Súng, vi trùng và thép 3
Phần 3: Từ lương thực đến súng, vi trùng và thép
Chương 12 - Bản gốc và những chữ cái vay mượn
Các tác giả thế kỷ mười chín có xu hướng lý giải lịch sử như
là sự hành tiến từ dã man đến văn minh. Những cột mốc chủ yếu trong quá trình
chuyển hóa này là sự phát triển nông nghiệp, nghề luyện kim, công nghệ tinh vi,
chính phủ tập trung hóa, và chữ viết. Trong số đó, chữ viết xưa nay vẫn được
coi là cột mốc có tính giới hạn nhất về địa lý: mãi đến khi đạo Hồi bành trướng
và người châu Âu bắt đầu đi chinh phục thuộc địa, chữ viết vẫn hoàn toàn vắng mặt
ở châu Úc, các đảo Thái Bình Dương, châu Phi hạ xích đạo và toàn bộ Tân Thế Giới
ngoại trừ một phần nhỏ Trung Mỹ. Do hậu quả việc chữ viết phân bố không đồng đều
đó, những kẻ tự hào là kẻ văn minh vẫn cho rằng chữ viết là sự khác biệt rõ
ràng nhất nâng họ lên vị trí cao hơn so với những lũ người “dã man” hay “mọi rợ”.Tri thức mang lại quyền lực. Thế nên chữ viết mang lại quyền
lực cho xã hội văn minh, bởi nhờ chữ viết mà tri thức có thể được truyền tải
chính xác hơn nhiều, với số lượng lớn hơn nhiều và chi tiết hơn nhiều, từ những
vùng xa xôi hơn và những thời đại xa xưa hơn. Dĩ nhiên, một số dân tộc (đặc biệt
người Inca) đã từng cai quản được cả một đế quốc mà không cần đến chữ viết, và
các dân tộc “văn minh” không phải bao giờ cũng đánh bại được các dân tộc “dã
man” – các đạo quân La Mã khi đương đầu với các tộc Hung nô đã học được bài học
đó. Nhưng việc người châu Âu chinh phục được châu Mỹ, Siberia và châu Úc đã
minh họa cho hệ quả điển hình của việc sở hữu chữ viết trong lịch sử.Chữ viết song hành cùng vũ khí, vi trùng và tổ chức chính trị
tập trung hóa như một trong các tác nhân chinh phục ở thời hiện đại. Mệnh lệnh
của các tu sĩ và thương gia, những kẻ tổ chức các đoàn tàu chinh phục thuộc địa,
đều được truyền đạt bằng chữ viết. Các đoàn tàu chinh phục thuộc địa xác định hải
trình nhờ các bản đồ và văn bản hướng dẫn đi biển đã được lập từ những chuyến
đi trước đó. Những báo cáo thành văn về các chuyến đi trước đó là tác nhân kích
thích cho những chuyến đi sau, bằng cách mô tả sự giàu có và những vùng đất màu
mỡ đang đợi người chinh phục. Những báo cáo đó cảnh báo cho các nhà du hành tiếp
bước về những khó khăn họ sẽ phải đối mặt và giúp họ chuẩn bị sẵn sàng. Các đế
quốc ra đời từ những chuyến đi này được cai quản nhờ chữ viết. Tuy toàn bộ các
loại thông tin kể trên cũng được truyền tải bằng những phương tiện khác trong
các xã hội chưa có chữ viết, song chữ viết giúp cho việc truyền tải đó dễ dàng
hơn, chi tiết hơn, chính xác hơn và giàu thuyết phục hơn.Nếu vậy thì tại sao chỉ một số dân tộc này chứ không phải những
dân tộc khác đã tạo ra chữ viết một khi nó đã có giá trị áp đảo như vậy? Chẳng
hạn, tại sao các xã hội săn bắt hái lượm truyền thống đã không phát minh ra hoặc
tiếp thu chữ viết? Cùng là đế quốc hải đảo như nhau, song tại sao chữ viết chỉ
phát sinh ở nền văn minh Minoa đảo Crete chứ không phải ở đảo Tonga thuộc
Polynesia? Chữ viết đã phát sinh bao nhiêu lần cách biệt nhau trong lịch sử
loài người, trong những hoàn cảnh nào, vì những mục đích nào? Trong các dân tộc
đã phát minh ra chữ viết, tại sao một số dân tộc làm việc đó sớm hơn nhiều so với
các dân tộc khác? Chẳng hạn, ngày nay hầu như tất cả người Nhật và người
Scandinavia đều biết đọc còn hầu hết người Iraq thì không, thế nhưng tại sao chữ
viết đã phát sinh ở chính Iraq gần bốn ngàn năm trước?Sự phân bố chữ viết từ các khu vực phát nguyên cũng dấy lên
những câu hỏi hệ trọng. Chẳng hạn, tại sao chữ viết bành trướng từ vùng Lưỡi liềm
Phì nhiêu sang Ethiopia và Arập nhưng lại không bành trướng từ vùng Andes đến
Mexico? Các hệ chữ viết đã bành trướng bằng cách được người ta sao chép, hay
các hệ chữ viết phát sinh sớm hơn đã kích thích các dân tộc láng giềng phát
minh ra hệ chữ viết của riêng họ? Giả sử ta được cho một hệ chữ viết rất thích
hợp với một ngôn ngữ, làm sao ta có thể phát minh một hệ chữ viết khác cho một
ngôn ngữ khác? Những câu hỏi tương tự nảy sinh bất cứ lúc nào ta cố hiểu nguồn
gốc và sự bành trướng của nhiều khía cạnh khác của văn hóa loài người chẳng hạn
như công nghệ, tôn giáo và sản xuất lương thực. Giới sử gia quan tâm đến vấn đề
chữ viết thì có lợi thế ở chỗ họ thường tìm được lời giải đáp chi tiết thông
qua chính các bản văn. Vì vậy chúng ta sẽ khảo sát sự phát triển của chữ viết,
không phải chỉ vì tầm quan trọng tự thân của chữ viết, mà còn bởi nó cho ta có
cái nhìn thấu đáo về lịch sử văn hóa nói chung.Các hệ chữ viết khác nhau ở chỗ mỗi ký hiệu được dùng để biểu
đạt một đơn vị lời nói lớn hay nhỏ. Có ba loại giải pháp: một là mỗi ký hiệu biểu
đạt một âm tiết cơ bản duy nhất, hai là biểu đạt trọn một âm tiết, ba là biểu đạt
trọn một từ. Trong số này, giải pháp được hầu hết các dân tộc sử dụng ngày nay
là bảng chữ cái ghi âm. Trong trường hợp lý tưởng, bảng chữ cái sử dụng một ký
hiệu đơn nhất (gọi là chữ cái) để ghi mỗi âm cơ bản của ngôn ngữ (gọi là âm vị).
Trên thực tế, hầu hết các bảng chữ cái chỉ gồm từ 20 đến 30 chữ cái, và hầu hết
các ngôn ngữ có số lượng âm vị nhiều hơn số chữ cái trong bảng chữ cái. Chẳng hạn,
tiếng Anh chỉ dùng 26 chữ cái để ký âm khoảng 40 âm vị. Do đó hầu hết các hệ chữ
viết dùng bảng chữ cái – trong đó có tiếng Anh – buộc phải gán nhiều âm vị khác
nhau cho cùng một chữ cái và biểu đạt một số âm vị bằng cách kết hợp nhiều chữ
cái, chẳng hạn các kết hợp gồm hai chữ cái sh và th trong tiếng Anh (mỗi âm vị
này trong tiếng Nga và tiếng Hy Lạp chỉ được biểu thị bằng một chữ cái).Giải pháp thứ hai sử dụng cái gọi là chữ biểu tự (logogram),
nghĩa là mỗi chữ viết biểu thị toàn bộ một từ. Đó là chức năng của nhiều ký tự
chữ Hán và là phần chủ yếu trong hệ chữ viết của tiếng Nhật (gọi là kanji). Trước
khi chữ viết bằng chữ cái ghi âm trở nên phổ biến, các hệ chữ viết dùng
logogram từng thông dụng hơn, bao gồm chữ tượng hình Ai Cập, chữ Maya và chữ
hình nêm của người Sumer.Giải pháp thứ ba, ít quen thuộc hơn với hầu hết độc giả cuốn
sách này, là sử dụng một ký tự cho từng âm tiết. Trên thực tế, hầu hết các hệ
chữ viết này (gọi là syllabary, hay chữ biểu vần) dùng từng ký hiệu riêng để
ghi từng âm tiết gồm một phụ âm theo sau là một nguyên âm (chẳng hạn như các âm
tiết trong từ family (gia đình): fa-mi-ly), và sử dụng nhiều thủ thuật khác
nhau để viết những loại âm tiết khác nhờ các ký hiệu này. Chữ biểu vần rất phổ
biến vào thời cổ đại, chẳng hạn Chữ kẻ vạch kiểu B (Linear B) của nền văn minh
Mycene thuộc Hy Lạp. Một số hệ chữ biểu vần vẫn tồn tại đến ngày nay, trong số
đó quan trọng nhất là chữ kana mà người Nhật vẫn dùng để đánh điện tín, bản kê
ngân hàng và văn bản cho người mù.Tôi đã chủ ý gọi ba cách nói trên là “giải pháp” chứ không phải
hệ chữ viết. Thật ra, không một hệ chữ viết nào chỉ thuần sử dụng một trong ba
giải pháp đó mà thôi. Chữ Hán không thuần là chữ biểu tự, chữ Anh không thuần
là chữ cái. Cũng như mọi hệ chữ viết dùng chữ cái ghi âm, tiếng Anh dùng nhiều
chữ biểu tự như các chữ số, các dấu $, % và + nghĩa là những ký tự võ đoán,
không tạo thành bởi các yếu tố ký âm mà đại diện cho toàn bộ một từ. Chữ “biểu
âm” kẻ vạch B thật ra có nhiều chữ biểu tự, còn các chữ “tượng hình” (tức biểu
tự, ND) Ai Cập có cả nhiều ký tự biểu vần cũng như hẳn một bộ chữ cái với từng
chữ riêng cho mỗi phụ âm.Phát minh một hệ chữ viết từ con số không ắt hẳn là việc khó
hơn vạn bội lần so với vay mượn và cải biên một hệ chữ viết có sẵn. Các thư lại
đầu tiên đã phải tranh cãi với nhau về những nguyên lý cơ bản mà ngày nay ta vẫn
coi là chuyện đương nhiên. Chẳng hạn, họ phải hình dung làm cách nào tách một
chuỗi phát âm liên tục thành từng đơn vị lời dù các đơn vị đó được coi là từ,
âm tiết hay âm vị. Họ phải học cách nhận ra cùng một âm hay đơn vị lời đó qua
toàn bộ các biến thể thông thường của chúng ta về âm lượng, ngữ điệu, tốc độ,
cách nhấn giọng, cách ngắt cụm từ, và những dị biệt trong cách phát âm của mỗi
người. Họ phải quyết định rằng hệ chữ viết nên bỏ qua tất cả những biến thể đó
hay không. Thế rồi họ phải phát minh ra những cách ghi các âm đó bằng biểu tượng.Bằng cách này hay cách khác, những thư lại đầu tiên đã giải
quyết được tất cả các vấn đề đó dù không có trong tay hệ một chữ viết hoàn chỉnh
nào làm ví dụ đặng hướng dẫn cho nỗ lực của mình. Nhiệm vụ đó rõ ràng là khó
khăn đến nỗi chỉ có vỏn vẹn dăm trường hợp trong lịch sử người ta tự phát minh
ra chữ viết từ chỗ chưa có gì. Hai trường hợp phát minh chữ viết hoàn toàn độc
lập mà ngày nay ta có bằng chứng chắc chắn là chữ viết của người Sumer vùng Lưỡng
hà vào khoảng trước năm 3.000 TCN và chữ viết của người Anh-điêng Mexico trước
năm 600 TCN (Hình 12.1); bên cạnh đó, chữ viết Ai Cập vào năm 3.000 TCN và chữ
viết Trung Hoa (trước 1.300 năm TCN) cũng có thể đã phát sinh độc lập. Có lẽ tất
cả các dân tộc khác từng tạo ra chữ viết từ sau đó trở đi đều đã vay mượn, cải
biên các hệ chữ viết khác hay ít nhất là được gợi ý nhờ các hệ chữ viết khác.Phát minh chữ viết độc lập mà chúng ta có thể truy nguyên một
cách chi tiết nhất chính là hệ chữ viết xưa nhất trong lịch sử, chữ hình nêm
Sumer (Hình 12.1). Hàng ngàn năm trước khi chữ viết này hình thành đầy đủ, người
dân ở một số làng mạc làm nông nghiệp ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã dùng những
vật bằng đất sét có nhiều hình dạng đơn giản khác nhau nhằm mục đích kế toán,
chẳng hạn như ghi nhận số cừu hay khối lượng hạt. Trong những thế kỷ cuối cùng
trước 3.000 năm TCN, những tiến triển trong kỹ thuật kế toán, dạng thức và ký
hiệu đã nhanh chóng dẫn tới hệ chữ viết đầu tiên. Một trong các cách tân như vậy
là sử dụng những tấm bảng phẳng bằng đất sét làm bề mặt viết chữ, rất tiện lợi.
Lúc đầu người ta dùng các dụng cụ vót nhọn để vạch chữ lên đất sét, về sau họ dần
dần chuyển sang dùng bút sậy để ấn những điểm rõ nét lên tấm bảng. Những cải tiến
về dạng thức bao gồm việc dần dần áp dụng những quy ước mà ngày nay cả thế giới
thừa nhận là cần thiết: rằng chữ viết cần phải được tổ chức thành từng hàng hay
từng cột theo quy củ (theo hàng ngang đối với người Sumer cũng như người châu
Âu ngày nay), rằng phải đọc các hàng theo một hướng nhất quán (từ trái sang phải
đối với người Sumer cũng như với người châu Âu ngày nay), và phải đọc các dòng
từ trên xuống dưới bảng chứ không phải ngược lại.
|
Nguồn độc lập hoặc có thể là độc lập |
Bảng chữ cái |
Khác |
|
|
1. Sumer |
9. Tây Semites, Phênixi |
5. Tiền Elamite |
|
|
2. Trung Mỹ |
10. Ethiopia |
7. Hittite |
|
|
3. Trung Hoa |
11. Triều Tiên (han’gul) |
8. Thung lũng Ấn hà |
|
|
4. Ai Cập |
13. Italy (La Mã, Etruscan) |
9. Đảo Phục Sinh |
|
|
|
14. Hy Lạp |
|
|
|
|
15. Ireland (ogham) |
|
|
|
|
Chữ biểu vần |
|
|
|
6. Crete (Chữ kẻ vạch A và B) |
|
|
|
|
12. Nhật Bản (kana) |
|
|
|
|
16. Cherokee |
|
|
Bắc Mỹ và Nam Mỹ thường được coi là hai châu lục riêng biệt,
nhưng thật ra chúng đã gắn liền với nhau suốt mấy triệu năm, có những vấn đề
tương tự nhau trong lịch sử và có thể cùng gộp chung làm một khi so sánh với lục
địa Âu-Á. Châu Mỹ là lục địa lớn thứ nhì trên thế giới, nhỏ hơn Âu-Á nhiều. Tuy
nhiên, châu Mỹ bị chia cắt về địa lý và sinh thái: eo Isthmus ở Panama, rộng vỏn
vẹn có 40 dặm (64 km, ND) bề ngang, gần như cắt rời châu Mỹ làm đôi về địa lý,
cũng như những cánh rừng mưa Darien ở eo đất này và sa mạc bắc Mexico về sinh
thái. Sa mạc này ngăn cách những xã hội loài người tiên tiến ở vùng Trung Mỹ khỏi
các xã hội loài người tiên tiến ở Bắc Mỹ, trong khi eo Isthmus ngăn cách các xã
hội tiên tiến của Trung Mỹ khỏi các xã hội tiên tiến ở vùng Andes và Amazonia.
Ngoài ta, trục chính của châu Mỹ là bắc-nam, buộc hầu hết [cây trồng, vật nuôi
và công nghệ] để phát tán thì phải vượt qua những vĩ độ (và vùng khí hậu) khác
nhau chứ không phải lan ra trên cùng một vĩ độ. Chẳng hạn, bánh xe được phát
minh ở Trung Mỹ còn lạc đà châu Mỹ (llama) được thuần hóa ở miền trung Andes từ
trước năm 3.000 TCN, nhưng mãi 5.000 năm sau, loài gia súc thồ hàng duy nhất và
những bánh xe duy nhất của châu Mỹ vẫn không thể gặp nhau mặc dù khoảng cách giữa
các xã hội Maya vùng Trung Mỹ với biên giới phía bắc của đế quốc Inca (1.200 dặm
hay hơn 1.900 km) là nhỏ hơn nhiều so với khoảng cách 6.000 dặm (9.600 km) ngăn
giữa nước Pháp và Trung Hoa, thế mà hai nước sau này vẫn có thể cùng có bánh xe
và cùng nuôi ngựa. Theo tôi, các yếu tố đó chính là nguyên nhân khiến công nghệ
ở châu Mỹ tụt hậu so với ở Âu-Á.
Châu Phi hạ Sahara là lục địa lớn thứ ba thế giới, nhỏ hơn
đáng kể so với châu Mỹ. Trong suốt lịch sử loài người, so với châu Mỹ thì châu
Phi là nơi dễ tiếp cận hơn nhiều đối với Âu-Á, thế nhưng sa mạc Sahara vẫn là một
rào cản sinh thái lớn ngăn cách châu Phi hạ Sahara ra khỏi Âu-Á cộng thêm Bắc
Phi. Trục bắc-nam của châu Phi lại là thêm một chướng ngại nữa cho sự phát tán
công nghệ cả giữa Âu-Á với châu Phi hạ Sahara lẫn trong chính phạm vi châu Phi
hạ Sahara. Minh họa cho chướng ngại thứ hai này là việc nghề luyện kim và nghề
đồ gốm đã phát sinh tại hoặc được du nhập vào vùng Sahel của châu Phi hạ Sahara
(phía bắc xích đạo) muộn nhất cũng là đồng thời với khi chúng du nhập vào Tây
Âu. Thế nhưng, mãi đến năm thứ 1 CN đồ gốm mới đến được mỏm cực nam của châu
Phi, còn ngành luyện kim thì đã không thể nào phát tán đến cực nam châu Phi bằng
đường bộ cho mãi đến khi nó được đưa đến đó bằng những con tàu của châu Âu.
Cuối cùng, Australia là lục địa nhỏ nhất. Lượng mưa và năng
suất rất thấp trên hầu hết Australia khiến cho lục địa này càng nhỏ bé hơn về
khả năng duy trì dân số loài người. Nó cũng là lục địa cô lập nhất. Ngoài ra, sản
xuất lương thực chưa từng bao giờ phát sinh độc lập ở Australia. Các nhân tố đó
hợp lại khiến cho Australia là lục địa duy nhất mà mãi đến thời hiện đại vẫn
không chế tác được vật gì bằng kim loại.
Bảng 13.1 chuyển các nhân tố nói trên thành số liệu, bằng
cách so sánh các lục địa với nhau về diện tích và dân số ngày nay. Dân số các lục
địa cách đây 10.000 năm, ngay trước khi phát sinh nền sản xuất lương thực,
chúng ta không thể biết chính xác, song nhất định là cũng theo đúng thứ tự này,
bởi nhiều khu vực đang sản xuất nhiều lương thực nhất ngày nay thì ắt cũng đã
là những khu vực năng sản nhất cho những người săn bắt hái lượm vào 10.000 năm
trước. Sự khác biệt về dân số giữa các lục địa thật là nổi bật: dân số của Âu-Á
(kể cả Bắc Phi) đông gần gấp 6 lần dân số châu Mỹ, gần gấp 8 lần dân số châu
Phi và gấp 230 lần dân số châu Úc. Dân số càng đông thì càng có nhiều nhà phát
minh và nhiều xã hội cạnh tranh. Bảng 13.1 tự nó đã là lời giải thích hùng hồn
về việc tại sao súng và thép đã ra đời ở chính lục địa Âu-Á.
Bảng 13.1: Dân số loài người trên các lục địa
|
Lục địa |
Dân số vào năm 1990 |
Diện tích (dặm vuông) |
|
Âu-Á và Bắc Phi |
4.120.000.000 |
24.200.000 |
|
(Âu-Á) |
(4.000.000.000) |
(21.500.000) |
|
(Bắc Phi) |
(120.000.000) |
(2.700.000) |
|
Bắc Mỹ và Nam Mỹ |
736.000.000 |
16.400.000 |
|
Châu Phi hạ Sahara |
535.000.000 |
9.100.000 |
|
Australia |
18.000.000 |
3.000.000 |
Tác động của sự khác biệt về diện tích, dân số, sự dễ dàng phát tán và thời điểm khởi đầu sản xuất lương thực giữa các lục địa đối với sự hình thành công nghệ lại càng rõ rệt hơn bởi vì, [như đã nói], công nghệ có tính tự xúc tác, [công nghệ này làm nảy sinh công nghệ khác]. Chính vì vậy, ưu thế ban đầu của Âu-Á thể hiện ở việc lục địa này đã đi trước các lục địa khác một quãng dài về công nghệ vào thời điểm năm 1492 – ấy là nhờ những nguyên nhân nằm ở sự khác biệt về địa lý, chứ không phải sự khác biệt về trí thông minh của con người. Trong số những người New Guinea mà tôi biết, có tiềm tàng những nhà phát minh tài ba. Nhưng họ hướng tài năng của họ vào những vấn đề công nghệ đặc thù cho hoàn cảnh của mình: làm cách nào để sống mà không có thứ đồ nhập cảng nào giữa thung lũng New Guinea, chứ không phải làm cách nào phát minh ra máy ảnh.
Phần 3: Từ lương thực đến súng, vi trùng và thép
Chương 14 - Từ chủ nghĩa bình quyền đến chính quyền ăn cướp
Hồi năm 1979, trong khi cùng vài người bạn là nhà truyền giáo
ngồi máy bay lượn trên một vùng đầm lầy ở New Guinea, tôi nhìn thấy vài túp lều
cách đó nhiều dặm. Viên phi công giải thích cho tôi biết rằng mới đây, ở nơi
nào đó giữa vùng đầm lầy mênh mông dưới kia, một nhóm thợ săn cá sấu người
Indonesia đã tình cờ chạm trán một nhóm dân du mục New Guinea. Cả hai nhóm đều
hoảng loạn, và cuộc đụng độ kết thúc bằng việc nhóm người Indonesia bắn chết mấy
người trong đám dân du mục.
Những người bạn truyền giáo của tôi đoán rằng toán dân du mục
kia thuộc một nhóm gọi là người Fayu chưa hề tiếp xúc với thế giới bên ngoài.
Người ta chỉ biết đến họ qua lời tường thuật của những người láng giềng vốn sợ
họ đến chết khiếp, ấy là nhóm du mục Kirikiri từng được tiếp xúc với các nhà
truyền giáo. Những tiếp xúc đầu tiên giữa người ngoài với các nhóm dân New
Guinea luôn ẩn chứa hiểm nguy, nhưng lần này thì đặc biệt lành ít dữ nhiều. Dẫu
vậy, anh bạn Doug của tôi vẫn dùng trực thăng bay vào gặp người Fayu, những
mong lập được quan hệ hữu hảo với họ. Cuối cùng anh cũng quay về, bình an vô sự
nhưng thần hồn nát thần tính, và anh kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện ly kỳ.
Hóa ra người Fayu sống thành từng gia đình rải rác khắp nơi
trên đầm lầy, mỗi năm chỉ gặp nhau một, hai lần để trao đổi cô dâu. Doug đến
thăm đúng vào một dịp người Fayu tụ tập nhau như vậy, khoảng vài chục người. Với
chúng ta, vài chục người chỉ là một cuộc tụ tập nhỏ, bình thường, nhưng với người
Fayu đó là một sự kiện hiếm có và đáng sợ. Những kẻ giết người bất ngờ chạm
trán với người thân của kẻ mình đã giết. Chẳng hạn, một người Fayu phát hiện ra
một người là kẻ giết cha mình. Người con trai vung rìu lên nhảy bổ vào kẻ sát
nhân nhưng lại bị mấy người bạn vật ngã xuống đất; thế rồi kẻ giết người cũng
xách rìu xông vào chàng trai lúc này đang nằm bất lực, nhưng chính y cũng bị
người ta quật xuống đất. Cả hai đều bị giữ chặt, cứ gào thét vì phẫn uất cho đến
khi kiệt sức không làm gì nổi nữa mới được buông ra. Những người khác luôn mồm
thóa mạ, lăng nhục nhau, run lên vì giận dữ và bực tức, tay cầm rìu chém sa sả
xuống đất. Sự căng thẳng đó kéo dài suốt mấy ngày tụ tập, trong khi Doug cứ vái
trời sao cho chuyến viếng thăm này đừng kết thúc trong bạo lực.
Người Fayu gồm khoảng 400 người săn bắt hái lượm, chia thành
bốn bầy người, lang thang trên một vùng rộng mấy trăm dặm vuông. Theo chính họ
kể thì trước kia họ từng có khoảng 2.000 người, nhưng dân số của họ đã giảm sút
đáng kể vì tình trạng người Fayu giết người Fayu. Họ thiếu những cơ chế chính
trị và xã hội mà chúng ta mặc nhiên coi như phải có nhằm đạt được giải pháp hòa
bình cho những cuộc tranh chấp nghiêm trọng. Cuối cùng, nhờ có chuyến viếng
thăm của Doug, một nhóm người Fayu cũng mời một cặp vợ chồng nhà truyền giáo đủ
gan đến sống với họ. Đến nay cặp vợ chồng truyền giáo đó đã sống cùng người
Fayu được mười hai năm và dần dần thuyết phục được họ từ bỏ bạo lực. Thế là người
Fayu được đưa ra tiếp xúc với thế giới hiện đại nơi họ đối mặt với một tương
lai bấp bênh.
Nhiều nhóm người New Guinea và người da đỏ Amazon chưa được
tiếp xúc trước đây cũng đã nhờ các nhà truyền giáo mới hòa hợp được vào xã hội
hiện đại. Theo chân các nhà truyền giáo là giáo viên, bác sĩ, quan chức và binh
lính. Như vậy, sự bành trướng của chính phủ và của tôn giáo có liên hệ mật thiết
với nhau trong suốt lịch sử thành văn, dù sự bành trướng đó là hòa bình (như với
người Fayu) hay bằng vũ lực. Trong trường hợp sau, thường thì chính phủ là kẻ tổ
chức chinh phạt, còn tôn giáo thì biện chính cho cuộc chinh phạt đó. Tuy đôi
khi người du mục và dân bộ lạc cũng đánh bại được chính phủ và tôn giáo vốn được
tổ chức tốt, song xu hướng chung trong suốt 13.000 năm qua là người du mục và
dân bộ lạc thường thua cuộc.
Vào cuối thời kỳ Băng hà, hầu hết cư dân trên thế giới đều sống
trong những xã hội tương tự như xã hội Fayu ngày nay, vào thời đó chẳng có ai sống
trong một xã hội nào phức tạp hơn so với xã hội đó. Mãi tới năm 1.500 CN, chỉ
chưa đầy 20% đất đai thế giới được phân ranh giới thành những quốc gia do quan
chức điều hành và được cầm trịch bằng luật pháp. Ngày nay, mọi châu lục trừ Nam
cực đều được phân chia như thế. Xã hội nào đạt tới trình độ chính quyền tập
trung hóa và tôn giáo có tổ chức sớm nhất thì hậu duệ của xã hội đó rốt cuộc
cũng là những người đang thống trị thế giới hiện đại. Vậy là, sự kết hợp giữa
chính phủ và tôn giáo, cùng với súng, chữ viết và công nghệ, đã có tác dụng như
một trong bốn nhóm tác nhân trực tiếp nhất dẫn tới mẫu hình phổ biến nhất của lịch
sử. Chính phủ và tôn giáo đã phát sinh như thế nào?
Các nhóm người Fayu và các quốc gia hiện đại là tiêu biểu cho
hai cực đối lập trong phổ hệ các xã hội loài người. Xã hội Hoa Kỳ hiện đại và
người Fayu khác nhau ở chỗ có hay không có lực lượng cảnh sát chuyên nghiệp, đô
thị, tiền tệ, sự phân biệt giàu nghèo và nhiều thiết chế chính trị, kinh tế và
xã hội khác. Liệu tất cả các thiết chế đó đã phát sinh đồng thời hay cái trước
cái sau? Lời đáp cho câu hỏi trên có thể suy ra bằng cách so sánh các xã hội hiện
đại ở nhiều cấp độ tổ chức khác nhau, bằng cách nghiên cứu các tư liệu thành
văn hoặc bằng chứng khảo cổ về các xã hội trong quá khứ, và bằng cách quan sát
xem một thiết chế xã hội thay đổi như thế nào qua thời gian.
Để mô tả sự đa dạng của các xã hội loài người, các nhà khảo cổ
học văn hóa thường chia chúng thành sáu loại hình. Mọi nỗ lực theo cách này hầu
khu biệt các giai đoạn trong bất kỳ chuỗi tiến hóa hoặc phát triển nào – dù là
phong cách âm nhạc, các giai đoạn của đời người hay xã hội loài người – đều rất
dễ rơi vào chỗ thiếu hoàn thiện. Trước hết, bởi vì mỗi giai đoạn đều nảy sinh từ
trong một giai đoạn trước đó, cho nên mọi tuyến phân giới đều không tránh khỏi
võ đoán. (Chẳng hạn, một người 19 tuổi là vị thành niên hay là thành niên trẻ
tuổi?) Thứ hai, các giai đoạn phát triển thường không phải bất biến, cho nên những
ví dụ mà người ta hay gán ghép cho cùng một giai đoạn đều thường cọc cạch,
không đồng nhất (chẳng hạn, Brahms và Liszt chắc phải đội mồ sống dậy nếu như
hai ông biết ngày nay người ta xếp hai ông vào cùng một thời kỳ lãng mạn). Tuy
nhiên, việc phân giới các giai đoạn một cách võ đoán vẫn có ích, bởi nhờ vậy ta
có một cái nhìn khái quát ngõ hầu có thể thảo luận về sự đa dạng của âm nhạc và
các xã hội loài người, miễn là ta luôn luôn ghi nhớ những hạn chế nói trên.
Trong tinh thần đó, ta sẽ dùng một cách phân loại đơn giản chỉ dựa trên bốn loại
hình: bầy người (band), bộ lạc (tribe), “tù trưởng quốc” (chiefdom) và quốc gia
(state) (xem Bảng 14.1) để hiểu các xã hội loài người.
Bảng 14.1. Các loài hình xã hội
|
|
Bầy người |
Bộ lạc |
Tù trưởng quốc |
Nhà nước |
|
Thành viên |
|
|
|
|
|
Số người |
Vài tá |
Vài trăm |
Vài ngàn |
Trên 50 ngàn |
|
Tập quán sinh sống |
Du cư |
Định cư: 1 làng |
Định cư: 1 làng hoặc hơn |
Định cư: nhiều làng và thành phố |
|
Quan hệ cơ bản |
Quan hệ huyết thống |
Các thị tộc dựa trên quan hệ huyết thống |
Giai cấp và nơi cư trú |
Giai cấp và nơi cư trú |
|
Số dân tộc và ngôn ngữ |
1 |
1 |
1 |
1 hoặc hơn |
|
Chính quyền |
|
|
|
|
|
Cơ chế lãnh đạo và ra quyết định |
“bình quyền” |
“bình quyền” hoặc có người chủ trì |
Tập trung hóa, cha truyền con nối |
Tập trung hóa |
|
Quan lại |
Không có |
Không có |
Không có, hoặc 1-2 cấp |
Nhiều cấp |
|
Độc quyền nắm giữ vũ lực và thông tin |
Không |
Không |
Có |
Có |
|
Giải quyết xung đột |
Không chính thức |
Không chính thức |
Tập trung hóa |
Luật pháp, toàn án |
|
Thứ bậc quyền lực |
Không |
Không |
Không -> làng chính |
Thủ đô |
|
Tôn giáo |
|
|
|
|
|
Biện minh cho chính quyền ăn cướp? |
Không |
không |
có |
Có -> không |
|
Kinh tế |
|
|
|
|
|
Sản xuất lương thực |
Không |
Không |
Có -> thâm canh |
Thâm canh |
|
Phân công lao động |
Không |
Không |
Không -> có |
có |
|
Trao đổi |
Qua lại |
Qua lại |
Phân phối lại (“cống vật”) |
Phân phối lại (“thuế”) |
|
Kiểm soát đất đai |
Bầy người |
Bộ lạc |
Tù trưởng |
Nhiều đối tượng |
|
Xã hội |
|
|
|
|
|
Phân tầng |
Không |
Không |
Có, theo huyết thống |
Có, không theo huyết thống |
|
Nô lệ |
Không |
Không |
Quy mô nhỏ |
Quy mô lớn |
|
Hàng hóa xa xỉ |
Không |
Không |
Có |
có |
|
Kiến trúc công cộng |
Không |
Không |
Không -> có |
có |
|
Chữ viết bản địa |
Không |
Không |
Không |
Thường có |
Bầy người là đơn vị xã hội nhỏ nhất, thường chỉ từ 5 đến 80
người, hầu hết có quan hệ gần gũi theo huyết thống hoặc hôn nhân. Trên thực tế,
bầy người là một gia đình mở rộng hay vài gia đình mở rộng có liên hệ với nhau.
Ngày nay, các bầy người sinh sống tự trị hầu như chỉ còn sót lại ở những vùng
xa xôi nhất của New Guinea và Amazonia, nhưng cũng trong thời hiện đại từng có
nhiều bầy người khác rơi vào sự kiểm soát của chính phủ, bị đồng hóa hoặc diệt
chủng cách đây không lâu. Đó là nhiều hay hầu hết các bầy người Pygmie châu
Phi, những người săn bắt hái lượm San ở Nam Phi (thường gọi là người Bushmen),
người châu Úc bản địa, người Eskimo (Inuit) và người châu Mỹ bản địa ở một số
khu vực nghèo tài nguyên ở châu Mỹ như Tierra del Fuego và các khu rừng khí hậu
lạnh ở phía Bắc. Tất cả các bầy người hiện đại này vẫn đang là hoặc đã từng là
người săn bắt hái lượm du cư chứ không phải người sản xuất lương thực định cư.
Có lẽ toàn bộ nhân loại đã từng sống theo bầy người ít nhất là cho đến 40.000
năm trước, và mãi đến 11.000 năm trước hầu hết nhân loại vẫn còn sống thành bầy
người.
Các bầy người không có nhiều thiết chế mà chúng ta thường cho
là không thiếu được trong xã hội ngày nay. Họ không có nơi thường trú duy nhất.
Đất đai của bầy người được toàn bộ quần thể sử dụng chung, chứ không được chia
cho từng nhóm nhỏ hoặc cá nhân. Không có sự phân công kinh tế thường trực, ngoại
trừ phân công theo lứa tuổi và giới tính: tất cả những ai có sức đều phải tìm
kiếm cái ăn. Không có những thiết chế chính thức như luật pháp, cảnh sát và những
khế ước nhằm giải quyết xung đột trong nội bộ bầy và giữa các bầy. Tổ chức bầy
người thường được miêu tả là “bình đẳng”: không có sự phân tầng xã hội chính thức
thành lớp thượng lưu và lớp hạ lưu, không có chức vị cầm quyền chính thức hoặc
cha truyền con nối, không có sự độc quyền nắm thông tin và độc quyền ra quyết định.
Tuy nhiên, “bình đẳng” ở đây không nên hiểu là mọi thành viên trong bầy đều
bình đẳng về uy tín và đều góp phần như nhau vào việc đưa ra quyết định. Đúng
hơn, “bình đẳng” chỉ có nghĩa là mọi vai trò “lãnh đạo” trong bầy đều là không
chính thức và chỉ ai có những phẩm chất như nhân cách, sức khỏe, trí thông minh
và khả năng chiến đấu thì mới có thể làm lãnh đạo.
Tôi đã thu thập được kinh nghiệm về bầy người từ khi còn ở
vùng đất thấp lắm đầm lầy ở New Guinea nơi người Fayu sinh sống, một vùng được
gọi là Bình nguyên Hồ. Ở đó tôi vẫn còn gặp những gia đình mở rộng chỉ gồm dăm
người lớn cùng với con cái và người già kèm theo, sống trong những túp lều thô
sơ dọc theo dòng nước, đi lại bằng ghe hoặc đi bộ. Tại sao cư dân Bình nguyên Hồ
vẫn tiếp tục sống như những bầy người du cư trong khi hầu hết những dân tộc New
Guinea khác và hầu hết các dân tộc khác trên khắp thế giới ngày nay đều sống
thành những quần thể định cư lớn? Lý do là ở chỗ vùng này thiếu những nguồn tài
nguyên địa phương tập trung cho phép nhiều người có thể sống cùng nhau, và (cho
đến khi các nhà truyền giáo đưa các loại cây trồng vào) vùng này cũng thiếu những
loại cây bản địa khả dĩ cho phép canh tác với năng suất cao. Lương thực chính của
các bầy người vùng này là cây cọ sago, lõi cây cho một thứ bột cứng như hồ khi
cây đến tuổi trưởng thành. Các bầy người này sống du cư bởi một khi đã cắt hết
cây sago trưởng thành ở một vùng thì họ phải đi nơi khác. Số lượng người trong
bầy người luôn luôn ít ỏi là vì dịch bệnh (nhất là sốt rét), thiếu nguyên liệu
thô trong đầm lầy (kể cả đá để làm công cụ cũng phải trao đổi mới có), và bởi
vùng đầm lầy chỉ có thể cho con người một lượng lương thực hạn chế. Những hạn
chế tương tự đối với các nguồn tài nguyên mà công nghệ hiện nay có thể tiếp cận
cũng tồn tại cả ở những vùng trên thế giới nơi mới đây thôi còn do các bầy người
khác chiếm cứ.
Các loài vật gần gũi chúng ta nhất là hắc tinh tinh, khỉ đột
và đười ươi châu Phi (bonobo) cũng sống theo bầy. Toàn thể loài người hẳn cũng
từng sống theo bầy, cho tới khi công nghệ tìm kiếm lương thực được cải tiến cho
phép một số người săn bắt hái lượm có thể định cư ở một số khu vực giàu tài
nguyên. Bầy người là tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội mà chúng ta thừa hưởng
từ lịch sử tiến hóa hàng triệu năm của nhân loại. Mọi sự phát triển của chúng
ta sau giai đoạn bầy người chỉ diễn ra trong vòng vài vạn năm trở lại đây.
Giai đoạn đầu tiên tiếp theo bầy người được gọi là bộ lạc.
Khác với bầy người, bộ lạc có quy mô lớn hơn (thường vài trăm người chứ không
phải chỉ vài chục người) và thường có nơi cư trú cố định. Tuy nhiên, một số bộ
lạc, thậm chí một số tù trưởng quốc cũng bao gồm những người chăn nuôi di chuyển
theo mùa.
Tiêu biểu cho tổ chức bộ lạc là những cư dân vùng cao ở New
Guinea. Đơn vị chính trị của những người này trước khi xuất hiện chính quyền
thuộc địa là làng hoặc một cụm làng có quan hệ mật thiết với nhau. Định nghĩa
chính trị này về “bộ lạc” thường nhỏ hơn nhiều so với cái mà các nhà ngôn ngữ học
và nhân chủng học hàm ý khi định nghĩa về bộ lạc, cụ thể là một nhóm người cùng
chung ngôn ngữ và văn hóa. Chẳng hạn, vào năm 1964 tôi bắt đầu làm việc giữa một
nhóm dân vùng cao gọi là người Foré. Theo tiêu chí ngôn ngữ và văn hóa thì khi
đó có 120.000 người Foré, nói hai phương ngữ khác nhau nhưng có thể hiểu nhau
và sống trong 65 làng, mỗi làng khoảng vài trăm người. Nhưng chẳng có sự thống
nhất chính trị nào giữa các làng thuộc nhóm ngôn ngữ Foré cả. Mỗi làng đều dính
vào một thứ chiến tranh kiểu kính vạn hoa, thay đổi liên minh xoành xoạch với tất
cả các làng lân cận bất kể là người Foré hay những người nói tiếng khác.
Các bộ lạc – mới đây còn độc lập song hiện nay đều phụ thuộc
vào chính phủ quốc gia ở nhiều mức độ khác nhau – vẫn còn chiếm lĩnh hầu hết
New Guinea, Melanesia và Amazonia. Tổ chức bộ lạc tương tự trong quá khứ được
suy ra từ bằng chứng khảo cổ về các vùng định cư của họ – các bằng chứng này
thì vững chắc, nhưng ta lại thiếu dấu ấn khảo cổ về các tù trưởng quốc mà tôi sẽ
giải thích dưới đây. Bằng chứng này gợi ý rằng tổ chức bộ lạc đã nảy sinh vào
khoảng 13.000 năm trước ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và muộn hơn ở một số khu vực
khác. Một điều kiện tiên quyết để có thể định cư là hoặc phải sản xuất lương thực
hoặc phải có một môi trường năng sản, với những tài nguyên đặc biệt tập trung để
có thể săn bắt và hái lượm trong một khu vực nhỏ. Chính vì vậy mà việc định cư,
suy ra là bộ lạc, đã bắt đầu nảy nở tại vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu vào đúng thời
gian đó, khi sự kết hợp giữa thay đổi khí hậu và công nghệ cải tiến đã cho phép
người ta thu hoạch ngũ cốc hoang dã với số lượng lớn.
Bộ lạc khác với bầy người không chỉ ở chỗ sống định cư và số
người đông, mà còn ở chỗ bộ lạc bao gồm vài nhóm có liên hệ huyết thống với
nhau được thừa nhận chính thức có tên gọi là thị tộc, các thị tộc này thường
trao đổi cô dâu chú rể với nhau. Đất đai thuộc một thị tộc nhất định chứ không
phải thuộc toàn thể bộ lạc. Tuy nhiên, số người trong một bộ lạc vẫn còn đủ ít
để ai cũng biết nhau theo họ tên và quan hệ thân tộc.
Ngay cả đối với những loại quần thể người khác, “vài trăm” vẫn
có vẻ là ngưỡng tối đa đối với quy mô của quần thể để tất cả mọi người trong quần
thể đều biết nhau. Chẳng hạn, trong xã hội nhà nước của chúng ta, một hiệu trưởng
trung học có thể biết tên tất cả học sinh trường mình nếu chỉ có vài trăm em,
song không thể nhớ hết tên học sinh nếu có đến vài ngàn em. Một lý do khiến tổ
chức chính phủ của con người có xu hướng chuyển hóa từ bộ lạc sang tù trưởng quốc
ở những xã hội có đông hơn vài trăm thành viên là ở chỗ: quần thể càng đông người
thì vấn đề hóc búa là giải quyết tranh chấp giữa những người xa lạ càng trở nên
gay gắt. Một thực tế nữa càng làm giảm thiểu những rắc rối tiềm tàng trong việc
giải quyết tranh chấp trong bộ lạc là hầu như ai cũng có liên hệ với nhau, theo
huyết thống hoặc theo hôn nhân hoặc cả hai. Những mối dây mơ rễ má này ràng buộc
mọi thành viên bộ lạc với nhau, khiến cho cảnh sát, luật pháp và các thiết chế
giải quyết xung đột khác của một xã hội lớn hơn trở nên không cần thiết, bởi bất
cứ hai dân làng nào xung đột với nhau cũng đều có chung nhiều người thân, những
người thân này sẽ gây áp lực lên họ hoặc ngăn không cho họ dùng bạo lực. Trong
xã hội New Guinea truyền thống, nếu một người New Guinea tình cờ gặp một người
New Guinea không quen biết khi cả hai đang ở xa làng mình, cả hai sẽ trao đổi hồi
lâu về họ hàng thân thích của mỗi bên nhằm cố xây dựng một mối quan hệ thân tộc
giữa nhau, từ đó mà có lý do để không nên giết hại lẫn nhau.
Dẫu có nhiều khác biệt như vậy song giữa bầy người và bộ lạc
vẫn có những điểm chung. Bộ lạc vẫn có một hệ thống chính quyền không chính thức,
“bình đẳng”. Tất cả mọi người đều tham gia vào việc nắm thông tin và ra quyết định.
Ở vùng cao New Guinea, tôi đã quan sát nhiều cuộc họp làng mà ở đó tất cả người
lớn trong làng đều có mặt, ngồi trên mặt đất, từng người một phát biểu, chẳng
có vẻ gì là có một người “chủ trì” cuộc thảo luận. Nhiều làng vùng cao cũng có
một người đóng vai trò “thủ lĩnh”, ấy là người đàn ông có ảnh hưởng nhất trong
làng. Nhưng vị “thủ lĩnh” này không hề có trụ sở làm việc chính thức và chỉ có
quyền lực hạn chế. Thủ lĩnh không có quyền quyết định độc lập, không biết tới
những bí quyết ngoại giao, và chẳng làm được gì hơn ngoài chuyện cố gắng lèo
lái quyết định của cộng đồng. Các thủ lĩnh có được vị thế này nhờ phẩm chất cá
nhân; chức vụ này không được cha truyền con nối.
Bộ lạc còn có một nét chung nữa với bầy người, đó là hệ thống
xã hội “bình đẳng”, không có sự phân chia thành dòng tộc cao thấp hoặc thành
giai cấp. Không chỉ chức vụ không được cha truyền con nối, mà không một thành
viên nào trong một bộ lạc hay bầy người truyền thống có thể trở thành giàu có
hơn hẳn những người khác bằng nỗ lực của chính mình, bởi vì mỗi cá nhân đều có
những món nợ và nghĩa vụ đối với nhiều người khác. Vì vậy nếu chỉ nhìn bề ngoài
thì người ngoài không thể đoán được ai trong số những người đàn ông trưởng
thành của một làng là thủ lĩnh, bởi ông ta cũng sống trong một loại căn lều như
thế, mặc cũng những quần áo ấy, đeo cũng những thứ trang sức ấy, hoặc cũng trần
trùng trục như bất cứ ai.
Cũng như bầy người, bộ lạc không có tầng lớp quan chức, lực
lượng cảnh sát, không có thuế má. Kinh tế của họ dựa trên sự trao đổi qua lại
giữa các cá nhân hay gia đình, chứ không phải là phân phối lại các vật phẩm cống
nạp cho một chính quyền trung ương. Việc chuyên môn hóa kinh tế rất ít ỏi:
không có những thợ thủ công chuyên nghiệp chỉ sống bằng nghề; tất cả người lớn
trong độ tuổi lao động (kể cả thủ lĩnh) đều tham gia trồng trọt, hái lượm hay
săn bắt. Tôi nhớ có lần khi đang đi qua một khu vườn ở quần đảo Solomon, tôi thấy
một người đàn ông đang cuốc đất vẫy vẫy tôi đằng xa; tôi rất ngạc nhiên nhận ra
đó là một người bạn tôi tên là Faletau. Ông là thợ khắc gỗ lừng danh nhất ở quần
đảo Solomon, một nghệ sĩ có tài năng xuất chúng – nhưng dẫu vậy đi nữa ông cũng
cứ phải tự cuốc đất trồng khoai lấy. Bởi các bộ lạc thiếu sự chuyên môn hóa
trong kinh tế như vậy nên họ cũng không có nô lệ, bởi không có công việc chân
tay chuyên môn hóa nào để nô lệ làm.
Cũng như khái niệm “nhà soạn nhạc thời cổ điển” hàm ý từ
C.P.E. Bach tới Schubert và do đó có thể bao hàm những nhạc sĩ rất khác nhau
như nhạc sĩ baroque và nhạc sĩ lãng mạn, các bộ lạc ở một cực đối lập thì gần với
bầy người, ở cực khác thì giống các tù trưởng quốc. Đặc biệt, vai trò của vị thủ
lĩnh trong bộ lạc trong việc chia thịt những con lợn được giết để tế lễ rất gần
với vai trò của tù trưởng trong việc tập trung và tái phân phối lương thực cùng
hàng hóa – mà lúc này đã được tái thể chế hóa dưới hình thức cống vật – trong
các tù trưởng quốc. Tương tự, việc có hay không có những kiến trúc công cộng vốn
được cho là một trong những yếu tố phân biệt bộ lạc với tù trưởng quốc, song những
làng lớn ở New Guinea thường có những căn nhà thờ phụng (được gọi là haus
tamburan trên sông Sepik) là tiền thân của đền thờ ở các tù trưởng quốc.
Tuy một vài bầy người và bộ lạc vẫn còn sống sót đến ngày nay
ở những vùng đất xa xôi cằn cỗi ngoài tầm kiểm soát của nhà nước, song tù trưởng
quốc thì cho tới đầu thế kỷ hai mươi đã biến mất hoàn toàn, bởi chúng có khuynh
hướng chiếm giữ những vùng đất ngon lành mà các quốc gia thường thèm khát.
Nhưng, vào năm 1492 CN, các tù trưởng quốc vẫn còn phổ biến khắp vùng đông Hoa
Kỳ ngày nay, ở những vùng đất năng sản tại Nam Mỹ và Trung Mỹ, cũng như châu
Phi hạ Sahara mà lúc đó chưa rơi vào tay các quốc gia trong vùng, và ở toàn bộ
quần đảo Polynesia. Bằng chứng khảo cổ được đề cập dưới đây gợi ý rằng các tù
trưởng quốc đã phát sinh vào khoảng 5.500 năm TCN tại vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu
và vào khoảng 1.000 năm TCN ở Trung Mỹ và vùng Andes. Ta hãy xét những điểm đặc
thù của tù trưởng quốc, vốn rất khác biệt với các nhà nước hiện đại ở châu Âu
và châu Mỹ đồng thời cũng rất khác với xã hội bầy người và xã hội bộ lạc giản
đơn.
Về quy mô dân số, tù trưởng quốc lớn hơn nhiều so với bộ lạc,
từ vài ngàn tới vài chục ngàn dân. Quy mô đó tạo nên nguy cơ tiềm tàng nghiêm
trọng đối với xung đột nội bộ bởi vì, đối với một người sống trong tù trưởng quốc,
đại đa số những người khác trong tù trưởng quốc không có liên hệ gì với họ về
huyết thống hay hôn nhân, và họ cũng chẳng hề biết tên biết tuổi. Với sự nảy
sinh các tù trưởng quốc vào khoảng 7.500 năm trước, lần đầu tiên trong lịch sử
người ta đã phải học cách gặp gỡ những người lạ một cách thường xuyên mà không
tìm cách giết người ta.
Một phần giải pháp cho vấn đề đó là phải dành cho một người
duy nhất, tức tù trưởng, có đặc quyền sử dụng quyền lực. Trái với thủ lĩnh bộ lạc,
tù trưởng có nơi làm việc chính thức, chức vụ này được cha truyền con nối. Thay
vì tình trạng vô chính phủ phi tập trung tại cuộc họp làng, tù trưởng là cơ
quan chính quyền thường trực, tập trung, đưa ra mọi quyết định quan trọng và độc
quyền nắm giữ những thông tin then chốt (chẳng hạn như tù trưởng nước láng giềng
đang đích thân hăm dọa điều gì, hoặc chư thần đã hứa sẽ ban cho vụ mùa ra sao).
Khác với thủ lĩnh, tù trưởng có thể nhận ra từ xa bởi những nét đặc trưng dễ thấy,
chẳng hạn một cái quạt to đeo sau lưng trên đảo Rennell ở Tây Nam Thái Bình
Dương. Thường dân khi gặp tù trưởng thì phải làm một số động tác nghi thức để tỏ
lòng tôn kính, chẳng hạn cúi rạp mình xuống (như ở Hawaii). Các mệnh lệnh của
tù trưởng có thể được truyền đạt thông qua một, hai cấp quan chức, trong số đó
nhiều người bản thân cũng là tù trưởng cấp thấp. Tuy nhiên, trái với quan chức ở
xã hội nhà nước, quan chức trong tù trưởng quốc chỉ có vai trò chung chung chứ
không chuyên biệt. Tại Hawaii thuộc Polynesia, cũng các quan chức đó (gọi là
konohiki) vừa thu cống vật vừa trông coi kênh mương, lại vừa tổ chức “lao động
công ích” cho tù trưởng, trong khi xã hội nhà nước thì có những chức quan
riêng, người chuyên thu thuế, người chuyên về thủy lợi đê điều, kẻ chuyên về
nghĩa vụ quân sự.
Bởi dân số của tù trưởng quốc khá đông nhưng lại sống trên một
địa bàn hẹp nên cần có nhiều lương thực – trong hầu hết trường hợp là sản xuất
lương thực, trong một ít trường hợp là săn bắt hái lượm ở những vùng đặc biệt
trù phú. Chẳng hạn, người châu Mỹ bản địa ở vùng Tây Bắc Hoa kỳ dọc bờ Thái
Bình Dương như Kwakiutl, Nootka hay Tlingit từng sinh sống trong những làng do
tù trưởng cai quản, hoàn toàn không trồng trọt hay chăn nuôi bởi vì sông và biển
nơi họ sinh sống có rất nhiều cá hồi và cá halibut. Khoản thặng dư lương thực
do một số người bị giáng xuống hàng thường dân sản xuất ra được dùng để nuôi tù
trưởng, gia đình tù trưởng, quan lại và các thợ thủ công chuyên sản xuất canô,
rìu hay ống nhổ hay những người chuyên làm nghề bắt chim, xăm mình.
Hàng hóa xa xỉ – gồm các sản phẩm thủ công chuyên nghiệp hoặc
sản vật quý hiếm nhờ trao đổi đường dài mới có – đều được dành cho tù trưởng.
Chẳng hạn, các tù trưởng Hawaii có áo choàng bằng lông chim, một số trong đó gồm
tới hàng vạn chiếc lông và phải mất nhiều thế hệ mới chế tác được (dĩ nhiên là
do những thợ làm áo choàng trong đám thường dân). Việc tập trung các món đồ xa
xỉ như vậy trong di tích khảo cổ thường giúp ta nhận biết được các tù trưởng quốc,
bởi một số ngôi mộ (của tù trưởng) chứa nhiều đồ vật đắt giá hơn những mộ khác
(của thường dân), ngược lại với mộ táng theo kiểu “bình đẳng” trong những giai
đoạn sớm hơn của lịch sử loài người. Một số tù trưởng quốc cổ xưa đạt trình độ
phức tạp còn có thể phân biệt với làng bộ lạc ở chỗ chúng còn để lại di tích là
những công trình kiến trúc công cộng tinh vi (chẳng hạn như đền thờ) và có những
điểm định cư được phân theo thứ bậc, trong đó có một khu (nơi ở của tù trưởng lớn
nhất) rộng hơn thấy rõ và có nhiều công trình hành chính cũng như vật phẩm chế
tác hơn ở những nơi khác.
Cũng như bộ lạc, tù trưởng quốc bao gồm nhiều dòng dõi cha
truyền con nối sống ở cùng một khu. Tuy vậy, trong khi các dòng dõi ở bộ lạc đều
là những gia tộc bình đẳng với nhau thì ở tù trưởng quốc, mọi thành viên của
dòng dõi tù trưởng đều được hưởng những đặc quyền có tính gia truyền. Trên thực
tế, xã hội tù trưởng quốc chia ra thành tù trưởng cha truyền con nối và các tầng
lớp thường dân, trong đó bản thân các tù trưởng Hawaii cũng lại chia ra thành
những dòng tộc cha truyền con nối có phân chia thứ bậc, mỗi dòng tộc chỉ được
cưới xin trong phạm vi dòng tộc đó mà thôi. Không những thế, do đã là tù trưởng
thì phải có người hầu cận cũng như nhiều thợ thủ công chuyên nghiệp, cho nên tù
trưởng quốc khác với bộ lạc ở chỗ có nhiều công việc mà nô lệ có thể làm, nô lệ
thì thường bị bắt trong những cuộc tấn công càn quét.
Đặc tính nổi bật nhất về kinh tế của tù trưởng quốc là người
ta không còn chỉ dựa trên sự trao đổi qua lại vốn đặc thù cho bầy người và bộ lạc,
có nghĩa là A cho B một vật và chờ đợi rằng vào một thời điểm nào đó chưa xác định
trong tương lai B cũng sẽ cho lại A một vật có giá trị tương đương. Chúng ta,
cư dân các nhà nước của ngày nay, cũng thích những hành vi như tặng quà cho
nhau vào những dịp sinh nhật và lễ lạc, song hầu hết các vật phẩm mà ta có được
đều là qua hình thức mua bán bằng tiền theo luật cung cầu. Còn các tù trưởng quốc,
tuy vẫn tiếp tục duy trì hình thức trao đổi qua lại chứ không có thị trường hay
tiền tệ, vẫn phát triển một hệ thống bổ sung gọi là hệ thống tái phân phối. Một
ví dụ đơn giản là mỗi khi đến kỳ thu hoạch mỗi nhà nông trong tù trưởng quốc đều
nộp lúa mì cho tù trưởng, sau đó tù trưởng tổ chức một bữa tiệc linh đình cho tất
cả mọi người và thết đãi bánh mì, nếu không thì sẽ trữ bánh mì lại, chờ đến những
tháng giữa hai mùa thu hoạch thì dần dần phát lại cho dân. Khi một phần lớn
hàng hóa nhận được từ thường dân không được phân phối lại cho dân mà được dòng
tộc của tù trưởng cũng như các thợ thủ công giữ lại để tiêu thụ thì sản vật tái
phân phối trở thành vật cống nạp vốn là tiền thân của thuế, xuất hiện đầu tiên ở
các tù trưởng quốc. Tù trưởng yêu cầu thường dân không chỉ nộp các phẩm vật mà
còn phải làm việc cho các công trình công cộng, mà các công trình này xét cho
cùng lại có lợi cho thường dân (chẳng hạn như các hệ thống tưới tiêu giúp tăng
sản lượng lương thực nuôi mọi người) song cũng có thể chỉ có lợi cho tù trưởng
(chẳng hạn như xây lăng mộ nguy nga).
Nãy giờ chúng ta nói về tù trưởng quốc một cách chung chung,
cứ như mọi tù trưởng quốc đều y như nhau. Trên thực tế, các tù trưởng quốc khác
nhau đáng kể. Những tù trưởng quốc lớn hơn thì thường có những tù trưởng hùng mạnh
hơn, dòng dõi tù trưởng có nhiều tôn ti thứ bậc hơn, sự khác biệt giữa tù trưởng
và thường dân lớn hơn, tù trưởng thu cống vật nhiều hơn, có nhiều tầng lớp quan
lại hơn, và những công trình công cộng to hơn. Chẳng hạn, các xã hội trên những
hòn đảo Polynesia nhỏ bé thì gần với xã hội bộ lạc hơn, chỉ khác mỗi chuyện là
chức tù trưởng được cha truyền con nối. Lều của tù trưởng trông cũng như bất cứ
lều nào, không có quan lại cũng chẳng có những công trình công cộng, tù trưởng
phân phối lại hầu hết các phẩm vật cho người dân, và đất thuộc quyền kiểm soát
của cả cộng đồng. Nhưng trên những hòn đảo lớn nhất của Polynesia như Hawaii,
Tahiti và Tonga, chỉ cần liếc qua đồ trang sức là có thể nhận ra ai là tù trưởng,
những công trình công cộng được xây nên bằng lao động của số đông, hầu hết cống
vật đều được tù trưởng giữ lại, và tất cả đất đai đều do tù trưởng cai quản. Mức
độ phân chia thành tôn ti thứ bậc thường thấp hơn ở các xã hội mà đơn vị chính
trị là một làng tự trị duy nhất, và cao hơn ở các xã hội bao gồm một số làng
liên hiệp lại với nhau trong đó làng lớn nhất với vị tù trưởng lớn nhất cai quản
các làng nhỏ hơn, mỗi làng nhỏ này lại có một vị tù trưởng nhỏ.
Đến giờ hẳn ta đã thấy, tù trưởng quốc đã đặt ra cái nan đề
cơ bản đối với bất cứ xã hội nào theo chế độ cai quản tập trung và phi quân
bình chủ nghĩa. Nếu tốt đẹp, các xã hội đó có thể cung cấp cho người dân những
dịch vụ rẻ tiền mà nếu từng cá nhân thì không thể nào kham được. Còn trong trường
hợp xấu nhất, chính quyền ở các xã hội đó vận hành như những lũ cướp ngày không
biết xấu hổ là gì, chỉ chăm chăm lùa của cải từ thường dân sang tầng lớp thượng
lưu. Chức năng cao quý đó [của các chính phủ] gắn bó không rời với chức năng vị
kỷ, mặc dù một số chính phủ nhấn mạnh chức năng này hơn chức năng kia. Sự khác
biệt giữa một kẻ cầm quyền chuyên vơ vét với một nhà lãnh đạo đầy thông tuệ, giữa
một nhà quý tộc cướp ngày với một nhà cầm quyền chuyên làm điều lợi cho dân chỉ
là một bước: vấn đề chỉ là giới cầm quyền giữ lại bao nhiêu phần trăm cống vật
thu của người sản xuất, và thường dân có hài lòng về cách thức phân phối lại những
cống vật mà họ đã nộp cho chính phủ hay không. Chúng ta coi Tổng thống Mobutu của
Zaire là một nhà cầm quyền kẻ cướp bởi ông ta giữ lại quá nhiều cống vật (tương
đương hàng tỷ đô la) mà phân phối lại quá ít (dưới thời ông ta ở Zaire không hề
có hệ thống điện thoại nào). Chúng ta coi Georges Washington là một lãnh tụ quốc
gia [chân chính] vì ông chi tiền thuế vào những chương trình đáng khâm phục chứ
không lợi dụng ghế tổng thống để làm giàu. Nhưng dẫu sao, Georges Washington
cũng sinh ra trong sự giàu sang, mà sự giàu sang ở Hoa Kỳ thì được tái phân phối
một cách ít công bằng hơn nhiều so với ở các làng New Guinea.
Đối với bất cứ xã hội có đẳng cấp nào, dẫu tù trưởng quốc hay
nhà nước, người ta đều phải đặt câu hỏi: tại sao thường dân lại để yên cho kẻ
khác chuyển cái thành quả từ mồ hôi nước mắt của mình vào tay bọn cầm quyền ăn
cướp? Câu hỏi này các nhà lý thuyết chính trị từ Plato đến Marx đều đã đặt ra,
song ngay đến ngày nay vẫn được cử tri đặt ra như một câu hỏi mới trong bất kỳ
cuộc tuyển cử nào. Những chính phủ ăn cướp thì ít được quần chúng ủng hộ và sẽ
có nguy cơ bị lật đổ vì thường dân bị áp bức hoặc những [thế lực] mới nổi có khả
năng thay thế kẻ cầm quyền, những giới này hứa hẹn sẽ dành một tỷ lệ cao hơn từ
những vật phẩm ăn cướp được để tái phân phối vào những công trình dân dụng. Chẳng
hạn, lịch sử Hawaii thường xuyên có những cuộc nổi dậy chống những tù trưởng
tham lam bạo ngược, các cuộc nổi dậy đó thường là do những người trẻ tuổi hứa hẹn
[với dân thường] là [họ nếu lên cầm quyền thì sẽ] ít áp bức hơn. Điều này thoạt
nghe có vẻ nực cười đối với chúng ta trong bối cảnh lịch sử Hawaii, song ta hãy
nhớ lại rằng những cuộc đấu tranh tương tự vậy vẫn đang tiếp tục gây bao thống
khổ trong thế giới ngày nay.
Thiểu số cầm quyền nên làm gì để được dân chúng ủng hộ mà bản
thân vẫn được sống đàng hoàng sung túc hơn so với thường dân? Kẻ cầm quyền, thời
nào cũng vậy, thường áp dụng kết hợp bốn giải pháp sau:
Không cho dân thường mang vũ khí, chỉ thiểu số cầm quyền mới
được mang vũ khí. Việc đó dễ dàng hơn nhiều trong thời đại ngày nay khi vũ khí
kỹ thuật cao chỉ được sản xuất bởi dăm nhà máy và dễ dàng chỉ nằm trong tay thiểu
số cầm quyền, so với ngày xưa khi vũ khí là lao và dùi cui mà dân thường ai
cũng có thể tự chế ra ở nhà mình.
Làm cho quần chúng hài lòng bằng cách phân phối lại hầu hết cống
vật thu được, bằng những cách hợp lòng dân. Nguyên lý này có giá trị đối với
các tù trưởng Hawaii cũng như với các chính trị gia Hoa Kỳ ngày nay.
Dùng sự độc quyền về sức mạnh để bảo đảm hạnh phúc [của người
dân], bằng cách duy trì trật tự cộng đồng và kiềm chế bạo lực. Đây có lẽ là một
ưu thế lớn – song chưa được hiểu đúng – của các xã hội tập trung hóa so với các
xã hội phi tập trung. Trước đây các nhà nhân chủng học thường lý tưởng hóa các
xã hội bầy người và bộ lạc, xem đó là những xã hội hiền lành không bạo lực, bởi
các nhà nhân chủng học khi đến sống giữa một bầy người gồm 25 người đã không hề
thấy một vụ giết người nào trong suốt ba năm nghiên cứu. Dĩ nhiên là họ không
thể thấy được rồi: chẳng khó gì tính ra rằng một bầy người gồm một tá người lớn
và một tá trẻ con – mà dù thế nào thì cũng không tránh khỏi chết vì những
nguyên nhân thông thường ngoài việc giết người – ắt sẽ không thể tồn tại nếu
ngoài những nguyên nhân đó ra cứ ba năm một lần một trong số một tá người lớn
đó lại giết một người khác. Nếu nghiên cứu dài hạn hơn và sâu rộng hơn nhiều về
các xã hội bầy người và bộ lạc, ta sẽ nhận ra rằng giết người là một trong các
nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Chẳng hạn, có lần tôi đến thăm dân tộc Iyau ở
New Guinea tình cờ đúng lúc một nhà nữ nhân chủng học đang phỏng vấn các phụ nữ
Iyau về chuyện đời của họ. Hết người này đến người khác, các phụ nữ này mỗi khi
được yêu cầu cho biết tên chồng mình đều kể ra một loạt mấy ông chồng mà tất cả
đều chết những cái chết đầy bạo lực. Một câu trả lời tiêu biểu là thế này: “Ông
chồng đầu tiên của tôi bị những người Elopi đột kích giết chết. Chồng thứ hai của
tôi bị giết bởi một người thèm muốn tôi, người đó sau trở thành chồng thứ ba của
tôi. Ông chồng này bị em trai ông chồng thứ hai của tôi giết chết để trả thù
cho anh”. Những câu chuyện đó là bình thường như cơm bữa đối với cái gọi là những
dân bộ lạc hiền lành và là một phần lý do khiến người ta chấp nhận hình thức
chính quyền tập trung khi xã hội bộ lạc ngày một lớn hơn.
Cách còn lại để các nhà cầm quyền giành được sự ủng hộ của quần
chúng là xây dựng một ý thức hệ hoặc một tôn giáo nhằm biện minh cho chính quyền.
Các bầy người và bộ lạc vốn dĩ đã có những tín ngưỡng siêu nhiên, cũng như các
thiết chế tôn giáo hiện đại. Song các tín ngưỡng siêu nhiên của bầy người và bộ
lạc không nhằm biện chính cho chính quyền trung ương, biện chính cho sự chuyển
giao của cải hoặc duy trì hòa bình giữa các cá nhân không có liên hệ [về huyết
thống]. Khi tín ngưỡng siêu nhiên mang lấy những chức năng đó và trở nên thể chế
hóa, chúng biến thành cái mà chúng ta gọi là tôn giáo. Các tù trưởng Hawaii là
tiêu biểu cho các tù trưởng hoặc nhà cầm quyền ở bất cứ nơi nào khác trong việc
tự nhận mình là thần linh, hậu duệ của thần linh hay ít nhất là trung gian liên
lạc với thần linh. Tù trưởng tuyên bố mình phụng sự nhân dân bằng cách làm
trung gian giữa họ với thần linh và đọc thần chú cầu mưa, mong cây trồng tươi tốt
và đánh cá được mùa.
Đặc trưng của tù trưởng quốc là có một ý thức hệ, tiền thân của
tôn giáo được thể chế hóa, nhằm củng cố thêm chính quyền của tù trưởng. Tù trưởng
có thể là sự kết hợp nhà lãnh đạo chính trị với nhà tư tế trong cùng một con
người, hoặc hỗ trợ một nhóm nhà tư tế riêng biệt, chức năng của nhóm này là biện
chính cho tù trưởng về phương diện ý thức hệ. Chính vì vậy các tù trưởng quốc mới
dành riêng nhiều phần cống vật thu được từ dân đến vậy vào việc xây dựng đền
đài và các công trình công cộng khác vốn được dùng làm trung tâm tôn giáo chính
thức và dấu hiệu nhãn tiền về quyền lực của tù trưởng.
Ngoài việc biện chính cho sự chuyển giao của cải cho giới cầm
quyền, các tôn giáo được thể chế hóa còn mang lại hai cái lợi quan trọng khác
cho các xã hội tập trung. Thứ nhất, nhờ có một ý thức hệ hay tôn giáo chung mà
người ta giải quyết được vấn đề làm sao những cá nhân không có liên hệ gì với
nhau có thể cùng chung sống mà không giết hại nhau – bằng cách khiến hai người
gắn bó với nhau bởi một mối liên hệ không dựa trên dòng máu. Thứ hai, nó cho
người ta có một động cơ – ngoài động cơ tư lợi mang tính di truyền – để hy sinh
mạng sống mình vì người khác. Bằng cái giá một ít thành viên của xã hội chết
trên chiến trường như những chiến binh, toàn xã hội trở nên hữu hiệu hơn nhiều
trong việc chinh phục các xã hội khác hay kháng cự những trước cuộc tấn công [của
kẻ thù].
Các thể chế chính trị, kinh tế và xã hội quen thuộc nhất với
chúng ta ngày nay là thể chế nhà nước mà hiện nay đang thống trị trên toàn bộ đất
liền của thế giới trừ châu Nam cực. Nhiều nhà nước cổ đại và tất cả các nhà nước
hiện đại đều có tầng lớp cầm quyền có học thức, nhiều nhà nước hiện đại còn có
cả quần chúng có học thức. Các nhà nước đã biến mất thường để lại những dấu ấn
khảo cổ dễ nhận ra, chẳng hạn di tích những đền đài có thiết kế được tiêu chuẩn
hóa, ít nhất bốn cấp độ quy mô định cư, và những phong cách đồ gốm trải rộng
trên hàng vạn dặm vuông. Nhờ vậy ta biết rằng nhà nước đã nảy sinh vào khoảng
3.700 năm TCN ở vùng Lưỡng Hà và khoảng 300 năm TCN ở Trung Mỹ, trên 2.000 năm
trước ở vùng Andes, Trung Hoa và Đông Nam Á, trên 1.000 năm trước ở Tây Phi.
Vào thời hiện đại người ta vẫn thường xuyên chứng kiến những nhà nước hình
thành từ tù trưởng quốc. Nhờ đó ta nắm được nhiều thông tin về các nhà nước
trong quá khứ và quá trình hình thành chúng, nhiều hơn gấp bội so với thông tin
về các tù trưởng quốc, bộ lạc và bầy người trong quá khứ.
Các nhà nước sơ khai vẫn giữ nhiều đặc điểm của những tù trưởng
quốc lớn (gồm nhiều bộ lạc). Chúng tiếp tục tăng trưởng về quy mô từ bầy người
đến bộ lạc rồi đến tù trưởng quốc. Trong khi dân số của tù trưởng quốc thường từ
dăm ngàn cho tới ít vạn người thì dân số của hầu hết nhà nước hiện đại vượt quá
một triệu người, Trung Hoa đến những hơn một tỷ. Vị trí của tù trưởng lớn nhất
có thể trở thành thủ đô của nhà nước. Các trung tâm dân cư khác của nhà nước
ngoài thủ đô ra cũng có thể là những thành phố thật sự, điều này không có ở tù
trưởng quốc. Thành phố khác với làng ở chỗ có những công trình công cộng đồ sộ,
cung điện của nhà cầm quyền, có sự tích lũy của cải từ cống vật hoặc thuế, và tập
trung những người làm các công việc khác ngoài sản xuất lương thực.
Các nhà nước buổi đầu thường có một nhà lãnh đạo cha truyền
con nối với danh vị tương đương với vua, giống như một tù trưởng tối cao và thậm
chí càng độc chiếm hơn về quyền nắm giữ thông tin, quyền ra quyết định và quyền
cai trị. Ngay cả trong những nền dân chủ ngày nay, chỉ một ít cá nhân mới có thể
tiếp nhận những tri thức cốt yếu, kiểm soát dòng thông tin chuyển đến những người
còn lại trong chính phủ và do đó kiểm soát quá trình ra quyết định. Chẳng hạn,
trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba hồi năm 1962, lúc đầu Tổng thống Kennedy chỉ
cho phép một ủy ban chấp hành gồm mười người thuộc Hội đồng An ninh quốc gia do
chính ông bổ nhiệm được tiếp cận thông tin và tham gia những cuộc thảo luận có
vai trò quyết định liệu cuộc chiến hạt nhân có nhấn chìm nửa tỉ người hay
không; khi cần ra những quyết định cuối cùng, ông thu hẹp lại chỉ còn một nhóm
gồm bốn thành viên trong đó có chính ông và ba vị bộ trưởng nội các.
Việc kiểm soát từ trung ương có ảnh hưởng sâu xa hơn và sự
tái phân phối kinh tế dưới dạng cống vật (nay được đổi tên thành thuế) là rộng
rãi hơn ở nhà nước so với ở tù trưởng quốc. Sự chuyên môn hóa trong kinh tế là
cực đoan hơn, cho đến độ ngày nay thậm chí nông dân cũng không còn tự cấp tự
túc được nữa. Vì vậy cho nên khi chính phủ nhà nước bị sụp đổ thì tác động đối
với xã hội thật là tai hại, như đã xảy ra tại Anh khi quân đội, chính quyền và
đồng tiền La Mã bị loại bỏ trong khoảng từ năm 407 đến năm 411. Ngay cả những
nhà nước Lưỡng Hà xưa nhất cũng từng áp dụng phương thức kiểm soát tập trung đối
với nền kinh tế của mình. Lương thực của họ được sản xuất bởi bốn nhóm chuyên
môn hóa (nông dân chuyên trồng ngũ cốc, người chăn nuôi, người đánh cá và người
trồng vườn), nhà nước thu sản phẩm của từng nhóm rồi phân phát cho từng nhóm
các nhu yếu phẩm, công cụ và những lương thực khác (không phải thứ mà nhóm đó sản
xuất ra). Nhà nước cung cấp hạt giống và súc vật kéo cày cho nông dân trồng ngũ
cốc, lấy len từ người chăn nuôi, trao đổi len thông qua buôn bán đường dài để lấy
kim loại và các nguyên liệu cần thiết khác, và trả cho các nhân công có nhiệm vụ
duy trì hệ thống tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp bằng khẩu phần lương thực.
Nhiều, có thể là hầu hết các nhà nước cổ xưa sử dụng nô lệ
trên quy mô lớn hơn nhiều so với các tù trưởng quốc. Đó chẳng phải vì các tù
trưởng quốc đối xử tử tế hơn với những kẻ thù bại trận, mà là bởi các nhà nước
có sự chuyên môn hóa cao hơn trong kinh tế, có nền sản xuất đại trà hơn và nhiều
công trình công cộng hơn, nên có nhiều đất để dùng lao động nô lệ hơn. Ngoài
ra, vì chiến tranh ở cấp độ nhà nước có quy mô lớn hơn nên tù binh cũng nhiều
hơn.
Tù trưởng quốc chỉ có một hoặc hai cấp chính quyền, nhưng lên
đến nhà nước thì con số đó tăng lên gấp bội, điều đó bất cứ ai từng thấy sơ đồ
tổ chức một chính phủ đều hiểu rõ. Cùng với sự nhân bội các cấp chính quyền
theo hàng dọc, lại cũng có sự chuyên môn hóa theo hàng ngang. Thay vì những
konohiki thực hiện đủ thứ công việc hành chính cho một quận ở Hawaii, các chính
phủ nhà nước có hẳn nhiều bộ riêng biệt, mỗi bộ có cấu trúc tôn ti thứ bậc
riêng, phụ trách từng lĩnh vực như quản lý nước, thu thuế, quân dịch, vân vân.
Ngay cả những nhà nước nhỏ cũng có hệ thống quan chức phức tạp hơn so với những
tù trưởng quốc lớn. Chẳng hạn, nhà nước Maradi ở Tây Phi có chính quyền tập
trung gồm trên 130 phòng ban có chức danh.
Việc giải quyết xung đột nội bộ trong các nhà nước ngày càng
được chính thức hóa bởi luật pháp, tòa án và cảnh sát. Luật thường được viết
thành văn bản, bởi nhiều nhà nước (trừ những trường hợp ngoại lệ dễ thấy như
nhà nước Inca) có những giới tinh hoa có học thức, chữ viết đã phát triển hầu
như cùng lúc với sự hình thành các nhà nước xưa nhất ở cả Lưỡng Hà lẫn Trung Mỹ.
Ngược lại, không một tù trưởng quốc xưa nào chưa đạt đến giai đoạn chuyển sang
nhà nước mà lại từng phát minh ra chữ viết.
Các nhà nước đầu tiên có tôn giáo nhà nước và những đền đài
được chuẩn hóa. Nhiều vị vua đầu tiên được coi là thần thánh và được đối xử đặc
biệt với không biết bao nhiêu tôn kính. Chẳng hạn, các hoàng đế Aztec và Inca
đi đâu cũng được khênh trên kiệu; những người hầu vừa đi trước kiệu của hoàng đế
Inca vừa quét cho mặt đất sạch bong; và tiếng Nhật có những dạng đặc biệt của đại
từ thứ hai ngôi số ít chỉ dùng khi xưng hô với nhà vua. Bản thân các vị vua đầu
tiên là vị giáo chủ của tôn giáo nhà nước, không thì cũng có những vị tư tế cao
cấp của riêng mình. Đền thờ Lưỡng Hà không chỉ là trung tâm tôn giáo mà còn là
trung tâm tái phân phối kinh tế, trung tâm chữ viết và trung tâm thủ công nghệ.
Tất cả những đặc tính đó của nhà nước đều đưa đến mức cực
đoan những bước phát triển từng dẫn bộ lạc tiến lên tù trưởng quốc. Dẫu vậy,
bên cạnh đó các nhà nước vẫn khác biệt với tù trưởng quốc theo một số hướng mới.
Khác biệt cơ bản nhất trong số này là nhà nước được tổ chức trên phương châm
chính trị và lãnh thổ, chứ không phải trên phương châm quan hệ huyết thống như
bầy người, bộ lạc và tù trưởng quốc giản đơn. Hơn nữa, bầy người và bộ lạc thì
luôn luôn – còn tù trưởng quốc thì thường – bao gồm chỉ một nhóm dân tộc và
ngôn ngữ duy nhất. Thế nhưng nhà nước – đặc biệt là những cái gọi là đế quốc
hình thành bằng cách hợp nhất hoặc chinh phục nhiều nhà nước – thường là đa dân
tộc và đa ngôn ngữ. Quan lại nhà nước thường được chọn không phải chủ yếu dựa
trên quan hệ thân tộc như ở tù trưởng quốc, mà là những người chuyên môn được lựa
chọn ít nhất cũng một phần trên cơ sở đào tạo và năng lực. Ở các nhà nước về
sau, kể cả hầu hết các nhà nước ngày nay, vị trí lãnh đạo thường không phải cha
truyền con nối, và nhiều nhà nước đã từ bỏ toàn bộ hệ thống giai cấp chính thức
cha truyền con nối thừa hưởng từ thời tù trưởng quốc.
Trong suốt 13.000 năm qua trong lịch sử loài người, xu hướng
chủ đạo là những đơn vị nhỏ hơn, ít phức tạp hơn bị thay thế bằng những đơn vị
lớn hơn, phức tạp hơn. Hiển nhiên, đó chẳng qua là một xu hướng dài hạn trung
bình, bởi có vô số những sự chuyển dịch từ hướng này sang hướng nọ và ngược lại:
cứ 1.000 trường hợp hợp nhất thì lại có 999 trường hợp phân liệt. Đọc báo chúng
ta cũng biết rằng những đơn vị lớn (chẳng hạn như Liên Xô cũ, Nam Tư và Tiệp Khắc)
có thể phân liệt thành những đơn vị nhỏ hơn, cũng như đế quốc của Alexander Đại
đế hơn 2.000 năm trước. Những đơn vị phức tạp hơn không phải bao giờ cũng chinh
phục được những đơn vị kém phức tạp hơn, mà ngược lại còn có thể không địch nổi
chúng, như khi đế quốc La Mã bị các tù trưởng quốc “dã man” xâu xé còn đế quốc
Trung Hoa thì bị tù trưởng quốc Mông Cổ xâm lăng. Song xu hướng dài hạn vẫn là
tiến dần tới những xã hội lớn và phức tạp mà đỉnh cao là nhà nước.
Cũng hiển nhiên là, sở dĩ các nhà nước có thể chiến thắng những
đơn vị xã hội đơn giản hơn khi hai bên đụng độ nhau là do các nhà nước thường
có ưu thế về vũ khí và các công nghệ khác, và ưu thế rất lớn về dân số. Nhưng
còn có hai ưu thế tiềm tàng khác nữa gắn liền với tù trưởng quốc và nhà nước.
Thứ nhất, khi quyền ra quyết định chỉ tập trung ở một người, người đó có ưu thế
là có thể huy động quân đội và nguồn lực. Thứ hai, các tôn giáo chính thức và
nhiệt tình ái quốc của nhiều nhà nước khiến cho quân đội của họ chiến đấu quên
mình.
Ở các nhà nước hiện đại ngày nay, cái nhiệt tình chiến đấu
quên mình vì nước đó được nhà trường, tôn giáo và chính phủ lập trình sẵn cho
công dân chúng ta một cách mạnh mẽ đến mức chúng ta quên mất rằng nó đã là một
bước ngoặt cơ bản đến thế nào trong lịch sử loài người trước đây. Mỗi nhà nước
đều có những khẩu hiệu riêng nhằm thôi thúc công dân sẵn sàng chết nếu cần vì
nhà nước: “Vì Nhà vua và Đất nước” như của Anh, “Vì Thượng đế và Tây Ban Nha
(Por Dios y España)” của Tây Ban Nha, vân vân. Những tình cảm tương tự cũng từng
kích động những chiến binh Aztec hồi thế kỷ XVI: “Không có gì sánh được với cái
chết trong chiến trận, không gì sánh được cái chết nở hoa xiết bao quý báu với
Người [vị thần quốc hồn quốc túy Huitzilopochtli của người Inca] kẻ ban sự sống:
tôi nhìn thấy nó ở xa kia, tim tôi mong mỏi nó!”
Những tình cảm đó không thể có được ở bầy người và bộ lạc.
Các bạn New Guinea của tôi từng kể cho tôi nhiều câu chuyện về những cuộc chiến
tranh bộ lạc trước kia của họ, trong những câu chuyện đó không một lần nào họ
nhắc tới lòng ái quốc kiểu bộ lạc, nhiệm vụ cảm tử hay bất cứ hành vi quân sự
nào khác mà dù biết mình có thể mất mạng người ta vẫn sẵn sàng thực hiện. Thay
vì vậy, các cuộc tấn công thường khởi đầu bằng cách phục kích hoặc bằng lực lượng
vượt trội, sao cho hạn chế bằng mọi giá cái rủi ro mình có thể mất mạng vì bộ lạc
của mình. Song chính thái độ đó đã làm hạn chế nghiêm trọng các lựa chọn quân sự
của bộ lạc so với các xã hội nhà nước. Lẽ tự nhiên, cái khiến cho những kẻ cuồng
tín ái quốc và cuồng tín tôn giáo trở thành những đối thủ nguy hiểm đến vậy
không phải là cái chết của bản thân kẻ cuồng tín, mà là việc họ sẵn sàng chấp
nhận hy sinh tính mạng của nhiều người trong số họ để tiêu diệt hay đè bẹp kẻ
thù. Chủ nghĩa cuồng tín trong chiến tranh, kiểu đã khiến người Thiên chúa giáo
và người Hồi giáo tiến hành những cuộc chinh phục được ghi trong sử sách, có lẽ
mãi đến khi tù trưởng quốc và nhất là nhà nước xuất hiện trong vòng 6.000 năm
trở lại đây thì nó mới xuất hiện trên Trái đất.
Bằng cách nào các xã hội nhỏ, phi tập trung hóa, dựa trên cơ
sở thân tộc đã tiến hóa thành những xã hội lớn, tập trung hóa mà trong đó hầu hết
thành viên không có quan hệ họ hàng gần gũi với nhau? Sau khi khảo sát các giai
đoạn trong sự chuyển hóa từ bầy người lên nhà nước, giờ chúng ta đặt ra câu hỏi:
cái gì đã thúc đẩy các xã hội tự chuyển hóa mình như vậy?
Ở nhiều thời điểm trong lịch sử, các nhà nước đã phát sinh một
cách độc lập – hoặc, như các nhà nhân chủng học văn hóa nói, một cách “nguyên
thủy”, nghĩa là không hề có nhà nước nào khác tồn tại từ trước ở xung quanh
chúng. Nhà nước nguyên thủy phát sinh ít nhất một lần, cũng có thể nhiều lần, ở
tất cả các lục địa ngoại trừ Australia và Bắc Mỹ. Các nhà nước tiền sử bao gồm
các nhà nước ở Lưỡng Hà, Bắc Trung Hoa, thung lũng sông Nile và sông Ấn, Trung
Mỹ, vùng Andes và Tây Phi. Các nhà nước bản địa có tiếp xúc với các nhà nước
châu Âu đã nhiều lần phát sinh từ tù trưởng quốc trong vòng ba thế kỷ gần đây
nhất ở Madagascar, Hawaii, Tahiti và nhiều vùng của châu Phi. Các tù trưởng quốc
phát sinh nguyên thủy thậm chí còn thường gặp hơn, ở tất cả các khu vực kể trên
và còn ở cả vùng Đông Nam và Tây Bắc của Bắc Mỹ, vùng Amazon, Polynesia và châu
Phi hạ Sahara. Tất cả các nguồn phát sinh xã hội phức tạp nói trên cho ta một
cơ sở dữ liệu phong phú nhằm thấu hiểu sự phát triển của các xã hội đó.
Trong số nhiều lý thuyết hòng lý giải vấn đề nguồn gốc của
nhà nước, lý thuyết đơn giản nhất cho rằng hoàn toàn chẳng có vấn đề gì cần phải
lý giải hết. Aristotle cho rằng nhà nước là điều kiện tự nhiên của xã hội loài
người, không cần phải lý giải gì cả. Sai lầm của ông có thể hiểu được, bởi vì hẳn
tất cả những xã hội mà ông biết – các xã hội Hy Lạp vào thế kỷ thứ tư trước
Công nguyên – thảy đều là nhà nước cả. Tuy nhiên, ngày nay ta biết rằng vào năm
1492, hầu hết thế giới vẫn còn được tổ chức thành tù trưởng quốc, bộ lạc hay bầy
người. Việc hình thành nhà nước thực sự cần được giải thích.
Lý thuyết kế tiếp là lý thuyết quen thuộc nhất. Triết gia
Pháp Jean-Jacques Rousseau cho rằng nhà nước được hình thành bởi một khế ước xã
hội, một quyết định duy lý đạt được khi người ta đã tính toán lợi ích của bản
thân mình, thỏa thuận với nhau rằng nếu ở trong một nhà nước thì tốt hơn là ở
các xã hội giản đơn hơn, và tự nguyện từ bỏ các xã hội giản đơn hơn của họ. Thế
nhưng, người ta chưa hề thấy và cứ liệu lịch sử cũng chưa hề ghi nhận được dù
chỉ một trường hợp duy nhất khi nhà nước được hình thành trong bầu không khí
thanh cao với sự nhìn xa trông rộng không bận chút tư lợi đó. Các đơn vị nhỏ
hơn không hề tự nguyện từ bỏ chủ quyền của mình đặng hợp nhất thành đơn vị lớn
hơn. Chúng chỉ hợp nhất khi bị [kẻ khác] chinh phục hoặc vì sức ép từ bên ngoài
mà thôi.
Một lý thuyết thứ ba, vẫn còn phổ biến đối với vài sử gia và
nhà kinh tế học, xuất phát từ sự kiện hiển nhiên rằng ở cả Lưỡng Hà lẫn Bắc
Trung Hoa và Mexico, những hệ thống tưới tiêu quy mô lớn đã bắt đầu được xây dựng
vào cùng khoảng thời gian khi các nhà nước bắt đầu xuất hiện. Lý thuyết này
cũng lưu ý rằng bất cứ hệ thống tưới tiêu hay quản lý nguồn nước nào mà lớn và
phức tạp thì đều đòi hỏi phải có chính quyền tập trung để xây dựng và duy trì
nó. Như vậy là lý thuyết này biến một sự tương quan thuần túy về thời gian quan
sát được thành một chuỗi nhân quả được mặc nhiên coi là đúng. Người ta đặt giả
thiết rằng, người Lưỡng Hà, người Bắc Trung Hoa và người Mexico đã tiên liệu được
rằng một hệ thống tưới tiêu quy mô lớn sẽ đem lại cho họ những thuận lợi nào, mặc
dù vào thời điểm đó không hề có một hệ thống nào như vậy ở quanh họ trong vòng
vài ngàn dặm (hay thậm chí ở bất cứ đâu trên Trái đất) để minh họa cho họ thấy
những thuận lợi ấy. Những con người nhìn xa trông rộng đó đã quyết định hợp nhất
những tù trưởng quốc bé nhỏ kém hữu hiệu của mình lại thành một nhà nước lớn
hơn có khả năng ban cho họ cái hệ thống tưới tiêu quy mô lớn đó.
Tuy nhiên, cái “lý thuyết thủy lực” này về sự hình thành nhà
nước lại cũng bị phản bác chẳng kém gì các lý thuyết về khế ước xã hội nói
chung. Cụ thể hơn, nó chỉ lý giải giai đoạn cuối cùng trong sự tiến hóa của các
xã hội phức tạp. Nó không nói năng gì về chuyện cái gì đã khiến bầy người tiến
hóa thành bộ lạc rồi thành tù trưởng quốc trong suốt hàng bao nhiêu ngàn năm
trước khi người ta nhìn thấy viễn cảnh hệ thống tưới tiêu quy mô lớn. Khi các
niên đại lịch sử hoặc khảo cổ được khảo sát chi tiết, chúng không thể hỗ trợ
cho quan điểm cho rằng hệ thống tưới tiêu là động lực chủ đạo cho sự hình thành
nhà nước. Ở Lưỡng Hà, Bắc Trung Hoa, Mexico và Madagascar, những hệ tưới tiêu
quy mô nhỏ đã tồn tại từ trước khi xuất hiện nhà nước. Sự xây dựng các hệ thống
tưới tiêu quy mô lớn không đi kèm với sự xuất hiện các nhà nước, mà chỉ diễn ra
mãi lâu về sau ở từng khu vực kể trên. Ở hầu hết các nhà nước hình thành trên
khu vực Maya của Trung Mỹ và vùng Andes, các hệ thống tưới tiêu luôn luôn là những
hệ thống quy mô nhỏ mà các cộng đồng địa phương có thể tự mình xây dựng và duy
trì được. Như vậy, ngay cả ở những khu vực nơi các hệ thống quản lý nguồn nước
phức tạp đã ra đời, chúng vẫn chỉ là hệ quả thứ yếu của các nhà nước vốn đã được
hình thành do những nguyên nhân khác.
Tôi thì cho rằng, về sự hình thành nhà nước, có một cách nhìn
nhận có nhiều khả năng đúng, ấy là một sự kiện hiển nhiên có căn cứ vững hơn
nhiều so với sự tương quan đơn thuần [về mặt thời gian] giữa hệ thống tưới tiêu
với sự hình thành một vài nhà nước – cụ thể là, quy mô dân số của từng khu vực
mới là chỉ báo hùng hồn nhất về sự phức tạp về xã hội. Như ta đã thấy, các bầy
người chỉ có vài tá cá thể, bộ lạc chỉ có vài trăm, tù trưởng quốc có từ vài
ngàn tới vài vạn, còn nhà nước thường có khoảng trên 50.000 người. Ngoài sự
tương quan thuần túy đó giữa quy mô dân số từng khu vực với loại hình xã hội (bầy
người, bộ lạc, v.v.) của khu vực đó, còn một xu hướng khó thấy hơn bên trong mỗi
loại hình trên, giữa dân số với độ phức tạp về xã hội: chẳng hạn, tù trưởng quốc
nào có dân số đông hơn thường cũng là tù trưởng quốc tập trung hóa hơn, phân
chia giai cấp hơn và phức tạp hơn.
Những sự tương quan đó gợi ý mạnh mẽ rằng quy mô dân số khu vực
hay mật độ dân số hay sức ép dân số quả thật có liên quan thế nào đó với sự
hình thành các xã hội phức tạp. Song bản thân những sự tương quan đó không thể
cho ta biết chính xác rằng biến tố dân số có tác động thế nào đến chuỗi nhân quả
mà kết quả sau cùng là một xã hội phức tạp. Để truy cho ra chuỗi nhân quả đó,
ta hãy cùng nhớ lại xem bản thân dân số đông và mật độ cao đã phát sinh như thế
nào. Có cơ sở ấy rồi, cuối cùng ta sẽ quay lại câu hỏi: Bằng cách nào một xã hội
giản đơn đã thực sự trở thành một xã hội phức tạp hơn khi dân số ở khu vực đó
tăng lên.
Ta đã thấy rằng dân số đông hoặc dân cư mật độ cao chỉ phát
sinh trong điều kiện sản xuất lương thực, hay ít nhất là trong điều kiện tự
nhiên đặc biệt thuận lợi cho săn bắt hái lượm. Một số xã hội săn bắt hái lượm
có năng suất cao cũng đã đạt tới trình độ tổ chức tù trưởng quốc, song không một
xã hội nào trong số đó đạt tới trình độ nhà nước; mọi nhà nước đều phải nhờ sản
xuất lương thực mới nuôi sống được công dân mình. Mấy điểm cần suy nghĩ đó,
cùng với mối tương quan giữa quy mô dân số khu vực và độ phức tạp xã hội mà ta
vừa nhắc tới trên đây, đã dẫn tới một cuộc tranh luận dài dòng kiểu “con gà và
quả trứng cái nào có trước” về mối quan hệ nhân quả giữa sản xuất lương thực,
biến tố dân số và độ phức tạp xã hội. Có phải sản xuất lương thực thâm canh là
nguyên nhân kích thích tăng trưởng dân số và bằng cách nào đó dẫn đến một xã hội
phức tạp? Hay ngược lại, chính dân số đông và xã hội phức tạp mới là nguyên
nhân dẫn đến thâm canh sản xuất lương thực?
Đặt câu hỏi theo lối hoặc thế này hoặc thế kia như vậy là
không đúng vấn đề. Sản xuất lương thực thâm canh và độ phức tạp kích thích lẫn
nhau, theo kiểu tự xúc tác. Nghĩa là, tăng trưởng dân số dẫn tới độ phức tạp xã
hội, theo những cơ chế mà ta sẽ bàn tới sau đây, trong khi độ phức tạp xã hội đến
lượt mình lại dẫn tới sản xuất lương thực thâm canh và do đó tới tăng trưởng
dân số. Các xã hội phức tạp tập trung hóa là những xã hội duy nhất có khả năng
tổ chức những công trình công cộng (trong đó có hệ thống tưới tiêu), thương mại
đường dài (trong đó có tầm quan trọng của kim loại trong việc chế tác ra công cụ
làm nông tốt hơn), và hoạt động của các nhóm chuyên môn hóa khác nhau trong
kinh tế (như ngũ cốc của người trồng trọt dùng để nuôi người chăn nuôi, còn gia
súc của người chăn nuôi được chuyển cho người trồng trọt để kéo cày). Các khả
năng đó của xã hội tập trung hóa đã tạo điều kiện cho sản xuất lương thực thâm
canh phát triển và qua đó làm tăng dân số trong suốt quá trình lịch sử.
Ngoài ra, sản xuất lương thực còn đóng góp vào những đặc tính
riêng biệt của xã hội phức tạp theo ít nhất là ba cách. Thứ nhất, nhờ sản xuất
lương thực mà xã hội có những luồng nhân lực theo mùa. Khi hoa màu thu hoạch
xong đã được cất vào kho, chính quyền tập trung hóa có thể sử dụng nguồn lao động
nông nhàn để xây các công trình công cộng nhằm quảng bá cho quyền lực của nhà
nước (như các kim tự tháp Ai Cập) hoặc để xây những công trình công cộng nhằm
nuôi được nhiều miệng ăn hơn (như các hệ thống tưới tiêu hay ao cá ở Hawaii thuộc
Polynesia), hoặc để tham gia những cuộc chiến tranh chinh phục nhằm làm hình
thành những thực thể chính trị còn lớn hơn nữa.
Thứ hai, người ta có thể tổ chức sản xuất lương thực sao cho
tạo ra được thặng dư lương thực, mà có thặng dư lương thực thì mới có thể
chuyên môn hóa kinh tế và phân tầng xã hội. Khoảng thặng dư đó có thể dùng để
nuôi sống mọi tầng lớp trong một xã hội phức tạp: tù trưởng, quan lại và các
thành viên khác trong thiểu số cầm quyền; giới thư lại, thợ thủ công và các thợ
chuyên môn phi sản xuất lương thực khác; và bản thân nông dân vào những lúc họ
được huy động xây dựng các công trình công cộng.
Cuối cùng, sản xuất lương thực cho phép hoặc đòi hỏi người ta
phải theo lối sống định cư, vốn là điều kiện tiên quyết để có thể tích lũy tài
sản có giá trị, phát triển công nghệ và các nghề thủ công tinh xảo, xây dựng
các công trình công cộng. Tầm quan trọng của lối sống định cư đối với một xã hội
phức tạp là lý do vì sao các nhà truyền giáo và chính phủ, mỗi khi tiếp xúc lần
đầu với các bầy người hoặc bộ lạc du mục ở New Guinea hay vùng Amazon vốn trước
đó chưa hề tiếp xúc với thế giới văn minh, luôn có hai mục đích trước mắt như
nhau. Một mục đích trong đó dĩ nhiên là để “định tâm” những người du mục, nghĩa
là khuyên răn họ đừng giết các nhà truyền giáo, các quan chức hoặc đừng giết
nhau nữa. Mục đích thứ hai là thuyết phục họ định cư thành làng, để các nhà
truyền giáo và quan chức chính phủ có thể tìm ra họ, mang lại cho họ các dịch vụ
như chăm sóc sức khỏe, trường học, cũng như để cải đạo họ và kiểm soát họ.
Như vậy, sản xuất lương thực, vốn làm tăng quy mô dân số,
cũng tác động theo nhiều cách khiến cho những đặc trưng của xã hội phức tạp có
thể hình thành. Song điều đó không chứng tỏ rằng sản xuất lương thực và dân số
đông làm cho xã hội phức tạp nhất thiết phải hình thành. Ta phải nói thế nào
đây khi quan sát theo kinh nghiệm cho thấy tổ chức bầy người hay bộ lạc không
phù hợp với những xã hội đông hàng trăm ngàn dân, và mọi xã hội lớn đang tồn tại
hiện nay đều có tổ chức phức tạp tập trung hóa? Ta có thể nêu ra ít nhất bốn
nguyên nhân hiển nhiên.
Một nguyên nhân là vấn đề sự xung đột giữa những người xa lạ
không có quan hệ thân tộc với nhau. Khi số lượng người hình thành nên xã hội
tăng lên thì vấn đề này trở nên trầm trọng. Các mối quan hệ trong một bầy người
gồm 20 cá thể chỉ bao gồm 190 mối quan hệ một đối một (20 người nhân 19 chia
2), nhưng một bầy người gồm 2.000 cá thể sẽ có 1.999.000 cặp đôi như thế. Mỗi cặp
đôi trong số này đều là một quả bom hẹn giờ tiềm tàng có thể bùng nổ thành một
cuộc cãi cọ dẫn đến giết người. Mỗi vụ giết người ở các xã hội bầy người và bộ
lạc thường dẫn đến một vụ rắp tâm giết người để trả thù, thế là lại khởi đầu một
chu trình giết rồi lại giết để trả thù liên miên không dứt, làm mất ổn định xã
hội.
Trong một bầy người, nơi mỗi người đều có quan hệ gần gũi với
mọi người khác, những ai có quan hệ thân tộc với cả hai bên tranh chấp thường
bước vào cuộc để làm trung gian hòa giải. Ở bộ lạc, nơi nhiều người vẫn là bà
con họ hàng với nhau và mỗi người ít nhất cũng biết tên mọi người khác, thì những
người bà con chung và bạn bè chung của hai bên tranh chấp sẽ đứng ra hòa giải.
Nhưng một khi cái ngưỡng “vài trăm” – mà chỉ có dưới ngưỡng đó thì mọi người mới
có thể biết nhau – đã bị vượt qua, thì số lượng cặp đôi tăng lên trở thành những
cặp đôi gồm những kẻ hoàn toàn xa lạ. Khi những người xa lạ đánh nhau, chỉ có một
vài người hiện diện là bạn bè hay bà con của cả hai bên đặng có thể can thiệp
vào với mục đích vô tư lợi. Thay vì thế, nhiều người chứng kiến sẽ là bạn bè hoặc
họ hàng chỉ của một trong hai bên và sẽ đứng về phe người đó, khiến cho một cuộc
đánh nhau giữa hai người leo thang thành một cuộc loạn đả toàn thiên hạ. Vì vậy
nếu một xã hội lớn mà vẫn tiếp tục để mặc những cuộc tranh chấp cho các thành
viên tự mình giải quyết thì sớm muộn sẽ rơi vào hỗn loạn. Chỉ một nhân tố này
thôi cũng đủ cho thấy vì sao những xã hội đông hàng ngàn người chỉ có thể tồn tại
nếu nó phát triển chính quyền tập trung hóa nhằm tập trung quyền lực và giải
quyết xung đột.
Nguyên nhân thứ hai là dân số ngày càng tăng thì việc cả cộng
đồng cùng tham gia quyết định càng trở nên bất khả thi. Việc toàn thể người lớn
trong làng cùng tham gia quyết định vẫn còn có thể tiến hành ở các làng New
Guinea vẫn còn đủ nhỏ để tin tức có thể nhanh chóng đến tai tất cả mọi người,
ai cũng có thể nghe tiếng bất cứ người nào khác trong cuộc họp toàn thể dân
làng, và bất cứ ai muốn lên tiếng trong cuộc họp làng cũng đều có cơ hội lên tiếng.
Nhưng với những cộng đồng lớn hơn thì những điều kiện tiên quyết đó cho việc
toàn dân quyết định không còn nữa. Ngay cả ngày nay, microphone và loa phóng
thanh đâu cũng có, thế nhưng với những nhóm gồm hàng ngàn người thì không cách
nào có thể giải quyết vấn đề này khác bằng một cuộc họp cộng đồng. Vì vậy, một
xã hội lớn nhất thiết phải được tổ chức và tập trung hóa nếu muốn quyết định
các vấn đề một cách có hiệu quả.
Nguyên nhân thứ ba là những vấn đề kinh tế. Bất cứ xã hội nào
cũng phải có những phương tiện để chuyển giao hàng hóa giữa các thành viên. Một
cá nhân có thể tình cờ nhận được một món nhu yếu phẩm nào đó hôm nay nhiều hơn
hôm khác ít hơn. Bởi mỗi cá nhân có một tài năng khác nhau, nên từng cá nhân có
xu hướng rốt cuộc có thừa vài thứ này song lại thiếu vài thứ khác. Ở những xã hội
nhỏ chỉ có vài cặp thành viên, các cặp cá nhân đó có thể tự thu xếp để bù trừ
những khoản thừa thiếu đó bằng cách trao đổi qua lại với nhau. Những xã hội lớn
hơn thì chỉ có thể vận hành hữu hiệu về mặt kinh tế nếu nó có một nền kinh tế
tái phân phối bên cạnh nền kinh tế trao đổi. Cá nhân nào có một mặt hàng thặng
dư vượt quá nhu cầu của mình thì phải chuyển giao cho chính quyền tập trung để
chính quyền này phân phối lại cho những cá nhân nào thiếu mặt hàng đó.
Nguyên nhân cuối cùng khiến một xã hội lớn phải có tổ chức phức
tạp có liên quan đến mật độ dân số. Những xã hội sản xuất lương thực lớn không
chỉ có nhiều thành viên hơn mà cả mật độ dân số cao hơn so với các bầy người
săn bắt hái lượm. Mỗi bầy người gồm vài tá thợ săn chiếm lĩnh một lãnh thổ rộng
lớn mà trong đó họ có thể thu thập hầu hết những thứ họ cần. Những gì cần thiết
mà không tự tìm lấy được thì họ trao đổi với các bầy người láng giềng trong những
khoảng thời gian hòa bình giữa các cuộc chiến tranh giữa các bầy. Khi mật độ
dân số tăng lên, lãnh thổ của bầy người có quy mô vài tá đó sẽ thu hẹp lại
thành một khu vực nhỏ, ngày càng có nhiều thứ nhu yếu phẩm cho đời sống cần phải
trao đổi với bên ngoài khu vực. Chẳng hạn, người ta không thể cứ thế chia diện
tích 41.500 cây số vuông và dân số 16.000.000 người của Hà Lan thành 800.000
lãnh thổ riêng biệt, mỗi lãnh thổ rộng 13 hécta và là lãnh địa của một bầy người
tự trị gồm 20 người, sống hoàn toàn tự cấp tự túc trong phạm vi 13 hécta đó, chỉ
thỉnh thoảng mới nhân những thời kỳ hưu chiến tạm thời mà đi ra biên giới cái
lãnh thổ bé tý của mình đặng trao đổi ít món hàng và vài cô dâu với bầy người
láng giềng. Cái thực tại về không gian đó khiến cho khu vực nào có mật độ dân
cư cao là điều kiện tốt để hình thành xã hội lớn và có tổ chức phức tạp.
Các vấn đề vừa nói trên đây – giải quyết xung đột, [ai là người]
ra quyết định, vấn đề kinh tế và vấn đề diện tích – đồng quy lại đòi hỏi các xã
hội phải tập trung hóa. Thế nhưng, sự tập trung hóa tất yếu sẽ tạo điều kiện
cho những ai đang nắm quyền hành, độc quyền nắm thông tin, giữ quyền ra quyết định
và tái phân phối hàng hóa có thể lợi dụng những cơ hội phát sinh từ sự tập
trung hóa kia để mưu lợi cho bản thân và họ hàng mình. Với những ai đã quá quen
với sự tập trung người thành nhóm bất kỳ trong thời hiện đại thì điều đó thật
hiển nhiên. Trong quá trình các xã hội cổ xưa phát triển, chính quyền tập trung
hóa dần dần định hình thành giới thiểu số cầm quyền mà có lẽ ban đầu chỉ là một
trong những gia tộc vốn có vai vế bình đẳng nhau trong làng nhưng về sau đã trở
nên “bình đẳng hơn” so với các gia tộc khác.
Đó là những nguyên nhân tại sao những xã hội lớn không thể vận
hành nếu được tổ chức thành bầy người, mà chỉ có thể là những xã hội phức tạp
có chính quyền tập trung. Nhưng vẫn còn nguyên đó câu hỏi: các xã hội nhỏ, giản
đơn đã thật sự tiến hóa hoặc hợp nhất lại thành các xã hội lớn, phức tạp như thế
nào. Sự hợp nhất, sự giải quyết xung đột, ra quyết định, tái phân phối hàng hóa
theo hướng tập trung hóa, và tôn giáo của chính quyền, chúng không đơn giản đã
tự động hình thành và phát triển thông qua một khế ước xã hội kiểu Rousseau.
Cái gì là động lực cho sự hợp nhất đó?
Câu trả lời phụ thuộc một phần vào lập luận tiến hóa. Tôi đã
nói ngay ở đầu chương này rằng không phải mọi xã hội được xếp cùng một loại đều
giống hệt như nhau, bởi người này với người kia, nhóm người này với nhóm người
kia vốn dĩ có thể khác nhau vô cùng tận. Chẳng hạn, giữa các bầy người và bộ lạc,
chắc chắn là người lãnh đạo ở một số bầy hay bộ lạc này sẽ có sức lôi cuốn hơn,
đầy sức mạnh hơn và khôn khéo hơn trong việc ra quyết định so với người lãnh đạo
ở một số bầy hay bộ lạc khác. Giữa các bộ lạc lớn với nhau, bộ lạc nào có người
lãnh đạo mạnh hơn và do đó có sự tập trung hóa cao hơn thì có xu hướng chiếm ưu
thế so với những bộ lạc mà sự tập trung hóa kém hơn. Những bộ lạc nào giải quyết
xung đột một cách kém cỏi như người Fayu thường bị phân liệt thành bầy người trở
lại, còn những tù trưởng quốc nào được cai trị kém cỏi thì phân liệt thành những
tù trưởng quốc nhỏ hơn và bộ lạc. Xã hội nào giải quyết xung đột hữu hiệu hơn,
ra quyết định đúng đắn hơn và tái phân phối của cải một cách cân đối hơn thì có
thể phát triển công nghệ tốt hơn, tập trung lực lượng quân sự, chiếm lĩnh những
lãnh thổ rộng hơn và năng sản hơn và đè bẹp các xã hội nhỏ tự trị lần lượt từng
cái một.
Như vậy, sự cạnh tranh giữa các xã hội ở cùng một cấp độ phức
tạp có xu hướng dẫn đến cấp độ phức tạp cao hơn nếu điều kiện cho phép. Những bộ
lạc này chinh phục hay hợp nhất với những bộ lạc khác để đạt tới quy mô tù trưởng
quốc, các tù trưởng quốc này lại chinh phục hay hợp nhất với những tù trưởng quốc
khác để đạt tới quy mô nhà nước, các nhà nước này lại chinh phục hay hợp nhất với
những nhà nước khác để trở thành đế quốc. Nhìn chung, các đơn vị lớn có khả
năng giành được ưu thế so với những đơn vị cá biệt nhỏ hơn nếu – và đây là cả một
chữ “nếu” to tướng – các đơn vị lớn có thể giải quyết những vấn đề nảy sinh đồng
thời với lúc chúng đạt tới quy mô lớn đó, chẳng hạn như tình trạng những lớp
người mới nổi luôn luôn đe dọa tiếm quyền cai trị, dân thường bất mãn với chính
quyền nhũng lạm, và những vấn đề ngày càng nghiêm trọng gắn liền với sự hợp nhất
về kinh tế.
Sự sáp nhập các đơn vị nhỏ hơn thành đơn vị lớn hơn thường được
ghi nhận trong sử liệu hoặc qua bằng chứng khảo cổ. Trái ngược với [hình dung của]
Rousseau, những sự hợp nhất đó chẳng bao giờ diễn ra theo kiểu những xã hội nhỏ
đang yên đang lành cùng nhất trí tự nguyện sáp nhập lại với nhau đặng nâng cao
phúc lợi của công dân. Giới lãnh đạo bất cứ xã hội nào, nhỏ cũng như lớn, thảy
đều luôn khư khư giữ chặt tính độc lập và đặc quyền đặc lợi của mình. Thay vì vậy,
sự sáp nhập thường diễn ra theo một trong hai cách: hoặc hợp nhất khi bị một thế
lực bên ngoài đe dọa, hoặc bị một thế lực bên ngoài chinh phục. Có vô số ví dụ
cho ta thấy những sự sáp nhập đã diễn ra theo cả cách này lẫn cách kia.
Một ví dụ tốt về sự hợp nhất vì bị thế lực bên ngoài đe dọa
là trường hợp liên minh của người Anh-điêng Cherokee ở miền đông nam Hoa Kỳ.
Người Cherokee ban đầu chia ra thành 30 hay 40 tù trưởng quốc độc lập, mỗi tù
trưởng quốc gồm một làng khoảng 400 người. Người da trắng đến định cư ngày càng
đông dẫn đến xung đột giữa người Cherokee với người da trắng. Khi những người
Cherokee riêng lẻ đánh cướp hoặc tấn công những người định cư và thương nhân da
trắng, người da trắng không thể phân biệt đó là người Cherokee thuộc tù trưởng
quốc nào nên bèn chống lại tất cả người Cherokee không phân biệt, hoặc bằng
hành động quân sự hoặc bằng cách cắt đứt giao thương. Đáp lại, các tù trưởng quốc
Cherokee dần dần cảm thấy mình buộc phải hợp lại thành một liên minh duy nhất
trong thế kỷ 18. Lúc đầu, vào năm 1730, các tù trưởng quốc lớn chọn một tù trưởng
tên là Moytoy làm lãnh tụ chung, người này được con trai kế vị vào năm 1741.
Nhiệm vụ đầu tiên của những vị lãnh tụ này là trừng phạt những cá nhân Cherokee
nào đã tấn công người da trắng và tiến hành thương lượng với chính quyền da trắng.
Vào khoảng năm 1758 người Cherokee điều chỉnh hình thức ra quyết định của mình,
họ đặt ra lệ tiến hành họp hội đồng hằng năm dựa theo mẫu các cuộc họp làng trước
kia nhưng nay chỉ ở một làng duy nhất (Echota), làng này do đó trở thành “thủ
đô” không chính thức. Cuối cùng, người Cherokee trở nên có chữ viết (như ta đã
thấy ở chương 12) và áp dụng một hiến pháp thành văn.
Như vậy liên minh Cherokee đã hình thành không phải vì bị [thế
lực bên ngoài] chinh phục mà bởi sự hợp nhất các chủ thể nhỏ hơn vốn trước đây
chỉ thích tự trị, các chủ thể đó chỉ khi bị thế lực bên ngoài đe dọa tiêu diệt
thì mới hợp nhất lại mà thôi. Cũng bằng cách y như vậy, trong một ví dụ về sự
hình thành nhà nước được mô tả trong bất kỳ sách giáo khoa lịch sử nào của Hoa
Kỳ, bản thân các thuộc địa Bắc Mỹ của người da trắng – mà một trong số đó
(Georgia) đã khiến người Cherokee phải thành lập nhà nước của họ – cũng đã buộc
phải hợp lại thành một quốc gia của riêng mình trước mối đe dọa của thế lực bên
ngoài hùng mạnh là chính quyền quân chủ của nước Anh. Các thuộc địa Hoa Kỳ lúc
ban đầu cũng khư khư muốn giữ quyền tự trị chẳng khác nào các tù trưởng quốc
Cherokee, nên khi họ thử hợp nhất lần đầu tiên theo Các Điều khoản Liên minh
(Articles of Confederation) vào năm 1781 thì việc hợp nhất tỏ ra bất khả thi vì
nó bảo lưu quá nhiều quyền tự trị cho các thuộc địa cũ. Chỉ những mối đe dọa về
sau, cụ thể là cuộc nổi loạn do Daniel Shays cầm đầu vào năm 1786 và gánh nặng
nợ chiến tranh không giải quyết được, mới có thể buộc các thuộc địa cũ từ bỏ
quyền tự trị mà họ khăng khăng không chịu bỏ kia và chấp nhận bản hiến pháp
liên minh Hoa Kỳ vào năm 1787 đến nay vẫn còn hiệu lực. Sự thống nhất các công
quốc Đức vốn luôn đòi tự trị vào thế kỷ 19 cũng đã gian nan không kém. Trước đó
người ta đã ba lần toan thống nhất (Nghị viện Frankfurt năm 1848, Liên minh Đức
phục hồi vào năm 1850 và Liên minh Bắc Đức vào năm 1866) song đều thất bại, mãi
đến khi nước Pháp tuyên chiến vào năm 1870 thì mối đe dọa từ bên ngoài rốt cuộc
mới khiến các ông hoàng chịu chuyển phần lớn quyền lực của mình cho chính phủ
hoàng gia trung ương Đức vào năm 1871.
Ngoài sự hợp nhất do mối đe dọa từ thế lực bên ngoài thì một
mô thức khác để hình thành xã hội phức tạp là hợp nhất do chinh phục. Một ví dụ
có nhiều sử liệu là nguồn gốc hình thành nhà nước Zulu ở đông nam châu Phi. Khi
người châu Âu đến vùng đó lần đầu tiên, họ quan sát thấy người Zulu chia thành
hàng tá tù trưởng quốc nhỏ. Trong thế kỷ 18 tiếp theo, do sức ép dân số tăng,
chiến tranh giữa các tù trưởng quốc ngày càng trở nên quyết liệt. Trong tất cả
các tù trưởng quốc đó, cái vấn đề muôn thuở – xây dựng cơ cấu quyền lực tập
trung – được giải quyết thành công nhất bởi một tù trưởng tên là Dingiswayo,
người đã giành địa vị thống trị trong tù trưởng quốc Mtetwa sau khi giết chết một
kẻ đối địch vào khoảng năm 1807. Dingiswayo dựng nên một tổ chức quân sự tập
trung ưu việt bằng cách tuyển mộ người từ tất cả các làng rồi chia họ ra thành
từng trung đoàn theo lứa tuổi chứ không phải theo làng. Ông cũng dựng nên một tổ
chức chính trị tập trung hóa ưu việt bằng cách kiềm chế sự tàn sát những khi
chinh phục được các tù trưởng quốc khác, không đụng đến gia đình tù trưởng phe
chiến bại, và tự hạn chế ở việc chỉ thay thế tù trưởng phe chiến bại bằng một
người họ hàng sẵn sàng hợp tác với Dingiswayo. Ông dựng nên [cơ chế] giải quyết
xung đột có tính tập trung ưu việt bằng cách mở rộng hình thức xét xử tranh chấp
bằng tòa án. Bằng cách đó Dingiswayo đã chinh phục được và bắt đầu hợp nhất 30
tù trưởng quốc Zulu khác. Những người kế tục ông đã kiện toàn nhà nước Zulu
phôi thai từ đó bằng cách mở rộng hệ thống pháp lý, hành pháp và lễ nghi.
Trường hợp như nhà nước Zulu – hình thành bằng cách chinh phục
– có thể nhân lên vô cùng tận. Người châu Âu trong thế kỷ XVIII và XIX đã tình
cờ được chứng kiến những nhà nước hình thành từ các tù trưởng quốc như nhà nước
Hawaii ở Polynesia, nhà nước Tahiti ở Polynesia, nhà nước Merina ở Madagascar,
các nhà nước Lesotho, Swazi và những nhà nước khác ở phía nam châu Phi ngoài
nhà nước Zulu, nhà nước Ashanti ở Tây Phi, các nhà nước Ankole và Buganda ở
Uganda. Các đế quốc Aztec và Inca được hình thành bởi các cuộc chinh phục trong
thế kỷ XV trước khi người châu Âu đến, nhưng chúng ta biết nhiều về sự hình
thành các đế quốc này qua lịch sử truyền khẩu của người Anh-điêng mà các nhà định
cư Tây Ban Nha đầu tiên đã ghi lại được. Sự hình thành nhà nước La Mã và sự
bành trướng của đế quốc Macedonia dưới quyền Alexander Đại đế thì được mô tả
chi tiết bởi các tác gia kinh điển đương thời.
Tất cả các ví dụ này cho thấy chiến tranh – hoặc nguy cơ chiến
tranh – đã đóng một vai trò then chốt trong hầu hết, nếu không nói là tất cả những
sự hợp nhất các xã hội. Song chiến tranh, thậm chí chỉ là chiến tranh giữa các
bầy người, đã luôn luôn là một sự kiện thường trực trong lịch sử nhân loại. Đã
vậy thì tại sao chúng chỉ bắt đầu gây nên một cách rõ rệt sự hợp nhất các xã hội
trong vòng 13.000 năm trở lại đây? Chúng ta đã kết luận rằng sự hình thành các
xã hội phức tạp có liên quan thế nào đó với sức ép dân số, nên bây giờ ta nên
tìm kiếm mối liên quan giữa sức ép dân số với hệ quả của chiến tranh. Tại sao
các cuộc chiến tranh có khuynh hướng gây nên sự hợp nhất các xã hội khi dân số
đông chứ không phải khi dân số thưa thớt? Câu trả lời là vận mệnh của các dân tộc
chiến bại phụ thuộc vào mật độ dân số, với ba hậu quả có thể xảy ra:
Nếu mật độ dân số rất thấp, thường là ở các khu vực nơi các bầy
người săn bắt hái lượm sinh sống, những kẻ sống sót trong một nhóm chiến bại chỉ
cần rời xa ra khỏi kẻ thù. Đây thường là kết quả của các cuộc chiến xảy ra giữa
các bầy người du mục ở New Guinea và vùng Amazon.
Nếu mật độ dân số trung bình, như ở các khu vực nơi có các bộ
lạc sản xuất lương thực sinh sống, thì không còn khu vực nào rộng lớn mà chưa
có người ở để những kẻ sống sót của bộ lạc thất trận có thể dùng làm chốn nương
thân. Nhưng xã hội bộ lạc nào không có nền sản xuất lương thực thâm canh thì
cũng không sử dụng nô lệ và không sản xuất đủ lương thực thặng dư đặng có thể
dâng nạp nhiều cống vật. Vì vậy những kẻ chiến thắng chẳng biết dùng đám người
sống sót của bộ lạc thất trận vào việc gì, có chăng chỉ bắt phụ nữ làm vợ thôi.
Những người đàn ông sống sót bị giết, và lãnh thổ của họ bị chiếm lĩnh bởi những
người thắng trận.
Nếu mật độ dân số cao, như ở các khu vực nơi có những nhà nước
hay tù trưởng quốc, kẻ thất trận vẫn chẳng có nơi nào để lánh nạn, song những
người chiến thắng có hai cách để sử dụng kẻ thất trận nếu để cho họ sống. Bởi
các xã hội tù trưởng quốc và nhà nước có sự chuyên môn hóa trong kinh tế, người
ta có thể dùng kẻ thất trận làm nô lệ, như vẫn thường xảy ra vào thời đại Kinh
thánh. Một cách khác là, bởi nhiều xã hội như vậy có hệ thống sản xuất lương thực
thâm canh có khả năng cho nhiều lương thực thặng dư, nên kẻ chiến thắng có thể
cho những người chiến bại vẫn được sống ở nước mình nhưng tước đoạt quyền tự lập
của họ về chính trị, buộc họ thường xuyên nộp cống dưới dạng lương thực hay
hàng hóa, và sáp nhập xã hội của họ vào nhà nước hoặc tù trưởng quốc của kẻ thắng
trận. Đây thường là kết quả những trận đánh gắn liền với sự hình thành các nhà
nước hay đế quốc trong suốt lịch sử thành văn. Chẳng hạn, những nhà chinh phục
Tây Ban Nha muốn thu cống vật của các xã hội bản địa đã thất trận của Mexico,
cho nên họ rất quan tâm đến danh mục cống vật của đế quốc Aztec. Hóa ra hàng
năm người Aztec thu cống vật từ các dân tộc chịu thần phục gồm 7.000 tấn ngô,
4.000 tấn đậu, 4.000 tấn hạt rau dền, 2.000.000 áo choàng bông và số lượng lớn
hạt ca cao, chiến phục, khiên, mũ đội đầu trang trí bằng lông chim, và hổ
phách.
Như vậy, sản xuất lương thực, cùng sự cạnh tranh và xâm nhập
lẫn nhau giữa các xã hội, với tư cách những nguyên nhân tối hậu, thông qua những
chuỗi nhân quả khác nhau về chi tiết nhưng tất cả đều bao hàm dân số đông và mật
độ cao cũng như lối sống định cư, đã dẫn đến các tác nhân chinh phục trực tiếp
là vi trùng, chữ viết, công nghệ và tổ chức chính trị tập trung. Bởi các nguyên
nhân tối hậu đó đã hình thành và phát triển trên mỗi lục địa một khác, nên các
tác nhân chinh phục kia cũng khác. Vì vậy các tác nhân này có xu hướng phát
sinh kết hợp với nhau, nhưng sự kết hợp đó không nhất thiết bao giờ cũng như
nhau; chẳng hạn, một đế quốc đã nảy sinh từ các xã hội Inca dù không có chữ viết,
và từ các xã hội Aztec có chữ viết nhưng chỉ có một số ít bệnh truyền nhiễm. Nước
Zulu của Dingiswayo cho thấy mỗi nhân tố trong số trên đóng góp vào mẫu hình lịch
sử có phần theo một kiểu khác nhau. Trong số hàng tá tù trưởng quốc Zulu, tù
trưởng quốc Mtetwa chẳng hề có ưu thế nào về công nghệ, chữ viết hay vi trùng
so với các tù trưởng quốc khác, thế nhưng nó vẫn đánh bại được các tù trưởng quốc
kia. Ưu thế của nó chỉ nằm ở mỗi phạm vi chính quyền và ý thức hệ. Chính nhờ vậy
mà nhà nước Zulu hợp nhất đã có khả năng chinh phục cả một phần của một lục địa
trong suốt gần một thế kỷ.
Phần 4: Vòng quanh thế giới trong năm chương sách
Chương 15 - Dân tộc của Yali
Khi tôi cùng với vợ là Marie đi nghỉ mát ở Australia vào một
mùa hè nọ, chúng tôi quyết định đến thăm một nơi có những bức họa trên đá của
người châu Úc bản địa được bảo quản tốt, ấy là sa mạc gần thị trấn Menindee. Dù
tôi vẫn biết sa mạc Australia vốn khét tiếng là khô hạn và nóng kinh người vào
mùa hè, nhưng tôi đã từng làm việc suốt một thời gian dài trong điều kiện nóng
khô của sa mạc California và thảo nguyên New Guinea thành thử tôi cho rằng mình
đã đủ dạn dày kinh nghiệm để đối phó với những thử thách nhỏ nhặt đó khi sang
Australia với tư cách người du lịch. Mang theo đầy nước uống, tôi và Marie lên
đường lúc trưa, đi bộ trên khoảng đường vài dặm đến chỗ các bức tranh.
Con đường mòn dẫn từ trạm bảo vệ rừng dẫn lên đồi, dưới bầu
trời không mây, băng qua vùng đất trống tuyệt không một bóng râm nào. Bầu không
khí nóng hầm hập, khô rang mà chúng tôi hít thở làm tôi nhớ khi ngồi trong
phòng tắm hơi kiểu Phần Lan cũng khó thở đến thế nào. Cho tới khi chúng tôi đến
được vách đá nơi có các bức tranh thì cũng đã hết sạch nước. Chúng tôi cũng chẳng
hứng thú tranh triếc gì nữa hết, chúng tôi chỉ còn lặc lè leo lên đồi, vừa leo
vừa thở đều, chậm chạp. Chẳng mấy chốc tôi nhìn thấy một con chim, không nghi
ngờ gì nữa chính là một loài chim hét cao cẳng, nhưng con này có vẻ to lạ lùng
so với bất cứ loài chim hét cao cẳng nào người ta đã biết. Ngay lúc đó tôi nhận
ra rằng lần đầu tiên trong đời tôi đang bị chứng ảo giác vì nóng. Marie và tôi
quyết định tốt hơn hết là nên quay lại.
Hai chúng tôi chẳng nói gì với nhau nữa. Chúng tôi vừa đi vừa
lắng nghe tiếng mình thở, tính toán xem còn bao xa mới đến điểm mốc kế tiếp và
đoán già đoán non xem còn phải đi bao lâu nữa. Miệng và lưỡi tôi giờ khô không
khốc, mặt Marie thì đỏ phừng phừng. Khi rốt cuộc cũng về lại được trạm kiểm lâm
có điều hòa không khí, hai chúng tôi ngồi phịch xuống ghế bên cạnh tủ lạnh, nốc
cạn gần 2 lít nước cuối cùng trong tủ xong lại còn hỏi người kiểm lâm có chai
nào nữa không. Tôi ngồi đó, hoàn toàn kiệt sức về thể xác lẫn tinh thần, mà nhớ
lại rằng những người châu Úc bản địa từng làm ra các bức họa kia đã xoay xở
cách nào đó để sống được cả đời trong cái sa mạc kia, tìm thức ăn nước uống mà
không hề có chỗ nghỉ điều hòa không khí nào cả.
Đối với người Australia da trắng, sa mạc Menindee nổi tiếng bởi
là nơi mà hơn một thế kỷ trước có hai người da trắng đã phải hứng chịu những điều
tồi tệ hơn nhiều chứ không chỉ cái khô nóng của sa mạc: viên cảnh sát người
Ailen Robert Burke và nhà thiên văn học người Anh William Wills, những người chỉ
huy bất hạnh của đoàn thám hiểm châu Âu đầu tiên băng qua Australia từ nam lên
bắc. Khởi hành với sáu con lạc đà chất đầy lương thực đủ dùng trong ba tháng,
Burke và Wills hết sạch thức ăn dự trữ khi đang ở sa mạc phía bắc Menindee. Ba
lần liên tiếp họ gặp những thổ dân bản địa no đủ đang lấy chính sa mạc đó làm
nhà, những người này cứu sống họ, tiếp tế cho họ nào cá, nào bánh làm bằng cây
dương xỉ, nào những con chuột rán béo mẫm. Thế nhưng Burke lại ngu ngốc đi nổ
súng vào một trong số các thổ dân, thế là cả nhóm thổ dân bỏ chạy. Mặc dù Burke
và Wills có ưu thế lớn so với thổ dân vì có súng để săn mồi, nhưng họ vẫn đói
ăn, gục ngã và chết chỉ trong vòng một tháng sau khi nhóm thổ dân kia bỏ đi.
Những gì tôi cùng với vợ đã trải nghiệm ở Menindee, cùng số
phận của Burke và Wills, chỉ ra một cách rõ ràng sinh động cho tôi thấy việc
xây dựng một xã hội loài người ở Australia là khó đến nhường nào. Australia
khác tất cả các châu lục khác: sự khác biệt giữa Âu-Á, châu Phi, Bắc Mỹ và Nam
Mỹ so với nhau chẳng là gì so với những khác biệt giữa Australia với tất cả các
lục địa khác kia. Australia là lục địa khô nhất, nhỏ nhất, phẳng nhất, cằn cỗi
nhất, khí hậu khôn lường nhất và nghèo nàn nhất về sinh học. Nó là lục địa mà
người châu Âu chiếm lĩnh sau cùng. Mãi cho tới khi đó, Australia chỉ là nơi
sinh sống của những xã hội loài người khác biệt nhất và quần thể người ít ỏi nhất
so với mọi châu lục khác.
Như vậy Australia là một thử nghiệm quyết định đối với các lý
thuyết về những khác biệt về xã hội giữa các lục địa. Nó có môi trường khác biệt
nhất và cũng có những xã hội khác biệt nhất. Có phải vì cái trước mà ra cái sau
không? Nếu đúng vậy thì bằng cách nào? Australia là lục địa hợp lý nhất để
chúng ta bắt đầu cuộc hành trình vòng quanh thế giới của mình, áp dụng bài học ở
Phần II và Phần III nhằm thấu hiểu những lịch sử khác nhau của tất cả các lục địa.
Hầu hết người bình thường hẳn sẽ mô tả đặc trưng nổi bật nhất
của các xã hội châu Úc bản địa là họ có vẻ như “lạc hậu”. Australia là lục địa
duy nhất nơi mà ngay ở thời hiện đại tất cả các dân tộc bản địa vẫn không hề có
một dấu hiệu nào của cái gọi là văn minh – không trồng trọt, không chăn nuôi,
không kim loại, không cung tên, không công trình xây dựng lớn, không có làng định
cư, không chữ viết, không tù trưởng quốc, không nhà nước. Thay vì vậy, người
Australia bản địa là những người săn bắt hái lượm du cư hoặc bán du cư, chia
thành bầy người, sống trong những túp lều tạm bợ và vẫn còn dùng công cụ bằng
đá. Trong 13.000 năm trở lại đây, sự tích lũy những thay đổi văn hóa ở
Australia là ít ỏi hơn hết so với mọi châu lục khác. Những lời sau đây của một
nhà thám hiểm Pháp thời kỳ đầu là tiêu biểu cho quan điểm phổ biến của người
châu Âu về người Australia bản địa: “Họ là dân tộc khốn khổ nhất trên thế giới,
là những con người gần hơn cả với những con vật hung ác”.
Thế nhưng, cách đây 40.000 năm, người Australia bản địa từng
có bước khởi đầu sớm hơn nhiều so với các xã hội ở châu Âu và các châu lục
khác. Người Australia bản địa thời đó đã phát triển một số công cụ bằng đá thuộc
hàng xưa nhất người ta từng biết, có mép được mài nhẵn, những công cụ bằng đá đầu
tiên có tra cán (nghĩa là đầu rìu bằng đá gắn vào chuôi cầm), và những phương
tiện đi lại trên nước từ rất sớm so với mọi châu lục khác trên thế giới. Một số
bức họa xưa nhất trên mặt đá mà người ta từng biết là ở Australia. Những con
người hiện đại về mặt giải phẫu hẳn đã đến định cư ở Australia trước khi di cư
sang phía tây châu Âu. Vậy thì tại sao, mặc dù xuất phát muộn hơn như vậy nhưng
rốt cuộc người châu Âu lại chinh phục Australia chứ không phải là ngược lại?
Câu hỏi đó lại bao hàm một câu hỏi khác. Suốt các thời kỳ
Băng hà trong Kỷ Pleitoxen, khi hầu hết nước đại dương còn bị còn bị giam dưới
những tảng băng lục địa và mực nước thấp hơn hiện nay rất nhiều, biển nông
Arafura ngăn giữa Australia và New Guinea ngày nay là một dải đất thấp, khô.
Khi các tảng băng tan trong khoảng từ 12.000 đến 8.000 trước, mực nước biển
dâng lên, vùng đất thấp đó bị ngập nước, và lục địa Đại Australia xưa kia bị
tách rời thành hai nửa lục địa là Australia và New Guinea (Hình 15.1).
Các xã hội loài người của hai mảng lục địa vốn dĩ gắn liền với
nhau này rất khác nhau cho mãi tới thời hiện đại. Trái với tất cả những gì tôi
vừa nói về người Australia bản địa, hầu hết người New Guinea, chẳng hạn như dân
tộc của Yali, là những người trồng trọt và nuôi lợn. Họ sống thành làng định cư
và về mặt chính trị được tổ chức thành bộ lạc chứ không phải bầy người. Tất cả
người New Guinea đều có cung tên, nhiều người có sử dụng đồ gốm. Người New
Guinea thường có nhà ở khang trang hơn, nhiều tàu thuyền đi biển tốt hơn, nhiều
vật dụng phong phú hơn so với người Australia. Do hệ quả việc sống bằng sản xuất
lương thực chứ không phải săn bắt hái lượm, người New Guinea có mật độ dân số
cao hơn nhiều so với người Australia: về diện tích, New Guinea chỉ bằng một phần
mười Australia, nhưng lại nuôi được số dân đông hơn Australia gấp mấy lần.
Tại sao các xã hội loài người trên mảng lục địa lớn hơn tách
ra từ lục địa Đại Australia vào Kỷ Pleitoxen lại “lạc hậu” hơn trong quá trình
phát triển, trong khi các xã hội trên mảng lục địa nhỏ hơn là New Guinea lại
phát triển nhanh hơn gấp bội? Tại sao tất cả những cách tân kia ở New Guinea đã
không bành trướng sang Australia vốn chỉ cách New Guinea vỏn vẹn có 90 dặm (hơn
140 km) qua eo biển Torres? Xét từ góc độ nhân chủng học văn hóa thì khoảng
cách địa lý giữa Australia và New Guinea thậm chí còn không tới 90 dặm, bởi vì
rải rác khắp cả eo Torres là những hòn đảo có người ở, những người này biết trồng
trọt, dùng cung tên và về văn hóa giống người New Guinea. Hòn đảo lớn nhất giữa
eo Torres chỉ cách Australia 10 dặm (16 km). Dân đảo buôn bán nhộn nhịp với cả
dân Australia bản địa lẫn người New Guinea. Thế thì tại sao hai vũ trụ văn hóa
khác biệt nhau nhường ấy vẫn cứ mỗi bên một cõi dù chỉ cách nhau một eo biển
bình lặng rộng vỏn vẹn 10 dặm và thường xuyên có người qua kẻ lại bằng xuồng?
So với người Australia bản địa, người New Guinea được xếp hạng
là “tiên tiến” về văn hóa. Song hầu hết người hiện đại vẫn coi ngay cả người
New Guinea là “lạc hậu”. Cho tới khi người New Guinea bắt đầu di cư sang New
Guinea vào cuối thế kỷ XIX, tất cả người New Guinea đều không biết chữ, chỉ
dùng công cụ bằng đá và về chính trị vẫn chưa được tổ chức thành nhà nước hoặc
tù trưởng quốc (trừ một vài ngoại lệ ít ỏi). Cứ cho là người New Guinea đã “tiến
xa” hơn người Australia bản địa, cớ sao họ đã chẳng “tiến xa” như nhiều dân tộc
ở Âu-Á, châu Phi và châu Mỹ? Vậy nên dân tộc của Yali và những người anh em
Australia của họ đặt ra cho ta một bài toán khó bên trong một bài toán khó.Hình 15.1: Bản đồ khu vực từ Đông Nam Á đến Australia và New
Guinea. Đường vạch liền biểu thị bờ biển ngày nay; đường vạch đứt biểu thị bờ
biển vào thời Pleistocene khi mực nước biển thấp hơn ngày nay, nghĩa là mép thềm
lục địa của châu Á và Đại Australia. Vào thời đó New Guinea và Australia còn nối
liền với nhau thành Đại Australia, còn Borneo, Java, Sumatra và Đài Loan vẫn
còn nằm trong nội địa châu Á.
Nếu được hỏi đâu là nguyên nhân khiến xã hội Australia bản địa
“lạc hậu” về văn hóa, nhiều người Australia da trắng có một câu trả lời đơn giản:
do những khiếm khuyết cố hữu trong bản thân thổ dân Australia. Về cấu trúc
khuôn mặt và màu da, người Australia bản địa chắc chắn là khác người châu Âu,
điều này đã khiến một vài tác giả cuối thế kỷ X coi họ là một mắt xích còn thiếu
giữa vượn và người. Nếu không thì làm sao giải thích do đâu các nhà thực dân
châu Âu da trắng đã tạo ra được một nền dân chủ có chữ viết, sản xuất lương thực
và công nghệ, chỉ sau vài thập kỷ thực dân hóa một lục địa mà cư dân ở đó sau
hơn 40.000 năm vẫn cứ là những kẻ săn bắt hái lượm không chữ viết? Đặc biệt
đáng lưu ý là Australia có một trong những quặng sắt và nhôm dồi dào nhất trên
thế giới cũng như nguồn tài nguyên phong phú về đồng, thiếc, chì và kẽm. Đã vậy
thì tại sao người Australia bản địa vẫn chẳng biết gì về công cụ kim loại mà vẫn
cứ sống trong thời Đồ đá?
Dường như đây là một thử nghiệm được kiểm soát hoàn hảo về sự
tiến hóa các xã hội loài người. Cũng một lục địa đó thôi, chỉ có con người là
khác [trước là người Australia bản địa, sau là người châu Âu, ND]. Vậy thì, lời
giải thích cho sự khác biệt giữa xã hội Australia bản địa với xã hội người
Australia gốc châu Âu ắt phải nằm ở sự khác biệt giữa bản thân các dân tộc khác
nhau làm nên những xã hội đó. Logic làm cơ sở cho kết luận mang tính phân chủng
này nghe có vẻ thật chí lý. Tuy nhiên, ta sẽ thấy rằng bên trong nó có một sai
lầm đơn giản.
Ở giai đoạn đầu khảo sát cái logic này, ta hãy xét nguồn gốc
của bản thân các dân tộc. Cả Australia lẫn New Guinea đều có người đến ở muộn
nhất là 40.000 năm trước, khi chúng vẫn còn gắn liền với nhau thành Đại
Australia. Nhìn bản đồ (Hình 15.1), ta sẽ thấy những người di cư đầu tiên đến
vùng này ắt hẳn đã xuất phát từ lục địa gần nhất là Đông Nam Á, bằng cách nhảy
từ đảo này sang đảo khác băng qua quần đảo Indonesia. Kết luận này được hỗ trợ
bằng những mối liên hệ về di truyền giữa người Australia, người New Guinea và
người châu Á hiện đại, và qua việc ngày nay vẫn còn một số người có ngoại hình
phần nào giống nhau ở Philippines, bán đảo Malay và quần đảo Andaman ngoài khơi
Myanmar.
Khi những kẻ di cư đã đến được bờ biển Đại Australia, họ bắt
đầu nhanh chóng lan tràn ra toàn bộ lục địa để chiếm lĩnh ngay cả những rẻo đất
xa xôi nhất và những môi trường ít hiếu khách nhất. Đến 40.000 năm trước, hóa
thạch và công cụ đá khẳng định sự hiện diện của họ ở góc tây nam của Australia;
đến 35.000 năm trước họ đã có mặt ở góc đông nam Australia và đảo Tasmania, góc
xa nhất so với miền tây Australia hoặc New Guinea (những vùng gần Indonesia và
châu Á nhất) nơi mà chắc hẳn họ đã dùng làm điểm xuất phát sau khi đặt chân đến
lục địa này; đến 30.000 năm trước thì họ đã xuất hiện ở cao nguyên New Guinea lạnh
giá. Hẳn họ đã có thể đến được tất cả các vùng kể trên bằng đường bộ từ điểm xuất
phát ở phía tây. Tuy nhiên, để di cư đến cả quần đảo Bismarck lẫn quần đảo
Solomon ở phía đông bắc New Guinea vào hơn 35.000 năm trước thì còn phải vượt
qua thêm hàng chục km đường biển nữa. Việc chiếm cứ [hai mảng lục địa này] có
khi đã diễn ra nhanh hơn nhiều so với niên đại bành trướng biểu kiến từ 40.000
đến 30.000 năm trước, vì các niên đại này hầu như không khác nhau trong dung
sai thử nghiệm của phương pháp định niên đại bằng cácbon phóng xạ.
Vào Kỷ Pleitoxen, khi Australia và New Guinea lần đầu tiên có
người đến chiếm lĩnh, lục địa châu Á vươn dài về phía đông bao gồm cả các đảo
Borneo, Java và Bali ngày nay, gần Australia và New Guinea hơn so với bờ biển
Đông Nam Á ngày nay gần 1.000 dặm (1.600 km). Tuy nhiên, vẫn còn phải vượt qua
ít nhất tám eo biển bề rộng có thể tới 50 dặm (80 km) thì mới từ Borneo hay
Bali đến được Đại Australia vào Kỷ Pleitoxen. Bốn mươi ngàn năm trước, người ta
có thể vượt các eo biển đó bằng bè tre, những phương tiện thô sơ nhưng có thể
vượt biển mà ngày nay vẫn còn được sử dụng ở miền duyên hải phía nam Trung Quốc.
Tuy nhiên, bản thân việc vượt biển đó ắt hẳn là rất khó, bởi sau chuyến đổ bộ đầu
tiên đó vào 40.000 năm trước dữ liệu khảo cổ không ghi nhận được bằng chứng
thuyết phục nào cho thấy vẫn tiếp tục có người di cư từ châu Á sang Đại
Australia trong suốt hàng vạn năm. Cho mãi đến mấy ngàn năm gần đây nhất ta mới
gặp bằng chứng kế tiếp đủ vững chắc, qua những con lợn được nuôi ở New Guinea
và chó được nuôi ở Australia, cả hai loài đều có nguồn gốc từ châu Á.
Như vậy, các xã hội loài người ở Australia và New Guinea đã
phát triển một cách cô lập đáng kể so với các xã hội châu Á vốn là nguồn gốc
ban đầu của chúng. Sự cô lập đó được phản ánh ở các ngôn ngữ mà họ nói ngày
nay. Sau hàng ngàn năm cô lập, chẳng một ngôn ngữ Australia bản địa nào, cũng
chẳng một nhóm ngôn ngữ chính nào của New Guinea (cái gọi là ngôn ngữ Papua)
ngày nay cho thấy có quan hệ rõ ràng với bất kỳ ngôn ngữ châu Á hiện đại nào.
Sự cô lập đó cũng được phản ánh ở đặc điểm di truyền và nhân
chủng của cơ thể. Nghiên cứu di truyền cho thấy người Australia bản địa và người
vùng cao New Guinea có phần giống người châu Á hiện đại hơn so với các dân tộc ở
những lục địa khác, song mối quan hệ này không gần. Về hệ xương và ngoại hình,
người Australia bản địa và người New Guinea cũng khác biệt với hầu hết dân Đông
Nam Á, điều này thật hiển nhiên nếu ta so sánh ảnh của người Australia bản địa
hay người New Guinea với ảnh người Indonesia hoặc người Trung Quốc. Nguyên nhân
dẫn đến những sự khác biệt đó một phần là bởi những người châu Á đầu tiên di cư
đến Đại Australia đã có một thời gian dài tách hẳn khỏi những người anh em vẫn ở
lại châu Á, và suốt hầu hết thời gian đó hai bên chỉ trao đổi về di truyền rất
hạn chế. Nhưng một nguyên nhân khác quan trọng hơn có lẽ là giống người Đông
Nam Á nguyên thủy, tổ tiên của những người đầu tiên di cư sang Đại Australia, đến
ngày nay đã bị thay thế một phần lớn bởi những người châu Á khác từ Trung Hoa
bành trướng xuống.
Người Australia bản địa và người New Guinea cũng trở nên khác
biệt nhau về di truyền, ngoại hình và ngôn ngữ. Chẳng hạn, trong các nhóm máu
chính (xác định theo di truyền) của loài người, nhóm B của cái gọi là hệ ABO và
S của nhóm MNS gặp ở New Guinea cũng như ở hầu hết các khu vực khác trên thế giới,
song hầu như vắng mặt ở Australia. Mái tóc xoăn tít của hầu hết người New
Guinea trái ngược với mái tóc thẳng hoặc lượn sóng của hầu hết người Australia.
Các ngôn ngữ Australia và các ngôn ngữ Papua của New Guinea không những chẳng
có liên hệ gì với các ngôn ngữ châu Á mà cũng chẳng có liên hệ nào với nhau cả,
ngoại trừ một ít từ vựng vay mượn lẫn nhau qua hai bên bờ eo Torres.
Tất cả những khác biệt đó giữa người Australia và người New
Guinea với nhau phản ánh sự cô lập kéo dài trong những môi trường rất khác
nhau. Do biển Arafura dâng lên chia cắt Australia và New Guinea khỏi nhau vào
khoảng 10.000 năm trước, việc trao đổi di truyền bị thu hẹp lại chỉ còn những
tiếp xúc lẻ tẻ thông qua chuỗi đảo trên eo Torres. Điều đó đã cho phép cư dân
hai nửa lục địa thích nghi với môi trường riêng biệt của mình. Tuy những thảo
nguyên và cây đước của miền duyên hải phía nam New Guinea cũng khá giống như ở
miền bắc Australia, song các môi trường sống khác ở hai nửa lục địa này rất
khác biệt nhau ở mọi phương diện chính.
Sau đây là một số trong những khác biệt đó. New Guinea nằm gần
như ngay trên xích đạo, trong khi Australia trải dài đến vùng ôn đới, xuống đến
vĩ độ 40 về phía nam xích đạo. New Guinea nhiều núi cực kỳ lởm chởm, cao đến
16.500 bộ (trên 5.000 mét, ND) và những đỉnh cao nhất phủ băng quanh năm, trong
khi Australia hầu hết là thấp và phẳng – 94% diện tích thấp dưới 2.000 bộ (khoảng
600 m). New Guinea là một trong những khu vực nhiều mưa nhất trên thế giới, còn
Australia là một trong những khu vực khô hạn nhất. Hầu hết New Guinea có lượng
mưa trên 100 inch (2,54 mét) hàng năm, lượng mưa ở hầu hết vùng cao nguyên còn
lên tới trên 200 inch (trên 5 mét), trong khi hầu hết Australia chỉ nhận được
dưới 20 inch (0,50 mét). Khí hậu xích đạo của New Guinea chỉ thay đổi vừa phải
từ mùa này qua mùa khác và năm này qua năm khác, nhưng khí hậu Australia thì
thay đổi rất lớn theo mùa, thậm chí thay đổi từ năm này qua năm khác nhiều hơn
gấp bội so với bất cứ lục địa nào khác. Hệ quả là ngang dọc khắp New Guinea có
những dòng sông lớn quanh năm, trong khi Australia thì hầu như năm nào cũng chỉ
ở phía đông mới có những dòng sông thường xuyên chảy, và thậm chí hệ thống sông
lớn nhất của Australia (hệ Murray-Darling) cũng ngừng chảy hàng tháng trời những
khi hạn hán. Hầu hết diện tích đất của New Guinea phủ kín rừng mưa dày đặc,
trong khi hầu hết diện tích Australia chỉ có sa mạc và rừng khô trống trải.
Khắp New Guinea bao phủ một lớp đất trẻ và màu mỡ do hậu quả
của hoạt động núi lửa, các băng hà cứ không ngừng hết tiến lại lùi chà xát vùng
cao nguyên, và những dòng suối trên núi mang rất nhiều phù sa xuống các vùng đất
thấp. Ngược lại, Australia có chất đất già nhất, cằn cỗi nhất, bạc màu nhất
trong tất cả các lục địa, bởi Australia ít có hoạt động núi lửa, cũng thiếu những
ngọn núi cao và băng hà. Mặc dù diện tích chỉ bằng một phần mười so với
Australia, New Guinea có số lượng loài hữu nhũ và loài chim xấp xỉ bằng
Australia, ấy là do New Guinea nằm ở xích đạo, có lượng mưa cao hơn nhiều, độ
cao so với mặt biển đa dạng hơn nhiều, và màu mỡ hơn nhiều. Tất cả những khác
biệt môi trường đó ảnh hưởng đến lịch sử văn hóa rất khác nhau của hai nửa lục
địa này mà chúng ta sẽ xét dưới đây.
Nền sản xuất lương thực sớm nhất và thâm canh nhất, cũng như
quần thể dân cư dày đặc nhất của Đại Australia phát sinh ở các thung lũng cao
nguyên của New Guinea ở độ cao từ 4.000 bộ (khoảng trên 1.200 mét) đến 9.000 bộ
(trên 2.700 mét) trên mực nước biển. Các cuộc khai quật khảo cổ đã phát hiện ra
những hệ thống mương thoát nước có niên đại từ 9.000 năm trước và trở nên rộng
khắp vào khoảng 6.000 năm trước, cũng như những nền đất đắp cao nhằm giữ độ ẩm
của đất ở những khu vực tương đối khô. Các hệ thống mương thoát nước này tương
tự như các hệ vẫn được sử dụng ngày nay ở vùng cao để tháo nước những nơi đất lầy
dùng làm vườn tược. Phân tích phấn hoa cho thấy, từ khoảng hơn 5.000 năm trước
đã có tình trạng phá rừng phổ biến ở các thung lũng cao nguyên, hẳn là do người
ta phát quang rừng để trồng trọt.
Ngày nay, cây trồng chính của nông nghiệp vùng cao là các
loài cây mới được đưa vào gồm khoai tây cùng khoai sọ, chuối, khoai mỡ, mía,
các loài cây thân thảo ăn được và một số loại rau ăn lá. Bởi khoai sọ, chuối và
khoai mỡ là các loài cây bản địa Đông Nam Á, một khu vực chắc chắn là nguồn thuần
hóa cây trồng, cho nên trước kia người ta vẫn cho rằng các cây trồng vùng cao
New Guinea ngoài cây khoai lang đều có gốc gác từ châu Á cả. Tuy nhiên, cuối
cùng người ta nhận ra rằng tổ tiên hoang dã của cây mía, các loài rau ăn lá và
cây thân thảo ăn được đều là ở New Guinea, rằng giống chuối được trồng ở New
Guinea có tổ tiên ở New Guinea chứ không phải ở châu Á, và khoai sọ cũng như một
số giống khoai mỡ là cây bản địa của cả New Guinea lẫn châu Á. Giá như nông
nghiệp New Guinea quả thật có nguồn gốc từ châu Á thì ắt hẳn người ta đã phải
tìm thấy những loài cây trồng vùng cao bắt nguồn chỉ từ châu Á, song trên thực
tế chẳng có loài nào như vậy. Vì những lý do trên, hiện nay ý kiến chung đều thừa
nhận rằng nông nghiệp đã phát sinh độc lập ở vùng cao New Guinea, với sự thuần
hóa một số loài cây dại bản địa của New Guinea.
Như vậy New Guinea, cùng với Lưỡi liềm Phì nhiêu, Trung Hoa
và một ít khu vực khác, là một trong các trung tâm thuần hóa cây trồng độc lập.
Không một dấu tích nào của những cây trồng thật sự đã được trồng ở vùng cao New
Guinea cách đây 6.000 năm còn sót lại ở các di chỉ khảo cổ. Tuy nhiên điều đó
chẳng lạ, vì các cây trồng chính hiện đại là những loài cây không để lại dấu vết
nào có thể nhận diện được về khảo cổ, trừ trong những điều kiện ngoại lệ. Vì vậy
có lẽ một số loài trong đó cũng là những cây trồng sáng lập của nền nông nghiệp
vùng cao, nhất là vì các hệ thống mương thoát nước cổ đại rất giống các hệ thống
mương thoát nước dùng để trồng khoai sọ ngày nay.
Trong nền sản xuất lương thực của vùng cao New Guinea, có ba
thành tố rõ ràng có nguồn gốc nước ngoài mà những nhà thám hiểm châu Âu đầu
tiên từng chứng kiến là gà, lợn và khoai lang. Gà và lợn được thuần hóa ở Đông
Nam Á và được người Nam Đảo (Austronesia) – một dân tộc có gốc gác nguyên thủy
từ Nam Trung Hoa mà chúng ta sẽ đề cập đến ở Chương 17 – đưa đến New Guinea
cũng như hầu hết các đảo Thái Bình Dương khác vào khoảng 3.600 năm trước.
(Riêng lợn thì có thể sớm hơn). Còn cây khoai lang, vốn có nguồn gốc tận Nam Mỹ,
thì dường như chỉ đến được New Guinea trong mấy thế kỷ trở lại đây sau khi người
Tây Ban Nha mang nó đến quần đảo Philippines. Khi đã vững chân ở New Guinea,
khoai lang liền đoạt mất vị trí loài cây hàng đầu của vùng cao vốn trước đó thuộc
về khoai sọ, bởi thời gian tăng trưởng của khoai lang ngắn hơn, năng suất cao
hơn trên một hécta và chịu đựng tốt hơn với điều kiện đất xấu.
Sự phát triển nền nông nghiệp vùng cao New Guinea ắt hẳn đã
kích thích một sự bùng nổ dân số lớn từ hàng ngàn năm trước, bởi sau khi hệ động
vật nguyên thủy của New Guinea với những loài thú có túi lớn đã bị tuyệt chủng
thì các vùng cao này chỉ có thể nuôi sống những người săn bắt hái lượm với mật
độ dân cư ít ỏi. Cây khoai lang xuất hiện ở đây đã gây ra một sự bùng nổ dân số
khác trong mấy thế kỷ gần đây. Khi người châu Âu lượn máy bay trên vùng cao
nguyên New Guinea vào thập niên 1930, họ sửng sốt thấy bên dưới mình một cảnh
quan tương tự như nước Hà Lan. Các thung lũng rộng bị phá trụi hết rừng, chi
chít những làng mạc, những cánh đồng được thoát nước và quây rào để sản xuất
lương thực thâm canh phủ kín toàn bộ bề mặt các thung lũng. Quang cảnh đó chứng
minh cho mật độ dân số ở vùng cao của những người nông dân sử dụng công cụ đá.
Địa hình dốc, mây phủ thường xuyên, bệnh sốt rét, cùng nguy
cơ hạn hán ở các cao độ thấp khiến cho nông nghiệp vùng cao New Guinea bị giới
hạn ở những độ cao trên 4.000 bộ (trên 1.200 mét). Trên thực tế, vùng cao
nguyên New Guinea là một ốc đảo cao ngất giữa trời xanh gồm những quần thể dân
cư dày đặc làm nghề nông, vây quanh bốn bề bên dưới là cả một biển mây. Những
người New Guinea ở miền đất thấp duyên hải và dọc các con sông thì sống chủ yếu
dựa vào cá, còn những người sống ở vùng đất khô xa bờ biển và các con sông thì
sống với mật độ thưa thớt bằng nghề nông đốt rừng làm rẫy trồng chuối và khoai
sọ, bổ sung thêm bằng săn bắt hái lượm. Ngược lại, cư dân vùng đầm lầy đất thấp
New Guinea sống theo lối săn bắt hái lượm du cư nhờ thứ cùi nhiều bột của cây
khoai sọ dại vốn có năng suất rất cao và cung cấp lượng calori trên một giờ
công nhiều gấp ba lần so với làm vườn. Các đầm lầy New Guinea do đó cho ta một
ví dụ nhãn tiền về một môi trường nơi người ta vẫn tiếp tục sống bằng săn bắt
hái lượm bởi làm nông nghiệp không cạnh tranh nổi với lối sống săn bắt hái lượm.
Những người săn bắt hái lượm sống bằng khoai sọ ở vùng đầm lầy
đất thấp là tiêu biểu cho tổ chức bầy người săn bắt hái lượm du cư ắt hẳn từng
là đặc trưng cho toàn bộ cư dân New Guinea. Vì tất cả các lý do mà ta đã đề cập
tới ở Chương 13 và 14, các dân tộc làm nông và đánh cá là những dân tộc đã phát
triển được công nghệ, xã hội và tổ chức chính trị phức tạp hơn. Họ sống thành
làng định cư và xã hội bộ lạc, thường do một nhà lãnh đạo đứng đầu. Một số dân
tộc này xây dựng những ngôi nhà lớn, trang trí tinh xảo dùng cho nghi lễ. Nền
nghệ thuật tuyệt diệu của họ – dưới dạng tượng gỗ và mặt nạ gỗ – được đánh giá
cao trong các viện bảo tàng trên khắp thế giới.
Như vậy New Guinea đã trở thành bộ phận có công nghệ, tổ chức
xã hội và chính trị cũng như nền nghệ thuật tiên tiến hơn ở Đại Australia. Tuy
nhiên, xét từ quan điểm của người Mỹ hay người châu Âu thì New Guinea vẫn bị xếp
vào hàng “sơ khai” chứ không phải “tiên tiến”. Tại sao người New Guinea vẫn tiếp
tục dùng công cụ bằng đá chứ không phát triển lên công cụ bằng kim loại, vẫn
không có chữ viết, vẫn không tự tổ chức được thành tù trưởng quốc và nhà nước?
Hóa ra, New Guinea bị cản trở bởi một số yếu tố sinh học và địa lý.
Thứ nhất, mặc dù nền sản xuất lương thực bản địa đã phát sinh
ở vùng cao New Guinea, song ta đã thấy ở Chương 8 rằng nó mang lại không nhiều
protein. Các loại cây trồng chính đều là những cây cho củ có hàm lượng protein
thấp, còn sản lượng từ các loài vật nuôi thuần hóa ít ỏi (lợn và gà) thì quá thấp
không đủ bổ sung lượng protein cho người. Bởi cả lợn lẫn gà đều không thể dùng
để kéo cày nên dân vùng cao vẫn chẳng có nguồn lực nào khác ngoài cơ bắp của
người, cũng không làm tiến hóa được những căn bệnh truyền nhiễm có khả năng đẩy
lùi những kẻ xâm lược châu Âu về sau.
Hạn chế thứ hai khiến dân số vùng cao không đông là diện tích
hạn chế: vùng cao New Guinea chỉ có vài thung lũng rộng, đáng chú ý là các
thung lũng Wahgi và Baliem có thể làm nơi sinh sống cho quần thể dân cư đông
đúc. Lại còn một hạn chế nữa, ấy là thực tế rằng vùng lưng chừng núi từ 1.200 m
đến 2.700 m là cao độ duy nhất ở New Guinea nơi có thể tiến hành sản xuất lương
thực thâm canh. Không hề có sản xuất lương thực ở bất cứ môi trường núi cao nào
trên 2.700 mét, không nhiều sản xuất lương thực trên các sườn đồi từ 1.200 m xuống
đến 300 m, còn ở vùng thấp thì chỉ có nông nghiệp đốt rừng làm rẫy, mật độ dân
cư thấp. Thành thử, sự trao đổi lương thực trên quy mô lớn – giữa các cộng đồng
ở các độ cao khác nhau, mỗi cộng đồng chuyên về một kiểu sản xuất lương thực –
chưa từng phát triển ở New Guinea. Những sự trao đổi như vậy [giữa các độ cao
khác nhau] ở vùng Andes, Alpes và Himalaya không chỉ làm tăng mật độ dân số ở
các khu vực đó nhờ mang lại cho cư dân ở mọi độ cao một chế độ ăn uống cân bằng
hơn, mà còn kích thích sự hợp nhất về kinh tế và chính trị trong khu vực.
Vì tất cả các lý do trên, dân số của New Guinea truyền thống
chưa bao giờ vượt quá 1.000.000 cho tới khi các chính phủ thực dân châu Âu mang
thuốc men của phương Tây đến và chấm dứt cuộc chiến giữa các bộ lạc. Trong số
khoảng chín trung tâm phát nguyên nông nghiệp trên thế giới mà ta đã đề cập tới
ở Chương 5, New Guinea là trung tâm có dân số ít ỏi hơn hết. Với vỏn vẹn 1 triệu
người, New Guinea không thể phát triển được công nghệ, chữ viết và các hệ thống
chính trị vốn chỉ hình thành ở các quần thể dân cư hàng chục triệu người như ở
Trung Hoa, Lưỡi liềm Phì nhiêu, dãy Andes và Trung Mỹ.
Dân số New Guinea không chỉ ít ỏi nếu gộp chung lại, mà còn bị
chia cắt thành hàng ngàn quần thể nhỏ manh mún bởi địa hình lởm chởm: đầm lầy ở
hầu hết vùng đất thấp, những rặng núi dốc và hẻm núi hẹp xen kẽ nhau ở vùng
cao, và rừng rậm bao phủ cả vùng cao lẫn vùng đất thấp. Hồi tôi còn đi thăm dò
sinh vật học ở New Guinea với những nhóm người New Guinea làm trợ lý điền dã,
thậm chí dù men theo những đường mòn có sẵn nhưng nếu mỗi ngày tiến được ba dặm
là tôi đã coi như thành công ghê gớm lắm rồi. Hầu hết dân vùng cao New Guinea
truyền thống suốt đời không đi đâu quá 10 dặm (16 cây số) khỏi nhà mình.
Những khác biệt đó về địa hình, kết hợp với tình trạng chiến
tranh lúc có lúc không vốn đặc trưng cho quan hệ giữa các bầy người hay các
làng New Guinea với nhau, là nguyên nhân cho sự phân tán của New Guinea về ngôn
ngữ, văn hóa và chính trị. New Guinea có độ tập trung cao nhất về ngôn ngữ vượt
xa mọi khu vực khác trên thế giới: 1.000 trong số 6.000 ngôn ngữ của toàn thế
giới chen chúc trên một diện tích chỉ rộng hơn bang Texas đôi chút, lại chia ra
thành hàng tá ngữ tộc và ngôn ngữ cá biệt khác xa nhau như tiếng Anh khác xa tiếng
Trung Hoa. Gần một nửa tất cả các ngôn ngữ New Guinea chỉ có không đầy 500 người
nói, và thậm chí nhóm ngôn ngữ lớn nhất (vẫn chỉ có vỏn vẹn 100.000 người nói)
cũng chia cắt về mặt chính trị thành hàng trăm làng, các làng này đánh nhau ác
liệt chả kém gì đánh nhau với những làng nói các ngôn ngữ khác. Mỗi một xã hội
trong số xã hội siêu nhỏ đó quá nhỏ nên không thể nào sinh ra được tầng lớp tù
trưởng và thợ thủ công chuyên nghiệp, hay để phát triển nghề luyện kim và chữ
viết.
Ngoài dân số ít ỏi và phân chia manh mún, một hạn chế khác đối
với sự phát triển của New Guinea là sự cô biệt về địa lý, khiến công nghệ và ý
tưởng từ nơi khác khó lòng vào được. Ba láng giềng của New Guinea thảy đều bị
chia cách với New Guinea bởi đường biển, và mãi đến cách đây mấy ngàn năm những
vùng này thậm chí còn chậm tiến hơn cả New Guinea (nhất là vùng cao của New
Guinea) về công nghệ và sản xuất lương thực. Trong ba láng giềng đó, người
Australia bản địa vẫn sống bằng săn bắt hái lượm nên hầu như chẳng có gì để
mang lại cho người New Guinea mà người New Guinea chưa có. Láng giềng thứ hai của
New Guinea là các hòn đảo Bismarck và quần đảo Solomon nhỏ hơn nhiều về phía
đông. Còn lại láng giềng thứ ba, ấy là các hòn đảo đông Indonesia. Thế nhưng kể
cả khu vực đó cũng là một nơi lạc hậu về văn hóa, chỉ có những người săn bắt
hái lượm sinh sống gần như suốt cả quá trình lịch sử. Người ta không thể xác định
liệu đã có một thứ gì đến được New Guinea thông qua Indonesia từ sau khi New
Guinea có người ở lần đầu tiên hơn 40.000 năm trước cho đến khi người Nam Đảo
bành trướng vào khoảng năm 1.600 TCN.
Với sự bành trướng đó, Indonesia bắt đầu bị chiếm lĩnh bởi những
người sản xuất lương thực có nguồn gốc từ châu Á, có những con vật được thuần
hóa, có nông nghiệp và công nghệ ít nhất cũng phức tạp như công nghệ của New
Guinea, và có kỹ năng đi biển giúp họ đi lại hữu hiệu hơn nhiều từ châu Á sang
New Guinea. Người Nam Đảo di cư đến các hòn đảo phía tây, phía bắc và phía đông
New Guinea, đến cả vùng bờ biển cực tây, phía bắc và phía đông nam của bản thân
New Guinea. Người Nam Đảo đến New Guinea mang theo nghề làm đồ gốm, gà, có thể
cả chó và lợn. (Các điều tra khảo cổ từ đầu đã tuyên bố tìm thấy xương lợn ở
vùng cao New Guinea trước năm 4.000 TCN, song các tuyên bố này chưa được xác nhận).
Ít nhất là trong mấy ngàn năm trở lại đây, thương mại đã nối liền New Guinea với
các xã hội tiên tiến hơn nhiều về công nghệ ở Java và Trung Hoa. New Guinea xuất
khẩu [sang các vùng này] lông chim phượng hoàng và gia vị, đổi lại họ nhận hàng
hóa của Đông Nam Á trong đó có cả những thứ xa xỉ như trống đồng Đông Sơn và đồ
sứ Trung Hoa.
Cùng với thời gian, sự bành trướng của người Nam Đảo ắt hẳn sẽ
có nhiều tác động hơn đến New Guinea. Tây New Guinea ắt hẳn sẽ được hợp nhất về
chính trị với các tiểu quốc Hồi giáo (sultanate) ở miền đông Indonesia, và công
cụ bằng kim loại ắt hẳn sẽ bành trướng từ đông Indonesia sang New Guinea. Thế
nhưng điều đó đã không xảy ra cho mãi đến năm 1511, năm mà người Bồ Đào Nha đặt
chân đến Molucca và cắt đứt con đường phát triển riêng biệt của Indonesia. Khi
người châu Âu đến New Guinea chẳng bao lâu sau đó, cư dân New Guinea vẫn hãy
còn sống thành bầy người hoặc thành từng làng nhỏ quyết liệt đòi tự trị và vẫn
còn dùng công cụ đá.
Trong khi bán lục địa New Guinea của Đại Australia đã phát
triển được cả chăn nuôi lẫn trồng trọt thì Australia chẳng có cả cái này lẫn
cái kia. Trong suốt các thời kỳ Băng hà Australia thậm chí từng có nhiều loài
thú có túi lớn hơn cả New Guinea, trong đó có con diprotodont (loài có túi
tương đương với bò và tê giác), chuột túi khổng lồ và gấu túi khổng lồ. Nhưng tất
cả các loài có túi lẽ ra có thể được thuần hóa làm gia súc đều biến mất trong
làn sóng tuyệt chủng (hoặc diệt chủng) đi liền với việc con người di cư đến
Australia. Điều đó khiến cho Australia, cũng như New Guinea, không có lấy một
loài thú hữu nhũ thuần hóa nào là loài bản địa. Loài thú hữu nhũ thuần hóa duy
nhất được du nhập từ ngoài vào Australia là chó, chắc hẳn đã được người Nam Đảo
mang từ châu Á đến bằng xuồng vào khoảng 1500 năm TCN và thích nghi với môi trường
hoang dã Australia mà biến thành loài chó dingo. Người Australia bản địa nuôi
chó dingo bắt được làm bầu bạn, để giữ nhà, thậm chí để dùng làm những tấm chăn
sống [đắp lên mình cho đỡ lạnh, ND], từ đó mới có câu thành ngữ “đêm năm con
chó” ý nói một đêm cực lạnh. Nhưng họ không dùng chó dingo hay chó [thuần gốc]
làm thức ăn như người Polynesia, cũng không dùng chúng để đi săn thú hoang như
người New Guinea.
Nông nghiệp cũng đã không khởi đầu ở Australia, bởi đây không
chỉ là lục địa khô nhất mà còn là lục địa cằn cỗi nhất. Thêm nữa, Australia chẳng
giống một nơi nào khác còn ở chỗ khí hậu trên hầu khắp lục địa này chịu ảnh hưởng
áp đảo của một chu trình bất thường không theo năm, [cái gọi là] ENSO (viết tắt
của Dao động phía nam của El Niño) chứ không phải theo chu kỳ hằng năm đều đặn
luân chuyển giữa các mùa vốn rất quen thuộc ở hầu hết các phần khác trên thế giới.
Những cơn hạn hán nghiêm trọng không thể đoán trước kéo dài từ năm này sang năm
khác, điểm xuyết bằng những trận mưa như trút và lũ xối xả cũng không thể đoán
trước y như vậy. Ngay cả ngày nay, có những loại cây trồng Âu-Á, có xe tải và
đường sắt để chuyên chở sản phẩm, vậy mà sản xuất lương thực ở Australia vẫn cứ
là một ngành kinh doanh lắm rủi ro. Những bầy gia súc được gầy dựng trong những
năm tốt trời chỉ để rồi chết sạch trong một lần hạn hán. Bất cứ nhà nông sơ
khai nào ở Australia bản địa ắt cũng đã đối mặt với những chu trình tương tự
trong quần thể của mình. Nếu trong những năm khí hậu tốt họ đã sống định cư
thành làng, trồng trọt, sinh con đẻ cái, thì số dân đông đảo ấy rồi cũng sẽ đói
ăn mà chết dần mòn trong những năm hạn hán khi đất đai chỉ nuôi nổi một dúm người
ít hơn nhiều.
Một trở ngại chính khác cho sự phát triển sản xuất lương thực
ở Australia là những loài cây hoang có thể thuần hóa được thật hiếm hoi. Ngay cả
các nhà di truyền học cây trồng người châu Âu hiện nay cũng không phát triển được
bất cứ loại cây trồng nào khác trừ hạt macadamia từ các loài thực vật bản địa của
Australia. Trong danh sách các loài cây ngũ cốc có tiềm năng của thế giới – 56
loài cây thân thảo có hạt nặng nhất – chỉ có hai loài là của Australia, cả hai
đều xếp ở gần cuối danh sách (hạt nặng có 13 miligram, so với những 40 miligram
của hạt nặng nhất ở một nơi khác trên thế giới). Nói thế không có nghĩa là
Australia chẳng có lấy một loại cây trồng tiềm năng nào hoặc người Australia bản
địa sẽ chẳng bao giờ phát triển nổi một nền sản xuất lương thực bản địa. Một số
cây như một số loài khoai sọ, khoai mỡ và cây hoàng tinh được trồng ở New
Guinea nhưng cũng mọc hoang ở bắc Australia và được thổ dân ở đó thu hoạch. Như
ta sẽ thấy, thổ dân ở những vùng có khí hậu thuận lợi nhất của Australia đang
tiến hóa theo một hướng có khả năng sẽ dẫn đến sản xuất lương thực. Song, cho dẫu
sản xuất lương thực bản địa có ra đời ở Australia đi nữa, nó cũng sẽ bị hạn chế
bởi thiếu các loài vật có thể thuần hóa được, quá ít loài cây có thể thuần hóa
được, bởi những khó khăn do đất cằn cỗi và khí hậu khôn lường.
Lối sống du cư, săn bắt hái lượm và đầu tư tối thiểu vào nhà ở
cũng như tài sản là những biện pháp hợp lý nhằm thích nghi với tính bất khả
tiên đoán của tài nguyên do tác động của ENSO ở Australia. Khi điều kiện sống ở
một nơi bắt đầu xuống cấp, thổ dân chỉ việc chuyển đến một khu vực khác nơi điều
kiện tạm thời tốt hơn. Thay vì chỉ lệ thuộc vào dăm ba loại cây trồng có thể mất
mùa, họ giảm thiểu rủi ro bằng cách phát triển một nền kinh tế dựa trên rất nhiều
loại lương thực hoang dã [bởi vì] khó có chuyện tất cả các nguồn lương thực đó
trở nên khan hiếm cùng một lúc. Thay vì có một dân số lúc tăng lúc giảm thường
xuyên vượt quá nguồn tài nguyên có hạn để rồi chết đói, họ duy trì dân số ít đặng
có thể tận hưởng thức ăn dồi dào trong những năm được mùa và vẫn đủ ăn trong những
năm khốn khó.
Thay cho sản xuất lương thực, thổ dân Australia bản địa tiến
hành cái gọi là “nông nghiệp đốt rừng”. Thổ dân điều chỉnh và quản lý cảnh quan
xung quanh mình bằng những cách sao cho nâng cao được sản lượng cây và con ăn
được mà không phải canh tác đất. Cụ thể, họ cố ý đốt hầu hết đất đai một cách định
kỳ. Việc đó nhằm nhiều mục đích: lửa khiến cho các loài thú chạy ra [khỏi rừng],
thế là con người có thể giết chúng mà ăn thịt ngay lập tức; lửa biến những vùng
rừng cây dày đặc thành đất trống nơi con người có thể đi lại dễ dàng hơn; khu đất
trống đó cũng là môi trường lý tưởng cho chuột túi, mồi săn số một của
Australia; lửa lại còn kích thích sinh trưởng cho lớp cỏ mới làm thức ăn cho
chuột túi lẫn rễ cây dương xỉ làm thức ăn cho bản thân các thổ dân.
Chúng ta thường cho rằng thổ dân Australia là dân sa mạc,
nhưng hầu hết họ không phải vậy. Thay vào đó, mật độ dân cư của họ thay đổi tùy
theo lượng mưa (bởi lượng mưa chi phối năng suất lương thực từ các loài cây dại
và thú vật sống trên mặt đất) và tùy theo lượng thủy sản ở biển và sông hồ. Mật
độ dân số cao nhất của thổ dân là ở các khu vực có lượng mưa cao nhất và năng sản
nhất: hệ thống sông Murray-Darling ở miền đông nam, vùng duyên hải phía đông và
phía bắc, góc tây nam. Các khu vực này về sau rồi cũng nuôi sống được mật độ
dân cư cao nhất những người di cư châu Âu ở Australia ngày nay. Sở dĩ chúng ta
vẫn cho rằng thổ dân Australia là dân sa mạc đơn giản là do người châu Âu đã
tàn sát họ hoặc đuổi họ ra khỏi những vùng đất đáng ao ước nhất, chỉ cho phép
những quần thể thổ dân Australia cuối cùng còn nguyên vẹn sống ở những khu vực
mà người châu Âu không thèm.
Trong vòng 5.000 năm trở lại đây, một số khu vực năng sản đó
đã chứng kiến sự chuyên sâu hóa các phương pháp thu lượm lương thực của thổ dân
Australia, và mật độ dân số thổ dân đã tăng dần. Ở miền đông Australia, người
ta phát triển những kỹ thuật nhằm chế biến các loại hạt có rất sẵn và nhiều bột
nhưng cực độc sao cho ăn được, bằng cách tẩy hoặc cho chất độc lên men. Những
vùng cao nguyên đông nam Australia mà trước đây chưa được khai thác bắt đầu có
người thường xuyên lui tới trong mùa hè, ấy là những thổ dân vốn không chỉ sống
bằng hạt mè và khoai lang mà còn ăn cả một loài bướm đêm di trú gọi là bướm
bogong thường ngủ đông với số lượng khổng lồ, loài này nướng lên có vị như hạt
dẻ rang. Một dạng hoạt động thu lượm lương thực chuyên sâu khác mà thổ dân
Australia đã phát triển được là nghề săn lươn nước ngọt ở hệ thống sông
Murray-Darling nơi mực nước ở các đầm lầy dao động tùy lượng mưa theo mùa. Thổ
dân Australia xây những hệ thống kênh phức tạp dài tới 1 dặm (1,6 km) và rộng tới
nửa dặm (0,8 km) để lươn có thể di chuyển từ đầm này sang đầm kia. Họ bắt lươn
bằng những chiếc đăng cũng phức tạp không kém, bẫy đặt ở các kênh cụt nằm hai
bên, và những bức tường đá chắn ngang kênh, chính giữa tường có một lỗ thủng
chăng lưới. Những chiếc bẫy đặt ở các độ sâu khác nhau trong đầm hoạt động tùy
theo mực nước lên cao xuống thấp. Xây các “ngư trường” như vậy ắt hẳn mất rất
nhiều công sức, song bù lại chúng nuôi sống được nhiều người. Những người châu
Âu đến đây vào thế kỷ mười chín đã nhìn thấy những ngôi làng gồm hàng tá căn
nhà của thổ dân Australia ở các trại lươn, có cả di tích khảo cổ của những ngôi
làng gồm tới 146 căn nhà bằng đá cho thấy dân số theo mùa ở đó ít nhất cũng lên
tới hàng trăm người.
Lại còn một tiến triển khác nữa ở miền đông và miền bắc
Australia, ấy là thu hoạch hạt của một loài cây dại thuộc cùng một giống với hạt
kê bắp chổi (broomcorn millet) vốn là một loại cây trồng chính của nền nông
nghiệp Trung Hoa thời kỳ đầu. Người ta dùng dao bằng đá để gặt kê, chất thành đống
rồi tuốt hạt, trữ hạt trong bao da hay đĩa gỗ rồi dùng cối đá để xay. Một số
công cụ được dùng trong quá trình này, chẳng hạn như dao đá để gặt và đá cối
xay, cũng giống như các công cụ được phát minh độc lập ở vùng Lưỡi liềm Phì
nhiêu để xử lý hạt của các loài cây thân thảo khác. Trong tất cả các phương
pháp thu lượm lương thực của thổ dân bản địa Australia, thu hoạch kê có lẽ là
phương pháp có khả năng tiến hóa thành trồng trọt nhất.
Cùng với sự thu lượm lương thực chuyên sâu trong 5.000 năm trở
lại đây, người ta cũng chế ra những loại công cụ mới. Những lưỡi dao và mũi nhọn
nhỏ bằng đá cho phép mỗi đơn vị trọng lượng công cụ có cạnh sắc dài hơn so với
các công cụ đá có kích thước lớn trước kia. Những chiếc rìu có cạnh đá mài nhẵn
mà trước kia chỉ có ở một số vùng của Australia nay phổ biến khắp nơi. Lưỡi câu
bằng vỏ sò xuất hiện trong một ngàn năm trở lại đây.
Do đâu Australia đã không phát triển được công cụ bằng kim loại,
chữ viết và xã hội phức tạp về chính trị? Một nguyên nhân chính là bởi thổ dân
Australia vẫn tiếp tục là dân săn bắt hái lượm, trong khi – như ta đã thấy ở
Chương 12-14 – những bước tiến đó chỉ nảy sinh ở những xã hội sản xuất lương thực,
đông dân và chuyên môn hóa về kinh tế. Ngoài ra, tình trạng mưa khan hiếm, đất
cằn cỗi và khí hậu khó lường khiến cho dân số những người săn bắt hái lượm
Australia không thể vượt quá mức vài trăm ngàn. So sánh với hàng chục triệu người
ở Trung Hoa hay Trung Mỹ cổ đại, điều đó có nghĩa là Australia có số nhà phát
minh tiềm năng ít ỏi hơn nhiều, cũng như số xã hội ít ỏi hơn nhiều, không đủ để
thử nghiệm việc tiếp thu cái mới. Đã vậy, vài trăm ngàn người đó cũng chẳng được
tổ chức thành những xã hội có tiếp xúc chặt chẽ với nhau. Thay vì vậy,
Australia bản địa là cả một sa mạc mênh mông cực kỳ thưa thớt dân cư, rải rác
trên đó là những “ốc đảo” có điều kiện sinh thái thuận lợi hơn, mỗi ốc đảo chỉ
bao gồm một phần nhỏ dân số của toàn lục địa, các ốc đảo này ít tiếp xúc với
nhau vì khoảng cách xa xôi. Ngay cả ở vùng phía đông tương đối ẩm ướt và sản vật
dồi dào hơn, sự trao đổi giữa các xã hội cũng bị hạn chế bởi khoảng cách 1.900
dặm (hơn 3.000 km) từ vùng rừng mưa xích đạo Queensland ở phía đông bắc đến
vùng rừng mưa ôn đới Victoria ở phía đông nam, một khoảng cách về địa lý và
sinh thái cũng lớn như khoảng cách từ Los Angeles đến Alaska vậy.
Một số trường hợp thoái bộ về công nghệ mang tính khu vực hoặc
toàn lục địa ở Australia có thể có nguyên nhân từ vị thế cô lập và số dân khá
ít ỏi ở các trung tâm dân cư của nó. Chiếc boomerang, thứ vũ khí quốc hồn quốc
túy của Australia, đã bị người dân vùng bán đảo Cape York ở đông bắc Australia
từ bỏ. Khi gặp người châu Âu lần đầu tiên, các thổ dân vùng tây nam Australia
không ăn sò. Chức năng của những mũi nhọn nhỏ bằng đá vốn xuất hiện ở các di chỉ
khảo cổ Australia khoảng 5.000 năm trước vẫn còn chưa rõ: tuy có thể giải thích
một cách dễ dãi rằng hẳn người Australia dùng chúng để gắn vào mũi lao hay làm
ngạnh tên, nhưng chúng lại giống đến đáng ngờ với những mũi nhọn và ngạnh bằng
đá được dùng làm mũi tên ở vài nơi khác trên thế giới. Nếu quả thực công dụng
chúng là như vậy thì hẳn ta có thể lý giải điều bí ẩn rằng cung tên có mặt ở
New Guinea hiện đại nhưng lại vắng bóng ở Australia: có lẽ người Australia quả
thực đã tiếp thu cung tên trong một thời gian, sau đó lại từ bỏ chúng trên toàn
bộ lục địa này. Các ví dụ này nhắc ta nhớ lại trường hợp người Nhật đã tiếp thu
súng rồi lại từ bỏ súng, người Polynesia từng tiếp thu cung tên và đồ gốm rồi lại
từ bỏ những thứ này, và những trường hợp các xã hội cô lập khác tiếp thu rồi lại
bỏ những công nghệ khác (Chương 13).
Trường hợp đánh mất công nghệ một cách cực đoan nhất ở
Australia xảy ra trên hòn đảo Tasmania, cách bờ Đông Nam Australia 130 dặm (hơn
200 km). Vào thời Pleitoxen khi mực nước biển thấp, eo biển hẹp Bass mà ngày
nay ngăn giữa Tasmania với Australia hãy còn là dải đất khô và những người sống
ở Tasmania hãy còn là một bộ phận của quần thể người phân bố đều khắp trên lục
địa Australia mở rộng. Khi eo biển này rốt cuộc bị ngập nước vào khoảng 10.000
năm trước, người Tasmania và cư dân lục địa chính Australia bị chia cắt khỏi
nhau bởi không nhóm nào có tàu bè đủ khả năng vượt qua eo Bass cả. Từ đó trở
đi, dân số Tasmania gồm 4.000 người săn bắt hái lượm lâm vào tình trạng mất
liên lạc với tất cả những người khác trên Trái đất, sống trong một sự cô biệt
mà có chăng người ta chỉ biết tới trong tiểu thuyết khoa học giả tưởng.
Khi rốt cuộc cũng tiếp xúc với người châu Âu vào năm 1642,
người Tasmania có nền văn hóa vật chất thô sơ nhất so với bất cứ dân tộc nào
khác trên thế giới hiện đại. Cũng như lục địa chính Australia, họ là những người
săn bắt hái lượm không có công cụ bằng kim loại. Thế nhưng họ còn không có nhiều
công nghệ và vật dụng khác mà ở Australia là phổ biến, trong đó có lao ngạnh,
công cụ bằng xương đủ loại, boomerang, công cụ bằng đá có mài hoặc đánh bóng,
công cụ đá có cán, lưỡi câu, lưới, lao có răng, lao có ngạnh, bẫy, không biết bắt
cá và ăn cá, không biết khâu vá, không biết nhóm lửa. Một số công nghệ trong số
này có thể đã được du nhập hoặc được phát minh ở lục địa chính Australia chỉ
sau khi Tasmania bị tách ra, trong trường hợp đó ta có thể kết luận rằng dân cư
ít ỏi của Tasmania đã không tự phát minh được các công nghệ đó. Những công nghệ
khác trong số này đã được mang đến Tasmania vào thời nó vẫn còn là một bộ phận
của lục địa chính Australia, nhưng về sau, khi Tasmania bị cô lập khỏi
Australia thì các công nghệ này cũng mất. Chẳng hạn, tài liệu khảo cổ Tasmania
ghi nhận sự biến mất của nghề câu cá, của cái dùi, kim và các công cụ bằng
xương khác vào khoảng 1.500 năm TCN. Trên ít nhất ba hòn đảo nhỏ hơn (Flinders,
Kangaroo và King) đã bị tách rời khỏi Australia hay Tasmania khi nước biển dâng
lên khoảng 10.000 năm về trước, những quần thể dân cư ở đó, ban đầu có khoảng
200 đến 400 người, đã hoàn toàn tuyệt chủng.
Như vậy Tasmania và các hòn đảo nhỏ hơn kia minh họa bằng
hình thức cực đoan một kết luận có thể mang tầm quan trọng lớn lao đối với lịch
sử thế giới. Những quần thể người gồm vỏn vẹn vài trăm người không có khả năng
sống sót trong tình trạng hoàn toàn bị cách ly. Một quần thể gồm 4.000 người
thì có khả năng sống sót trong 10.000 năm, nhưng với những mất mát to lớn về
văn hóa và thiếu trầm trọng khả năng sáng tạo cái mới, khiến quần thể đó chỉ
còn lại một nền văn hóa vật chất thô sơ có một không hai. 300.000 dân săn bắt
hái lượm ở lục địa chính Australia thì đông đúc hơn và ít bị cách ly hơn so với
Tasmania song vẫn là quần thể người nhỏ nhất và cô biệt nhất sao với bất cứ lục
địa nào khác. Các trường hợp được ghi nhận về sự thoái bộ công nghệ trên lục địa
chính Australia và ví dụ về Tasmania cho thấy sự lạc hậu của thổ dân Australia
so với các dân tộc trên những lục địa khác có thể một phần bắt nguồn từ ảnh hưởng
của tình trạng cô biệt và số dân ít ỏi đối với sự phát triển và duy trì công
nghệ – cũng giống như các ảnh hưởng tương tự trên Tasmania, song ít cực đoan
hơn. Suy ra, cũng chính những ảnh hưởng đó hẳn đã góp phần tạo nên sự khác biệt
về công nghệ giữa lục địa lớn nhất (Âu-Á) với các lục địa khác lần lượt nhỏ hơn
(châu Phi, Bắc Mỹ và Nam Mỹ).
Tại sao công nghệ tiên tiến hơn từ các láng giềng Indonesia
và New Guinea đã không đến được Australia? Về phần Indonesia, nó bị biển ngăn
cách với phía tây bắc Australia, mặt khác nó cũng khác xa Australia về sinh
thái. Ngoài ra, bản thân Indonesia cho mãi đến vài ngàn năm gần đây cũng là một
khu vực chậm tiến về văn hóa và công nghệ. Không có bằng chứng nào cho thấy có
công nghệ hay phát minh mới được du nhập vào Australia qua ngả Indonesia từ sau
khi có người di cư đến Australia lần đầu tiên vào 40.000 năm trước cho đến khi
chó dingo xuất hiện ở đây vào khoảng 1500 năm TCN.
Chó dingo đặt chân đến Australia vào thời điểm cao trào bành
trướng của người Nam Đảo xuất phát từ Nam Trung Hoa qua ngả Indonesia. Người
Nam Đảo đã thành công trong việc định cư ở mọi hòn đảo của Indonesia, trong đó
có hai đảo gần Australia nhất là Timor và Tanimbar (chỉ cách Australia hiện đại
lần lượt là 275 và 205 dặm – 440 và 328 km). Do người Nam Đảo từng vượt những
quãng đường biển còn xa hơn nhiều trong quá trình bành trướng ra khắp Thái Bình
Dương, nên hẳn ta phải đặt giả thiết rằng họ đã thường xuyên tới Australia, thậm
chí dù ta không có loài chó dingo để làm bằng chứng đi chăng nữa. Trong nhiều
thời kỳ lịch sử, hằng năm đều có những chuyến viếng thăm miền tây bắc Australia
bằng xuồng có buồm xuất phát từ hạt Macassar trên đảo Sulawesi (Celebes) của
Indonesia, cho tới khi chính phủ Australia chấm dứt các chuyến đi này vào năm
1907. Bằng chứng khảo cổ cho thấy các chuyến thăm đó đã khởi đầu từ khoảng năm
1000, thậm chí còn có thể từ xưa hơn nữa. Mục đích chính của những chuyến thăm
này là để kiếm hải sâm, loài có họ hàng với sao biển được xuất từ Macassar sang
Trung Hoa làm một thứ thuốc kích dục được cho là hiệu nghiệm hoặc làm một thành
phần đắt giá trong các món canh.
Lẽ tự nhiên, sự trao đổi được hình thành trong quá trình những
chuyến thăm đó của người Macassar đã để lại nhiều di sản ở miền tây bắc
Australia. Người Macassar trồng cây me ở các chỗ cắm trại của họ dọc theo bờ biển
và sinh con đẻ cái với phụ nữ thổ dân Australia. Họ mang theo vải vóc, công cụ
kim loại, đồ gốm và thủy tinh làm đồ trao đổi, mặc dù thổ dân Australia chẳng
bao giờ học được cách tự sản xuất ra những thứ kia. Thổ dân Australia quả là có
vay mượn từ người Macassar một số từ ngữ, một vài nghi lễ, kỹ năng dùng xuồng độc
mộc căng buồm và tập quán hút thuốc bằng tẩu.
Thế nhưng không một ảnh hưởng nào trong số đó làm thay đổi được
đặc tính cơ bản của xã hội Australia. Còn quan trọng hơn những gì đã xảy ra do
hệ quả những chuyến thăm của người Macassar là những gì đã không xảy ra từ đó.
Người Macassar đã không định cư ở Australia, rõ ràng là bởi vùng tây bắc
Australia đối diện với Indonesia quá ít mưa không thích hợp với nghề nông
Macassar. Giá như Indonesia đối diện với vùng rừng mưa nhiệt đới và đồng cỏ miền
đông bắc Australia thì ắt hẳn người Macassar đã có thể ở lại định cư, song
không có bằng chứng nào cho thấy họ đã đi xa đến thế. Bởi người Macassar chỉ đến
từng nhóm nhỏ, lưu lại một thời gian có hạn và không bao giờ đi sâu vào nội địa,
nên chỉ một vài nhóm Australia trên những dải hẹp ven biển là tiếp xúc với họ
thôi. Mà ngay cả dăm ba người Australia đó cũng chỉ nhìn thấy một phần nhỏ của
văn hóa và công nghệ Macassar chứ không phải toàn bộ xã hội Macassar gồm những
cánh đồng lúa, lợn, làng mạc và công xưởng. Bởi người Australia vẫn là dân săn
bắt hái lượm du cư, nên họ chỉ tiếp thu vài ba sản phẩm và tập quán Macassar khả
dĩ thích nghi với lối sống của họ thôi. Xuồng độc mộc có buồm và tẩu thì được,
nhưng lò rèn và lợn thì không.
So với việc người Australia từ chối tiếp nhận ảnh hưởng của
người Indonesia thì việc họ từ chối ảnh hưởng của New Guinea có vẻ như kỳ lạ
hơn nhiều. Ngang qua dải nước hẹp với cái tên eo Torres, những nhà nông New
Guinea nói ngôn ngữ New Guinea và có lợn, đồ gốm, cung tên đối mặt với những
người Australia nói ngôn ngữ Australia và không có lợn, đồ gốm, cung tên. Hơn nữa,
eo biển này chẳng phải một hàng rào ngăn cách toàn là nước mà rải rác một chuỗi
đảo, trong số đó hòn đảo lớn nhất (đảo Muralug) chỉ cách bờ biển Australia vỏn
vẹn có 10 dặm (16 km). Người ta vẫn thường xuyên qua lại trao đổi hàng hóa giữa
Australia với các đảo và giữa các đảo với New Guinea. Nhiều phụ nữ thổ dân
Australia lấy chồng là dân đảo Muralug, sống ở đó và nhìn thấy vườn tược, cung
tên của người Muralug. Thế thì vì cớ gì những nét New Guinea đó đã không lan
sang Australia được?
Tuy nhiên, cái rào cản văn hóa là eo Torres đó chỉ khó hiểu nếu
ta tự làm mình lạc lối khi tự hình dung một xã hội New Guinea đủ lông đủ cánh,
có trồng trọt thâm canh và biết nuôi lợn chỉ cách Australia vỏn vẹn 10 dặm bên
kia eo biển. Trên thực tế, thổ dân vùng Cape York chưa bao giờ gặp một người
New Guinea “chính hiệu” nào. Thay vào đó chỉ có sự trao đổi giữa New Guinea với
các đảo gần New Guinea nhất, sau đó là giữa các đảo đó với đảo Mabuiag và đảo
Badu xa hơn xuôi theo eo biển, kế đó là giữa đảo Badu với đảo Muralug, cuối
cùng mới đến trao đổi giữa Muralug với Cape York.
Càng đi xa dọc theo chuỗi đảo đó thì xã hội New Guinea càng
loãng dần. Lợn hiếm gặp hoặc hoàn toàn vắng bóng trên các đảo. Người dân vùng đất
thấp Nam New Guinea dọc theo eo Torres không làm nông nghiệp thâm canh như trên
vùng cao New Guinea mà chỉ trồng trọt theo lối đốt rừng làm rẫy, phụ thuộc nặng
nề vào hải sản, săn bắt và hái lượm. Tầm quan trọng của ngay cả lối đốt rừng
làm rẫy đó cũng ngày càng suy giảm từ miền nam New Guinea đến Australia dọc
theo chuỗi đảo. Bản thân hòn đảo Muralug gần Australia nhất thì khô hạn, khó trồng
trọt được, chỉ có thể nuôi sống một số ít người, những người này sống chủ yếu
nhờ hải sản, khoai sọ hoang và quả đước.
Như vậy, diện tiếp xúc giữa New Guinea với Australia thông
qua eo Torres gợi cho ta nhớ trò chơi điện thoại của trẻ con: bọn trẻ ngồi
thành vòng tròn, một đứa thì thầm một từ vào tai đứa thứ nhì, đứa này thì thầm
lại cái mà nó nghe được vào tai đứa thứ ba, đến khi đứa cuối cùng sau khi nghe
xong liền thì thầm trở lại vào tai đứa đầu tiên thì cái từ đó hoàn toàn chẳng
giống từ ban đầu một tí nào. Cũng vậy, việc trao đổi dọc theo chuỗi đảo trên eo
Torres là một trò chơi điện thoại mà cuối cùng cái được trình ra trước mắt thổ
dân vùng Cape York là khác xa với xã hội New Guinea. Ngoài ra, chúng ta không
nên tưởng tượng rằng quan hệ giữa dân đảo Muralug với thổ dân Cape York là một
cuộc hội hè liên tục trong tinh thần hữu ái mà trong đó thổ dân Australia háo hức
nuốt từng lời dạy dỗ từ những vị thầy đến từ hòn đảo nọ. Thay vì vậy, sự trao đổi
[hòa bình] có những lúc bị ngắt quãng bởi những cuộc chiến tranh nhằm mục đích
săn đầu người và bắt phụ nữ về làm vợ.
Mặc dù văn hóa New Guinea bị loãng đi do khoảng cách và chiến
tranh, song một vài ảnh hưởng của New Guinea vẫn đến được Australia. Việc hôn
phối giữa hai bên đã mang đến bán đảo Cape York một số nét ngoại hình của New
Guinea như tóc quăn thay vì tóc thẳng. Bốn ngôn ngữ Cape York có những âm vị bất
thường so với Australia, có lẽ do ảnh hưởng của ngôn ngữ New Guinea. Trong những
cái đã lan truyền từ New Guinea sang Australia thì quan trọng nhất là lưỡi câu
cá bằng vỏ sò vốn đã bành trướng sâu vào nội địa Australia, và thuyền có mái
chèo, bành trướng xuống bán đảo Cape York. Trống, mặt nạ nghi lễ, trụ mai táng
và ống tẩu của người New Guinea cũng được tiếp thu ở Cape York. Nhưng thổ dân
Cape York đã không tiếp thu nghề nông, một phần bởi cái mà họ thấy trên đảo
Muralug chỉ là hình ảnh mờ nhạt của nghề nông New Guinea “chính hiệu” mà thôi.
Họ không tiếp thu lợn, bởi trên các đảo dọc eo Torres có rất ít hoặc không có lợn,
và bởi nếu không có nghề nông thì đằng nào cũng chẳng biết nuôi chúng bằng gì cả.
Họ cũng không tiếp thu cung tên mà vẫn dùng lao và ná bắn lao.
Australia thì rộng, New Guinea cũng vậy. Nhưng sự giao tiếp
giữa hai khối đất liền lớn đó chỉ hạn chế ở những nhóm dân đảo eo Torres ít ỏi,
với một nền văn hóa New Guinea đã nhạt đi rất nhiều, tiếp xúc với dăm ba nhóm
thổ dân ít ỏi ở Cape York. Quyết định của thổ dân Cape York – vẫn dùng lao chứ
không dùng cung tên và không tiếp thu một số nét khác của nền văn hóa New
Guinea mà họ thấy do nó đã bị nhạt đi nhiều – đã ngăn cản việc lan truyền các
nét văn hóa New Guinea đó vào phần còn lại của Australia. Hậu quả là chẳng một
nét New Guinea nào bành trướng sâu vào nội địa New Guinea ngoại trừ lưỡi câu bằng
vỏ sò. Giá như hàng trăm ngàn nhà nông ở vùng cao New Guinea có dịp tiếp xúc gần
gũi với thổ dân ở những vùng cao mát mẻ phía đông nam Australia thì ắt hẳn sự
chuyển giao ồ ạt nền sản xuất lương thực thâm canh và văn hóa của New Guinea
sang Australia đã có thể diễn ra. Nhưng các vùng cao New Guinea lại cách xa các
vùng cao Australia những 2.000 dặm (3.200 km) cảnh quan rất khác nhau về sinh
thái. Nếu nói về cơ hội để người Australia có thể quan sát và tiếp thu tập quán
của dân vùng cao New Guinea thì vùng cao New Guinea cũng xa xôi diệu vợi chẳng
khác gì núi trên mặt trăng vậy.
Nói ngắn gọn, thoạt trông thì việc những người săn bắt hái lượm
du cư Australia thời Đồ đá dù tiếp xúc với các nhà nông New Guinea thời Đồ đá
và các nhà nông Indonesia thời Đồ sắt vẫn khăng khăng không chịu từ bỏ lối sống
của mình có vẻ chỉ là do người Australia cố chấp mà thôi. Nhưng nếu xét kỹ, việc
đó chẳng qua chỉ phản ánh vai trò của địa lý – điều ở đâu cũng gặp – đối với sự
lan truyền văn hóa và công nghệ của loài người.
Giờ chúng ta còn phải khảo sát những cuộc đụng độ giữa các xã
hội thời Đồ đá của New Guinea và Australia với những người châu Âu thời Đồ sắt.
Một nhà hàng hải Bồ Đào Nha “phát hiện” ra New Guinea vào năm 1526, Hà Lan
tuyên bố quyền sở hữu nửa phía tây New Guinea vào năm 1828, còn Anh và Đức chia
nhau nửa phía đông vào năm 1884. Những người châu Âu đầu tiên định cư ở miền
ven biển, và phải mất một thời gian dài họ mới thâm nhập vào trong nội địa,
song đến năm 1960 thì các chính phủ châu Âu đã thiết lập quyền kiểm soát về
chính trị trên hầu hết lãnh thổ New Guinea.
Nguyên nhân khiến người châu Âu chiếm New Guinea làm thuộc địa
– chứ không phải ngược lại – thật hiển nhiên. Người châu Âu chính là kẻ có những
con tàu có khả năng vượt đại dương và la bàn để đến được New Guinea, có chữ viết
và máy in để in bản đồ, các tường trình chi tiết và những giấy tờ hành chính cần
thiết để xác lập quyền kiểm soát New Guinea, có những thể chế chính trị hầu tổ
chức được tàu bè, binh lính và chính quyền, và có súng để bắn những người New
Guinea chống đối mà trong tay chỉ có cung tên với dùi cui. Thế nhưng số lượng
người di cư châu Âu bao giờ cũng rất ít ỏi, và đến nay phần lớn cư dân New
Guinea vẫn là người New Guinea. Điều đó tương phản sâu sắc với tình hình ở
Australia, châu Mỹ và Nam Phi nơi người châu Âu di cư sang đông đảo, định cư
lâu dài và thay thế hẳn cư dân bản địa khắp những vùng rộng lớn. Tại sao New
Guinea lại khác hẳn vậy?
Một nhân tố chính khiến những nỗ lực của người châu Âu hòng định
cư ở vùng đất thấp New Guinea đều thất bại cho mãi đến thập niên 1880 là bệnh sốt
rét và các bệnh nhiệt đới khác, mà không một bệnh nào trong đó là bệnh của đám
đông có tính truyền nhiễm và cấp tính như ta đã đề cập đến ở chương 11. Kế hoạch
nhiều tham vọng nhất của người châu Âu hòng định cư ở miền đất thấp là kế hoạch
của bá tước de Rays người Pháp vào khoảng năm 1880 trên hòn đảo New Ireland lân
cận, song kết quả là trong số 1.000 người châu Âu định cư thì hết 930 chết
trong vòng có ba năm. Ngay cả với những cách chữa bệnh hiện đại ngày nay, nhiều
bạn bè người Mỹ và người Âu của tôi ở New Guinea vẫn buộc phải rời khỏi xứ này
vì bệnh sốt rét, viêm gan hay những bệnh khác, còn bản thân tôi cũng từng bị sốt
rét suốt một năm và lỵ cũng suốt một năm trong thời gian sống ở New Guinea.
Trong khi người châu Âu đã và đang bị các vi trùng vùng đất
thấp New Guinea quật ngã thì tại sao vi trùng của Âu-Á lại không quật ngã trở lại
người New Guinea? Một số người New Guinea cũng có nhiễm các căn bệnh của Âu-Á
thật, nhưng không phải trên quy mô lớn như các bệnh đó đã giết chết hầu hết cư
dân bản địa Australia và châu Mỹ. Một cái may cho người New Guinea là người
châu Âu đã không hề định cư dài hạn ở New Guinea cho mãi đến thập niên 1880,
cho đến khi đó thì những khám phá trong lĩnh vực y tế công cộng đã đạt được tiến
triển trong việc kiểm soát bệnh đậu mùa và các bệnh truyền nhiễm khác của cư
dân châu Âu. Ngoài ra, sự bành trướng của người Nam Đảo đã liên tục đưa những
dòng người di cư và thương nhân Indonesia đến New Guinea trong suốt 3.500 năm.
Bởi các bệnh truyền nhiễm của châu Á đã tồn tại vững chắc ở Indonesia, nên người
New Guinea đã có cơ hội tiếp xúc và tạo được kháng thể chống các vi trùng Âu-Á
này một cách hữu hiệu hơn nhiều so với thổ dân bản địa Australia.
Bộ phận duy nhất của New Guinea nơi người châu Âu không phải
gặp những rắc rối nghiêm trọng về sức khỏe là vùng cao nguyên phía trên ngưỡng
độ cao của bệnh sốt rét. Tuy nhiên mãi đến thập niên 1930 người châu Âu mới đặt
chân tới được vùng cao nguyên New Guinea nơi đã có người New Guinea sinh sống
đông đúc. Đến khi đó thì chính phủ thuộc địa Australia và Hà Lan không còn có ý
muốn mở đất cho người châu Âu định cư bằng cách tàn sát đại quy mô dân bản địa
hoặc đuổi họ ra khỏi xứ sở mình như thực dân châu Âu vẫn làm trong các thế kỷ
trước nữa.
Trở ngại còn lại cho những người châu Âu muốn định cư là cây
trồng, vật nuôi và các phương pháp nuôi trồng của châu Âu không mang hiệu quả
cao ở bất cứ đâu trong điều kiện môi trường và khí hậu New Guinea. Tuy người ta
có thể trồng các loại cây trồng có nguồn gốc châu Mỹ như bí, ngô và cà chua với
số lượng nhỏ và những đồn điền trà, cà phê cũng đã được hình thành ở vùng cao
nguyên Papua New Guinea, song các cây trồng châu Âu như lúa mì, lúa mạch và đậu
chẳng bao giờ đứng chân được. Bò và dê từ châu Âu đưa sang – được nuôi thành từng
bầy nhỏ – cũng mắc các bệnh nhiệt đới như chính người châu Âu vậy. Sản xuất
lương thực ở New Guinea vẫn chủ yếu dựa trên các loại cây trồng và phương pháp
canh tác mà người New Guinea đã ưa chuộng suốt hàng ngàn năm qua.
Tất cả những vấn đề đó – bệnh tật, địa hình hiểm trở và điều
kiện sống – đã góp phần khiến người châu Âu để lại phần phía đông New Guinea
(nay là quốc gia Papua New Guinea độc lập) cho người New Guinea sinh sống và nắm
quyền cai trị, mặc dù người New Guinea vẫn dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức,
viết bằng chữ cái, sống dưới một thể chế chính phủ dân chủ rập khuôn theo mô
hình nước Anh, và dùng súng sản xuất ở nước ngoài. Phía tây New Guinea thì khác
hẳn: khu vực này bị người Indonesia đoạt lấy từ tay Hà Lan vào năm 1963 và đổi
tên thành tỉnh Irian Jaya. Tỉnh này hiện nay do người Indonesia cai trị, cho
người Indonesia. Cư dân vùng nông thôn ở tỉnh này vẫn chủ yếu là người New
Guinea, nhưng cư dân thành thị của nó là người Indonesia, do kết quả chính sách
của chính phủ nhằm khuyến khích người Indonesia di cư sang khu vực này. Người
Indonesia vốn từ lâu đã tiếp xúc với bệnh sốt rét và các bệnh nhiệt đới khác mà
người New Guinea cũng mắc nên không phải đương đầu với rào cản vi trùng như người
châu Âu trước kia. Họ cũng được chuẩn bị tốt hơn người châu Âu để có thể sống
còn ở New Guinea, bởi nghề nông Indonesia vốn dĩ đã bao gồm chuối, khoai lang
và một số cây trồng chính khác giống như nghề nông New Guinea. Những đổi thay
đang diễn ra ở Irian Jaya phản ánh sự tiếp diễn cuộc bành trướng của người Nam
Đảo đến New Guinea vốn đã khởi đầu từ 3.500 năm trước, song lần này được hậu
thuẫn bởi toàn bộ lực lượng của một chính phủ tập trung. Người Indonesia chính
là người Nam Đảo.
Người châu Âu đã thực dân hóa Australia chứ không phải thổ
dân Australia thực dân hóa châu Âu cũng vì chính những nguyên nhân như ta vừa
thấy trong trường hợp New Guinea. Tuy nhiên, số phận người New Guinea và số phận
thổ dân bản địa Australia rất khác nhau. Ngày nay Australia được chiếm cứ và
cai trị bởi 20 triệu người không phải thổ dân, hầu hết trong số đó có nguồn gốc
châu Âu, cộng thêm số người châu Á ngày càng tăng từ khi Australia hủy bỏ chính
sách nhập cư cũ (chỉ cho phép người da trắng nhập cư) vào năm 1973. Dân số thổ
dân sụt giảm đến 80%, từ khoảng 300.000 người vào thời điểm người châu Âu bắt đầu
đến định cư xuống còn mức tối thiểu 60.000 người vào năm 1921. Ngày nay thổ dân
bản địa là một tầng lớp dưới trong xã hội Australia. Nhiều thổ dân sống trong
các trung tâm truyền giáo [của người da trắng] hoặc các khu bảo tồn của chính
phủ, nếu không thì làm nghề chăn gia súc cho các ông chủ da trắng. Tại sao số
phận của thổ dân Australia lại hẩm hiu hơn nhiều so với người New Guinea như vậy?
Nguyên nhân cơ bản là một số khu vực của Australia thích hợp
với nền sản xuất lương thực của châu Âu và thích hợp để người châu Âu định cư,
kết hợp với vai trò của súng, vi trùng và thép của người châu Âu trong việc
quét sạch thổ dân khỏi đường đi của họ. Tuy tôi có nhấn mạnh những khó khăn do
khí hậu và thổ nhưỡng của Australia, song những khu vực năng sản hoặc màu mỡ nhất
của lục địa này lại thích hợp với nghề nông của châu Âu. Nông nghiệp ở vùng ôn
đới Australia ngày nay gồm chủ yếu là các loại cây trồng ôn đới có xuất xứ từ
Âu-Á như lúa mì (cây trồng hàng đầu của Australia), lúa mạch, kiều mạch, táo và
nho, cùng với lúa miến và bông có nguồn gốc từ vùng Sahel của châu Phi và khoai
tây có gốc từ vùng Andes. Ở các khu vực nhiệt đới miền đông bắc Australia
(Queensland) bên ngoài phạm vi tối ưu của các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu,
các nhà nông châu Âu canh tác các cây trồng có nguồn gốc New Guinea như mía,
nguồn gốc Đông Nam Á nhiệt đới như chuối và chanh, nguồn gốc Nam Mỹ nhiệt đới
như lạc. Còn về gia súc, cừu Âu-Á giúp dân châu Âu định cư có thể sản xuất
lương thực ở cả các vùng khô cằn không thể trồng trọt được, còn bò Âu-Á thì có
thể nuôi ở các vùng ẩm ướt hơn bên cạnh cây trồng.
Như vậy, việc phát triển sản xuất lương thực đã phải đợi tới
khi có các loại cây trồng không phải là cây bản địa cũng như các loài vật nuôi
đã được thuần hóa ở những khu vực khác trên thế giới có khí hậu tương tự song
vì quá xa nên phải đợi đến khi có tàu biển vượt đại dương thì mới chở tới
Australia được. Không như New Guinea, hầu hết Australia không có những chứng bệnh
đủ nghiêm trọng để người châu Âu phải chùn chân. Chỉ ở vùng nhiệt đới phía bắc
Australia thì bệnh sốt rét và các bệnh nhiệt đới khác mới buộc được người châu
Âu từ bỏ ý đồ tới định cư, và mãi sang thế kỷ XX họ mới đến sống ở vùng này được
nhờ những tiến bộ trong y học.
Dĩ nhiên, thổ dân Australia là trở ngại ngáng trên con đường
sản xuất lương thực của người châu Âu, nhất là vì những khu vực lẽ ra có thể biến
thành vùng trồng trọt và chăn nuôi trù phú nhất thì lại đang nuôi sống những quần
thể thổ dân đông đúc nhất sống bằng săn bắt hái lượm. Sự di cư của người châu
Âu khiến số lượng thổ dân sụt giảm theo hai cách. Một cách là bắn chết hết họ,
cách này thì hồi thế kỷ 18 và cuối thế kỷ XIX người châu Âu cho là có thể chấp
nhận, song đến khi họ đặt chân tới vùng cao New Guinea vào thập niên 1930 thì họ
thấy không còn phù hợp nữa. Cuộc thảm sát quy mô lớn cuối cùng – giết chết 31
thổ dân – xảy ra ở Alice Springs vào năm 1928. Cách còn lại là đưa vào
Australia những con vi trùng gốc châu Âu mà thổ dân chưa từng có cơ hội miễn dịch
hay hình thành kháng thể di truyền. Trong vòng một năm sau khi những người định
cư châu Âu đầu tiên đặt chân đến Sydney vào năm 1788, đâu đâu cũng nhan nhản
xác thổ dân chết vì bệnh dịch. Những thủ phạm gây bệnh chính mà người ta ghi nhận
được là đậu mùa, cúm, sởi, thương hàn, sốt phát ban, thủy đậu, ho gà, lao và
giang mai.
Bằng hai cách đó, các xã hội thổ dân Australia độc lập đã bị
loại bỏ khỏi bất cứ khu vực nào phù hợp với nền sản xuất lương thực của người
Âu. Những xã hội duy nhất còn sống sót và ít nhiều được yên thân là những xã hội
sống ở miền bắc và miền tây Australia mà đối với người Âu là vô dụng. Trong
vòng một thế kỷ người Âu thực dân hóa Australia, 40.000 năm truyền thống thổ
dân đã hầu như bị quét sạch.
Giờ ta có thể quay lại vấn đề tôi đã đặt ra ở gần đầu chương
này. Nếu không phải vì những nhược điểm trong bản thân thổ dân Australia thì
làm sao có thể giải thích việc các thực dân Anh da trắng rõ ràng đã tạo ra một
nền dân chủ sản xuất lương thực, có chữ viết và công nghệ chỉ trong vòng vài thập
niên thực dân hóa một lục địa nơi mà cư dân bản địa suốt 40.000 năm lịch sử vẫn
cứ là những kẻ săn bắt hái lượm du cư không chữ viết? Chẳng phải đó là một thử
nghiệm được kiểm soát thật hoàn hảo trong quá trình tiến hóa các xã hội loài
người, buộc chúng ta phải đi đến một kết luận giản đơn theo lối phân biệt chủng
tộc hay sao?
Lời đáp cho câu hỏi này không khó. Thực dân Anh da trắng đã
không tạo ra một nền dân chủ sản xuất lương thực, có chữ viết và công nghệ ở
Australia. Thay vì vậy, họ đã nhập khẩu tất cả các yếu tố đó từ bên ngoài
Australia: gia súc, mọi loại cây trồng (ngoại trừ hạt macadamia), kiến thức về
luyện kim, động cơ hơi nước, súng, bảng chữ cái, các thể chế chính trị, kể cả
vi trùng nữa. Tất cả các thứ đó là sản phẩm cuối của 10.000 năm phát triển
trong môi trường Âu-Á. Do ngẫu nhiên về địa lý, những kẻ thực dân đặt chân đến
Sydney vào năm 1788 đã thừa hưởng các yếu tố đó. Người châu Âu chưa bao giờ học
xem làm thế nào sống được ở Australia hay New Guinea nếu không có công nghệ thừa
hưởng từ Âu-Á. Robert Burke và William Wills đủ thông minh để viết, nhưng không
đủ thông minh để sống còn trong sa mạc Australia nơi thổ dân Australia vẫn sống
tự bao đời.
Những người đã thực sự tạo ra một xã hội ở Australia là các
thổ dân Australia. Dĩ nhiên, cái xã hội mà họ tạo ra không phải là một nền dân
chủ sản xuất lương thực, có chữ viết và công nghệ. Nguyên nhân cho điều đó phát
sinh trực tiếp từ các đặc tính của môi trường Australia.
Jared Diamond
Theo https://thuvienonline.org/









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét