đều dính vào một thứ chiến tranh kiểu kính vạn hoa, thay đổi liên minh xoành xoạch với tất cả các làng lân cận bất kể là người Foré hay những người nói tiếng khác.
Các bộ lạc – mới đây còn độc lập song hiện nay đều phụ thuộc vào chính phủ quốc gia ở nhiều mức độ khác nhau – vẫn còn chiếm lĩnh hầu hết New Guinea, Melanesia và Amazonia. Tổ chức bộ lạc tương tự trong quá khứ được suy ra từ bằng chứng khảo cổ về các vùng định cư của họ – các bằng chứng này thì vững chắc, nhưng ta lại thiếu dấu ấn khảo cổ về các tù trưởng quốc mà tôi sẽ giải thích dưới đây. Bằng chứng này gợi ý rằng tổ chức bộ lạc đã nảy sinh vào khoảng 13.000 năm trước ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và muộn hơn ở một số khu vực khác. Một điều kiện tiên quyết để có thể định cư là hoặc phải sản xuất lương thực hoặc phải có một môi trường năng sản, với những tài nguyên đặc biệt tập trung để có thể săn bắt và hái lượm trong một khu vực nhỏ. Chính vì vậy mà việc định cư, suy ra là bộ lạc, đã bắt đầu nảy nở tại vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu vào đúng thời gian đó, khi sự kết hợp giữa thay đổi khí hậu và công nghệ cải tiến đã cho phép người ta thu hoạch ngũ cốc hoang dã với số lượng lớn.
Bộ lạc khác với bầy người không chỉ ở chỗ sống định cư và số người đông, mà còn ở chỗ bộ lạc bao gồm vài nhóm có liên hệ huyết thống với nhau được thừa nhận chính thức có tên gọi là thị tộc, các thị tộc này thường trao đổi cô dâu chú rể với nhau. Đất đai thuộc một thị tộc nhất định chứ không phải thuộc toàn thể bộ lạc. Tuy nhiên, số người trong một bộ lạc vẫn còn đủ ít để ai cũng biết nhau theo họ tên và quan hệ thân tộc.
Ngay cả đối với những loại quần thể người khác, “vài trăm” vẫn có vẻ là ngưỡng tối đa đối với quy mô của quần thể để tất cả mọi người trong quần thể đều biết nhau. Chẳng hạn, trong xã hội nhà nước của chúng ta, một hiệu trưởng trung học có thể biết tên tất cả học sinh trường mình nếu chỉ có vài trăm em, song không thể nhớ hết tên học sinh nếu có đến vài ngàn em. Một lý do khiến tổ chức chính phủ của con người có xu hướng chuyển hóa từ bộ lạc sang tù trưởng quốc ở những xã hội có đông hơn vài trăm thành viên là ở chỗ: quần thể càng đông người thì vấn đề hóc búa là giải quyết tranh chấp giữa những người xa lạ càng trở nên gay gắt. Một thực tế nữa càng làm giảm thiểu những rắc rối tiềm tàng trong việc giải quyết tranh chấp trong bộ lạc là hầu như ai cũng có liên hệ với nhau, theo huyết thống hoặc theo hôn nhân hoặc cả hai. Những mối dây mơ rễ má này ràng buộc mọi thành viên bộ lạc với nhau, khiến cho cảnh sát, luật pháp và các thiết chế giải quyết xung đột khác của một xã hội lớn hơn trở nên không cần thiết, bởi bất cứ hai dân làng nào xung đột với nhau cũng đều có chung nhiều người thân, những người thân này sẽ gây áp lực lên họ hoặc ngăn không cho họ dùng bạo lực. Trong xã hội New Guinea truyền thống, nếu một người New Guinea tình cờ gặp một người New Guinea không quen biết khi cả hai đang ở xa làng mình, cả hai sẽ trao đổi hồi lâu về họ hàng thân thích của mỗi bên nhằm cố xây dựng một mối quan hệ thân tộc giữa nhau, từ đó mà có lý do để không nên giết hại lẫn nhau.
Dẫu có nhiều khác biệt như vậy song giữa bầy người và bộ lạc vẫn có những điểm chung. Bộ lạc vẫn có một hệ thống chính quyền không chính thức, “bình đẳng”. Tất cả mọi người đều tham gia vào việc nắm thông tin và ra quyết định. Ở vùng cao New Guinea, tôi đã quan sát nhiều cuộc họp làng mà ở đó tất cả người lớn trong làng đều có mặt, ngồi trên mặt đất, từng người một phát biểu, chẳng có vẻ gì là có một người “chủ trì” cuộc thảo luận. Nhiều làng vùng cao cũng có một người đóng vai trò “thủ lĩnh”, ấy là người đàn ông có ảnh hưởng nhất trong làng. Nhưng vị “thủ lĩnh” này không hề có trụ sở làm việc chính thức và chỉ có quyền lực hạn chế. Thủ lĩnh không có quyền quyết định độc lập, không biết tới những bí quyết ngoại giao, và chẳng làm được gì hơn ngoài chuyện cố gắng lèo lái quyết định của cộng đồng. Các thủ lĩnh có được vị thế này nhờ phẩm chất cá nhân; chức vụ này không được cha truyền con nối.
Bộ lạc còn có một nét chung nữa với bầy người, đó là hệ thống xã hội “bình đẳng”, không có sự phân chia thành dòng tộc cao thấp hoặc thành giai cấp. Không chỉ chức vụ không được cha truyền con nối, mà không một thành viên nào trong một bộ lạc hay bầy người truyền thống có thể trở thành giàu có hơn hẳn những người khác bằng nỗ lực của chính mình, bởi vì mỗi cá nhân đều có những món nợ và nghĩa vụ đối với nhiều người khác. Vì vậy nếu chỉ nhìn bề ngoài thì người ngoài không thể đoán được ai trong số những người đàn ông trưởng thành của một làng là thủ lĩnh, bởi ông ta cũng sống trong một loại căn lều như thế, mặc cũng những quần áo ấy, đeo cũng những thứ trang sức ấy, hoặc cũng trần trùng trục như bất cứ ai.
Cũng như bầy người, bộ lạc không có tầng lớp quan chức, lực lượng cảnh sát, không có thuế má. Kinh tế của họ dựa trên sự trao đổi qua lại giữa các cá nhân hay gia đình, chứ không phải là phân phối lại các vật phẩm cống nạp cho một chính quyền trung ương. Việc chuyên môn hóa kinh tế rất ít ỏi: không có những thợ thủ công chuyên nghiệp chỉ sống bằng nghề; tất cả người lớn trong độ tuổi lao động (kể cả thủ lĩnh) đều tham gia trồng trọt, hái lượm hay săn bắt. Tôi nhớ có lần khi đang đi qua một khu vườn ở quần đảo Solomon, tôi thấy một người đàn ông đang cuốc đất vẫy vẫy tôi đằng xa; tôi rất ngạc nhiên nhận ra đó là một người bạn tôi tên là Faletau. Ông là thợ khắc gỗ lừng danh nhất ở quần đảo Solomon, một nghệ sĩ có tài năng xuất chúng – nhưng dẫu vậy đi nữa ông cũng cứ phải tự cuốc đất trồng khoai lấy. Bởi các bộ lạc thiếu sự chuyên môn hóa trong kinh tế như vậy nên họ cũng không có nô lệ, bởi không có công việc chân tay chuyên môn hóa nào để nô lệ làm.
Cũng như khái niệm “nhà soạn nhạc thời cổ điển” hàm ý từ C.P.E. Bach tới Schubert và do đó có thể bao hàm những nhạc sĩ rất khác nhau như nhạc sĩ baroque và nhạc sĩ lãng mạn, các bộ lạc ở một cực đối lập thì gần với bầy người, ở cực khác thì giống các tù trưởng quốc. Đặc biệt, vai trò của vị thủ lĩnh trong bộ lạc trong việc chia thịt những con lợn được giết để tế lễ rất gần với vai trò của tù trưởng trong việc tập trung và tái phân phối lương thực cùng hàng hóa – mà lúc này đã được tái thể chế hóa dưới hình thức cống vật – trong các tù trưởng quốc. Tương tự, việc có hay không có những kiến trúc công cộng vốn được cho là một trong những yếu tố phân biệt bộ lạc với tù trưởng quốc, song những làng lớn ở New Guinea thường có những căn nhà thờ phụng (được gọi là haus tamburan trên sông Sepik) là tiền thân của đền thờ ở các tù trưởng quốc.
Tuy một vài bầy người và bộ lạc vẫn còn sống sót đến ngày nay ở những vùng đất xa xôi cằn cỗi ngoài tầm kiểm soát của nhà nước, song tù trưởng quốc thì cho tới đầu thế kỷ hai mươi đã biến mất hoàn toàn, bởi chúng có khuynh hướng chiếm giữ những vùng đất ngon lành mà các quốc gia thường thèm khát. Nhưng, vào năm 1492 CN, các tù trưởng quốc vẫn còn phổ biến khắp vùng đông Hoa Kỳ ngày nay, ở những vùng đất năng sản tại Nam Mỹ và Trung Mỹ, cũng như châu Phi hạ Sahara mà lúc đó chưa rơi vào tay các quốc gia trong vùng, và ở toàn bộ quần đảo Polynesia. Bằng chứng khảo cổ được đề cập dưới đây gợi ý rằng các tù trưởng quốc đã phát sinh vào khoảng 5.500 năm TCN tại vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và vào khoảng 1.000 năm TCN ở Trung Mỹ và vùng Andes. Ta hãy xét những điểm đặc thù của tù trưởng quốc, vốn rất khác biệt với các nhà nước hiện đại ở châu Âu và châu Mỹ đồng thời cũng rất khác với xã hội bầy người và xã hội bộ lạc giản đơn.
Về quy mô dân số, tù trưởng quốc lớn hơn nhiều so với bộ lạc, từ vài ngàn tới vài chục ngàn dân. Quy mô đó tạo nên nguy cơ tiềm tàng nghiêm trọng đối với xung đột nội bộ bởi vì, đối với một người sống trong tù trưởng quốc, đại đa số những người khác trong tù trưởng quốc không có liên hệ gì với họ về huyết thống hay hôn nhân, và họ cũng chẳng hề biết tên biết tuổi. Với sự nảy sinh các tù trưởng quốc vào khoảng 7.500 năm trước, lần đầu tiên trong lịch sử người ta đã phải học cách gặp gỡ những người lạ một cách thường xuyên mà không tìm cách giết người ta.
Một phần giải pháp cho vấn đề đó là phải dành cho một người duy nhất, tức tù trưởng, có đặc quyền sử dụng quyền lực. Trái với thủ lĩnh bộ lạc, tù trưởng có nơi làm việc chính thức, chức vụ này được cha truyền con nối. Thay vì tình trạng vô chính phủ phi tập trung tại cuộc họp làng, tù trưởng là cơ quan chính quyền thường trực, tập trung, đưa ra mọi quyết định quan trọng và độc quyền nắm giữ những thông tin then chốt (chẳng hạn như tù trưởng nước láng giềng đang đích thân hăm dọa điều gì, hoặc chư thần đã hứa sẽ ban cho vụ mùa ra sao). Khác với thủ lĩnh, tù trưởng có thể nhận ra từ xa bởi những nét đặc trưng dễ thấy, chẳng hạn một cái quạt to đeo sau lưng trên đảo Rennell ở Tây Nam Thái Bình Dương. Thường dân khi gặp tù trưởng thì phải làm một số động tác nghi thức để tỏ lòng tôn kính, chẳng hạn cúi rạp mình xuống (như ở Hawaii). Các mệnh lệnh của tù trưởng có thể được truyền đạt thông qua một, hai cấp quan chức, trong số đó nhiều người bản thân cũng là tù trưởng cấp thấp. Tuy nhiên, trái với quan chức ở xã hội nhà nước, quan chức trong tù trưởng quốc chỉ có vai trò chung chung chứ không chuyên biệt. Tại Hawaii thuộc Polynesia, cũng các quan chức đó (gọi là konohiki) vừa thu cống vật vừa trông coi kênh mương, lại vừa tổ chức “lao động công ích” cho tù trưởng, trong khi xã hội nhà nước thì có những chức quan riêng, người chuyên thu thuế, người chuyên về thủy lợi đê điều, kẻ chuyên về nghĩa vụ quân sự.
Bởi dân số của tù trưởng quốc khá đông nhưng lại sống trên một địa bàn hẹp nên cần có nhiều lương thực – trong hầu hết trường hợp là sản xuất lương thực, trong một ít trường hợp là săn bắt hái lượm ở những vùng đặc biệt trù phú. Chẳng hạn, người châu Mỹ bản địa ở vùng Tây Bắc Hoa kỳ dọc bờ Thái Bình Dương như Kwakiutl, Nootka hay Tlingit từng sinh sống trong những làng do tù trưởng cai quản, hoàn toàn không trồng trọt hay chăn nuôi bởi vì sông và biển nơi họ sinh sống có rất nhiều cá hồi và cá halibut. Khoản thặng dư lương thực do một số người bị giáng xuống hàng thường dân sản xuất ra được dùng để nuôi tù trưởng, gia đình tù trưởng, quan lại và các thợ thủ công chuyên sản xuất canô, rìu hay ống nhổ hay những người chuyên làm nghề bắt chim, xăm mình.
Hàng hóa xa xỉ – gồm các sản phẩm thủ công chuyên nghiệp hoặc sản vật quý hiếm nhờ trao đổi đường dài mới có – đều được dành cho tù trưởng. Chẳng hạn, các tù trưởng Hawaii có áo choàng bằng lông chim, một số trong đó gồm tới hàng vạn chiếc lông và phải mất nhiều thế hệ mới chế tác được (dĩ nhiên là do những thợ làm áo choàng trong đám thường dân). Việc tập trung các món đồ xa xỉ như vậy trong di tích khảo cổ thường giúp ta nhận biết được các tù trưởng quốc, bởi một số ngôi mộ (của tù trưởng) chứa nhiều đồ vật đắt giá hơn những mộ khác (của thường dân), ngược lại với mộ táng theo kiểu “bình đẳng” trong những giai đoạn sớm hơn của lịch sử loài người. Một số tù trưởng quốc cổ xưa đạt trình độ phức tạp còn có thể phân biệt với làng bộ lạc ở chỗ chúng còn để lại di tích là những công trình kiến trúc công cộng tinh vi (chẳng hạn như đền thờ) và có những điểm định cư được phân theo thứ bậc, trong đó có một khu (nơi ở của tù trưởng lớn nhất) rộng hơn thấy rõ và có nhiều công trình hành chính cũng như vật phẩm chế tác hơn ở những nơi khác.
Cũng như bộ lạc, tù trưởng quốc bao gồm nhiều dòng dõi cha truyền con nối sống ở cùng một khu. Tuy vậy, trong khi các dòng dõi ở bộ lạc đều là những gia tộc bình đẳng với nhau thì ở tù trưởng quốc, mọi thành viên của dòng dõi tù trưởng đều được hưởng những đặc quyền có tính gia truyền. Trên thực tế, xã hội tù trưởng quốc chia ra thành tù trưởng cha truyền con nối và các tầng lớp thường dân, trong đó bản thân các tù trưởng Hawaii cũng lại chia ra thành những dòng tộc cha truyền con nối có phân chia thứ bậc, mỗi dòng tộc chỉ được cưới xin trong phạm vi dòng tộc đó mà thôi. Không những thế, do đã là tù trưởng thì phải có người hầu cận cũng như nhiều thợ thủ công chuyên nghiệp, cho nên tù trưởng quốc khác với bộ lạc ở chỗ có nhiều công việc mà nô lệ có thể làm, nô lệ thì thường bị bắt trong những cuộc tấn công càn quét.
Đặc tính nổi bật nhất về kinh tế của tù trưởng quốc là người ta không còn chỉ dựa trên sự trao đổi qua lại vốn đặc thù cho bầy người và bộ lạc, có nghĩa là A cho B một vật và chờ đợi rằng vào một thời điểm nào đó chưa xác định trong tương lai B cũng sẽ cho lại A một vật có giá trị tương đương. Chúng ta, cư dân các nhà nước của ngày nay, cũng thích những hành vi như tặng quà cho nhau vào những dịp sinh nhật và lễ lạc, song hầu hết các vật phẩm mà ta có được đều là qua hình thức mua bán bằng tiền theo luật cung cầu. Còn các tù trưởng quốc, tuy vẫn tiếp tục duy trì hình thức trao đổi qua lại chứ không có thị trường hay tiền tệ, vẫn phát triển một hệ thống bổ sung gọi là hệ thống tái phân phối. Một ví dụ đơn giản là mỗi khi đến kỳ thu hoạch mỗi nhà nông trong tù trưởng quốc đều nộp lúa mì cho tù trưởng, sau đó tù trưởng tổ chức một bữa tiệc linh đình cho tất cả mọi người và thết đãi bánh mì, nếu không thì sẽ trữ bánh mì lại, chờ đến những tháng giữa hai mùa thu hoạch thì dần dần phát lại cho dân. Khi một phần lớn hàng hóa nhận được từ thường dân không được phân phối lại cho dân mà được dòng tộc của tù trưởng cũng như các thợ thủ công giữ lại để tiêu thụ thì sản vật tái phân phối trở thành vật cống nạp vốn là tiền thân của thuế, xuất hiện đầu tiên ở các tù trưởng quốc. Tù trưởng yêu cầu thường dân không chỉ nộp các phẩm vật mà còn phải làm việc cho các công trình công cộng, mà các công trình này xét cho cùng lại có lợi cho thường dân (chẳng hạn như các hệ thống tưới tiêu giúp tăng sản lượng lương thực nuôi mọi người) song cũng có thể chỉ có lợi cho tù trưởng (chẳng hạn như xây lăng mộ nguy nga).
Nãy giờ chúng ta nói về tù trưởng quốc một cách chung chung, cứ như mọi tù trưởng quốc đều y như nhau. Trên thực tế, các tù trưởng quốc khác nhau đáng kể. Những tù trưởng quốc lớn hơn thì thường có những tù trưởng hùng mạnh hơn, dòng dõi tù trưởng có nhiều tôn ti thứ bậc hơn, sự khác biệt giữa tù trưởng và thường dân lớn hơn, tù trưởng thu cống vật nhiều hơn, có nhiều tầng lớp quan lại hơn, và những công trình công cộng to hơn. Chẳng hạn, các xã hội trên những hòn đảo Polynesia nhỏ bé thì gần với xã hội bộ lạc hơn, chỉ khác mỗi chuyện là chức tù trưởng được cha truyền con nối. Lều của tù trưởng trông cũng như bất cứ lều nào, không có quan lại cũng chẳng có những công trình công cộng, tù trưởng phân phối lại hầu hết các phẩm vật cho người dân, và đất thuộc quyền kiểm soát của cả cộng đồng. Nhưng trên những hòn đảo lớn nhất của Polynesia như Hawaii, Tahiti và Tonga, chỉ cần liếc qua đồ trang sức là có thể nhận ra ai là tù trưởng, những công trình công cộng được xây nên bằng lao động của số đông, hầu hết cống vật đều được tù trưởng giữ lại, và tất cả đất đai đều do tù trưởng cai quản. Mức độ phân chia thành tôn ti thứ bậc thường thấp hơn ở các xã hội mà đơn vị chính trị là một làng tự trị duy nhất, và cao hơn ở các xã hội bao gồm một số làng liên hiệp lại với nhau trong đó làng lớn nhất với vị tù trưởng lớn nhất cai quản các làng nhỏ hơn, mỗi làng nhỏ này lại có một vị tù trưởng nhỏ.
Đến giờ hẳn ta đã thấy, tù trưởng quốc đã đặt ra cái nan đề cơ bản đối với bất cứ xã hội nào theo chế độ cai quản tập trung và phi quân bình chủ nghĩa. Nếu tốt đẹp, các xã hội đó có thể cung cấp cho người dân những dịch vụ rẻ tiền mà nếu từng cá nhân thì không thể nào kham được. Còn trong trường hợp xấu nhất, chính quyền ở các xã hội đó vận hành như những lũ cướp ngày không biết xấu hổ là gì, chỉ chăm chăm lùa của cải từ thường dân sang tầng lớp thượng lưu. Chức năng cao quý đó [của các chính phủ] gắn bó không rời với chức năng vị kỷ, mặc dù một số chính phủ nhấn mạnh chức năng này hơn chức năng kia. Sự khác biệt giữa một kẻ cầm quyền chuyên vơ vét với một nhà lãnh đạo đầy thông tuệ, giữa một nhà quý tộc cướp ngày với một nhà cầm quyền chuyên làm điều lợi cho dân chỉ là một bước: vấn đề chỉ là giới cầm quyền giữ lại bao nhiêu phần trăm cống vật thu của người sản xuất, và thường dân có hài lòng về cách thức phân phối lại những cống vật mà họ đã nộp cho chính phủ hay không. Chúng ta coi Tổng thống Mobutu của Zaire là một nhà cầm quyền kẻ cướp bởi ông ta giữ lại quá nhiều cống vật (tương đương hàng tỷ đô la) mà phân phối lại quá ít (dưới thời ông ta ở Zaire không hề có hệ thống điện thoại nào). Chúng ta coi Georges Washington là một lãnh tụ quốc gia [chân chính] vì ông chi tiền thuế vào những chương trình đáng khâm phục chứ không lợi dụng ghế tổng thống để làm giàu. Nhưng dẫu sao, Georges Washington cũng sinh ra trong sự giàu sang, mà sự giàu sang ở Hoa Kỳ thì được tái phân phối một cách ít công bằng hơn nhiều so với ở các làng New Guinea.
Đối với bất cứ xã hội có đẳng cấp nào, dẫu tù trưởng quốc hay nhà nước, người ta đều phải đặt câu hỏi: tại sao thường dân lại để yên cho kẻ khác chuyển cái thành quả từ mồ hôi nước mắt của mình vào tay bọn cầm quyền ăn cướp? Câu hỏi này các nhà lý thuyết chính trị từ Plato đến Marx đều đã đặt ra, song ngay đến ngày nay vẫn được cử tri đặt ra như một câu hỏi mới trong bất kỳ cuộc tuyển cử nào. Những chính phủ ăn cướp thì ít được quần chúng ủng hộ và sẽ có nguy cơ bị lật đổ vì thường dân bị áp bức hoặc những [thế lực] mới nổi có khả năng thay thế kẻ cầm quyền, những giới này hứa hẹn sẽ dành một tỷ lệ cao hơn từ những vật phẩm ăn cướp được để tái phân phối vào những công trình dân dụng. Chẳng hạn, lịch sử Hawaii thường xuyên có những cuộc nổi dậy chống những tù trưởng tham lam bạo ngược, các cuộc nổi dậy đó thường là do những người trẻ tuổi hứa hẹn [với dân thường] là [họ nếu lên cầm quyền thì sẽ] ít áp bức hơn. Điều này thoạt nghe có vẻ nực cười đối với chúng ta trong bối cảnh lịch sử Hawaii, song ta hãy nhớ lại rằng những cuộc đấu tranh tương tự vậy vẫn đang tiếp tục gây bao thống khổ trong thế giới ngày nay.
Thiểu số cầm quyền nên làm gì để được dân chúng ủng hộ mà bản thân vẫn được sống đàng hoàng sung túc hơn so với thường dân? Kẻ cầm quyền, thời nào cũng vậy, thường áp dụng kết hợp bốn giải pháp sau:
Không cho dân thường mang vũ khí, chỉ thiểu số cầm quyền mới được mang vũ khí. Việc đó dễ dàng hơn nhiều trong thời đại ngày nay khi vũ khí kỹ thuật cao chỉ được sản xuất bởi dăm nhà máy và dễ dàng chỉ nằm trong tay thiểu số cầm quyền, so với ngày xưa khi vũ khí là lao và dùi cui mà dân thường ai cũng có thể tự chế ra ở nhà mình.
Làm cho quần chúng hài lòng bằng cách phân phối lại hầu hết cống vật thu được, bằng những cách hợp lòng dân. Nguyên lý này có giá trị đối với các tù trưởng Hawaii cũng như với các chính trị gia Hoa Kỳ ngày nay.
Dùng sự độc quyền về sức mạnh để bảo đảm hạnh phúc [của người dân], bằng cách duy trì trật tự cộng đồng và kiềm chế bạo lực. Đây có lẽ là một ưu thế lớn – song chưa được hiểu đúng – của các xã hội tập trung hóa so với các xã hội phi tập trung. Trước đây các nhà nhân chủng học thường lý tưởng hóa các xã hội bầy người và bộ lạc, xem đó là những xã hội hiền lành không bạo lực, bởi các nhà nhân chủng học khi đến sống giữa một bầy người gồm 25 người đã không hề thấy một vụ giết người nào trong suốt ba năm nghiên cứu. Dĩ nhiên là họ không thể thấy được rồi: chẳng khó gì tính ra rằng một bầy người gồm một tá người lớn và một tá trẻ con – mà dù thế nào thì cũng không tránh khỏi chết vì những nguyên nhân thông thường ngoài việc giết người – ắt sẽ không thể tồn tại nếu ngoài những nguyên nhân đó ra cứ ba năm một lần một trong số một tá người lớn đó lại giết một người khác. Nếu nghiên cứu dài hạn hơn và sâu rộng hơn nhiều về các xã hội bầy người và bộ lạc, ta sẽ nhận ra rằng giết người là một trong các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Chẳng hạn, có lần tôi đến thăm dân tộc Iyau ở New Guinea tình cờ đúng lúc một nhà nữ nhân chủng học đang phỏng vấn các phụ nữ Iyau về chuyện đời của họ. Hết người này đến người khác, các phụ nữ này mỗi khi được yêu cầu cho biết tên chồng mình đều kể ra một loạt mấy ông chồng mà tất cả đều chết những cái chết đầy bạo lực. Một câu trả lời tiêu biểu là thế này: “Ông chồng đầu tiên của tôi bị những người Elopi đột kích giết chết. Chồng thứ hai của tôi bị giết bởi một người thèm muốn tôi, người đó sau trở thành chồng thứ ba của tôi. Ông chồng này bị em trai ông chồng thứ hai của tôi giết chết để trả thù cho anh”. Những câu chuyện đó là bình thường như cơm bữa đối với cái gọi là những dân bộ lạc hiền lành và là một phần lý do khiến người ta chấp nhận hình thức chính quyền tập trung khi xã hội bộ lạc ngày một lớn hơn.
Cách còn lại để các nhà cầm quyền giành được sự ủng hộ của quần chúng là xây dựng một ý thức hệ hoặc một tôn giáo nhằm biện minh cho chính quyền. Các bầy người và bộ lạc vốn dĩ đã có những tín ngưỡng siêu nhiên, cũng như các thiết chế tôn giáo hiện đại. Song các tín ngưỡng siêu nhiên của bầy người và bộ lạc không nhằm biện chính cho chính quyền trung ương, biện chính cho sự chuyển giao của cải hoặc duy trì hòa bình giữa các cá nhân không có liên hệ [về huyết thống]. Khi tín ngưỡng siêu nhiên mang lấy những chức năng đó và trở nên thể chế hóa, chúng biến thành cái mà chúng ta gọi là tôn giáo. Các tù trưởng Hawaii là tiêu biểu cho các tù trưởng hoặc nhà cầm quyền ở bất cứ nơi nào khác trong việc tự nhận mình là thần linh, hậu duệ của thần linh hay ít nhất là trung gian liên lạc với thần linh. Tù trưởng tuyên bố mình phụng sự nhân dân bằng cách làm trung gian giữa họ với thần linh và đọc thần chú cầu mưa, mong cây trồng tươi tốt và đánh cá được mùa.
Đặc trưng của tù trưởng quốc là có một ý thức hệ, tiền thân của tôn giáo được thể chế hóa, nhằm củng cố thêm chính quyền của tù trưởng. Tù trưởng có thể là sự kết hợp nhà lãnh đạo chính trị với nhà tư tế trong cùng một con người, hoặc hỗ trợ một nhóm nhà tư tế riêng biệt, chức năng của nhóm này là biện chính cho tù trưởng về phương diện ý thức hệ. Chính vì vậy các tù trưởng quốc mới dành riêng nhiều phần cống vật thu được từ dân đến vậy vào việc xây dựng đền đài và các công trình công cộng khác vốn được dùng làm trung tâm tôn giáo chính thức và dấu hiệu nhãn tiền về quyền lực của tù trưởng.
Ngoài việc biện chính cho sự chuyển giao của cải cho giới cầm quyền, các tôn giáo được thể chế hóa còn mang lại hai cái lợi quan trọng khác cho các xã hội tập trung. Thứ nhất, nhờ có một ý thức hệ hay tôn giáo chung mà người ta giải quyết được vấn đề làm sao những cá nhân không có liên hệ gì với nhau có thể cùng chung sống mà không giết hại nhau – bằng cách khiến hai người gắn bó với nhau bởi một mối liên hệ không dựa trên dòng máu. Thứ hai, nó cho người ta có một động cơ – ngoài động cơ tư lợi mang tính di truyền – để hy sinh mạng sống mình vì người khác. Bằng cái giá một ít thành viên của xã hội chết trên chiến trường như những chiến binh, toàn xã hội trở nên hữu hiệu hơn nhiều trong việc chinh phục các xã hội khác hay kháng cự những trước cuộc tấn công [của kẻ thù].
Các thể chế chính trị, kinh tế và xã hội quen thuộc nhất với chúng ta ngày nay là thể chế nhà nước mà hiện nay đang thống trị trên toàn bộ đất liền của thế giới trừ châu Nam cực. Nhiều nhà nước cổ đại và tất cả các nhà nước hiện đại đều có tầng lớp cầm quyền có học thức, nhiều nhà nước hiện đại còn có cả quần chúng có học thức. Các nhà nước đã biến mất thường để lại những dấu ấn khảo cổ dễ nhận ra, chẳng hạn di tích những đền đài có thiết kế được tiêu chuẩn hóa, ít nhất bốn cấp độ quy mô định cư, và những phong cách đồ gốm trải rộng trên hàng vạn dặm vuông. Nhờ vậy ta biết rằng nhà nước đã nảy sinh vào khoảng 3.700 năm TCN ở vùng Lưỡng Hà và khoảng 300 năm TCN ở Trung Mỹ, trên 2.000 năm trước ở vùng Andes, Trung Hoa và Đông Nam Á, trên 1.000 năm trước ở Tây Phi. Vào thời hiện đại người ta vẫn thường xuyên chứng kiến những nhà nước hình thành từ tù trưởng quốc. Nhờ đó ta nắm được nhiều thông tin về các nhà nước trong quá khứ và quá trình hình thành chúng, nhiều hơn gấp bội so với thông tin về các tù trưởng quốc, bộ lạc và bầy người trong quá khứ.
Các nhà nước sơ khai vẫn giữ nhiều đặc điểm của những tù trưởng quốc lớn (gồm nhiều bộ lạc). Chúng tiếp tục tăng trưởng về quy mô từ bầy người đến bộ lạc rồi đến tù trưởng quốc. Trong khi dân số của tù trưởng quốc thường từ dăm ngàn cho tới ít vạn người thì dân số của hầu hết nhà nước hiện đại vượt quá một triệu người, Trung Hoa đến những hơn một tỷ. Vị trí của tù trưởng lớn nhất có thể trở thành thủ đô của nhà nước. Các trung tâm dân cư khác của nhà nước ngoài thủ đô ra cũng có thể là những thành phố thật sự, điều này không có ở tù trưởng quốc. Thành phố khác với làng ở chỗ có những công trình công cộng đồ sộ, cung điện của nhà cầm quyền, có sự tích lũy của cải từ cống vật hoặc thuế, và tập trung những người làm các công việc khác ngoài sản xuất lương thực.
Các nhà nước buổi đầu thường có một nhà lãnh đạo cha truyền con nối với danh vị tương đương với vua, giống như một tù trưởng tối cao và thậm chí càng độc chiếm hơn về quyền nắm giữ thông tin, quyền ra quyết định và quyền cai trị. Ngay cả trong những nền dân chủ ngày nay, chỉ một ít cá nhân mới có thể tiếp nhận những tri thức cốt yếu, kiểm soát dòng thông tin chuyển đến những người còn lại trong chính phủ và do đó kiểm soát quá trình ra quyết định. Chẳng hạn, trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba hồi năm 1962, lúc đầu Tổng thống Kennedy chỉ cho phép một ủy ban chấp hành gồm mười người thuộc Hội đồng An ninh quốc gia do chính ông bổ nhiệm được tiếp cận thông tin và tham gia những cuộc thảo luận có vai trò quyết định liệu cuộc chiến hạt nhân có nhấn chìm nửa tỉ người hay không; khi cần ra những quyết định cuối cùng, ông thu hẹp lại chỉ còn một nhóm gồm bốn thành viên trong đó có chính ông và ba vị bộ trưởng nội các.
Việc kiểm soát từ trung ương có ảnh hưởng sâu xa hơn và sự tái phân phối kinh tế dưới dạng cống vật (nay được đổi tên thành thuế) là rộng rãi hơn ở nhà nước so với ở tù trưởng quốc. Sự chuyên môn hóa trong kinh tế là cực đoan hơn, cho đến độ ngày nay thậm chí nông dân cũng không còn tự cấp tự túc được nữa. Vì vậy cho nên khi chính phủ nhà nước bị sụp đổ thì tác động đối với xã hội thật là tai hại, như đã xảy ra tại Anh khi quân đội, chính quyền và đồng tiền La Mã bị loại bỏ trong khoảng từ năm 407 đến năm 411. Ngay cả những nhà nước Lưỡng Hà xưa nhất cũng từng áp dụng phương thức kiểm soát tập trung đối với nền kinh tế của mình. Lương thực của họ được sản xuất bởi bốn nhóm chuyên môn hóa (nông dân chuyên trồng ngũ cốc, người chăn nuôi, người đánh cá và người trồng vườn), nhà nước thu sản phẩm của từng nhóm rồi phân phát cho từng nhóm các nhu yếu phẩm, công cụ và những lương thực khác (không phải thứ mà nhóm đó sản xuất ra). Nhà nước cung cấp hạt giống và súc vật kéo cày cho nông dân trồng ngũ cốc, lấy len từ người chăn nuôi, trao đổi len thông qua buôn bán đường dài để lấy kim loại và các nguyên liệu cần thiết khác, và trả cho các nhân công có nhiệm vụ duy trì hệ thống tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp bằng khẩu phần lương thực.
Nhiều, có thể là hầu hết các nhà nước cổ xưa sử dụng nô lệ trên quy mô lớn hơn nhiều so với các tù trưởng quốc. Đó chẳng phải vì các tù trưởng quốc đối xử tử tế hơn với những kẻ thù bại trận, mà là bởi các nhà nước có sự chuyên môn hóa cao hơn trong kinh tế, có nền sản xuất đại trà hơn và nhiều công trình công cộng hơn, nên có nhiều đất để dùng lao động nô lệ hơn. Ngoài ra, vì chiến tranh ở cấp độ nhà nước có quy mô lớn hơn nên tù binh cũng nhiều hơn.
Tù trưởng quốc chỉ có một hoặc hai cấp chính quyền, nhưng lên đến nhà nước thì con số đó tăng lên gấp bội, điều đó bất cứ ai từng thấy sơ đồ tổ chức một chính phủ đều hiểu rõ. Cùng với sự nhân bội các cấp chính quyền theo hàng dọc, lại cũng có sự chuyên môn hóa theo hàng ngang. Thay vì những konohiki thực hiện đủ thứ công việc hành chính cho một quận ở Hawaii, các chính phủ nhà nước có hẳn nhiều bộ riêng biệt, mỗi bộ có cấu trúc tôn ti thứ bậc riêng, phụ trách từng lĩnh vực như quản lý nước, thu thuế, quân dịch, vân vân. Ngay cả những nhà nước nhỏ cũng có hệ thống quan chức phức tạp hơn so với những tù trưởng quốc lớn. Chẳng hạn, nhà nước Maradi ở Tây Phi có chính quyền tập trung gồm trên 130 phòng ban có chức danh.
Việc giải quyết xung đột nội bộ trong các nhà nước ngày càng được chính thức hóa bởi luật pháp, tòa án và cảnh sát. Luật thường được viết thành văn bản, bởi nhiều nhà nước (trừ những trường hợp ngoại lệ dễ thấy như nhà nước Inca) có những giới tinh hoa có học thức, chữ viết đã phát triển hầu như cùng lúc với sự hình thành các nhà nước xưa nhất ở cả Lưỡng Hà lẫn Trung Mỹ. Ngược lại, không một tù trưởng quốc xưa nào chưa đạt đến giai đoạn chuyển sang nhà nước mà lại từng phát minh ra chữ viết.
Các nhà nước đầu tiên có tôn giáo nhà nước và những đền đài được chuẩn hóa. Nhiều vị vua đầu tiên được coi là thần thánh và được đối xử đặc biệt với không biết bao nhiêu tôn kính. Chẳng hạn, các hoàng đế Aztec và Inca đi đâu cũng được khênh trên kiệu; những người hầu vừa đi trước kiệu của hoàng đế Inca vừa quét cho mặt đất sạch bong; và tiếng Nhật có những dạng đặc biệt của đại từ thứ hai ngôi số ít chỉ dùng khi xưng hô với nhà vua. Bản thân các vị vua đầu tiên là vị giáo chủ của tôn giáo nhà nước, không thì cũng có những vị tư tế cao cấp của riêng mình. Đền thờ Lưỡng Hà không chỉ là trung tâm tôn giáo mà còn là trung tâm tái phân phối kinh tế, trung tâm chữ viết và trung tâm thủ công nghệ.
Tất cả những đặc tính đó của nhà nước đều đưa đến mức cực đoan những bước phát triển từng dẫn bộ lạc tiến lên tù trưởng quốc. Dẫu vậy, bên cạnh đó các nhà nước vẫn khác biệt với tù trưởng quốc theo một số hướng mới. Khác biệt cơ bản nhất trong số này là nhà nước được tổ chức trên phương châm chính trị và lãnh thổ, chứ không phải trên phương châm quan hệ huyết thống như bầy người, bộ lạc và tù trưởng quốc giản đơn. Hơn nữa, bầy người và bộ lạc thì luôn luôn – còn tù trưởng quốc thì thường – bao gồm chỉ một nhóm dân tộc và ngôn ngữ duy nhất. Thế nhưng nhà nước – đặc biệt là những cái gọi là đế quốc hình thành bằng cách hợp nhất hoặc chinh phục nhiều nhà nước – thường là đa dân tộc và đa ngôn ngữ. Quan lại nhà nước thường được chọn không phải chủ yếu dựa trên quan hệ thân tộc như ở tù trưởng quốc, mà là những người chuyên môn được lựa chọn ít nhất cũng một phần trên cơ sở đào tạo và năng lực. Ở các nhà nước về sau, kể cả hầu hết các nhà nước ngày nay, vị trí lãnh đạo thường không phải cha truyền con nối, và nhiều nhà nước đã từ bỏ toàn bộ hệ thống giai cấp chính thức cha truyền con nối thừa hưởng từ thời tù trưởng quốc.
Trong suốt 13.000 năm qua trong lịch sử loài người, xu hướng chủ đạo là những đơn vị nhỏ hơn, ít phức tạp hơn bị thay thế bằng những đơn vị lớn hơn, phức tạp hơn. Hiển nhiên, đó chẳng qua là một xu hướng dài hạn trung bình, bởi có vô số những sự chuyển dịch từ hướng này sang hướng nọ và ngược lại: cứ 1.000 trường hợp hợp nhất thì lại có 999 trường hợp phân liệt. Đọc báo chúng ta cũng biết rằng những đơn vị lớn (chẳng hạn như Liên Xô cũ, Nam Tư và Tiệp Khắc) có thể phân liệt thành những đơn vị nhỏ hơn, cũng như đế quốc của Alexander Đại đế hơn 2.000 năm trước. Những đơn vị phức tạp hơn không phải bao giờ cũng chinh phục được những đơn vị kém phức tạp hơn, mà ngược lại còn có thể không địch nổi chúng, như khi đế quốc La Mã bị các tù trưởng quốc “dã man” xâu xé còn đế quốc Trung Hoa thì bị tù trưởng quốc Mông Cổ xâm lăng. Song xu hướng dài hạn vẫn là tiến dần tới những xã hội lớn và phức tạp mà đỉnh cao là nhà nước.
Cũng hiển nhiên là, sở dĩ các nhà nước có thể chiến thắng những đơn vị xã hội đơn giản hơn khi hai bên đụng độ nhau là do các nhà nước thường có ưu thế về vũ khí và các công nghệ khác, và ưu thế rất lớn về dân số. Nhưng còn có hai ưu thế tiềm tàng khác nữa gắn liền với tù trưởng quốc và nhà nước. Thứ nhất, khi quyền ra quyết định chỉ tập trung ở một người, người đó có ưu thế là có thể huy động quân đội và nguồn lực. Thứ hai, các tôn giáo chính thức và nhiệt tình ái quốc của nhiều nhà nước khiến cho quân đội của họ chiến đấu quên mình.
Ở các nhà nước hiện đại ngày nay, cái nhiệt tình chiến đấu quên mình vì nước đó được nhà trường, tôn giáo và chính phủ lập trình sẵn cho công dân chúng ta một cách mạnh mẽ đến mức chúng ta quên mất rằng nó đã là một bước ngoặt cơ bản đến thế nào trong lịch sử loài người trước đây. Mỗi nhà nước đều có những khẩu hiệu riêng nhằm thôi thúc công dân sẵn sàng chết nếu cần vì nhà nước: “Vì Nhà vua và Đất nước” như của Anh, “Vì Thượng đế và Tây Ban Nha (Por Dios y España)” của Tây Ban Nha, vân vân. Những tình cảm tương tự cũng từng kích động những chiến binh Aztec hồi thế kỷ XVI: “Không có gì sánh được với cái chết trong chiến trận, không gì sánh được cái chết nở hoa xiết bao quý báu với Người [vị thần quốc hồn quốc túy Huitzilopochtli của người Inca] kẻ ban sự sống: tôi nhìn thấy nó ở xa kia, tim tôi mong mỏi nó!”
Những tình cảm đó không thể có được ở bầy người và bộ lạc. Các bạn New Guinea của tôi từng kể cho tôi nhiều câu chuyện về những cuộc chiến tranh bộ lạc trước kia của họ, trong những câu chuyện đó không một lần nào họ nhắc tới lòng ái quốc kiểu bộ lạc, nhiệm vụ cảm tử hay bất cứ hành vi quân sự nào khác mà dù biết mình có thể mất mạng người ta vẫn sẵn sàng thực hiện. Thay vì vậy, các cuộc tấn công thường khởi đầu bằng cách phục kích hoặc bằng lực lượng vượt trội, sao cho hạn chế bằng mọi giá cái rủi ro mình có thể mất mạng vì bộ lạc của mình. Song chính thái độ đó đã làm hạn chế nghiêm trọng các lựa chọn quân sự của bộ lạc so với các xã hội nhà nước. Lẽ tự nhiên, cái khiến cho những kẻ cuồng tín ái quốc và cuồng tín tôn giáo trở thành những đối thủ nguy hiểm đến vậy không phải là cái chết của bản thân kẻ cuồng tín, mà là việc họ sẵn sàng chấp nhận hy sinh tính mạng của nhiều người trong số họ để tiêu diệt hay đè bẹp kẻ thù. Chủ nghĩa cuồng tín trong chiến tranh, kiểu đã khiến người Thiên chúa giáo và người Hồi giáo tiến hành những cuộc chinh phục được ghi trong sử sách, có lẽ mãi đến khi tù trưởng quốc và nhất là nhà nước xuất hiện trong vòng 6.000 năm trở lại đây thì nó mới xuất hiện trên Trái đất.
Bằng cách nào các xã hội nhỏ, phi tập trung hóa, dựa trên cơ sở thân tộc đã tiến hóa thành những xã hội lớn, tập trung hóa mà trong đó hầu hết thành viên không có quan hệ họ hàng gần gũi với nhau? Sau khi khảo sát các giai đoạn trong sự chuyển hóa từ bầy người lên nhà nước, giờ chúng ta đặt ra câu hỏi: cái gì đã thúc đẩy các xã hội tự chuyển hóa mình như vậy?
Ở nhiều thời điểm trong lịch sử, các nhà nước đã phát sinh một cách độc lập – hoặc, như các nhà nhân chủng học văn hóa nói, một cách “nguyên thủy”, nghĩa là không hề có nhà nước nào khác tồn tại từ trước ở xung quanh chúng. Nhà nước nguyên thủy phát sinh ít nhất một lần, cũng có thể nhiều lần, ở tất cả các lục địa ngoại trừ Australia và Bắc Mỹ. Các nhà nước tiền sử bao gồm các nhà nước ở Lưỡng Hà, Bắc Trung Hoa, thung lũng sông Nile và sông Ấn, Trung Mỹ, vùng Andes và Tây Phi. Các nhà nước bản địa có tiếp xúc với các nhà nước châu Âu đã nhiều lần phát sinh từ tù trưởng quốc trong vòng ba thế kỷ gần đây nhất ở Madagascar, Hawaii, Tahiti và nhiều vùng của châu Phi. Các tù trưởng quốc phát sinh nguyên thủy thậm chí còn thường gặp hơn, ở tất cả các khu vực kể trên và còn ở cả vùng Đông Nam và Tây Bắc của Bắc Mỹ, vùng Amazon, Polynesia và châu Phi hạ Sahara. Tất cả các nguồn phát sinh xã hội phức tạp nói trên cho ta một cơ sở dữ liệu phong phú nhằm thấu hiểu sự phát triển của các xã hội đó.
Trong số nhiều lý thuyết hòng lý giải vấn đề nguồn gốc của nhà nước, lý thuyết đơn giản nhất cho rằng hoàn toàn chẳng có vấn đề gì cần phải lý giải hết. Aristotle cho rằng nhà nước là điều kiện tự nhiên của xã hội loài người, không cần phải lý giải gì cả. Sai lầm của ông có thể hiểu được, bởi vì hẳn tất cả những xã hội mà ông biết – các xã hội Hy Lạp vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên – thảy đều là nhà nước cả. Tuy nhiên, ngày nay ta biết rằng vào năm 1492, hầu hết thế giới vẫn còn được tổ chức thành tù trưởng quốc, bộ lạc hay bầy người. Việc hình thành nhà nước thực sự cần được giải thích.
Lý thuyết kế tiếp là lý thuyết quen thuộc nhất. Triết gia Pháp Jean-Jacques Rousseau cho rằng nhà nước được hình thành bởi một khế ước xã hội, một quyết định duy lý đạt được khi người ta đã tính toán lợi ích của bản thân mình, thỏa thuận với nhau rằng nếu ở trong một nhà nước thì tốt hơn là ở các xã hội giản đơn hơn, và tự nguyện từ bỏ các xã hội giản đơn hơn của họ. Thế nhưng, người ta chưa hề thấy và cứ liệu lịch sử cũng chưa hề ghi nhận được dù chỉ một trường hợp duy nhất khi nhà nước được hình thành trong bầu không khí thanh cao với sự nhìn xa trông rộng không bận chút tư lợi đó. Các đơn vị nhỏ hơn không hề tự nguyện từ bỏ chủ quyền của mình đặng hợp nhất thành đơn vị lớn hơn. Chúng chỉ hợp nhất khi bị [kẻ khác] chinh phục hoặc vì sức ép từ bên ngoài mà thôi.
Một lý thuyết thứ ba, vẫn còn phổ biến đối với vài sử gia và nhà kinh tế học, xuất phát từ sự kiện hiển nhiên rằng ở cả Lưỡng Hà lẫn Bắc Trung Hoa và Mexico, những hệ thống tưới tiêu quy mô lớn đã bắt đầu được xây dựng vào cùng khoảng thời gian khi các nhà nước bắt đầu xuất hiện. Lý thuyết này cũng lưu ý rằng bất cứ hệ thống tưới tiêu hay quản lý nguồn nước nào mà lớn và phức tạp thì đều đòi hỏi phải có chính quyền tập trung để xây dựng và duy trì nó. Như vậy là lý thuyết này biến một sự tương quan thuần túy về thời gian quan sát được thành một chuỗi nhân quả được mặc nhiên coi là đúng. Người ta đặt giả thiết rằng, người Lưỡng Hà, người Bắc Trung Hoa và người Mexico đã tiên liệu được rằng một hệ thống tưới tiêu quy mô lớn sẽ đem lại cho họ những thuận lợi nào, mặc dù vào thời điểm đó không hề có một hệ thống nào như vậy ở quanh họ trong vòng vài ngàn dặm (hay thậm chí ở bất cứ đâu trên Trái đất) để minh họa cho họ thấy những thuận lợi ấy. Những con người nhìn xa trông rộng đó đã quyết định hợp nhất những tù trưởng quốc bé nhỏ kém hữu hiệu của mình lại thành một nhà nước lớn hơn có khả năng ban cho họ cái hệ thống tưới tiêu quy mô lớn đó.
Tuy nhiên, cái “lý thuyết thủy lực” này về sự hình thành nhà nước lại cũng bị phản bác chẳng kém gì các lý thuyết về khế ước xã hội nói chung. Cụ thể hơn, nó chỉ lý giải giai đoạn cuối cùng trong sự tiến hóa của các xã hội phức tạp. Nó không nói năng gì về chuyện cái gì đã khiến bầy người tiến hóa thành bộ lạc rồi thành tù trưởng quốc trong suốt hàng bao nhiêu ngàn năm trước khi người ta nhìn thấy viễn cảnh hệ thống tưới tiêu quy mô lớn. Khi các niên đại lịch sử hoặc khảo cổ được khảo sát chi tiết, chúng không thể hỗ trợ cho quan điểm cho rằng hệ thống tưới tiêu là động lực chủ đạo cho sự hình thành nhà nước. Ở Lưỡng Hà, Bắc Trung Hoa, Mexico và Madagascar, những hệ tưới tiêu quy mô nhỏ đã tồn tại từ trước khi xuất hiện nhà nước. Sự xây dựng các hệ thống tưới tiêu quy mô lớn không đi kèm với sự xuất hiện các nhà nước, mà chỉ diễn ra mãi lâu về sau ở từng khu vực kể trên. Ở hầu hết các nhà nước hình thành trên khu vực Maya của Trung Mỹ và vùng Andes, các hệ thống tưới tiêu luôn luôn là những hệ thống quy mô nhỏ mà các cộng đồng địa phương có thể tự mình xây dựng và duy trì được. Như vậy, ngay cả ở những khu vực nơi các hệ thống quản lý nguồn nước phức tạp đã ra đời, chúng vẫn chỉ là hệ quả thứ yếu của các nhà nước vốn đã được hình thành do những nguyên nhân khác.
Tôi thì cho rằng, về sự hình thành nhà nước, có một cách nhìn nhận có nhiều khả năng đúng, ấy là một sự kiện hiển nhiên có căn cứ vững hơn nhiều so với sự tương quan đơn thuần [về mặt thời gian] giữa hệ thống tưới tiêu với sự hình thành một vài nhà nước – cụ thể là, quy mô dân số của từng khu vực mới là chỉ báo hùng hồn nhất về sự phức tạp về xã hội. Như ta đã thấy, các bầy người chỉ có vài tá cá thể, bộ lạc chỉ có vài trăm, tù trưởng quốc có từ vài ngàn tới vài vạn, còn nhà nước thường có khoảng trên 50.000 người. Ngoài sự tương quan thuần túy đó giữa quy mô dân số từng khu vực với loại hình xã hội (bầy người, bộ lạc, v.v.) của khu vực đó, còn một xu hướng khó thấy hơn bên trong mỗi loại hình trên, giữa dân số với độ phức tạp về xã hội: chẳng hạn, tù trưởng quốc nào có dân số đông hơn thường cũng là tù trưởng quốc tập trung hóa hơn, phân chia giai cấp hơn và phức tạp hơn.
Những sự tương quan đó gợi ý mạnh mẽ rằng quy mô dân số khu vực hay mật độ dân số hay sức ép dân số quả thật có liên quan thế nào đó với sự hình thành các xã hội phức tạp. Song bản thân những sự tương quan đó không thể cho ta biết chính xác rằng biến tố dân số có tác động thế nào đến chuỗi nhân quả mà kết quả sau cùng là một xã hội phức tạp. Để truy cho ra chuỗi nhân quả đó, ta hãy cùng nhớ lại xem bản thân dân số đông và mật độ cao đã phát sinh như thế nào. Có cơ sở ấy rồi, cuối cùng ta sẽ quay lại câu hỏi: Bằng cách nào một xã hội giản đơn đã thực sự trở thành một xã hội phức tạp hơn khi dân số ở khu vực đó tăng lên.
Ta đã thấy rằng dân số đông hoặc dân cư mật độ cao chỉ phát sinh trong điều kiện sản xuất lương thực, hay ít nhất là trong điều kiện tự nhiên đặc biệt thuận lợi cho săn bắt hái lượm. Một số xã hội săn bắt hái lượm có năng suất cao cũng đã đạt tới trình độ tổ chức tù trưởng quốc, song không một xã hội nào trong số đó đạt tới trình độ nhà nước; mọi nhà nước đều phải nhờ sản xuất lương thực mới nuôi sống được công dân mình. Mấy điểm cần suy nghĩ đó, cùng với mối tương quan giữa quy mô dân số khu vực và độ phức tạp xã hội mà ta vừa nhắc tới trên đây, đã dẫn tới một cuộc tranh luận dài dòng kiểu “con gà và quả trứng cái nào có trước” về mối quan hệ nhân quả giữa sản xuất lương thực, biến tố dân số và độ phức tạp xã hội. Có phải sản xuất lương thực thâm canh là nguyên nhân kích thích tăng trưởng dân số và bằng cách nào đó dẫn đến một xã hội phức tạp? Hay ngược lại, chính dân số đông và xã hội phức tạp mới là nguyên nhân dẫn đến thâm canh sản xuất lương thực?
Đặt câu hỏi theo lối hoặc thế này hoặc thế kia như vậy là không đúng vấn đề. Sản xuất lương thực thâm canh và độ phức tạp kích thích lẫn nhau, theo kiểu tự xúc tác. Nghĩa là, tăng trưởng dân số dẫn tới độ phức tạp xã hội, theo những cơ chế mà ta sẽ bàn tới sau đây, trong khi độ phức tạp xã hội đến lượt mình lại dẫn tới sản xuất lương thực thâm canh và do đó tới tăng trưởng dân số. Các xã hội phức tạp tập trung hóa là những xã hội duy nhất có khả năng tổ chức những công trình công cộng (trong đó có hệ thống tưới tiêu), thương mại đường dài (trong đó có tầm quan trọng của kim loại trong việc chế tác ra công cụ làm nông tốt hơn), và hoạt động của các nhóm chuyên môn hóa khác nhau trong kinh tế (như ngũ cốc của người trồng trọt dùng để nuôi người chăn nuôi, còn gia súc của người chăn nuôi được chuyển cho người trồng trọt để kéo cày). Các khả năng đó của xã hội tập trung hóa đã tạo điều kiện cho sản xuất lương thực thâm canh phát triển và qua đó làm tăng dân số trong suốt quá trình lịch sử.
Ngoài ra, sản xuất lương thực còn đóng góp vào những đặc tính riêng biệt của xã hội phức tạp theo ít nhất là ba cách. Thứ nhất, nhờ sản xuất lương thực mà xã hội có những luồng nhân lực theo mùa. Khi hoa màu thu hoạch xong đã được cất vào kho, chính quyền tập trung hóa có thể sử dụng nguồn lao động nông nhàn để xây các công trình công cộng nhằm quảng bá cho quyền lực của nhà nước (như các kim tự tháp Ai Cập) hoặc để xây những công trình công cộng nhằm nuôi được nhiều miệng ăn hơn (như các hệ thống tưới tiêu hay ao cá ở Hawaii thuộc Polynesia), hoặc để tham gia những cuộc chiến tranh chinh phục nhằm làm hình thành những thực thể chính trị còn lớn hơn nữa.
Thứ hai, người ta có thể tổ chức sản xuất lương thực sao cho tạo ra được thặng dư lương thực, mà có thặng dư lương thực thì mới có thể chuyên môn hóa kinh tế và phân tầng xã hội. Khoảng thặng dư đó có thể dùng để nuôi sống mọi tầng lớp trong một xã hội phức tạp: tù trưởng, quan lại và các thành viên khác trong thiểu số cầm quyền; giới thư lại, thợ thủ công và các thợ chuyên môn phi sản xuất lương thực khác; và bản thân nông dân vào những lúc họ được huy động xây dựng các công trình công cộng.
Cuối cùng, sản xuất lương thực cho phép hoặc đòi hỏi người ta phải theo lối sống định cư, vốn là điều kiện tiên quyết để có thể tích lũy tài sản có giá trị, phát triển công nghệ và các nghề thủ công tinh xảo, xây dựng các công trình công cộng. Tầm quan trọng của lối sống định cư đối với một xã hội phức tạp là lý do vì sao các nhà truyền giáo và chính phủ, mỗi khi tiếp xúc lần đầu với các bầy người hoặc bộ lạc du mục ở New Guinea hay vùng Amazon vốn trước đó chưa hề tiếp xúc với thế giới văn minh, luôn có hai mục đích trước mắt như nhau. Một mục đích trong đó dĩ nhiên là để “định tâm” những người du mục, nghĩa là khuyên răn họ đừng giết các nhà truyền giáo, các quan chức hoặc đừng giết nhau nữa. Mục đích thứ hai là thuyết phục họ định cư thành làng, để các nhà truyền giáo và quan chức chính phủ có thể tìm ra họ, mang lại cho họ các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, trường học, cũng như để cải đạo họ và kiểm soát họ.
Như vậy, sản xuất lương thực, vốn làm tăng quy mô dân số, cũng tác động theo nhiều cách khiến cho những đặc trưng của xã hội phức tạp có thể hình thành. Song điều đó không chứng tỏ rằng sản xuất lương thực và dân số đông làm cho xã hội phức tạp nhất thiết phải hình thành. Ta phải nói thế nào đây khi quan sát theo kinh nghiệm cho thấy tổ chức bầy người hay bộ lạc không phù hợp với những xã hội đông hàng trăm ngàn dân, và mọi xã hội lớn đang tồn tại hiện nay đều có tổ chức phức tạp tập trung hóa? Ta có thể nêu ra ít nhất bốn nguyên nhân hiển nhiên.
Một nguyên nhân là vấn đề sự xung đột giữa những người xa lạ không có quan hệ thân tộc với nhau. Khi số lượng người hình thành nên xã hội tăng lên thì vấn đề này trở nên trầm trọng. Các mối quan hệ trong một bầy người gồm 20 cá thể chỉ bao gồm 190 mối quan hệ một đối một (20 người nhân 19 chia 2), nhưng một bầy người gồm 2.000 cá thể sẽ có 1.999.000 cặp đôi như thế. Mỗi cặp đôi trong số này đều là một quả bom hẹn giờ tiềm tàng có thể bùng nổ thành một cuộc cãi cọ dẫn đến giết người. Mỗi vụ giết người ở các xã hội bầy người và bộ lạc thường dẫn đến một vụ rắp tâm giết người để trả thù, thế là lại khởi đầu một chu trình giết rồi lại giết để trả thù liên miên không dứt, làm mất ổn định xã hội.
Trong một bầy người, nơi mỗi người đều có quan hệ gần gũi với mọi người khác, những ai có quan hệ thân tộc với cả hai bên tranh chấp thường bước vào cuộc để làm trung gian hòa giải. Ở bộ lạc, nơi nhiều người vẫn là bà con họ hàng với nhau và mỗi người ít nhất cũng biết tên mọi người khác, thì những người bà con chung và bạn bè chung của hai bên tranh chấp sẽ đứng ra hòa giải. Nhưng một khi cái ngưỡng “vài trăm” – mà chỉ có dưới ngưỡng đó thì mọi người mới có thể biết nhau – đã bị vượt qua, thì số lượng cặp đôi tăng lên trở thành những cặp đôi gồm những kẻ hoàn toàn xa lạ. Khi những người xa lạ đánh nhau, chỉ có một vài người hiện diện là bạn bè hay bà con của cả hai bên đặng có thể can thiệp vào với mục đích vô tư lợi. Thay vì thế, nhiều người chứng kiến sẽ là bạn bè hoặc họ hàng chỉ của một trong hai bên và sẽ đứng về phe người đó, khiến cho một cuộc đánh nhau giữa hai người leo thang thành một cuộc loạn đả toàn thiên hạ. Vì vậy nếu một xã hội lớn mà vẫn tiếp tục để mặc những cuộc tranh chấp cho các thành viên tự mình giải quyết thì sớm muộn sẽ rơi vào hỗn loạn. Chỉ một nhân tố này thôi cũng đủ cho thấy vì sao những xã hội đông hàng ngàn người chỉ có thể tồn tại nếu nó phát triển chính quyền tập trung hóa nhằm tập trung quyền lực và giải quyết xung đột.
Nguyên nhân thứ hai là dân số ngày càng tăng thì việc cả cộng đồng cùng tham gia quyết định càng trở nên bất khả thi. Việc toàn thể người lớn trong làng cùng tham gia quyết định vẫn còn có thể tiến hành ở các làng New Guinea vẫn còn đủ nhỏ để tin tức có thể nhanh chóng đến tai tất cả mọi người, ai cũng có thể nghe tiếng bất cứ người nào khác trong cuộc họp toàn thể dân làng, và bất cứ ai muốn lên tiếng trong cuộc họp làng cũng đều có cơ hội lên tiếng. Nhưng với những cộng đồng lớn hơn thì những điều kiện tiên quyết đó cho việc toàn dân quyết định không còn nữa. Ngay cả ngày nay, microphone và loa phóng thanh đâu cũng có, thế nhưng với những nhóm gồm hàng ngàn người thì không cách nào có thể giải quyết vấn đề này khác bằng một cuộc họp cộng đồng. Vì vậy, một xã hội lớn nhất thiết phải được tổ chức và tập trung hóa nếu muốn quyết định các vấn đề một cách có hiệu quả.
Nguyên nhân thứ ba là những vấn đề kinh tế. Bất cứ xã hội nào cũng phải có những phương tiện để chuyển giao hàng hóa giữa các thành viên. Một cá nhân có thể tình cờ nhận được một món nhu yếu phẩm nào đó hôm nay nhiều hơn hôm khác ít hơn. Bởi mỗi cá nhân có một tài năng khác nhau, nên từng cá nhân có xu hướng rốt cuộc có thừa vài thứ này song lại thiếu vài thứ khác. Ở những xã hội nhỏ chỉ có vài cặp thành viên, các cặp cá nhân đó có thể tự thu xếp để bù trừ những khoản thừa thiếu đó bằng cách trao đổi qua lại với nhau. Những xã hội lớn hơn thì chỉ có thể vận hành hữu hiệu về mặt kinh tế nếu nó có một nền kinh tế tái phân phối bên cạnh nền kinh tế trao đổi. Cá nhân nào có một mặt hàng thặng dư vượt quá nhu cầu của mình thì phải chuyển giao cho chính quyền tập trung để chính quyền này phân phối lại cho những cá nhân nào thiếu mặt hàng đó.
Nguyên nhân cuối cùng khiến một xã hội lớn phải có tổ chức phức tạp có liên quan đến mật độ dân số. Những xã hội sản xuất lương thực lớn không chỉ có nhiều thành viên hơn mà cả mật độ dân số cao hơn so với các bầy người săn bắt hái lượm. Mỗi bầy người gồm vài tá thợ săn chiếm lĩnh một lãnh thổ rộng lớn mà trong đó họ có thể thu thập hầu hết những thứ họ cần. Những gì cần thiết mà không tự tìm lấy được thì họ trao đổi với các bầy người láng giềng trong những khoảng thời gian hòa bình giữa các cuộc chiến tranh giữa các bầy. Khi mật độ dân số tăng lên, lãnh thổ của bầy người có quy mô vài tá đó sẽ thu hẹp lại thành một khu vực nhỏ, ngày càng có nhiều thứ nhu yếu phẩm cho đời sống cần phải trao đổi với bên ngoài khu vực. Chẳng hạn, người ta không thể cứ thế chia diện tích 41.500 cây số vuông và dân số 16.000.000 người của Hà Lan thành 800.000 lãnh thổ riêng biệt, mỗi lãnh thổ rộng 13 hécta và là lãnh địa của một bầy người tự trị gồm 20 người, sống hoàn toàn tự cấp tự túc trong phạm vi 13 hécta đó, chỉ thỉnh thoảng mới nhân những thời kỳ hưu chiến tạm thời mà đi ra biên giới cái lãnh thổ bé tý của mình đặng trao đổi ít món hàng và vài cô dâu với bầy người láng giềng. Cái thực tại về không gian đó khiến cho khu vực nào có mật độ dân cư cao là điều kiện tốt để hình thành xã hội lớn và có tổ chức phức tạp.
Các vấn đề vừa nói trên đây – giải quyết xung đột, [ai là người] ra quyết định, vấn đề kinh tế và vấn đề diện tích – đồng quy lại đòi hỏi các xã hội phải tập trung hóa. Thế nhưng, sự tập trung hóa tất yếu sẽ tạo điều kiện cho những ai đang nắm quyền hành, độc quyền nắm thông tin, giữ quyền ra quyết định và tái phân phối hàng hóa có thể lợi dụng những cơ hội phát sinh từ sự tập trung hóa kia để mưu lợi cho bản thân và họ hàng mình. Với những ai đã quá quen với sự tập trung người thành nhóm bất kỳ trong thời hiện đại thì điều đó thật hiển nhiên. Trong quá trình các xã hội cổ xưa phát triển, chính quyền tập trung hóa dần dần định hình thành giới thiểu số cầm quyền mà có lẽ ban đầu chỉ là một trong những gia tộc vốn có vai vế bình đẳng nhau trong làng nhưng về sau đã trở nên “bình đẳng hơn” so với các gia tộc khác.
Đó là những nguyên nhân tại sao những xã hội lớn không thể vận hành nếu được tổ chức thành bầy người, mà chỉ có thể là những xã hội phức tạp có chính quyền tập trung. Nhưng vẫn còn nguyên đó câu hỏi: các xã hội nhỏ, giản đơn đã thật sự tiến hóa hoặc hợp nhất lại thành các xã hội lớn, phức tạp như thế nào. Sự hợp nhất, sự giải quyết xung đột, ra quyết định, tái phân phối hàng hóa theo hướng tập trung hóa, và tôn giáo của chính quyền, chúng không đơn giản đã tự động hình thành và phát triển thông qua một khế ước xã hội kiểu Rousseau. Cái gì là động lực cho sự hợp nhất đó?
Câu trả lời phụ thuộc một phần vào lập luận tiến hóa. Tôi đã nói ngay ở đầu chương này rằng không phải mọi xã hội được xếp cùng một loại đều giống hệt như nhau, bởi người này với người kia, nhóm người này với nhóm người kia vốn dĩ có thể khác nhau vô cùng tận. Chẳng hạn, giữa các bầy người và bộ lạc, chắc chắn là người lãnh đạo ở một số bầy hay bộ lạc này sẽ có sức lôi cuốn hơn, đầy sức mạnh hơn và khôn khéo hơn trong việc ra quyết định so với người lãnh đạo ở một số bầy hay bộ lạc khác. Giữa các bộ lạc lớn với nhau, bộ lạc nào có người lãnh đạo mạnh hơn và do đó có sự tập trung hóa cao hơn thì có xu hướng chiếm ưu thế so với những bộ lạc mà sự tập trung hóa kém hơn. Những bộ lạc nào giải quyết xung đột một cách kém cỏi như người Fayu thường bị phân liệt thành bầy người trở lại, còn những tù trưởng quốc nào được cai trị kém cỏi thì phân liệt thành những tù trưởng quốc nhỏ hơn và bộ lạc. Xã hội nào giải quyết xung đột hữu hiệu hơn, ra quyết định đúng đắn hơn và tái phân phối của cải một cách cân đối hơn thì có thể phát triển công nghệ tốt hơn, tập trung lực lượng quân sự, chiếm lĩnh những lãnh thổ rộng hơn và năng sản hơn và đè bẹp các xã hội nhỏ tự trị lần lượt từng cái một.
Như vậy, sự cạnh tranh giữa các xã hội ở cùng một cấp độ phức tạp có xu hướng dẫn đến cấp độ phức tạp cao hơn nếu điều kiện cho phép. Những bộ lạc này chinh phục hay hợp nhất với những bộ lạc khác để đạt tới quy mô tù trưởng quốc, các tù trưởng quốc này lại chinh phục hay hợp nhất với những tù trưởng quốc khác để đạt tới quy mô nhà nước, các nhà nước này lại chinh phục hay hợp nhất với những nhà nước khác để trở thành đế quốc. Nhìn chung, các đơn vị lớn có khả năng giành được ưu thế so với những đơn vị cá biệt nhỏ hơn nếu – và đây là cả một chữ “nếu” to tướng – các đơn vị lớn có thể giải quyết những vấn đề nảy sinh đồng thời với lúc chúng đạt tới quy mô lớn đó, chẳng hạn như tình trạng những lớp người mới nổi luôn luôn đe dọa tiếm quyền cai trị, dân thường bất mãn với chính quyền nhũng lạm, và những vấn đề ngày càng nghiêm trọng gắn liền với sự hợp nhất về kinh tế.
Sự sáp nhập các đơn vị nhỏ hơn thành đơn vị lớn hơn thường được ghi nhận trong sử liệu hoặc qua bằng chứng khảo cổ. Trái ngược với [hình dung của] Rousseau, những sự hợp nhất đó chẳng bao giờ diễn ra theo kiểu những xã hội nhỏ đang yên đang lành cùng nhất trí tự nguyện sáp nhập lại với nhau đặng nâng cao phúc lợi của công dân. Giới lãnh đạo bất cứ xã hội nào, nhỏ cũng như lớn, thảy đều luôn khư khư giữ chặt tính độc lập và đặc quyền đặc lợi của mình. Thay vì vậy, sự sáp nhập thường diễn ra theo một trong hai cách: hoặc hợp nhất khi bị một thế lực bên ngoài đe dọa, hoặc bị một thế lực bên ngoài chinh phục. Có vô số ví dụ cho ta thấy những sự sáp nhập đã diễn ra theo cả cách này lẫn cách kia.
Một ví dụ tốt về sự hợp nhất vì bị thế lực bên ngoài đe dọa là trường hợp liên minh của người Anh-điêng Cherokee ở miền đông nam Hoa Kỳ. Người Cherokee ban đầu chia ra thành 30 hay 40 tù trưởng quốc độc lập, mỗi tù trưởng quốc gồm một làng khoảng 400 người. Người da trắng đến định cư ngày càng đông dẫn đến xung đột giữa người Cherokee với người da trắng. Khi những người Cherokee riêng lẻ đánh cướp hoặc tấn công những người định cư và thương nhân da trắng, người da trắng không thể phân biệt đó là người Cherokee thuộc tù trưởng quốc nào nên bèn chống lại tất cả người Cherokee không phân biệt, hoặc bằng hành động quân sự hoặc bằng cách cắt đứt giao thương. Đáp lại, các tù trưởng quốc Cherokee dần dần cảm thấy mình buộc phải hợp lại thành một liên minh duy nhất trong thế kỷ 18. Lúc đầu, vào năm 1730, các tù trưởng quốc lớn chọn một tù trưởng tên là Moytoy làm lãnh tụ chung, người này được con trai kế vị vào năm 1741. Nhiệm vụ đầu tiên của những vị lãnh tụ này là trừng phạt những cá nhân Cherokee nào đã tấn công người da trắng và tiến hành thương lượng với chính quyền da trắng. Vào khoảng năm 1758 người Cherokee điều chỉnh hình thức ra quyết định của mình, họ đặt ra lệ tiến hành họp hội đồng hằng năm dựa theo mẫu các cuộc họp làng trước kia nhưng nay chỉ ở một làng duy nhất (Echota), làng này do đó trở thành “thủ đô” không chính thức. Cuối cùng, người Cherokee trở nên có chữ viết (như ta đã thấy ở chương 12) và áp dụng một hiến pháp thành văn.
Như vậy liên minh Cherokee đã hình thành không phải vì bị [thế lực bên ngoài] chinh phục mà bởi sự hợp nhất các chủ thể nhỏ hơn vốn trước đây chỉ thích tự trị, các chủ thể đó chỉ khi bị thế lực bên ngoài đe dọa tiêu diệt thì mới hợp nhất lại mà thôi. Cũng bằng cách y như vậy, trong một ví dụ về sự hình thành nhà nước được mô tả trong bất kỳ sách giáo khoa lịch sử nào của Hoa Kỳ, bản thân các thuộc địa Bắc Mỹ của người da trắng – mà một trong số đó (Georgia) đã khiến người Cherokee phải thành lập nhà nước của họ – cũng đã buộc phải hợp lại thành một quốc gia của riêng mình trước mối đe dọa của thế lực bên ngoài hùng mạnh là chính quyền quân chủ của nước Anh. Các thuộc địa Hoa Kỳ lúc ban đầu cũng khư khư muốn giữ quyền tự trị chẳng khác nào các tù trưởng quốc Cherokee, nên khi họ thử hợp nhất lần đầu tiên theo Các Điều khoản Liên minh (Articles of Confederation) vào năm 1781 thì việc hợp nhất tỏ ra bất khả thi vì nó bảo lưu quá nhiều quyền tự trị cho các thuộc địa cũ. Chỉ những mối đe dọa về sau, cụ thể là cuộc nổi loạn do Daniel Shays cầm đầu vào năm 1786 và gánh nặng nợ chiến tranh không giải quyết được, mới có thể buộc các thuộc địa cũ từ bỏ quyền tự trị mà họ khăng khăng không chịu bỏ kia và chấp nhận bản hiến pháp liên minh Hoa Kỳ vào năm 1787 đến nay vẫn còn hiệu lực. Sự thống nhất các công quốc Đức vốn luôn đòi tự trị vào thế kỷ 19 cũng đã gian nan không kém. Trước đó người ta đã ba lần toan thống nhất (Nghị viện Frankfurt năm 1848, Liên minh Đức phục hồi vào năm 1850 và Liên minh Bắc Đức vào năm 1866) song đều thất bại, mãi đến khi nước Pháp tuyên chiến vào năm 1870 thì mối đe dọa từ bên ngoài rốt cuộc mới khiến các ông hoàng chịu chuyển phần lớn quyền lực của mình cho chính phủ hoàng gia trung ương Đức vào năm 1871.
Ngoài sự hợp nhất do mối đe dọa từ thế lực bên ngoài thì một mô thức khác để hình thành xã hội phức tạp là hợp nhất do chinh phục. Một ví dụ có nhiều sử liệu là nguồn gốc hình thành nhà nước Zulu ở đông nam châu Phi. Khi người châu Âu đến vùng đó lần đầu tiên, họ quan sát thấy người Zulu chia thành hàng tá tù trưởng quốc nhỏ. Trong thế kỷ 18 tiếp theo, do sức ép dân số tăng, chiến tranh giữa các tù trưởng quốc ngày càng trở nên quyết liệt. Trong tất cả các tù trưởng quốc đó, cái vấn đề muôn thuở – xây dựng cơ cấu quyền lực tập trung – được giải quyết thành công nhất bởi một tù trưởng tên là Dingiswayo, người đã giành địa vị thống trị trong tù trưởng quốc Mtetwa sau khi giết chết một kẻ đối địch vào khoảng năm 1807. Dingiswayo dựng nên một tổ chức quân sự tập trung ưu việt bằng cách tuyển mộ người từ tất cả các làng rồi chia họ ra thành từng trung đoàn theo lứa tuổi chứ không phải theo làng. Ông cũng dựng nên một tổ chức chính trị tập trung hóa ưu việt bằng cách kiềm chế sự tàn sát những khi chinh phục được các tù trưởng quốc khác, không đụng đến gia đình tù trưởng phe chiến bại, và tự hạn chế ở việc chỉ thay thế tù trưởng phe chiến bại bằng một người họ hàng sẵn sàng hợp tác với Dingiswayo. Ông dựng nên [cơ chế] giải quyết xung đột có tính tập trung ưu việt bằng cách mở rộng hình thức xét xử tranh chấp bằng tòa án. Bằng cách đó Dingiswayo đã chinh phục được và bắt đầu hợp nhất 30 tù trưởng quốc Zulu khác. Những người kế tục ông đã kiện toàn nhà nước Zulu phôi thai từ đó bằng cách mở rộng hệ thống pháp lý, hành pháp và lễ nghi.
Trường hợp như nhà nước Zulu – hình thành bằng cách chinh phục – có thể nhân lên vô cùng tận. Người châu Âu trong thế kỷ XVIII và XIX đã tình cờ được chứng kiến những nhà nước hình thành từ các tù trưởng quốc như nhà nước Hawaii ở Polynesia, nhà nước Tahiti ở Polynesia, nhà nước Merina ở Madagascar, các nhà nước Lesotho, Swazi và những nhà nước khác ở phía nam châu Phi ngoài nhà nước Zulu, nhà nước Ashanti ở Tây Phi, các nhà nước Ankole và Buganda ở Uganda. Các đế quốc Aztec và Inca được hình thành bởi các cuộc chinh phục trong thế kỷ XV trước khi người châu Âu đến, nhưng chúng ta biết nhiều về sự hình thành các đế quốc này qua lịch sử truyền khẩu của người Anh-điêng mà các nhà định cư Tây Ban Nha đầu tiên đã ghi lại được. Sự hình thành nhà nước La Mã và sự bành trướng của đế quốc Macedonia dưới quyền Alexander Đại đế thì được mô tả chi tiết bởi các tác gia kinh điển đương thời.
Tất cả các ví dụ này cho thấy chiến tranh – hoặc nguy cơ chiến tranh – đã đóng một vai trò then chốt trong hầu hết, nếu không nói là tất cả những sự hợp nhất các xã hội. Song chiến tranh, thậm chí chỉ là chiến tranh giữa các bầy người, đã luôn luôn là một sự kiện thường trực trong lịch sử nhân loại. Đã vậy thì tại sao chúng chỉ bắt đầu gây nên một cách rõ rệt sự hợp nhất các xã hội trong vòng 13.000 năm trở lại đây? Chúng ta đã kết luận rằng sự hình thành các xã hội phức tạp có liên quan thế nào đó với sức ép dân số, nên bây giờ ta nên tìm kiếm mối liên quan giữa sức ép dân số với hệ quả của chiến tranh. Tại sao các cuộc chiến tranh có khuynh hướng gây nên sự hợp nhất các xã hội khi dân số đông chứ không phải khi dân số thưa thớt? Câu trả lời là vận mệnh của các dân tộc chiến bại phụ thuộc vào mật độ dân số, với ba hậu quả có thể xảy ra:
Nếu mật độ dân số rất thấp, thường là ở các khu vực nơi các bầy người săn bắt hái lượm sinh sống, những kẻ sống sót trong một nhóm chiến bại chỉ cần rời xa ra khỏi kẻ thù. Đây thường là kết quả của các cuộc chiến xảy ra giữa các bầy người du mục ở New Guinea và vùng Amazon.
Nếu mật độ dân số trung bình, như ở các khu vực nơi có các bộ lạc sản xuất lương thực sinh sống, thì không còn khu vực nào rộng lớn mà chưa có người ở để những kẻ sống sót của bộ lạc thất trận có thể dùng làm chốn nương thân. Nhưng xã hội bộ lạc nào không có nền sản xuất lương thực thâm canh thì cũng không sử dụng nô lệ và không sản xuất đủ lương thực thặng dư đặng có thể dâng nạp nhiều cống vật. Vì vậy những kẻ chiến thắng chẳng biết dùng đám người sống sót của bộ lạc thất trận vào việc gì, có chăng chỉ bắt phụ nữ làm vợ thôi. Những người đàn ông sống sót bị giết, và lãnh thổ của họ bị chiếm lĩnh bởi những người thắng trận.
Nếu mật độ dân số cao, như ở các khu vực nơi có những nhà nước hay tù trưởng quốc, kẻ thất trận vẫn chẳng có nơi nào để lánh nạn, song những người chiến thắng có hai cách để sử dụng kẻ thất trận nếu để cho họ sống. Bởi các xã hội tù trưởng quốc và nhà nước có sự chuyên môn hóa trong kinh tế, người ta có thể dùng kẻ thất trận làm nô lệ, như vẫn thường xảy ra vào thời đại Kinh thánh. Một cách khác là, bởi nhiều xã hội như vậy có hệ thống sản xuất lương thực thâm canh có khả năng cho nhiều lương thực thặng dư, nên kẻ chiến thắng có thể cho những người chiến bại vẫn được sống ở nước mình nhưng tước đoạt quyền tự lập của họ về chính trị, buộc họ thường xuyên nộp cống dưới dạng lương thực hay hàng hóa, và sáp nhập xã hội của họ vào nhà nước hoặc tù trưởng quốc của kẻ thắng trận. Đây thường là kết quả những trận đánh gắn liền với sự hình thành các nhà nước hay đế quốc trong suốt lịch sử thành văn. Chẳng hạn, những nhà chinh phục Tây Ban Nha muốn thu cống vật của các xã hội bản địa đã thất trận của Mexico, cho nên họ rất quan tâm đến danh mục cống vật của đế quốc Aztec. Hóa ra hàng năm người Aztec thu cống vật từ các dân tộc chịu thần phục gồm 7.000 tấn ngô, 4.000 tấn đậu, 4.000 tấn hạt rau dền, 2.000.000 áo choàng bông và số lượng lớn hạt ca cao, chiến phục, khiên, mũ đội đầu trang trí bằng lông chim, và hổ phách.
Như vậy, sản xuất lương thực, cùng sự cạnh tranh và xâm nhập lẫn nhau giữa các xã hội, với tư cách những nguyên nhân tối hậu, thông qua những chuỗi nhân quả khác nhau về chi tiết nhưng tất cả đều bao hàm dân số đông và mật độ cao cũng như lối sống định cư, đã dẫn đến các tác nhân chinh phục trực tiếp là vi trùng, chữ viết, công nghệ và tổ chức chính trị tập trung. Bởi các nguyên nhân tối hậu đó đã hình thành và phát triển trên mỗi lục địa một khác, nên các tác nhân chinh phục kia cũng khác. Vì vậy các tác nhân này có xu hướng phát sinh kết hợp với nhau, nhưng sự kết hợp đó không nhất thiết bao giờ cũng như nhau; chẳng hạn, một đế quốc đã nảy sinh từ các xã hội Inca dù không có chữ viết, và từ các xã hội Aztec có chữ viết nhưng chỉ có một số ít bệnh truyền nhiễm. Nước Zulu của Dingiswayo cho thấy mỗi nhân tố trong số trên đóng góp vào mẫu hình lịch sử có phần theo một kiểu khác nhau. Trong số hàng tá tù trưởng quốc Zulu, tù trưởng quốc Mtetwa chẳng hề có ưu thế nào về công nghệ, chữ viết hay vi trùng so với các tù trưởng quốc khác, thế nhưng nó vẫn đánh bại được các tù trưởng quốc kia. Ưu thế của nó chỉ nằm ở mỗi phạm vi chính quyền và ý thức hệ. Chính nhờ vậy mà nhà nước Zulu hợp nhất đã có khả năng chinh phục cả một phần của một lục địa trong suốt gần một thế kỷ.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 15 - Dân tộc của Yali

Khi tôi cùng với vợ là Marie đi nghỉ mát ở Australia vào một mùa hè nọ, chúng tôi quyết định đến thăm một nơi có những bức họa trên đá của người châu Úc bản địa được bảo quản tốt, ấy là sa mạc gần thị trấn Menindee. Dù tôi vẫn biết sa mạc Australia vốn khét tiếng là khô hạn và nóng kinh người vào mùa hè, nhưng tôi đã từng làm việc suốt một thời gian dài trong điều kiện nóng khô của sa mạc California và thảo nguyên New Guinea thành thử tôi cho rằng mình đã đủ dạn dày kinh nghiệm để đối phó với những thử thách nhỏ nhặt đó khi sang Australia với tư cách người du lịch. Mang theo đầy nước uống, tôi và Marie lên đường lúc trưa, đi bộ trên khoảng đường vài dặm đến chỗ các bức tranh.
Con đường mòn dẫn từ trạm bảo vệ rừng dẫn lên đồi, dưới bầu trời không mây, băng qua vùng đất trống tuyệt không một bóng râm nào. Bầu không khí nóng hầm hập, khô rang mà chúng tôi hít thở làm tôi nhớ khi ngồi trong phòng tắm hơi kiểu Phần Lan cũng khó thở đến thế nào. Cho tới khi chúng tôi đến được vách đá nơi có các bức tranh thì cũng đã hết sạch nước. Chúng tôi cũng chẳng hứng thú tranh triếc gì nữa hết, chúng tôi chỉ còn lặc lè leo lên đồi, vừa leo vừa thở đều, chậm chạp. Chẳng mấy chốc tôi nhìn thấy một con chim, không nghi ngờ gì nữa chính là một loài chim hét cao cẳng, nhưng con này có vẻ to lạ lùng so với bất cứ loài chim hét cao cẳng nào người ta đã biết. Ngay lúc đó tôi nhận ra rằng lần đầu tiên trong đời tôi đang bị chứng ảo giác vì nóng. Marie và tôi quyết định tốt hơn hết là nên quay lại.
Hai chúng tôi chẳng nói gì với nhau nữa. Chúng tôi vừa đi vừa lắng nghe tiếng mình thở, tính toán xem còn bao xa mới đến điểm mốc kế tiếp và đoán già đoán non xem còn phải đi bao lâu nữa. Miệng và lưỡi tôi giờ khô không khốc, mặt Marie thì đỏ phừng phừng. Khi rốt cuộc cũng về lại được trạm kiểm lâm có điều hòa không khí, hai chúng tôi ngồi phịch xuống ghế bên cạnh tủ lạnh, nốc cạn gần 2 lít nước cuối cùng trong tủ xong lại còn hỏi người kiểm lâm có chai nào nữa không. Tôi ngồi đó, hoàn toàn kiệt sức về thể xác lẫn tinh thần, mà nhớ lại rằng những người châu Úc bản địa từng làm ra các bức họa kia đã xoay xở cách nào đó để sống được cả đời trong cái sa mạc kia, tìm thức ăn nước uống mà không hề có chỗ nghỉ điều hòa không khí nào cả.
Đối với người Australia da trắng, sa mạc Menindee nổi tiếng bởi là nơi mà hơn một thế kỷ trước có hai người da trắng đã phải hứng chịu những điều tồi tệ hơn nhiều chứ không chỉ cái khô nóng của sa mạc: viên cảnh sát người Ailen Robert Burke và nhà thiên văn học người Anh William Wills, những người chỉ huy bất hạnh của đoàn thám hiểm châu Âu đầu tiên băng qua Australia từ nam lên bắc. Khởi hành với sáu con lạc đà chất đầy lương thực đủ dùng trong ba tháng, Burke và Wills hết sạch thức ăn dự trữ khi đang ở sa mạc phía bắc Menindee. Ba lần liên tiếp họ gặp những thổ dân bản địa no đủ đang lấy chính sa mạc đó làm nhà, những người này cứu sống họ, tiếp tế cho họ nào cá, nào bánh làm bằng cây dương xỉ, nào những con chuột rán béo mẫm. Thế nhưng Burke lại ngu ngốc đi nổ súng vào một trong số các thổ dân, thế là cả nhóm thổ dân bỏ chạy. Mặc dù Burke và Wills có ưu thế lớn so với thổ dân vì có súng để săn mồi, nhưng họ vẫn đói ăn, gục ngã và chết chỉ trong vòng một tháng sau khi nhóm thổ dân kia bỏ đi.
Những gì tôi cùng với vợ đã trải nghiệm ở Menindee, cùng số phận của Burke và Wills, chỉ ra một cách rõ ràng sinh động cho tôi thấy việc xây dựng một xã hội loài người ở Australia là khó đến nhường nào. Australia khác tất cả các châu lục khác: sự khác biệt giữa Âu-Á, châu Phi, Bắc Mỹ và Nam Mỹ so với nhau chẳng là gì so với những khác biệt giữa Australia với tất cả các lục địa khác kia. Australia là lục địa khô nhất, nhỏ nhất, phẳng nhất, cằn cỗi nhất, khí hậu khôn lường nhất và nghèo nàn nhất về sinh học. Nó là lục địa mà người châu Âu chiếm lĩnh sau cùng. Mãi cho tới khi đó, Australia chỉ là nơi sinh sống của những xã hội loài người khác biệt nhất và quần thể người ít ỏi nhất so với mọi châu lục khác.
Như vậy Australia là một thử nghiệm quyết định đối với các lý thuyết về những khác biệt về xã hội giữa các lục địa. Nó có môi trường khác biệt nhất và cũng có những xã hội khác biệt nhất. Có phải vì cái trước mà ra cái sau không? Nếu đúng vậy thì bằng cách nào? Australia là lục địa hợp lý nhất để chúng ta bắt đầu cuộc hành trình vòng quanh thế giới của mình, áp dụng bài học ở Phần II và Phần III nhằm thấu hiểu những lịch sử khác nhau của tất cả các lục địa.
Hầu hết người bình thường hẳn sẽ mô tả đặc trưng nổi bật nhất của các xã hội châu Úc bản địa là họ có vẻ như “lạc hậu”. Australia là lục địa duy nhất nơi mà ngay ở thời hiện đại tất cả các dân tộc bản địa vẫn không hề có một dấu hiệu nào của cái gọi là văn minh – không trồng trọt, không chăn nuôi, không kim loại, không cung tên, không công trình xây dựng lớn, không có làng định cư, không chữ viết, không tù trưởng quốc, không nhà nước. Thay vì vậy, người Australia bản địa là những người săn bắt hái lượm du cư hoặc bán du cư, chia thành bầy người, sống trong những túp lều tạm bợ và vẫn còn dùng công cụ bằng đá. Trong 13.000 năm trở lại đây, sự tích lũy những thay đổi văn hóa ở Australia là ít ỏi hơn hết so với mọi châu lục khác. Những lời sau đây của một nhà thám hiểm Pháp thời kỳ đầu là tiêu biểu cho quan điểm phổ biến của người châu Âu về người Australia bản địa: “Họ là dân tộc khốn khổ nhất trên thế giới, là những con người gần hơn cả với những con vật hung ác”.
Thế nhưng, cách đây 40.000 năm, người Australia bản địa từng có bước khởi đầu sớm hơn nhiều so với các xã hội ở châu Âu và các châu lục khác. Người Australia bản địa thời đó đã phát triển một số công cụ bằng đá thuộc hàng xưa nhất người ta từng biết, có mép được mài nhẵn, những công cụ bằng đá đầu tiên có tra cán (nghĩa là đầu rìu bằng đá gắn vào chuôi cầm), và những phương tiện đi lại trên nước từ rất sớm so với mọi châu lục khác trên thế giới. Một số bức họa xưa nhất trên mặt đá mà người ta từng biết là ở Australia. Những con người hiện đại về mặt giải phẫu hẳn đã đến định cư ở Australia trước khi di cư sang phía tây châu Âu. Vậy thì tại sao, mặc dù xuất phát muộn hơn như vậy nhưng rốt cuộc người châu Âu lại chinh phục Australia chứ không phải là ngược lại?
Câu hỏi đó lại bao hàm một câu hỏi khác. Suốt các thời kỳ Băng hà trong Kỷ Pleitoxen, khi hầu hết nước đại dương còn bị còn bị giam dưới những tảng băng lục địa và mực nước thấp hơn hiện nay rất nhiều, biển nông Arafura ngăn giữa Australia và New Guinea ngày nay là một dải đất thấp, khô. Khi các tảng băng tan trong khoảng từ 12.000 đến 8.000 trước, mực nước biển dâng lên, vùng đất thấp đó bị ngập nước, và lục địa Đại Australia xưa kia bị tách rời thành hai nửa lục địa là Australia và New Guinea (Hình 15.1).
Các xã hội loài người của hai mảng lục địa vốn dĩ gắn liền với nhau này rất khác nhau cho mãi tới thời hiện đại. Trái với tất cả những gì tôi vừa nói về người Australia bản địa, hầu hết người New Guinea, chẳng hạn như dân tộc của Yali, là những người trồng trọt và nuôi lợn. Họ sống thành làng định cư và về mặt chính trị được tổ chức thành bộ lạc chứ không phải bầy người. Tất cả người New Guinea đều có cung tên, nhiều người có sử dụng đồ gốm. Người New Guinea thường có nhà ở khang trang hơn, nhiều tàu thuyền đi biển tốt hơn, nhiều vật dụng phong phú hơn so với người Australia. Do hệ quả việc sống bằng sản xuất lương thực chứ không phải săn bắt hái lượm, người New Guinea có mật độ dân số cao hơn nhiều so với người Australia: về diện tích, New Guinea chỉ bằng một phần mười Australia, nhưng lại nuôi được số dân đông hơn Australia gấp mấy lần.
Tại sao các xã hội loài người trên mảng lục địa lớn hơn tách ra từ lục địa Đại Australia vào Kỷ Pleitoxen lại “lạc hậu” hơn trong quá trình phát triển, trong khi các xã hội trên mảng lục địa nhỏ hơn là New Guinea lại phát triển nhanh hơn gấp bội? Tại sao tất cả những cách tân kia ở New Guinea đã không bành trướng sang Australia vốn chỉ cách New Guinea vỏn vẹn có 90 dặm (hơn 140 km) qua eo biển Torres? Xét từ góc độ nhân chủng học văn hóa thì khoảng cách địa lý giữa Australia và New Guinea thậm chí còn không tới 90 dặm, bởi vì rải rác khắp cả eo Torres là những hòn đảo có người ở, những người này biết trồng trọt, dùng cung tên và về văn hóa giống người New Guinea. Hòn đảo lớn nhất giữa eo Torres chỉ cách Australia 10 dặm (16 km). Dân đảo buôn bán nhộn nhịp với cả dân Australia bản địa lẫn người New Guinea. Thế thì tại sao hai vũ trụ văn hóa khác biệt nhau nhường ấy vẫn cứ mỗi bên một cõi dù chỉ cách nhau một eo biển bình lặng rộng vỏn vẹn 10 dặm và thường xuyên có người qua kẻ lại bằng xuồng?
So với người Australia bản địa, người New Guinea được xếp hạng là “tiên tiến” về văn hóa. Song hầu hết người hiện đại vẫn coi ngay cả người New Guinea là “lạc hậu”. Cho tới khi người New Guinea bắt đầu di cư sang New Guinea vào cuối thế kỷ XIX, tất cả người New Guinea đều không biết chữ, chỉ dùng công cụ bằng đá và về chính trị vẫn chưa được tổ chức thành nhà nước hoặc tù trưởng quốc (trừ một vài ngoại lệ ít ỏi). Cứ cho là người New Guinea đã “tiến xa” hơn người Australia bản địa, cớ sao họ đã chẳng “tiến xa” như nhiều dân tộc ở Âu-Á, châu Phi và châu Mỹ? Vậy nên dân tộc của Yali và những người anh em Australia của họ đặt ra cho ta một bài toán khó bên trong một bài toán khó.
Hình 15.1: Bản đồ khu vực từ Đông Nam Á đến Australia và New Guinea. Đường vạch liền biểu thị bờ biển ngày nay; đường vạch đứt biểu thị bờ biển vào thời Pleistocene khi mực nước biển thấp hơn ngày nay, nghĩa là mép thềm lục địa của châu Á và Đại Australia. Vào thời đó New Guinea và Australia còn nối liền với nhau thành Đại Australia, còn Borneo, Java, Sumatra và Đài Loan vẫn còn nằm trong nội địa châu Á.
Nếu được hỏi đâu là nguyên nhân khiến xã hội Australia bản địa “lạc hậu” về văn hóa, nhiều người Australia da trắng có một câu trả lời đơn giản: do những khiếm khuyết cố hữu trong bản thân thổ dân Australia. Về cấu trúc khuôn mặt và màu da, người Australia bản địa chắc chắn là khác người châu Âu, điều này đã khiến một vài tác giả cuối thế kỷ X coi họ là một mắt xích còn thiếu giữa vượn và người. Nếu không thì làm sao giải thích do đâu các nhà thực dân châu Âu da trắng đã tạo ra được một nền dân chủ có chữ viết, sản xuất lương thực và công nghệ, chỉ sau vài thập kỷ thực dân hóa một lục địa mà cư dân ở đó sau hơn 40.000 năm vẫn cứ là những kẻ săn bắt hái lượm không chữ viết? Đặc biệt đáng lưu ý là Australia có một trong những quặng sắt và nhôm dồi dào nhất trên thế giới cũng như nguồn tài nguyên phong phú về đồng, thiếc, chì và kẽm. Đã vậy thì tại sao người Australia bản địa vẫn chẳng biết gì về công cụ kim loại mà vẫn cứ sống trong thời Đồ đá?
Dường như đây là một thử nghiệm được kiểm soát hoàn hảo về sự tiến hóa các xã hội loài người. Cũng một lục địa đó thôi, chỉ có con người là khác [trước là người Australia bản địa, sau là người châu Âu, ND]. Vậy thì, lời giải thích cho sự khác biệt giữa xã hội Australia bản địa với xã hội người Australia gốc châu Âu ắt phải nằm ở sự khác biệt giữa bản thân các dân tộc khác nhau làm nên những xã hội đó. Logic làm cơ sở cho kết luận mang tính phân chủng này nghe có vẻ thật chí lý. Tuy nhiên, ta sẽ thấy rằng bên trong nó có một sai lầm đơn giản.
Ở giai đoạn đầu khảo sát cái logic này, ta hãy xét nguồn gốc của bản thân các dân tộc. Cả Australia lẫn New Guinea đều có người đến ở muộn nhất là 40.000 năm trước, khi chúng vẫn còn gắn liền với nhau thành Đại Australia. Nhìn bản đồ (Hình 15.1), ta sẽ thấy những người di cư đầu tiên đến vùng này ắt hẳn đã xuất phát từ lục địa gần nhất là Đông Nam Á, bằng cách nhảy từ đảo này sang đảo khác băng qua quần đảo Indonesia. Kết luận này được hỗ trợ bằng những mối liên hệ về di truyền giữa người Australia, người New Guinea và người châu Á hiện đại, và qua việc ngày nay vẫn còn một số người có ngoại hình phần nào giống nhau ở Philippines, bán đảo Malay và quần đảo Andaman ngoài khơi Myanmar.
Khi những kẻ di cư đã đến được bờ biển Đại Australia, họ bắt đầu nhanh chóng lan tràn ra toàn bộ lục địa để chiếm lĩnh ngay cả những rẻo đất xa xôi nhất và những môi trường ít hiếu khách nhất. Đến 40.000 năm trước, hóa thạch và công cụ đá khẳng định sự hiện diện của họ ở góc tây nam của Australia; đến 35.000 năm trước họ đã có mặt ở góc đông nam Australia và đảo Tasmania, góc xa nhất so với miền tây Australia hoặc New Guinea (những vùng gần Indonesia và châu Á nhất) nơi mà chắc hẳn họ đã dùng làm điểm xuất phát sau khi đặt chân đến lục địa này; đến 30.000 năm trước thì họ đã xuất hiện ở cao nguyên New Guinea lạnh giá. Hẳn họ đã có thể đến được tất cả các vùng kể trên bằng đường bộ từ điểm xuất phát ở phía tây. Tuy nhiên, để di cư đến cả quần đảo Bismarck lẫn quần đảo Solomon ở phía đông bắc New Guinea vào hơn 35.000 năm trước thì còn phải vượt qua thêm hàng chục km đường biển nữa. Việc chiếm cứ [hai mảng lục địa này] có khi đã diễn ra nhanh hơn nhiều so với niên đại bành trướng biểu kiến từ 40.000 đến 30.000 năm trước, vì các niên đại này hầu như không khác nhau trong dung sai thử nghiệm của phương pháp định niên đại bằng cácbon phóng xạ.
Vào Kỷ Pleitoxen, khi Australia và New Guinea lần đầu tiên có người đến chiếm lĩnh, lục địa châu Á vươn dài về phía đông bao gồm cả các đảo Borneo, Java và Bali ngày nay, gần Australia và New Guinea hơn so với bờ biển Đông Nam Á ngày nay gần 1.000 dặm (1.600 km). Tuy nhiên, vẫn còn phải vượt qua ít nhất tám eo biển bề rộng có thể tới 50 dặm (80 km) thì mới từ Borneo hay Bali đến được Đại Australia vào Kỷ Pleitoxen. Bốn mươi ngàn năm trước, người ta có thể vượt các eo biển đó bằng bè tre, những phương tiện thô sơ nhưng có thể vượt biển mà ngày nay vẫn còn được sử dụng ở miền duyên hải phía nam Trung Quốc. Tuy nhiên, bản thân việc vượt biển đó ắt hẳn là rất khó, bởi sau chuyến đổ bộ đầu tiên đó vào 40.000 năm trước dữ liệu khảo cổ không ghi nhận được bằng chứng thuyết phục nào cho thấy vẫn tiếp tục có người di cư từ châu Á sang Đại Australia trong suốt hàng vạn năm. Cho mãi đến mấy ngàn năm gần đây nhất ta mới gặp bằng chứng kế tiếp đủ vững chắc, qua những con lợn được nuôi ở New Guinea và chó được nuôi ở Australia, cả hai loài đều có nguồn gốc từ châu Á.
Như vậy, các xã hội loài người ở Australia và New Guinea đã phát triển một cách cô lập đáng kể so với các xã hội châu Á vốn là nguồn gốc ban đầu của chúng. Sự cô lập đó được phản ánh ở các ngôn ngữ mà họ nói ngày nay. Sau hàng ngàn năm cô lập, chẳng một ngôn ngữ Australia bản địa nào, cũng chẳng một nhóm ngôn ngữ chính nào của New Guinea (cái gọi là ngôn ngữ Papua) ngày nay cho thấy có quan hệ rõ ràng với bất kỳ ngôn ngữ châu Á hiện đại nào.
Sự cô lập đó cũng được phản ánh ở đặc điểm di truyền và nhân chủng của cơ thể. Nghiên cứu di truyền cho thấy người Australia bản địa và người vùng cao New Guinea có phần giống người châu Á hiện đại hơn so với các dân tộc ở những lục địa khác, song mối quan hệ này không gần. Về hệ xương và ngoại hình, người Australia bản địa và người New Guinea cũng khác biệt với hầu hết dân Đông Nam Á, điều này thật hiển nhiên nếu ta so sánh ảnh của người Australia bản địa hay người New Guinea với ảnh người Indonesia hoặc người Trung Quốc. Nguyên nhân dẫn đến những sự khác biệt đó một phần là bởi những người châu Á đầu tiên di cư đến Đại Australia đã có một thời gian dài tách hẳn khỏi những người anh em vẫn ở lại châu Á, và suốt hầu hết thời gian đó hai bên chỉ trao đổi về di truyền rất hạn chế. Nhưng một nguyên nhân khác quan trọng hơn có lẽ là giống người Đông Nam Á nguyên thủy, tổ tiên của những người đầu tiên di cư sang Đại Australia, đến ngày nay đã bị thay thế một phần lớn bởi những người châu Á khác từ Trung Hoa bành trướng xuống.
Người Australia bản địa và người New Guinea cũng trở nên khác biệt nhau về di truyền, ngoại hình và ngôn ngữ. Chẳng hạn, trong các nhóm máu chính (xác định theo di truyền) của loài người, nhóm B của cái gọi là hệ ABO và S của nhóm MNS gặp ở New Guinea cũng như ở hầu hết các khu vực khác trên thế giới, song hầu như vắng mặt ở Australia. Mái tóc xoăn tít của hầu hết người New Guinea trái ngược với mái tóc thẳng hoặc lượn sóng của hầu hết người Australia. Các ngôn ngữ Australia và các ngôn ngữ Papua của New Guinea không những chẳng có liên hệ gì với các ngôn ngữ châu Á mà cũng chẳng có liên hệ nào với nhau cả, ngoại trừ một ít từ vựng vay mượn lẫn nhau qua hai bên bờ eo Torres.
Tất cả những khác biệt đó giữa người Australia và người New Guinea với nhau phản ánh sự cô lập kéo dài trong những môi trường rất khác nhau. Do biển Arafura dâng lên chia cắt Australia và New Guinea khỏi nhau vào khoảng 10.000 năm trước, việc trao đổi di truyền bị thu hẹp lại chỉ còn những tiếp xúc lẻ tẻ thông qua chuỗi đảo trên eo Torres. Điều đó đã cho phép cư dân hai nửa lục địa thích nghi với môi trường riêng biệt của mình. Tuy những thảo nguyên và cây đước của miền duyên hải phía nam New Guinea cũng khá giống như ở miền bắc Australia, song các môi trường sống khác ở hai nửa lục địa này rất khác biệt nhau ở mọi phương diện chính.
Sau đây là một số trong những khác biệt đó. New Guinea nằm gần như ngay trên xích đạo, trong khi Australia trải dài đến vùng ôn đới, xuống đến vĩ độ 40 về phía nam xích đạo. New Guinea nhiều núi cực kỳ lởm chởm, cao đến 16.500 bộ (trên 5.000 mét, ND) và những đỉnh cao nhất phủ băng quanh năm, trong khi Australia hầu hết là thấp và phẳng – 94% diện tích thấp dưới 2.000 bộ (khoảng 600 m). New Guinea là một trong những khu vực nhiều mưa nhất trên thế giới, còn Australia là một trong những khu vực khô hạn nhất. Hầu hết New Guinea có lượng mưa trên 100 inch (2,54 mét) hàng năm, lượng mưa ở hầu hết vùng cao nguyên còn lên tới trên 200 inch (trên 5 mét), trong khi hầu hết Australia chỉ nhận được dưới 20 inch (0,50 mét). Khí hậu xích đạo của New Guinea chỉ thay đổi vừa phải từ mùa này qua mùa khác và năm này qua năm khác, nhưng khí hậu Australia thì thay đổi rất lớn theo mùa, thậm chí thay đổi từ năm này qua năm khác nhiều hơn gấp bội so với bất cứ lục địa nào khác. Hệ quả là ngang dọc khắp New Guinea có những dòng sông lớn quanh năm, trong khi Australia thì hầu như năm nào cũng chỉ ở phía đông mới có những dòng sông thường xuyên chảy, và thậm chí hệ thống sông lớn nhất của Australia (hệ Murray-Darling) cũng ngừng chảy hàng tháng trời những khi hạn hán. Hầu hết diện tích đất của New Guinea phủ kín rừng mưa dày đặc, trong khi hầu hết diện tích Australia chỉ có sa mạc và rừng khô trống trải.
Khắp New Guinea bao phủ một lớp đất trẻ và màu mỡ do hậu quả của hoạt động núi lửa, các băng hà cứ không ngừng hết tiến lại lùi chà xát vùng cao nguyên, và những dòng suối trên núi mang rất nhiều phù sa xuống các vùng đất thấp. Ngược lại, Australia có chất đất già nhất, cằn cỗi nhất, bạc màu nhất trong tất cả các lục địa, bởi Australia ít có hoạt động núi lửa, cũng thiếu những ngọn núi cao và băng hà. Mặc dù diện tích chỉ bằng một phần mười so với Australia, New Guinea có số lượng loài hữu nhũ và loài chim xấp xỉ bằng Australia, ấy là do New Guinea nằm ở xích đạo, có lượng mưa cao hơn nhiều, độ cao so với mặt biển đa dạng hơn nhiều, và màu mỡ hơn nhiều. Tất cả những khác biệt môi trường đó ảnh hưởng đến lịch sử văn hóa rất khác nhau của hai nửa lục địa này mà chúng ta sẽ xét dưới đây.
Nền sản xuất lương thực sớm nhất và thâm canh nhất, cũng như quần thể dân cư dày đặc nhất của Đại Australia phát sinh ở các thung lũng cao nguyên của New Guinea ở độ cao từ 4.000 bộ (khoảng trên 1.200 mét) đến 9.000 bộ (trên 2.700 mét) trên mực nước biển. Các cuộc khai quật khảo cổ đã phát hiện ra những hệ thống mương thoát nước có niên đại từ 9.000 năm trước và trở nên rộng khắp vào khoảng 6.000 năm trước, cũng như những nền đất đắp cao nhằm giữ độ ẩm của đất ở những khu vực tương đối khô. Các hệ thống mương thoát nước này tương tự như các hệ vẫn được sử dụng ngày nay ở vùng cao để tháo nước những nơi đất lầy dùng làm vườn tược. Phân tích phấn hoa cho thấy, từ khoảng hơn 5.000 năm trước đã có tình trạng phá rừng phổ biến ở các thung lũng cao nguyên, hẳn là do người ta phát quang rừng để trồng trọt.
Ngày nay, cây trồng chính của nông nghiệp vùng cao là các loài cây mới được đưa vào gồm khoai tây cùng khoai sọ, chuối, khoai mỡ, mía, các loài cây thân thảo ăn được và một số loại rau ăn lá. Bởi khoai sọ, chuối và khoai mỡ là các loài cây bản địa Đông Nam Á, một khu vực chắc chắn là nguồn thuần hóa cây trồng, cho nên trước kia người ta vẫn cho rằng các cây trồng vùng cao New Guinea ngoài cây khoai lang đều có gốc gác từ châu Á cả. Tuy nhiên, cuối cùng người ta nhận ra rằng tổ tiên hoang dã của cây mía, các loài rau ăn lá và cây thân thảo ăn được đều là ở New Guinea, rằng giống chuối được trồng ở New Guinea có tổ tiên ở New Guinea chứ không phải ở châu Á, và khoai sọ cũng như một số giống khoai mỡ là cây bản địa của cả New Guinea lẫn châu Á. Giá như nông nghiệp New Guinea quả thật có nguồn gốc từ châu Á thì ắt hẳn người ta đã phải tìm thấy những loài cây trồng vùng cao bắt nguồn chỉ từ châu Á, song trên thực tế chẳng có loài nào như vậy. Vì những lý do trên, hiện nay ý kiến chung đều thừa nhận rằng nông nghiệp đã phát sinh độc lập ở vùng cao New Guinea, với sự thuần hóa một số loài cây dại bản địa của New Guinea.
Như vậy New Guinea, cùng với Lưỡi liềm Phì nhiêu, Trung Hoa và một ít khu vực khác, là một trong các trung tâm thuần hóa cây trồng độc lập. Không một dấu tích nào của những cây trồng thật sự đã được trồng ở vùng cao New Guinea cách đây 6.000 năm còn sót lại ở các di chỉ khảo cổ. Tuy nhiên điều đó chẳng lạ, vì các cây trồng chính hiện đại là những loài cây không để lại dấu vết nào có thể nhận diện được về khảo cổ, trừ trong những điều kiện ngoại lệ. Vì vậy có lẽ một số loài trong đó cũng là những cây trồng sáng lập của nền nông nghiệp vùng cao, nhất là vì các hệ thống mương thoát nước cổ đại rất giống các hệ thống mương thoát nước dùng để trồng khoai sọ ngày nay.
Trong nền sản xuất lương thực của vùng cao New Guinea, có ba thành tố rõ ràng có nguồn gốc nước ngoài mà những nhà thám hiểm châu Âu đầu tiên từng chứng kiến là gà, lợn và khoai lang. Gà và lợn được thuần hóa ở Đông Nam Á và được người Nam Đảo (Austronesia) – một dân tộc có gốc gác nguyên thủy từ Nam Trung Hoa mà chúng ta sẽ đề cập đến ở Chương 17 – đưa đến New Guinea cũng như hầu hết các đảo Thái Bình Dương khác vào khoảng 3.600 năm trước. (Riêng lợn thì có thể sớm hơn). Còn cây khoai lang, vốn có nguồn gốc tận Nam Mỹ, thì dường như chỉ đến được New Guinea trong mấy thế kỷ trở lại đây sau khi người Tây Ban Nha mang nó đến quần đảo Philippines. Khi đã vững chân ở New Guinea, khoai lang liền đoạt mất vị trí loài cây hàng đầu của vùng cao vốn trước đó thuộc về khoai sọ, bởi thời gian tăng trưởng của khoai lang ngắn hơn, năng suất cao hơn trên một hécta và chịu đựng tốt hơn với điều kiện đất xấu.
Sự phát triển nền nông nghiệp vùng cao New Guinea ắt hẳn đã kích thích một sự bùng nổ dân số lớn từ hàng ngàn năm trước, bởi sau khi hệ động vật nguyên thủy của New Guinea với những loài thú có túi lớn đã bị tuyệt chủng thì các vùng cao này chỉ có thể nuôi sống những người săn bắt hái lượm với mật độ dân cư ít ỏi. Cây khoai lang xuất hiện ở đây đã gây ra một sự bùng nổ dân số khác trong mấy thế kỷ gần đây. Khi người châu Âu lượn máy bay trên vùng cao nguyên New Guinea vào thập niên 1930, họ sửng sốt thấy bên dưới mình một cảnh quan tương tự như nước Hà Lan. Các thung lũng rộng bị phá trụi hết rừng, chi chít những làng mạc, những cánh đồng được thoát nước và quây rào để sản xuất lương thực thâm canh phủ kín toàn bộ bề mặt các thung lũng. Quang cảnh đó chứng minh cho mật độ dân số ở vùng cao của những người nông dân sử dụng công cụ đá.
Địa hình dốc, mây phủ thường xuyên, bệnh sốt rét, cùng nguy cơ hạn hán ở các cao độ thấp khiến cho nông nghiệp vùng cao New Guinea bị giới hạn ở những độ cao trên 4.000 bộ (trên 1.200 mét). Trên thực tế, vùng cao nguyên New Guinea là một ốc đảo cao ngất giữa trời xanh gồm những quần thể dân cư dày đặc làm nghề nông, vây quanh bốn bề bên dưới là cả một biển mây. Những người New Guinea ở miền đất thấp duyên hải và dọc các con sông thì sống chủ yếu dựa vào cá, còn những người sống ở vùng đất khô xa bờ biển và các con sông thì sống với mật độ thưa thớt bằng nghề nông đốt rừng làm rẫy trồng chuối và khoai sọ, bổ sung thêm bằng săn bắt hái lượm. Ngược lại, cư dân vùng đầm lầy đất thấp New Guinea sống theo lối săn bắt hái lượm du cư nhờ thứ cùi nhiều bột của cây khoai sọ dại vốn có năng suất rất cao và cung cấp lượng calori trên một giờ công nhiều gấp ba lần so với làm vườn. Các đầm lầy New Guinea do đó cho ta một ví dụ nhãn tiền về một môi trường nơi người ta vẫn tiếp tục sống bằng săn bắt hái lượm bởi làm nông nghiệp không cạnh tranh nổi với lối sống săn bắt hái lượm.
Những người săn bắt hái lượm sống bằng khoai sọ ở vùng đầm lầy đất thấp là tiêu biểu cho tổ chức bầy người săn bắt hái lượm du cư ắt hẳn từng là đặc trưng cho toàn bộ cư dân New Guinea. Vì tất cả các lý do mà ta đã đề cập tới ở Chương 13 và 14, các dân tộc làm nông và đánh cá là những dân tộc đã phát triển được công nghệ, xã hội và tổ chức chính trị phức tạp hơn. Họ sống thành làng định cư và xã hội bộ lạc, thường do một nhà lãnh đạo đứng đầu. Một số dân tộc này xây dựng những ngôi nhà lớn, trang trí tinh xảo dùng cho nghi lễ. Nền nghệ thuật tuyệt diệu của họ – dưới dạng tượng gỗ và mặt nạ gỗ – được đánh giá cao trong các viện bảo tàng trên khắp thế giới.
Như vậy New Guinea đã trở thành bộ phận có công nghệ, tổ chức xã hội và chính trị cũng như nền nghệ thuật tiên tiến hơn ở Đại Australia. Tuy nhiên, xét từ quan điểm của người Mỹ hay người châu Âu thì New Guinea vẫn bị xếp vào hàng “sơ khai” chứ không phải “tiên tiến”. Tại sao người New Guinea vẫn tiếp tục dùng công cụ bằng đá chứ không phát triển lên công cụ bằng kim loại, vẫn không có chữ viết, vẫn không tự tổ chức được thành tù trưởng quốc và nhà nước? Hóa ra, New Guinea bị cản trở bởi một số yếu tố sinh học và địa lý.
Thứ nhất, mặc dù nền sản xuất lương thực bản địa đã phát sinh ở vùng cao New Guinea, song ta đã thấy ở Chương 8 rằng nó mang lại không nhiều protein. Các loại cây trồng chính đều là những cây cho củ có hàm lượng protein thấp, còn sản lượng từ các loài vật nuôi thuần hóa ít ỏi (lợn và gà) thì quá thấp không đủ bổ sung lượng protein cho người. Bởi cả lợn lẫn gà đều không thể dùng để kéo cày nên dân vùng cao vẫn chẳng có nguồn lực nào khác ngoài cơ bắp của người, cũng không làm tiến hóa được những căn bệnh truyền nhiễm có khả năng đẩy lùi những kẻ xâm lược châu Âu về sau.
Hạn chế thứ hai khiến dân số vùng cao không đông là diện tích hạn chế: vùng cao New Guinea chỉ có vài thung lũng rộng, đáng chú ý là các thung lũng Wahgi và Baliem có thể làm nơi sinh sống cho quần thể dân cư đông đúc. Lại còn một hạn chế nữa, ấy là thực tế rằng vùng lưng chừng núi từ 1.200 m đến 2.700 m là cao độ duy nhất ở New Guinea nơi có thể tiến hành sản xuất lương thực thâm canh. Không hề có sản xuất lương thực ở bất cứ môi trường núi cao nào trên 2.700 mét, không nhiều sản xuất lương thực trên các sườn đồi từ 1.200 m xuống đến 300 m, còn ở vùng thấp thì chỉ có nông nghiệp đốt rừng làm rẫy, mật độ dân cư thấp. Thành thử, sự trao đổi lương thực trên quy mô lớn – giữa các cộng đồng ở các độ cao khác nhau, mỗi cộng đồng chuyên về một kiểu sản xuất lương thực – chưa từng phát triển ở New Guinea. Những sự trao đổi như vậy [giữa các độ cao khác nhau] ở vùng Andes, Alpes và Himalaya không chỉ làm tăng mật độ dân số ở các khu vực đó nhờ mang lại cho cư dân ở mọi độ cao một chế độ ăn uống cân bằng hơn, mà còn kích thích sự hợp nhất về kinh tế và chính trị trong khu vực.
Vì tất cả các lý do trên, dân số của New Guinea truyền thống chưa bao giờ vượt quá 1.000.000 cho tới khi các chính phủ thực dân châu Âu mang thuốc men của phương Tây đến và chấm dứt cuộc chiến giữa các bộ lạc. Trong số khoảng chín trung tâm phát nguyên nông nghiệp trên thế giới mà ta đã đề cập tới ở Chương 5, New Guinea là trung tâm có dân số ít ỏi hơn hết. Với vỏn vẹn 1 triệu người, New Guinea không thể phát triển được công nghệ, chữ viết và các hệ thống chính trị vốn chỉ hình thành ở các quần thể dân cư hàng chục triệu người như ở Trung Hoa, Lưỡi liềm Phì nhiêu, dãy Andes và Trung Mỹ.
Dân số New Guinea không chỉ ít ỏi nếu gộp chung lại, mà còn bị chia cắt thành hàng ngàn quần thể nhỏ manh mún bởi địa hình lởm chởm: đầm lầy ở hầu hết vùng đất thấp, những rặng núi dốc và hẻm núi hẹp xen kẽ nhau ở vùng cao, và rừng rậm bao phủ cả vùng cao lẫn vùng đất thấp. Hồi tôi còn đi thăm dò sinh vật học ở New Guinea với những nhóm người New Guinea làm trợ lý điền dã, thậm chí dù men theo những đường mòn có sẵn nhưng nếu mỗi ngày tiến được ba dặm là tôi đã coi như thành công ghê gớm lắm rồi. Hầu hết dân vùng cao New Guinea truyền thống suốt đời không đi đâu quá 10 dặm (16 cây số) khỏi nhà mình.
Những khác biệt đó về địa hình, kết hợp với tình trạng chiến tranh lúc có lúc không vốn đặc trưng cho quan hệ giữa các bầy người hay các làng New Guinea với nhau, là nguyên nhân cho sự phân tán của New Guinea về ngôn ngữ, văn hóa và chính trị. New Guinea có độ tập trung cao nhất về ngôn ngữ vượt xa mọi khu vực khác trên thế giới: 1.000 trong số 6.000 ngôn ngữ của toàn thế giới chen chúc trên một diện tích chỉ rộng hơn bang Texas đôi chút, lại chia ra thành hàng tá ngữ tộc và ngôn ngữ cá biệt khác xa nhau như tiếng Anh khác xa tiếng Trung Hoa. Gần một nửa tất cả các ngôn ngữ New Guinea chỉ có không đầy 500 người nói, và thậm chí nhóm ngôn ngữ lớn nhất (vẫn chỉ có vỏn vẹn 100.000 người nói) cũng chia cắt về mặt chính trị thành hàng trăm làng, các làng này đánh nhau ác liệt chả kém gì đánh nhau với những làng nói các ngôn ngữ khác. Mỗi một xã hội trong số xã hội siêu nhỏ đó quá nhỏ nên không thể nào sinh ra được tầng lớp tù trưởng và thợ thủ công chuyên nghiệp, hay để phát triển nghề luyện kim và chữ viết.
Ngoài dân số ít ỏi và phân chia manh mún, một hạn chế khác đối với sự phát triển của New Guinea là sự cô biệt về địa lý, khiến công nghệ và ý tưởng từ nơi khác khó lòng vào được. Ba láng giềng của New Guinea thảy đều bị chia cách với New Guinea bởi đường biển, và mãi đến cách đây mấy ngàn năm những vùng này thậm chí còn chậm tiến hơn cả New Guinea (nhất là vùng cao của New Guinea) về công nghệ và sản xuất lương thực. Trong ba láng giềng đó, người Australia bản địa vẫn sống bằng săn bắt hái lượm nên hầu như chẳng có gì để mang lại cho người New Guinea mà người New Guinea chưa có. Láng giềng thứ hai của New Guinea là các hòn đảo Bismarck và quần đảo Solomon nhỏ hơn nhiều về phía đông. Còn lại láng giềng thứ ba, ấy là các hòn đảo đông Indonesia. Thế nhưng kể cả khu vực đó cũng là một nơi lạc hậu về văn hóa, chỉ có những người săn bắt hái lượm sinh sống gần như suốt cả quá trình lịch sử. Người ta không thể xác định liệu đã có một thứ gì đến được New Guinea thông qua Indonesia từ sau khi New Guinea có người ở lần đầu tiên hơn 40.000 năm trước cho đến khi người Nam Đảo bành trướng vào khoảng năm 1.600 TCN.
Với sự bành trướng đó, Indonesia bắt đầu bị chiếm lĩnh bởi những người sản xuất lương thực có nguồn gốc từ châu Á, có những con vật được thuần hóa, có nông nghiệp và công nghệ ít nhất cũng phức tạp như công nghệ của New Guinea, và có kỹ năng đi biển giúp họ đi lại hữu hiệu hơn nhiều từ châu Á sang New Guinea. Người Nam Đảo di cư đến các hòn đảo phía tây, phía bắc và phía đông New Guinea, đến cả vùng bờ biển cực tây, phía bắc và phía đông nam của bản thân New Guinea. Người Nam Đảo đến New Guinea mang theo nghề làm đồ gốm, gà, có thể cả chó và lợn. (Các điều tra khảo cổ từ đầu đã tuyên bố tìm thấy xương lợn ở vùng cao New Guinea trước năm 4.000 TCN, song các tuyên bố này chưa được xác nhận). Ít nhất là trong mấy ngàn năm trở lại đây, thương mại đã nối liền New Guinea với các xã hội tiên tiến hơn nhiều về công nghệ ở Java và Trung Hoa. New Guinea xuất khẩu [sang các vùng này] lông chim phượng hoàng và gia vị, đổi lại họ nhận hàng hóa của Đông Nam Á trong đó có cả những thứ xa xỉ như trống đồng Đông Sơn và đồ sứ Trung Hoa.
Cùng với thời gian, sự bành trướng của người Nam Đảo ắt hẳn sẽ có nhiều tác động hơn đến New Guinea. Tây New Guinea ắt hẳn sẽ được hợp nhất về chính trị với các tiểu quốc Hồi giáo (sultanate) ở miền đông Indonesia, và công cụ bằng kim loại ắt hẳn sẽ bành trướng từ đông Indonesia sang New Guinea. Thế nhưng điều đó đã không xảy ra cho mãi đến năm 1511, năm mà người Bồ Đào Nha đặt chân đến Molucca và cắt đứt con đường phát triển riêng biệt của Indonesia. Khi người châu Âu đến New Guinea chẳng bao lâu sau đó, cư dân New Guinea vẫn hãy còn sống thành bầy người hoặc thành từng làng nhỏ quyết liệt đòi tự trị và vẫn còn dùng công cụ đá.
Trong khi bán lục địa New Guinea của Đại Australia đã phát triển được cả chăn nuôi lẫn trồng trọt thì Australia chẳng có cả cái này lẫn cái kia. Trong suốt các thời kỳ Băng hà Australia thậm chí từng có nhiều loài thú có túi lớn hơn cả New Guinea, trong đó có con diprotodont (loài có túi tương đương với bò và tê giác), chuột túi khổng lồ và gấu túi khổng lồ. Nhưng tất cả các loài có túi lẽ ra có thể được thuần hóa làm gia súc đều biến mất trong làn sóng tuyệt chủng (hoặc diệt chủng) đi liền với việc con người di cư đến Australia. Điều đó khiến cho Australia, cũng như New Guinea, không có lấy một loài thú hữu nhũ thuần hóa nào là loài bản địa. Loài thú hữu nhũ thuần hóa duy nhất được du nhập từ ngoài vào Australia là chó, chắc hẳn đã được người Nam Đảo mang từ châu Á đến bằng xuồng vào khoảng 1500 năm TCN và thích nghi với môi trường hoang dã Australia mà biến thành loài chó dingo. Người Australia bản địa nuôi chó dingo bắt được làm bầu bạn, để giữ nhà, thậm chí để dùng làm những tấm chăn sống [đắp lên mình cho đỡ lạnh, ND], từ đó mới có câu thành ngữ “đêm năm con chó” ý nói một đêm cực lạnh. Nhưng họ không dùng chó dingo hay chó [thuần gốc] làm thức ăn như người Polynesia, cũng không dùng chúng để đi săn thú hoang như người New Guinea.
Nông nghiệp cũng đã không khởi đầu ở Australia, bởi đây không chỉ là lục địa khô nhất mà còn là lục địa cằn cỗi nhất. Thêm nữa, Australia chẳng giống một nơi nào khác còn ở chỗ khí hậu trên hầu khắp lục địa này chịu ảnh hưởng áp đảo của một chu trình bất thường không theo năm, [cái gọi là] ENSO (viết tắt của Dao động phía nam của El Niño) chứ không phải theo chu kỳ hằng năm đều đặn luân chuyển giữa các mùa vốn rất quen thuộc ở hầu hết các phần khác trên thế giới. Những cơn hạn hán nghiêm trọng không thể đoán trước kéo dài từ năm này sang năm khác, điểm xuyết bằng những trận mưa như trút và lũ xối xả cũng không thể đoán trước y như vậy. Ngay cả ngày nay, có những loại cây trồng Âu-Á, có xe tải và đường sắt để chuyên chở sản phẩm, vậy mà sản xuất lương thực ở Australia vẫn cứ là một ngành kinh doanh lắm rủi ro. Những bầy gia súc được gầy dựng trong những năm tốt trời chỉ để rồi chết sạch trong một lần hạn hán. Bất cứ nhà nông sơ khai nào ở Australia bản địa ắt cũng đã đối mặt với những chu trình tương tự trong quần thể của mình. Nếu trong những năm khí hậu tốt họ đã sống định cư thành làng, trồng trọt, sinh con đẻ cái, thì số dân đông đảo ấy rồi cũng sẽ đói ăn mà chết dần mòn trong những năm hạn hán khi đất đai chỉ nuôi nổi một dúm người ít hơn nhiều.
Một trở ngại chính khác cho sự phát triển sản xuất lương thực ở Australia là những loài cây hoang có thể thuần hóa được thật hiếm hoi. Ngay cả các nhà di truyền học cây trồng người châu Âu hiện nay cũng không phát triển được bất cứ loại cây trồng nào khác trừ hạt macadamia từ các loài thực vật bản địa của Australia. Trong danh sách các loài cây ngũ cốc có tiềm năng của thế giới – 56 loài cây thân thảo có hạt nặng nhất – chỉ có hai loài là của Australia, cả hai đều xếp ở gần cuối danh sách (hạt nặng có 13 miligram, so với những 40 miligram của hạt nặng nhất ở một nơi khác trên thế giới). Nói thế không có nghĩa là Australia chẳng có lấy một loại cây trồng tiềm năng nào hoặc người Australia bản địa sẽ chẳng bao giờ phát triển nổi một nền sản xuất lương thực bản địa. Một số cây như một số loài khoai sọ, khoai mỡ và cây hoàng tinh được trồng ở New Guinea nhưng cũng mọc hoang ở bắc Australia và được thổ dân ở đó thu hoạch. Như ta sẽ thấy, thổ dân ở những vùng có khí hậu thuận lợi nhất của Australia đang tiến hóa theo một hướng có khả năng sẽ dẫn đến sản xuất lương thực. Song, cho dẫu sản xuất lương thực bản địa có ra đời ở Australia đi nữa, nó cũng sẽ bị hạn chế bởi thiếu các loài vật có thể thuần hóa được, quá ít loài cây có thể thuần hóa được, bởi những khó khăn do đất cằn cỗi và khí hậu khôn lường.
Lối sống du cư, săn bắt hái lượm và đầu tư tối thiểu vào nhà ở cũng như tài sản là những biện pháp hợp lý nhằm thích nghi với tính bất khả tiên đoán của tài nguyên do tác động của ENSO ở Australia. Khi điều kiện sống ở một nơi bắt đầu xuống cấp, thổ dân chỉ việc chuyển đến một khu vực khác nơi điều kiện tạm thời tốt hơn. Thay vì chỉ lệ thuộc vào dăm ba loại cây trồng có thể mất mùa, họ giảm thiểu rủi ro bằng cách phát triển một nền kinh tế dựa trên rất nhiều loại lương thực hoang dã [bởi vì] khó có chuyện tất cả các nguồn lương thực đó trở nên khan hiếm cùng một lúc. Thay vì có một dân số lúc tăng lúc giảm thường xuyên vượt quá nguồn tài nguyên có hạn để rồi chết đói, họ duy trì dân số ít đặng có thể tận hưởng thức ăn dồi dào trong những năm được mùa và vẫn đủ ăn trong những năm khốn khó.
Thay cho sản xuất lương thực, thổ dân Australia bản địa tiến hành cái gọi là “nông nghiệp đốt rừng”. Thổ dân điều chỉnh và quản lý cảnh quan xung quanh mình bằng những cách sao cho nâng cao được sản lượng cây và con ăn được mà không phải canh tác đất. Cụ thể, họ cố ý đốt hầu hết đất đai một cách định kỳ. Việc đó nhằm nhiều mục đích: lửa khiến cho các loài thú chạy ra [khỏi rừng], thế là con người có thể giết chúng mà ăn thịt ngay lập tức; lửa biến những vùng rừng cây dày đặc thành đất trống nơi con người có thể đi lại dễ dàng hơn; khu đất trống đó cũng là môi trường lý tưởng cho chuột túi, mồi săn số một của Australia; lửa lại còn kích thích sinh trưởng cho lớp cỏ mới làm thức ăn cho chuột túi lẫn rễ cây dương xỉ làm thức ăn cho bản thân các thổ dân.
Chúng ta thường cho rằng thổ dân Australia là dân sa mạc, nhưng hầu hết họ không phải vậy. Thay vào đó, mật độ dân cư của họ thay đổi tùy theo lượng mưa (bởi lượng mưa chi phối năng suất lương thực từ các loài cây dại và thú vật sống trên mặt đất) và tùy theo lượng thủy sản ở biển và sông hồ. Mật độ dân số cao nhất của thổ dân là ở các khu vực có lượng mưa cao nhất và năng sản nhất: hệ thống sông Murray-Darling ở miền đông nam, vùng duyên hải phía đông và phía bắc, góc tây nam. Các khu vực này về sau rồi cũng nuôi sống được mật độ dân cư cao nhất những người di cư châu Âu ở Australia ngày nay. Sở dĩ chúng ta vẫn cho rằng thổ dân Australia là dân sa mạc đơn giản là do người châu Âu đã tàn sát họ hoặc đuổi họ ra khỏi những vùng đất đáng ao ước nhất, chỉ cho phép những quần thể thổ dân Australia cuối cùng còn nguyên vẹn sống ở những khu vực mà người châu Âu không thèm.
Trong vòng 5.000 năm trở lại đây, một số khu vực năng sản đó đã chứng kiến sự chuyên sâu hóa các phương pháp thu lượm lương thực của thổ dân Australia, và mật độ dân số thổ dân đã tăng dần. Ở miền đông Australia, người ta phát triển những kỹ thuật nhằm chế biến các loại hạt có rất sẵn và nhiều bột nhưng cực độc sao cho ăn được, bằng cách tẩy hoặc cho chất độc lên men. Những vùng cao nguyên đông nam Australia mà trước đây chưa được khai thác bắt đầu có người thường xuyên lui tới trong mùa hè, ấy là những thổ dân vốn không chỉ sống bằng hạt mè và khoai lang mà còn ăn cả một loài bướm đêm di trú gọi là bướm bogong thường ngủ đông với số lượng khổng lồ, loài này nướng lên có vị như hạt dẻ rang. Một dạng hoạt động thu lượm lương thực chuyên sâu khác mà thổ dân Australia đã phát triển được là nghề săn lươn nước ngọt ở hệ thống sông Murray-Darling nơi mực nước ở các đầm lầy dao động tùy lượng mưa theo mùa. Thổ dân Australia xây những hệ thống kênh phức tạp dài tới 1 dặm (1,6 km) và rộng tới nửa dặm (0,8 km) để lươn có thể di chuyển từ đầm này sang đầm kia. Họ bắt lươn bằng những chiếc đăng cũng phức tạp không kém, bẫy đặt ở các kênh cụt nằm hai bên, và những bức tường đá chắn ngang kênh, chính giữa tường có một lỗ thủng chăng lưới. Những chiếc bẫy đặt ở các độ sâu khác nhau trong đầm hoạt động tùy theo mực nước lên cao xuống thấp. Xây các “ngư trường” như vậy ắt hẳn mất rất nhiều công sức, song bù lại chúng nuôi sống được nhiều người. Những người châu Âu đến đây vào thế kỷ mười chín đã nhìn thấy những ngôi làng gồm hàng tá căn nhà của thổ dân Australia ở các trại lươn, có cả di tích khảo cổ của những ngôi làng gồm tới 146 căn nhà bằng đá cho thấy dân số theo mùa ở đó ít nhất cũng lên tới hàng trăm người.
Lại còn một tiến triển khác nữa ở miền đông và miền bắc Australia, ấy là thu hoạch hạt của một loài cây dại thuộc cùng một giống với hạt kê bắp chổi (broomcorn millet) vốn là một loại cây trồng chính của nền nông nghiệp Trung Hoa thời kỳ đầu. Người ta dùng dao bằng đá để gặt kê, chất thành đống rồi tuốt hạt, trữ hạt trong bao da hay đĩa gỗ rồi dùng cối đá để xay. Một số công cụ được dùng trong quá trình này, chẳng hạn như dao đá để gặt và đá cối xay, cũng giống như các công cụ được phát minh độc lập ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu để xử lý hạt của các loài cây thân thảo khác. Trong tất cả các phương pháp thu lượm lương thực của thổ dân bản địa Australia, thu hoạch kê có lẽ là phương pháp có khả năng tiến hóa thành trồng trọt nhất.
Cùng với sự thu lượm lương thực chuyên sâu trong 5.000 năm trở lại đây, người ta cũng chế ra những loại công cụ mới. Những lưỡi dao và mũi nhọn nhỏ bằng đá cho phép mỗi đơn vị trọng lượng công cụ có cạnh sắc dài hơn so với các công cụ đá có kích thước lớn trước kia. Những chiếc rìu có cạnh đá mài nhẵn mà trước kia chỉ có ở một số vùng của Australia nay phổ biến khắp nơi. Lưỡi câu bằng vỏ sò xuất hiện trong một ngàn năm trở lại đây.
Do đâu Australia đã không phát triển được công cụ bằng kim loại, chữ viết và xã hội phức tạp về chính trị? Một nguyên nhân chính là bởi thổ dân Australia vẫn tiếp tục là dân săn bắt hái lượm, trong khi – như ta đã thấy ở Chương 12-14 – những bước tiến đó chỉ nảy sinh ở những xã hội sản xuất lương thực, đông dân và chuyên môn hóa về kinh tế. Ngoài ra, tình trạng mưa khan hiếm, đất cằn cỗi và khí hậu khó lường khiến cho dân số những người săn bắt hái lượm Australia không thể vượt quá mức vài trăm ngàn. So sánh với hàng chục triệu người ở Trung Hoa hay Trung Mỹ cổ đại, điều đó có nghĩa là Australia có số nhà phát minh tiềm năng ít ỏi hơn nhiều, cũng như số xã hội ít ỏi hơn nhiều, không đủ để thử nghiệm việc tiếp thu cái mới. Đã vậy, vài trăm ngàn người đó cũng chẳng được tổ chức thành những xã hội có tiếp xúc chặt chẽ với nhau. Thay vì vậy, Australia bản địa là cả một sa mạc mênh mông cực kỳ thưa thớt dân cư, rải rác trên đó là những “ốc đảo” có điều kiện sinh thái thuận lợi hơn, mỗi ốc đảo chỉ bao gồm một phần nhỏ dân số của toàn lục địa, các ốc đảo này ít tiếp xúc với nhau vì khoảng cách xa xôi. Ngay cả ở vùng phía đông tương đối ẩm ướt và sản vật dồi dào hơn, sự trao đổi giữa các xã hội cũng bị hạn chế bởi khoảng cách 1.900 dặm (hơn 3.000 km) từ vùng rừng mưa xích đạo Queensland ở phía đông bắc đến vùng rừng mưa ôn đới Victoria ở phía đông nam, một khoảng cách về địa lý và sinh thái cũng lớn như khoảng cách từ Los Angeles đến Alaska vậy.
Một số trường hợp thoái bộ về công nghệ mang tính khu vực hoặc toàn lục địa ở Australia có thể có nguyên nhân từ vị thế cô lập và số dân khá ít ỏi ở các trung tâm dân cư của nó. Chiếc boomerang, thứ vũ khí quốc hồn quốc túy của Australia, đã bị người dân vùng bán đảo Cape York ở đông bắc Australia từ bỏ. Khi gặp người châu Âu lần đầu tiên, các thổ dân vùng tây nam Australia không ăn sò. Chức năng của những mũi nhọn nhỏ bằng đá vốn xuất hiện ở các di chỉ khảo cổ Australia khoảng 5.000 năm trước vẫn còn chưa rõ: tuy có thể giải thích một cách dễ dãi rằng hẳn người Australia dùng chúng để gắn vào mũi lao hay làm ngạnh tên, nhưng chúng lại giống đến đáng ngờ với những mũi nhọn và ngạnh bằng đá được dùng làm mũi tên ở vài nơi khác trên thế giới. Nếu quả thực công dụng chúng là như vậy thì hẳn ta có thể lý giải điều bí ẩn rằng cung tên có mặt ở New Guinea hiện đại nhưng lại vắng bóng ở Australia: có lẽ người Australia quả thực đã tiếp thu cung tên trong một thời gian, sau đó lại từ bỏ chúng trên toàn bộ lục địa này. Các ví dụ này nhắc ta nhớ lại trường hợp người Nhật đã tiếp thu súng rồi lại từ bỏ súng, người Polynesia từng tiếp thu cung tên và đồ gốm rồi lại từ bỏ những thứ này, và những trường hợp các xã hội cô lập khác tiếp thu rồi lại bỏ những công nghệ khác (Chương 13).
Trường hợp đánh mất công nghệ một cách cực đoan nhất ở Australia xảy ra trên hòn đảo Tasmania, cách bờ Đông Nam Australia 130 dặm (hơn 200 km). Vào thời Pleitoxen khi mực nước biển thấp, eo biển hẹp Bass mà ngày nay ngăn giữa Tasmania với Australia hãy còn là dải đất khô và những người sống ở Tasmania hãy còn là một bộ phận của quần thể người phân bố đều khắp trên lục địa Australia mở rộng. Khi eo biển này rốt cuộc bị ngập nước vào khoảng 10.000 năm trước, người Tasmania và cư dân lục địa chính Australia bị chia cắt khỏi nhau bởi không nhóm nào có tàu bè đủ khả năng vượt qua eo Bass cả. Từ đó trở đi, dân số Tasmania gồm 4.000 người săn bắt hái lượm lâm vào tình trạng mất liên lạc với tất cả những người khác trên Trái đất, sống trong một sự cô biệt mà có chăng người ta chỉ biết tới trong tiểu thuyết khoa học giả tưởng.
Khi rốt cuộc cũng tiếp xúc với người châu Âu vào năm 1642, người Tasmania có nền văn hóa vật chất thô sơ nhất so với bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới hiện đại. Cũng như lục địa chính Australia, họ là những người săn bắt hái lượm không có công cụ bằng kim loại. Thế nhưng họ còn không có nhiều công nghệ và vật dụng khác mà ở Australia là phổ biến, trong đó có lao ngạnh, công cụ bằng xương đủ loại, boomerang, công cụ bằng đá có mài hoặc đánh bóng, công cụ đá có cán, lưỡi câu, lưới, lao có răng, lao có ngạnh, bẫy, không biết bắt cá và ăn cá, không biết khâu vá, không biết nhóm lửa. Một số công nghệ trong số này có thể đã được du nhập hoặc được phát minh ở lục địa chính Australia chỉ sau khi Tasmania bị tách ra, trong trường hợp đó ta có thể kết luận rằng dân cư ít ỏi của Tasmania đã không tự phát minh được các công nghệ đó. Những công nghệ khác trong số này đã được mang đến Tasmania vào thời nó vẫn còn là một bộ phận của lục địa chính Australia, nhưng về sau, khi Tasmania bị cô lập khỏi Australia thì các công nghệ này cũng mất. Chẳng hạn, tài liệu khảo cổ Tasmania ghi nhận sự biến mất của nghề câu cá, của cái dùi, kim và các công cụ bằng xương khác vào khoảng 1.500 năm TCN. Trên ít nhất ba hòn đảo nhỏ hơn (Flinders, Kangaroo và King) đã bị tách rời khỏi Australia hay Tasmania khi nước biển dâng lên khoảng 10.000 năm về trước, những quần thể dân cư ở đó, ban đầu có khoảng 200 đến 400 người, đã hoàn toàn tuyệt chủng.
Như vậy Tasmania và các hòn đảo nhỏ hơn kia minh họa bằng hình thức cực đoan một kết luận có thể mang tầm quan trọng lớn lao đối với lịch sử thế giới. Những quần thể người gồm vỏn vẹn vài trăm người không có khả năng sống sót trong tình trạng hoàn toàn bị cách ly. Một quần thể gồm 4.000 người thì có khả năng sống sót trong 10.000 năm, nhưng với những mất mát to lớn về văn hóa và thiếu trầm trọng khả năng sáng tạo cái mới, khiến quần thể đó chỉ còn lại một nền văn hóa vật chất thô sơ có một không hai. 300.000 dân săn bắt hái lượm ở lục địa chính Australia thì đông đúc hơn và ít bị cách ly hơn so với Tasmania song vẫn là quần thể người nhỏ nhất và cô biệt nhất sao với bất cứ lục địa nào khác. Các trường hợp được ghi nhận về sự thoái bộ công nghệ trên lục địa chính Australia và ví dụ về Tasmania cho thấy sự lạc hậu của thổ dân Australia so với các dân tộc trên những lục địa khác có thể một phần bắt nguồn từ ảnh hưởng của tình trạng cô biệt và số dân ít ỏi đối với sự phát triển và duy trì công nghệ – cũng giống như các ảnh hưởng tương tự trên Tasmania, song ít cực đoan hơn. Suy ra, cũng chính những ảnh hưởng đó hẳn đã góp phần tạo nên sự khác biệt về công nghệ giữa lục địa lớn nhất (Âu-Á) với các lục địa khác lần lượt nhỏ hơn (châu Phi, Bắc Mỹ và Nam Mỹ).
Tại sao công nghệ tiên tiến hơn từ các láng giềng Indonesia và New Guinea đã không đến được Australia? Về phần Indonesia, nó bị biển ngăn cách với phía tây bắc Australia, mặt khác nó cũng khác xa Australia về sinh thái. Ngoài ra, bản thân Indonesia cho mãi đến vài ngàn năm gần đây cũng là một khu vực chậm tiến về văn hóa và công nghệ. Không có bằng chứng nào cho thấy có công nghệ hay phát minh mới được du nhập vào Australia qua ngả Indonesia từ sau khi có người di cư đến Australia lần đầu tiên vào 40.000 năm trước cho đến khi chó dingo xuất hiện ở đây vào khoảng 1500 năm TCN.
Chó dingo đặt chân đến Australia vào thời điểm cao trào bành trướng của người Nam Đảo xuất phát từ Nam Trung Hoa qua ngả Indonesia. Người Nam Đảo đã thành công trong việc định cư ở mọi hòn đảo của Indonesia, trong đó có hai đảo gần Australia nhất là Timor và Tanimbar (chỉ cách Australia hiện đại lần lượt là 275 và 205 dặm – 440 và 328 km). Do người Nam Đảo từng vượt những quãng đường biển còn xa hơn nhiều trong quá trình bành trướng ra khắp Thái Bình Dương, nên hẳn ta phải đặt giả thiết rằng họ đã thường xuyên tới Australia, thậm chí dù ta không có loài chó dingo để làm bằng chứng đi chăng nữa. Trong nhiều thời kỳ lịch sử, hằng năm đều có những chuyến viếng thăm miền tây bắc Australia bằng xuồng có buồm xuất phát từ hạt Macassar trên đảo Sulawesi (Celebes) của Indonesia, cho tới khi chính phủ Australia chấm dứt các chuyến đi này vào năm 1907. Bằng chứng khảo cổ cho thấy các chuyến thăm đó đã khởi đầu từ khoảng năm 1000, thậm chí còn có thể từ xưa hơn nữa. Mục đích chính của những chuyến thăm này là để kiếm hải sâm, loài có họ hàng với sao biển được xuất từ Macassar sang Trung Hoa làm một thứ thuốc kích dục được cho là hiệu nghiệm hoặc làm một thành phần đắt giá trong các món canh.
Lẽ tự nhiên, sự trao đổi được hình thành trong quá trình những chuyến thăm đó của người Macassar đã để lại nhiều di sản ở miền tây bắc Australia. Người Macassar trồng cây me ở các chỗ cắm trại của họ dọc theo bờ biển và sinh con đẻ cái với phụ nữ thổ dân Australia. Họ mang theo vải vóc, công cụ kim loại, đồ gốm và thủy tinh làm đồ trao đổi, mặc dù thổ dân Australia chẳng bao giờ học được cách tự sản xuất ra những thứ kia. Thổ dân Australia quả là có vay mượn từ người Macassar một số từ ngữ, một vài nghi lễ, kỹ năng dùng xuồng độc mộc căng buồm và tập quán hút thuốc bằng tẩu.
Thế nhưng không một ảnh hưởng nào trong số đó làm thay đổi được đặc tính cơ bản của xã hội Australia. Còn quan trọng hơn những gì đã xảy ra do hệ quả những chuyến thăm của người Macassar là những gì đã không xảy ra từ đó. Người Macassar đã không định cư ở Australia, rõ ràng là bởi vùng tây bắc Australia đối diện với Indonesia quá ít mưa không thích hợp với nghề nông Macassar. Giá như Indonesia đối diện với vùng rừng mưa nhiệt đới và đồng cỏ miền đông bắc Australia thì ắt hẳn người Macassar đã có thể ở lại định cư, song không có bằng chứng nào cho thấy họ đã đi xa đến thế. Bởi người Macassar chỉ đến từng nhóm nhỏ, lưu lại một thời gian có hạn và không bao giờ đi sâu vào nội địa, nên chỉ một vài nhóm Australia trên những dải hẹp ven biển là tiếp xúc với họ thôi. Mà ngay cả dăm ba người Australia đó cũng chỉ nhìn thấy một phần nhỏ của văn hóa và công nghệ Macassar chứ không phải toàn bộ xã hội Macassar gồm những cánh đồng lúa, lợn, làng mạc và công xưởng. Bởi người Australia vẫn là dân săn bắt hái lượm du cư, nên họ chỉ tiếp thu vài ba sản phẩm và tập quán Macassar khả dĩ thích nghi với lối sống của họ thôi. Xuồng độc mộc có buồm và tẩu thì được, nhưng lò rèn và lợn thì không.
So với việc người Australia từ chối tiếp nhận ảnh hưởng của người Indonesia thì việc họ từ chối ảnh hưởng của New Guinea có vẻ như kỳ lạ hơn nhiều. Ngang qua dải nước hẹp với cái tên eo Torres, những nhà nông New Guinea nói ngôn ngữ New Guinea và có lợn, đồ gốm, cung tên đối mặt với những người Australia nói ngôn ngữ Australia và không có lợn, đồ gốm, cung tên. Hơn nữa, eo biển này chẳng phải một hàng rào ngăn cách toàn là nước mà rải rác một chuỗi đảo, trong số đó hòn đảo lớn nhất (đảo Muralug) chỉ cách bờ biển Australia vỏn vẹn có 10 dặm (16 km). Người ta vẫn thường xuyên qua lại trao đổi hàng hóa giữa Australia với các đảo và giữa các đảo với New Guinea. Nhiều phụ nữ thổ dân Australia lấy chồng là dân đảo Muralug, sống ở đó và nhìn thấy vườn tược, cung tên của người Muralug. Thế thì vì cớ gì những nét New Guinea đó đã không lan sang Australia được?
Tuy nhiên, cái rào cản văn hóa là eo Torres đó chỉ khó hiểu nếu ta tự làm mình lạc lối khi tự hình dung một xã hội New Guinea đủ lông đủ cánh, có trồng trọt thâm canh và biết nuôi lợn chỉ cách Australia vỏn vẹn 10 dặm bên kia eo biển. Trên thực tế, thổ dân vùng Cape York chưa bao giờ gặp một người New Guinea “chính hiệu” nào. Thay vào đó chỉ có sự trao đổi giữa New Guinea với các đảo gần New Guinea nhất, sau đó là giữa các đảo đó với đảo Mabuiag và đảo Badu xa hơn xuôi theo eo biển, kế đó là giữa đảo Badu với đảo Muralug, cuối cùng mới đến trao đổi giữa Muralug với Cape York.
Càng đi xa dọc theo chuỗi đảo đó thì xã hội New Guinea càng loãng dần. Lợn hiếm gặp hoặc hoàn toàn vắng bóng trên các đảo. Người dân vùng đất thấp Nam New Guinea dọc theo eo Torres không làm nông nghiệp thâm canh như trên vùng cao New Guinea mà chỉ trồng trọt theo lối đốt rừng làm rẫy, phụ thuộc nặng nề vào hải sản, săn bắt và hái lượm. Tầm quan trọng của ngay cả lối đốt rừng làm rẫy đó cũng ngày càng suy giảm từ miền nam New Guinea đến Australia dọc theo chuỗi đảo. Bản thân hòn đảo Muralug gần Australia nhất thì khô hạn, khó trồng trọt được, chỉ có thể nuôi sống một số ít người, những người này sống chủ yếu nhờ hải sản, khoai sọ hoang và quả đước.
Như vậy, diện tiếp xúc giữa New Guinea với Australia thông qua eo Torres gợi cho ta nhớ trò chơi điện thoại của trẻ con: bọn trẻ ngồi thành vòng tròn, một đứa thì thầm một từ vào tai đứa thứ nhì, đứa này thì thầm lại cái mà nó nghe được vào tai đứa thứ ba, đến khi đứa cuối cùng sau khi nghe xong liền thì thầm trở lại vào tai đứa đầu tiên thì cái từ đó hoàn toàn chẳng giống từ ban đầu một tí nào. Cũng vậy, việc trao đổi dọc theo chuỗi đảo trên eo Torres là một trò chơi điện thoại mà cuối cùng cái được trình ra trước mắt thổ dân vùng Cape York là khác xa với xã hội New Guinea. Ngoài ra, chúng ta không nên tưởng tượng rằng quan hệ giữa dân đảo Muralug với thổ dân Cape York là một cuộc hội hè liên tục trong tinh thần hữu ái mà trong đó thổ dân Australia háo hức nuốt từng lời dạy dỗ từ những vị thầy đến từ hòn đảo nọ. Thay vì vậy, sự trao đổi [hòa bình] có những lúc bị ngắt quãng bởi những cuộc chiến tranh nhằm mục đích săn đầu người và bắt phụ nữ về làm vợ.
Mặc dù văn hóa New Guinea bị loãng đi do khoảng cách và chiến tranh, song một vài ảnh hưởng của New Guinea vẫn đến được Australia. Việc hôn phối giữa hai bên đã mang đến bán đảo Cape York một số nét ngoại hình của New Guinea như tóc quăn thay vì tóc thẳng. Bốn ngôn ngữ Cape York có những âm vị bất thường so với Australia, có lẽ do ảnh hưởng của ngôn ngữ New Guinea. Trong những cái đã lan truyền từ New Guinea sang Australia thì quan trọng nhất là lưỡi câu cá bằng vỏ sò vốn đã bành trướng sâu vào nội địa Australia, và thuyền có mái chèo, bành trướng xuống bán đảo Cape York. Trống, mặt nạ nghi lễ, trụ mai táng và ống tẩu của người New Guinea cũng được tiếp thu ở Cape York. Nhưng thổ dân Cape York đã không tiếp thu nghề nông, một phần bởi cái mà họ thấy trên đảo Muralug chỉ là hình ảnh mờ nhạt của nghề nông New Guinea “chính hiệu” mà thôi. Họ không tiếp thu lợn, bởi trên các đảo dọc eo Torres có rất ít hoặc không có lợn, và bởi nếu không có nghề nông thì đằng nào cũng chẳng biết nuôi chúng bằng gì cả. Họ cũng không tiếp thu cung tên mà vẫn dùng lao và ná bắn lao.
Australia thì rộng, New Guinea cũng vậy. Nhưng sự giao tiếp giữa hai khối đất liền lớn đó chỉ hạn chế ở những nhóm dân đảo eo Torres ít ỏi, với một nền văn hóa New Guinea đã nhạt đi rất nhiều, tiếp xúc với dăm ba nhóm thổ dân ít ỏi ở Cape York. Quyết định của thổ dân Cape York – vẫn dùng lao chứ không dùng cung tên và không tiếp thu một số nét khác của nền văn hóa New Guinea mà họ thấy do nó đã bị nhạt đi nhiều – đã ngăn cản việc lan truyền các nét văn hóa New Guinea đó vào phần còn lại của Australia. Hậu quả là chẳng một nét New Guinea nào bành trướng sâu vào nội địa New Guinea ngoại trừ lưỡi câu bằng vỏ sò. Giá như hàng trăm ngàn nhà nông ở vùng cao New Guinea có dịp tiếp xúc gần gũi với thổ dân ở những vùng cao mát mẻ phía đông nam Australia thì ắt hẳn sự chuyển giao ồ ạt nền sản xuất lương thực thâm canh và văn hóa của New Guinea sang Australia đã có thể diễn ra. Nhưng các vùng cao New Guinea lại cách xa các vùng cao Australia những 2.000 dặm (3.200 km) cảnh quan rất khác nhau về sinh thái. Nếu nói về cơ hội để người Australia có thể quan sát và tiếp thu tập quán của dân vùng cao New Guinea thì vùng cao New Guinea cũng xa xôi diệu vợi chẳng khác gì núi trên mặt trăng vậy.
Nói ngắn gọn, thoạt trông thì việc những người săn bắt hái lượm du cư Australia thời Đồ đá dù tiếp xúc với các nhà nông New Guinea thời Đồ đá và các nhà nông Indonesia thời Đồ sắt vẫn khăng khăng không chịu từ bỏ lối sống của mình có vẻ chỉ là do người Australia cố chấp mà thôi. Nhưng nếu xét kỹ, việc đó chẳng qua chỉ phản ánh vai trò của địa lý – điều ở đâu cũng gặp – đối với sự lan truyền văn hóa và công nghệ của loài người.
Giờ chúng ta còn phải khảo sát những cuộc đụng độ giữa các xã hội thời Đồ đá của New Guinea và Australia với những người châu Âu thời Đồ sắt. Một nhà hàng hải Bồ Đào Nha “phát hiện” ra New Guinea vào năm 1526, Hà Lan tuyên bố quyền sở hữu nửa phía tây New Guinea vào năm 1828, còn Anh và Đức chia nhau nửa phía đông vào năm 1884. Những người châu Âu đầu tiên định cư ở miền ven biển, và phải mất một thời gian dài họ mới thâm nhập vào trong nội địa, song đến năm 1960 thì các chính phủ châu Âu đã thiết lập quyền kiểm soát về chính trị trên hầu hết lãnh thổ New Guinea.
Nguyên nhân khiến người châu Âu chiếm New Guinea làm thuộc địa – chứ không phải ngược lại – thật hiển nhiên. Người châu Âu chính là kẻ có những con tàu có khả năng vượt đại dương và la bàn để đến được New Guinea, có chữ viết và máy in để in bản đồ, các tường trình chi tiết và những giấy tờ hành chính cần thiết để xác lập quyền kiểm soát New Guinea, có những thể chế chính trị hầu tổ chức được tàu bè, binh lính và chính quyền, và có súng để bắn những người New Guinea chống đối mà trong tay chỉ có cung tên với dùi cui. Thế nhưng số lượng người di cư châu Âu bao giờ cũng rất ít ỏi, và đến nay phần lớn cư dân New Guinea vẫn là người New Guinea. Điều đó tương phản sâu sắc với tình hình ở Australia, châu Mỹ và Nam Phi nơi người châu Âu di cư sang đông đảo, định cư lâu dài và thay thế hẳn cư dân bản địa khắp những vùng rộng lớn. Tại sao New Guinea lại khác hẳn vậy?
Một nhân tố chính khiến những nỗ lực của người châu Âu hòng định cư ở vùng đất thấp New Guinea đều thất bại cho mãi đến thập niên 1880 là bệnh sốt rét và các bệnh nhiệt đới khác, mà không một bệnh nào trong đó là bệnh của đám đông có tính truyền nhiễm và cấp tính như ta đã đề cập đến ở chương 11. Kế hoạch nhiều tham vọng nhất của người châu Âu hòng định cư ở miền đất thấp là kế hoạch của bá tước de Rays người Pháp vào khoảng năm 1880 trên hòn đảo New Ireland lân cận, song kết quả là trong số 1.000 người châu Âu định cư thì hết 930 chết trong vòng có ba năm. Ngay cả với những cách chữa bệnh hiện đại ngày nay, nhiều bạn bè người Mỹ và người Âu của tôi ở New Guinea vẫn buộc phải rời khỏi xứ này vì bệnh sốt rét, viêm gan hay những bệnh khác, còn bản thân tôi cũng từng bị sốt rét suốt một năm và lỵ cũng suốt một năm trong thời gian sống ở New Guinea.
Trong khi người châu Âu đã và đang bị các vi trùng vùng đất thấp New Guinea quật ngã thì tại sao vi trùng của Âu-Á lại không quật ngã trở lại người New Guinea? Một số người New Guinea cũng có nhiễm các căn bệnh của Âu-Á thật, nhưng không phải trên quy mô lớn như các bệnh đó đã giết chết hầu hết cư dân bản địa Australia và châu Mỹ. Một cái may cho người New Guinea là người châu Âu đã không hề định cư dài hạn ở New Guinea cho mãi đến thập niên 1880, cho đến khi đó thì những khám phá trong lĩnh vực y tế công cộng đã đạt được tiến triển trong việc kiểm soát bệnh đậu mùa và các bệnh truyền nhiễm khác của cư dân châu Âu. Ngoài ra, sự bành trướng của người Nam Đảo đã liên tục đưa những dòng người di cư và thương nhân Indonesia đến New Guinea trong suốt 3.500 năm. Bởi các bệnh truyền nhiễm của châu Á đã tồn tại vững chắc ở Indonesia, nên người New Guinea đã có cơ hội tiếp xúc và tạo được kháng thể chống các vi trùng Âu-Á này một cách hữu hiệu hơn nhiều so với thổ dân bản địa Australia.
Bộ phận duy nhất của New Guinea nơi người châu Âu không phải gặp những rắc rối nghiêm trọng về sức khỏe là vùng cao nguyên phía trên ngưỡng độ cao của bệnh sốt rét. Tuy nhiên mãi đến thập niên 1930 người châu Âu mới đặt chân tới được vùng cao nguyên New Guinea nơi đã có người New Guinea sinh sống đông đúc. Đến khi đó thì chính phủ thuộc địa Australia và Hà Lan không còn có ý muốn mở đất cho người châu Âu định cư bằng cách tàn sát đại quy mô dân bản địa hoặc đuổi họ ra khỏi xứ sở mình như thực dân châu Âu vẫn làm trong các thế kỷ trước nữa.
Trở ngại còn lại cho những người châu Âu muốn định cư là cây trồng, vật nuôi và các phương pháp nuôi trồng của châu Âu không mang hiệu quả cao ở bất cứ đâu trong điều kiện môi trường và khí hậu New Guinea. Tuy người ta có thể trồng các loại cây trồng có nguồn gốc châu Mỹ như bí, ngô và cà chua với số lượng nhỏ và những đồn điền trà, cà phê cũng đã được hình thành ở vùng cao nguyên Papua New Guinea, song các cây trồng châu Âu như lúa mì, lúa mạch và đậu chẳng bao giờ đứng chân được. Bò và dê từ châu Âu đưa sang – được nuôi thành từng bầy nhỏ – cũng mắc các bệnh nhiệt đới như chính người châu Âu vậy. Sản xuất lương thực ở New Guinea vẫn chủ yếu dựa trên các loại cây trồng và phương pháp canh tác mà người New Guinea đã ưa chuộng suốt hàng ngàn năm qua.
Tất cả những vấn đề đó – bệnh tật, địa hình hiểm trở và điều kiện sống – đã góp phần khiến người châu Âu để lại phần phía đông New Guinea (nay là quốc gia Papua New Guinea độc lập) cho người New Guinea sinh sống và nắm quyền cai trị, mặc dù người New Guinea vẫn dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức, viết bằng chữ cái, sống dưới một thể chế chính phủ dân chủ rập khuôn theo mô hình nước Anh, và dùng súng sản xuất ở nước ngoài. Phía tây New Guinea thì khác hẳn: khu vực này bị người Indonesia đoạt lấy từ tay Hà Lan vào năm 1963 và đổi tên thành tỉnh Irian Jaya. Tỉnh này hiện nay do người Indonesia cai trị, cho người Indonesia. Cư dân vùng nông thôn ở tỉnh này vẫn chủ yếu là người New Guinea, nhưng cư dân thành thị của nó là người Indonesia, do kết quả chính sách của chính phủ nhằm khuyến khích người Indonesia di cư sang khu vực này. Người Indonesia vốn từ lâu đã tiếp xúc với bệnh sốt rét và các bệnh nhiệt đới khác mà người New Guinea cũng mắc nên không phải đương đầu với rào cản vi trùng như người châu Âu trước kia. Họ cũng được chuẩn bị tốt hơn người châu Âu để có thể sống còn ở New Guinea, bởi nghề nông Indonesia vốn dĩ đã bao gồm chuối, khoai lang và một số cây trồng chính khác giống như nghề nông New Guinea. Những đổi thay đang diễn ra ở Irian Jaya phản ánh sự tiếp diễn cuộc bành trướng của người Nam Đảo đến New Guinea vốn đã khởi đầu từ 3.500 năm trước, song lần này được hậu thuẫn bởi toàn bộ lực lượng của một chính phủ tập trung. Người Indonesia chính là người Nam Đảo.
Người châu Âu đã thực dân hóa Australia chứ không phải thổ dân Australia thực dân hóa châu Âu cũng vì chính những nguyên nhân như ta vừa thấy trong trường hợp New Guinea. Tuy nhiên, số phận người New Guinea và số phận thổ dân bản địa Australia rất khác nhau. Ngày nay Australia được chiếm cứ và cai trị bởi 20 triệu người không phải thổ dân, hầu hết trong số đó có nguồn gốc châu Âu, cộng thêm số người châu Á ngày càng tăng từ khi Australia hủy bỏ chính sách nhập cư cũ (chỉ cho phép người da trắng nhập cư) vào năm 1973. Dân số thổ dân sụt giảm đến 80%, từ khoảng 300.000 người vào thời điểm người châu Âu bắt đầu đến định cư xuống còn mức tối thiểu 60.000 người vào năm 1921. Ngày nay thổ dân bản địa là một tầng lớp dưới trong xã hội Australia. Nhiều thổ dân sống trong các trung tâm truyền giáo [của người da trắng] hoặc các khu bảo tồn của chính phủ, nếu không thì làm nghề chăn gia súc cho các ông chủ da trắng. Tại sao số phận của thổ dân Australia lại hẩm hiu hơn nhiều so với người New Guinea như vậy?
Nguyên nhân cơ bản là một số khu vực của Australia thích hợp với nền sản xuất lương thực của châu Âu và thích hợp để người châu Âu định cư, kết hợp với vai trò của súng, vi trùng và thép của người châu Âu trong việc quét sạch thổ dân khỏi đường đi của họ. Tuy tôi có nhấn mạnh những khó khăn do khí hậu và thổ nhưỡng của Australia, song những khu vực năng sản hoặc màu mỡ nhất của lục địa này lại thích hợp với nghề nông của châu Âu. Nông nghiệp ở vùng ôn đới Australia ngày nay gồm chủ yếu là các loại cây trồng ôn đới có xuất xứ từ Âu-Á như lúa mì (cây trồng hàng đầu của Australia), lúa mạch, kiều mạch, táo và nho, cùng với lúa miến và bông có nguồn gốc từ vùng Sahel của châu Phi và khoai tây có gốc từ vùng Andes. Ở các khu vực nhiệt đới miền đông bắc Australia (Queensland) bên ngoài phạm vi tối ưu của các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu, các nhà nông châu Âu canh tác các cây trồng có nguồn gốc New Guinea như mía, nguồn gốc Đông Nam Á nhiệt đới như chuối và chanh, nguồn gốc Nam Mỹ nhiệt đới như lạc. Còn về gia súc, cừu Âu-Á giúp dân châu Âu định cư có thể sản xuất lương thực ở cả các vùng khô cằn không thể trồng trọt được, còn bò Âu-Á thì có thể nuôi ở các vùng ẩm ướt hơn bên cạnh cây trồng.
Như vậy, việc phát triển sản xuất lương thực đã phải đợi tới khi có các loại cây trồng không phải là cây bản địa cũng như các loài vật nuôi đã được thuần hóa ở những khu vực khác trên thế giới có khí hậu tương tự song vì quá xa nên phải đợi đến khi có tàu biển vượt đại dương thì mới chở tới Australia được. Không như New Guinea, hầu hết Australia không có những chứng bệnh đủ nghiêm trọng để người châu Âu phải chùn chân. Chỉ ở vùng nhiệt đới phía bắc Australia thì bệnh sốt rét và các bệnh nhiệt đới khác mới buộc được người châu Âu từ bỏ ý đồ tới định cư, và mãi sang thế kỷ XX họ mới đến sống ở vùng này được nhờ những tiến bộ trong y học.
Dĩ nhiên, thổ dân Australia là trở ngại ngáng trên con đường sản xuất lương thực của người châu Âu, nhất là vì những khu vực lẽ ra có thể biến thành vùng trồng trọt và chăn nuôi trù phú nhất thì lại đang nuôi sống những quần thể thổ dân đông đúc nhất sống bằng săn bắt hái lượm. Sự di cư của người châu Âu khiến số lượng thổ dân sụt giảm theo hai cách. Một cách là bắn chết hết họ, cách này thì hồi thế kỷ 18 và cuối thế kỷ XIX người châu Âu cho là có thể chấp nhận, song đến khi họ đặt chân tới vùng cao New Guinea vào thập niên 1930 thì họ thấy không còn phù hợp nữa. Cuộc thảm sát quy mô lớn cuối cùng – giết chết 31 thổ dân – xảy ra ở Alice Springs vào năm 1928. Cách còn lại là đưa vào Australia những con vi trùng gốc châu Âu mà thổ dân chưa từng có cơ hội miễn dịch hay hình thành kháng thể di truyền. Trong vòng một năm sau khi những người định cư châu Âu đầu tiên đặt chân đến Sydney vào năm 1788, đâu đâu cũng nhan nhản xác thổ dân chết vì bệnh dịch. Những thủ phạm gây bệnh chính mà người ta ghi nhận được là đậu mùa, cúm, sởi, thương hàn, sốt phát ban, thủy đậu, ho gà, lao và giang mai.
Bằng hai cách đó, các xã hội thổ dân Australia độc lập đã bị loại bỏ khỏi bất cứ khu vực nào phù hợp với nền sản xuất lương thực của người Âu. Những xã hội duy nhất còn sống sót và ít nhiều được yên thân là những xã hội sống ở miền bắc và miền tây Australia mà đối với người Âu là vô dụng. Trong vòng một thế kỷ người Âu thực dân hóa Australia, 40.000 năm truyền thống thổ dân đã hầu như bị quét sạch.
Giờ ta có thể quay lại vấn đề tôi đã đặt ra ở gần đầu chương này. Nếu không phải vì những nhược điểm trong bản thân thổ dân Australia thì làm sao có thể giải thích việc các thực dân Anh da trắng rõ ràng đã tạo ra một nền dân chủ sản xuất lương thực, có chữ viết và công nghệ chỉ trong vòng vài thập niên thực dân hóa một lục địa nơi mà cư dân bản địa suốt 40.000 năm lịch sử vẫn cứ là những kẻ săn bắt hái lượm du cư không chữ viết? Chẳng phải đó là một thử nghiệm được kiểm soát thật hoàn hảo trong quá trình tiến hóa các xã hội loài người, buộc chúng ta phải đi đến một kết luận giản đơn theo lối phân biệt chủng tộc hay sao?
Lời đáp cho câu hỏi này không khó. Thực dân Anh da trắng đã không tạo ra một nền dân chủ sản xuất lương thực, có chữ viết và công nghệ ở Australia. Thay vì vậy, họ đã nhập khẩu tất cả các yếu tố đó từ bên ngoài Australia: gia súc, mọi loại cây trồng (ngoại trừ hạt macadamia), kiến thức về luyện kim, động cơ hơi nước, súng, bảng chữ cái, các thể chế chính trị, kể cả vi trùng nữa. Tất cả các thứ đó là sản phẩm cuối của 10.000 năm phát triển trong môi trường Âu-Á. Do ngẫu nhiên về địa lý, những kẻ thực dân đặt chân đến Sydney vào năm 1788 đã thừa hưởng các yếu tố đó. Người châu Âu chưa bao giờ học xem làm thế nào sống được ở Australia hay New Guinea nếu không có công nghệ thừa hưởng từ Âu-Á. Robert Burke và William Wills đủ thông minh để viết, nhưng không đủ thông minh để sống còn trong sa mạc Australia nơi thổ dân Australia vẫn sống tự bao đời.
Những người đã thực sự tạo ra một xã hội ở Australia là các thổ dân Australia. Dĩ nhiên, cái xã hội mà họ tạo ra không phải là một nền dân chủ sản xuất lương thực, có chữ viết và công nghệ. Nguyên nhân cho điều đó phát sinh trực tiếp từ các đặc tính của môi trường Australia.
Jared Diamond
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nguyễn Trọng Luân và Đi tìm thời gian đã mất… Trong “10 truyện ngắn hay năm 2020” (Phụ bản số Tết Tân Sửu Báo Văn Nghệ) nhà văn Nguyễn T...