Thứ Tư, 1 tháng 10, 2025

Vẫn là Alice 1

Vẫn là Alice 1

- 1 -
Tháng chín, năm 2003
Tưởng nhớ Angie
Dành tặng Alena
Khoảng hơn một năm trước, những tế bào thần kinh trong đầu cô, gần tai, đã bị chèn ép đến chết, quá trình ấy xảy ra lặng lẽ đến mức cô chẳng thể nhận ra. Nhiều thứ đã chứng minh mọi bất ổn âm thầm bắt đầu khi các tế bào tự vỡ phá hủy hệ thần kinh. Thế nhưng dù đó là một phân tử lỗi hay các tế bào tự hủy thì chúng cũng không thể cảnh báo cho cô biết về điều gì xảy ra trước khi chúng chết.
THÁNG CHÍN, NĂM 2003
Alice ngồi trước bàn làm việc trong phòng ngủ nhưng cô bị phân tâm bởi tiếng chân John chạy lăng xăng từ phòng này sang phòng khác dưới tầng một. Cô phải hoàn thành bài bình duyệt nộp cho Tạp chí Tâm lý học nhận thức trước khi lên máy bay, vậy mà cô đã đọc cùng một câu đến ba lần vẫn chưa hiểu được nó. Đồng hồ báo thức đang chỉ 7 giờ 30, có lẽ nó chạy nhanh mười phút. Cô biết điều đó là nhờ ước lượng thời gian và dựa vào âm thanh của chồng cô khi anh đang cố gắng tìm thứ gì đó trước khi đi làm. Cô vừa gõ cây bút đỏ lên môi dưới vừa nhìn những con số trên đồng hồ, lắng nghe tiếng gọi mà cô biết là sẽ sớm xuất hiện.
“Ali?”
Cô đặt cây bút xuống mặt bàn rồi thở dài. Đi xuống tầng dưới, cô thấy anh đang quì trong phòng khách, tay lần mò bên dưới những chiếc gối ở ghế sofa.
“Anh tìm chìa khóa hả?” – Cô hỏi.
“Mắt kính! Xin em đừng nói gì cả, anh sắp muộn rồi.”
Cô dõi theo ánh mắt vội vàng của anh khi nhìn lên mặt lò sưởi, ở đó có chiếc đồng hồ cổ giá trị Waltham, đang điểm 8 giờ. Tốt hơn hết là anh không nên tin vào nó. Mấy cái đồng hồ trong nhà này hiếm khi chạy đúng giờ. Alice đã từng bị lừa nhiều lần bởi mấy cái mặt trông cực kì thành thực đó, và từ lâu lắm rồi cô đã rút ra kết luận rằng chỉ có thể tin vào đồng hồ đeo tay của mình mà thôi. Chắc chắn là thế vì lúc đi vào trong bếp cái lò vi sóng mới chỉ báo 6 giờ 52.
Cô nhìn lên mặt bàn bếp bằng đá granite nhẵn nhụi, sạch bóng và thấy cặp kính đang nằm cạnh chiếc đĩa chất đầy những bức thư chưa mở. Không bị khuất lấp bởi vật gì khi nhìn từ đây sang! Tại sao chồng cô, một người thông minh như thế, một nhà khoa học, lại không nhìn thấy mấy thứ ở ngay trước mắt mình như vậy nhỉ?
Đương nhiên, nhiều món đồ của cô không biết bằng cách nào cũng lọt vào những góc nhỏ tinh quái như vậy. Nhưng cô không bao giờ nói cho anh biết, và cũng không nhờ anh tìm hộ mình. Thật may là John không biết, mới mấy hôm trước, cô đã phải lục tung cả nhà, rồi đến phòng làm việc để tìm dây sạc BlackBerry của mình. Cuối cùng cô phải đi mua một cái mới, để rồi ngay tối hôm đó cô thấy cục sạc ấy đang cắm ở ổ điện ngay cạnh giường, nơi mà lẽ ra cô nên xem xét đầu tiên mới phải. Cô nghĩ tất cả những điều đó xảy ra với hai vợ chồng là do công việc chồng chất khiến họ bận tối mắt. Và vì họ đang già đi nữa.
Anh đứng ở cửa chính, nhìn vào cặp kính trên tay cô chứ không nhìn cô.
“Lần sau, anh hãy giả vờ mình là một người phụ nữ khi muốn tìm thứ gì đó nhé” – Alice mỉm cười và nói.
“Anh sẽ mặc một cái váy của em. Ali, xin em đấy, anh trễ thật rồi.”
“Cái lò vi sóng bảo là anh vẫn còn cả tấn thời gian” – cô nói và đưa kính cho anh.
“Cảm ơn em.”
Anh nhận lấy cặp kính như một vận động viên chạy tiếp sức nhận lấy cây gậy trong cuộc đua rồi đi thẳng ra cửa.
“Thứ bảy này em ở nhà, anh cũng vậy chứ?” – Cô nói với theo sau khi bước cùng anh xuống hành lang.
“Anh không biết, thứ bảy này anh có rất nhiều việc phải làm ở phòng thí nghiệm.”
Anh ấy cầm lấy túi xách, điện thoại, và chìa khóa trên chiếc bàn ở phòng khách.
“Chúc em có một chuyến đi bình an, ôm và hôn Lydia giúp anh. Và cố gắng đừng cãi nhau với con bé.” – John nói.
Cô bắt gặp hình ảnh của mình và anh trong chiếc gương đặt gần cửa ra vào – một sự khác biệt lớn, người đàn ông dáng cao với mái tóc nâu lốm đốm sợi bạc và đeo kính; một người phụ nữ nhỏ nhắn, tóc xoăn, đang khoanh tay trước ngực, mỗi người đều sẵn sàng lao vào một cuộc tranh luận không hồi kết như mọi khi. Cô nghiến răng và nuốt nước bọt, cố gắng để không sa vào cuộc tranh luận này.
“Lâu rồi chúng ta chưa được ở bên nhau. Anh cố gắng về nhà được không?” – Cô hỏi.
“Anh biết rồi, anh sẽ cố.”
Anh hôn cô, và mặc dù đang rất vội, anh vẫn cố nán lại để kéo dài nụ hôn trong thoáng chốc. Nếu cô không hiểu anh, cô có thể sẽ nghĩ đó là một nụ hôn lãng mạn. Có thể cô đã tràn đầy hi vọng, cho nụ hôn đó có nghĩa là anh yêu em, anh sẽ nhớ em rất nhiều. Nhưng nhìn cái cách anh vội vàng lao xuống đường, cô chắc chắn nụ hôn đó của anh có nghĩa là: Anh yêu em, nhưng đừng giận anh khi anh vắng mặt ở nhà vào thứ bảy này.
Họ đã từng cùng nhau đi bộ trong sân trường Đại học Harvard mỗi sáng. Trong số tất cả những điều khiến cô yêu thích công việc đang làm như văn phòng chỉ cách nhà khoảng một dặm, dạy cùng một trường với chồng, thì việc hàng ngày đi làm cùng anh là điều cô thích nhất. Họ luôn dừng ở cửa hàng Jerri’s – mua một cốc café đen cho anh, một cốc trà chanh cho cô, nóng hay đá tùy theo từng mùa – và hai người sẽ tiếp tục đi đến khuôn viên trường Harvard, trò chuyện về những tay nghiên cứu, các lớp học, về những vấn đề ở khoa của mỗi người, về những đứa con của họ, hoặc kế hoạch cho buổi tối. Khi mới kết hôn, họ thậm chí còn nắm tay nhau đi. Cô thoải mái tận hưởng những buổi sáng riêng tư cùng anh, trước khi cả hai lại rơi vào vòng xoáy của công việc hằng ngày, của những tham vọng khiến họ mệt mỏi và kiệt sức.
Nhưng thời gian gần đây, họ hay phải đi bộ quanh trường Harvard một mình. Alice có nhiều chuyến công tác trong suốt mùa hè vừa rồi, cô phải tham dự những buổi hội thảo về tâm lý học ở Rome, New Orleans và Miami, cô còn tham gia vào hội đồng đánh giá luận án ở Princeton. Trước đó vào mùa xuân, tế bào mà John nuôi cấy cần phải được chăm sóc làm vệ sinh đúng vào khoảng giờ đó mỗi buổi sáng, nhưng anh lại không tin tưởng bất cứ sinh viên nào có thể làm đúng yêu cầu, nên anh tự mình làm. Cô không nhớ chuyện gì đã xảy ra vào mùa xuân năm ngoái, nhưng cô nhớ lần nào lý do của họ cũng chính đáng và chỉ là tạm thời.
Cô quay trở lại với đống giấy tờ trên bàn, nhưng vẫn bị phân tâm, bây giờ là vì sự tiếc nuối bởi cô đã không tranh luận thêm với John về chuyện của cô con gái út, Lydia. Anh sẽ chết nếu đứng về phía cô một lần sao? Cô cố gắng lướt qua phần tài liệu còn lại, đây không phải tác phong làm việc thường ngày của cô, nhưng là điều cô buộc phải làm, hiện tại tâm trạng cô không tốt và không có đủ thời gian. Phần nhận xét và gợi ý của cô đã hoàn thành, cô cho vào phong bì niêm lại, trong lòng cảm thấy áy náy vì cô biết có thể mình đã bỏ qua một vài lỗi trong phần thiết kế của nghiên cứu hoặc phần giải thích, cô thầm trách John đã khiến cô không tập trung vào công việc của mình.
Cô sắp xếp vali, đồ đạc trong chuyến đi lần trước vẫn còn nguyên. Cô mong những tháng tiếp theo mình sẽ ít phải đi công tác hơn. Cô chỉ mới nhận lời một vài buổi thỉnh giảng trong học kì mùa thu, và hầu hết cô đều lên lịch vào thứ sáu, những ngày cô không phải dạy. Chẳng hạn như vào ngày mai. Ngày mai cô sẽ là diễn giả mở màn cho một chuỗi các buổi hội thảo chuyên đề về mảng tâm lý học nhận thức ở Stanford. Và sau đó cô sẽ đi gặp Lydia. Cô sẽ cố không cãi nhau với con bé, nhưng cũng chẳng thể nói trước được điều gì.
ALICE DỄ DÀNG TÌM ĐƯỢC ĐƯỜNG ĐI ĐẾN Hội trường Cordura của Đại học Stanford nằm ở góc khuôn viên giữa khu Drive West và Panama Drive. Tòa nhà màu trắng, mái lợp ngói đất nung, cảnh quan xanh mát, trong mắt một người đến từ khu Bờ Đông như cô thì nơi này trông giống một khách sạn nghỉ dưỡng vùng Caribbean hơn là một giảng đường. Cô đến khá sớm nhưng vẫn đi thẳng vào trong, định tranh thủ thời gian để xem lại tài liệu.
Thật bất ngờ, khi cô bước vào giảng đường đã kín người. Họ đang hào hứng vây quanh bàn tiệc, lao vào thức ăn trên bàn như lũ chim hải âu trên những bãi biển đô thị. Trước khi cô kịp lảng ra xa khỏi đám đông đó, cô chợt nhận ra Josh, một người bạn cùng lớp với cô ở Harvard, một kẻ cực kỳ nhỏ mọn, đang đứng chắn đường mình, hai chân anh ta đứng vững, hơi dang ra, như thể đã sẵn sàng lao bổ vào cô vậy.
“Mọi thứ ở đây đều dành cho tôi phải không?” – Alice hỏi, mỉm cười tinh nghịch.
“Sao cơ, chúng tôi ăn uống như thế này mỗi ngày mà. Bữa tiệc này dành cho một trong những nhà tâm lý thực nghiệm của chúng tôi, anh ấy vừa được bổ nhiệm ngày hôm qua. Còn Harvard đãi ngộ với cậu như thế nào?”
“Tốt.”
“Tôi không thể tin là cậu vẫn ở đó sau bao nhiêu năm trời. Khi nào cậu cảm thấy chán bên đó, hãy nghĩ đến việc chuyển qua đây nhé.”
“Có gì tôi sẽ liên hệ với cậu. Mọi việc với cậu vẫn ổn chứ?”
“Tuyệt vời. Cậu nên ghé qua văn phòng của tôi sau khi kết thúc buổi diễn thuyết, để xem mô hình dữ liệu mới nhất của chúng tôi. Nó sẽ khiến cậu bất ngờ đấy.”
“Thật sự xin lỗi cậu, tôi không thể đi được. Sau khi xong việc ở đây tôi phải bay đến L.A ngay” – cô nói, cảm thấy thật may mắn vì có sẵn một lý do để từ chối.
“Ồ, tiếc nhỉ. Tôi nhớ năm ngoái tôi có gặp cậu ở buổi hội nghị về tâm lý học. Tôi đã không may bỏ lỡ buổi diễn thuyết hôm đó của cậu.”
“Không sao mà, cậu sẽ được nghe một phần lớn bài diễn thuyết của hôm đó trong buổi này.”
“Hả, bây giờ cậu còn định sử dụng lại mấy bài diễn thuyết cũ cho buổi hôm nay sao?”
Trước khi cô kịp trả lời, Gordon Miller – trưởng khoa và cũng là người hùng mới của cô – bước tới và giải vây cho cô bằng cách nhờ Josh mang champagne đi mời mọi người giúp ông. Cũng giống như ở Harvard, một buổi tiệc rượu champagne là truyền thống tại khoa Tâm lý học ở Stanford để chúc mừng những giảng viên vinh dự được bổ nhiệm chính thức. Việc đạt được một cấp độ mới không có gì đáng để ca ngợi trong sự nghiệp của một giáo sư, nhưng được bổ nhiệm chính thức là một dịp vô cùng quan trọng, lớn lao và rực rỡ.
Khi mọi người đều đã cầm ly trong tay, Gordon đứng lên bục và gõ vào chiếc micro.
“Mọi người chú ý một chút nào!”
Josh cười ngất ngưởng. Tiếng cười vang khắp cả căn phòng trước khi Gordon nói tiếp.
“Ngày hôm nay, chúng ta cùng chúc mừng Mark nhận được quyết định bổ nhiệm chính thức. Tôi chắc là anh ấy hẳn đang rất vui vì đã đạt được thành tích này. Chúng ta hãy cùng nâng ly vì những thành tựu vang dội sắp tới của Mark nào. Chúc mừng Mark!”
“Chúc mừng Mark.”
Alice quay sang cụng ly với người đứng cạnh, và mọi người nhanh chóng quay trở lại ăn uống và bàn tán. Khi tất cả đồ ăn trên khay của người phục vụ đều hết và giọt champagne cuối cùng được dốc ra khỏi chai, Gordon lại bước lên bục một lần nữa.
“Nếu tất cả mọi người đều đã tìm được chỗ ngồi, chúng ta có thể bắt đầu buổi diễn thuyết ngày hôm nay.”
Ông đợi một chút để đám đông khoảng bảy mươi lăm con người ổn định chỗ ngồi và giữ trật tự.
“Hôm nay, tôi vinh dự được giới thiệu với các bạn diễn giả đầu tiên của buổi hội thảo chuyên đề năm nay. Tiến sĩ Alice Howland – một người kiệt xuất được xem như Giáo sư William James của khoa Tâm lý Đại học Harvard. Trong suốt hơn hai mươi lăm năm qua, cô đã đóng góp rất nhiều trong việc tạo ra những tiền đề cho ngành tâm lý học ngôn ngữ. Cô là người tiên phong và vẫn đang tiếp tục dẫn dắt các nghiên cứu liên ngành và tích hợp các phương pháp về quy tắc của ngôn ngữ. Chúng ta rất vinh dự vì ngày hôm nay có cô ở đây để cùng thảo luận về khái niệm và tổ chức thần kinh của ngôn ngữ.”
Alice đổi chỗ với Gordon và nhìn xuống phía dưới những thính giả đang dõi theo cô. Trong lúc chờ đợi những tràng vỗ tay vãn bớt, cô nghĩ đến các nghiên cứu thống kê đã chỉ ra rằng con người sợ phát biểu trước đám đông hơn là sợ chết. Cô thì lại thích được phát biểu. Cô yêu những khoảnh khắc kết nối với thính giả đang lắng nghe cô trình bày, diễn thuyết, kể chuyện hay truyền lửa cho một buổi tranh luận. Cô cũng cực kì hứng thú với phản ứng hệ thần kinh giao cảm. Mục tiêu tranh luận càng lớn, càng phức tạp hoặc nhiều đối nghịch với người nghe, càng khiến cô trải qua nhiều cung bậc cảm xúc. John là một giảng viên xuất sắc, nhưng anh luôn khổ sở khi phải phát biểu trước đám đông, anh cảm thấy kinh ngạc trước sự nhiệt huyết mà Alice dành cho việc đó. Có lẽ anh không chọn cái chết, nhưng thà gặp nhện hoặc rắn còn hơn là phải đứng diễn thuyết trước đám đông. Chắc chắn là như vậy.
“Cảm ơn anh, Gordon. Ngày hôm nay, tôi sẽ trình bày một vài điều về các quá trình tinh thần được coi là nền tảng cho sự giao tiếp, cách tổ chức và sử dụng ngôn ngữ.”
Alice đã nhắc lại nhiều lần những nội dung cơ bản trong buổi diễn thuyết này, nhưng cô sẽ không gọi đó là “tái sử dụng”. Trọng tâm của buổi diễn thuyết là tập trung vào nguyên lý chính của ngôn ngữ học, một trong số các nguyên lý đó là do cô phát hiện ra và cô cũng sử dụng cùng một bản trình chiếu trong nhiều năm nay. Nhưng cô vẫn cảm thấy tự hào, không hề hổ thẹn hay lười biếng, chỉ đơn giản vì những phần mà cô đang thuyết trình, chúng là do cô khám phá ra, vẫn có thể áp dụng được, bất chấp sự thử thách của thời gian. Những đóng góp của cô có tầm quan trọng và sẽ tạo điều kiện cho những phát hiện mới trong tương lai. Hơn nữa, cô nhất định sẽ đóng góp thêm những khám phá mới.
Cô say sưa diễn thuyết mà không cần nhìn vào bản ghi chép của mình, phong thái rất ung dung và sống động, câu chữ cứ thế tuôn ra một cách dễ dàng. Nhưng rồi, vào khoảng phút thứ 40 của bài diễn thuyết dài 50 phút, cô bỗng rơi vào thế bí.
“Các dữ liệu cho thấy rằng động từ bất qui tắc thâm nhập vào trí não thông qua...”
Đơn giản là cô không thể tìm được từ ngữ phù hợp. Cô đã cảm nhận được điều mình muốn nói ra, nhưng từ ngữ biểu đạt cho điều đó thì đang cố lẩn tránh cô. Nó đã biến mất. Cô không còn biết từ đó bắt đầu bằng chữ cái gì hay nghe như thế nào và có bao nhiêu chữ cái. Từ đó hoàn toàn không còn trong đầu cô nữa.
Có lẽ nguyên nhân là do ly rượu champagne. Cô thường sẽ không uống bất cứ một loại đồ uống có cồn nào trước khi diễn thuyết, kể cả khi cô biết trước đó là một buổi diễn thuyết nhạt nhẽo, hoặc trong một tình huống ngẫu nhiên, cô cũng luôn muốn mình giữ được tinh thần nhạy bén nhất, đặc biệt là phần hỏi đáp diễn ra ở cuối buổi diễn thuyết, chúng đầy tính đối kháng và luôn hấp dẫn, đó là những cuộc tranh luận không có kịch bản từ trước. Nhưng vì không muốn làm phật lòng mọi người, cô đã uống nhiều hơn bình thường một chút khi cô rơi vào thế bị động trong cuộc trò chuyện với Josh.
Có thể là do cô quá mệt mỏi sau chuyến bay dài. Khi mà tâm trí cô đang tích cực tìm kiếm từ ngữ đã quên ở tất cả các ngõ ngách và một lý do xác đáng cho sự đãng trí ấy, thì trái tim cô đập loạn nhịp và khuôn mặt của cô đỏ ửng lên. Trước đây cô chưa bao giờ quên bài trước các thính giả của mình. Nhưng cô cũng không bao giờ để lộ sự hoảng hốt trước mặt họ, cô cũng từng diễn thuyết trước một lượng thính giả lớn hơn thế này nhiều lần và đã từng rơi vào những tình huống còn đáng sợ hơn thế nữa. Cô tự nhắc mình phải hít thở sâu, cố quên đi điều đó và tiếp tục bài diễn thuyết.
Cô thay thế từ đã bị biến mất bằng một từ mơ hồ, không thích hợp – từ “điều đó”, bỏ dở giữa chừng vấn đề đang nói đến, và chuyển sang bản trình chiếu tiếp theo. Việc tạm dừng đột ngột khiến cô thấy khó xử, nhưng khi cô để ý nét mặt của các thính giả thì không có ai nhận ra sự gián đoạn trong tâm trí cô, không ai tỏ ra hoảng hốt, lúng túng, hay nhăn nhó. Rồi cô nhìn thấy Josh thì thầm với người phụ nữ ngồi kế bên, cậu ta nhíu mày và một nụ cười nhẹ xuất hiện trên khuôn mặt ấy.
Cô đã lên máy bay, khi máy bay đang hạ cánh xuống sân bay LAX, cái từ đó cuối cùng cũng quay lại với cô.
Từ vựng.
TÍNH ĐẾN BÂY GIỜ LYDIA đã sống ở Los Angeles được ba năm. Nếu con bé chịu vào đại học sau khi học xong trung học, có lẽ nó đã tốt nghiệp vào mùa xuân năm nay. Alice hẳn sẽ cảm thấy vô cùng tự hào. Lydia có lẽ là đứa trẻ thông minh hơn hai anh chị của nó, nhưng trong khi hai đứa lớn theo học trường luật và trường y thì con bé lại không hề có hứng thú với đại học.
Thay vì học đại học, Lydia sang Châu Âu. Alice đã hi vọng con bé sẽ trở về nhà với một định hướng rõ ràng hơn về việc học tập. Thế nhưng, con bé quay về và nói với bố mẹ là nó đã tham gia một vai diễn nhỏ khi dừng chân ở Dublin và thật sự đam mê công việc đó. Ngay lập tức nó chuyển đến Los Angeles sống.
Alice gần như suy sụp tinh thần. Sự thất vọng trong cô ngày càng lớn, cô nhận ra một phần lỗi là do cô. Bởi vì Lydia là con út trong nhà, bố mẹ thì luôn bận rộn với công việc và thường xuyên phải đi công tác, hơn nữa con bé lại chăm chỉ học hành nên Alice và John đã lơ là quá mức. Họ đã cho con bé quá nhiều không gian để tạo ra một thế giới cho riêng mình, để tự do nghĩ về chính mình và không phải chịu sự kiểm soát khắt khe mà rất nhiều đứa trẻ ở độ tuổi của con bé phải chịu. Sự nghiệp viên mãn của cha mẹ chính là một tấm gương sáng về việc tập trung vào một mục tiêu to lớn và duy nhất để theo đuổi bằng cả niềm đam mê và cống hiến hết mình cho công việc. Lydia hiểu lời khuyên của mẹ về tầm quan trọng của việc học đại học nhưng con bé lại đủ tự tin và táo bạo để từ chối lời khuyên ấy.
Hơn nữa, Lydia không hoàn toàn đấu tranh đơn độc. Cuộc cãi vã nảy lửa nhất đã từng xảy ra giữa Alice và John xuất phát từ ý kiến riêng của anh: Anh nghĩ đó là một lựa chọn tuyệt vời đó chứ, sau này con bé luôn có thể quay lại học đại học, nếu nó muốn.
Alice kiểm tra địa chỉ lưu trên chiếc điện thoại BlackBerry của mình, cô nhấn chuông cửa căn hộ số 7, và chờ đợi. Cô vừa định nhấn chuông lần nữa thì Lydia đã ra mở cửa.
“Mẹ, mẹ đến sớm thế.” – Lydia nói.
Alice nhìn đồng hồ của mình.
“Mẹ đến vừa đúng giờ mà.”
“Mẹ nói là máy bay hạ cánh lúc tám giờ mà.”
“Mẹ nói là năm giờ chứ.”
“Con có ghi là tám giờ trong sổ tay của con kìa.”
“Lydia, bây giờ là năm giờ bốn lăm phút, mẹ đang ở đây rồi.”
Lydia có vẻ hoang mang và sửng sốt giống như một chú sóc đang đối mặt với một chiếc xe hơi đang lao đến mình.
“Con xin lỗi, mẹ vào nhà đi.”
Cả hai mẹ con đều hơi do dự trước khi ôm nhau, như thể họ đang chuẩn bị thực hành một điệu nhảy mới học và cả hai đều không tự tin vào những bước di chuyển đầu tiên hoặc không biết ai sẽ là người dẫn dắt. Cũng có thể đó là một điệu nhảy cũ, nhưng đã rất lâu hai người không cùng thực hiện nên không thuộc vũ đạo của mình.
Alice có thể cảm nhận được vệt sống lưng và xương sườn Lydia qua lớp áo. Con bé quá gầy, trông như sút khoảng 5kg so với cân nặng mà Alice nhớ. Cô hi vọng đây chỉ là hậu quả của việc quá bận rộn chứ không phải vì con bé đang ăn kiêng. Tóc vàng, cao khoảng 1m71, hơn Alice 7cm, với ưu thế của mình thì Lydia có thể nổi bật giữa đám đông các cô gái người Ý và châu Á ở Cambridge, nhưng ở Los Angeles này, phòng chờ của bất cứ buổi thử vai nào cũng đầy rẫy những cô gái trông hệt như thế.
“Con đặt chỗ lúc chín giờ rồi. Mẹ chờ ở đây nhé, con sẽ quay lại ngay.”
Từ hành lang Alice nghiêng đầu quan sát phòng bếp và phòng khách. Có thể con bé đã tìm mua đồ nội thất ở chợ trời hoặc đồ cũ được các gia đình rao bán lại, trông khá hợp với nhau: một ghế dài sọc cam, một chiếc bàn cà phê phong cách cổ điển, bàn ghế trong bếp kiểu Brady-Bunch. Những bức tường màu trắng để không, chỉ có một tấm hình Marlon Brando treo phía trên ghế dài. Không khí trong phòng đậm mùi nước lau nhà, cứ như thể Lydia đã tận dụng đến giây cuối cùng để tranh thủ dọn dẹp mọi nơi trước khi Alice đến.
Thực ra, căn phòng này hơi quá sạch sẽ. Quanh phòng chẳng có cái đĩa DVD hay VCD nào, không một cuốn sách hay quyển tạp chí nào vứt trên bàn cà phê cả, trên tủ lạnh cũng không gắn bất cứ bức ảnh nào, không hề có chút gì thể hiện sở thích hay liên quan đến khiếu thẩm mỹ của Lydia. Người chủ của nơi này có thể là bất cứ ai. Sau đó, Alice nhận ra ở bên trái cánh cửa phía sau cô là một đống giày nam nằm lăn lóc trên sàn.
“Kể mẹ nghe về các bạn cùng phòng của con đi” – cô nói khi Lydia đi ra từ phòng của con bé, trên tay cầm theo điện thoại.
“Họ đang đi làm.”
“Họ làm công việc gì?”
“Một người đang làm pha chế tại quán bar và người kia là nhân viên giao thức ăn.”
“Mẹ lại nghĩ cả hai đều là diễn viên cơ đấy.”
“Vâng, đúng thế.”
“Mẹ hiểu rồi. Vậy còn tên của họ là gì?”
“Doug và Malcolm.”
Có gì đó lóe lên, nhưng Alice đã kịp nhìn thấy và Lydia cũng nhận ra điều đó. Khuôn mặt của Lydia chợt đỏ ửng khi nhắc đến cái tên Malcolm, và đôi mắt con bé tỏ ra bối rối cố lảng tránh ánh nhìn từ phía mẹ.
“Tại sao mẹ và con không đi luôn bây giờ nhỉ? Nhà hàng nói chúng ta có thể đến sớm hơn.” – Lydia nói.
“Được thôi, nhưng mẹ cần dùng nhà vệ sinh trước đã.”
Trong khi Alice rửa tay, cô nhìn qua các thứ đồ đặt trên chiếc bàn cạnh bồn rửa mặt: sữa rửa mặt và kem dưỡng ẩm Neutrogena, kem đánh răng bạc hà Tom’s of Maine, lăn khử mùi của nam, một hộp băng vệ sinh Playtex. Cô nghĩ ngợi một chút. Cô đã không hành kinh trong suốt cả mùa hè. Tháng năm cô có bị không nhỉ? Tháng sau cô sẽ bước sang tuổi năm mươi, vậy nên không phải lo chuyện bầu bì. Cô vẫn chưa trải qua những triệu chứng nóng hay đổ mồ hôi vào ban đêm, nhưng không phải phụ nữ nào đến tuổi mãn kinh cũng đều trải qua những chuyện như thế. Nếu điều đó xảy ra với cô thì cũng là chuyện bình thường thôi.
Khi cô đang lau khô tay, cô để ý thấy một hộp bao cao su Trojan ở phía sau bộ sản phẩm chăm sóc tóc của Lydia. Cô sẽ phải tìm hiểu thêm về những người bạn cùng phòng của con gái mình, đặc biệt là Malcolm.
Hai mẹ con ngồi ở một bàn ngoài trời tại Ivy, một quán ăn thời thượng thuộc trung tâm thành phố Los Angeles, gọi hai món đồ uống, một ly Martini Espresso cho Lydia và một ly vang Merlot cho Alice.
“Bài báo khoa học của bố đến đâu rồi ạ?” – Lydia hỏi. Gần đây chắc con bé có nói chuyện với bố. Alice thì chưa nói chuyện lại với con kể từ cuộc gọi vào Ngày của Mẹ.
“Hoàn thành rồi. Bố con rất tự hào về nó.”
“Thế còn anh Tom và chị Anna thì sao?”
“Vẫn tốt, anh chị con luôn bận rộn và chăm chỉ làm việc. Mà con đã gặp Doug và Malcolm như thế nào vậy?”
“Vào một buổi tối họ ghé đến Starbucks và con đang làm thêm ở đó.”
Người phục vụ bước đến, mỗi người gọi một món cho bữa tối và thức uống kèm theo. Alice hi vọng mấy thứ đồ uống có cồn này sẽ làm giảm sự căng thẳng đang ẩn giấu sau những câu hội thoại nặng nề, không thoải mái giữa hai mẹ con.
“Mà con đã gặp Doug và Malcolm như thế nào vậy?”
“Con vừa nói với mẹ rồi mà. Tại sao mẹ lại chẳng bao giờ lắng nghe những gì con nói nhỉ? Một buổi tối, họ đến Starbucks và nói chuyện về việc tìm một người thuê chung phòng trong khi con đang làm việc ở đó.”
“Mẹ tưởng con làm phục vụ trong một quán ăn chứ.”
“Đúng ạ. Con làm ở Starbucks những ngày trong tuần và làm phục vụ vào các tối thứ bảy.”
“Có vẻ như con không còn nhiều thời gian cho việc diễn xuất nhỉ.”
“Hiện giờ con không được phân vai nào cả, nhưng con có tham gia lớp học thực hành và con cũng đi thử vai khá nhiều.”
“Lớp học đó dạy về cái gì?”
“Kỹ thuật biểu diễn Meisner.”
“Thế con thử vai ở những đâu?”
“Cho chương trình truyền hình và báo chí.”
Alice lắc nhẹ ly rượu vang trên tay, uống một ngụm lớn cho đến khi cạn ly rồi liếm môi. “Lydia, chính xác thì kế hoạch của con ở đây là gì vậy?”
“Con không lên kế hoạch cho việc bỏ cuộc, nếu đó là điều mẹ đang muốn hỏi.”
Những ly rượu đang phát huy tác dụng nhưng không phải theo hướng mà Alice hi vọng. Ngược lại, chúng như tiếp thêm năng lượng để đốt cháy những mối chỉ mong manh trong cuộc nói chuyện của hai mẹ con, đẩy sự căng thẳng đến trực diện và mang đến nguy cơ về một cuộc tranh cãi kịch liệt giữa những thành viên trong gia đình.
“Con không thể sống thế này mãi được. Con định sẽ làm ở Starbucks cho đến khi con ba mươi tuổi à?”
“Đó là chuyện của tám năm nữa mẹ à. Mẹ có biết tám năm nữa mẹ sẽ làm gì không?”
“Có, mẹ biết chứ. Đến một lúc nào đó con cần phải có trách nhiệm với rất nhiều điều, con phải có đủ khả năng để chi trả cho bảo hiểm y tế, một khoản vay thế chấp, tiết kiệm cho tuổi nghỉ hưu...”
“Con có bảo hiểm y tế rồi. Và con có thể sẽ trở thành một diễn viên. Có rất nhiều người có thể làm được như vậy, mẹ biết mà. Và họ kiếm được cực kì nhiều tiền, nhiều hơn cả bố và mẹ cộng lại.”
“Vấn đề không phải là vì tiền.”
“Thế là vì cái gì? Vì con không thể trở thành người như mẹ à?”
“Con đừng gắt lên như vậy.”
“Mẹ đừng ra lệnh cho con phải làm gì.”
“Mẹ không muốn con phải trở thành một người như mẹ, Lydia. Mẹ chỉ không muốn con tự giới hạn những lựa chọn của mình.”
“Mẹ muốn can thiệp vào lựa chọn của con.”
“Không phải.”
“Con là chính con và đây là những gì con muốn làm.”
“Con muốn làm gì? Phục vụ cà phê Venti Latte à? Con nên học đại học. Con nên dành khoảng thời gian này trong cuộc đời mình để học một cái gì đó.”
“Con đang học một cái gì đó đây. Chỉ là con không ngồi trong một lớp học ở Harvard để ép buộc bản thân phải đạt điểm A môn Khoa học Chính trị. Con đang nghiêm túc theo học một lớp diễn xuất, mỗi tuần học mười lăm tiếng đồng hồ. Thế sinh viên của mẹ học bao nhiêu tiếng trong một tuần? Mười hai tiếng?”
“Đó là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.”
“Khác ư? Bố thì nghĩ nó giống nhau đấy, vì bố là người trả tiền học phí cho con.”
Hai tay Alice nắm chặt gấu váy, môi mím lại. Những gì cô muốn nói tiếp theo không phải là dành cho Lydia.
“Mẹ chưa bao giờ xem con diễn cả.”
Lydia nói đúng, Alice chưa bao giờ xem con gái biểu diễn, nhưng John thì khác. Cuối mùa đông năm ngoái anh ấy đã một mình bay đến xem Lydia diễn một vở kịch. Alice không thể đi cùng bởi cô có quá nhiều công việc và chúng chiếm hết thời gian của cô. Khi nhìn thấy ánh mắt buồn rầu của Lydia, cô không thể nhớ nổi những công việc mà cô coi là quan trọng và cần làm ngay nữa. Cô không hề có định kiến gì với nghề diễn viên cả, nhưng cô tin rằng quá mạo hiểm khi con gái cô một mình theo đuổi nghề nghiệp ấy mà không được đào tạo bài bản. Nếu bây giờ con bé không học đại học, không bằng cấp, không có kiến thức cơ bản hoặc đào tạo chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó, sẽ ra sao khi sự nghiệp diễn xuất của nó không như mong đợi?
Alice nghĩ đến hộp bao cao su trong phòng tắm. Sẽ ra sao nếu Lydia có thai? Alice lo sợ một ngày nào đó Lydia nhận ra mình đang bị mắc kẹt trong một cuộc sống không như ý và tràn đầy hối tiếc. Cô nhìn con gái mình và thấy nó đang lãng phí cả tài năng lẫn thời gian của chính mình.
“Khi tuổi trẻ qua đi, con sẽ không thể lấy lại những gì đã mất. Thời gian trôi qua nhanh lắm.”
“Con biết điều đó.”
Đồ ăn được đưa lên, nhưng chẳng ai muốn cầm nĩa lên cả. Lydia dùng chiếc khăn thêu tay chấm nhẹ lên mắt mình. Họ luôn sa vào các cuộc tranh cãi như thế này và điều ấy làm Alice cảm thấy như họ đang cố đâm đầu vào bức tường bê tông. Sẽ chẳng bao giờ có kết quả tốt đẹp và cuối cùng chỉ đem lại cho họ những tổn thương về lâu dài. Cô mong Lydia có thể cảm nhận được tình yêu và sự sáng suốt trong những điều cô muốn dành cho con bé. Cô ước mình có thể vươn tới ôm con gái, nhưng trên bàn có quá nhiều đĩa, cốc, hơn nữa giữa hai người đã có khoảng trống sau nhiều năm xa cách.
Bỗng những tiếng động bất ngờ từ mấy bàn ăn gần đó thu hút sự chú ý của hai mẹ con. Vài chiếc máy ảnh chớp nháy liên tục, nhiều vị khách và các nhân viên trong quán đang vây quanh một người phụ nữ trông hơi giống Lydia.
“Ai đó con?” – Alice hỏi.
“Mẹ!” – Lydia vừa có vẻ ngượng ngùng vừa phấn khích, giống hệt một cô bé mười ba tuổi. – “Đó là Jennifer Aniston đấy mẹ à.”
Hai mẹ con tiếp tục bữa tối và chỉ nói những chuyện ôn hòa, chẳng hạn như về món ăn hay thời tiết. Alice muốn tìm hiểu thêm về mối quan hệ giữa Lydia và Malcolm, nhưng dư âm của cuộc tranh cãi khiến cho cảm xúc của Lydia vẫn còn nóng hừng hực, Alice sợ gây ra một cuộc tranh cãi khác. Cô quyết định thanh toán tiền và họ rời nhà hàng, cả hai đều thấy no nhưng không mấy hài lòng.
“Xin lỗi quý khách!”
Người phục vụ đuổi kịp họ trên lối ra.
“Quý khách để quên thứ này.”
Alice dừng bước, cô cố gắng nhớ lại xem tại sao chiếc BlackBerry của mình lại đang nằm trong tay người phục vụ. Trong lúc ngồi ăn cô không hề kiểm tra email hay xem lịch. Cô lục túi xách – không có chiếc điện thoại BlackBerry trong đó. Chắc là cô đã bỏ điện thoại ra ngoài khi tìm ví để thanh toán.
“Cảm ơn.”
Lydia nhìn mẹ mình một cách kỳ lạ như thể đang muốn nói về một cái gì đó ngoài chuyện đồ ăn và thời tiết nhưng rồi lại thôi. Hai mẹ con cùng đi bộ về căn hộ của Lydia trong im lặng.
“JOHN?”
Alice đứng đợi ở cửa ra vào, tay nắm chặt tay cầm của chiếc vali. Trước mặt cô là đống thư chưa có người nhận rải rác khắp sàn nhà và cuốn Tạp chí Harvard. Chiếc đồng hồ trong phòng khách kêu tích tắc và chiếc tủ lạnh phát ra tiếng ù ù. Phía sau lưng cô là một buổi chiều ấm áp, ngập nắng nhưng không khí trong nhà lại lạnh lẽo, âm u và ảm đạm, không khí của một ngôi nhà không có người ở.
Cô nhặt chồng thư lên rồi đi vào trong bếp, chiếc vali trượt trên những bánh xe theo sau cô như một con vật cưng trung thành. Chuyến bay của cô đã bị chậm và cô về muộn hơn dự định, kể cả khi tính theo thời gian trên chiếc lò vi sóng. Vậy là John đã dành cả ngày thứ bảy cho công việc.
Cô để ý đến máy trả lời tự động, đèn đỏ báo tin nhắn thoại không sáng. Cô kiểm tra trên tủ lạnh cũng không có tờ giấy nhắn nào. Không có gì cả.
Tay vẫn nắm chặt tay cầm của vali, cô đứng trong căn bếp tối đen và mất vài phút nhìn chằm chằm chiếc lò vi sóng. Trong đầu cô tiếng nói của sự thất vọng nhưng đầy khoan dung đang nhạt dần, chuyển sang tiếng thì thầm từ bản năng bắt đầu trỗi dậy và lan tỏa. Cô đã nghĩ đến việc gọi điện cho anh, nhưng giọng nói đang lớn dần kia ngay lập tức xua đi ý nghĩ đó và không chấp nhận bất cứ một lời biện minh nào. Cô đã nghĩ rằng sẽ thôi không bận tâm nữa, nhưng tiếng nói ấy bây giờ đang ngấm dần vào cơ thể cô, vang vọng trong lòng cô, rung lên khắp các đầu ngón tay, mạnh mẽ và sâu đậm đến mức khiến cô không thể bỏ qua.
Tại sao cô lại bận tâm đến chuyện này nhiều đến vậy? Anh có thể đang làm một thí nghiệm và không thể bỏ dở để về nhà. Cô cũng từng rơi vào tình cảnh giống anh không biết bao nhiêu lần rồi. Đó là cách họ làm việc. Đó là con người họ. Giọng nói ấy gọi cô là một kẻ xuẩn ngốc.
Cô tìm thấy đôi giày chạy của mình nằm sau cánh cửa. Chạy bộ một chút sẽ làm cô thấy đỡ hơn. Đó là những gì cô cần lúc này.
Cô thường chạy bộ mỗi ngày. Từ nhiều năm nay, cô mặc định việc chạy bộ cũng như việc ăn uống hay ngủ nghỉ, là nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hằng ngày và cô đã từng chạy bộ vào giữa đêm hoặc khi ngoài trời bão tuyết mịt mùng. Thế nhưng trong mấy tháng vừa rồi vì quá bận rộn nên cô đã bỏ qua việc này. Trong khi buộc dây giày, cô tự nhủ sẽ không mang theo giày khi đến California vì cô biết sẽ không có thời gian để chạy. Nhưng sự thật là cô đã quên bỏ giày vào hành lý của mình.
Khi bắt đầu rời khỏi nhà mình trên phố Poplar, cô lúc nào cũng đi theo tuyến đường quen thuộc – chạy xuôi đại lộ Massachusetts, qua quảng trường Harvard đến khu Memorial, chạy dọc theo sông Charles đến cầu Harvard, cuối cùng là đến MIT rồi quay trở lại – tổng quãng đường khoảng hơn năm dặm, chạy một vòng mất khoảng bốn mươi lăm phút. Từ lâu cô đã có ý muốn tham gia cuộc chạy đua Boston Marathon nhưng mỗi năm cô đều quá bận rộn nên không có thời gian để tập luyện. Có lẽ một ngày nào đó cô sẽ tham gia. Ở độ tuổi này mà tình trạng thể chất của cô vẫn tuyệt vời thế này thì cô tin rằng mình vẫn có thể chạy tốt kể cả khi ở tuổi sáu mươi.
Khi chạy qua quảng trường Harvard, Alice bị choáng ngợp bởi dòng người đi bộ qua lại chen chúc trên vỉa hè, còn trên đường xe cộ liên tục di chuyển tại các giao lộ. Trong khoảng thời gian này vào một ngày thứ bảy thì đúng là rất đông đúc và nhộn nhịp, đám đông tụ tập, chen lấn chờ đợi đèn tín hiệu giao thông, bên ngoài nhà hàng người ta đang chờ đợi bàn trống, xếp hàng chờ mua vé ở rạp chiếu phim và cả nhiều người chờ chỗ trống trong bãi giữ xe theo giờ. Mười phút đầu tiên trong hành trình chạy bộ của cô đòi hỏi sự tập trung cao độ để có thể vượt qua được hết những khó khăn ấy, nhưng khi đã chạy qua khu Memorial đến sông Charles cô sẽ có thể tự do mà sải bước chạy và tận hưởng không gian xung quanh.
Không khí buổi tối rất thoải mái và thoáng đãng, dọc bờ sông Charles có rất nhiều hoạt động diễn ra, nhưng dù thế nào thì bãi cỏ bên cạnh bờ sông vẫn không đông đúc như trên đường phố Cambridge. Bất chấp dòng người đang đi bộ, những người dắt chó đi dạo, người trượt patin, đạp xe và cả những phụ nữ đang đẩy xe nôi, Alice như một lái xe đã quen đường không để ý nhiều đến những gì đang diễn ra xung quanh. Khi chạy dọc bờ sông, trong đầu cô không có bất cứ điều gì ngoài tiếng đôi giày Nike của mình va chạm với mặt đường hòa nhịp theo hơi thở của cô. Cô không hồi tưởng lại cuộc tranh cãi với Lydia. Cô cũng không để ý đến cảm giác cồn cào trong bụng. Cô không nghĩ đến John. Cô chỉ chạy mà thôi.
Theo thói quen, khi chạy ngược về đến công viên John Fitzgerald Kennedy thì cô dừng lại, nơi đây có một khoảng cỏ được cắt tỉa cẩn thận tiếp giáp với khu Memorial. Đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng, cơ thể cô thả lỏng và dường như đã hồi sức, cô bắt đầu đi bộ về nhà. Từ công viên JFK đi vào quảng trường Harvard phải đi qua một đường hành lang có những hàng ghế dài rất đẹp mắt nằm giữa khách sạn Charles và trường chính trị Kennedy.
Ở phía bên kia lối đi, cô đứng giữa ngã tư đường Eliot và Brattle để chuẩn bị sang đường thì một người phụ nữ bất ngờ nắm lấy cánh tay cô khiến cô giật mình, người phụ nữ hỏi: “Hôm nay cô đã nghĩ đến thiên đường chưa?”
Người phụ nữ đó nhìn Alice chằm chằm bằng một ánh mắt kiên định, xuyên thấu. Bà ta có mái tóc dài màu mè và rối bù như miếng cọ rửa Brillo, trước ngực đeo một tấm biển viết tay, trên đó viết NƯỚC MỸ HÃY SÁM HỐI, TỪ BỎ TỘI LỖI ĐỂ TRỞ VỀ VỚI CHÚA. Ở quảng trường Harvard lúc nào cũng có người muốn mang Chúa ra rao bán nhưng Alice chưa bao giờ bị tiếp cận trực tiếp và đường đột như thế này.
“Xin lỗi.” – Cô nói và nhận ra có một đường rẽ trong dòng xe đang lưu thông, cô nhanh chóng đi sang bên kia đường.
Cô muốn đi tiếp nhưng lại đứng yên một chỗ như bị đóng băng. Cô không biết mình đang ở đâu. Cô nhìn lại phía bên kia đường. Người phụ nữ với kiểu tóc trông như miếng cọ rửa Brillo vẫn đang tiếp cận một con người tội lỗi khác phía đầu kia lối đi. Hành lang này, khu khách sạn, các cửa hàng, những con phố ngoằn ngoèo có qui luật. Cô biết mình đang ở quảng trường Harvard nhưng không biết đường nào để về nhà.
Cô cố gắng hình dung một lần nữa, một cách chi tiết hơn. Khách sạn quảng trường Harvard, khu thể thao Eastern Mountain, cửa hàng Dickson Bros, phố Mount Auburn. Cô biết tất cả những nơi này, cô đã qua lại khu vực này trong suốt hai mươi lăm năm qua nhưng không hiểu sao bây giờ chúng lại không hiện lên trên tấm bản đồ có sẵn trong đầu cô về nơi cô sinh sống. Một biển hiệu đen trắng hình tròn có in chữ “T” trước mặt cô báo hiệu lối vào khu tàu điện ngầm và xe buýt Red Line, nhưng ở quảng trường Harvard có ba lối vào như thế này và cô không thể nhận ra đây là chỗ nào trong số ba chỗ đó.
Tim cô bắt đầu đập nhanh hơn. Cô toát mồ hôi. Alice tự trấn an mình rằng hiện tượng tim đập nhanh và toát mồ hôi là những phản ứng hoàn toàn tự nhiên sau khi vừa chạy bộ. Nhưng khi cô đứng trên vỉa hè, có một cảm giác gần như hoảng sợ bủa vây khắp cơ thể cô.
Cô vô thức đi bộ qua một khu nhà rồi lại một khu nữa, đôi chân dẻo dai của cô dường như muốn bỏ cuộc và nhường chỗ cho những bước chân đầy hoang mang. Cô đi ngang qua cửa hiệu Coop, Cardullo’s, nơi bán tạp chí ở góc đường, trung tâm dành cho khách du lịch ở Cambridge và cả khu sân trường Harvard ở phía đằng xa. Cô tự nhủ rằng mình vẫn có thể đọc và nhận ra mọi thứ. Nhưng cũng chẳng ích gì. Tất cả đều trở nên vô cùng lạc lõng.
Con người, xe hơi, xe buýt và tất cả những âm thanh hỗn tạp bủa vây rồi lướt qua cô. Alice nhắm mắt lại, cô lắng nghe những mạch máu giần giật phía sau tai mình.
“Làm ơn ngừng lại...” – Cô thì thầm.
Alice mở mắt ra. Bất ngờ giống như lúc biến mất, mọi thứ xung quanh cô lại đột nhiên trở về đúng vị trí của mình. Cửa hàng Coop, Cardullo’s, Nini’s Corner, sân trường Harvard. Ngay lập tức cô biết là mình sẽ phải rẽ trái ở phía góc phố rồi đi thẳng về hướng tây trên đại lộ Mass Ave. Cô bắt đầu hít thở dễ dàng hơn, không còn cảm giác lạc lõng như lúc nãy. Nhưng cô vừa mới bị lạc đường một cách kì lạ dù chỗ cô đứng cách nhà chưa đến một dặm. Cô không chạy mà cố bước đi với tốc độ nhanh nhất có thể.
Cô rẽ sang con phố nhà mình, một nơi yên tĩnh, hai bên trồng hai hàng cây và chỉ cách đại lộ Mass Ave vài tòa nhà. Đôi chân bước trên con đường quen thuộc và ngôi nhà thân yêu đã nằm trong tầm mắt, Alice cảm thấy yên tâm hơn, nhưng vẫn chưa hẳn đã an toàn. Cô nhìn chằm chằm vào cánh cửa chính nhà mình, vừa bước đến gần vừa tự nói với bản thân rằng một khi cô bước qua cánh cửa kia và nhìn thấy John đã trở về nhà, cơn sóng lo âu và giận hờn đang cuộn trào trong cô sẽ ngay lập tức bị rút cạn.
“John?”
Anh xuất hiện ở ngưỡng cửa phòng bếp, râu lún phún, cặp kính bị đẩy lên trên mái tóc kiểu nhà-khoa-học-điên, đang ăn cây kem Popsicle màu đỏ và mặc chiếc áo phông màu xám yêu thích. Anh đã thức cả đêm. Những lo lắng trong cô đã dịu đi. Thế nhưng dường như năng lượng và sự dũng cảm nơi cô cũng rút xuống cùng với những lo lắng ấy, khiến cô cảm thấy thật yếu đuối và chỉ muốn tan vào trong vòng tay anh.
“Chào em, anh đang thắc mắc là em đi đâu mất, anh đang định để lại một lời nhắn cho em ở tủ lạnh. Mọi việc thế nào em?” – Anh hỏi.
“Cái gì cơ?”
“Standford ấy.”
“À, tốt.”
“Thế còn Lydia?”
Sự phản bội và nỗi đau từ cuộc gặp với Lydia, sự hụt hẫng khi về nhà mà không thấy anh, cảm giác kì lạ khi đi chạy bộ và nỗi sợ hãi khi bị lạc một cách khó hiểu đang hối thúc nhau đòi lên tiếng.
“Anh thử nói xem.”
“Hai mẹ con lại cãi nhau rồi.”
“Anh trả tiền học phí cho khóa học biểu diễn của con bé phải không?” – Cô buộc tội anh.
“À” – anh trả lời, cho nốt miếng kem Popsicle cuối cùng vào khuôn miệng đã bị nhuộm đỏ của mình. “Em nghe này, mình nói chuyện đó sau được không? Bây giờ anh không có thời gian để giải thích đâu.”
“John, anh sắp xếp thời gian đi. Anh giúp con bé lang thang bên ngoài mà không hề cho em biết và anh còn không ở nhà khi em về, còn...”
“Em cũng không ở nhà khi anh về mà. Buổi chạy bộ của em thế nào?”
Cô nghe thấy một lý do rất đơn giản trong câu hỏi của anh. Nếu như cô đợi anh, nếu như cô gọi điện và nếu như cô không làm những gì mình muốn thì cô đã có thể ở cùng anh trong hơn một tiếng vừa rồi. Cô không thể phủ nhận điều đó.
“Cũng tốt.”
“Anh xin lỗi. Anh đã đợi lâu nhất có thể nhưng anh phải quay lại phòng thí nghiệm rồi. Hôm nay anh đã có một ngày thật tuyệt vời, những kết quả tuyệt vời nhưng bọn anh vẫn chưa xong, anh còn phải phân tích các số liệu trước khi bắt đầu lại vào sáng mai. Anh chỉ về nhà để gặp em một chút thôi.”
“Em cần phải nói chuyện với anh ngay bây giờ.”
“Đây không phải là chuyện gì mới Ali. Chúng ta không có chung quan điểm về vấn đề của Lydia. Chúng ta không thể đợi đến khi anh về mới nói tiếp được à?”
“Không.”
“Em có muốn đi cùng anh sang trường để chúng ta vừa đi vừa nói chuyện không?”
“Em không muốn sang văn phòng, em cần phải ở nhà.”
“Em cần nói chuyện ngay bây giờ, em cần phải ở nhà, đột nhiên cái gì em cũng đòi hỏi luôn như thế. Còn chuyện gì nữa đúng không?”
Từ đòi hỏi anh nói đã chạm đến một dây thần kinh rất mẫn cảm của cô. Đòi hỏi đồng nghĩa với yếu đuối và phụ thuộc. Cha cô. Mục tiêu của cả đời cô là không bao giờ giống như ông ấy.
“Em rất mệt.”
“Ừ, trông em mệt lắm, em phải chậm lại một chút.”
“Đó không phải là điều em cần.”
Anh chờ cô nói thêm nhưng rất lâu sau cô vẫn không nói gì.
“Em nghe này, anh càng đi sớm thì sẽ được về càng sớm. Em nghỉ một chút đi, tối nay anh sẽ về.”
Anh hôn lên mái tóc ướt mồ hôi của cô rồi bước ra ngoài.
Cô đứng một mình gần cửa ra vào, nơi anh đã để cô lại một mình, không có một ai để giãi bày hay thú nhận, một lần nữa cô cảm nhận đầy đủ những cảm xúc đã ào ạt tràn qua cô như khi ở quảng trường Harvard. Cô ngồi thụp xuống sàn nhà, tựa lưng vào bức tường lạnh ngắt, nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay đang run rẩy của mình đặt trong lòng như thể chúng không phải là của cô vậy. Cô cố gắng tập trung ổn định hơi thở như cô vẫn làm mỗi khi chạy thể dục.
Sau một vài phút cố gắng hít thở sâu cuối cùng cô cũng bình tĩnh hơn để tập trung suy nghĩ về những điều vừa xảy ra. Cô nghĩ đến cái từ đã biến mất khỏi đầu cô trong buổi diễn thuyết ở Stanford và kì kinh bị chậm của mình. Cô đứng dậy, bật máy tính và google từ khóa “các triệu chứng tiền mãn kinh”.
Một danh sách đáng kinh ngạc nhanh chóng xuất hiện trên màn hình: bốc hỏa, ra mồ hôi đêm, mất ngủ, mệt mỏi, lo lắng, chóng mặt, nhịp tim bất thường, trầm cảm, cáu kỉnh, dễ thay đổi cảm xúc, mất phương hướng, rối loạn tinh thần, suy giảm trí nhớ.
Mất phương hướng, rối loạn tinh thần, suy giảm trí nhớ. Tất cả những điều này đều xảy ra với cô. Cô dựa người ra sau ghế, luồn ngón tay vào trong mái tóc xoăn màu đen của mình. Cô nhìn vào những bức ảnh đang để trên chiếc giá sách cao đến trần nhà: ảnh ngày cô tốt nghiệp Harvard, cô và John cùng nhau khiêu vũ trong ngày cưới của họ, ảnh cả nhà khi lũ trẻ còn nhỏ và trong ngày cưới của Anna. Cô nhìn lại danh sách đang hiện trên màn hình. Đây chỉ là những điều tự nhiên, một giai đoạn mới trong cuộc đời một người phụ nữ. Mỗi ngày có hàng triệu phụ nữ phải đối mặt với vấn đề này. Không có gì đe dọa cuộc sống của cô cả. Cũng không có gì khác thường hết.
Cô viết thư gửi bác sĩ riêng hẹn một buổi kiểm tra. Có lẽ cô nên sử dụng liệu pháp thay thế estrogen. Cô đọc lại danh sách các triệu chứng một lần nữa. Cáu kỉnh. Dễ thay đổi cảm xúc. Những biểu hiện gần đây của cô với John. Tất cả đều đúng như vậy. Cảm thấy hài lòng nên cô đưa tay tắt máy.
Cô ngồi trong bóng tối thêm một chút nữa, lắng nghe ngôi nhà yên ắng của mình và cả âm thanh truyền sang từ bữa tiệc thịt nướng của nhà hàng xóm. Cô hít vào mùi thịt hamburger nướng. Không hiểu sao cô lại không thấy đói nữa. Cô uống một viên vitamin bổ sung, lấy đồ đạc trong vali ra, đọc một vài bài báo trong cuốn Tạp chí Tri thức rồi đi ngủ.
Khoảng sau nửa đêm John về. Trọng lượng của anh khi nằm lên giường đánh thức cô nhưng chỉ một chút thôi. Cô nằm yên, giả vờ vẫn đang ngủ. Chắc hẳn anh đã rất mệt vì phải thức cả đêm rồi lại phải làm việc cả ngày. Họ có thể nói về chuyện của Lydia vào sáng mai. Và cô sẽ xin lỗi anh vì gần đây đã quá nhạy cảm, dễ xúc động. Bàn tay ấm áp của anh đặt trên hông cô, kéo cô vào lòng anh. Hơi thở nhẹ nhàng của anh vấn vương trên cổ đưa cô vào một giấc ngủ sâu, cô tin rằng mình đã được an toàn.
- 2 -
tháng mười, năm 2003
“Ðến bội thực mất thôi!” – Alice nói, cô mở cửa bước vào văn phòng.
“Vâng, mấy cái bánh ngô đó to thật.” – Dan đi theo sau cười thích thú.
Alice cầm quyển sổ đánh nhẹ vào cánh tay cậu. Họ vừa trải qua một giờ đồng hồ tham gia buổi hội thảo. Dan – cậu sinh viên năm tư có vẻ ngoài theo phong cách của J.Crew – dáng người cao gầy nhưng có cơ bắp, mái tóc vàng cắt ngắn gọn gàng và nụ cười tỏa sáng, trông có phần kiêu ngạo. Xét vẻ bề ngoài thì cậu ta trông chẳng giống John chút nào nhưng ở cậu lại có sự tự tin và tính hài hước gợi cô nhớ đến hình ảnh của John khi anh cũng ở độ tuổi đó.
Sau một vài lần thất bại thì cuối cùng luận văn nghiên cứu của Dan đã thành công. Alice nhận ra cậu học trò của mình đang tận hưởng niềm vui chiến thắng sau thành công ấy nhưng cô hy vọng Dan sẽ coi đó là động lực để phát triển thành một đam mê bền vững. Khi nhìn thấy những thành công mà việc nghiên cứu mang lại thì bất kì ai cũng bị thu hút, nhưng điều quan trọng là có thể tiếp tục theo đuổi việc nghiên cứu khi kết quả không như mong đợi và tìm ra nguyên nhân của những trở ngại.
“Khi nào em đi Atlanta?” – Cô vừa hỏi vừa tìm kiếm bài nghiên cứu của Dan mà cô đã chỉnh sửa trong đống giấy tờ trên bàn.
“Tuần tới ạ.”
“Em có thể nộp bài cho cô trước khi đi, bài của em khá ổn rồi.”
“Không thể tin được là em sắp kết hôn. Trời ơi, em già rồi.”
Cô đã tìm thấy bài nghiên cứu và đưa cho Dan. “Thôi cho tôi xin, em chưa già đâu. Em mới chỉ đang ở ngưỡng bắt đầu của mọi thứ thôi.”
Dan ngồi xuống, cậu bắt đầu lật từng trang, đôi lông mày nhíu lại khi cậu nhìn thấy những dòng chữ màu đỏ viết nguệch ngoạc bên lề. Với kiến thức chuyên sâu và giàu kinh nghiệm, Alice đã giúp Dan hoàn thiện phần mở đầu của bài luận, bổ sung những chỗ hổng trong phần diễn giải, khiến cho bài luận trở thành một bức tranh gần gũi hơn, hợp lý hơn và chỉ ra cách để bài nghiên cứu của Dan có thể lý giải những khúc mắc, hợp ngành ngôn ngữ học cổ điển và hiện đại thành một thể thống nhất.
“Ý này của cô nghĩa là gì ạ?” – Dan hỏi, tay chỉ vào cụm chữ màu đỏ viết nguệch ngoạc.
“Những tác động khác nhau của sự tập trung chú ý và phân phối chú ý.”
“Những ý kiến này tham khảo từ đâu ạ?” – Cậu hỏi.
“À, à, ở đâu nhỉ?” – Cô tự hỏi mình, nhắm chặt mắt lại, cố nhớ lại tên tác giả và năm nghiên cứu. – “Em thấy chưa, chuyện này sẽ xảy ra khi em già đi đấy.”
“Thôi mà cô, cô cũng chưa già đâu ạ. Không sao đâu, em có thể tự tìm được.”
Một trong những gánh nặng lớn nhất đối với những ai nghiêm túc theo đuổi ngành khoa học đó là phải nhớ được năm công bố các nghiên cứu, nội dung chi tiết của các thí nghiệm và tên tác giả thực hiện công trình nghiên cứu đó. Alice thường khiến các sinh viên của mình và các tiến sĩ đang thực hiện nghiên cứu sinh phải kính phục vì có thể kể ra vanh vách và ngay lập tức ít nhất bảy nghiên cứu của một vấn đề cụ thể, cùng với tên của người thực hiện và năm công bố. Hầu hết các giảng viên trong khoa cô đều có khả năng này. Thực tế thì giữa họ tồn tại một cuộc đua ngầm xem trong đầu ai sở hữu nguồn dữ liệu hoàn chỉnh và cập nhật kiến thức linh hoạt nhất. Dải băng xanh dành cho người chiến thắng thường thuộc về Alice.
“Nye, MBB, năm 2000!” – Cô thốt lên.
“Em luôn rất nể phục vì khả năng đó của cô. Em nói thật đấy, làm sao mà cô có thể lưu giữ tất cả những thông tin đó trong đầu như vậy được?”
Cô mỉm cười trước sự ngưỡng mộ của cậu sinh viên. “Rồi em sẽ thấy, như tôi đã nói, em mới đang ở giai đoạn khởi đầu thôi.”
Dan lật xem những trang còn lại của bài luận văn, đôi lông mày cậu giãn ra. “Được rồi, em khá hài lòng về bài luận này. Cảm ơn cô rất nhiều, em sẽ đến gặp cô vào ngày mai.”
Cậu vội vàng ra về. Nhiệm vụ đã hoàn thành, Alice nhìn tờ giấy ghi chú màu vàng dán trên màn hình máy tính, trên đó có danh sách những việc cần làm.
Lớp học Nhận Thức
Hội thảo buổi trưa
Luận văn của Dan
Eric
Bữa tối sinh nhật
Cô thỏa mãn đánh một dấu check bên cạnh dòng chữ “Luận văn của Dan”.
Còn “Eric”? Là ý gì nhỉ?
Eric Wellman là trưởng khoa tâm lý học của trường Harvard. Cô định nói, định hỏi hay đưa cho anh ta xem thứ gì đó sao? Hay cô sắp có một cuộc họp với anh ta? Cô xem trên lịch. Ngày 11 tháng Mười – sinh nhật cô. Chẳng có gì liên quan đến Eric cả. Eric. Khó hiểu quá. Cô mở hộp thư đến của mình. Cũng không có gì từ Eric. Cô hi vọng đó không phải là vấn đề gì quá nghiêm trọng cần giải quyết ngay. Dù hơi khó chịu trong lòng, nhưng cô vẫn tự tin rằng mình sẽ hoàn thành các công việc trong danh sách, bất kể việc cần giải quyết với Eric là gì, cô ném tờ giấy nhớ vào thùng rác – đó là tờ thứ tư trong ngày, rồi cô lấy một tờ mới để viết.
Eric?
Gọi điện cho bác sĩ
Những rối loạn về trí nhớ cứ xuất hiện ngày càng nhiều trong cái đầu nhỏ xấu xí khiến cô bắt đầu lo lắng. Alice chần chừ chưa liên lạc với bác sĩ trị liệu vì cô nghĩ rằng một thời gian nữa mọi thứ sẽ ổn trở lại. Cô vẫn hy vọng sẽ gặp một ai đó đang rơi vào hoàn cảnh giống mình để nói với cô rằng việc này chỉ xảy ra trong thời gian ngắn và đây là điều hoàn toàn tự nhiên để cô không cần phải đi gặp bác sĩ nữa. Nhưng điều đó chẳng bao giờ xảy ra, bởi vì tất cả bạn bè và đồng nghiệp ở Harvard cùng tuổi với cô đều là nam giới. Cô thừa nhận rằng có lẽ đã đến lúc cô nên tìm đến những lời tư vấn về y khoa.
ALICE VÀ JOHN CÙNG NHAU ĐI BỘ từ khuôn viên trường đến nhà hàng Epulae ở quảng trường Inman. Vừa bước vào, Alice nhìn thấy con gái lớn Anna đang ngồi cùng Charlie – chồng của con bé. Bộ đồ vét màu xanh da trời hai đứa mặc thật ấn tượng, chiếc cravat màu vàng trơn là điểm nhấn cho bộ vét Charlie đang mặc, còn Anna là một chuỗi ngọc trai đơn. Hai đứa cùng làm việc cho một hãng luật lớn thứ ba ở Massachusetts được vài năm rồi, Anna làm ở lĩnh vực sở hữu trí tuệ còn Charlie chuyên giải quyết các vụ tranh chấp.
Nhìn ly Martini trên tay con gái và khuôn ngực vẫn ở cỡ B là Alice biết Anna chưa có thai. Con bé đã cố gắng trong suốt sáu tháng vừa rồi nhưng vẫn chưa có kết quả. Cũng giống như tất cả những thứ khác, càng khó đạt được Anna lại càng muốn. Alice đã khuyên con bé nên chờ một thời gian, không cần phải quá vội vàng để hoàn thành cột mốc quan trọng này trong cuộc đời. Anna chỉ mới hai mươi bảy tuổi, vừa kết hôn với Charlie hồi năm ngoái và mỗi tuần con bé phải làm việc tám mươi đến chín mươi giờ. Nhưng Anna không chấp nhận lý do đó, nó nói rằng tất cả những người phụ nữ đi làm khi cân nhắc đến vấn đề sinh con đều đưa ra kết luận cuối cùng rằng: Không bao giờ có thời điểm tốt nhất để thực hiện chuyện này.
Thật ra Alice lo lắng sự nghiệp của Anna sẽ bị ảnh hưởng vì chuyện gia đình. Trên con đường tiến thân trong sự nghiệp, Alice đã phải gặp rất nhiều khó khăn, không phải vì những trách nhiệm cứ lớn dần hay vì những thành tích cô đạt được trong ngành ngôn ngữ học không đủ thuyết phục mà vì những đứa con. Việc nôn nghén, thiếu máu và chứng tiền sản giật xảy ra trong hơn hai năm rưỡi khiến cô bị mất tập trung trong công việc và ảnh hưởng đến tốc độ phát triển sự nghiệp của mình. Hơn nữa, khi mang thai ba đứa con thì phải đánh đổi càng nhiều và tốn thời gian hơn so với bất cứ một công việc khẩn cấp nào ở khoa hay một sinh viên loại A nào mà cô đã từng gặp.
Nhiều lần cô đã sợ hãi khi chứng kiến các nữ đồng nghiệp vốn có một sự nghiệp đầy hứa hẹn đã bỏ lỡ hay thậm chí là phải thay đổi công việc chỉ vì có con. Cô nhớ lại quãng thời gian khó khăn khi nhìn John và những đồng nghiệp nam cùng trình độ nghiệp vụ vượt qua mình. Cô thường băn khoăn liệu sự nghiệp của anh có thể sống sót được sau ba lần sinh nở, cho con bú, nuôi con nhỏ, ngày qua ngày buồn chán hát mãi câu “Những chiếc bánh xe buýt quay đều, quay đều” và cả việc mỗi đêm chỉ được ngủ hai đến ba tiếng đồng hồ mà không bị đánh thức. Cô thực sự cảm thấy nghi ngờ việc đó.
Trong lúc họ ôm hôn nhau, trao cho nhau những cử chỉ hân hoan, chúc mừng sinh nhật thì một người phụ nữ mặc bộ đồ đen có mái tóc tẩy màu trắng tinh tiến về quầy bar chỗ họ đang ngồi.
“Tất cả các thành viên trong bữa tiệc của cô đều có mặt rồi chứ?” – Cô ta hỏi với nụ cười trên môi, nhưng nụ cười lại kéo dài quá mức nên trông có vẻ giả tạo.
“Vẫn chưa. Chúng tôi đang chờ thêm một người nữa” – Anna nói.
“Con đến rồi đây!” – Tom xuất hiện từ phía sau họ. – “Chúc mừng sinh nhật mẹ.”
Alice ôm hôn con trai rồi chợt nhận ra là cậu đến một mình.
“Chúng ta có cần chờ...?”
“Jill ạ? Không cần đâu mẹ, bọn con chia tay từ tháng trước rồi.”
“Em thay bạn gái nhiều đến mức mọi người không nhớ nổi tên của bọn họ nữa rồi” – Anna nói. – “Chúng ta sẽ giữ chỗ cho ai nữa đây?”
“Chưa cần đâu.” – Tom nói với Anna rồi quay sang người phụ nữ mặc đồ đen. – “Chúng tôi có mặt đông đủ rồi.”
Bình thường sau mỗi lần chia tay thì Tom sẽ mất khoảng sáu đến chín tháng để bắt đầu một mối quan hệ mới, nhưng chúng đều chẳng kéo dài được bao lâu. Thằng bé là một chàng trai thông minh, sôi nổi, chính là hình ảnh khi còn trẻ của bố nó, đang học năm thứ ba ngành Y tại Harvard và dự định trở thành một bác sĩ phẫu thuật chuyên khoa tim mạch. Trông nó ăn uống ngon lành. Thằng bé hài hước kể rằng tất cả các sinh viên y khoa và bác sĩ phẫu thuật nó biết đều ăn uống rất tệ, sống nhờ bánh rán, khoai tây chiên, máy bán hàng tự động và căng tin bệnh viện. Không một ai trong số họ có thời gian để tập thể dục, ngoại trừ những lúc leo cầu thang bộ thay vì đi thang máy. Cậu nói đùa rằng những kiến thức được học trong vài năm ít nhất cũng giúp họ có đủ khả năng để điều trị bệnh tim cho nhau.
Khi tất cả mọi người đã ổn định chỗ ngồi bên chiếc bàn hình bán nguyệt có đầy đủ đồ uống và món khai vị thì chủ đề câu chuyện dần chuyển sang thành viên không đến tham gia được.
“Lần cuối cùng Lydia tham gia một bữa tối cùng cả nhà là khi nào nhỉ?” – Anna hỏi.
“Con bé đã có mặt trong tiệc sinh nhật lần thứ hai mươi mốt của em.” – Tom nói.
“Đó là chuyện của gần năm năm trước rồi! Đó là lần gần nhất sao?” – Anna tiếp tục hỏi.
“Không, không thể nào.” – John không đồng ý nhưng không nói thêm gì.
“Con nghĩ đó là lần gần nhất.” – Tom khẳng định.
“Không phải. Ba năm trước con bé có tham dự buổi mừng sinh nhật tuổi năm mươi của bố các con ở nhà hàng Cape.” – Alice nói.
“Con bé đang làm gì vậy mẹ?” – Anna hỏi.
Anna rõ ràng rất vui vì Lydia không học đại học; con đường học vấn bị cắt ngang giữa chừng của Lydia đã giúp Anna bảo vệ vững chắc vị trí đứa con gái thông minh nhất, thành công nhất của nhà Howland. Anna khiến bố mẹ hài lòng bởi sự thông minh của mình và cũng là đứa con gái tuyệt vời nhất. Mặc dù Tom cũng rất thông minh nhưng Anna chưa bao giờ để ý nhiều đến thằng bé, có lẽ vì Tom là con trai. Thế rồi Lydia có mặt trong gia đình họ. Cả hai cô con gái đều thông minh nhưng trong khi Anna phải rất cố gắng mới đạt được những điểm A thì bảng thành tích của Lydia lại cực kì xuất sắc dù con bé chẳng cần cố gắng nhiều. Anna thật sự để tâm chuyện đó. Cả hai đều rất hiếu thắng và vô cùng độc lập nhưng Anna không phải là một người ưa mạo hiểm. Con bé có xu hướng theo đuổi những mục tiêu an toàn, nhiều lợi thế và chắc chắn phải kèm theo phần thưởng hữu hình.
“Lydia vẫn ổn.” – Alice trả lời.
“Thật không thể tin là con bé vẫn tiếp tục như vậy. Nó đã làm được cái gì chưa ạ?” – Anna hỏi.
“Năm ngoái, con bé diễn rất tuyệt trong vở kịch đó.” – John nói.
“Nó đang đi học.” – Alice nói thêm.
Khi nhắc tới điều ấy thì Alice cũng chợt nhớ ra rằng chính John là người đã giấu giếm cô chu cấp tiền cho con bé theo học một chương trình không bằng cấp. Tại sao cô lại có thể quên đi việc đó mà vẫn thoải mái nói chuyện với anh như vậy nhỉ? Cô tia một ánh nhìn đầy giận dữ về phía anh, chính xác là dừng lại trên khuôn mặt anh khiến anh hoàn toàn cảm nhận được điều đang diễn ra. Anh nhẹ nhàng lắc đầu rồi đưa tay xoa xoa lưng cô. Bây giờ không phải là lúc thích hợp để giận dữ. Cô sẽ nói chuyện này với anh sau, nếu như cô vẫn nhớ.
“Ồ, ít nhất thì con bé cũng đang làm gì đó.” – Anna nói có vẻ thỏa mãn vì mọi người dường như đều nhận ra vị trí hiện tại của những cô con gái nhà Howland.
“À, thí nghiệm thực hành của bố thế nào rồi?” – Tom hỏi.
John vươn người về phía trước và bắt đầu nói đến những thông tin nghiên cứu mới nhất của mình. Alice nhìn chồng và con trai, cả hai đều là những nhà sinh học và họ đều đang bị cuốn vào cuộc thảo luận phân tích, đều đang cố gắng gây ấn tượng với người kia về những điều mình biết. Nơi khóe mắt John có những đường chân chim thường xuất hiện khi anh cười nhưng ngay cả những lúc anh nghiêm túc nhất vẫn có thể nhìn thấy mờ mờ, lúc này khi anh đang say sưa nói về nghiên cứu của mình những nếp nhăn ấy trở nên thật sâu và thật sinh động, hai tay anh cũng phụ họa cho cuộc nói chuyện, trông như những chú rối đang biểu diễn trên sân khấu.
Cô rất thích nhìn anh như vậy. Ngày trước anh thường hào hứng kể cho cô nghe về các nghiên cứu của mình một cách chi tiết, nhưng bây giờ thì không. Cô luôn hiểu rõ về công việc của anh để có thể trao đổi với anh về chúng nhưng chưa bao giờ đi sâu vào chi tiết. Cô nhận ra những lần nói chuyện như thế giữa anh và cô quan trọng như thế nào khi ở cùng với Tom hoặc đồng nghiệp của John. Trước đây anh thường nói với cô tất cả mọi điều, còn cô thì luôn chăm chú lắng nghe. Cô băn khoăn không biết điều ấy đã thay đổi từ khi nào, ai là người không còn hứng thú làm vậy nữa, là anh không muốn nói hay là do cô không còn muốn nghe.
Món mực ống, hàu nướng sốt cua vùng Maine, salad rau arugula và bánh xếp nhân bí ngô đều rất tuyệt vời. Sau bữa tối mọi người cùng nhau hát vang bài “Chúc mừng sinh nhật” khiến các vị khách ở những bàn khác cũng hân hoan, vui mừng vỗ tay theo. Alice thổi ngọn nến cắm trên miếng bánh chocolate ấm áp. Mọi người cùng nhau nâng ly vang Veuve Clicquot trên tay, John nâng ly cao hơn một chút nói.
“Chúc mừng sinh nhật người vợ xinh đẹp và tuyệt vời của anh. Chúc mừng năm mươi năm tiếp theo của em!”
Họ cùng nhau cụng ly và uống rượu.
Alice nhìn chăm chú vào gương trong phòng vệ sinh. Hình ảnh người phụ nữ đã có tuổi ở trong gương không giống lắm với hình ảnh mà cô đã nghĩ về bản thân. Đôi mắt màu nâu vàng của cô trông có vẻ mệt mỏi dù vẫn được nghỉ ngơi rất tốt, làn da trông đã sạm hơn và không còn săn chắc như trước. Cô chắc chắn mình trông giống một phụ nữ hơn bốn mươi tuổi. Mặc dù không còn trẻ nhưng cô nghĩ mình chưa đến mức già nua. Gần đây, chứng đãng trí của tuổi tiền mãn kinh đáng ghét khiến cô nhận ra mình đã chuyển sang một giai đoạn khác của cuộc đời. Nếu không có nó thì cô đã luôn cảm thấy trẻ trung, mạnh mẽ và sung sức.
Cô nghĩ đến mẹ mình. Hai người trông rất giống nhau. Trong trí nhớ của cô hiện lên gương mặt lúc nào cũng nghiêm túc và chăm chú của bà, nó chỉ lốm đốm những vết tàn nhang ở mũi và hai gò má chứ không hề có nếp nhăn hay chảy xệ. Bà không sống được đủ lâu để có những thứ ấy trên gương mặt. Mẹ của Alice qua đời khi bà mới chỉ bốn mươi mốt tuổi. Anne – em gái của Alice bây giờ cũng bốn mươi tám. Alice đang ngồi cùng bàn ăn với chồng và các con mình, cô cố hình dung xem Anne trông như thế nào, nhưng cô không thể.
Khi đi vệ sinh cô lại nhìn thấy máu. Kỳ kinh của cô. Đương nhiên cô hiểu rằng trong giai đoạn đầu của thời kì tiền mãn kinh, chu kỳ kinh nguyệt sẽ không có qui luật, nghĩa là nó sẽ không đột nhiên hoàn toàn biến mất. Nhưng trong tâm trí cô lại cứ lởn vởn suy nghĩ rằng đó không phải giai đoạn tiền mãn kinh mà là một vấn đề nào khác đang tồn tại trong cô.
Ý chí của cô bị champagne và máu làm cho yếu đi rồi gục ngã. Cô bắt đầu òa khóc nức nở. Cô dần cảm thấy khó thở, không khí hít vào không đủ. Cô đã năm mươi tuổi và cô cảm thấy mình đang dần dần rơi vào tình trạng mất trí.
Có người gõ cửa.
“Mẹ ơi?” – Anna gọi. – “Mẹ không sao chứ?”
- 3 -
tháng mười một, năm 2003
Phòng khám của bác sĩ Tamara Moyer nằm ở tầng ba tòa cao ốc năm tầng phía tây quảng trường Harvard, gần nơi mà Alice bị lạc. Nơi đây vẫn vậy, phòng chờ và phòng khám được trang trí bằng những bức ảnh nghệ thuật của Ansel Adams, mấy tấm áp phích quảng cáo dược phẩm được dán trên dãy tủ kê tường màu xám bạc, chúng khiến Alice không còn những suy nghĩ tiêu cực. Moyer là bác sĩ riêng của Alice trong suốt hai mươi năm qua, họ chỉ gặp nhau khi Alice đến kì kiểm tra sức khỏe, chích ngừa, và cuộc gặp gần đây nhất là buổi chụp X quang kiểm tra ung thư vú.
“Điều gì khiến cô đến đây vậy Alice?” – Bác sĩ Moyer hỏi.
“Thời gian gần đây trí nhớ của tôi không được tốt, tôi nghĩ có thể là triệu chứng của thời kì mãn kinh. Sáu tháng liền tôi không có kinh nguyệt, nhưng mới tháng trước nó lại xuất hiện. Tôi nghĩ tốt hơn là mình nên đến gặp chị.”
“Chị thường quên những vấn đề gì?” – Bác sĩ Moyer vừa hỏi vừa cặm cụi ghi chép.
“Những cái tên, từ ngữ khi nói chuyện, nơi tôi để chiếc BlackBerry hay vì sao tôi lại ghi mấy thứ nào đó vào danh sách việc cần làm của mình.”
“Được rồi.”
Alice chăm chú nhìn vị bác sĩ của mình. Lời chia sẻ của cô dường như không tác động nhiều tới bà. Bác sĩ Moyer tiếp nhận các thông tin này như thể bà là vị linh mục đang lắng nghe một cậu bé tuổi mới lớn thổ lộ những suy nghĩ thiếu trong sáng dành cho cô bạn nào đó. Chắc hẳn mỗi ngày bà ấy đã phải nghe rất nhiều những lời than phiền như vậy. Alice suýt nữa thì thốt ra lời xin lỗi vì đã làm tốn thời gian của bác sĩ một cách ngớ ngẩn. Khi về già thì ai mà chẳng quên những chuyện như thế. Hơn nữa chứng mãn kinh cùng với chuyện cô cứ làm ba việc một lúc và suy nghĩ đến mười hai thứ khác một lần, vậy nên những sai sót trở nên nhỏ bé, vô hại, thậm chí là hợp lý. Ai mà chẳng căng thẳng. Ai mà chẳng có những điều mệt mỏi. Rồi ai cũng sẽ quên thứ gì đó.
“Tôi cũng mới bị lạc ở quảng trường Harvard. Tôi đã không biết mình đang ở đâu trong vài phút rồi sau đó mọi thứ lại quay trở về với tôi.”
Bác sĩ Moyer ngừng ghi các triệu chứng trên tờ đánh giá và nhìn thẳng vào Alice. Các câu hỏi liên tiếp được đặt ra.
“Chị có cảm thấy đau thắt ở lồng ngực không?”
“Không.”
“Chị có thấy nhức mỏi hay ngứa ngáy ở đâu không?”
“Không.”
“Có đau đầu hay chóng mặt không.”
“Không.”
“Tim chị có đập nhanh không?”
“Ừm, có, nhưng chỉ khi tôi bối rối thôi, kiểu như một liều adrenaline ức chế nỗi sợ. Tôi nhớ là cảm giác đó thật sự tuyệt, nhưng chỉ trước khi mọi chuyện diễn ra.”
“Còn chuyện gì khác xảy ra ngày hôm đó không.”
“Không, tôi chỉ vừa trở về từ Los Angeles.”
“Chị có gặp phải cơn nóng bừng nào không?”
“Không. Ừm, tôi biết rõ lúc đó bản thân bị mất phương hướng, nhưng tôi nghĩ chắc chỉ do tôi sợ thôi.”
“Được rồi. Chị ngủ được không?”
“Ổn.”
“Chị ngủ bao nhiêu tiếng mỗi đêm?”
“Năm tới sáu tiếng.”
“Thời gian ngủ có khác gì so với trước kia không?”
“Không.”
“Chị có khó ngủ không?”
“Không.”
“Có bị thức giấc giữa đêm không?”
“Tôi nghĩ là không.”
“Chị có thường đi ngủ đúng giờ không?”
“Thường là vậy. Trừ những lúc di chuyển công tác, chẳng hạn như thời gian vừa rồi.”
“Chị đi đến những nơi nào?”
“Trong vài tháng qua thì tôi đã đi California, Italy, New Orleans, Florida, New Jersey.”
“Chị có bị ốm sau những chuyến đi này không? Lên cơn sốt chẳng hạn?”
“Không có.”
“Chị có dùng thuốc, chất chống dị ứng, chất bổ sung, hay loại thuốc nào khác không?”
“Chỉ là vitamin tổng hợp thôi.”
“Có gặp tình trạng ợ chua không?”
“Không.”
“Có thay đổi cân nặng không?”
“Không.”
“Có triệu chứng đại tiện hoặc tiểu tiện ra máu không?”
“Không có.”
Bà ấy cứ liên tục đặt câu hỏi sau khi Alice vừa dứt câu trả lời, và chủ đề thì cứ chuyển từ chuyện nọ đến chuyện kia trước khi Alice có thời gian suy nghĩ lí do. Như thể cô đang ngồi trên chiếc tàu siêu tốc, mắt nhắm nghiền và không biết chuyện gì sẽ xảy ra phía trước.
“Chị có thấy lo lắng hay căng thẳng hơn bình thường không?”
“Chỉ những khi tôi bị quên điều gì đó thôi. Còn lại thì không.”
“Chị và chồng chị vẫn ổn chứ?”
“Ổn mà.”
“Chị có nghĩ mình đang có những cảm xúc tích cực?”
“Có chứ.”
“Chị có nghĩ mình bị trầm cảm không?”
“Không hề.”
Alice biết về bệnh trầm cảm. Cái chết của mẹ và chị gái lúc cô mới mười tám tuổi đã khiến cô rơi vào tình trạng chán ăn và mất ngủ trầm trọng, cô cũng không cảm thấy hứng thú với mọi thứ xung quanh. Triệu chứng này đã kéo dài suốt một năm, và kể từ lúc đó cô chưa bao giờ trải qua bất cứ chuyện tương tự nào. Hai chuyện này hoàn toàn khác nhau. Đây không phải lúc dùng thuốc Prozac.
“Chị có uống rượu không?”
“Chỉ uống xã giao thôi.”
“Uống nhiều không?”
“Một hoặc hai ly vang vào bữa tối, có khi nhiều hơn vào những dịp đặc biệt.”
“Ma túy thì sao?”
“Không.”
Bác sĩ Moyer nhìn Alice đầy suy tư. Bà gõ chiếc bút lên cuốn sổ và chăm chú đọc. Alice không tin là câu trả lời nằm trên mấy tờ giấy đó.
“Vậy có phải là tôi đang trong thời kỳ mãn kinh?” – Cô hỏi trong khi cả hai tay bấu vào lớp ghế da.
“Có thể là như vậy. Chúng ta hãy làm xét nghiệm FSH để biết chắc hơn về điều này, nhưng tất cả dấu hiệu trên cho thấy cô đang trong thời kỳ mãn kinh. Tuổi trung bình bắt đầu từ 48 đến 52 tuổi và cô đang ở giai đoạn này. Cô có thể sẽ lại gặp những triệu chứng này trong thời gian tới. Điều này hoàn toàn bình thường.”
“Liệu pháp thay thế estrogen có giúp ích cho việc cải thiện trí nhớ không?”
“Chúng tôi không dùng liệu pháp này cho phụ nữ, trừ khi họ bị rối loạn giấc ngủ, hoặc rơi vào cảm giác nóng bừng bởi chứng rối loạn vận mạch hay khi họ mắc bệnh loãng xương. Tôi không nghĩ vấn đề trí nhớ của cô là do đến kì mãn kinh.”
Máu dồn lên não Alice. Đây chính xác là những gì cô sợ hãi và chỉ mới dám nghĩ tới. Nhưng khi đã có ý kiến chuyên môn, lời an ủi an toàn của cô tan vỡ. Hẳn là có gì đó đã sai, và cô không chắc mình sẵn sàng để nghe tiếp. Cô đang đấu tranh với những thanh âm dữ dội trong đầu, những tiếng cầu xin cô hoặc là ngất hẳn đi hoặc là biến khỏi cái phòng khám chết tiệt này ngay lập tức.
“Tại sao không chứ?”
“Vào thời kì mãn kinh, chứng mất ngủ trầm trọng sẽ xuất hiện và là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm trí nhớ, mất phương hướng. Một số phụ nữ không xử lý công việc tốt vì họ bị thiếu ngủ. Có thể chị đã quên là mình bị mất ngủ. Chị nghĩ kỹ xem có phải vì lịch trình làm việc và sự thay đổi múi giờ, hay chị đã lo lắng chuyện gì đó suốt đêm mà không ngủ đủ giấc.”
Alice nghĩ lại những lần cô bị mất tập trung vì thiếu ngủ. Tinh thần của cô rơi vào trạng thái bất ổn trong những tuần cuối cùng của thai kì, khi mấy đứa nhóc chào đời, hay mỗi khi đến hạn chót của một vấn đề quan trọng. Tuy nhiên, lần bị lạc ở quảng trường Harvard lại không nằm trong những trường hợp đó.
“Có thể là như vậy. Tôi cần phải quan tâm đến giấc ngủ nhiều hơn vì bây giờ tôi đã lớn tuổi hay vì tôi đang ở thời kì mãn kinh?”
“Không. Tôi không nghĩ thiếu ngủ là vấn đề chính.”
“Vậy nếu không phải do thiếu ngủ thì điều gì mới là vấn đề?” – Cô hỏi, giọng nói bắt đầu mất bình tĩnh và không còn tự tin.
“Ừ, tôi đặc biệt lo ngại với triệu chứng mất phương hướng. Tôi không nghĩ nó có liên quan đến thời kì tiền mãn kinh. Có lẽ chúng ta nên làm một số xét nghiệm. Tôi sẽ cho cô làm xét nghiệm máu, chụp nhũ ảnh, đo mật độ xương và chụp MRI cho não.”
Chẳng lẽ là u não. Alice không muốn nghĩ tới điều đó. Cô bắt đầu tưởng tượng ra hình ảnh của một con dã thú đang dần tiến về phía cô, khiến cô lại rơi vào trạng thái hoang mang lo sợ.
“Nếu chị không nghĩ do tai biến mạch máu não thì xét nghiệm MRI làm gì?”
“Việc tìm ra nguyên nhân thật sự sẽ dễ dàng hơn nếu loại trừ được những trường hợp này. Chị hãy gặp tôi sau khi lên lịch xét nghiệm MRI, rồi chúng ta sẽ giải quyết mọi thứ.”
Rõ ràng là bác sĩ Moyer đã né tránh không trả lời trực tiếp câu hỏi của cô, nhưng Alice cũng đã không chia sẻ với bác sĩ về ý nghĩ khối u não mà cô đang băn khoăn trong đầu. Có lẽ cả hai cần chờ đợi kết quả cuối cùng sau khi tiến hành các xét nghiệm.
Khoa tâm lý học, xã hội học, nhân học đều thuộc tòa nhà William James Hall nằm ngay bên ngoài Harvard Yard trên đường Kirkland – nơi mà các sinh viên gọi tắt với cái tên là Siberia. Tuy nhiên, vị trí không phải là yếu tố nổi bật nhất khiến nó tách biệt khỏi khuôn viên chính của Harvard. Harvard Yard là nơi tập trung những tòa nhà có kiến trúc trang trọng, cổ điển, các cư xá dành cho sinh viên năm nhất, cũng có cả các lớp Toán, Sử và Tiếng Anh ở đây. William James Hall không giống như vậy, nó thường khiến người ta liên tưởng đến một nhà để xe. Nơi này không có thức cột Doric hay Corinthian, không xây gạch đỏ, không có kính màu Tiffany, không có sảnh lớn, không hiện hữu bất kỳ chi tiết vật lý nào có sự liên kết rõ ràng hay tinh tế với trụ sở chính. Đó là một tòa nhà cao 576m, với màu be (xám tro) nhàm chán, rất có thể là nguồn cảm hứng từ chiếc hộp của B. F. Skinner. Không mấy ngạc nhiên khi nó không nằm trong chuyến tham quan của sinh viên hay lịch trình các hoạt động tại Harvard vào bất kể mùa nào trong năm.
Quang cảnh xung quanh và các văn phòng trong William James Hall đều không có gì nổi bật, nếu không muốn nói là quá bình thường. Alice ngồi uống trà tại tầng mười, cô đang thư giãn và ngắm vẻ đẹp của sông Charles, khu Boston Back Bay từ khung cửa sổ lớn hướng về phía đông nam. Nơi đây đã thu hút nhiều họa sĩ và nhiếp ảnh gia tái hiện lại bằng tranh sơn dầu, màu nước hay phim ảnh và có thể được lộng kính treo tường ở bất kỳ tòa văn phòng nào tại Boston.
Alice cho rằng những ai có thể thường xuyên được quan sát phiên bản thật của vùng đất này quả là may mắn. Mỗi ngày hoặc mỗi tháng qua đi, khung cảnh bên ngoài khung cửa đều luôn sống động và đem đến những điều thú vị cho người thưởng thức.
Trong buổi sáng tháng mười một đầy nắng, Alice lại ngồi ngắm nhìn Boston từ tòa nhà William James Hall, cô cảm nhận được mùa thu tỏa ánh mặt trời lấp lánh như champagne đang sủi bọt trong chiếc ly xanh da trời nhạt màu của tòa nhà John Hancock, vài mái chèo lướt nhẹ trên dòng sông Charles lấp lánh ánh bạc, hướng về phía Bảo tàng Khoa học như thể chúng được kéo bởi một sợi dây trong cuộc thí nghiệm về sự chuyển động.
Khung cảnh này khiến cô suy nghĩ tích cực hơn về cuộc sống bên ngoài Harvard. Đối lập với bầu trời tối sầm tại công viên Fenway là ánh đèn trắng đỏ nhấp nháy của các biển hiệu CITGO, hình ảnh đó tác động mạnh vào hệ thần kinh của cô, giống như tiếng chuông đột ngột của chiếc đồng hồ báo thức, kéo cô thoát khỏi cơn mộng mị xoay quanh những tham vọng và nghĩa vụ lặp đi lặp lại mỗi ngày.
Nhiều năm trước khi cô còn là giảng viên chính thức, văn phòng của cô nằm trong tòa nhà William James Hall, căn phòng rất nhỏ, không có cửa sổ. Alice thiếu tiếp xúc với môi trường bên ngoài bốn bức tường màu xám tro, thậm chí có những lúc Alice làm việc đến tận tối khuya mà không hề hay biết. Nhiều khi đến cuối ngày cô chết đứng khi phát hiện ra rằng một trận gió Đông Bắc đã chôn vùi Cambridge dưới lớp tuyết dày hơn 30 cm và những người ít chuyên tâm vào công việc cũng như những giảng viên ở các văn phòng có cửa sổ đã rời William James Hall để đi mua bánh mì, sữa, giấy vệ sinh hay về nhà cả rồi.
Nhưng điều bây giờ Alice cần làm là ngưng nhìn chằm chằm ra bên ngoài cửa sổ. Vào buổi chiều cô có cuộc họp thường niên với Hiệp hội Tâm lý học ở Chicago và trước đó cô còn phải giải quyết một tấn các việc khác nữa. Cô nhìn qua danh sách công việc của mình.
Bài đánh giá Tạp chí Nature Neuroscience
Họp phòng ban
Gặp TA
Lớp Triết học
Hoàn thành áp phích cho buổi hội nghị và chạy chương trình.
Chuyến bay
Cô uống nốt ngụm trà đá cuối cùng và bắt đầu nghiên cứu tập bài giảng. Bài giảng hôm nay chủ yếu liên quan đến ngữ nghĩa học, là chuyên ngành thứ ba trong sáu loại ngành của ngôn ngữ học, đây là loạt tiết học ưa thích của cô trong cả khóa. Dù đã giảng dạy suốt hai mươi lăm năm nhưng Alice vẫn luôn dành ra một giờ đồng hồ để chuẩn bị trước khi đến lớp.
Dĩ nhiên, cho đến thời điểm hiện tại trong sự nghiệp giảng dạy của mình, cô có thể cung cấp 75% kiến thức của bất kì bài giảng mà không cần suy nghĩ về chúng. Nhưng 25% còn lại phụ thuộc vào sự hiểu biết, kỹ năng tư duy sáng tạo và quan trọng là các ý rút ra từ những tranh luận về những thứ cô đang tìm hiểu trong lĩnh vực này. Và Alice đã sử dụng thời gian trước khi đến lớp một cách rất hợp lý để chỉnh sửa, trau chuốt từng chi tiết cho bài giảng mới của mình. Tất cả những việc này luôn thúc đẩy cô, làm cô càng ngày càng đam mê hơn với công việc giảng dạy và có tinh thần trách nhiệm hơn trong việc đến lớp.
Các giảng viên ở Harvard chú trọng vào hoạt động nghiên cứu nên hầu như cả sinh viên và giám hiệu rất ít khi quan tâm tới chất lượng bài giảng. Riêng với Alice, cô đặt nhiều tâm huyết vào bài giảng bởi cô có niềm tin rằng đây là nghĩa vụ cũng như cơ hội để truyền cảm hứng cho những thế hệ kế tiếp theo học lĩnh vực này, hay chí ít cũng vì mong vị lãnh đạo tiếp theo sẽ không có tư-tưởng-tuyệt-vời là thay Tâm lý học bằng Khoa học Chính trị. Thêm nữa, chỉ đơn giản vì cô thích giảng dạy mà thôi.
Khi đã chuẩn bị xong cho buổi lên lớp, cô mới kiểm tra hòm thư của mình.
Alice,
Chúng tôi vẫn đang đợi 3 trang trình chiếu của cô để thêm vào buổi nói chuyện của Michael: một sơ đồ về tìm kiếm từ ngữ, một mẫu phim hoạt hình ngôn ngữ, và một văn bản. Thứ Năm lúc 1 giờ mới diễn ra buổi nói chuyện, nhưng tốt nhất là anh ấy nên cho các trang trình chiếu của cô vào trong bài thuyết trình càng sớm càng tốt, để đảm bảo nội dung ổn và không vượt quá thời gian cho phép. Cô có thể gửi chúng qua email cho tôi hoặc Michael.
Chúng tôi đang ở Hyatt. Hẹn gặp cô tại Chicago.
Trân trọng, Eric Greenberg
Trong đầu Alice như có một chiếc bóng đèn nguội lạnh và cũ kỹ chợt lóe sáng. Đó là cái tên Eric bí ẩn trong danh sách những việc cần làm của cô hồi tháng trước. Có nghĩa là không phải Eric Wellman. Cái tên ngay lập tức nhắc cô gửi email những trang trình chiếu ấy cho Eric Greenberg, một đồng nghiệp cũ ở Harvard hiện đang làm giáo sư khoa Thần kinh ở Princeton. Alice và Dan đã cùng hoàn thành ba trang trình chiếu mô tả một thí nghiệm nhanh mà Dan và Eric cộng tác trong phần nghiên cứu hậu tiến sĩ của Michael, nó được đưa vào bài thuyết trình của Michael ở buổi Hội thảo Tâm lý học. Alice ngay lập tức gửi email các trang trình chiếu cùng với lời xin lỗi chân thành nhất đến Eric. May thay, anh vẫn còn nhiều thời gian để nhận chúng nên không có gì đáng lo ngại.
CŨNG NHƯ MỌI THỨ KHÁC Ở HARVARD, khán phòng dành cho khóa học nhận thức của Alice lớn quá mức cần thiết. Những chiếc ghế bọc vải màu xanh bố trí như một đấu trường có hàng trăm chỗ ngồi, nhiều hơn hẳn số sinh viên theo học trong lớp. Cả một trung tâm nghe nhìn công nghệ cao ở phía cuối phòng, và một màn hình máy chiếu to như ở các rạp chiếu phim. Trong lúc ba người đàn ông loay hoay cắm đủ thứ dây cáp vào máy tính của Alice và kiểm tra âm thanh, ánh sáng, đám sinh viên rảo bước đi vào. Alice mở thư mục “Lớp Ngôn ngữ học” trên máy tính xách tay của cô.
Trong đó chứa sáu tệp: “Lĩnh hội ngôn ngữ”, “Cú pháp học,” “Ngữ nghĩa học,” “Nhận thức học”, “Mô hình hóa” và “Bệnh lý học”. Alice đọc các tiêu đề lần nữa. Cô không nhớ được hôm nay cô phải giảng phần nào. Cô vừa mới dành thời gian để nhìn qua các chủ đề này cách đây không lâu mà giờ không thể nhớ nổi. Chúng đều trông quen thuộc đối với cô, nhưng không có môn nào ấn tượng hơn môn nào.
Kể từ khi gặp Bác sĩ Moyer, mỗi khi Alice quên gì đó, cô lại có linh cảm xấu. Không giống như việc cô quên chỗ cô để chiếc sạc điện thoại BlackBerry hay chỗ John để kính, chuyện này không hề bình thường. Bằng một giọng ngập ngừng đầy đau đớn, cô bắt đầu tự nói với chính mình rằng có thể cô bị một khối u não. Cô cũng tự nhủ không được làm John lo lắng hay hoảng sợ cho tới khi nghe thông báo chi tiết hơn từ bác sĩ Moyer. Không may là cô phải đợi đến tuần sau, cũng là khi Hội thảo Tâm lý học kết thúc.
Quyết tâm vượt qua thời gian khó khăn này, cô hít một hơi thật sâu, thở ra đầy tuyệt vọng. Mặc dù cô không nhớ chủ đề của bài giảng ngày hôm nay, nhưng cô vẫn nhớ các học viên của mình.
“Có ai cho tôi biết giáo trình hôm nay nói về điều gì không?” – Alice hỏi cả lớp.
Vài sinh viên cất tiếng không đều, hợp thành âm thanh “Ngữ nghĩa”.
Cô đã dự đoán chuẩn xác về việc ít nhất có vài sinh viên sẽ chớp lấy cơ hội thể hiện sự hiểu biết của mình. Cô cũng chẳng lo họ sẽ khiếp sợ hay cảm thấy lạ lùng khi cô không biết chủ đề của tiết học hôm nay. Luôn tồn tại một khoảng cách lớn vô hình về tuổi tác, kiến thức và năng lượng giữa các sinh viên và giáo sư.
Hơn nữa, trong suốt học kỳ, các sinh viên đã thật sự ấn tượng bởi khả năng giảng dạy và sức ảnh hưởng của cô đối với khóa học Ngữ văn. Nếu có ai đó phát hiện ra điều gì bất thường thì họ có lẽ sẽ nghĩ rằng cô đã quá chuyên tâm cho các phần học khác đến mức không có thời gian để lướt qua giáo trình Tâm lý học trước khi đến lớp. Chỉ một vài người biết cô đã dành những phút cuối cùng để tập trung hoàn toàn cho phần ngữ nghĩa.
BUỔI SÁNG NẮNG ẤM ĐÃ CHUYỂN SANG BUỔI ĐÊM đầy mây mù và sương lạnh, giống như một kiểu hẹn hò với mùa đông. Một cơn mưa nặng hạt đêm hôm trước đã làm rụng hết những chiếc lá còn sót lại trên cành, chỉ còn những thân cây trơ trụi, trông quá hợp cảnh với tiết trời mùa đông. Tận hưởng sự ấm áp trong chiếc áo lông cừu, Alice dành thời gian đi bộ về nhà, thưởng thức không khí mùa thu lạnh giá và âm thanh rộn rã từ bước chân của cô như xuyên qua tầng tầng lớp lớp lá.
Đèn trong nhà đã được bật, túi và giày của John để ở chiếc bàn cạnh cửa.
“Anh ơi? Em về rồi” – Alice lên tiếng.
John dừng nghiên cứu bài giảng và quay lại nhìn cô chằm chằm, anh bối rối và không biết nói gì. Alice nhìn lại và chờ đợi, cảm thấy lo lắng rằng sắp có gì đó khủng khiếp. Đầu óc cô nghĩ ngay đến con mình. Cô vẫn đứng ở cửa, chuẩn bị tinh thần cho tin tức khủng khiếp đó.
“Em không phải đang ở Chicago sao?”
"À, ALICE, MỌI XÉT NGHIỆM MÁU CỦA CÔ BÌNH THƯỜNG, và MRI của cô cũng tốt” – bác sĩ Moyer nói. – “Chúng ta có thể làm một trong hai chuyện. Chúng ta có thể chờ đợi xem mọi thứ thế nào, xem xét giấc ngủ hay hành động của cô trong vòng ba tháng, hoặc...”
“Tôi muốn gặp một bác sĩ thần kinh.”
- 4 -
tháng mười hai, năm 2003
Trong đêm tiệc diễn ra tại nhà Eric, bầu trời giăng kín mây âm u như sắp sửa có tuyết rơi. Alice cũng đã hy vọng điều đó xảy ra. Không hiểu sao những đứa trẻ có thể dự đoán được chính xác về cơn tuyết đầu mùa. Bây giờ đang là tháng mười hai, giống như hầu hết người dân New England, cô luôn mong nhanh chóng đến tháng hai, trời đang trở nên lạnh buốt khiến cô bất đắc dĩ phải dùng tới cái xẻng cùng đôi giày đáng nguyền rủa này, mùa đông thật sự nhàm chán, không giống như sắc màu hồng phấn và vàng điểm xanh của mùa xuân. Nhưng trong tối nay, tuyết bỗng nhiên thật đáng yêu.
Mỗi năm vợ chồng nhà Eric, Marjorie đều tổ chức một bữa tiệc cho khoa Tâm lý học tại nhà của họ. Chẳng có gì đặc biệt trong đêm tiệc này ngoại trừ vài khoảnh khắc nhỏ khiến Alice có nằm mơ cũng không nghĩ tới: Trong phòng khách có sinh viên và giảng viên ngồi kín các ghế bành và sofa, Eric ngồi thoải mái trên sàn nhà, Kevin và Glen thì vật lộn với trò trao đổi quà Yankee để lấy con búp bê Grinch, rồi cả cuộc tranh giành mấy miếng bánh kem pho-mát huyền thoại của Marty.
Đồng nghiệp của Alice có người tài giỏi, kẻ thì kỳ quặc, người ưa làm từ thiện, kẻ thích chứng tỏ bản thân, người thì cầu tiến, người luôn khiêm tốn... nhưng họ vẫn là một gia đình. Alice cho rằng mình có suy nghĩ này vì mất mẹ và em gái từ sớm. Mà cũng có thể Alice có suy nghĩ này vì càng lớn tuổi người ta có xu hướng tìm kiếm các giá trị tinh thần như sự đồng điệu cảm xúc và nơi nương tựa an toàn. Chỉ là một phần nhỏ, nhưng cũng mang lại nhiều điều hơn cho cuộc sống mỗi người.
Mối quan hệ của họ còn hơn cả những đồng nghiệp bình thường. Niềm vui chiến thắng vì phát hiện mới, được thăng chức hay xuất bản bài nghiên cứu họ đều kỉ niệm cùng nhau, không chỉ vậy, ngay cả dịp đám cưới, sinh con và những thành quả mà con cháu họ đạt được. Họ đi cùng nhau đến các cuộc hội thảo trên khắp thế giới, trải qua bao nhiêu cuộc họp xen vào những kì nghỉ gia đình. Và các gia đình đều như nhau, không phải lúc nào mọi thứ cũng diễn ra tốt đẹp và ngọt ngào. Họ đã giúp đỡ nhau vượt qua những tháng ngày khủng hoảng, khi không nhận được hỗ trợ kinh phí, vượt qua những lúc tự ti đến bất lực, qua bệnh tật và cả những cuộc ly thân.
Nhưng trên hết, họ đồng hành cùng nhau trong nhiệm vụ thấu hiểu về tâm lý của con người, chẳng hạn về cơ chế của hành vi lái xe, sử dụng ngôn ngữ, tình cảm cảm xúc và thậm chí là cảm giác thèm ăn. Trong khi giấc mơ không tưởng của cuộc nghiên cứu này là để thể hiện tài năng và uy danh cá nhân thì mọi người lại đặt trọng tâm là sự nỗ lực cùng hợp tác để tìm ra những thứ có giá trị và đem đến cho thế giới. Chính mong muốn này khiến cuộc sống của họ trở nên kỳ lạ, cạnh tranh, đấu trí và đạt được vinh dự. Sau cùng họ vẫn luôn ở bên nhau.
Bánh kem pho-mát đã hết, Alice chộp lấy chiếc bánh su kem nóng hổi cuối cùng và tìm John. Cô thấy anh đang trò chuyện với Eric và Marjorie ngoài phòng khách. Dan cũng vừa đến.
Dan giới thiệu với mọi người về người vợ mới cưới, cô ấy tên Beth và họ dành cho nhau những cái bắt tay để chúc mừng thật nồng nhiệt. Marjorie hiếu khách đang giữ áo khoác cho hai vợ chồng họ. Dan trông khá chỉnh tề trong bộ comple thắt cravat, còn Beth diện một chiếc váy dài màu đỏ duyên dáng. Có vẻ như đây là lần đầu tiên họ đi cùng nhau đến dự một bữa tiệc nên hai người khá quan tâm về vấn đề trang phục và còn đến muộn nữa. Eric đưa đồ uống cho họ.
“Tôi cũng muốn một ly” – Alice nói, ly vang trên tay cô vẫn còn hơn một nửa.
John trò chuyện với Beth, anh hỏi cô thích một cuộc sống hôn nhân như thế nào. Dù chưa từng gặp mặt, nhưng Alice cũng biết một chút về Beth thông qua Dan. Khi Dan được nhận vào Harvard thì hai người họ về ở chung với nhau. Beth sống ở Atlanta, điều thú vị là cô gái ấy chấp nhận chuyện yêu xa và tin vào lời hứa hôn nhân sau khi tốt nghiệp của Dan. Nhưng ba năm sau, Dan vô tư nói rằng việc học của cậu có thể sẽ kéo dài đến sáu, bảy năm, vậy mà mối tình vẫn cứ tiếp diễn. Họ vừa cưới nhau vào tháng trước.
Alice cần dùng nhà vệ sinh. Trên đường đi, cô dừng lại ở một hành lang dài nối giữa khu nhà cũ và khu nhà mới, uống cạn ly rượu và ăn nốt chiếc bánh su, ngắm nhìn gương mặt với nụ cười hạnh phúc của những đứa trẻ nhà Eric qua các bức tranh trên tường. Sau khi dùng xong phòng vệ sinh, cô đi trong vô định rồi dừng lại ở phòng bếp, tự rót cho mình một ly vang, và tách mình khỏi cuộc trò chuyện huyên náo giữa những bà vợ của các giảng viên.
Các bà vợ sóng vai nhau cùng tiến về nhà bếp, họ thân với nhau đến mức biết về các nhân vật trong câu chuyện của nhau, cùng khen ngợi và trêu chọc nhau, cười đùa thoải mái. Họ cũng cùng nhau mua sắm, cùng tham gia hoạt động và câu lạc bộ. Còn Alice thân với những ông chồng của họ, điều đó đẩy cô xa cách với họ. Cô chủ yếu ngồi uống rượu và lắng nghe, gật đầu và mỉm cười theo, hoàn toàn không bận tâm, giống như việc chạy trên máy chạy bộ thay vì trên một con đường thực tế.
Cô rót rượu cho đầy ly rồi lén rời khỏi nhà bếp, ra đến phòng khách thì thấy John vẫn đang nói chuyện với Eric, Dan và cô gái mặc váy đỏ. Alice đứng cạnh chiếc đàn piano của Eric, cô đưa ngón tay nhấn xuống phím đàn trong khi lắng nghe họ trò chuyện. Mỗi năm, Alice đều mong sẽ có ai chơi đàn, nhưng chẳng có ai làm thế cả. Cô và Anne đã học đàn nhiều năm, nhưng giờ cô chỉ nhớ “Baby Elephant Walk” và “Turkey in the Straw” mà không có bản nhạc và chỉ chơi bằng tay phải. Có lẽ người phụ nữ trong chiếc váy đỏ lạ thường kia sẽ biết chơi.
Tại một khoảng lặng của cuộc trò chuyện, ánh mắt của Alice và người phụ nữ váy đỏ vô tình chạm nhau.
“Xin thứ lỗi, tôi là Alice Howland. Tôi không nghĩ là chúng ta đã từng gặp nhau rồi.”
Người phụ nữ có vẻ căng thẳng, nhìn Dan trước khi trả lời. “Tôi tên Beth.”
Cô ấy trông trẻ như một sinh viên đại học. Cô nhớ Marty đã nói rằng anh sẽ thuê một hậu tiến sĩ mới, một phụ nữ. Và đến tháng mười hai thì cô cũng phải tìm bằng được một người để hỗ trợ cô nghiên cứu, cho dù đó chỉ là sinh viên năm nhất.
“Cô có phải là hậu tiến sĩ mới của Marty?” – Alice hỏi.
Người phụ nữ nhìn Dan lần nữa. “Tôi là vợ của Dan.”
“Ôi, thật là vui khi cuối cùng cũng được gặp cô, mừng hạnh phúc hai người!”
Không một ai lên tiếng. Eric nhìn chằm chằm vào mắt John, liếc qua ly rượu trên tay Alice rồi lại nhìn John đầy ẩn ý. Alice không hiểu hành động đó của Eric là ý gì.
“Có chuyện gì vậy?” – Alice hỏi.
“Em biết không em yêu, anh nghĩ là bây giờ đã trễ rồi, mai anh còn phải dậy sớm. Em thấy thế nào nếu giờ chúng ta ra về?” – John hỏi.
Khi họ rời khỏi nhà Eric, cô định hỏi John về ánh mắt liếc nhìn khó hiểu kia của Eric, nhưng cô bị phân tâm bởi vẻ đẹp dịu dàng của những bông tuyết đã rơi thưa đi khi họ vào bên trong xe, và cô quên ngay.
BA NGÀY TRƯỚC LỄ GIÁNG SINH, ALICE ngồi trong phòng đợi của khoa Thần kinh tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts ở Boston. Cô vờ như đang đọc quyển Tạp chí Y khoa, nhưng thực ra cô đang quan sát những người khác. Họ đều đi theo cặp. Một phụ nữ khoảng 70 tuổi ngồi bên cạnh bà cụ tầm 90 tuổi, có thể đó là hai mẹ con. Một phụ nữ khác với mái tóc dày, đen một cách không tự nhiên, trên người đeo nhiều trang sức bằng vàng đang nói chuyện lớn tiếng và ề à bằng chất giọng vùng Boston, kế bên là cha cô ta, ông ấy đang ngồi trên xe lăn và không bao giờ rời mắt khỏi đôi giày trắng tinh đang đi dưới chân. Còn có một người phụ nữ với mái tóc bạc, người trông xương xẩu đang lật nhanh các trang tạp chí, Alice cá là cô ta chẳng thể đọc được bất cứ điều gì, bên cạnh cô ta là gã đàn ông có thân hình quá khổ với mái tóc hợp thời đang nhịp nhịp bàn tay phải. Có lẽ họ là một cặp vợ chồng.
Alice không biết phải chờ đến bao giờ mới được gọi tên. Ông bác sĩ có khuôn mặt nhẵn nhụi và mái đầu hói kia là Davis. Ông ấy đeo kính gọng màu đen, mặc chiếc áo blouse trắng, khuy không cài hết. Trông ông ta có vẻ mập hơn lúc trước, phần thân dưới sồ sề như chực thoát ra khỏi chiếc áo, nhắc Alice nhớ tới lời nhận xét của Tom về sự thiếu chú ý đến sức khỏe của bản thân các bác sĩ. Anh ngồi sau bàn làm việc và mời cô ngồi đối diện anh.
“Nào Alice, nói tôi biết đã có chuyện gì xảy ra.”
“Tôi đang gặp nhiều vấn đề liên quan đến khả năng ghi nhớ và ở độ tuổi 55 thì điều này không bình thường chút nào. Tôi bị quên nội dung bài giảng, không nhớ những cuộc trò chuyện, tôi phải đặt ‘lớp Nhận thức’ lên danh sách việc cần làm nếu không tôi sẽ quên đi dạy, tôi hoàn toàn quên đến sân bay cho buổi hội nghị ở Chicago và lỡ chuyến bay. Trong vài phút ở quảng trường Harvard, tôi cũng không biết nơi mình đang đứng là đâu dù tôi đi qua đó mỗi ngày.”
“Chuyện như thế xảy ra bao lâu rồi?”
“Từ tháng chín, có lẽ là trong dịp hè.”
“Alice, cô có đến đây cùng với ai khác không?”
“Không.”
“Được rồi. Trong thời gian tới, cô phải thường xuyên đi cùng một người thân hoặc cần một ai đó luôn ở bên cạnh. Cô đang gặp vấn đề về trí nhớ nên những thông tin cô cung cấp có thể chưa hoàn toàn chính xác.”
Thật xấu hổ, Alice thấy mình giống như một đứa con nít. Cái cụm từ “trong thời gian tới” làm cô bối rối, ám ảnh cô nhiều đến mức giống như chiếc vòi nước cứ rỉ từng giọt không ngừng.
“Được thôi” – cô đáp.
“Cô có dùng bất kỳ loại thuốc nào không?”
“Không, chỉ có vitamin tổng hợp thôi.”
“Có dùng thuốc ngủ, thuốc giảm cân hay bất kỳ loại nào khác không?”
“Không.”
“Cô có uống nhiều rượu không?”
“Không nhiều lắm. Một hoặc hai ly cho bữa tối.”
“Cô có ăn chay không?”
“Không.”
“Cô có từng bị chấn thương ở đầu không?”
“Không.”
“Cô có thực hiện cuộc phẫu thuật nào chưa?”
“Chưa hề.”
“Giấc ngủ của cô thì sao?”
“Hoàn toàn ổn.”
“Cô có từng bị trầm cảm chưa?”
“Không, kể từ thời niên thiếu.”
“Mức độ áp lực của cô thế nào?”
“Chuyện thường thôi, tôi chịu được áp lực trong công việc.”
“Nói tôi nghe về bố mẹ cô. Sức khỏe của họ thế nào?”
“Mẹ và chị gái tôi chết trong một tai nạn xe hơi hồi tôi mười tám tuổi. Cha tôi chết vì bệnh gan vào năm ngoái.”
“Viêm gan?”
“Xơ gan. Ông là một kẻ nghiện rượu.”
“Ông ấy bao nhiêu tuổi?”
“Bảy mươi mốt.”
“Ông ấy có bất kỳ vấn đề nào khác liên quan đến sức khỏe không?”
“Tôi thật sự không biết. Nhiều năm liền tôi không gặp mặt ông ấy.”
Và khi bà qua đời, ông trở nên suy sụp, nghiện rượu.
“Còn những thành viên khác thì sao?”
Cô thuật lại mớ kiến thức hạn chế về lịch sử bệnh tật của đại gia đình mình.
“Được rồi. Tôi sẽ đưa ra cho cô một cái tên và địa chỉ, cô hãy nhắc lại cho tôi nghe. Sau đó chúng ta cùng làm một vài bài kiểm tra khác rồi cuối cùng cô nhắc lại tên và địa chỉ một lần nữa. Cô nghe kỹ nhé, John Black, số nhà 42 đường West, Brighton. Cô nhắc lại được không?”
Alice lặp lại tên và địa chỉ.
“Cô bao nhiêu tuổi?”
“Năm mươi.”
“Hôm nay là ngày mấy?”
“23 tháng Mười Hai, năm 2003.”
“Bây giờ là mùa gì?”
“Mùa đông.”
“Cô đang ở đâu?”
“Tầng tám, khoa Thần kinh tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts.”
“Cô có thể đọc tên những con đường ở gần đây chứ?”
“Cambridge, Fruit, Storrow Drive.”
“Được rồi, giờ là lúc nào?”
“Gần trưa.”
“Bắt đầu từ tháng Mười Hai, hãy đọc lùi tên tháng.” Cô trả lời được.
“Đếm ngược từ một trăm, mỗi số cách nhau sáu đơn vị.” Ông bảo cô dừng lại ở con số bảy mươi sáu.
“Cho tôi biết tên những vật này.”
Ông đưa cho cô xấp thẻ có hình vẽ chì.
“Cái võng, bộ lông, chìa khóa, cái ghế, cây xương rồng, găng tay.”
“Được rồi, trước khi nhìn ra cửa sổ, cô hãy chạm má phải bằng tay trái.”
Cô làm theo lời vị bác sĩ.
“Cô có thể viết một câu về thời tiết hôm nay trên tờ giấy này không?”
Cô viết: “Đó là một buổi sáng mùa đông đầy nắng nhưng se lạnh.”
“Bây giờ, vẽ một đồng hồ chỉ bốn giờ kém hai mươi.”
Cô vẽ ra một chiếc đồng hồ như yêu cầu.
“Và sao chép họa tiết này.”
Ông cho cô xem hình ảnh của hai ngũ giác giao nhau.
Cô sao chép chúng.
“Được rồi, Alice, bỏ chúng lên bàn đi. Chúng ta sẽ tiến hành một bài kiểm tra thần kinh.”
Alice dõi theo chiếc đèn bút đang rọi vào mắt mình, cô gõ nhanh các ngón cái và ngón trỏ với nhau, bước đi bằng gót chân cho đến những ngón chân theo một đường thẳng. Cô làm mọi thứ dễ dàng và nhanh chóng.
“Được rồi, cho tôi biết tên và địa chỉ mà tôi đã nói lúc trước.”
“John Black...”
Cô dừng lại và quan sát gương mặt của bác sĩ Davis. Cô không thể nhớ được địa chỉ. Điều này là sao? Có lẽ cô đã không đủ tập trung.
“Ở Brighton, nhưng tôi không tài nào nhớ tên đường.”
“Được rồi, là số nhà 24, 28, 42 hay 48?”
Cô không biết.
“Đoán thử xem.”
“48.”
“Đường North, South, East hay West?”
“Đường South?”
Khuôn mặt và cử chỉ của ông không cho biết cô đoán đúng hay sai, nhưng nếu cô đoán lại lần nữa, hẳn nó sẽ sai.
“Được rồi, Alice, chúng ta phải xét nghiệm máu và MRI của cô gần đây. Tôi muốn cô thử máu và chọc dò tủy sống. Khoảng bốn đến năm tuần nữa cô hãy trở lại đây, sẽ có buổi hẹn kiểm tra thần kinh trước khi gặp tôi.”
“Anh nghĩ chuyện gì đang xảy ra? Liệu có phải chỉ là đãng trí thông thường không?”
“Tôi không nghĩ thế đâu Alice, nhưng chúng ta cần phải xem xét thêm.”
Cô nhìn thẳng vào mắt ông ấy. Một đồng nghiệp của Alice đã từng nói rằng nếu nhìn chằm chằm vào mắt người khác hơn sáu giây mà họ không nhìn ra nơi khác hay nhấp nháy mắt thì chứng tỏ họ có ham muốn tình dục hoặc muốn giết người. Theo lẽ thì cô không tin điều này, nhưng nghe cũng khá thú vị nên cô đã thử kiểm tra với bạn bè và cả người không quen biết. Hết sức ngạc nhiên, ngoài John ra thì mọi người đều nhìn đi nơi khác trước khi sáu giây trôi qua.
Bác sĩ Davis nhìn xuống bàn sau bốn giây. Tức là ông ta không muốn giết chết hay xé quần áo cô, nhưng điều cô lo chính là một điều gì khác không nằm trong hai điều trên. Cô sẽ phải thực hiện nội soi, làm xét nghiệm, chụp quét cắt lớp và được kiểm tra, nhưng cô đoán ông không cần phải xem xét gì thêm. Cô đã kể lại câu chuyện của mình, và cô không tài nào nhớ được địa chỉ của John Black. Ông ta hẳn đã biết chính xác chuyện gì đang diễn ra.
ALICE ĐÓN BUỔI SÁNG Giáng Sinh trên ghế dài, nhâm nhi một tách trà và xem album ảnh. Qua nhiều năm, cuốn album mỗi lúc một dày lên. Cô luôn cẩn trọng lưu giữ từng khoảnh khắc diễn ra trong đời mình, nhưng cô không dán tem ghi chú bức ảnh nào cả. Điều đó không quan trọng vì cô vẫn biết hết về chúng.
Đây là Lydia hồi hai tuổi; Tom lúc sáu tuổi; và Anna khi lên bảy tuổi, bức này chụp ở bãi biển Hardings trong kỳ nghỉ hè đầu tiên của họ tại nhà Cape. Anna chơi ở một đội bóng đá thanh niên trên sân bóng Pequossette. Cô và John ngồi trên bãi biển Seven Mile ở đảo Grand Cayman.
Cô không chỉ nhớ tuổi mỗi người trong ảnh mà cô còn có thể giải thích từng bức ảnh một cách chi tiết nhất. Có những bức ảnh mà người ngoài chỉ đoán được chúng chụp ở đâu, gồm những ai, nhưng cô thì lại biết tường tận cả những góc khuất không hiện lên trong ảnh.
Lydia trong buổi khiêu vũ đầu tiên, con bé mặc một bộ diễn phục màu xanh phấn, trông khá ngứa ngáy khó chịu. Lúc này là ở nhiệm kỳ trước, Anna học trung học và xin nói thêm là Tom đang tương tư một cô gái trong đội bóng chày, còn John ở Bethesda, đang tận hưởng kì nghỉ phép năm.
Điểm duy nhất làm khó cô chính là những bức ảnh thời bé của Anna và Lydia, chúng đều có khuôn mặt bầu bĩnh, trông hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, cô có thể tìm thấy chút chi tiết để nhận ra chúng. Trông bộ ria mép cong đặc trưng của John thì có thể bức ảnh này chụp vào năm 1970. Đứa trẻ anh ấy bế hẳn là Anna.
“John, đây là Anna hay Lydia?” – Cô hỏi, đưa tấm ảnh đứa trẻ cho John xem.
Anh rời mắt khỏi cuốn tạp chí, chỉnh cặp kính và nhìn sang.
“Tom hả?”
“Anh yêu, cô bé mặc bộ áo liền quần màu hồng cơ mà. Đó là Lydia.”
Cô kiểm tra ngày chụp của chiếc máy Kodak. 29 tháng Năm, 1982. Lydia.
“Ừ nhỉ.”
Anh đẩy cặp kính của mình lên sống mũi và tiếp tục đọc.
“John, em nghĩ mình nên nói chuyện với nhau về những lớp học diễn xuất của Lydia.”
Anh nhìn lên, đánh dấu trang đang đọc dở rồi đặt quyển tạp chí lên bàn, gấp kính lại và ngả người tựa vào lưng ghế. Anh biết việc này sẽ khá mất thời gian.
“Em nói đi.”
“Em nghĩ chúng ta không nên ủng hộ mọi thứ nó muốn, và em rất không đồng tình với việc anh lén lút trả tiền học phí cho nó sau lưng em.”
“Anh xin lỗi, em đã đúng, anh định nói với em, nhưng vì anh bận quá nên quên mất, em có thể hiểu được mà. Mà anh không đồng tình với em chuyện này, anh vẫn sẽ làm theo cách của anh. Chúng ta không cùng quan điểm.”
“Hai chuyện này không liên quan.”
“Có liên quan đấy. Em không thích những gì con nó chọn.”
“Đây không phải trong phim. Nó không học đại học. Cánh cửa tuổi trẻ của nó sẽ nhanh chóng đóng lại, và John, anh đang khiến điều đó trở nên dễ dàng hơn.”
“Nó không muốn học đại học.”
“Em nghĩ nó chỉ muốn nổi loạn để chống lại chúng ta.”
“Anh không nghĩ những gì con bé làm là để chống lại chúng ta hay điều chúng ta muốn hoặc không muốn ở nó.”
“Em chỉ muốn nó tốt hơn.”
“Nó làm việc chăm chỉ, nó hứng thú và nghiêm túc với những gì đang làm, nó hạnh phúc. Đó là tất cả những gì chúng ta muốn ở nó.”
“Điều chúng ta cần làm là phải cho lũ trẻ biết về cuộc sống này. Em thật sự lo rằng nó sẽ bỏ lỡ những thứ quan trọng. Tiếp xúc với nhiều loại người khác nhau, khác về cách nghĩ, những cơ hội, thử thách... Chúng ta đều gặp được ở trong trường đại học.”
“Nó đều gặp những thứ ấy rồi.”
“Chẳng giống nhau chút nào.”
“Vậy thì khác nhau. Anh nghĩ việc trả học phí cho nó là điều hợp lý. Anh xin lỗi vì không nói ra, nhưng thật khó để nói với em chuyện này. Em thậm chí chẳng lung lay.”
“Anh cũng vậy.”
Anh liếc nhìn đồng hồ ở trên lò sưởi, với tay lấy kính rồi cài lên đầu.
“Anh sẽ tới phòng thí nghiệm khoảng một tiếng, sau đó anh sẽ đón và đưa nó ra sân bay. Em có cần gì khi anh ra ngoài không?” – Anh hỏi khi đã đứng lên.
“Không.”
Họ không nhìn nhau.
“Con bé sẽ ổn thôi, Ali, đừng lo nữa.”
Cô nhíu mày lại nhưng không nói bất kỳ điều gì. Cô có thể nói gì được nữa? Hai cha con thông đồng với nhau từ trước và đây là kết quả. John đã lập luận mọi thứ rất logic theo cách nhẹ nhàng nhất, luôn luôn vào vai một phụ huynh được yêu thích, không bao giờ thuyết phục Alice chuyển sang phe kia. Và không có gì mà cô nói ra có thể lay chuyển anh.
John rời khỏi nhà. Cô thả lỏng cơ thể, quay lại với những tấm ảnh. Những đứa con đáng yêu của cô từ khi còn là trẻ sơ sinh, khi mới biết đi, khi dậy thì. Thời gian đã đi đâu mất rồi? Cô giữ bức ảnh của Lydia mà John vừa đoán là Tom. Cô cảm thấy một niềm tin mới và yên tâm về trí nhớ mạnh mẽ của mình. Nhưng tất nhiên, những bức ảnh này chỉ mở ra cánh cửa của một đoạn nào đó trong mớ ký ức xa xôi.
Địa chỉ của John Black thì lại thuộc về kí ức gần đây. Sự chú ý, quá trình nhắc lại, lặp lại chi tiết hoặc cảm xúc trực tiếp là những điều cần thiết để giúp một thông tin trở thành ký ức lâu dài, nếu không thì nó sẽ nhanh chóng bị mờ nhạt và rơi vào lãng quên. Việc tập trung vào các câu hỏi và chỉ dẫn của bác sĩ Davis đã làm cô phân tâm, ngăn cô ghi nhớ hay lặp lại địa chỉ. Dù cái tên đó khiến cô thấy chút sợ hãi và giận dữ, nhưng chuyện hư cấu về John Black hoàn toàn không có ý nghĩa gì với cô trong phòng khám của bác sĩ Davis. Khi rơi vào những hoàn cảnh như thế này, não bộ ở mức bình thường sẽ khá dễ dàng quên đi. Và một lần nữa, bộ não của cô không hề tầm thường.
Alice nhận thư qua khe cửa trước và nảy ra một ý tưởng. Cô nhìn kỹ từng thứ trên tay: tấm thiệp có hình một đứa bé đội mũ Giáng Sinh được gửi từ một cựu sinh viên, tờ quảng cáo từ câu lạc bộ thể dục thẩm mỹ, hóa đơn điện thoại, hóa đơn tiền ga, còn một catalog L.L.Bean. Cô trở lại ghế, uống trà, đặt những quyển album lên kệ và ngồi yên. Tiếng đồng hồ hẹn giờ và tiếng nước rò rỉ từ những bộ tản nhiệt là những âm thanh duy nhất trong nhà. Cô nhìn chằm chằm vào đồng hồ. Năm phút đã trôi qua. Đủ lâu.
Cô nói to mà không nhìn vào mớ thư từ: “Tấm thiệp hình em bé đội mũ Giáng Sinh, thông tin thành viên phòng thể hình, hóa đơn điện thoại, hóa đơn gas, catalog L.L.Bean.”
Dễ như ăn bánh. Nhưng công bằng mà nói thì thời gian giữa việc trình bày địa chỉ của John Black và khi được yêu cầu thuật lại phải dài hơn năm phút. Cô cần một khoảng thời gian trì hoãn dài hơn.
Cô lấy từ điển trên kệ và đặt ra hai quy tắc để chọn một từ. Nó phải ít phổ biến, một từ mà cô không sử dụng hằng ngày, và nó phải là một từ cô đã biết. Cô đang thử trí nhớ của mình, không phải học thứ gì mới. Cô lật một trang tùy ý của từ điển và đặt ngón tay mình xuống từ “điên loạn”. Cô viết nó lên một mảnh giấy, gấp lại, bỏ vào túi quần và cài bộ đếm thời gian trên lò vi sóng là mười lăm phút.
Khi Lydia còn nhỏ, một trong những cuốn sách mà con bé yêu thích có tên là Hippos Go Berserk! Alice đi chuẩn bị cho bữa tối Giáng Sinh. Bộ đếm thời gian phát ra tiếng bíp.
“Điên loạn” – cô không hề do dự hay cần sự trợ giúp của mảnh giấy.
Cô tiếp tục chơi trò chơi này suốt cả ngày, tăng lên ba từ cần nhớ và kéo dài thời gian thử thách tới tận bốn mươi lăm phút. Mặc dù mức độ khó tăng lên, thêm vào sự phân tâm của việc chuẩn bị bữa tối, cô vẫn không mắc lỗi nào. Ống nghe, thiên niên kỷ, con nhím. Cô làm món ricotta raviolis với nước sốt đỏ. Cực âm, quả lựu, lưới mắt cáo. Cô trộn salad vào và ướp rau củ. Kim ngư thảo, phim tài liệu, tan biến. Cô cho thịt vào lò nướng và dọn bàn ăn tối.
Anna, Charlie, Tom và John ngồi ở phòng khách. Alice có thể nghe tiếng Anna và John. Từ dưới bếp, cô không đoán được chủ đề, nhưng cô dám chắc đó là một cuộc tranh cãi bởi giọng nhấn mạnh và âm lượng qua lại. Có thể về chính trị. Charlie và Tom đều quan tâm đến nó.
Lydia khuấy nồi rượu táo trên bếp và nói về lớp học diễn xuất. Giữa việc tập trung vào bữa tối, những từ cô phải ghi nhớ, và Lydia, Alice đã không còn tâm trí nào để phản đối hay tranh cãi. Không hề bị ai cắt ngang, Lydia phát biểu một bài độc thoại miễn phí và đầy đam mê về nghề của mình, mặc dù Alice có khuynh hướng chống lại nó, cô cũng không cưỡng lại được sự quan tâm.
“Sau các biểu tượng, ta tiếp tục đặt nghi vấn cho Elijah, ‘Sao là đêm nay chứ không phải đêm khác?’” – Lydia nói.
Bộ đếm thời gian kêu lên. Lydia biết ý bước sang một bên, còn Alice lén nhìn vào lò nướng. Cô chờ đợi một lời giải thích cho việc tại sao lò nướng lại báo dừng khi thịt chưa đủ thời gian để chín cho đến khi khuôn mặt cô trở nên đỏ bừng. Ồ. Đó là thời gian để cô lặp lại ba từ trong túi. Trống tambourine, con rắn...
“Ta sẽ không bao giờ sống một cuộc đời như đã sắp đặt trước, các nguyên tắc luôn được lập ra và rồi bị phá vỡ” – Lydia nói.
“Mẹ ơi, đồ khui rượu ở đâu vậy?” – Anna hét lên từ phòng khách.
Alice đấu tranh nội tâm để phớt lờ tiếng kêu la của con gái, đầu óc cô đã được tập luyện để nghe tất cả các âm thanh có trên đời này, và cả tiếng nói bên trong mình, lặp đi lặp lại hai từ đấy như một câu thần chú.
Trống tambourine, con rắn, trống tambourine, con rắn, trống tambourine, con rắn.
“Mẹ à?” – Anna hỏi.
“Mẹ không biết nó ở đâu, Anna! Mẹ đang bận, con tự tìm xem.”
Trống tambourine, con rắn, trống tambourine, con rắn, trống tambourine, con rắn.
“Nó luôn tiếp tục sống khi mẹ nắm bắt được nó. Điều khiến cho nhân vật của con tiếp tục tồn tại và điều gì sẽ đến với con nếu con không nhập tâm vào vai diễn?” – Lydia nói.
“Lydia, làm ơn, mẹ không muốn nghe về mấy thứ đó vào lúc này” – Alice ngắt lời, thái dương đẫm mồ hôi.
“Được thôi” – Lydia nói. Cô quay thẳng về bếp và khuấy mạnh nồi rượu, rõ ràng cô đang bị tổn thương.
Trống tambourine, con rắn.
“Con vẫn không thấy nó!” – Anna hét lên.
“Con tìm giúp chị ấy đây” – Lydia nói.
La bàn! Trống tambourine, con rắn, la bàn.
Thở phào nhẹ nhõm, Alice lấy nguyên liệu cho bánh pudding chocolate trắng và đặt chúng trên bàn bếp – vanilla, nửa ly kem tươi đặc, sữa, đường, chocolate trắng, một ổ bánh mì challah, và nửa tá trứng. Một chục quả trứng? Nếu các mảnh giấy ghi chú về công thức nấu ăn của mẹ cô còn tồn tại thì Alice đang tự hỏi chúng ở đâu. Cô đã không đụng đến nó nhiều năm. Đó là một công thức đơn giản, thậm chí ngon hơn bánh pho-mát của Marty, và cô đã làm nó vào mỗi đêm Giáng Sinh từ khi còn là đứa trẻ. Cần bao nhiêu trứng? Nó phải hơn sáu, hoặc bà chỉ dùng một hộp. Có thể là bảy, tám, hay chín?
Cô cố bỏ qua chuyện mấy quả trứng trong một lúc, nhưng những thành phần khác trông như tiếng nước ngoài. Mẹ cô sử dụng hết kem hay chỉ đong ra một ít? Bao nhiêu đường? Bà ấy kết hợp mọi thứ cùng lúc hay theo một trình tự cụ thể. Bà đã dùng loại chảo nào? Nướng ở nhiệt độ bao nhiêu và trong bao lâu? Không có khả năng nào đúng. Không có thông tin nào ở đây.
Cái quái quỷ gì đang diễn ra với tôi thế?
Cô xem xét lại những quả trứng. Vẫn không có gì. Cô ghét thứ trứng chết tiệt này. Cô cầm một quả trong tay và ném nó mạnh nhất có thể vào bồn rửa chén. Từng quả một, cô đập vỡ hết chúng. Điều này khiến cô tạm thấy thoải mái, nhưng vẫn chưa đủ. Cô cần đập vỡ thứ gì khác, thứ gì đó cần nhiều lực hơn, thứ gì đó làm cô kiệt sức. Cô nhìn quanh nhà bếp. Đôi mắt cô đầy tức giận và điên cuồng khi thấy Lydia ở ngưỡng cửa.
“Mẹ, mẹ đang làm gì vậy?”
Vụ thảm sát không chỉ giới hạn ở bồn rửa. Vỏ trứng và lòng đỏ bắn tung toé khắp tường và bàn bếp, mặt tủ loang đầy vệt lòng trắng.
“Những quả trứng đã hết hạn. Không có bánh năm nay.”
“Chà, chúng ta phải có bánh chứ, đây là đêm Giáng Sinh mà.”
“Ừ, nhưng không còn trứng nữa, và mẹ quá mệt với cái nhà bếp nóng nực này.”
“Con sẽ đến cửa hàng. Mẹ cứ ra phòng khách nghỉ ngơi, con sẽ làm bánh.”
Alice bước ra phòng khách, hơi chếnh choáng nhưng không còn tràn ngập sự giận dữ, cũng không rõ mình đang cảm thấy bị cướp đoạt hay biết ơn. John, Tom, Anna và Charlie đều đang ngồi trò chuyện, cầm ly vang đỏ. Rõ ràng, ai nấy đều đã tìm thấy sự cởi mở. Với áo khoác và mũ trong tay, Lydia ló đầu vào phòng.
“Mẹ cần dùng bao nhiêu quả trứng vậy?”
- 5 -
tháng một, năm 2004
Cuối cùng thì cô cũng tìm được lý do chính đáng để hủy buổi hẹn với một nhà tâm lý học thần kinh và bác sĩ Davis vào ngày 19 tháng Một.
Sau khi kết thúc kì nghỉ đông, tuần thi học kì và bài thi cuối kì của lớp Ngôn ngữ học do Alice giảng dạy cũng được xếp lịch thi vào sáng hôm đó. Sự hiện diện của cô dù chẳng mấy quan trọng, nhưng cô thấy hứng thú với ý nghĩ rằng lại một năm nữa qua đi và đây là dịp để cô ngắm nhìn tất cả những sinh viên đã theo học từ buổi đầu đến cuối khóa học này. Với đôi chút miễn cưỡng, cô đã cử một trợ giảng giám sát kỳ thi. Lý do hợp lý hơn là 32 năm về trước, mẹ và em gái cô đã mất vào ngày mười chín tháng Một. Cô không cho rằng mình mê tín như John, nhưng cô chưa bao giờ nhận được tin tốt lành gì vào ngày đó.
Cô đã nhờ lễ tân xếp lịch cho một ngày hẹn khác nhưng không thể, và nếu muốn dời lại thì cô buộc phải đợi tới bốn tuần sau. Vậy nên cô không thể hủy hẹn. Cái ý nghĩ chờ đợi thêm một tháng nữa thật sự không hấp dẫn chút nào.
Cô tưởng tượng ra chuyện khi các sinh viên của cô trở lại trường, chúng sẽ vô cùng lo lắng không biết kì này sẽ ra những câu hỏi gì, rồi vội vàng nhồi nhét vào đầu lượng kiến thức của suốt một học kì trong thời gian ngắn, hy vọng điều đó sẽ không khiến chúng gặp thất bại. Cô hiểu rất rõ chúng đang cảm thấy thế nào. Hầu hết các bài kiểm tra về tâm lý thần kinh được ra vào sáng hôm đó sẽ là: hiệu ứng Stroop, ma trận Raven, kỹ thuật Luria Mental Rotation, trắc nghiệm gọi tên Boston, trắc nghiệm hình ảnh WAIS-R, trí nhớ thị giác Benton, trắc nghiệm nhớ câu chuyện NYU, cô biết rõ điều đó. Bài thi được thiết kế như vậy để kiểm tra khả năng ngôn ngữ, trí nhớ và quá trình lập luận của sinh viên, dĩ nhiên không có chỗ cho những bộ não yếu kém. Thực ra trước kia cô cũng đã làm qua những bài thi như vậy nhiều lần, nhưng ở vai trò là giáo viên hướng dẫn sinh viên hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Nhưng hôm nay cô không phải là người giám sát, cô là đối tượng bị thử nghiệm.
Việc ghi chép, nhớ lại, sắp xếp và điền thông tin mất hết hai giờ mới xong. Cũng như các sinh viên mà cô đã tưởng tượng, cô cảm thấy nhẹ nhõm và khá tự tin trong chuyện này. Được nhà tâm lý học thần kinh dẫn đường, Alice bước vào văn phòng bác sĩ Davis và ngồi ở một trong hai chiếc ghế được xếp cạnh nhau, đối diện với ông. Davis nhìn chiếc ghế trống bên cạnh cô và thở dài thất vọng. Dù ông chưa nói bất cứ lời nào thì cô cũng biết mình đang gặp rắc rối.
“Alice, không phải lần trước ta đã thống nhất rằng cô sẽ tới đây với ai đó sao?”
“Phải.”
“Được rồi, yêu cầu của bệnh viện này là mỗi bệnh nhân phải đến cùng thân nhân hoặc bạn bè của họ. Tôi không thể điều trị cho cô đúng cách trừ khi tôi biết chính xác chuyện gì đang diễn ra, và tôi không chắc mình có được thông tin gì khi họ không có mặt ở đây cùng cô. Lần tới tôi sẽ không thông cảm nữa đâu Alice, được chứ?”
“Tôi hiểu rồi.”
Lần tới. Mọi sự nhẹ nhõm và tự tin mà cô tự đánh giá mình trong các bài kiểm tra thần kinh đều hoàn toàn bốc hơi.
“Hiện tại tôi đã có kết quả kiểm tra, nên chúng ta có thể thông qua hết. Tôi không thấy điều gì bất thường trong kiểm tra MRI của cô. Không bệnh mạch máu não, không có bằng chứng của đột quỵ, không bị tràn máu não hay các bệnh phổ biến nào khác. Tất cả mọi thứ đều có vẻ ổn. Cả xét nghiệm máu và chọc dò tủy sống đều cho kết quả âm tính. Điều tích cực ở đây là chúng ta có thể tìm thấy mọi bệnh lý phù hợp để giải thích cho những triệu chứng của cô. Thế là, chúng ta đã rõ cô không nhiễm HIV, ung thư, thiếu vitamin, bệnh ti thể, hay một số bệnh hiếm khác.”
Phần trình bày của ông rất trơn tru, hẳn không phải là lần đầu ông nói về vấn đề thế này. Những “bệnh mà cô mắc” đã đến lúc kết thúc. Cô gật đầu, ra hiệu rằng ông cứ tiếp tục.
“Cô đạt 99% trong việc hoàn thành các lý luận trừu tượng, phân tích không gian và văn phong trôi chảy. Nhưng không may, đây là những gì tôi thấy. Cô có một sự suy giảm trí nhớ không tương xứng với độ tuổi, và nó đã suy giảm đáng kể so với trước đây về mặt chức năng. Tôi biết đây là do những vấn đề cá nhân cô đã gặp phải và qua những mô tả của cô, cũng có thể là do những tác động từ bên ngoài đến cuộc sống công việc. Tôi cũng đã kiểm chứng điều này khi cô không thể nói địa chỉ mà tôi yêu cầu ở lần khám trước. Và mặc dù cô xuất sắc ở mọi lĩnh vực nhận thức thì hôm nay, cô đã cho thấy rất nhiều bất ổn ở hai trong số những nhiệm vụ liên quan đến trí nhớ gần đây. Thực tế là cô chỉ đạt 60% trong bài kiểm tra này.”
“Khi tôi xâu chuỗi tất cả các thông tin này với nhau, Alice, những gì tôi có thể nói cho cô biết là cô có khả năng bị chứng mất trí Alzheimer.”
Chứng mất trí Alzheimer.
Những từ đó như cơn bão ập xuống cô. Chính xác thì ông ta vừa nói cái quái gì thế? Cô lặp lại từng lời của ông trong đầu.
Có khả năng. Đúng, chỉ là “có khả năng” thôi. Điều này cho cô ý chí để hít sâu vào, chớp lấy cơ hội để phản biện lại.
“Vậy thì, ‘có khả năng’ cũng tức là có thể tôi không mắc phải căn bệnh đó.”
“Không, chúng tôi sử dụng cụm từ “có khả năng” là vì chẩn đoán xác định Alzheimer hiện tại cần phải kiểm tra mô học của các mô não, trong đó yêu cầu phải sinh thiết não – đây hẳn không phải là lựa chọn tốt cho cô. Đó là một chẩn đoán lâm sàng. Không có protein suy giảm trí nhớ trong máu của cô để có thể cho chúng tôi biết cô có bị mất trí nhớ hay không và chúng tôi không hề mong sẽ thấy chứng teo não trên xét nghiệm MRI của cô vào giai đoạn sau.”
Teo não.
“Nhưng không thể thế được, tôi mới năm mươi thôi.”
“Chúng ta thường nghĩ chứng Alzheimer là căn bệnh chỉ ảnh hưởng đến người già, nhưng cũng có mười phần trăm người bệnh khởi phát sớm ở độ tuổi dưới sáu mươi lăm.”
“Có gì khác biệt so với những người già hơn không?”
“Không khác mấy, ngoại trừ nguyên nhân do mối liên kết huyết thống chặt chẽ và nó sẽ biểu hiện bệnh sớm hơn nhiều.”
Mối liên kết huyết thống chặt chẽ. Anna, Tom, Lydia.
“Nhưng nếu anh không chắc chắn tôi đang bị gì, làm sao anh khẳng định tôi mắc chứng Alzheimer?”
“Sau khi nghe cô mô tả những gì đã xảy ra và các bệnh tiền sử, sau kiểm tra định hướng, ghi chép trong sổ, sự chú ý, ngôn ngữ và trí nhớ, tôi khẳng định chín mươi lăm phần trăm là thế. Không có lời giải thích nào khác qua những cuộc kiểm tra thần kinh, máu, dịch não tủy hay MRI, năm phần trăm kia là không có khả năng. Tôi chắc chắn thế, Alice à.”
Alice.
Âm thanh gọi tên cô len lỏi sâu vào từng tế bào và dường như lan ra khắp cơ thể cô. Cô tự nhìn chính mình từ phía góc phòng.
“Vậy nghĩa là gì?” – Cô nghe bản thân mình hỏi.
“Chúng tôi có một vài loại thuốc có thể điều trị chứng Alzheimer mà tôi sẽ kê cho cô bây giờ. Đầu tiên là Aricept, làm tăng khả năng tiết acetylcholine. Thứ hai là Namenda. Nó vừa được phê duyệt vào mùa thu này và đã cho thấy có nhiều hứa hẹn. Không hẳn sẽ chữa khỏi hoàn toàn, nhưng có thể làm chậm sự tiến triển của các triệu chứng, và chúng tôi muốn giúp cô kéo dài thời gian càng lâu càng tốt.”
Thời gian? Còn bao lâu đây?
“Tôi cũng muốn cô dùng vitamin E hai lần một ngày và vitamin C, aspirin, statin một lần một ngày. Cô không có những dấu hiệu rõ ràng nào liên quan đến bệnh tim mạch, nhưng bất cứ thứ gì tốt cho tim thì cũng sẽ tốt cho não bộ, chúng tôi muốn bảo vệ mọi nơ-ron và tế bào thần kinh hết mức có thể.”
Rồi ông viết những thông tin này xuống một toa thuốc.
“Alice, có ai trong gia đình biết cô đến đây không?”
“Không” – cô lại nghe bản thân lên tiếng.
“Thôi được, cô phải nói với ai đó. Chúng tôi có thể làm chậm tốc độ suy giảm nhận thức, nhưng chúng tôi không thể ngăn chặn hay đảo ngược được. Nó quan trọng đối với sự an toàn của cô, ai đó phải biết cô thường xuyên làm gì. Cô sẽ nói với chồng mình chứ?”
Cô thấy mình gật đầu.
“Tốt rồi. Sau đó cô hãy đọc các quy định, làm theo mọi thứ được chỉ dẫn, gọi cho tôi nếu cô có bất kỳ vấn đề gì về tác dụng phụ, và tái khám định kỳ sáu tháng. Từ nay về sau, cô có thể gọi điện hoặc gửi email cho tôi nếu có bất kỳ thắc mắc gì, và tôi cũng khuyến khích cô liên hệ với Denise Daddario. Cô ấy là nhân viên xã hội ở đây và có thể giúp cô bằng các nguồn lực và hỗ trợ. Tôi sẽ gặp vợ chồng cô vào sáu tháng sau và chúng ta sẽ xem cô làm được những gì.”
Cô tìm kiếm ở đôi mắt tinh anh của ông một điều gì khác. Cô chờ đợi. Cô thấy kỳ lạ khi nhận ra tay mình đang siết chặt thanh kim loại của chiếc ghế. Hai tay của cô. Cô đã không trở thành một mẫu sưu tập thanh tao của các phân tử lơ lửng trong góc phòng. Cô, Alice Howland, đang ngồi trên một chiếc ghế cứng và lạnh, cạnh bên một chiếc ghế trống trong văn phòng của một bác sĩ thần kinh, ở khoa Rối loạn bộ nhớ tại tầng thứ tám của Bệnh viện Đa khoa Massachusetts. Và cô vừa được chẩn đoán mắc chứng Alzheimer. Cô đang tìm kiếm một điều gì khác trong đôi mắt vị bác sĩ, nhưng chỉ thấy sự thật và nỗi cảm thông.
Ngày 19 tháng Một. Không bao giờ có chuyện tốt vào ngày này.
NGỒI TRONG VĂN PHÒNG CỬA ĐÓNG KÍN, cô đọc lướt qua bảng câu hỏi “Các hoạt động hằng ngày” của bác sĩ Davis yêu cầu cô gửi cho John. Bảng này cần được điền từ người cung cấp thông tin, chứ KHÔNG PHẢI từ bệnh nhân – điều này đã được in đậm ở dòng trên cùng của trang đầu tiên. Người cung cấp tin, cửa đóng kín, và trái tim đập thình thịch của cô góp phần làm cảm giác tội lỗi thêm rõ rệt, giống như cô đang trốn ở một thành phố Đông Âu, sở hữu tài liệu bất hợp pháp, và cảnh sát đang ở trên đường, còi báo động thì hú ầm ĩ.
Các thang đánh giá cho từng hoạt động dao động từ 0 (không có vấn đề, giống như mọi khi) đến 3 (nghiêm trọng, hoàn toàn phụ thuộc người khác). Cô nhìn xuống phần mô tả bên cạnh thang 3 và đoán rằng chúng là dấu hiệu của giai đoạn cuối – như một đoạn đường thẳng tắp và ngắn ngủi mà cô thì đang bị trói vào một chiếc xe mất thắng và không người lái đang đi trên con đường đó.
Số 3 là một danh sách đầy hổ thẹn:
Phải được đút ăn hầu hết các loại thức ăn.
Không kiểm soát được việc vệ sinh.
Phải nhờ người khác cho uống thuốc và chích ngừa.
Kháng cự lại người chăm sóc khi được tắm gội.
Không còn làm việc.
Chỉ ở nhà hoặc bệnh viện.
Không thể quản lý tiền bạc.
Không thể ra ngoài mà không có người đi kèm. Xấu hổ, nhưng bộ óc phân tích của cô ngay lập tức nghi ngờ sự liên quan thực sự giữa danh sách này với kết quả cá nhân cô. Trong danh sách này những điều nào là sự tiến triển của chứng bệnh Alzheimer và điều nào là xảy ra do người ta quá lớn tuổi. Những người 80 tuổi không kiểm soát được chức năng cơ thể vì họ mắc chứng Alzheimer hay vì bàng quang của họ đã 80 tuổi. Có lẽ những điều ở thang 3 không dành cho một người như cô – một người còn quá trẻ và khỏe mạnh.
Điều tồi tệ nhất của thứ này nằm dưới tiêu đề “Sự giao tiếp.”
Những phát ngôn khó hiểu.
Không hiểu những gì mọi người đang nói.
Mất khả năng đọc.
Không viết được.
Mất khả năng ngôn ngữ.
Khác với việc chẩn đoán sai, cô không tài nào dựng nên một giả thuyết là hệ miễn dịch của cô sẽ bị xếp vào thang 3. Tất cả đều có thể áp dụng cho ai đó giống cô. Một kẻ mắc bệnh Alzheimer.
Cô nhìn mấy chồng sách và tạp chí trên kệ, đống bài thi cuối kỳ cần chấm trên bàn, những email trong hộp thư đến và ánh sáng đỏ cứ nhấp nháy trên điện thoại. Cô nghĩ đến những quyển sách mình luôn muốn đọc, những quyển cô trưng bày ở kệ sách trong phòng ngủ, sách gối đầu giường của cô sau này. Moby-Dick. Cô có những nghiên cứu cần thực hiện, bài văn cần viết, bài giảng cần dạy. Mọi thứ cô làm và yêu quý, tất cả mọi thứ của cô, đều cần đến ngôn ngữ.
Những trang cuối cùng của bảng câu hỏi yêu cầu các thông tin để đánh giá mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng mà bệnh nhân gặp phải trong tháng qua: hoang tưởng, ảo giác, kích động, trầm cảm, lo âu, phấn chấn, thờ ơ, ức chế, khó chịu, rối loạn vận động lặp lại, giấc ngủ bị gián đoạn, thay đổi thói quen ăn uống. Cô cảm thấy bị thôi thúc muốn điền kín các câu trả lời về bản thân, để chứng minh rằng mình vẫn ổn và những phán đoán của bác sĩ Davis là sai. Song cô nhớ tới lời của ông: Cô có thể không phải là nguồn tin đáng tin cậy cho những gì đang diễn ra. Có thể, nhưng hiện tại cô vẫn nhớ ông ấy đã nói gì. Cô tự hỏi còn bao lâu thì cô sẽ rơi vào tình thế đó.
Phải thừa nhận là kiến thức về bệnh Alzheimer của cô rất sơ sài. Cô biết rằng bộ não của người bệnh Alzheimer bị hạ mức acetylcholine, một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng đối với việc học và trí nhớ. Cô cũng biết là vùng hồi hải mã – một cấu trúc nằm bên trong thùy thái dương – rất quan trọng đối với sự hình thành ký ức mới, bị tích tụ thành các mảng và đám rối sợi thần kinh, mặc dù cô không hiểu chính xác đấy là những gì. Cô cũng biết đến chứng mất khả năng định danh, một nhánh bệnh lý liên quan đến lưỡi, là một triệu chứng điển hình khác. Và cô biết rằng ngày nào đó, khi cô nhìn vào gương mặt của chồng, của những đứa con, đồng nghiệp, những gương mặt cô từng biết đến và thương yêu vô vàn, nhưng cô không còn nhận ra họ nữa.
Và cô biết là mọi thứ sẽ không chỉ có vậy. Có nhiều mặt đáng lo ngại hơn cần khám phá. Cô tìm kiếm từ khóa “bệnh Alzheimer” trên Google. Ngón tay của cô vội ấn phím xóa khi có tiếng động bên ngoài cửa. Không có bất kỳ cảnh báo hay đợi cô lên tiếng, cửa bật mở. Cô sợ anh có thể đọc thấy sự choáng váng, lo lắng, quanh co trên khuôn mặt mình.
“Em sẵn sàng rồi chứ?” – John hỏi.
Không, không hề. Nếu cô thú nhận với John như lời bác sĩ Davis dặn, nếu cô đưa anh bảng câu hỏi “Các hoạt động hằng ngày”, mọi thứ sẽ trở thành sự thật. John trở thành người cung cấp tin, Alice sẽ trở thành một bệnh nhân hấp hối, không đủ năng lực. Cô vẫn chưa sẵn sàng để chấp nhận sự thật đó. Chưa phải lúc này.
“Đi nào, còn một tiếng nữa là đóng cửa rồi” – John nói.
“Được rồi” – Alice đáp. – “Em sẵn sàng.”
ĐƯỢC THÀNH LẬP VÀO NĂM 1831, được xem là khu vực nghĩa trang phi tôn giáo đầu tiên của Mỹ, Mount Auburn bây giờ là một cột mốc lịch sử quốc gia, một vườn ươm nổi tiếng thế giới, phong cảnh làm vườn và cuối cùng, đây là nơi an nghỉ của cha mẹ và em gái Alice.
Đây là lần đầu tiên mà cha cô có mặt vào ngày giỗ sau vụ tai nạn định mệnh, hay nói cách khác là ông đã qua đời, điều đó kích động cô. Trước giờ luôn là cuộc viếng thăm riêng giữa cô và mẹ, em gái. Bây giờ, ông ấy cũng ở đây. Nhưng ông ấy không xứng đáng được vậy.
Họ bước xuống Đại lộ Yew, một phần lớn hơn của nghĩa trang. Mắt và chân của cô dừng lại khi họ đi qua phần mộ quen thuộc của gia đình Shelton. Charles và Elizabeth đã chôn cả ba đứa trẻ ở đây – Susie, chỉ là một – đứa bé, có thể chỉ là cái thai chết non, vào năm 1866; Walter, 2 tuổi, vào năm 1868; và Carolyn, 5 tuổi, vào năm 1874. Alice cố lắm mới dám tưởng tượng nỗi đau của Elizabeth khi tên những đứa con của cô cứ lần lượt khắc trên từng bia mộ. Cảnh Anna u buồn và im lặng ngay trong ngày sinh; Tom mất, có lẽ sau cơn bệnh, còn đang mặc bộ pyjama màu vàng; và Lydia, cứng đơ và thiếu sức sống sau một ngày đầy màu sắc ở nhà trẻ – cô không bao giờ có thể kéo dài những tưởng tượng đó. Các mạch tưởng tượng của cô luôn từ chối các hình ảnh khủng khiếp này, và hình ảnh ba đứa con của cô nhanh chóng trở lại một cách sống động.
Elizabeth ở độ tuổi 38 khi đứa con cuối cùng của cô ra đi. Alice tự hỏi liệu cô có cố gắng có thêm một đứa trẻ nhưng lại không thể thụ thai, hoặc cô và Charles bắt đầu ngủ riêng, lo sợ mọi thứ sẽ quá mạo hiểm và rồi sẽ phải mua thêm một phần mộ mới. Cô tự hỏi liệu Elizabeth, người sống hai mươi năm dài hơn Charles, đến bao giờ mới tìm được bình yên trong cuộc đời.
Họ tiếp tục im lặng khi đứng trước các phần mộ của gia đình Alice. Bia mộ của họ rất đơn giản, như những hộp giày Brobdingnagian bằng đá granite, đứng ở một hàng riêng biệt cạnh tán cây sồi lá tím. Anne Lydia Daly, 1955–1972; Sarah Louise Daly, 1931–1972; Peter Lucas Daly, 1932–2003. Tán sồi với những nhánh thấp chỉ tầm ba mươi mét, khoác lên những chiếc lá xanh tía láng bóng vào mùa xuân, hạ và thu. Nhưng bây giờ, vào tháng Một, cây không có lá, những cành như đúc đen và dài, in bóng méo mó trên các phần mộ, trông chúng thật sự đáng sợ. Mọi đạo diễn phim kinh dị hẳn sẽ thích cảnh tượng này.
John nắm lấy bàn tay đeo găng của cô khi họ đứng dưới gốc cây. Không ai lên tiếng. Trong thời tiết ấm áp thế này, họ thèm nghe âm thanh của chim chóc, vòi phun nước, toàn bộ âm thanh của xe cộ, và tiếng nhạc radio vang lên từ xe. Hôm nay, nghĩa trang thật tĩnh lặng so với âm thanh xe cộ ồn ào như thủy triều ngoài cổng.
John đã nghĩ gì khi họ đứng đấy? Cô không bao giờ hỏi anh. Anh chưa bao giờ gặp mẹ và em gái cô, thế nên sẽ rất áp lực cho anh khi phải trình bày cảm nghĩ dông dài về chuyện này. Anh suy nghĩ đến cái chết hay linh hồn của chính mình? Hay của cô? Liệu anh có nghĩ đến cha mẹ và chị em mình, những người vẫn còn khỏe mạnh? Hay anh đang đắm chìm trong một thế giới khác, nhớ tới những chi tiết trong cuộc nghiên cứu hoặc mơ về bữa ăn tối?
Làm sao cô có thể mắc chứng Alzheimer? Mối liên kết huyết thống chặt chẽ. Liệu mẹ cô sẽ mắc bệnh này nếu bà sống tới năm 50 tuổi? Hay là cha cô?
Khi còn trẻ, ông đã nốc kha khá rượu mà chưa bao giờ say khướt. Dần dần, ông trở nên im lặng và sống nội tâm nhưng luôn đảm bảo những kỹ năng giao tiếp cho việc đặt hàng chai whiskey tiếp theo hay để khẳng định mình thừa sức lái xe. Cũng như cái đêm ông đâm chiếc Buick vào cái cây bên quốc lộ 93, kết thúc sinh mạng của chính vợ và con gái mình.
Thói quen uống rượu của ông không bao giờ thay đổi, nhưng cách ăn ở của ông thì có, vào khoảng mười lăm năm trước. Nói năng vô nghĩa, hiếu chiến, không có thói quen giữ vệ sinh, không biết cô là ai – Alice đã nhầm tưởng những điều này là do rượu đã tác động xấu đến gan và tâm trí ông. Liệu có phải ông đã sống với chứng Alzheimer mà không ai hay biết? Cô không muốn quan tâm và cũng chẳng cần khám nghiệm tử thi, bởi nếu đó là sự thật thì nó sẽ trở thành cái cớ lý tưởng để buộc tội cô đã tệ với cha của mình.
Ồ, cha à, cha hạnh phúc chứ? Con đang thừa hưởng mã ADN thật tệ hại đây. Cha đã giết cả gia đình mình. Cha đang cảm thấy thế nào vậy?
Cô bật khóc, không thể kiểm soát cảm xúc và vô cùng đau khổ – khung cảnh này có vẻ phù hợp với bất kỳ người lạ nào khi thấy cô đứng trước cảnh cha mẹ và em gái mình bị chôn vùi dưới lớp đất, bóng tối bao trùm xuống ngôi mộ cạnh cây sồi kỳ lạ. Với John lại hoàn toàn là điều bất ngờ. Cô không nhỏ một giọt nước mắt về cái chết của cha từ tháng Hai năm trước, và những nỗi buồn, mất mát về cái chết của mẹ và em gái cô dường như đã nguôi ngoai theo thời gian.
Anh ôm cô mà không hề dỗ dành hay nói bất cứ điều gì, và cứ ôm cô như thế cho đến khi cô thôi khóc. Cô nhận ra nghĩa trang đã đóng cửa tự lúc nào. Cô nhận ra mình có thể đã quá lo cho John. Cô nhận ra dù có khóc cạn nước mắt cũng không làm sạch bộ não bị nhiễm bẩn của mình. Cô áp mặt mình vào khăn choàng của anh và khóc nức nở đến khi kiệt sức.
Anh ôm đầu cô và hôn lên đôi mắt ướt.
“Ali, em ổn chứ?”
Em không ổn đâu John. Em bị chứng mất trí nhớ Alzheimer.
Cô ước mình có thể nói lớn tiếng điều đó, nhưng không. Chúng mắc kẹt trong đầu cô, nhưng không phải bị chặn bởi các mảng và đám rối sợi thần kinh. Chỉ là cô không cách nào nói ra được.
Cô tưởng tượng tên mình sẽ được đặt cạnh mộ của Anne. Cô thà chết còn hơn bị mất trí. Cô nhìn sang John, ánh mắt anh đầy nhẫn nại và đang chờ cô trả lời. Làm sao cô có thể nói với anh về chuyện mình bị Alzheimer đây? Anh yêu tâm trí cô. Sao anh còn yêu cô nếu cô đánh mất nó? Cô quay lại nhìn cái tên Anne khắc trên đá.
“Em chỉ vừa trải qua một ngày rất tồi tệ thôi.”
Cô thà chết còn hơn nói cho anh biết.
CÔ MUỐN GIẾT CHÍNH MÌNH. Suy nghĩ bốc đồng về chuyện tự tử đã đến với tốc độ chóng mặt, rút cạn sinh lực của cô, giam cô vào những ngày tăm tối và tuyệt vọng. Song chúng cũng nhanh thiếu sức chịu đựng và chết khô bởi mối liên kết mong manh. Cô không muốn chết. Cô vẫn là một giáo sư Tâm lý học có uy tín của Đại học Harvard. Cô vẫn có thể đọc và sử dụng phòng tắm đúng cách. Cô còn thời gian. Và cô sẽ kể cho John.
Cô ngồi trên ghế và quấn tấm chăn màu xám trên đùi, ôm lấy đầu gối, cảm giác muốn bỏ mặc tất cả. Anh ngồi xuống mép ghế đối diện cô, cơ thể anh hoàn toàn trầm mặc.
“Ai nói em vậy?” – John hỏi.
“Bác sĩ Davis, anh ấy là một bác sĩ thần kinh ở Bệnh viện Đa khoa Mass.”
“Bác sĩ thần kinh. Hồi nào?”
“Mười ngày trước.”
Anh quay đầu lại và xoay chiếc nhẫn cưới khi trong vờ như mình đang kiểm tra sơn tường. Cô nín thở và chờ anh quay lại nhìn mình lần nữa. Có lẽ anh chẳng còn nhìn cô như trước. Có lẽ cô sẽ không bao giờ thở lại. Cô cuộn mình chặt hơn.
“Anh ta sai đó, Alice.”
“Không đâu.”
“Em không có gì bất ổn cả.”
“Có đấy. Em quên mọi thứ.”
“Ai cũng quên mà. Anh thường không nhớ mình để kính ở đâu. Vậy tay bác sĩ thần kinh đó cũng sẽ nói anh bị Alzheimer à?”
“Các vấn đề em gặp không hề bình thường. Nó không đơn thuần là để quên kính.”
“Được rồi, vậy là em quên đi vài chuyện, nhưng em đang trong thời kỳ mãn kinh, em căng thẳng, và cái chết của cha có thể mang đến tất cả cảm xúc liên quan đến cái chết của mẹ và Anne. Có lẽ do em bị trầm cảm thôi.”
“Em không bị trầm cảm.”
“Làm sao em biết? Em là bác sĩ ư? Em nên gặp bác sĩ của mình chứ không phải một chuyên gia thần kinh.”
“Em gặp rồi.”
“Chính xác thì bà ta nói gì?”
“Bà ấy không nghĩ đó là do trầm cảm hay mãn kinh. Bà ấy không có lời giải thích cụ thể nào. Bà chỉ nghĩ em bị mất ngủ. Bà muốn đợi và coi thử em ra sao trong vài tháng tới.”
“Thấy chưa, em chỉ không chăm sóc mình tốt thôi.”
“Bà ấy không phải bác sĩ thần kinh, John à. Em ngủ đủ giấc. Và nó bắt đầu từ tháng Mười Một. Mọi thứ đã kéo dài vài tháng rồi và nó không hề tốt lên. Nó chỉ tồi tệ thêm mà thôi.”
Để anh tin mình, cô đã gợi lại vài sự việc xảy ra ở vài tháng trước. Bắt đầu từ vài ví dụ mà anh đã biết.
“Anh có nhớ là em không hề đi Chicago không?”
“Điều đó có thể xảy ra với anh hoặc bất kỳ ai ta quen. Chúng ta đều có lịch làm việc kinh khủng.”
“Chúng ta luôn có lịch làm việc kinh khủng, nhưng em chưa bao giờ quên chuyến bay. Và em không chỉ quên chuyến bay, em quên cả cuộc hội nghị, dù rằng em đã chuẩn bị cho nó cả ngày.”
Anh chờ đợi. Có những bí mật khổng lồ mà anh không biết.
“Em quên mất lời. Em hoàn toàn quên chủ đề của bài giảng trong thời gian đi từ văn phòng đến lớp học, đến chiều em không thể giải mã những thứ em đã viết trong danh sách nhắc nhở vào buổi sáng.”
Cô có thể đọc được những ý nghĩ hoài nghi của anh. Mệt mỏi, căng thẳng, lo lắng. Bình thường, bình thường, bình thường.
“Em đã không làm bánh vào đêm Giáng Sinh bởi vì em không thể. Em không thể nhớ một bước duy nhất trong công thức. Nó đã được mẹ truyền cho em, và em đã làm món tráng miệng này hằng năm kể từ hồi còn nhỏ.”
Cô đã trình bày một trường hợp đầy ngạc nhiên và hẳn là thuyết phục đối với bản thân mình. Đối với ban thẩm phán thì hẳn là đủ. Nhưng John yêu cô.
“Em đã đứng phía trước Nini’s ở quảng trường Harvard và không biết đường về nhà. Em đã không tưởng tượng nổi mình đang ở đâu.”
“Chuyện đó xảy ra lúc nào?”
“Hồi tháng chín.”
Cô đã phá vỡ sự im lặng của anh, nhưng không thể phá quyết tâm của anh đang cố gắng bảo vệ sức khỏe tinh thần cho cô.
“Đây chỉ là một số chuyện thôi. Em đã quá sợ hãi khi nghĩ đến những chuyện em có thể quên mà em không biết.”
Biểu hiện của anh thay đổi, như thể anh đã xác định được thứ gì có ý nghĩa trong bài trắc nghiệm tâm lý của Rorschach – như những vết ố ở tấm phim RNA của anh.
“Vợ của Dan.” – Anh dường như đang nói với chính mình hơn là nói với cô.
“Gì cơ?” – Cô hỏi.
Một thứ gì đó nứt ra. Cô nhận thấy điều đó. Một khả năng chợt tràn ra, khuấy loãng niềm tin của cô.
“Anh cần đọc vài thứ, và sau đó anh cần nói chuyện với bác sĩ thần kinh của em.”
Không nhìn vào mắt cô, anh đứng dậy và đi thẳng tới chỗ nghiên cứu, để mặc cô ngồi trên ghế, ôm lấy đầu gối, cảm giác như muốn bỏ tất cả mà đi.
- 6 -
tháng hai, năm 2004
Thứ Sáu:
Uống thuốc cho buổi sáng
Họp ban, 9:00, phòng 545
Trả lời email
Dạy lớp Động lực và Cảm xúc, 1:00, Trung tâm Khoa học, thính phòng B (bài “Cân bằng nội môi và sự dẫn động”)
Buổi hẹn tư vấn di truyền (John đã có thông tin)
Uống thuốc cho buổi tối
Stephanie Aaron là nhân viên tư vấn di truyền liên kết với khoa Rối loạn bộ nhớ, Bệnh viện Đa khoa Mass. Cô ấy có mái tóc đen dài ngang vai và đôi mày cong gợi sự cởi mở đầy tò mò. Cô ấy chào đón vợ chồng Alice bằng một nụ cười ấm áp.
“Được rồi, cho tôi biết vì sao hai người đến đây” – Stephanie lên tiếng.
“Vợ tôi gần đây nói rằng cô ấy mắc bệnh Alzheimer, và chúng tôi muốn chụp APP, PS1 và đột biến PS2.”
John đã xong việc ở nhà. Anh dành vài tuần qua để vùi đầu trong các luận văn về nguyên nhân gây ra Alzheimer. Những protein không đúng tiêu chuẩn sinh ra từ gien bất kỳ trong ba gien đột biến được xem như kẻ thù trong những trường hợp phát bệnh sớm.
“Alice, nói tôi biết, cô mong đợi gì sau khi làm xét nghiệm?” – Stephanie hỏi.
“Ừm, nó xem như một cách hợp lý để xác nhận phán đoán của tôi. Chắc chắn hiệu quả hơn so với việc sinh thiết não.”
“Cô lo ngại rằng chẩn đoán đó là không chính xác?”
“Chúng tôi nghĩ nó thực sự có khả năng” – John đáp.
“Được rồi, trước tiên, ta sẽ xem xét khả năng dương tính đối với xét nghiệm di truyền đột biến của cô. Những đột biến này hoàn toàn thẩm thấu. Nếu cô dương tính với xét nghiệm APP, PS1 hay PS2 thì chẩn đoán của cô là chính xác. Những điều này yêu cầu tỉ mỉ, tuy nhiên, nếu kết quả của cô là âm tính. Chúng tôi thật sự không biết cách giải thích kết quả này. Khoảng 50% người phát bệnh Alzheimer sớm không có dấu hiệu đột biến ở bất kỳ gien nào trong ba gien. Điều này không nói lên họ thực sự không nhiễm Alzheimer hay bệnh của họ không phụ thuộc gien, điều đó chỉ do chúng ta chưa biết đâu là gien đột biến.”
“Liệu nó có xảy ra nhiều như 10% số người ở độ tuổi cô ấy hay không?” – John hỏi.
“Các con số có chút sai lệch so với ai đó ở tuổi cô, đấy là sự thật. Nhưng nếu xét nghiệm của Alice là âm tính, chúng tôi rất tiếc khi không thể nói chắc chắn là cô ấy không mắc bệnh. Chỉ có vài phần trăm rất nhỏ nếu cô ấy rơi vào số người ở độ tuổi này mắc bệnh Alzheimer mà không do gien.”
Điều này rất chính đáng, nhất là khi kết hợp với ý kiến chuyên môn của bác sĩ Davis. Alice biết John hiểu rõ điều này, song John đang cố tìm mọi cách giải thích cho giả thuyết “Alice không mắc bệnh Alzheimer, cuộc sống của chúng tôi không bị xáo trộn”, còn Stephanie thì không.
“Alice, những điều này có ý nghĩa với cô không.” – Stephanie hỏi.
Mặc dù bối cảnh của câu hỏi này là chính đáng, song Alice bực bội và thoáng thấy ẩn ý của cuộc hội thoại trong tương lai của mình. Cô có đủ quyền để hiểu những lời nói đó? Có phải não cô đã chịu quá nhiều tổn thương và cô đang bối rối chấp nhận điều này? Cô đã luôn giải quyết mọi chuyện trên cơ sở tôn trọng. Nếu sức mạnh tinh thần của cô càng lúc bị thay thế bởi bệnh thần kinh, vậy thứ gì sẽ thay thế cho sự tôn trọng tuyệt vời đó? Lòng thương hại? Sự hạ mình. Sự lúng túng?
“Có” – Alice đáp.
“Tôi cũng muốn đảm bảo rằng nếu xét nghiệm của cô là dương tính thì một chẩn đoán di truyền cũng sẽ không thay đổi bất kỳ thứ gì liên quan đến việc điều trị hay dự đoán về căn bệnh của cô.”
“Tôi hiểu.”
“Tốt. Hãy cho tôi vài thông tin về gia đình. Alice, bố mẹ cô còn sống chứ?”
“Không. Mẹ tôi chết vì tai nạn xe hơi khi bà 41 tuổi, và cha tôi chết hồi năm ngoái, lúc 71 tuổi vì suy gan.”
“Trí nhớ của họ lúc còn sống thế nào? Đã có ai trong số họ có dấu hiệu của chứng mất trí nhớ hoặc thay đổi tính cách không.”
“Mẹ tôi hoàn toàn ổn. Cha tôi nghiện rượu suốt cả đời. Ông ấy luôn là người bình tĩnh, nhưng ông ấy cực kỳ kích động khi về già, và thật khó khăn để có được một cuộc trò chuyện mạch lạc với ông. Tôi không nghĩ ông nhận ra tôi trong nhiều năm qua.”
“Ông ấy có được đưa tới bác sĩ thần kinh không?”
“Không. Tôi chỉ nghĩ là do ông uống rượu thôi.”
“Cô thấy ông ấy thay đổi từ lúc nào?”
“Khoảng lúc năm mươi tuổi.”
“Ông ta uống rượu mỗi ngày. Ông chết vì suy gan chứ không phải Alzheimer” – John nói.
Alice và Stephanie dừng lại và âm thầm đồng ý rằng hãy cứ để anh ấy nghĩ những gì mình muốn và tiếp tục.
“Cô có anh chị em không?”
“Đứa em gái duy nhất của tôi mất trong một tai nạn xe với mẹ vào năm nó mười sáu. Tôi không có bất kỳ anh em trai nào.”
“Vậy còn cô dì, chú bác, anh chị em họ hay ông bà?” Alice cố truyền tải mớ kiến thức không mấy đầy đủ về lịch sử sức khỏe và cái chết của họ hàng mình.
“Được rồi, nếu cô không có thắc mắc nào, y tá sẽ dẫn cô đi lấy mẫu máu. Chúng tôi sẽ gửi nó qua chỗ xét nghiệm và sẽ có kết quả trong vài tuần nữa.”
Alice nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ khi họ lái xe xuống Storrow Drive. Trời trở lạnh, đã 5:30 tối, và cô không nhìn thấy bất kỳ ai dọc theo sông Charles. Không có dấu hiệu của sự sống. John tắt radio. Chẳng có gì đánh lạc hướng cô khỏi những suy nghĩ về ADN bị tổn thương và mô não hoại tử.
“Nó sẽ âm tính mà, Ali.”
“Nhưng chẳng thay đổi được gì. Điều đó không có nghĩa em không mắc bệnh.”
“Không phải về lý thuyết, nhưng nó chiếm lấy hầu hết suy nghĩ của em nhiều hơn bất kỳ thứ gì.”
“Thế nó giống thứ gì? Anh cũng nói chuyện với bác sĩ Davis rồi. Anh ta đã kiểm tra em cho mỗi nguyên nhân gây chứng mất trí mà anh ta có thể đưa ra.”
“Nhìn đây, anh nghĩ em đã quá vội vàng khi đến gặp bác sĩ thần kinh. Anh ta dò những triệu chứng của em và thấy bệnh Alzheimer, nhưng đó là những gì anh ta được học, điều đó không có nghĩa là anh ta đúng. Nhớ cái lần em bị thương ở khớp gối năm ngoái không? Nếu mà em đi gặp bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình thì hắn cũng sẽ nói em bị chấn thương dây chằng hoặc gãy xương sụn, và thể nào cũng mổ nó ra. Nhưng em chỉ không cử động được trong vài tuần, em nghỉ ngơi, dùng ibuprofen, và em đã khỏe lại.”
“Anh nghĩ em chỉ đang mệt mỏi và căng thẳng, anh nghĩ những thay đổi nội tiết tố từ thời kỳ mãn kinh đang tàn phá sinh lý của em, và anh nghĩ em chỉ đang bị trầm cảm. Chúng ta sẽ xử lý tất cả, Ali, chúng ta sẽ giải quyết từng chuyện một.”
Có thể anh ấy đúng. Hiếm có người ở độ tuổi cô bị bệnh Alzheimer. Cô chỉ bị mãn kinh, và cô đã kiệt sức. Cũng có thể là cô bị trầm cảm. Điều đó sẽ giải thích tại sao cô gặp khó khăn trong việc đẩy lùi các chẩn đoán, sao cô không đấu tranh ngay cả khi được gợi ý để thoát khỏi số phận này. Đây không phải tính cách thông thường của cô. Có lẽ cô đã quá áp lực, mệt mỏi, ngay thời kỳ mãn kinh, và trầm cảm. Có lẽ cô không mắc bệnh Alzheimer.
Thứ Năm:
7:00, uống thuốc cho buổi sáng
Hoàn thành bài đánh giá môn Quy luật hoạt động tâm thần
11:00, gặp Dan, phòng làm việc
12:00, hội thảo buổi trưa, phòng 700
3:00, buổi hẹn tư vấn di truyền (John đã có thông tin)
8:00, uống thuốc cho buổi tối
Stephanie đang ngồi phía sau chiếc bàn khi họ bước vào, nhưng lần này, cô không cười.
“Trước khi chúng ta nói về kết quả, cô có bất kỳ đánh giá nào về những thông tin mà chúng tôi cung cấp trong thời gian qua không?” – Cô ấy hỏi.
“Không” – Alice nói.
“Cô vẫn muốn biết kết quả chứ?”
“Phải.”
“Tôi rất tiếc, Alice, cô dương tính với đột biến PS1.”
Ồ, nó là như thế, bằng chứng tuyệt đối, phục vụ thẳng thừng, không thêm đường, không bỏ muối, không ai đuổi bắt. Và điều này đã chặn đứt mọi lối đi. Cô có thể gọi một ly cocktail làm từ hỗn hợp của estrogen, Xanax và Prozac, rồi ngủ mười hai tiếng một ngày trong suốt sáu tháng ở trại Canyon, nhưng cũng chẳng thay đổi được gì. Cô bị bệnh Alzheimer. Cô muốn nhìn John, nhưng cô không tài nào ngoái đầu lại được.
“Như chúng ta đã nói, đột biến này là tính trạng trội; nó liên quan nhất định đến sự tiến triển của bệnh Alzheimer, vì vậy kết quả này phù hợp với chẩn đoán mà cô đã nhận được.”
“Tỷ lệ dương tính sai của phòng thí nghiệm là bao nhiêu? Tên của phòng thí nghiệm đó là gì?” – John hỏi.
“Phòng xét nghiệm Athena, và họ đã xét nghiệm được ở mức độ chính xác hơn 99% đối với các ca phát hiện đột biến này.”
“John, là dương tính” – Alice nói.
Cô nhìn thẳng vào anh. Khuôn mặt anh, bình thường góc cạnh và cương quyết, giờ đã chùng xuống và có gì đó xa lạ với cô.
“Tôi rất tiếc, tôi biết cả hai đang tìm lối thoát cho căn bệnh này.”
“Chuyện này có ảnh hưởng gì tới con chúng tôi không?” – Alice hỏi.
“Có nhiều vấn đề đấy. Chúng bao nhiêu tuổi rồi?”
“Chúng đều ở tuổi đôi mươi.”
“Vậy nên chúng tôi không mong đợi chúng sẽ có bất kỳ triệu chứng gì. Con của cô có 50% khả năng kế thừa đột biến và 100% sẽ gây bệnh. Xét nghiệm gien tiền triệu chứng là có khả thi, nhưng có nhiều thứ cần phải xem xét. Liệu chúng có muốn biết khi đang còn trẻ hay không? Liệu điều này có thay đổi cuộc sống của chúng không? Nếu xét nghiệm của đứa này dương tính còn đứa kia âm tính thì sao, có ảnh hưởng đến mối quan hệ của chúng không? Alice, chúng có biết về chẩn đoán của cô không?”
“Không.”
“Cô nên nghĩ về việc phải nói với chúng sớm. Tôi biết có rất nhiều thứ cần giải quyết, đặc biệt là khi bản thân cô vẫn đang nhận thức được điều này. Với một bệnh tiến triển nhanh như thế, cô cần có kế hoạch để nói với chúng sau này, để sau này có khi cô sẽ không thể nói được như dự tính ban đầu. Hay cô muốn John là người sẽ nói điều này với chúng.”
“Không, chúng tôi sẽ nói chuyện với chúng” – Alice kiên quyết.
“Họ đã có con hay chưa?”
Anna và Charlie.
“Chưa” – Alice đáp.
“Nếu họ có dự định đó thì đây thật sự là những thông tin quan trọng mà họ cần biết. Dưới đây là một số thông tin văn bản mà tôi thu thập được, cô có thể cung cấp cho họ nếu muốn. Ngoài ra, đây là danh thiếp của tôi và của một bác sĩ chuyên khoa đã từng trò chuyện với gia đình những người từng trải qua sàng lọc di truyền và chẩn đoán. Cô có bất kỳ thắc mắc nào nữa không?”
“Không, giờ tôi không nghĩ được gì cả.”
“Tôi rất tiếc vì đã không cung cấp cho cô kết quả như mong muốn.”
“Tôi cũng vậy.”
Cả hai đều im lặng. Họ vào trong xe, John trả phí giữ xe, và họ theo lộ trình rời Storrow Drive trong im lặng. Trong hai tuần liên tiếp, nhiệt độ hạ xuống âm với những đợt rét. Những người chạy bộ buộc phải ở trong nhà, hoặc là chạy bộ trên máy tập hoặc đơn giản chỉ cần đợi cho thời tiết ấm lên. Alice rất ghét máy tập chạy bộ. Cô ngồi ở ghế khách và chờ đợi John sẽ nói gì đó. Nhưng anh không làm thế. Anh đã khóc suốt quãng đường về nhà.
- 7 -
tháng ba, năm 2004
Alice mở nắp ngăn để thuốc dành cho thứ Hai trong chiếc hộp thuốc nhựa chia thuốc cho bảy ngày của cô, rồi dốc bảy viên thuốc nhỏ bé vào bàn tay đang khum lại. John đi vào bếp để tìm gì đó, nhưng vừa thấy thuốc trên tay cô thì anh lập tức xoay người rời đi như thể anh lỡ vào phòng mẹ khi bà đang thay quần áo. Anh không muốn nhìn thấy cô uống thuốc. Hoặc có thể anh sợ nếu nói chuyện thì cô có thể bị phân tâm và lẫn lộn thuốc ở các ngăn, nên anh rời phòng. Mọi chuyện cứ thế kết thúc trong im lặng.
Alice nuốt liều thuốc với ba ngụm trà nóng hổi đến cháy họng. Cảm giác thật sự không dễ chịu với cô chút nào. Cô ngồi vào bàn bếp, thổi nguội trà rồi nghe tiếng chân đi thình thịch của John phát ra từ phòng ngủ trên lầu.
Cô hỏi vọng lên: “Anh đang tìm gì vậy?”
“Không có gì” – Anh trả lời thật to.
Có lẽ John đang tìm cặp kính. Từ cái tháng họ đến gặp chuyên gia tư vấn di truyền, anh đã thôi nhờ vợ mình tìm giúp kính mắt và chìa khóa xe, mặc dù cô biết rằng anh vẫn đang vật lộn với việc tìm kiếm chúng.
Anh vội vàng đi vào bếp, với vẻ hấp tấp.
“Em giúp được không?” – Cô hỏi.
“Không, anh ổn mà.”
Alice tự hỏi không biết cái tính tự lập cứng đầu này từ đâu ra. Liệu có phải John đang cố san sẻ bớt gánh nặng tinh thần với cô vì trước đây cô luôn phải để mắt đến những thứ anh thường để lạc? Liệu có phải anh đang chuẩn bị cho một tương lai sống thiếu cô? Hay liệu anh cảm thấy ngượng vì nhờ một bệnh nhân Alzheimer giúp? Cô nhấp một ngụm trà rồi nhìn đăm đăm vào bức tranh vẽ một quả táo và một quả lê đã treo trên tường ít nhất một thập kỉ và lắng nghe tiếng John lục lọi trong đống thư từ và giấy tờ trên cái quầy bếp sau lưng cô.
Cô nghe tiếng chiếc tủ ngoài hành lang trước mở ra, rồi tiếng đóng lại. Cô nghe tiếng các ngăn kéo được kéo ra rồi đẩy vào.
“Em chuẩn bị chưa?” – Anh gọi cô.
Cô uống vội tách trà của mình và ra hành lang với anh. John đã khoác áo, kính cài trên mái đầu tổ quạ và chìa khóa đã cầm trên tay.
“Rồi anh” – Alice trả lời và theo anh ra ngoài.
Mùa xuân ở Cambridge bắt đầu rồi, nhưng sẽ chẳng ai công nhận điều đó và có khi còn ngờ vực, ngỡ rằng thời gian đang đánh lừa mình. Không một chồi non trên cành, không một bông uất kim hương nào đủ dũng cảm hay ngu ngốc trồi lên khỏi lớp tuyết đã đóng lại cả tháng nay và lũ ếch cây tí hon cũng chưa hòa ca. Đường phố vẫn còn chật hẹp vì bị những khối tuyết nhớp bẩn chèn hai bên. Chút tuyết nào tan ra trong hơi ấm giữa ngày đều đông lại khi nhiệt độ tụt xuống đột ngột lúc xế chiều khiến cho đường đi trong khuôn viên trường Harvard và hè phố biến thành những dải băng đen sì trơn tuột. Ngày tháng ghi trên lịch chỉ khiến mọi người cảm thấy bị lừa phỉnh, cợt nhạo, và nghĩ đến mùa xuân đã bắt đầu ở một nơi nào khác, nơi mà người ta mặc áo thun ngắn tay, thức dậy trong tiếng chim oanh lảnh lót. Còn ở đây, cái lạnh khủng khiếp vẫn không thuyên giảm và tiếng chim duy nhất Alice nghe thấy lúc họ đi vào khuôn viên trường là tiếng quạ.
John đã đồng ý cùng cô đi dạo trong Harvard mỗi sáng. Cô nói với anh rằng cô không muốn liều đi một mình để rồi bị lạc. Thật ra cô chỉ muốn dành khoảng thời gian quý giá này cùng anh, để bắt đầu lại thói quen trước đây họ thường làm vào mỗi sáng. Nhưng tệ thật, sau khi cân nhắc về việc bị thương do trượt ngã trên tuyết hay là bị xe tông cái nào nguy hiểm hơn, cuối cùng một người đi trước, một người đi sau, họ chẳng thể trò chuyện với nhau.
Hòn sỏi văng lên, lọt vào ủng của cô. Cô băn khoăn không biết nên dừng trên đường để lấy nó ra, hay đợi đến khi họ vào quán Jerri’s. Để lấy hòn sỏi ra, cô phải đứng thăng bằng trên đường bằng một chân còn chân kia thì phơi ra ngoài không khí lạnh thấu xương. Cô quyết định chịu đựng sự khó chịu này, đi qua thêm hai dãy nhà nữa.
Nằm trên Đại lộ Massachusetts, giữa đoạn đường đi từ quảng trường Porter đến quảng trường Harvard, từ lâu quán Jerri’s đã trở thành một địa điểm quen thuộc ở Cambridge dành cho những người nghiện cà phê lâu năm, trước cả khi Starbucks có mặt. Thực đơn gồm café, trà, bánh ngọt và bánh mì kẹp được viết hoa bằng phấn trên chiếc bảng đặt ở phía sau quầy. Cái bảng ấy vẫn không thay đổi gì từ những ngày Alice còn học cao học. Chỉ có giá tiền ghi bên cạnh mỗi món cho thấy những dấu hiệu được quan tâm gần đây. Chúng được vẽ viền bằng bụi phấn trên giẻ xóa bảng và được viết bởi một ai khác chứ không phải tác giả của những chữ viết bên trái chúng. Alice mơ hồ quan sát tấm bảng.
“Chào buổi sáng, Jess, cho tôi một café và một bánh quế nướng” – John gọi món.
“Tôi cũng vậy” – Alice nói.
“Em đâu có thích café” – John nói tiếp.
“Có, em thích.”
“Không, không đâu. Cô ấy sẽ dùng trà với chanh.”
“Tôi muốn một café với bánh nướng.”
Jess chờ xem liệu John có tiếp tục tranh cãi với Alice, nhưng rồi anh im lặng.
“Rồi, hai café và hai bánh nướng” – Jess chốt lại.
Ra khỏi quán, Alice nhấp một ngụm. Ly café của cô đắng ngắt đến khó chịu và vị của nó chẳng giống gì với mùi thơm hấp dẫn mà nó thể hiện.
“Café của em ngon không?” – John hỏi cô.
“Ngon tuyệt.”
Trong khi họ đi vào khuôn viên, Alice thưởng thức món café mà cô chẳng ưa thích gì để trêu tức John. Cô không thể đợi đến lúc được ở một mình trong văn phòng của mình, nơi mà cô có thể vứt phần còn lại của thức uống kinh khủng cô đã gọi. Hơn nữa, cô muốn lấy viên sỏi chết tiệt khỏi ủng.
SAU KHI CỞI ỦNG RA, vứt café vào thùng rác, việc đầu tiên Alice làm là kiểm tra hộp thư của cô. Cô mở một bức thư điện tử từ Anna.
Chào Mẹ,
Tụi con muốn tham dự bữa tối gia đình, nhưng tuần này hơi khó vì vụ xét xử của Charlie. Tuần sau thì sao Mẹ? Ngày nào tiện cho Bố và Mẹ? Tối nào tụi con cũng rảnh trừ thứ Năm và thứ Sáu.
Anna
Cô nhìn xuống con trỏ chuột đang nhấp nháy một cách khó chịu trên màn hình máy vi tính và cố nghĩ ra những từ cô muốn dùng để trả lời. Việc truyền đạt ý nghĩ của cô thành lời nói, chữ viết hay đánh máy đòi hỏi một nỗ lực đáng kể và những lời động viên nhẹ nhàng. Rồi cô gom chút tự tin về những từ ngữ mà lâu nay nhờ có chúng, cô nhận được những ngôi sao vàng và khen thưởng dành cho giáo viên.
Điện thoại đổ chuông.
“Chào mẹ.”
“Ôi hay quá, mẹ đang định trả lời email của con.”
“Con đâu có gửi email cho mẹ.”
Cảm thấy không chắc chắn, Alice đọc lại bức thư trên màn hình.
“Mẹ vừa đọc này. Charlie phải ra tòa tuần này...”
“Mẹ ơi, con là Lydia này.”
“Ôi, con làm gì mà dậy sớm vậy?”
“Bây giờ ngày nào con cũng dậy sớm. Con muốn gọi cho bố mẹ từ tối qua, nhưng mà lúc đó trễ quá rồi. Con vừa nhận được một vai cực hay trong một vở kịch tên là Ký ức của nước, do một đạo diễn xuất chúng chỉ đạo và vở kịch sẽ được diễn sáu lần trong tháng năm. Con nghĩ là sẽ hay lắm, và nhờ đạo diễn này, sẽ có nhiều người chú ý đến. Con đang hi vọng bố mẹ có thể đến xem.”
Alice nhận ra đoạn lên giọng rồi một khoảng lặng sau đó nghĩa là đến lượt cô nói, và cô phải tiếp tục chủ đề Lydia đang nói đến. Alice thường lúng túng khi nói chuyện qua điện thoại vì cô không thấy được biểu hiện của người đối diện. Từ ngữ đôi khi lẫn lộn vào nhau, chủ đề nói chuyện thay đổi đột ngột cũng làm cô khó tương tác và không thể theo kịp cuộc nói chuyện, rồi cô không hiểu được cuộc nói chuyện nữa. Mặc dù viết ra cũng có những vấn đề riêng, nhưng cô có thể giấu những vấn đề ấy đi bởi cô không phải trả lời ngay tức khắc.
“Nếu mẹ không muốn, mẹ không phải trả lời đâu” – Lydia nói tiếp.
“Không, mẹ muốn chứ, nhưng…”
“Hoặc là mẹ bận quá hay có bất cứ lý do gì đi nữa. Con biết là con nên gọi cho bố thì hơn.”
“Lydia,...”
“Không sao đâu, con cúp máy đây.”
Cô gác máy. Alice đã định nói là cô cần phải bàn với John rằng nếu anh có thể xin nghỉ ở phòng thí nghiệm thì cô sẽ đến xem ngay. Còn nếu John không đi được, cô không thể đi máy bay qua đầu bên kia đất nước một mình, và cô phải viện một lý do nào đó. Vì cô lo rằng khi ở xa nhà, cô sẽ đi lạc hay hoảng loạn, lâu nay cô vẫn tránh đi xa. Cô từ chối lời đề nghị phát biểu ở Đại học Duke tháng tới và cũng vứt luôn tài liệu đăng kí cuộc Hội thảo Ngôn ngữ học mà thời cao học cô vẫn hay tham dự. Cô muốn xem vở diễn của Lydia, nhưng lần này, việc cô có đến được hay không còn phụ thuộc vào việc John rảnh hay bận.
Cô cầm lấy điện thoại, định gọi lại cho Lydia. Nhưng cô lại đặt điện thoại xuống, suy nghĩ kỹ hơn. Cô tắt thư trả lời đang định viết cho Anna và soạn một thư khác cho Lydia. Cô nhìn chăm chăm vào con trỏ chuột, ngón tay cô tê liệt trên bàn phím. Não cô ngày hôm nay như hết pin vậy.
“Thôi nào” – cô tự hối thúc bản thân, ước gì cô có thể cắm vài sợi cáp điện vào đầu và sạc đầy năng lượng lại.
Cô không có thời gian dành cho bệnh Alzheimer vào hôm nay. Cô có những thư điện tử phải trả lời, một đề xuất khổng lồ phải soạn, một lớp học và một cuộc hội nghị chuyên đề phải tham dự. Và cuối ngày, một buổi chạy bộ nữa. Có thể chạy bộ sẽ giúp cô tỉnh táo hơn một chút.
ALICE NHÉT MỘT MẢNH GIẤY ghi tên, địa chỉ và số điện thoại của cô vào tất. Dĩ nhiên, nếu cô đãng trí quá đến mức không nhớ đường về thì có khi cô cũng không nhớ nổi rằng cô mang theo một mảnh giấy hữu ích đến vậy trên người. Nhưng dẫu sau cô cũng cần một giải pháp dự phòng.
Chạy bộ ngày càng mất hiệu quả trong việc giúp cô minh mẫn hơn. Thực tế là những ngày này cô cảm thấy giống như cô đang rượt theo những câu trả lời trôi trong một dòng chảy vô tận của những câu hỏi. Và mặc cho cô cố gắng đến mấy, cô cũng không thể nào bắt kịp.
Tôi phải làm gì đây? Cô uống thuốc, ngủ sáu đến bảy tiếng một ngày và bám vào cuộc sống thường ngày ở Harvard.
Cô cảm thấy như một kẻ lừa đảo trong cái lốt một giảng viên Đại học Harvard, không có bệnh thoái hóa thần kinh nào đang tiến triển, làm việc hàng ngày như thể mọi thứ vẫn ổn và sẽ tiếp tục như thế.
Tiêu chuẩn cho hiệu quả công việc hay trách nhiệm trong cuộc sống hàng ngày của một giảng viên cũng không có gì nhiều. Cô không phải dè chừng chi tiêu, không phải đặt ra hạn ngạch mua sắm cho mình, không phải viết báo cáo để nộp. Cô vẫn có thể sai phạm, nhưng đến chừng nào? Sau cùng hành động của cô cũng sẽ đi đến một mức độ khiến cô bị chú ý và không được chấp nhận nữa. Cô muốn rời Harvard trước đó, trước khi những lời đàm tiếu diễn ra, nhưng cô không biết khi nào cô nên rời đi.
Và mặc dù cái ý nghĩ ở lại quá lâu làm cô thấy sợ, ý nghĩ rời Harvard còn khiến cô sợ hơn rất, rất nhiều. Cô sẽ là ai, nếu không phải là một giáo sư Tâm lý học ở Harvard?
Liệu cô nên dành thời gian ở bên John càng nhiều càng tốt? Làm vậy có thực sự có ý nghĩa không? Ngồi cạnh Anna khi cô gõ những bản báo cáo, theo dõi Tom trong từng vòng thi của anh, quan sát Lydia trong lớp diễn xuất? Làm sao cô có thể bảo các con rằng chúng có năm mươi phần trăm khả năng mắc phải bệnh này? Và sẽ ra sao nếu chúng trách cô và ghét cô như cô đã trách và ghét bố mình?
John còn quá trẻ để về hưu. Anh thật sự có thể bỏ ra bao nhiêu thời gian mà không hủy hoại sự nghiệp của mình? Thời gian cô có là bao nhiêu? Hai năm? Hai mươi năm?
Mặc dù bệnh Alzheimer đối với những trường hợp khởi phát sớm có xu hướng tiến triển nhanh hơn những người khởi phát trễ, những người bệnh khởi phát sớm thường phải sống với căn bệnh nhiều năm hơn. Căn bệnh thần kinh này trú ngụ trong những cơ thể tương đối trẻ và khỏe mạnh. Cô có thể duy trì mọi thứ, nhưng cũng phải chịu đựng một kết cục tàn nhẫn. Cô sẽ không thể tự ăn, không thể nói, không thể nhận ra John và các con cô. Cô sẽ co quắp, sẽ quên cách nuốt thức ăn và sẽ phải chịu bệnh viêm phổi. Rồi John, Anna, Tom và Lydia sẽ thống nhất rằng không chữa bệnh bằng một liều kháng sinh bình thường nữa, họ sẽ rối bời trong cảm giác tội lỗi hơn là biết ơn vì thứ gì đó sau cùng cũng đến và hủy hoại thân thể cô.
Cô ngừng chạy, nôn hết phần lasagna cô đã ăn trong bữa trưa. Phải hơn vài tuần nữa tuyết mới tan nổi để rửa trôi nó đi.
CÔ BIẾT CHÍNH XÁC NƠI CÔ ĐANG ĐỨNG, CÔ đang trên đường về nhà, trước Nhà thờ Hội Thánh Giám Lý, chỉ cách nhà cô vài dãy nhà. Cô biết chính xác cô ở đâu, nhưng chưa bao giờ cô có cảm giác lạc lối như vậy. Dàn chuông nhà thờ bắt đầu ngân lên một giai điệu khiến cô nhớ lại chiếc đồng hồ của ông bà cô. Cô xoay cái nắm tròn bằng sắt trên cánh cửa màu đỏ cà chua rồi tiến vào theo cái cảm giác đang thôi thúc mình từ bên trong.
Cô cảm thấy nhẹ nhõm vì không có ai ở trong, bởi cô chưa kịp nghĩ ra một câu chuyện hợp lý nào để giải thích tại sao cô lại có mặt ở đây. Mẹ cô là người Do Thái, nhưng bố cô luôn quyết tâm dưỡng dục cô và Anne theo Công Giáo. Thế là cô đi lễ mỗi chủ nhật, nhận thánh thể, đi xưng tội và được thêm sức, nhưng vì mẹ cô không bao giờ tham gia vào bất cứ hoạt động nào, nên Alice bắt đầu phân vân về sự thật của những niềm tin này từ lúc bé. Và vì không nhận được một câu trả lời nào thỏa mãn từ bố hay từ phía nhà thờ, cô chưa bao giờ có một niềm tin thật sự.
Ánh sáng từ đèn đường len lỏi qua các ô kính màu, rọi vào trong đủ sáng để cô thấy được toàn cảnh nhà thờ. Trên mỗi ô cửa, Đức Jesus, khoác áo choàng màu đỏ và trắng, được khắc họa như một người mục đồng hay một thầy thuốc đang thực hiện một phép màu chữa bệnh. Biểu ngữ bên phải cung thánh khắc dòng chữ ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ NƠI NƯƠNG NÁU VÀ SỨC LỰC CỦA CHÚNG TÔI, NGÀI SẴN GIÚP ĐỠ TRONG CƠN GIAN TRUÂN.
Cô đang vướng phải khó khăn trầm trọng và muốn được giúp đỡ hết mức. Nhưng cô cảm thấy mình như một kẻ tội đồ, không xứng đáng, không thành kính. Cô là ai mà có thể cầu xin giúp đỡ từ Đức Chúa mà cô không chắc đã tin tưởng, ở trong nhà thờ mà cô chẳng biết gì về nó?
Alice nhắm mắt lại, lắng nghe sự bình lặng, tiếng xe cộ dập dìu như tiếng sóng biển và cô cố mở lòng. Cô không biết cô đã ngồi trên băng ghế bọc đệm nhung trong nhà thờ lạnh lẽo tối tăm, mong đợi một câu trả lời trong bao lâu. Chẳng có câu trả lời nào cả. Cô đợi lâu hơn, hy vọng một tu sĩ hay một giáo dân sẽ ghé qua và hỏi tại sao cô ở đây. Giờ cô đã có một lý do. Nhưng chẳng ai đến cả.
Cô nghĩ đến những tấm danh thiếp cô nhận được từ bác sĩ Davis và Stephanie Aaron. Có lẽ cô nên nói chuyện với một nhà hoạt động xã hội hay một bác sĩ trị liệu. Có khi họ giúp được cô. Rồi chợt một tia sáng lóe lên trong đầu cô, câu trả lời đến với cô.
Nói chuyện với John.
CÔ CẢM THẤY MÌNH BẤT LỰC trước đợt công kích cô lãnh phải khi vừa bước vào nhà.
“Em vừa đi đâu vậy?” – John hỏi cô.
“Em chạy bộ.”
“Em chạy bộ nãy giờ sao?”
“Em cũng ghé vào nhà thờ.”
“Nhà thờ? Anh không tin được. Ali. Xem này, em không uống café, em cũng không đi nhà thờ đâu.”
Cô ngửi thấy mùi rượu trong hơi thở của John.
“Vâng, nhưng hôm nay thì có.”
“Chúng ta đã định đi ăn tối với Bob và Sarah. Anh phải gọi họ và hủy cuộc hẹn, em không nhớ sao?”
Ăn tối với bạn của họ, Bob và Sarah, không có trong lịch của cô.
“Em quên, em mắc bệnh Alzheimer.”
“Anh hoàn toàn không biết được em ở đâu nếu em lạc. Em phải bắt đầu mang theo điện thoại di động mọi lúc đi.”
“Em không thể mang theo lúc em chạy, quần áo em đâu có túi.”
“Anh không cần biết em làm thế nào, kể cả dán lên đầu, anh sẽ không chịu nổi mỗi lần em quên cuộc hẹn.”
Cô theo John vào phòng khách. Anh ngồi phịch xuống ghế sofa, cầm ly rượu trên tay và không ngước lên nhìn cô. Mồ hôi trên trán anh lấm tấm y như những giọt nước đọng quanh ly rượu scotch của anh. Cô chần chừ, rồi ngồi vào lòng anh, vòng tay qua vai anh ôm anh thật chặt, bàn tay cô nắm lấy khuỷu tay kia, cô tựa đầu vào anh rồi cô tâm sự.
“Em xin lỗi vì em quên cuộc hẹn và vì em đã mắc căn bệnh này. Em không thể chịu được cái suy nghĩ là bệnh sẽ nặng thêm bao nhiêu nữa. Em không thể chịu được ý nghĩ phải nhìn anh mỗi ngày, nhìn gương mặt người em yêu thương mà không biết anh là ai.”
Bàn tay cô vuốt theo cạnh gương mặt anh rồi xuống cằm, rồi xuống nếp nhăn bên khóe miệng chẳng mấy khi hiện lên vì đau đớn. Cô lau mồ hôi trên trán anh và nước mắt của anh.
“Chỉ nghĩ đến căn bệnh thôi cũng đủ làm em nghẹn thở. Nhưng ta phải nghĩ đến nó. Em không biết em còn nhớ ra anh được bao lâu nữa. Chúng ta cần bàn về chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.”
Anh uống một hơi đến hết ly rượu, nuốt xuống từng ngụm đến cạn hết và ráng mút lấy chút rượu còn đọng ở mấy viên nước đá. Anh nhìn cô bằng ánh mắt buồn rười rượi xen lẫn nỗi sợ hãi. Cô chưa bao giờ thấy ánh mắt anh như thế.
“Anh không biết mình làm được không.”
- 8 -
tháng tư, năm 2004
Dù có thông minh đến thế nào, họ cũng không thể cùng dựng nên một kế hoạch rõ ràng lâu dài được. Có quá nhiều điều chưa biết để tìm ra ẩn số cho bài toán của họ, ẩn số quan trọng nhất: căn bệnh sẽ tiến triển nhanh cỡ nào?
Sáu năm trước, họ đã dành ra một năm cùng nhau tập trung nghiên cứu để viết cuốn Từ Phân tử đến Tư duy, và rồi mỗi năm sau đó họ càng ngày càng không thể có được một lần như vậy nữa. Liệu cô có thể chịu được lâu như vậy không? Đến lúc này, họ đã quyết định rằng cô sẽ giải quyết xong học kỳ này, tránh phải đi xa mọi lúc có thể và họ sẽ dành cả mùa hè ở Cape. Họ chỉ có thể nghĩ được đến đấy.
Và họ đồng ý là sẽ chưa nói với ai hết, trừ các con họ. Rồi ngay sáng hôm sau, bí mật đằng sau cuộc nói chuyện làm hai vợ chồng đau khổ nhất cũng đã phơi bày cùng với bánh mỳ vòng, trái cây trộn, trứng tráng kiểu Mễ, cocktail mimosa, chocolate trứng.
Cả gia đình đã không ở bên nhau trong lễ Phục Sinh nhiều năm rồi. Anna đôi khi dành ra cuối tuần để bên cạnh gia đình Charlie ở Pennsylvania, Lydia thì ở Los Angeles mấy năm gần đây, trước đó con bé còn lang thang đâu đó bên Châu Âu, còn John thường đến dự hội thảo ở Boulder. Phải bỏ ra không ít công sức mới thuyết phục được Lydia về nhà năm nay. Vì đang trong đợt diễn tập cho vở kịch, Lydia đã báo rằng con bé không thể trả nổi tiền phạt bỏ giữa chừng hay trả tiền vé máy bay nhưng John đã thuyết phục con bé rằng nó hãy nghỉ hai ngày và John sẽ trả tiền vé.
Anna từ chối món cocktail mimosa và Bloody Mary, thay vào đó, con bé chén sạch caramel trứng như ăn bắp rang với một ly nước đá. Nhưng trước khi ai đó có thể mảy may nghi ngờ gì về chuyện con bé mang thai, Anna tuyên bố chi tiết về quá trình thụ tinh nhân tạo mà con bé đang thử.
“Bọn con đến gặp một chuyên gia thụ tinh nhân tạo ở Brigham nhưng ông ấy không giải quyết được. Trứng của con khỏe mạnh, trứng vẫn rụng hàng tháng, và tinh trùng của Charlie cũng khỏe mạnh.”
“Anna, anh không nghĩ mọi người muốn nghe về tinh trùng đâu” – Charlie nói tiếp vào.
“Vâng, là thật, thật là khó chịu. Con đã thử cả châm cứu, và vẫn không có kết quả gì. Chỉ có chữa được chứng đau nửa đầu của con. Vậy là ít ra bọn con cũng biết được con sẽ có thể mang thai. Con bắt đầu tiêm hormone kích thích nang trứng vào thứ ba, và tuần tới con sẽ tiêm tiếp một thứ sẽ giải phóng trứng và rồi trứng sẽ được thụ tinh bằng tinh trùng của Charlie.”
“Anna à” – Charlie lại nhắc Anna.
“Vâng, chúng sẽ thụ tinh và hy vọng là con sẽ mang thai tuần tới.”
Alice gượng cười an ủi, nén lại những lo sợ đằng sau hàm răng đang cắn chặt của cô. Các triệu chứng của bệnh Alzheimer không bộc lộ cho tới khi người phụ nữ hết độ tuổi sinh sản, cho tới khi gien bị đột biến truyền đến thế hệ thứ hai. Sẽ như thế nào nếu Anna biết được mình mang gien này, mang số phận này, trong mỗi tế bào trên cơ thể mình? Liệu con bé sẽ mang thai hay cân nhắc lại để tránh căn bệnh? Liệu nó có liều mình chơi trò may rủi, đặt hi vọng vào quá trình phân bào giảm nhiễm? Đôi mắt màu hổ phách của cô, mũi khoằm của John và gien presenilin-1 của cô. Dĩ nhiên, giờ đây, cô không thể nào tưởng tượng ra được cuộc sống của cô mà không có các con. Nhưng trước khi cô có con, trước khi trải qua thứ tình cảm vô hình mộc mạc đã gắn kết họ, liệu cô có thể quyết định rằng sẽ tốt hơn nếu mọi người không sinh con? Liệu Anna có quyết định được không?
Tom bước vào, anh nói xin lỗi vì đến trễ và không dẫn bạn gái về được. Nhưng vậy cũng ổn, vì ngày hôm nay chỉ nên có mặt các thành viên trong gia đình. Mà Alice cũng không nhớ được tên cô bạn gái của Tom. Anh lượn vòng quanh phòng ăn, có vẻ hơi lo vì anh đã lỡ bữa ăn, rồi quay lại phòng khách với một nụ cười rạng rỡ và một đĩa chất đầy thức ăn, mỗi món một ít. Anh ngồi vào ghế sofa với Lydia. Cô đang cầm kịch bản, mắt nhắm nghiền, lẩm nhẩm các câu thoại của mình. Mọi người đã đến đủ. Đến lúc rồi.
“Bố và mẹ có một vài chuyện quan trọng phải nói với các con, và bố mẹ muốn cả ba đứa con về đủ.”
Cô nhìn qua John. Anh gật đầu rồi nắm chặt tay cô hơn.
“Mẹ đang phải trải qua một số khó khăn về trí nhớ dạo gần đây, và trong tháng Một, mẹ được chẩn đoán mắc phải bệnh Alzheimer khởi phát sớm.”
Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ đặt trên lò sưởi tưởng như vang to hơn như thể có ai mở to tiếng nó lên trong một căn nhà trống vậy. Tom như hóa đá trong khi nĩa của anh còn ghim đầy trứng tráng chưa kịp đưa vào miệng. Alice lẽ ra nên đợi đến khi anh ăn xong bữa.
“Mẹ có chắc là bệnh Alzheimer không? Mẹ đã thử gặp bác sĩ chưa?” – Tom hỏi cô.
“Mẹ con đã xét nghiệm gien. Mẹ con bị một đột biến ở gien presenilin-1” – John nói thay Alice.
“Nó có ảnh hưởng đến toàn bộ nhiễm sắc thể không?” – Tom hỏi.
“Có, con à.”
John trao đổi thêm vài điều với Tom, nhưng chỉ qua ánh mắt.
“Vậy là sao? Bố, bố vừa nói gì với em ấy vậy?” – Anna hỏi bố.
“Tức là chúng ta có năm mươi phần trăm khả năng mắc phải Alzheimer” – Tom nói.
“Còn đứa bé trong bụng con thì sao?”
“Chị còn chưa có con mà” – Lydia nói.
“Anna, nếu con có gien đột biến, con của con cũng sẽ có. Mỗi đứa con của con có năm mươi phần trăm khả năng kế thừa gien đó” – Alice giải thích.
“Vậy bọn con phải làm sao? Bọn con có phải đi kiểm tra không?” – Anna hỏi mẹ.
“Con có thể kiểm tra” – Alice nói.
“Ôi Chúa ơi, nếu con mang gien đó thì sao? Và rồi con của con cũng sẽ có.” – Anna nói.
“Đến thời con cháu chúng ta thì người ta cũng sẽ tìm ra cách chữa trị rồi” – Tom trấn an chị.
“Nhưng với chúng ta thì không, phải vậy không? Con cháu chúng ta sẽ khỏe, nhưng chúng ta thì sẽ trở thành những xác sống vô hồn.”
“Đủ rồi, Anna!” – John ngắt lời Anna.
Hàm anh nghiến chặt, mặt anh nóng ran. Giả như mười năm trước thì anh đã cấm túc Anna trong phòng. Thay vào đó, anh nắm lấy tay Alice thật chặt và lấy chân hất nhẹ vào chân Anna. Anh dường như bất lực trước tình huống này.
“Con xin lỗi” – Anna nói.
“Có thể khi con đến tuổi bố mẹ sẽ có một phương pháp trị liệu có thể ngăn được căn bệnh. Đây cũng là một trong những lý do để con kiểm tra thử con có mang gien đột biến không. Nếu có, con có thể chuẩn bị chữa trị trước khi các triệu chứng bộc phát, mẹ hy vọng là con không bị” – Alice nói.
“Mẹ, vậy họ đang áp dụng phương pháp nào cho mẹ?” – Lydia hỏi cô.
“Họ cho mẹ các loại vitamin chống lão hóa, thuốc aspirin, statin và hai loại thuốc truyền dẫn thần kinh.”
“Mấy thứ thuốc đó có ngăn bệnh Alzheimer trở nên nguy hiểm hơn không?” – Lydia hỏi tiếp.
“Có thể được một thời gian, họ cũng không bảo đảm được.”
“Vậy còn kết quả của những cuộc khám nghiệm lâm sàng?” – Tom hỏi.
“Bố đang nghiên cứu chúng đây” – John trả lời con.
John bắt đầu nói về những nhà nghiên cứu và các nhà khoa học ở Boston. Họ đang nghiên cứu nguyên nhân của bệnh Alzheimer ở cấp độ phân tử, đưa quan điểm của họ về những liệu pháp tương đối hứa hẹn. John là một nhà sinh vật học về tế bào ung thư, không phải một nhà khoa học thần kinh, nhưng cũng không quá khác biệt về chuyên môn nên anh hiểu được quá trình những tế bào bệnh tật lây lan điên cuồng trong một hệ thống. Cả hai ngành đều có chung những thuật ngữ – thụ thể ràng buộc, phốt-pho hóa, quy luật phiên mã, các lõm mặc áo protein clathrin, enzyme secretase. Tốt nghiệp Harvard giống như John được cấp thẻ thành viên của một câu lạc bộ xa hoa nhất, anh có được sự tín nhiệm để có thể tiếp cận hầu hết những bộ óc hàng đầu trong cộng đồng nghiên cứu Alzheimer ở Boston. Nếu một phương pháp tốt hơn tồn tại hoặc xuất hiện, John sẽ tìm ra cho Alice.
“Mà mẹ trông vẫn hoàn toàn khỏe mạnh mà. Với mẹ thật sự bệnh này là quá sớm, con thậm chí còn không thấy có dấu hiệu bệnh tật gì” – Tom nói.
“Em biết” – Lydia nói tiếp. – “Không phải vì mẹ mắc Alzheimer mà vì có gì đó không ổn.”
“Như thế nào?” – Anna hỏi.
“Như đôi khi mẹ nói những câu vô nghĩa trên điện thoại, mẹ nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Hay mẹ quên mất những gì em vừa nói cách đó năm phút. Và mẹ không nhớ cách làm bánh pudding Giáng Sinh như thế nào.”
“Con để ý bao lâu rồi?” – John hỏi.
“Ít nhất một năm rồi.”
Alice không thể nhớ chuyện xảy ra xa đến vậy, nhưng cô tin con mình. Cô cảm nhận được John cảm thấy hổ thẹn.
“Con cần biết liệu con có mắc phải bệnh này hay không. Con muốn kiểm tra. Mọi người muốn kiểm tra không?” – Anna hỏi.
“Cho dù con mắc bệnh thì biết vẫn đỡ lo hơn là không.” – Tom nói.
Lydia nhắm nghiền mắt lại. Mọi người đang chờ đợi. Alice chợt nghĩ đến một ý tưởng ngớ ngẩn rằng Lydia đang nhớ lại lời thoại của mình hoặc đang ngủ gục. Sau một hồi im lặng căng thẳng, con bé mở mắt và trả lời.
“Con không muốn biết.”
Lydia luôn làm mọi thứ theo cách riêng của con bé.
Ở WILLIAM JAMES HALL HÔM ĐÓ YÊN LẶNG ĐẾN KÌ LẠ. Tiếng ồn râm ran của sinh viên ở các hành lang, tiếng hỏi han nhau, tranh cãi, đùa giỡn, than thở, khoe khoang, gạ gẫm, tất cả đều biến mất. Kỳ đọc sách mùa xuân thường đột ngột dồn hết sinh viên trong khuôn viên trường vào các phòng kí túc xá hay thư viện, nhưng còn một tuần nữa mới đến lúc ấy. Nhiều sinh viên Tâm lý học nhận thức đã lên kế hoạch dành trọn một ngày quan sát các thí nghiệm đồ hình cộng hưởng từ trường ở Charlestown. Có lẽ là hôm nay.
Cho dù lý do là gì, Alice cảm thấy thích thú với cơ hội hoàn thành núi công việc mà không bị gián đoạn. Cô đã quyết định không ghé qua quán Jerri’s mua một cốc trà trên đường đến văn phòng và giờ cô tiếc rằng giá như mình đã mua một cốc. Cô có thể uống thức uống chứa caffeine. Cô đọc qua các bài viết trong cuốn tạp chí Ngôn ngữ học mới, cô gom bài kiểm tra cuối kỳ của môn Động lực và cảm xúc của năm nay. Cô trả lời hết tất cả các thư điện tử gần đây cô đã bỏ qua. Cô sẽ làm được tất cả nếu không có điện thoại reo hay ai gõ cửa.
Cô đã về nhà trước khi cô nhận ra rằng cô quên ghé quán Jerri’s. Cô vẫn muốn uống trà. Cô xuống bếp, đặt ấm nước lên bếp. Đồng hồ trên lò vi sóng hiện lên 4:22 sáng.
Cô nhìn ra cửa sổ. Cô nhìn thấy ngoài trời đen kịt và bóng cô trên kính. Cô đang mặc đồ ngủ của mình.
Chào Mẹ,
Thụ tinh nhân tạo không thành công. Con chưa mang thai được. Nhưng mà con không buồn như con tưởng (còn Charlie có vẻ thở phào nhẹ nhõm). Con hi vọng kết quả xét nghiệm kia cũng âm tính. Buổi hẹn nhận kết quả vào ngày mai. Tom và con sẽ ghé qua báo bố mẹ kết quả.
Yêu mẹ nhiều,
Anna
ĐIỀU BẤT THƯỜNG từ khó xảy ra đến mức hi hữu là nếu cả hai bọn họ đều có kết quả âm tính đối với gien đột biến di truyền này thì họ đã phải đến rồi, nhưng Alice đã đợi họ cả tiếng đồng hồ. Nếu cả hai người đều âm tính, thì cuộc hẹn này sẽ nhanh thôi, một cuộc hẹn kiểu như “cả hai đứa đều khỏe mạnh”, “cảm ơn các con rất nhiều,” và gặp nhau ngay ngoài cửa. Chắc là Stephanie chạy bộ trễ hôm nay. Có khi Anna và Tom phải ngồi ở phòng đợi lâu hơn nhiều so với suy nghĩ của Alice.
Rồi cuối cùng họ cũng đến trước cửa nhà. Sự bất thường từ hi hữu đến mức dường như không thể xảy ra là nếu họ đều âm tính, họ hẳn đã reo hò hay trên mặt họ cũng biểu lộ niềm vui sướng đến muốn nhảy cẫng lên như thế nào. Nhưng không, họ ém lại những gì họ mới biết khi bước vào phòng khách, cố gắng níu lấy cuộc sống trước khi những chuyện này diễn ra đến chừng nào có thể, trước khi họ buông để sự thật nực cười họ đang giữ bật tung ra.
Họ ngồi cạnh nhau trên ghế sofa, Tom bên trái và Anna bên phải, giống như lúc nhỏ họ hay ngồi trên ghế sau ôtô. Tom thuận tay trái và thích ngồi gần cửa sổ, còn Anna ngồi ở giữa cũng được. Giờ đây, họ ngồi sát nhau hơn lúc trước, rồi khi Tom nắm lấy tay Anna, con bé không hét toáng lên như lúc trước: “Mẹ ơi, Tommy đụng con!”
Tom nói ra trước: “Con không có gien đột biến mẹ à.”
“Nhưng con có” – Anna nói.
Sau khi Tom ra đời, Alice nhớ lại cô đã hạnh phúc vô cùng, rằng cô đã có những đứa con lý tưởng. Rồi hai mươi sáu năm trôi qua, niềm hạnh phúc biến thành một lời nguyền. Gương mặt điềm tĩnh kiên cường ở một bà mẹ của Alice sụp đổ, cô bắt đầu khóc.
“Mẹ xin lỗi con” – cô nức nở.
“Sẽ ổn thôi mẹ. Giống như mẹ nói, người ta sẽ tìm ra liệu pháp thôi” – Anna an ủi cô.
Khi Alice nghĩ về chuyện này, cô thấy thật trớ trêu làm sao. Kể ra, ít nhất Anna cũng là người mạnh mẽ nhất. Con bé chịu đựng hết nỗi buồn, mà cũng phải, chuyện này không mấy là ngạc nhiên vì Anna là đứa con giống mẹ nhất. Con bé có mái tóc giống Alice, giống màu tóc, giống tính cách của mẹ và giống cả gien presenilin-1.
“Con sẽ tiếp tục thụ tinh ống nghiệm. Con đã nói chuyện với bác sĩ, họ sẽ thực hiện chẩn đoán di truyền tiền cấy phôi trên các phôi thai. Họ sẽ kiểm tra từng tế bào trong phôi và chỉ cấy cho phôi không mang tế bào đột biến. Như vậy chúng ta sẽ đảm bảo con của con sẽ không bao giờ mắc bệnh.”
Thật là một tin tốt. Nhưng trong khi mọi người còn lắng nghe thông tin từ Anna, Alice lại cảm thấy một chút chua xót cho chính mình. Thay vì tự trách mình, cô cảm thấy ghen tị với Anna, cô không thể làm những gì như Anna làm để giữ con mình an toàn. Anna sẽ không bao giờ phải ngồi đối diện con gái của mình, đứa con đầu lòng, nhìn con bé đau đớn chịu đựng sự thật rằng một ngày nào đó nó sẽ mắc Alzheimer. Cô ước gì cô đã có thể sử dụng những tiến bộ trong sản khoa này. Nhưng rồi phôi tạo nên Anna đã không hình thành.
Theo như Stephanie Aaron, Tom sẽ khỏe mạnh, nhưng anh trông không giống vậy. Anh trông xanh xao, run rẩy và yếu ớt. Alice đã tưởng rằng kết quả âm tính đối với một trong hai người thôi cũng đủ để cô thở phào nhẹ nhõm. Nhưng họ là gia đình, gắn bó bởi ký ức về nhau, ADN và tình yêu thương. Anna là chị của Tom. Con bé dạy Tom trò thổi kẹo cao su và nút thành tiếng, và con bé luôn cho Tom kẹo trong lễ Halloween.
“Ai sẽ báo cho Lydia đây?” – Tom hỏi.
“Chị sẽ báo cho nó” – Anna trả lời.
- 9 -
tháng năm, năm 2004
Lúc đầu Alice nghĩ trong tuần sẽ đi thám thính tình hình sau khi cô nhận được chẩn đoán bệnh, nhưng cô lại không đi. Bánh quy may mắn, tử vi, bài tarot và các nhà trợ sinh đều không gợi lên chút hứng thú gì ở cô. Mặc cho căn bệnh ngày càng đến gần hơn, cô vẫn nhàn tản không màng đến tương lai của mình. Không có gì đặc biệt vào sáng hôm đó làm cho cô thấy tò mò hay có dũng khí tham quan Viện dưỡng lão Mount Auburn Manor. Nhưng hôm nay, cô đã đặt chân đến đấy.
Hành lang chẳng có gì đáng sợ. Một bức tranh màu nước vẽ cảnh biển treo trên tường, tấm thảm phương Đông đã sờn trải dưới sàn, một người phụ nữ với cặp mắt trang điểm cực đậm và mái tóc đen ngắn ngồi bên chiếc bàn xoay ra phía cửa trước. Hành lang này có thể bị nhầm lẫn với kiểu hành lang của khách sạn, nhưng chỉ khác ở mùi thuốc nhè nhẹ, không có hành lý, không có người giữ cửa và những người ra vào nơi đây không giống như ở khách sạn. Họ sống ở đây chứ không phải khách.
“Tôi có thể giúp gì cho bà?” – Người phụ nữ hỏi.
“À, vâng. Ở đây có nhận bệnh nhân Alzheimer không?”
“Có, chúng tôi có một đơn vị chuyên chăm sóc các bệnh nhân Alzheimer. Bà có muốn xem qua không?”
“Vâng.”
Cô đi theo người phụ nữ đến thang máy.
“Cô đến tìm bố hay mẹ hả?”
“Đúng vậy” – Alice trả lời.
Họ phải đợi. Thang máy ở đây cũng già nua và chậm chạp y như những người chúng thường chuyên chở.
“Dây chuyền của bà dễ thương quá” – người phụ nữ khen.
“Cảm ơn.”
Alice đặt tay lên ngực rồi miết ngón tay lên viên đá xanh đính trên đôi cánh của mặt dây chuyền hình bướm theo phong cách nghệ thuật cách tân của mẹ cô. Mẹ cô ngày xưa chỉ thường đeo nó vào lễ kỉ niệm, lễ cưới, và cũng giống mẹ, Alice để dành nó cho những dịp đặc biệt quan trọng. Nhưng trên lịch của cô không có dịp nào trọng đại, và cô thích sợi dây chuyền nên một ngày vào tháng trước, cô đã đeo thử trong khi mặc quần jeans và áo thun. Sợi dây chuyền trông rất hợp với trang phục của cô.
Vả lại, cô thích được nhắc về hình ảnh bươm bướm. Cô nhớ khi cô sáu hay bảy tuổi, cô đã ở ngoài sân khóc cho số phận của loài bướm vốn chỉ sống được vài ngày. Mẹ của cô đã dỗ dành cô và nói với cô không phải buồn cho loài bướm, vì cuộc đời chúng tuy ngắn nhưng không phải là một thảm kịch. Ngắm nhìn chúng bay dưới ánh mặt trời ấm áp giữa những đóa hoa cúc trong vườn, rồi mẹ cô bảo, con thấy đấy, chúng có một cuộc đời tươi đẹp. Alice thích nhớ về kỉ niệm ấy.
Họ rời thang máy, bước vào tầng ba và đi dọc theo hành lang dài trải thảm, đi qua hàng loạt các cánh cửa đôi rồi dừng lại. Người phụ nữ quay người về phía cánh cửa tự động khép lại sau lưng họ và giới thiệu.
“Đơn vị Chăm sóc đặc biệt cho bệnh nhân Alzheimer được khóa, tức là nếu không biết mật mã thì không thể ra vào những cánh cửa này được.”
Alice nhìn vào bàn phím số trên tường ngay cạnh cánh cửa. Các con số được sắp xếp tách rời nhau theo thứ tự ngược từ dưới lên và từ phải sang.
“Tại sao phải sắp xếp những con số như vậy?”
“À, để những người ở đây không học thuộc được mật mã.”
Dường như đây là một sự cẩn thận quá mức. Nếu mà họ nhớ nổi mật mã thì họ đâu có cần phải sống ở đây.
“Tôi không biết bà đã thấy bố mẹ mình như thế này chưa, nhưng cảnh lang thang và thức suốt đêm là những biểu hiện rất phổ biến của bệnh nhân Alzheimer. Đơn vị của chúng tôi cho phép các bệnh nhân ở đây đi dạo mọi lúc, nhưng phải đảm bảo họ an toàn và không đi lạc. Chúng tôi cũng không cho họ dùng thuốc an thần hay giữ họ trong phòng vào ban đêm. Chúng tôi cố gắng để họ duy trì sự tự do và độc lập càng nhiều càng tốt. Chúng tôi biết đây là điều quan trọng với họ và cả gia đình của họ.”
Một người phụ nữ tóc bạc trắng, thân hình nhỏ nhắn khoác lên bộ đồ ngủ tuềnh toàng bước đến đối diện Alice.
“Cô không phải con gái tôi.”
“Không, xin lỗi, tôi không phải.”
“Trả tiền lại đây!”
“Cô ấy không lấy tiền của bà, Evelyn. Tiền của bà ở trong phòng. Kiểm tra ngăn tủ trên cùng xem, tôi nghĩ bà để tiền trong đấy.”
Bà lão nhìn chằm chằm vào Alice với một vẻ nghi ngờ khinh khỉnh, nhưng sau đó bà nghe lời người chăm sóc và lê về phòng trên đôi dép vải lông trắng đã ố bẩn của bà.
“Bà ấy có một tờ tiền hai mươi đô la mà bà ấy luôn giấu đi vì sợ ai đó sẽ lấy trộm. Và dĩ nhiên là bà ấy quên mất để nó ở đâu và buộc tội mọi người đã lấy nó. Chúng tôi ráng thuyết phục bà tiêu tờ tiền đi hoặc là gửi ngân hàng, nhưng bà ấy không chịu. Đôi lúc bà ấy quên mất mình có tờ tiền, thế nên có tiền cũng như không.”
Thoát khỏi cuộc điều tra hoang tưởng của Evelyn, họ đi tiếp đến một phòng sinh hoạt chung ở cuối hành lang mà không bị ai cản đường nữa. Căn phòng đầy người già đang ăn trưa quanh những chiếc bàn tròn. Quan sát kĩ hơn một chút, Alice nhận ra căn phòng hầu như chỉ toàn những bà lão.
“Chỉ có ba ông lão thôi à?”
“Thật ra chỉ có hai trong ba mươi hai bệnh nhân ở đây là đàn ông. Ông Harold đến đây mỗi ngày để dùng bữa với vợ mình.”
Có lẽ vì phải theo luật chơi của trò con rận thuở bé nên hai ông lão mắc Alzheimer ngồi cạnh nhau ở bàn của họ, tách khỏi những bà lão. Những người đi qua đi lại làm khoảng trống giữa các bàn trong chật chội. Nhiều bà lão ngồi trên xe lăn. Hầu hết họ đều có mái tóc trắng lưa thưa và đôi mắt sâu hoắm được phóng to lên bởi cặp kính dày. Cả khi ăn, cử động của họ cũng thật chậm. Không tương tác, không nói chuyện với nhau, cả Harold và vợ ông cũng vậy. Âm thanh duy nhất ngoài tiếng phát ra từ việc ăn uống là một bà lão vừa ăn vừa hát, chiếc kim đọc đĩa của cái máy hát trong bà nhảy lên nhảy xuống tiêu đề bài hát “Dưới ánh trăng bạc”. Không có ai phàn nàn hay khen ngợi gì.
Dưới ánh trăng bạc.
“Chắc bà cũng đoán được, đây là phòng ăn và phòng sinh hoạt của chúng tôi. Các bệnh nhân dùng bữa sáng, trưa và tối ở đây mỗi ngày. Việc dự đoán các thói quen có thể rất quan trọng. Các hoạt động khác cũng diễn ra ở đây. Chúng tôi có các hoạt động như chơi bowling, ném bao đậu, đố vui, nhảy múa và làm đồ thủ công. Họ đã làm những ngôi nhà cho chim đáng yêu này vào sáng nay. Và chúng tôi cho người đọc báo cho họ mỗi ngày để họ cập nhật được sự kiện diễn ra ở hiện tại.”
Dưới ánh
“Ở đây có vô vàn cơ hội cho bệnh nhân giữ được cơ thể và tinh thần của họ bận rộn và phong phú đến chừng nào có thể.”
trăng bạc.
“Chúng tôi luôn hoan nghênh gia đình và bạn bè của họ đến, tham gia vào mọi hoạt động ở đây, và dùng bữa cùng với người họ yêu thương.”
Ngoài Harold ra, Alice không thấy người thân nào đến thăm. Không người chồng, người vợ hay con, cháu, bạn bè nào. “Chúng tôi cũng có một đội ngũ y tế được đào tạo chuyên nghiệp chăm sóc bất cứ bệnh nhân nào cần chăm sóc đặc biệt.”
Dưới ánh trăng bạc.
“Ở đây có ai dưới sáu mươi tuổi không?”
“Ồ không, người trẻ nhất cũng bảy mươi tuổi. Độ tuổi trung bình ở đây là tám mươi hai, tám mươi ba. Hiếm khi chúng tôi gặp ai trẻ hơn sáu mươi tuổi.”
Cô đang gặp một người đấy, quý cô.
Dưới ánh trăng bạc.
“Chi phí ở đây như thế nào?”
“Tôi có thể gửi cô một tập thông tin chi tiết khi ra ngoài, nhưng qua tháng Một, chi phí ở Đơn vị Chăm sóc đặc biệt cho bệnh nhân Alzheimer sẽ là tám mươi lăm đô la một ngày.”
Alice cố gắng thực hiện bài toán khó trong đầu. Khoảng một trăm nghìn đô la một năm. Nhân với năm, mười, hai mươi năm nữa.
“Bà có cần hỏi gì nữa không?”
Dưới ánh trăng
“Không, cảm ơn cô.”
Cô theo người hướng dẫn ra lại cánh cửa đôi đã khóa và xem cô ấy nhập mật mã.
0791925
Cô không thuộc về nơi này.
ĐÂY LÀ NGÀY HIẾM THẤY NHẤT Ở Cambridge, một ngày kỳ diệu mà những cư dân New England mơ về, một ngày mà mỗi năm người ta không tin nổi là có thật: nắng ấm, nhiệt độ đạt đến hai mươi mốt độ. Bầu trời xanh thẫm như sáp màu, cuối cùng cũng đến lúc không cần phải mặc áo ấm nữa. Một ngày mà mọi người không nên để phí thời giờ ngồi trong văn phòng, đặc biệt là với một người mắc bệnh Alzheimer. Cô lạc qua vài dãy nhà phía đông nam của Yard rồi đi vào quán Ben & Jerry’s. Cô hơi rùng mình vì những cô cậu sinh viên trốn học.
“Cho tôi một phần kem ốc quế ba viên kem bơ đậu.”
Ôi khốn thật, tôi đang dùng thuốc giảm mỡ máu.
Cô chiêm ngưỡng phần kem đồ sộ như giải Oscar, cô trả tiền bằng tờ bạc năm đô la rồi thả tiền thừa vào lọ tiền boa cho sinh viên, và tiếp tục đi đến sông Charles.
Nhiều năm nay cô đã đổi sang món yogurt đá, một món thay thế lành mạnh hơn và cô đã quên mất vị của món kem đặc sệt, béo ngậy và ngon lành như thế nào rồi. Cô nghĩ về những gì cô thấy ở Trung tâm dưỡng lão Mount Auburn Manor trong lúc vừa đi vừa thưởng thức món kem. Cô cần một kế hoạch hay hơn, một kế hoạch để cô không phải chơi ném bao đậu với bà Evelyn ở Đơn vị Chăm sóc đặc biệt cho bệnh nhân Alzheimer. Một kế hoạch không để John phải trút hết gia tài nuôi sống một người phụ nữ không còn nhận ra được anh, mà quan trọng hơn cả, là anh cũng không nhận ra nổi. Việc ở đây ngay lúc này với cô chẳng có nghĩa lý gì, vì gánh nặng cả về tình cảm lẫn tài chính hoàn toàn đè bẹp mọi lợi ích của việc đi dạo.
Cô đã phạm phải sai lầm, và cô đang chật vật để bù đắp lại, nhưng cô cảm thấy chắc chắn rằng, chỉ số IQ của cô đã tụt đến mức ít nhất là độ lệch chuẩn chỉ hơn được mức trung bình. Và người với chỉ số IQ trung bình thường không tự sát. Chà, một số người cũng có hành vi tự tử, nhưng không phải vì lý do liên quan đến chỉ số IQ.
Tuy trí nhớ mục ruỗng đi từng ngày, nhưng bộ não cô vẫn phục vụ cô rất hiệu quả trong vô số việc khác nhau. Ví dụ như, ngay trong lúc này, cô thưởng thức món kem mà không đổ một giọt kem nào ra ốc quế hay đổ ra tay nhờ kỹ thuật vừa ăn vừa xoay mà lúc nhỏ cô tự nghĩ ra và được lưu lại đâu đó gần vùng ký ức về cách đi xe đạp hay buộc dây giày. Cùng lúc đó, cô bước xuống lòng đường và băng qua đường, vùng não vận động và tiểu não của cô giải quyết những phương trình toán học phức tạp cần thiết để cô di chuyển sang bên kia đường mà không bị ngã hay bị xe tông phải. Cô nhận ra mùi hương ngọt ngào của hoa thủy tiên và mùi cà-ri thoảng bay ra từ nhà hàng Ấn ở góc phố. Từng chút kem tan trong miệng, cô khoan khoái trong vị ngon của chocolate và bơ đậu phộng, minh chứng cho dây thần kinh hưng cảm trong não cô vẫn hoạt động tốt. Sợi dây thần kinh ấy cho phép cô tận hưởng chuyện ân ái hay cảm nhận vị ngon của một chai rượu vang.
Nhưng một lúc nào đó, cô sẽ quên cách ăn kem ốc quế, quên cách buộc dây giày và quên cả cách bước đi. Một lúc nào đó, những sợi dây thần kinh hưng cảm của cô sẽ lụi tàn bởi sự tàn phá của amyloid tích tụ lại và cô sẽ không còn khả năng tận hưởng những thứ cô yêu thích. Và một lúc nào đó, sẽ chẳng còn lúc nào cả.
Cô ước gì mình bị ung thư. Cô sẽ đổi Alzheimer lấy ung thư ngay lập tức. Cô cảm thấy tủi nhục khi phải ước như vậy, một cuộc thương lượng thật vô ích, nhưng dù vậy cô vẫn tiếp tục mơ tưởng điều đó. Đối với ung thư, chí ít cô cũng có gì đó để chiến đấu. Cô có thể phẫu thuật, xạ trị, và hóa trị. Cô vẫn có cơ hội chiến thắng. Gia đình cô và những người ở Harvard sẽ luôn đứng đằng sau, hỗ trợ cô trong trận chiến và coi trọng nỗ lực của cô hơn. Và cho dù sau cùng cô có thất bại, cô vẫn nhìn vào mắt họ, nhận ra họ và chào tạm biệt trước khi ra đi.
Bệnh Alzheimer là một con quái vật hoàn toàn khác. Không thứ vũ khí nào có thể hạ được nó. Uống thuốc Aricept và Namenda cũng chẳng khác gì chĩa súng nước vào một trận hỏa hoạn. John tiếp tục thử nghiệm các loại thuốc trong phát triển lâm sàng, nhưng cô nghĩ rằng sẽ chẳng có thứ nào trong số chúng đáp ứng được và thay đổi gì nhiều cho cô, nếu có thì anh đã gọi cho bác sĩ Davis và quyết tâm để cô dùng chúng. Hiện tại, mọi bệnh nhân Alzheimer đều phải đối mặt với cùng kết cục, cho dù họ tám mươi hai tuổi hay năm mươi tuổi, dù là bệnh nhân ở nhà dưỡng lão Mount Auburn Manor hay một giáo sư tâm lý học ở Đại học Harvard. Trận hỏa hoạn sẽ nuốt chửng tất cả. Chẳng ai thoát được cả.
Và trong khi đầu bị cạo trọc cùng dải ruy băng vắt chéo vì bị ung thư được tôn vinh như huân chương cho lòng dũng cảm và hi vọng, thì những ngôn từ rối bời cùng với trí nhớ đang suy giảm chỉ phơi ra thần kinh không ổn định và bệnh mất trí của cô. Những người mắc bệnh ung thư có thể mong đợi hỗ trợ từ cộng đồng còn Alice chỉ có thể đợi đến lúc bị ruồng bỏ. Ngay cả những người tốt hay người có học cũng có xu hướng giữ khoảng cách với những bệnh nhân tâm thần vì sợ. Cô không muốn trở thành một người mà ai cũng thấy sợ và phải tránh né.
Nếu chấp nhận sự thật rằng cô mắc Alzheimer, cô chỉ có thể dựa vào hai thứ thuốc có tác dụng với Alzheimer, và cô không thể đổi lấy bất cứ căn bệnh có thể chữa được nào khác, Alice muốn làm gì? Giả sử Anna thụ tinh ống nghiệm thành công, cô muốn sống để chăm cháu ngoại mình. Cô muốn xem Lydia diễn một vở kịch nào đó khiến cô cảm thấy tự hào. Cô muốn thấy cảnh Tom hẹn hò. Cô muốn thêm một năm đi nghiên cứu cùng John. Cô muốn đọc mọi cuốn sách cô có thể đọc cho đến khi cô không đọc được nữa.
Cô cười, ngạc nhiên với những gì cô bày tỏ với chính mình. Trong những việc ấy, không có thứ gì liên quan đến Ngôn ngữ học, việc dạy học hay trường Harvard. Cô ăn miếng kem cuối cùng. Cô muốn được tận hưởng những ngày 21 độ và ăn kem ốc quế nhiều hơn nữa.
Và khi gánh nặng bệnh tật lớn đến áp đảo niềm vui từ món kem, cô chỉ muốn chết. Nhưng cô có thật sự tỉnh táo để nhận ra thời điểm khủng khiếp đó đã đến? Cô lo rằng trong tương lai, cô sẽ không thể nhớ và thực hiện kế hoạch đó được. Cô đâu thể nhờ John hay các con cô hỗ trợ cô trong việc này. Cô không bao giờ dồn bất cứ ai trong gia đình vào tình cảnh như thế.
Ngay bây giờ cô cần sắp xếp một kế hoạch để tự kết liễu cuộc đời mình trong tương lai. Cô cần lập nên một bài kiểm tra đơn giản, một bài kiểm tra mà cô có thể tự giám sát mình mỗi ngày. Cô nghĩ đến những câu hỏi của bác sĩ Davis và nhà tâm lý học thần kinh đã hỏi cô, những câu hỏi cô không thể trả lời trong tháng Mười Hai vừa rồi. Cô nghĩ về những gì cô vẫn đang muốn. Với những thứ ấy vốn không cần đến một trí tuệ sáng suốt để trả lời. Cô dự định sẽ sống được với một vài lỗ hổng lớn trong vùng ký ức ngắn hạn.
Cô lôi chiếc điện thoại BlackBerry ra từ chiếc giỏ Anna William màu xanh nhạt mà Lydia đã tặng cô trong sinh nhật. Cô mang chiếc giỏ mỗi ngày, khoác quai giỏ lên vai trái, khoác chéo lên hông bên phải. Chiếc giỏ trở thành món phụ kiện không thể tách rời giống như chiếc nhẫn cưới bạch kim và đồng hồ chạy bộ của cô. Và chiếc giỏ trông rất hợp với sợi dây chuyền bươm bướm. Alice đựng điện thoại BlackBerry và chìa khóa trong đó. Chỉ khi nào đi ngủ cô mới bỏ ra.
Cô bắt đầu gõ:
Alice, hãy trả lời những câu hỏi sau:
1. Bây giờ là tháng mấy?
2. Cô sống ở đâu?
3. Văn phòng của cô ở đâu?
4. Sinh nhật của Anna vào ngày nào?
5. Cô có bao nhiêu người con?
Nếu cô thấy khó trả lời bất cứ câu hỏi nào trong những câu trên, hãy mở thư mục “Bươm bướm” trên máy tính của cô và làm theo hướng dẫn ngay lập tức.
Cô chuyển báo thức sang chế độ rung và cài đặt lịch nhắc nhở cô đều đặn mỗi buổi sáng lúc tám giờ, cô thiết lập nhắc nhở vĩnh viễn. Cô nhận ra kế hoạch này cũng có nhiều vấn đề, hoàn toàn không đơn giản chút nào. Cô chỉ hi vọng cô mở được thư mục “Bươm bướm” trước khi cô trở nên ngớ ngẩn đến mức không xác định được.
CÔ CHẠY NHANH HẾT MỨC CÓ THỂ để đến lớp học vì sợ trễ, nhưng không có cô nên trong lớp học vẫn chưa có ai bắt đầu việc gì cả. Cô ngồi vào một chỗ bên cánh khán phòng, cách trung tâm về phía sau bên trái bốn hàng ghế. Một vài sinh viên lẻn vào qua cửa sau, nhưng hầu hết sinh viên trong lớp đã đến, sẵn sàng cho tiết học. Cô nhìn vào đồng hồ. 10 giờ 5 phút. Điều bất thường nhất là đồng hồ của cô khớp với giờ trên đồng hồ treo tường. Cô cố tỏ ra bận rộn.
Cô xem qua chương trình học và lướt qua ghi chú về buổi học trước. Cô đã lập một danh sách các việc phải làm trong ngày:
Phòng thí nghiệm
Hội nghị chuyên đề
Chạy
Nghiên cứu cuối cùng
Thời gian: 10 giờ 10 phút. Cô gõ cây viết theo nhịp bài hát “Sharora của tôi”.
Đám sinh viên nhốn nháo. Họ kiểm tra vở rồi nhìn đồng hồ trên tường, họ lật qua lật lại sách giáo khoa rồi gấp lại, họ khởi động máy tính xách tay rồi nhấp chuột, đánh máy. Có người uống cho hết ly café của mình. Họ vò bao đựng các thanh kẹo và hàng tá các món thức ăn nhanh rồi nhai nhồm nhoàm. Có người bắt đầu cắn nắp bút và móng tay. Có người quay lại dò xem phía cuối phòng, họ quay sang nghe ý kiến bạn ngồi cùng hàng, họ nhíu mày rồi nhún vai. Họ thầm thì và cười rúc rích với nhau.
“Có lẽ cô ấy là giáo viên thỉnh giảng” – một cô sinh viên ngồi cách vài hàng ghế phía trước Alice.
Alice mở chương trình học Động lực và Cảm xúc ra một lần nữa. Thứ Ba, ngày 4 tháng Năm: Căng thẳng, Tuyệt vọng và Kiểm soát (chương 12 và 14). Không có giảng viên thỉnh giảng nào ở đây cả. Không khí trong căn phòng chuyển từ mong đợi sang nhốn nháo. Đám sinh viên như những hạt bắp được cho vào lò. Một khi hạt đầu tiên bắt đầu nổ phồng lên, những hạt khác sẽ nổ theo, nhưng không ai biết hạt nào sẽ xung phong nổ trước và khi nào thì bung. Theo quy định của trường Harvard, sinh viên phải đợi hai mươi phút nếu giảng viên đến trễ, sau đó lớp học mới chính thức hủy. Không sợ phải đóng vai hạt bắp đầu tiên, Alice gấp vở lại, đóng nắp viết và cho mọi thứ vào trong cặp xách. Đã 10 giờ 21 phút, đủ lâu rồi.
Khi cô quay sang định ra về, cô nhìn bốn nữ sinh viên ngồi trước mặt mình. Họ đều nhìn cô và cười, có lẽ biết ơn vì đã giải thoát họ khỏi áp lực và cho họ ra ngoài. Cô giơ cổ tay lên, đưa mặt đồng hồ ra như một bằng chứng không ai chối cãi được.
“Tôi không biết các cô cậu thế nào, tôi thì có việc hay hơn để làm.”
Cô bước lên bậc thang, đi ra cửa sau rời khỏi khán phòng vẫn đầy những sinh viên đang phấn khởi. Cô không bao giờ nhìn lại.
CÔ NGỒI TRONG VĂN PHÒNG CỦA MÌNH, nhìn dòng xe cộ giờ cao điểm lấp loáng dọc theo đường Memorial Drive. Cô cảm thấy hông mình rung lên. Đã đến 8 giờ. Cô lôi chiếc BlackBerry trong chiếc giỏ màu xanh nhạt của mình ra.
Alice, hãy trả lời những câu hỏi sau:
1. Bây giờ là tháng mấy?
2. Cô sống ở đâu?
3. Văn phòng của cô ở đâu?
4. Sinh nhật của Anna vào ngày nào?
5. Cô có bao nhiêu người con?
Nếu cô thấy khó trả lời bất cứ câu hỏi nào trong những câu trên, hãy mở thư mục “Bươm bướm” trên máy tính của cô và làm theo hướng dẫn ngay lập tức.
Tháng Năm
Số 34 Đường Poplar, Cambridge, MA 02138
Tòa nhà William James Hall, phòng 1002
Ngày 14 tháng Chín, 1976
Ba
- 10 -
tháng sáu, năm 2004
Một bà lão với sơn móng tay và son màu hồng chói không thể lẫn vào đâu được đang giỡn với một bé gái chừng năm tuổi. Hai người họ chắc là bà cháu. Cả hai đều đang vô cùng vui vẻ. Trang quảng cáo viết: “TUMMY TICKLER là SỐ MỘT – phương thuốc chữa bệnh Alzheimer hàng đầu được các bác sĩ khuyên dùng”. Alice đã lật qua gần hết cuốn tạp chí Boston, nhưng cô không thể bỏ qua trang ấy. Sự căm ghét bà lão ấy và trang quảng cáo dâng trào trong cô như một thứ dung dịch đang sôi sục. Cô nghiền ngẫm bức tranh và dòng chữ, chờ xem suy nghĩ của cô có theo kịp những gì ruột gan cô cảm thấy, nhưng trước khi cô kịp hiểu ra tại sao cô cảm thấy kích động như vậy, bác sĩ Moyer mở cửa để cô vào phòng khám.
“Alice, trông cô như bị mất ngủ. Nói tôi nghe xem có chuyện gì vậy.”
“Tôi mất cả tiếng đồng hồ mới đi vào giấc ngủ được và vài tiếng sau tôi lại thức dậy, rồi mọi thứ cứ thế lặp lại.”
“Lúc đi ngủ cô có những triệu chứng như nóng bừng trong người hay toàn thân khó chịu không?”
“Không.”
“Cô đang uống những thuốc nào?”
“Aricept, Namenda, Lipitor, vitamins C và E, và aspirin.”
“Chà, không may là Aricept có thể gây ra tác dụng phụ làm mất ngủ.”
“Phải, nhưng tôi không bỏ thuốc Aricept được.”
“Vậy hãy kể tôi nghe cô làm gì khi không ngủ được.”
“Hầu như tôi chỉ nằm bồn chồn. Tôi biết là như vậy chỉ khiến bệnh tệ hơn, nhưng tôi thấy lo và không biết khi nào thì mình đi ngủ rồi thức giấc vào buổi sáng mà không còn biết tôi đang ở đâu, tôi là ai hay tôi đang làm gì nữa. Tôi biết là vô lý, nhưng tôi nghĩ Azheimer chỉ có thể hủy hoại các tế bào não khi tôi ngủ và chừng nào tôi còn thức và canh chừng thì tôi sẽ vẫn bình thường.”
“Tôi biết là nỗi lo này khiến tôi không thể ngủ, nhưng tôi không làm khác được. Tôi không ngủ được nên tôi thấy lo, và vì lo lắng nên tôi lại không ngủ được. Phải nói với cô rằng tôi kiệt quệ vì chuyện này.”
Phần nào những gì Alice vừa kể là thật. Cô lo lắng thật. Nhưng lâu nay cô vẫn ngủ như một đứa bé.
“Ban ngày cô có cảm thấy lo lắng giống như vậy không?” – Bác sĩ Moyer hỏi cô.
“Không.”
“Tôi có thể kê cho cô một đơn thuốc SSRI.”
“Tôi không muốn dùng thuốc chống trầm cảm. Tôi không bị trầm cảm.”
Sự thật là có lẽ cô bị trầm cảm nhẹ bởi cô đã được chẩn đoán mắc phải căn bệnh vô phương cứu chữa. Và con gái cô cũng mắc phải. Dường như cô hoàn toàn không đi xa nữa, những bài giảng một thời sôi nổi của cô cũng đã trở nên chán không ai chịu nổi nữa, và ngay cả những dịp hiếm hoi John ở nhà với cô, cô cũng cảm thấy anh ở xa hàng triệu cây số. Thật vậy, cô cảm thấy buồn một chút. Nhưng đó cũng là một câu trả lời thỏa đáng trong trường hợp này và không phải thêm một thứ thuốc nào, thêm một tác dụng phụ nào vào đơn thuốc hàng ngày của cô. Và mục đích cô đến đây không phải vậy.
“Chúng ta có thể thử dùng Restoril, một viên mỗi tối trước khi đi ngủ. Nó sẽ giúp cô chìm vào giấc ngủ nhanh chóng và cho phép cô ngủ liên tục sáu tiếng đồng hồ, sáng dậy cô cũng không thấy uể oải.”
“Tôi muốn thứ gì đó mạnh hơn.”
Một khoảng lặng giữa cuộc nói chuyện.
“Tôi nghĩ tôi nên hẹn cô một buổi khác đến đây cùng với chồng cô, và chúng ta sẽ bàn về việc dùng thuốc mạnh hơn.”
“Chuyện này không liên quan đến chồng tôi. Tôi không bị trầm cảm, và tôi không tuyệt vọng. Tôi hiểu được tôi muốn gì, Tamara à.”
Bác sĩ Moyer đăm chiêu nhìn cô. Alice cũng nhìn bác sĩ như vậy. Họ đều đã ngoài bốn mươi, chưa đến mức già, cả hai đều đã lập gia đình, học vấn uyên bác. Alice không hiểu chủ trương của bác sĩ Moyer. Cô sẽ đến gặp một bác sĩ khác nếu cần thiết. Chứng mất trí của cô đang trở nên nặng hơn. Cô không thể liều mình lâu hơn nữa. Cô có thể sẽ quên hết. Cô đã luyện tập để đối thoại tiếp nhưng cô cũng không cần dùng đến nữa. Bác sĩ Moyer gác sổ kê đơn qua một bên và bắt đầu ghi chép.
ALICE QUAY LẠI PHÒNG XÉT NGHIỆM tí hon với Sarah gì đó, một nhà tâm lý học thần kinh. Cô gái đó đã giới thiệu mình với Alice một lần nữa chỉ mới ít phút trước nhưng Alice lập tức quên mất họ của cô. Không phải là một điềm lành. Căn phòng, giống như Alice nhớ về nó từ hồi tháng một, chật chội, được vô trùng và lạnh lẽo. Ở trong đó là một chiếc bàn làm việc, một máy tính iMac, hai ghế ngồi kiểu quán thức ăn nhanh và một cái tủ sắt đựng hồ sơ. Chẳng còn gì khác. Không cửa sổ, không cây kiểng, không tranh ảnh, không treo cả lịch trên tường. Không có gì chi phối, không một gợi ý nào, không có cơ hội để nhờ vả ai cả.
Sarah gì đó bắt đầu cuộc nói chuyện rất bình thường.
“Alice, cô bao nhiêu tuổi?”
“Năm mươi.”
“Cô tròn năm mươi tuổi khi nào?”
“Ngày 11 tháng Mười.”
“Bây giờ đang là khoảng thời gian nào trong năm?”
“Mùa xuân, nhưng nóng gần như mùa hè rồi.”
“Tôi biết, hôm nay ngoài trời nóng. Và bây giờ chúng ta đang ở đâu?”
“Đơn vị Rối loạn bộ nhớ thuộc Bệnh viện đa khoa Massachusetts ở Boston.”
“Cô có thể gọi tên bốn thứ trong bức tranh này không?”
“Quyển sách, điện thoại, con ngựa, chiếc xe.”
“Và thứ gì ở trên chiếc áo sơ-mi này?”
“Một chiếc nút áo.”
“Còn trên tay tôi?”
“Chiếc nhẫn.”
“Cô có thể đánh vần ngược từ water không?”
“R-E-T-A-W.”
“Và lặp lại theo tôi: Ai, cái gì, khi nào, ở đâu, tại sao.”
“Ai, cái gì, khi nào, ở đâu, tại sao.”
“Cô có thể nâng bàn tay lên, nhắm mắt lại và mở miệng ra không?”
Cô làm theo.
“Alice, bốn thứ trong bức tranh hồi nãy cô gọi tên là gì vậy?”
“Con ngựa, chiếc xe, điện thoại và quyển sách.”
“Tuyệt, bây giờ hãy viết cho tôi một câu ra đây.”
Tôi không tin nổi có một ngày tôi sẽ làm những việc này.
“Rất tốt, và giờ trong một phút, cô hãy liệt kê các từ bắt đầu bằng âm s càng nhiều càng tốt.”
“Sarah, say xỉn, sững sờ, sóng âm. Sống sót, suy sụp. Say đắm. Say xỉn. Ồ không, từ đó tôi nói rồi. Sôi động. Sợ hãi.”
“Và giờ hãy đọc các từ bắt đầu bằng âm l.”
“Lãng quên. Luôn luôn. Lộn nhào. Lượn lờ. Làm tình.” – Cô bật cười, ngạc nhiên với chính mình.
“Xin lỗi vì từ tôi vừa nói.”
Xin lỗi bắt đầu với âm x.
“Không sao, tôi nghe từ đó hoài.”
Alice tự hỏi cô có thể nói ra bao nhiêu từ nếu như là một năm trước. Cô tự hỏi không biết bao nhiêu từ trong một phút là bình thường.
“Và bây giờ, hãy gọi tên các loại rau củ mà cô biết.”
“Măng tây, bông cải xanh, súp-lơ, tỏi tây, hành, ớt. Ớt... tôi không biết, tôi không thể nghĩ ra thêm.”
“Câu cuối cùng, hãy kể tên các con vật bốn chân mà cô biết.”
“Chó, mèo, sư tử, hổ, gấu, ngựa vằn, hươu cao cổ, linh dương.”
“Bây giờ cô hãy đọc lớn câu này lên.”
Sarah gì đó đưa cho cô một mẩu giấy.
“Vào thứ Ba ngày 2 tháng Bảy, ở Santa Ana, California, một trận hỏa hoạn đã khiến sân bay John Wayne đóng cửa, làm mắc kẹt ba mươi hành khách bao gồm sáu trẻ em và hai lính cứu hỏa.” – Alice đọc mảnh giấy.
Đó là một bài kiểm tra của Đại học New York, một bài kiểm tra khả năng nhớ.
“Và giờ, cô hãy kể lại những chi tiết ở trong mẩu tin cô vừa đọc.”
“Vào thứ Ba ngày 2 tháng Bảy, ở Santa Ana, California, một đám cháy làm mắc kẹt ba mươi người ở sân bay, bao gồm sáu trẻ em và hai lính cứu hỏa.”
“Rất tốt. Giờ tôi sẽ cho cô xem một chuỗi các hình ảnh in trên các tấm thẻ và cô sẽ kể tên của các hình này.”
Bài kiểm tra gọi tên của Boston.
“Va-li, chong chóng, kính viễn vọng, lều tuyết, đồng hồ cát, hà mã.” Một loài động vật bốn chân. “Cái vợt. À, khoan đã, tôi biết cái này, đây là kệ để trồng cây, hàng rào đan chéo phải không? Không, lưới mắt cáo! Phong cầm, bánh quy que, trống lắc. Ôi, khoan nào. Chúng tôi có một cái như vậy trong sân nhà ở Cape. Mắc giữa hai cây để nằm lên. Không phải ván. Nó là một cái..., vòng phải không? Không. Ôi Trời ơi, nó bắt đầu bằng chữ v, nhưng tôi không thể nghĩ ra.”
Sarah gì đó ghi một kí hiệu lên bảng điểm của cô. Alice muốn giải thích rằng sự lãng quên của cô có lẽ chỉ đơn giản là một trường hợp bị hạn chế rất bình thường do bệnh Alzheimer. Ngay cả những sinh viên cao đẳng sức khỏe hoàn hảo vẫn trải qua một hoặc hai lần trong tuần không nói ra được một từ mặc dù biết rõ từ ấy.
“Được rồi, chúng ta hãy tiếp tục nào.”
Alice gọi tên những bức tranh còn lại mà không vướng phải khó khăn nào thêm, nhưng cô vẫn không thể kích hoạt tế bào thần kinh đã mã hóa tên của tấm lưới mà cô vẫn hay nằm ngủ trưa. Tấm lưới mà gia đình treo giữa hai cây vân sam trong sân nhà ở Chatham. Alice nhớ về bao nhiêu giấc ngủ lúc chiều muộn ở đó với John, cảm giác thoải mái dưới bóng cây mát mẻ, dựa vào vai anh và lồng ngực anh như gối ngủ, mùi hương nước xả vải quen thuộc trên áo sơ-mi của anh cùng với mùi làn da rám nắng hè pha mùi muối biển làm cô ngây ngất trong mỗi hơi thở. Cô có thể nhớ lại tất cả, nhưng không nhớ nổi thứ có tên bắt đầu bằng chữ V mà họ nằm trên.
Cô lướt qua bài kiểm tra sắp xếp hình ảnh WAIS-R, ma trận màu Raven, bài kiểm tra xoay khối hình học của Luria, bài kiểm tra đọc tên màu của Stroop và ghi nhớ các khối hình học. Cô kiểm tra đồng hồ. Cô đã ở căn phòng nhỏ bé đó hơn một giờ rồi.
“Được rồi, Alice, giờ tôi muốn cô nhớ lại mẩu tin cô đọc lúc nãy. Cô có thể kể lại giúp tôi không?”
Cô nén sự hoảng loạn xuống, và cơn hoảng loạn khựng lại, nặng nề chèn vào cơ hoành khiến cô không thở nổi. Cả những sợi dây thần kinh dẫn đến những chi tiết của mẩu tin cũng nghẽn lại, hoặc có khi cô không có đủ sức mạnh điện hóa để kích hoạt những tế bào thần kinh đang chứa chúng. Nếu ra khỏi căn phòng chật hẹp này, cô có thể tra cứu những thông tin mất đi bằng chiếc BlackBerry của cô. Cô có thể đọc lại các thư điện tử và tự viết nhắc nhở cho mình vào mục ghi chú những thứ phải gửi. Cô có thể dựa vào sự kính trọng có được nhờ vị trí của mình ở Harvard. Ra khỏi căn phòng nhỏ bé này, cô có thể giấu đi những sợi dây thần kinh tắc nghẽn và những tín hiệu thần kinh yếu ớt của mình. Và dù cô biết rằng những bài kiểm tra này được lập nên để xác nhận rằng cô không thể truy cập vào thông tin được lưu trữ trong não mình, vị bác sĩ đã thấy rằng cô ngơ ngác và lúng túng đến thế nào.
“Thật sự tôi không nhớ được nhiều.”
Vậy đấy, căn bệnh Alzheimer của cô, trần trụi dưới ánh đèn huỳnh quang, phơi ra cho Sarah gì đó khám xét và đánh giá.
“Được rồi, hãy kể cho tôi những gì cô nhớ được, bất cứ chi tiết nào.”
“Vâng, tôi nghĩ là sự kiện diễn ra về một sân bay.”
“Sự kiện đó diễn ra vào Chủ nhật, thứ Hai, thứ Ba hay thứ Tư?”
“Tôi không nhớ.”
“Thử đoán xem.”
“Thứ Hai.”
“Đã xảy ra lốc xoáy, ngập lụt, hỏa hoạn hay tuyết lở.”
“Một trận hỏa hoạn.”
“Sự kiện diễn ra vào tháng Tư, Năm, Sáu hay tháng Bảy?”
“Tháng Bảy.”
“Sân bay nào đã bị ngưng hoạt động: John Wayne, Dulles hay LAX?”
“LAX.”
“Bao nhiêu hành khách đã bị mắc kẹt: ba mươi, bốn mươi, năm mươi hay sáu mươi?”
“Tôi không biết nữa, chắc là sáu mươi.”
“Bao nhiêu trẻ em bị mắc kẹt: hai, bốn, sáu hay tám?”
“Tám.”
“Còn ai bị kẹt lại nữa: hai lính cứu hỏa, hai cảnh sát, hai doanh nhân hay hai giáo viên?”
“Hai lính cứu hỏa.”
“Rất tốt, cô đã hoàn thành hết các bài kiểm tra. Tôi sẽ dẫn cô ra gặp bác sĩ Davis.”
Tốt sao? Làm thế nào mà cô nhớ được sự kiện mà cô còn chưa biết là cô có biết hay không?
CÔ BƯỚC ĐẾN VĂN PHÒNG BÁC SĨ DAVIS, ngạc nhiên rằng John đã ở đó, anh ngồi vào chiếc ghế mà hai lần trước cô đến rõ ràng vẫn trống. Giờ thì tất cả đã đến. Alice, John, và bác sĩ Davis. Cô không tin được chuyện như thế này diễn ra, cô không tin được cuộc sống của mình như thế này, một người phụ nữ bệnh tật đến khám bác sĩ thần kinh với chồng mình. Cô dường như cảm thấy mình như một nhân vật trong vở kịch có người phụ nữ mắc Alzheimer. Người chồng ôm kịch bản trong lòng. Chỉ có một điều là đó không chỉ là kịch bản, mà là bảng khảo sát các hoạt động hàng ngày. (Cảnh trong văn phòng của bác sĩ. Bác sĩ tâm thần của người phụ nữ ngồi đối diện với người chồng. Người phụ nữ bước vào.)
“Alice, hãy ngồi xuống đi. Tôi với John vừa nói chuyện được vài phút.”
John xoay xoay chiếc nhẫn cưới và rung chân phải. Ghế của họ chạm vào nhau nên anh làm cô rung người theo. Họ đang nói về chuyện gì? Cô muốn nói chuyện riêng với John trước khi họ bắt đầu, để biết được chuyện gì đã xảy ra và hiểu rõ những điều họ nói. Và cô muốn yêu cầu anh ngưng rung người cô.
“Cô khỏe không?” – Bác sĩ Davis hỏi cô.
“Tôi khỏe.”
Ông mỉm cười với cô. Một nụ cười hiền từ và nụ cười ấy làm dịu bớt cảm giác lo lắng của cô.
“Được rồi, trí nhớ cô thế nào? Có thêm lo ngại hay thay đổi gì từ lần trước cô đến đây không?”
“Phải nói là tôi gặp khó khăn trong việc tiến hành các kế hoạch của mình. Suốt ngày tôi phải bám theo chiếc BlackBerry của mình và danh sách các việc cần làm. Bây giờ tôi thấy ghét phải nói chuyện điện thoại. Nếu tôi không thể thấy người tôi đang đối thoại, tôi khó mà hiểu được toàn bộ cuộc hội thoại. Tôi thường xuyên quên mất người bên kia đang nói gì trong khi cố hình dung các từ ngữ trong đầu.”
“Còn chuyện mất phương hướng, cô có khi nào cảm thấy lạc đường hay bối rối?”
“Không. Đôi khi tôi cũng cảm thấy rối về giờ giấc, cho dù đã xem đồng hồ, nhưng rồi tôi cũng đoán ra được. Tôi từng một lần đến văn phòng vì tưởng lúc đó buổi sáng, phải đến lúc về nhà tôi mới nhận ra lúc đó đang là nửa đêm.”
“Có chuyện đó à?” – John quay sang – “Khi nào vậy?”
“Em không nhớ. Em nghĩ là tháng trước.”
“Lúc đó anh đang ở đâu?”
“Anh đang ngủ.”
“Sao bây giờ anh mới được biết vậy, Ali?”
Cô mỉm cười, nhưng nụ cười không làm anh thấy khác đi. Có thể nỗi lo của anh đã dâng lên một chút.
“Kiểu rối loạn rồi đi lang thang vào ban đêm này rất phổ biến và có xu hướng tái diễn. Có khi cô phải nghĩ đến việc gắn chuông ngoài cửa trước hay cái gì đó đánh thức John dậy phòng khi cô ra ngoài lúc nửa đêm. Và có lẽ cô nên đăng kí chương trình nhận dạng an toàn của Hiệp hội Alzheimer. Tôi nghĩ chi phí khoảng bốn mươi đô la, và cô sẽ mang vòng đeo tay có mã số định danh và một mã cá nhân trên đó.”
“Tôi đã có thư mục ‘John’ trong điện thoại rồi, tôi để điện thoại trong giỏ và luôn mang theo bên mình.”
“Được rồi, vậy cũng tốt, nhưng lỡ như hết pin hay điện thoại của John tắt mà cô bị lạc thì sao?”
“Vậy một mảnh giấy ghi tên tôi, tên John, địa chỉ và số điện thoại của chúng tôi bỏ trong giỏ của tôi thì sao?”
“Cách này cũng được, nhưng mà cô phải luôn mang theo. Cô có thể quên mang theo giỏ, còn đeo vòng tay thì cô không phải lo nữa.”
“Ý hay đấy” – John tiếp lời bác sĩ. – “Cô ấy sẽ đeo một cái.”
“Việc dùng thuốc của cô như thế nào rồi, cô có dùng đủ liều?”
“Có.”
“Có tác dụng phụ, buồn nôn, chóng mặt không?”
“Không.”
“Ngoài lần cô đến văn phòng lúc nửa đêm ra, cô có gặp khó khăn gì khi đi ngủ không.”
“Không.”
“Cô vẫn tập thể dục đều đặn chứ.”
“Vâng, hầu như mỗi ngày tôi vẫn chạy bộ, chừng tám cây số.”
“John, anh có chạy bộ không?”
“Không, tôi đi bộ đến chỗ làm rồi về, tôi chỉ vận động vậy thôi.”
“Tôi nghĩ anh cùng vợ chạy bộ là một ý hay. Có những dữ liệu thử nghiệm trên động vật rất thuyết phục rằng vận động có thể làm chậm quá trình tích tụ protein amyloid-beta và thoái hóa nhận thức.”
“Tôi đã xem các nghiên cứu đó” – Alice nói.
“Phải, cho nên cô hãy tiếp tục chạy bộ. Nhưng tôi thấy tốt hơn cô nên có bạn chạy cùng; bằng cách này chúng ta không phải lo rằng cô sẽ quên hay bỏ qua việc chạy bộ vì đãng trí.”
“Tôi sẽ bắt đầu chạy bộ với cô ấy.” – John ghét chạy bộ. Anh thường chơi squash và tennis, thỉnh thoảng thì chơi golf, nhưng anh không bao giờ chạy. Hiển nhiên anh vượt trội cô về mặt tinh thần, nhưng thể lực thì cô vẫn hơn hẳn anh. Nghĩ đến việc chạy cùng John làm cô thích thú nhưng cô nghi rằng anh không chấp nhận được việc thua cô.
“Tâm trạng cô thế nào, cô cảm thấy ổn chứ?”
“Nói chung là tốt. Mà tôi cảm thấy hết sức buồn bực và kiệt sức vì cố gắng theo kịp mọi thứ. Và tôi lo lắng về những gì đang đợi tôi ở phía trước. Nhưng mặt khác tôi cảm thấy vẫn bình thường, thật ra, theo một cách nào đó thì thoải mái hơn từ khi tôi kể cho John và các con nghe.”
“Cô đã bảo cho ai ở Harvard chưa?”
“Chưa.”
“Liệu cô có khả năng lên lớp và hoàn thành các yêu cầu chuyên môn trong kỳ này?”
“Có, tôi phải cố gắng hơn kỳ trước rất nhiều, nhưng mọi thứ vẫn ổn.”
“Dạo gần đây cô có đi dự các buổi họp ở xa và thỉnh giảng một mình không?”
“Tôi gần như ngưng rồi. Tôi hủy hai lớp ở trường đại học, tôi bỏ qua một hội thảo lớn vào tháng Tư và tôi chuẩn bị lỡ mất một cuộc hội thảo khác ở Pháp tháng này. Thường thì mùa hè tôi đi nhiều, cả hai chúng tôi đều đi, nhưng năm nay chúng tôi dành cả mùa hè cho căn nhà ở Chatham. Chúng tôi sẽ đến đó tháng tới.”
“Tốt quá, nghe thật tuyệt. Được rồi, vậy là hè này cô sẽ được chăm sóc tốt. Tôi nghĩ cô nên nghĩ đến một kế hoạch cho mùa thu, mà trong đó có việc báo với mọi người ở Harvard. Có lẽ là nghĩ ra cách nào đó nghe hợp lý để chuyển công tác, và tôi nghĩ là cô sẽ không bị yêu cầu phải đi xa một mình nữa.”
Cô gật đầu. Cô cảm thấy sợ tháng Chín.
“Cũng có những thủ tục phải đưa vào kế hoạch, các bản tiền chỉ thị như giấy ủy quyền và di chúc. Cô đã bao giờ nghĩ đến việc hiến não của mình cho nghiên cứu khoa học chưa?”
Cô đã từng nghĩ đến. Cô tưởng tượng ra não của cô được rút hết máu, ngâm trong formalin, có màu như nhựa dẻo Silly Putty và được một sinh viên ngành y nào đó cầm trên tay. Giảng viên sẽ chỉ vào những nếp gấp và rãnh, chỉ ra vị trí của khu cảm xúc, khu thính giác và khu thị giác của não bộ. Mùi của biển, giọng nói của các con cô, bàn tay và gương mặt của John. Hoặc là bộ não sẽ bị cắt thành lát mỏng như thịt xông khói deli, rồi được dán lên các phiến kính phòng thí nghiệm. Trên tiêu bản ấy, những não thất được phóng to lên ắt sẽ gây bất ngờ lắm. Những khoảng trống ấy là nơi cô đã từng trú ngụ.
“Có, tôi muốn.”
John thu mình lại.
“Được rồi, vậy tôi sẽ nhờ cô điền đầy đủ giấy tờ trước khi rời đi. John, tôi có thể xin lại bảng khảo sát anh đang cầm không?”
Anh đã nói gì về cô trong đó? Họ chẳng bao giờ nói gì về chuyện đó.
“Alice kể với anh chẩn đoán của cô ấy khi nào?”
“Ngay sau khi ông báo với cô ấy.”
“Được rồi, vậy từ lúc đó anh thấy cô ấy thế nào?”
“Rất khỏe mạnh, tôi nghĩ là vậy. Chuyện điện thoại là thật. Cô ấy thường không trả lời hết các cuộc điện thoại nữa. Cho dù tôi nhấc máy hay cô ấy để máy tự nhận cuộc gọi. Cô ấy giữ khư khư chiếc BlackBerry, dường như là cô ấy buộc phải làm vậy. Đôi khi vào buổi sáng, trước khi đi ra ngoài, cô ấy lại kiểm tra chiếc điện thoại cứ mỗi phút một lần. Nhìn cô ấy vậy tôi khá là không thoải mái.”
Càng ngày, dường như John càng không thể chịu được phải nhìn vào cô. Khi nhìn cô, anh nhìn bằng ánh mắt nghiên cứu, giống như cô là một con chuột bạch của anh vậy.
“Còn gì nữa không, có điều gì Alice chưa nhắc đến không?”
“Tôi không nghĩ được gì thêm nữa.”
“Anh có để ý thấy tâm trạng với tính cách của cô ấy thay đổi không?”
“Không, cô ấy vẫn bình thường. Có lẽ hơi đề phòng một chút. Và ít nói hơn, cô ấy ít khi bắt chuyện hơn.”
“Anh thấy thế nào?”
“Tôi hả, tôi ổn.”
“Tôi có một số thông tin về nhóm hỗ trợ chăm sóc của chúng tôi, anh có thể mang về. Denise Daddario là nhân viên công tác xã hội ở đây. Anh nên hẹn gặp cô ấy và cho cô ấy biết chuyện gì xảy ra.”
“Tôi hẹn hả?”
“Phải.”
“Thật hả, tôi không cần đâu, tôi ổn mà.”
“Được rồi, vâng, những thông tin này ở đây nếu anh thấy cần. Giờ thì tôi có vài câu hỏi cho Alice.”
“Thật sự thì tôi muốn bàn về một số liệu pháp bổ sung và những thử nghiệm lâm sàng.”
“Được rồi, hãy bàn về chúng, nhưng trước hết chúng ta hãy hoàn tất bài kiểm tra của cô ấy. Alice, hôm nay thứ mấy vậy?”
“Thứ Hai.”
“Cô sinh ngày mấy?”
“11 tháng Mười năm 1953.”
“Phó Tổng thống của Liên Bang là ai?”
“Dick Cheney.”
“Được rồi, giờ tôi sẽ đọc cho cô một cái tên và địa chỉ, cô sẽ lặp lại cho tôi. Sau đó, tôi sẽ hỏi cô vài câu khác rồi lặp lại nó sau. Sẵn sàng chưa? John Black, 42 đường West, Brighton.”
“Như lần trước.”
“Phải, rất tốt. Cô có thể nhắc lại không?”
“John Black, 42 đường West, Brighton.”
John Black, 42 đường West, Brighton.
John không bao giờ mặc màu đen, Lydia sống ở phía tây, Tom sống ở Brighton, tám năm trước, tôi bốn mươi hai tuổi.
John Black, 42 đường West, Brighton.
“Được rồi, cô có thể đếm đến hai mươi rồi đếm ngược lại được không?”
Cô làm theo.
“Giờ tôi muốn cô giơ số ngón tay lên bằng tay trái ứng với vị trí trong bảng chữ cái của chữ cái đầu tiên trong tên thành phố cô đang sống.”
Cô nhẩm trong đầu những gì ông vừa nói rồi giơ biểu tượng hòa bình bằng ngón tay trỏ và ngón tay giữa trên tay trái.
“Tốt. Chi tiết này ở trên đồng hồ của tôi gọi là gì?”
“Chốt.”
“Được rồi, giờ viết một câu về thời tiết hôm nay trên mảnh giấy này.”
Trời mờ mờ, nóng và ẩm ướt.
“Mặt bên kia tờ giấy, cô hãy vẽ một đồng hồ chỉ ba giờ bốn mươi lăm phút.”
Cô vẽ một vòng tròn lớn và điền vào các số, bắt đầu bằng mười hai ở trên đỉnh vòng tròn.
“Ối, tôi vẽ lớn quá rồi.”
Cô nguệch ngoạc ghi ra.
3:45
“Không, không phải đồng hồ điện tử. Tôi muốn cô vẽ đồng hồ kim” – bác sĩ Davis nói.
“Ông đang kiểm tra thử tôi có thể vẽ hay xem thử tôi còn biết xem đồng hồ không à? Nếu ông vẽ cho tôi sẵn mặt đồng hồ, tôi có thể vẽ ba giờ bốn mươi lăm.Tôi chưa bao giờ giỏi vẽ vời gì cả.”
Khi Anna ba tuổi, con bé rất thích ngựa và thường năn nỉ Alice vẽ hình ngựa. Các tác phẩm đẹp nhất của Alice trông giống chó lai rồng theo phong cách hậu hiện đại và tranh của cô chả bao giờ vừa ý trí tưởng tượng non nớt đơn giản của đứa trẻ còn chưa đi học. Không, mẹ ơi, không phải vậy, vẽ cho con một con ngựa đi.
“Tôi thật sự đang cần cô vẽ cả hai thứ, Alice. Alzheimer thật sự ảnh hưởng đến thùy đỉnh khá sớm, và đó là nơi chúng ta giữ những biểu trưng nội tại cho không gian cá nhân bổ sung. John, đây là lý do tôi muốn anh chạy bộ với cô ấy.”
John gật đầu. Họ đang về cùng một phe với nhau.
“John, anh biết là em không biết vẽ mà.”
“Alice, chỉ vẽ cái đồng hồ thôi mà, đâu phải con ngựa.”
Ngạc nhiên vì anh không bảo vệ cô, cô nhìn chằm chằm vào anh và nhíu mày, cho anh một cơ hội để xem lại tình cảnh của cô hoàn toàn hợp lý để từ chối. Anh chỉ nhìn chằm chằm lại rồi xoay chiếc nhẫn trên tay mình.
“Nếu anh vẽ cho tôi mặt đồng hồ, tôi sẽ vẽ ba giờ bốn mươi lăm.”
Bác sĩ Davis vẽ một mặt đồng hồ lên một trang giấy mới, và Alice vẽ các kim đồng hồ chỉ đúng giờ.
“Được rồi, giờ tôi muốn cô hãy đọc lại tên và địa chỉ tôi đã yêu cầu cô nhớ lúc nãy.”
“John Black, ở đâu đó trên đường West, Brighton.”
“Được rồi, là ở số bốn hai, bốn bốn, bốn sáu hay bốn tám?”
“Bốn tám.”
Bác sĩ Davis viết gì đó khá nhiều vào một mảnh giấy có vẽ đồng hồ lúc nãy.
“John, đừng rung ghế của em nữa.”
“Rồi, giờ chúng ta sẽ nói về các lựa chọn thử nghiệm lâm sàng. Có một số nghiên cứu đang được thực hiện ở đây và ở Brigham. Nghiên cứu tôi thấy thích hợp nhất cho cô sẽ bắt đầu kêu gọi các bệnh nhân vào tháng này. Nghiên cứu đã đến pha III, và cô sẽ dùng một loại thuốc tên là Amylix. Nó có vẻ sẽ khống chế và ngăn chặn sự tích tụ amyloid-beta, nên không giống như các loại thuốc cô đang dùng, hy vọng loại thuốc này sẽ ngăn bệnh không phát triển trầm trọng hơn. Pha II của nghiên cứu rất tích cực. Các bệnh nhân chịu được thuốc và sau một năm uống thuốc, nhận thức của các bệnh nhân xem ra đã ngừng suy thoái, thậm chí còn cải thiện.”
“Tôi cho rằng đây là thí nghiệm đối chứng giả dược phải không?” – John hỏi.
“Phải, cả nhà nghiên cứu và đối tượng đều không biết bệnh nhân sẽ uống giả dược hay một trong hai loại thuốc.”
Vậy là tôi có thể chỉ được uống đường. Cô nghi rằng hiệu ứng giả dược hay sức mạnh của suy nghĩ tích cực chẳng làm được cái quái gì với amyloid-beta.
“Ông nghĩ sao về các chất ức chế hoạt động của secretase?” – John hỏi.
John cảm thấy những chất này khả quan nhất. Secretase là loại enzyme tồn tại tự nhiên, giải phóng ra protein amyloid-beta ở mức bình thường, không gây nguy hiểm. Đột biến của presenilin-1 ở Alice làm cho secretase đang ở mức kém nhạy đến điều tiết bình thường bị thay đổi, và nó đã sản sinh ra quá nhiều amyloid-beta. Quá nhiều sẽ gây nguy hiểm. Giống như mở một cái vòi nước rồi không đóng lại được, bồn của cô đã tràn quá rồi.
“Hiện tại các chất ức chế hoạt động của secretase hoặc quá độc hại để thử nghiệm lâm sàng hoặc...”
“Còn flurizan thì sao?”
Flurizan là một thuốc chống viêm tương tự như Advil. Rất nhiều hãng dược đã công bố rằng nó giảm được sự sản sinh ra amyloid-beta 42. Bớt được ít nước trong bồn.
“Phải, loại này đang được chú ý đến nhiều. Hiện tại đang có một nghiên cứu pha II về nó, nhưng chỉ thực hiện ở Canada và Anh.”
“Ông nghĩ sao nếu Alice dùng flurbiprofen?”
“Chúng tôi chưa có dữ liệu để kết luận được nó có ích cho bệnh Alzheimer hay không. Tôi cho rằng nếu cô ấy quyết định không tham gia vào thử nghiệm lâm sàng thì cũng không hại gì. Nhưng nếu cô ấy muốn tham gia vào một nghiên cứu, dùng thuốc flurbiprofen sẽ được coi như là điều trị trong thử nghiệm đối với Alzheimer, và cô ấy không thể tham gia vào nghiên cứu nữa.”
“Được rồi, vậy còn kháng thể đơn dòng của Elan thì sao?” – John hỏi tiếp.
“Tôi thấy cũng khả quan, nhưng nghiên cứu mới ở pha I và chưa tiếp nhận đối tượng nghiên cứu. Giả sử nghiên cứu đó đủ an toàn để tiếp tục thì sớm nhất phải tới mùa xuân sang năm họ mới tiếp tục pha II, mà tôi thì muốn Alice thử nghiệm sớm hơn nếu chúng ta có thể.”
“Anh đã thử liệu pháp IVIg với ai chưa?” – John hỏi.
John cũng thích ý tưởng của liệu pháp này. Được chiết xuất từ lượng huyết tương được hiến tặng, các immunoglobulin tiêm tĩnh mạch được chứng minh là an toàn và hiệu quả trong điều trị suy giảm miễn dịch tiên phát và một số các rối loạn thần kinh cơ tự miễn. Phí điều trị sẽ đắt và không được công ty bảo hiểm hoàn tiền vì thuốc hiện tại được liệt vào loại sử dụng ngoài hướng dẫn, nhưng nếu có tác dụng thì bao nhiêu tiền cũng đáng.
“Tôi chưa có bệnh nhân nào thử nó cả. Tôi không phủ nhận nó, nhưng chúng tôi không xác định được liều lượng phù hợp và nó thật sự là một phương pháp rất thô, cũng không thể xác định được kết quả. Tôi e là hiệu quả sẽ rất ít ỏi.”
“Chúng tôi chấp nhận sự ít ỏi đó” – John nói.
“Được rồi, nhưng anh cần phải biết anh đang đánh đổi những gì. Nếu anh quyết định đi tiếp với liệu pháp IVIg, Alice sẽ không thể tham gia vào bất cứ thử nghiệm lâm sàng nào, mà những liệu pháp trong đó hứa hẹn sẽ chính xác và tập trung vào căn bệnh hơn.”
“Nhưng cô ấy phải được bảo đảm không rơi vào nhóm dùng giả dược.”
“Phải, cả hai lựa chọn đều có những rủi ro.”
“Tôi có phải bỏ dùng Aricept và Namenda để tham gia vào thử nghiệm lâm sàng?”
“Không, cô vẫn có thể uống.”
“Tôi có thể thử liệu pháp thay đổi nội tiết tố estrogen không?”
“Có. Có nhiều chứng cứ chưa được chứng minh cho rằng phương pháp đó ít ra cũng an toàn ở một mức độ nào đó, nên tôi sẵn lòng kê cho cô một đơn thuốc CombiPatch. Nhưng nó cũng được xem là một loại thuốc điều trị trong thử nghiệm và cô cũng không thể tham gia vào thử nghiệm Amylix.”
“Cuộc thử nghiệm sẽ kéo dài bao lâu?”
“Mười lăm tháng.”
“Tên vợ ông là gì?” – Alice hỏi.
“Lucy.”
“Ông sẽ muốn Lucy làm gì nếu cô ấy mắc bệnh?”
“Tôi sẽ yêu cầu cô ấy tham gia vào thử nghiệm Amylix.”
“Vậy là Amylix là lựa chọn duy nhất ông đề nghị?” – John hỏi.
“Phải.”
“Tôi nghĩ chúng ta nên thử liệu pháp IVIg cùng với flurbiprofen và CombiPatch” – John nói.
Căn phòng trở nên thinh lặng. Họ vừa trao đổi một lượng thông tin khổng lồ. Alice bịt chặt mắt bằng những ngón tay của cô, cố phân tích những lựa chọn điều trị cho mình. Cô cố hết sức để lập nên bảng so sánh các thứ thuốc trong đầu mình, nhưng tấm bảng trong tưởng tượng của cô cũng không ích gì, và cô vứt tấm bảng ấy vào trong đống rác tưởng tượng. Thay vào đó, cô tư duy một cách trừu tượng và nghĩ tới một hình ảnh rõ ràng duy nhất. Một khẩu súng săn hay một viên đạn duy nhất.
“Cô không phải quyết định ngay đâu. Cô có thể về nhà và nghĩ về chuyện này kĩ hơn rồi quay lại gặp tôi.”
Không, cô không cần nghĩ thêm nữa. Cô là một nhà khoa học. Cô hiểu như thế nào về đánh cược tất cả mọi thứ với một cuộc tìm kiếm bí ẩn mà không có gì bảo đảm. Cô đã trải qua rất nhiều lần trong nhiều năm với công việc nghiên cứu của mình, do vậy, cô chọn viên đạn.
“Tôi muốn thử nghiệm lâm sàng.”
“Ali, anh nghĩ em nên tin ở anh.” – John nói với cô.
“Em vẫn có thể tự đưa ra kết luận mà, John. Em muốn tham gia cuộc thử nghiệm.”
“Được rồi, tôi sẽ đưa cô các phiếu để đăng kí.”
(Cảnh trong văn phòng của bác sĩ. Nhà thần kinh học đã rời phòng. Người chồng xoay chiếc nhẫn. Người vợ hi vọng tìm ra một phương thuốc.)
- 11 -
tháng bảy, năm 2004
“John? John? Anh có nhà không?”
Cô biết chắc rằng anh không ở nhà, nhưng khả năng chắc chắn được một việc gì cũng biến mất bởi kí ức cô đã có quá nhiều lỗ hổng, kể cả việc anh có ở nhà hay không.
Chắc hẳn anh đã đi đâu đó, nhưng cô không tài nào nhớ được anh rời đi khi nào hay đi đâu. Có phải anh đã chạy ra quán để uống sữa hoặc cà phê? Hay anh ra ngoài thuê phim? Nếu vậy thì anh sẽ trở về trong vài phút nữa. Cũng có thể anh lái xe về Cambridge, trong trường hợp anh muốn đi đâu đó ít nhất là vài giờ và cũng có thể là cả đêm? Hoặc cuối cùng anh cũng đã quyết định, và chỉ đơn giản là anh đã rời đi, không bao giờ trở lại? Không, anh sẽ không làm thế. Cô chắc chắn như vậy.
Căn nhà ở quần đảo Chatham của họ được xây dựng vào năm 1990 có vẻ lớn hơn, thoáng và ít phòng hơn căn nhà ở Cambridge. Cô bước vào bếp, nó chẳng giống như căn bếp ở nhà của họ. Tường, tủ, các vật dụng và ghế quầy bar đều màu trắng, sàn gạch trắng đôi chỗ bị nứt vì chiếc bàn đá xà bông có các vệt sắc xanh cô-ban và những chiếc lọ thủy tinh, đồ gốm trên bàn cũng mang sắc trắng. Tất cả trông như một trang sách tô màu chỉ dùng mỗi một cây bút chì màu xanh để tô lên.
Hai chiếc đĩa và khăn ăn được sử dụng trên đảo còn hiện rõ bằng chứng của những vết salad, mì spaghetti và sốt đỏ cho bữa tối. Một chiếc ly trong số đó có đọng một ngụm vang trắng. Với sự tò mò phân tích của một nhà khoa học pháp lý, cô cầm ly lên và kiểm tra nhiệt độ rượu bằng môi mình. Nó vẫn còn lạnh. Cô đã cảm thấy thỏa mãn. Cô nhìn lên đồng hồ. Chỉ vừa qua chín giờ.
Họ đã ở Chatham một tuần nay. Trong những năm qua, sau một tuần xa cách lối sống ngày qua ngày bận tâm về Harvard, cô được tận hưởng một cuộc sống thoải mái ở nơi đây và hoàn toàn chuyên tâm vào việc cho ra đời quyển sách thứ ba hoặc thứ tư. Nhưng năm nay, mặc dù lịch trình ngày qua ngày của Harvard đều chất chồng và cần giải quyết gấp, điều đó lại khiến cô cảm thấy thân thuộc và được an ủi. Các cuộc họp, hội nghị chuyên đề, giờ lên lớp, và những cuộc hẹn như vụn bánh mì giúp cô sống sót qua ngày.
Giờ ở Chatham, cô không có thời gian biểu. Cô ngủ muộn, ăn bất cứ khi nào và lắng nghe mọi âm thanh. Cô uống thuốc hai lần mỗi ngày, kiểm tra trạng thái tinh thần vào mỗi sáng và cô chạy bộ cùng John. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Cô cần vụn bánh mì lớn hơn và nhiều hơn thế nữa.
Cô thường không biết hôm nay là thứ mấy hoặc bây giờ là thời điểm nào trong ngày và đó là vấn đề lớn. Hơn một lần khi cô ngồi xuống bàn ăn, cô không thể biết đây là bữa nào trong ngày. Ngày hôm qua, khi người hầu bàn ở bar Sand đặt một đĩa sò nướng trước mặt cô, cô chỉ sẵn lòng và nhiệt tình xúc một miếng bánh kếp.
Nhìn ra ngoài đường từ cửa phòng bếp đang mở, chẳng có chiếc xe nào cả. Không khí bên ngoài vẫn lưu lại dấu vết của những ngày nóng và có tiếng ễnh ương kêu, tiếng cười của một phụ nữ, cả tiếng thủy triều ngoài biển Hardings. Cô để lại cho John lời nhắn bên cạnh những chiếc đĩa còn chưa được rửa sạch:
Em đi dạo ngoài biển. Yêu anh, A
Cô hít thật sâu bầu không khí buổi đêm trong lành. Bầu trời xanh nửa đêm đã chi chít những vì sao sáng và vầng trăng lưỡi liềm như đang nhoẻn miệng cười. Trời có vẻ tối, nhưng vẫn không tối bằng đêm ở Cambridge. Hoàn toàn không có đèn đường hay ánh sáng hắt từ xa ở đường chính, chỉ có ánh sáng từ ban công, từ những căn phòng trong nhà, đèn pha xe, và ánh trăng chiếu xuống khu vực bãi biển. Ở Cambridge, bóng tối như thế này sẽ khiến cô không thoải mái khi đi bộ một mình, nhưng tại đây, bên bờ biển nhỏ và khu vực nghỉ mát này, cô cảm thấy vô cùng an toàn.
Không có chiếc xe nào đậu ngoài bãi và cũng không ai ở trên biển. Cảnh sát thị trấn thường không khuyến khích hoạt động về đêm. Vào giờ này, không hề có tiếng trẻ em la hét hay tiếng kêu của đàn hải âu, không có những cuộc gọi điện không-thể-không-trả-lời, không tích cực lo lắng cho những gì sắp tới, không có gì phá vỡ được sự yên bình.
Cô bước dọc mép nước và để sóng biển vỗ vào chân mình. Những đợt sóng ấm áp lướt nhẹ lên chân cô. Nằm ở khu vực Nantucket Sound, nước ở bãi biển Hardings ấm hơn mười độ so với những bờ biển lân cận tiếp giáp trực tiếp vùng Atlantic lạnh giá.
Cô cởi bỏ áo thun và áo ngực trước tiên, rồi đến váy và quần lót, tiến bước xuống. Nước, những đám rong biển tự do hòa cùng từng đợt sóng, chạm nhẹ vào chân cô. Cô bắt đầu hít thở theo nhịp thủy triều. Lúc cô nằm ngửa và tự thả trôi, cô kinh ngạc khi phát hiện ngón tay và ngón chân mình lúc lướt qua mặt biển sẽ phát ra lần quang như bụi yêu tinh.
Ánh trăng phản chiếu cổ tay phải của cô. Cụm từ “Trở về an toàn” được khắc ở mặt trước của một chiếc vòng phẳng, rộng hai inch, bằng thép không gỉ. Con số một-tám-không-không, ký hiệu số dành riêng cho cô, và những từ “suy giảm trí nhớ” được khắc ở mặt sau. Suy nghĩ của cô xô dạt theo những đợt sóng, di chuyển từ món trang sức không mong muốn đến dây chuyền bươm bướm của mẹ cô, vượt qua kế hoạch tự tử, qua những quyển sách cô dự định đọc, và cuối cùng mắc kẹt vào số phận chung của Virginia Woolf và Edna Pontellier. Thật dễ dàng. Cô có thể bơi thẳng đến Nantucket cho tới khi mệt rã rời.
Cô nhìn xuống mặt nước tối tăm. Cơ thể cô mạnh mẽ và khỏe khoắn, giữ cho cô nổi lên trên nước, mỗi bản năng cơ thể đều chiến đấu vì sự sống. Phải, cô đã không nhớ đến bữa ăn với John tối nay hay anh đã đi đâu. Và có thể vào sớm mai, cô lại không thể nhớ về đêm nay, nhưng lúc này, cô không hề tuyệt vọng. Cô cảm thấy tràn đầy sức sống và hạnh phúc.
Cô nhìn về phía bờ biển, khung cảnh đều mờ ảo. Một bóng hình đang tiến đến. Cô biết đó là John trước khi bản thân có thể xác định bất kỳ dấu hiệu nào của anh qua dáng đi.
Cô không hề hỏi anh đã ở đâu hay anh đã rời đi bao lâu. Cô cũng không cảm ơn anh vì đã quay trở lại. Anh cũng không mắng cô vì đã ra ngoài một mình mà không có điện thoại di động, và anh cũng không yêu cầu cô đứng lên và về nhà ngay. Không nói một lời, anh cởi áo và lao vào đại dương của cô.
“JOHN?”
Cô tìm thấy anh đang sơn phần khung của nhà để xe.
“Em đã đi khắp nhà tìm anh” – Alice nói.
“Anh đã ra ngoài, anh không nghe tiếng em” – John đáp.
“Khi nào anh có cuộc họp?” – Cô hỏi.
“Thứ Hai.”
Anh sẽ tới Philadelphia trong một tuần để tham dự Hội nghị Quốc tế về bệnh Alzheimer lần thứ chín.
“Tức là sau khi Lydia tới đây à?”
“Ừ, con bé sẽ đến đây vào Chủ nhật.”
“Ừ.”
Nhận được đơn xin việc của Lydia, nhà hát Monomoy đã mời cô tham gia như là một nghệ sĩ khách mời cho mùa hè này.
“Em sẵn sàng chạy chưa?” – John hỏi.
Sương mù buổi sáng vẫn chưa tan đi, và không khí mát hơn khi cô mặc áo vào.
“Em chỉ cần thay bộ quần áo khác thôi.”
Bước vào cửa trước, cô mở tủ quần áo. Mặc quần áo thoải mái ở đây vào mùa hè thật sự là một thách thức, với nhiệt độ vào mọi ngày luôn bắt đầu từ năm mươi độ F, tăng vọt lên đến tám mươi độ F và vòng trở lại khoảng năm mươi độ F, kèm theo những cơn gió đại dương mạnh lúc đêm xuống. Nó đòi hỏi một tinh thần thời trang sáng tạo và khả năng sẵn sàng thêm hay bỏ phụ kiện nhiều lần trong ngày. Dù có vài bộ khá hoàn hảo để ngồi hay đi bộ dọc bãi biển, mọi thứ lúc này lại như quá cồng kềnh cho việc chạy bộ.
Cô lên tầng trên và vào phòng ngủ của họ. Sau khi tìm kiếm nhiều ngăn kéo, cô tìm thấy một chiếc áo lông cừu mỏng và mặc nó vào. Cô chú ý đến quyển sách mình muốn đọc đang ở trên đầu giường. Cô cầm lên, xuống cầu thang và vào bếp. Cô rót cho mình một ly trà đá và bước ra ban công phía sau. Sương mù sáng sớm còn chưa tan hết, và trời mát hơn cô dự đoán. Cô đặt ly nước và quyển sách lên chiếc bàn đặt giữa chiếc ghế Adirondack màu trắng, rồi trở vào nhà để lấy tấm chăn.
Cô trở lại, quấn mình trong chăn, ngồi lên ghế và mở quyển sách ra ngay trang đã được đánh dấu. Đọc sách giờ đã trở thành chuyện đầy cay đắng. Cô phải đọc đi đọc lại các trang liên tục để đảm bảo mình sẽ nhớ được các luận điểm hoặc đoạn tường thuật, và nếu cô đặt sách xuống trong một khoảng thời gian nào đó, rất có thể cô phải đọc lại cả chương để tìm lại chủ đề. Thêm vào đó, cô cảm thấy lo lắng hơn khi quyết định cần phải đọc những gì. Nếu cô không đủ thời gian để đọc tất cả những thứ mình muốn thì sao? Nỗi đau được ưu tiên, một lời nhắc nhở rằng đồng hồ đã điểm, rằng có vài thứ sẽ mãi không thành.
Cô chỉ vừa bắt đầu đọc vở Vua Lear. Cô rất thích những vở bi kịch của Shakespeare nhưng chưa bao giờ đọc chúng. Thật không may, như một thói quen, cô lại thấy mình mắc kẹt chỉ sau vài phút. Cô đọc lại trang trước, ngón tay trỏ rà dọc những con chữ để lần lại dòng hồi tưởng. Cô uống trà đá và ngắm nhìn đàn chim trên cành.
“Em đây rồi. Em làm gì thế, ta ra ngoài đi dạo không?” – John hỏi.
“Ừ, được, tuyệt đấy. Quyển sách này làm em điên mất.”
“Vậy thì đi thôi.”
“Anh sẽ đi họp vào hôm nào?”
“Thứ Hai.”
“Hôm nay là thứ mấy rồi?”
“Thứ Năm.”
“À. Còn khi nào Lydia tới đây?”
“Chủ nhật.”
“Nghĩa là trước khi anh đi.”
“Ừ. Ali, anh đã nói với em về tất cả chuyện này rồi. Em nên ghi chú chúng trong di động đi, anh nghĩ nó sẽ giúp em cảm thấy ổn hơn.”
“Được rồi, em xin lỗi.”
“Sẵn sàng chứ?”
“Ừ. Để em đi vệ sinh trước đã.”
“Được thôi, anh sẽ ra nhà xe.”
Cô đặt chiếc cốc rỗng ở cạnh bồn rửa bát, bỏ tấm chăn và quyển sách trên ghế bành ở phòng khách. Cô đã sẵn sàng di chuyển, nhưng đôi chân cô vẫn chần chừ cần định hướng. Cô tới đây để làm gì nhỉ? Cô ngó lại – tấm chăn và sách, cốc nước trên bàn, ban công với John. Anh sẽ rời đây sớm để tham dự Hội nghị Quốc tế về chứng bệnh Alzheimer. Có thể là vào Chủ nhật? Cô phải hỏi anh để chắc chắn. Họ sắp ra ngoài chạy bộ. Trời hơi lạnh bên ngoài. Cô vào đây để lấy áo lông cừu! Không, không phải nó. Cô đã mặc nó rồi. Thứ chết tiệt đó.
Chỉ đến khi cô ra khỏi cửa, một áp lực bất thình lình xuất hiện ở bàng quang nhắc nhở cô rằng mình cần đi vệ sinh bây giờ. Cô vội vã trở vào nhà và mở cửa vào phòng tắm. Chỉ là, như cô nghi ngờ, đó không phải phòng tắm. Một cây chổi, cây lau nhà, xô, máy hút bụi, ghế đẩu, hộp công cụ, bóng đèn, đèn pin, thuốc tẩy. Phòng đựng đồ gia dụng.
Cô nhìn xa hơn dọc xuống hành lang. Nhà bếp ở bên trái, phòng khách ở bên phải, và nó ở đây. Phải có ở tầng này chứ. Nó phải ở đây. Ở ngay chỗ này. Nhưng không có gì cả. Cô vội vã vào nhà bếp nhưng chỉ tìm thấy một cánh cửa, và nó dẫn ra cổng sau. Cô chạy lại phòng khách, nhưng dĩ nhiên, không có cái phòng tắm nào ở phòng khách cả. Cô chạy lại hành lang và đẩy tay nắm cửa.
“Ơn trời, ơn trời, ơn trời.”
Cô đẩy cánh cửa như thể một ảo thuật gia đang tiết lộ cú lừa ngoạn mục nhất, nhưng phòng tắm không hề xuất hiện.
Làm thế nào mà mình có thể lạc ở chính ngôi nhà của mình?
Cô nghĩ tới chuyện lao lên những tầng trên với đầy đủ phòng tắm, nhưng kỳ lạ thay, cô như chết lặng và bị mắc kẹt ở Miền Ảo Ảnh – cứ như là phòng tắm bị biến mất khỏi tầng một. Cô không thể giữ bình tĩnh hơn. Cô như đang mơ hồ quan sát chính mình, một người phụ nữ khốn khổ, xa lạ đang khóc ở hành lang. Đó không phải âm thanh khóc than vì bảo vệ điều gì đó của một phụ nữ trưởng thành. Đó là tiếng khóc sợ hãi, thua cuộc và không thể kiềm chế của một đứa trẻ con.
Không chỉ rơi nước mắt, cô không thể chịu đựng lâu hơn được nữa. John phá cửa trước vào vừa kịp lúc chứng kiến nước tiểu chảy xuống chân phải, vớ và cả giày thể thao của cô.
“Đừng nhìn em!”
“Ali, đừng khóc nữa, sẽ ổn thôi mà.”
“Em không biết em đang ở đâu nữa.”
“Ổn thôi, em ở ngay đây mà.”
“Em đang bị lạc.”
“Em không bị lạc, Ali, em đang ở cùng anh.”
Anh ôm cô, và vỗ về, an ủi cô như thể lúc cô thấy anh đang trấn an con họ sau vô số chấn thương vật lý và bất công xã hội.
“Em không thể tìm được phòng tắm.”
“Không sao mà.”
“Em xin lỗi.”
“Đừng xin lỗi, ổn cả mà em. Đi nào, hãy thay đổi không khí một tí. Thời tiết dạo này đang nóng lên, em hẳn là cần thứ gì đó để xoa dịu.”
TRƯỚC KHI JOHN DỰ HỘI NGHỊ, anh đưa cho Lydia những hướng dẫn chi tiết liên quan đến thuốc của Alice, thời gian chạy bộ, số di động của cô, và chương trình “Trở về an toàn”. Anh cũng cho Lydia số điện thoại của bác sĩ thần kinh để phòng hờ. Khi Alice hồi tưởng lại bài thuyết trình nhỏ của anh trong đầu, nó trông rất giống như lời dặn dò của các vị phụ huynh đến người bảo mẫu trước khi họ rời đi Maine hay Vermont trong kỳ nghỉ cuối tuần. Giờ đây cô cần được coi sóc. Bởi chính con gái mình.
Sau bữa tối đầu tiên hai mẹ con ăn riêng với nhau tại Squire, Alice và Lydia đi dọc xuống phố chính mà không nói lời nào. Các dòng xe ô tô sang trọng và những chiếc SUV đỗ dọc theo lề đường có trang bị giá đỡ dành cho xe đạp và những xuồng kayak chất nghẹt trên nóc xe, chen chúc với xe đẩy em bé, ghế bãi biển, những chiếc dù, hay những biển số xe thể thao đến từ Connecticut, New York, và New Jersey thêm với Massachusetts, báo hiệu chính thức bắt đầu một mùa hè sôi động. Những gia đình thong thả đi dọc theo vỉa hè mà không thèm màng tới đâu là làn đường cho người đi bộ, thong thả và không có phương hướng cụ thể, dừng lại, lùi xuống, hay nhìn ngắm những món hàng trưng bày của các cửa tiệm. Như thể bọn họ có toàn bộ thời gian trên cõi đời này.
Qua mười phút dạo bộ, hai người dễ dàng thoát khỏi trung tâm thành phố đông đúc. Họ dừng trước ngọn hải đăng Chatham và hít thở không khí trong cái nhìn toàn cảnh bãi biển bên dưới trước khi đi tiếp ba mươi bước xuống bãi cát. Một hàng giày dép có sẵn từ trước, là do những người tới sớm hơn sắp sẵn. Alice và Lydia thêm đôi giày của mình vào cuối hàng và tiếp tục đi bộ. Biển hiệu phía trước có ghi:
CẢNH BÁO: DÒNG CHẢY MẠNH. Những đợt sóng và dòng chảy bất ngờ có thể gây nguy hiểm tính mạng. Khu vực nguy hiểm đối với các hoạt động: bơi lội, lặn, trượt nước, lướt ván, chèo thuyền nhỏ, bè và canô.
Alice nhìn và không ngừng lắng nghe tiếng sóng đang vỗ vào bờ. Nếu không có những bờ đê khổng lồ được xây dựng ở cạnh các bất động sản triệu đô dọc Shore Road, bãi biển có thể nuốt trọn mọi ngôi nhà, cắn xé chúng mà không chút tiếc thương hay ân hận.
Cô tưởng tượng căn bệnh Alzheimer của mình như đại dương ở biển Lighthouse – không thể ngăn lại, dã man và muốn phá hủy hết thảy. Chỉ khác là không có bờ đê nào trong bộ não để bảo vệ những ký ức và suy nghĩ của cô khỏi sự tấn công.
“Mẹ xin lỗi vì không đến buổi biểu diễn” – cô nói với Lydia.
“Không sao ạ. Con biết là vì bố bận trong thời gian này.”
“Mẹ không thể chờ đến khi vở kịch của con ra mắt trong mùa hè này.”
“Vâng ạ.”
Mặt trời treo lửng lơ dưới thấp và trông to lớn đến không tưởng ở nền trời màu xanh phớt hồng, như chực lao vào biển Atlantic. Họ đi ngang qua một người đàn ông đang quỳ trên cát, ngắm máy ảnh ngay đường chân trời, cố nắm bắt vẻ đẹp thoáng qua của nó trước khi chúng biến mất cùng ánh mặt trời.
“Buổi hội thảo bố dự có liên quan đến căn bệnh Alzheimer đúng không?”
“Ừ.”
“Bố có tìm được một phương pháp tốt hơn không?”
“Ông ấy đang cố.”
“Mẹ nghĩ bố sẽ tìm ra chứ?”
Alice nhìn đợt sóng đang đến, xóa sạch mọi dấu chân, đánh vỡ một tòa lâu đài cát có trang trí vỏ sò, đẩy xẻng nhựa vào một lỗ cát bị đào lên, sóng đánh lên bờ biển lịch sử hằng ngày. Cô ghen tị với những ngôi nhà xinh đẹp bên kia bờ.
“Không.”
Alice nhặt một vỏ sò lên. Cô phủi những hạt cát đi, để lộ vỏ sò màu trắng sữa và phần trong vỏ màu hồng nhã nhặn. Cô thích cảm giác mềm mại này, nhưng cạnh bị vỡ một chút. Cô có ý nghĩ ném nó xuống nước nhưng vẫn quyết định giữ lại.
“Con nghĩ là bố sẽ không dành thời gian để đi nếu ông cho rằng mình không tìm được gì đâu” – Lydia nói.
Hai cô gái mặc chiếc áo sơ mi đẫm mồ hôi của Đại học Massachusetts đi ngang qua họ, cười khúc khích. Alice nở nụ cười và nói “Xin chào” ngay khi họ đi qua.
“Mẹ ước gì con đi học đại học” – Alice nói.
“Mẹ, thôi đi mà.”
Không muốn mở đầu tuần mới cùng nhau bằng cách thổi bùng lên một trận chiến, Alice lẳng lặng hồi tưởng lại khi họ bước đi. Những giáo sư cô rất kính trọng và lo sợ mình sẽ thành trò hề trước mặt họ, những chàng trai cô rất yêu quý và càng sợ mình sẽ trông như một trò hề hơn, những buổi thức thâu đêm trước kỳ thi, các lớp học, bữa tiệc, tình bạn, buổi gặp gỡ John – ký ức của cô về khoảnh khắc ấy luôn sinh động, hoàn toàn nguyên vẹn, và thật dễ dàng gợi nhớ. Chúng khiến cô có chút tự mãn, mọi thứ đầy đủ và sẵn sàng, cứ như thể chẳng có dấu hiệu gì về cuộc chiến sắp diễn ra cách đấy vài centimet.
Bất cứ khi nào nghĩ về trường đại học, dòng hồi tưởng của cô luôn quay về khoảng tháng Một khi cô còn là sinh viên năm nhất. Tầm khoảng ba giờ sau khi gia đình cô tới thăm và ra về, Alice đã nghe thấy tiếng gõ cửa ngập ngừng tại phòng ký túc xá.
Cô vẫn nhớ từng chi tiết của vị trưởng khoa đứng ở ngưỡng cửa lúc ấy – những nếp nhăn mỏng và sâu in hằn chính giữa lông mày, phần nam tính toát ra từ mái tóc muối tiêu, những đốm lông xù lên trên chiếc áo len màu lục, cùng sự cẩn thận trong giọng nói đã được ông hạ âm lượng xuống mức thấp nhất.
Bố của cô đã lái xe đâm vào một cái cây ở quốc lộ 93. Có thể ông đã ngủ quên. Có thể ông đã uống quá nhiều vào bữa tối. Ông ta luôn quá chén như thế.
Ông đã được đưa đến bệnh viện Manchester. Mẹ cô và em gái đều đã mất.
JOHN? ANH PHẢI KHÔNG?
“Không, là con đang lấy khăn vào. Trời mưa rồi” – Lydia đáp.
Bầu không khí đầy nặng nề. Tất cả đều vì cơn mưa. Thời tiết đã vô cùng hoàn hảo trong cả tuần qua, với buổi sáng đầy nắng cho việc chuyển bưu thiếp, còn nhiệt độ thì cực tuyệt vời cho giấc ngủ hằng đêm. Não bộ của cô cũng rất chịu khó hợp tác trong suốt cả tuần. Cô đã có thể nhận ra sự khác biệt giữa những ngày tìm kiếm ký ức, ngôn ngữ hay thậm chí là nhà vệ sinh đầy khó khăn; với những ngày chứng Alzheimer tựa như nằm im, không can thiệp chuyện gì. Vào những ngày yên ắng đấy, cô gần như thuyết phục mình rằng bác sĩ Davis và nhân viên tư vấn di truyền đã sai, hoặc sáu tháng qua chỉ là một giấc mơ khủng khiếp, chỉ là một cơn ác mộng, cả con quái vật dưới gầm giường cào mạnh vào người cô đều không có thực.
Từ phòng khách, Alice nhìn Lydia gấp khăn và xếp chúng vào một chiếc ghế đẩu ở dưới bếp. Con bé mặc một chiếc áo hai dây màu xanh lam sáng và chiếc váy đen. Trông con bé như vừa tắm xong. Alice vẫn còn mặc đồ tắm bên dưới chiếc đầm in hình chú cá đang phai dần.
“Mẹ có nên thay đồ không?” – Cô hỏi.
“Tùy mẹ thôi.”
Lydia dọn cốc sạch cho vào tủ và xem đồng hồ. Sau đó cô bước vào phòng khách, gom các tạp chí và catalog từ tràng kỷ đến sàn nhà, rồi chất chúng thành một chồng thật gọn ghẽ cạnh bàn cà phê. Cô xem đồng hồ của mình. Cô lấy một bản sao của tờ Cape Cod ở bên trên chồng tạp chí, ngồi xuống tràng kỷ rồi lướt nhanh qua nó. Họ dường như đang giết thời gian, nhưng Alice không hiểu tại sao. Có gì đó không đúng.
“John đâu rồi?” – Alice hỏi.
Lydia ngước lên khỏi tờ tạp chí, Alice không đoán ra con bé đang thấy buồn cười hay bối rối, hay thậm chí là cả hai.
“Bố sẽ về nhà ít phút nữa thôi.”
“Vậy là chúng ta đang chờ ông ấy.”
“Vâng.”
“Còn Anne?”
“Anna đang ở Boston với Charlie.”
“Không, Anne, em gái mẹ ấy, Anne đâu rồi?”
Lydia nhìn cô không chớp mắt, mọi ánh sáng như rút cạn khỏi khuôn mặt cô.
“Mẹ, dì Anne mất rồi. Dì ấy chết trong một tai nạn giao thông cùng với bà ngoại.”
Đôi mắt của Lydia vẫn nhìn chằm chằm Alice. Alice ngừng thở, và tim cô tựa hồ bị ai bóp nghẹt lại. Đầu và ngón tay cô tê cứng, cả thế giới xung quanh như chìm trong bóng tối và ngột ngạt. Cô hít vào một ngụm không khí thật lớn. Oxi lập tức lấp đầy đầu và những ngón tay cô, nhưng đồng thời trái tim đang đập thình thịch của cô cũng bị lấp đầy bởi cơn giận dữ và đau buồn. Cô bắt đầu nấc lên và khóc.
“Không, mẹ à, chuyện này xảy ra lâu rồi, mẹ nhớ chứ.”
Lydia tiếp tục nói chuyện, nhưng Alice không còn nghe cô nói gì nữa. Cô chỉ có thể cảm nhận cơn giận dữ và nỗi buồn chảy qua từng tế bào, qua con tim âm ỉ đau và giọt nước mắt nóng hổi, và cô chỉ có thể nghe tiếng chính mình vang vọng trong đầu đang la hét, kêu gào tên Anne và mẹ.
John đứng trước họ, cả người ướt sũng.
“Chuyện gì thế?”
“Mẹ vừa hỏi về dì Anne. Mẹ nghĩ họ chỉ vừa mới mất.”
Anh ôm lấy cô trong vòng tay. Anh cố nói chuyện với cô, cố giúp cô giữ bình tĩnh. Tại sao anh cũng không suy sụp? Anh đã biết điều này một thời gian, đó là lý do, và anh đã giữ bí mật chuyện này. Cô không thể tin anh nữa.
Lisa Genova
Thanh Xuân, Minh Nhật, Quốc Dũng dịch
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nguyễn Văn Thắng với những câu thơ hái trong vườn “Những câu thơ hái trong vườn” (NXB Hội Nhà văn, 2023) là tập thơ dành cho trẻ em gồm ...