Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2025

Hồn mai

Hồn mai

Về tác giả - Lời tựa
NGUYỄN XUÂN HOÀNG
Sinh ngày 30/8/1966 tại Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Quê hương tổ phụ ở làng Vân Cù, xã Hương Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuổi thơ và tuổi học trò gắn bó với quê mẹ làng Thạnh Long, xã Đức Thăng, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Nguyên Phó trưởng Phòng Chương trình Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế; ủy viên Thường vụ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế; ủy viên Thường trực Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế; Trưởng ban Biên tập Tạp chí Sông Hương.
- Mất ngày 16 - 12 - 2006 tại Thành phố Huế.
Suốt đời tư duy ngây thơ như con trẻ, đó chính là những nghệ sĩ, và bản thân tôi cũng rất vui mừng thấy Nguyễn Xuân Hoàng được trang bị đủ kinh nghiệm và chữ nghĩa để nói về một thế giới "siêu thực" như vậy. Tôi tự hỏi nhà văn đã rèn luyện khi nào để đạt được một bản lĩnh nghề nghiệp như vậy. Tôi bỗng nhớ cách đây đã lâu tôi có được đọc những truyện ngắn đầy chất thơ trên tạp chí Sông Hương, ký tên là Hạnh Lê. Hạnh Lê chính là một bút danh khác của Nguyễn Xuân Hoàng thuở mới vào đời, thuở ấy Huế còn đủ sức quyến rũ để mời gọi người ta đi bộ qua cầu Trường Tiền trong những chiều đầy sương khói...
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Lời tựa
Văn chương vốn vô mệnh nhưng người làm ra văn chương thì có mệnh nên nó vẫn phải chịu lụy phần. Nói văn là người hay người là văn cùng không khác khi ý niệm chúng ta vượt ra ngoài quan hệ tương thuộc giữa tâm và vật giữa chủ thể và khách thể. Văn nghiệp của một nhà văn là sự tích hợp những chuỗi lâm sự biến cảm qua bút lực đời họ. Những đặc tính này khá rõ nét trong di cảo của một nhà văn đoản mệnh có tên là Nguyễn Xuân Hoàng.
Đoạn bút ở tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, cái tuổi độ chín của sự sáng tạo, anh vẫn kịp để lại hàng ngàn trang viết từ truyện ngắn, tản văn, tiểu luận, đến thơ. Ở đấy, dù cái được biểu đạt phải biểu đạt dưới hình thức nào, nó vẫn thị hiện những đặc trưng thể loại riêng biệt theo nguyên tắc đồng đẳng qua sự “trình diễn” của cây bút này.
Đấy là sự trình diễn cái tôi cộng hưởng các khí cụ tri thức ở ba cấp độ bản năng (vô thức), lý trí (ý thức) và linh cảm (siêu thức). Nhà văn không thể viết nếu không có tri thức. Nhưng tri thức nhà văn, nói theo cách nói của Osho, phải là tri thức “lòng giếng”, chứ không thể tri thức “hồ chứa”. Mốt sính học hàm, học vị thời nay, số nhiều trí thức sa vào tri thức hồ chứa”. Người ta múc từ ngoài vào, múc lẫn nhau, múc đầy sự tù đọng. Chỉ có “lòng giếng” là luôn luôn tự “đổi mới” mình qua sự đối lưu trong mạch nguồn tiềm linh minh triết.
Dù kinh nghiệm còn ít, vốn sống chưa nhiều nhưng khi tri giác nội tại được đánh thức bởi lòng chân thành dâng hiến, Hoàng đã chiêu dưỡng được đầy đủ những gì cần thiết cho hành trang nghệ thuật của mình. Văn Hoàng thanh thoát, bồng bềnh như sương khói, không bám víu, không dính mắc vào đâu. Đấy là thứ văn đạt ngưỡng “cái nhạt” theo quan niệm mĩ học truyền thống phương Đông. Nó lấy sự kín đáo để chưng diện. Đằng sau cái vẻ tẻ nhạt, lạnh lùng ấy hiện hữu một sức
sống bền bỉ. Cái nhạt là cái thường tục, thường hằng không đối thủ, không tranh chấp. Khác với cái phi thường. Cái phi thường của ngày hôm nay sẽ là đêm trước của cái phi thường ngày hôm sau. Cái nhạt của văn chương dường như tương đồng với ý nghĩa cái nhạt của Đạo lão. “Đạo mà nói ra thì nhạt và vô vị”.Văn Hoàng dù viết ở thể loại nào, đề tài nào cũng nhất quán trung trinh trong dòng biểu cảm nên nó “áp đặt” đối tượng tiếp nhận vào thế “khích tâm” hơn là “khích trí”. Lẽ thường, cái gì không khích trí thì cái đó không được đem ra đánh giá. Song, mặt nào đó của ý nghĩa tồn tại, cái không được đánh giá lại là luôn luôn được đánh giá. Đấy cũng là cách trình hiện của những tác phẩm nghệ thuật bàng bạc các phẩm chất mĩ học, triết học và tôn giáo.
Cho dù đến với cuộc đời này một khoảng ngắn ngủi nhưng Nguyễn Xuân Hoàng đã trải nghiệm hết thảy mọi khổ đau, hạnh phúc. Hạnh phúc của sự sẻ chia và sáng tạo, khổ đau của lòng quyến niệm và chia ly. Phẩm cách của Hoàng đồng khi với phẩm cách các nghệ sĩ lớn xứ Huế mà anh từng ngưỡng mộ như nhà thơ Phùng Quán, nhạc Trịnh Công Sơn. Ở họ đều có năng lực “ám thị” những người tâm giao một dòng tình cảm “tự kỷ” nên ai ai cũng thấy họ như là “thứ của riêng”. Khi biết sống vì mọi người thì đồng thời cũng được sống trong mọi người. Đó là chân lý qui ước và là thuộc tính của những người lớn hơn chính mình. Sự thực, Hoàng đã lớn hơn chính mình trên cả phương diện cuộc đời và tác phẩm.
Với sự tri cơ và tình tri ngộ, Nhà xuất bản Thuận Hoá phối hợp Công ty văn hóa Phương Nam cho ra mắt bộ tuyển tác phẩm của Nguyễn Xuân Hoàng nhân ngày giỗ đầu của anh. Thật ý nghĩa, thật cảm động. Đây cũng là tâm nguyện của bằng hữu chi giao Lê Huỳnh Lâm, Đinh Thu, Duy Tờ, Trần Huyền Sâm, Minh Tự, Bùi Ngọc Long... cùng nhiều bằng hữu khác.
Và, tôi là người có vinh dự được tôn lên hàng “trưởng lão” thay mặt anh em nói vài lời mào sách. Không nỡ và không thể chối từ sự tin cậy đó, tôi đã phải làm cái việc “ngôn giả bất tri”. Hẳn không tránh khỏi những điều khiếm khuyết và khiếm nhã. Cúi mong quý độc giả lượng thứ và chỉ giáo.
NGUYỄN KHẮC THẠCH
Tổng Biên tập Tạp chí Sông Hương
Những đôi mắt trên đèo
Hơn mười năm đi học ở Huế, không dưới một trăm lần tôi đi qua đèo Hải Vân. Hơn một trăm lần ấy, không có lần đi nào giống lần đi nào. Duy lần nào cũng vậy, hễ cứ lên đèo là thấy...buồn. Sương mù giăng kín. Chim cu cô đơn bay giữa những nụ hoa giẻ giun nở trắng đến se lòng. Và gió, những ngọn gió dại cứ như từ trong ruột đá thổi ra hắt hiu một màu lam chướng. Nín lặng trong một nỗi sợ hãi mơ hồ, tôi đã nhiều lần thấy khó thở khi xe qua đèo Hải Vân. Tưởng có lúc lồng ngực như vỡ ra, rồi vô cớ thắt lại khi nghe sau triền núi có tiếng gì như tiếng vượn mẹ hú gọi con. Và bất ngờ từ một khúc cua tay ảo hiểm trở, hiện ra những vạt cỏ lau nở dài lấp loá dưới nắng, khắc khoải như tay người đưa tiễn. Cả một rừng lau khiến lòng người bối rối không biết ngọn lau nào là tay mẹ tiễn đưa.
Dường như từ "Mẹ" và "đèo" có chung một nội hàm, nằm trong một trường liên tưởng rộng về những gì vất vả, cơ cực nhất. Chả trách người xưa bảo lên đèo nhớ mẹ. Ai đó từng có một ý tưởng hay là hãy tống hết những kẻ bất hiếu lên đèo, để y hoặc thị, có một lần nghe tiếng khóc của vượn con mà biết ơn sinh thành của cha mẹ. Và theo tôi đèo ấy phải là đèo Hải Vân.
Nhưng ám ảnh lòng tôi là những lần vượt đèo Hải Vân không chỉ có hoa lau và mẹ, mà còn có đôi mắt thăm thẳm buồn không sao nói hết của những người xa xứ. Mười năm qua đèo, tôi đã ngộ gặp hàng nghìn những đôi mắt như vậy. Háo hức, thất vọng chia ly, buồn tủi. Buồn trong ngày ra đi và buồn cả trong ngày trở về. Những ánh mắt như nói lên hết thảy, từ bao ngày tha phương đói cơm, thiếu áo cho đến một niềm hy vọng mới vừa được nhen nhóm. Đó không phải là cuộc ra đi và trở về của những Khinh Kha mặc áo khinh cừu, mà là cuộc ra đi của sự dồn đuổi cơm áo và cuộc trở về của những con chim thiên di lòng nhớ nhung nguồn cội.
Trong số những đôi mắt buồn tha hương qua đèo Hải Vân, có lần tôi nhìn thấy đôi mắt của một mẹ già. Khuất sau những vai người, mắt mẹ ầng ậng nước. Phải chăng mẹ đã khóc khi đi qua đèo này? Bên cửa xe, gió thổi quần quật, chiếc khăn mỏ quạ nâu sồng che khuất một phần gương mặt già nua. Làm sao tôi biết quê mẹ ở đâu, nhưng đoán chắc đó là một vùng quê nghèo của đồng bằng Bắc Bộ chiêm khê, mùa thối. Cây lúa không nuôi nổi con người. Qua hết đèo xe lại tiếp tục cuộc hành trình vào Nam.
Mẹ ơi! Mẹ đã tin gì ở ngày ra đi này? Nơi mẹ đến sẽ là đâu? Đường vào Nam còn xa xôi lắm? Mười năm đi qua đèo Hải Vân, sau nỗi buồn cỏ lau, con đã đủ lớn khôn chưa để nhận ra từ ánh mắt mẹ muộn phiền nỗi đau của một người xa xứ....
Bến Cũ
Thường thì mỗi con sông dù to hay nhỏ, cũng chở chí ít trên mình nó vài ba chục cái bến. Tên gọi của bến sông cũng giống như tên người, có tên có lai lịch gốc gác, có tên chỉ là một sự vũ đoán, muốn hiểu thế nào cũng được.
Không kể thượng nguồn, sông Hương bắt đầu từ ngã ba Bằng Lăng về cửa Thuận An cũng đã có hơn chục cái bến với nhiều tên gọi gần gũi. Bắt đầu từ bến Tuần, nơi hợp lưu của hai dòng Tả và Hữu trạch. Không hiểu sao tôi cứ nghĩ đây là bến sông dân giã và buồn nhất của dòng Hương. Nơi vào những buổi chiều mưa tơi tả, có các em nhỏ khăn quàng đỏ đội tơi đi học về, các mẹ bán bánh nậm lọc, gánh hàng rong nhẹ như gió bấc mà đong đủ mấy đời người. Và nhất là mấy cái quán cóc bên liêu xiêu mái rạ, đong đưa mấy tấm phên tre trét cứt trâu, không đủ che ấm khách đợi đò. Ngồi co ro trong quán cóc nhìn sang bên kia sông, chỉ thấy mờ mờ tỏ tỏ sau mưa một bóng đò nhẫn nại, chầm chậm rẽ ngang con nước như đuổi theo tiếng gọi "đò ơi".
Xuôi về phố Huế, sông Hương vui hơn với bến đò Linh Mụ. Nơi này, lòng sông như đôi tay vẫn còn mở ra rất rộng. Bến Linh Mụ đón đò dọc nhiều hơn là đò ngang. Vào mùa hè, bến đông như hội. Du khách dập dìu đi lễ chùa. Đò đậu san sát, sầm uất, gợi nhớ một quá khứ mịt mùng cổ tích. Vua Nguyễn viếng chùa với đoàn ngự lâm quân áo lễ, gươm dài. Ngựa xe nườm nượp. Quan với quân lên chùa. Xuôi thêm một tầm sông nhỏ là bến đò Kim Long. Ai đó bao cách trở, có còn nhớ không một câu ca dao cổ lắm rồi " Tình về Đại lược, duyên ngược Kim Long". Chuyến đò dọc đã tác hợp cho bao duyên phận, và cũng chia quyên rẽ thuý bao mối tình quê. Có một thứ trái cây miệt vườn Kim Long đổ xuống đò để xuôi về Tam Giang, và ngược lên là thuỷ hải sản và cá dìa, cá ong, tôm rằn nước lợ....ngon nổi tiếng. Có một thời bến Kim Long là bến tắm gội của các nàng Ỷ Lan. Những mái tóc huyền buông thẫm cả một khúc sông làm bồi hồi bao trái tim trai trẻ.
Nhưng có lẽ nổi tiếng hơn hết là bến đò Phú Vân Lâu, với câu thơ đã thành bất tử của Ưng Bình Thúc Dạ Thị "Chiều chiều trước bến Vân Lâu.." Lịch sử dân tộc từng có một vết cắt đau thương nằm ngay khúc sông này. Đó là tấm lòng ưu tư ngồi trên nước không ngăn được nước của một nhà vua trẻ. Đối diện về bên kia sông là bến đò Thừa Phủ-Quốc Học. Nghe bảo khi chưa có cầu bắc ngang sông Hương, vua quan nhà Nguyễn tế đàn Nam Giao thường đi qua khúc sông này. Trùng trùng ngựa xe qua sông áo mão vua quan ướt đẫm trong sương mù.
Nếu bến Tuần buồn, bến Phú Văn Lâu đài các một thời "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo" thì bến đò Đông Ba là bến vui náo nhiệt. Suốt một khúc sông chảy dọc theo chợ đều là bến đò. Đứng trên chợ Đông Ba chỉ thấy đò và nón nhấp nhô như sóng. Có nhìn thật kỹ mới nhận ra dưới chiếc nón lá là đôi vai gầy mỏng của các mẹ. Tần tảo dưới nắng mưa, phải chăng đời mẹ cũng là một bến đò không bến...Từ bến Đông Ba xuôi ngang một tí là bến đò Đập Đá. Dù Đập Đá bây giờ là một con đường, nhưng tên gọi thì vẫn như xưa. Đã nhiều năm nay bến đò Đập Đá là bến ở quần cư của nhiều hộ dân vạn đò. Bến thành cái eo như vòng tay mẹ cưu mang bao cuộc đời hạ bạc.
Dường như kể mãi mà vẫn chưa hết. Còn nữa là bến đò chợ Dinh, nơi cậu bé Thanh Tịnh cho chuồn chuồn cắn rốn để tập bơi. Có đứa trẻ đi học nào mà không từng trốn học, ra bến sông để chơi với bạn bè. Những trò chơi con trẻ của nhà văn Thanh Tịnh ngày xưa, bây giờ những đứa trẻ vẫn tiếp tục chơi, áo con trai có rách thì vòi mẹ vào chợ Dinh mà mua. Khác ngày xưa một chút là chợ Dinh bây giờ còn bán áo con gái nữa. Bao nhiêu năm tháng cũ, bến đò chợ Dinh chỉ chở có trầu và áo con trai...Lam lũ những cuộc đời nghèo khó.
Khó mà biết được rằng một đời người đã và sẽ đi qua biết bao nhiêu bến đò. Cứ hết dòng sông này ta lại gặp một dòng sông khác. Như chính cuộc đời của con người, mỗi bến sông tự cầm giữ trong nó một hình hài với những thành vận riêng tư. Đêm thao thức trong cơn mơ đòi đoạn của Huế, nghe tiếng ếch nhái rêu hoang cả lòng, bất chợt ký ức chói loà như sấm, kìa như ai đang gọi "bớ...đò".
Bánh Nổ Quảng Ngãi
Tháng chạp, cứ chớm tắt mưa phùn, nghe có nắng hanh, là người làng tôi đắp lò, rang nếp làm bánh nổ Tết. Ít có loại bánh nào dễ làm như bánh nổ, chỉ vẻn vẹn có ba thứ nguyên liệu là nếp, đường và gừng già. Chính vì làm dễ, ai cũng làm được, nên làm một chiếc bánh nổ cho ngon rất khó. Nó là cả một quá trình chuẩn bị khá công phu. Trước hết là ở khâu chọn nguyên liệu. Nếp hạt phải chọn từng lượm một khi còn đứng ngoài đồng, rồi phơi phóng riêng cho đủ nắng. Xong, bảo quản nếp bằng bao ni lon kín không để lò hơi. Đường dùng làm bánh cũng phải là loại đường vừa trắng, đủ để bánh có màu hơi vàng ở "mạch hồ" giữa các hạt nổ. Gừng làm bánh là thứ gừng "cụ", được chuẩn bị từ lúc mãn mùa gừng, ủ khô trong cát chờ ngày Tết mang ra làm bánh.
Cái hay của bánh nổ là làm rất ồn ào. Đầu tiên, nếp cho vào chảo rang như rang phỏng. Nếp nổ càng to, hạt càng lớn và "lợi" bánh. Sau đó sàng nhặt vỏ trấu, rồi xên đường với gừng già xắt mỏng trộn đều với nhân nếp nổ, cho vào khuôn gỗ, dùng vồ đóng mạnh và đều tay. Vừa đóng vừa đếm nhẩm số lần đóng vồ sao cho từng phần của cây bánh đều chịu một lực nén bằng nhau. Đây là công việc của người lớn. Cây bánh đóng xong, khi mang ra vuông dài cỡ hai gang tay, được bỏ trên cái sịa xấy nhẹ bằng than nóng. Đến đây bánh đã hoàn tất, muốn cúng quảy hay dọn bánh đãi khách chỉ cần cắt ra từng lát mỏng hình vuông hay hình chữ nhật, tam giác, tuỳ thích.
Còn nhớ ngày bé, khi mẹ làm bánh nổ ngày tết, tôi thường được giao mấy công việc long tong như nhặt vỏ trấu, giã gừng và lau rửa khuôn gỗ. Khoái nhất là ngồi chầu rìa bên chiếc nia. Lúc bỏ nổ vào khuôn để đóng thế nào cũng có nổ rơi. Cứ hễ hạt nổ nào rơi ra chiếc nia tròn là tôi chén ngay. Vị gừng thơm cay quyện với hương nếp còn nóng sộc lên mũi nghe cứ tê tê như ăn cao lương mỹ vị. Mà đúng là không có loại cao lương mỹ vị nào thay thế được. Bởi hương vị của bánh nổ gợi lên trong tâm thức đôi vai gầy của mẹ, cánh đồng lúa bạc màu của cha, và những đêm thức trắng khi gió mùa đông bắc thổi rộ kỳ lúa báo hiệu một năm mất mùa.
Gần đây bánh nổ Quảng Ngãi có qui cách làm hiện đại hơn xưa nhiều. Thay vì rang nếp bằng lò củi, lò than, người ta đã rang bằng lò điện. Một ang nếp, khoảng hai chục lon sữa bò, được rang xong cái vèo, khỏi phải đội nếp xếp hàng như ngày xưa. Còn bánh cũng không đóng thủ công như ngày xưa nữa, mà đóng bằng máy, nhanh gấp chục lần. Công nghệ mới, chiếc bánh ra lò nhẹ và trắng tinh, trông thật xinh xắn.
Ấy thế mà mỗi độ Xuân về, không hiểu sao tôi vẫn thèm và nhớ chiếc bánh nổ xưa, thô kệch nặng mùi đường với những "mạch hồ" vàng li ti mà mẹ tôi vẫn làm để cúng ông bà ngày Tết.
Bống Cát Kho Khô
Cá bống có đến hàng chục loại như bống mủ, bống đao, bống cầu, bống tượng... nhưng riêng vùng sông Vệ - Quảng Ngãi quê tôi chỉ có rặt một loài ấy là bống cát. Cá bống cát còn có một cái tên khác rất dân gian là bống thệ. Đây là loài cá nhỏ, con to nhất chỉ bằng ngón chân cái người lớn, còn thường chỉ bằng ngón tay út, mắt nhỏ, mình thuôn lấm tấm hoa cát, rất khó nhìn thấy khi nép mình sát đáy sông. Cá bống cát có hai mùa trong một năm. Mùa tháng ba khi tiết trời ngót gió bấc, nước sông cạn dần, nhiều sương mù, và mùa tháng bảy, khi trời chớm sang thu, nắng vẫn còn rực rỡ cho tới tận chiều tối. Đánh cá bống cát chỉ cần dùng loại lưới nhỏ mặt đáy chừng năm gang tay và chiều dài chừng chục sải tay người lớn. Lưới thả dích dắc theo hình chữ chi. Khi thả xong, dùng mái chèo gõ đều đều vào mạn thuyền để "dồn" cá. Nhiều năm xa quê, nhưng không làm sao quên được cái dáng ngồi vắt vẻo, thanh mỏng như một vệt nắng của cô bé làng chài. Trên mặt sông rộng, lơ thơ gió, tóc em chảy về một phía. Một nửa khuôn mặt thầm lại huyền hoặc như một âm bản phim nghệ thuật. Nhưng nhớ nhất vẫn là tiếng chèo hối hả, câu thúc nôn nóng gõ vào mạn thuyền.
Bỏ sách vở lên bờ cát, lũ trẻ bọn tôi háo hức đợi. Và lúc cất lên, lưới đầy rặt cá bống cát. Chỉ còn chịu khó ngồi gỡ từng con một ra khỏi mắt lưới, rồi bỏ vào chiếc chậu sành to giữ cho cá tươi sống. Ở chợ Trạm quê tôi cá bống cát được bán thành từng mớ. Loại nhỏ nhất người ta dùng cái rá tre để đong bán theo theo rá. Và đây cũng là loại cá bống cát ngon nhất. Kho cá bống cát là một nghệ thuật ẩm thực của người dân quê. Cá bống cát chỉ ngon khi được kho bằng lửa củi tre trong chiếc nồi đất mà người xứ Quảng hay gọi là cái trã (hoặc nhỏ hơn cái trã một tí gọi là cái trách đất). Trước khi kho, cá bống cát được rửa sơ qua nước muối cho cứng mình, rồi ướp gia vị gồm muối phèn the, ớt và mía cây chẻ nhỏ. Nước đổ vào trã đất vừa đủ sao cho khi cá đã chín rim, là vừa hết nước. Kị nhất là khi kho xong, niêu cá có màu trắng bợt bạc. Để con cá bống cát ngon mắt, người kho lấy đường đen (loại đường chưa rút mật) thắng (nấu) làm màu. Nghe hơi đường hơi cháy và có màu đỏ sậm là vừa. Cho vài muỗng đường đã thắng vào trã cá, chỉ một lúc, cá bống cát đã có màu đỏ sậm như rượu vang chưa ăn đã nhìn thấy thèm. Nồi cá kho xong, vùi vào trấu nóng. Trấu giữ cá nóng và khô suốt ngày.
Còn gì hơn trên đời này khi được ăn cá bống cát kho khô ăn với cơm mới lên đồng. Mỗi và cơm làm nửa con cá bống cát nhỏ. Vị bùi của hạt gạo quyện với cái ngòn ngọt của mía, chút nhân nhẫn thơm thơm của thịt cá, vị đăng đắng của đường cháy và hơi ớt the cay...Nghe mơ hồ như một bóng hoa hư ảo. Chỉ một con cá bống cát kho khô, sao lại gợi lên trong lòng bao nhiêu những hoài niệm chất chứa. Món ăn đạm bạc bày ra trước mặt, khiến lòng ai rưng rưng nhớ cái thưở đầu còn để chỏm, quần rách đít chạy dọc bờ sông chang chang nắng, mót cá bống về cho mẹ kho khô. Trã cá bống cát huyền dịu như nồi cơm Thạch Sanh, ăn hoài không hết. Có hết rồi lại ra bờ sông như cô Tấm ngày xưa "bống bống bang bang lên ăn cơm vàng, cơm bạc nhà ta...". Ơ thì ra con cá bống cát nhỏ nhoi kho khô kia đâu chỉ là cá bống cát mà nó là cái núm nhau, khúc ruột lòng ta nối với sông mẹ, nối ta với quê hương dằn dặt nhớ thương. Ăn con cá bống cát sao còn nghe mùi khét lẹt của tóc cháy nắng, tiếng cười trong trẻo âm vang của đám bạn một thời giờ đã tan tác xa, tiếng mái chèo xua cá dội lồng ngực. Nhớ tháng bảy trở thu, mưa ngâu đổ đầy mặt sông lạnh. Cá bống cát kéo nhau về từng bầy xoan kín đáy sông. Nhớ bầy chim sẻ nhỏ đầu hói lông vì phải bắc cầu Ô Thước cho Ngưu Lang - Chức Nữ gặp nhau.
Mười mấy năm xa quê, con cá bống cát nhỏ nhoi dẫn tôi về nguồn cội, về tuổi thơ dấu yêu giờ đã nhạt nhoà. Hôm về thăm lại mái nhà xưa, mẹ lại đi chợ Trạm mua cá bống cát về kho khô đãi đứa con lang bạt. Gắp con cá nhỏ bằng ngón tay thơm nức, mẹ bảo tôi ăn kẻo nguội mất ngon. Tôi nhìn trã cá bống cát kho khô đặt trong chiếc mâm gỗ thị, rồi nhìn mẹ chống gối nhìn ra hiên nhà, mắt bỗng dưng nhoà nước, nhớ cái thời nhong nhỏng chạy dọc bờ sông.
Tóc Của Mẹ
Tôi còn nhớ, dù rất mơ hồ, năm tôi lên mười tóc của mẹ vẫn còn dài lắm. Ngày ấy, tôi vẫn thường hay nghịch tóc mẹ. Tóc mẹ xanh, sợi nào cũng to và óng mượt. Mỗi bận chải tóc, mẹ phải đứng lên một chiếc ghế, để tóc khỏi bết vào nền đất. Lúc chải, tóc mẹ rụng thành búi, phải cuộn tròn lại, rồi mang ra thả vào bụi tre sau nhà. Nhiều năm liền, dù mưa gió phôi pha, chỗ tre nhà ngoại vẫn cứ xanh một màu tóc mẹ. Khi làm đồng, mẹ búi tóc ra sau gáy. Giữa búi tóc xỏ nghiêng một chiếc trâm tre là ngà đã lên nước vàng óng.
Bảy lần sinh nở, bao lận đận truân chuyên, lạ thay tóc mẹ xanh vẫn cứ xanh đến kỳ lạ. Nhớ những ngày nắng quái, mẹ suốt ngày giang người trong cái nắng chang chang. Búi tóc có lúc xổ tung xuống chân đám mạ già hoen nước. Dẫu vất vả nhưng chưa bao giờ tôi nghe mẹ than phiền. Nhớ những hôm nhà đứt bữa, buổi sáng chỉ thấy tóc mẹ rối bời. Dường như cả đêm qua, mẹ chưa hề chợp mắt một chút nào.
Ngày bé, tôi đã không hiểu là có một mối liên hệ nào đó giữa mái tóc của mẹ và cuộc đời của anh em tôi. Chúng tôi càng trưởng thành, tóc mẹ càng thưa đi, bạc màu như thửa ruộng thâm canh nặng, cây lúa đã ăn đi hết bao màu mỡ của đất. Đất trơ ra, cho hạt gạo trắng tinh như con cò trắng bay lượn trên những thửa ruộng lành.
Có một dạo, tóc mẹ rụng nhiều. Ấy là ngày tôi chuẩn bị đi xa. Chia tay mẹ, chia tay cánh đồng nhỏ đầy nắng gió tuổi thơ, tôi vào đại học. Gian nan thay con đường đi học xa của một học trò nghèo. Hôm mẹ tiễn tôi ra bến đò, trời có gió lớn, nước sông Vệ chao nghiêng tôi thấy người hâm hấp sốt. Đò trôi đi chầm chậm. Đò đã xa, mẹ vẫn còn đứng lặng trên bến vắng. Mái tóc xổ tung đâu như chỉ còn chưa đến một nửa thời con gái. Trời chiều bảng lảng, bóng mẹ nhoà trong tóc mẹ, rồi xa khuất dần, chợt mờ chợt tỏ như một ngọn lửa nồng hậu cuối chân trời.
Nhớ có bận mẹ đau thương hàn, tóc cơ hồ như rụng hết. Cứ như lá mùa thu, sau mỗi đêm thức dậy, tóc mẹ rụng đầy trên gối. Những sợi tóc xanh dài. Cười gượng, mẹ bảo tôi rồi tóc mẹ sẽ xanh trở lại. Xanh như ngày mẹ chưa gặp ba, xanh như ngày mẹ chưa sinh con, xanh như ngày....Mắt mẹ chứa chan niềm hy vọng và tôi vẫn hằng tin rằng tóc mẹ sẽ xanh trở lại. Sau bệnh gượng dậy, tóc mẹ không còn xanh nữa. Búi tóc to ngày nào giờ còn không đến một nắm tay trẻ con. Để búi được tóc, mẹ phải mua một món tóc giả, nhưng là tóc thật. Không hiểu tóc của ai mà xanh đến vậy? Cứ hao hao như mái tóc mẹ ngày nào. Cũng sợi to dài và óng mượt, lấp lánh những đường tơ. Sức khoẻ mẹ cũng giảm sút nhiều, bước đi chậm và hơi thở thường gấp gáp.
Lần gần đây nhất, có dịp đi công tác tôi tạt về thăm mẹ. Mẹ ra đón tôi ở hàng hiên. Tôi thấy tóc mẹ bạc nhiều. Búi tóc sau gáy chỉ nhỉnh hơn củ tỏi có tí chút. Mẹ không búi mái tóc giả nữa nhưng vẫn giữ gìn nó trong một chiếc khăn len. Trong ngày vui sum họp mẹ con, vẫn đôi mắt chứa chan niềm hy vọng, mẹ bảo là tóc mẹ sẽ xanh trở lại....
Nhớ buổi học đầu tiên
Nghe gió thu xao xác trên phố, lá vàng từng cụm đùn dày lối đi, mưa nhỏ lất phất và tiết trời se lạnh, biết là năm học mới lại sắp bắt đầu. Khi không còn là học trò, không còn được đi học nữa, mới thấy nhớ đến nôn nao cái thưở cắp sách đến trường. Như mới hôm nào lòng hồi hộp, sách vở mới, thầy cô mới. Nhìn đâu cũng chỉ thấy những điều hay và lạ lẫm. Cuộc sống khôi nguyên như trang giấy học trò. Chưa biết ngày mai là cái gì, chỉ thấy hôm nay sân trường rực rỡ nắng. Tiếng trống tùng tùng vào lớp buổi học đầu tiên đầy ắp bỡ ngỡ. Cái cảm giác vừa lạ vừa quen, không làm sao quên được. Này là mùi giấy thơm thơm, những ô vở vuông vuông như bàn cờ mời gọi những chữ viết đầu tiên. Này là chiếc cặp da có quai đeo, có ngăn để sách vở, có ngăn để bút mực. Nếu biết gìn giữ có thể học đến hai, ba năm. Chiếc bảng tên trên ngực áo cũng mang lại một niềm vui lớn, ghi đầy đủ họ và tên ta, ghi cả lớp ta học. Gặp bạn mới lần đầu không phải hỏi họ tên. Chỉ cần nhìn lên chỗ phía trái ngực áo, gọi tên rồi thành thân.
Nhớ nhất có lẽ là cái chỗ ngồi, thơm thơm mùi gỗ; lớp véc-ni mới bóng loáng, chưa có một chữ nào nhè lên. Mặt bàn hơi nghiêng nghiêng, phía trên có đóng một gờ gỗ nhỏ để quảng bút khỏi rơi. Thời ấy còn viết bút chấm, nên mặt bàn có khoét một lỗ tròn cạn bằng đáy bình mực nhựa, là chỗ để bình mực. Buổi học đầu tiên, ta vận quần áo mới, lòng cứ sợ mực tím dây vào. Nhưng áo cũng chỉ trắng được vài ba hôm. Sau đó thì đứa nào cũng như nhau: vạt áo, ngực áo, đầy mực loang lổ.
Còn nhớ trong buổi học đầu tiên, khuôn mặt cô giáo hiền như mẹ. Cô gọi tên từng bạn để làm thân. Cô nhắc nhở lớp yên lặng. Chữ đầu tiên cô viết lên bảng đen được cả lớp chép lại vào vở. Sự tích Lạc Long Quân - Âu Cơ, chàng Gióng đánh giặc, những khái niệm về đất nước.....đều bắt đầu từ đó. Lớp học nằm cạnh đình làng. Trước mặt là chiếc ao rộng mênh mông. Sau lưng là bạt ngàn đồng lúa. Ngồi trong lớp học có thể nhìn thấy rõ mồn một con cò lửa dong đôi chân đỏ hạ cánh xuống bờ ruộng xa xa. Rồi một đàn trâu đủng đỉnh ra đồng, tấm lưng béo núc, những sợi lông đen ở vai đã mượt trở lại sau một vụ cày. Chỉ là một gian nhà tranh vách đất, nhưng lớp học đã vở lòng cho bao nhiêu lứa học trò quê.
Nhiều năm rồi sao vẫn nhớ. Lẽo đẽo theo sau gánh hàng xáo của mẹ, tôi đến trường buổi học đầu tiên. Mẹ đi thoăn thoắt, còn tôi lúc thúc chạy theo, đôi dép mới chưa quen chân chốc chốc lại tụt ra. Xốc lại chiếc cặp, tôi bám theo lưng mẹ đến trường.
Nhớ... Làng
Sống lâu thật lâu cho đến một lúc nào đó thì con người ta đâm ra hay quên. Có cái quên vui, có cái quên buồn. Có cái quên là chuyện được mất của thời thế cần phải quên, cố mà quên. Cũng có cái quên mà không thể quên được đó là gốc gác mình, gia đình mình,dòng họ, làng nước, quê hương mình.
Hôm lập thu gặp lại bạn cũ, ngồi uống rượu suông nói mỗi một chuyện đó là...Làng. Thách nhau trí nhớ, ngày xưa ăn cái gì ngon nhất, nhớ cái mùi gì nhất, ngày nào trong năm là làng vui nhất. Rồi chị Na, chị Nụ ai đẹp hơn, ai được trai làng yêu nhiều nhất. Năm nào làng cháy, năm nào làng mất mùa. Chẳng đâu vào đâu, chuyện nọ xọ chuyện kia - cứ thế mà nhớ. Cạn veo hết chai rượu tăm làng, hoa quỳnh nở rũ cánh, đồng hồ đã nhích sang một ngày mới, mà vẫn chưa hết chuyện.
Ừ! mà làm sao quên được cái mùi phân chuồng nồng nồng hoi hoi, theo gió nồm thổi trùm hết cả làng. Nghe quen, sống mũi cứ ấm rang rang như xoa dầu cù là con cò. Lăn lê chăn bò suốt một ngày, đít quần sực nức mùi bò, cái đũn vàng cháy lông bò. Có cái gì đáng nhớ đâu mà lại nhớ. Chỉ kể thôi cũng không quên được cái mùi trứng vịt nướng kiểu trẻ chăn trâu: trộn đất bùn với cỏ, phủ một lớp vỏ lên trứng vịt rồi "thả" vào đống lửa rơm. Cả lũ nắm tay hò hét át cả tiếng rơm vàng nổ tanh tách; hét cho đến khi trứng kỳ chín mới thôi. Mát nhất mùa hạ, vẫn là được tắm giếng khơi đầu làng. Cái giếng rất to, mười lăm đứa con nít làng tôi đứng vòng quanh chưa kín miệng. Nước giếng ướp hương đá, hương rêu đượm một mùi là lạ, như mùi tóc con gái làng, từng làm si mê, điêu đứng cả mấy lũ con trai.
Kề bên giếng làng là "sân vận động" nhỏ một chút cheo như cái mũi trước đình làng, nhưng suốt bốn mùa chưa bao giờ vắng người. Một quả bóng bằng trái bòng nước cả đám hò hét như giặc Ba Vành, chơi bể lại được thay quả khác, mà bòng nước thì làng tôi ê hề, có chơi một trăm World cup cũng đủ.
Chai rượu tăm thứ hai, có chiếc nút bằng lá chuối xanh đã được đặt lên bàn. Anh bạn cũ xem ra đã ngà ngà say, nói năng xuất thần, đôi mắt lóng lánh. Chiếc thẹo nhỏ trên má do ngày xưa trong một trận ẩu đả tôi cắn anh, chừ cứ đỏ lựng lên như một nhân chứng của cái thời đã qua không thể nào quên được.
Làng ơi.....
Tiếng Chuông Thiên Mụ
Sống thẳng một mạch mười năm có lẽ ở Huế, nhiều đêm mất ngủ, tôi nằm nghe tiếng chuông Thiên Mụ tựa như lời nói thầm âm hao mà lòng thổn thức nhớ quê. Một năm 365 đêm, đêm nào cũng thế, cứ vào giờ tí, sư trụ trì chùa Thiên Mụ lại cho thỉnh chuông. Mùa xuân, tiếng chuông nghe trong vắt như hơi gió heo may đi qua kẽ lá, làm bồi hồi đất trời, đâu đó những mầm sống cựa mình để đất nở hoa, cho hoàng mai rực vàng suốt một dãy phố chợ. Kể từ tiết lập hạ, tiếng chuông nghe thảnh thơi hơn, có nắng gió và sự trầm tĩnh của lòng người thỉnh chuông. Tiếng chuông như có bóng mát che chở mỗi đời người. Nhưng từ trong sâu thẳm vẫn sừng sững một nỗi cô đơn nhân từ của trời cao, và tiếng chuông lúc này nghe như đại ngã bao dung.
Vào giác thu, trời Huế tím cho đến tận nửa đêm, đường phố nhiều lá rụng, tiếng chuông Thiên Mụ vì thế cũng đã vàng xao xác. Cây cối rũ lá thanh thoát và tiếng chuông đi qua xương cây nghe mơ hồ như một hơi thở nhẹ, say say nắng. Đó cũng là thời khắc bịn rịn chia lìa của các tình nhân, họ ngậm ngùi trở về để mặc vai áo cho sương thu ướt đẫm. Tiết lập đông có tiếng chim sếu kêu khan ngoài sông lạnh, Huế rét mướt vô kể. Tiếng chuông Thiên Mụ nghe như buồn hơn bao giờ hết, để người xa quê nao nao nhớ một bếp lửa hồng.
Chỉ một tiếng chuông nhưng chao ôi đã đong bao buồn vui, khắc khoải của một đời người. Rằng nương theo tiếng chuông này, ta sẽ gặp ngày hội ngộ của bốn mùa.
Với những người am hiểu Huế, sở dĩ tiếng chuông chùa Thiên Mụ hay và vang xa nhất, không phải chỉ vì nhờ cấu trúc tinh xảo và chất đồng tinh luyện mà vì chuông còn được thỉnh bằng dùi gỗ mít nài xứ núi, tuổi trên một trăm, thớ gỗ đã chuyển cả từ vàng nghệ sang đỏ sẫm với vân hình cánh nhạn. Gỗ nài xứ núi khắc với đồng như thuỷ với hoả. Sự tương khắc để mà sinh sôi cho tiếng chuông kỳ diệu, nghe một đời mà không thấu trọn.
Còn với người Huế xa quê, tiếng chuông Thiên Mụ là nỗi nhớ dai dẳng như mưa dầm, buốt rức, suốt một đời ám ảnh những bước chân ai phiêu bạt mưu sinh.
Mùa Gió Huế
Giữa hai khối nhà tập thể tôi ở bây giờ có khoảng trống đầy gió. Mùa đông, gió bấc từ phía trước thổi ra đàng sau, hun hút lạnh. Trở gió bấc, hàng cây long não chuyển sang màu xanh tím tê tái. Lá rơi từng đợt làm vàng cả con đường rộng. Người đi dưới phố mặc áo mưa kín thân mà vẫn không khỏi rùng mình vì lạnh. Người mẹ Huế đưa con đến trường buổi sáng, cũng chỉ nhìn thấy hai khối người, mỏng manh trên chiếc xe đạp cọc cạch. Con đường như chỉ ấm lên vào buổi tối khi những ngọn đèn vàng được người thợ điện bật sáng. Những vầng sáng vàng vàng trên vòm cây long não trụi lá, dễ gây mũi lòng những tâm hồn đa cảm. Nhất là khi có một chiếc xe phở đi qua, tiếng gõ mời gọi lóc cóc trong tiếng mưa nhẹ hạt như tiếng người nói lao xao. Một tiếng gọi giật gấp gáp "phở". Chiếc xe phở dừng lại. Tiếng gõ biến mất. Người đàn ông Ba Tàu có mái đầu bạc lúi húi trụng phở với một chiếc vá dài. Mùi hương thơm từ nước phở nấu bằng xương bò bay ra, lan toả trong một không gian ấm áp kỳ lạ. Tô phở Tàu bưng trong mưa giá, toả hơi nghi ngút. Ở Huế bây giờ còn không đến chục chiếc xe phở dạo. Không biết rồi sau mười năm, hai mươi năm nữa liệu có còn không tiếng gõ lóc cóc như tiếng song loan nhịp ba, mang lại cho phố xá hơi ấm giản dị của cuộc đời.
Thôi những đợt gió bấc, văng vẳng tiếng ve sầu dưới vòm long não, tim phượng nở bập bùng, Huế chuyển dần sang mùa hạ và khoảng trống ở khu tập thể nhà tôi đầy gió đông nam. Lần này gió lại thổi từ phía sau ra đàng trước. Huế vẫn còn sương mù và lạnh về sáng nhưng lại nóng ấm lúc ban trưa. Trong bữa ăn của nhiều gia đình đã có dĩa rau muống luộc xanh ngắt. Rau muống Huế được trồng chủ yếu ở các hồ trong thành nội, ven các hộ thành hào, hộ thành hà. Nói trồng nhưng thật ra là cấy. Cây rau muống Huế cũng khá đặc biệt. Thường nhỏ sợi, thân mỏng và lá vừa phải. Khi luộc cần đổ nhiều nước, rồi trở rau bằng đũa tre bảng to (người Huế gọi là đũa bếp), giữ cho rau xanh mướt, như khi rau còn nằm trong lòng hồ. Một dĩa rau muống luộc, một bát nước rau muống nhỏ có đánh một tí ruốc và nặn ít chanh tươi đặt bên cạnh chén nước chấm được pha chế công phu, đã là một bữa ăn thịnh soạn của văn hoá ẩm thực Huế. Sành điệu hơn thì kèm theo bữa ăn một dĩa nhỏ cà pháo đã chẻ lòng, ươm ươm đỏ. Vị cà hăng hăng cay cay lẫn với vị rau muống ngòn ngọt vẫn còn chát nhẹ, gợi lên trong tâm thức phong vị quê hương không dễ gì quên được.
Khi những cành phượng đỏ tắt lửa, trái phượng dài ra chừng một gang tay người lớn, màu trời chuyển sang tai tái bầm bầm, Huế bắt đầu đón gió phơn tây nam mà người ta gọi là gió Lào. Gió cực khô và cực nóng khiến mồ hôi cứ tươm ra, rít rát như ướp muối. Cổ họng khát bỏng, nhiều khi nóng quá phải thở ra đằng miệng. Hàng cây long não trên phố, lá đang xanh bỗng dày ra, co lại như những chiếc vỏ hến vàng vọt. Lúc này trên bàn ăn của nhiều gia đình Huế đã có một bát canh rau má thơm mát. Ở Huế, cây rau má mọc nhiều ở vùng đồi phía tây thành Huế. Một số người thích ăn rau má núi, một số khác chỉ thích ăn rau má đồng mềm và ít đắng. Gần đây rau má còn được trồng ở vườn, ven các nguồn nước. Rau má trồng không bao giờ có được vị ngon của rau má rài (rau má dại). Rau má hợp nhứt là nấu với tôm rằn nước lợ. Một bát canh rau má ngon là bát canh vừa phải. Tỉ lệ tôm, rau má, nước phải hài hoà. Quá nhiều tôm sẽ mất vị rau má, ngược lại quá nhiều rau má sẽ làm ôi bát canh. Với một bát canh rau má tôm rằn trong bữa ăn ngày gió phơn tây nam, người Huế có thừa sự chăm chút để bát canh ở lại mãi trong lòng người thưởng thức.
Khi những cánh sếu đầu mùa bay từ nội thành Huế qua bờ nam sông Hương, rồi đi mải miết đến chân đèo Hải Vân, Huế đón mùa thu với gió heo may. Gió rít nhẹ, thoảng thơm như hương cau. Khoảng trời trên sông Hương xanh ngắt, điểm vài cụm mây trắng đuôi gà. Lúc này, những quán cà phê Huế dọc hai bờ sông Hương gần kín người. Uống cà phê khi gió heo may về, cũng là một thói quen của người Huế thị dân đi tìm một chút tĩnh lặng cho đời sống tâm hồn. Mùa thu cũng là mùa thành phố Huế đẹp nhất. Sông Hương mang gương mặt của bầu trời, như chưa bao giờ xanh đến vậy. Ven sông, lá mùa thu rơi vàng như nắng chiều. Đường phố thưa người đi, thỉnh thoảng trong những con hẻm vắng còn đọng lại một ít sương mù.
Nhiều năm sống ở Huế, với bao nhiêu buồn vui. Có lúc phấn khích, có lúc mỏi mệt, bực dọc chuyện đời thường. Nhưng khi nghe bất chợt một tiếng sấm mùa thu xa tận thượng nguồn, rồi những hạt mưa ngâu đầu tiên rơi xuống lòng bàn tay, sao thấy lòng như ấm lại. Gió heo may nhen nắng về trên phố. Có con sếu lẻ nào đó kêu khan, khiến lòng ta rưng rưng bởi một tình yêu quá đỗi.
Gạo Nhe An Cựu
Lúa bây giờ rất nhiều giống mới, với nhiều ưu thế như ngắn ngày, kháng sâu bệnh, năng suất cao. Đất ít người lại đông, một năm có thể thâm canh tù tì ba vụ liền. Nhưng thường cái gì ngắn, mau, vội thì phẩm chất thường không cao. Với các giống lúa ngắn ngày hiện nay, khái niệm về "bát cơm mới" là không còn nữa. Mùa lên, lên đồng, cơm mới vẫn chỉ là cơm cũ ít thơm, ít dẻo, đơn thuần là một thứ tinh bột có tên gọi là "cơm".
Cho nên, bao năm rồi mà nhiều người vẫn nhớ những giống lúa ngày xưa, dài ngày, năng suất thấp, nhưng đã thành cơm thì khi ăn chỉ có ngậm mà nghe. Suốt mấy trăm năm, đồng đất xứ An Cựu - Huế chỉ cấy rặt một thức lúa, đó là giống lúa Nhe. Cái gì ở giống lúa này cũng dài: dài ngày, thân dài, bông lúa khi đã cúi (chín) dài như đuôi trâu con. Còn hạt lúa chín vàng ươm, dài ngư cái tắp bã (đùi) con gái. Khi đã thành gạo, hai đầu thon đều ánh màu ngà. Đúng là hạt ngọc trời. Đến cái màu vàng của đồng lúa Nhe An Cựu cũng khác xa cái màu vàng thếch của những cánh đồng lúa ngắn ngày. Đó là thứ vàng ròng. Vàng như từ trong cổ tích vàng ra. Tơ tơ ươm ươm trong sương mù buổi sáng sớm, rồi bắt nắng mai phô phai rực rỡ như một bức tranh lụa tuyền vàng. Càng đẹp hơn khi chen giữa màu vàng là vài sắc xanh rơi rớt của những thửa ruộng muộn. Giữa một biển lúa vàng, nét gam xanh như một nét đi mềm mại gợi nhớ những mối tình quê và bước chân ai Tư Mã.
Lúa Nhe An Cựu gặt về để thành gạo còn phảo qua nhiều khâu nữa. Trước hết là ủ mát cho màu vàmg hạt lúa sậm lại. Rồi phơi nắng cho hạt lúa nõ như đất ải, khi đong nghe tiếng lúa rào rạo như kim loại. Hạt lúa Nhe nếu đem xay xát bằng máy thì hỏng, bởi hạt gạo sẽ bị vỡ hình hài và lớp vỏ cám mỏng sẽ bị máy tuốt mất. Gạo Nhe chính hiệu phải được xay bằng cối xay tay, giã bằng cối gỗ và sàn bằng sàn tre. Từ hạt giống lúa Nhe nằm dãi gió dầm mưa trên cánh đồng An Cựu năm sáu tháng trời, cho đến hạt gạo Nhe trắng ngà đựng trong chiếc hũ sành là cả một quá trình cực nhọc. Đó là cuộc hành trình của niềm tin. Khả năng lao động bền bỉ để sống còn của người nông dân.
Nhưng có hạt gạo Nhe trong nhà hạnh phúc mới chỉ là một nửa. Nửa còn lại là phần cơ cực của hạt gạo, chịu đi qua lửa nóng và vùi mình trong tro ấm để được dẻo thơm một bát cơm đầy. Bưng bát cơm gạo Nhe An Cựu, lòng ta hàm ân cái vết bầm trên vai mẹ, những nét chai sần trên tay cha. Nghe trong hương thơm như điếc mũi có gió mùa đông bắc, nắng xuyên khoai và sương mù buổi sáng. Và lúc này, bát cơm gạo Nhe An Cựu không chỉ đơn thuần là nuôi sống con người, mà còn là nguồn thực phẩm nuôi sống tâm thức, nhắc nhở con người về lẽ sống mà từ lâu chúng ta đã gần như quên lãng: hạnh phúc là những gì giản dị nhất trên đời.
Gần đây, trong xu thế đô thị hoá, cánh đồng An Cựu xưa nay cũng đã thay hình đổi dạng: lom mom nhà, lom mom phố. Gạo Nhe An Cựu giờ chỉ còn trong câu ca dao xưa:
Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi​
Gạo Nhe An Cựu mà nuôi mẹ già​
Tôi đi qua cánh đồng An Cựu xưa nghe lòng đầy nuối tiếc. Những chân ruộng lúa Nhe vàng rực trải dài trong ảo giác. Chợt lòng cộm lên một câu hỏi: rằng những cậu bé của cánh đồng An Cựu ngày sau sẽ nuôi mẹ bằng gì?
Cây Phượng bên chân cầu trường tiền
Mỗi năm một lần vào mùa hè, cây Phượng bên chân cầu Trường Tiền nở hoa rực rỡ. Sắc hoa đỏ pha hồng vào giác chiều tím bầm như xác pháo. Màu hoa như chạm nổi vào bầu trời bềnh bồng mây trắng đuôi chồn. Ấy là cái màu hoa đỏ khát khao, cuồng nhiệt của một thời áo trắng không thể nào quên. Con trai con gái Huế phải lòng nhau, hay tìm đến gốc cây Phượng này như một địa chỉ của Vườn Thuý. Vật để gieo cầu tin yêu là những cánh hoa Phượng đỏ. Hoa rút ra từ tơ lòng nên có mầu sắc riêng, phập phồng như nhịp đập của trái tim. Uống nước dòng Hương và được sưởi ấm bởi những bàn tay tình nhân, mỗi năm cây Phượng một rậm rạp ra. Gốc đã to hơn một vòng tay của đàn ông, xù xì những thớ gỗ bọc thành múi gân guốc. Thân cây đen mốc những rêu xanh nhung mịn. Ở sát với mặt đất lát đá hộc, một chiếc đinh to không hiểu ai đó đã đóng ngập vào thân cây. Nhưng Phượng vẫn lớn, vẫn xanh và đợi con ve sầu kêu là nở bùng hoa đỏ. Gieo từ trời cao xuống, những lúm hoa như những chiếc lúm đồng tiền mời gọi một nụ hôn nồng thắm. Nhưng đâu chỉ có con trai con gái lấy cây Phượng làm nơi hẹn hò. Thỉnh thoảng, cây Phượng lại mở rộng vòng tay đón một đôi chim Vành Khuyên lạc rừng về đây âu yếm.​
Nhiều năm sống, cây Phượng đã trở thành một phần không thể thiếu được của thành phố Huế. Để lịch sử thành phố tiếp tục với những giả định: nếu như không có sông Hương, nếu như không có cầu Trường Tiền, và nếu như không có cây Phượng đỏ bên chân cầu....thì thành phố Huế sẽ thế nào? Huế sẽ nghèo đi biết mấy. Mà đúng là như vậy. Với người yêu nghệ thuật nhiếp ảnh, chỉ có một góc ưu việt nhất để bắt cái thần của cầu Trường Tiền là đứng ở đường Nguyễn Đình Chiểu sau lưng Đài Phát thanh - Truyền hình Thừa Thiên Huế, lấy cây Phượng làm tiền cảnh và lia máy ôm gần trọn thân cầu.​
Gần một chục năm nay năm nào cũng vậy, cứ đến mùa hoa Phượng nở, tôi lại tha thẩn ra chân cầu Trường Tiền chong mắt đếm những cành Phượng đỏ. Vẫn là mười ba cành. Cũng gần mười năm rồi cây Phượng không ra thêm một cành nào. Chỉ có hoa là nhất thuỷ nhất chung, mỗi năm một lần đỏ trời đỏ đất đỏ vai con trai con gái mỗi dịp hè về. Không hiểu là có nên xếp cây Phượng này vào loại "di tích sống" hay không? Chứ mỗi năm Phượng cũng đã tiếp ngót nghét chục ngàn lượt khách trong và ngoài tỉnh. Có người đi qua lần đầu chỉ thấy cây Phượng hay hay. Đứng một mình mà làm cả mùa hè. Còn với cư dân Huế, cây Phượng là thước đo niềm vui, nỗi buồn, những kỷ niệm chưa bao giờ phai nhạt. Trên lớp vỏ dày xù xì thời gian vẫn còn đọng mãi những vết khắc vụng dại. Dấu khắc có khi là một cái tên người trọn vẹn. Có khi chỉ là hai chữ cái xoắn vào nhau trong một ô van trong ngần tuổi học trò. Vỗ nhẹ vào thân cây nghe như đâu đó dưới mặt sông có tiếng cười âm vang. Rồi một tà áo tím bạch như áo lụa Hà Đông của Nguyên Sa đi qua cội lòng như một giấc mơ đã nhoà hương sắc.​
Năm nay mùa hoa Phượng nở, tôi lại tha thẩn ra chân cầu Trường Tiền ngắm cây Phượng đỏ. Và đếm số cành trên cây: một, hai, ba, bốn, năm... vẫn là mười ba cành. Sao lại là mười ba? Tôi tự hỏi mà lòng mà lòng không thể trả lời được. Nhưng kìa, từ một nách cành phía lòng sông Hương, một chồi Phượng nhỏ như ngón tay út người lớn đang nhu nhú mọc. Giữa một bầy hoa đỏ, chiếc chồi xanh mạnh mẽ và lạc loài đâm vào kỷ niệm xưa.
Bánh Canh Nam Phổ
Có gì lạ đâu, chỉ là bột gạo viên lại rồi cắt thành lát dài, nấu với tôm và thịt heo nạc, ấy thế mà bánh canh Nam Phổ nổi tiếng khắp cả nước
Từ hàng trăm năm nay, nấu bánh canh bán dạo đã trở thành nghề gia truyền của người làng Nam Phổ. Một gánh bánh canh là đủ chạy gạo cho cả gia đình. Có năm thịnh, cả làng Nam Phổ nấu bánh canh bán dạo khắp vùng Huế. Dù đơn giản, nhưng để nấu được một nồi bánh canh Nam Phổ cũng khá công phu. Từ buổi sáng các mẹ, các chị đã dậy sớm để đi chợ, lựa mua cho được những mớ tôm tốt nhất. Tôm nấu bánh canh phải là tôm đầm, thịt đậm đà, đặc biệt là không tanh. Thịt heo cũng phải là thịt ba chỉ vừa nạc, nhưng mỡ phải dày. Tôm và thịt heo mua về được trộn đều giã nhỏ, lớp gia vị vừa phải và viên tròn thành chả. Trong quá trình giã có trộn lẫn một ít hạt điều để tạo màu.
Thường đúng trưa các mẹ mới nhen lửa nấu bánh canh. Đợi nước sôi vùng mới bắt đầu cho bột vào và hạ dần lửa. Khi bột vừa chín, bỏ tôm và thịt đã viên tròn vào nồi. Do hạt điều trong chả viên, từ màu trắng nồi bánh canh chuyển sang màu đỏ sậm. Ngay cả phần thịt heo nạc giã nhỏ trông cũng có màu đỏ như tôm. Dùng vá khoáng chậm và đều cho đến khi đáy nồi sênh sếch, là vùi lửa giữ nóng. Về cơ bản đến đây bánh canh đã chín. Có thể múc ra cái bát trẹt, sức chứa bằng một chén lớn, vừa thổi vừa ăn. Nhưng muốn ngon phải cầm lòng một tí để các mẹ làm cho chén nước mắm ớt. Đây mới thực là một tuyệt chiêu bởi nước mắm ăn kèm với bánh canh Nam Phổ là thứ nước mắm cốt làm từ con huyết Cửa Thuận, có màu vàng sậm như rượu vang, bỏ hạt cơm vào cơm vẫn nổi lên. Giữa trời đông, Huế lạnh như cắt, cứ một bát bánh canh Nam Phổ đỏ sậm, chơi lên vài thìa nước mắm ớt, vừa ăn vừa xuýt xoa, mới hay cái ngon ở đời nào chỉ là nem công, chả phụng.
Không chỉ ngon và rẻ, đi với gánh bánh canh Nam Phổ còn có một nét văn hoá phổ quát rất Huế, đó là chiếc áo dài. Vận chiếc áo dài nái thâm nối vai kín đáo, các mệ các chị lúp xúp quảy đòn gánh đi khắp nơi. Chiếc áo đã thêm vào ẩm thực Huế một nét văn hoá độc đáo. Và các mệ, các chị không còn là người bán thức ăn dạo bình thường mà là sứ giả của cái đẹp, mang lại cho phố phường một sự lãng mạn hiếm thấy. Gần đây, người bán bánh canh Nam Phổ không còn mặc áo dài nữa, đó là một nỗi mất mát lớn của Huế.
Trong xu hướng đô thị hoá, ẩm thực Huế cũng có nhiều thay đổi. Các quán phở, quán bún mọc lên nhan nhản. Người mê bánh canh Nam Phổ cũng không còn mấy. Có còn chăng chỉ là những người lao động nghèo, mà bát bánh canh hợp với túi tiền. Riêng với người sành ăn, gánh bánh canh của mệ Dự, mệ Bê là ngon nhất. Mới đây, mệ Dự sau gần sáu mươi năm trong nghề, tuổi cao sức yếu mệ đã giải nghệ. Gánh bánh canh bây giờ mệ chuyền tay cho con gái. Còn mệ Bê, do bán ở Huế ế ẩm, mệ chuyển sang bán ở phố cổ Bao Vinh. Cứ vào giác đầu giờ chiều, nhiều người thấy mệ đi đò ngang, khuôn mặt đăm chiêu buồn, gánh bánh canh đặt trên sạp ghe, thoang thoảng mùi tôm đầm Chuồn và vị nước mắm Cửa Thuận.
Trò chuyện với cây xanh
Sẽ thế nào nếu thành phố Huế thiếu vắng bóng cây xanh? Nhiều ngày rảnh rỗi mạn đàm chuyện cây với anh TrầnThanh Khánh Hoà - Giám đốc Trung tâm cây xanh thành phố Huế, chúng tôi chỉ bàn có mỗi chuyện cây. Một đời cây có cái gì na ná như đời người. Cũng có tuổi thơ ấu vụng dại lơ thơ những chiếc lá non. Rồi tuổi mười bảy, cành vạm vỡ vươn dài lớn nhanh như thổi. Tuổi trung niên chững chạc, cây đổ vỏ, múi nở ra từng trải. Và, một tuổi già tóc bạc trắng, thân cây còng xuống, chờ ngày sinh tử biệt ly.
Chỉ về lá thôi cũng đã có khối chuyện để nói. Đó là những câu chuyện sinh học, nghe rất lý thú. Nó mở ra trong tâm thức một sự sinh tồn triết học đáng nể. Mùa đông sở dĩ nhiều loài cây cho lá rụng là để bảo toàn nước trong thân cây. Đừng nhìn những hàng cây trơ trọi mà nghĩ cây buồn vì thiếu lá. Rồi lá sẽ mọc lại, còn những chiếc lá cũ sẽ là kỷ niệm, của đời cây. Một đời như cây Long não có đến hàng trăm lần trút lá và cứ mỗi lần như thế cây lại nhích lên, tán toả rộng che nắng gió cho người.
Huế có nhiều phố cây rất "sắc tộc". Có phố cây chỉ rặc có Phượng - nên gọi là đường phượng bay. Con phố Lý Thường Kiệt chạy dài bên thắt lưng Đại học Khoa học được gọi là phố Bằng lăng. Mùa lá rụng, đường chiu chít lá. Thi thoảng những chiếc lá vàng nhỏ lại kêu lên xạc xào dưới chân du khách. Riêng đường lên nhà thờ Phú Cam thì toàn một màu Long não, và đây cũng là nơi khởi nghiệp "Diễm xưa" của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Bồ đề là cây vốn "họ" nhà chùa, sống tịch liêu trong các cổ tự, ấy thế nhưng lúc buồn buồn, lại thoát ra phố, sống ngang nhiên một đời cây vỉa hè, không ngại một chút luỵ tục nào. Rồi cũng chịu chơi như bạn bè. Bồ đề sẵn sàng trút lá ùa vào cuộc chơi đồng - dao- lá của mùa thu, không một chút ngại ngần. Không chỉ biết hát bằng gió bắt nhịp, một số loài cây ở Huế còn có khả năng "tự hát". Có đêm lang thang tôi đã giật mình khi nghe tiếng vó ngựa gõ đều trong đêm thanh vắng. Đã từ lâu Huế làm gì có xe ngựa?. Tiếng nhạc mỗi lúc một rõ dần. Tôi nín thở nhích từng bước chân cho đến lúc nghe thật rõ, thì ra lúc này tôi đang đứng dưới bóng một tán cây lớn mà sau này hỏi ra đó là cây Nhạc ngựa. Nhưng đâu chỉ có cây Nhạc ngựa biết hát, nghe bảo Cừa - một loại cây mê nước, mọc ven bờ sông Hương cũng biết hát theo cách của mình. Đó là tiếng hát của đàn nước khi những bộ rễ Cừa dài và rậm rạp như râu người được nước kéo dạt nghe lép bép như lửa cháy. Trong nước lại ca những bài ca về lửa, đó còn gì khác hơn khát vọng nhớ rừng của anh bạn Cừa. Mùa hè, đám con trai con gái đang yêu thường thích ngồi hàng giờ chờ nhau dưới những cây Si, ngắm lá Si xanh như mắt người tri kỷ. Bóng Si trầm lắng nhưng theo lời gió ru nhẹ những lời thủ thỉ của Kim Kiều thời hiện đại. Đẹp nhất một thời là cây Si trong khuôn viên nhà Văn hoá Thiếu nhi Huế. Nhà Văn hoá xây dựng lại, cây Si phải nhường chỗ cho các em. Bây giờ chỉ có cây Si nằm trong khuôn viên trước trường Quốc Học là giữ được phong vận của một thời.
Đứng chôn chân bên chân càu phía nam Trường Tiền nhiều năm nay, vẫn là cây Phượng già cội to một người ôm không hết. Thế Phượng rất đẹp, nên từ lâu vẫn phải đóng vai một tiền cảnh cho các đoàn làm phim và các bác phó nháy. Có một dạo nhánh chủ đẹp nhất, nhiều hoa nhất rũ xuống lòng sông Hương đã bị chặt đứt bởi một bác phó nháy muốn giữ "bản quyền" cảnh hoa và cầu Trường Tiền. Một sự thô lỗ mà phải gần chục năm sau mới phần nào bù đắp được......
Ai đã từng theo học trường ở trường Đại học Tổng hợp Huế, hẳn còn nhớ cây Mù u nhiều tuổi nằm bên phải giảng đường A. Mỗi năm một lần vào mùa xuân, cây nở hoa trắng, hương thơm ngan ngát, có thể sáng với hương cau quê ngoại. Nhiều năm hương cây đã tác thành bao uyên ương. Và ai đó có gãy cánh trong tình trường thì hương Mù u là một niềm yên ủi mamg lại sự thanh thản cho lòng.
Nói chuyện về cây xanh phố Huế, chớ quên cây Ngô đồng - một loài cây lạ có gốc phương Bắc, chỉ nở hoa vào tháng ba. Hoa nở đến đâu, lá rụng đến đó, cánh nhỏ như hoa Tigôn, sắc đỏ tím. Hương thơm hoa Ngô đồng rất lạ, đượm lâu như lửa thông, ở Huế bây chừ chỉ còn khoảng một chục cây, tập trung chủ yếu sau lưng điện Thái Hoà - Đại Nội. Đẹp và thanh thoát nhất lại là cây Ngô đồng nằm trong khuôn viên Tứ Tượng, cách dòng Hương chưa tới nửa tầm cây. Gần đây nhất anh Trần Thanh Khánh Hoà khoe là mới mang về cho Huế một loài cây mới có tên là cây Huyền diệp, hoa nở màu lam như áo nhà chùa. Hiện nay cây đã cao ngang tầm người lớn, và chờ ngày để ra phố với bạn bè.
Khó mà nói hết được về cây xanh phố Huế, sự di dưỡng nhân hậu mà cây dành cho người. Vòm lá xanh che chở cho những cuộc đời tất bật. Điều quí báu nhất mà tôi nghĩ như một thiên tính mà con người nên học hỏi là cây không bao giờ nói chỉ lặng lẽ sống một cách có ích cho người.
Phóng sinh những cánh chim trời
Đó là những gì diễn ra vào một buổi sáng, đầu mùa xuân, dòng Hương đầy ắp sương mù, Rosalind Graham, một du khách người Bỉ còn khá trẻ, trên đường xuống bến sông để làm một chuyến thuỷ du ngược dòng sông Hương, chị đã gặp một phụ nữ nghèo bán những con chim én trong một chiếc lồng to. Rosalind Graham đã mua mà không hề trả giá. Cả bầy chim ba mươi đô la. Trong tay Rosalind, những con chim én hiền lành, lưỡng lự một chút rồi bất ngờ tung mình sải những đường bay dài vào bầu trời cao rộng.
Và giờ đây, sau khi đã thả chúng, chị mê mải nhìn theo cho đến khi những cánh chim mới bị cầm tù kia bay cao, cao mãi và khuất dạng trong sương mù.
Mùa xuân ở Huế cũng là mùa của phóng sinh. Ngoài những ý nghĩa rất nhà Phật, tránh sát sanh hại vật, phóng sinh còn mang một nghĩa khác có tính dự phóng thế giới, rằng với một cánh chim trời được tự do, thiên nhiên sẽ có thêm một tỉ lệ cân bằng, và ở đó thế giới được duy trì trong một trật tự lợi ích có sẵn, định hình qua một quá trình chọn lọc tự nhiên hài hoà và khắc nghiệt.
Điều đáng tiếc là trừ những nhà khoa học, với những thông số rút ra từ khảo sát và suy luận, không phải ai cũng thấy được bằng mắt thường cái gọi là sự cân bằng sinh thái. Và chính sự mưu sinh đã thúc ép họ phải làm ngược lại, thay vì bảo vệ sự cân bằng này.
Bằng chứng gần đây chuột đã hoàn hành dữ dội, do con người đã ăn quá nhiều rắn và mèo. Thống kê của FAO - tổ chức lương thực thế giới, ít nhất trong năm 1999 loài chuột đã ngốn hơn 30 triệu tấn lương thực, và lượng lương thực này đủ nuôi 150 triệu người. Nhưng trên thực tế, con số tổn hại còn lớn hơn nhiều.
Từ chuyện chim lại nói sang chuyện chuột, nghe có vẻ lạc đề, nhưng với sự cân bằng sinh thái, chúng là những mắc xích nhỏ có ý nghĩa như nhau, và thậm chí còn quyết định cả sự tồn vong của con người.
Chuyện một nữ du khách Bỉ thả chim én bên bờ sông Hương vào một buổi sáng, nó cũng thường tình như chuyện một người phụ nữ Việt Nam nghèo sống bằng số tiền lời từ món hàng mua đi bán lại là những cánh chim. Nhưng ít nhất cũng đã có đến hai sự thật từ một cuộc mua bán: đó là nền văn minh chúng ta chưa theo kịp, cũng như sự nghèo khó mà bằng mọi cách những gia đình nông dân đã chẳng làm sao giảm nhanh được.
Trước khi chúng ta kịp hiểu điều gì đã xảy ra, thì những con én tội nghiệp vẫn tiếp tục bị những người tội nghiệp săn đuổi. Trong cái vòng lẩn quẩn của cơm áo, thiên nhiên đã bị rẻ rúng đến tăm tối. Và trên cao, những con chim én hiền lành, vô hại, mang mùa xuân đến đang sải cánh tung bay, bất chấp những cạm bẫy đang rình rập giăng há từ phía con người.
Hương Mùa Thu
Nửa đêm choàng thức dậy, nghe mưa rơi lác đác trên mái ngói, gió thổi từng đợt nhỏ xao xác ngoài hàng hiên, rồi lá hổn hển rơi rụng đầy hè phố, biết là mùa thu đã về.
Mùa thu ở Huế ngắn và vội như một giấc mơ đẹp. Trong ánh nắng thu vàng rượi màu mỡ gà, đã xuất hiện từng cụm sương mù như pháo hoa. Ven sông Hương hàng cây sến lửa thả lá đỏ rực. Những chiếc lá mỏng như con thuyền nan lơ lửng trôi về Đập Đá chở theo trong lòng lá hẹp là một khoảng trời xanh lơ - đặc trưng của mùa thu xứ Huế. Kể từ vào thu, nước sông Hương dường như cũng thêm hương sắc, xanh hơn và trong hơn. Đứng ở mái hiên cầu Trường Tiền có thể nhìn thấy từng bầy cá bống hoa bơi quanh chân cầu. Những bọt nước sủi từ miệng cá, nghe có hương thoang thoảng của Thạch Xương Bồ. Phải là tôi đang nghe hay đó chỉ là mùi hương của ảo giác, của một tình yêu trẻ thơ tự ám thị vào mình.
Có một ngày đi tìm mùa thu chân đưa tôi về Vỹ Dạ. Những bóng trúc xa in mặt chữ điền trong thơ Hàn không còn nữa. Vỹ Dạ thôn bây chừ đã là phố. Nhưng còn có một niềm may là những vạt cúc dại ven con hói cầu ông Thượng cứ chớm thu là nở rộ. Màu hoa vàng gợi nhớ lay lắt những ngày xưa, ta lần đầu đến trường học a,b,c. Gợi nhớ một mùa thu nào xa lắm hực hở mối tình đầu học trò. Tóc em cài hoa cúc, hương hoa bay như bầy bướm vàng trên con đường làng ngái xa. Dường như không phải đợi vào thu, hoa cúc nở, mà là hoa cúc nở để gọi mùa thu về. Hoa cúc cho mùa thu sắc vàng, cho mùa thu hương thơm, cho mùa thu cả màu trời ửng sáng, gọi đàn sếu bên kia sông bay về với ngày hội lá bay.
Mùa thu ở Huế đầy hương bắp. Hương thơm giản dị như phù sa, thân mật mà gần gũi đến lạ. Người Huế thường trồng bắp ven các biền, bãi sông Hương, sông Bồ, sông Truồi....Nhưng nói đến hương bắp Huế, vẫn là nói đến bắp xứ Cồn Hến - cái ốc đảo cách Vỹ Dạ một tầm sông. Mùa thu Huế cũng là mùa người dân xứ Cồn "cất" lứa bắp non cuối cùng trước mùa mưa lũ. Những gánh bắp nấu dậy hương thơm, được quảy đi khắp phố Huế làm nên cái hồn quê, không thể diễn tả bằng lời. Và nữa, nào ai đã một lần vào buổi sớm mai, đi qua những hào sen mùa thu, nghe trong tiếng đập nước của bầy chuồn chuồn ớt, thoang thoảng mùi hương sen cuối mùa, vị mằn mặn bùn. Đó là hương thơm của những đoá hoa sen muộn mằn nằm khuất lấp nhiều ngày trong những chiếc lá to, để lặng lẽ điểm thêm cho mùa thu một chút hương thầm.
Xoè bàn tay đếm hương mùa thu Huế, những hương Thạch Xương Bồ, hương cúc, hương bắp, hương sen...sao vẫn còn thấy thiếu thiếu. Chợt nhớ trong ký ức còn nữa một mùi hương lá. Chỉ thoảng hiện vào buổi sáng sớm và đậm đặc lúc chiều tối. Lá long não nồng nàn, lá phượng cay thoảng chút chua chua, lá bàng sên sết đắng, lá hoàng hậu ngọt lạnh. Hương lá đã làm cho mùa thu xứ Huế có một phong vị và gương mặt riêng của đất kinh kỳ.
Trên Sông Khói Sóng
Thưở nhỏ nghe Kiều, đọc Kiều, lòng vui buồn theo cuộc đời chìm nổi của Thuý Kiều. Ngày Kiều bán mình, trời đất rỏ lệ, mưa đòi đoạn sụt sùi. Ngày Kiều ở lầu Ngưng Bích mùa xuân ảm đạm như tang tế. Ngày Kiều đội đèn hầu nhà Hoạn, sao mà tàn liễu nát hoa. Rồi sảng khoái cười khanh khách cái ngày Kiều làm đệ nhất phu nhân "Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi" để ân đền oán trả những phường ưng khuyển. Nhưng đời Kiều chỉ hạnh phúc khi gặp sông Tiền Đường - con sông duy nhất trong truyện Kiều chảy bàng bạc như một lời định mệnh, hoá giải bao nhiêu trong đục của đời Kiều. Dường như là đã có một mối liên hệ bí ẩn giữa số phận Kiều và sông Tiền Đường, mà rộng ra là những liên hệ thầm kín giữa số phận con người và số phận những dòng sông. Sự so sánh giữa đời người bằng dòng sông gợi lên tất cả sự nếm trải, những niềm vui nỗi buồn, bi tráng và nhiều thương cảm.
Khởi đầu từ núi cao và kết thúc ở bể cả, những dòng sông đã hoài thai trong chính bản thân nó sự bất diệt của đời người. Và cũng giống như con người, mỗi dòng sông mang trong lòng nó một số phận với tư chất riêng. Chẳng hạn như xanh, trong và đầy đó là tư chất của sông Hương. Mãnh liệt, đục ngầu bụi đỏ là tư chất của sông Hồng. Mênh mông và duyên dáng những dề lục bình trôi, đó là tư chất của sông Hậu, sông Tiền. Trẻ trung, cuồng nhiệt và thơ dại đó là tư chất của sông Vệ, sông Hàn. Nhưng dù có khác biệt nào thì tất cả những dòng sông đều hàm dưỡng phù sa, và mang cho đất mẹ một niềm tin mới về sức mạnh thực sự của những hạt đất bền bỉ. Mà trên đó cha mẹ ta ngày ngày cày cấy, đổ mồ hôi mong đợi những mùa vàng. Nhưng cũng có một hiển nhiên là những dòng sông luôn gợi lên một cái gì đó là sự cách trở, không thể nào hàn gắn được. Có ngăn cách nào lớn hơn sự ngăn cách của những dòng sông, nơi ngày xửa ngày xưa, cái thưở binh đao, người lính Thú triều Nguyễn chống kiếm đại trượng phu "bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa". Hơn 200 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, sông Gianh là nỗi đau của sự phân cách. Nhiều trăm năm sau đó, nỗi đau Hiền Lương lại một lần nữa gọi cả dân tộc làm một cuộc kháng chiến trường kỳ. Những lá thư vượt tuyến đã xoá đi cái ranh giới hữu hình chia cắt Bắc - Nam. Đêm thao thức nhìn lên sao Hôm, bao nhiêu đôi trai gái đã trở thành những Ngưu Lang - Chức Nữ, thắc thỏm đợi một nhịp cầu Ô Thước. Ngày ra đi đưa tay hẹn hai năm sẽ về, nhưng đó là một cuộc đi dài ngót hai mươi năm có lẻ.
Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Chợt một ngày tôi đọc lại câu ca dao xưa, cái mô típ tưởng chừng đã cũ là THUYỀN và BẾN, bỗng hiện ra trong một màu nghĩa mới, đong đầy nước mắt chia ly. Nhưng người xưa thâm thuý, câu ca dao nào chỉ lạm bàn chuyện con gái con trai, mà theo tôi đó là bản chất triết học của đời sống, mối quan hệ vô cùng giữa cái bất dịch và cái biến dịch, được diễn nôm bằng hình ảnh gợi cảm phổ biến và dễ nhớ là thuyền và bến. Đi suốt một đời, thuyền đã qua bao bến sông, bao nhiêu nước dưới lòng thuyền đã chảy. Hờ hững và cuồng nộ, dữ dội và dịu dàng, những dòng sông đã phổ vào tâm hồn con người bản giao hưởng của ánh sáng, màu sắc và hương thơm. Phải chăng là chỉ cần một ánh đèn chài nhỏ trên sông, từ những thất vọng ê chề ta trở lại với bao hy vọng và một chút khói sóng lam mờ sẽ thuốc thang cho những vết đau tâm hồn.
Nửa đời đi, đã qua nhiều những con sông nước Việt, kể không hết những ngọn nguồn quên lãng, chợt một ngày dừng lại dưới chân cầu Tràng Tiền, ngắm sắc xanh kiêu hãnh của dòng Tiền Đường mải mê xuôi về bể cả, chợt thấy lòng ấm lại, ai như bóng Kiều thấp thoáng bên những ngò cải đơm hoa.
Ẩm Thực Huế
Đọc "Miếng ngon Hà Nội" của nhà văn Vũ Bằng, "Hà Nội ba mươi sáu phố phường" của nhà văn Thạch Lam, rồi đến những thiên tuỳ bút của Nguyễn Tuân v.v...mới thấy ẩm thực Việt Nam có thể so sánh với bất kỳ một nền ẩm thực nào trên thế giới. Ăn được xem như thể là văn hoá, thể hiện phép ứng xử của con người với con người, và con người với tự nhiên.
Không đa dạng như lối ẩm thực Bắc Hà, cũng không phồn thực như lối ẩm thực Nam Hà, ẩm thực Huế có một chiều sâu riêng, mang đậm nét bản sắc của một vùng đất từng là kẻ chợ, thanh lịch nhẹ nhàng và tùng tiệm. Người Huế ăn uống gắn liền với ba tiêu chí: rẻ, ngon, nhất là phải đẹp. Một món ăn không đẹp không phải là một món ăn. Và với những tiêu chí đã nêu, người Huế ẩm thực chia ăn uống thành ba bậc: khẩu thực, nhãn thực và tâm thực. Khẩu thực là cách ăn không dám coi thường nhưng là thấp nhất, vì là ăn bằng miệng, và ăn để tồn tại. Nó dính dáng nhiều đến cơ chế sinh học - như là sạc pin hay nạp xăng để vận hành một cổ máy. Đến nhãn thực, cách ăn đã cao hơn một bực - ăn bằng mắt. Thưởng thức cái đẹp trong sự đăn đo về màu sắc, hình khối, khả năng bày biện, xếp đặt để tạo hiệu ứng thẩm mỹ cao. Lúc này cái đói đã chịu ngồi yên ở chiếu, dưới, nhường cho những xúc cảm đã chớm thăng hoa. Nhưng cao hơn hết thảy vẫn là tâm thực. Nghĩa là ăn bằng cả tấm lòng mình. Chẳng vì thế mà một bát nước rau muống luộc đánh tí chanh tươi pha vào một ít nước mắm cốt, lại có thể đánh đổ bao sơn hào hải vị. Một trong những món ăn được nhiều người Huế ưa thích là rau dại nấu canh tập tàng. Khó mà diễn tả cái mùi bách thảo lan toả khi mở vung nồi canh. Cái thơm bùi ngùi của chồi bí, một chút chan chát ngọt của rau bồ ngót, pha với chút hăng hăng của cây bồ hôi, rồi nào là dền gai, đọt thài lài non, nõn chuối chát, lá rau diếp cá.....Có cảm giác như cả thế giới rau dại đã cùng dung dăng dung dẻ trong bát canh xanh ngăn ngắt. Gợi lên gốc gác rằng, có một thời con người đã sống bằng hái lượm. Với tuổi trẻ khó có thể hiểu rằng bát canh rau dại nhỏ đã gói gắm trong nó cả một triết lý lớn về đời sống con người.
Trong ẩm thực, người Huế cũng mê gia vị đến mức cực đoan. Ngoài màu sắc đẹp, đồ gia vị mang lại cho vị giác nỗi "thống khổ" của cái ngon. Và trong bè giao hưởng hàng trăm loại gia vị thì ớt vẫn là vị "nhạc trưởng" có chiếc mũ đỏ đầy quyến rũ. Người Nam Bắc Hà du lịch Cố đô, vẫn cay tít với Huế từ bát bún bò điểm tâm buổi sáng. Rồi bún hến, cơm hến cho đến nước chấm các loại bánh khoái, bánh nậm, bánh lọc.....Tất thảy đều cay. Thời sinh viên, nhiều lần cùng bạn bè ăn bát cơm hến cay xé miệng, xé lòng, tôi nghĩ là nên thêm sắc tím trong bản màu truyền thống của văn hoá Huế một màu sắc nữa, đó là màu đỏ chói chang của ớt. Và như vậy Huế sẽ tưng bừng hơn với màu tím vốn đằm thắm của mình.
Trở lại với cách ăn. Người Huế xem ẩm thực gần như là một nghi lễ. Dù đơn giản hay bày biện phong phú, bữa ăn phải thanh tịnh, chén dĩa tươm tất, tư thế ngồi đằng thằng. Không lăng xăng, ồn ào trong lúc ăn. Đưa bữa là những câu chuyện gia đình vui vẻ. Hết sức tránh những chuyện buồn, chuyện đàm tiếu, tranh luận cãi vả trong bữa ăn. Chính trong bầu không khí có vẻ tôn nghiêm ấy, các thành viên gia đình ý thức nhiều hơn về sự bao dung và cẩn trọng trong hành xử hàng ngày. Thú vị nhất là với một món ăn, không bao giờ được dọn ra một lần mà được tiếp làm nhiều lần. Vừa tránh được cảm giác ối thừa thức ăn lại vừa giữ được thức ăn nóng sốt suốt bữa ăn. Do không nắm bắt được nét ẩm thực khoa học này, nhiều người lần đầu ăn cơm khách Huế, đã ái ngại nhìn những chiếc dĩa con con mà không dám "thực lòng". Văn hoá ẩm thực Huế là sự trả lời cho câu hỏi "ăn như thế nào?" chứ không phải là "ăn cái gì?". Chính vì vậy ngay từ trong bếp núc các món ăn đã được chăm chút nhiều lúc đến mức thái quá, để giữ riêng một vẻ đẹp đặc trưng. Dù món ăn đó là nem công, chả phụng, bào ngư hầm hay canh hoa lý, mắm cua gạch....đều được thực hiện với một cung cách kỹ lưỡng như nhau.
Theo thời gian, ẩm thực Huế đang lên ngôi và ngày càng phổ biến trong nước. Có thể ăn một bát bún riêu cua Huế ở góc đường Hai Bà Trưng - Pleiku, một tô cơm hến hơi bị ngọt hoá tận những con phố nghèo quận 8 - Sài Gòn. Hoặc dĩa bánh bèo - nậm - lọc ở đường Nguyễn Thái Học - Qui Nhơn....Món ăn Huế đã theo chân người Huế làm một cuộc du hành và ở những nơi mới đến, các món ăn có thay đổi chút ít để phù hợp với khẩu vị địa phương. Như vậy, những món ăn Huế lại sống tiếp một cuộc đời thứ hai với những "tín đồ" mới, ở những vùng đất mới.
Chính với cách ăn như một nghi lễ đời thường, người Huế đã xem ẩm thực là nhân cách. Qua cái ăn, con người bộc lộ những cách nghĩ, cách cảm về cuộc đời. Đưa cái ăn vốn nằm dưới tầm thấp của bản năng lên hàng ngũ của cái đẹp, đó là những gì vô ngôn nhất mà người Huế nhân hậu đã dành cho loài rau dại và những chú hến nhỏ một đời vô danh dưới lớp bùn lưu cửu của Hương Giang.
Những Tiếng Rao Đêm
Tuổi thơ sống trong một hẻm phố nghèo và hay ăn quà vặt, những tiếng rao đêm qua nhiều năm tháng trở thành một nỗi ám ảnh trong tôi. Có bao nhiêu thứ quà bánh, thì cũng có chừng ấy tiếng rao. Mà ngay cả những người bán cùng một mặt hàng quà bánh, tiếng rao cũng không có một chút gì giống nhau. Tiếng rao của các em nhỏ khác rất nhiều tiếng rao của người già. Phụ nữ rao hàng cũng khác đàn ông. Nó không chỉ mang sắc thái của giới tính, tuổi tác mà dường như thoảng trong tiếng rao là cái gì đó rất hoàn cảnh của một đời người. Có thể cảm được và hình dung được. Có một điểm chung là tiếng rao nào nghe cũng buồn xa xót, cứ bị ngắt quãng ở những âm vực không thể ngờ được. Bạn hãy hình dung giúp tôi vào một ngày mùa đông, mưa gió bão bùng, rét thâm tím phố, bỗng xé màn đêm là tiếng rao khàn "mì nóng dòn....đơi....". Rồi một cụ già nhỏ thó bó mình trong một tấm tơi mỏng, bước đi dò dẫm như không có mục đích. Hằng đêm, cứ vào một giờ nhất định, cụ lại đi qua ngõ phố nhà tôi. Cho đến một ngày không thấy cụ nữa.....Thèm đi và hay đi, qua mỗi vùng đất, tôi lại nhận ra cái "nết" riêng của những tiếng rao đêm. Trong sổ tay của tôi ghi chép nhiều tiếng rao hay và lạ, có kí âm và ghi chú hẳn hoi. Một lần trú lại Bình Định, suốt ngày đã mệt nhoài với mấy cái tháp Chàm, đêm về ngã lưng đã nghe tiếng rao "ơi bén hỏ đơi...." (ai bánh hỏi đây) vừa lạ vừa vui. Rao vui nhất là người bán trứng vịt lộn. Tôi ước chừng thị xã Pleiku là nơi bán rao trứng vịt lộn nhiều nhất. Đêm nào nằm ở nhà người quen trên đường Hai Bà Trưng, cũng nghe "Hô...vi lô đơi..."(hột vịt lộn đây). Có hôm mệt mỏi, chỉ nghe một tiếng rao tắt: "lộn đơi..". Chữ "lộn" do nguyên tắc hài thanh, khi rao nghe tục nhưng mà thanh, vừa buồn cười, vừa thú vị.
Lại nhớ có một lần cùng anh bạn người xứ Nẫu, ngồi lai rai trên một vỉa hè Huế. Đang vui và hăng, bỗng tôi thấy mặt anh đực ra lo lắng như con ngỗng. Cố át tiếng mưa, tôi hỏi "cậu đau à?". Anh ta đưa tay lên miệng ra dấu im lặng "dường như tau nghe có tiếng rao bán bánh cốm". Tôi chả nghe thấy gì còn anh thì cứ thắc thỏm "đấy, đấy, đấy, đang đến gần đấy". Và đúng là...cuối cùng trong làn mưa, xuất hiện hai cái bầu to như trong truyện Tam quốc và tiếng rao cấp thúc hối hả "Cúm, cúm, cúm....đơi". Tiếng rao đi qua, anh như một người khác, không nói không cười, mặt buồn dàu dàu. Mãi sau trước lúc về anh bảo: "Tau nhớ quê...Ba tau ngày xưa bán cốm dạo nuôi tau thành bác sĩ bây giờ"
Gần đây phố xá cứ cao mãi lên. Người thì nhiều mà tiếng rao đêm lại cứ "vắng dần". Hôm rồi ra Hà Nội, ở tít trên tầng sáu của khu phố trung tâm. Bỗng dưng thèm nghe thèm biết người Hà Nội bán quà bánh đêm rao như thế nào. Nhưng làm sao nghe được. Chỉ nghe tiếng rao của gió Tây Hồ vọng đến, thao thao như tiếng nói của người.
Trường Tiền Biết Mấy..Là Yêu
Nâng cao hiệu quả giao thông. Và cũng chỉ chừng ấy sự dễ dãi thôi, cầu Trường Tiền đã không còn là nó sau khi được phục chế.
Mất những chiếc ban công xinh xắn, cầu Trường Tiền như mất đi đôi cánh thiên thần khi nó vươn qua dòng Hương thơ mộng để làm mỗi một việc duy nhất là kết nối hai bờ. Người Huế cũng thôi cù rủ nhau lên Kapia cầu ngắm trăng, và hàn huyên những câu chuyện dường như dài dằng dặc của mỗi đời người. Thiệt thòi nhất thương thay lại thuộc về những đôi trai gái. Tình yêu dắt họ lên cầu rồi bỏ họ cô đơn ở đó với chiếc hành lang dài thông thống không một chỗ để dừng chân. Còn nói như ai đó là các bà mẹ nghèo tần tảo gánh những bèo, nậm, lọc qua chiếc cầu dài không có chỗ để xoay trở đòn gánh mà nghỉ vai. Mất đi một yếu tố vật chất nho nhỏ trong đời sống người dân Huế cũng mất luôn những thói quen thị dân thân thích của mình, là đứng trầm tư từ giờ này qua giờ khác trên Kapia cầu. Từ ngày cầu được hiện đại hoá với hệ thống đèn cao áp sáng rực, trăng cũng thôi không còn mấy ý nghĩa khi nó cứ bợt bạt, tàn úa. Tôi đâm ra là người hoài cổ, cứ tiếc nuối vô vàn những điều lẽ ra không thể mất kia..
Đi vào lịch sử vùng Huế với những dày vò thương tật, kỳ diệu thay cứ sau mỗi lần "ngoạ bệnh", cầu Trường Tiền lại trỗi dậy phục sinh với một sức sống mới, đẹp đẽ và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dường như đó là sức sống của niềm kiêu hãnh, kết tinh từ máu, mồ hôi và nước mắt của một vùng đất đa địa tầng văn hoá. Quyết không thể làm mất những gì đã làm nên bản sắc của mình. Sống nhiều năm, những cư dân Huế phát hiện ra rằng: cầu Trường Tiền đẹp nhất vào hai thời điểm trong ngày: sáng sớm và chiều tối. Vào buổi sáng, mặt cầu ướt đẫm sương đêm. Không gian ngào ngạt hương hoa sen. Nghe như trong những hạt sương móc rơi rơi xuống thành cầu có tiếng vó câu gập ghềnh của nhạc ngựa. Lao xao trên bến, dưới thuyền tiếng nói cười của thôn nữ đi phiên chợ sớm Đông Ba. Và xa khuất phía mạn dưới cầu là những ánh đèn chài bập bềnh của vạn đò Cồn Hến. Khi ở phương Đông, bình minh choàng thức, những tia nắng đầu tiên của ngày mới rực rỡ hình rẽ quạt đã nhuộm một nửa thân cầu vàng óng ánh. Buổi chiều, cầu Trường Tiền bạc trắng như tóc người già. Những đường cong cứ khòm mãi xuống cho đến khi đã rũ hết những bụi bặm, ưu phiền của một ngày đã sống. Từ những hàng cây ven sông, bóng đêm lặng lẽ bò ra và sắc tím như một niềm yên uỷ cùng với sương mù phủ kín mặt sông. Tôi cho đây là thời khắc đẹp đẽ nhất của Trường Tiền. Ngay cả trong mùa đông mưa gió bão bùng,cầu Trường Tiền cũng mang một vẻ đẹp riêng, cái vẻ đẹp của sự chịu đựng mụ mị. Từng đám con gái áo dài đi học mình mẩy ướt như một bầy chim cánh cụt so le trong gió bấc, mưa phùn.
Một trăm năm đã qua. Bao nhiêu ruộng dâu thành bể cả. Dù ngày nắng, dù ngày mưa, cầu Trường Tiền đã sống như một lời khải huyền của Huế, để thêm vào chất thơ chút bụi bặm của cuộc đời
Trung Thu Một Thuở
Cứ đến mùa Trung thu, lũ trẻ bạn tôi lại hát rông rổng suốt ngày "Tết Trung thu bánh quà đầy mâm. Soi xuống trần ánh sáng dịu dàng. Rằm tháng tám bóng Hằng soi sáng...". Bây giờ, không còn nhớ lời bài hát là của ai. Từ đứa này qua đứa khác cứ hát theo rồi thuộc làu. Hát là hát vậy chứ Trung thu của trẻ em nghèo nông thôn làm gì có "bánh quà đầy mâm". Giỏi lắm thì có được bữa ăn tối có thịt và xôi đậu xanh, do làng quyên góp tổ chức. Nhưng niềm vui của trẻ thơ nào có đợi cái sự đủ đầy. Cả bầy vừa con trai vừa con gái kéo nhau ra luỹ tre ven sông làm lồng đèn. Tre làng thì không bao giờ thiếu. Kiếm những cây tre đực nhỏ và chắc, vót làm khung đèn. Giấy bồi lồng đèn là giấy kiếng đỏ để dành từ những lần nhận phần thưởng. Nếu thiếu thì bồi thêm giấy vở đi học đã dùng rồi. Thưở ấy rất khó kiếm đèn sáp, thì lấy ruột mù u chẻ nhỏ, rồi xâu bằng một sợi kẽm con. Ở phần đuôi sợi kẽm cột thẳng vào giữa khung đèn. Lửa trái mù u cháy sáng không thua gì đèn sáp, chỉ phải cái là hơi nhiều khói. Chơi xong một mùa Trung thu, mũi đứa nào cũng đen ngòm ngòm. Dễ làm nhất vẫn là lồng đèn hình sao, vừa chắc chắn lại vừa khó cháy. Thứ đến là lồng đèn máy bay, làm vụng nó thuông thuông như hình thoi, nhưng vẫn có thể vừa xách đi thung thăng, vừa hát mà lòng vui như hội. Một chiếc lồng đèn được làm xong, ba bốn đứa thay nhau chơi. Tiếng trống đánh tùng tùng, trăng mùa Trung thu sáng rực rỡ. Dưới trăng những chiếc lồng đèn cháy bằng lửa trái mù u trở nên bạc trắng và nhỏ nhoi như những số phận đang cầm nó.
Để làm được một chiếc lồng đèn dù xấu xí cũng mất cả ngày trời. Nhưng khi chơi lại không được lâu. Chỉ cần một cái đẩy vai đùa nghịch, lồng đèn chao nghiêng, cây sáp mù u đổ quẹo vào vách giấy, lồng đèn bắt lửa bùng lên là hết chơi. Những lúc như vậy có muốn làm lồng đèn để chơi cũng không còn kịp nữa. Cứ nhìn đám bạn đi thành hàng rồng rắn mà thèm. May mắn năn nỉ thì được chơi ké một lúc. Dường như trẻ con nông thôn đứa nào cũng thảo, hay nhường nhau chơi vì không muốn bạn buồn...Một cái kẹo cũng chia đôi, chia ba. Chỉ có điều khi chia sẻ cho bạn vẫn lấy ngón tay làm mức để không được ăn quá phần.
Vui nhất trong đêm Trung thu là sau khi chơi lồng đèn chán chê, bèn rủ nhau đi hái trộm trái cây nhà hàng xóm. Có bữa áo rách tả tơi vì chó cắn, còn mặt mũi thì đầy những vết gai cào. Nhưng lại vui và nhớ mãi.
Bây giờ, ngay cả ở quê tết Trung thu cũng đã khác xưa rất nhiều. Cái gì cũng gần như có sẵn. Đầy đủ và không được vui. Tết Trung thu trẻ con không cần phải làm lồng đèn nữa. Cần thì đi mua vừa mau vừa rẻ. Lồng đèn đủ chủng loại treo đầy các cửa hiệu. Có cả lồng đèn không bao giờ cháy và không thắp lửa, đó là lồng đèn dùng pin của Trung Quốc. Bánh Trung thu thì được bán đầy dẫy, chưa ăn đã thấy chán. Còn mặt nạ thì có cả thầy trò Tam Tạng, người dơi, rô bốt...nhiều vô thiên lũng. Trẻ con đi chơi tết Trung thu cũng ăn mặc đẹp hơn, cứ sáng choang như một cái gì đó không thật. Thật hạnh phúc khi các em không phải chơi chung một cái lồng đèn, ăn chung một thanh kẹo, và đi hái trộm trái cây nhà hàng xóm. Chỉ có một điều tôi băn khoăn là các em sẽ còn lại gì ở tuổi thơ của mình? Chắc chắn rằng các em có thể kể chiếc lồng đèn đẹp của mình được mua ở đâu đó với giá bao nhiêu ấy, nhưng các em không thể kể thêm gì về nó nữa. Phải chăng sự đầy đủ đã đánh mất của các em một tuổi thơ ý vị.
Cơm Đồng
Cái hồi bỏ quê đi học xa, không nghĩ rằng đi là đi mãi không về. Cũng không nghĩ rằng lòng lại nhớ quê đến vậy. Nghe mưa lăn thăn là nhớ. Cái nhớ từ trong ruột nhớ ra, ray rứt như một cơn đau không có thuốc chữa trị. Tưởng là đã quên hết, đã cháo lú từ lâu nhưng đến lúc nhớ thì sao lại nhớ mồn một, nhớ như in. Như mới hôm qua ta còn gánh cơm ra đồng. Người nhỏ gánh nặng, chân và vai lễ mễ. Bờ đê nhiều cỏ, thứ cỏ ban mai xanh và đẫm sương móc, cứ quấn lấy đôi chân trần. Gánh hai đầu cơm đi vắt vẻo qua những bờ ruộng nhỏ đến được chân ruộng nhà, là bụng đã mừng thầm. Ngã chiếc nong tre lên những gốc rạ cứng, ngồi xệt xuống ruộng bày cơm canh ra đã nghe bụng đói cồn cào.
Còn gì hơn ăn một bữa cơm đồng. Mồ hôi nhễ nhại, bưng bát cơm nghe nắng dọi vào mặt. Hương lúa sực nức gặp gió bốc lên thơm lừng. Bát canh cua đồng nấu với bồ ngót ngon hơn hết thảy cao lương mỹ vị trên đời. Vừa ăn vừa gạt mồ hôi trên mặt. Mày lúa bay vào người xon xót như nằm trên ổ rơm. Hết bát này lại xới tiếp bát khác. Cơm mới dẻo như nếp tháng tám, chan lên một vùa mắm cái, cơm dậy mùi như hương bánh nổ. Làm đồng vất vả chưa hết nửa buổi sáng đã thấy bụng đói nheo nhéo. Cắt một thôi lúa lại ngửa mặt ngóng vào ngõ xóm, chờ người nhà mang cơm ra. Bát cơm đồng ngày nắng có nhọc và mệt nhưng là thứ hạnh phúc nhọc mệt của cần lao mà hễ ai đã ăn một lần là nhớ mãi. Nhưng vẫn chưa bằng mùa đông. Mưa. Rét. Càng mau đói. Bát cơm bưng lên chưa kịp che nón, mưa đã tấp đầy ắp nước. Đôi bàn tay chai phồng vì cán cuốc rát bỏng, khi bưng bát cơm phải nhon nhón để tránh vết đau. Chỉ là cơm rau dưa cà thêm một ít cá đồng kho khô, nhưng chừng ấy đã là một bữa tiệc thịnh soạn.
Nhớ những năm được mùa. Bữa cơm đồng còn vui hơn tết. Người lăn xăn nhộn nhịp, tiếng cười nói ồn ã. Lúa nườm nượp về nhà. Bữa cơm đồng dưới bóng cây đa làng đầy ắp những chuyện vui. Người nhà quê cũng nhiều chuyện nhưng thường là những chuyện thật thà. Đánh một lèo bảy, tám bát bụng no căng. Làm thêm một ca nước chè xanh dịu mát. Rồi khoan khoái ngã người ra vạt cỏ, úp chiếc nón lá lên mặt. Nghỉ trưa trong làn gió nồm mát như quạt hầu. Chân tay thả lỏng dài trên cỏ, để mặc lòng mơ những vụ mùa sau. Làm đồng nặng hay đói nên ăn gì cũng ngon. Mấy ai còn nhớ bát canh mướp hương nấu với tép sặc ở đìa. Mở chiếc vung ra, hương mướp lùa vào mặt thơm nưng nức. Nhớ dĩa rau muống cỏ xanh mềm chấm với nước mắm cái dầm ớt mọi cay xé đầu lưỡi. Nhớ dĩa cá rô con kho khô thịt dai bùi như thịt gà tơ. Nhớ và nhớ cả cái nắng gắt gao. Nắng hoa cả mắt. Và màu trời ngày mùa vừa xanh vừa cao, vang lừng tiếng hót của bầy chim chiền chiện.
Nhiều năm xa quê, thấy thèm và nhớ một bữa cơm đồng. Nhớ có lúc đến cùng quẫn, bèn tự bày ra trong trí nhớ những bữa cơm đồng đã từng ăn. Mâm ăn trong tơ tưởng có canh mướp hương, đĩa cá rô con và chén nước mắm cái ớt mọi....Rồi bất chợt giật mình, thảng thốt nghe như có tiếng ai gọi "Bớ...cơm". Tiếng gọi như gió thoảng mơ hồ khiến lòng ứ đầy dư vị tha hương.
Tiếng Chim Mùa Đông
Mùa đông ở Huế thường dài và rét mướt. Mưa lê thê từ ngày này qua ngày khác. Bầu trời như một túi nước âm âm đổ xuống trần gian. Mưa đã biến tất thảy không phải là nó thành màu xám tro, nặng nề và u ám. Có cảm giác như sự sống đã chùn lại và chuyển sang một dạng khác. Nhưng thực ra thì không phải vậy. Trong những công viên đẫm nước mưa, vẫn le lói tiếng chim mùa đông. Nhìn bầy chim Sẻ thiên di trên vòm cây long não, lòng tự hỏi mùa đông chim Sẻ sống thế nào? Làm sao mà con chim Chào mào đít đỏ có thể hót trong mưa và giông bão? Tiếng hót vui, dài, rộn rã giai điệu trẻ thơ khiến lòng ta như ấm lại. Ai đó bảo mùa đông chim cũng đổi giọng. Không biết điều đó có đúng không, nhưng quả là giọng hót của bầy chim Sâu ri khàn khàn như tiếng cọ xát của hai thanh đũa thép. Còn giọng chim Sơn ca thì chìm xuống như một nỗi buồn lữ khách, được nén lại trong vòm ngực. Chỉ có tiếng kêu của con chim Từ quy là bốn mùa không đổi, vẫn "quất,quất" can trường với niềm tin xác tín Thục đế. Ở thành phố Huế bây giờ, chim Từ qui dường như đã vắng nhiều. Thỉnh thoảng vào mùa đông những ngày mưa lớn, mới nghe tiếng chim gọi trong bụi cây Đồng đình ở công viên Tứ tượng. Tiếng gọi nức nở như tiếng gọi bầy u hoài, âm vang con đường nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Gặp mùa gió xuôi, tận bến đò Hoa - Việt khách còn nghe thấy tiếng chim kêu. Nhưng hót sầu thảm nhất vẫn là con chim Chàng làng, còn có tên gọi khác là chim Chăn vịt. Chim Chàng làng thường hót nửa đêm. Trong mưa gió vẫn dài rõ mồn một tiếng kêu "bớ thằng chăn vịt". Cũng tiếng kêu ấy, có vùng phiên ra là "Cơm còn cho cục..Cá nục còn cho con..". Nên cũng vì vậy mà có vùng còn gọi chim Chàng làng là chim Ăn mày. Có nghe tiếng kêu của con chim Chàng làng lúc nửa đêm, mới hiểu vì sao quê hương là nỗi nhớ không nguôi trong lòng. Để tận nước Pháp xa xôi, danh hoạ Lê Bá Đảng làm một "Cõi người ta" mà nhớ về cỏ lau Quảng Trị. Còn Trần Kiêm Đoàn trong sương mù Cali, thèm thắt lòng bát cơm hến xứ Cồn. Thuở còn bé, tôi hay băn khoăn mùa đông chim cư trú ở đâu, nó ăn gì và hót ra sao? Mưa gió thế chim làm sao khỏi ướt? Lớn lên nửa đời phiêu bạt cái băn khoăn xưa còn mãi trong lòng. Nghe tiếng kêu đau của con chim Từ qui lòng e dè đám học trò quê mùa lũ qua đò đi học.
Không hiểu sao khi nghe tiếng chim mùa đông lẻ loi trên những hàng cây cao trụi lá, lòng tôi nhớ một mùa xuân nào xa xôi lắm. Cũng trên những hàng cây cao, lá non trổ từng bầy, xanh như một tình yêu cũ. Và như trong mơ, bóng con chim Phượng hoàng cao lớn bay về ăn khế trả vàng. Chỉ là tiếng chim lẻ loi thôi, nhưng đã cho mỗi ngày ta sống bao nhiêu hương sắc. Tiếng chim là bức tình hồng gởi gắm lòng trai gái, là ngọn lửa ủ trong tro lạnh mà nồng nàn suốt cả một đời ai.
Ơi tiếng chim, làm sao có thể vắng mày trong những ngày đã sống?
Giấy Mực Học Trò
Đã lâu lắm, kể từ khi thôi học, không còn nhìn thấy cuốn vở học trò. Nhớ những năm tháng đất nước khó khăn, vở học trò bìa mỏng dính, còn ruột thì thâm sì. Dòng kẻ cũng không một chút mạch lạc. Ngòi bút chạy trên trang giấy nhiều khi đang trơn tru bỗng dưng khựng lại, vấp một miếng bả mía nhỏ. Lấy ngón tay khơi ra, từ giấy viết lủng một lỗ gần bằng đồng xu. Một quyển vở học đến ba, bốn môn. Chữ ken dầy từ ngọn đến gốc trang giấy. Cái lề hẹp chừng ba ly cũng bị "ngốn" luôn. Lớn hơn một chút, là tập viết tắt cho lợi giấy, được nhiều chữ. Ngày ấy, thơ lục bát cũng bị bọn học trò quê tôi chép như văn xuôi. Còn nếu chép xuống dòng một câu sáu rồi một câu tám thì "đau" tờ giấy lắm. Trống hai bên không biết làm gì. Vở học xong một năm học, muốn dùng lại một lần nữa thì đem "giặt" bằng nước cơm. Không biết ai đã "sáng kiến" ra kiểu tiết kiệm này. Trước khi giặt phải ngâm ít nhất vài tiếng đồng hồ. Vừa chơi ô ăn quan vừa đợi. Để lâu một tí là đi tong cuốn vở. Giặt vở có kinh nghiệm nhất là thằng Tài con ông Lệ hành nghề bảy đáp (đồ tể). Vở nó giặt lại thường trắng phau. Giấy vẫn cứng chứ không bã ra. Bí quyết của thằng Tài là ngâm vở với nước cơm và nước tro. Rồi dùng một chùm nõn tre cột túm lại làm chổi tẩy đánh tỉ mỉ từng hàng chữ một. Lúc phơi thì "kê" từng tờ bằng nan tre. Để các tờ giấy không dính nhau khi vở khô. "Giặt" vở cũ thành vở mới là một kỳ tích của tuổi thơ nghèo khó. Năm nào cũng vậy, cứ gần đến độ khai giảng là lũ trẻ bọn tôi lại rủ nhau đi chợ Trạm để mua giấy bút. Tiền thì có đứa cha mẹ cho. Có đứa đi cúi, hốt trấu lấy tiền bỏ trong cái bùng binh đất. Toàn là tiền kên (tiền kẽm). Xếp lại rồi lấy vỏ bạc (vỏ trong bao thuốc lá) vấn theo hình trụ thành cọc. Cứ một cọc là mười đồng cho dễ nhớ. Đường đi xa đến bảy tám cây số lại phải đi qua đò giang, sợ rớt tiền tay đứa nào cũng phải nung núc trong túi áo. Mua xong giấy bút vẫn còn rủ nhau đi tha thẩn để ngắm chợ. Hàng hoá cơ man cái gì cũng đẹp. Rất thích mà không có tiền mua. Mấy đồng tiền lẻ trong túi còn để dành ăn bánh đúc và tiền qua đò. Bánh đúc quê đổ trong chén cái, bột gạo trắng tinh. Khi ăn chan một lớp nhân cũng là bột gạo nhưng có khuấy với mỡ heo và gia vị. Rồi lấy cái xẻ tre xẻ chén bánh thành từng miếng nhỏ. Dùng xẻ tre như dùng nĩa nhấc lát bánh lên từ từ rồi cho vào miệng. Thơm. Ngọt. Béo. Bùi. Nhớ một đời. Mua được vở học gói cẩn thận trong túi ni lông, rồi lấy dây chun ràng lại cẩn thận. Qua đò nhỡ có xẩy tay đánh rơi thì vở vẫn không bị ướt.
Những năm tháng ấy, vở gay mà mực cũng gay. Xin mực viết trong lớp học là "chuyện thường ngày ở huyện". Xin không cho thì nhè lúc ra chơi, đương sự đi vệ sinh, "bụp" lấy một ruột mực, viết đến cả ngày hôm sau còn chưa hết. Ghét nhau thời đi học thường hại nhau bằng cách đổ mực vào giấy viết. Cho mực lem ra bỏ ghét. Thiếu mực thì cái khó ló cái khôn. Hái trái mồng tơi vắt vào chén, phơi nắng cho hơi nước bay bớt, chỉ còn cô lại trong lòng chén một phần ba thứ nước tim tím. Cho vào bình mực pha thêm một ít mực rin là có mực viết dài dài. Nhưng chỉ một thời gian, chữ viết mực mồng tơi sẽ bay màu, nhạt đến nhức mắt. Viết đầu học kỳ đến giữa học kỳ đã thấy con chữ nhá nhem. Muốn ôn lại phải dò từng chữ một. Chữ nào nhạt khó thấy thì lấy bút đồ lại cho rõ. Chuyện giấy mực thuở học trò quê nghèo là vậy.
Hôm khai giảng đi mua vở cho con. Nhìn những cuốn vở bìa đẹp, giấy đẹp mà thèm. Giở lòng vở ra giấy trắng tinh, hương bay thơm lừng. Những dòng kẻ xanh xanh chạy đều tăm tắp như những ô mạ mời mọc. Nghĩ đến thời đã qua mà lòng rưng rưng. Không còn được mím môi đẩy bút trên những trang giấy nữa rồi. Bây giờ lại đến lượt con...
Nỗi Đau Sống
Tự đứng chôn chân chịu đựng suốt một mùa đông lạnh lẽo, tự vắt mình đến kiệt gió kiệt nắng, rồi bất ngờ một sáng xuân nồng, rùng mình trổ những cánh hoa vàng, đó là Hoàng Mai Hoa. Chính với khả năng chịu đựng câm lặng bất nhị ấy, nên người đời mê hoa đã kính cẩn "phong thần" cho Hoàng Mai Hoa là "Quân tử Hoa".
Cái đẹp của hoa mai thì đã từng biết, nhưng nỗi tân khổ đau đớn sinh thành để có Mặt Hoa thì không dễ gì lý hội được. Nó là chuyện của trời và đất. Luân xa những qui luật vô thường của cõi tụ - tán hữu hình.
Tôi có người bạn đã nhiều năm đeo đuổi nghề nuôi trai lấy ngọc. Giàu lên nhưng anh vẫn buồn. Những lúc cùng nhau rượu vào, cảm khái anh bảo: "mình cơ ngơi thế này là sống bám vào nỗi đau của con trai". Hoá ra, "công nghệ" nuôi trai lấy ngọc cũng chẳng lấy gì làm khó hiểu. Khi trai bước vào tuổi trưởng thành, chọn một ngày đẹp trời, rải cho thật nhiều mạt sắt vụn. Trai ăn thức ăn có lẫn mạt sắt nhọn vào lòng. Mạt sắt nhọn gim sâu và nhanh đến tận tim, khiến trai đau đớn vật vã. Để làm dịu nỗi đau, trai tự tiết ra một Linh Chất trong suốt, bao lấy vết đau do mạt sắt nhọn gây ra. Lâu ngày, nỗi đau ấy, khối u ấy vón lại thành ngọc quý.
Nhớ xưa, Mạc Đỉnh Chi Trạng Nguyên nhà bần hàn, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm. Học bài phải cậy ánh sáng của bầy đom đóm thu trong vỏ trứng vịt. Dưới ánh sáng nhờ nhờ ấy, mà ông lĩnh hội được tri thức của cả một thời, trở thành "lưỡng quốc trạng nguyên".
Còn với Cao Bá Quát học là chuyện của nhục hình. Để có hai bồ chữ trong thiên hạ, ông ngày ngày tự cột chân vào bàn bằng một sợi dây thừng vàng (hoàng thằng), tự túm búi tóc cột ngược lên xà nhà bằng sợi dây thừng xanh (thanh thằng). Trong cực nhọc, xa xót để sừng sững một trí tuệ uyên thâm.
Qua một mùa đông băng giá để sinh thành hoa. Đau đớn suốt ngần ấy năm trời để sinh thành ngọc. Một bầy đom đóm làng mà soi đường cho trí tuệ. Một sợi dây thừng nhỏ mà mở ra cánh cửa mênh mông của biển học. Đó là chuyện cuộc đời mà không phải ai cũng đạt được, nếu không từng vật vã trải qua Nỗi - Đau - Sống đến luỵ máu.
Tiếng Sáo Của Người Hát Rong
Ấy là một buổi chiều mờ mịt nắng.
Anh xuất hiện trên bậc thềm, khuôn mặt già hơn tuổi tay cắp một chiếc sáo tre ngắn. Huế rét lạnh, nhưng trên người anh vẫn đánh phong phanh một chiếc áo katê mỏng cộc tay. Có lẽ màu trắng đã chuyển sang màu cháo lòng. Chào cả bàn nhậu để làm quen, rồi thì anh cố cười, một cái cười cầu thân trên gương mặt tàn tạ. Nhìn anh cười không hiểu sao tôi lại muốn khóc. Đứng co ro bên khung cửa giá lạnh, anh nhã nhặn xin được thổi sáo cho bàn nhậu thêm vui. Rồi không đợi ý khách, anh đằng hắng lấy giọng và bắt đầu điệu sáo vui chào bàn.
Nắng nhạt dần, trời đã tối.
Từ lúc nào giọng sáo vui chợt biến mất, chỉ còn là những điệu buồn như tiếng lòng của một kẻ tế nhân tha hương cầu thực. Anh đang đi solo bài "Lòng mẹ" của Y Vân. Lúc này tôi mới nhận ra anh là người tật nguyền. Tay trái mất cả bàn tay và tay phải mất nhiều ngón. Nơi các đầu ngón tay chỉ còn lại những khúc thịt lồi ngắn đến là lạ. Anh đứng thổi sáo trong một tư thế cũng không bình thường. Đầu ngoẹo về bên trái như một nghệ sĩ chơi đàn vĩ cầm. Một phần thân sáo được kẹp điệu nghệ vào nách trái. Khuỷu tay phải đỡ phần còn lại của thân sáo và bàn tay phải tật nguyền khó nhọc bịt các lỗ sáo. "Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào...." anh thổi say sưa như lạc vào thế giới nào đó đầy ắp hạnh phúc. Trong cõi vô hình kia, mắt anh sáng rực lên, người cứ vẹo thêm ra, bàn tay tật nguyền run run theo nhịp sáo. Mỗi lúc anh nghỉ lấy hơi, cái cần cổ chạy một đường trái khế trông giống như bức tranh chân dung tự hoạ của Van-Gốc. Nửa chừng điệu sáo, anh nghiêng người một cách tật nguyền và tự giới thiệu mình là Hùng, Nguyễn Văn Hùng, quê ở tận Duy Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam, lưu lạc ra Huế đã nhiều năm. Nâng cốc mời tế nhân, tôi xin anh thổi thêm một lần nữa bài "Lòng mẹ". Anh gật đầu rồi lẳng lặng thổi lại từ đầu. Tiếng sáo cất lên não nuột. Trong giai điệu sáo tre dường như có tiếng khóc của ai đó xa xôi lắm. Như là tiếng mẹ ngày xưa mà không phải là tiếng mẹ ngày xưa. Lòng chợt nhớ lại ngày bé, cái thời ta lẫm dẫm đi lại. Thế giới thơ ngây và lạ lẫm. Tất cả cứ ngọt ngào như chiếc bánh ít lá gai mà mẹ mua cho. Phải chăng ngày ấy thế giới của mẹ là thế giới hoàn thiện hoàn mỹ. Một thế giới của cái đẹp mà con sinh ra chưa hề biết đến những tật nguyền. Tôi còn nghe như trong điệu sáo có tiếng của lá bàng rơi bên ngoài song cửa. Ngày trở về thập thững, và nắng buổi chiều tràn ngập tâm hồn.
Nước mắt chảy dài trên đôi má hóp, Hùng - Home tiếp tục kể câu chuyện cuộc đời bằng điệu ru của đôi bàn tay tàn tật. Những khúc thịt lồi bấm tràn lên lỗ sáo, nghe bi thiết như tiếng kêu của con chim đa đa tật nguyền đang hoài quê gọi mẹ.
Hết bài, anh chào nhã nhặn và xin cáo từ. Bạn tôi thù lao cho anh. Trời Huế đã sập tối. Trong bóng đêm chập choạng, như một con dơi hoang cô đơn, cắp chiếc sáo tre vào nách áo, anh đi lặng lẽ đến quán nhậu khác....
Mảnh vườn xưa của ngoại
Sau lần bị té nặng chấn thương cột sống, ngoại phải bỏ quê lên ở với cậu tận Pleiku. Mấy năm trời thuốc thang chữa trị, vết thương có thuyên giảm, nhưng bây giờ muốn đi lại ngoại phải dùng đôi nạng gỗ.
Buổi sáng đầu tiên ở quê nhà sau bao năm xa cách, tôi ngửa mặt thích thú nghe tiếng con chim chìa vôi mang tơ lòng ra hót lảnh lót. Gió thổi từ phía biển mang hơi thở mằn mặn của cánh đồng lúa đang thì con gái. Và nắng, chao ôi cái nắng quê mềm như lụa đổ thành từng vũng vàng sau rặng tre. Chống đôi nạng gỗ ra hàng hiên, ngoại bảo tôi đưa ngoại sang thăm mảnh vườn cũ. Đường đi tắt đến vườn xưa chưa đầy một trăm mét mà sao dài dằng dặc như một đời người. Ngoại lê từng bước một qua những gờ đá, bậc thang...Có chỗ ngoại thả đôi nạng gỗ bíu bằng cả hai tay. Nhìn ngoại vất vả, tôi bảo: "Hay là để con cõng ngoại cho mau". Ngoại cười nặng nhọc: "Để ngoại tập đi cho quen, rồi có sức mà chăm sóc lại ngôi vườn".
Mảnh vườn cũ mấy năm trời thiếu bàn tay ngoại, đổ nát và hoang phế vô cùng. Bờ chè tàu không người chăm sóc, đã ăn lan ra tận chân ruộng. Dơi hoang làm tổ trong những ngọn tre cụt. Cỏ dại mọc lúp xúp, điểm thêm vào sự trống vắng một nỗi u hoài lặng câm. Hàng cau già mấy năm không người làm cỏ, rũ những chiếc tàu úa như bàn tay ngoại xanh xao. Nhìn đâu cũng thấy tai tái như mặt người thiếu máu. Thiếu hơi người những tàu lá chuối cũng không buồn lay, mặt lá gầy guộc những gân xanh. Đứng lặng thinh giữa ngôi vườn cũ đổ nát, tôi nhìn thấy mặt ngoại hoen nước, mái tóc bạc trắng rung rung. Đôi chân tần tật cứ như muốn nhích lên, bước đến một điểm vô hình nào đó trong ký ức. Gió thổi từng đợt lớn, những chiếc lá tre bay vần vũ trên bầu trời...Những chiếc lá như đời ngoại đã gắn liền với mảnh vườn này. Chiến tranh, mất mùa, loạn lạc, đói khát...mảnh vườn là một nhân chứng sống của mấy thế hệ. Đứng yên một chập, ngoại vẫy tay bảo tôi đưa ngoại đến góc vườn nơi có chiếc giếng nước bốn mùa mát rượi và xanh như ngọc. Từ khi ngoại về làm dâu, vườn đã có giếng này. Giếng được xây bằng đá tổ ong - thứ đá càng ngâm lâu trong nước càng cứng lại. Bây giờ bị bỏ hoang không có người dùng nước, lá tre mục rơi dày đan kín mặt giếng. Một phần bờ thành vỡ toác tự khi nào để lộ màu đỏ bậm nhức nhối.
Với bao phụ nữ nông thôn, giếng là người bạn lòng từ thuở chưa có gương soi. Thanh sắc một đời con gái. Ngoại, rồi Mẹ và đến lượt em tôi đã soi vào chiếc giếng này với bao nhiêu buồn vui. Có lúc khóc thầm tức tưởi thì đã có bờ giếng đây là người bạn nhẫn nại tâm tình. Thả đôi nạng gỗ, ngoại bíu tay vào thành giếng, như cố tìm lại thời con gái của mình. Ôi, thời con gái của ngoại - cái thời guốc mộc, quần lĩnh, áo the, răng nhuộm đen rưng rức hạt na, lúc rãnh rỗi lại cù rủ bạn bè chơi chuyền một chuyền hai. Rồi lấy chồng, sinh con đẻ cái, vai ngoại gầy như gió bấc, đòn gánh chín chạng hai vai. Thoắt đó thôi mà đã gần trọn một đời người. Cùng với ngoại thăm mảnh vườn xưa, sao chỉ nghe có tiếng gió thổi rung những tàu lá chuối. Phải chăng vẫn là ngọn gió nồm ấy mát rượi đi qua suốt thời thiếu nữ của ngoại. Rồi cũng ngọn gió ấy lại miên man thổi thêm một lần nữa qua mái tóc ngoại cơ hồ như lau trắng.
Và suốt mấy hôm Tết, chiều nào cũng vậy, ngoại chống nạng lê đến bên cửa sổ sau nhà, đôi mắt hoen gỉ nước, nhìn đăm đăm về phía mảnh vườn xưa....
Bỏ Làng Ra.....Phố
Không hiểu sao bạn học khoa Văn của tôi thường là con nhà nghèo và ở nông thôn. Đứa nào ra phố học, tay chân cũng còn đầy vết chai sần. Nhiều năm sống ở phố mà cốt cách thôn dã vẫn cứ còn in đậm trong cái dáng đi tất bật, giọng nói to át sóng át gió...Khóc hay cười đều ồn ào như nhau. Chân đã đi trong dép mà vẫn cứ bấm những đầu ngón như đang đi trong bùn. Còn tay cầm một quyển sách to mà vẫn đánh đồng xa như đang gánh một gánh lúa nặng trên vai. Đứa nào quê ở gần trường thỉnh thoảng lại tọt về nhà, tháng một vài lần. Khi đi vẫn nhớ "mang" theo vài thằng bạn, trước là cho biết nhà còn sau là giúp bạn "cải thiện" cho bỏ những ngày đói dài ở ký túc xá. Chưa hết. Khi lên lại Huế còn bới theo cả một gia sản nhà nông: khoai, sắn, gạo, mắm, ớt, và cả tiền tiêu vặt để "chi viện" cho bạn bè.
Với những cậu bé nông thôn như bọn tôi, "phố" là một khái niệm rực rỡ. Đường lên phố còn xa hơn đường lên mặt trăng. Ở đó cái gì cũng khác, người đông, xe cộ nhiều, ban đêm đèn sáng trưng. Dường như ai cũng mặc đẹp. Cuộc sống no đủ và sung túc lắm. Khác xa cái vòm tối đen nông thôn, quần quật cần lao. Thiếu vở viết thiếu sách đọc, cái gì cũng thiếu. Trò chơi xe thì dùng nguyên chiếc mo cau mà kéo. Còn muốn làm phi công thì trèo lên mái nhà nhảy một cái đụi xuống đống rơm. Có khi lọi tay lọi chân đau đớn suốt cả tuần. Một quả bóng màu, một cuốn sách cổ tích đã rách bìa, một que kem mùa hè được đổi bằng chiếc dép cũ...đều là những niềm vui lớn không gì thay thế được. Đêm đêm, nhìn quầng sáng của ánh đèn đô thị hắt lên nền trời đen thẫm mà khát khao, tự vẽ ra cái viễn cảnh một ngày được ra phố, đi đôi chân trần lên nền nhựa đường nóng bỏng, rồi vào một hiệu ăn đường hoàng gọi một bát phở mà ở quê chưa thấy bao giờ.
Có một con đường hẹp để đám học trò nông thôn ra phố là thi đậu vào đại học. Đây là con đường gian nan, không phải đứa nào cũng đi trọn. Ngày cầm chiếc phong bì đựng giấy báo nhập học, lòng nghe hân hoan với bao nhiêu dệt mộng chắc là từ đây đã rũ sạch chốn thôn dã tối tăm, bùn lầy nước đọng. Những năm tháng điện đóm ở phố còn phập phù, đèn ký túc xá nhợt nhạt nhưng nhìn vẫn sáng gấp trăm lần ngọn đèn dầu hoả ở quê. Mà khi học bài muốn sáng thêm phải lấy tờ giấy bạc trong gói thuốc lá xếp lại làm cái chao chụp lên bóng đèn. Cháy "chao" đèn này, lại đi kiếm "chao" đèn khác. Ở phố sướng nhất là trong mùa mưa gió đi đâu cũng không phải xắn quần lội trong bùn lầy. Nhà ở phố dẫu có nhếch nhác cũng bằng vạn nhà ở quê, phên tre vách nứa, mùa gió bấc cứ run bần bật.
Sống nhiều năm ở phố cho đến khi đã có tuổi. Một hôm vô tình điện tắt, phố xá tối om, chợt nhìn thấy vầng trăng rờ rỡ phía trên tán lá long não, thấy mình dại dột biết bao nhiêu. Có cái gì có thể so sánh được với ánh trăng quê, gió quê, những con đường quê...Đêm trăng, ra đầu ngõ hứng gió nghe lao xao trong đám lá tre non tiếng con Chìa vôi mẹ nựng con ríu rít. Giữa những vòm tối xanh thẫm, ánh trăng đổ lụa lên con đường làng lênh láng một thứ ánh sáng màu ngọc lam. Đó là chưa kể ngày mùa. Làng đông vui như Tết. Người ra đồng tấp nập như trảy hội. Các o thôn nữ gặt lúa, cái đáy lưng ong thon thon nhấp nhỏm. Một phần khuôn mặt trái xoan khuất lấp dưới nón lá, đỏ hồng như trái đào tơ. Xong một ngày gặt lúa dưới nắng chang chang. Chiều xuống, thu vén đồ nhà nông, rồi rủ nhau ra sông, chơi đùa tắm táp cho đến lúc trăng lên thật cao mới chịu về. Nước sông mát lạnh như nước giếng làng, nước máy ở phố không thể nào bì được. Trong giấc ngủ quê, thư thả ngả người trên chiếc chỏng tre êm ái, nghe con chuột sành gọi bạn ngoài ruộng lúa, đâu đó nhà ai giã gạo đêm, tiếng chày nhịp ba đệm vào tiếng ru con tha thiết như một khúc hát vọng phu.
Hôm rồi gặp lại bạn cũ. Đứa nào cũng nhớ quê. Lại đem chuyện "ngày xưa" thôn dã kể để mà đỡ nhớ. Xa từ ấy đến chừ sao vẫn không có chi tiết nào bị lãng quên. Kéo nhau ra phố, thắc thỏm đi tìm trăng. Đi. Đi mãi ra khỏi phố Huế. Chợt thấy ở lưng trời phía Đông chòm sao Con Vịt chấp chới sáng, đang chở trên lưng chiếc mũ Thần Nông như những ngày nào...
Rơm vàng... mấy sợi
Mỗi bận mùa lên, dọc các con đường làng đầy rơm. Rơm chất thành đống. Rơm rơi vãi như thoi vàng trên lối đi. Rơm vương cả vào những bờ dậu, mỗi bận có gió thoảng qua rung rung lay lắt. Những ngày nắng, hương rơm làng toả thơm ngây ngất như hương cau. Có lúc gay gắt thơm, cay nồng đến ứa nước mắt. Hương rơm nhỏ nhoi len lỏi vào tận giấc ngủ ban trưa của đám mục đồng chăn trâu, len vào tận tiếng đập đuôi của bầy bò trẻ. Hương rơm làng một thời đã đọng mãi trong những trang sách tuổi thơ tôi. Nó là một thứ sáo diều vô hình, bay cao và hót lảnh lót như con chim chìa vôi buổi sáng. Cầm sợi rơm trên tay, nghe ram ráp ấm như nụ hôn của cha ngày nào. Ở đó, tôi cũng nhận ra những giọt mồ hôi cay mặn của mẹ. Một sợi rơm ngày mùa vất vưởng nằm trên lối đi làng nhiều cỏ dại, với tôi là bao nhiêu ân tình. Xa làng bao năm tháng, sao vẫn nhớ cái bóng cao lớn của cây rơm, nhẫn nại qua mưa gió, để chỉ làm một thứ chất đốt cho đời. Hết cuộc đời rơm, là đời của lửa. Rơm cháy lên để mang hơi ấm nồng hậu. Hết mình, tận tuỵ mà không hề đòi hỏi điều gì - đó là cái lý sống vĩ đại chỉ có ở lòng rơm.
Mùa đông rét mướt, rơm cho bếp lửa hơi ấm. Nhưng ngoài trời, ở những con đường lạnh căm căm rơm rải trên lối đi nhiều bùn giúp bàn chân trẻ thơ có chỗ bấu víu. Đám bạn tôi ngày nhỏ cấp sách đi học, chân lội trên bùn nhờ có rơm mà đến được lớp học. Đặt bàn chân trần lên những sợi rơm làng tin cậy, nhiều đứa đã lập nên sự nghiệp và biết sống tốt ở đời. Phải chăng sợi rơm làng đã dạy bao nhiêu thế hệ con đường đến với những giá trị chân chính. Nếu ai đó lỡ quên thì hãy xin rơm một lời nhắc nhở ân tình. Có mùi hương nào so sánh được với hương rơm khi đã ngập trong mưa, dậy men chua hoai hoai, nghe như mùi mồ hôi nặng của cánh đồng. Đó là một thứ hương thơm đặc trưng vô kể. Chỉ cần nghe trong ký ức lòng cũng đã thấm nhớ quê hương.
Cái thú ngủ trong tổ rơm bây giờ có lẽ cũng không còn. Nhưng đã có một thời cả dân tộc nằm trong hơi ấm tổ rơm như đứa trẻ thơ nằm trong lòng mẹ. Rơm nhân tình đã sưởi ấm cho Thạch Sanh và cho cả mẹ con Lý Thông. Đêm nằm trong chiếc tổ rơm nóng sực, hé mắt nhìn ra đêm tối mưa gió mịt mù, rồi nghe có tiếng con thạch sùng tắt lưỡi trên vách đất, mơ hồ thấy lòng rưng rưng những hạnh phúc không ngờ.
Rơm làng ngày nắng hương lay lắt thơm. Rơm vàng ngày mưa hương chua hoai hoai. Rơm làng lót đường nâng bàn chân trẻ đến trường, ủ bao cuộc đời trong hơi ấm. Lớn lên với bao vấp ngã tôi mới hiểu một điều đơn giản, thì ra sợi rơm nhỏ nhoi ân tình kia đã làm cái việc lớn lao của cả một vũ trụ, che chở cho con người. Cho cả đến khi sợi rơm chỉ còn là một nắm tro tàn trong bếp lửa.
Ngày mùa về thăm quê, nâng sợi rơm vàng sắc nắng trên tay, bỗng dưng lòng chùn lại. Nghe con chim Cuốc kêu ngoài bờ đê, tưởng như có tiếng quê hương khắc khoải gọi ai về....
Đắc Nhất Tri Kỷ...
Dường như tri kỷ chỉ còn là chuyện của người xưa. Đêm chong cây nến trắng, đọc "Dụ thế minh ngôn" của Phùng Mộng Long mới hay tín nghĩa còn to hơn mạng sống rất nhiều. Người xưa đã một lần kết giao là mãi mãi bền chặt. Chính vì vậy mà Giác Ai Nguyên chết theo anh là Bá Đào để quật mồ cưỡng hồn Kinh Kha. Còn Phạm Cự Khanh vì một lời hẹn ước mà tự biến mình thành cô phong kịp đi ngàn dặm trong một ngày, để tái ngộ hiền đệ Trương Nguyên Bá. Tử Kỳ thác, Bá Nha đập vỡ mặt đàn, nguyền từ nay không đánh đàn nữa. Mới hay người xưa xem cái sự hiểu mình là mối tâm giao lớn ở trong lòng. Người càng có học, chí càng cao, lại càng mong có người khác hiểu mình. Điều đó tự nhiên như mùa xuân hiểu hoa hoàng mai, mùa hạ hiểu hoa xích phượng, còn mùa thu chỉ dành lòng mình cho hoa cúc. Đến như tiếng kêu của loài dế hoa cũng chỉ rộ lên trong những đêm hè có gió nồm và trăng thanh. Có cảm giác như bí mật về hạnh phúc của tạo hoá là bí mật của Duyên và Phận. Duyên là cái được mà có, nhưng cũng là cái không được mà có. Chính vì vậy mà mới có chuyện con gà mái đẻ hai lần trong ngày, và hoa mai nở đầu hạ. Người xưa thâm thuý bảo đây là ép duyên. Nhưng ép được duyên cây, duyên vật mà không thể ép được duyên Người. Nên có người gặp nhau, dù mới chỉ lần đầu đã hát bài "kết giao hành". Có người ngày nào cũng gặp mà như chưa hề gặp nhau lần nào. Cổ thi bảo:
Kết giao mạc kết khinh bạc nhi
Khinh bạc dĩ kết hoàn dĩ ly.
Tạm dịch:
Kết bạn đừng kết với người khinh bạc
Người khinh bạc dễ kết giao mà cũng dễ chia tay.
Nên có vui cười mà lòng cách xa, có vồn vã mà tâm băng giá, lời nói không cùng đi với ý nghĩ. Tri mặt mà không tri lòng. Mới hôm sáng còn gặp nhau chiều đã tuyệt giao. Người nhạt vô chừng.
Tôi nhiều năm ly hương, có dịp về quê cũ, kính cẩn ghé thăm thầy giáo dạy văn xưa. Ở cái tuổi không còn nghi ngờ gì về mình, thầy vẫn là người ngạo nghễ và phóng túng hình hài. Chung rượu ngày tái ngộ thầy trò cay nồng bao chuyện vui buồn. Tôi vào vai hầu rượu, vừa tiếp cho thầy vừa nghe thầy nói chuyện. Vẫn phong thái ấy, vẫn giọng nói trầm ấm ấy từng gieo vào lòng tôi bao khát vọng cuộc đời. Có khác chăng bây giờ tôi là người đứng tuổi, sông Ngô bể Sở đã từng. Ngâm nga lời cổ nhân " đắc nhất tri kỷ khả dĩ bất hận", giọng thầy còn buồn hơn phận của một người đưa đò. Người nóng nảy trực tính như thầy không thể ở giữa chợ đời, chỉ có thể làm cây tùng cây bách trên núi cao, thoát khỏi vòng danh lợi. Chia tay thầy lén không chào mà lòng buồn rười rượi. Hoá ra ở đời ai cũng cần có người tri kỷ, cần gặp gỡ kết giao, và chia xẻ chuyện vui buồn. Đêm nằm vương vấn mãi chuyện xưa, nghe tiếng chuông chùa xưa có lẻ lòng bổng dưng tự hỏi: người hiểu ta bây giờ ở đâu?
Tên Người, Tên Cây
Đặt tên cho một con người, đó là một việc hệ trọng. Chính vì vậy, khi một đứa bé ra đời chỉ có cha đứa bé hoặc ông nội mới có cái quyền đặt tên cho con cháu. Có nhiều gia đình còn phải thành lập cả một "hội đồng" để nghị sự cái tên cho thành viên mới. Sở dĩ có sự cẩn trọng này là bởi ở hai lẽ: để thành viên mới có tên không trùng với người trong dòng họ, và một lẽ khác đó là sự kỳ vọng về tương lai của đứa bé. Cái tên của một con người chính là số phận của con người đó? Cho nên những Na, những Ngần, những Nụ....cuộc đời thường bình yên trong dân dã, kết cục tròn trặn như đời Thuý Vân. Còn những Huệ, những Lan, những Hồng.....thường là truân chuyên, bèo dạt mây trôi không biết đâu là bến nước đục trong. Tên con người còn mang trên vai nó tấm gương của lịch sử. Có một thời người Việt mất nước, cái tên của cả dân tộc là đĩ Dậu, là Tám Bính, là Trạch Văn Đoành. Lịch sử sang trang, có một thời tên của cả dân tộc là Chiến, là Thắng, là Quang Vinh, là Trường Sơn. Đất nước thống nhất, nhiều đứa bé ra đời với cái tên là Hoà Bình. Xu thế đặt tên cho thấy không chỉ sự giao lưu văn hoá, mà còn cả cái vị thế và sự phản ánh vị thế ấy vào tâm thức của một dân tộc. Hai mươi lăm năm sau ngày giải phóng, tên của những đứa bé mới ra đời cũng khác đi nhiều. Không thân phận như cái thời chị Dậu, nhưng cũng không còn quá kêu như cách đặt vần phải như vậy để động viên đánh giặc. Những cái tên nghe hiền hơn, với một chiều sâu văn hoá mới, song vẫn gìn giữ được bản sắc chân quê của dân tộc. Không khác tên người là mấy, đó là tên của loài cây. Có điều tên của cây thì ngàn năm vẫn vậy, không hề thay đổi. Có chăng chỉ là cách gọi khác của một vùng, một miền. Như người xứ Bắc gọi cây "mận" là cây "roi", cây "lê ki ma" là cây "trứng gà". Người miền Trung gọi cây "sầu đông" là cây "thầu đâu"; dân gian gọi cây "trinh nữ" là cây " chết giả" không phải là giả chết. Và những cách gọi như vậy làm cho cây gần với con người hơn. Giống như một đứa bé ở nhà tên Tèo nhưng đi học tên là Trung. Trong khi nhiều loài cây có tên rất mộc mạc như cây "cứt lợn", cây "cửa", cây "mưng"... Thì vẫn có những loài cây có tên rất lạ như cây "ngô đồng" ( chứ không phải là ngô làng), cây sến lửa, cây nhạc ngựa. Những cái tên gọi rất chức năng nhưng cũng võ đoán vô cùng và gợi lên trong tâm trí về một độ mờ dễ chịu nào đó. Cũng như con người, cây có đời sống riêng và sự đa mang của nó. Mỗi loài cây tự cho phép mình sống theo một triết lý sinh học mà không phải bất cứ nhà sinh học nào cũng hiểu được. Nhiều người vẫn cho rằng những cây dừa có tuổi hay cười vào ban đêm. Còn những cây cao su trẻ thì thường nói chuyện vào buổi trưa, hay gây sự với nhau nhất có lẽ là cây me, nên ít khi nào người ta trồng me gần nhau. Có lẽ đây là những câu chuyện huyền hoặc. Nhưng có ai dám đoán chắc là không phải như vậy. Và tên cây cũng là số phận của cây, một số phận có tính chất tiền định, và không được lựa chọn. Điều này cây cũng giống như người không chọn được quê hương và cha mẹ. Thân phận nhất có lẽ là loài cây thiếu quê hương, thiên di đến những vùng đất lạ, không hợp phong thổ sống cô đơn và quặt quẹo. Có lần đi trên phố Huế, tôi đã bất ngờ thấy một cây sồi đen mọc ở góc phố nhỏ. Không hiểu ai đó đã trồng nó ở đây. Đứng giữa những bầy phượng cãi nhau choe choé hoa đỏ, cây sồi đen như một khách ngoại lai, gốc rỉ máu trắng vì nhớ..... tuyết. Trong mỗi ngày sống, dù bộn bề công việc, tôi vẫn thường có cái thú là cố gắng tích luỹ một ít kiến thức về cây. Chia sẻ với cây màu xanh êm dịu, lời thì thầm khi trở gió, và nỗi cô đơn không thể nói thành lời. Có gì hạnh phúc hơn khi thấy lòng cô quạnh, một mình đi lang thang trong phố chợt nghe mùi hương hoa hoàng lan đầy ắp trong gió. Tựa vào mùi hương bay lay lắt ta chợt nghe cây gọi tên người.
Theo Bóng Chim Câu
Mỗi năm cứ vào ngày Học sinh - sinh viên 9.1, họ lại tổ chức gặp nhau. Nơi gặp bao năm vẫn vậy, đó là quán Cafe Tổng hội sinh viên nằm trên đường Trương Định. Hơn một chục con người từng vào sinh ra tử bất chấp súng gươm, giờ ngồi lặng yên, lòng ôn lại những kỷ niệm cũ. Những cái vỗ vai bôm bốp chí tình bạn hữu, những bàn tay tìm nhau xiết chặt, những tiếng cười vỡ như pha lê và những giọt nước mắt thổn thức.
Một giọng Huế nhỏ nhẻ cất lên "Mi còn nhớ thằng đại uý Khánh không? Cái thằng đích thân nó lấy dây thừng trói ké mi với nhỏ Hạnh vào gốc cây phượng vàng trước cổng trường ấy". Một giọng khác hơi khàn đáp lại "Làm răng tau quên được. Hôm rồi tau chở khách, gặp nó cũng đạp xe thồ leo dốc Phú Cam. Nửa chừng, nó hỏi tau nhỏ Hạnh bây chừ làm chi. Tau bảo tàn tật bán bánh bèo ở chợ An Cựu". Nó cười trong nước mắt "thế à".
Rồi họ hát. Say mê như chưa từng bao giờ được hát. Những bài hát quen thuộc trong những năm tháng tranh đấu, nhắc nhở bao con tim gia tài của mẹ. Máu Lạc Hồng chảy sôi trong huyết mạch. Lựu đạn cay, cùm xích lao tù cũng chỉ là trò chơi con trẻ. Cái đích lớn lao của tuổi trẻ những năm tháng ấy là hoà bình thống nhất đất nước. Niềm yêu sống trong những năm tháng ấy là tranh đấu, tranh đấu và tranh đấu. Sức trẻ hừng hực bầu nhiệt huyết không một chút toan tính so đo. Ai cũng có quyền hô to "Chết nì, một hai ba..." Rồi chết mà không sợ hãi bất cứ điều gì.
Trong số những cựu sinh viên Đại học Huế thường gặp nhau ngày 9.1, tôi để ý có một thiếu phụ nhỏ nhắn, đôi mắt chị to buồn, khuôn mặt trông rất "ết vê". Suốt cả buổi sáng chị ngồi trong yên lặng. Mắt nhìn mông lung ra cửa sổ trời Huế đổ mưa phùn lất phất gió lạnh. Bạn bè giục mãi cuối buổi mới thấy chị tựa vào ghế đứng lên hát song ca cùng với chồng. Chị và anh hát bè bài "Tự nguyện" của nhạc sĩ Trương Quốc Khánh "Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng. Nếu là hoa tôi sẽ là một đoá hướng dương...". Chất giọng chị mềm và ấm. Còn chất giọng của anh thì khàn khàn. Không hiểu sao hai chất giọng rất khác biệt ấy khi quyện vào nhau lại bãn lĩnh như một cách lạ thường. Chưa bao giờ tôi được nghe một bài hát tranh đấu hay như vậy. Nghe tiếng hát của anh chị, cứ cảm tưởng như ngoài sân sau bức tường Tổng hội sinh viên lô nhô những chiếc mũ cảnh sát, tiếng còi hụ thiết quân luật và tiếng nổ mơ hồ của lựu đạn cay. Là một trong những yếu nhân của phong trào sinh viên, một thời chị được mệnh danh là "Hoa hồng lửa". Vận một tà áo dài, cắp chiếc nón bài thơ, chị có mặt khắp những điểm nóng của phong trào sinh viên. Hai lần vào lao Thừa Phủ, một lần bị đày ra Côn Đảo. Bị tra tấn đánh đập nhiều quá, bây giờ chị không thể có con. Đó là những gì tôi được biết qua lời kể của chồng chị, cũng là một sinh viên phong trào.
Gần đây anh cho biết, bây giờ có tuổi những vết thương cũ trên người chị lại tái phát. Suốt cả mùa đông Huế rét mướt, độ ẩm cao, chị thường phải hát thật to cho đỡ đau. Nhưng nhà tập thể vách mỏng, mỗi bận đau quá chị phải hát cho thật khẽ để khỏi làm phiền hàng xóm.
Ngày Học sinh - sinh viên năm nay, tôi lại tìm đến quán Cafe Tổng hội. Mùa đông, cội hoa giấy đỏ bên hiên chỉ còn lơ thơ lá. Trong căn phòng nhỏ mù mịt khói thuốc lá, những gã đàn ông can trường của một thời đang say sưa hát: "Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng....". Tôi cố tìm trong khoảng tối của căn phòng gương mặt dịu hiền của chị, nhưng chỉ thấy một khoảng mờ của bức tranh phiên bản lập thể danh hoạ Picasso vẽ gương mặt một người phụ nữ buồn. Kỷ niệm ngày Học sinh - sinh viên năm nay thiếu bóng nhỏ Hạnh. Chị đang phải nằm viện và không thể đến được....
Gọi...
Gọi mùa xuân có hoa mai vàng, nở rưng rức như khóc. Gọi mùa hạ có hoa phượng cháy đỏ, nở như bếp lửa nhà ai iu ấp. Gọi mùa thu có hoa cúc tiết Trùng cửu, hương như đường mê, vàng chưa thôi những ngày tao ngộ. Gọi mùa đông có hoa hoàng hậu nở đỏ se sắt. Xa vắng trên những cội cây cao lung linh một bầy hoa rực rỡ như vương miện. Cái đẹp của hoa đã gọi tên cho bốn mùa.
Có cái gọi âu lo, gọi để mà mong đợi. Đó là cái gọi khẩn thiết của đồng đất sau lũ, mong những hạt giống cho một ngày mùa. Người nông dân lam lũ gọi tranh rạ về dựng lại ngôi nhà cũ. Hai bàn tay trắng vàng những chua phèn gọi trái tim để có nghị lực mà làm lại từ đầu. Bếp lửa nhà ai hắt hiu gọi hương gạo mới ấm lòng. Bầy trẻ thơ nheo nhóc gọi thầm chiếc áo mới mặc Tết.
Có cái gọi để mà hoài vọng. Đó là con đường làng lát rơm vàng gọi những ngày xưa yêu dấu. Mùa đông giá lạnh, vách đất lớp học vữa ra từng mảng. Ngồi học phải vận áo mưa. Chữ cô chữ trò nhão nhoẹt nước. Từ con chữ vỡ lòng ngày ấy đến đường vào đại học thực heo hút xa. Bao năm đi qua con sông làng, bạn bè tôi ngày ấy vẫn còn nhớ tiếng gọi " đò ơi!" thắc thỏm mong đợi. Bao đứa bạn trai đi qua chuyến đò vào lính rồi không về. Bao đứa bạn gái sang ngang rồi nheo nhóc chồng con. Cái bến sông nhỏ tí mà gọi bao nhiêu kỷ niệm mờ tỏ và lau lách buồn.
Từ điểm cao 1999, cả nhân loại gọi năm 2000. Điều gì sẽ đến trong những ngày tới? Đêm thao thức nhìn lên bầu trời cao đầy sao, ước mơ của người nông dân làng tôi không phải là đường đến sao Hoả, sao Kim, mà là một vụ mùa mưa thuận gió hoà, sau những ngày dãi nắng dầm sương, bát cơm bưng lên mong có đầy hơn. Tấm áo mặc ngày rét đại hạn có ấm hơn. Con cái được đến trường, không phải úp mặt vào bùn đất. Cánh cửa tri thức mở ra những cơ hội làm người.
Thì bao đời nay vẫn thế. Ước mơ giản dị nhất, cũng là cao quý nhất của con người vẫn là có nhà ở, có cơm ăn, có áo mặc và được học hành. Thời đại nào, chính sách nào, cơ chế nào cũng phải xoay quanh cái trục đó làm tiêu chí để định lượng đánh giá sự phát triển. Xa rời tiêu chí đó một giờ, một buổi, một ngày là mất dân, mất lòng dân. Vì vậy mà cổ thi bảo chăn dân lòng sợ hãi như người cầm sợi dây mục mà điều khiển sáu con ngựa. Sách đã ghi vậy ai đọc, ai làm?
Đứng lên sau lũ, bao người dân miền Trung lại nhen nhóm niềm hy vọng. Vượt qua bao đau thương, gạt nước mắt, họ mở cánh cửa năm 2000 bằng bàn tay cần lao, để mong sau cánh cửa ấy là những phép lạ của ngày thường.
Lên Non Mới Biết Non Cao
Thời tôi đi học, nhà nghèo vô kể. Cả năm anh em đèn sách đều trông vào ba sào ruộng khoán của mạ và chiếc xe thồ ọc ạch của ba. Ngày nào ba cũng dậy từ khi đêm còn. Bất kể mùa mưa mùa nắng, chưa bao giờ tôi thấy ba tôi nghỉ một ngày nào. Cũng chưa bao giờ tôi nghe ba tôi than thở. Ông làm việc với một niềm tin của núi Thái Sơn, rằng năm anh em tôi đứa nào cũng phải vào đại học, đèn sách nên người. Ông bảo học không phải để có cái nhà vàng, mà học để có tấm lòng.
Hơn mười năm ròng rã đạp xe thồ, hai bàn chân ông - bàn chân của một viên chức có thời sống trong nhung lụa, bỗng bè ra thành từng múi, trông rất lạ. Còn tấm lưng vốn rất thẳng, bây chừ xem ra hơi cong cong, tồi tội. Nhưng đôi mắt, ôi đôi mắt ba chưa bao giờ khác, vẫn chói ngời một đức nhẫn, và sự hy sinh không có bến bờ.
Sau này, mạ mới cho chúng tôi biết, những tháng đầu tiên hành nghề xe đạp thồ, đêm nào ba tôi cũng dậy vài lần, bóp hai bàn chân bằng nước muối. Ông giấu cả nhà, làm lặng lẽ sau chái bếp.
Mang ơn sâu như trời bể của ba, tôi vào đại học. Rồi cũng như bao người khác tôi có gia đình. Con đầu lòng của tôi là một cậu bé trai. Thằng bé lẻo khẻo, hay cam sài, thuộc loại khó nuôi. Ngoài đồng lương tập sự èo ọp, chúng tôi phải nhờ vả nhiều ở nhà ngoại, mới kham nổi một nhân khẩu trong nhà. Cuộc sống mệt mỏi, nhiều áp lực, dễ làm những người hiền nhất cũng phải phát cáu. Có lần thằng bé phạm lỗi, một lỗi rất nhỏ của tuổi thơ nghịch ngợm. Tôi vô cớ đánh con rất nặng. Vết roi tím bầm phải nhiều ngày sau mới tan. Lần đầu tiên mất ngủ với niềm ân hận, tôi chợt nhớ những năm tháng tuổi thơ. Nhớ cánh đồng lúa nghèo màu của mạ. Nhớ đôi mắt ba và những cuốc xe thồ vất vả trong mưa gió. Rồi những đồng tiền cóp nhặt gửi theo đường bưu điện cho tôi ăn học. Đã bao giờ ba nói nặng với tôi đâu.
Tôi xoay người ôm con. Dường như thằng bé đang mơ và nó cười thành tiếng. Đêm đã khuya, chợt trước nhà có tiếng gọi giật "xe thồ". Tôi nghe tim mình nhói lên. Có tiếng lằm bằm của một gã say mặc cả. Rồi tiếng nói khàn khàn của một người đạp xe thồ già trả lời. Thằng bé bổng cười khanh khách trong mơ. Tôi lại ôm con. Nước mắt lưng tròng, ừ thì lên non mới biết non cao...
Cứ Vào Dịp Cuối Thu...
Mỗi năm ít nhất cũng vài ba lần lũ chúng tôi rủ nhau lên thăm mộ Thanh Tịnh. Ngày còn sinh viên thì đi bằng xe đạp mượn của bạn bè, còn bây giờ thì đi bằng xe máy, chỉ mất đâu chừng mười phút đồng hồ. Mộ Thanh Tịnh nằm trên ngọn đồi thấp trong Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Huế, gần mộ thân mẫu của nhà thơ Nguyễn Kim Thành - Tố Hữu. Ngôi mộ cao ráo khang trang, dưới chân mộ thường không hiểu từ đâu có nhiều hoa huệ trắng. Lồng vào tấm bia là di ảnh nhà thơ lúc đã cao tuổi, với chiếc mũ trấn thủ muôn thuở đội hơi lệch và đôi mắt đôn hậu lấp lánh sau mục kỉnh. Suốt một đời ăn cơm tập thể, ngủ giường cá nhân, Thanh Tịnh là một nhân cách đặc sắc. Tôi còn nhớ như in vào cái ngày mưa gió của tuổi thơ, trước khi chia tay gia đình ba đã đọc cho chúng tôi nghe bài thơ "Rồi một hôm":
Rồi một hôm nếu cha về hỏi
Mẹ ở đâu con biết nói sao​
Bài thơ xa xót như một "Binh xa hành" và tôi yêu Thanh Tịnh từ đó.
Lớn lên một chút biết viết biết đọc, tôi sưu tầm tất tật những gì liên quan đến Thanh Tịnh. Nhiều truyện ngắn của ông cũng buồn như là thơ ông vậy. Nhưng nghe bảo cái con người hay buồn đấy lúc nào cũng cười nói như không. Làm văn chương như chơi mà tài thì tài thật. Có cậu học trò nào mà không thuộc "Tôi đi học". Thuộc cái buổi sáng rất nhiều sương mù và gió lạnh ấy. Một khoảnh khắc rất nhỏ của tuổi thơ nhưng qua tấm lòng nhân hậu và cây bút tài hoa đã đọng lại rực rỡ trong ký ức bao người. Bởi khoảnh khắc ấy là cái rốn nhau nuôi nấng hài nhi, là đôi tao nôi ru hời giấc điệp mơ mòng ngày nhỏ, là....là cả sự hoài ơn, nghĩa sinh thành không thể tả bằng lời. Hồn nhiên như cây cỏ, nhưng có ai biết trong những đêm dài lang thang mưa cô đơn, Thanh Tịnh đã làm gì để đối mặt với chính mình. Đối mặt với "cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân"?
Trên con đường nhỏ của làng Mỹ Lý xưa, ông đã từng theo mẹ đến trường làng. Để sau này trên con đường lớn của đời mình, ông chỉ có lẻ loi như con chim bằng bay bổng tuyệt mù.
Chúng tôi uống rượu làng Chuồn bên mộ Thanh Tịnh. Nghe bảo loại rượu tăm Huế nức tiếng này rất được Thanh Tịnh mộ từ khi còn là hướng dẫn viên du lịch.
Làm một cuộc đi dài ba mươi năm, bây chừ ông nằm đây, để nghe mỗi ngày từ phía sau đồi, tiếng trống trường làng tâng tâng vòm ngực trẻ. Chiều cơ hồ như đã xuống từ lâu lắm, chén rượu của đám hậu sinh kính cẩn hầu ông vẫn chưa vơi được mấy.
Thư Gửi Mẹ Ngày Lũ
Huế vừa lũ xong chưa kịp viết thư cho mẹ thì đã nghe Quãng Ngãi quê mình lũ lớn. Xem trên truyền hình chỉ thấy nước mênh mang. Nghe bảo đã có 22 người chết, chưa kể số mất tích. Nước lũ còn lớn hơn cả năm Thìn - năm mà mẹ sinh con. Mẹ kể năm đó con chào đời trên một chiếc bè chuối. Chung quanh nước gầm réo. Không có bà đỡ, mọi việc đều do ông ngoại làm thay. Rốn con được cắt bằng một mảnh chai vỡ. Ông ngoại cầm máu cho mẹ bằng một vốc muối hạt Sa Huỳnh. Muối mặn đã làm rốn con lành lại, nhưng vết cắt khô để lại di chứng làm rốn con nở sẹo và lồi suốt tuổi thơ. Sau trận lũ năm Thìn, con lớn lên mà không có cha. Mẹ vuốt nước mắt goá bụa, đi làm thuê để nuôi con. Nhà địa chủ rất ác ngày nào cũng đánh mẹ. Con nhớ lưng mẹ ngày ấy sọc dài roi mây roi song. Đêm đêm, con lại bóp muối vết thương cho mẹ. Cực lắm, mẹ bỏ làm thuê đi chạy chợ. Khi chợ Chùa khi chợ Trạm, chân mẹ đạp trên đường đá mà đi. Bát cơm con ăn ngày ấy có mồ hôi và nước mắt của mẹ.
Suốt tuổi thơ hồn nhiên con mặc cảm với chiếc rốn lồi dị dạng của mình. Mỗi lần hỏi, mẹ chỉ cười hiền và kể chuyện lũ năm Thìn. Nghe lời bạn bè lần đầu tiên tập bơi con đã cho chuồn chuồn cắn rốn. Buồn cười là khi thấy rốn con, con chuồn chuồn cồ đâm sợ. Thế là chuồn chuồn không cắn rốn mà con vẫn biết bơi. Mẹ bảo cha con bơi rất giỏi mà vẫn chết...
Xem trên ti vi thấy nước lũ sông Vệ, sông Trà chảy xiết, con sợ. Mẹ giờ đơn chiếc, bao năm nhà vẫn sơ sài ven đê. Ngày xưa còn có ông và cha, bây giờ chỉ còn mình mẹ, mà nước lũ thì thế này. Con ở xa, lòng dao đã cắt, bụng nóng như có ai đốt lửa. Suốt đêm nằm mắt chong lên trần nhà những nghe trong mưa ai như tiếng mẹ thở gấp. Mẹ ngồi lẩy bẩy với chiếc áo tơi trên nóc nhà. Vây quanh mẹ là nước lũ mịt mùng. Suốt mấy ngày lũ lớn ai cho mẹ ăn? Ai cho mẹ uống? Mẹ có đói không hở mẹ? Con nhớ nhà mình có chiếc thang tre nhỏ có từ thời ông ngoại. Nhưng không biết chiếc thang ấy có còn không, hay đã bị lũ cuốn trôi? Mà nếu còn liệu sức mẹ có leo nổi thang không? Mẹ sáu mươi rồi, sức đâu còn như ngày xưa nữa. Con đi xa giờ lũ vây quanh, ai giúp mẹ, mẹ ơi!
Mẹ kể buổi chiều sau khi sinh con, mẹ lên cơn đau vật vã. Cha lội nước băng đồng đi tìm thuốc cho mẹ. Cha đi mãi suốt đêm không thấy về. Ông ngoại ngồi ôm con trong tấm áo tơi mỏng. Trời mưa như trút nước, gió thổi bần bật từng cơn. Thỉnh thoảng ông ngoại lại hú lên một tiếng dài, hy vọng để trong đêm đen cha biết hướng mà về. Mẹ kể sau mỗi đợt hú dài vô vọng ấy, ông ngoại nhìn mẹ trân trân. Qua tia chớp trời, mẹ thấy mặt ông xanh xám, đôi mắt ngập nước. Sau lũ cha không bao giờ về nữa.
Nhớ cách đây mấy hôm, Huế lũ thêm một lần nữa. Con làm đầy tháng cho cháu mà lòng nhớ mẹ không nguôi. Ai cũng bảo cháu giống hệt bà nội. Con định lũ ở Huế rút, tàu thông đường sẽ vào đón mẹ ra thăm cháu. Mẹ chơi với cháu ít lâu cho ấm cửa vui nhà. Nhìn giọt máu của con, đứa cháu của mẹ nằm hạnh phúc trong chiếc nôi với nhiều quà tặng của bạn bè, bổng dưng hôm ấy cổ con uất nghẹn. Con nhớ chiếc áo tơi và cái nhìn trân trân của ông ngoại trong trận lũ năm nào. Trong ký ức sâu thẳm, con hình dung thấy cơn đau vật vã của mẹ, rồi bóng cha cao lớn lao xuống nước. Đêm đen cuốn lấy cha. Gió cứ đẩy cha ra xa dần. Cho đến khi con không nhìn thấy cha nữa.
Con viết thư gửi mẹ khi ngoài trời Huế vẫn mưa rất to. Bản tin cuối ngày của Đài truyền hình báo nước lũ ở Quãng Ngãi rút rất chậm. Vùng sâu Đức Thắng quê mình các đội cứu hộ chưa vào được. Con lo sợ. Con lo sợ thực sự. Mẹ ở trong lũ mà con thì xa mẹ quá. Bắt chước ông ngoại ngày nào con chợt hú lên đau đớn. Mẹ ơi tiếng hú của con liệu có đến tai mẹ hay không?
Gió Bấc... mưa phùn...
Chia đến bây giờ chẳng hiểu vì sao trong tuổi thơ chiêm trũng và buồn bã của mình, tôi lại ghê sợ gió bấc mưa phùn đến vậy. Cứ gió bấc mưa phùn là làng tôi lại mất mùa. Cây lúa thong thả trổ hoa he hé, chờ nắng ấm để phơi màu, nhưng gặp gió bấc mưa phùn là phất cờ lau đứng sững. Vỏ mày từ xanh non chuyển sang màu tím than, để cuối cùng là lép kẹp. Bao nhiêu mồ hôi nước mắt bỏ ra, đi tong tong như mưa phùn gió bấc. Lên vụ mà nhà ai bồ lúa cũng trống hoang.
Mưa phùn gió bấc, lũ học trò nghèo làng tôi níu nhau như một bầy tang tình con xít, qua chiếc cầu khỉ một cây nhem nhép bùn, để đến trường. Mặt mũi đứa nào cũng tái mét, môi thâm tím như cỏ dại. Cái lạnh quất vào thịt da tê buốt như bị cây tầm ma cào. Không đứa nào trong đám bạn tôi mặc đủ ấm. Tất cả đều áo ngắn, quần cộc, với nhiều mụn vá chằng đục vào lớp, những khuôn mặt đói ăn kinh niên cứ lơ láo như người mất hồn. Ngày ấy, cô giáo làng tôi cũng nghèo, mà nghèo lắm. Cô gầy nhìn trò gầy, buồn ứa nước mắt.
Mưa phùn gió bấc, làng tôi...đói. Người già làng tôi uống nước suông ngồi bắt chân chữ ngũ hò giã gạo. Đám thanh niên bỏ làng kiếm ăn. Còn lũ trẻ bọn tôi bỏ học, đi moi khoai ở làng bên. Một chiếc bao cát nhỏ, một lưỡi hái cùi mòn, tôi cùng lũ bạn ra đi như một lũ bê con đến tối mịt mới về.
Tôi nhớ ngày ấy, vào những bữa ăn hiếm hoi có.... cơm. Mẹ thường chỉ nhìn tôi ăn. Ngoài ô cửa vẫn là mưa và gió bấc u u. San những hạt cơn dẻo thơm bám nhau trắng như bầy cò vào chiếc bát đất với đôi mắt nẫu buồn, mẹ tôi động viên: "ăn đi con cho chóng lớn mà đỡ đần mẹ". Tôi cười, để phô hai hàm răng sún vô tư.
Chỉ đến khi đã đủ lớn khôn. Đi xa, xa mãi khỏi ngôi làng xưa bé nhỏ. Rồi vấp ngã - đứng lên - rồi vấp ngã. Có đủ trong tay mật đắng và hoa hồng. Tôi mới hiểu cực lắm thay mùa gió bấc mưa phùn. Cực lắm thay miếng cơm trắng cánh cò ngày nào mẹ nhường cho.
Bây giờ đến bữa ăn, bưng bát cơm trắng phau phau, nhìn ê hề những thức ăn trên bàn, cổ họng tôi mặn đắng một niềm thương cảm.
Đâu đó mơ hồ như một vết thương lòng những đợt gió bấc mưa phùn lại cồn lên, tàn nhẫn thổi u u. Và tôi nghe trong mưa phùn gió bấc có tiếng thở dài não ruột của mẹ tôi ngày nào.
Màu của phố
Hằng ngày sống, hằng ngày đi qua, rồi có những ngày bâng khuâng, lặn lội khắp ngõ ngách lòng phố Nội thành, những phố ngắn, phố dài nhung nhớ, chợt hỏi vậy phố Huế có màu gì?
Trước hết, để cho chắc ăn cứ nói là Huế có màu xanh. Cố nhiên, Huế là một thành phố bốn mùa xanh mát bóng cây. Hàng trăm chủng loại cây từ sồi, lim, sến, chò chỉ, cừa, phượng đến long não, nhạc ngựa, bàng... giăng tay thành một tấm thảm mênh mông vắt qua vòm trời. Ngày đẹp trời đứng kẻ đỉnh Ngự Bình thấy màu xanh phố Huế miên man. Màu xanh ấy cứ xanh mãi cho đến lúc đèn trong phố kéo lên. Và màu xanh phai dần khi màn đêm buông xuống. Nhưng vào buổi sáng, phố Huế có màu trắng - màu của sương mù từ sông Hương và những dãy núi xa đổ về các khoảng trống, lấp đầy từng ngóc ngách nhỏ. Lối đi xuống bến sông, vào những con hẻm vắng, cũng đầy sương mù. Sương dày đặc có cảm giác có thể đưa tay vốc từng vốc lớn cho lên môi vị trong lành của buổi ban mai. Phố Huế lúc này mỏng mảnh như một tờ giấy Pơluya trắng huyền ảo. Người đi trên phố không thấy người, chỉ có giọng nói lao xao như tiếng nước sông Hương đập lép béo vào bờ cỏ. Những chiếc nón nữ sinh Huế nhuốm đầy sương mù. Dưới lòng nón lá là những gương mặt xinh xắn, mờ nhoà như ngắm qua một tấm kính dày bốc đầy hơi nước. Thành phố trắng ấy chợt xanh lại và hồng dần nét mặt khi ánh bình minh khoan thai lên ở phía đông...
Có những ngày hiếm hoi thành phố Huế vàng rực rỡ. Những ngày vàng ấy thường rơi vào cuối thu khi gió mùa đông bắc se lạnh còn rất yếu ớt, chưa đẩy nổi những đám mây trĩu nước từ phương Bắc vào Huế. Màu vàng thu ấy chạy dọc đôi bờ Hương Giang, rồi nhạt dần cho đến những chân núi xa. Rong sắc vàng thu rười rượi ấy, những viên gạch thành cổ bất chợt đỏ lên rừng rực như đôi má cũng nữ xưa thẹn thò ngày gặp minh quân. Bầu không gian màu cỏ ua úa vàng rợn trong lòng một nỗi yêu thương gì không rõ ràng. Ngưng đọng lấp lánh cả không gian, cho đến khi chiều xuống, màu vàng mơ ấy vẫn còn le lói dưới chân những rặng tre mồ côi mọc lặng lẽ bên bến sông.
Thành phố Huế còn có màu hồng phấn chỉ xuất hiện hiếm hoi và ngày trong tháng ba khi ngô đồng nở hoa. Phấn hoa ngô đồng bay xa, dát lên những ngôi nhà cổ một chút nụ phấn hồng. Có phải điều đó diễn ra như một hiện thực hay chỉ là cảm giác của tôi ngày một mình về dưới cội hoa, dõi theo cánh chim phượng hoàng mù tăm ở cuối chân mây. Cánh chim lớn mang theo màu hoa không thôi tàn phai, bỏ lại sau đường bay thành phố của tôi ngun ngút màu hồng phấn lả lơi. Và ấy cũng là ngày hoa đào rủ nhau về phố Huế, nói cười phôi pha suốt con đường cụ Đồ Chiểu thênh thang.
Nhưng có lẽ màu sắc đặc trưng nhất của phố Huế vẫn là sắc tím nguyên ủy. Người mệnh danh cho Huế cái tên "thành phố nhân loại tím" là thi sĩ Trần Dần. Ngày nọ ghé Huế, ông đã nhìn thấy nó vào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều và buổi tối. Ông ngắm say sưa sắc tím không hề hư hao dẫu qua bốn mùa. Sắc tím mà khi ngắm những mùa thu đi, Trịnh Công Sơn nâng đàn ghi ta hát nhè nhẹ "chiều tím loang vỉa hè". Còn Hoàng Phủ Ngọc Tường ngây thơ với cái giả thuyết huyền hồ nếu đặt một lọ mực không ngoài sông Hương, bạn sẽ có một lọ mực đầy màu tím... Chuyện ấy sẽ không bao giờ xảy ra, nhưng ai cũng tin rằng điều ấy là có thực, như sen hồ Tịnh, như những viên gạch cổ Nội thành và như tiếng chuông Thiên Mụ vốn làm cho màu tím Huế bất chợt tím hơn. Có thể thảnh thơi và tha hồ ngắm màu tím Huế nhuốm đầy những con phố xưa. Tím le lói từ ký ức tím ra. Tim tím buồn từ những nhuỵ hoa sầu đông tím vào. Và tím đến dại khờ, tân khổ là màu tím áo dài của em: tím quay quắt, tím buốt rứt, tím tê cóng khắc khoải niềm tương tư Trương Chi.
Và cứ như thể cô dâu trong ngày cưới, thành phố Huế đi qua bốn mùa rực rỡ the đoạn. Thay chiếc áo trắng của sương mù, nàng vận chiếc áo xanh lục y nữ trẻ trung, rồi choàng lên chiếc khăn san hồng phấn, đi đôi hài nhỏ màu nắng thu vàng và trên tay chiếc dù tím bềnh bồng như một áng mây xa.
Nguyễn Xuân Hoàng
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. Thờ...