Tản văn Nguyễn Vĩnh Nguyên
Tản văn của một người đọc sách
Trong một thế giới ngày càng bị xô lệch bởi internet và các
phương tiện nghe nhìn, sự thất thế của sách thể hiện rõ ngay trên… các trang
báo! Trong số hàng trăm đầu báo ngày, tuần, tháng trên cả nước, không quá nhiều
tờ dành đất và dành sự chăm chút cho sách như Sài Gòn Tiếp Thị - một trong hiếm
hoi báo có mục điểm sách nghiêm túc và đầy đặn. Người chủ lực đằng sau nỗ lực
đáng quý ấy là tác giả của tập tản văn ta đang cầm trên tay - Nguyễn Vĩnh
Nguyên.
Gần như đều đặn hàng tuần, ta đều thấy Nguyễn Vĩnh Nguyên
xông pha giữa thế giới sách: khi là vài mẩu tin sách, khi là bài phỏng vấn một
tác giả hay dịch giả của một cuốn sách mới ra lò. Nhưng thường hơn cả là các
bài điểm sách - rất nhiều trong số đó là bài viết về các cuốn sách nặng ký cả về
nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, như Vũ trụ của Carl Sagan, Đường sống của Lev Tolstoi
hay Adolf Hitler - Chân dung một trùm phát xít của John Toland. Để viết từng ấy
bài điểm sách, hẳn nhiên Nguyễn Vĩnh Nguyên đã đọc rất nhiều, trải rộng qua nhiều
lĩnh vực văn học, văn hóa, lịch sử, địa lý.v.v.
Vì sao lại nói tới một vai trò khác của Nguyên trong lời giới
thiệu tập tản văn này? Là vì, cầm tập sách này trên tay - nói chính xác là tiếp
xúc với bản thảo của tập sách này trên máy tính - và đọc qua, ấn tượng đầu tiên
của người viết bài này là, đây là văn của một người đọc sách rất nhiều - và là
dạng đọc có gạch chân, bôi vàng, ghi chú, chứ không phải đọc qua loa. Trong hai
mươi lăm bài tản văn trong tập, gần như bài nào Nguyên cũng trích dẫn một cuốn
sách nào đó - cho dù đó là khi Nguyên khảo sát cái “tư duy mặt bằng” của người
Việt, hay khi anh bình luận truyền thống cà phê quán cóc của dân Sài thành, hay
làm một cuộc trò chuyện trên yên xe máy. Các trích dẫn ấy, với một liều lượng vừa
phải: không quá nhiều đến nỗi làm bạn đọc hoa mắt, không quá ít để có thể bị
rơi vào cảnh vô tình mượn ý người khác, đã mang đến cho tản văn của Nguyễn Vĩnh
Nguyên một chút riêng. Chút riêng ấy, thiết nghĩ, là điều quan trọng, nhất là
trong thời đại mà hầu như ai cũng có thể viết “tản văn” dưới dạng note trên
Facebook hoặc entry trên blog.
Với cái nền đọc vững vàng đó, Nguyễn Vĩnh Nguyên, qua các bài
viết trong tập này, đã làm một cuộc khảo sát đời sống văn hóa Việt hiện đại với
nhiều phát hiện khá thú vị. Ở quán karaoke, Nguyên nhìn thấy người ta ghé sát
vào tai nhau để nói chuyện vì âm lượng quá to cũng là một cách để hóa giải mâu
thuẫn (bài “Karaoke, văn và cảnh”.) Lý giải cho “nhạc chế”, Nguyên lần ngược về
những ngày đầu tân nhạc và trích dẫn bài “Bài ta theo điệu Tây” của Phạm Duy để
chứng minh rằng “nhạc chế” ngày nay, ví dụ bài rất nổi tiếng “Hà Nội mùa này phố
cũng như sông” nhại theo “Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa” là có truyền thống!
Hay ở một bài khác, “Người Việt ngậm tăm”, Nguyên dẫn cả Xa lộ từ điển trên mạng
lẫn Freud để truy tận gốc thói quen ngậm tăm của người Việt.
Chỗ này chỗ khác, người đọc có thể đồng ý hay không đồng ý với
Nguyễn Vĩnh Nguyên trong cách anh lý giải, luận bàn văn hóa Việt của thời hiện
đại. Tuy nhiên, một điều có thể chắc chắn rằng, những bài viết trong tập sách
này sẽ mang lại cho người đọc những giây phút thú vị.
Sài Gòn, tháng 11.2012
Dịch giả LÂM VŨ THAO
Người Việt ngậm tăm
Dân mình ưa ngậm tăm sau khi dùng bữa. Thói quen đó được đa số
trong cộng đồng chấp nhận, “thực hành” thâm niên, nên đã có không ít người quy
nó vào phong tục, văn hóa dù cho các nha sĩ luôn khuyến cáo không nên dùng tăm
xỉa răng, như thế sẽ làm cho nướu, chân răng dễ tổn thương, gây các chứng nha,
gần đây, cũng đã xảy ra một vài ca cấp cứu thủng đại tràng vì giỡn tăm bằng… miệng.
Nhưng người ta vẫn “nghịch” tăm sau khi ăn như một thói quen
đầy ngoan cố. Hơn thế, như một thứ bệnh nghiện hết thuốc chữa.
Tôi đã thử truy tìm nguồn gốc, ngõ hầu lý giải cho “hành vi”
này, nhưng sách vở đành bất lực. Tôi đem vấn đề trao đổi với một số chuyên gia,
nhà nghiên cứu văn hóa và ghi nhận được vài kiến giải khả dĩ ở góc độ động cơ.
Có người quan tâm đến văn hóa dân gian, cho rằng, đời sống
văn hóa làng xã trong quá khứ của người Việt quanh năm vần xoay trong lễ lạc
cúng quảy, hết thảy những câu chuyện làng nước, tương tác nhân sinh được diễn
ra quanh mâm rượu thịt đề huề, nên ngậm tăm là cung cách để giữ hình ảnh (thể
diện) vệ sinh trong giao tiếp trên mâm cỗ. Ngậm tăm, về mặt biểu tượng cũng thể
hiện sự no đủ, hay dấu chỉ cho người đối diện thấy mình mới dùng bữa xong. Có một
chuyện hài được truyền miệng trên bàn nhậu rằng, xưa có một anh nông dân bần
cùng thế nhưng ưa sĩ diện, lúc nào cũng ngậm tăm để tỏ ra ta đây no đủ, thế rồi
một hôm người ta phát hiện anh ta chết vì đói quá nuốt luôn cây tăm.
Một chuyên gia khác lại cho rằng, chuyện xỉa răng là hậu quả
của việc bỏ tục ăn trầu nhuộm răng của phụ nữ xưa. Người ta thay trầu bằng một
que tăm, ngoài việc làm sạch miệng thì cũng đỡ thừa thãi hai tay và chống lại sự
nhàm miệng.
Trong khi đó, một chuyên gia quan tâm đến nha khoa và nhân trắc
học thì cho rằng, sự vụ này có liên quan đến đặc thù phát triển về khung hàm, sự
bố trí răng của người Việt: do dùng nhiều chất xơ, có thói quen thích nhai nghiền
nên hầu hết người Việt đến tuổi trưởng thành thì khoảng cách giữa các chân răng
bị thưa ra, dễ gây chứng mảng bám, hôi răng nên xỉa răng bằng tăm tre (chất liệu
“thiên nhiên”!) là một thói quen được xem là hợp vệ sinh đối với nhiều người.
Mỗi chuyên gia có một trường quan tâm, sẽ lấy “chuyên ngành”
của mình ra để tha hồ giải mã. Mỗi một hướng giải mã đều có sự thú vị riêng.
Song tôi lại muốn “bẻ lái” câu chuyện sang một hướng khác,
khi quan sát việc “thực hành” xỉa răng và ngậm tăm không chỉ diễn ra như một lý
do giữ vệ sinh răng miệng sau ăn, mà còn là một căn bệnh nghiện. Hãy thử quan
sát, trên thực tế, đâu chỉ người có răng thích ngậm tăm sau ăn, mà đến những cụ
già không còn răng cỏ, trệu trạo nướu trơn cũng không bỏ được thói quen ngậm
(nghịch) tăm trên miệng; đâu phải người răng thưa thích ngậm tăm, mà người răng
khít rịt cũng thích dắt tăm lên miệng, vừa nói vừa chìa mũi tre nhọn bén vào mặt
người đối diện; thậm chí, đâu phải người mới dùng bữa mới ngậm tăm, hãy xem một
số cô cậu thanh lịch đặc biệt ở Hà Nội, rất tự tin ngậm cây tăm trên miệng lái
xe tay ga dạo phố hoặc bước vào siêu thị dù bữa ăn chính đã xong trước đó vài
giờ đồng hồ.
Với người này, cây tăm chỉ có thể là ngậm chơi, nhưng với người
kia, cây tăm được lừa đi lừa lại, cắn gãy khúc, nhai giập, làm biến dạng trước
khi chu môi máng chặt, vận khí từ trong khoang miệng, bắn “phụp” một phát vô hướng
vào khoảng không.
Ngạc nhiên quá xá trước thói quen ngậm tăm của người Việt,
cây bút Drew Taylor, sau nhiều năm sống ở Việt Nam, đã mô tả thật hài hước: “Xỉa
răng quá nhiều! Sau bữa ăn, thể nào cũng thấy mọi người chuyền tay nhau ống tăm
xỉa răng. Người cần cũng xỉa, mà người không cần cũng xỉa! Và từ không-cần-cũng-xỉa
lại sinh ra cần-phải-xỉa (vì ghiền hoặc vì kẽ hở giữa răng đã rộng ra mất rồi!).
Đành rằng xỉa răng vì nhu cầu vệ sinh, nhưng nhiều người sau khi xỉa đồ dơ trên
răng xong lại bắt đầu nhai cây tăm – chính cái nhai ấy mới là hành động thừa
gây nghiện. Người ta có thể ngồi xe máy mà cây tăm vẫn còn máng ở một bên mép;
có thể vừa nói chuyện vừa gặm tăm…” (Phân tâm học Freud: “Miễn vui là được rồi!”,
Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, số 168.2010).
Anh Tây này tự hỏi không biết Freud sống lại ở Việt Nam thì
ngành phân tâm học sẽ ra sao.
Thực ra, nhìn bệnh nghiện ngậm tăm dưới ánh sáng phân tâm học
cũng có nhiều điều thú vị. Freud cho rằng, có bốn giai đoạn phát triển cơ bản về
tâm lý tiền sinh dục với một đứa trẻ: giai đoạn miệng (oral stage), giai đoạn hậu
môn (anal stage), giai đoạn cơ quan sinh dục (phallic stage) và sau đó bước
sang thời kỳ phát triển ngấm ngầm (latency period). Đáng chú ý, ở giai đoạn miệng,
đứa trẻ sơ sinh tìm thấy khoái cảm, cảm nhận tình yêu trong việc bú, mút. Trong
giai đoạn này, theo Freud, nếu đứa trẻ dễ được mẹ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng
qua việc bú mớm, thì nó sẽ có một nhân cách dễ bị lệ thuộc ở tuổi trưởng thành;
ngược lại, nếu không được mẹ đáp ứng, thiếu sự chăm sóc, thì ở tuổi trưởng
thành, nó sẽ chìm đắm trong bất an, lo lắng, thất vọng. Đây gọi là tâm lý “cắm
chốt” (oralfixation) – những ẩn ức chuyển hóa thành hành động vô thức có nguồn
gốc từ những kích động tâm lý ở giai đoạn lỗ miệng.
Như vậy, nếu lý giải theo cha đẻ ngành phân tâm học, sẽ thấy
rằng, việc ngậm tăm xuất phát từ truyền thống văn hoá cưng chiều bảo bọc con
cái, qia đó, những bà mẹ Việt đã vô tình “cài đặt” một thói quen thoả mãn khoái
cảm vùng miệng rất lạ lùng từ sơ sinh cho đến khi những đứa trẻ trưởng thành mà
có khi chính các bà và chúng đều không ý thức rõ ràng những hệ luỵ. Cũng có lý,
khi mà nhiều gia đình hôm nay xem việc một đứa trẻ tự bưng lấy chén cơm ăn, tự
dùng tăm xỉa răng sau bữa ăn là một hành vi không phải bắt chước đơn thuần, mà
được coi là có khả năng tự chăm sóc bản thân thay vì đeo đẳng giảy nảy đòi vú mẹ.
Tuy nhiên, điều lý thú là ở chỗ, thói quen hay bệnh ghiền ngậm
tăm của người Việt lại đẻ ra cho kho tàng ngôn ngữ mục từ giàu hình ảnh, biểu lộ
một kiểu thái độ sống, phương cách hành xử: “ngậm tăm” cho qua chuyện. Ngậm tăm
trong trường nghĩa ẩn dụ, được trang Xa lộ từ điển trên mạng định nghĩa là: biết
đấy nhưng phải lặng im (To know it but to be forced to keep silence). Về ý này,
người Trung Hoa có điển tích ngậm tăm (hàm mai) khá trùng khớp, như vầy: Ngày
xưa có một viên tướng trong lúc cho quân đội hành quân đêm. Để giữ bí mật, sự
thinh lặng tuyệt đối, ông bắt mỗi tên lính phải ngậm một que tăm (hàm: ngậm,
mai: que tre được vót). Sáng hôm sau, ông tướng có máu độc tài này kiểm tra lại
đoàn quân của mình, thấy tên lính nào không có tăm trên miệng thì lôi ra xử
chém. Từ đó, trong dân gian, nói ngậm tăm có nghĩa là không dám hé miệng hay im
lặng để giữ được toàn mạng.
Đến lúc cần phải dông dài viện dẫn đến lịch sử văn hóa người
Việt, một lịch sử đối diện với quá nhiều bất trắc, tranh chấp triền miên, thù
trong giặc ngoài. Đời sống luôn là sự đan cài đa tuyến, phức tạp. Việc con người,
từ dân đen đến kẻ quyền lực hình thành cái phản xạ sinh tồn đó là nương tựa
làng nước, tập thể, đồng thời luôn thường trực đề phòng, nghi kị lẫn nhau, thận
trọng không hé miệng để cầu an. Nhưng điều đáng nói, từ những nguyên nhân khách
quan, “ngậm tăm” đi vào vô thức cộng đồng, trở thành một tập tính, quy định
phương thức hành xử, lựa chọn thái độ sống của từng thành viên xã hội.
Ở đây, có một khía cạnh khác, đáng nói, “ngậm tăm” không những
là sự lặng im che giấu cái biết, sự thật để cầu an, mà đôi khi, việc “ngậm tăm”
cố tình làm cho tiếng nói của mình bị méo mó đi, đánh lạc hướng, làm nhiễu sự
thật.
Từ cái nguyên lý “oral fixation” có thể thấy rộng ra, sự
thích dựa dẫm, quen được bảo hộ, sống phụ thuộc và thụ động, không can đảm tỏ
bày thái độ sống, cộng với không khí nghi kị lẫn nhau đã làm cho hiện tượng
tính cách “ngậm tăm” trong cộng đồng có xu hướng phổ biến. (Gần đây, trên
Facebook, xuất hiện một hội nhóm bày chuyện chém gió, có tên là “hội những người
thích ngậm tăm” với slogan “Đơn giản là thích ngậm tăm! Ngậm tăm mọi lúc mọi
nơi!”). Những cá nhân nương náu vào tập thể, đám đông để “ai sao mình vậy”, dễ
dàng xuê xoa nhắm mắt làm ngơ cho qua mọi thứ theo cái tinh thần “im miệng cho
nó lành” đã đưa đến tình trạng “ngậm tăm” như một sự thỏa hiệp, cam chịu, chấp
nhận sống chung với thực tại ngổn ngang vô phương cải thiện. Trong lớp học,
trên giảng đường học sinh sinh viên không buồn trao đổi, đặt câu hỏi, phản biện
để truy cầu sự thấu đáo tri thức; trò phải nương theo thầy để được “qua
truông”. Trong cơ quan, lính thấy cái sai của sếp, sếp biết thói hư của lính
nhưng lại “ngậm tăm” bao che, bắt tay nhau trong một “liên minh ma quỷ”, bảo
toàn sức mạnh chống cự trước các bè phái khác không ngừng đấu đá. Ngoài xã hội,
người ta dễ dàng lảng tránh trách nhiệm chứng nhân cho lẽ phải, sự thật để được
yên thân với ý nghĩ, đó không phải là việc của mình. Trong gia đình, mọi thứ
tuân thủ theo một thứ bậc truyền thống trên bảo dưới nghe, thiếu sự dân chủ cần
thiết để các thành viên tôn trọng lẫn nhau với tư cách những cá nhân bình đẳng.
“Ngậm tăm” còn là sự dung túng, che đậy cho cái xấu, cái ác,
cái phản tiến bộ và chống lại sự minh bạch cần thiết trong các mối quan hệ, tổ
chức quản lý xã hội, làm cho đời sống được vận hành trong sự nhập nhèm, nhiều bất
trắc, đầy lừa mị và sinh ra lắm nghi hoặc.
Im lặng là vàng. Nhưng im lặng theo lối “ngậm tăm” cũng là thứ
vàng giả, gây nhiễu, đánh lận mọi giá trị. Khi mà việc “thực hành ngậm tăm” trở
thành một chứng nghiện được “nâng quan điểm” thành một tính cách văn hóa của cộng
đồng thì ngôn luận, tính cá nhân, sự thật tiến bộ là những thứ bị vùi lấp không
thương xót.
“Ngậm tăm” được xem là cách thế đánh đổi và hy sinh cái biết,
có khi cả lương tâm liêm khiết để chỉ được tồn tại trong một đám đông ràng buộc
theo nguyên tắc thỏa hiệp đề huề. Ở đó, mỗi người tìm đến sự an toàn tình thế,
để rồi có thể là nạn nhân của chính mình lúc nào chẳng hay.
Cuối cùng là một chút hài hước về mặt thẩm mỹ khi trở về
nghĩa đen trong câu chuyện. Hãy nhìn cô gái trẻ xinh tươi máng trên miệng một
chiếc tăm tre tẩm hóa chất hương quế đang tự tin cưỡi chiếc vespa hiện đại sang
trọng lướt trên phố. Bạn say đắm chiêm ngưỡng và tự hỏi, điều gì đang xảy ra ở
nơi vô thức của nàng?
Làn môi gợi cảm ấy đang che giấu điều gì khi mũi nhọn của que
tăm vun vút lao về phía trước, ẩn tàng biết bao hiểm nguy trong một buổi trưa
lãng mạn chết đi được!
Nếu được sống lại ở đây, hẳn ông Freud sẽ biến nàng thành bệnh
nhân thí điểm của mình để giải mã chứng nghiện tăm ở một đất nước dưới ánh sáng
phân tâm học.
We are the Tivi
Dạo còn làm ở một tờ báo địa phương, cứ vào cuối năm, tôi thường
xuyên nhận được các kiểu báo cáo phát triển từ những huyện vùng sâu vùng xa.
Lúc bấy giờ tôi không thể hiểu được vì sao chính quyền cơ sở thường đo sự tăng
trưởng kinh tế, sung túc trong đời sống người dân thông qua chỉ số các hộ… có sở
hữu tivi năm sau cao hơn năm trước.
Các cán bộ địa phương ở những vùng sâu vùng xa kia không có lỗi
trong việc thuyết phục người khác tin vào năng lực lãnh đạo và chính sách phát
triển kinh tế địa phương của mình. Vì cán bộ ở đâu thì cũng vậy, thiết kế cho
được một bản báo cáo tăng trưởng là một trong những kỹ năng vỡ lòng, còn các
con số hay luận cứ trong đó đá nhau chan chát là chuyện chẳng ai rỗi để đi truy
cứu tới cùng.
Nhưng đó lại là một chuyện ngoại vi. Tôi muốn trở lại với thực
tế các “chính trị gia” ở địa phương lấy con số sở hữu tivi trong dân để làm luận
cứ tăng trưởng có thể xuất phát từ trong thói quen, tâm lý cộng đồng.
Chẳng biết từ bao giờ, người Việt có cái bằng cớ “nhà có tivi
tủ lạnh” để chỉ những gia đình khá giả, có của ăn của để, hay nói cách khác, đã
thoát nghèo. Từ đó, tivi, tủ lạnh là hai thứ vật dụng được xem như biểu trưng của
sự tiện nghi, của cải, văn minh. Rất có thể, tâm lý này xuất phát từ trong
chính xã hội có sự mở cửa ra thế giới bên ngoài khá muộn mằn và hạn chế, nên dẫn
đến việc tiếp nhận những phát minh công nghệ, khoa học khá chậm chạp. Một điều
nữa, bên cạnh sự khó khăn về kinh tế, thì khung cảnh sinh hoạt đời sống xã hội
nông nghiệp khá tĩnh lặng, thậm chí tẻ nhạt và quẩn quanh, cho nên việc tiếp nhận
cái lạ, cái mới, hiểu biết thông tin về thế giới bên ngoài làng quê dễ bị xem
là lo chuyện “bao đồng”, viển vông.
Vậy nên, cái tivi, đồ vật đem lại một cửa sổ nhìn ra bên
ngoài, là thứ chỉ hiện diện trong những gia đình thừa của ăn của để, nó được mặc
định là một biểu tượng của sự giàu có. Bọn trộm ở quê ngày trước cũng thường để
ý những nhà có tivi để ra tay. Nhà có tivi màu càng to, càng nhiều nguy cơ bị
trộm nhòm ngó và đột nhập. Và trong danh mục những của cải thuộc ưu tiên số một
để những tay trộm quê khuân đi, có lẽ là cái… tivi. Cũng vậy, cho đến nay, thỉnh
thoảng hình ảnh quen thuộc mà chúng ta thấy trong những vụ cháy đó là mấy ông
thanh niên mình trần trùng trục mồ hôi nhễ nhại mặt mày bặm trợn lao vào trong
đám lửa dũng cảm cứu… cái tivi. Chừng nào cái tivi an toàn thì mới tiếp tục cứu
tiếp những thứ khác.
Thật bàng hoàng khi xem lại hình ảnh trận sóng thần 2011 tràn
vào Nhật Bản. Có một đoạn phim dài hơn 20 phút quay cảnh người dân trong một
ngôi làng ở Sendai dắt díu nhau chạy lên một ngọn đồi khi con sóng đã tràn qua
nhấn chìm cửa nhà đường sá và xe cộ. Những người dân chạy tay không và hoảng hốt
lo sợ khi thần chết đến cận kề. Khi xem đoạn phim này, tôi nhớ tới những phóng
sự khác trên truyền hình Việt Nam mô tả cảnh những người già ở một ngôi làng
thuộc miền Trung bạc mặt vác trên vai những cái tivi đời cũ được bao bọc rất kỹ
lưỡng, chật vật trên đường sơ tán bão lũ.
Phải nói, về kỹ năng tránh thiên tai người Việt rất kém,
nhưng sự hồn nhiên trong tình yêu dành cho những chiếc tivi thì thật nồng nàn.
Từ những “mặc định” ngầm ẩn trong tâm lý cộng đồng, coi cái
tivi là biểu tượng của thứ của ăn của để trong nhà đã dẫn đến những sự việc dở
khóc dở cười, ngày nay, ngay cả ở thành phố, nhiều người mới xây hoặc mua nhà,
việc đầu tiên tính tới khi dọn về nhà mới là… sắm một cái tivi thiệt to, rồi
các vật dụng khác trong nhà cứ phải “chiếu” theo vị trí ưu tiên của cái tivi mà
sắp đặt. Những màn hình chễm chệ trên những bức tường quan trọng của không gian
sinh hoạt công cộng trong nhà. Cái tivi hiện diện ở vị trí đắc địa của phòng ngủ.
Rồi từ đó, bàn ghế tủ giường sắp xếp sao cho tiện để gia chủ có thể ngồi, đứng,
nằm, hoặc vừa làm việc vừa xem truyền hình thoải mái nhất vào mỗi tối. Nhiều
nhà chơi sang, sắm luôn một cái màn hình lớn kín cả bức tường, chủ nhân đi đi lại
lại như muốn lọt cả vào trong màn hình; và, cuối cùng, hậu quả là phải ra hành
lang hoặc vào toilet nhìn ra thì may ra mới xem được hình ảnh khá hơn ngồi ở
phòng khách.
Tivi từ chỗ là một của cải quý giá, đã trở thành một vật dụng
có tính quyết định đời sống tinh thần của nhiều gia đình. Người ta bất hòa,
xung đột vì vợ thích coi phim truyền hình dài tập sướt mướt, chồng thích coi đá
bóng. Người ta hờn dỗi nhau chỉ vì đứa cháu thích coi phim hoạt hình Walt
Disney còn bà ngoại thích xem tuồng cổ. Trong những tình thế tích cực nào đó,
cái tivi nơi bàn ăn cũng trở thành cầu nối tinh thần khi gia đình có chuyện cơm
không lành canh không ngọt. Những bộ phim, bản nhạc, tin tức trên truyền hình
được mở thường xuyên vừa tạo cho không khí gia đình bớt trống trải, vừa làm cho
người ta có cớ để trò chuyện hàn gắn, hóa giải mâu thuẫn với nhau. Thế giới
xoay quanh cái tivi thiệt là muôn hình vạn trạng. Đến nỗi, trong thời truyền
hình cáp, đầu thu kỹ thuật số, có nhiều người cảm thấy chỉ cần một cái tivi và
một chiếc remote là đủ, chẳng việc gì phải ra đường cho nhọc công. Phim truyền
hình sản xuất sự mùi mẫn vô lượng vô biên, sẵn sàng đốt khét giờ giấc các bà nội
trợ. Bóng đá hết giải quốc gia, quốc tế nọ đến giải ngoại hạng kia được truyền
hình trực tiếp sẵn sàng đưa quý ông vào một thế giới đầy hào hứng của cảm giác
thực mang sân cỏ về trong nhà mình, chừng nào chán cơm chán luôn phở thì đến
quán cà phê bóng đá K+ khám phá màn hình phẳng vừa nghĩa đen vừa nghĩa bóng, đảm
bảo tươi mát trước, trong và cả sau trận đấu.
Còn bọn trẻ ư? Tôi từng chứng kiến nhiều đứa trẻ chưa biết bập
bẹ gọi ba, gọi mẹ đã có thể… nghểnh cổ hát theo một đoạn nhạc quảng cáo quen
thuộc trên tivi, đơn giản vì chúng đã… coi tivi và thuộc các bản nhạc trong các
clip quảng cáo từ trong bụng mẹ. Tivi giúp mẹ trẻ giải trí trong thai kỳ và qua
đó, cũng chi phối cảm xúc của trẻ. Tivi giúp trẻ siêng ăn, siêng bú sữa hơn và
dĩ nhiên, giờ xem tivi là phần thưởng hằng ngày cho những đứa đã kinh qua một mớ
bài tập của chương trình học quá tải. Và cũng không khó hiểu khi nhìn đám trẻ
tuổi teen thời bây giờ cứ thích làm duyên theo kiểu váy ngắn xếch xi (sexy),
tóc hai lai, phúng phính môi má chụp ảnh 3D tặng nhau theo “xì tai” của mấy
chàng, nàng trong các bộ phim tình mộng của Hàn Quốc hay các kênh ca nhạc lòe
loẹt xỏn xẹn “ớ ờ ớ ờ, nói chung là iu đóa”, hay “ố ố la la ai đi qua lối đó”!
Tất cả là sản phẩm của tivi.
Có quá nhiều chuyện chứng minh tầm quan trọng của tivi, nó
không chỉ là biểu tượng cho sự giàu có, của cải vật chất của một gia đình mà
còn quyết định đời sống tinh thần, phương tiện giải trí và đem lại thông tin, sự
hiểu biết thế giới cho nhiều người. Sẽ không quá khi nói rằng, nhiều người Việt
Nam hôm nay sống không thể thiếu cái tivi. Một lần, trao đổi phỏng vấn một nghệ
sĩ đương đại, tôi ngạc nhiên khi anh cứ khăng khăng khẳng định rằng người Việt
hôm nay ghiền âm thanh. “Bạn thử để ý mà xem, người ta có thói quen về tới nhà
là vớ remote bật tivi. Trong khi anh ta làm việc này việc kia thì tivi cứ việc
nói”.
Từ phát hiện đó, tôi củng cố thêm suy nghĩ rằng, đến lúc người
ta không chỉ dừng lại ở chỗ ghiền âm thanh mà nói rõ hơn, là không thể chấp nhận
cảm giác tĩnh lặng và cô đơn. Tiếng nói, âm thanh thường trực cùng với những
hình ảnh hoạt động trên màn hình cho người ta hình dung hay yên tâm về một thế
giới đang tiếp diễn, chuyển động chung quanh. Người ta yêu tivi vì không muốn
cuộc sống ngừng lại một giờ nào. Đó cũng là tình trạng tâm lý của con người
trong thời công nghiệp. Cho nên, cũng phải rất cảm thông cho những cô cậu thất
tình trên blog, cứ treo status rằng, “Tối qua, sau tin nhắn chia tay anh, em đã
trở về căn phòng và nằm trong bóng tối một mình với một… cái tivi không tắt. Em
thì ngủ, còn tivi thì vẫn nói suốt đêm”.
Vậy bảo sao người ta không xả thân lao mình trong dầu sôi lửa
bỏng để cứu cái tivi? Càng phải cảm thông cho những cụ ông cụ bà đem chút sức mọn
vác cái tivi trên vai đi liêu xiêu trong giá rét tìm nơi trú ẩn an toàn cho người
và của trước sự đe doạ của thiên tai.
Người Nhật chỉ học được các kỹ năng để tự bảo vệ mình trước
thiên tai. Nhưng trước thiên tai, nhân tai, người Việt không những biết tự bảo
vệ mình mà còn… dư sức bảo vệ cả một cái tivi to đùng. Vì đó là tất cả thế giới
của họ.
Càng hiểu hơn vì sao cho đến nay, để đo lường sự giàu có,
không ít người vẫn lấy cái tiêu chí “sắm được ti vi” (và sau đó là tủ lạnh, xe
máy) làm luận cứ.
Ghi chú để kết:
• Tên bài viết này nhại theo tên một bài hát làm nên tên tuổi
của ca sĩ lừng danh Michael Jackson.
• Tất cả những sự liệu và hình ảnh được nêu ra trong bài viết
này là do tác giả ghi chép từ… tivi. Bạn có tin là những gì trên tivi đều rất
đáng tin không?
• Bài viết này không thể phân tích sâu và đưa nhiều thông tin
hấp dẫn hơn vì đã đến giờ tác giả phải đi xem chương trình thời sự cuối ngày.
Mong bạn đọc thông cảm!
Tư duy theo mặt bằng
Bạn vừa cất một căn nhà.
Nếu bạn thổ lộ với người Mỹ, người Mỹ sẽ hỏi bạn đã xoay sở với
chi phí, các khoản vay, thậm chí tiền bảo hiểm của ngôi nhà ra sao. Trong khi
đó, một người Nhật sẽ quan tâm liệu ngôi nhà có ở trong vùng thường xuyên xảy
ra thiên tai hay không, kết cấu chịu lực rung lắc đến đâu. Người Ý sẽ tò mò về
việc bạn chọn nội thất trang hoàng theo phong cách nào, trong nhà có bao nhiêu
món đồ cổ. Người Ba Tư sẽ gợi ý nền nhà được trải bằng loại thảm gì, màn cửa sổ
nên chọn màu và họa tiết gì. Người Pháp sẽ muốn biết kiến trúc sư thiết kế xuất
thân từ đâu, anh ta thích loại rượu vang nào. Trong khi đó, người Trung Quốc
thì sẽ dò hỏi xem hàng xóm của bạn có phải là người Hoa hay không và khoảng
cách từ Chinatown đến nhà bạn bao xa…
Rất dễ cho bạn nếu người đối diện là dân Việt Nam. Vì bạn chỉ
cần nhớ chính xác diện tích sử dụng của căn nhà là đủ.
Người Việt Nam tư duy ngôi nhà theo mét vuông, tức, mặt bằng
sử dụng. Điều này không phải nguyên do từ sự yếu kém về bộ môn hình học không
gian. Tư duy được hình thành từ quá trình phát triển văn hóa, văn minh, lịch sử.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của chiến tranh. Ngàn năm binh lửa ngoại xâm, nội
chiến đã cho người Việt sự nhận thức cao về lãnh thổ, đất đai, là thứ không thể
nhượng bộ cho giặc – “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “một tấc không đi một ly
không rời”.
Trong nền văn minh nông nghiệp, đất đai cũng là tư liệu sản
xuất, đảm bảo đời sống, đem lại sự ấm no đủ đầy, cho nên, tấc đất tấc vàng. Từ
xa xưa, tuy chưa có bản đồ quản lý, nhưng đất đai nhà cửa là thứ được chính quyền
phong kiến quản lý rất chặt chẽ để phục vụ cho lợi ích cụ thể của giai cấp thống
trị, trước hết bằng khế ước. Trong tư duy ngôn từ, từ “nước nhà” (quốc gia) đã
chứng minh điều đó. Trên giấy tờ bản đồ, thời nhà Nguyễn, phải mất 31 năm (từ
năm Gia Long thứ 4, 1805 – đến năm Minh Mạng thứ 17, 1836) “khắp cõi đất Việt
Nam mới được ghi chép đầy đủ từng mảnh ruộng, sở đất, con đường, khu rừng, núi
sông... vào sổ địa bạ của mỗi làng, từ thành thị đến vùng biên cương”.
Ngôi nhà là gia tài truyền đời và cũng là thực thể gắn với ý
thức chủ quyền. Sinh mệnh ngôi nhà là biểu trưng cho sinh mệnh lãnh thổ đất nước.
Mỗi khi có tranh chấp, có giặc giã thì người ta sẵn sàng đổ máu để giữ đất, giữ
nhà. Trong những tình thế cần lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, phải dùng
đến kế vườn không nhà trống, người ta sẵn sàng bỏ nhà, bỏ đất mà đi với hy vọng
thái bình lại đề huề trở lại trên mảnh đất xưa. Nếu hoàn cảnh chiến tranh buộc
phải ly tán, người dân phải “chạy giặc” thì hình ảnh ngôi nhà cũ vẫn sống trong
tiềm thức ly hương, sẽ được tái hiện nơi miền đất mới. Điều này chứng minh khá
rõ ràng trong các cuộc nam tiến mở cõi của người Việt. Ban đầu là bảo lưu tập tục
và sau đó là sự thích nghi, tương thích với hoàn cảnh, điều kiện (thiên nhiên,
xã hội) mới và từ đó sẽ hình thành nếp ở mới.
Tư duy ngôi nhà theo mặt bằng sử dụng cũng là hậu quả của cuộc
cải cách ruộng đất trong thời kháng Pháp và nhất là thời kỳ hợp tác xã trong thời
bao cấp. Sự phân phối theo thuyết vị lợi tưởng là phương thức chia đều hạnh
phúc nhưng thực chất lại gây ra những biến động không nhỏ trong tư duy người
dân, những người vừa thoát khỏi vòng vây địa tô hà khắc phong kiến thì đã đối
diện với quy định đất đai là sở hữu toàn dân. Đất đai nhà cửa trở thành một nỗi
ám ảnh truyền đời. Người ta sống trong ngôi nhà nhưng có thể sẽ “vô gia cư” bất
cứ lúc nào, chỉ cần một nét “thừa giấy vẽ voi” của nhà quy hoạch, bởi rằng các
thứ giấy tờ hợp pháp chỉ có thể chứng minh về quyền sử dụng đất chứ không phải
là quyền sở hữu đất. Người Việt dành mối bận tâm lớn với chuyện làm sao giữ cho
mảnh đất và sau đó, là ngôi nhà được bền vững (ít ra là trong phạm vi cái quyền
sử dụng).
Có lẽ tư duy theo mét vuông của người Việt được hình thành từ
đây. Và nó tiếp tục là nếp nghĩ trong thời hiện đại, trong quá trình đô thị
hóa, bất động sản trở thành một thị trường đầy sôi động. Một trong những hệ lụy
lớn nhất của tư duy mặt bằng trước hết là trong quy hoạch, quá bận tâm xử lý mặt
bằng nhưng lại thiếu những chăm chút cho giá trị tinh thần. Nói như TS. KTS Ngô
Viết Nam Sơn, là đặt sai hệ quy chiếu lợi ích: “Lợi ích địa ốc cao nhất không
phải lúc nào cũng chỉ đạt được nhờ vào tư duy mét vuông (thiên về số lượng mét
vuông) như người ta thường lầm tưởng, mà còn có thể nhờ vào tư duy giá trị sống
(thiên về “chất lượng” mét vuông).
Với tư duy mét vuông, nhà đầu tư thường hy sinh bớt các chỉ
tiêu về chất lượng sống, như thu hẹp diện tích cây xanh, xây dựng quá dày đặc
làm giảm sự riêng tư vì căn hộ thường bị các căn hộ khác nhìn thẳng vào và giảm
sự yên tĩnh do tác nhân gây ồn và sự chung đụng với các hộ lân cận gia tăng.
Người ta thường không thấy rằng công trình thấp tầng và mật độ xây dựng thấp mới
là cao cấp nhất, chứ không phải công trình cao tầng”. Từ đây, có thể thấy được
nguyên nhân sâu xa của việc đánh mất bản sắc đô thị đang diễn ra tại Hà Nội,
TP.HCM.
Tư duy mét vuông cũng tạo ra những “biến chứng” khó chịu
trong lối ứng xử với không gian sống của người dân, nó ít nhiều khống chế đời sống
văn minh ở. Ý thức công năng sử dụng (chứ không phải sở hữu) đã làm suy giảm sự
gắn bó cội rễ giữa con người với không gian sống nói riêng và hồn vía đất đai
nói chung. Mặt khác, sự cắt rời không gian sử dụng ngôi nhà với không gian công
cộng đã làm nảy sinh tâm lý thực dụng trong ứng xử văn hóa công cộng. Người Việt
xem không gian công cộng là thứ “cha chung không ai khóc” nên khi cần thì lấn
chiếm, lúc không cần thì tha hồ gây ô nhiễm bằng các hình thức khác nhau.
Một trong những điều nữa thể hiện tư duy mặt bằng đó chính là
sự thiếu quan tâm đến những thiết kế đa dạng về không gian sống trong chính
ngôi nhà mà chỉ quan tâm đến độ rộng, hẹp. Để làm gì? Tôi tình cờ tìm thấy phần
gợi ý cho câu trả lời trên ở phần Góp ý cho cuốn Văn minh vật chất của người Việt
(Phan Cẩm Thượng, NXB Tri Thức 2011), họa sĩ Phan Bảo, một trong những nhà
nghiên cứu am hiểu về đời sống vật chất của người Việt ở đồng bằng sông Mã,
vùng đất có nhiều di chỉ văn hóa cội nguồn người Việt cổ: “Ở xứ Việt ta, nhà cửa
chỉ có một công năng: là nơi trú ngụ nói chung. Nhà ở có thể làm đình chùa đền
tạ và đình chùa đền tạ cũng có thể làm nhà ở về mặt kiến trúc (trừ hai món nhập
khẩu là tháp và nhà thờ Thiên Chúa giáo). Hàng nghìn năm đi học đi thi mà cái
nhà trường cũng chỉ là cái nhà ở, ngã cửa ván ra hoặc giải chiếu nằm xuống mà
viết. Có lẽ chỉ có kẻ sĩ Việt Nam là nằm bò toài ra mà viết, mà học, xong rồi
có thể lăn quay ra ngủ luôn (xem Lều chõng của Ngô Tất Tố). Nhà Nho ta ư? Ăn
cơm, viết sách, nghe hát và ngủ với cô đầu chỉ loanh quanh trên một chiếc chiếu.
Vậy ở đâu giải chiếu thì ở đấy có đủ mọi chuyện. Vào chùa lấy chiếu chùa ra ta
ngồi. Vậy cái nhà Việt Nam thật tối giản: trên có mái, dưới có nền (trong Nam Bộ
lại còn không có cả nền cao, nền nhà, nền sân, nền đường, nền vườn bằng nhau),
chung quanh để trống, chỉ có mùa rét mới lấy liếp che lại, ở giữa giải chiếu,
thế là xong. Nhà to hơn tức là nhà dài hơn vì chắp thêm gian (quy chế chính: 1
gian, 2 gian, 3 gian,… 11 gian, 13 gian là cung vua phủ chúa rồi). Tại sao ông
Tiến sĩ lại ngồi ghế chéo (Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe – thơ Nguyễn Khuyến)?
Bởi vì ghế ấy cũng chỉ là tạm thôi, ông Tiến sĩ về nhà với cha mẹ thì ngồi chiếu
giải lên đất, lên công đường thì ngồi chiếu giải lên sập, vua cũng thế thôi
(vua Lê Cảnh Hưng bảo Nguyễn Huệ ngồi ghé lên sập với mình – xem Hoàng Lê nhất
thống chí). Vì thế, xem kiến trúc Việt Nam có gì mới lạ không thì xem chạm khắc
ở mấy chỗ kẻ bẩy, tức bàn tay có nóc mái vậy. Có điều, ngói của đền miếu rất to
nặng, đó là do ý muốn chống gió bão lật mái đấy. Nhà trống tha hồ cho gió lùa.
Cơn bão năm 1905 ở Huế lật cả cầu Tràng Tiền mới làm xuống sông mà Ngọ Môn vẫn
y nguyên chẳng sao cả.
Theo tôi, nghệ thuật kiến trúc không phải là nghệ thuật chạm
khắc hay sơn vẽ. Và ta nên tách các món này ra.
Nhà sàn chẳng qua chỉ là một ngôi nhà có cái nền đặc biệt hơn
mà thôi. Nó cũng là nhà tầng. (…) Nhà cửa Việt Nam chuộng bóng tối là vì người
ta chẳng cần ánh sáng nhiều làm gì. Phải chăng cần nhìn rõ các tượng Phật
Thánh? Muốn đọc sách thì ra ngoài hiên rồi. Ngày nay có nhiều nhà hiện đại cao
to (nhà dân dụng) nhưng cũng chẳng để làm gì ngoài chuyện đi ngủ, vậy nhà cửa
đóng im ỉm suốt ngày, có khách thì mời đi quán. Các ông họa sĩ mới đòi nhà sáng
sủa thôi. Nhà dân nông thôn Việt Nam ta rất cần cái sân trước cửa, không phải
chỉ để phơi phóng các thứ tiện dụng hàng ngày. Uống rượu buổi chiều ư? Giải chiếu
ngoài sân. Nhà có đám ư? Dựng rạp ngoài sân. Do đó, sân này phải khô cứng và trống
thoáng. Điều đó dẫn đến kết cấu nhà có hiên bè rất rộng, mỗi kẻ bẩy ra một khoảng
kẻ nữa, tức hè tính từ cột con ra rộng hơn 2m”.
Công năng sử dụng nhà đơn giản, cho nên kiến trúc đơn điệu.
Trong kho tàng thành ngữ để chỉ người giàu kẻ nghèo trong xã hội đã có thấp
thoáng cái tư duy về kiến trúc: gia cảnh nghèo thì gọi là “nhà ổ chuột”, “nhà
rách vách nát”, “nhà xiêu vách đổ”, “nhà dột cột xiêu”, “nhà tranh đố sậy”, còn
để trỏ những kẻ giàu có trong xã hội, thì: “kín cổng cao tường”, “nhà cao cửa rộng”,
“nhà vàng gác tía”… Và vẫn với tư duy trọng về chất liệu và mặt bằng đó, người
Việt mở rộng cách nói về những không gian sống rộng hơn ngôi nhà đó là dùng
thành ngữ “màn trời chiếu đất” để chỉ cảnh tiêu điều khốn khổ sau những trận
thiên tai, địch họa, hay “nhà ngang dãy dọc” để chỉ sự giàu có của một cơ nghiệp
hoặc sự khá giả sầm uất của một khu dân cư.
Còn đây, năm 1931, ông Phan Khôi phê phán về cái văn minh
“kinh hoạch” phố phường trên báo Đông Tây (số 114): “Nhà cửa phố xá, cái thì lồi
ra, cái thì lõm vào, chủ nó mỗi người cất theo mỗi ý riêng mình, không buộc phải
đúng quy củ nào hết”
Trong quá khứ của người Việt, mọi sự phấn đấu trong đời sống
kinh tế dường như chỉ tập trung để đạt tới một mục tiêu – được sử dụng một ngôi
nhà to, bề thế hơn là những giá trị sống thuộc về môi trường, văn hóa liên
quan. Bàn tay của kiến trúc sư có lẽ chỉ có giá trị trong thời hiện đại, khi đất
chật người đông, làn sóng nhập cư vào đô thị ồ ạt, quá trình đô thị hóa nhanh
chóng làm cho cơ hội ở rộng với nhiều người không còn, thay vào đó là những
xoay sở giải pháp ở gọn. Mặt khác, truyền thông đã giúp người dân mở mang cái
nhìn, tiếp thu văn hóa hưởng thụ, trình độ và nhận thức về chất lượng sống đã
có những thay đổi lớn. Người ta nhận ra ngôi nhà không phải chỉ để đơn giản là
nơi trú mưa trú nắng hay… ngủ, mà còn để góp phần làm đẹp mỹ quan chung, bản
thân nó phải là một không gian khoa học, đáp ứng những nhu cầu công năng và thụ
hưởng những giá trị tinh thần, văn minh. Và tư duy ấy đi vào trong quy hoạch, hết
sức nguy hiểm ở chỗ, nó bỏ qua cái nhìn toàn diện, khái quát và khoa học, để mặc
cho tinh thần ngẫu hứng tha hồ phát sinh.
Nhưng còn lâu mới xóa bỏ được sạch cái dấu ấn tư duy mặt bằng,
khi mà hiện nay, do sự chắp vá, nên bất nhất và thiếu đồng bộ trong quy hoạch.
Cho đến nay, tiêu chí đánh giá của nhà nước về việc nhận diện không gian ở của
người dân vẫn theo tư duy mét vuông. Một báo cáo gần đây của cơ quan chức năng,
tại Việt Nam, nơi đô thị vẫn còn tồn tại nhiều hộ gia đình nghèo xoay trở sống
trong những “ngôi nhà” chỉ 3 m2, tiêu chuẩn còn thấp hơn ngưỡng chuẩn tối thiểu
của xét vô gia cư trong thời bao cấp là < 5 m2. Báo cáo trên cũng cho hay,
trên lý thuyết thì từ năm 2.000 nhà nước đã nâng chuẩn lên 6-8 m2 thì được cấp
nhà ở xã hội.
Theo tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam được Tổng Cục Thống
kê công bố vào tháng 12 năm 2009 thì trung bình diện tích nhà ở của mỗi người
Việt Nam là 18,6 m2. Cũng theo đợt điều tra này, thì tại Việt Nam cứ 2.000 hộ sẽ
có một hộ không có nhà ở. Hộ không có nhà ở được định nghĩa là không có chỗ ở,
hoặc không đáp ứng được 1 trong 3 điều kiện: có diện tích sàn tối thiểu 4 mét
vuông; tường cao ít nhất 2 mét; có cấu trúc riêng biệt và độc lập. Trong các hộ
có nhà ở, thì số hộ có nhà kiên cố chiếm 47%; nhà bán kiên cố chiếm 37,8%; nhà
thiếu kiên cố chiếm 7,8%; và nhà đơn sơ chiếm 7,4%.
Mức độ tin cậy vào những con số thì còn tùy vào sự lạc quan
hay bi quan của từng người tiếp nhận. Song cuộc điều tra trên cho thấy ngay cả
trong tiêu chuẩn đánh giá nhà ở của một cơ quan chức năng, thì khái niệm chất
lượng sống của một không gian ở mang lại cho con người chỉ có thể dừng lại ở mức
độ “an toàn” (kiên cố) hay thiếu an toàn (không kiên cố, đơn sơ). Có thể tiêu
chí trên phù hợp với một đất nước phát triển chậm, dân số tăng nhanh nên việc đảm
bảo đời sống tối thiểu của người dân (chỗ ở) còn nhiều “tồn tại” nói chi đến chất
lượng sống sự hưởng thụ các giá trị sống bên trong chốn nương thân.
Tư duy mét vuông là còn là một thứ hệ lụy lịch sử. Điều đáng
nói, là nó tác động không nhỏ đến tư duy quy hoạch đô thị. Sự hiện đại hóa bừa
bãi, sự nao núng trong những chiến lược vươn cao vì mục tiêu công năng, mở rộng
mặt bằng sử dụng theo cao độ đang giết chết những môi trường hài hòa và bản sắc
đô thị và mỹ quan. Đa số các công trình kiến trúc gần đây lấy nguồn cảm hứng
không từ xu hướng kiến trúc nhạy cảm với công nghệ mới, bền vững và quan tâm đến
môi trường, lợi ích xã hội mà lại chọn lựa xu hướng lợi ích thương mại.
“Một cái lẩu kiến trúc” – KTS Olivier Souquet đã nói như thế
về kiến trúc TP.HCM trên tạp chí Kiến trúc số 203, tháng 03.2012. Ông viết: “Xu
hướng thương mại: hoàn toàn tùy thuộc vào thị trường bất động sản vốn dĩ không ổn
định, chỉ có thể làm ra những bản sao, nếu không theo mô típ “tân thuộc địa”
thì là “tân phong cách Victoria”, pha một chút phong cách Á Châu (mà cũng chưa
chắc là đến từ châu Á). Tiêu biểu là những kiến trúc phong cách Singapore với
các thứ cột Corinthe Hy Lạp, chẳng khác gì một cái lẩu kiến trúc và cũng chẳng
nói lên được ý đồ là cái gì.”
Bao lâu nữa thì người Việt sẽ quan tâm đến ngôi nhà của bạn
theo hướng “ý đồ là cái gì”? Bao giờ thì người Việt hết tư duy không gian sống
theo mặt bằng? Có lẽ sẽ không bao giờ. Vì người ta chỉ có thể chắp vá và sửa chữa,
không thể dọn sạch để làm lại. Quy hoạch kiến trúc rất khác với cách người ta
thiết kế mỹ thuật cho một cái bánh kem.
Ngày nay, một đất nước thu nhập đầu người còn thuộc hạng thấp
lại có những thành phố trung tâm được xếp vào hàng những đô thị đặc biệt có giá
bất động sản cao bậc nhất trên thế giới là điều chưa hẳn nên vui. Khi mà, một
thị dân có mức thu nhập tốt vẫn khó có thể nghĩ đến chuyện sở hữu một không
gian sống tử tế trong thành phố mà họ gắn bó và cống hiến.
Và đây là biểu hiện của một thứ “tư duy mặt bằng” mới: trong
những câu chuyện, người ta vẫn dùng cụm từ “chỗ chui ra chui vào” để chỉ ngôi
nhà.
Như cách nói về một hang đá thời xa xưa.
Nhìn lên mặt trăng
1. Không chói lóa như mặt trời, không xa xăm như những vì sao,
là hành tinh phản chiếu ánh sáng của vầng thái dương, mặt trăng mang bản thể
âm, đã phát tỏa ra một diện mạo của sự hiền hòa, hấp dẫn, chuyển hóa huyền ảo.
Mặt trăng đã cho nhân loại từ thơ ấu nguyên thủy đến văn minh
tha hồ ngắm nghía, gửi gắm, phóng chiếu tưởng tượng và thêu dệt huyền thoại. Chỉ
với vài vết loang mờ đen trên mặt trăng, mà con người ở những chỗ đứng khác
nhau trên địa cầu đã nghĩ ra những hình ảnh đầy phong phú.
Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, hai tác giả Jean
Chevalier và Alain Gheerbrant với vốn hiểu biết uyên bác, đã kể ra cả một hệ thống
biểu tượng mà con người gán cho các vết mặt trăng: người Peru và châu Âu thì thấy
đó là những phác thảo của một khuôn mặt người; người Guatemala và Mexico thì thấy
ở đó hình ảnh một con thỏ và đôi khi là một con chó; người Peru nói giống một
con chồn hay con báo đốm; người Yakoute thì “thấy” trên mặt trăng có cô bé gánh
hai xô nước; nhưng chưa đủ, người Bouriates và các dân tộc vùng bờ biển Tây Bắc
châu Mỹ (như Haida và Tlinkite) thì thêm vào bối cảnh cô bé gánh hai xô nước một
phông nền những cây liễu giỏ; truyền thuyết Inca kể rằng, mặt trăng là một đám
bụi bẩn mà “thằng cha” mặt trời do quá ganh tị nhan sắc, đã chơi xấu, ném vào;
trong khi, là dân tộc thích hư cấu, người Trung Hoa xưa đã tự vẽ chuyện rồi
“đăng ký sở hữu trí tuệ” lên mặt trăng một huyền thoại Hằng Nga bay về trời
cùng hình ảnh con thỏ ngọc nghiền thuốc trường sinh…
Còn chúng ta thấy gì? Những cư dân văn minh Thần Nông chân chất,
chung tình, không quen phù phiếm nhưng suốt nhiều đời đối diện với ngoại xâm
phương Bắc, lại nhìn lên mặt trăng và kể với nhau về chuyện chú Cuội và cây đa
có lá chữa bệnh, giúp con người trường sinh…
Mỗi nền văn minh, mỗi dân tộc, ngay từ thời thơ ấu lịch sử của
mình đã đăng ký với mặt trăng một tác quyền riêng, dù là truyền khẩu. Có khi
“cái nhìn thấy” của nơi này lại hao hao hay có gốc tích từ nơi kia, nhưng ngay
cả những chi tiết dị bản hay chuyển hóa trong hình tượng, cũng cho thấy ở đó sự
ý thức độc lập, không chấp nhận nô dịch trong văn hóa. Có lẽ, ngay cả chuyện trẻ
con nhìn mặt trăng và thấy gì, cũng thể hiện một điều: với những biến thiên ngặt
nghèo của lịch sử, con cháu Thần Nông ít nhiều phải chịu ảnh hưởng bởi nền văn
minh Hoa Hạ, nhưng luôn luôn sàng lọc với một kháng nguyên mạnh mẽ, một vũ trụ
quan độc lập.
2. Con người đã bước lên mặt trăng từ 42 năm trước. Cuối tháng 8
này, nhiều doanh nhân giàu có tại Sydney đã mua vé hàng trăm USD để nghe phi
hành gia 81 tuổi Neil Armstrong, người từng điều khiển con tàu Apollo 11 đáp xuống
mặt trăng năm 1969 kể về lần đầu tiên bước xuống mặt trăng. Người đàn ông đã 6
lần đổ bộ xuống mặt trăng cho rằng khám phá không gian vũ trụ là niềm say mê vô
hạn, giúp cho ông quên tuổi già.
Trong khi tại Úc, ông cụ Neil Armstrong đang mải mê hồi ức về
những cuộc chinh phục không gian đầy huy hoàng trong thời trai trẻ, thì trên nước
Mỹ của cụ, Hội nghị Quốc gia lần thứ 242 và Triển lãm của Hiệp hội Hóa học Mỹ
(ACS) đang diễn ra. Tại đây, người ta đang bàn cách để xây nhà máy năng lượng hạt
nhân trên mặt trăng. Các kỹ sư của NASA cho rằng, nếu sản xuất điện hạt nhân
thành công trên mặt trăng, thì đây sẽ là một trạm năng lượng được sử dụng lâu
dài cho các chương trình thám hiểm, khám phá và nghiên cứu không gian.
Tấm ảnh Armstrong trong bộ đồ của phi hành gia đang cắm lá cờ
Mỹ lên nền đất mặt trăng gây xúc động cho hàng tỉ con người trên mặt đất trong
suốt 42 năm qua. Rõ ràng, con người, từ ngàn xưa không chỉ cần đến vầng trăng để
soi sáng vào ban đêm, để tính các chu kỳ tuần hoàn, càng không cần đến trăng để
thêu dệt huyền thoại, làm cảm hứng sáng tác hay hẹn hò, mà có lẽ biểu tượng
quan trọng nhất của mặt trăng đó là sự sinh sôi và trưởng thành. Từ nhu cầu độc
lập trong diễn giải biểu tượng văn hóa từng dân tộc riêng lẻ trên địa cầu đến
tiến trình trưởng thành của nhân loại trước vũ trụ, trong “hành xử” với thiên
thể mặt trăng, có thể thấy khát khao không ngừng khám phá và mở rộng biên độ hiểu
biết. Thông qua những cuộc chinh phục ngoại giới vô tận, vũ trụ con người mở
mang cõi nội giới sâu thẳm của mình, để mình được là mình, mình hiểu mình hơn.
Tôi hiểu, vì sao một năm trước khi Neil Armstrong đặt chân
lên mặt trăng, trong một phi vụ vào đêm Giáng sinh năm 1968, tàu Apollo 11 đã
làm cái việc thú vị là ghi lại hình ảnh trái đất từ nơi “thường trú” của chú Cuội.
Bức ảnh cho thấy chúng ta đang nhìn ngắm, tìm kiếm sự sống trên mặt trăng này từ
một mặt trăng khác.
3. Trong bức ảnh đó, trái đất là một mặt trăng màu xanh, như chiếc
lồng đèn yên bình, hiền hòa treo lơ lửng trong vũ trụ vô lượng vô biên.
Vườn ơi là vườn
Từ ngày rời xa những hang động um tùm cỏ cây để dấn bước về
phía văn minh tiện nghi, con người kịp mang theo bên mình một sự hoài nhớ gốc
gác thiên nhiên hay cõi nguyên thủy khói sương huyền thoại. Tôi đồ rằng, có lẽ
đó là lý lẽ ban đầu cho những khu vườn có mặt.
Thế nhưng, ngày nay, để có một ngôi nhà thì đã khó, để có một
ngôi nhà với khu vườn còn khó hơn. Khuynh hướng đô thị thực dụng đang làm cho
những ngôi nhà tha hồ trương nở, chiếm hết chỗ của các khu vườn đúng nghĩa.
Trong bài viết của một kiến trúc sư gần đây, tôi đọc thấy nhận định rằng, thời
bây giờ, mua nhà có vườn là một xu thế của người thành phố. Chỉ những người tiền
bạc khá giả mới đủ sức tìm ra các vùng đất cách trung tâm 40-60 km để hiện thực
hóa ước mơ xa vời đó.
Tìm về nghĩa của vườn…
Tìm lại tư duy nhân sinh và thế giới quan về khu vườn thể hiện
qua ngôn ngữ tiếng Việt cũng là một cuộc kiếm tìm khá lý thú. Cuốn Đại từ điển
tiếng Việt (do Nguyễn Như Ý chủ biên, Bộ Giáo dục & Đào tạo phối hợp với
Trung tâm Ngôn ngữ & Văn hóa Việt Nam phối hợp ấn hành, NXB VHTT, 1999) định
nghĩa vườn là “khu đất quanh nhà để trồng cây cối”. Trong hệ từ Hán Việt mà
chúng ta vay mượn, một đơn vị, sử dụng ở cũng được đo bằng cương giới vườn
(khuôn viên).
Không dừng lại ở đó, trong tâm thức, người Việt xem khu vườn
như một gia sản quan trọng trong đời sống kinh tế của mình. Thế mới sản sinh ra
những thành ngữ như: “vườn cau ao cá” hay “vườn trên ao dưới” để chỉ đời sống
sung túc do biết cách làm ăn của chủ nhà nông dân. Nhưng vườn, là thứ gia sản
có thể tạo lại được sức ép, ảnh hưởng tinh thần đối với con người, vì thế dân
gian nhìn ra việc có quá nhiều của cải, vườn ruộng, tài sản thì càng mất công
chăm sóc, quản lý, chăm nom – như cảnh “vườn rộng công nhiều”.
Vậy, vườn trước hết là của cải của gia đình, là gia sản có thể
thấy được của gia chủ, là thứ có thể giúp đánh giá được sự giàu nghèo, sự an
nhàn trong sung túc hay giàu có trong bộn bề. Hình như có một tầng nghĩa ngầm ẩn
nào đó soi sáng về thái độ sống bên dưới những thành ngữ kia, cho thấy tư duy
và chọn lựa văn minh của người Việt, trọng sự đầy đủ mà tĩnh tại hơn dư dật mà ồn
ào, trọng sự hài hòa và cười nhạo thói trọc phú bung xung bề ngoài.
Vườn lặng lẽ đi vào các hình thức ghép từ uyển chuyển để sản
sinh ra những nghĩa chỉ các không gian khác nhau: ghép với từ nhà, thành ra vườn
nhà (để chỉ khu vườn không hẳn là dùng để sản xuất mang lại của cải, mà là để
trồng trọt hoa quả, thảo dược, cây kiểng trang trí cho không gian sống của ngôi
nhà); vườn trẻ để chỉ nhà trẻ; vườn trường để chỉ sân trường – nơi sinh hoạt,
thư giãn ngoài giờ học cho học trò và giáo viên; vườn quốc gia để chỉ không
gian rừng núi có hệ sinh thái được bảo tồn tập hợp những loài động, thực vật
quý hiếm được nhà nước quản lý, giữ gìn cho mọi người đến tham quan, nghiên cứu.
vân.vân.
Vườn, còn là nơi chốn để trở về, là nơi để hưởng nhàn, lánh
xa “lao xao” thị phi, đảo ngược giá trị “dại, khôn” theo lẽ/ thói đời. Thế nên
trong tiếng Việt người ta gọi về hưu, xa rời quan trường, sự nghiệp, bon chen
mưu sinh là “về vườn”. Về với khu vườn của mình cũng có nghĩa là trở về tìm sự
an nhàn, điều kiện sống thanh cao, giữ gìn khí tiết quân tử lánh xa cõi đời ô
trọc.
“Một mai một cuốc một cần câu/
Thơ thẩn dù ai vui thú nào/
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/
Người khôn người đến chốn lao xao”.
(Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Vườn, trong hay ngoài?
Nói trong nhà, ngoài ngõ. Nhưng với vườn, nếu đứng từ trong
nhà (nội thất) thì vẫn có hai cách định vị: trong vườn hay ngoài vườn đều mang
nghĩa như nhau. Vườn là vành đai xanh, khoảng tĩnh lặng của ngôi nhà. Đó là
không gian cây cối dịu mát để tận hưởng sự trong lành, giải nhiệt cho ngôi nhà
tránh nóng nực căng thẳng, cây cỏ hấp thụ và điều hòa trong lành cho không gian
sống. Vì thế, trong vườn người ta thường chú ý trồng những cây ngọt trái lành,
có thể ăn được, như tặng phẩm của đất đai, để gắn bó, sẻ chia; hay có thể tận dụng
miếng đất nhỏ trồng mớ rau, dưa, cà, đậu, khi cần với tay là đã có nồi canh
ngon lành mà không phải nhọc công, tốn kém chợ búa; cũng có thể là chỗ để ươm
vài cây dược thảo trị những bệnh thời tiết khi trái gió trở trời hay nuôi con
gà, con cá, con chó, con mèo để quấn quýt, thân thương...
Bình minh của cuộc đời thường đắm trong huyền thoại, nên
không gian sương khói bí mật của vườn cũng gắn bó với thơ ấu của mỗi người. Khu
vườn bí mật và ôm mang huyền thoại trong mắt mỗi chúng ta, đó là thế giới tiềm
tàng bao điều diệu kỳ cần khám phá và cùng mỗi cuộc đời lớn lên. Ở đó, suốt bốn
mùa, đứa trẻ lắng nghe cỏ cây nở hoa cho quả, các bóng râm lúc êm dịu, khi mang
đến những câu chuyện tâm linh như ma cỏ, như niềm tin đó là nơi trú ngụ của những
vong hồn người quá cố… Những lối mòn, bờ cỏ chạy quanh dưới những tán cây xòe rộng,
những hàng rào xanh um dây leo dại bốn mùa, những vồng hoa đầy ong bay bướm lượn,
những vòm cây cao chim chóc líu lo, những ốc cây sần sùi vang tiếng cười, trò
chơi bè bạn… đã trở thành thân quen máu thịt. Ký ức đó theo ta lớn lên. Đến khi
chân nện bước qua những phương trời xa xôi nhưng khu vườn tuổi nhỏ vẫn lung
linh, huyền hoặc không gì xóa được trong vô thức.
Ngày trước, mảnh đất trong vườn vừa là nơi chôn rau cắt rốn của
mỗi người. Người nhờ vậy mà nối với đất đai, xứ sở. Vườn đánh dấu khai sinh người
sống và cũng là nơi ôm vào mình những người vĩnh viễn rời xa. Một vài nơi, người
ta mai táng người chết ngay trong vườn nhà, để níu gần lại khoảng cách với người
sống, nên chi trong những vườn xưa thường có những bia mộ, những không gian tâm
linh, thờ cúng đặc biệt. Khi con người sinh sống, trồng trọt cây cối trong khu
vườn phải đi về bên kia thế giới, khu vườn mang vào ý nghĩa tưởng niệm; cây cỏ
còn lại nhắc nhớ sự hiện hữu của người đã khuất, nên ở vài nơi, khi trong nhà
có người chết, thân nhân sẽ chít tang cho các cây cối trong vườn để cây không sầu
chủ mà khô héo.
Dân gian cũng tin rằng, những khu vườn mang trong nó các vong
hồn canh giữ. Những bóng cây, bụi rậm cần được thắp nhang mỗi khi trời âm u,
mưa gió để sưởi ấm những mảnh hồn lang thang không nơi trú ngụ. Người lớn dặn
trẻ con không nên dùng dao rựa chặt cây, chẳng may đụng đến chỗ ở của người
thân khuất mặt trong vườn thì tội nghiệp.
Vì vậy, những khu vườn vừa sinh ra kỷ niệm, ký ức, cõi tâm
linh vừa đóng góp ý nghĩa sinh thái xanh tươi trong lành cho không gian sống.
Cho nên, Trịnh Công Sơn viết trong một bài hát rất buồn, không hiểu bàn chân
trong bài hát ấy là bóng dáng thực tại nhân sinh hay một vong hồn, một sự trở về
đơn độc trong tâm thức: “Có nhiều khi từ vườn khuya bước về/ Bàn chân ai rất nhẹ/
Tựa hồ những năm xưa” (Phôi pha). Vườn cũng là gắn bó, cởi mở, dự phần tình
yêu, trẻ trung trong câu hát Vườn yêu của Lã Văn Cường: “Lúc vui buồn đừng ngại
đến vườn yêu/ Chốn hẹn hò chiều sang có em về/ Em sẽ trồng lại cây xanh tường
nhỏ/ Chốn thiên đường ngập ngời lá và hoa…” Trước đó, xa lắm, Thôi Hộ, Nguyễn
Du đã tìm thấy trong hoa đào, trên dấu giày đầy rêu xanh phủ xúc cảm ngậm ngùi
hoài niệm cảnh cũ người xưa…
Gần đây, tôi tìm thấy trong những scene cuối cùng của bộ phim
Trăng nơi đáy giếng của Nguyễn Vinh Sơn, hay những xúc cảm thân thương trong
lành và bay bổng của thời ấu thơ trong Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc
Thuần…
Từ xưa, những khu vườn đã hiện hữu trong tâm thức con người.
Đó là giá trị chuẩn mực chung của những nền văn hóa kiến trúc khác nhau. Người
Nhật có vườn thiền, nước Pháp có những vườn biệt thự, vườn nghệ thuật, từ thời
cổ đại ở vùng Lưỡng Hà đã có những vườn treo hoành tráng của vua chúa và suốt
trong thời phong kiến Trung Hoa đã xuất hiện những vườn thượng uyển cho người
hoàng gia ngắm hoa thưởng nguyệt, vịnh thi phú…
Vườn ơi… là vườn
Ngày nay, trong xu thế đô thị hóa diễn ra trên toàn cầu.
Trong sự thay đổi có phần xốc nổi công năng hình thức diễn ra nhanh hơn những
giá trị văn minh tinh thần, thì chúng ta dễ nhận ra, trong văn hóa ở, vườn dần
dần bị coi là không gian bên ngoài, không thuộc về ngôi nhà, có thể dễ bị cắt
phân thửa mới, bán đi trong thời đất đai sốt giá.
Điều đó làm cho không gian sống mất đi sự hài hòa. Nhiều người
vì thế đã chọn giải pháp đưa vườn vào nhà, đưa cỏ cây lên sân thượng để tìm cơ
hội làm hòa với thiên nhiên trong điều kiện cho phép; lấy việc chăm nom cái
cây, ngọn cỏ để làm điều vui thú, tìm đâu đó chút cảm giác thư nhàn khiêm tốn
tưởng từ lâu đã mất…
Và từ trong xô đẩy hỗn độn của tiện nghi, người ta nhận ra,
việc tìm về khu vườn cũng chính là giải pháp cân bằng “xanh hóa” đời sống tinh
thần cho mình. Thi thoảng, loanh quanh trong thành phố, tôi dừng lại trước những
ngôi nhà cũ có khoảng sân hoa, có khu vườn cây cối xum xuê. Điều lạ là chủ nhà
không khá giả. Thường là ông già bà lão vào ra chậm chạp đang “về vườn”. Họ “về
vườn” với thái độ buông xả, cùng tinh thần chịu ngồi yên để tận hưởng sự bình
an.
Sự sang cả được gần gũi và tận hưởng thiên nhiên trong một mảnh
vườn, đành rằng phải có tiền mới mua được, nhưng không phải chỉ có tiền mới mua
được. Ngày nay, nhiều khu vườn trong phố bị khoác lên vẻ mặt trọc phú của chính
gia chủ mới nổi.
Hình như khu vườn cuối cùng vẫn nằm đâu đó ở khoảng giữa thực
tại và tâm tưởng, giữa có và không, giữa sự dùng dằng réo gọi trở về với thiên
nhiên êm đềm với hấp lực dấn bước vào cõi mịt mùng của văn minh vật chất phương
tiện...
Khu vườn không còn là câu chuyện ngoại thất nữa. Mà là một
tình trạng của nội tâm, tinh thần con người. Đó là giá trị sống rất hướng nội
mà cũng rất rộng mở trong bối cảnh trái đất cần những người biết góp thêm màu
xanh. Phúc cho ai biết bước qua cuộc chơi vườn tược, vứt bỏ chiếc áo diễn trò
nhàn tản thời thượng để đạt tới “cảnh giới” của sự sống chung / sống với khu vườn
phi thời gian bên trong mình.
Ký ức không dừng lại
Mới đây, một mẩu tin từ Pháp, nơi tỷ lệ đọc sách tại thư viện
ngày nay còn khá cao, những thủ thư nảy ra ý tưởng đi gom những bookmark trong
các sách của thư viện để làm một cuộc triển lãm. Ý tưởng trên không biết đã thực
hiện chưa. Nhưng nó gợi hứng và cho nhiều ngẫm ngợi…
Từ lâu, bookmark đã không chỉ là một miếng chắn giấy để đánh
dấu trang giữa hai lần đọc theo đúng tiện ích của nó. Mà còn làm chức năng gởi
gắm tình cảm của người đọc trước những cuốn sách đang đọc dở; ghi lại cảm xúc của
một tình huống, không gian nơi văn hoá đọc được diễn ra; hay đơn giản là xúc cảm
bâng quơ, ý nghĩ về một ai đó trong khi đang đọc cuốn sách này...
Theo Wikipedia, bookmark xuất hiện từ thời trung đại, ở châu
Âu, cụ thể là cuối thế kỷ XVI, nữ hoàng Elizabeth I chính là người dùng đến
bookmark đầu tiên.
Mãi đến nửa cuối thế kỷ XVIII, với sự xuất hiện của nhiều thư
viện và salon học thuật tại các trung tâm tri thức lớn châu Âu thì đi liền với
những đầu sách kinh viện, hàn lâm, người ta phải sản xuất ra cách trang hoàng
cho chúng những tấm bookmark xinh đẹp bằng da, mạ vàng bạc, hay dải lụa mềm như
dây buộc tóc của những tiểu thư đài các. Bookmark trở thành món quà đầy trân trọng
mà giới trí thức quý tộc thời bấy giờ tặng nhau cùng với những pho sách kinh điển.
Từ khi văn minh sách giấy ra đời, bookmark khiêm tốn tham gia
vào tiến trình văn hoá đọc của con người. Đôi khi, với người này, bookmark là
quan trọng gắn với tình yêu chữ nghĩa, sách vở. Nhưng với người kia, đơn giản
nó chỉ là một tiện ích không hơn không kém. Và đôi khi, với những kẻ biếng lười
khác thì bookmark có thể được thay thế bằng những nếp gấp ở mép góc trang giấy.
Vì đơn giản, một khi dừng lại ở tiện ích thì nó sẽ chẳng có
gì nói thêm. Nhưng thử nghĩ xem nếu một cuốn sách mà chủ nhân của nó bị thời
gian eo hẹp “cắt lớp” bởi quá nhiều lần đọc và với phương pháp thủ công là tiện
tay xếp góc sách đánh dấu, thì chỉ sau một lượt đọc qua, nó đã phồng rộp lên rất
đáng thương.
Trở lại câu chuyện các bà thủ thư bận rộn ở các thư viện thủ
đô Paris. Cái ý tưởng xuất phát từ việc đi lật sách lấy bookmark nảy ra có lẽ
là trong một ngày đẹp trời nào đó, có những ông, bà cụ nhàn rỗi đến gõ cửa thư
viện xin mượn lại những cuốn sách ngày xưa mình đã đọc dở, hy vọng có thể tìm
thấy trong đó những bookmark ghi những xúc cảm ngày tháng năm tuổi trẻ của
mình.
Những cuốn sách của một thế hệ, một lớp người đọc cũ vẫn nằm
im lìm trong các kho chứa đồ sộ và đang bị chồng lên bởi những đầu sách mới.
Chúng vẫn nằm ở đó, các thẻ chắn đánh dấu trang vẫn khiêm tốn làm nhiệm vụ của
mình và chờ đợi được lần giở tiếp. Nhưng có những người lính vào chiến trường
khi cuốn sách về thế hệ mình vẫn chưa được đọc xong. Có những lời nhắn gởi cho
người yêu hay ít ra là một ánh mắt nào đó nơi góc thư viện làm ta rung động vẫn
còn lưu trong các bookmark rồi vì run rủi nào đấy, mãi mãi về sau, anh ta không
còn tiếp tục đọc những cuốn sách ấy nữa. Cũng có những mối tình già được gởi gắm
qua bookmark trong các thư viện thị tứ hẻo lánh mà người lui tới chỉ là những cụ
hưu trí hay lớp trí thức cũ…
Tất cả. Tất cả những đưa đẩy rất đời sống ấy, bookmark, không
chỉ làm tròn nhiệm vụ của một “thanh công cụ” mà nó đã là thứ mang vào nhiều
xúc cảm gắn với tâm lý, không gian đọc.
Có những lời tỏ tình, những cảm xúc thầm kín được ghi vào đó
chẳng bao giờ đến được tay người nhận.
Có những cảm giác nảy sinh từ trạng thái đọc chỉ trải qua độc
đáo có một lần trong đời rồi mãi mãi không trở lại nữa.
Có những nét chữ hoa mỹ còn đó, khiêm tốn ghi chú trên những
trang bookmark nhưng người viết nay đâu?
Tôi vẫn gặp trên mạng, trên máy tính hôm nay những công cụ
firefox, cách cài đặt phần mềm extension foxmarks, những hotlink, favourite… để
đánh dấu các trang ebook hay website. Nó là những kiểu bookmark của kỷ nguyên số.
Nó phải liên tục cập nhật các phiên bản bảo vệ virus thừa cơ
tấn công máy tính. Nó không xúc cảm như bookmark sách in.
Và tôi cũng gặp ở quầy tính tiền của những hội chợ sách trong
nước hình ảnh nhân viên thu ngân kẹp vào những cuốn sách những thanh bookmark
in logo và giới thiệu những đầu sách mới của nhà xuất bản hay công ty sách.
Không ít trường hợp nó bị người mua sách từ chối thẳng thừng vì nghĩ nhầm là “tờ
rơi” quảng cáo. Ở tình thế này, chính người làm sách Việt Nam đang biến
bookmark thành công cụ marketing thực dụng và làm mất đi tính cách đầy khiêm tốn
lặng lẽ của nó trong một tiến trình có tính bay bổng của văn hoá đọc.
Và tôi thầm cảm ơn những bạn bè về các món quà của họ có lúc
gợi hứng thú cho tôi gần gũi với sách hơn. Những thanh bookmark đẹp, design
trang nhã có khi được ép cả mùi hương nước hoa, mùi trầm thoang thoảng… mà bạn
bè tôi chu du trên khắp thế giới thường gởi về làm quà tặng trong những dịp lễ,
tết. Những bookmark làm cho cuốn sách mang cảm xúc, linh hồn hay ít ra nó gợi
nhớ đến tình cảm, sự trân trọng.
Và tôi viết những điều này để tỏ lòng biết ơn em Chi, người bạn
nhỏ ở Avignon (Pháp), kẻ hơn một lần tự ví mình như một cuốn sách, còn người đọc
sách đó là kẻ tự đọc mình, khám phá mình để thấu hiểu người khác. Với nét chữ
tròn đầy viết bằng bút mực trên thanh bookmark kẹp giữa những trang đầu tập thơ
đầu tay đẫm suy tư, Chi viết: “Tôi đang đọc… Đã đọc xong, sẽ đọc hết, chẳng thể
nào đọc hết, biết đâu bỏ dở… Tôi không muốn tiếp tục… tôi không thể tiếp tục. Vẫn
đang có điều gì đó đang sống, đang lưu lại, vướng lại. Ký ức không dừng lại nơi
những bookmark? Cảm xúc không dừng lại…”.
… Là khi. Bookmark nhắc nhớ rằng. Trong đời sống này. Có những
cuốn sách tôi đọc dở. Nhưng không có nghĩa là để mà quên!
Tết riêng
Trong cuốn sách giáo khoa về phong tục viết bằng chữ Hán có
nhan đề Tiểu học Bản quốc phong tục sách hay còn gọi An Nam phong tục sách của
cụ Mai Viên Đoàn Triển (1854 – 1919) có 61 đề mục, nhưng trong đó, tác giả đã
dành đến 7 đề mục để nói về Tết Nguyên đán.
Sau khi đọc những diễn giải cặn kẽ rõ ràng về gốc tích các tập
quán trong ngày Tết như: giới thiệu Tết, sửa sang mua sắm, lễ bái, lễ Tết, lễ vật,
thí sự, đối đãi, chơi xuân… thì, chắc hẳn người đọc sẽ giật mình khi gặp những
dòng này: “Xét Tết Nguyên đán, nước nào cũng có, không thể thiếu được. Nhưng chỉ
có ở nước ta, cúng tế đến bốn năm ngày thật là phiền nhiễu. Vả lại, vàng hương,
giấy viết, đối liễn, pháo v.v. đều là hàng Bắc hóa (nghĩa là từ Phương Bắc, chỉ
Trung Quốc đưa sang), lãng phí rất nhiều. Hoặc có kẻ kiếm lợi bắt chước làm
theo, thật chẳng khôn ngoan. Đến như nạn cờ bạc, càng là việc cần ngăn ngừa.
Thiết nghĩ, hai ngày tất niên, Nguyên đán, thờ cúng tổ tiên và vui chơi cũng đủ
rồi. Từ mùng hai trở đi có thể giảm bớt hoặc dừng lại. Đến như việc mua sắm vật
dụng ngày Tết hoang phí chỉ tổ làm cho của cải của mình rời vào tay người
ngoài. Vậy nên dần dần bỏ tục này đi cũng chả hại gì.” (tr. 23, sđd, Nguyễn Tô
Lan dịch, NXB Hà Nội, 2008).
Giật mình bởi hai lẽ, từ một thế kỷ trước, chuyện lãng phí,
chuyện xài “hàng Bắc hóa” trong dịp Tết đã là một mối ám ảnh lớn đối với những
trí thức, những người nhìn xa trộng rộng. Phía sau nỗi ám ảnh “hiện tượng” đó,
có một mối lo khác lớn hơn: nhìn thấy trong Tết nhiều nghi thức, tập tục, sinh
hoạt văn hóa dân gian ở ta thiếu cái riêng; chịu ảnh hưởng từ phong tục Tết của
“nước lạ” một cách mù mờ.
Trong sách Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính (1875 – 1921)
cũng viết về cái sự lôi thôi của những phong tục tập quán trong dịp “thưởng
xuân” có gốc tích, ảnh hưởng nếp sinh hoạt từ “nước khác” như: nạn túm tụm bài
bạc, lúc lắc thò lò, hội hè hát xướng ồn ào, tiêu xài hoang phí cho đến những hủ
tục chẳng đâu vào đâu… Cụ Bính cũng viết: “Ở về tỉnh thành Sài Gòn, lâu nay nhiễm
được tân hóa, mấy hôm Tết nhiều nhà xử thanh đạm như thường. Ở Hà Nội, các người
tân học cũng đã chán cái cách ăn Tết của ta lắm, nhưng chưa mấy người khiết
nhiên (bỏ) đi được,” (tr. 55, sđd, NXB Văn hóa Thông tin, 2005).
Sau câu chuyện phong tục Tết nhất, vào thời đó, những trí thức
như cụ Đoàn Triển, Phan Kế Bính đã đặt ra vấn đề về một thứ, tạm gọi là “ý thức
chủ quyền” trong phong tục tập quán, mà ngày nay, chúng ta gọi là cái riêng, bản
sắc (dù chữ “bản sắc” ngày nay được dùng trong ngôn ngữ tuyên truyền đã ít nhiều
áp đặt, “cầm tù” nghĩa của từ này). Có thể hiểu chủ quyền ấy là, thực hành
phong tục tập quán thì phải nắm bắt gốc gác và kiểm soát được ngôn ngữ, ý nghĩa
để không bị rơi vào tình trạng mù mờ nhận thức đến mức chịu nô dịch văn hóa.
Phóng chiếu vào xã hội tiêu dùng hôm nay, quả thật cái Tết của
người Việt vẫn còn đó nguy cơ bị lái đi xa khỏi cốt lõi ý nghĩa của nó. Thay vì
là dịp để bày tỏ lòng thành kính vong linh tổ tiên đã khuất, là dịp để sum họp
gia đình, thể hiện sự quan tâm biết ơn, chăm sóc với người thân yêu, xóm giềng,
tha nhân và cũng là khoảng thời gian nghỉ ngơi, thăng bằng, nhìn lại cuộc sống
sau một năm bôn ba, là khoảng thời gian nhàn nhã để nhìn sâu hơn vào quá khứ,
ngưỡng vọng đến tương lai... thì Tết hôm nay lại quá nhiều những chuẩn bị sắm sửa,
lắm sự tô vẽ ồn ào, phô trương bề mặt; là dịp hiếu hỉ hối hộ quà cáp với cơ
quan hành chính; là dịp để so đo bổng lộc; là cơ hội phung phí thời gian, dây
dưa rượu chè cờ bạc… làm nảy sinh biết bao tệ nạn. Tết thay vì thư giãn và đằm
sâu, lại trở nên phô bày sự bừa bãi và nhếch nhác.
Thế nên, người nghèo có nỗi lo Tết của người nghèo, người
giàu có nỗi lo Tết của người giàu. Để chuẩn bị cho cái Tết, đáp ứng đủ thủ tục
cần thiết từ biếu xén đến lễ lộc. Ai cũng tất bật âu lo. Chẳng mấy ai an vui
thư nhàn với Tết. Ai cũng lo Tết mà mấy ai thưởng thức Tết và sống nhàn, nghỉ
ngơi tận hưởng Tết. Cái Tết với những cuộc vui trên thước đo vật chất, thường rộn
rã, chóng vánh và trống rỗng.
Lời nhắc nhở làm chủ tập quán, làm chủ quyền văn hóa qua
phong tục Tết Nguyên đán hơn thế kỷ trước vẫn còn khiến người nay giật mình. Nhất
là trong bối cảnh toàn cầu, sự tự vấn văn hóa phải luôn là việc thường xuyên được
mỗi dân tộc đặt ra để biết mình thực sự hiện hữu.
Ngồi cóc, cà phê
Có ba giả thiết về nguồn gốc tên gọi cà phê cóc:
1/ quán có ghế thấp, khách đến quán ưa ngồi tư thế hơi chồm hổm,
bạ bệt, la liệt như một bầy cóc trước hang nên gọi chung các loại quán ven đường
này là quán cóc;
2/ cách pha chế cà phê thường thấy: đặt phin lên cốc, nên có
thành ngữ “cà phê nồi ngồi trên cốc”; từ “cốc”, qua thời gian, bị đọc trại đi
thành ra “cóc”
3/ mô phỏng từ cóc trong tiếng lóc cóc (bàn ghế dọn ra dọn
vào, tiếng muỗng đánh, khuấy cà phê) là âm thanh quen thuộc ở dạng quán này.
Ở ta, trong nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận về danh
xưng thường dễ rơi vào vô bổ. Sống đã, giải nghĩa và triết lý sau, cho nên,
không cứ gì bận tâm khổ sở tìm kiếm nguồn gốc chính xác một tên gọi mới mong thấu
tận tinh thần của sự việc. Ở một nơi càng lắm sự mờ ám, thiếu chính danh thì đỡ
bàn tán về danh xưng, càng tránh được cơ nguy sa vào sự suy diễn rối tinh rối
mù. Vậy, có một cách khác hay ho hơn nhiều: hãy ngồi cà phê cóc để luận về
chính nó. Về khoa học luận mà nói, lấy ngôn ngữ để bàn về chính ngôn ngữ thì gọi
là siêu ngôn ngữ, lấy khoa học để bàn về chính khoa học thì gọi là siêu khoa học,
vậy tự hỏi, ngồi cà phê cóc để luận về cà phê cóc thì gọi nó là gì, không lẽ là
siêu… cà phê cóc!?
Là gì thì chưa biết, song, kẻ nhàn rỗi viết bài này từng bỏ
thời gian mê mẩn đọc đến vài ba chục bài báo của các nhà văn, nhà thơ, ký giả
tên tuổi vẽ thêm cánh cho loại hình ẩm thực này và sau đó đi đến khẳng định chắc
như đinh đóng cột rằng, cà phê cóc là một nét văn hóa đặc thù (thậm chí, là bản
sắc văn hóa) của người Sài Gòn. Thơ ca, âm nhạc, mỹ thuật lấy cảm hứng tập
trung mô tả, khai thác chủ đề này nhiều vô kể. Chỉ điều đó thôi, cũng đủ phủ
lên loại không gian quán xá tự phát (trong cái đô thị trùng trùng tự phát này)
một thứ ý nghĩa lộng lẫy mang đậm tinh thần bình dân chủ nghĩa, hoặc tranh thủ
gắn với tập tính phồn tạp phóng túng và xộc xệch của nếp sống nơi đô thị phương
Nam, hay dễ thấy nhất là lồng ghép đủ thứ mớ đời rối rắm được nâng tầm nhân
sinh quan ẩm thực, nghe nhức cả mũi. Những nỗ lực đó đôi khi vừa đáng yêu vừa
thật hài hước. Nhưng biết sao được, phải hết sức bình tĩnh để cảm thông cho căn
bệnh sính chữ vốn là một biến chứng có tính lây truyền cao ở những xứ sở luôn sẵn
mang đầy mặc cảm, ẩn ức về sự khan hiếm học thuật trong khi những nghiên cứu loại
kháng sinh hữu hiệu để chữa trị chứng sính chữ lại chưa tìm ra.
Trở lại câu chuyện. Có lẽ cà phê cóc cần được giải hoặc (ngõ
hầu đưa nó thoát xác khỏi cái áo lãng mạn bay bổng cảm tính) trước khi trả về
đúng cái diện mạo xộc xệch, nhếch nhác và giản đơn, vốn là tính cách phóng
khoáng tự nhiên bất cần văn tự của nó, của cái cộng đồng sinh ra và hưởng thụ
nó, để thấy nó không dễ gì đáp ứng cho cái thứ “bản sắc” quơ quào cốt chỉ thỏa
mãn nguồn cơn cảm hứng tự tôn dân tộc thái quá.
Ở góc độ lịch sử ẩm thực (nghe nghiêm trọng chưa!), có thể
nói rằng, đây là một dạng quán xá có lịch sử rất lâu đời trong cuộc sống của cư
dân đô thị Việt Nam. Cần lưu ý, tính cách của đô thị Việt Nam từ truyền thống đến
hiện đại, bao giờ cũng chịu chi phối bởi xuất phát điểm đặc trưng nông nghiệp,
nặng tính tự phát. Hình thái gốc đó của đô thị đã tác động trực tiếp lên nề nếp
sinh hoạt ẩm thực tài tử, ngẫu hứng, trong đó có những mô hình dịch vụ tự phát,
như quán xá vỉa hè.
Năm 1475, quán cà phê đầu tiên trên thế giới ra đời ở thành
đô Constantinople của đế quốc Ottoman (1453-1922), để rồi hơn một thế kỷ sau, từ
Yemen, cà phê xuất khẩu sang châu Âu và khai sinh văn hóa cà phê tại các nước
Anh, Pháp, Hà Lan… Điểm lại những gạch đầu dòng trong phả hệ cà phê thế giới để
thấy rằng, trong ly cà phê hôm nay mà chúng ta tận hưởng hẳn không phải là thứ
thuần chủng bản địa, mà mang rõ lai lịch của một cuộc du hành – tiếp biến văn
hóa. Những người Pháp theo đạo Thiên Chúa đã đưa cà phê vào Việt Nam trong quá
trình truyền đạo và hiện thực hóa giấc mơ thực dân từ những năm 1850. Hẳn, những
điểm dừng đầu tiên là đô thị và sau đó, là tạo ra những đồn điền. Mãi đến nay,
Việt Nam không hổ danh là một nước sản xuất cà phê đứng thứ 2 thế giới và có lẽ
là quốc gia có cư dân uống cà phê cũng đông nhất thế giới (mỗi năm, thị trường
bản địa tiêu thụ hết 10% của số 800 đến 1 triệu tấn lượng cà phê làm ra). Cũng
như với trà, người Việt Nam uống cà phê để bay bổng, phiêu diêu chứ không cần
lý trí hay nâng tầm lý thuyết hóa về nó.
Nhưng từ cà phê truyền thống kiểu Pháp đến cà phê cóc của người
Việt là một quãng xa của sự tiếp biến, bản địa hóa đầy ngoạn mục, đồng thời
cũng mang dấu ấn nội sinh sâu sắc của những tiến trình biến đổi xã hội qua các
đợt sóng đô thị hóa.
Có thể ví văn hóa cà phê cóc Sài Gòn như thứ nhạc boléro của
thị dân miền Nam, nó được sinh ra để sống với nhịp đập trái tim người nhập cư
trong quá trình tự thích nghi để trở thành một thị dân đúng nghĩa. Trịnh Cung,
một họa sĩ từng lăn lộn trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975 nhận định, thói
quen ngồi cà phê cóc của người đô thị Việt Nam thừa hưởng từ văn hóa cà phê vỉa
hè của người Pháp. “Tuy nhiên – ông Cung phân tích – khi vào Sài Gòn, cà phê vỉa
hè đã chia ra nhiều đẳng cấp khác nhau theo các giai tầng, địa vị xã hội của
khách hàng thường lui tới. Ví dụ ngay trong giới văn nghệ, báo chí Sài Gòn lúc
đó cũng có sự phân biệt: cà phê vỉa hè đẳng cấp cao thì có hành lang khách sạn
Continental (ngồi ghế bành, ghế gỗ cao, ở trục đường trung tâm) trên đường Tự
Do (nay là Đồng Khởi) dành cho những chủ báo, những tên tuổi có liên hệ mật thiết
với các hãng thông tấn nước ngoài có uy thế về ngôn luận, học thuật. Dạng cà
phê vỉa hè của những “gentleman” này, trở thành nơi đàm luận nghệ thuật, thời sự
chính trị, tình hình thông tấn toàn cầu… chẳng khác các salon trung lưu trí thức
tinh hoa ở phương Tây giữa thế kỷ XX là mấy. Người ta vẫn gọi đây là cà phê vỉa
hè trung tâm Sài Gòn, ít ai dám tự ý dùng danh từ bình dân sặc mùi là “quán
cóc” để gọi tên. Trong khi đó, giới ký giả “local”, gần với quần chúng bình dân
hơn lại thường ngồi la liệt ở những quán cóc thứ thiệt trên góc đường Phạm Ngũ
Lão – Bùi Viện, gần các tòa soạn nhựt trình thời đó. Đặc thù của dạng quán này
là nằm trong khu lao động, nhếch nhác, không gian đầy vẻ bụi bặm, khách khứa đa
dạng đẳng cấp nhưng nhìn chung thì đều ra vẻ năng động và dấn thân.
Ông Cung còn kể chi tiết về cách pha chế cà phê độc đáo ở các
quán này: cà phê được cho vào một túi vải bít tất rồi ngâm hoặc nấu sôi, ép nước,
chế biến một lúc cho số nhiều, nên gọi là cà phê bít tất. Mỹ từ “cà phê bít tất”
gắn với không gian quán cóc vỉa hè từ đó.
Sau 1975, cùng với sự phai nhạt ảnh hưởng xã hội của giới trí
thức, trung lưu, không gian cà phê vỉa hè sang trọng vang bóng một thời nơi những
đường phố trung tâm cũng biến mất. Cho đến hai mươi năm sau đổi mới, với sự
thúc đẩy của chính sách mở cửa thị trường, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới, chân dung giới doanh thương thoát khỏi sự nghi kỵ tư sản, người giàu
không phải vào thiên đường trần gian bằng con lạc đà như trong Kinh Thánh nữa,
mà có thể xuất hiện lồng lộng trên các mặt báo như những điển hình thành đạt,
đóng góp cho sự thay đổi của xã hội mà trước hết là những đô thị. Theo đó,
không gian ẩm thực sang trọng đáp ứng nhu cầu cho giới này trở lại trăm nhà đua
tiếng. Người ta thấy hình ảnh những cà phê vỉa hè sang trọng ngày xưa xuất hiện
trở lại trên các vị trí đắc địa của vỉa hè trung tâm Sài Gòn với một bầu không
khí khác. Tính chất hào hoa lịch lãm pha trộn màu sắc trí thức với những giai
thoại chính trị, thông tấn đầy huyền thoại năm xưa đã mất đi, thay vào đó, là
ít nhiều sự đỏm dáng, lịch lãm theo cung cách giao thiệp sòng phẳng của tinh thần
năng động thời mới. Không khỏi vô can với căn bệnh nhà giàu mới – chứng khoa
trương phù phiếm, đẳng cấp sành điệu chọn những không gian quán sang vỉa hè làm
“đất diễn” cho nên, những terrace, vỉa hè dưới những tòa nhà chọc trời ở trung
tâm được xem là chốn lả lướt phù phiếm của giới chân dài ưỡn ẹo vắt vẻo bên các
đại gia tóc muối tiêu chải keo bóng mượt đi xe bạc tỉ (có nhiều thi sĩ viển
vông gọi đây là dạng quán “cà phê nhan sắc”).
Vì thế, những ai cố chấp, vào Highlands, Gloria Jean’s
coffee, Coffee Bean, NYCD trên vỉa hè đường Đồng Khởi, Nguyễn Du hay góc biệt
thự Crêperies & Café trên đường Hàn Thuyên hôm nay, cố tìm chút khí hậu trí
thức vàng son Sài Gòn thời trước 75 thì chỉ chuốc thêm nỗi ngậm ngùi, chẳng
khác Từ Thức về ngậm ngùi cố xứ. Tốt nhất là cứ hãy học cách yên thân nhấp ngụm
cà phê kiểu Mỹ giữa cái nóng ba lăm độ vào sáng mùa hè và rửa mắt bằng mười ba
chân dài trong một giờ. Giữa quán xá đường phố dạng này và sàn catwalk đôi khi
hư thực khó mà phân biệt được!
Trong khi đó, đúng là quan nhất thời dân vạn đại, đã khiêm
cung mặc vào thân phận bơ vơ hoang trống của kẻ nhập cư, cà phê cóc chung thủy
với những thượng đế muôn đời tìm đất hứa. Cùng với nhạc boléro, cà phê cóc vỉa
hè bình dân có mặt hồn nhiên và ngẫu hứng bất cứ lúc nào những thượng đế nhập
cư có nỗi niềm.
Có thể tả ngắn gọn vào nét đặc trưng của loại quán này: ghế
nhựa thấp, bàn dã chiến, không bảng hiệu, không toilet để giải quyết những ẩn ức
trong cơ chế bài tiết của hai quả thận. Cà phê cóc không cần giấy khai sanh,
tên gọi, bởi nó là đứa con ngỗ ngược và hoang dại trong cuộc hôn phối giữa một
nét ẩm thực văn hóa cà phê của thực dân du nhập với sinh hoạt quán nước dân
gian trong cộng đồng nông nghiệp của người bản xứ. Cộng gộp của bản tính mạnh mẽ
ưa phiêu lưu và chinh phục của người cha dị chủng với sự giản dị trữ tình nhưng
đầy tùy hứng thôn dã của người mẹ xuất thân thôn nữ, đứa con ấy đủ sức mạnh và
sự nhạy cảm để thích ứng phố xá với một phẩm chất dấn thân, chịu chơi, bản năng
đến độ không sự duy ý chí nào có thể “dọn” được. Một lai lịch đầy tính thơ và
không lý gì nó không đẻ ra những nhà thơ băn khoăn tìm sinh phần hư vô của mình
trong cái nghĩa lý lãng xẹt hay rối bời của đô thị. (Chắc rằng, trong tương
lai, những người soạn lịch sử thơ ca đương đại Việt Nam rồi sẽ nhắc đến những
không gian cà phê cóc là nơi khai sinh của những nhóm “thơ vỉa hè” đầy độc lập,
hoang mang nối dòng hiện sinh và đa nguyên bị đứt quãng trong tức tưởi. Hầu hết
các tên tuổi thơ ca, nghệ sĩ vỉa hè Sài Gòn thời kỳ này đều có xuất phát điểm
khá giống nhau – người nhập cư, “lập ngôn” và “lập nghiệp” trong thời kỳ lao
đao với công cuộc mưu sinh khốc liệt ở đô thị – hẳn thế, có vẻ như thơ luôn ở
cùng những tâm hồn có chút thôn dã chân thật và tinh thần… rất boléro!)
Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng vào những năm 80, 90
của thế kỷ XX và kéo dài sang thập niên đầu thế kỷ XXI đã làm thay đổi đời sống
nông thôn. Trong khi đô thị đang kiêu hãnh tưởng mình nuốt chửng bờ xôi ruộng mật,
thì gốc rễ nông thôn đang thực hiện quyền uy của mình,sàng lọc và âm thầm áp đặt
những phẩm tính văn hóa lâu đời nhằm quy định trở lại hình ảnh của đô thị một
cách sống động, tự nhiên và hoang dã nhất. Và thế giới đủ phẳng đến độ khiến
cho cái đòn (và thói quen ngồi đòn gỗ) ở những quán nước nông thôn một hôm lột
xác mà biến thành những chiếc ghế nhựa xanh đỏ được đặt dọc các hè phố cho người
đời thủng thẳng vắt chân đọc nhật trình, ngắm phố xá hay tán dóc đủ thứ chuyện
trên đời.
Quán cóc được sinh ra cho nhiều giới, nhưng có lẽ đa phần đối
tượng khách hàng là những thị dân nhập cư nhàn rỗi, những người mà trong quá
trình cọ xát với nhịp sống đô thị, đã luôn sẵn cơ chế đề kháng lại nguy cơ
thương tích tâm lý, những cú sốc văn hóa mà đô thị mang lại. Họ có nhu cầu dừng
chân ngồi lại, cần những khoảng nghỉ giữa đường ngược xuôi mưu sinh, muốn bảo
dưỡng tâm hồn thơ mộng viển vông hay thể hiện cái nhu cầu khác hết sức mạnh mẽ
– giao cảm tình thân khi nhịp sống bạc mặt có thể khiến biết bao mối quan hệ trở
nên đóng băng hay rạn nứt…
Rất dễ để lý giải rằng, vì sao những kẻ sành điệu quán cóc lại
rất thích những góc quán tĩnh lặng mát mẻ, ở những góc đường đẹp, đủ một khoảng
cách với dòng đường chính, nhưng lại đủ một tầm nhìn để nhận thấy sự náo nhiệt.
Cái tâm thế vừa sẵn sàng tách ra bên lề để tìm lại một chút riêng tư, vừa sẵn
sàng lao vào, thoát ra khỏi dòng chảy náo nhiệt hỗn độn vừa lại đày đọa bản ngã
bằng cách chìm đi trong hỗn loạn ngờm ngợm những chân dung kia… Và đó là trạng
thái “cóc-coffee-citizen”. Và, điều này cũng gần với sự trầm lặng nơi những cá
nhân phản tư. Ở một thái cực khác, hài hước thay, nó lại rất gần với sự lắm điều
nhiễu sự, thích đám đông và có thể ngồi hàng giờ chỉ để chém gió (nói bốc trời)
khẳng định bản thân, phóng xả ảo tưởng. Dù là ở thái cực nào, thì quán cóc cũng
sẵn sàng mở cửa đón khách với một sự gánh gồng hao hơi tổn sức. Khi mà sự bình
đẳng trong đời sống xã hội càng hiếm hoi thì giá trị bình đẳng mà ly cà phê cóc
vỉa hè có thể mang lại càng thỏa mãn và hấp dẫn với nhiều người. Thân phận ly
cà phê (không xác định được thành phần cà phê xay hay bắp rang phụ gia), thân
phận quán (không tên, chủ quán khó xác định lai lịch, nay ở chỗ này có thể mai
bị tuýt còi đi nơi khác) với thân phận khách đến (như đã nói, những kẻ đang trục
trặc bản thể trước đời sống tốc độ ồ ạt và đầy rẫy phi lý vô phương giải mã).
Điều này lý giải việc rất nhiều người ngồi quán cóc cho rằng
họ không quan tâm đến chất lượng thức uống hay sự hợp pháp của cái chỗ ngồi. Thực
ra, về mặt tâm lý tiêu dùng, họ đang mắc vào cái bẫy của sự phi lý trí, theo
cách nói của Dan Ariely (một trong những thứ tâm lý đặc thù ở những không gian
thị trường tự phát). Tính phi lý trí thể hiện ở chỗ, khách hàng mua không gian
không thuộc sở hữu của người bán. Việc giao dịch mua bán là một quá trình bắt
tay đồng tình trong việc cùng nhau chiếm dụng không gian công cộng. Sự lây lan
của tính phi lý trí liên hoàn này nghiễm nhiên được khỏa lấp bằng nguồn khoái cảm
không hẳn từ giá cà phê, thức uống rẻ mà từ cảm giác thoải mái được tìm thấy một
“góc sống”, “góc hít thở”, “chốn dừng chân” bình dị, thị dân nhiệt thành trong
bạn sẽ nhắm mắt hưởng thụ cái khoái cảm của kẻ tìm thấy một chỗ bên lề đời sống,
bên lề mọi quy tắc hay khế ước mới, để được tự do tự tại sống cho mình, cho những
người có hành xử tương đồng.
Những cái đầu vẫn chụm lại bên chiếc bàn nhỏ. Những bờ ranh
trong công viên bạ bệt la liệt người. Những câu chuyện dài bất tận. Thế rồi một
hôm, tôi nhận ra cái anh chàng khó tính ưa vặn vẹo lý sự trong tôi đi vắng. Tôi
khuấy cái thứ nước đen loãng sủi bọt trong ly đá viên đang tan vội vàng và chợt
thấy có một điều kỳ thú mới lạ trong cảm nhận về cà phê cóc. Tôi nhận ra đùi
các cô gái đẹp trước mặt đều trở nên dài hơn ở góc nhìn thấp này. Chi tiết đắt
giá đó khiến tôi nhớ đến những bộ phim độc đáo của đạo diễn lừng danh Nhật Bản
Ozu Yasujirō, người luôn chọn góc máy thấp, ngang tầm ngồi của người Nhật để kể
chuyện thế giới. Góc máy và tiết tấu chậm và không gian tĩnh đó đã làm nên một
tính cách điện ảnh đặc biệt khó lẫn. Đứng ở tư duy điện ảnh, tôi lại nhớ về tầm
nhìn từ quán cà phê cóc và tự hỏi, nếu chọn một góc máy cho quán cà phê cóc Sài
Gòn, thì chúng ta cho góc máy ở độ cao nào? Vì dụng ý nghệ thuật gì, thông điệp
ra sao ngoài việc nhìn thấy các cô gái đi ngang qua đều có những cặp chân rất
dài? Có một ý niệm hay mỹ cảm nào đó nằm bên dưới cái quyết định phi lý trí khi
chúng ta tìm đến đây, ngồi miên man với một cuộc sống không được phép chậm lại
và cũng không hẳn là nhanh, nơi mà chúng ta luôn thỏa hiệp và luôn kháng cự,
luôn chống chọi mà lại luôn thích nghi. Góc nhìn đời sống từ vị trí này sẽ khác
gì khi ta đang nhập vào những vai trò khác trong đời sống? Vì sao người ta có
thể đọc nhật trình rồi ngôn luận rất tự do ở quán cóc lại im thin thít và lặn mất
tăm khi đứng trước những khuất tất trong công việc chỉ sau đó ít giờ?
Câu hỏi đặt ra từ đầu, liệu ngồi cà phê cóc để bàn về chính
cà phê cóc thì gọi là gì, có lẽ sẽ không được trả lời một cách thấu đáo theo kiểu
cách của những người cố choàng lên nó một lớp áo văn hóa hay bản sắc. Bởi, nó
chỉ đơn giản là một sự chuyển hóa thói quen từ không gian sống này sang không
gian sống khác, từ phương thức sống này sang phương thức sống khác trong một xã
hội có năng lực tự phát và phi lý trí cao.
Bài viết này có lẽ không được lòng lắm với những ai coi thú
cà phê cóc là một bản sắc của thị dân văn minh và cố gắng xóa đi dấu vết của những
mối liên hệ gốc gác nông thôn (nếu có). Nhưng, cũng như cái huyễn tưởng về
không khí dân chủ và trữ tình mà không gian quán xá mang lại, đây chỉ là một tiếng
nói duy ý chí của một kẻ dở hơi, chọn một góc nhìn thấp bên lề dòng chảy rối mù
nhộn nhịp kia chỉ để chong mắt tìm một cặp đùi trắng nõn nào đó đầy khiêu khích
sẽ bước ngang qua.
Mọi cặp đùi, đơn giản, đều có thể dài. Đó là trải nghiệm mà nền
cộng hòa phi lý bình dân của cà phê cóc có thể cho không biếu không chúng ta.
Khổ dâm hay bạo dâm?
Gần đây, những cuộc tranh luận về vai trò trí thức diễn ra
khá gay gắt trên mạng. Các vụ “đụng độ” xảy ra với những tên tuổi đáng kính
trong học giới; cũng chỉ xoay quanh vấn đề muôn thuở: trí thức cần dấn thân, phản
biện, thúc đẩy, cải tạo xã hội hay chỉ nên tập trung cho giá trị thuộc về
chuyên môn?
Nếu đi tìm đáp án đúng, sai, phải, trái trong các cuộc tranh
luận, sẽ là hoài công vì nó phụ thuộc vào hệ giá trị khách quan của người nhìn
nhận (một khi trí thức không phải là một khái niệm đóng kín hay được xác lập bởi
các chỉ số, tiêu chí hay danh vị nhất định mà là một phẩm giá).
Hai câu hỏi cần thiết được đặt ra là: 1/ vì sao những cuộc
tranh luận về chủ đề trên lại diễn ra trong tình hình hiện nay?; 2/ điều gì làm
cho các cuộc tranh luận bị đẩy đến mức độ gay gắt căng thẳng đến nỗi có cả tình
trạng tấn công tiểu sử, xúc phạm danh dự và nhân phẩm lẫn nhau – điều mà, lẽ ra
không nên có trong các diễn đàn về… trí thức?
Trước hết, dù theo “phe” này hay “phe” kia, thì trong những
cuộc tranh luận cũng cho thấy, thành phần có tri thức trong xã hội thường trực
tự vấn về lương tâm và trách nhiệm của mình trước bản thân, sự nghiệp và đời sống.
Albert Camus có lý khi cho rằng: “Trí thức là người mà trí óc
họ quan sát chính nó”. Quan sát trong cái nghĩa, xử lý nhận thức được những gì
đang diễn ra bên trong (chủ quan) và hẳn là để sáng sủa trước những gì đang diễn
ra bên ngoài (khách quan). Ở mục từ Trí thức (intellectuals), Từ điển Xã hội học
Oxford định nghĩa: “Trong các xã hội hiện đại, trí thức không làm thành một
nhóm được xác định rõ ràng. Theo truyền thống, trí thức có vai trò là những nhà
tư tưởng hay những người tìm kiếm chân lý. Trong các xã hội đơn giản, đó có thể
là những thầy tu hay pháp sư. Ở châu Âu, từ thời Phục hưng cho đến thế kỷ XIX,
trí thức là những người sáng tạo văn hóa cao cấp, là triết gia và các nhà phát
kiến khoa học của thời đại đó”.
Sự phân hóa có thể đến từ nhiều nguyên do. Nhưng có thể hiểu
nôm na: đó có thể là tính chất nảy nở trên cơ sở một bối cảnh độc lập tư tưởng,
tự do học thuật và sáng tạo để tạo nên sắc thái đa dạng, mang hàm nghĩa dân chủ,
để phân biệt với một dạng “phân hóa” nguy hiểm khác – bị manh mún, rã đám, bè
nhóm nằm trong ý đồ chia để trị của bàn tay quyền lực chính trị (thường thấy ở
những quốc gia mà nền chính trị thiếu minh bạch, nhà cầm quyền lo sợ “sức ảnh
hưởng của người có tri thức” gây khó cho họ trong việc kiểm soát đại cuộc).Trong
trường hợp thứ hai, sự kiểm soát hoạt động học thuật cho đến truất hữu tiếng
nói độc lập của những người có hiểu biết, có sức ảnh hưởng xã hội và học giới
đã dẫn đến hậu quả là sản sinh ngày càng nhiều những trí thức sống trong tình
trạng bị tước bỏ phẩm giá. Trong một thiết chế thiếu thiện chí, họ nhìn thấy rõ
sự bất lực của mình trong phát triển chuyên môn cũng như vai trò xã hội.
Chúng ta thường nói đến từ xã hội tri thức, nhưng trong xã hội
tri thức thì người trí thức đứng ở đâu? Cuốn Từ điển xã hội học nói trên cũng
trích dẫn hai ý của Daniel Bell trong cuốn The coming of post industrial
Society (Sự xuất hiện của xã hội công nghiệp, in 1964) và Alvin Gouldner trong
The new class and the future of intellectuals (Giai cấp mới và tương lai của
trí thức, in 1981) như những dự báo và đề xuất cho vai trò trí thức trong xã hội
hậu công nghiệp khi cho rằng một “xã hội tri thức” trong tương lai sẽ trao cho
trí thức một vị thế trung tâm và danh giá.
Bên cạnh tín hiệu vui là những người có học không ngừng quan
sát “não trạng”, vai trò của mình với học thuật, xã hội, thì sự thiếu độc lập,
tan rã, thành kiến, nghi kị và gây sát thương lẫn nhau trong tầng lớp có tri thức
cũng cho thấy một thứ “thời tiết” không mấy vui. Càng nhìn vào các cuộc tranh
luận về vai trò trí thức gần đây, càng nhận ra ở những người lớn tiếng đã có sự
chuyển hướng từ “mặc cảm đời thừa” sang hứng thú lập ngôn, hay tìm cách giải tỏa
những dày vò bổn phận cá nhân sang phỉ báng hướng tha. Mặt khác, nhiều cuộc
tranh luận không được đặt trên nền tảng học thuật mà chỉ xoay quanh những thành
kiến cảm tính. Hàm lượng thuốc súng vẫn cao hơn sự sáng sủa hay giải pháp. Đó
là môi trường đục nước béo cò cho những kẻ thừa hăng hái và háo danh, sẵn sàng
lao vào tìm một vị thế “trung tâm và danh giá” trong giới tinh hoa...
Trong “thế cuộc” hỗn loạn đó, sự phô diễn vai trò được đặt nặng
còn mục đích tìm một lối ra, vì nhiều khó khăn, thử thách và sự dấn thân nên bị
bỏ rơi. Những “ẩu đả” rốt cuộc chỉ đem lại cho người tham gia một sự thỏa mãn
“khoái cảm trong đau đớn” thông qua việc gây tổn thương cho người khác và chờ kẻ
khác làm tổn thương mình.
Một chuyên gia kinh tế đã tham gia nhiều diễn đàn trí thức đã
thời gian qua đã đúc rút một ý nghe ra rất hài-kịch-đen, rằng: xét về khía cạnh
giải tỏa ẩn ức, tìm thấy khoái cảm thỏa mãn một cách lệch lạc, thì những trí thức
trên có nhiều biểu hiện rất giống những kẻ mắc chứng khổ dâm (masochism) đồng
thời bạo dâm (sadism)!
Đó là hậu quả ẩn ức khi “tri” nghịch với “hành”.
Chịu thôi. Lâu lắm rồi, người hô hào thì nhiều, mà người sống
chết như Soctates hay Emile Zola thì nào có thấy đâu. Thuốc độc và giá treo cổ,
cũng không phải là thiếu. Đơn giản là người ta thích làm tổn thương nhau hơn là
chọn chúng.
Cuộc trò chuyện trên yên xe máy
(từ khoảng thập niên 90 thế kỷ XX
đến những năm 20 của thế kỷ XXI)
“Người Việt Nam, chỉ cần làm cho họ bị tràn ngập trong những
chiếc xe gắn máy, là đủ!” – vào những năm 70 của thế kỷ XX, một nhà báo của tờ
Time thường trú tại Sài Gòn đã tuyên bố như vậy.
Chi tiết trên được Jean – Claude Pomonti của tờ Le Monde
(Pháp) tình cờ nhắc lại trong cuốn sách Một người Việt Nam thầm lặng, viết về
ký giả, điệp viên cộng sản Phạm Xuân Ẩn.
⚝ ✽ ⚝
30 năm sau thống nhất đất nước, 19 năm hậu Đổi Mới, Hans
Kemp, nhiếp ảnh gia độc lập người Đức đã đi khắp lãnh thổ có hình chữ S và
nghiên cứu phương thức sử dụng xe hai bánh của người Việt. Trong cuốn sách ảnh
có tên Bikes of burden (tạm dịch: Gánh nặng của xe cộ, NXB Visionary World Ltd,
Hongkong, 2005) gồm 160 trang ghi lại 148 tình huống cho thấy hình ảnh mang dấu
ấn đặc thù của đời sống xã hội Việt Nam: xe hai bánh (xe gắn máy xe đạp) có mặt
hối hả khắp nơi, từ ngõ làng quê đến đường phố lớn; là những phương tiện lưu
thông, chuyên chở, mưu sinh và là biểu trưng cho tài sản, sự sung túc của người
dân. Chiếc xe hai bánh như một ẩn dụ về đời sống kinh tế với tham vọng cơ giới
hóa, công nghiệp hóa từ một vạch xuất phát mang tính thô sơ. Thế nhưng, con người
trong ảnh của Hans Kemp, dù lấm lem lấm luốc đến đâu, cũng đều sáng lên nụ cười.
Về cái cười “khó hiểu” của người Việt, nhiều học giả đã phân tích khá thấu đáo,
cho thấy khi dân Việt Nam cười, không hẳn là họ đang vui sướng hay biểu thị sự
hài lòng về đời sống đâu. Nếu chúng ta gán sự hạnh phúc vào những nụ cười và những
giọt mồ hôi, thì là bởi… chúng ta đang lạc quan thái quá đó thôi.
Vài năm sau, tại Việt Nam, hai tác giả Lê Ngọc Huy, Vũ Ngọc
Dũng đã thực hiện 130 bức ảnh trong cuốn sách mang tên Bikelihood – Mưu sinh với
lời giới thiệu nói khá rõ “chân dung nhân vật chính”: “Số phận chiếc xe máy
luôn gắn chặt với thân phận chủ nhân của nó. Không ít người đã trút hơi thở cuối
cùng bên chiếc xe. Thân thuộc là vậy, nên chiếc xe không còn là vật vô tri vô
giác. Người ta san sẻ vào đó biết bao tình cảm. Nên mỗi chiếc xe đều có một tâm
hồn. Và mỗi chuyến hàng nặng trĩu cũng chính là gánh nợ đời trĩu nặng. Việc sử
dụng xe máy ở Việt Nam có thể được coi là một thứ nghệ thuật: nghệ thuật chất,
buộc hàng, nghệ thuật chạy xe, và cả “nghệ thuật” chọn đường đi sao cho nhanh
và an toàn nhất, lại không bị phạt vì vi phạm Luật giao thông. Bộ sách ảnh chủ
đề Bikelihood với 130 hình ảnh lại mang đến những cung bậc cảm xúc khác nhau về
số phận con người khi phải đối diện với nỗi lo cơm áo”.
Năm 2009, trong vai một khách du lịch bụi, Zuli Zeh, nữ văn
sĩ Đức sau một cuộc hành trình xuyên Việt, đã viết: “Mặc dù ở đây người ta có
thể làm mọi việc khi đi xe máy, dễ dàng như ở trên tàu điện ngầm vậy, nào là đọc
báo, ăn uống và tán chuyện, nhưng người ta vẫn luôn còn thừa một ngón tay để nhấn
còi: tiếng còi là âm thanh tự nhiên của dân đi xe máy ở đây, giống như tiếng
hót là âm thanh tự nhiên của loài chim vậy. Tiếng còi xe kết hợp với sự mệt mỏi,
say máy bay và sốc khí hậu (đây không phải không khí nữa, mà là một nồi súp
nóng!) khiến tôi rơi vào trạng thái mê man, trạng thái mà ở đó sự khác biệt giữa
sống và chết chẳng còn ý nghĩa gì nữa, nó giúp một khách du lịch như tôi có thể
tham gia vào giao thông ở đây, nói rõ hơn: bị tham gia vào, mà không đến nỗi
phát hoảng lên vì sợ. Tôi giống như khúc gỗ trôi trên sông, và tôi cứ để mình bị
cuốn đi như thế. Dòng nước sẽ tự biết cách chảy mà không nghiền nát tôi”.
Bức tranh đời sống con người Việt Nam hiện đại được một ký giả
người nước ngoài thâu tóm khá hài hước trong một cái tựa báo: Việt Nam ăn, ngủ
và mơ trên xe máy!. Còn một cây bút viết tản văn người Việt hằng ngày lăn lộn
trong dòng xe gắn máy Hà Nội thì tự trào đại ý, nếu vẽ chân dung người Việt hôm
nay, thì nên hí họa anh ta có đầu người, nhưng thân hình xe máy.
Cùng với tivi (mà tôi đã đề cập trong một bài viết khác trong
tập sách này), những chiếc xe máy Made in China đã làm thay đổi diện mạo làng
quê Việt Nam những năm 90 của thế kỷ XX. Tôi chọn thời điểm này về sau bởi hai
lý lẽ: chủ quan, nắm bắt những gì mình trải nghiệm được; khách quan: sự chuyển
đổi mô hình kinh tế xã hội từ đóng kín sang mở cửa đã làm thay đổi phương thức
vận hành đời sống, tư duy về phương tiện lưu thông, sản xuất…
Sau đổi mới, mở cửa kinh tế, làng quê Việt Nam phát cuồng lên
bởi tiếng động cơ và còi xe máy. Tốc độ sống diễn ra nhanh hơn. Người Việt bắt
đầu quen gắn khái niệm hạnh phúc với những điều kiện vật chất nhất định. Người
giàu, kinh doanh được coi trọng. Cơ hội làm ăn mở ra cho tất cả mọi người. Tất
cả trở nên hối hả. Ai nhanh thì sẽ có dịp mở mang hưởng thụ, nắm bắt nhiều thời
cơ đổi đời. Thời điểm này, người kinh doanh tính được mức độ được mùa nông sản
bằng con số xe máy Tàu bán ra tại một đại lý trong vùng. Người nông dân nhiều
nơi xem cái kết có hậu của một mùa màng đổ mồ hôi sôi nước mắt nằm ở cảm giác
được ngồi trên yên chiếc xe máy mới cáu lướt qua làng trên xóm dưới. Nghĩa là, ở
nông thôn, làm có của ăn của để thì người ta nghĩ ngay tới chuyện “tậu” một chiếc
xe máy. Ba việc trọng đại trong đời một nông dân truyền thống là “tậu trâu”
(sau đó mới đến lấy vợ và làm nhà) thì bấy giờ được cập nhật hóa thay bằng “tậu
xe máy”. Xe máy là hình ảnh phóng chiếu sự thành công, dư dả, biết làm ăn và là
biểu tượng của sự sung túc.
Thời kỳ này, những anh hùng bặm trợn “nồi đồng cối đá” như
Simson của Đông Đức hay Minsk của Uckraina vẫn còn phóng vi vu chất trên mình một
lý tưởng duy nhất: chủ lực trong chuyên chở hàng hóa. Những chuyến hàng chở cá,
muối từ biển lên các phiên chợ miền núi, cả những chuyến thồ gỗ lậu từ trên mạn
ngược về trung du thường nhật không thể thiếu tiếng kéo ga rè máy của hai “gã”
dãi dầu phong trần, vạm vỡ một cách… lem luốc này.
Có tâm lý lạ lùng trong thời này, là nhu cầu xe máy có gắn bộ
phận đề máy được ưa chuộng. Cái nút khởi động máy dẫn bằng điện bình ắc-quy
đánh trực tiếp lên bu-gi là mấu chốt mọi vấn đề. Xe gắn bộ đề được xem là hiện
đại, một bước rời xa “tư duy thô sơ” của những chiếc xe “nghĩa địa” (mỗi lần muốn
nổ máy phải nhổng đít đạp) của “thời đại” cũ (tức là bốn, năm mươi năm về trước).
Đó là lý do vì sao những chiếc Dame, Cub, Lambretta, kể cả Vespa vàng son một
thuở được nhiều gia đình khá giả thay bằng những chiếc Dream Tàu màu nho chín
hay City giò gà. Những chiếc Vespa hay Honda 67 thời này được bán tống bán tháo
với giá bèo cho cánh chuyên doanh lạc-xoong, những nàng Dame kiều diễm một thời
thì bị đem ra thồ hàng, không sơn phết, những chiếc Super Spring bị treo lên
trong mấy nhà kho để đôi khi gợi chút cảm giác quyến luyến bồi hồi, rồi phải đợi
đến gần 20 năm sau thì mới tìm thấy cái kết có hậu trong những trào lưu chơi xe
cổ (câu chuyện này sẽ được nhắc lại vào hồi sau của bài viết).
Thời xe máy Tàu (made in China) bỗng chốc quý giá hơn vàng vì
ngoài việc khẳng định sức mạnh của cải, vị thế đẳng cấp gia đình, nó còn là
phương tiện di chuyển, mở mang tầm hoạt động (làm ăn, buôn bán, giải trí, thăm
nom) và nhất là có thể đẻ ra tiền nhờ sự linh hoạt tiện dụng. Một chuyện vui,
nhiều làng quê thời đó, mấy chàng trai đi tán gái ít nhiều bị ám ảnh câu này:
“Trăm lời anh nói không bằng chút khói Đờ-rim”. Đờ-rim, tức, Dream, có nghĩa là
Giấc mơ, cũng là tên một loại xe khá thịnh hành vào thời kỳ đầu của trào lưu mở
cửa. Giấc mơ của các cô thôn nữ đã bắt đầu nhuốm màu thực tế khi tâm lý cộng đồng
phóng chiếu sự phồn thịnh, sung túc vào chiếc xe máy. Chỉ vài năm sau, bên cạnh
Dream còn có Wave với thiết kế nữ tính và lả lướt thích hợp cho nữ giới có thu
nhập trung bình.
Không lâu sau, thì xuất hiện bản Xe đạp ơi của Ngọc Lễ với bản
phối cho guitar với hợp âm la thứ (Am), điệu slow suft chậm rãi, gợi những vòng
quay buồn bã của chiếc xe đạp hôm qua đang trở về trong tâm tưởng. Bài hát này
thành công với giọng ca của Phương Thảo mộc mạc, có chút hơi hướm digan, tự do,
xa vắng, truyền đi một nỗi bồi hồi mê mải. Ca từ bài hát không tấn công trực tiếp
vào tinh thần tốc độ, cũng không nỡ chối từ thủ phạm đỏm dáng thời mới, nhưng
thiên về nghi thức tưởng niệm hết sức tử tế với người tình xe đạp trung thành
cùng ta đi suốt thời khốn khó hôm qua. Cái nhìn ngoái lại này sẽ làm cho nhiều
anh chàng nghèo thấy mình được ủi an. Hẳn nhiên, nhiều cô gái thức thời cũng được
dịp trút bỏ phần nào cảm giác day dứt khi quyết liệt chọn lựa tốc độ chứ không
phải một thứ gì đó đáng yêu nhưng nhàm chán và lạc thời – “quay đều quay đều
quay đều” – ngày này qua tháng khác.
Rốt cuộc thì, người ta vẫn hát rất da diết “Xe đạp ơi đã xa rồi
còn đâu” mà vẫn cưỡi trên những Dream nho, City đỏ, Wave xanh phóng vi vu vào một
viễn cảnh tương lai phồn vinh. Điều tưởng chừng nghịch lý ấy xem ra có lý khi
trên giảng đường, trong các giáo trình triết học nhập môn, người ta vẫn làm cho
sinh viên niềm tin đơn giản và máy móc rằng, phủ định giải quyết mâu thuẫn là động
lực của phát triển.
Người Việt Nam phóng vào thiên niên kỷ thứ 3 trên những chiếc
xe máy đời mới, hầu hết là sản phẩm của Nhật Bản và Trung Quốc, một số là “hàng
nghĩa địa” của Pháp, Ý và bắt đầu lác đác một số lắp ráp tại Việt Nam, tạm gọi
là “xe liên doanh”.
Tác giả Nguyễn Mỹ trên tờ Thể thao Văn hóa, số ra ngày
16.3.2012 có bài viết nhìn lại “Xemayvietnam: Ngạc nhiên chưa?” mô tả chuyện
dân Hà Nội thường ra đường đi “bát phố” cuối tuần bằng xe máy. Cả gia đình vợ
chồng con cái đèo trước đèo sau trên một chiếc xe và lãng du khắp phố phường
như một hình ảnh tượng trưng cho cuộc sống vật chất đủ đầy sung túc, hài hòa và
hạnh phúc. Nhưng tác giả bài báo cũng băn khoăn về độ an toàn khi nhiều hãng xe
không nắm bắt được tập quán “du ngoạn gia đình” trên xe máy của người Việt Nam,
nên thiếu chỗ ngồi an toàn cho trẻ em.
Chừng chục năm sau, thời đại công nghệ số bùng nổ, biểu tượng
di chuyển cũng phải mang hơi hướm công nghệ.
Vậy là trên vương quốc xe gắn máy xuất hiện một cuộc “cách mạng”
khác: những Dream, Wave, City hay Jupiter một thời nay đã trở nên cục mịch, và
tới lượt, bị “phủ định biện chứng” bởi những biểu tượng đến từ thiên đường công
nghệ thông tin, đầy dấu ấn chủ nghĩa thời trang. Lúc bấy giờ, cái câu thành ngữ
của cô thôn nữ được chỉnh sửa một chút cho thức thời “Ngàn lời anh nói không bằng
làn khói @”. Cần chú thích ngay: @ là một loại xe tay ga được thiết kế khá hiện
đại, kiểu dáng đồ sộ hơn so với chiếc Dream và dĩ nhiên, có thể giúp người ta
lướt vào tương lai êm hơn xe điều khiển máy bằng cần số. Cuộc chuyển giao từ xe
máy giò đạp sang bộ đề là cuộc “cách mạng thứ nhất”, và từ bộ đề cần số sang bộ
đề tay ga là “cuộc cách mạng thứ hai” đầy lẫm liệt huy hoàng. Nó đánh dấu bước
chuyển quan niệm sử dụng từ việc coi chiếc xe đơn thuần là phương tiện, dụng cụ
(với nghĩa triết học là “sự nối dài của thân thể con người”, “làm cho khả năng
và phạm vi hoạt động của người ta rộng ra hơn”) sang tiêu dùng gắn với hưởng thụ,
thể hiện đẳng cấp (“sự tiêu dùng biểu lộ được sự độc lập, tự do, vị trí làm chủ
của con người”).
Chỉ dăm năm sau, dòng xe tay ga cho người có thu nhập cao, biết
hưởng thụ cuộc sống, bên cạnh @ có thể kể tới các nhãn hiệu mới: Attila, Vespa
LX, Click, Lead, Air Blade, Dylan, Nouvo… bắt đầu đổ bộ vào Việt Nam, làm tan
chảy mọi con tim đang nôn nao nhịp đập hướng ngoại, open mind!
Một điều lý thú là khi quan sát cuộc chuyển tiếp này, chúng
ta hãy chú ý về mặt nhãn hiệu. Có lẽ nắm bắt được tâm lý tiêu dùng, văn hóa sử
dụng xe máy mà nhiều công ty đã rất chú trọng trong việc đặt tên cho các dòng
xe. Một thời xã hội từ nông nghiệp “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” bước sang vùng đất
hứa của công nghiệp hóa, xe máy là dụng cụ, đi lại, vận chuyển, thì có thể bắt
gặp những nhãn xe mang thông điệp thâu tóm tâm lý sống: Giấc mơ (Dream), Làn
sóng (Wave), Chiến thắng (Win), Future (Tương lai), City (Thành phố)… Bước sang
thời biểu hiện đẳng cấp chiếm lĩnh “thiên đường trần thế” của chủ nhân, cho thấy
sự sung túc, thành đạt, thời trang, đẳng cấp, tinh thần thời đại, chúng ta bắt
gặp trên đường phố, đường làng những: Lead (Dẫn Đầu, Lãnh Đạo), hay @, Click (gắn
với công nghệ máy tính) hay những nhãn xe mĩ miều như Elizabeth, Victoria,
Piaggio Fly dành cho những cô gái yêu văn Marc Levy đến quý bà trước ngưỡng sồ
sề đang tiếp thu xuất sắc tinh thần hưởng thụ kiểu Sex and the city.
Các công ty quảng cáo xe máy cũng nắm bắt tâm lý nao núng “hội
nhập” bằng cách gắn sản phẩm với các không gian đẹp, sang trọng, lãng mạn ngọt
ngào như đường phố Paris, London, Venice. Cô gái váy ngắn chân dài cưỡi trên
chiếc Elizabeth lượn một vòng trước nhà thờ Đức Bà Sài Gòn có thể huyễn tưởng rằng
mình đang ngập chìm trong cảm giác vi vu lãng mạn ở một vỉa hè sang trọng nào
đó ở Paris. Chàng trai cưỡi chiếc SH hay Dylan đi dạo hồ Tây hóng mát cùng người
tình tận hưởng sự sảng khoái như chàng cảnh sát chìm Collin Farrel hào hoa đang
lái xuồng chở bà trùm Củng Lợi trong phim Chuyên án Miami. “Lượn” thể hiện đầy
đủ nhất bản chất của một cuộc phô trương đẳng cấp và sự “biết sống”. Còn nữa,
những nhóm phượt với những chiếc xe máy “cùi bắp đôn nòng” dọc ngang, vượt
thoát khỏi cái chật chội bức bối của những nồi lẩu đô thị để kết nối với thiên
nhiên, trải nghiệm cảm giác phong sương bụi bờ. Một hình ảnh dấn thân mới thấp
thoáng ở đó nguồn cảm hứng từ Che!
Nông thôn bị xâm nhiễm bởi đám bụi đô thị hóa. Những anh
chàng nông dân lực điền không cam phận cù lần lãng quên nơi xó rẫy. Đất đai sản
xuất bị thu hẹp – hậu quả của những dự án bất chấp sinh thái hay địa văn hóa. Bảo
tồn không gian làng quê đặc thù là những mỹ từ không tưởng chỉ có trong phát
ngôn của các chuyên gia văn hóa hoài cổ. Giàu nghèo không còn là khoảng cách được
hình dung bằng những làn ranh mà là trùng trùng hố thẳm. Tệ nạn, sự thực dụng,
tâm lý thích phù phiếm của người đô thị nhiễm vào làng quê.
Nông thôn xuất hiện những cuộc chạy đua phương tiện hụt hơi.
Trong một điều tra đường dây thanh niên bán thận sang Trung Quốc, tôi xót xa nhận
ra đã có rất nhiều thanh niên quê thất nghiệp ở miền Tây đã rủ nhau sang Quảng
Châu bán bớt một trái thận để kiếm bốn năm chục triệu đồng chỉ để mua một chiếc
xe tay ga. Người này vạch vết sẹo trên lưng chứng minh độ an toàn của “phi vụ”
để thuyết phục người khác đi vào đường dây. Cứ vậy. Xe tay ga nhiều thêm và những
quả thận khỏe mạnh thì ít lại.
Cuộc trở lại của những dòng xe cổ “dung nhan một thời” cũng
góp phần thay đổi diện mạo đường phố. Sự tìm về với xe cổ hoàn toàn không mang
nghĩa hoài cổ, mà là một dạng thức thời trang, nó phù hợp với ý tưởng của ai
đó, rằng thời trang là thứ đi mãi cũng về chỗ cũ. Những ngày chúa nhật, có thể
thấy những đội quân Vespa, Lambretta, Dame hay Honda 67 phục sinh với màu sơn mới,
trưng bày ngẫu hứng từng dãy bên nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Trở về với biểu tượng
vàng son một thời cũng là cách thế làm giàu cho hiện tại và về mặt nào đó, nó
cũng bồi đắp cho một thực tế tiện nghi đang hãy còn rỗng nghĩa, chưa kịp xác lập
những giá trị mới. Xe cổ hồi sinh. Sắt nát đồng nát được tân trang trở nên
phong lưu, kiều diễm ngời ngời.
Cái cũ, cái phản công nghệ đem lại sự khác biệt chống lại cuộc
đồng phục tiện nghi. Hãy coi mấy anh bạn trẻ tóc tai bù xù hoang dã bắp tay đầy
hình xăm theo phong cách Hippie thập niên 60 đang còng lưng đẩy một con Vespa
Acma de Paris đi trong triều cường ngập tới bẹn giữa một rừng động cơ lam lũ
chen chúc ngùn ngụt, mới thấu câu nói của người xưa rằng, nghề chơi cũng lắm
công phu.
Sức hấp dẫn của sự khác biệt và phá cách là ở đó. Nó khác với
cách chơi có máu mặt của những đại gia. Cũng là thứ cổ. Nhưng cổ của kẻ có “nhiều
đạn dược” lại chú trọng vào những: Honda Valkyrie Rune, Ducati, MV Agusta hay
Harley Davidson giá tầm tầm 40 đến 70 nghìn USD. Với số tiền đó, người ta từ chối
đi xe bốn bánh có mui để “bon chen” với đám đông xe máy dưới trời mưa dầm hay nắng
gắt, là một minh chứng cho cái sự “dân chơi” tới bến (không sợ mưa rơi)!
Đường phố là một cuộc đại triển lãm xe gắn máy. Lịch sử phát
triển kinh tế xã hội được ghi lại trên những chiếc xe gắn bó với những bước
chuyển tiếp nhiều thăng trầm. Nó phóng chiếu vô thức tập thể đầy đủ nhất. Nó
cũng chứng minh sự rạn nứt những giá trị cộng đồng mạnh mẽ nhất.
Những câu trả lời vì lý do hạ tầng quy hoạch giao thông và điều
kiện kinh tế xem ra đúng mà chưa đủ. Tác giả Nguyễn Trương Quý trong cuốn tản
văn Xe máy tiếu ngạo (NXB Trẻ, 2012) còn nhìn thấy một tính cách quan trọng
khác: “Sự ích kỷ và nhu cầu cá thể hóa cách đi lại”. Sự cá thể hóa giúp người
ta giằng thoát khỏi sự chi phối của bầy đàn để đạt đến một sự tự do bản ngã,
song, thực tế lại không dễ dàng như vậy, chỉ cần ngồi trên chiếc xe máy và chạy
ra đường, mỗi cá nhân lại bị ném vào một đám đông phi trật tự, trong đám đông
đó, bản ngã ý thức cá nhân bị triệt tiêu không thương tiếc. Từng nhân diện sẽ bị
đám đông xóa nhòa trong cái lố nhố nhung nhúc hỗn loạn bất tận.
Còn một thứ thượng tầng khác đáng quan tâm, đó chính là đặc
thù tính cách của người Việt, phương thức sống cảm tính, tự do theo chiều hướng
tự phát, đề cao khả năng ứng biến, tự xoay sở, giỏi thỏa thuận trong những tình
thế đời sống mà không thích dùng đến luật lệ. Có thể thấy rất rõ điều này qua
những đám kẹt xe, những vụ tự giải quyết sau các va quệt nhỏ. Một nhà báo người
Singapore đã đến Hà Nội và ví von về khả năng “thương lượng trong một trật tự hỗn
loạn” của người dân rằng, những dòng xe máy là một bản nhạc giao hưởng không có
nhạc trưởng nhưng vẫn hoàn chỉnh.
Xe máy được ví như một thứ “căn cước” của người Việt hôm nay.
“Tấm căn cước thời hiện đại này của người Việt Nam thể hiện hành vi cá nhân học
lẫn cả ẩn ức tâm lý của họ, điều mà những dấu vân tay không nói được” (Di căn của
xe máy – Nguyễn Trương Quý). Về sinh học, chiếc xe máy đã trở thành một bộ phận
cơ thể không thể tách rời của chúng ta. Điều này tạo ra sự tương thích thú vị
giữa kích cỡ chiếc xe máy với thể trạng người giống dân con Hồng cháu Lạc qua từng
thời kỳ (Có thể coi đây là một gợi ý cho những nghiên cứu về nhân trắc học
trong tương lai). Hình như nhờ vậy mà người Việt có thể làm mọi thứ bằng/trên
xe máy: từ tỏ tình, âu yếm, vuốt ve yêu trên xe lúc đang tham gia giao thông
(nhiều chàng trai làm rất tốt việc này với tay này lái xe, tay kia có thể thật
mềm và thật sâu trong váy bạn gái) đến bày tỏ nóng giận hay bế tắc lý tưởng sống,
mất phương hướng bằng những màn đua lượn tụ tập hàng trăm người (cách đây chưa
lâu, báo chí nước ngoài một phen sửng sốt khi cảnh sát một tỉnh nọ đưa ra sáng
kiến dùng lưới giăng cá để “quăng bắt” những thanh niên đua xe trái phép), từ
trình diễn đẳng cấp thời trang đến bày tỏ lòng tự hào màu cờ sắc áo (điều này
thường diễn ra khi đội bóng Việt Nam bước vào vòng tứ kết của một giải nào đó tầm
tầm khu vực), đến ngả lưng tha hồ thả mộng đi rong (các bác xe ôm vẫn nằm dài
trên xe máy ngủ rất say trên những vỉa hè khi vắng khách). Nhiều cư dân trẻ được
chào đời trên xe máy cũng nhiều người già vĩnh biệt cuộc đời cũng trong vòng
tay người thân, trong khi ga vẫn đang được kéo và chiếc xe máy đang gồng lên
phóng như bay thay cho xe cấp cứu. Nói không quá, vòng đời con người Việt Nam,
sinh, lão, bệnh, tử đều có lý để gắn chiếc xe máy một cách khăng khít.
Mỗi năm những con đường trên đất nước Việt Nam đón thêm 3 triệu
chiếc xe máy mới. Mới đây, Bộ Công thương đưa ra con số thống kê: đến năm 2020,
khi dân số đạt 99,6 triệu người, thì Việt Nam sẽ có 33,5 triệu chiếc. Hai ông
Gottlieb Daimler và Wilhelm Maybach cha đẻ của xe máy sẽ ngậm cười chín suối
khi… đọc báo thấy những thông tin đó. Hai ông ấy sẽ yên tâm rằng, ở xứ sở lạ
lùng này, còn lâu những phát minh của mình mới có nguy cơ bị quên lãng.
“Người Việt Nam, chỉ cần làm cho họ bị tràn ngập trong những
chiếc xe gắn máy, là đủ!”. Pomonti nhắc lại câu nói đó từ miệng một nhà báo Mỹ
để chứng minh rằng, tuy là người Việt Nam, Phạm Xuân Ẩn vẫn tỏ ra hết sức bình
thản, phớt lờ đi trước trò mỉa mai gây hấn của đồng nghiệp. Điều đó được hiểu
là sự giấu mình vì việc lớn – bản lĩnh của một điệp viên – nhưng rất có thể được
cắt nghĩa theo hướng khác: biết đâu vào thời điểm đầu những năm 70 của thế kỷ
XX, nhận định trên của ký giả người Mỹ lại có tính tiên tri?
Phạm Xuân Ẩn đi trên chiếc Lambretta dọc ngang Sài Gòn những
năm tháng tao loạn, hẳn, ông phần nào dự cảm được cái tâm tình, tâm tính “on
the road” (trên đường) của người Việt vài chục năm sau.
Vì sao "sát thủ” thì"đầu mưng mủ”?
Điều gì xảy ra trong tâm lý cộng đồng những người trẻ khi
ngày càng phổ biến lối nói vần kiểu như: “sát thủ đầu mưng mủ”, “chuyện nhỏ như
con thỏ”, “buồn như con chuồn chuồn”, “chảnh như con cá cảnh” hay “đau khổ như
con hổ”…?
Có thật đó là sự nhảm nhí hay nông cạn như cách mà một số nhà
ngôn ngữ học, quản lý văn hóa cao đạo, nhân danh việc bảo vệ sự trong sáng tiếng
Việt để chỉ trích, quy chụp, tìm cách cấm đoán?
Trước hết phải khẳng định rằng, từ trong lời ăn tiếng nói dân
gian truyền thống, người Việt rất sính dùng thành ngữ, trích dẫn tục ngữ để gia
tăng thêm hiệu quả biểu cảm của phát ngôn. Những thành ngữ súc tích, những tục
ngữ gói gọn kinh nghiệm dân gian truyền đời phần lớn đều được thể hiện bằng
hình thức biền ngẫu, cấu trúc cặp đôi, đăng đối, và được “gieo” vần, tạo cảm
giác trôi chảy trong lời nói, biểu trưng về nghĩa, cô đọng về khái niệm, dễ
nghe về mặt ngữ âm. Thành ngữ, tục ngữ được “xen” vào hợp lý trong văn viết đem
lại giá trị phái sinh ngữ nghĩa cao. Cho nên có tâm lý này: chúng ta thường xem
người biết dùng, dùng hiệu quả, nhuần nhuyễn nhiều và hợp lý những thành ngữ, tục
ngữ, dụng điển vào giao tiếp (nói và viết, nhất là trong bình luận xã hội, nghệ
thuật, học thuật) là sắc bén, thâm thúy.
Người Việt rất sính thơ ca. Một thời, không ít người trong giới
phê bình văn học hay chua vào câu “Chúng ta một dân tộc của thơ ca” để mở màn
cho những luận điểm ve vuốt tự hào về tâm tính truyền thống của người Việt. Một
trong những đặc tính quan trọng và phổ biến trong quan niệm về thơ ca của người
Việt là nệ vào vần, đề cao nhịp điệu đến nỗi, sinh ra một quan niệm lệch lạc:
quy tất cả những gì có chút vần vè là… thơ. Cho nên, có thể cảm thông cho việc
không ít người vì quá tự tôn dân tộc mà sướng lên rằng: mỗi người Việt đều là một
nhà thơ (có lẽ vì khắp nơi trên đất nước này, ai cũng có khả năng “làm vần làm
nhịp” trong lời ăn tiếng nói, trong viết lách). Ra đường gặp “nhà thơ” là vậy.
“Thơ” (có vần) xuất hiện tràn lan trong sinh hoạt lời nói hằng ngày, từ quán nhậu,
hội thảo đến các buổi hội thảo, bàn tròn, từ văn bản đơn thư dân sự cho đến rổn
rảng trong các văn bản hành chính như nghị quyết, tham luận. Một trong những hậu
quả nhãn tiền mang lại đó là, những diễn ngôn luôn dễ nghe, dễ đi vào lòng người
nhưng gây ra không ít nguỵ tín, trì trệ cho đời sống vì khi cần minh bạch cụ thể
thì chúng lại du dương truyền thông những điều thật mơ hồ, đa nghĩa.
Người ta vừa “làm vần” nhưng lại vừa rẻ rúng thơ là vậy. Mật
độ “nhà thơ” xuất hiện trong các đám đông ngày càng lớn, cường độ vần vè xuất
hiện trong ngôn ngữ giao tiếp ngày càng cao, mức độ thành ngữ, tục ngữ bị lạm dụng
một cách vô tội vạ, thiếu chọn lọc, không phù hợp văn cảnh ngày càng lớn. Rất
nhiều bài phát biểu của lãnh đạo được phát công khai trên truyền thông đầy tính
thơ ca. Rất nhiều văn bản hành chính rỗng nghĩa nhưng nghe như áng văn bay bổng.
Quá nhiều câu lạc bộ, hội đoàn nghề nghiệp quy tụ người làm vần nhưng việc sáng
tạo ngôn từ lại bị hạn chế bởi những rào cản chủ quan lẫn khách quan.
Bắt nguồn sâu xa từ tâm lý phản ứng trước những khuôn thức,
tình trạng trên những người trẻ đã có cách giễu nhại các mâu thuẫn hài hước đầy
rẫy xuất hiện trong môi trường sống của mình. Họ giễu vần vè, châm biếm các
hình thức giao tiếp bày trò văn hoa bề ngoài, bỡn cợt trước những trò trịnh trọng
và sâu sắc giả tạo bề ngoài, khiêu khích sự bịp bợm hời hợt dưới chiếc áo ngôn
ngữ hoa mỹ… Cách hiệu quả nhất là:
1/ mô phỏng chính cơ trình tạo ra vần vè, song đối, biền ngẫu,
nhịp điệu, nhạc tính của “mô hình” truyền thống để tạo ra các “ngữ liệu” mới, đẩy
giá trị biểu trưng nghĩa trở về rỗng, cốt tạo ra cảm giác nhảm, gây cười;
2/ lợi dụng đặc tính dị bản của truyền khẩu để bẻ đôi câu chữ,
“hiệu chỉnh” khái niệm, đem lại những ý nghĩa hoàn toàn đối lập, ưu tiên sự phi
lý hơn là logic, nặng tính giải trí “lãng xẹt” để đối lập với thông điệp nghiêm
trọng và cao đạo đã cũ.
Và sau đó là gì? Dần xuất hiện một lối nói nhại biếm, đùa giỡn
ngôn ngữ tự do, phóng túng, khinh khoái. Và, dễ cắt nghĩa khi cách nói dí dỏm bạt
mạng kiểu: “chơi trội như bộ đội”, “đau khổ như con hổ”, cách thay từ bẻ câu,
lái nghĩa so với “phiên bản cũ” như: “một điều nhịn là chín điều nhục”, “một
con ngựa đau cả tàu được ăn thêm cỏ” hay “thuận vợ thuận chồng đông con mệt
quá”,… lại xuất hiện ngày càng nhiều trong trong những không gian tán gẫu, phổ
biến trên không gian mạng, phi chính thức hơn là thành văn.
Không thể phủ định tính giải trí, thời trang trong lối nói
này. Nhưng chúng ta tin rằng, thời gian sẽ sàng lọc một cách hợp lý để sự vui
đùa với ngôn từ của con người không trở nên là một trò hoang phí, vô thưởng vô
phạt.
Ngôn ngữ chỉ thực sự sống động khi người ta, qua lời ăn tiếng
nói, qua sáng tạo ngôn từ, còn biết vui đùa tung tẩy với nó. Di sản ngữ liệu mà
hôm nay không ít người đang sốt sắng quyết liệt bảo vệ (và quá đỗi lo sợ nguy
cơ mất trong sáng) trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc cũng từng có nguồn gốc là từ
lời ăn tiếng nói, tinh thần ưa hài hước, giễu nhại và đùa vui với ngôn từ của
dân gian.
Vậy, trước những hiện tượng mới phát sinh trong đời sống ngôn
ngữ, thì các nhà ngôn ngữ học và quản lý văn hóa phải cắt nghĩa cho được điều
gì phía sau hành vi, chức năng sử dụng ngôn ngữ và nhận diện một cách khách
quan, khoa học về quá trình chuyển động của nó thay vì vội vàng lên án, quy chụp
và làm cái việc quá sức mình đó là tìm mọi cách để ngăn chặn.
Chén nước mắm như muốn nói
Với nhiều người Việt Nam, nước mắm là món gia vị quốc hồn quốc
túy. Không phải mất công nhiều, chỉ cần gõ ba từ “chén nước mắm” trên Google là
có ngay hàng trăm nghìn tư liệu nghiên cứu và những bài viết ca ngợi chén nước
mắm trên một mâm cơm truyền thống người Việt.
Tốn công hơn một chút, có thể tìm đọc một số bài viết của Phạm
Hoàng Quân và Trần Đức Anh Sơn gần đây, đã có những phát hiện khá thú vị, chứng
minh rằng nhiều nước trên thế giới sản xuất ra nước chấm, nhưng nước mắm kiểu
Việt Nam (mà người Trung Quốc gọi là Việt Nam ngư lộ – tức, hạt sương chiết ra
từ cá) thì không đụng hàng với ai cả.
Hai nhà nghiên cứu trên đã chứng minh rằng, nước mắm được
“phát minh” từ rất xa xưa, được ghi trong lịch sử ngoại giao giữa nước Đại Việt
với “thiên triều” Trung Hoa từ thế kỷ X, qua thế kỷ XI thì trở thành một trong
sáu loại thổ sản phải đóng thuế biệt nạp cho triều đình.
Chén nước mắm đặt ở trung tâm của ẩm thực truyền thống làm
cho người Việt mở mày mở mặt trong thế giới ẩm thực rộng lớn và muôn hình vạn
trạng. “Nuoc mam” là danh từ không bị phiên dịch khi đi vào các từ điển ẩm thực
lớn của quốc tế.
Trong cơn cao hứng nảy sinh từ sự cuồng tín bản sắc và niềm
phấn hứng có được trong phong trào hô hào “quốc quốc” (bình chọn quốc hoa, quốc
tửu, quốc sắc, quốc sách…), có người đã tự ý bình bầu nước mắm thuộc hạng “quốc
chấm” (một lối ghép từ lởm khởm nhưng báo chí hôm nay rất ưa dùng). Còn biết
làm gì hơn ngoài việc cảm thông, vì niềm tự hào hưng phấn là liều thuốc lợi hại
giúp người ta mạnh gân khỏe cốt hơn khi tập bơi bì bà bì bõm trong ao nhà mà mơ
tưởng về sự bao la của biển lớn.
Có lẽ vì mãi tự hào về đặc tính, giá trị của chén nước mắm mà
người Việt Nam ít khi đặt ra vấn đề mang tính phản tư xoay quanh thói quen dùng
nước mắm – một khi cung cách và tập tính cũng góp phần làm toát lên giá trị của
văn hóa ẩm thực.
Từ điển mở (WIKIPEDIA), trong mục từ “Nước mắm” có viết:
“Chén nước mắm dùng chung giữa mâm cơm được coi là nét đặc trưng cho văn hoá
chia sẻ trong ẩm thực Việt Nam”. Đúng vậy, xưa nay, vị trí chén nước mắm luôn
được đặt ở giữa mâm cơm chung của gia đình hay bàn tiệc. Việc pha chế mùi và vị
của chén nước mắm luôn phải “đi theo” (tùy thuộc) vào những món chấm khác trong
mâm và tùy thuộc vào khẩu vị từng vùng miền. Ví dụ như người Quảng Nam thường
thích chấm mắm trong, người Nam bộ dùng nước mắm chấm rau sống, trộn làm gỏi
khô thường giã thêm tỏi, ớt, gừng và thêm đường, người miền Bắc thường hay cho
mì chính (bột ngọt) vào chén nước mắm, trong khi đó mấy o người Huế thường làm
nước mắm chua ngọt để làm cho các món bèo, nậm, lọc, quai vạt… thêm hấp dẫn khẩu
vị.
Nước mắm là thứ chính yếu, nhưng lại là thứ phụ thuộc trên một
mâm cơm. Nhưng ở đây, cũng có thể thấy sự dễ bề xoay sở, dễ thích ứng của thứ
gia vị này thông qua sự đa dạng về phương cách chế biến. Chưa thể thống kê hết
hiện nay có bao nhiêu kiểu pha chế nước mắm và ngành nghiên cứu ẩm thực cũng
chưa hệ thống hóa về nguyên tắc chế biến thứ gia vị này trong ẩm thực Việt Nam.
(Điều này lẽ ra các nhà ẩm thực học cần phải làm thay vì chọn cách làm quá dễ –
ồn ào hô khẩu hiệu và tụng ca “quốc chấm” như hành xử của những tín đồ cảm tính
và mê tín!).
Trong những mâm cơm mà thực khách có sự phân biệt quá lớn về
khẩu vị, thì những món ăn được các đầu bếp chọn giải pháp an toàn – nấu nhạt và
đặt chén nước mắm bên cạnh là xong, ai muốn ăn đậm đà thì tự châm thêm vài giọt
mắm, tùy thích. Có những bữa cơm mà người đầu bếp nêm nếm hơi quá tay thì chén
nước mắm vẫn được dọn ra, không ai sử dụng, sau đó trôi từ bữa này qua bữa khác
hoặc đổ đi không tiếc nuối.
Trong vai trò là gia vị phụ, chén nước mắm khéo léo và tinh tế
giải quyết vấn đề về sự khác biệt kia một cách dĩ hòa vi quý, làm đuề huề, hài
lòng đa số nhưng chịu không ít tình cảnh hẩm hiu.
Cái nghĩa “văn hóa chia sẻ” có thể cũng nằm ở đây.
Nhưng cũng ở đây, lại thấy một hệ lụy rất xấu của thứ “văn
hóa chia sẻ” đó chính là sự chung chạ và thiếu minh bạch. Trên mâm cơm gia đình
người Việt hay những mâm cao cỗ đầy hôm nay chúng ta vẫn thấy, thường chỉ có một
chén nước mắm chính giữa để tiện cho mọi người cùng với tay gắp món ăn và chấm.
Chén nước mắm được dùng chung; nơi mà ai cũng có thể cho đũa, muỗng vào chấm.
Điều này thật phản cảm trong con mắt những chuyên gia dịch tễ học, vì đây là một
trong những nguyên nhân gây truyền nhiễm rất nhiều loại bệnh dịch lây qua đường
tiêu hóa. Nhưng điều đó không nguy hiểm cho bằng, nó thể hiện một tình trạng
tâm lý hòa lẫn, chung chạ, thiếu sự ý nhị và tinh tế.
Chén nước mắm trong một bữa ăn (được rất nhiều đũa muỗng và
các thức ăn khác “chấm” qua) đã thành một hỗn hợp pha tạp, trong đó có cả dịch
vị nhiều người ăn theo đũa muỗng nhiều lần chấm qua, vậy nhưng người ta vẫn tiếc
nuối giữ lại cho các bữa ăn sau. Rồi bữa sau, người ta lại ứng xử chấm quết
theo lối “chia sẻ” như vậy cho đến khi thứ sản phẩm trung tâm của sự ô hợp kia
cạn kiệt.
Chuyện gì đang xảy ra? Phải chăng, người ta ưa lấy cái tinh
thần hòa đồng để khỏa lấp ý thức về sự thiếu vệ sinh và nhã nhặn lịch sự trong
thói nết ăn uống?
Đọc truyện Tàu, thấy Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi cứa máu vào
chung rượu uống thề kết nghĩa Vườn Đào xem ra chỉ là một nghi thức tượng trưng,
xa hơn, là tạo dựng huyền thoại mà thôi. Mối liên kết gắn bó để làm nên đại sự
giữa những cá nhân kiệt xuất này phải đặt trên cơ sở những đồng điệu trong lý
tưởng anh hùng trong thời loạn. Xã hội phương Đông thích cái motif hội thề cắt
tay uống máu của nhau như thế để chứng minh sự trung thành, nặng nghĩa nhưng về
bản chất thì những việc đó rất thiếu cơ sở khoa học, thậm chí nặng mùi hoang
dã. Sự gắn bó và sẻ chia, xuất phát bền vững nhất có lẽ phải từ ý thức, sự đồng
cảm sâu sắc giữa những cá nhân có sự gặp gỡ trong cảnh ngộ, tư tưởng, chí hướng.
Có lẽ việc chấm chung chén nước mắm trên mâm cơm người Việt
cũng thế. Không thể ngợi ca như một biểu hiện của “văn hóa chia sẻ”, mà cần phải
nhìn nhận lại qua các lăng kính như: tính thẩm mỹ trong ẩm thực, tiêu chí vệ
sinh, cung cách lịch sự và văn minh trong ăn uống, để gạn đục khơi trong.
Người Tây cũng dùng nước xốt, nước chấm, nhưng cách dùng trên
mâm ăn cho thấy tính chất cá nhân và biểu hiện lịch sự rất rõ. Muỗng nĩa cá
nhân không thể “thò” vào những chỗ đựng thức ăn, gia vị chung. Người Nhật cũng
rất tinh tế khi cùng các món nước chấm. Mọi thứ được đựng rất ít, gọn gàng
trong những chén, muỗng thanh cảnh để người ăn dùng riêng theo cách của mình,
không pha tạp, không để sự hổ lốn phá đi không gian thưởng thức lắng đọng cá
nhân.
Người Việt trẻ ở đô thị trong xã hội phát triển, ý thức cá
nhân cao hơn; có vẻ thuần thục trong cách ăn những món Tây, thích chủ động chọn
món và gọi phần thức ăn riêng trong các nhà hàng, tiệm thức ăn nhanh (fast
food). Không ít trong số họ đã quay về phê phán, chống lại sự đơn điệu, thiếu
tôn trọng khẩu vị riêng của mâm cơm truyền thống trong ngôi nhà mình. Đó là một
dạng hành xử cực đoan. Những gì thuộc về văn hóa, truyền thống làm nên những
giá trị như nếp nhà, sự ấm cúng trong sinh hoạt ăn uống thì nên trân quý và giữ
gìn, những thói quen u mê, phản văn minh thì nên nhìn nhận lại để tìm cách thay
đổi.
Nhưng để một thói quen rất nhỏ trên bàn ăn thay đổi, thì trước
hết phải bắt đầu từ sự thay đổi trong nhận thức và những chuyển biến tích cực
trong tính cách cộng đồng.
Mình nói gì khi mình nói?
Im lặng là thứ rất thiếu. Quen sống với sự thiếu thốn im lặng,
riết hồi cái giá trị của im lặng cũng bị bỏ qua. Bạn đến đây và có nhu cầu chia
sẻ với tôi về điều đó.
Bạn vừa đến từ một xứ sở kia, đầy những chuyện lạ lẫm, có người
gọi là Xứ Sở Lạ Lùng. Ở đó, con người đầy rẫy phát ngôn. Mỗi người có một sức
khỏe phi thường để nói thao thao bất tuyệt khắp mọi nơi, từ ngoài vỉa hè đến
các cuộc họp, từ trên công trường đến nhà quốc hội. Nói, vô cùng nhiều, vô cùng
bạo liệt và hùng hồn, vô cùng rỉ rả. Nói đến mức, những tiếng nói mất hết cả
giá trị. Nói chỉ để mà nói. Ở đó, con người chết chìm trong những cuộc hội họp.
Và dường như việc nói như thế vẫn chưa đủ, người ta tìm cách gia tăng những dịp
tập trung để nói. Nhu cầu hội hè và họp hành (gọi tắt là hội họp) không ngừng
tăng lên. Rồi trong các cuộc đông vui hội họp ấy, ai cũng thấy mình là nạn nhân
và đồng thời, là tội nhân, ai cũng là người nói và bị nghe, rồi tất cả đều sở hữu
một thực tế duy nhất: đó là một thực tế không thay đổi,
Ở Xứ Sở Lạ Lùng của bạn, người ta không thèm nghe tiếng nói của
mình vọng lên trong đầu trước khi thốt ra trên miệng. Cho nên, cứ xem các lãnh
đạo phát biểu trên TV thì thấy, năm này qua năm khác, cuộc họp này qua cuộc họp
khác, bối cảnh có thể thay đổi nhưng từng từ, từng chữ, phong cách ngôn ngữ, âm
điệu chẳng thay đổi gì. Nghe hoài, rồi cũng quen, chẳng ai chấp, người nói cứ
nói, vì họ không nghe chính tiếng nói của mình, người nghe cứ nghe nhưng không
nghĩ vì có gì mà phải nghĩ. Mất dần ý nghĩa Đối Thoại.
Có lẽ điều thiệt hại lớn lao nhất, trong xứ sở của bạn, đó là
vì sống quá quen với tiếng ồn, nên người ta đâm ra vừa sợ vừa ghiền âm thanh.
Khắp khắp mọi nơi đều có âm thanh. Tiếng động cơ. Tiếng nhạc. Tiếng đục đẽo
công trường. Tiếng cãi vã. Tiếng tán gẫu. Tiếng reo hò. Tiếng phát biểu. Tiếng
vỗ tay… Tất cả tạo nên những đợt sóng âm thanh hỗn độn, những bản hỗn tấu liên
tu bất tận. Người ta ngủ trong tiếng TV luôn mở để cứ phải yên tâm bên mình
luôn có tiếng người nói. Người ta túm tụm nhậu nhẹt với nhau sau những giờ tan
sở vì sợ cái khoảng trống khi trở về nhà một mình, không biết phải nói gì, với
ai, ai nói cho mình nghe trước lúc chìm vào giấc ngủ. Dù đa phần trong những
đám nhậu nhẹt, ta lại gặp ta, lại nói những chuyện cũ với những người cũ đã gặp
nhau mòn mỏi ngày này qua ngày khác ở công sở, đã chịu đựng lẫn nhau hàng giờ
trong các buổi họp…
Sợ sự im lặng. Vì đã đánh mất thói quen đối thoại với nó. Cư
dân Xứ Sở Lạ Lùng dùng tiếng ồn, giọng nói để kháng cự sự lầm lì thách thức của
nó.
Ở xứ sở của bạn, có nhiều sự vui vẻ. Vì đâu đâu cũng thấy
bóng người, thắp đèn sáng, bật loa lên là người ta khắp nơi tụ về như thiêu
thân quần tụ nơi ánh sáng. Cho nên ở đó, để tạo ra không khí đông vui rộn ràng
thì dễ mà để tạo ra những cuộc chuyện trò trong thinh lặng, mỗi người biết tôn
trọng giọng nói của mình và của người khác: cực khó.
Ở xứ sở bung xung của bạn, sự im lặng bắt đầu trở thành kẻ
thù. Nó trở thành phương thuốc lợi hại của nhà chức trách trước sức ép của tiếng
nói, tiếng ồn khuếch đại mà đám đông tạo ra. Im lặng chính là thành trì cuối
cùng để những quan chức trú ẩn. Im lặng lúc này trở nên khó hiểu vô cùng. Vì nó
không còn bộ mặt sáng sủa của nó. Nó là một hành vi che giấu những sự thật phũ
phàng nhất mãi mãi không được phơi bày.
Vì vậy mà bạn đến đây. Từ một xứ sở lạ kì. Tôi không tin rằng
nơi nào đó đã có một xứ sở như thế. Nhưng vì bạn đã đến đây, đã kể cho tôi nghe
câu chuyện về một xứ sở nhiều lời nói, thanh âm và cũng là nơi mọi lời nói ngôn
ngữ đang đứng trên bờ vực tột cùng rẻ rúng. Bạn càng muốn tìm giải pháp cứu vãn
sự im lặng trước nguy cơ bị vấy đục.
Vậy thì, tôi cũng nhại theo cách nói của nhà văn viết truyện
ngắn Raymond Carver (tác giả tập truyện nổi tiếng. Mình nói chuyện gì khi mình
nói chuyện tình) mà rất lấy làm băn khoăn, hỏi bạn và cũng tự hỏi mình trước
khi đi vào câu chuyện: “Mình nói chuyện gì khi mình nói?”
Báo động về sự… lạc quan!
Việt Nam là quốc gia đứng đầu trong nhóm 10 nước có tinh thần
lạc quan nhất thế giới, đó là kết quả thăm dò được nhiều tổ chức thế giới công
bố một vài năm qua. Trong khi đó, cũng có nhiều tổ chức khác công bố Việt Nam
là nước xếp vị trí rất thấp về chất lượng sống.
Câu hỏi đặt ra, vì sao chất lượng sống thấp, đang “lệch pha”
với tăng trưởng mà chỉ số hạnh phúc và chỉ số lạc quan của người dân lại cao
như vậy?
Hãy nhìn vào bảng xếp hạng về nhóm các nước lạc quan nhất thế
giới, theo điều tra năm 2011 của tổ chức BVA (Pháp) sẽ thấy, bên cạnh Việt Nam,
còn có các quốc gia mới nổi như Trung Quốc, các nước nghèo như Nigeria, các nước
vừa thoát khỏi chiến tranh hoặc thậm chí chỉ mới giảm xung đột vũ trang như
Afghanistan, Iraq, Pakistan. Điều này cho thấy, về cơ bản, có hai “điều kiện” để
dẫn đến (tâm lý) lạc quan của người dân: những đất nước vừa trải qua binh biến
và đang nâng niu, tận hưởng nền hòa bình, an ninh trong đời sống; những đất nước
sống dưới sự lãnh đạo bởi một chính đảng...
Xét điều kiện thứ nhất dẫn đến sự lạc quan, có thể cảm nhận,
người Việt Nam trải qua hai cuộc chiến tranh, thấm thía cảnh nồi da xáo thịt,
cơ hội được sống an bình, việc hiểu, trân trọng sự yên ổn từng giây từng phút
là điều hiển nhiên. Tinh thần hòa hiếu để có được cuộc tồn sinh an lành là điều
mà người dân học được trong điều kiện đặc biệt sau những mất mát và chia rẽ.
Nhiều người Việt hôm nay cố tình bàng quan chuyện “chính trị”, họ xem chính trị
là của “mấy ông bà ở trển”, của nhà nước, trong lúc đó, đồng thời đánh mất một
trong những nhận thức quan trọng của chính trị đó là xác định điều kiện, vị
trí, vai trò chỗ đứng của cá nhân trong xã hội mà anh ta đang sống.
Thực tế đó, đưa đẩy đến một tâm lý tiêu cực đó là người dân tự
đánh mất ý thức về tiếng nói, ngại ngần cống hiến trí lực của mình cho cộng đồng
hay tham gia trực tiếp vào cỗ máy vận hành xã hội. Chính trị, có nhà nước lo,
còn đời sống khó khăn thì tự xoay xở, tùy cơ ứng biến. “Chủ nghĩa tự lo” là triết
lý sống của nhiều người. Để được an toàn, đôi khi họ trở thành kẻ thông đồng –
im lặng, vô cảm trước những tiêu cực, bất công hay điều phi nghĩa xảy ra trong
cuộc sống.
Như vậy, cái giá của hiện tại hòa bình đã trả bằng biết bao
xương máu từ quá khứ chiến tranh, nhưng cái giá của việc quá sợ mất hòa bình và
sự yên ổn đã phải trả giá bằng sự cam phận, an phận thủ thường, ngại đụng chạm,
phản ứng, thậm chí phớt lờ trước những bất công đang xảy ra trong cộng đồng, sự
bê bối nhũng nhiễu đang diễn ra trước mắt, sự biểu hiện xói mòn những giá trị đạo
đức xã hội.
Chưa bao giờ, hai từ “vô cảm” được báo chí nhắc đến nhiều như
trong thời hiện tại. Phẩm chất xã hội nhân văn bị bào mòn, thay vào đó, những kỹ
năng đối phó, tranh giành, ích kỷ được trang bị như những phản ứng mang tính bản
năng sinh tồn.
Các con số báo cáo phát triển hàng năm từ chính phủ vẫn cho
người dân sự an tâm và tin vào sự phát triển của đất nước mà họ dự phần xây dựng,
thậm chí, mở ra những hy vọng tương lai tươi sáng. Song, những cải thiện cơ bản
về chính sách an sinh xã hội – cái chìa khóa để thăng tiến con người mà ta vẫn
gọi là chất lượng sống thì đang được mài giũa một cách chậm chạp suốt hơn 35
năm hòa bình, luôn trật khớp với tốc độ phát triển.
Có thể hài lòng vì đời sống kinh tế có vẻ được tốt lên, an
ninh được đảm bảo cơ bản nhưng quên mất sự bươn trải đối phó tính toán căng thẳng
trong từng ngày, từ chuyện giao thông đi lại, điều kiện giáo dục cho con cái, vệ
sinh an toàn thực phẩm, chất lượng dịch vụ y tế chậm tiến hay môi trường sống
đang ngày càng nhiều đe dọa...
Thâu tóm tinh thần kết quả của đề tài nghiên cứu về mức sống
và môi trường sống của người dân TP.HCM do Viện nghiên cứu thực hiện công bố đầu
năm 2010, Ths Lê Văn Thành, chủ nhiệm công trình lý giải vì sao thu nhập đầu
người tăng mà chất lượng sống lại giảm, rằng: “nói về mức sống tính theo thu nhập
thì nó cụ thể nhưng chất lượng sống – vừa mang tính vật chất vừa có khái niệm về
tinh thần – lại không đơn thuần có nhiều tiền là có cuộc sống tốt. Chất lượng
cuộc sống của người dân TP.HCM có thể nói là giảm,” (Tuổi trẻ 25.1.2010).
Đúc kết trên cho thấy, bao giờ khái niệm tăng trưởng bền vững
với các tiêu chí điều kiện môi trường, chất lượng sống của người dân, di sản
giá trị tinh thần để lại cho thế hệ tương lai được đảm bảo hàng đầu thì đó mới
là cái đích cần hướng đến của một quốc gia, chứ không đơn thuần dừng lại ở niềm
tin và sự thỏa mãn tạm thời như một phép thắng lợi tinh thần căn cứ trên phép
tính bình quân chủ nghĩa.
Những ai quan tâm đến tâm lý cộng đồng sẽ cắt nghĩa rằng, với
trường hợp Việt Nam, lạc quan cũng là một phương cách, liệu pháp tinh thần giúp
người ta tự hài lòng với hiện tại. Chỉ số chấp nhận sống chung với nghịch cảnh
cao cộng với tâm lý hy vọng “chớ than phận khó ai ơi/ còn da lông mọc còn chồi
nẩy cây” luôn được phát huy hết mức. Đây có lẽ cũng là một nét đặc thù dân tộc
tính của người Việt được hun đúc qua lịch sử triền miên bị đô hộ, triền miên
chia rẽ và mất mát, triền miên ứng phó với những thiên tai thảm khốc.
Lạc quan, thỏa hiệp, dĩ hòa vi quý vừa là điều kiện tốt để
chính quyền xây dựng một đời sống an ninh nhưng nó đồng thời sẽ tự đánh mất động
lực phát triển.
Chỉ số lạc quan cao trong điều kiện chất lượng đời sống người
dân thấp, từ một góc nhìn khác, nó không hẳn đem lại sự… lạc quan, mà có thể
xem là một tín hiệu đáng báo động!
Karaoke, văn và cảnh
Karaoke là một loại hình giải trí có nguồn gốc từ vùng Kobe,
Nhật Bản, nhập khẩu vào Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ XX. Chỉ mới xuất hiện
trong vòng chưa đầy 20 năm, nhưng từ thành phố tới thôn quê của đất nước này,
karaoke trở thành một chọn lựa giải trí phổ biến bậc nhất của người dân.
Phải chăng đã có một sự tương thích nào đó giữa truyền thống
sinh hoạt văn nghệ của người Việt với việc giải trí bằng cách hát karaoke?
Chúng tôi tình cờ tìm thấy câu trả lời khá lý thú trong cuốn Rock Hà Nội và
Rumba Cửu Long của Jason Gibbs. Trong chương Truyền thống và sự tiếp biến trong
hình thành âm nhạc xã hội Việt Nam, cây bút nghiên cứu âm nhạc độc lập người Mỹ
nói trên cho rằng, có một sự “truyền tiếp” giữa hát ả đào trong truyền thống với
hát karaoke thời hiện đại. Bám theo lý thuyết của nhà dân tộc nhạc học Hugh de
Ferranti – cố gắng phân biệt hai phẩm tính văn (text) và cảnh (context) trong
văn hóa âm nhạc – cộng với trải nghiệm qua vài lần đi hát karaoke tại Hà Nội,
Gibbs viết: “Đầu thế kỷ XX, “đi hát” nghĩa là đi hát ả đào, cuối thế kỷ nghĩa
là đi hát karaoke”. Và: “… một số khía cạnh của bối cảnh hát ả đào đã được truyền
tiếp và chúng đã tự sắp hàng với một loại văn khác. Nhìn trong ánh sáng này,
karaoke là truyền thống, nhưng không mang tính truyền thống. Và vì nó không phải
là bộ phận thuộc bảo tàng, nó vẫn còn vô hình. Tất nhiên, karaoke có ở khắp nơi
– nó được “rống” lên khắp cõi Việt Nam. Nhưng văn của nó không được thu thập,
và dường như vì nó vẫn còn quá quen nên chẳng ai để ý đến phương diện này của
nó.” (tr. 150, 151)
Và một nguyên nhân nữa, karaoke du nhập vào Việt Nam khoảng
trên dưới chục năm sau đổi mới, khi toàn xã hội đang hướng ngoại, những dịch vụ
giải trí kết hợp “lồng ghép” xã giao công việc, quan hệ làm ăn, thiết lập tình
thân như phòng karaoke đáp ứng sự mong đợi của đại chúng.
Vậy là, bước qua sự ngần ngại ban đầu, những người trẻ năng động
được nuôi lớn bằng bầu sữa đổi mới có thể tìm thấy mình, thấy tha nhân trong cuộc
chinh phục điểm số qua trình bày những bài ca quen thuộc nơi những căn phòng
cách âm, tách biệt hoàn toàn với một thứ nhịp điệu khác đang quay cuồng bên
ngoài cánh cửa.
Nhiều gia đình khá giả đã mang nguyên không gian giải trí đó
về nhà để những tối cuối tuần, buổi họp mặt gia đình “định kỳ” đầy truyền thống
giảm bớt sự nghiêm trọng, thay vào đó là tinh thần vui vẻ, cởi mở và sẻ chia.
Người Nhật thích hát karaoke vì khi hát, họ phá vỡ tính cách
trầm tĩnh kỷ cương và kín đáo. Theo cách nói của Takeo Doi, thì đó là một điều
kiện để đi xuyên qua tatemae (cái giả, mang tính omote, bề ngoài, thấy được) của
chính mình để tự do phơi bày cái honne (tức, tâm tình thật, cái ura, bên trong,
không thấy được). Ngoài ra, từ góc độ tâm lý học, các chuyên gia cũng cho rằng,
karaoke giúp người Nhật xả bớt áp lực, tìm thấy cân bằng từ một đời sống công
nghiệp đầy căng thẳng. Với người Việt Nam, một dân tộc phương Đông, “cấu trúc bộ
đôi” tính cách văn hóa mà ta vẫn gọi nôm na là “tình trong” và “mặt ngoài” cũng
có nhiều nét tương đồng với người Nhật, thế nên, việc người Việt chết mê chết mệt
với karaoke cũng có thể giải mã theo cách trên. Mặt khác, người Việt cũng được
biết đến với tính mê hát hò nghêu ngao. Ca hát giúp người ta chống lại nỗi buồn
thăm thẳm luôn đè nặng tiến trình lịch sử đầy gươm đao máu lửa và loạn ly. Tiếng
hát tăng niềm tin vào ý chí và lý tưởng (như khẩu hiệu văn công thời chiến: “tiếng
hát át tiếng bom”!)
Vậy, cái tính cách ưa hát hò của đại chúng đã được thỏa mãn
qua một hình thức giải trí hiện đại. Người ta sẽ không còn “lấy tiếng hát át tiếng
bom”, mà lấy tiếng hát để xua tan những mối bận tâm về cuộc mưu sinh thời thị
trường nhiều cơ hội và lắm khốc liệt. Người ta hát để vỗ về đời sống tinh thần
đang có nguy cơ xơ hóa trước những làn sóng mạnh mẽ của chủ nghĩa vật chất. Người
ta hát về những cuộc tình dang dở, về những ước vọng không thực hiện được và cả
những niềm vui, sự lạc quan tương lai trước mặt.
Có một đặc điểm đáng lưu ý, người Việt thường rủ nhau đi
karaoke khi đã trải qua một bữa tiệc hay một cuộc bia bọt. Gọi là “tăng hai”.
Đó là lúc, con người lý trí và tính toán đã tạm rời xa, những bận tâm tính toán
chi li đã tạm chìm xuống cho “nghệ sĩ tính” (được hiểu là sự phóng túng, cảm
tính) có dịp trỗi dậy. Bốc lên nhờ hơi men, người ta thấy những người đối diện
mình dễ thương hơn và cũng vì thế lời lẽ dùng cho tha nhân (kể cả những tha
nhân là địa ngục với đời ta trong công sở) trở nên ngọt ngào và trìu mến hơn.
Tiếng hát, âm nhạc trong những căn phòng đóng kín, ánh đèn mờ ảo, âm thanh luôn
mở lớn khiến người ta muốn tâm sự phải ghé sát miệng vào tai nhau. Và như vậy,
karaoke trở thành một cách thức hóa giải hữu hiệu những mâu thuẫn, rào cản giữa
các cá nhân khác biệt trong tập thể. Sự quan tâm và sẻ chia được thêm củng cố.
Với mỗi người hát, karaoke làm cho anh ta thấy tự tin hơn. Việc
cầm micro trình diễn trước một nhóm “công chúng” giúp những con người yếu đuối,
thiếu tự chủ, thiếu tinh thần cá nhân tìm thấy vị thế của mình. Cái cảm giác được
“tỏa sáng” trong mắt mọi người giúp anh ta vơi đi tình trạng đơn điệu về một đời
sống mà cái riêng tư luôn bị đè nén, khó bộc bạch.
Xa hơn, qua việc hát karaoke, anh ta có thể tự do phóng chiếu,
mô phỏng bản thân theo giọng ca, tính cách, phong thái của các thần tượng đang
có quyền lực với công chúng. Karaoke đem lại từ niềm hưng phấn được sẻ chia đến
trạng thái ngất ngây trong ảo giác về sự trỗi vượt bản thân. Và lắm khi, chính
những điều đó mang lại cho con người ta cảm hứng sống.
Chính quyền một thời có hơi phân biệt đối xử, gọi những phòng
karaoke là các “tụ điểm” bởi tính chất không gian đèn mờ của nó gợi ra những
sinh hoạt trá hình, tiêu cực, khó kiểm soát như tiêm chích, mại dâm… Việc cấm
đoán karaoke của nhà nước luôn không nhận được sự hưởng ứng của người dân, đặc
biệt người trẻ. Thực tế thì tệ nạn xảy ra từ những phòng karaoke không ít.
Nhưng mọi sự kiểm soát tỏ ra khó khả thi một khi chính những người tham gia
giám sát cũng rất có thể, là tín đồ của loại hình giải trí này và chưa nói, nhiều
cán bộ nhà nước thường xuyên chọn karaoke làm nơi thể hiện “bản lĩnh” không chỉ
ở lĩnh vực ca hát mà còn trong nhiều “lĩnh vực” nhạy cảm khác!
Cho nên, ngày nay, karaoke có mặt khắp nơi, từ thôn quê đến
thành thị. Đối tượng hát karaoke đa dạng, mọi lứa tuổi, từ các ông cụ bà cụ móm
mém đang “countdown” (đếm ngược thời gian gần đất xa trời) đến những em bé vừa
ê a chưa tròn vành rõ chữ, từ quý giáo sư tiến sĩ xênh xang trời tây trở về đến
mấy cô cậu công nhân trẻ cứu vãn sự nghèo nàn của đời sống giải trí bằng những
cuộc đàn đúm sau mỗi kỳ lương…
Tín đồ karaoke chuyên nghiệp đến mức có thể đóng tiền đi học
các khóa ngắn hạn để luyện giọng. Tại Hà Nội, Sài Gòn ngày nay đã xuất hiện nhiều
trung tâm dạy hát karaoke khá hấp dẫn. Thử lướt trên mạng và lấy ra một điển
hình: Trung tâm Âm nhạc T.B có trụ sở ở Hà Nội lẫn Sài Gòn, thông báo chiêu
sinh mỗi khóa luyện karaoke 15 buổi học. Trong thời gian học, học viên được huấn
luyện thanh nhạc, tập lấy hơi, mở khẩu hình, hướng dẫn gõ phách, nhạc lý, học
cách trình diễn những bài mà thí sinh yêu thích. Mỗi khóa học, học viên có thể
học tủ nhuần nhuyễn 4-5 bài, có thể tự tin trình diễn trước đám đông, các buổi
karaoke và giao lưu văn nghệ. Một khi việc đi đến các phòng karaoke truyền thống
tốn kém, không đủ thỏa mãn cơn ghiền hát, nhiều người đã “luyện giọng” hằng
ngày qua các trang mạng karaoke trực tuyến, chỉ cần “đầu tư” một laptop, một
headphones có gắn mic loại tốt và có thể đóng cửa sống với thế giới đam mê của
mình. Các website karaoke trực tuyến có phần mềm ghi âm trực tiếp và cho phép
người hát share (chia sẻ) với cộng đồng.
Nhiều mối quan hệ hứa hẹn được sinh ra từ sự cảm mến giọng
hát ở phòng karaoke và cũng thật nhiều mối tình trên mạng chớm nở từ trào lưu
karaoke trực tuyến.
Một ngày nào đó, khi những phòng karaoke biến mất mà không gì
thay thế được, biết đâu bệnh viện tâm thần và các bệnh viện chấn thương chỉnh
hình sẽ trở nên quá tải.
Ghi chú ngắn về đọc và viết
Hình dung về người đọc
Người ta thường nói đến người viết là những kẻ cô đơn. Dĩ
nhiên, trong 100 người viết tuyên ngôn rằng mình cô đơn thì chỉ nên đáng tin chỉ
chưa đến 30% là nói thật. Dù sao thì cũng nên xuê xoa hiểu rằng, tất cả họ đang
“phấn đấu cô đơn” theo cách tằm rút ruột nhả tơ (theo cách nói mai mỉa tự trào
một nhà thơ nào đó).
Tuyệt nhiên, khi cánh viết lách nói chuyện về cái sự cô đơn
như một cách thiêng hóa sự ẩn mật trong công việc của mình, họ quên rằng, chính
người đọc sách hôm nay mới thực sự xứng đáng gọi là cô đơn – nếu cô đơn là một
giá trị chứ không phải một “mốt” để làm sang.
Quả thật, ngày nay việc đọc sách là một hành vi hướng đến sự
cô đơn. Cô đơn hơn trong chính cái bối cảnh đời sống tiêu dùng thực dụng, đầy rẫy
toan tính thực dụng và cô đơn ngay từ việc chọn lựa hình thức giải trí lặng lẽ
và bị coi buồn tẻ, ít tìm được sự đồng cảm chung như đến rạp xem phim, đi nhảy
nhót, nghe nhạc hay tìm vui trong việc làm giàu, mua sắm…
Cô đơn vẫn là điều tiên quyết để bạn đọc tìm đến sách. Trước
hết, đó là cô đơn chống lại sự cám dỗ của những dự tính, dự toán cải thiện vật
chất trước mắt để hướng đến trọng tâm của việc đọc, đó chính là kiếm tìm, theo
đuổi một sự cải thiện khác hướng đến đời sống nội tâm.
Quả thật, khi cầm một cuốn sách lên đọc, tôi đã đặt vào nó một
niềm hy vọng, hy vọng đây là một cuốn sách hay. Hay nghĩa là sao? Nghĩa là làm
cho tâm lý của tôi sẽ khác đi, sự hiểu biết của tôi sẽ được bồi đắp hơn, tinh
thần tôi sẽ khá hơn, nhận thức tôi sẽ trở nên sáng sủa sâu sắc hơn để nhìn cuộc
đời, hành xử trong cuộc đời sau khi đọc. Có thể tôi sẽ sống với sách theo
nghĩa, cuốn sách đã sống thật và chi phối cách nhìn/ nghĩ/ sống trong tôi.
Vì thế, tôi sẽ để dành cho sách một thời gian thu nhận, một
không gian đáng kể để ôm vào và lắng đọng, một năng lượng đáng kể để nhận thức
và suy tư. Nghĩa là tôi phải hy sinh, hạn chế nạp vào những thứ dự liệu khác;
hy sinh và hạn chế thời gian đàn đúm, kiếm tiền hay chìm vào các trò tiêu khiển
“thức thời” khác trong khoảng thời gian đọc/ nghĩ về/ sống với nó.
Đọc, nghĩa là can đảm tách mình ra khỏi dòng sống ồn ào để
khu biệt một thế giới mà ở đó, chỉ có mình đối diện với mình, rảo bước chậm với
chính mình trong thế giới kỳ diệu lẫn nhọc nhằn của chữ nghĩa và hiểu biết. Đọc
cũng có nghĩa là tiến hành quá trình khảo sát nội thức đầy kỹ lưỡng, một sự giải
trí có dáng dấp khổ hạnh, một cuộc truy cầu có tính chất dấn thân lạ lùng, một
sự lầm lũi đơn thân độc mã tránh xa mọi hứng thú bầy đàn để tìm ra nghĩa lý tồn
tại qua việc bồi đắp năng lượng của sự biết.
Dĩ nhiên, việc đọc của một lữ khách nơi bến tàu trong lúc chờ
xe sẽ khác việc vùi mình trong thế giới của sách của một nhà nghiên cứu, việc đọc
tiểu thuyết ba xu của chị tiểu thương khác với việc một sinh viên truy vấn nhọc
nhằn một diễn ngôn triết học. Nhưng, về cơ bản, tất cả giống nhau ở chỗ: thực
hiện hành vi đọc, nghĩa là thực hiện một sự hứng tâm, rời lìa (tạm thời hay lâu
dài, chuyên chú hay đứt đoạn) cái cuộc sống xô bồ đang diễn ra để dấn bước theo
đường đi của chữ, đường đi giữa đôi dòng chữ.
Nhưng người đọc đích thực là người biết chắc rằng, việc chọn
lựa một cuốn sách là chọn lựa xứng đáng, không hối tiếc trước những đối trọng
trong các tiêu chí bất cân xứng khác theo thói thường đời sống.
Người ta nói nhiều đến vai trò của việc đọc: đọc sách là một
phương tiện bồi dưỡng trí nhớ và tư duy, là biểu tượng của văn hóa và văn minh,
là nhu cầu phát triển ý thức của cá nhân và của xã hội… Tất cả đều đúng. Nhưng,
trước hết, điều nói lên đúng bản chất của hành vi đọc đó là một sự chấp nhận cô
đơn một mình đi trên một con đường với niềm tin nó sẽ dẫn đến cái đích duy nhất
– bắt đầu thay đổi thế giới, thay đổi nội tâm, cái nhìn của mỗi người. Mọi sự
chia sẻ, mọi sự hoan hỉ hay bàn luận sẽ là những việc đến sau.
Những người lặng lẽ chú mục vào trang sách dù trên ga tàu hay
trong thư viện, với tôi, những hình ảnh đó đều tỏa ra một thứ ánh sáng hiền hòa
và lộng lẫy, nó làm cho cuộc sống được neo giữ, không trôi tuột đi; làm cho cái
cõi người hỗn loạn này không trở nên lạnh lùng, huyên náo và tàn nhẫn như ta vẫn
nghĩ.
Sự thay đổi đặt trên nền tảng tri thức, tinh thần lành mạnh
luôn có sức hấp dẫn mê đắm. Steve Jobs nổi tiếng với khẩu hiệu “Think
different” (Nghĩ khác!) và ông đọc sách, sống với sách suốt cuộc đời sáng tạo của
mình. Biết bao con người trong nền kinh tế tri thức này đang mang khát vọng
“nghĩ khác” để biến đổi thế giới qua việc mở rộng biên độ tri thức từng ngày, từng
giờ trong mình.
Thế giới thay đổi bắt đầu từ những vận động, đổi thay, cộng
hưởng từ tâm thế của những cá nhân sống trong đó. Và người đọc, hơn ai hết, sẽ
tìm thấy trong những trang sách hình ảnh của những hành trình nối tiếp những
hành trình, nỗi cô đơn không bi lụy xu thời khép kín như chúng ta vẫn thường
nói về nó mà đó chính là sự ẩn mình đầy hứng tâm, hoan hỉ, trải nghiệm kỳ thú
khi mở được cõi nhìn sáng sủa, tâm hồn luôn rộng mở bởi thứ ánh sáng bất diệt của
hiểu biết và văn minh.
Phúc cho ai có được bản lĩnh để trầm lặng và kiêu hãnh của một
người đọc.
Quyền của người đọc
Năm 1988, cuốn The Satanic verses (Những vần thơ của quỷ
Satan) của Salman Rushdie như một quả bom cay ném vào thế giới Hồi giáo. Lập tức,
giáo chủ Hồi giáo Iran Ruhollah Khomeini đã ra lệnh cho tín đồ trên toàn cầu thực
thi lệnh fatwa (truy nã) với nhà văn gốc Ấn này. Salman Rusdie chạy sang
London, trải qua 9 năm sống trong sự canh phòng bảo vệ cẩn mật của hàng rào cảnh
sát Anh. Nhưng, đó chỉ là chuyện nhỏ, điều đau khổ nhất với ông lại là việc
liên tục đối diện với những tình thế phải tự diễn giải tác phẩm của mình trước
văn giới, báo giới, kể cả nhà chức trách.
Trong tiểu luận Tình thế “buộc phải diễn giải” của nhà văn,
Salman Rushdie viết: “Thật sự, rất hiếm có một tác giả nào bị yêu cầu phải liên
tục giải thích về cuốn sách của mình một cách chi tiết, tỉ mỉ và thường là
trong tình thế luôn đối mặt với sự thù địch đến như vậy. Thái độ thù địch đối với
cuốn sách lại dựa trên sự không thèm đọc hoặc đọc rất qua quýt. (…) Để chống lại
cuộc tấn công ồ ạt này, tôi nhất thiết phải nói, nói đi rồi nói lại, những điều
tôi nghĩ về chính cuốn sách của mình, giải thích tại sao tôi viết nó và tại sao
lại viết như vậy. Tôi luôn bị rơi vào tình thế buộc phải làm những thứ mà tôi
cho là nhà văn không bao giờ nên làm: áp đặt cách đọc cuốn sách của chính mình
lên độc giả, kể lại ý nghĩa của nó, giảng giải từng đoạn văn gây tranh cãi, cố
gắng thuyết phục rằng nó nghiêm túc, hợp lý, tử tế và đáng đọc trước những lời
buộc tội rằng nó thiếu nghiêm túc, không hợp đạo lý và không đáng đọc”.
Đến nay, hơn 22 năm sau cái án tử đến từ thế giới Hồi giáo,
Salman Rushdie vẫn có lúc bị rơi vào thế phải “lải nhải giải thích” về các
nguyên cớ, chi tiết, ẩn dụ, dụng ý của mình trong The Satanic verses để làm hài
lòng một số người hỏi (vì câu trả lời “tôi không biết” sẽ không bao giờ được chấp
nhận!)
Nhà ký hiệu học, phê bình văn học Roland Barthes trong một tiểu
luận có tên Cái chết của tác giả được giới phê bình đương đại thường viện dẫn,
cho rằng: “sự sinh thành của người đọc phải được trả giá bởi cái chết của tác
giả”, bởi vì ông quan niệm về sáng tạo của nhà văn: “sự viết bản thân nó đã là
một thứ tiếng nói đặc biệt, tổng hợp của nhiều giọng nói khó tách rời, và vì
văn chương chính là quá trình sáng tạo ra tiếng nói này, một tiếng nói không thể
xác định được nguồn gốc cụ thể cho nó: văn chương là thứ không gian trung tính,
phức hợp, lạc hướng trong đó mọi chủ thể đều mất hút, là hố đen nhấn chìm mọi bản
thể, trước tiên là bản thể của con người cầm bút viết”.
Như vậy, trong quá trình viết, việc tác giả nhảy xổ vào văn bản
để “múa minh họa”, tìm cách giải thích hay sau đó, anh ta như một kẻ lắm mồm có
thể xé mình thành trăm mảnh bay đến bên tai mỗi độc giả để nói với từng người rằng,
tôi viết sự kia để chỉ trích về điều nọ, tôi viết câu chuyện nọ để ca tụng sự
kia… đó là một chuyện hoang tưởng, đáng mỉa mai và bất khả.
Trong một cuộc trao đổi với ký giả văn học Lévai Balázs, nhà
văn, triết gia Umberto Eco (Ý), tác giả của những tiểu thuyết uyên bác, đa
nghĩa và khó đọc, đã nói về sự “chống diễn giải”: “Nếu ta bình về sáng tác của
bản thân, điều đó có nghĩa là ta tuyên bố: tác phẩm của tôi nói về điều này điều
nọ. Tôi nghĩ không một tác giả nào có thể làm như thế. Một tác giả không làm gì
khác là gửi đi một thông điệp, để sau đó người ta đọc tác phẩm của anh theo nhiều
cách khác nhau. Nhưng tôi không khẳng định tất cả cách đọc đều đúng. Tác giả có
thể nhận biết, nếu một người nào đó đã hiểu hoàn toàn sai tiểu thuyết của mình.
Tất nhiên độc lập với chuyện ấy, một người khác có thể thấy trong sách cái mà
tác giả không hề biết mình đã đưa vào. Khi đó thì việc của tác giả là phải công
nhận người đọc đúng. Chính vì vậy mà tác giả không nên giải thích tác phẩm của
mình. Nhưng mặt khác, anh ta có thể nói về phương pháp, về cách anh làm việc,
điều đó hoàn toàn khác” (trang 219, Thế giới như là một cuốn sách mở, Lévai
Balázs, Nhã Nam & NXB Văn học, 2010)
“Khi tôi xuất bản một cuốn sách, tôi muốn hoàn toàn tránh mặt
đi. Bởi, ở đúng vào thời điểm cuốn sách ra mắt, trách nhiệm của nhà văn đối với
nó đã hết, phần còn lại là dành cho độc giả”, – Salman Rushdie nghiệm thấy.
Nhưng Roland Barthes thì cho rằng, “cái chết của tác giả” còn xa hơn thế: “tác
giả thực sự chết, và sự viết bắt đầu”.
Còn lại, là “quyền sống” của độc giả trên văn bản, thứ quyền
lực tuyệt đối, không thế lực nào có thể khống chế hay áp đặt được. Và, thông
qua hồi đáp sáng tạo trong việc đọc, mỗi độc giả sẽ “viết” (hoàn thiện tác phẩm)
theo cách của mình.
Bắt đầu từ dịch thuật
1. Thiếu tầm nhìn chiến lược – đó là cụm từ thường được các
chuyên gia nhắc đến nhiều khi nhìn sâu về thực tế cũng như tiềm lực, dự phóng
phát triển của nghệ thuật, học thuật Việt Nam trong thời gian gần đây.
2. Trong buổi nói chuyện về dịch triết học Đức tại viện Goethe gần
đây, nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn có đặt ra vấn đề lịch sử tư tưởng
triết học của một quốc gia, dân tộc chính là lịch sử dịch thuật. Ông lập luận:
“Thế nào là triết học Trung Hoa nếu không có một quá trình dịch thuật Phật học
từ chữ Phạn sang chữ Hán? Triết học Nhật Bản sẽ là gì nếu không có sự chuyển dịch
Nho học, Phật học và sau này là triết học phương Tây sang tiếng Nhật? Và chúng
ta vẫn có cảm tưởng rằng, bản thân triết học phương Tây thì không dịch lại của
ai cả, nhưng trên thực tế, toàn bộ đều có khởi nguồn từ Hy Lạp – đó chính là
quá trình chuyển dịch tư duy Hy Lạp vào tư duy Latin, La Mã!”. Và theo ông: “Cần
có sự phân biệt giữa sự tiếp nhận triết học nước ngoài nơi một cá nhân với việc
giao lưu tiếp thu tư tưởng ngoại lai của một dân tộc. Cá nhân thì có thể tiếp
thu trực tiếp, có thể đọc, suy nghĩ như một người nước ngoài và không nhất thiết
phải trải qua một quá trình gian nan chuyển dịch, còn với một dân tộc, một nền
văn hóa thì cần đến một sự chuyển dịch lâu dài và kĩ lưỡng. Dịch thuật là vấn đề
quan trọng đặt ra trong quá trình giao lưu, tiếp nhận, cải biến, sáng tạo giữa
quốc gia này với quốc gia khác. Và qua đó, trong quá trình giao lưu, tiếp nhận,
ta tìm thấy bản sắc của mình – bản sắc được tìm thấy trong tương quan với cái
khác lạ”.
Theo ông, một nước Nhật hiện đại và phát triển đặt cơ sở trên
sự tiếp thu tư tưởng và tinh hoa từ bên ngoài, mà tư tưởng lại lấy nền tảng từ
quá trình dịch thuật. Năm 1859, tập luận văn quan trọng kinh điển có tên Bàn về
tự do của John Stuart Mill được in ở Anh, thì chỉ 12 năm sau, được dịch sang tiếng
Nhật với hàng triệu ấn bản; được các nhà Duy Tân Nhật Bản xem là sách trang bị,
xây dựng nhận thức tự do nơi con người, xã hội, dân tộc Nhật hiện đại. Nước Nhật
cũng từng đầu tư du học sinh sang Đức nghiên cứu trực tiếp tư tưởng hiện đại của
Martin Heidegger và trở về giới thiệu nhân vật này tại Nhật trước khi những tác
phẩm quan trọng của triết gia này có mặt… Người Nhật chọn cách thoát Á, hiện đại
hóa tư tưởng trước khi làm chủ và hiện đại hóa kĩ thuật, công nghệ và văn hoá.
Trong khi đó, trong thời toàn cầu hóa, chúng ta vẫn sống
trong một không khí đời sống học thuật hiu hắt. Nền dịch thuật còn quá hoang
sơ. Vai trò dịch giả chưa được nhìn nhận đúng mức. Chưa có những dự án dịch thuật
tầm cỡ đáng kể giới thiệu tri thức chuyên môn, chìa khóa tư tưởng. Bên cạnh đó,
hãy còn thiếu những diễn đàn, ở đó có các chuyên gia đủ tâm huyết và uy tín để
chọn và giới thiệu với công chúng những ấn phẩm giá trị.
Mãi đến 2005 thì cuốn sách mỏng Bàn về tự do mới được dịch,
in tại Việt Nam – một đất nước luôn tự hào truyền thống hiếu học và cầu tiến,
đang rất quyết tâm hiện đại hóa – có hơn 85 triệu dân, sau 3 năm trời thì số lượng
bán ra không quá… 7.500 cuốn! Được vậy, NXB Tri thức, nơi chuyên in dạng sách
này cũng đã phấn khởi lắm. Các cuốn tư tưởng kinh điển khác: Thế giới như tôi
thấy của Anbert Einstein bán được 6.000 bản, Tâm lí học đám đông của Gustave Le
Bon bán được 8.000 bản; đây là những “bestseller” trong 3 năm qua của “nhà Tri
thức”. Nhiều tác phẩm kinh điển khác của G.W.F. Hegel, I. Kant, John Locke hay
F. Nietzsche thì còn chịu số phận hẩm hiu hơn tại Việt Nam.
Người ta gặp đi gặp lại trên những cuốn sách nặng kí này những
tên tuổi dịch giả quen thuộc. Thường sách triết gần đây thì phần lớn do Bùi Văn
Nam Sơn giới thiệu và hiệu đính. Có người nói mức độ cơn khát tư tưởng học thuật
ở Việt Nam hiện nay phải cần đến một chục ông Bùi Văn Nam Sơn. Nhưng rồi, nói
đi cũng phải nói lại, cứ nhìn vào tình hình giáo dục không khuyến khích việc đọc
như chúng ta đang chứng kiến thì đôi khi chỉ có một ông Bùi Văn Nam Sơn mà hóa
ra… thừa. Vì nếu có chục ông Bùi Văn Nam Sơn thì lượng người đọc cũng không vì
thế mà nhân lên chục lần.
Cuối cùng, hãy đóng cửa nói với nhau rằng, “ừ, thì mưa lâu thấm
đất” để làm phép thắng lợi tinh thần!
3. Nhận thức được tầm quan trọng của vai trò dịch thuật sách tư
tưởng trong giao lưu văn hóa với thế giới và trang bị cần thiết cho sự phát triển
thì sẽ nhận thấy, đây không phải là trách nhiệm của một nhóm cá nhân làm khoa học
mảnh mai dị biệt nào mà phải là trách nhiệm cần được cụ thể hóa bằng chiến lược
quốc gia, dân tộc.
Một điều kiện tối quan trọng nữa, đó là khí quyển một xã hội
tự do học thuật và nền giáo dục khuyến khích cá nhân độc lập, sáng tạo để vừa
sinh ra lực lượng kế thừa trong nghiên cứu, dịch thuật, vừa sinh ra những người
đọc chia sẻ, hưởng ứng với công việc lan tỏa tri thức. Đó là một hành trình dài
đầy khó khăn.
Thế giới sẽ nhìn người Nhật trang bị cho hiện đại hóa đất nước
của họ bằng chìa khóa tư tưởng. Hãy nghĩ lại xem, ngoài việc giăng lên khẩu hiệu
hiện đại hóa đầy rẫy ở các ngã tư, đại lộ thì người Việt đã chuẩn bị gì?
Viết văn và dầu gội đầu
Lâu rồi, có một nhãn hàng dầu gội bị dư luận chỉ trích vì
slogan “Sống là không chờ đợi”. Chung quy cũng bởi tính chất ra vẻ “hiện sinh bề
mặt” của nó.
Rồi một lần tình cờ, tôi phì cười khi nghe một nhà văn dùng
câu slogan đó để nói về nghề viết: “Viết là không chờ đợi”. Làm sao một câu
slogan quảng cáo thứ dầu gội mà có thể diễn tả đúng tình trạng hay bản chất của
nghề viết văn được? Nhưng cái nghịch lý buồn cười ấy lại phần nào có sức thuyết
phục. Nhất là viết văn trong điều kiện Việt Nam, hay nói cụ thể, là làm một nhà
văn ở Việt Nam.
Viết là không chờ đợi. Bởi vì đơn giản, là người ta chỉ viết
khi còn có thể lực tốt để duy trì sự tập trung có thể ngồi vào bàn, nghĩ ngợi
và theo đuổi sự độc lập trong tư duy, xúc cảm sáng tạo. Có nghĩa là hãy dành thời
gian tuổi trẻ để viết.
Cũng có lý. Hầu hết các nhà văn Việt Nam đều có tác phẩm “ghi
bàn” ở khoảng thời gian tuổi trẻ, độ 25 đến 45. Nhiều người có chút hiểu biết về
khoa học, lý giải rằng, với thể trạng người Việt, thì đó là quãng thời gian lý
tưởng nhất để sáng tác. Dĩ nhiên, có những trường hợp ngoại lệ: thành công quá
sớm (như các nhà thơ trong phong trào thơ Mới), cũng có những nhà văn coi viết
như hành thiền, dưỡng sinh, duy trì được sức sáng tạo lâu dài (như Nguyễn Tuân,
Lê Đạt, Trần Dần, Tô Hoài, Nguyễn Xuân Khánh…), nhưng số này không phổ biến.
Ngoài ra, một trong những nguyên do dẫn đến sự đi xuống thể
chất (kéo theo sự mất tập trung, sáng sủa trong tinh thần ở các nhà văn Việt
Nam) đó là họ bị chi phối bởi một đời sống “văn chương tập quyền”, quen được dẫn
dắt, lắm hội hè thù tạc, nhiều hội nhóm nhưng ít những khuyến khích giá trị
sáng tạo độc lập của cá nhân. Hội Nhà văn Việt Nam với gần một nghìn hội viên một
năm đến tối quay cuồng với các hoạt động hội nghị, tọa đàm, trại sáng tác, gặp
gỡ giao lưu, chưa kể hoạt động các hội văn nghệ địa phương luôn có sức hấp dẫn
kỳ lạ, khiến những nhà văn bị cuốn hút, dồn sức vào cái gọi là không gian nghề
nghiệp, mê đắm trong tâm tình, giai thoại nghề nghiệp mà quên mất công việc
chính là viết. Họ dành thời gian và tâm sức cho những hoạt động hướng tha, đàn
đúm, xây dựng giai thoại và khẩu văn hơn là những cuộc hướng nội kiếm tìm giá
trị mới cho trang viết. Họ để thời gian sức lực tuổi trẻ và sáng tạo trôi qua
trong hoang phí.
Vậy, cái cơ chế “viết là không chờ đợi” coi vậy mà thật khó.
Vì hiếm ai đủ can đảm để: không nộp đơn chờ đợi đến lượt được kết nạp Hội Nhà
văn, biết chối từ những cơ hội hội hè thù tạc nghênh ngang để có dịp tự phóng
chiếu mình vào “giới văn nghệ sĩ”, biết khước từ những trại sáng tác với mục
tiêu thành công nhất là giải ngân, và, dám thoát ra khỏi những tôn chỉ nào đó
chi phối từ bên ngoài văn chương… Cái yêu cầu cơ bản nhất là khả năng biết đóng
cửa với trang viết thì hiếm người làm được.
Viết là không chờ đợi, trong tình thế đắng cay khác, còn có
nghĩa là không chờ đợi được in. Điều này là một thử thách lớn, đồng thời đòi hỏi
ở người viết một tư thế, thái độ rạch ròi. Có nhiều nhà văn vẫn viết đều đặn
hai năm một cuốn sách, hầu hết các bản thảo đều có sức nặng đáng kể, được các
công ty sách tranh giành nhau ký hợp đồng tác quyền, song mãi vẫn không xin được
giấy phép xuất bản. Tác phẩm đóng kho vẫn không ngăn được sức viết ngày càng mạnh
mẽ của anh ta. Tiểu thuyết gia Alessandro Baricco, trong cuộc trò chuyện với
nhà báo Hungary Lévai Balázs, có một ý khá hay về nghề viết, ứng với trường hợp
này: “Viết văn, tự nó đã là một quá trình kỳ lạ, nó cho anh sự tự do tuyệt đối.
Chỉ mình anh tồn tại. Ngay cả độc giả anh cũng không nghĩ tới”. Sáng tạo trong
cô đơn và ký thác chưa đủ, đôi khi phải biết dùng phép thắng lợi tinh thần để
cười mỉa đời sống kiểm duyệt cũng là cách giúp nhà văn đứng vững với trang viết
của mình.
Và một trong những điều mà nhà văn trên toàn cầu đang phải đối
diện, đó là quyền lực truyền thông và thị trường bên ngoài tác động lên trang
viết. Liệu có thể “viết là không chờ đợi” với một tình trạng cách li hoàn toàn
với những ồn ào về cơ hội thị trường, danh tiếng, truyền thông? Với một thị trường
xuất bản eo sèo, với một môi trường truyền thông nhốn nháo nhưng thiếu trầm trọng
đời sống phê bình cùng những kênh thẩm định đáng tin cậy, thì giữ được sự bình
tĩnh, bản lĩnh và thái độ bên lề, không can dự cũng là một thử thách lớn lao của
những nhà văn hôm nay.
Xem ra, “viết là không chờ đợi” khá hợp lý. Nhưng, cuối cùng,
cái thông điệp “không chờ đợi” ấy, tự nó lại đối diện với một thách thức mới:
khả năng kiên nhẫn biết đón chờ và nuôi lớn những cuộc bùng vỡ tạo ra đột phá,
không vội vàng bung xung ngạo nghễ phình to huyễn tưởng để rồi tiêu tan như đám
bong bóng của thứ dầu gội kia.
Về một con đường sống
Mùa đông 1910, Lev Tolstoi, 82 tuổi đã cô đơn qua đời ở nhà
ga Astapovo, miền Trung nước Nga khi trên đường rời bỏ người vợ 66 tuổi (Sofia
Tolstoi, đã sinh cho ông 13 đứa con) cùng điền trang Yasnaya Polyana.
Nước Nga ngày nay đã lãng quên Lev Tolstoi. Ngày mất của Lev
Tolstoi lại trôi qua giữa mùa đông lạnh lẽo của nước Nga và sự hờ hững của nhiều
người. Đó là ghi nhận của AFP ngày 20.11.2010. Trong khi cả thế giới, đặc biệt
những người được thừa hưởng những giá trị giáo dục từ nền văn hóa Nga trong quá
khứ, đang có nhiều hoạt động kỷ niệm 100 năm ngày mất của đại văn hào.
Tại Hà Nội, nơi mà diện mạo xã hội một thời (và cho đến hôm
nay) được định hình từ những nhóm trí thức được đào tạo từ Nga, đã có nhiều hoạt
động hội thảo, triển lãm quan trọng để tưởng nhớ đại văn hào này. Một trong những
ý tưởng quan trọng xuyên suốt mọi hoạt động tưởng nhớ ngày mất của Tolstoi tại
Việt Nam: muộn màng ghi nhận tư cách Tolstoi không chỉ là văn hào của những tiểu
thuyết kinh điển đồ sộ như: Chiến tranh và hòa bình, Anna Karenina…, mà còn tư
cách một Tolstoi – nhà tư tưởng.
Cuốn sách gần 1.200 trang có tên Đường sống, tập hợp những
văn thư và nghị luận chọn lọc được viết vào những năm cuối cuộc đời suy tưởng,
khắc kỷ và khép kín của đại văn hào này đã kịp dịch và cho ra mắt độc giả Việt
Nam, cung cấp thêm cái nhìn về một Tolstoi trong tư cách “Tolstoi-ism” (Trước
đây, tại Việt Nam đã từng xuất hiện bản dịch cuốn Tự thú, do Đỗ Tư Nghĩa chuyển
ngữ từ bản dịch tiếng Anh Confession của David Patterson cũng là một bổ sung về
khía cạnh này).
Trong Đường sống, độc giả nhận ra Tolstoi là một nhà lý thuyết
về giáo dục vĩ đại. Nhiều tư tưởng của ông có tính tiên tri về xu hướng mà những
nhà dân chủ giáo dục theo đuổi về sau. Ông chống lại những chính sách giáo dục
cưỡng bách mà các nhà nước áp đặt trên dân chúng. Theo ông, nhà trường trong
trường hợp này trở thành nơi truyền dạy đạo đức giả, giết chết niềm hứng thú tiếp
nhận tri thức và sáng tạo nơi người học mà chỉ “làm méo mó trường kỳ những năng
lực trí tuệ”, làm cho trẻ em bị “tách biệt khỏi những điều kiện cần thiết để
phát triển mà chính thiên nhiên ban cho nó”.
Nhìn thấy ở nhà trường là công cụ “ngu dân dễ trị” cũng như
nhồi sọ tư tưởng mà một số chính phủ độc tài thường tiến hành, biến người học
thành những “bán sinh vật”, Tolstoi đã đả kích: “Cái trạng thái tâm lý kỳ quặc
mà tôi gọi là trạng thái học đường của tâm hồn, chúng ta rất đáng tiếc đều biết
rõ là cái trạng thái khi mà mọi năng lực cao cấp như tưởng tượng, sáng tạo, suy
luận đều nhường chỗ cho những năng lực nào đó khác bán sinh vật: phát ra những
âm không liên quan gì đến tưởng tượng, đếm những con số đứng liền nhau 1, 2, 3,
4, 5, cảm nhận những từ ngữ không liên tưởng với bất kỳ hình tượng nào; tóm lại,
nó là một năng lực đàn áp ở trong bản thân mọi năng lực cao cấp chỉ để phát triển
những năng lực phù hợp với trạng thái nhà trường như nỗi sợ sệt, sự căng thẳng
đầu óc và thói chăm chú”.
Ông đề xuất một chế độ giáo dục tôn trọng thiên hướng tự
nhiên của con người, đó là tự do chọn lựa tri thức và yêu thương. Một chế độ
giáo dục tạo nên những con người khác biệt, độc lập sáng tạo, có phương pháp để
chủ động trong cuộc sống.
Một trong những thông điệp quan trọng của cuốn sách này bên cạnh
tư tưởng giáo dục, Tolstoi bàn về khả năng ứng phó với những áp chế chính trị,
cái ác, bạo lực. Ông chủ trương hành xử bất hợp tác trong một tương giao bất bạo
động, tuân thủ một lương tâm hòa bình “mà thượng đế đặt vào” trong mỗi người
(tư tưởng này gần với Gandhi).
Nhưng cũng chính tinh thần Kitô giáo đậm đặc trong những luận
thuyết về tự do, chân lý, cứu cánh cuộc sống đó, mà triết thuyết của Tolstoi đã
trở thành mục tiêu tấn công của nhiều triết gia, văn nghệ sĩ Nga đương thời, có
lẽ nặng nề nhất là Friedrich Nietzsche (trong tác phẩm Antichrist Nietzsche cho
rằng, cùng với Wagner, Tolstoi là biểu hiện của sự suy đồi trong nền văn học
nghệ thuật).
Chính việc lên án sự mê tín văn minh, cổ súy cho việc giải trừ
quân đội và không phục tùng thứ bạo lực áp chế của nhà nước, ông bị nhà nước
Liên Xô coi là một kẻ phản động và vô chính phủ sâu sắc.
Đối lập tư cách là một nhà văn được toàn thế giới ngưỡng mộ,
Tolstoi là nhà tư tưởng rất đơn độc, với nghĩa, “kẻ chọn lối đi hẹp” (theo cách
nói của Jesus trong sách Tân Ước) khi cánh tả lẫn cánh hữu đều có lý để chống
ông. Có một điều, những kẻ chống ông từ nhỏ nhẹ đến ôn tồn nhất, từ tế nhị đến
hồ đồ nhất đều quên rằng, tư tưởng vốn là một hành trình, không phải là một
đích đến đã được định vị, bất di bất dịch; tư tưởng chính là những nghi vấn gợi
mở chứ không phải là những câu trả lời tất định luận. Thật đáng quý, chúng ta
tiếp nhận được thái độ khiêm tốn thông tuệ của ông qua tương tác thư từ của
Tolsoi với những người cùng thời như Gandhi, Soloviev, Turgenev, Henrik
Sienkiewicz hay Romain Rolland…
Trong viễn tượng của một kỷ nguyên hỗn loạn, đa nguyên để
nhìn về Tolstoi, chúng ta nhận ra vẻ hiền minh, nhỏ nhẹ của một nhà nhân văn
sâu sắc, một lý tưởng về nhân loại hòa bình, bình đẳng; được gặp một kẻ rao giảng
về sự thức tỉnh trong thế giới mà những giá trị đạo đức và luân lý có nguy cơ
mai một.
Ở khía cạnh này, Tolstoi với tư cách một nhà tư tưởng. Dù bị
lãng quên trên chính quê hương mình, ông vẫn hiện diện đầy đủ, sống động nơi phần
còn lại của nhân loại trí thức không ngừng phản tư, chống lại “mê tín” văn minh
và quyền lực.
Sorry cá kèo!
Trong kho tàng chuyện trạng lưu truyền ở Nam Bộ, có chuyện Bắt
cá kèo của Bác Ba Phi được nhiều người biết. Bác Ba Phi kể rằng ngày xưa, từ
vùng biển Đá Bạc đến dòng kênh Lung Tràm, cá kèo lội đặc như canh trong nồi. Thời
đó chưa có phương tiện đánh bắt hiện đại cho nên người ta bắt cá bằng… hai tay.
Đặc biệt, bác có tài tóm cá kèo bằng cách kẹp cá vào kẽ tay rất “bén”.
“Đơn giản như vầy chứ mỗi lần tao thò tay xuống sông rồi giơ
tay lên là bắt được mười con, mỗi kẽ tay một con. Cá kèo coi nó trơn lùi vậy chớ
không con nào chạy tuột ra khỏi được tay tao đâu”. – bác nói. Nghe lạ quá, thằng
nhỏ hóng chuyện khó tin, hỏi “tréo cẳng ngổng”: “Bác mới vừa nói mỗi kẽ tay bác
bắt một con. Hai bàn tay có tám kẽ tất cả, vậy làm sao bác bắt được mười con một
lần?”. Bác Ba Phi xuống giọng chữa cháy: “Đúng đúng. Thông thường làm gì bắt được
một lúc mười con cá kèo như vậy. Nhưng vì tay tao bắt cá “dính” quá, nên có số
cá kèo nịnh lội tới lội lui, chực sẵn bên ngoài, chờ tao thò bàn tay xuống mỗi
lần như vậy, là chúng nó nhào vô hai con một lượt để “dính ké”. Nhờ vậy mà mỗi
lần tao giơ tay lên thì được đến chục con!”
Con cá kèo lội vào trong chuyện nói dóc của Bác Ba Phi, góp
cho tiếng cười dân gian Nam Bộ những tiếng cười trong veo như quẫy nước. Thế
nhưng tiếng quẫy nước trong veo đó lại không đi theo số phận hẩm hiu của loài
cá này trên mâm bàn ẩm thực.
Quận 3 Sài Gòn hôm nay có một phố cá kèo tập trung ở quanh
chùa Xá Lợi, Sư Thiện Chiếu, rồi rải rác xuống tận góc Nguyễn Thị Diệu. Gọi phố
cá kèo là vì quán xá khu này có mức độ tập trung “chuyên doanh” cao với món đặc
sản này. Các quán cá kèo khi chiều xuống đến đêm khuya, khách vào ra nườm nượp,
nói cười rộn ràng rôm rả. Thành phần đa dạng, từ nhân viên văn phòng đến công
chức có thớ, từ đôi lứa mới yêu đang làm mềm trái tim nhau qua đường bao tử đến
những gia đình đuề huề vài ba thế hệ dắt nhau đến “đổi gió” bữa cơm chiều, từ
văn nhân tao nhã sành đàm đạo văn hóa ẩm thực đến người nhập cư tìm một chỗ cá
kèo rau đắng để có dịp “nghiêng mình nhớ đất quê”… Nhờ vậy mà những quán xá lụp
xụp một thời bỗng chốc phất lên nhanh, thành nhà hàng, lầu hai ba tầng, có quán
ở góc Nguyễn Thông – Sư Thiện Chiếu xây hẳn một… building, gắn bảng hiệu Cá Kèo
Bà Huyện nhá đèn đỏ chót, kiêu hãnh giữa trời.
Con cá kèo của Bác Ba Phi đã quẫy tưng bừng trong cái vũng ẩm
thực hợp chủng quốc có tên Sài Gòn.
Là lẩu rau đắng, chua lá giang. Là cá kèo nướng mọi chấm mắm
me. Là cá kèo chiên mặn. Cá kèo nướng ống tre. Cá kèo kho tộ. Cá kèo đa dạng biến
hóa trên menu. Người Sài Gòn ăn cá kèo theo đúng điệu thì phải là cá sống. Thời
buổi chủ nghĩa thực chứng lên ngôi, đến thượng đế món cá kèo đích thực cũng phải
tham gia vào công đoạn “thẩm định chất lượng” kỹ lưỡng để tránh bị dọn cá ươn.
Nhìn các cô xinh đẹp bận váy hàng hiệu, đeo túi xách, mang giày Gucci, thoảng
mùi nước hoa Chanel, móng tay nuột nà màu sơn kim tuyến lấp lánh đang dùng đũa
chọt chọt lựa cá sống vừa vớt ra từ mấy bể kính vừa cười nói rôm rả. Mấy con cá
nhột nhảy lưng tưng, chẳng may có mấy con sặc nước, thì phục vụ phải nhanh nhẹn
đi đổi. “Hàng tươi” muôn năm.
Trần Tiến Dũng, nhà thơ, từng có một tản văn mô tả và lý giải
về chuyện ăn cá kèo sống của người Sài Gòn: “Có người không chịu ăn cá kèo làm
sẵn, họ sợ ăn cá kèo không tươi hoặc cho rằng cá kèo ướp lạnh ăn không sung.
Người phục vụ phải bưng một nồi cá kèo còn sống nhăn trình ra cho khách. Khách
đồng ý mới đổ úp hết mớ cá đó vô cái lẩu đang sôi ùng ục rồi nhanh tay đậy nắp
lại. Nhiều người thấy chuyện ăn uống kiểu như trên ớn quá. Cá kèo là một loại
cá trơn và nhớt. Người nhà quê ăn cá kèo phải chà cá bằng tro bếp rồi rửa cho
thật sạch để cá hết tanh nhớt.
Ăn cá kiểu này là ăn theo dân đóng đáy cá kèo ngoài sông. Dân
sông nước ăn như vậy có lý của họ, vì con cá kèo mới bắt từ dưới sông chưa có
thời gian cựa quậy nên chưa tiết ra nhớt tanh. Dân đô thị học đòi ăn cá kèo
theo kiểu dân sông nước này là không đúng. Ai cũng biết con cá kèo dù là còn sống,
rọng (nhốt) trong mấy cái hồ kiếng của quán là rất tanh tưởi, so bì sao được
con cá ở cửa rạch, lòng sông” (Chuyện cá kèo, bài đăng trên Tiền vệ, 2010).
Xét về mặt văn hóa mà nói, cách thức ăn món cá kèo còn mang đậm
nét ẩm thực thời khẩn hoang. Việc chế biến đơn sơ, “dã chiến”, nhanh chóng và
tiện lợi. Chính điều đó làm nên thế mạnh trong cuộc sống đô thị hiện đại. Bởi
nó chống lại sự lý tính và cầu kỳ kiểu cách, hả hê với tinh thần bình dân, xét
về sự thức thời, thì nó đáp ứng đúng thị hiếu chuộng các món hải sản tươi sống
đang là mode ẩm thực, mặt khác, việc thực khách tham gia trải nghiệm chế biến
cũng là một dạng thức thực hành sống chậm, chống lại các trào lưu đua đòi có
tên fast-food.
Và, tính hai mặt của vấn đề là ở đây. Việc xắn tay vào cuộc,
tham gia chế biến kiểu khẩn hoang hay ho đó, lại đem đến cho thực khách một dịp
trải nghiệm kỳ lạ. Người ăn được chủ quán nhường cho cái quyền… sát sanh. “Thật
ác ôn vùng nông thôn”, người bạn xứ Bắc đã dùng thành ngữ hiện đại của mấy em
teen để bình phẩm cách chế biến cá kèo sống trong nhà hàng cá kèo Sóc Trăng ở
Sài Gòn. Anh ta quay mặt đi khi thấy nhân viên nhà hàng đang dùng những que tre
nhọn xiên dọc người từng con cá kèo trước khi nướng mọi. Anh ta không thể ăn
món cá kèo nướng mọi khi thấy lũ cá đang quằn quại tuyệt vọng, trợn mắt há mồm
nhìn thực khách trên bếp than hồng. Và càng không thể dùng món lẩu khi thấy cô
bạn gái miền Nam cười khúc khích giữ nồi nước lẩu sôi sùng sục cùng tiếng quăng
quẫy lúc rúc của mấy con cá kèo sống vừa bị ném vào. Nhưng anh bạn đáng thương
của chúng ta sẽ còn lâu mới nhận ra, cái sự kinh khủng man rợ đó, xem ra còn
thua xa chuyện các đại gia Hà Thành đi lên mạn ngược Tây Bắc mua khỉ đực nhốt
vào cũi rồi dùng dao bén hớt phắt chỏm trên đầu chúng, sau đó vắt chanh vào và
nhắm với rượu tây để tăng bản lĩnh đàn ông hay việc mấy quán lẩu dê ở miệt đồng
bằng Nam Trung Bộ trước khi sả thịt một con dê thì phải buộc dây đánh cho con vật
toát mồ hôi để “giải mùi”. Cái chết của bọn cá kèo còn xa lắc mới động đến khả
năng rúng động con người so với những cú giãy giật của những con khỉ rừng già
Tây Bắc biết thét gào và khóc lóc tiếng người trên bàn ẩm thực.
Nhưng, dẫu sao, đó chỉ là một cách trấn an để chúng ta vội
quên đi cái sự rúng động không đáng có khi chứng kiến những sinh phần chết thảm
trên bàn ăn. Lý lẽ về đấu tranh sinh tồn mạnh hơn lòng thương yêu dành cho mấy
con cá kèo sông nước miền Tây đang trải qua cảnh giới địa ngục. Chỉ một cái
rùng mình lách qua vài giây gọi là sốc văn hóa, anh bạn lại bị chinh phục ngay
bởi mùi cá kèo nướng xuyên thấu các giác quan. Khói thơm tỏa ra từ nồi lẩu phả
lên không gian quán xá một sự xui khiến vị giác khó cưỡng.
Đôi khi, hành hung động vật để có miếng ăn ngon trở thành một
việc có tính chất gần như tiêu khiển đối với chúng ta. Một khi lòng xót thương
cho những sinh linh đã cạn kiệt, thì con người quay sang hành hung đồng loại.
Các thứ thuốc bào chế từ thịt em bé đang được nước Tàu xuất khẩu đầy rẫy trên
thế giới. Chuyện một con cá kèo quằn quại trên đám lửa nổ tanh tách hay vùng vẫy
trong nồi nước sôi ùng ục thì có đáng là gì.
Hãy xem, chẳng bao lâu nữa, tiếng mõ tụng niệm từ chùa Xá Lợi
đã chìm vào trong tiếng mưa, lời khuyên giữ ngũ giới đã biến mất trong tiếng ồn
ào hỗn độn quán xá, mùi nhang trầm bị xua đi bởi mùi khói gia vị lèo xèo trên
các xiên nướng và hình ảnh bọn cá kèo quằn quại đã kết thúc cùng với chút trải
nghiệm man dã khẩn hoang, gã thanh niên ở xứ thanh lịch sẽ cởi hết mọi thứ kiểu
cách, ngồi bó một chân lên ghế kiểu mấy ông già Nam bộ thứ thiệt và cầm một
xiên cá kèo nướng chín vàng ruộm, thành kính hết mực, mà rằng: “Đ.M ngon quá,
tao sorry cá kèo!”
Ghi chú: Bài viết này được gợi ý từ một sự việc xảy ra trong
quán cá kèo gần chùa Xá Lợi. Có ông bố trẻ dỗ đứa con biếng ăn của mình rằng:
“Con trai, nếu không chịu nghe lời ba mẹ, kiếp sau sẽ bị làm con cá kèo. Nào
ngoan, nghe lời ba, ăn đi kẻo nguội. Cá kèo ngon lắm!”.
Thằng bé vẫn nhìn con cá kèo chết thảm mà nước mắt lưng
tròng, nhất định không chịu ăn. Nó đang cảm thấy Tội Nghiệp mấy con cá!
Đóng gói hung tin
“Ngày xưa, ở vương quốc Alifbay, có một thành phố u buồn, u
buồn nhất trong các thành phố, một thành phố u buồn tàn tạ đến nỗi quên cả tên
mình. Thành phố ấy nằm trên bờ một đại dương ảm đạm đầy rẫy sầu ngư, một loài
cá u uất đến mức ai ăn vào cũng ợ lên những bi thương, dù bầu trời vẫn một màu
xanh ngắt.
Phía bắc thành phố u buồn nọ sừng sững những nhà máy đồ sộ,
nơi (ấy là người ta bảo thế) nỗi buồn thực sự được sản xuất, đóng gói và gửi đi
khắp nơi, món hàng ấy thế gian này dường như chẳng bao giờ thấy đủ. Khói đen
phun ra từ ống khói nhà máy nỗi buồn và lơ lửng trên đầu thành phố như thể một
đám hung tin”.
Salman Rushdie đã bắt đầu cuốn Haroun và Biển truyện như vậy.
Bỏ đi màu sắc viễn tưởng huyền hoặc có được từ khả năng pha
chế ngôn từ của một phù thủy của mọi thời có tên Salman, người đọc dễ dàng bị
không khí đoạn mở đầu cuốn tiểu thuyết (nói là dành cho trẻ nhỏ) kia hướng suy
nghĩ về một khí quyển khác thời hiện đại mình đang sống. Một hành tinh áp suất
cao, luôn bị nén cứng bởi không khí hung tin và các biến thể khác của sầu ngư
không ngừng sinh sôi dường như đang hiện hữu.
1986, bốn năm trước khi Salman Rushdie cưỡi con chim đầu rìu
cùng cậu bé Haroun bay biến vào trong không gian, dùng mưu trí và phép thuật để
giành lại những câu chuyện và khả năng kể chuyện cho những người nhiễu sự, đòi
lại ngôn ngữ cùng niềm vui trần thế, thì Ulrich Beck, một nhà xã hội học gốc Đức,
đã nắm được tinh thần nhân loại trong thời đại của một siêu nhà thương tự kỷ, với
một thâu tóm rất xác đáng (mà sau này nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn thường hay
nhắc lại trong các bài viết): chúng ta đang sống trong một xã hội có những thay
đổi căn bản từ logic của “sự phân phối sự giàu có sang logic của sự phân phối
nguy cơ”.
Chúng ta có thể kiểm nghiệm sự chính xác của nhận định khái
quát trên khi soi chiếu vào khí quyển tinh thần của xã hội và bản thân từng người.
Chưa bao giờ thế giới ngập tràn hung tin như hôm nay. Chưa bao giờ quỹ từ biểu
đạt nỗi lo sợ lại được dùng nhiều trên sách báo, truyền thông lại trở nên giàu
có và đầy sáng tạo như trong thế giới hôm nay. Chưa bao giờ nỗi lo bệnh tật lại
ám ảnh trong các câu chuyện của con người như thời bây giờ, thời của những tiến
bộ y học vượt bậc (không tin cứ hỏi chủ đề chính thường được triển khai một
cách mê say trong những buổi gặp gỡ giữa cánh trung niên và người già là gì nếu
không phải là bệnh tật, nhà thương và cái chết). Lũ trẻ ngày nay học được thói
quen sợ vi khuẩn và nhìn đâu cũng thấy vi khuẩn nhờ các thứ kính hiển vi đồ họa
hàng ngày cứ rà đi rà lại trên màn ảnh tivi trong các mẩu quảng cáo xà bông diệt
khuẩn, dầu gội đầu hay bột giặt, kể cả thuốc trị tiêu chảy. Không gì ăn vào vô
thức người ta nhanh cho bằng những ý tưởng dọa nạt, cảnh báo ảo. Mấy ông bà già
ở tuổi xế chiều nhìn đâu cũng thấy tiểu đường, loãng xương, tim mạch khi mà cảnh
hai ba người chen chúc trên một giường bệnh với các thứ dây nhợ chai lọ rối rắm
trên mình. Thực tế luôn cho ta một câu trả lời về đích đến trong mỗi đời người,
trước khi nhận giấy thông hành là những cái lắc đầu rùng rợn, chính xác, là bệnh
viện, mà ta vẫn gọi là nhà thương để trỏ cái nơi thường xảy ra những sơ suất
rùng mình như có thể để quên một cây kéo trong bụng bệnh nhân sau ca phẫu thuật.
Rồi cả đến những tay thanh niên nam giới thời bây giờ tối ngày tập gym, cơ bắp
cuồn cuộn, thể hình hấp dẫn như món ếch lăn bột đi ra đường cũng phải xài đủ thứ
mỹ phẩm, nước hoa, à la mode (à, hành vi này có liên quan mật thiết đến trào
lưu khoa trương nhan sắc, được nói một cách trần trụi là sợ xấu, sợ hôi, sợ mất
hình ảnh), ngồi trên xe máy người ta sợ giật đồ, tai nạn, ngồi lên xe hơi lại sợ
kẻ khác va quệt trầy trụa, đến điểm hẹn lại sợ không có chỗ gửi xe, quán không
có chỗ ngồi, về nhà sợ trộm… Mọi chủng vi khuẩn có hại trong kính hiển vi đã
tăng trưởng, phát tán trong các thùng rác cũng không đủ sức làm dậy men thế giới
này bằng nỗi run sợ của chúng ta trước đời sống.
Điều đó kích thích tính năng sản của quỹ từ cường điệu sự trấn
áp tinh thần. Các từ: “thảm họa”, “vấn nạn”, “bất trắc”, “bất ổn”, “có vấn đề”,…
được dùng đi dùng lại với một cường độ cao trên các phương tiện truyền thông.
Nhìn trên bình diện dụng ngôn, thì vốn từ có sự lặp đi lặp lại với một cường độ
cao, đến một lúc, sẽ có nguy cơ sáo mòn, xơ cứng và gây ra chứng ung thư di căn
trong tâm lý sống. Như vậy, những hung tin sẽ có hai mặt, thứ nhất, làm cho người
biết có thể cảnh giác để tăng cường khả năng và kỹ năng phòng vệ nhưng mặt
khác, nó khiến con người ta hoài nghi hơn, lo lắng hơn về cuộc sống, nhìn đâu
cũng thấy rập rình bất ổn. Có điều tréo ngoe là, người ta không thể thoát ra khỏi
cảm giác đó, ngược lại, muốn biết nhiều thêm, muốn thấy sự rủi ro nhiều thêm với
tham vọng chiếm lĩnh tuyệt đối mọi kỹ năng ứng phó an toàn.
Hãy cho tôi thấy tường tận sợi lông ở ngón chân cái của con
vi trùng, tôi sẽ trả thêm tiền.
Nhưng thưa ông bà, liệu sợi lông ấy có giúp ích được gì cho
ông bà?
Các tế bào mang mầm mống sợ sệt sẽ làm tốt nhiệm vụ của mình,
nhấn chìm mọi hứng thú sống. Nói cách khác, càng hiểu biết nhiều, càng dày ảo
giác về rủi ro. Và tại đây, truyền thông là một kẻ có đóng góp hết sức đặc biệt.
Từ việc cung cấp hung tin, chúng tiến thêm một bước là nắm bắt tâm lý, thị hiếu
của các dạng thức hung tin nơi người tiếp nhận, để rồi đáp ứng nhu cầu một cách
triệt để. Việc của các tờ báo là nắm rõ nguyên tắc này:
– các tờ báo ngành an ninh là phải đăng tải nhiều những tin tức
gây án dã man, càng nhiều những mô tả chi tiết và sống động về những án mạng
kinh hoàng, đẫm máu, phi nhân tính, nhiều chuyện cảnh giác thì càng ăn khách;
– các tờ báo kinh tế hãy khắc vào trí não của người làm kinh
doanh những rủi ro thị trường luôn sẵn sàng bùng phát với nguy cơ về các cuộc
suy thoái và sụp đổ có tính hệ thống càng khó cứu vãn, chuyện các đại gia vào
tù vì vỡ nợ, hoặc tập trung bàn chuyện chia chác của cải của những cuộc tình li
kỳ mà đối tác là các đại gia với cánh chân dài để thấy hôn nhân cũng là một hạng
mục rủi ro trong đầu tư thời buổi này;
- các trang mục văn hóa vốn là món ăn tinh thần của quần
chúng hãy đóng gói những scandal ầm ĩ của những ngôi sao, phục vụ tận nhà những
đường dẫn đồi trụy để khiến cho các phụ huynh phải hụt hơi canh chừng bọn trẻ sống
ảo trên mạng, chưa nói, càng nhiều vụ ngất xỉu vì lậm game online khiến mọi phụ
huynh đều cơ hồ thấy trong ánh mắt con mình có sự phờ phạc mệt mỏi một game thủ;
– những trang báo quốc tế không ngừng cung cấp thông tin hết
chiến tranh khủng bố đến dầu tràn, máy bay rơi, động đất, hết bom nguyên tử đến
những sấm ngôn về ngày tận thế, rồi khi thế giới chẳng còn gì đáng nói, thì hãy
sử dụng motif thiên thạch sắp đâm vào trái đất hay các đám mây nhiễm xạ gây ung
thư…
Vân vân, hướng triển khai thông tin là như thế, đảm bảo ăn
khách hơn cả… Phạm Văn Mách! Phía sau mỗi “sản phẩm hung tin”, truyền thông muốn
chú thích với người tiếp nhận rằng, thời buổi này, tai họa rình rập khắp nơi nếu
không biết lo sợ, thường trực đề phòng thì không phải là con người… văn minh!
Có cầu thì có cung. Người ta từ tâm lý muốn biết rõ câu chuyện
các tội ác để tránh đến chỗ phát triển nhu cầu được tái hiện chi tiết, không phải
để đơn giản là phòng ngừa, mà là để thỏa mãn sự tò mò. Chưa bao giờ người đọc
có nhu cầu cao trong việc ngốn hung tin như hiện nay. Có thể kiểm chứng bằng việc
những tin tức án mạng giật gân luôn leo lên vị trí được truy cập nhiều nhất
trên những trang báo mạng và sách trinh thám, phim hành động, kinh dị, thảm họa
kiểu bom tấn Hollywood vẫn là một thị trường béo bở.
Với con người trong kỷ nguyên khoa học và công nghệ thông
tin, sự an toàn không bao giờ là đủ trong một thế giới hỗn loạn và đầy rẫy sự cố.
Công nghệ cung cấp cho con người khả năng tri nhận nhiều hơn về những nguy cơ
đe dọa cuộc sống và sự an toàn của chính mình qua chuỗi sự kiện hằng ngày ở khắp
nơi. Chính truyền thông về nguy cơ là cái mà ngày trước, cha ông họ không thể
có được để đề kháng trước mọi rủi ro. Song chính truyền thông về nguy cơ trong
tình trạng không giải pháp cũng đẩy con người đến vương quốc bị thống trị bởi một
ông vua vĩ đại có tên là Nỗi Sợ Hãi.
Truman Capote trong tác phẩm kinh điển Máu lạnh, viết về hai
tên giết người tấn công một nông trại, giết trọn gia đình ông chủ nông trại bằng
các hình thức dã man, từ trói tay chân rồi chặt chém, cắt cổ họng đến nã đạn
vào đầu các nạn nhân. Vụ giết người man rợ có thật ở cái nơi mà ông gọi là “ở
ngoài kia”, tức làng Holcomb thuộc tây Kansas, Mỹ vào khoảng thập niên 40 đã tạo
ra một nỗi sợ lây lan và khuếch đại trong trong ngôi làng đến nỗi, Truman
Capote chỉ cần ghi lại lời của một ông chủ cửa hàng: “Quanh đây, khóa và chốt
cài là mặt hàng chạy nhất. Người ta mua bất cần nhãn hiệu; chỉ cốt sao chắc là
được”. Rồi nhà văn mô tả từng phân tử khí u ám đang phát tán tại làng Holcomb:
“Dĩ nhiên, óc tưởng tượng có thể mở được bất cứ cửa nào – vặn khóa và để cho nỗi
kinh hoàng bước thẳng vào nhà. Thứ Ba, lúc sáng sớm, một xe đầy nhóc dân săn
trĩ từ Colorado đến – những dân lạ lẫm, không biết đến tai họa của địa phương –
đã sửng sốt bởi điều họ trông thấy khi băng qua các đồng cỏ hay đi qua Holcomb:
cửa sổ chói chang, gần như mọi cửa sổ của mọi nhà, và trong các gian phòng đèn
sáng quăng quắc đầy những người, thậm chí toàn gia, ăn mặc đủ lệ áo quần, ngồi
suốt đêm thức trắng, nghe ngóng. Họ sợ cái gì thế? Nó “có thể xảy ra”. Đó là
câu trả lời quen thuộc, với đôi chút khác nhau”. Và điều nguy hiểm nhất, không
phải là nỗi sợ mà là sự suy sụp đến từ cái lý do xấu nhất, người ta nghi kị lẫn
nhau, “họ tin rằng kẻ giết người là ai đó trong số họ”.
Năm 2011, một vụ án mạng cướp của giết người xảy ra tại Việt
Nam, tương tự như vụ được Truman Capote mô tả trong Máu lạnh. Nhưng nó rùng rợn
hơn và man dã hơn vì kẻ sát nhân còn hai tháng nữa mới qua tuổi vị thành niên
nhưng đủ sức một mình dùng dao phớ để giết chết vợ chồng chủ tiệm vàng cùng đứa
con gái đầu, chặt đứt bàn tay của đứa con gái út chưa đầy năm tuổi. Hành vi tội
ác man rợ đó kéo dài trong chưa đầy hai giờ đồng hồ nhưng được truyền thông
trong nước mô tả chi tiết kéo dài trong bốn tháng trời. Tất cả được tái hiện một
lần nữa, thật rõ nét, khi vụ xử án diễn ra. Từ báo chí đến các trang web, mạng
xã hội, không đếm xuể những lời kết án sát thủ vị thành niên này dù theo luật
pháp nước Việt Nam, cậu ta chỉ nhận mức án cao nhất với tội sát nhân vị thành
niên là 18 năm tù. Trên một trang mạng, một nhà văn đã nhìn ra vấn đề: với nỗi
lo âu thường trực, với sự ám ảnh có được qua những bản tường trình mà truyền
thông mang lại, thì tên sát nhân kia phạm một tội ác kinh khủng hơn việc cầm
dao giết chết ba mạng người, đó là: biến đám đông trở thành những kẻ sợ hãi và
có ý muốn giết người.
Trong khi đó, một điều hiển nhiên khác đang diễn ra: những ai
theo dõi báo chí về vụ án mạng một cách chi tiết đều có khả năng bị mắc chứng
hoang tưởng khi thấy gương mặt kẻ sát nhân vị thành niên kia hiện diện trong mọi
góc khuất của chính ngôi nhà của mình. Hắn và con dao phớ luôn hiện diện trong
bóng tối, trên cầu thang để chờ thời cơ vung dao. Sẽ còn rất lâu năm để nỗi ám ảnh
về kẻ sát nhân ảo biến khỏi đầu óc của họ. Hy vọng đây không phải là nguyên
nhân dẫn đến sự tăng đột biến của bệnh da liễu, bệnh sỏi thận vì nhịn tiểu đêm
hay chứng rối loạn nhịp tim do xài quá nhiều vốn liếng andrenaline trong cơ thể.
Trong cái nhìn đầy hài hước của mình, Salman Rusdie coi nỗi
buồn, nỗi sợ là một sản phẩm có thể đóng gói và xuất khẩu.
Trong những bối cảnh xã hội mà con người quen sống với sự phi
lý, thế lực bạo quyền và cái ác có nguy cơ gia tăng công khai, sự thật không đủ
đem lại lẽ công bằng, các chuẩn tắc đạo đức, luân lý và pháp luật bị xem nhẹ,
thì những “gói thuê bao sản phẩm thông tin thiếu vắng giải pháp” luôn là thứ
bán chạy nhất - phục vụ cho xu thế tiêu thụ nguy cơ lớn lên từng ngày trong cộng
đồng.
“Vì nhu cầu được sợ hãi không ngừng gia tăng, chúng ta phục vụ!”
- Hẳn đó là một slogan không tồi cho cánh ký giả dấn thân không biết mệt trong
việc “đóng gói” những thông tin Cướp, Giết, Hiếp, Đâm Xe Cán Chó đáp ứng thị hiếu
đời sống ngày càng cao.
Những “gói hàng” đó không chỉ nâng cao hiệu ứng lo hãi
(anxiety) mà còn hé lộ cho người ta thấy rằng, quý vị độc giả thân mến, hãy
dùng tạm thứ này đi, và hãy biết náo nức chờ đợi, hàng hôm sau sẽ còn đỉnh của
đỉnh.
Rước cây vào nhà
Lá là lộc, hoa là thọ, cội rễ, cành nhánh, dáng cây là phúc đức.
Phúc, lộc, thọ có mặt khi con người đằm mình trong không gian cỏ cây. Không dịp
nào cái triết lý ấy được thể hiện rõ ràng như trong ba ngày Tết. Nhờ đó, ngày Tết,
dịp quây quần đoàn tụ cũng được tô điểm thêm bởi sắc màu cỏ hoa.
Đó là chuyện truyền thống.
Không một văn bản nghiên cứu nào về phong tục Tết người Việt
mà không nhắc đến sự sinh động của không gian bày biện hoa quả. Có thể, bên cạnh
câu đối, bánh chưng, mâm cỗ và khói hương tiên tổ, thì hoa quả thiên nhiên bước
vào đời sống Tết, mang lại cho không gian Tết trong mỗi gia đình một vẻ đẹp vừa
thanh cao, ấm cúng, lại vừa tươi mới, hài hòa.
Trong sách Việt Nam phong tục, phần về Tết Nguyên đán, cụ
Phan Kế Bính viết đại ý, việc chặt tre dựng cây nêu vào ngày ba mươi là để trừ
quỷ, việc hái cài cành lộc vào trước cửa nhà trong sáng mùng 2 là cầu mong may
mắn, xuất hành tốt lành.
Còn nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên, từ con mắt Tây học, đã
phân tích ở góc độ trật tự thiên nhiên và trật tự con người, ở đó, phong thủy,
tín ngưỡng văn hóa nông nghiệp đặt trong sự tương tác, điều kiện môi trường,
mùa màng:
“Trái đất thậm chí trẻ lại và chứa đầy một sức sống mới vào
những ngày đầu năm”; “người Việt tin rằng thế giới có những nguyên lý sinh tồn
xuyên qua, thấm vào và làm cho mọi người và mọi vật sống động. Có những nguyên
lý sinh sản và truyền sinh khí. Có những nguyên lý khác lại gây tác hại, làm
tan rã và gây chết cho người. Trên mặt đất, có những nơi được khí lành thổi
qua. Muốn được phúc, lộc, thọ, con người phải tìm đến những khí đó để xây dựng
nơi ở của mình. Họ phải tránh các nơi độc hại, ảnh hưởng của khí dữ thổi qua.
Những luồng khí này luôn lơ lửng trên không, thường xuyên vận động…”
Trong khi đó, thong dong điền dã, dưới con mắt một nhà văn,
nhà nghiên cứu tài tử, Sơn Nam, trong biên khảo về Nghi thức và lễ bái của người
Việt Nam, có nói chuyện người phương Nam chưng hoa mai và mâm quả. “Thời xưa
còn gì hơn là chưng bày hoa quả để ca ngợi đất nước và sự hài hòa của thời tiết
(gió thuận mưa hòa). Chưng bày “bá hoa bá quả”, tùy giàu nghèo mà cái dĩa, cái
bình lớn hay nhỏ”.
Quả thật, muốn biết người Việt nhạy cảm với mùa màng thế nào,
thời tiết thế nào thì hãy nhìn vào việc cúng quảy, trang hoàng ngày Tết của họ.
Cũng không lạ với một đất nước nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có đến bốn mùa tám tiết,
việc canh nông còn trông chờ nhiều vào ông trời. Nhưng điều lạ là, những triết
lý và gởi gắm xuất phát từ điều kiện đời sống nông nghiệp ấy lại được chuyển
hóa một cách êm thắm và ngọt ngào thành những giá trị mới, trong điều kiện nhiều
thay đổi của xã hội hiện đại. Cũng có một vài điều chỉnh phù hợp hơn với sự văn
minh và hiểu biết, ví dụ chuyện hái lộc chùa sáng mùng hai về dắt trước cửa nhà
đã không còn khi người ta nhận ra, ác quỷ tà ma đâu không thấy nhưng chỉ tội
cho những cành lộc non (về sau này, ở miền Nam ngày Tết người ta mua cây phát
tài – loại cây mọc có hình chồi non – về chưng thay cho việc hái lộc, nên những
vựa hoa miền Tây có nhiều năm được mùa phát tài). Ví dụ chuyện Tết xưa, người
ta đi mua những nhánh hoa chặt từ cây mai, cây đào trên rừng về để chưng Tết
trong nhà, sau một tuần lễ, cây trổ hết lộc non, bung hết hoa đẹp, người ta vứt
cây ra vườn thì nay, người ta nhận thấy trong việc đó có gì phụ rẫy thiên
nhiên, nên sẽ trồng cây, vừa xanh quanh năm trước hiên nhà, ngày Tết còn tha hồ
ngắm nghía. Ví dụ, ngày xưa người ta ngắt hoa vạn thọ cho vào những chậu cắm nước.
Nay thì khác, mua nguyên gốc từ nhà vườn về và cho vào chậu trồng. Hoa nở xong,
phơi khô, vãi đều, mùa mưa sau cây mọc lên, cứ vậy mà nhà lại có vườn hoa cũng
nên. Vừa tiết kiệm, vừa làm đẹp cho không gian sống trong ngôi nhà của mình. Việc
dùng khoảng ban công, sân thượng hay một góc nhà để chưng cây cỏ rồi chăm chút
quanh năm cũng là cách thế để tìm đến cuộc sống an nhàn, tự tại sau những bề bộn
lo toan ngày càng khốc liệt.
Cành hoa ngày Tết trong nhà đã mang vào đó một sự chuyển hóa
nhận thức, từ chỗ đậm đặc tín ngưỡng dân gian đã có chiều hướng xoay dần sang ý
nghĩa thẩm mỹ, ý thức môi trường. Từ chưng bày nghi thức sang thưởng ngoạn. Người
thành phố hôm nay bị cuốn đi bởi đời sống dịch vụ và nhịp sống gấp vội. Tết nhất
có khi chẳng rảnh rang để giữ đúng nghi thức truyền thống. Mọi thứ được đơn giản
hóa hết cỡ. Miễn sao thấy thoải mái, an nhàn, nghỉ ngơi. Nhưng, dù bận bịu,
tranh thủ ngơi nghỉ đến mấy, thì cũng thấy nhà ai tối thiểu cũng có mâm quả
cúng tổ tiên, có vài chậu hoa cúc, hoa lan, hoa thọ, hoa mai, hoa đào để chưng
tết.
Hoa từ trong nhà ra những đại lộ. Những căn phòng hoa nối những
con đường hoa. Màu xanh của lá, màu vàng, hay sắc hồng của hoa làm cho những
căn phòng tươi tắn hơn thường ngày. Sắc màu tươi non khiến lòng người phấn chấn.
Thiên nhiên cỏ cây hướng tâm hồn đến với những viễn tưởng lạc quan tương lai.
Và cỏ lá thiên nhiên có mặt trong ngôi nhà, cũng mang về sự ấm cúng, hài hòa
cho tâm tưởng, giúp cho tinh thần hài hòa thư thái để thêm sức khỏe, sự dẻo dai
và sáng suốt đối diện với những trở lực phía trước.
Từ chỗ mang đậm dấu ấn tâm linh dân gian, việc bày biện cây
trái ngày Tết đã tiếp biến với triết lý sống xanh, cũng là một giải pháp tích cực
trong thời biến đổi khí hậu.
Chuyện đời nằm trong xó bếp
Bếp mang trong mình cả thế giới. Điều này không mấy ai nhận
ra.
Ngay cả ông Marcus Tullius Cicero, một triết gia hàng đầu
trong thời La Mã cổ đại, cũng đã bỏ qua vai trò của nhà bếp khi nói đại ý, với
ông, cuộc đời chỉ cần một thư viện đầy sách và một khu vườn là đủ.
Coi trọng thức ăn tinh thần mà bỏ qua thức ăn vật chất sẽ dẫn
đến một sai lầm khó lường, đó là con người sẽ chẳng tìm thấy cái nghĩa lý hưởng
thụ giá trị rất đỗi tinh thần trong chuyện ăn uống và niềm vui bếp núc.
Hẳn thế, nên người ta vẫn bĩu môi cho qua một điều hệ trọng
nào đó sau khi thở dài: “Úi dào, chuyện bếp núc ấy mà”. “Bếp núc” trở thành
cách nói chỉ những sự việc không chính thức, chuyện “hậu trường”, không đủ
nghiêm trọng để có thể căn cứ đó mà nhìn nhận “yếu tính” của sự việc.
Điều này có căn nguyên của nó. Trong bố trí không gian nhà
truyền thống của người Việt, gian bếp thường được bố trí ở phía sau, vị trí khuất
so với gian chính là phòng khách và các phòng nghỉ. Nhiều nơi còn làm chòi bếp
riêng, lụp xụp, hết sức tạm bợ. Có lẽ do ở xứ nhiệt đới, người ta ngại việc nấu
nướng để khói, mùi dầu mỡ, thức ăn tỏa ra làm bức bối, hôi hám nhà cửa. Mặt
khác, người Việt kín đáo trong chuyện ăn uống, ngại khách lạ ghé mắt ngó vào
gian bếp, đánh giá chuyện ăn uống, nhìn vào cái ăn mà suy diễn vật chất, kinh tế
trong nhà.
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử đói kém, khốn khó, miếng ăn
từng bị coi là miếng nhục, người ăn còn khó ngẩng mặt lên khỏi bát, nhà bếp thì
có gì mà phải tôn vinh lên tầm... chính thức hay ngoại giao. Nếu có ai xầm xì,
thì đã có bài thuốc AQ, rằng: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn, việc
gì phải bếp núc lôi thôi”. Hay: “Quân tử thực vô cầu báo”.
Thời gian một năm của người Việt xoay quanh trùng trùng lễ hội,
tiệc tùng đám điếu. Bếp Việt truyền thống xem ra hiếm khi nguội tro. Vậy mà, bếp
núc vẫn cứ là chuyện đàn bà, nhất quyết không thể lọt vào trong thế giới to tát
đại sự của quý ông!
Lạ, người ta thích ăn ngon, sính ăn đến cỡ nào, thì chuyện bếp
núc vẫn chỉ là bếp núc. Thế mới dẫn tới cái hệ lụy này: một anh đi tán gái, si
mê một cô thôn nữ con nhà lành chỉ vì mỗi lần đến chơi nhà đều được nàng đãi
vài món ngon, làm anh chàng cứ mơ tưởng rằng mai mốt cưới về hẳn ngày ngày sẽ
được nàng nấu cho những bữa ăn hợp khẩu vị. Nào ngờ, mọi thứ sụp đổ sau vụ hôn
nhân vội vàng thiếu minh bạch và chưa qua khảo sát kỹ càng kia: cưới về chị vợ
thường xuyên để tình trạng bếp không nhóm lửa. Chuyện đã rồi, đem tâm sự với bà
già vợ, lúc này thì bà già vợ mới xưng tội với anh con rể, chuyện là những bữa
ăn ngon trước đây không phải do vợ anh nấu, mà do chính bà già vợ ra tay để
giúp con gái sớm có chồng. Chàng trai nọ giận mẹ vợ hay vợ thì đã muộn. Chỉ biết
ngửa đầu lên hỏi trời cao sao sinh ra cái chái bếp nằm khuất mắt, gây ra những
ngộ nhận đưa đến sự bất cập mà anh phải sống chung suốt một đời.
Tránh tình thế nông nổi đó, mới có chuyện ngày trước, mẹ chồng
thường chọn nàng dâu bằng cách đi xuống bếp, ngó nghiêng sự ngăn nắp, gọn gàng,
nhìn thao tác nấu nướng, thẩm định vài món ăn nàng nấu để rồi cho điểm số về đức
hạnh. Chẳng phải ai cũng đủ cái uy quyền để hiên ngang tiến thẳng vào vương quốc
của nàng dâu, thực thi công việc thanh tra giám sát gắt gỏng như các bà mẹ chồng
đâu! Vậy mới dễ thấu vì sao có cái thói thường mẹ chồng nàng dâu lục đục bếp
núc mà sinh ra lắm sự nhùng nhằng nhiễu sự.
Bếp không đi vào trung tâm của những đại sự, mặc dù vậy, thì
đôi khi những thứ bị coi “ngoại vi” kia lại nảy sinh thật nhiều cảm xúc. Vì nó
gần gũi, thân thương, tác động đến tâm trí, trái tim con người xuyên qua năm
giác quan mỗi người một cách trực tiếp. Trong mỗi con người ở xứ sở văn minh Thần
Nông này, âm thanh ống thổi lửa của bà mỗi sớm, tiếng lửa cười trên bếp mỗi chiều,
mùi khói bếp chờn vờn có thể là những “ký hiệu” vắt ra được cả một suối nước mắt
hoài niệm. Trong bài thơ Giang hồ rất nổi tiếng của Trần Hữu Quang, có hai câu
này:
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà
Hiếm có tay thi sĩ nào nắm bắt được cái “tình trong/ mặt
ngoài” đầy phức tạp nơi tâm hồn lãng tử chọc trời khuấy nước ngang tàng kia lại
có lúc bị quật ngã bởi cái thăm thẳm u hoài nuối trong một âm thanh ấp úng gợi
nhớ rất đỗi... bếp núc đến vậy. Tâm hồn những đứa con giang hồ thi sĩ ăn nói
văng mạng hãy coi chừng, vùng vẫy hết một đời vẫn không thoát khỏi cái xó bếp xập
xệ kia đâu!
Kẻ đáng trách, là cái ông Khổng tử xưa bốc quá liều vị thuốc
“Lễ” vào trong chuyện ăn uống, thành ra nó làm cho cái suy nghĩ tâm tình của
con người về miếng ăn và những thứ liên quan đến miếng ăn ra vẻ như xa cách, tầm
thường, ít màu sắc hưởng thụ, khoan khoái mà xem trọng cái sự kiểu cách đến dửng
dưng.
Hệ lụy nhãn tiền là, có chuyện những thứ con người gắn bó
thân quen vậy mà cứ luôn cố làm ra vẻ lạnh lùng, xa lạ, rồi ôm mối dày vò thắc
thỏm một mình, khó bề sẻ chia (sợ nói nhiều tới ăn uống, bếp núc thì bị “đánh
giá” là kẻ phàm phu, tầm thường, ti tiện, đàn bà).
Tội nghiệp, vì ít được giãi bày, sẻ chia, biểu hiện tình cảm,
mà cái góc bếp quen thuộc dân dã với chân kiềng, chạn tre bám đầy bồ hóng cứ
rưng rức hồng ánh lửa trong tâm trí, vách tường mộc mạc in bóng hình bao người
thân yêu suốt những dặm dài thiên di. Thế rồi, thành ẩn ức. Một hôm nào đó những
biểu tượng đó cồn cào thức dậy làm mưa gió trong tâm tưởng kẻ hoài hương. Các
ông thi sĩ, nhạc sĩ thì thi nhau ca ngợi cái bóng khói ngún ngún tỏa lơ mơ trên
những mái tranh chiều mà gọi đó là thứ khói hoàng hôn hay khói lam chiều gì gì
đó. Giấy mực chữ nghĩa sẵn ẩn ức, chỉ cần khẽ khơi ra là cái bếp nghèo hèn được
đẩy lên hàng vũ trụ rộng lớn. Choáng ngợp mùi đời.
Nhà bếp từ chỗ lục đục thấp hèn phi chính thống được lôi ra
ngay cạnh bàn khách đường hoàng ngạo nghễ, được trang điểm tút tỉa chưng diện.
Học người Tây, coi ăn uống là hưởng thụ, là thưởng thức, con người thời mới tự
tin vỗ ngực rằng, ta sống trong nhà bếp còn nhiều hơn trong phòng ngủ, phòng
khách. Tư duy xoay chuyển rồi. Nhà bếp mới là nơi cần được phô trương. Thời bếp
không khói (dùng bếp điện, bếp gas), nhân vật chính của bếp – cái kiềng ba chân
– chỉ còn nằm trong tục ngữ, nhưng ngọn lửa không vì thế mà mất đi sự ấm cúng
cho từng gia cảnh. Chức năng vẫn là nơi sản xuất ra biết bao món ngon, nơi để
biết bao người trổ tài, chia sẻ sự hiểu biết trong ăn uống một cách sành điệu,
công khai.
Đời bếp đang lên. Cứ đi vào các showroom nội thất thì biết, lắm
người không tiếc tiền chi cho các thiết bị để có một gian bếp thông minh. Trong
khi đó, phòng khách thì muôn đời vẫn thế, phải tính toán lại các khoản đầu tư,
vì nhàm rồi, ít sử dụng, chẳng có gì khám phá và trình diễn ở đó nữa.
Thân phận của bếp không còn lủi thủi tội nghiệp, không còn
khuất chìm như xưa, mà đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” trong ngôi nhà hiện đại.
Càng có cớ để nhảy vọt quá độ, bỏ qua tầm cỡ quốc gia, tiến thẳng ra biển lớn.
Đó là một ngày đẹp trời, có ông Tây là cha đẻ marketing hiện đại thấy người Việt
di dân khắp năm châu chẳng mang theo gì đáng kể ngoài căn bếp và những món
ngon, liền mách nước: – Các anh đừng tìm nghĩa lý hội nhập, phẳng phiếc đâu cho
xa. Giá trị của các anh nằm ở trong... bếp. Việt Nam có thể định vị mình thành
nhà bếp của thế giới.
Ông ấy là Philip Kotler.
Ngồi trong căn bếp mới, thật tinh tươm, người ta cũng có dịp
nói với nhau rằng, thôi thì trở về sống lại với bổn tính tự nhiên, để cho cái sến
rện nhớ nhung hoài niệm cũng thiệt là tự nhiên bộc phát đi, để thong dong tình
trong ra sao thì mặt ngoài nó làm vậy.
Thế rồi một hôm, có ai đó nói cho tôi nghe cái câu thành ngữ
về sự lăn xả. “Muốn ăn thì lăn vô bếp”. Ngồi trong nhà bếp của thế giới, nghe vậy,
đã dễ sợ. Hình như, nhờ cái phá vách ngăn, phi kiểu cách, bất thiên kiến kì thị
trong nhìn nhận không gian đó mà cái chái bếp truyền thống đã được dời từ ngoại
vi vào trung tâm, từ tiểu tự sự vào đại tự sự. Đùng một cái, gian bếp được đưa
ra ngay cạnh cửa chính trong các căn hộ cao cấp, biểu dương lực lượng soong chảo,
tỏi, hành, đầy mùi vị, đầy thiết bị điện tử cáu cạnh, đầy hi-tech, đầy hồ hởi,
hả hê. Các thầy phong thủy còn tha hồ chỉ trỏ, bố trí làm sao cho âm dương hòa
hợp nhé. Nước không được đối lửa, ánh sáng phải hài hòa nóng và lạnh, độ thoáng
phải đảm bảo nguyên tắc khí động học. Tha hồ chăm chút.
Vậy là, bếp ôm vào cả thế giới rồi còn gì. Nên các nhà ngữ
văn ơi, quý vị có quyền suy diễn rằng, cái bếp trong câu thành ngữ trên đây
không dừng ở không gian nhà bếp, không khéo, còn là ẩn dụ về cả cái đời sống
nhân quần rộng lớn và đầy phức tạp nữa kia. Ở đó, muốn thấu mùi đời thì phải trải,
biết “lăn vô”, biết dấn thân.
Thân phận bếp thay đổi. Văn minh bếp đã thay đổi. Biểu tượng
bếp, hẳn, đã khác đi.
Qua thời khốn khó, thiếu thốn vật chất, người Việt mình đã
đón nhận tâm thế sống hào sảng, biết hưởng thụ hơn trong ẩm thực. Nhờ hào sảng
mà người ta nhìn ra được tính phổ quát và biểu tượng đời sống đầy đủ nhất từ
cái không gian chế biến lương thực, tạo ra nguồn thức ăn trong ngôi nhà, căn hộ
của mình. Xắn tay “lăn” vào bếp để có cái ăn ngon, để trổ tài hiểu biết, sành sỏi
trong văn hóa ẩm thực. Dấn thân vào đời để mà sống với, sống cùng, sống ấm áp,
sống phong phú, sống trọn vẹn và bình đẳng cuộc đời rộng lớn.
Chuyện định vị lại gian bếp, trong lời ăn tiếng nói, hóa ra
phản ánh cả chuyện kiến trúc lại quan điểm nhân sinh, tư duy và hành xử lại với
đời sống của con người là vậy.
Bèn lấy tư duy hiện đại mà mạo muội gửi đến ngài Cicero cao
quý uyên bác xưa một gợi ý nhỏ rằng: “Thưa ngài, giá như khu vườn và thư viện của
ngài một hôm nào đó cũng nằm gọn trong... gian nhà bếp thì cuộc đời sẽ đầy đủ
và hoan hỉ hơn muôn phần!”
Hành trình về với bếp
Theo cách hiểu truyền thống, thì nhà bếp là chỗ phản ánh rõ
ràng nhất về sự sung túc của một gia đình. Vì đó là chốn tích trữ lương thực,
nơi cung cấp nguồn năng lượng sống, đảm bảo sức khỏe cho những thành viên trong
gia đình. Nhưng hiện tại, bếp còn là không gian của sự hưởng thụ, thể hiện lối
sống, gắn bó giữa các thành viên gia đình với nhau, giữa người trong gia đình với
người thân bên ngoài.
Các trang tạp chí kiến trúc thường giỏi sắp đặt, phô bày hình
ảnh những nhà bếp hiện đại trang nhã trên cả mơ ước. Nhưng bạn hãy bình tĩnh và
quan sát kỹ, trên những thiết bị tủ gỗ, bếp gas, máy hút khói, bồn rửa có
thương hiệu nổi tiếng kia lại thiếu sự ngổn ngang mà sống động của các vật dụng
thân quen soong nồi chén dĩa, trên mặt bàn ăn luôn trải khăn phẳng phiu sạch sẽ
với đĩa trái cây mọng màu nhưng lại thiếu những búi hành, tỏi treo lủng lẳng
hay những ngăn mắm muối, gia vị dự trữ…
Hẳn nhiên, bản thân “tác phẩm installation art” (nghệ thuật sắp
đặt) phô trương sự sang trọng sành điệu kia phản ánh một thứ hiện thực về công
năng và tính thẩm mỹ của không gian bếp trong đời sống đô thị hiện đại. Nhưng
hình như, sự bóng lộn, tinh tươm đó lại tố cáo một điều: chức năng truyền thống
– dự trữ lương thực và chế biến thức ăn, nơi chốn của những bữa ăn gia đình đã
có phần nhún nhường cho những giá trị khác mang tính trang trí và phô diễn.
Trong xã hội công nghiệp, cuộc sống vội vàng, nhiều gia đình
đã quên cả thói quen vào bếp. Những bữa cơm sum vầy trong không gian đầm ấm
cũng mất đi. Bếp không còn ấm, sự gắn kết giữa các thành viên ruột thịt cũng có
nguy cơ rạn nứt âm thầm.
Giữ bếp ấm là một trong những yếu tố quan trọng không chỉ để
giữ nếp nhà mà còn là nơi thể hiện sự gần gũi, với người thân bên ngoài. Vì vậy,
trong thiết kế kiến trúc một ngôi nhà, bếp luôn là khu vực khó nhằn nhất, vì nó
phải đảm bảo giá trị sử dụng và những nguyên tắc phong thủy một cách hết sức
nghiêm ngặt, tiện nghi và thoải mái, tạo ra không khí tự nhiên nhất để người sống
trong ngôi nhà có thể sum vầy, gần gũi.
Vậy, ngoài công năng sinh hoạt nấu nướng ăn uống của gia
đình, bàn ăn trong nhà bếp lắm lúc cũng thay thế luôn cả chức năng bàn tiếp
khách. Nhiều gia chủ xác định rất rõ việc tiếp khách ở phòng khách chỉ mang
tính chất “ngoại giao”, còn một khi đã mời khách vào bếp dùng bữa và tâm tình,
ngầm hiểu rằng, mối quan hệ đã được dẫn dắt phát triển sang một mức độ khác,
thân thiết, gắn bó hơn.
Một người bạn họa sĩ nhiều năm chu du khắp xứ châu Âu, dự biết
bao tiệc tùng, thưởng thức biết bao món ngon trong những căn bếp sang trọng của
bạn bè nơi xứ người, vậy mà khi trở về quê hương đã gọi tên được nỗi nhớ nhà
thông qua câu chuyện bếp núc: “Lâu lâu nhớ mùi khói bếp than, mùi thơm nồi cá
ngừ kho của bà nội ở quê!”.
Nhà bếp thân thương với bạn tôi là sự cô đọng hình ảnh ký ức,
linh hồn của không gian, hương vị quê nhà sẽ đi theo suốt cuộc đời. Quả thật, bếp
là nơi đánh thức giác quan, ghi dấu ấn đậm đà về không gian sống, thậm chí, tạo
nên linh hồn của nơi chốn. Tại đó, tôi được nhìn thấy, trải nghiệm hình ảnh ấm
cúng của một gia đình, được ngửi tiếng ấp úng sôi của một nồi nước, tiếng chiên
xào một đĩa cá, tiếng thịt rán, nướng nổ lách tách, tiếng chén đĩa chạm vào
nhau khẽ khàng và nghe mùi vị từng món ngon phảng phất trong không gian, rồi cuối
cùng, được mời gọi đi vào một bữa cơm chan chứa tình thân.
Và, ở nhà bếp, người ta có lý do để nhắc nhở khách: “Anh (chị)
cứ tự nhiên như ở nhà mình!”
Những thiết bị hiện đại sẽ làm giảm thiểu các công đoạn chế
biến thức ăn, làm sáng sủa hơn diện mạo nhà bếp, nhiều gia chủ có điều kiện tài
chính thì tôn vinh vai trò gian bếp trong tổng thể kiến trúc bằng những thiết bị
bạc tỉ. Song, một gian bếp ấm đúng nghĩa lại xuất phát từ lối sống, nếp nhà,
tinh thần của người sử dụng. Đôi khi hình ảnh những vết khói đen hay dầu mỡ
vương vãi trên mấy bộ xoong chảo để ngổn ngang, mớ chén bát chưa kịp rửa sau một
bữa ăn thỏa thuê sum vầy cuối tuần lại làm ta thấy ấm lòng hơn những gian bếp
thường trực ngăn nắp loáng bóng mà lạnh lẽo bởi từ lâu mối gas không được đánh
lửa.
Lúc nào đó người ta đã chống lại sự “quẩn quanh xó bếp” để dứt
áo ra đường. Có ai ngờ một ngày muốn trở về với xó bếp cũng là một hành trình
khó nhọc biết bao.
Nhạc chế = ngôn luận & Aspirin
Sáng tạo của người Việt thì có hạn, nhưng cái tài chế biến, cải
biên phục vụ mục đích sử dụng của mình thì vô hạn. Thử nhìn vào âm nhạc, những
bài hát phổ biến thì thể nào cũng được dân gian mượn giai điệu, chế lời mới để
nghêu ngao.
Và có lẽ vì cái mục đích là chỉ để nghêu ngao phi chính thống,
nên nhạc chế chưa được tìm hiểu một cách bài bản và khoa học. Nó bị giới nghiên
cứu nhạc thuật nghiêm trang coi là thứ “thiếu nghiêm túc” bóp méo sáng tạo của
người khác, nhưng lại là vấn đề thú vị với những ai nhìn sự việc dưới lăng kính
xã hội học hay tâm lý cộng đồng.
Nhạc chế, nhạc cải biên thực ra không mới; đã có mặt ngay từ
khởi đầu lịch sử tân nhạc Việt Nam. Trong cuốn Tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu,
nhạc sĩ Phạm Duy viết:
“… vào đầu thập niên 30, vì chưa có ai dám nghĩ đến chuyện
sáng tác ca khúc mới (gần cả nhạc điệu với lời ca), ca nhạc Việt Nam là dăm ba
điệu cổ nhạc đã quen biết được hát lên với lời ca mới.
Một số điệu Tầu đã được Việt Nam hóa và được dùng trên sân khấu
cải lương, bây giờ cũng có lời ca mới để dân chúng hát chơi, như bài hát tán
gái bằng điệu Mãi Tạp Hóa:
Mình ơi có đi bờ hồ
Cùng ta chén kem kẹo dừa…
(hồi đó, kéo nhau đi ăn kem ở bờ hồ Hoàn Kiếm là một cái thú
của người Hà Nội)
Cứ đi, đi mình nhé
Trong túi có vài Rồng Xanh…
(nghĩa là tờ giấy bạc có vẽ hình con rồng xanh)
Cũng có cả một bài hát chế diễu người Hoa kiều, hát theo điệu
Quảng (tức là điệu Tầu Quảng Đông) trong giới âm nhạc gọi là Bài Tạ:
Bên Tầu ngộ ở bên Tầu
Bên Tầu ngộ mới qua đây
Qua Nam Việt bán buôn làm giầu
Mới đến ngộ có cái đòn gánh
Mới đến ngộ bán bánh chè khô
Chè lỗ ngộ bán mì khô
Bán không được kéo nhau về Tầu…
Lúc bấy giờ có một số nhà giáo, có lẽ cũng muốn bắt chước người
xưa là Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái đã dùng thi ca để viết cuốn Đại Nam Quốc Sử
Diễn Ca… cho phổ biến một số bài hát với lời ca kể chuyện tích trong lịch sử Việt
Nam, hát theo nhạc điệu cổ truyền. Chẳng hạn một bài hát yêu nước theo điệu Cổ
Bản:
Dân số 25 triệu, nói giống da vàng (ứ)
Chi Hồng Bàng, dòng họ Hùng Vương (ứ ư)
Phi thường, về thời hồng hoang…
Soạn lời ca mới hát trên điệu cổ để kể truyện lịch sử, và để
nung nấu tinh thần yêu nước, lúc đó các nhà giáo còn làm chuyện đáng kể hơn nữa
là dùng một điệu hát Việt Nam đang thịnh hành là điệu Hành Vân để dạy học trò với
lời ca bằng tiếng Pháp:
Mes chers enfants
Vous êtes des jeunes gens
Il faut travailler
Et n’oubliez pas
Que le temps passé vite…
Lúc đó cũng có một bài ca yêu nước hát theo điệu Bình Bán mà
có người cho là do nhà cách mạng Nguyễn Thái Học soạn:
Ta là dân nước Nam
Giống Lạc Hồng nay đã lầm than
Phải làm sao giết quân tham tàn
Giết loài thực dân lòng ta mới an…
Tóm tắt lại, trong thời gian sống dưới chế độ thực dân, lũ
thiếu nhi hay thiếu niên chúng tôi, cũng như những người lớn, đã chỉ làm một
công việc rất dễ dãi là: hoặc dùng nhạc điệu cổ Việt Nam để soạn lời ca mới, có
khi là lời ca tiếng Pháp, với mục đích khêu gợi tinh thần yêu nước; hoặc dùng
những nhạc điệu Tầu đã được Việt Nam hóa để soạn những bài hát chơi”.
Và nhạc sĩ hàng đầu trong nền tân nhạc Việt Nam cắt nghĩa: “Sự
chắp và này chỉ nói lên nhu cầu có cái mới trong ca hát và chỉ được coi như
đang trong giai đoạn sửa soạn để có một loại ca nhạc nào đó, khác với nhạc cổ
truyền, nhạc dân ca đã có từ lâu và đang suy tàn”.
Và đây là tâm tình có tính đại diện cho một thế hệ: “Tới đầu
thế kỷ XX thì những bài hát Âu Mỹ được phổ biến mạnh mẽ hơn tại Việt Nam dưới
hình thức đĩa hát loại 78 tours, hoặc được phô diễn trên màn ảnh phim nói. Thế
hệ chúng tôi không còn bị hấp dẫn bởi nhạc cổ truyền, không ham đánh đàn tranh,
đàn bầu, đàn nhị, đàn nguyệt nữa, thì bèn tập đánh đàn mandoline, guitare và giỏi
hơn nữa là tập violon, piano để có thể làm quen với những bài hát ngoại quốc mà
chúng tôi ưa thích. Rồi cũng có khi chúng tôi soạn lời ca tiếng Việt cho những
bài hát ngoại quốc, nhưng cũng chỉ là để “mình hát cho mình nghe” mà thôi” (Phạm
Duy; Bài ta theo điệu Tây; dđd).
Như vậy, rõ ràng, bước chuyển tiếp từ nhạc truyền thống sang
tân nhạc đã trải qua một quá trình cựa quậy thực hành mà ngày nay ta gọi là “chế”
– từ chế “dăm ba điệu cổ nhạc đã quen biết được hát lên với lời ca mới” đến chế
“một số điệu Tầu được Việt Nam hóa” với “lời ca mới” cho đến chế “bài ta theo
điệu Tây”. Qua chế, người Việt có bước nhảy về hình thái âm nhạc và cũng qua chế,
họ tỏ bày được trực tiếp tâm tình của con dân trong một đất nước đang sống
trong mối họa ngoại xâm. Người ta mượn điệu Tây, điệu Tầu để cất lên thông điệp
về ý thức dân tộc, tố cáo kẻ xâm lược hay giễu cợt hiện thực nhiễu nhương, những
thứ không hoàn thiện trong đời sống.
Nhìn lại bức tranh khái quát của tân nhạc Việt Nam thuở đầu,
có thể nói rằng, nhạc cải biên lời, hay nhạc chế, theo cách nói ngày nay, được
xem là có yếu tố truyền thống. Đó không chỉ là một trò “hát chơi” mà xa hơn, đặt
nền tảng cho một quá trình tiến đến sự tự chủ, khởi điểm của nghệ thuật tân nhạc
Việt Nam.
Trong sự “hát chơi” đó, bên cạnh yếu tố giải trí, thì những bản
nhạc cải biên thời bấy giờ đã thể hiện tính trào lộng, phê phán hiện thực của
người dân, có thể xem như là hai yếu tố làm nên đặc thù của loại nhạc này tự
thuở ban đầu và sẽ được tiếp nối về sau.
Nhưng khoan đi vào lãnh địa của sự nghiêm túc. Hãy bắt đầu với
những bản nhạc chế sinh ra chỉ để tán nhảm, văng tục nghe vui tai mà mỗi người
hát, qua quá trình nghịch ngợm, “xuyên tạc” tác phẩm gốc, những ca khúc (được
chế) đã có một sức sống khác, tạm gọi là sức sống bên lề. Loại ca khúc chế như
thế này nhiều vô kể trong dân gian, được giới bình dân hát nhiều, đôi khi chỉ để
thấy vui vui, giải khuây trong những khung cảnh sinh hoạt thân tình. Ví dụ, khoảng
những năm 1980, khi xe đạp Phượng Hoàng và quần jeans hiệu Hara là “đỉnh mốt”,
thì lưu truyền trong dân gian bản nhạc chế theo giai điệu bài hát Alibaba:
“Alibaba cái quần Hara xé ra làm ba, Alibaba/ Alibaba vô nhà người ta xách xe đạp
ra, Alibaba!”. Thời đó, bản Đêm buồn tỉnh lẻ của Tú Nhi – Bằng Giang được hát lại
được thay lời như vầy: “Ở trong tù con kiến cắn con cu nên con cu thù con kiến/
Kiến thù cu nên cu thù kiến biết bao lâu mới được ra tù…”. Còn bài Con đường có
lá me bay của Phạm Minh Tuấn thì bị “xuyên tạc”: “Con đường có lá cao su/ Chiều
chiều ta lại cầm (…)u nhau về”. Bài nghệ thuật tân nhạc Việt Nam. Một đời người
một rừng cây của Trần Long Ẩn triết lý rổn rảng vậy, nhưng được “chế” ra “nhảm
nhí”: “Khi nghĩ về đàn bà, tôi chợt nhớ về đàn ông/ Khi nghĩ về đàn ông, tôi
thường nhớ về đàn bà…”. Còn giai điệu bài Lý chim quyên nổi tiếng đất miền Tây
được “ráp” vào phần tếu táo hưởng ứng phong trào… kế hoạch hóa gia đình: “Em đặt
vòng, em sướng vui/ Đã có vòng, đã có vòng, em tưng tửng từng tưng, em tưng tửng
từng tưng”, v.v
Nhiều, nhiều những bản nhạc chế nhảm một cách độc đáo có thể
trích dẫn sa đà triền miên như những cuộc bia bọt bất tận. Và đây là kho tàng
“mồi nhắm” hạp tạng của các ông khi rượu đã mềm môi. Bàn nhậu cũng là một trong
những không gian quan trọng để những nghệ sĩ “chế” phát huy “tài năng sáng tạo”
của mình. Từ đây, chế mẹ đẻ chế con!
Nhạc chế dùng hát quán nhại, hát chơi thường có nhiều dị bản,
bởi vì nó thiếu những thông điệp cụ thể, được “diễn xướng” tự do, tùy hứng.
Trong khi đó, xuất hiện một dòng nhạc chế khác, tạm gọi là chế có thông điệp xã
hội thì được chăm chút và “đầu tư” chuyên nghiệp hơn trong phần lời, phần kỹ
thuật ghi âm. Thậm chí, chúng được cài cắm ngụ ý, quan điểm, như là một thứ
“ngôn luận”, của người hát trước những vấn đề nóng bỏng, thời sự chính trị, văn
hóa xã hội.
Quãng cuối những năm 1990, dậy lên trong đời sống âm nhạc hải
ngoại hiện tượng “nhạc cười” (trung tâm băng nhạc Cười ở Mỹ sản xuất) do ca sĩ
Trần Thiện hát trên giai điệu nhiều bản nhạc nổi tiếng. Phần hòa âm đơn giản,
giọng ca xuềnh xoàng, tùy hứng đậm chất tấu hài truyền tải sự mỉa mai, trào
phúng về tình thế dở khóc dở cười, éo le mà Việt kiều ở Mỹ gặp phải. Một số bài
phê phán thói thực dụng, lọc lừa, chạy theo vật chất của người Việt hiện đại.
Trần Thiện ra được một số album nhạc chế phổ biến tại hải ngoại và nhập nội
theo đường xách tay, như: Áo em chưa mặc một lần, Tiếu ngạo giang hồ, Đàn bà
đàn ông ở Mỹ, Huyền thoại đàn ông…
Trong các album này, có thể “đọc thấy” một số bài khá tiêu biểu,
có độ lan tỏa cao trong cộng đồng. Ví dụ, để mô tả tình trạng thất nghiệp, sống
thừa của đàn ông Việt Nam trong xã hội Mỹ, Trần Thiện “vay” giai điệu bài Không
của Nguyễn Ánh 9: “One đô-la, phim cao bồi phim cao bồi coi khoái quá/ one
đô-la phim đô vật phim đô vật coi sướng quá/ hai mươi lăm xen, phim kiếm hiệp,
phim kiếm hiệp coi rẻ quá em ơi/ từ ngày vượt biển sang đây/ tiền xài đã có
welfare, bệnh tình lại có medicare, không cần làm gì cũng lie/ làm gì cho nó mệt
thân…”. Nói về sự lép vế của người đàn ông Việt Nam trong xã hội Mỹ khi người vợ
nắm vai trò kinh tế chính trong gia đình, Trần Thiện chế bài Tình khúc buồn của
Ngô Thụy Miên: “Em như một người chồng nàng lo chuyện lòng vòng/ Anh như người
vợ hiền tề gia và tùng quyền/ nấu cơm với rửa chén/ giặt quần áo cho em, rồi bọc
tã cho con/ Buồn/ Bao năm cuộc tình này hằng mơ được một ngày/ bao nhiêu lần định
chuồn, bị em liệng vào buồng/ đắng cay như cà cuống/ rồi thì bó tay anh, rồi
thì bó chân anh/ Buồn”. Bài Kiếm tiền kiểu mới phê phán việc “kinh doanh đám cưới”
kiếm lời, nhại giai điệu rất dễ thương Gió mùa xuân tới của Hoàng Trọng: “Kiếm
tiền kiểu mới/ Cứ làm đám cưới mong có lời/ Đám cưới khơi khơi/ Khách khứa xa
xôi đều mời tới/ Có người đang túng/ Cố làm đám cưới mong vẫy vùng/ Ai tới vui
chung/ Góp vốn cho ta làm hoàng cung”…
Những album bị coi “tào lao xịt bụp” đó lại được truyền lan rất
rộng trong giới nghe nhạc bình dân vì sự hài hước, yếu tố “ba xu” giải trí rất
cao, nó nói trực tiếp - không cần đắn đo lựa lời - những suy nghĩ bộc trực của
người dân. Người ta phá cười khi giai điệu buồn bã, ủy mị, bay bổng mộng mơ hay
trang trọng của những ca khúc gốc đã bị đánh tráo bằng những lời mới tếu táo,
thô tục, được thể hiện bằng một giọng hát ngang phè phè, kéo lè nhè. Mua vui
cũng được một vài trống canh.
Bấy lâu chìm đắm trong những tâm sự buồn, nay người nghe được
nhìn mọi thứ bằng sự hài hước, trào lộng văng mạng không phải nhìn trước ngó
sau, nhảm nhí đến thả lỏng, tạm quên đi cuộc sống đang lên dây cót, thì còn gì
hơn. Con đường đến với công chúng của ca sĩ hải ngoại Trần Thiện không bền,
nhưng ít ra là cháy lên trong một thời điểm bằng sự méo mó phá phách của ông
ta. Những bài nhạc chế “nói chuyện thực tế” ở Mỹ, tưởng là chỉ để cười thuần
túy, nhưng xa hơn, nó phản kháng lại một giai đoạn việc người ta biến hát hò
thành công cụ nọ phương tiện kia, nghiêm trọng và lên gân đến nhàm chán.
Nhạc chế sống đúng nghĩa bên lề vì những “thợ chế” chẳng mấy
ai xuất đầu lộ diện (ra vài ba album như trường hợp Trần Thiện là rất hiếm
hoi). Một trong những lý do quan trọng đó là: trò “chế nhạc” này chắc chắn sẽ
làm phiền lòng những tác giả văn bản gốc, và nguy cơ đáo tụng đình về tác quyền
rất có thể xảy ra. Tránh lôi thôi - đó là lý do vì sao người chế nhạc, sau khi
thỏa mãn với sự giải bày thái độ, thì thường đẩy bài hát vào trong dân gian hơn
là xác định vị trí đồng sáng tác. Đời sống bên lề của những bản nhạc chế bản
thân đã rất khỏe mạnh, vì người ta cần hát như cần tán nhảm, vui đùa, người
“sáng tác” nào cần chi cái danh hão.
Thế giới âm nhạc “bên lề” đó được mở rộng biên giới không ngừng,
nhất là khi có mạng internet. Chỉ cần một cây guitar, một đĩa nhạc đệm, rồi ngồi
trước webcam máy tính, một người trẻ có thể tự ghi lại phần trình diễn một ca
khúc chế rồi sau đó chia sẻ với hàng nghìn người xem, nghe trên mạng xã hội. Vậy
là vô tư “câu view”, “câu like” và “âu còm” (comment)!
Đã có những “sự kiện” nhạc chế gây đình đám trên mạng. Hà Nội
sau trận lụt lịch sử tháng 11.2008, trên mạng xuất hiện bản Hà Nội mùa này phố
cũng như sông (chế từ bài Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa của Trương Quý Hải)
do Tuấn DM trình bày nhận được một làn sóng “like và còm” kịch liệt của cộng đồng
mạng:
“Hà Nội mùa này phố cũng như sông / Cái rét đầu đông chân em
run ngâm trong nước lạnh/ Hoa sữa thôi rơi, em tôi bơi cả chiều trên phố/ Đường
Cổ Ngư xưa, ngập tràn nước sông Hồng/ Hà Nội mùa này chiều không có nắng/Phố vắng
nước lên thành con sông/ Quán cóc nước dâng ngập qua mông/ Hồ Tây, giờ không thấy
bờ/ Hà Nội mùa này lòng bao đau đớn/ Ta nhớ đêm nao lạnh đôi tay/ Cho đến đêm
qua lạnh đôi chân/ Giờ đây lạnh luôn toàn thân.
Hà Nội mùa này phố cũng như sông/ Cái rét đầu đông chân em
thâm vì ngâm nước lạnh/ Hoa sữa thôi rơi, em tôi bơi cả chiều trên phố/ Đường Cổ
Ngư xưa, ngập tràn nước sông Hồng/ Hà Nội mùa này người đi đơm cá/ Phố vắng nước
lên thành con sông/ Quán cóc nước dâng ngập qua mông/ Hồ Tây tràn ra Mỹ Đình/
Hà Nội mùa này lòng bao đau đớn/ Ta nhớ đêm nao lạnh đôi tay/ Cho đến đêm qua lạnh
đôi chân/ Giờ đây lạnh luôn toàn thân”.
Người ta thấy bắt đầu xuất hiện những ca sĩ trẻ xuất hiện một
cách tự tin với nhạc chế khi không gian chia sẻ mạng cũng có thể đem lại cho
anh ta tên tuổi không kém trên những sân khấu ca nhạc chính thức. Điều này đúng
với trường hợp ca sĩ Cáp Anh Tài. Tự quay lại những phần trình diễn những bản
“nhạc chế thời sự” dưới dạng các clip rồi post lại trên website của mình
(capanhtai.com), Tài, tốt nghiệp ĐH Bách Khoa Đà Nẵng từng đoạt giải tiếng hát
miền Trung đã thu gặt những thành công bất cứ một showbiz chính thống nào cũng
phải thòm thèm mơ ước.
Hướng sự châm biếm đến các vấn đề xã hội: kẹt xe, đua xe trái
phép, đường ngập hay chuyện bão giá với sinh viên…, Cáp Anh Tài tạo ra sự đồng
cảm lớn trong cộng đồng mạng. Anh có fan club khắp ba miền đất nước. Mỗi clip mới
của anh thu được vài trăm nghìn lượt xem và bình luận. Anh được mời đến một số
sân khấu để chính thức hát… những bản nhạc chế của mình. Dưới đây là câu chuyện
về một “tình cảnh ngập” trong liên khúc Sài Gòn trong mắt ai, viết nhân kỷ niệm
ngày giải phóng TP.HCM, tháng 4.2012, Cáp Anh Tài chế theo giai điệu bài hát
Tàn tro của Nhật Bản:
Này hỡi con, sao mà đi lâu thế.
Từ lúc trưa, khi trời chưa có mưa.
Hay vẫn ưa, tụm năm ba đứa.
Thôi về mau, kẻo tim má đau.
Chà chán ghê, con nào đâu thích thế.
Cũng muốn nhanh, để còn đi đá banh.
Nhưng ngó quanh, đường đi không thấy.
Thì con cũng pó tay nào hay.
Trời vừa mưa xuống con đường biến ngay thành sông, thì cũng bằng
không.
Dù nôn nóng trong lòng, cũng đành đứng trông,
Con ao ước khi vô nhà, để ngồi với ba,
và cùng ăn cơm với má…
Chờ con lâu quá má bắt ngay con gà.
Chờ thêm lúc nữa má bỏ đi vô nhà
Chỉ còn mỗi ba, lại ngồi thở ra.
Buồn tay nhấm nhá, hết cha con gà.
Những ca sĩ nhạc chế như Cáp Anh Tài ngày càng đông. Forum
“chuyên trị” nhạc chế nở rộ trên mạng, thu hút nhiều thành viên. Báo chí bắt đầu
có sự quan tâm đặc biệt đến hiện tượng này. Vì qua những bản nhạc chế được cập
nhật liên tục, người ta nhận ra đo được cảm xúc, nhận thức của người trẻ trước
những vấn đề thời sự nóng bỏng.
Chỉ sau một tuần xảy ra chuyện các phụ huynh chen lấn đạp đổ
cổng trường Thực Nghiệm (Hà Nội) chỉ để kiếm một suất học cho con, bản nhạc chế
Ngày nộp đơn đi học được cải biên trên nền ca khúc Ngày đầu tiên đi học của
Nguyễn Ngọc Thiện được phát tán, gây sốt trên không gian ảo. Bài hát có những
câu cười ra nước mắt thế này:
“Ngày nộp đơn xin học,
Mẹ thức đêm đứng chờ,
Mắt mờ mong trời sáng,
Mẹ lách vào, mua đơn.
Ngày nộp đơn xin học
Mưa ướt hết mẹ rồi!
Nhưng quyết phải chen lấn
Thương con nên thế thôi!
Rồi trời kia cũng sáng,
Mẹ đá tung cổng vào
Chen nhau chạy nước rút,
Trong hỗn loạn biết bao.
Con mai này khôn lớn
Sẽ nhớ mẹ ngày xưa:
Phải chạy đua hỗn loạn
Để con khỏi “học thường”!!!”
Báo chí đã nghiêm túc trích dẫn và bình luận rằng, đây là một
bản nhạc chế đầy thâm thúy. Nhạc chế phản ánh thời sự cũng đã xuất hiện công
khai trên VTV vào mỗi tối giao thừa, trong Gala Táo quân hàng năm.
Người ta thấy các “Nam Tào, Bắc Đẩu” báo cáo với Ngọc Hoàng về
các tiêu cực trong những lĩnh vực xã hội bằng… những bài hát cải biên có tính
gây hấn với những bê bối, trong đó có bê bối trong quản lý nhà nước. Nhạc chế
cũng xuất hiện như một món không thể thiếu trong các chương trình sân khấu tấu
hài phía nam. Sự phát tán của “dòng nhạc” này đi khắp mọi miền đất nước qua con
đường băng đĩa chính thống đến với những hộ gia đình, qua những xe kẹo kéo,
hàng dạo với những loa thùng luôn mở hết công suất và được mở mua vui trên những
chuyến xe khách liên tỉnh. Kẻ chịu thứ nhạc này gật gù đã đành, kẻ dị ứng với
thứ nhạc này, lâu ngày chịu đựng sự cưỡng bức thanh âm, đâm ra ám ảnh, cũng thuộc
làu làu và gật gù theo lúc nào không biết.
Càng ngày, truyền thông trong nước càng mạnh dạn xiển dương
những thông điệp bên lề của nhạc chế. Điều này kể cũng dễ hiểu, khi chính họ, với
những vướng mắc cấm kị trong kiểm duyệt, dù muốn lắm, cũng khó toàn tâm đứng về
phía người dân để mô tả trực tiếp và trung thực tâm thế xã hội. Thì điều đó, những
người viết nhạc chế làm được. Làm tốt là khác. Một ví dụ khác cho thấy điều
này. Việc nhà nước không tìm ra được nguyên nhân lẫn biện pháp xử lý, để tình
trạng xe máy đang chạy trên đường tự nhiên bốc chảy xảy ra như cơm bữa, báo chí
gào thét không lay chuyển được tình hình, thì những “chế giả” Trí TM, Thế Anh Đại
Hiệp, Hiếu TT và Trúc LT vào cuộc với một clip có tên Ngọn lửa tay ga (mượn
giai điệu Ngọn lửa Tây Nguyên của Trần Tiến): Một ngọn lửa hồng kề mông ta Ứ Ừ
Ư/ Một ngọn lửa hồng cháy từ từ/ Một ngọn lửa hồng từ từ bốc cháy/ Ôi mông ta
mông ta, ôi honda honda, ôi chiếc xe của ta/ Một ngọn lửa hồng từ đâu ra??? á à
a.../ Một ngọn lửa hồng cháy phà phà.../ Một ngọn lửa hồng phà phà đốt cháy, ôi
mông ta mông ta. Ôi honda honda trong ánh lửa bập bùng!/ Biết bao ngày qua,
tình góp tình góp mua chiếc xe honda..
Đến bây giờ, xe bốc hơi rồi, XĂNG KIA BỊ PHA LẮM THỨ.../ Giờ
nó bị cháy thì biết kêu ai, bây giờ/ còn bao nhiêu honda honda vẫn đang chạy?/
còn bao nhiêu xăng pha xăng pha bán trên đường/ còn bao nhiêu honda, còn bao
nhiêu tay ga vẫn CHỜ CHÁY, CHỜ CHÁY/ Cháy lên đi này xe Honda, cháy lên đi này
Yamaha, cháy lên đi này Toyota!!!
Cũng nhóm nhạc này, trước đó, có một bản cải biên ấn tượng
gây sốt phản ứng chính sách nhà nước rục rịch ban hành quy định thu phí giao
thông nội thị. Ở bản nhạc chế này, người nghe thấy thỏa mãn vì đã chỉ trích trực
tiếp chủ trương không thuận lòng dân của Bộ Giao thông Vận tải; chế theo giai
điệu của bản Ngẫu hứng lý ngựa ô (Trần Tiến):
Bao năm qua nằm mơ một con xế hộp/ cho vợ con khỏi lo nắng
mưa. Nhưng xe hơi tiền cao còn lo thuế nặng. Xăng thì không ngừng tăng, dầu kia
cũng tăng. Nghe tin anh giao thông đưa ra kế hoạch trụ sở anh quyết xây to… to.
To nhưng anh không lo do thu thuế nhiều thế nhưng bao con đường
bao cây cầu đang cất đến bây giờ… chưa xong. Phí… phí… phí không ngừng tăng.
Phí… phí… phí không ngừng thêm vừa thêm lại thêm rồi mai anh bí… túng… thiếu…
phí anh bèn tăng thật cao thì… dân thế nào. Bán xe, không thèm, chuyển sang xe
ngựa giờ thì mình chuyển sang xe ngựa không lo ô nhiễm.
Biết rất rõ phố đang ngày đêm kẹt xe thì anh chơi tới/ khúc
đóng phí ra vào nơi thành đô thành đô còn dân thế nào? Quyết tâm không cần lại
đi xe đạp. Giờ thì ngày ngày mình đạp xe cưỡi ngựa. Phí… phí… phí không ngừng
thêm vừa thêm lại thêm rồi mai anh bí túng thiếu… phí anh bèn tăng thật cao
thì… dân thế nào…”.
Trong những bản nhạc chế phản kháng thực tế xã hội, người hát
thường đứng ở vị trí thường dân với tinh thần phản biện cao. Những câu hỏi kiểu
“thì dân thế nào?” hay “sao lại chơi ác với dân?” được đưa vào một cách tự do,
điều mà ngay cả báo chí đôi khi cũng tránh né vì được xem là vấn đề “nhạy cảm”.
Giáo sư Cù Trọng Xoay, một gương mặt quen thuộc trên show “hỏi xoáy đáp xoay” của
truyền hình VTV xem ra không nổi cho bằng tham gia trong một clip nhạc chế. Anh
ôm cây guitar điện trong giàn nhạc rất gọn, vẻ mặt phớt tỉnh, giọng ca vừa “nhựa”
vừa “lạnh”, phê phán các quy định về tăng giá xăng dầu liên tục (trên nền giai
điệu bản Mây lang thang của Kim Tuấn):
Xăng! Sao vừa tăng giá mấy hôm lại tăng
Đang thời lạm phát khắp nơi đều căng
Phen này chết đói dân nhe cả răng
Sao lại chơi ác với dân vậy xăng?
Xăng! Bây giờ ta biết kiếm ăn làm sao?
Xăng giờ tăng giá mỗi hôm một cao
Bao tiền trong ví mỗi hôm một hao
Xăng lại chơi ác với dân vậy sao?
Giờ xe máy cất trong nhà, mình đếch thèm đi
Đi bằng xe buýt, chi tiền cũng ít, đỡ phải đau đít
Giờ cưa gái đến chơi nhà, mình cứ tặng xăng
Xăng giờ cao giá, lấy lòng ba má, không cần hoa lá.
Xăng! Hay là ta sẽ đi xe đạp chăng?!
Không chừng cơ bắp mấy hôm lại căng
Nghe đồn sang tháng giá xăng còn tăng
Nhưng mà tăng nữa cũng mặc mẹ xăng!
Ông Sigmund Freud (1856 – 1939), cha đẻ ngành phân tâm học
nói đại ý rằng, tiếng cười là phản ứng của sự thất vọng. Còn Kurt Vonnegut
(1922-2007), nhà văn hậu hiện đại người Mỹ viết: “Óc hài hước là một cách tránh
xa cuộc sống tệ hại, để bảo vệ bản thân bạn” và “Óc hài hước có thể là một sự
khuây khỏa, như viên thuốc aspirin vậy”.
Thủ pháp giễu nhại (parody) và sự bên lề, giải trung tâm
(decentralization) của những bản nhạc chế, rất có thể sẽ được những nhà phê
bình mắc chứng ghiền hậu hiện đại có thêm nguồn cảm hứng hô hào. Nhưng rất tiếc,
họ lại đang bận xếp lịch xào nấu các tham luận cho những tọa đàm hội thảo bốn
mùa, diễn ra khắp nước, nên chưa ngửi thấy.
Không sao, những người chế nhạc để “nói thời sự” hôm nay
không quan tâm đến việc họ có thật là hậu hiện đại hay không. Họ chẳng đứng vào
chiếu nào cả. Chỉ đơn giản là, làm sao với những giai điệu có sẵn và quen thuộc,
có thể tạo ra một liều lượng aspirin đủ để giải khuây, một thứ ngôn luận giải tỏa
nỗi thất vọng trước những nan đề hiện thực chưa thấy giải pháp. Bằng một sự phá
phách trong âm nhạc, họ tìm thấy sự chia sẻ của số đông người thấp cổ bé miệng
trong xã hội. Và lý lẽ để nhạc chế tồn tại là: ai cũng có thể chế, ai cũng có
thể hát, ai cũng có cơ hội trải lòng hay bày tỏ quan điểm. Đó là dân nhạc.
Không bàn tay nào đủ sức để bịt kín những cái miệng đang hát
mà như gào thét. Dù chỉ là gào thét cho chật đầy hư không.
Cho tôi mua một vé đi...chết thử
Truyền thông gần đây đưa tin về một dịch vụ lạ lùng được mở ở
Thái Lan, Singapore và Hàn Quốc, thu hút rất nhiều người tham gia. Dịch vụ đó
có tên là chết thử. Khách hàng sẵn sàng bỏ tiền ra để được một “nhà tang lễ”
làm nghi thức “khâm liệm” cho mình theo đúng bài bản các khâu: cầu hồn, liệm, động
quan… giúp người sử dụng dịch vụ được trải nghiệm cảm giác chết trong một thời
gian ngắn.
Nghe nói, hàng ngày, có hàng trăm “thượng đế” đến mua dịch vụ
chết thử này. Thực ra là mua một liệu pháp tinh thần để xoa dịu những vết
thương quá khứ không thể lành lặn trong tâm hồn, để bước qua những lời thề nguyền
“sống để dạ chết mang theo”, để đối diện sự mất mát rồi yêu hơn cuộc sống.
Không ít người đến “mua cái chết” với mục đích đơn giản: xóa tan cơn trầm uất,
lo âu đang đè nặng lên cuộc sống đầy rẫy bất an của thời hiện tại.
Tại ngôi đền Wat Prommanne (cách Bangkok 100 km), mỗi “người
chết” cầm một bó hoa, tập trung cầu nguyện rồi vào nằm trong quan tài, nghe lặng
im vây quanh mình sau khi nắp quan tài đóng kín. Một trong số họ nói với phóng
viên truyền hình rằng, với cách “thực hành chết” này, cuộc sống sau đó sẽ trong
trẻo, tốt lành hơn.
Tại Hàn Quốc, đất nước mà gần đây rộ lên nhiều tin tức u ám về
chuyện các ngôi sao tự tử, thì dịch vụ “chết thử” được đặt bằng một cái tên
hoàn toàn trái ngược: “Cuộc sống tươi đẹp”. “Thượng đế” đến mua “cuộc sống tươi
đẹp” thường là những người còn rất trẻ. Thất tình, thi trượt, mất việc, mâu thuẫn
gia đình, thiếu vắng mục đích sống, bế tắc nội tâm… là những lý do rất thường gặp
“soi sáng” cho họ đến với “cái chết” tại những dịch vụ này.
Đèn tắt. Quan quan tài đã được đóng kín. Chuỗi kinh cầu, khúc
nhạc tiễn đưa vang lên thê lương cùng những tiếng khóc nấc của người thân. Cái
chết đã đổ sụp xuống cùng với bóng đen như thật của nó. Và trong bóng đêm mịt
mùng vây bủa, có tiếng một người đàn ông, không biết là thần chết hay thiên thần,
phán rằng: “Ta chúc cho thân thể đầy mỏi mệt của quý vị sẽ được yên nghỉ thanh
thản!”
“Tôi thấy tiếc nuối sự sống. Tôi thấy bao dằn vặt, hận thù, hờn
giận và buồn phiền tan biến. Tôi sẽ về với mẹ tôi. Tôi đã nghe thấy tiếng khóc
của bà!” – một người đàn ông trung niên Hàn Quốc vừa bước ra khỏi chiếc hòm nói
với phóng viên truyền hình. Mắt ông ta còn đẫm nước. Là những giọt nước mắt đầy
vui sướng. “Người ta phải tập cách chết để biết cách yêu cuộc sống!” – một người
khác nói.
Nhưng, rốt cuộc mấu chốt vấn đề nằm ở đâu? Họ có thực sự mua
đúng cái cảm giác của một người trải qua cái chết? Tôi tin là không. Họ chỉ mua
sự im lặng đánh thức những vùng nội tâm từ lâu buồn bã, bị vùi chôn bên dưới cuộc
sống “nhắm mắt không yên”. Họ được dịp thăm viếng nội tâm, đối diện với những
câu hỏi căn cốt, có tính chất phản thân để rồi tìm lại ý nghĩa của việc sống.
Chính ở điểm này, con người tỏ ra rắc rối hơn các loài động vật. Nó luôn hỏi
sau cuộc sống này là gì và cái chết thực sự là gì và hiện tại phù du này sẽ là
gì?
Trên một website bàn về kỹ năng sống, một nhóm bạn trẻ người
Việt đã cho rằng, đây là một gợi ý rất hay trong bộ môn thay đổi bản thân. Biết
đâu nếu dịch vụ “Cuộc sống tươi đẹp” này được tổ chức ở đây, thì với sự tất bật
và ồn ào không khoan nhượng của mình, biết đâu, chúng ta sẽ đổ xô đến chen lúc,
xô đẩy nhau để dành phần được… nằm vào quan tài, chết đi cho nhanh để còn tranh
thủ mà sống lại. Có biết bao việc phải vắt giò lên cổ sau một cơn… chết.
Vì vậy, nếu ở ta có dịch vụ chết thử, thì con đường dẫn đến
những phòng vé này sẽ thường xuyên diễn ra chen lấn và… kẹt xe!
Dễ "xin tí tiết"
Ngày càng nhiều vụ trọng án có nguyên nhân là từ những cuộc
va quệt nhỏ trong khi tham gia giao thông. Ngày nay, nhiều thanh niên ra đường
dắt theo mã tấu, dao Thái, kể cả súng để hành xử khi chẳng may xảy ra va quệt.
Một người gốc Hà Nội nói với tôi rằng, bây giờ ở Hà Nội đường sá ngột ngạt, phố
không vỉa hè sinh ra tâm tính con người thay đổi. Chưa bao giờ người Hà Nội ra
đường lại hung dữ như lúc này, chỉ cần đụng nhau trầy tí sơn xe là người ta đã
có thể… “xin tí tiết”!
Những vụ va quệt nhỏ khi tham gia giao thông, dẫn đến cãi cọ,
hành hung đổ máu và dẫn đến cửa pháp đình không còn lạ. Điều đáng nói là, rất
nhiều người gây án trong những tình huống này trước đây chẳng có tiền án tiền sự
gì. Chỉ cần một chút kích động, “hoàn cảnh đưa đẩy” đột ngột, đã có thể sát
thương, thậm chí lấy mạng người khác. Tại Sài Gòn, một vài năm trước, có chuyện
này gây bối rối trong dư luận: một thanh niên 21 tuổi trên đường đi mua trái
cây nhậu với bạn bè đã trở thành kẻ (cầm chính con dao mang theo gọt trái cây)
đâm chết người sau một vụ va quệt, cãi cọ, gây gổ.
Nhiều người đã lấy cái nhìn đạo đức để phán xét, quy kết vội
vàng. Song, những lập luận đó dường như ngày càng đẩy xa rời thực tế các vụ việc
và không cắt nghĩa được điều gì khiến cho những hành vi của các “hung thủ” trở
nên dễ dàng và sau đó trở ngược cả số phận của họ.
Vì sao từ một người không động cơ hay chủ tâm bỗng trở thành
một kẻ sát nhân? Có lẽ cần phải mổ xẻ ở khía cạnh tương tác tâm lý và xã hội học
để tìm kiếm một nguyên tắc hành xử, chuẩn mực chi phối và đưa đẩy con người đến
tình trạng phạm tội.
Trên một trang web chuyên chia sẻ video clip của nước ngoài,
một du khách đã tung lên đoạn phim quay được trên đường phố Việt Nam với một lời
bình rất ngắn gọn: “Crazy!” (Điên rồ!). Có thể thấy phía sau câu cảm thán ngắn
gọn đó là một quá trình trải nghiệm đầy ám ảnh của anh ta trên đường phố Việt
Nam.
Cao điểm của ức chế, căng thẳng là “điên rồ”, “điên loạn”. Vậy
thì “crazy” có lẽ là từ chỉ chính xác nhất tình trạng tâm lý hiện nay về giao
thông Việt Nam. Nhà báo Loh Keng Fatt từng đến Hà Nội và TP.HCM đã mô tả đầy
hóm hỉnh trên tờ The Straits Times (Singapore) rằng: “Đây là một màn ballet
không kịch bản”. Ông viết thêm: “Tại một số điểm giao nhau ở thành phố Hồ Chí
Minh, không có đèn giao thông, có nghĩa mọi thứ đều được đi kể cả người đi bộ
và đi môtô. Một số người tự do lấn làn trong khi đang kẹt xe. Xe máy, ôtô, xe tải,
xe buýt và xe đạp, tất cả, chen chúc và nhấn còi om sòm”; “dường như không có
chuyện nhường đường cho người khác”.
Mật độ phương tiện giao thông lớn, nhu cầu di chuyển cao trên
một cơ sở hạ tầng và quy hoạch kém, sự tiêu cực của lực lượng cảnh sát (chú trọng
thực hiện chức năng xử phạt nhiều hơn điều hành giao thông) cộng với ý thức
pháp luật cộng đồng thấp là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn trong tình hình
giao thông hiện nay.
Mỗi cá nhân tham gia giao thông là bước vào một quá trình tha
hóa, xa lạ với chính mình. Anh ta bị ném vào một đám đông hỗn mang, ai cũng thể
hiện khả năng ứng biến để đạt được mục đích di chuyển cao hơn là tuân thủ luật
lệ chung. Như vậy từ sự cộng hưởng tâm lý của những cá nhân, tạo nên một đám
đông hỗn loạn phi trật tự.
Có thể thấy rõ trong những đám đông nhung nhúc kẹt xe hàng giờ,
ý thức công cộng hoàn toàn bị triệt tiêu, hành xử văn hóa và sự tôn trọng hướng
tha bị đốt cháy theo hơi xăng và tiếng ồn động cơ, nhường chỗ cho bản năng xoay
trở phản ứng nhất thời làm gia tăng thêm sự tồi tệ. Mỗi người vừa là nạn nhân vừa
là thủ phạm. Tại đây, những ức chế tâm thần dễ dàng tạo cơ hội cho hành vi hung
bạo nhân tính được phát sinh.
Theo nhà nghiên cứu xã hội học Đức Horst Zumkley trong cuốn Từ
điển xã hội học, giải thích về sự hung bạo, thì “Hung bạo là dạng đặc biệt của
tương tác bối cảnh xã hội” và “tương tác bối cảnh xã hội là đơn vị cơ bản của sự
kiện xã hội mà tại đó con người nảy sinh hành vi trong tương quan với nhau”!
Mặt khác, nếu khảo sát từ góc độ tâm lý học thì có lẽ tình trạng
một đám đông giao thông “điên rồ” sẽ quy định tâm lý “điên rồ” nơi mỗi cá nhân
mặc dù trước đó bất kể anh ta có tiền sử bệnh “điên” hay không. Và bản chất của
đám đông điên loạn này, dĩ nhiên là thiếu khả năng suy luận nhưng thừa khả năng
hành động, nói như Gustave le Bon: “Đứng tách riêng, có thể đó là một cá nhân
có văn hóa; nằm trong đám đông, anh ta là một kẻ dã man, nghĩa là một kẻ bản
năng. Anh ta có tính tự phát, thói bạo lực, tính hung dữ và có cả lòng nhiệt
tình, sự anh dũng của người nguyên thủy” (Chương Đặc điểm tổng quát của đám
đông – Tâm lý học đám đông – Gustave Le Bon, do Nguyễn Xuân Khánh dịch, Bùi Văn
Nam Sơn hiệu đính, NXB Tri thức, 2009).
Điều kiện bức bối, thiếu kiểu soát của hiện trạng giao thông
Việt Nam luôn sẵn mang đến cho bất kỳ ai muốn trải nghiệm bệnh điên trong thế
giới đầy rẫy cuồng nộ một sự thỏa mãn. Một đám đông điên loạn, hành xử trên
tinh thần hung bạo không ngừng hút những cá thể vào nó và tạo ra tập tính hành
xử mất chuẩn nơi những cá thể mà nó ôm vào có lẽ là chìa khóa để giải mã những
vụ việc tồi tệ xảy ra trên đường.
Mầm mống bạo lực có sẵn trong mỗi người, như quả bom được cài
đặt sẵn, có thể bùng phát bất cứ lúc nào.
Giải thiêng chày cối
Vì sao chày và cối, vốn từ một biểu tượng phồn thực rất ý nhị
trong văn hóa, tín ngưỡng dân gian lại trở thành một từ ghép mang nhiều hàm
nghĩa xấu?
Lật lại Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Jean
Chevalier và Alain Gheerbrant (NXB Đà Nẵng & Trường viết văn Nguyễn Du,
2002), có thể thấy, tuy không kết hợp “chày” và “cối” thành một từ ghép, song,
trong phần giải mã, tác giả cuốn từ điển này đã cho thấy sự gắn bó chặt chẽ giữa
hai biểu tượng này với nhau như một cặp đôi tương tác, gắn bó:
Chày (Pilon):
Trong tranh tượng thờ của Ấn Độ, cái chày được thể hiện với
nhiều tên gọi và ý nghĩa khác nhau. Khi ở trong tay Balarâma, cái chày coi như
cái cày, công cụ để làm chủ đất trồng, ở trong tay Samskarsana, chày là biểu tượng
của thần chết; trong tay Ghantâkarma, chày có tác dụng phân biệt, vì nó tách hạt
gạo ra khỏi vỏ trấu. Ghantâkarma được xem là thần xua đuổi bệnh tật, là người
diệt cái chết.
Chuyển động thẳng đứng, đi lên đi xuống của cái chày trùng hợp
với hướng của Trục thế giới. Giám mục Devoucoux liên hệ cái chày với phần thẳng
đứng của cây Thập tự, với ý nghĩa liên kết các sự vật nơi thế gian.
Cái chày cũng thuộc về hệ biểu tượng dương vật, hẳn là do sự
tương đồng về hình dáng và ý nghĩa với tượng dương vật (linga), điều này đã được
một số huyền thoại của Campuchia thể hiện một cách hiện thực (DEVA, MALA, PORA)
Truyện cổ Myanmar kể rằng, cái chày đã giã các thứ gia vị
trong suốt một đời người đàn bà dần dà thấm sâu các mùi hương tới mức nó có thể
đánh thức người chết dậy, làm cho người già trẻ lại, làm cho người trẻ thành bất
tử. Mặt Trăng đã lén lấy một cái chày để giữ cho mình trẻ mãi, nhưng con chó đuổi
theo và bắt Trăng buông cái chày ra (nguyệt thực); vì vậy mà trăng già đi và mỗi
tháng lại chết một lần.
Trong kinh Véda thường hay dùng hình ảnh chày – cối theo
nghĩa phúng dụ tính giao: Hỡi thần Indra, hãy tới nơi mà người ta giương chày
lên như căng dây cương để điều khiển ngựa và hãy nếm những soma (rượu cúng chiết
từ cây soma) mà người ta nghiền trong cái cối (tr. 154)
Cối (Mortier):
Ý nghĩa biểu trưng tính giao của cối và chày là dễ hiểu. Bằng
cách mở rộng nghĩa, người Bambara đã lấy cái cối làm biểu tượng cho cả sự giáo
dưỡng (ZABH).
Cối, cũng như chảo, giữ vai trò to lớn trong các nền thần thoại
Âu – Á. Ở Nga, mụ yêu tinh già Baba-Yaga, hiện thân của các trận bão mùa đông,
di chuyển trong một cái cối: mụ lăn đi trong cối, mụ quất bằng chày, mụ dùng cối
xóa đi vết tích của mình.
Kinh Véda ca tụng cái cối soma – nước đời, tinh dịch của
thánh thần – bằng những câu thơ mà ở đấy biểu tượng tính giao được thiêng liêng
hóa, nâng đến tầm vũ trụ; tử cung, nơi liên tục nảy nở sự sống, ở đây được liên
tưởng với cái trống, còn cái chày, hình ảnh sinh thực khí nam, thì được ví với
con ngựa:
Hỡi Indra, thần hãy đến nơi có tảng đá to dựng lên để ép
Và hãy nếm thứ soma được nghiền trong cối.
Hỡi Indra, thần hãy đến nơi có hai thớt cối giống như hai
sinh thực khí
Và hãy nếm thứ soma được nghiền trong cối.
Hỡi Indra, thần hãy đến nơi người đàn bà đu đưa mình về phía
trước và phía sau
Và hãy nếm thứ soma được nghiền trong cối.
Hỡi Indra, thần hãy đến nơi người ta giương chày như kéo căng
cương điều khiển ngựa
Và hãy nếm thứ soma được nghiền trong cối.
Hỡi cái cối dễ thương, dù ngươi có được kéo từ nhà này sang
nhà khác, chính nơi đây ngươi phải cất tiếng nói sang sảng, như chiếc trống của
những người thắng trận.
(VEDV, Rig Veda, 1. 28)” (tr.209).
Với người Việt Nam trong xã hội nông nghiệp, chày cối là hai
đồ vật quen thuộc. Chày cối có mặt trong nhiều công đoạn sản xuất, chế biến sản
phẩm: giã lúa và các loại hạt, làm sạch vỏ trước khi dùng. Chày và cối tham gia
vào những nghi lễ nông nghiệp mang tính chu niên như những biểu tượng phồn thực.
Ngày nay, người Tày ở Yên Bái vẫn còn giữ lễ hội truyền thống Tăm Khảu Mau, tổ
chức vào quãng tháng 9, 10 âm lịch. Trong Tăm Khảu Mau, người ta thu hoạch nếp ở
giai đoạn hạt bắt đầu ngả vàng đều, sau đó, mang về luộc, rang cho chín tới rồi
cho vào cối giã. Trong khi đó, vào mùa xuân, thì người Mường ở Sơn La lại có lễ
hội giã cốm gõ máng. Đây là những dạng mừng lúa mới thường thấy trong các xã hội
nông nghiệp vùng Đông Nam Á. Tiếng chày giã lúa mới gợi nên âm hưởng của sự
sung túc, đủ đầy, hình ảnh của nó gợi cho người ta liên tưởng đến tính giao, đến
sự hài hòa đất trời làm cho vạn vật sinh sôi, mùa màng thuận lợi.
Với người Kinh, thì chày và cối là hai vật dụng không chỉ sử
dụng trong việc “xử lý” lúa thành thóc, mà còn chế biến nhiều dạng, nhiều kích
cỡ để dùng vào nhiều loại việc khác. Chày và cối bằng đá nhỏ dùng để giã ớt tỏi,
gừng nghệ làm gia vị trong bữa ăn, bộ chày cối nhỏ hơn chỉ vừa lòng bàn tay, để
người già dùng chây vôi, quết trầu khi răng cỏ ngày càng yếu không còn đủ sức
nhai, chiếc chày hình trụ, dạng thân tròn đều có thể biến mọi thứ thành… cối được,
khi lăn bột mì, bột gạo các loại làm bánh…
Trong tập ký họa Kỹ thuật của người An Nam của Henri Oger được
thực hiện tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX có nhiều bức mô tả cảnh người ta sử dụng
chày và cối. Có thể kể đến: bức Giã cua, Henri Oger mô tả cảnh một cô gái ngồi
dạng chân, kẹp giữ sát chiếc cối vào người, tay phải giữ để chiếc cối vững, tay
trái cầm chày giã đám cua đang giương càng. Bức Đứa trẻ tán nhỏ đan châu, Henri
Oger mô tả cảnh đứa bé tóc để chỏm, cũng ngồi ở tư thế hai chân cặp cối, còn
hai tay ôm cọc chày mà giã. Hay trong bức Giã bèo cho lợn ăn, có cảnh một bà
già lưng còng đang ôm cọc chày giã vào một chiếc cối rộng. Bức Giã than đóng mô
tả động tác người đàn ông khom lưng đổ than vào cối cho một người khác ôm chày
giã. Có nhiều tranh mô tả phụ nữ và đàn ông thay phiên nhau giã cối gạo bằng những
cọc chày lớn.
Trong phần Chế biến gạo thành thực phẩm, thuộc bài tiểu luận
Tổng quan về nghề của dân bản xứ nước An Nam - Một chương trình giảng dạy mới
cho người An Nam, xem như là một cách “lý thuyết hóa” những gì trông thấy,
nghiên cứu, Henri Oger có cách nhìn thú vị về việc chế biến thức ăn bằng cách
giã (làm sạch, mềm) lương thực của người Việt. Ông cho rằng, việc nấu chín gạo
nếp, giã nhuyễn làm bánh dày là một thứ văn minh trong ẩm thực – giúp người ăn
tránh khỏi các bệnh đường ruột. Cách làm bột gạo cũng thế, ông viết về chiếc cối
xay gạo: “Miêu tả cối xay là một việc rất phức tạp. Nhìn chung, chiếc cối gồm
có một bộ phận tiếp nhận trong đó người ta đổ gạo vào, hạt gạo rơi xuống thớt
nghiền chuyển động được nhờ một cái cán dài (tràng cối xay) giúp chiếc bánh lệch
tâm hoạt động. Người mù (thành phần thường được trưng dụng làm công việc xay gạo)
cầm tràng cối xay bằng tay. Một động tác đẩy đơn giản từ sau lên trước là đủ để
làm cối xoay tròn. Bột rơi vào trong hộp gỗ để ở dưới cối” (Theo sách Kỹ thuật
của người An Nam, Henri Oger, cuốn 1, Nhã Nam & NXB Thế giới, phiên bản
2009,
Olivier Tessier & Philippe Le Failler chủ biên)
Chày và cối, với đủ dạng thức sử dụng trong xử lý, chế biến
thức ăn và trong dân gian, chúng cũng được khoác vào biểu tượng tính giao, là
tượng trưng cho sự kết hợp âm dương trong tín ngưỡng phồn thực. Phan Cẩm Thượng
dành 4 trang trong cuốn Văn minh vật chất của người Việt (NXB Tri thức, 2011) để
nói về “Chày và cối”. Ông có nói về tính biểu tượng: “Cối là cái, chày là đực,
chày đâm vào cối là biểu thị của hành vi giao hợp giữa hai giống mà sinh tồn.
Cái này được hình tượng hóa trong vật thờ Nõ Nường, hoặc Nõ Nường bằng gỗ, có dạng
hình cái dương vật và âm vật, khi làm lễ người ta cầm hai vật đó lắp vào nhau”.
Sau khi liệt ra đủ loại chày cối và công năng của chúng trong
sinh hoạt, thì nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng lý giải: “Chày cối là vật bền bỉ,
ít khi hỏng của nhà nông, nên những kẻ cứng đầu cứng cổ mà dai dẳng, người ta gọi
là kẻ chày cối, hay kẻ đầu chày đít thớt, kẻ lắm lí sự gọi là cãi chày cãi cối”
(tr. 156, sách đã dẫn).
Tương tự, cuốn Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên,
Nguyễn Văn Khang, Vũ Quang Hào, Phan Xuân Thành, NXB ĐH Quốc gia TP.HCM, bản
năm 2011) đã giải nghĩa từ “chày cối”: Chày cối dt. Chày bửa, liều bướng bất chấp
lí lẽ: cãi chày cãi cối, chày cối mãi không trả hết nợ.
Tương tự, trong Từ điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam (GS
Nguyễn Lân, NXB Khoa học xã hội, 1997) thành ngữ “chịu chày, chịu cối” được giải
nghĩa là: “chê kẻ có nợ không chịu trả”.
Vậy là, từ ghép “chày cối” trong dân gian đã có một sự dịch
biến về nghĩa hàm ẩn. Điều này khiến ta phải đặt ra câu hỏi: cơ chế, căn nguyên
nào đã dẫn đến điều đó? Và có mối liên tưởng nào giữa hình tượng hay tính năng
của hai vật dụng này với những tính cách xấu dẫn đến cơ chế chuyển nghĩa nói
trên?
Xin được thử lý giải bằng bốn nguyên nhân sau:
Thứ nhất, về thị giác: trong quá trình lao động thủ công, con
người nhận thấy độ bền bỉ của hai vật dụng này để liên tưởng đến sự chây lì.
Giã cùm giã cụp ngày đêm, mùa này qua mùa khác, nhưng chày vẫn hoàn chày, cối vẫn
hoàn cối, không hề sứt mẻ (lưu ý thêm, chày và cối thường được làm bằng loại gỗ
tốt, chịu được sự va chạm lâu năm như: mít, me, xà cừ…)
Thứ hai, hình ảnh lúa gạo, ngũ cốc cho vào lòng cối để giã đều,
người ta nhận thấy một sự trộn lẫn vỏ và hạt, dễ gợi đến sự nhập nhằng tinh và
thô, cái vứt bỏ và cái thu nhặt lại. Đó là trường hợp giã hạt khô (lúa, bắp, đậu…).
Có những loại chày cối chuyên giã gia vị như ớt tỏi hay nghiền cau trầu cho người
già, thì cảm nhận về sự nhào trộn cù nhầy, nhão nhoét càng rõ. Những bộ chày cối
giã lâu ngày, nhất là dùng để giã gia vị, thường trộn lẫn mùi, màu, vị vào
nhau, dù ngâm nước hay vệ sinh kỹ thế nào, thì chúng vẫn bám bọc, thấm sâu vào
mặt cối và đầu chày, khó gột rửa sạch.
Thứ ba, tính đa năng của hai vật dụng này lại đem lại tai tiếng
cho chúng. Người ta có thể dùng chiếc chày để dùng ở nhiều “tư thế”: lăn cán bột,
giã hành tiêu ớt tỏi, quết trầu thì ngoáy, khoáy, làm kẹo đường thì vặn xoắn…
Cái sự xoay ngang bửa dọc gì cũng được đó đã bị bóp méo từ hướng tích cực sang
tiêu cực để chỉ sự bất nhất, muôn hình vạn trạng gợi liên tưởng đến tính cách
trơ tráo ngụy biện.
Thứ tư, thường dân vốn sẵn tinh thần hài hước phản kháng (họ
đẻ ra tiếng cười châm biếm đau đớn và tự trào) đã “gạn lọc”, bỏ đi cái thiêng để
chọn cái tục trong biểu tượng chày cối để ám chỉ, châm biếm những việc mờ ám, mị
chúng, tráo trở của những kẻ cậy quyền, chai mặt, bất chấp luật lệ, luân lý ở đời.
Như vậy, qua bốn giả thiết trên, “bộ đôi” biểu tượng tín ngưỡng
phồn thực đã bị trải qua một cuộc phê phán, giải thiêng triệt để. Nó bị hạ xuống
khỏi bàn thờ huyền thoại và khoác lên những tính cách thô tục, bướng lì, đáng mỉa
mai. Nó trở thành công cụ ngôn từ để dân gian đưa những bực dọc, ức chế của
mình vào cái thế giới quyền lực đầy biểu hiện duy ý chí đến độ không biết xấu hổ.
Nó là tấm nhãn đính lên bản mặt của những kẻ nhân cách kém cỏi, hay dở thói lọc
lừa, bầy hầy, thiếu sòng phẳng trong đời sống. Nó cũng là từ để chỉ trực tiếp
những kẻ bảo thủ cực đoan gàn dở, sống vô tri như thể vật hóa.
Khi dân gian nói “Thằng cha đó chày cối thí mẹ” hay “Cái bản
mặt thằng chả thiệt là chày cối” thì có nghĩa là, những loại người đó không
đáng tâm phục khẩu phục, tính cách đó sẽ gây ra phiền phức, tiêu cực cho cộng đồng.
“Chày cối”, từ đây trở thành một biểu tượng của những hạng
người có tâm địa, tâm tính nguy hiểm, đáng tránh xa.
Việc một biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng, bị kéo xuống khỏi
bàn thiêng để “cài đặt lại” một “bộ mã” ẩn dụ khác cho thấy tư duy phê phán,
cái tinh thần dân sự đã phải đi qua một đường vòng khéo léo, tinh tế mà cũng
sòng phẳng, thấu đáo biết bao.
Nguyễn Vĩnh Nguyên
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét