Vẫn là Alice 2
- 12 -
Tháng tám, năm 2004
Mẹ và em gái cô mất khi cô còn là sinh viên đại học năm nhất.
Thậm chí ảnh của mẹ cô và Anne còn không đầy một trang album. Không có bất kỳ bằng
chứng cho sự hiện diện của họ ở lễ tốt nghiệp hay hôn lễ của cô, hay những ngày
lễ, kỳ nghỉ mát, dịp sinh nhật cùng với cô, John và lũ trẻ. Cô không thể hình
dung mẹ mình khi về già, và chắc chắn bà sẽ như thế lúc này nếu còn sống, và
Anne sẽ thế nào khi không còn ở tuổi vị thành niên. Tuy nhiên, cô vẫn tin rằng
họ đã bước qua cửa trước, không phải như một bóng ma trong quá khứ mà là một thực
thể sống và khỏe mạnh, và họ đã ở cùng cô tại ngôi nhà ở Chatham mùa hè này. Cô
sợ mình sẽ bối rối khi tỉnh táo trở lại và nhận ra những gì mình thấy chỉ là ảo
ảnh, vì thực tâm thì cô mong mẹ và em gái sẽ tới thăm mình. Điều đó chính là thứ
đáng sợ nhất trong những thứ mà cô sợ hãi.
Alice, John và Lydia ngồi quanh chiếc bàn đặt ngoài hiên và
ăn sáng. Lydia đã nói về những thành viên của đội nhạc kịch mùa hè và những buổi
tập dượt của mình. Nhưng hầu như con bé chỉ nói chuyện với John.
“Bố có biết trước khi đến đây con đã rất lo sợ không? Ý con
là bố nên nhìn thấy đội ngũ nhân viên của họ. Những MFA ở nhà hát từ NYU,
studio đào tạo diễn viên và bằng cấp từ Yale, kinh nghiệm ở Broadway.”
“Wow, có vẻ là một đội ngũ nhiều kinh nghiệm đấy. Họ bao
nhiêu tuổi vậy?” – Anh hỏi.
“Ồ, con trẻ nhất nhóm đấy. Hầu hết bọn họ có lẽ ở độ tuổi tầm
ba mươi đến bốn mươi, nhưng cũng có một người đàn ông và phụ nữ già cỡ bố với mẹ
đấy.”
“Già hả?”
“Bố hiểu ý con mà. Dù sao thì, con không biết con sẽ thế nào
nếu không làm việc cùng đội ngũ này, nhưng chúng con được đào tạo cùng nhau, và
công việc con đang làm đã mang tới nhiều kỹ năng hữu ích. Con thật sự biết con
đang làm gì.”
Alice nhớ đến sự bất an và sự thể hiện trong tháng đầu tiên
cô giảng dạy tại Harvard.
“Họ chắc chắn đều có kinh nghiệm hơn con, nhưng không ai
trong số họ nghiên cứu về Meisner. Họ đều nghiên cứu về Stanislavsky, hoặc những
thủ thuật, nhưng con nghĩ Meisner là cách tiếp cận mạnh mẽ nhất để có được sự tự
nhiên trong diễn xuất. Vậy nên dù con không có nhiều kinh nghiệm sân khấu, con
cũng sẽ đem lại điều gì đó khác biệt cho cả nhóm.”
“Nghe thật tuyệt, con yêu. Đó có thể là một trong những lý do
họ tuyển con. Mà ‘sự tự nhiên trong diễn xuất’, chính xác nó nghĩa là gì?” –
John hỏi.
Alice cũng đang tự hỏi điều tương tự, nhưng ngôn ngữ của cô lại
đang kết dính sền sệt như một thứ bột, cô liền bị tụt lại phía sau John, như những
cuộc trò chuyện bấy lâu nay. Thế nên cô nghe chồng và con gái huyên thuyên dễ
dàng trước mặt mình giống như là một khán giả đang xem các diễn viên đứng trên
sân khấu.
Cô cắt chiếc bánh vừng làm đôi và cắn một miếng. Cô không
thích hương vị giản đơn này. Có thêm một vài gia vị tùy chọn được đặt trên bàn
– mứt việt quất dại vùng Maine, một lọ bơ đậu phộng, một thanh bơ đặt trên đĩa
và một bát “bơ màu trắng”. Nhưng người ta không gọi nó là “bơ màu trắng”. Nó được
gọi là gì nhỉ? Không phải sốt mayonnaise. Không, nó quá dày, như bơ vậy. Nó gọi
là gì nhỉ. Cô chỉ con dao cắt bơ vào nó.
“John, anh đưa nó cho em được không?”
John đưa cho cô bát “bơ màu trắng”. Cô thoa một lớp dày lên
lát bánh vòng và nhìn chằm chằm vào nó. Cô biết chính xác vị nó thế nào, và rằng
mình thích nó, nhưng cô sẽ không cắn miếng nào cho đến khi cô tự mình nói ra
cái tên. Lydia nhìn mẹ đang chăm chăm nghiên cứu cái bánh vòng.
“Mẹ, là kem phô mai.”
“Đúng rồi. Kem phô mai. Cảm ơn con, Lydia.”
Điện thoại reo lên, John vào trong nhà để nghe máy. Ý nghĩ đầu
tiên nảy ra trong tâm trí cô là mẹ cô vừa gọi, thông báo cho họ biết cuối cùng
bà cũng tới đây. Suy nghĩ đó khá thực tế và có khả năng xảy ra, nó xuất hiện
như một lý do để cô mong John trở về bàn ăn trong vài phút tới. Alice chấn chỉnh
lại ý nghĩ bốc đồng này, tự mắng chửi mình và gạt nó đi. Mẹ và em gái cô đã chết
khi cô còn học năm nhất. Thật điên rồ khi cứ phải tự nhắc nhở bản thân chuyện
này.
Ở một mình với con gái, ít nhất trong thời điểm này, cô đã có
cơ hội để mở lời.
“Lydia, còn về việc đến trường để lấy bằng ở nhà hát thì
sao?”
“Mẹ, mẹ có nghe từng câu từng chữ con vừa nói không đấy? Con
không cần bằng cấp.”
“Mẹ nghe mọi thứ con nói và mẹ hiểu hết. Mẹ chỉ đang nghĩ tới
một tương lai xa hơn. Mẹ chắc vẫn còn nhiều khía cạnh về nghề diễn mà con chưa
khám phá, những điều con có thể học hỏi, hay thậm chí là định hướng đúng đắn. Vấn
đề là, một tấm bằng có thể mở ra nhiều cánh cửa hơn, và con cần có nó.”
“Và những cánh cửa đó là gì?”
“Ừm, một trong số đó là, tấm bằng có thể tăng thêm uy tín cho
con nếu con muốn giảng dạy.”
“Mẹ, con muốn trở thành một diễn viên, chứ không phải giáo
viên. Đấy là thứ mẹ muốn, chứ không phải con.”
“Mẹ biết, Lydia, con đã thể hiện điều đó rất rõ. Mẹ không hẳn
là nghĩ đến một giáo viên dạy ở trường đại học hay cao đẳng, mặc dù con có khả
năng đó. Mẹ nghĩ ngày nào đó con có thể dạy hội thảo như những người con đã gặp
và rất quý trọng.”
“Mẹ, con xin lỗi, nhưng con sẽ không tốn năng lượng để suy
nghĩ về những gì con có thể làm nếu con không đủ giỏi để trở thành diễn viên.
Con không cần phải nghi ngờ bản thân như thế.”
“Mẹ không nghi ngờ chuyện con có thể có sự nghiệp diễn xuất.
Nhưng nếu một ngày con quyết định lập gia đình, và con muốn bước chậm lại nhưng
vẫn ở trong giới kinh doanh? Dạy hội thảo, thậm chí là tại nhà cũng là một khả
năng linh hoạt khá tốt. Thêm vào đó, vấn đề không phải là con biết những gì, mà
là con biết những ai. Các khả năng kết nối cộng đồng với bạn cùng lớp, giáo sư,
nữ sinh, mẹ chắc đó là một vòng khép kín mà con sẽ không dễ dàng bước vào nếu
không có một tấm bằng hay có một vị trí trong kinh doanh đã được công nhận.”
Alice dừng lại, chờ Lydia thốt lên “Dạ, nhưng mà…”, song cô
không nói gì cả.
“Con hãy nhận thức điều này. Cuộc sống sẽ ngày càng bận rộn
hơn. Con sẽ khó hòa nhập khi càng về già. Con có thể nói chuyện với vài người
trong đội nhạc kịch và nhìn nhận những quan điểm của họ về việc tham gia diễn
xuất khi đã ba mươi, bốn mươi tuổi hay khi lớn hơn. Được chứ.”
“Dạ được.”
Được rồi. Đó là lần gần nhất họ đi tới sự thống nhất trong chủ
đề này. Alice cố nghĩ thêm chuyện gì để nói nhưng không thể. Bấy lâu nay, họ chỉ
nói về vấn đề này. Sự im lặng giữa hai người tăng lên.
“Mẹ, nó như thế nào ạ?”
“Cái gì như thế nào?”
“Mắc chứng Alzheimer ấy. Mẹ có cảm nhận được nó không?”
“Ừm, mẹ biết bản thân không bị nhầm lẫn hay lặp đi lặp lại điều
gì bây giờ, nhưng chỉ vài phút trước, mẹ đã không thể nhớ ra từ “kem phô mai”,
và mẹ đã cảm thấy khó khăn khi trò chuyện với hai bố con. Mẹ biết chỉ là vấn đề
thời gian trước khi những chuyện này lặp lại lần nữa, và thời gian giữa chúng
đang ngày một ngắn hơn. Còn vấn đề xảy ra thì càng nghiêm trọng hơn. Vì vậy kể
cả khi mẹ cảm thấy hoàn toàn bình thường, mẹ biết bản thân không như thế. Đó
không phải kết thúc, chỉ là khoảng nghỉ ngơi. Mẹ không còn tin chính mình nữa.”
Ngay khi kết thúc câu nói, cô lo lắng vì đã thú nhận quá nhiều.
Cô không muốn làm con bé sợ. Nhưng Lydia đã không nao núng và vẫn còn quan tâm,
nên Alice cảm thấy thoải mái hơn.
“Vậy là mẹ biết khi nào nó diễn ra?”
“Hầu như là vậy.”
“Như chuyện xảy ra khi mẹ không thể nhớ ra cái tên của kem
phô mai?”
“Mẹ biết mẹ tìm kiếm điều gì, nhưng bộ não mẹ không làm được.
Nó giống như khi con muốn một ly nước, mà bàn tay con lại không cầm cái ly lên.
Con lịch sự năn nỉ nó, đe dọa nó, nhưng tay con vẫn không nhúc nhích. Cuối cùng
thì tay con có thể di chuyển, nhưng thay vào đó con lại cầm lọ muối lên, hoặc
con va vào cái ly và làm nước đổ đầy bàn. Hoặc tới khi tay con có thể cầm cái
ly và đưa lên môi, thì sự nóng ran trong cổ họng con đã biến mất, con không cần
uống thêm bất kỳ thứ gì nữa. Thời điểm cần thiết đã trôi qua.”
“Nghe cứ như tra tấn ấy.”
“Nó đấy.”
“Con rất tiếc.”
“Ừm, cảm ơn con.”
Lydia chìa bàn tay qua những bát đĩa và ly nước, qua cả khoảng
cách thời gian mà nắm lấy tay mẹ. Alice nắm chặt và mỉm cười. Cuối cùng, họ
cũng tìm ra thứ gì khác để nói.
ALICE TỈNH DẬY trên băng ghế dài. Cô thường xuyên ngủ trưa
trong khoảng thời gian gần đây, có khi là hai lần một ngày. Trong khi việc nghỉ
trưa rất có ích cho sự chú tâm và năng lượng của cô, thì lúc thức giấc cô lại
khó chịu đến gai người. Bốn giờ mười lăm. Cô không thể nhớ mình đã ngủ gà ngủ gật
lúc nào. Cô nhớ đến bữa ăn trưa. Một bánh sandwich, vài loại sandwich, cùng
John. Lúc đó có thể là khoảng giữa trưa. Có thứ gì đó ở bên cạnh đè vào hông
cô. Quyển sách cô đang đọc. Cô hẳn đã thiếp đi khi đang đọc sách.
Bốn giờ hai mươi. Buổi diễn tập của Lydia kéo dài đến bảy giờ.
Cô ngồi dậy và lắng nghe. Cô có thể nghe tiếng chim hải âu kêu quang quác ở
Hardings và tưởng tượng cảnh truy lùng kho báu của chúng, một cuộc chạy đua
điên rồ để tìm và cắn xé những mẩu bánh cuối cùng mà bọn người có làn da rám nắng
đã bất cẩn bỏ lại. Cô đứng lên và bước vào cuộc săn của chính mình, ít điên cuồng
hơn lũ hải âu, cô tìm John. Cô kiểm tra phòng ngủ và suy xét. Cô nhìn ra đường
lớn. Không có ô tô. Chỉ vừa mới nguyền rủa anh vì không để lại lời nhắn thì cô
đã thấy nó được đính nam châm trên cửa tủ lạnh.
Ali – Anh lái xe ra ngoài, sẽ về sớm, John.
Cô ngồi xuống chiếc ghế dài và nhặt quyển sách lên, Lý
trí và Tình cảm của Jane Austen, nhưng không mở nó ra. Cô thật sự không muốn
đọc chúng bây giờ. Cô chỉ mới đọc được nửa quyển Moby-Dick trước khi làm mất
nó. Cô và John đã lật tung ngôi nhà nhưng vẫn không tìm thấy. Họ thậm chí truy
tìm cả những ngóc ngách đặc biệt mà một người đãng trí có thể đặt quyển sách
vào – tủ lạnh, tủ đông, tủ đựng thức ăn, ngăn kéo tủ quần áo, tủ đựng khăn gối,
lò sưởi. Nhưng không ai tìm thấy. Cô đoán chắc mình đã để quên trên bãi biển.
Cô hy vọng thế. Đó là việc ít nhất mà cô đã làm trước khi chứng Alzheimer lại bộc
phát.
John đã đưa một bản sao khác lúc đón cô. Có thể anh đã đến hiệu
sách. Cô hy vọng là vậy. Nếu cô chờ lâu hơn, cô sẽ quên tất cả những gì đã đọc
và phải bắt đầu lại. Tất cả mọi việc. Chỉ cần nghĩ đến cũng khiến cô mệt mỏi lần
nữa. Trong khi chờ đợi, cô bắt đầu với Jane Austen, nhà văn cô yêu thích. Nhưng
tác phẩm này không thu hút được sự chú ý của cô.
Cô lang thang ở tầng trên đến phòng ngủ của Lydia. Trong số
ba đứa con, cô biết về Lydia ít nhất. Trên nóc tủ quần áo, có những chiếc nhẫn
màu ngọc lam bằng bạc, một dây chuyền bằng da, một chiếc đính đầy những hột cườm
sặc sỡ ló ra khỏi hộp các-tông để mở. Bên cạnh hộp là một đống kẹp tóc và một
cái khay để đống hương. Lydia thật sự có đôi chút lập dị.
Quần áo của con bé ở trên sàn, có cái gấp lại, có cái không.
Cũng không có gì nhiều trong ngăn kéo tủ quần áo. Con bé còn chưa dọn giường.
Lydia còn là một đứa không mấy cẩn thận.
Những quyển sách về thơ và nhạc kịch nằm trên kệ sách – Người
mẹ bóng đêm; Bữa tối với bạn bè; Bằng chứng; Cân bằng mong manh; Tuyển tập sông
Spoon; Agnes của Thiên Chúa; Những thiên thần Mỹ; Oleanna. Lydia là một diễn
viên.
Cô cầm một vài vở kịch lên và lướt qua chúng. Chúng tầm tám
mươi đến chín mươi trang, và mỗi trang chỉ thưa thớt đôi dòng. Có lẽ nó giúp
con bé dễ dàng và thoải mái hơn khi đọc kịch bản. Và mình sẽ nói về chúng với
Lydia. Cô nắm chặt vở Bằng chứng.
Sổ nhật ký, iPod của Lydia, quyển Học diễn xuất với
Sanford Meisner, và một bức tranh được đóng khung đặt trên giường của cô. Alice
cầm quyển nhật ký lên. Cô do dự, nhưng chỉ thoáng qua. Cô không có nhiều thời
gian xa xỉ. Ngồi xuống giường, cô lướt qua từng trang giấy viết về những giấc
mơ và lời thú tội của con gái mình. Cô đã đọc về những khó khăn và sự đột phá
trong lớp diễn xuất, nỗi sợ và niềm hy vọng xung quanh buổi thử giọng, sự thất
vọng và niềm vui sướng trong buổi thử vai. Cô đã đọc về niềm đam mê và sự kiên
trì của một cô gái trẻ tuổi.
Cô đọc về Malcolm. Trong khi họ đang vào vai ở một phân đoạn
kịch tính ở lớp học, Lydia đã phải lòng anh ta. Một lần con bé nghĩ mình có thể
mang thai, nhưng không. Lydia cảm thấy nhẹ nhõm, vì chưa sẵn sàng để kết hôn
hay có con. Trước tiên con bé muốn tìm con đường riêng của mình trong thế giới.
Alice nghiên cứu bức ảnh được đóng khung của Lydia cùng một
người đàn ông, có thể là Malcolm. Khuôn mặt tươi cười của họ chạm vào nhau. Cả
hai trong bức ảnh đều hạnh phúc. Lydia đã là một cô gái trưởng thành.
“Ali, em có đây không?” – John hỏi.
“Em ở trên lầu này.”
Cô đặt quyển nhật ký và khung ảnh lên giường rồi bước xuống tầng
dưới.
“Anh định đi đâu à?” – Alice hỏi.
“Anh ra ngoài một lát.”
Anh cầm hai tay hai chiếc túi nhựa trắng.
“Anh đã mua cho em một bản sao mới của Moby Dick à?”
“Đại loại thế.”
Anh đưa cho Alice một chiếc túi. Nó đựng đầy những chiếc DVD
– Moby Dick với Gregory Peck và Orson Welles, Vua Lear với
Laurence Olivier, Casablanca, Bay trên tổ chim cúc cu, Giai điệu hạnh
phúc, luôn là những thứ ưa thích của cô.
“Anh nghĩ những thứ này có thể dễ dàng với em hơn. Và chúng
ta có thể cùng xem.”
Cô mỉm cười.
“Có gì trong cái túi kia vậy?”
Cô cảm thấy choáng váng, như một đứa trẻ vào buổi sáng Giáng
Sinh. Anh kéo ra một gói bỏng ngô được hâm nóng và một hộp Milk Duds.
“Chúng ta có thể xem Giai điệu hạnh phúc chứ?”
“Chắc chắn rồi.”
“Em yêu anh, John.”
Cô vòng cánh tay quanh người anh.
“Anh cũng yêu em, Ali.”
Với bàn tay đặt cao trên lưng anh, cô áp mặt vào ngực anh và
cảm nhận rõ hơi thở ấm áp của chính mình. Cô muốn nói thêm với anh, rằng anh có
ý nghĩa như thế nào, nhưng không tìm được từ để diễn tả. Anh ôm chặt cô hơn một
chút. Anh biết. Họ đứng ôm nhau mà không nói gì trong một lúc.
“Đây, em hãy đi làm bỏng ngô, còn anh sẽ lấy đĩa phim và chờ
em ở sofa” – John nói.
“Được thôi.”
Cô bước tới lò vi sóng, mở cửa lò và cười to. Cô nên cười.
“Em đã tìm thấy Moby Dick!”
ALICE ĐÃ Ở MỘT MÌNH trong vài giờ. Trong nỗi cô đơn buổi sớm,
cô uống trà xanh, đọc một vài trang sách và tập yoga ngoài bãi cỏ. Trong tư thế
“chó duỗi mình”, cô lấp đầy phổi với không khí biển ban mai trong lành và cảm
thấy xa xỉ một cách kỳ lạ, gần như niềm vui vì đau đớn kéo căng ở gân khoeo và
mông cô. Qua khóe mắt, cô quan sát thấy cơ tam đầu bên trái khớp với cơ thể ở vị
trí này. Rắn chắc, đường nét như điêu khắc, vô cùng đẹp đẽ. Cả cơ thể cô trông
thật khỏe mạnh và xinh đẹp.
Cô đang ở trong hình thái vật chất tốt nhất của cuộc đời
mình. Chế độ ăn uống lành mạnh cộng với bài tập thể dục hằng ngày cân đối với lực
ở cơ tam đầu, sự linh hoạt ở hông, bắp chân mạnh mẽ và khả năng hô hấp dễ dàng
trong suốt cuộc chạy bốn dặm. Chúng, dĩ nhiên, chỉ ở trong tâm trí cô. Không hồi
đáp, bất tuân, yếu đuối.
Cô lấy mấy viên Aricept, Namenda, loại thuốc viên bí ẩn
Amylix còn đang thử nghiệm, Lipitor, vitamin C và E, và aspirin cho trẻ em. Cô
dùng các chất chống oxy hóa bổ sung bằng các loại quả việt quất, vang đỏ, và
chocolate đen. Cô uống trà xanh. Cô thử dùng bạch quả. Cô ngồi thiền và chơi
Numero. Cô đánh răng bằng cánh tay không thuận. Cô ngủ khi đã quá mệt mỏi. Tuy
nhiên, không có nỗ lực nào trong số đó cho một kết quả có thể trông thấy hay đo
đếm được. Có lẽ khả năng nhận thức của cô sẽ xấu đi đáng kể nếu cô không tập thể
dục, dùng Aricept hay quả việt quất. Có lẽ chẳng khó khăn gì, chứng mất trí của
cô sẽ chạy điên cuồng. Có lẽ vậy. Nhưng cũng có thể toàn bộ những điều này chẳng
gây ảnh hưởng gì. Cô không thể biết, trừ khi chấm dứt điều trị, thôi ăn
chocolate hay uống vang, và ngồi chờ cho tới tháng kế. Đấy không phải cuộc thử
nghiệm cô mong muốn.
Cô đứng thành tư thế chiến binh, thở ra và chìm sâu hơn trong
tư thế lao tới kẻ thù, chấp nhận sự khó chịu và thách thức để tập trung và chịu
đựng, quyết tâm duy trì tư thế này. Quyết tâm vẫn là một chiến binh.
John bước vào nhà bếp, quả đầu bù xù như thây ma nhưng trang
phục đã sẵn sàng để chạy bộ.
“Anh muốn uống cà phê trước không?” – Alice hỏi.
“Không, ta đi thôi, anh sẽ uống khi mình quay về.”
Họ chạy hai dặm mỗi sáng dọc đường chính đến trung tâm thành
phố và trở về theo tuyến đường cũ. Cơ thể anh đã trở nên thon gọn và anh có thể
chạy ở khoảng cách này rất dễ dàng, nhưng anh đã không tận hưởng giây phút đó.
Anh chạy cùng cô, nhẫn nhịn và không than vãn, với sự nhiệt tình và say mê như
khi anh trả hóa đơn hay giặt giũ. Và cô yêu anh vì lẽ đó.
Cô chạy phía sau, để anh chọn tốc độ, quan sát và lắng nghe
như thể anh là một nhạc cụ tuyệt đẹp – khuỷu tay anh đánh qua lại như con lắc,
hơi thở ra nhịp nhàng và thoáng mát, nhịp gõ của đôi giày thể thao xuống vỉa hè
đầy cát. Sau đó anh nhổ nước bọt, và cô bật cười. Anh cũng không hỏi tại sao.
Họ đang trên đường về nhà, cô vẫn chạy bên cạnh anh. Trong một
thoáng thương cảm, cô định nói với anh rằng anh không cần phải chạy cùng cô nếu
không muốn, rằng cô có thể tự xử lý những tuyến đường này. Nhưng sau đó, theo lộ
trình của anh, họ rẽ phải vào một ngã ba trên đường Mill về phía ngôi nhà, nơi
cô đã định rẽ trái. Alzheimer không thích bị bỏ quên.
Trở về nhà, cô cảm ơn, hôn lên gò má ướt đẫm mồ hôi của anh,
và sau đó họ đi thẳng vào nhà tắm, bỏ qua Lydia còn trong bộ đồ ngủ và đang uống
cà phê ngoài cổng. Mỗi buổi sáng, cô và Lydia thảo luận mọi vở kịch. Alice đã
liếc qua phần ngũ cốc với việt quất, bánh vòng hạt mè với kem phô mai, cà phê
và trà. Bản năng của Alice đã đúng. Cô thích đọc những vở kịch bất tận hơn là
những tiểu thuyết hay tiểu sử danh nhân, và kể những gì vừa đọc với Lydia, cho
dù đó là cảnh một, hành động đầu, hoặc toàn bộ vở kịch, đã chứng minh một cách
thú vị và mạnh mẽ cho việc tăng cường bộ nhớ của cô. Qua việc phân tích phân cảnh,
nhân vật, và cốt truyện với Lydia, Alice nhận thấy chiều sâu trong trí tuệ của
con gái mình, sự hiểu biết phong phú về nhu cầu, cảm xúc và sự đấu tranh của
con người. Cô nhìn Lydia. Và cô yêu con bé.
Hôm nay, họ thảo luận về một cảnh của vở Những thiên thần
Mỹ. Họ lướt tới lui những lời hỏi đáp đầy hăm hở, cuộc đối thoại hai chiều,
bình đẳng, vui vẻ. Vì Alice không phải cạnh tranh với John để hoàn thiện ý nghĩ
của mình, cô có thêm thời gian và không bị bỏ lại phía sau.
“Con thấy thế nào khi đóng cảnh này với Malcolm?” – Alice hỏi.
Lydia nhìn chằm chằm cô như thể câu hỏi kia thổi bay hết tâm
trí cô.
“Hả?”
“Không phải con và Malcolm đã diễn cảnh này trong lớp sao?”
“Mẹ đọc nhật ký của con?”
Dạ dày của Alice trống rỗng. Cô cứ nghĩ Lydia đã từng nói với
cô về Malcolm.
“Con yêu, mẹ xin lỗi...”
“Con không tin được mẹ làm thế. Mẹ chẳng biết lý lẽ gì cả!”
Lydia đẩy ghế và giận dữ bỏ đi, mặc kệ một mình Alice ngồi ở
bàn, choáng váng và mặt mày xây xẩm. Một vài phút sau, Alice nghe thấy tiếng cửa
trước đóng sầm lại.
“Đừng lo lắng, con bé sẽ bình tĩnh lại thôi” – John nói.
Cả buổi sáng cô đã cố làm điều gì đó khác: dọn dẹp, làm vườn,
đọc sách, nhưng tất cả những gì cô làm được chỉ là lo lắng. Cô lo mình đã gây
ra một chuyện không thể tha thứ được và sẽ đánh mất sự tôn trọng, lòng tin, và
tình yêu của đứa con gái mà cô chỉ mới vừa thấu hiểu.
Sau bữa trưa, Alice và John đi bộ ngoài bãi biển Hardings.
Alice bơi cho đến khi cơ thể hoàn toàn kiệt sức. Cô không còn cảm thấy cồn cào
trong ruột, cô trở lại ghế dài, ngả người ra, nhắm mắt và tĩnh tâm.
Cô đã từng đọc được ở đâu đó rằng ngồi thiền có thể làm tăng
độ dày của vỏ não và làm chậm sự lão hóa. Lydia đều thiền mỗi ngày, và khi
Alice bày tỏ sự quan tâm, Lydia đã dạy cô. Cho dù nó có giúp duy trì độ dày vỏ
não hay không, Alice vẫn thích thời điểm tập trung yên tĩnh này, nó rất hiệu quả
và giữ kín những tiếng ồn lộn xộn, lo lắng trong đầu cô. Nó thật sự mang bình
yên cho tâm trí cô.
Sau khoảng hai mươi phút, cô trở lại trạng thái thức tỉnh,
thoải mái, tràn đầy sinh lực, và nóng nực. Cô lại ra biển, chỉ để nhanh chóng
được ngâm mình trong khoảng thời gian này, giải phóng mồ hôi, nhiệt trong cơ thể
nhờ muối biển và tận hưởng sự mát mẻ. Trở lại ghế ngồi, cô nghe thấy một phụ nữ
ngồi trên tấm trải bên cạnh nói về vở nhạc kịch tuyệt vời mà bà ta vừa xem ở
nhà hát Monomoy. Cô lại cảm thấy cồn cào trong dạ dày.
Tối hôm đấy, John nướng burger phô mai, còn Alice làm salad.
Lydia không hề về nhà ăn tối.
“Anh chắc là do buổi diễn tập kết thúc hơi trễ một tí thôi” –
John nói.
“Nó ghét em.”
“Nó không ghét em đâu.”
Sau bữa tối, Alice uống thêm hai ly vang đỏ, còn John đã uống
ba ly scotch. Vẫn không thấy Lydia về. Sau khi Alice dốc số thuốc buổi tối vào
dạ dày đang nhộn nhạo của mình, họ ngồi trên ghế dài với bát bỏng ngô, một hộp
Milk Duds và xem Vua Lear.
John đánh thức cô trên chiếc ghế dài. Tivi đã tắt và căn nhà
chìm trong bóng tối. Cô chắc hẳn đã ngủ trước khi bộ phim kết thúc. Dù thế nào
cô cũng không nhớ ra cái kết. Anh dẫn cô lên cầu thang để vào phòng ngủ của họ.
Cô đứng ở bên giường, đặt tay lên miệng vì không thể tin nổi,
nước mắt đầm đìa trên mặt, nỗi lo lắng bị trục xuất khỏi dạ dày và tâm trí cô.
Nhật ký của Lydia nằm trên ghế.
“XIN LỖI CON VỀ TRỄ" – TOM NÓI và bước vào.
“Được rồi, mọi người, giờ có Tom ở đây, Charlie và con có một
vài tin muốn chia sẻ” – Anna nói, – “Con đã mang thai năm tuần và là song
sinh!”
Những cái ôm, nụ hôn và lời chúc mừng cũng như các câu hỏi
liên tiếp dành tặng cho Anna. Khi Alice bắt đầu cảm thấy mình khó có thể theo kịp
cuộc trò chuyện của các thành viên, sự nhạy cảm trong cô cùng những điều chưa
nói, ngôn ngữ cơ thể và cảm xúc kìm nén bắt đầu lớn dần lên. Cô đã kể hiện tượng
này với Lydia vào vài tuần trước, con bé nói rằng đấy là một kỹ năng tuyệt vời
để trở thành diễn viên. Con bé nói rằng mình và những diễn viên khác đã vô cùng
khó khăn khi nỗ lực tập trung tách rời bản thân khỏi ngôn ngữ nói để không bị ảnh
hưởng bởi hành động và cảm xúc của người khác. Alice không hoàn toàn hiểu hết sự
khác biệt ấy, nhưng cô yêu cái cách mà Lydia nhìn khuyết điểm của cô như một kỹ
năng tuyệt vời.
John trông hạnh phúc và vui mừng, nhưng Alice thấy anh chỉ chạm
vào một chút niềm hạnh phúc và vui mừng mà anh thật sự cảm thấy, có lẽ vì cố gắng
tôn trọng lời cảnh báo “vẫn còn quá sớm” của Anna. Thậm chí nếu Anna không cảnh
báo, anh vẫn mê tín dị đoan, tin rằng “nói trước bước không qua”. Nhưng anh đã
không đợi được nữa. Anh muốn có cháu.
Ẩn chứa trong niềm hạnh phúc và phấn khích của Charlie, Alice
nhìn thấy sự căng thẳng dày đặc bao phủ quanh một lớp khủng hoảng còn dày hơn.
Alice nghĩ mọi người dễ dàng nhìn ra được, nhưng chỉ riêng Anna dường như không
biết gì, và cũng không ai ý kiến về điều đó. Hay cô chỉ đang nhìn thấy sự lo lắng
điển hình của một người lần đầu làm cha? Charlie đang lo lắng vì phải nuôi hai
miệng ăn cùng một lúc hay trả học phí đại học cũng gấp đôi? Chúng chỉ giải
thích cho sự căng thẳng đang hiện trên mặt Charlie. Hay cậu ấy cũng đang sợ cái
viễn cảnh có hai đứa con học đại học, và, cùng lúc đó, với một người vợ bị mất
trí?
Lydia và Tom đứng cạnh nói chuyện với Anna. Những đứa trẻ
xinh đẹp, những đứa trẻ đã không còn là trẻ con nữa. Lydia trông thật rạng rỡ;
con bé đang thích thú với tin vui này còn hơn là việc cả gia đình đều ở đây để
xem con bé diễn.
Tom nở nụ cười chân thành, nhưng Alice thấy một tia bứt rứt từ
cậu, đôi mắt và má hơi chùng, cơ thể cậu căng cứng hơn. Có phải vì trường lớp?
Một cô bạn gái à? Tom nhận ra mẹ đang quan sát mình.
“Mẹ, mẹ cảm thấy thế nào?” – Cậu hỏi.
“Khá là tuyệt.”
“Thật chứ?”
“Ừ, thật tình là mẹ thấy ổn.”
“Mẹ yên lặng quá đấy.”
“Có nhiều người nói cùng lúc với nói nhanh quá mà” – Lydia
lên tiếng.
Nụ cười của Tom vụt tắt, và trông anh như chực khóc. Chiếc
BlackBerry của Alice trong cái túi em bé màu xanh ở bên hông cô, rung lên nhắc
nhở đã đến giờ uống thuốc buổi chiều. Cô muốn trì hoãn vài phút. Cô không muốn
uống chúng lúc này, ngay trước mặt Tom.
“Lyd, buổi trình diễn ngày mai của con là lúc mấy giờ vậy?” –
Alice hỏi, cầm chiếc BlackBerry trong tay.
“Tám giờ ạ.”
“Mẹ, mẹ không cần lên lịch gì đâu. Tụi con đều ở đây mà. Mẹ cứ
làm như tụi con sẽ quên đưa mẹ đi cùng ấy” – Tom nói.
“Tên vở kịch chúng ta sắp xem là gì vậy?” – Anna hỏi.
“Bằng chứng” – Lydia đáp.
“Em lo lắng không?” – Tom hỏi.
“Một chút, bởi vì đây là vở mở đầu đêm diễn, và nhà mình đều
tới xem. Nhưng em sẽ quên sự tồn tại của mọi người ngay khi em lên sân khấu
thôi.”
“Lydia, mấy giờ con diễn vậy?” – Alice hỏi.
“Mẹ, mẹ vừa hỏi rồi. Đừng bận tâm về nó nữa” – Tom lên tiếng.
“Lúc tám giờ, mẹ ạ” – Lydia trả lời. – “Tom, anh vô dụng
quá.”
“Không, em mới là vô dụng đấy. Sao em cứ làm mẹ lo lắng về
chuyện phải nhớ giờ giấc trong khi mẹ chả cần bận tâm về nó chứ?”
“Mẹ sẽ không phải lo nếu ghi chú trong chiếc BlackBerry. Cứ để
mẹ làm vậy đi” – Lydia nói.
“Ồ, mẹ không nên phụ thuộc vào chiếc BlackBerry đó quá. Mẹ
nên vận động trí nhớ một xíu khi có thể” – Anna nói.
“Vậy là sao? Mẹ nên nhớ giờ diễn của em hay phụ thuộc mọi thứ
vào chúng ta?” – Lydia hỏi.
“Em nên khuyến khích mẹ tập trung và thực sự chú ý. Mẹ nên cố
gắng tự mình nhớ lại những thông tin và không được lười biếng” – Anna đáp.
“Mẹ không hề lười biếng” – Lydia nói.
“Em và chiếc BlackBerry đó đang làm thế đấy. Nhìn xem, mẹ, giờ
diễn của Lydia là mấy giờ thế?” – Anna hỏi.
“Mẹ không biết. Bởi vậy mẹ mới hỏi con bé” – Alice đáp.
“Em ấy nói đi nói lại tận hai lần rồi, mẹ à. Mẹ có thể cố nhớ
những gì em ấy nói không?”
“Anna, dừng đùa giỡn như vậy đi” – Tom gầm lên.
“Mẹ đang tính lưu nó trong chiếc BlackBerry thì con gián đoạn
mẹ.”
“Con không kêu mẹ nhìn vào cái di động BlackBerry đó. Con muốn
mẹ nhớ thời gian mà em ấy đã nói.”
“À, mẹ không cần phải nhớ, vì mẹ sẽ ghi chúng vào điện thoại
của mình.”
“Mẹ, chỉ cần nghĩ một giây thôi. Mấy giờ ngày mai Lydia sẽ biểu
diễn?”
Alice không biết câu trả lời, nhưng cô nghĩ Anna đáng thương
cần phải đặt mình vào vị trí của cô.
“Lydia, mai mấy giờ con biểu diễn?” – Alice hỏi.
“Tám giờ ạ.”
“Lúc tám giờ, Anna.”
TÁM GIỜ KÉM NĂM PHÚT, họ yên vị tại chỗ của mình, ở khu vực
trung tâm hàng thứ hai. Nhà hát Monomoy là một nơi ấm cúng, với một trăm ghế ngồi
và một sàn sân khấu cách hàng ghế đầu hơn một mét. Alice không thể chờ đến khi
đèn tắt hết. Cô đã đọc vở kịch và nói về nó rất nhiều lần với Lydia. Cô thậm
chí còn muốn giúp con bé định hướng nhân vật. Lydia diễn vai Catherine, con gái
của một thiên tài toán học điên loạn đã mất. Alice không thể chờ để thấy những
nhân vật này hiện hữu trước mặt mình.
Từ phân cảnh đầu tiên, diễn xuất nhiều sắc thái, trung thực
và đa chiều, khiến Alice dễ dàng đắm chìm hoàn toàn trong thế giới tưởng tượng
mà những diễn viên tạo ra. Catherine tuyên bố cô đã viết một chứng minh mang
tính đột phá, nhưng cả người cô yêu thương lẫn em gái đều ghẻ lạnh và thắc mắc
liệu thần kinh cô có ổn định. Cô tự tra tấn mình với nỗi sợ hãi rằng, giống như
người cha thiên tài, có thể cô bị điên. Alice trải qua nỗi đau, sự phản bội, và
sợ hãi cùng với cô. Nhân vật Catherine đã mê hoặc mọi người từ đầu chí cuối.
Sau đó, các diễn viên ra ngoài chào khán giả. Catherine cười
rạng rỡ. John tặng hoa cho cô và ôm thật chặt.
“Con thật tuyệt, thật không thể tin được!” – John nói.
“Cảm ơn bố! Nó không tuyệt đến thế chứ?”
Những người khác cũng ôm hôn và ca tụng Lydia.
“Cháu đã tỏa sáng và đẹp rạng ngời khi diễn” – Alice nói.
“Cảm ơn mẹ.”
“Liệu chúng tôi có được xem cháu diễn vở nào trong mùa hè này
nữa không?” – Alice hỏi.
Lydia nhìn Alice một lúc lâu đầy khó chịu trước khi trả lời.
“Không, đây là vai diễn duy nhất của con trong mùa hè này.”
“Cháu chỉ ở đây vào mùa hè thôi à?”
Câu hỏi đặt ra dường như khiến Lydia buồn hơn bao giờ hết.
Đôi mắt con bé ngấn nước.
“Phải, con sẽ trở lại L.A vào cuối tháng Tám, nhưng con sẽ trở
lại như thế này nhiều lần để thăm gia đình.”
“Mẹ, đó là Lydia, con gái mẹ đấy” – Anna đáp.
- 13 -
tháng chín, năm 2004
Tình trạng khỏe mạnh của một tế bào thần kinh phụ thuộc vào
khả năng của nó khi tiếp xúc với tế bào khác. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự
kích thích điện và hóa học từ cả hai đầu sẽ hỗ trợ hoạt động của một tế bào sống.
Những tế bào thần kinh sẽ không kết nối hiệu quả với các tế bào đã bị teo, thật
vô vọng, một tế bào không kết nối được sẽ là tế bào chết.
THÁNG CHÍN, NĂM 2004
Dù học kỳ mùa thu ở Harvard đã chính thức bắt đầu, thời tiết
vẫn diễn ra y nguyên như trên tờ lịch. Vào một ngày mùa hè ẩm ướt tháng Chín,
nhiệt độ hơn hai mươi sáu độ, Alice khởi hành đến Harvard Yard. Trong những
ngày gần kề kỳ tuyển sinh hàng năm, cô luôn thấy hào hứng khi được gặp những
sinh viên năm nhất đến từ ngoài New England. Mùa thu ở Cambridge gợi nên hình ảnh
cành lá đung đưa, cảnh hái táo, những trận bóng bầu dục, những chiếc áo len
cùng với khăn quàng cổ. Một ngày tháng Chín ở Cambridge sẽ chẳng có gì bất thường
nếu thức dậy lúc gần trưa mà thấy sương giá đọng trên những quả bí ngô. Trong
khi ấy, những ngày tháng Chín này, đặc biệt những ngày đầu tháng vẫn ồn ã tiếng
máy điều hòa trên các cửa sổ gầm rú huyên náo không ngừng và những cuộc tranh
luận nhốn nháo đầy lạc quan về đội bóng bầu dục Red Sox. Dĩ nhiên năm nào cũng
vậy, những sinh viên mới đến lang thang dọc theo vỉa hè của Harvard Square, mơ
hồ như khách đi du lịch trái mùa. Họ lúc nào cũng khoác lên mình hàng tá các lớp
áo len lông và quá chừng giỏ xách mua sắm từ Harvard Coop. Trong đó đựng đầy
các vật dụng cho bàn học và áo thun dán nhãn Harvard. Những thứ tầm thường đáng
yêu.
Dù chỉ mặc một chiếc áo thun sợi bông và chiếc váy dài đến mắt
cá, Alice cảm thấy ẩm ướt khó chịu ngay khi đến văn phòng của Eric Wellman. Căn
phòng ấy nằm trên lầu, ngay trên văn phòng của Alice, diện tích bằng nhau, bố
trí các vật dụng như nhau và cùng hướng ra Boston và sông Charles, nhưng dù sao
văn phòng của Eric vẫn trông ấn tượng và uy nghiêm hơn. Cô luôn cảm thấy mình
như một sinh viên mỗi khi vào phòng anh, và hôm nay cảm xúc ấy đặc biệt dâng
lên khi anh gọi cô vào “để nói chuyện một chút.”
“Kỳ nghỉ hè thế nào?” – Eric hỏi cô.
“Rất thoải mái. Còn anh thì sao?”
“Cũng ổn, mà trôi qua nhanh quá. Chúng tôi đều nhớ cuộc hội
thảo hồi tháng Sáu được gặp cô.”
“Tôi biết, tôi cũng thấy nhớ.”
“Vâng, Alice, tôi muốn bàn với cô về các đánh giá khóa học của
cô cho kỳ vừa rồi trước khi các lớp mới bắt đầu.”
“Ồ, tôi chưa có thời gian để xem qua nữa.”
Một chồng đánh giá khóa học Động lực và cảm xúc của cô được cột
dây thun ở đâu đó trong văn phòng vẫn chưa được động đến. Đánh giá phản hồi của
sinh viên Harvard hoàn toàn vô danh và chỉ giảng viên của khóa học và trưởng
khoa mới được xem. Trước đây, cô chỉ đọc qua những bảng đánh giá ấy để kiểm tra
thôi. Cô biết mình là một giảng viên giỏi, và những bảng đánh giá sinh viên của
cô luôn nhận được cái gật đầu đồng ý không hề nao núng. Nhưng Eric chưa bao giờ
yêu cầu cô xem lại chúng. Cô cảm thấy sợ, lần đầu tiên trong sự nghiệp, cô
không thể đối diện với chính mình, thông qua những bảng đánh giá ấy.
“Đây, cô hãy dành ít phút xem qua nào.”
Anh đưa cô bản sao của chồng đánh giá cùng với trang tóm tắt
đặt ở trên.
Trên thang điểm từ một đến năm, từ hoàn toàn không đồng ý đến
đồng ý hoàn toàn: Giảng viên thúc đẩy sinh viên làm việc đạt hiệu quả cao.
Toàn bốn đến năm điểm.
Học tại lớp nâng cao khả năng hiểu tài liệu. Bốn, ba và hai
điểm.
Giảng viên giúp tôi hiểu những khái niệm khó hiểu và ý tưởng
phức tạp.
Vẫn bốn, ba và hai.
Giảng viên khích lệ đặt câu hỏi và cân nhắc các quan điểm
khác nhau.
Hai học sinh đánh giá một điểm.
Trên thang điểm từ một đến năm theo mức từ kém đến xuất sắc,
hãy đánh giá chung giảng viên.
Hầu như là ba điểm. Nếu cô nhớ không lầm, cô chưa bao giờ nhận
được điểm thấp hơn bốn trong mục này.
Toàn bộ trang tóm tắt được rải lên những con điểm ba, hai và
một. Cô không cố tự nhủ rằng bảng đánh giá ấy chẳng thể hiện một điều gì ngoài
nhận xét tường tận, chính xác không chút hiềm khích từ các sinh viên của cô.
Nhìn từ bên ngoài có thể thấy được khả năng giảng dạy của cô còn bị ảnh hưởng
nhiều hơn những gì cô ý thức được. Dù vậy, cô vẫn sẵn sàng cược mọi thứ rằng cô
vẫn còn giỏi hơn rất nhiều so với người được đánh giá tệ nhất trong khoa. Có lẽ
cô chìm xuống nhanh thật, nhưng không lý gì cô chạm đến đáy cả.
Cô ngước nhìn Eric, sẵn sàng đối mặt với âm điệu có lẽ cô chẳng
thích nhưng cũng không hẳn là khó chịu.
“Nếu tôi không thấy tên cô trong bảng tổng kết này, tôi sẽ chẳng
suy nghĩ gì đâu. Sự tụt dốc như vầy vốn không phải những gì tôi thường thấy ở
cô, nhưng thật ra cũng chưa đến nỗi. Cái đáng quan tâm là những nhận xét được
viết ra, và tôi nghĩ là chúng ta nên nói chuyện.”
Alice chưa xem thêm gì ngoài trang tổng kết. Anh chuyển sang
ghi chép của anh và đọc lớn.
“Cô bỏ qua cả những khối kiến thức khổng lồ trong chương
trình nên sinh viên cũng bỏ qua luôn, nhưng khi kiểm tra cô lại muốn chúng em
biết những kiến thức ấy.”
“Có vẻ như cô không biết về kiến thức mình đang dạy.”
“Đi học thật phí thời gian. Em có thể tự đọc sách.”
“Theo dõi bài giảng của cô không dễ chút nào. Mà ngay cả cô
còn không theo được. Khóa học này so với khóa khởi đầu của cô thì kém xa.”
“Một lần cô vào lớp nhưng chẳng dạy gì. Cô chỉ ngồi vài phút
rồi đi mất. Lần khác, cô giảng lại đúng bài cô đã giảng một tuần trước. Em
không bao giờ dám làm mất thời gian của Tiến sĩ Howland nhưng em nghĩ cô cũng
không nên làm mất thời gian của em.”
Không dễ nghe chút nào. Tình hình thật sự trầm trọng hơn rất
nhiều những gì cô ý thức được.
“Alice, chúng ta biết nhau lâu rồi phải không?”
“Đúng vậy.”
“Vậy bỏ qua cho tôi hỏi chuyện riêng tư nhé. Gia đình cô ổn
chứ?”
“Vâng.”
“Vậy còn cô thì sao, có khi nào cô cảm thấy quá căng thẳng
hay trầm cảm không?”
“Không, không phải đâu.”
“Thật sự tôi cũng hơi ngượng khi hỏi thế này, nhưng cô có
nghĩ là cô bị nghiện rượu hay vấn đề tế nhị gì không?”
Cô thật sự đã nghe đủ. Cô không thể sống khi mang tiếng
nghiện ngập trầm cảm hay căng thẳng gì cả. Thà bị mất trí vẫn còn ít phải chịu
nhục hơn như thế.
“Eric, tôi mắc chứng Alzheimer.”
Mặt anh trắng bệch đi. Anh đã sẵn sàng nghe chuyện John phản
bội cô. Anh cũng chuẩn bị giới thiệu một bác sĩ tâm lý giỏi cho cô. Anh thậm
chí lên hẳn kế hoạch can thiệp hoặc buộc cô phải chấp nhận vào bệnh viện McLean
để cai rượu. Nhưng anh chưa chuẩn bị cho tình huống này.
“Tôi được chẩn đoán hồi tháng Một. Học kỳ vừa rồi tôi giảng dạy
rất khó khăn, nhưng tôi không nhận thức được căn bệnh diễn tiến đến như vậy.”
“Tôi rất tiếc, Alice.”
“Tôi cũng vậy.”
“Tôi không lường trước chuyện này.”
“Tôi cũng không.”
“Tôi đã nghĩ là có gì đó nhất thời rồi cô sẽ vượt qua. Đây
không phải là vấn đề nhất thời chúng ta đang mong đợi.”
“Không, không phải đâu.”
Alice nhìn anh suy nghĩ. Eric giống như người cha của tất cả
mọi người trong khoa, anh luôn bảo ban và rộng lượng, nhưng cũng rất thực tế và
nghiêm khắc.
“Hàng năm phụ huynh phải đóng bốn mươi nghìn đô. Họ không dễ
chấp nhận chuyện này đâu.”
Không, dĩ nhiên là không. Họ đâu có vung ra hàng đống tiền để
cho con trai con gái họ đi học một giảng viên mắc Alzheimer. Có thể cô cũng đã
thoáng nghe thấy những lời gièm pha xáo trộn trên chương trình thời sự buổi tối.
“Ngoài ra, một vài học sinh trong lớp cô đang tranh cãi về điểm.
Tôi sợ chuyện này sẽ tiếp tục gia tăng.”
Trong suốt hai mươi lăm năm giảng dạy, chưa từng có ai tranh
cãi về số điểm mà cô cho. Chưa một sinh viên nào.
“Tôi nghĩ có lẽ cô không nên tiếp tục giảng dạy, nhưng tôi
tôn trọng chương trình của cô. Cô có kế hoạch gì chưa?”
“Tôi hi vọng được ở lại hết năm rồi tôi sẽ đi nghiên cứu. Tôi
đã không chú ý đến vấn đề là những triệu chứng biểu hiện và ảnh hưởng đến bài
giảng như vậy. Tôi không muốn trở thành một giảng viên kém cỏi, Eric à. Tôi
không phải như vậy.”
“Tôi biết là không. Vậy cáo bệnh rồi sau đó cô bắt đầu năm
nghiên cứu thì thế nào?”
Anh muốn cô nghỉ ngay. Cô vốn là một người gương mẫu trong
công việc và có quá khứ sáng sủa, quan trọng nhất là cô thuộc biên chế. Theo
pháp lý, họ không được sa thải cô. Nhưng cô không muốn giải quyết theo hướng
như vậy. Cô càng muốn tiếp tục sự nghiệp thì cô càng phải chiến đấu với bệnh
Alzheimer chứ không phải với Eric hay Đại học Harvard.
“Tôi chưa sẵn sàng ra đi, nhưng tôi đồng ý với anh, mặc dù
tim tôi muốn nát vụn ra, tôi nghĩ là tôi không nên dạy nữa. Tôi sẽ tiếp tục làm
giáo viên hướng dẫn cho Dan và tôi vẫn muốn tiếp tục tham gia các hội nghị
chuyên đề và các cuộc họp.”
Tôi không còn là giảng viên nữa.
“Tôi nghĩ chúng ta sẽ sắp xếp được. Tôi muốn cô nói chuyện với
Dan, giải thích cho cậu ấy những gì đang xảy ra và để cậu ấy tự quyết định. Tôi
cũng sẽ rất vui được đồng hướng dẫn với cô nếu cô cảm thấy thoải mái. Ngoài ra,
rõ ràng là cô cũng không nên đảm nhiệm thêm nghiên cứu sinh nào nữa. Dan sẽ là
người cuối cùng.”
Tôi không còn là nhà nghiên cứu khoa học nữa.
“Có lẽ cô cũng không nên nhận lời phát biểu ở các đại học
khác hoặc là ở các buổi hội thảo. Với khả năng hiện tại thì xuất hiện ở Harvard
không phải là ý hay. Tôi cũng để ý rằng cô hầu như cũng không đi xa nữa, nên chắc
cô cũng đã nhận ra việc này rồi chứ.”
“Vâng, đúng vậy.”
“Cô muốn sắp xếp để báo với lãnh đạo và các thành viên trong
khoa như thế nào? Tôi cũng nhắc lại là tôi tôn trọng chương trình của cô, cô muốn
làm sao cũng được.”
Cô sắp sửa nghỉ dạy, thôi làm nghiên cứu, đi lại và giảng
bài. Mọi người sẽ chú ý đến. Họ sẽ suy diễn, xầm xì to nhỏ bàn tán. Họ sẽ nghĩ
rằng cô là một con nghiện, trầm cảm, căng thẳng. Mà có khi một vài người cũng
đã làm vậy rồi.
“Tôi sẽ báo với họ. Tôi nên tự nói.”
NGÀY 17 THÁNG CHÍN, NĂM 2004
Chào tất cả bạn bè đồng nghiệp,
Mặc dù rất đắn đo và vô cùng nuối tiếc, nhưng tôi đã quyết định
rút khỏi mọi công việc giảng dạy, nghiên cứu ở Harvard. Vào tháng Một năm nay,
tôi đã được chẩn đoán mắc phải Alzheimer khởi phát sớm.
Mặc dù căn bệnh của tôi mới ở giai đoạn đầu với mức độ vừa phải,
nhưng sự khó lường trong suy giảm nhận thức khiến tôi không thể đạt được những
yêu cầu cho vị trí hiện tại cùng với những tiêu chuẩn cao nhất mà nơi đây và cả
tôi luôn đặt ra cho bản thân.
Tuy mọi người không còn gặp tôi ở các giảng đường hay thấy
tôi vùi đầu vào viết những đề xuất kinh phí nữa, tôi vẫn ở lại dưới vai trò giảng
viên hướng dẫn luận văn của Dan Maloney, và tôi sẽ vẫn tham gia các buổi họp và
hội nghị chuyên đề. Ở đó, tôi hi vọng được chào đón để tiếp tục cống hiến như một
thành viên tích cực.
Xin gửi đến tình cảm và sự biết ơn chân thành nhất,
Alice Howland
TUẦN ĐẦU TIÊN CỦA KỲ HỌC vào mùa thu, Marty tiếp quản công việc
giảng dạy của Alice. Khi cô gặp anh để bàn giao giáo trình và các tài liệu giảng
dạy, anh ôm lấy cô và bày tỏ sự tiếc nuối. Anh hỏi cô cảm thấy thế nào và anh
có thể làm gì cho cô không. Cô cảm ơn anh và nói rằng cô vẫn khỏe. Và khi anh
đã nhận đủ mọi thứ để bắt đầu khóa học, anh rời khỏi văn phòng của cô nhanh hết
mức có thể.
Khá nhiều những thành viên trong khoa cũng đến y như thế.
“Tôi rất tiếc, Alice.”
“Tôi không thể tin được.”
“Tôi không biết làm sao nữa.”
“Tôi có thể làm gì bây giờ?”
“Cô chắc không? Cô trông không khác gì mấy.”
“Tôi rất tiếc.”
“Tôi rất tiếc.”
Rồi họ rời đi thật nhanh. Họ đến gặp cô bày tỏ lòng tốt theo
lẽ lịch sự, nhưng họ không đến thường xuyên. Đa phần là bởi lịch làm việc của họ
đặc kín còn lịch của Alice hiện tại trống trơn. Nhưng một nguyên nhân không
quan trọng lắm là họ không muốn đến. Gặp mặt cô cũng như đối mặt với căn bệnh
thần kinh của cô và một ý nghĩ sẽ nảy ra trong nháy mắt mà không thể tránh được:
Họ sẽ bị lây bệnh. Gặp mặt cô thật đáng sợ, và đối với hầu hết mọi người là vậy.
Trừ khi trong các buổi họp và hội nghị chuyên đề họ buộc phải gặp.
NGÀY HÔM NAY LÀ BUỔI ĐẦU TIÊN của hội nghị chuyên đề về Tâm
lý học diễn ra trong giờ ăn trưa. Leslie, một trong những sinh viên cao học của
Eric đã đứng chuẩn bị sẵn sàng ở đầu bàn hội thảo. Trang trình chiếu tiêu đề đã
chiếu sẵn lên màn hình. “Đi tìm lời giải: Sự chú ý ảnh hưởng đến khả năng
nhận biết những điều chúng ta nhìn thấy như thế nào.” Alice cũng đã sẵn
sàng, cô ngồi vào ghế đầu tiên ở chiếc bàn đối diện với Eric. Cô bắt đầu dùng bữa
trưa, món bánh xếp cà tím và rau trộn, trong khi ấy, Eric đang thảo luận với
Leslie, rồi mọi người dần dần vào kín cả căn phòng.
Vài phút sau, Alice để ý rằng, mọi chỗ tại bàn đều có người
ngồi, trừ chiếc ghế bên cạnh cô, và những người đến sau đó bắt đầu đứng ra phía
sau phòng. Ai cũng muốn ngồi vào bàn. Không chỉ vì vị trí thuận tiện để theo
dõi bài thuyết trình, mà vì ngồi ở bàn thì không phải đối mặt với tình cảnh rối
rắm xoay sở giữa dao nĩa, đĩa thức ăn, thức uống, bút và sổ tay. Nhưng rõ ràng,
tình cảnh đó vẫn đỡ hơn ngồi cạnh cô. Cô nhìn những người đang không nhìn cô.
Khoảng năm mươi người lấp đầy căn phòng này là những người cô đã quen biết bao
năm nay, cô đã coi họ như người thân trong gia đình.
Dan vội chạy vào, tóc anh rối bời, áo sơ-mi luộm thuộm, anh
đeo kính thay vì kính áp tròng. Anh dừng lại một lúc, rồi đi thẳng đến chiếc ghế
trống cạnh Alice và thả quyển sổ lên bàn như tuyên bố đó là chỗ của anh.
“Em đã thức cả đêm để viết. Em phải kiếm gì ăn đã, em quay lại
liền.”
Phần thuyết trình của Leslie kéo dài cả tiếng đồng hồ. Phải
tràn trề năng lượng lắm mới theo dõi hết được, nhưng Alice vẫn theo dõi đến
cùng. Sau khi Leslie đã mở hết các trang trình chiếu và màn hình còn lại trống
trơn, cô ấy bắt đầu mời mọi người thảo luận. Alice bắt đầu trước tiên.
“Vâng, mời Tiến sĩ Howland” – Leslie nói.
“Tôi nghĩ em đã thiếu một nhóm kiểm soát để đo đạc chính xác
khả năng đánh lạc hướng của các yếu tố gây nhiễu. Em có thể lập luận rằng, cho
dù vì bất cứ lý do nào, một số yếu tố không được chú ý đến và sự hiện diện của
chúng không gây phân tâm. Em có thể kiểm tra khả năng của các đối tượng nghiên
cứu có đồng thời để ý và hướng sang các yếu tố gây nhiễu hay không, hoặc em có
thể thực hiện một chuỗi thử nghiệm trong đó em thay đổi từng yếu tố gây nhiễu
cho từng đối tượng.”
Nhiều người ngồi tại các bàn gật đầu tán thành. Dan ậm ờ, miệng
anh tọng đầy bánh xếp. Leslie chộp lấy cây viết trước khi Alice kết thúc ý kiến
của cô và hí hoáy ghi chép.
“Phải rồi. Leslie, hãy mở lại trang thiết kế thí nghiệm một
lát” – Eric bảo với cô.
Alice nhìn quanh căn phòng. Mọi ánh nhìn đang dán vào màn
hình. Họ chăm chú nghe Eric giải thích về bình luận của Alice. Nhiều người tiếp
tục gật đầu. Cô cảm thấy chiến thắng và một chút tự mãn. Việc cô mắc phải
Alzheimer đâu có nghĩa cô không còn lập luận phân tích được nữa. Cũng đâu có
nghĩa cô không xứng đáng được ngồi giữa bọn họ. Và càng không có nghĩa cô không
còn xứng đáng được lắng nghe.
Câu hỏi cùng các câu trả lời tiếp nối thắc mắc và giải đáp
kéo theo đó vài phút nữa. Alice ăn nốt phần bánh xếp và rau trộn của cô. Dan đứng
lên rồi quay lại tức khắc. Leslie chiến đấu với câu hỏi phản biện từ nghiên cứu
sinh mới của Marty đặt ra. Màn hình đang chiếu trang thiết kế thí nghiệm của cô
ấy. Alice đọc rồi giơ tay lên.
“Vâng, thưa Tiến sĩ Howland?” – Leslie hỏi cô.
“Tôi nghĩ em đã thiếu một nhóm kiểm soát để đo đạc khả năng
đánh lạc hướng thực sự của các yếu tố gây nhiễu. Có khả năng rằng một vài cái
có thể không được chú ý. Em có thể kiểm tra khả năng đánh lạc hướng đồng thời,
hoặc em có thể thay đổi yếu tố gây nhiễu cho từng đối tượng.”
Đây được xem như một luận điểm có giá trị. Phương pháp Alice
nhắc đến là cách đúng đắn để thực hiện thí nghiệm này, và báo cáo thí nghiệm của
Leslie sẽ không thể xuất bản nếu không đáp ứng được yêu cầu đó. Alice chắc chắn
về điều này. Mặc nhiên chẳng ai nhìn ra cả. Cô nhìn những người đang không nhìn
cô. Ngôn ngữ cơ thể họ cho thấy sự ngượng ngùng và e sợ. Cô đọc lại dữ liệu
trên màn hình. Thí nghiệm đó cần thêm một nhóm kiểm soát. Việc cô mắc phải
Alzheimer đâu có nghĩa cô không thể lập luận phân tích. Và cũng đâu có nghĩa cô
không biết mình đang nói gì.
“À, đúng rồi, cám ơn cô” – Leslie trả lời.
Nhưng Leslie không ghi chép gì nữa cả, và cô không nhìn thẳng
vào mắt Alice, mà cũng không tỏ ra biết ơn chút nào cả.
CÔ KHÔNG CÓ LỚP để dạy, không có đề xuất kinh phí để viết,
không có nghiên cứu mới để thực hiện, không có hội thảo để dự, và không có buổi
thỉnh giảng nào. Cô cảm thấy như phần lớn nhất của đời cô đã chết đi rồi, phần
mà lâu nay cô vẫn thường xuyên tán dương, tô điểm vì vị trí oai vệ của nó. Và
những phần nhỏ hơn, ít được coi trọng hơn đang gào khóc với nỗi đau tự thương
xót cho bản thân mình, cô tự hỏi những phần nhỏ bé này còn có ý nghĩa gì nếu cô
thiếu đi phần to lớn kia.
Cô nhìn qua khung cửa sổ khổng lồ của văn phòng và nhìn những
người chạy bộ đang chạy dọc theo đôi bờ uốn lượn của sông Charles.
“Hôm nay anh có thời gian chạy bộ không?” – Cô hỏi John.
“Có thể” – John trả lời.
Anh nhấm nháp ly café và nhìn qua cửa sổ. Cô thầm nghĩ không
biết anh thấy gì, liệu mắt anh cũng hướng về những người đang chạy bộ hay liệu
anh thấy những gì hoàn toàn khác.
“Em ước mình dành thời gian bên nhau nhiều hơn” – cô nói.
“Ý em là sao? Chúng ta vừa dành cả mùa hè với nhau mà.”
“Không, không phải mùa hè, mà cả cuộc đời mình. Em đang nghĩ
về chuyện này và em ước chúng ta đã dành thời gian bên nhau nhiều hơn.”
“Ali à, chúng ta sống cùng nhau, làm cùng chỗ, chúng ta đã
dành cả đời bên nhau rồi.”
Ban đầu là vậy. Họ ở cùng nhau, sống chung một cuộc đời.
Nhưng năm tháng trôi qua, cuộc sống thay đổi. Họ buộc phải để cuộc đời họ thay
đổi. Cô nghĩ về những cuộc nghiên cứu phải xa nhau, họ phân công chăm lo những
đứa con, rồi những chuyến đi, những lần họ đi một mình để cống hiến cho công việc.
Họ đã sống cạnh nhau rất lâu rồi.
“Em nghĩ chúng ta đã bỏ mặc nhau quá lâu.”
“Anh không cảm thấy bị bỏ mặc, Ali à. Anh thích cuộc sống của
chúng ta, anh nghĩ hiện tại chúng ta đang có được sự cân bằng giữa cuộc sống
riêng để theo đuổi đam mê và cuộc sống hôn nhân của hai ta.”
Cô nghĩ về con đường theo đuổi đam mê nghiên cứu của anh luôn
dữ dội hơn của cô nhiều. Ngay cả khi những thí nghiệm làm anh thất vọng, khi dữ
liệu không đồng nhất, khi những giả thuyết sau cũng sai hết, tình yêu anh đặt
vào niềm đam mê của anh không bao giờ phai đi chút nào. Dù thất bại đến đâu, dù
nghiên cứu làm cho anh phải vò đầu bứt tóc suốt đêm, anh vẫn yêu nó. Thời gian,
tâm trí, sự tập trung và năng lượng anh dồn vào đó luôn truyền cảm hứng cho cô
làm việc cật lực hơn. Và cô đã làm việc như vậy.
“Em không bị bỏ mặc, Ali. Anh luôn ở ngay bên cạnh em.”
Anh nhìn đồng hồ, rồi nhìn xuống ly café uống dở.
“Anh phải chạy đến lớp rồi.”
Anh tóm lấy chiếc cặp, thả ly café vào thùng rác rồi đến bên
cạnh cô. Anh cúi người, ôm lấy mái tóc đen gợn sóng của cô trong tay, anh hôn
cô thật dịu dàng. Cô ngước nhìn anh và bặm môi lại, gượng cười, cố kìm lại dòng
nước mắt cho đến khi anh đi khỏi văn phòng cô.
Cô ước gì cô là niềm đam mê của anh.
CÔ NGỒI TRONG VĂN PHÒNG trong lúc lớp học Nhận thức tiếp tục
mà không có cô và ngắm dòng xe cộ lấp lóa trườn theo đường Memorial Drive. Cô
nhấp một ngụm trà. Cô còn nguyên một ngày phía trước, mà lại chẳng có gì để
làm. Cô cảm thấy bên hông mình rung lên. Đã 8 giờ sáng. Cô lôi chiếc BlackBerry
từ chiếc giỏ xanh nhạt của cô.
Alice, hãy trả lời những câu hỏi sau:
1. Bây giờ là tháng mấy?
2. Cô sống ở đâu?
3. Văn phòng của cô ở đâu?
4. Sinh nhật của Anna vào ngày nào?
5. Cô có bao nhiêu người con?
Nếu cô thấy khó trả lời bất cứ câu hỏi nào trong những câu
trên, hãy mở thư mục “Bươm bướm” trên máy tính của cô và làm theo hướng dẫn
ngay lập tức.
Tháng Chín
Số 34 đường Poplar, Cambridge
Tòa nhà William James Hall, phòng 1002
Ngày 14 tháng Chín
Ba
Cô nhấp thêm một ngụm trà và tiếp tục nhìn dòng xe cộ trên đường
Memorial Drive.
- 14 -
tháng mười, năm 2004
Tình trạng khỏe mạnh của một tế bào thần kinh phụ thuộc vào
khả năng của nó khi tiếp xúc với tế bào khác. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự
kích thích điện và hóa học từ cả hai đầu sẽ hỗ trợ hoạt động của một tế bào sống.
Những tế bào thần kinh sẽ không kết nối hiệu quả với các tế bào đã bị teo, thật
vô vọng, một tế bào không kết nối được sẽ là tế bào chết.
THÁNG CHÍN, NĂM 2004
Dù học kỳ mùa thu ở Harvard đã chính thức bắt đầu, thời tiết
vẫn diễn ra y nguyên như trên tờ lịch. Vào một ngày mùa hè ẩm ướt tháng Chín,
nhiệt độ hơn hai mươi sáu độ, Alice khởi hành đến Harvard Yard. Trong những
ngày gần kề kỳ tuyển sinh hàng năm, cô luôn thấy hào hứng khi được gặp những
sinh viên năm nhất đến từ ngoài New England. Mùa thu ở Cambridge gợi nên hình ảnh
cành lá đung đưa, cảnh hái táo, những trận bóng bầu dục, những chiếc áo len
cùng với khăn quàng cổ. Một ngày tháng Chín ở Cambridge sẽ chẳng có gì bất thường
nếu thức dậy lúc gần trưa mà thấy sương giá đọng trên những quả bí ngô. Trong
khi ấy, những ngày tháng Chín này, đặc biệt những ngày đầu tháng vẫn ồn ã tiếng
máy điều hòa trên các cửa sổ gầm rú huyên náo không ngừng và những cuộc tranh
luận nhốn nháo đầy lạc quan về đội bóng bầu dục Red Sox. Dĩ nhiên năm nào cũng
vậy, những sinh viên mới đến lang thang dọc theo vỉa hè của Harvard Square, mơ
hồ như khách đi du lịch trái mùa. Họ lúc nào cũng khoác lên mình hàng tá các lớp
áo len lông và quá chừng giỏ xách mua sắm từ Harvard Coop. Trong đó đựng đầy
các vật dụng cho bàn học và áo thun dán nhãn Harvard. Những thứ tầm thường đáng
yêu.
Dù chỉ mặc một chiếc áo thun sợi bông và chiếc váy dài đến mắt
cá, Alice cảm thấy ẩm ướt khó chịu ngay khi đến văn phòng của Eric Wellman. Căn
phòng ấy nằm trên lầu, ngay trên văn phòng của Alice, diện tích bằng nhau, bố
trí các vật dụng như nhau và cùng hướng ra Boston và sông Charles, nhưng dù sao
văn phòng của Eric vẫn trông ấn tượng và uy nghiêm hơn. Cô luôn cảm thấy mình
như một sinh viên mỗi khi vào phòng anh, và hôm nay cảm xúc ấy đặc biệt dâng
lên khi anh gọi cô vào “để nói chuyện một chút.”
“Kỳ nghỉ hè thế nào?” – Eric hỏi cô.
“Rất thoải mái. Còn anh thì sao?”
“Cũng ổn, mà trôi qua nhanh quá. Chúng tôi đều nhớ cuộc hội
thảo hồi tháng Sáu được gặp cô.”
“Tôi biết, tôi cũng thấy nhớ.”
“Vâng, Alice, tôi muốn bàn với cô về các đánh giá khóa học của
cô cho kỳ vừa rồi trước khi các lớp mới bắt đầu.”
“Ồ, tôi chưa có thời gian để xem qua nữa.”
Một chồng đánh giá khóa học Động lực và cảm xúc của cô được cột
dây thun ở đâu đó trong văn phòng vẫn chưa được động đến. Đánh giá phản hồi của
sinh viên Harvard hoàn toàn vô danh và chỉ giảng viên của khóa học và trưởng
khoa mới được xem. Trước đây, cô chỉ đọc qua những bảng đánh giá ấy để kiểm tra
thôi. Cô biết mình là một giảng viên giỏi, và những bảng đánh giá sinh viên của
cô luôn nhận được cái gật đầu đồng ý không hề nao núng. Nhưng Eric chưa bao giờ
yêu cầu cô xem lại chúng. Cô cảm thấy sợ, lần đầu tiên trong sự nghiệp, cô
không thể đối diện với chính mình, thông qua những bảng đánh giá ấy.
“Đây, cô hãy dành ít phút xem qua nào.”
Anh đưa cô bản sao của chồng đánh giá cùng với trang tóm tắt
đặt ở trên.
Trên thang điểm từ một đến năm, từ hoàn toàn không đồng ý đến
đồng ý hoàn toàn: Giảng viên thúc đẩy sinh viên làm việc đạt hiệu quả cao.
Toàn bốn đến năm điểm.
Học tại lớp nâng cao khả năng hiểu tài liệu. Bốn, ba và hai
điểm.
Giảng viên giúp tôi hiểu những khái niệm khó hiểu và ý tưởng
phức tạp.
Vẫn bốn, ba và hai.
Giảng viên khích lệ đặt câu hỏi và cân nhắc các quan điểm
khác nhau.
Hai học sinh đánh giá một điểm.
Trên thang điểm từ một đến năm theo mức từ kém đến xuất sắc,
hãy đánh giá chung giảng viên.
Hầu như là ba điểm. Nếu cô nhớ không lầm, cô chưa bao giờ nhận
được điểm thấp hơn bốn trong mục này.
Toàn bộ trang tóm tắt được rải lên những con điểm ba, hai và
một. Cô không cố tự nhủ rằng bảng đánh giá ấy chẳng thể hiện một điều gì ngoài
nhận xét tường tận, chính xác không chút hiềm khích từ các sinh viên của cô.
Nhìn từ bên ngoài có thể thấy được khả năng giảng dạy của cô còn bị ảnh hưởng
nhiều hơn những gì cô ý thức được. Dù vậy, cô vẫn sẵn sàng cược mọi thứ rằng cô
vẫn còn giỏi hơn rất nhiều so với người được đánh giá tệ nhất trong khoa. Có lẽ
cô chìm xuống nhanh thật, nhưng không lý gì cô chạm đến đáy cả.
Cô ngước nhìn Eric, sẵn sàng đối mặt với âm điệu có lẽ cô chẳng
thích nhưng cũng không hẳn là khó chịu.
“Nếu tôi không thấy tên cô trong bảng tổng kết này, tôi sẽ chẳng
suy nghĩ gì đâu. Sự tụt dốc như vầy vốn không phải những gì tôi thường thấy ở
cô, nhưng thật ra cũng chưa đến nỗi. Cái đáng quan tâm là những nhận xét được
viết ra, và tôi nghĩ là chúng ta nên nói chuyện.”
Alice chưa xem thêm gì ngoài trang tổng kết. Anh chuyển sang
ghi chép của anh và đọc lớn.
“Cô bỏ qua cả những khối kiến thức khổng lồ trong chương
trình nên sinh viên cũng bỏ qua luôn, nhưng khi kiểm tra cô lại muốn chúng em
biết những kiến thức ấy.”
“Có vẻ như cô không biết về kiến thức mình đang dạy.”
“Đi học thật phí thời gian. Em có thể tự đọc sách.”
“Theo dõi bài giảng của cô không dễ chút nào. Mà ngay cả cô
còn không theo được. Khóa học này so với khóa khởi đầu của cô thì kém xa.”
“Một lần cô vào lớp nhưng chẳng dạy gì. Cô chỉ ngồi vài phút
rồi đi mất. Lần khác, cô giảng lại đúng bài cô đã giảng một tuần trước. Em
không bao giờ dám làm mất thời gian của Tiến sĩ Howland nhưng em nghĩ cô cũng
không nên làm mất thời gian của em.”
Không dễ nghe chút nào. Tình hình thật sự trầm trọng hơn rất
nhiều những gì cô ý thức được.
“Alice, chúng ta biết nhau lâu rồi phải không?”
“Đúng vậy.”
“Vậy bỏ qua cho tôi hỏi chuyện riêng tư nhé. Gia đình cô ổn
chứ?”
“Vâng.”
“Vậy còn cô thì sao, có khi nào cô cảm thấy quá căng thẳng
hay trầm cảm không?”
“Không, không phải đâu.”
“Thật sự tôi cũng hơi ngượng khi hỏi thế này, nhưng cô có
nghĩ là cô bị nghiện rượu hay vấn đề tế nhị gì không?”
Cô thật sự đã nghe đủ. Cô không thể sống khi mang tiếng
nghiện ngập trầm cảm hay căng thẳng gì cả. Thà bị mất trí vẫn còn ít phải chịu
nhục hơn như thế.
“Eric, tôi mắc chứng Alzheimer.”
Mặt anh trắng bệch đi. Anh đã sẵn sàng nghe chuyện John phản
bội cô. Anh cũng chuẩn bị giới thiệu một bác sĩ tâm lý giỏi cho cô. Anh thậm
chí lên hẳn kế hoạch can thiệp hoặc buộc cô phải chấp nhận vào bệnh viện McLean
để cai rượu. Nhưng anh chưa chuẩn bị cho tình huống này.
“Tôi được chẩn đoán hồi tháng Một. Học kỳ vừa rồi tôi giảng dạy
rất khó khăn, nhưng tôi không nhận thức được căn bệnh diễn tiến đến như vậy.”
“Tôi rất tiếc, Alice.”
“Tôi cũng vậy.”
“Tôi không lường trước chuyện này.”
“Tôi cũng không.”
“Tôi đã nghĩ là có gì đó nhất thời rồi cô sẽ vượt qua. Đây
không phải là vấn đề nhất thời chúng ta đang mong đợi.”
“Không, không phải đâu.”
Alice nhìn anh suy nghĩ. Eric giống như người cha của tất cả
mọi người trong khoa, anh luôn bảo ban và rộng lượng, nhưng cũng rất thực tế và
nghiêm khắc.
“Hàng năm phụ huynh phải đóng bốn mươi nghìn đô. Họ không dễ
chấp nhận chuyện này đâu.”
Không, dĩ nhiên là không. Họ đâu có vung ra hàng đống tiền để
cho con trai con gái họ đi học một giảng viên mắc Alzheimer. Có thể cô cũng đã
thoáng nghe thấy những lời gièm pha xáo trộn trên chương trình thời sự buổi tối.
“Ngoài ra, một vài học sinh trong lớp cô đang tranh cãi về điểm.
Tôi sợ chuyện này sẽ tiếp tục gia tăng.”
Trong suốt hai mươi lăm năm giảng dạy, chưa từng có ai tranh
cãi về số điểm mà cô cho. Chưa một sinh viên nào.
“Tôi nghĩ có lẽ cô không nên tiếp tục giảng dạy, nhưng tôi
tôn trọng chương trình của cô. Cô có kế hoạch gì chưa?”
“Tôi hi vọng được ở lại hết năm rồi tôi sẽ đi nghiên cứu. Tôi
đã không chú ý đến vấn đề là những triệu chứng biểu hiện và ảnh hưởng đến bài
giảng như vậy. Tôi không muốn trở thành một giảng viên kém cỏi, Eric à. Tôi
không phải như vậy.”
“Tôi biết là không. Vậy cáo bệnh rồi sau đó cô bắt đầu năm
nghiên cứu thì thế nào?”
Anh muốn cô nghỉ ngay. Cô vốn là một người gương mẫu trong
công việc và có quá khứ sáng sủa, quan trọng nhất là cô thuộc biên chế. Theo
pháp lý, họ không được sa thải cô. Nhưng cô không muốn giải quyết theo hướng
như vậy. Cô càng muốn tiếp tục sự nghiệp thì cô càng phải chiến đấu với bệnh
Alzheimer chứ không phải với Eric hay Đại học Harvard.
“Tôi chưa sẵn sàng ra đi, nhưng tôi đồng ý với anh, mặc dù
tim tôi muốn nát vụn ra, tôi nghĩ là tôi không nên dạy nữa. Tôi sẽ tiếp tục làm
giáo viên hướng dẫn cho Dan và tôi vẫn muốn tiếp tục tham gia các hội nghị
chuyên đề và các cuộc họp.”
Tôi không còn là giảng viên nữa.
“Tôi nghĩ chúng ta sẽ sắp xếp được. Tôi muốn cô nói chuyện với
Dan, giải thích cho cậu ấy những gì đang xảy ra và để cậu ấy tự quyết định. Tôi
cũng sẽ rất vui được đồng hướng dẫn với cô nếu cô cảm thấy thoải mái. Ngoài ra,
rõ ràng là cô cũng không nên đảm nhiệm thêm nghiên cứu sinh nào nữa. Dan sẽ là
người cuối cùng.”
Tôi không còn là nhà nghiên cứu khoa học nữa.
“Có lẽ cô cũng không nên nhận lời phát biểu ở các đại học
khác hoặc là ở các buổi hội thảo. Với khả năng hiện tại thì xuất hiện ở Harvard
không phải là ý hay. Tôi cũng để ý rằng cô hầu như cũng không đi xa nữa, nên chắc
cô cũng đã nhận ra việc này rồi chứ.”
“Vâng, đúng vậy.”
“Cô muốn sắp xếp để báo với lãnh đạo và các thành viên trong
khoa như thế nào? Tôi cũng nhắc lại là tôi tôn trọng chương trình của cô, cô muốn
làm sao cũng được.”
Cô sắp sửa nghỉ dạy, thôi làm nghiên cứu, đi lại và giảng
bài. Mọi người sẽ chú ý đến. Họ sẽ suy diễn, xầm xì to nhỏ bàn tán. Họ sẽ nghĩ
rằng cô là một con nghiện, trầm cảm, căng thẳng. Mà có khi một vài người cũng
đã làm vậy rồi.
“Tôi sẽ báo với họ. Tôi nên tự nói.”
NGÀY 17 THÁNG CHÍN, NĂM 2004
Chào tất cả bạn bè đồng nghiệp,
Mặc dù rất đắn đo và vô cùng nuối tiếc, nhưng tôi đã quyết định
rút khỏi mọi công việc giảng dạy, nghiên cứu ở Harvard. Vào tháng Một năm nay,
tôi đã được chẩn đoán mắc phải Alzheimer khởi phát sớm.
Mặc dù căn bệnh của tôi mới ở giai đoạn đầu với mức độ vừa phải,
nhưng sự khó lường trong suy giảm nhận thức khiến tôi không thể đạt được những
yêu cầu cho vị trí hiện tại cùng với những tiêu chuẩn cao nhất mà nơi đây và cả
tôi luôn đặt ra cho bản thân.
Tuy mọi người không còn gặp tôi ở các giảng đường hay thấy
tôi vùi đầu vào viết những đề xuất kinh phí nữa, tôi vẫn ở lại dưới vai trò giảng
viên hướng dẫn luận văn của Dan Maloney, và tôi sẽ vẫn tham gia các buổi họp và
hội nghị chuyên đề. Ở đó, tôi hi vọng được chào đón để tiếp tục cống hiến như một
thành viên tích cực.
Xin gửi đến tình cảm và sự biết ơn chân thành nhất,
Alice Howland
TUẦN ĐẦU TIÊN CỦA KỲ HỌC vào mùa thu, Marty tiếp quản công việc
giảng dạy của Alice. Khi cô gặp anh để bàn giao giáo trình và các tài liệu giảng
dạy, anh ôm lấy cô và bày tỏ sự tiếc nuối. Anh hỏi cô cảm thấy thế nào và anh
có thể làm gì cho cô không. Cô cảm ơn anh và nói rằng cô vẫn khỏe. Và khi anh
đã nhận đủ mọi thứ để bắt đầu khóa học, anh rời khỏi văn phòng của cô nhanh hết
mức có thể.
Khá nhiều những thành viên trong khoa cũng đến y như thế.
“Tôi rất tiếc, Alice.”
“Tôi không thể tin được.”
“Tôi không biết làm sao nữa.”
“Tôi có thể làm gì bây giờ?”
“Cô chắc không? Cô trông không khác gì mấy.”
“Tôi rất tiếc.”
“Tôi rất tiếc.”
Rồi họ rời đi thật nhanh. Họ đến gặp cô bày tỏ lòng tốt theo
lẽ lịch sự, nhưng họ không đến thường xuyên. Đa phần là bởi lịch làm việc của họ
đặc kín còn lịch của Alice hiện tại trống trơn. Nhưng một nguyên nhân không
quan trọng lắm là họ không muốn đến. Gặp mặt cô cũng như đối mặt với căn bệnh
thần kinh của cô và một ý nghĩ sẽ nảy ra trong nháy mắt mà không thể tránh được:
Họ sẽ bị lây bệnh. Gặp mặt cô thật đáng sợ, và đối với hầu hết mọi người là vậy.
Trừ khi trong các buổi họp và hội nghị chuyên đề họ buộc phải gặp.
NGÀY HÔM NAY LÀ BUỔI ĐẦU TIÊN của hội nghị chuyên đề về Tâm
lý học diễn ra trong giờ ăn trưa. Leslie, một trong những sinh viên cao học của
Eric đã đứng chuẩn bị sẵn sàng ở đầu bàn hội thảo. Trang trình chiếu tiêu đề đã
chiếu sẵn lên màn hình. “Đi tìm lời giải: Sự chú ý ảnh hưởng đến khả năng
nhận biết những điều chúng ta nhìn thấy như thế nào.” Alice cũng đã sẵn
sàng, cô ngồi vào ghế đầu tiên ở chiếc bàn đối diện với Eric. Cô bắt đầu dùng bữa
trưa, món bánh xếp cà tím và rau trộn, trong khi ấy, Eric đang thảo luận với
Leslie, rồi mọi người dần dần vào kín cả căn phòng.
Vài phút sau, Alice để ý rằng, mọi chỗ tại bàn đều có người
ngồi, trừ chiếc ghế bên cạnh cô, và những người đến sau đó bắt đầu đứng ra phía
sau phòng. Ai cũng muốn ngồi vào bàn. Không chỉ vì vị trí thuận tiện để theo
dõi bài thuyết trình, mà vì ngồi ở bàn thì không phải đối mặt với tình cảnh rối
rắm xoay sở giữa dao nĩa, đĩa thức ăn, thức uống, bút và sổ tay. Nhưng rõ ràng,
tình cảnh đó vẫn đỡ hơn ngồi cạnh cô. Cô nhìn những người đang không nhìn cô.
Khoảng năm mươi người lấp đầy căn phòng này là những người cô đã quen biết bao
năm nay, cô đã coi họ như người thân trong gia đình.
Dan vội chạy vào, tóc anh rối bời, áo sơ-mi luộm thuộm, anh
đeo kính thay vì kính áp tròng. Anh dừng lại một lúc, rồi đi thẳng đến chiếc ghế
trống cạnh Alice và thả quyển sổ lên bàn như tuyên bố đó là chỗ của anh.
“Em đã thức cả đêm để viết. Em phải kiếm gì ăn đã, em quay lại
liền.”
Phần thuyết trình của Leslie kéo dài cả tiếng đồng hồ. Phải
tràn trề năng lượng lắm mới theo dõi hết được, nhưng Alice vẫn theo dõi đến
cùng. Sau khi Leslie đã mở hết các trang trình chiếu và màn hình còn lại trống
trơn, cô ấy bắt đầu mời mọi người thảo luận. Alice bắt đầu trước tiên.
“Vâng, mời Tiến sĩ Howland” – Leslie nói.
“Tôi nghĩ em đã thiếu một nhóm kiểm soát để đo đạc chính xác
khả năng đánh lạc hướng của các yếu tố gây nhiễu. Em có thể lập luận rằng, cho
dù vì bất cứ lý do nào, một số yếu tố không được chú ý đến và sự hiện diện của
chúng không gây phân tâm. Em có thể kiểm tra khả năng của các đối tượng nghiên
cứu có đồng thời để ý và hướng sang các yếu tố gây nhiễu hay không, hoặc em có
thể thực hiện một chuỗi thử nghiệm trong đó em thay đổi từng yếu tố gây nhiễu
cho từng đối tượng.”
Nhiều người ngồi tại các bàn gật đầu tán thành. Dan ậm ờ, miệng
anh tọng đầy bánh xếp. Leslie chộp lấy cây viết trước khi Alice kết thúc ý kiến
của cô và hí hoáy ghi chép.
“Phải rồi. Leslie, hãy mở lại trang thiết kế thí nghiệm một
lát” – Eric bảo với cô.
Alice nhìn quanh căn phòng. Mọi ánh nhìn đang dán vào màn
hình. Họ chăm chú nghe Eric giải thích về bình luận của Alice. Nhiều người tiếp
tục gật đầu. Cô cảm thấy chiến thắng và một chút tự mãn. Việc cô mắc phải
Alzheimer đâu có nghĩa cô không còn lập luận phân tích được nữa. Cũng đâu có
nghĩa cô không xứng đáng được ngồi giữa bọn họ. Và càng không có nghĩa cô không
còn xứng đáng được lắng nghe.
Câu hỏi cùng các câu trả lời tiếp nối thắc mắc và giải đáp
kéo theo đó vài phút nữa. Alice ăn nốt phần bánh xếp và rau trộn của cô. Dan đứng
lên rồi quay lại tức khắc. Leslie chiến đấu với câu hỏi phản biện từ nghiên cứu
sinh mới của Marty đặt ra. Màn hình đang chiếu trang thiết kế thí nghiệm của cô
ấy. Alice đọc rồi giơ tay lên.
“Vâng, thưa Tiến sĩ Howland?” – Leslie hỏi cô.
“Tôi nghĩ em đã thiếu một nhóm kiểm soát để đo đạc khả năng
đánh lạc hướng thực sự của các yếu tố gây nhiễu. Có khả năng rằng một vài cái
có thể không được chú ý. Em có thể kiểm tra khả năng đánh lạc hướng đồng thời,
hoặc em có thể thay đổi yếu tố gây nhiễu cho từng đối tượng.”
Đây được xem như một luận điểm có giá trị. Phương pháp Alice
nhắc đến là cách đúng đắn để thực hiện thí nghiệm này, và báo cáo thí nghiệm của
Leslie sẽ không thể xuất bản nếu không đáp ứng được yêu cầu đó. Alice chắc chắn
về điều này. Mặc nhiên chẳng ai nhìn ra cả. Cô nhìn những người đang không nhìn
cô. Ngôn ngữ cơ thể họ cho thấy sự ngượng ngùng và e sợ. Cô đọc lại dữ liệu
trên màn hình. Thí nghiệm đó cần thêm một nhóm kiểm soát. Việc cô mắc phải
Alzheimer đâu có nghĩa cô không thể lập luận phân tích. Và cũng đâu có nghĩa cô
không biết mình đang nói gì.
“À, đúng rồi, cám ơn cô” – Leslie trả lời.
Nhưng Leslie không ghi chép gì nữa cả, và cô không nhìn thẳng
vào mắt Alice, mà cũng không tỏ ra biết ơn chút nào cả.
CÔ KHÔNG CÓ LỚP để dạy, không có đề xuất kinh phí để viết,
không có nghiên cứu mới để thực hiện, không có hội thảo để dự, và không có buổi
thỉnh giảng nào. Cô cảm thấy như phần lớn nhất của đời cô đã chết đi rồi, phần
mà lâu nay cô vẫn thường xuyên tán dương, tô điểm vì vị trí oai vệ của nó. Và
những phần nhỏ hơn, ít được coi trọng hơn đang gào khóc với nỗi đau tự thương
xót cho bản thân mình, cô tự hỏi những phần nhỏ bé này còn có ý nghĩa gì nếu cô
thiếu đi phần to lớn kia.
Cô nhìn qua khung cửa sổ khổng lồ của văn phòng và nhìn những
người chạy bộ đang chạy dọc theo đôi bờ uốn lượn của sông Charles.
“Hôm nay anh có thời gian chạy bộ không?” – Cô hỏi John.
“Có thể” – John trả lời.
Anh nhấm nháp ly café và nhìn qua cửa sổ. Cô thầm nghĩ không
biết anh thấy gì, liệu mắt anh cũng hướng về những người đang chạy bộ hay liệu
anh thấy những gì hoàn toàn khác.
“Em ước mình dành thời gian bên nhau nhiều hơn” – cô nói.
“Ý em là sao? Chúng ta vừa dành cả mùa hè với nhau mà.”
“Không, không phải mùa hè, mà cả cuộc đời mình. Em đang nghĩ
về chuyện này và em ước chúng ta đã dành thời gian bên nhau nhiều hơn.”
“Ali à, chúng ta sống cùng nhau, làm cùng chỗ, chúng ta đã
dành cả đời bên nhau rồi.”
Ban đầu là vậy. Họ ở cùng nhau, sống chung một cuộc đời.
Nhưng năm tháng trôi qua, cuộc sống thay đổi. Họ buộc phải để cuộc đời họ thay
đổi. Cô nghĩ về những cuộc nghiên cứu phải xa nhau, họ phân công chăm lo những
đứa con, rồi những chuyến đi, những lần họ đi một mình để cống hiến cho công việc.
Họ đã sống cạnh nhau rất lâu rồi.
“Em nghĩ chúng ta đã bỏ mặc nhau quá lâu.”
“Anh không cảm thấy bị bỏ mặc, Ali à. Anh thích cuộc sống của
chúng ta, anh nghĩ hiện tại chúng ta đang có được sự cân bằng giữa cuộc sống
riêng để theo đuổi đam mê và cuộc sống hôn nhân của hai ta.”
Cô nghĩ về con đường theo đuổi đam mê nghiên cứu của anh luôn
dữ dội hơn của cô nhiều. Ngay cả khi những thí nghiệm làm anh thất vọng, khi dữ
liệu không đồng nhất, khi những giả thuyết sau cũng sai hết, tình yêu anh đặt
vào niềm đam mê của anh không bao giờ phai đi chút nào. Dù thất bại đến đâu, dù
nghiên cứu làm cho anh phải vò đầu bứt tóc suốt đêm, anh vẫn yêu nó. Thời gian,
tâm trí, sự tập trung và năng lượng anh dồn vào đó luôn truyền cảm hứng cho cô
làm việc cật lực hơn. Và cô đã làm việc như vậy.
“Em không bị bỏ mặc, Ali. Anh luôn ở ngay bên cạnh em.”
Anh nhìn đồng hồ, rồi nhìn xuống ly café uống dở.
“Anh phải chạy đến lớp rồi.”
Anh tóm lấy chiếc cặp, thả ly café vào thùng rác rồi đến bên
cạnh cô. Anh cúi người, ôm lấy mái tóc đen gợn sóng của cô trong tay, anh hôn
cô thật dịu dàng. Cô ngước nhìn anh và bặm môi lại, gượng cười, cố kìm lại dòng
nước mắt cho đến khi anh đi khỏi văn phòng cô.
Cô ước gì cô là niềm đam mê của anh.
CÔ NGỒI TRONG VĂN PHÒNG trong lúc lớp học Nhận thức tiếp tục
mà không có cô và ngắm dòng xe cộ lấp lóa trườn theo đường Memorial Drive. Cô
nhấp một ngụm trà. Cô còn nguyên một ngày phía trước, mà lại chẳng có gì để
làm. Cô cảm thấy bên hông mình rung lên. Đã 8 giờ sáng. Cô lôi chiếc BlackBerry
từ chiếc giỏ xanh nhạt của cô.
Alice, hãy trả lời những câu hỏi sau:
1. Bây giờ là tháng mấy?
2. Cô sống ở đâu?
3. Văn phòng của cô ở đâu?
4. Sinh nhật của Anna vào ngày nào?
5. Cô có bao nhiêu người con?
Nếu cô thấy khó trả lời bất cứ câu hỏi nào trong những câu
trên, hãy mở thư mục “Bươm bướm” trên máy tính của cô và làm theo hướng dẫn
ngay lập tức.
Tháng Chín
Số 34 đường Poplar, Cambridge
Tòa nhà William James Hall, phòng 1002
Ngày 14 tháng Chín
Ba
Cô nhấp thêm một ngụm trà và tiếp tục nhìn dòng xe cộ trên đường
Memorial Drive.
- 15 -
tháng mười, năm 2004
Cô ngồi dậy trên giường và tự hỏi sẽ làm gì. Trời vẫn còn tối,
vẫn còn nửa đêm. Cô không còn thấy bối rối. Cô biết lẽ ra cô phải đang ngủ rồi.
John nằm ngay bên cạnh cô, anh ngủ sâu đến mức ngáy vang. Nhưng cô không ngủ được.
Gần đây, cô đang phải đối mặt với hàng tá khó khăn để ngủ được ban đêm, có lẽ
vì ban ngày cô đã ngủ nhiều rồi. Hay là ban ngày cô ngủ nhiều vì ban đêm cô
không ngủ được? Cô vướng vào một vòng luẩn quẩn, một vòng lặp phản hồi dương, một
chuyến xe điên cuồng mà cô không biết làm sao để bước xuống. Có lẽ nếu cô chiến
thắng cơn buồn ngủ trong ngày, cô sẽ ngủ được suốt đêm và bỏ được thói quen hiện
tại. Nhưng hàng ngày, cứ xế chiều cô lại thấy kiệt quệ đến mức ngã lăn ra ghế
sofa. Và mọi lúc khác trong ngày đều mời gọi cô vào giấc ngủ. Cô nhớ đến ngày
trước cô đã đối mặt với nghịch cảnh tương tự hồi những đứa con cô chừng hai tuổi.
Không được ngủ trưa khiến chúng cáu gắt, đêm về không nghe lời cô. Còn nếu được
ngủ trưa, dù đã quá giờ đi ngủ cả vài tiếng đồng hồ, chúng vẫn tỉnh như sáo. Cô
không nhớ ra mình đã giải quyết thế nào.
Với đống thuốc tôi đang uống, hẳn bạn nghĩ ít nhất cũng có
tác dụng phụ nào đó gây buồn ngủ. À khoan, tôi được kê một liều thuốc ngủ.
Cô bước ra khỏi giường và đi xuống cầu thang. Mặc dù khá tự
tin rằng thuốc của cô ở trong chiếc giỏ màu xanh, cô vẫn dốc hết các vật dụng
có trong đó ra. Ví tiền, BlackBerry, điện thoại di động, chìa khóa. Cô mở ví.
Thẻ tín dụng, thẻ ngân hàng, bằng lái, thẻ Harvard, thẻ bảo hiểm y tế và hai
mươi đô la gồm cả nắm những tờ tiền được thối.
Cô bới trong chiếc tô hình nấm trắng chỗ họ hay để thư từ.
Hóa đơn tiền điện, gas, điện thoại, giấy tờ thế chấp, một vài thứ từ Harvard,
biên lai.
Cô mở và lấy hết mọi thứ trong ngăn kéo bàn và tủ hồ sơ trong
phòng làm việc. Cô lôi hết tạp chí và các quyển catalog trong sọt ở phòng khách
ra. Cô đọc một vài trang trong Tạp chí The Week và một trang được gấp
góc đánh dấu trong quyển catalog J.Jill đăng một mẫu áo len dễ thương. Cô thích
mẫu áo này nhưng là màu xanh bạc hà.
Cô kéo ngăn tủ đựng các thứ linh tinh ra. Pin, tuốc-nơ-vít,
băng keo Scotch, băng keo dán điện, hồ dán, chìa khóa, một vài chiếc sạc, diêm,
và nhiều thứ khác. Ngăn tủ này có lẽ nhiều năm rồi không được sắp xếp. Cô lôi hẳn
ngăn tủ ra khỏi đường rãnh và đổ hết thảy mọi thứ ra bàn bếp.
“Ali, em đang làm gì vậy?” – John hỏi.
Cô giật mình, quay sang nhìn mái đầu rối bời và cặp mắt ngái
ngủ của anh.
“Em đang kiếm...”
Cô nhìn xuống đống đồ đạc rải ra trên bàn trước mặt cô. Pin,
bộ dụng cụ may, hồ dán, thước dây, vài chiếc sạc, một chiếc tuốc-nơ-vít.
“Em đang kiếm một thứ.”
“Ali, mới ba giờ hơn thôi. Em đang làm ồn đấy. Em có thể để
sáng mai mới tìm không?”
Giọng nói anh tỏ ra không mấy kiên nhẫn. Anh không thích đang
ngủ mà bị phá rối.
“Được.”
Cô nằm xuống giường và cố nhớ lại xem mình đang tìm gì. Trời
vẫn tối, vẫn còn giữa đêm. Cô biết cô lẽ ra phải đang ngủ rồi. John đã ngủ lại
và anh còn ngáy. Anh là người dễ ngủ. Trước đây cô cũng từng dễ ngủ. Nhưng giờ
cô không thể ngủ được. Gần đây phải khó khăn lắm cô mới ngủ được ban đêm, có lẽ
vì ban ngày cô đã ngủ nhiều rồi. Hay là ban ngày cô ngủ nhiều vì ban đêm cô
không ngủ được? Cô vướng vào một vòng luẩn quẩn, một vòng lặp phản hồi dương, một
chuyến xe điên cuồng mà cô không biết làm sao bước xuống được.
À khoan, tôi có một cách để ngủ. Tôi có một toa thuốc của bác
sĩ Moyer. Tôi để ở đâu nhỉ?
Cô lại rời khỏi giường và đi xuống cầu thang.
HÔM NAY KHÔNG CÓ CUỘC HỌP hay hội nghị chuyên đề nào. Không một
cuốn sách, tạp chí hay thư từ gì ở văn phòng làm cô có hứng thú. Dan chưa có gì
sẵn sàng đưa cho cô đọc. Hộp thư của cô cũng không có gì mới. Thư điện tử gửi
hàng ngày của Lydia phải đến chiều mới tới. Cô nhìn dòng chuyển động ngoài cửa
sổ của mình. Xe cộ lướt qua những đường cong trên đường Memorial Drive, những
người chạy bộ chạy dọc theo đôi bờ uốn lượn của dòng sông. Những ngọn thông chọc
vào không khí mùa thu.
Cô lôi hết tất cả các tập tài liệu đánh dấu Tài liệu tái
bản của Howland trong kệ tài liệu của cô. Cô đã ghi tên mình trên hàng
trăm tài liệu được phát hành. Cô nắm giữ trong tay mình cả đống bài nghiên cứu,
bài bình luận, phê bình và sự nghiệp vừa bị cắt ngang đáng giá bằng những suy
nghĩ và ý kiến của mình. Thật nặng nề. Suy nghĩ và ý kiến của cô như bị đè nén.
Ít ra, chúng cũng từng là gánh nặng của cô. Cô nhớ công việc nghiên cứu của cô,
nhớ lúc cô nghĩ về nó, nói về nó, nhớ những ý tưởng của riêng cô, kiến thức của
chính cô, một món nghệ thuật tao nhã trong ngành khoa học của cô.
Cô đặt chồng tài liệu xuống và chọn lấy cuốn sách Từ
Phân tử đến Tư duy trên kệ. Cuốn sách cũng rất nặng. Đây là thành quả soạn
thảo mà cô tự hào nhất, ngôn từ và suy nghĩ của cô hòa quyện với John, họ cùng
tạo nên một thứ độc nhất trong vũ trụ để truyền đạt và ảnh hưởng đến ngôn từ và
suy nghĩ của bao người khác. Cô đã cho rằng họ sẽ viết một cuốn nữa một ngày
nào đó. Cô lật nhanh qua cuốn sách, nhưng không bị nó hấp dẫn. Cô không cảm thấy
muốn đọc sách lúc này.
Cô xem đồng hồ. Cô và John đã định chạy bộ vào cuối ngày
nhưng đã trễ mấy giờ đồng hồ rồi. Cô quyết định chạy về.
Nhà của họ cách văn phòng chỉ hơn một cây số rưỡi nên cô chạy
về nhanh chóng và dễ dàng. Tiếp đến là gì? Cô bước vào bếp, pha một ít trà. Cô
mở vòi, đổ đầy nước vào ấm, đặt lên lò và điều chỉnh nhiệt độ ở mức cao. Cô đi
lấy một túi trà. Cô tìm khắp bàn bếp nhưng không thấy chiếc hộp thiếc vẫn hay đựng
trà. Cô mở tủ đựng cốc café. Nhưng khi cô nhìn chằm chằm vào lại thấy ba hàng
đĩa. Cô đẩy cánh cửa tủ về phía bên phải, tưởng rằng sẽ thấy những hàng ly thủy
tinh, nhưng trong đó lại là những chiếc tô, chén và cốc.
Cô lấy những chiếc chén và cốc ra khỏi tủ, xếp chúng ra bàn bếp.
Sau đó, cô lấy hết đĩa ra và đặt chúng cạnh chén và cốc. Cô mở ngăn tủ tiếp
theo. Trong đó mọi thứ cũng không đúng thứ tự. Bàn bếp ngay lập tức đầy ắp đĩa,
chén, cốc, ly uống nước trái cây, ly uống nước, ly uống rượu, chậu, chảo, hộp
nhựa, miếng lót tay, khăn lau đĩa và các dụng cụ bằng bạc. Toàn bộ nhà bếp đều
bị xáo trộn. Giờ thì vị trí cũ của tất cả những thứ này ở đâu? Ấm pha trà rít
lên làm cô không thể nghĩ ra. Cô vặn núm lò xuống nút tắt.
Cô nghe tiếng cửa trước mở. Ôi, tốt rồi, John về nhà sớm.
“John, sao anh lại làm vậy với nhà bếp?” – Cô nói vọng ra.
“Alice, cô đang làm gì thế?” – Giọng người phụ nữ làm cô giật
mình.
“Ồ, Lauren, cô làm tôi giật mình.”
Người phụ nữ ấy là hàng xóm đối diện nhà cô. Lauren không nói
gì.
“Tôi xin lỗi, cô có muốn ngồi không? Tôi đang định pha trà.”
“Alice, đây không phải nhà bếp của cô.”
Sao cơ? Cô nhìn quanh căn phòng – mặt bàn bếp đá hoa cương
đen, tủ gỗ bu-lô, sàn ốp gạch trắng, cửa sổ ngay chỗ bồn rửa, máy rửa bát đĩa
bên cạnh bồn, và lò đôi. Khoan đã, cô không có lò đôi, phải vậy không? Và rồi,
đến giờ cô mới chú ý đến chiếc tủ lạnh. Bằng chứng cho nhầm lẫn của cô đây.
Chùm ảnh cắt dán đính bằng nam châm lên cửa tủ lạnh gồm ảnh Lauren, ảnh chồng của
Lauren, ảnh con mèo của Lauren và những đứa bé mà Alice không nhận ra.
“Ôi, Lauren, xem tôi làm gì nhà bếp của cô. Tôi sẽ giúp cô xếp
lại.”
“Không sao đâu Alice. Cô ổn chứ?”
“Không, không ổn lắm.”
Cô đã muốn chạy về, vào nhà bếp của cô ngay lập tức. Liệu họ
có thể quên chuyện vừa xảy ra không? Liệu cô có thật sự phải nói chuyện về căn
bệnh Alzheimer của cô? Cô ghét phải nói ra căn bệnh của mình.
Alice cố đoán ra cảm xúc trên gương mặt Lauren. Cô ấy trông bối
rối và sợ hãi. Gương mặt ấy đang suy nghĩ, chắc Alice hóa điên rồi. Alice nhắm
mắt lại và hít thật sâu.
“Tôi mắc bệnh Alzheimer.”
Cô mở mắt ra. Ánh mắt của Lauren không khác đi.
GIỜ ĐÂY, MỖI LẦN CÔ VÀO NHÀ BẾP, cô đều kiểm tra tủ lạnh, chỉ
để bảo đảm. Không có ảnh của Lauren. Cô đang ở đúng nhà. Trong trường hợp cô vẫn
chưa hết nghi ngờ, John đã viết sẵn một tờ ghi chú với nét chữ to đen đậm, đính
bằng nam châm lên cửa tủ lạnh.
ALICE,
ĐỪNG CHẠY BỘ MỘT MÌNH.
SỐ CỦA ANH: 617-555-1122
ANNA: 617-555-1123
TOM: 617-555-1124
John bắt cô phải hứa không ra ngoài chạy bộ mà không có anh.
Cô đã đặt tay lên ngực và hứa cô sẽ không làm vậy. Nhưng dĩ nhiên có thể cô vẫn
sẽ quên.
Dù sao mắt cá chân của cô có lẽ phải nghỉ ngơi. Tuần trước,
cô bị trật chân lúc bước khỏi vỉa hè. Cảm nhận về không gian của cô có phần mờ
nhạt đi. Các vật thể đôi khi hiện ra gần hơn, có khi xa hơn, mà nhìn chung là
chúng dời đi chỗ khác. Cô đã đi khám mắt. Mắt cô vẫn tốt như đôi mắt một người
mới hai mươi tuổi vậy. Vấn đề không nằm ở giác mạc, thủy tinh thể hay võng mạc
của cô. Theo John, sự cố nằm đâu đó ở trong quá trình xử lý thông tin hình ảnh,
đâu đó trong thùy chẩm. Rõ ràng, cô có đôi mắt như sinh viên đại học và thùy chẩm
của một bà lão tám mươi.
Không được chạy bộ mà không có John. Cô có thể sẽ lạc hoặc bị
thương. Nhưng gần đây cô cũng không được chạy bộ với John luôn. Anh phải đi xa
nhiều, và khi anh không xa, anh cũng rời khỏi nhà từ sớm để đến Harvard rồi lại
đi làm về muộn. Đến khi anh về nhà thì anh cũng thấm mệt. Cô ghét phải phụ thuộc
vào anh để chạy bộ, đặc biệt là khi anh chẳng phải phụ thuộc vào ai.
Cô nhấc máy và quay số ghi trên tủ lạnh.
“Alô?”
“Hôm nay chúng ta có chạy bộ không?” – Cô hỏi anh.
“Anh không biết nữa, chắc có, anh đang họp. Anh sẽ gọi cho em
sau” – John trả lời cô.
“Em thật sự phải ra ngoài chạy bộ.”
“Anh sẽ gọi lại cho em.”
“Khi nào?”
“Khi nào anh có thể.”
“Được thôi.”
Cô gác máy, nhìn ra cửa sổ và nhìn xuống đôi giày chạy bộ
mang dưới chân. Cô tuột giày ra rồi ném vào tường.
Cô mệt mỏi vì phải hiểu cho anh. Anh cần làm việc. Nhưng tại
sao anh không hiểu là cô cần chạy bộ? Nếu có thứ gì đó chỉ đơn giản như thể dục
thường xuyên thật sự giúp cô chống chọi với sự tiến triển của căn bệnh, vậy cô
nên chạy thường xuyên hết mức có thể. Mỗi khi anh nói với cô “Hôm nay không được”,
cô lại mất đi nhiều sợi thần kinh mà lẽ ra cô sẽ giữ được. Cái chết lẽ ra đâu đến
với cô nhanh như vậy. John đang dần đưa cô đến chỗ chết.
Cô nhấc điện thoại lên lần nữa.
“Sao vậy em?” – John hỏi cô, anh nói thầm tỏ ra khó chịu.
“Em muốn anh hứa chạy với em hôm nay.”
“Tôi xin phép một phút” – anh quay sang nói với một ai đó
khác. – “Xin em, Alice, để anh gọi cho em sau buổi họp này.”
“Hôm nay em cần phải chạy bộ.”
“Anh không biết khi nào anh mới hết việc ngày hôm nay.”
“Vậy thì?”
“Đây là lý do anh nghĩ chúng ta nên mua cho em một máy chạy bộ.”
“Ôi, chết tiệt.” – Cô bực bội gác máy.
Cô cho rằng như vậy là không được lắng nghe. Cơn giận của cô
bùng lên sau đó. Liệu đây là triệu chứng căn bệnh của cô hay là một phản ứng
bình thường, cô cũng không biết nữa. Cô cần anh. Có lẽ cô không nên quá cứng đầu.
Có lẽ chính cô cũng đang tự giết mình.
Cô luôn có thể đi đến đâu đó mà không cần anh. Dĩ nhiên, phải
là nơi nào đó “an toàn”. Cô có thể đi bộ đến văn phòng. Nhưng cô không muốn đến
văn phòng. Cô cảm thấy buồn chán, lạc lõng và xa lạ ở văn phòng của mình. Ở đó,
cô cảm thấy mình ngớ ngẩn. Cô không còn thuộc về nơi đó nữa. Trong ánh hào
quang lộng lẫy của Harvard đâu còn chỗ cho một giáo sư Tâm lý học nhận thức
mang trong mình tình trạng nhận thức tàn tạ đến vậy.
Cô ngồi xuống ghế bành trong phòng khách và cố nghĩ ra việc
gì đó để làm. Cô chả nghĩ ra được việc gì có ý nghĩa. Cô cố tưởng tượng đến
ngày mai, tuần sau rồi mùa đông sắp tới. Không gì có ý nghĩa cả. Cô cảm thấy buồn
chán, lạc lõng và xa lạ trên chính chiếc ghế bành ở phòng khách nhà mình. Mặt
trời buổi xế chiều tỏa những tia sáng kỳ lạ, những cái bóng như trong phim của
Tim Burton đổ xuống sàn nhà và lên trên tường những hình thù khúc khuỷu. Cô
nhìn những cái bóng mờ dần đi rồi căn phòng tối sầm xuống. Cô nhắm mắt lại, cảm
thấy buồn ngủ.
ALICE TRẦN TRUỒNG ĐỨNG TRONG PHÒNG NGỦ của hai vợ chồng, trên
người cô chỉ có đôi tất cao đến mắt cá và vòng tay an toàn. Cô vật vã gào thét
trong chiếc áo đang quấn lấy đầu cô. Như một vũ điệu của Martha Graham, cuộc
chiến chống lại chiếc áo đang bó vào đầu cô trông như những động tác mãnh liệt
diễn tả sự đau đớn. Cô trút một tiếng gào dài.
“Chuyện gì vậy?” – John chạy vào hỏi cô.
Cô nhìn anh bằng một con mắt hoảng loạn qua cái lỗ tròn trên
chiếc áo đang bị xoắn lại.
“Em không biết làm sao! Em không biết phải mặc cái áo ngực thể
thao khốn kiếp này vào thế nào nữa. Em không nhớ cách mặc áo ngực, John! Em
không mặc áo ngực được.”
Anh lại gần và xem chiếc áo trên đầu cô.
“Đây không phải áo ngực, Ali, đây là quần lót.”
Cô phá lên cười.
“Không vui đâu em.” – John nói. Cô cười lớn hơn nữa.
“Thôi đi em, không vui đâu. Nghe này, nếu em muốn chạy bộ, em
phải nhanh lên, mặc quần áo vào. Anh không có nhiều thời gian.”
Anh rời khỏi phòng, anh không chịu được khi nhìn cô trần truồng,
trùm quần lót lên đầu mà cười điên dại.
ALICE BIẾT CÔ GÁI ĐANG NGỒI ĐỐI DIỆN CÔ là con gái cô, nhưng
cô cảm thấy một sự mơ hồ khó chịu về điều cô đang biết. Cô biết rằng cô có một
người con gái tên Lydia, nhưng khi cô nhìn cô gái ngồi đối diện, cô nhận thức rằng
Lydia giống một kiến thức học thuật hơn là một hiểu biết thực tế mà cô đồng ý,
hay thông tin mà cô nhận được và chấp nhận là đúng.
Cô nhìn Tom và Anna, họ cũng ngồi vào bàn, cô có thể tự động
liên kết họ với những hồi ức của cô về con trai và con gái lớn của cô. Cô có thể
tưởng tượng ra lúc Anna mặc váy cưới, lúc mặc áo tốt nghiệp trường luật, trường
cao đẳng và trường trung học, rồi bộ đồ ngủ Bạch Tuyết mà Anna ngày nào cũng nhất
quyết đòi mặc hồi ba tuổi. Cô có thể nhớ Tom mặc áo tốt nghiệp và đội nón, cô
nhớ một tai nạn lúc trượt tuyết khiến anh bị gãy chân phải đeo nẹp, rồi lúc anh
mặc đồng phục Little League và nhớ về lúc anh còn là đứa bé nằm trong vòng tay
cô.
Trong đầu cô cũng nhìn ra những ký ức về Lydia, nhưng một
cách nào đó cô gái ngồi đối diện cô không gắn với ký ức của cô về con gái út của
cô. Cô cảm thấy bứt rứt và đau đớn nhận ra rằng cô đang trầm trọng hơn, quá khứ
của cô đã tách khỏi hiện tại của cô rồi. Và thật kỳ lạ rằng cô không thấy khó
khăn chút nào để nhận ra người đàn ông ngồi cạnh Anna là Charlie, chồng của
Anna. Anh mới bước vào cuộc đời họ vài năm trước. Cô hình dung ra căn bệnh
Alzheimer của cô như một con quỷ trong đầu cô, liên tục cắn xé trên một con đường
hủy diệt không theo quy luật nào, xé nát sợi dây liên kết giữa “Lydia bây giờ”
và “Lydia ngày xưa”, nhưng vẫn bỏ mặc những liên kết về “Charlie” bình yên vô sự.
Nhà hàng đông đúc và ồn ào. Giọng nói từ các bàn khác giành lấy
sự tập trung của Alice, tiếng nhạc như dội vào đầu cô rồi lại dịu xuống. Cô
không phân biệt được giọng nói của Anna và Lydia. Mọi người dùng đại từ nhiều
quá. Cô phải gắng sức xác định ai đang nói trong bàn của cô và cố theo dõi những
gì mọi người đang nói.
“Cưng à, em ổn chứ?” – Charlie hỏi vợ mình.
“Mùi khó chịu quá” – Anna nói.
“Em muốn ra ngoài một lát không?” – Charlie hỏi.
“Để mẹ đi với con bé” – Alice nói.
Alice co người lại ngay khi họ ra khỏi không khí ấm áp của
nhà hàng. Cả hai đều quên mang áo khoác. Anna nắm lấy tay Alice và dẫn cô ra khỏi
đám thanh niên đang quây lại hút thuốc gần cửa ra.
“A... Không khí trong lành” – Anna nhẹ nhõm, hít một hơi thật
xa xỉ và thở ra bằng mũi.
“Và yên tĩnh nữa” – Alice nói.
“Mẹ thấy thế nào rồi?”
“Mẹ ổn con à” – Alice trả lời.
Anna vuốt ve bàn tay mẹ cô, bàn tay mà trước đây cô luôn nắm
lấy.
“Mẹ đã thấy đỡ hơn rồi” – Alice nói.
“Con cũng vậy” – Anna nói. – “Mẹ có bị giống như vậy khi mẹ
mang thai con không?”
“Có.”
“Làm sao mẹ vượt qua được?”
“Con cứ cố gắng, sẽ qua nhanh thôi.”
“Và trước khi mẹ kịp biết, những đứa bé đã ra đời rồi.”
“Mẹ mong quá.”
“Con cũng vậy” – Anna nói. Nhưng giọng cô không hồ hởi như
Alice. Dòng nước mắt đột nhiên tuôn ra khỏi mắt cô.
“Mẹ ơi, lúc nào con cũng cảm thấy phát bệnh, con kiệt sức, mỗi
lần con quên một thứ gì đó, con lại nghĩ con bắt đầu có triệu chứng.”
“Ôi, con yêu, không phải đâu, con chỉ mệt thôi.”
“Con biết, con biết. Chỉ vì khi con nghĩ đến mẹ không đi dạy
nữa, và mẹ đang mất hết mọi thứ...”
“Đừng con. Đây là lúc con phải thật phấn khởi. Con hãy nghĩ đến
những gì chúng ta đang có này.”
Alice siết chặt bàn tay cô đang nắm lấy và đặt tay kia lên bụng
Anna. Anna mỉm cười, nhưng dòng nước mắt vẫn chảy ra từ đôi mắt ướt đẫm của cô.
“Con không biết con phải làm sao để vượt qua hết những gì
đang diễn ra. Công việc của con và hai đứa bé và...”
“Và Charlie. Đừng quên những gì giữa con và Charlie. Hãy giữ
lấy những gì con có với cậu ấy. Hãy giữ mọi thứ cân bằng, giữa con và Charlie,
sự nghiệp của con, con của con, và mọi thứ con yêu. Đừng đánh giá thấp những thứ
con yêu quý trong cuộc sống và con sẽ vượt qua hết. Charlie sẽ giúp con.”
“Anh ấy nên như vậy” – Anna trầm giọng.
Alice cười. Anna lấy cổ tay lau nước mắt vài lần, cô thở mạnh
ra theo kỹ thuật thở thư giãn Lamaze.
“Cám ơn mẹ. Con cảm thấy đỡ hơn rồi.”
“Tốt rồi.”
Họ trở lại nhà hàng, yên vị trong ghế ngồi và dùng bữa tối.
Cô gái ngồi đối diện Alice, đứa con út tên Lydia của cô gõ vào ly rượu đã uống
cạn bằng dao ăn.
“Mẹ, tụi con có một món quà lớn cho mẹ.”
Lydia tặng cô một gói quà hình khối chữ nhật gói bằng giấy
màu nhũ vàng. Ắt hẳn trong đó phải có gì rất quan trọng. Alice lột lớp giấy
gói. Trong đó là ba đĩa DVD ghi tên Những Đứa Trẻ nhà Howland, Alice và John,
và Alice Howland.
“Đây là một đoạn phim hồi ký cho mẹ. Những Đứa Trẻ nhà
Howland là một tuyển tập các đoạn phỏng vấn Anna, Tom và con. Con quay hồi hè
này. Đây là ký ức của tụi con về mẹ, tuổi thơ của tụi con và thời gian tụi con
lớn lên. Đĩa thứ hai là phim quay bố, về những ký ức của bố từ lúc gặp mẹ, hẹn
hò, đám cưới, những kỳ nghỉ và rất nhiều thứ khác. Trong đó có một vài câu chuyện
rất hay mà tụi con chưa bao giờ biết. Còn đĩa thứ ba, con chưa làm. Con sẽ phỏng
vấn mẹ, những câu chuyện của mẹ, nếu mẹ muốn làm.
“Dĩ nhiên mẹ muốn làm rồi. Mẹ thích lắm. Cám ơn các con, mẹ
muốn xem quá.”
Người bồi bàn mang cho họ café, trà và bánh chocolate đã cắm
sẵn nến. Họ cùng hát “Chúc mừng sinh nhật.” Alice thổi nến và ước.
- 16 -
tháng mười một, năm 2004
Những đĩa phim mà John mua về hồi hè cũng chung số phận với mấy
cuốn sách mà trước đó Alice đã dành khá nhiều thời gian cho chúng. Cô không thể
nào dõi theo cốt truyện hay nhớ vai trò của các nhân vật nếu như họ không xuất
hiện liên tục. Cô có thể nhận ra những tình tiết nhỏ nhưng khi đến hồi kết,
trong đầu cô chỉ đọng lại cảm nhận chung chung về bộ phim mà thôi. Bộ phim ấy
thật vui nhộn. Khi John và Anna xem cùng cô, họ thường cười phá lên, giật mình
vì sợ hãi, hay nhăn nhó vì thấy ghê tởm, họ phản ứng lại những gì diễn ra rất
rõ ràng, mãnh liệt nhưng cô chẳng thể hiểu được. Cô cũng thường tham gia với họ,
giả vờ hiểu và cố giấu họ sự thật là cô mơ hồ đến dường nào. Xem phim khiến cô
nhận ra trí nhớ của mình đã giảm sút nhiều đến mức nào.
Lydia làm những đĩa DVD thật đúng lúc. Mỗi câu chuyện John và
những đứa con của cô kể chỉ kéo dài vài phút nên cô có thể ghi nhớ từng chuyện,
và cô không phải cố gắng giữ lấy thông tin của một câu chuyện nào nên cô có thể
hiểu và tận hưởng những câu chuyện khác. Cô xem đi xem lại từng đoạn phim. Cô
không nhớ được hết những điều mà mọi người nói, nhưng việc này vẫn hoàn toàn
bình thường, bởi các con cô và John cũng không nhớ được hết các chi tiết. Và
khi Lydia bảo họ nhắc lại cùng một câu chuyện, mỗi người lại nhớ theo một cách
khác nhau, cắt bớt vài phần, phóng đại vài phần, và nhấn mạnh câu chuyện theo
cách nhìn của họ. Ngay cả những tình tiết tưởng rằng không thể khác đi được
cũng dễ dàng chịu những lỗ hổng và nhiễu loạn.
Cô chỉ có thể xem được đoạn phim Alice Howland đúng một lần.
Trước đây, cô quá minh mẫn, thoải mái nói trước bất cứ người nào. Giờ đây, cô
phải lạm dụng từ “gì đó” và lặp đi lặp lại vô số lần đến ngớ ngẩn. Nhưng cô cảm
thấy biết ơn đoạn phim đó, nó có kí ức của cô, suy nghĩ của cô và những lời
khuyên được ghi lại, giữ lại các phân tử tàn tật mà bệnh Alzheimer muốn cuốn
đi. Những đứa cháu của cô sẽ xem đoạn phim một ngày nào đó và nói: “Đó là bà hồi
lúc bà còn có thể nói chuyện và nhớ được.”
Cô vừa xem xong đoạn phim Alice và John. Cô vẫn ngồi lại trên
ghế sofa, đắp chăn ngang người tới khi màn hình tivi tắt đi rồi cô bắt đầu cảm
nhận. Sự yên tĩnh làm cô thấy thoải mái. Cô hít thở và chẳng nghĩ về thứ gì
khác ngoài tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ trên lò sưởi. Rồi, bất giác, tiếng
tích tắc ấy gợi cho cô nhớ một chuyện, mắt cô mở to.
Cô nhìn xuống cổ tay mình. Mười giờ kém mười. Ôi trời ơi,
mình còn làm gì ở đây? Cô ném chiếc chăn thẳng xuống sàn nhà, xỏ vội chân vào
giày, chạy xuống phòng làm việc và kéo khóa túi đựng máy tính xách tay lại. Cái
túi màu xanh của mình ở đâu? Không có trên ghế, không phải trên bàn, không có
trong ngăn kéo, cũng không phải ở trong túi máy tính xách tay. Cô chạy lên
phòng ngủ. Không có trên giường, không nằm trên bàn đầu giường, không có trên tủ
đựng chén bát, không có trong tủ quần áo, cũng không ở trên bàn. Cô đứng giữa
hành lang, cố gắng dò lại những nơi có thể biết trong bộ não ì ạch của mình,
cho đến khi cô thấy chiếc túi xách thì nó đang được treo trên tay nắm cửa phòng
tắm.
Cô kéo khóa ra. Trong đó là chiếc BlackBerry, nhưng không thấy
chùm chìa khóa. Cô luôn để trong này. Chà, cũng không phải hoàn toàn là vậy. Cô
luôn muốn để chìa khóa trong này. Đôi khi, cô để trong ngăn kéo bàn làm việc,
ngăn kéo đựng dao nĩa, ngăn kéo đồ lót, hộp trang sức, hộp thư và các túi áo,
túi quần. Đôi khi cô cắm luôn ở ổ khóa. Cô ghét phải nghĩ về việc bỏ ra bao
nhiêu phút để tìm kiếm các thứ bị lạc mỗi ngày.
Cô chạy nhanh xuống phòng khách. Không có chìa khóa, nhưng cô
tìm thấy áo khoác của cô trên ghế dựa. Cô khoác áo lên và thò thay vào túi áo.
Là chùm chìa khóa!
Cô lao nhanh ra hành lang trước, nhưng dừng lại trước khi ra
đến cửa. Thật kì lạ. Có một cái hố trên sàn ngay trước cửa. Bề rộng nó ngang bằng
bề rộng của hành lang, còn chiều dài khoảng hai mét rưỡi đến ba mét, mà chẳng
có gì trong đó ngoài bóng tối. Cô không thể nào vượt qua được. Ván ốp hành lang
trước đã cong vênh và kêu cọt kẹt, cô và John đã từng bàn về chuyện thay mới.
John đã gọi thợ nào chưa? Có ai đến đây hôm nay không? Cô không nhớ ra. Cho dù
lý do là gì, cũng không thể ra cửa trước cho tới khi cái hố được bít lại.
Trong lúc cô đi ra cửa sau, chuông điện thoại reo lên.
“Chào mẹ, khoảng bảy giờ con ghé qua, con sẽ mang đồ ăn tối.”
“Được rồi.” – Alice trả lời, trong giọng nói của cô vui một
chút.
“Con là Anna nè.”
“Mẹ biết mà.”
“Bố ở New York tới mai, mẹ nhớ không? Con sẽ ngủ lại, mà tới
sáu giờ rưỡi con mới tan ca, cho nên mẹ đợi con qua ăn nhé. Có lẽ mẹ nên ghi
chú vào bảng trắng treo trên tủ lạnh.”
Cô nhìn qua chiếc bảng.
KHÔNG ĐƯỢC CHẠY BỘ MỘT MÌNH.
Bất thần, cô muốn hét vào điện thoại là cô không cần bảo mẫu,
và cô có thể tự xoay sở một mình trong nhà của mình. Nhưng rồi cô hít thở.
“Được rồi, hẹn gặp lại con.”
Cô gác máy rồi tự tán thưởng bản thân vì vẫn còn khả năng làm
chủ được cảm xúc tự nhiên của mình. Một ngày nào đó, sớm thôi, cô sẽ không còn
kiểm soát được nữa. Cô muốn tận hưởng những giờ phút được gặp Anna, vả lại ở một
mình lúc này không hay chút nào.
Cô khoác áo, quàng giỏ xách và túi đựng máy tính xách tay lên
vai. Cô nhìn ra ngoài cửa sổ nhà bếp. Trời gió, ẩm ướt và xám xịt. Đang là buổi
sáng chăng? Cô không muốn ra ngoài, cũng chẳng muốn ngồi trong văn phòng. Cô cảm
thấy chán nản, lạc lõng và xa lạ trong chính văn phòng của mình. Cô cảm thấy
mình thật ngớ ngẩn. Cô đâu còn thuộc về nơi ấy.
Cô lại bỏ giỏ xách xuống, cởi áo khoác và đi vào phòng làm việc,
nhưng đột nhiên một tiếng thịch, rồi tiếng leng keng lại kéo cô ra lại hành
lang trước. Lá thư vừa lọt vào khe bỏ thư cửa trước, nó nằm ngay trên miệng hố,
một cách nào đó, nó nằm lơ lửng ở trên miệng hố. Hẳn nó phải nằm thăng bằng
trên một thanh dầm ẩn bên dưới hay một tấm ván mà cô không thấy được. Lá thư nổi.
Não mình bị nhũn ra mất rồi! Cô lùi về phòng làm việc và cố quên đi cái hố
không trọng lực ở cửa trước. Bất ngờ thay, thật khó mà quên được.
CÔ NGỒI TRONG PHÒNG LÀM VIỆC, tay ôm đầu gối, dán mắt ra
ngoài cửa sổ nhìn màn đêm dần buông xuống, đợi Anna đến mang theo bữa tối, đợi
John từ New York về để cô có thể ra ngoài chạy bộ. Cô ngồi và đợi. Tâm trạng của
cô trở nên tệ hơn vì ngồi đợi. Cô phát bệnh vì phải ngồi và đợi chờ.
Ở Harvard, cô là người duy nhất biết mình mắc phải Alzheimer
khởi phát sớm và cũng là người duy nhất mắc căn bệnh này. Nhưng ngoài kia, chắc
chắn cô không phải người duy nhất. Cô phải tìm những người bạn mới cho mình. Cô
phải thích nghi với thế giới mới này, thế giới dành cho cô, thế giới của những
người mất trí.
Cô gõ vào Google cụm từ “bệnh Alzheimer khởi phát sớm”. Kết
quả cho ra rất nhiều thông tin và dữ liệu thống kê.
Ước tính có đến năm trăm nghìn người ở Hoa Kỳ mắc phải
Alzheimer khởi phát sớm.
Alzheimer khởi phát sớm được định nghĩa là mắc phải Alzheimer
trước tuổi sáu mươi.
Triệu chứng có thể xuất hiện ở tuổi ba mươi hoặc bốn mươi.
Google cho cô những trang điện tử liệt kê ra các triệu chứng,
những nhân tố, nguyên nhân nguy hiểm đến gien, và các phương pháp trị liệu. Có
những bài viết về việc nghiên cứu và phát hiện ra thuốc. Trước đây cô đã xem
qua hết rồi.
Cô thêm từ “hỗ trợ” vào từ khóa tìm kiếm rồi nhấn phím trở về.
Cô tìm thấy những diễn đàn, đường dẫn, nguồn dữ liệu, bảng
tin nhắn và các phòng chat. Chúng dành cho những người chăm sóc bệnh nhân. Người
chăm sóc phải lo những việc bao gồm thăm các cơ sở y tế, hỏi thăm về việc chữa
trị, giải tỏa căng thẳng, đối phó với hoang tưởng, lang thang vào ban đêm, ứng
phó với tâm lý cô lập và trầm cảm của bệnh nhân. Những người chăm sóc bệnh nhân
sẽ đăng câu hỏi và câu trả lời, quan tâm đến các giải pháp giải quyết khó khăn
về những người mẹ tám mươi mốt tuổi, những người chồng bảy mươi bốn tuổi và những
người bà tám mươi lăm tuổi mắc bệnh Alzheimer.
Vậy đối với những người mắc Alzheimer thì sao?
Còn nơi của những người mất trí năm mươi mốt tuổi ở đâu? Nơi
những người sự nghiệp còn dang dở rồi bị căn bệnh xé nát cuộc sống của họ từ
bên trong ở đâu? Cô không phủ nhận rằng mắc Alzheimer ở tuổi nào cũng là một bi
kịch cả. Cô không phủ nhận rằng những người chăm sóc người bệnh cũng cần hỗ trợ.
Và cũng không phủ nhận rằng họ cũng phải chịu đựng. Cô biết John đang phải chịu
đựng. Nhưng còn cô thì sao?
Cô nhớ đến tấm danh thiếp của một nhân viên xã hội ở Bệnh viện
Đa khoa Massachusetts. Cô tìm thấy nó rồi quay số.
“Denise Daddario xin nghe.”
“Chào Denise, tôi là Alice Howland. Tôi là một bệnh nhân của
bác sĩ Davis, và anh ấy đưa tôi danh thiếp của cô. Tôi năm mươi mốt tuổi và một
năm trước, tôi được chẩn đoán mắc phải Alzheimer khởi phát sớm. Tôi muốn hỏi rằng
Bệnh viện Đa khoa Massachusetts có nhóm hỗ trợ cho bệnh nhân Alzheimer không?”
“Không may là chúng tôi không có. Chúng tôi có một nhóm hỗ trợ,
nhưng chỉ dành cho những người chăm sóc bệnh nhân. Hầu hết các bệnh nhân
Alzheimer của chúng tôi đều không đủ khả năng tham gia vào diễn đàn như vậy.”
“Nhưng vài người sẽ đủ.”
“Phải, nhưng tôi e rằng chúng tôi không có đủ kinh phí đáp ứng
được nguồn lực để mở ra và duy trì một nhóm như vậy.”
“Nguồn lực như thế nào?”
“À, đối với nhóm hỗ trợ người chăm sóc bệnh nhân của chúng
tôi, khoảng mười hai đến mười lăm người gặp nhau hàng tuần trong vài giờ. Chúng
tôi có một phòng được đặt trước, có café, bánh ngọt, một vài nhân viên hậu cần
và một khách mời phát biểu hàng tháng.”
“Nếu như chỉ có một căn phòng trống để những người bị mất trí
sớm gặp nhau và nói chuyện về những gì họ đang trải qua thì sao?”
Tôi có thể mang café và một ít bánh vòng nhân mứt, ơn trời.
“Chúng tôi cần một nhân viên nào đó giám sát và không may là
hiện tại chúng tôi không còn ai có thể đảm nhận.”
Vậy còn một trong hai nhân viên hậu cần trong nhóm hỗ trợ những
người chăm sóc bệnh nhân thì sao?
“Cô có thể cho tôi thông tin liên lạc của những bệnh nhân mất
trí sớm để tôi có thể tự sắp xếp không?”
“Tôi e là tôi không thể cho thông tin như vậy. Cô có muốn hẹn
gặp để nói chuyện với tôi không? Tôi rảnh vào mười giờ sáng thứ Sáu, ngày 17
tháng Mười Hai.”
“Không, cảm ơn.”
TIẾNG ỒN Ở CỬA TRƯỚC đánh thức cô khi đang ngủ trên ghế sofa.
Căn nhà vừa lạnh, vừa tối. Cửa trước mở ra cọt kẹt.
“Con xin lỗi, con đến trễ.”
Alice đứng dậy và bước ra hành lang. Anna đứng ôm một túi giấy
màu nâu to bằng một tay, tay kia nắm một chồng thư. Cô đang đứng trên hố!
“Mẹ ơi, đèn tắt hết cả. Mẹ đang ngủ hả? Mẹ không nên ngủ vào
giờ này, mẹ thức trắng đêm mất.”
Alice bước lại gần Anna và cúi xuống. Cô đặt tay lên cái hố.
Cô chỉ cảm thấy khoảng không. Cô rà ngón tay trên những mũi dệt của tấm thảm
len đen. Hành lang của cô đã trải thảm đen nhiều năm rồi. Cô đập tay xuống thật
mạnh đến mức tiếng động vang lên.
“Mẹ ơi, mẹ đang làm gì vậy?”
Tay cô nhức buốt, cô quá mệt mỏi để chịu được câu hỏi của
Anna, và mùi đậu phộng quyến rũ từ chiếc túi làm cô thấy ghê tởm.
“Để mẹ yên!”
“Mẹ, ổn mà. Mẹ với con vào bếp ăn tối nào.” Anna đặt chồng
thư xuống và với lấy tay mẹ cô, bàn tay đang đau nhức. Alice giật tay ra và gào
lên.
“Để mặc mẹ! Đi khỏi nhà mẹ đi! Mẹ ghét con! Mẹ không muốn con
đến đây!”
Lời của cô đập vào Anna còn đau hơn cô tát vào mặt con mình.
Vượt qua dòng nước mắt đang chảy xuống, Anna kìm cảm xúc mình lại để giải quyết
ôn hòa.
“Con mang theo bữa tối, con đang đói, con sẽ ở lại. Con sẽ
vào nhà bếp để ăn tối và con sẽ đi ngủ.”
Alice đứng một mình trên hành lang, cơn phẫn nộ và mâu thuẫn
sôi lên trong từng mạch máu cô. Cô mở cửa và bắt đầu kéo tấm thảm ra. Cô lôi nó
bằng tất cả sức lực còn lại, cô vấp ngã. Cô lại đứng dậy, kéo, vặn và quăng tấm
thảm tới khi nó nằm hoàn toàn bên ngoài. Sau đó, cô đá vào tấm thảm và gào lên
điên cuồng cho tới khi nó văng xuống khỏi thềm nhà trước và nằm bất động trên vỉa
hè.
- 17 -
tháng mười hai, năm 2004
Alice, hãy trả lời những câu hỏi sau:
1. Bây giờ là tháng mấy?
2. Cô sống ở đâu?
3. Văn phòng của cô ở đâu?
4. Sinh nhật của Anna vào ngày nào?
5. Cô có bao nhiêu người con?
Nếu cô thấy khó trả lời bất cứ câu hỏi nào trong những câu
trên, hãy mở thư mục “Bươm bướm” trên máy tính của cô và làm theo hướng dẫn
ngay lập tức.
Tháng Mười Một, Cambridge, Harvard, Tháng Chín, Ba
THÁNG MƯỜI HAI, NĂM 2004
Luận văn của Dan đã dài đến 142 trang rồi, chưa kể danh mục
tham khảo. Lâu rồi Alice chưa đọc bất cứ thứ gì dài như vậy. Cô ngồi trên ghế
sofa với bài làm của Dan ở trên đùi, giắt bút đỏ trên tai và tay phải cầm cây
bút dạ màu hồng. Cô dùng bút đỏ để sửa bài và bút dạ màu hồng để dò theo những
gì cô đã đọc. Cô đánh dấu tất cả những gì cô cảm thấy quan trọng, nên khi cô cần
dò lại, cô có thể giảm bớt công việc bằng cách chỉ đọc những từ được đánh dấu.
Cô dừng hoàn toàn một cách vô vọng ở trang hai mươi sáu vì cả
trang đã tô hồng. Não cô cảm thấy quá tải và van xin cô nghỉ ngơi. Cô tưởng tượng
những dòng chữ hồng trên trang giấy trở thành cây kẹo bông gòn hồng rin rít
trong đầu cô. Càng cố đọc, cô càng cần phải đánh dấu để hiểu và nhớ được cô đã
đọc những gì. Càng đánh dấu, đầu cô càng cảm thấy quá tải vì món kẹo được tạo
nên từ những sợi màu hồng đang quấn quýt và làm nghẽn những mạch điện trong não
cô, khiến cô không thể hiểu và nhớ nổi những gì cô đã đọc. Đến trang hai mươi
sáu, cô không còn hiểu được gì cả.
Bíp, bíp.
Cô thả bài luận văn của Dan xuống bàn phòng khách và ngồi vào
máy tính trong phòng làm việc. Cô thấy một thư điện tử trong hộp thư của cô, từ
Denise Daddario.
Thân gửi Alice,
Tôi đã chia sẻ ý tưởng của cô về một nhóm hỗ trợ giữa những
người mất trí sớm trong đơn vị của chúng tôi và với những người khác ở bệnh viện
Brigham and Womens Hospital. Tôi đã nghe phản hồi từ ba người trong khu vực rằng
họ rất có hứng thú với ý tưởng này. Họ cho phép tôi cung cấp tên và thông tin
liên lạc cho cô (tệp đính kèm).
Có lẽ cô cũng muốn liên lạc với Hiệp hội Alzheimer
Massachusetts. Họ có thể sẽ biết những người khác cũng muốn tham gia. Hãy cập
nhật tình hình và cho tôi biết nếu tôi có thể cung cấp thêm những thông tin hay
hỗ trợ tư vấn. Thực lòng xin lỗi vì chúng tôi không thể làm thêm điều gì cho cô
trong trường hợp này.
Chúc may mắn!
Denise Daddario.
Cô mở tệp đính kèm.
Mary Johnson, năm mươi bảy tuổi, sa sút trí tuệ thái dương
Cathy Roberts, bốn mươi tám tuổi, Alzheimer khởi phát sớm
Dan Sullivan, năm mươi ba tuổi, Alzheimer khởi phát sớm
Họ đây rồi, những bạn mới của cô. Cô đọc đi đọc lại tên họ.
Mary, Cathy và Dan. Mary, Cathy và Dan. Cô bắt đầu cảm thấy vô cùng phấn khích,
pha với chút sợ hãi đè nén mà cô thường trải qua trước khi vào mẫu giáo, đại học
và cao học. Họ trông như thế nào? Họ có đang làm việc? Họ đã sống với căn bệnh
bao lâu rồi? Triệu chứng của họ có giống cô, nhẹ hơn hay nặng hơn? Họ có giống
cô chút nào không? Nếu cô nặng hơn họ nhiều thì sao?
Thân gửi Mary, Cathy và Dan,
Tôi là Alice Howland. Tôi năm mươi mốt tuổi và được chẩn đoán
mắc phải Alzheimer khởi phát sớm. Tôi từng là một giáo sư Tâm lý học ở đại học
Harvard trong hai mươi lăm năm nhưng hồi tháng Chín tôi buộc phải rời khỏi vị
trí vì những triệu chứng của căn bệnh.
Hiện tại tôi đang ở nhà và cảm thấy vô cùng cô đơn. Tôi đã gọi
cho Denise Daddario ở Bệnh viện Đa khoa Massachusetts để xin thông tin về nhóm
hỗ trợ bệnh nhân mất trí sớm. Họ chỉ có một nhóm hỗ trợ cho những người chăm
sóc bệnh nhân mà không có gì cho chúng ta. Nhưng cô ấy đã cho tôi thông tin của
các bạn. Tôi muốn mời các bạn đến nhà tôi dùng trà, café để nói chuyện vào Chủ
nhật này, ngày 5 tháng Mười Hai vào lúc 2:00. Người chăm sóc của các bạn cũng
được mời nếu các bạn muốn. Địa chỉ và bản đồ đến nhà tôi được đính kèm bên dưới.
Tôi rất mong được gặp các bạn,
Alice
Mary, Cathy, và Dan. Mary, Cathy, và Dan. Dan. Luận văn của
Dan. Cậu ta đang đợi mình chỉnh sửa. Cô quay lại phòng khách và mở luận
văn của Dan đến trang hai mươi sáu. Màu hồng lại lao vào, xâm nhập não cô. Cô cảm
thấy đau đầu. Cô không biết có ai đã trả lời chưa. Cô để mặc thứ gì đó của Dan
trước khi cô suy nghĩ xong. Cô nhấn vào hộp thư. Không có gì mới.
Bíp. Bíp.
Cô nhấc máy. “Xin chào?”
Tiếng máy chờ. Cô hi vọng đó là Mary, Cathy hay Dan. Dan.
Luận văn của Dan.
Cô quay lại ghế sofa, cô căng mắt, cầm lấy cây bút dạ, nhưng
mắt cô không tập trung vào những dòng chữ trên trang giấy được. Cô lại mơ mộng.
Mary, Cathy và Dan còn có thể đọc được hai mươi sáu trang và
nhớ tất cả những gì họ đọc không? Nếu cô là người duy nhất nghĩ tấm thảm hành
lang là một cái hố thì sao? Nếu cô là người duy nhất suy giảm thì sao? Cô không
bị suy sụp nhưng cảm thấy mình đang trượt xuống một cái hố bệnh điên. Một mình.
“Tôi cô đơn, tôi cô đơn, cô đơn” – cô than vãn, chìm sâu hơn
vào trong cái hố cô đơn thực sự mở ra mỗi khi cô nghe chính giọng nói của mình
nhắc đến những từ ấy.
Bíp, bíp.
Tiếng chuông cửa hất cô ra khỏi giấc mộng. Họ tới rồi à? Cô
có mời họ tới hôm nay không nhỉ?
“Một phút thôi!”
Cô dụi mắt bằng tay áo, vừa đi cô vừa dùng tay vuốt vuốt mái
tóc rối của mình, hít một hơi thật sâu và ra mở cửa. Không có ai ở đó cả.
Ảo giác về cả âm thanh lẫn hình ảnh là những hiện tượng thường
diễn ra đối với những người mắc Alzheimer, nhưng đến nay cô chưa từng trải qua.
Hoặc có lẽ cũng đã từng. Khi cô ở một mình, chẳng có cách nào rõ ràng để biết
việc cô trải qua là thực tế hay ảo giác do bệnh Alzheimer gây ra. Cảm giác của
cô không giống như những rối loạn, ảo giác trí nhớ, ảo ảnh và tất cả những thứ
điên loạn được tô bằng màu hồng huỳnh quang, không lẫn vào những thứ bình thường,
chân thực và chính xác. Dưới góc nhìn của cô, cô không thấy được sự khác biệt.
Tấm thảm là một cái hố. Tiếng ồn đó là tiếng chuông cửa.
Cô kiểm tra hộp thư một lần nữa. Một thư mới.
Chào mẹ,
Mẹ khỏe không? Mẹ có dự hội nghị chuyên đề vào giờ ăn trưa
hôm qua không? Mẹ có chạy bộ không? Lớp học của con vẫn như thường lệ, rất tuyệt.
Con tham gia một buổi diễn thử quảng cáo cho một ngân hàng. Bọn con cũng chưa
biết kết quả thế nào. Bố khỏe không mẹ? Tuần này bố có ở nhà không? Con biết
tháng rồi rất khó khăn. Mẹ đợi con nhé. Con sẽ về sớm!
Con yêu mẹ,
Lydia
Bíp, bíp.
Cô nhấc điện thoại lên. “Alô?”
Tiếng chuông chờ. Cô mở ngăn kéo trên cùng của tủ tài liệu,
quẳng điện thoại vào, cô nghe tiếng nó va vào đáy kim loại nằm dưới hàng trăm tập
tài liệu tái bản và đẩy ngăn tủ vào. Khoan đã, hình như đó là điện thoại của
mình.
“Điện thoại, điện thoại, điện thoại” – cô hô lên như thể đang
chơi trò chơi trong nhà, cố gắng giữ mục tiêu tìm kiếm.
Cô kiểm tra khắp nơi nhưng không tìm được nó. Rồi cô nhận ra
rằng, cô cần phải lục chiếc giỏ màu xanh của mình. Cô ngân nga.
“Giỏ xanh, giỏ xanh, giỏ xanh.”
Cô tìm thấy giỏ của cô trên bàn bếp, điện thoại di động của
cô ở bên trong, nhưng tắt. Có thể tiếng ồn do còi báo động ở xe của một người
nào đó vừa khóa lại hay tắt đi. Cô trở lại ghế sofa và mở luận văn của Dan đến
trang hai mươi sáu.
“Xin chào?” – Giọng một người đàn ông.
Alice nhìn lên, mắt cô mở tròn, lắng nghe, giống như cô vừa
nghe ma gọi.
“Alice?” – Giọng nói kì lạ hỏi cô.
“Vâng.”
“Alice, em sẵn sàng đi chưa?”
John xuất hiện ở ngưỡng cửa phòng khách, anh đang đợi. Cô cảm
thấy nhẹ nhõm nhưng cô muốn biết rõ hơn.
“Chúng ta đi nào. Chúng ta ăn tối cùng Bob và Sarah, và chúng
ta đã hơi trễ rồi.”
Ăn tối. Cô vừa nhận ra rằng cô đang đói ngấu lên. Cô không nhớ
hôm nay cô đã ăn gì chưa. Có lẽ đó là lý do cô không đọc nổi luận văn của Dan.
Có lẽ cô chỉ cần ăn một chút. Nhưng suy nghĩ về bữa tối và đoạn hội thoại ở
trong nhà hàng ồn ào tiếp tục bám lấy cô.
“Em không muốn đi ăn tối. Hôm nay em mệt lắm rồi.”
“Anh cũng mệt. Hãy đi ăn cùng nhau nào.”
“Anh đi đi. Em muốn ở nhà thôi.”
“Đi nào, sẽ vui lắm. Chúng ta đã không đến bữa tiệc của Eric.
Ra ngoài sẽ tốt cho em mà, và mọi người cũng mong gặp em.”
Không, họ không đâu. Họ thở phào nhẹ nhõm vì em không đến. Em
là một cây kẹo bông gòn hình con voi màu hồng trong căn phòng. Em sẽ làm mọi
người khó chịu. Em sẽ biến bữa ăn tối thành một màn xiếc điên khùng giữa những
người gắng gượng vừa giữ vẻ thương hại và mỉm cười, vừa giữ lấy những ly rượu,
và dao nĩa của họ.
“Em không muốn đi. Bảo họ em xin lỗi, nhưng em không cảm thấy
muốn đến.”
Bíp, bíp.
Cô nhìn thấy John cũng nghe được tiếng ồn, và cô đi theo anh
vào bếp. Anh mở cửa lò vi ba và kéo ca nước trong đó ra.
“Nguội ngắt rồi. Em muốn anh hâm lại không?”
Hẳn là cô đã pha trà để uống sáng nay, rồi cô quên uống. Sau
đó, chắc cô đã cho trà vào lò để hâm, nhưng rồi cũng để nó lại trong đó.
“Không, cám ơn anh.”
“Được rồi, Bob và Sarah có lẽ đang đợi. Em có chắc em không
muốn đến?”
“Em chắc mà.”
“Anh không đi lâu đâu.”
Anh hôn cô rồi đi một mình. Cô đứng trong nhà bếp chỗ anh bước
đi một lúc lâu, giữ ca trà lạnh tanh trên tay.
CÔ CHUẨN BỊ ĐI NGỦ, John vẫn chưa đi ăn về. Ánh sáng xanh
phát ra từ máy vi tính ở phòng làm việc đập vào mắt cô trong lúc cô bước lên cầu
thang. Cô bước vào và kiểm tra hộp thư, dường như là theo thói quen hơn là sự
tò mò đơn thuần.
Đây rồi.
Thân gửi Alice,
Tôi là Mary Johnson. Tôi 57 tuổi và được chẩn đoán sa sút trí
tuệ thái dương năm năm trước. Tôi sống ở Bờ Bắc, không xa nơi cô ở. Ý tưởng của
cô thật sự rất hay. Tôi rất muốn đến. Chồng tôi, Barry sẽ chở tôi đến. Tôi
không chắc là ông ấy muốn ở lại. Chúng tôi đều nghỉ hưu non và cả hai chúng tôi
ở nhà suốt. Tôi nghĩ ông ấy muốn nghỉ để chăm sóc tôi. Hẹn sớm gặp cô.
Mary
Chào Alice,
Tôi là Dan Sullivan, 53 tuổi, được chẩn đoán mắc phải
Alzheimer khởi phát sớm ba năm trước. Căn bệnh di truyền cho cả nhà tôi. Mẹ
tôi, hai người chú, một trong các người dì của tôi bị và 4 người anh em họ của
tôi cũng mắc bệnh. Cho nên tôi đã chứng kiến căn bệnh phát sinh và đã sống với
nó cùng gia đình mình từ khi còn nhỏ. Đáng buồn cười là việc phát hiện ra bệnh
hay sống với nó cũng chả dễ dàng hơn gì cả. Vợ tôi biết nơi cô ở. Cũng không xa
Bệnh viện Đa khoa Massachusetts. Gần Harvard. Con gái tôi học ở Harvard. Tôi cầu
nguyện mỗi ngày là nó không mắc bệnh.
Dan
Chào Alice,
Cám ơn thư điện tử và lời mời của cô. Tôi được chẩn đoán mắc
phải Alzheimer khởi phát sớm năm ngoái cũng như cô vậy. Tôi gần như cảm thấy nhẹ
nhõm. Tôi tưởng tôi đã hóa điên. Tôi không tập trung vào các cuộc hội thoại được,
không hoàn chỉnh được câu nói của mình, quên đường về nhà, không hiểu được sổ
chi phiếu, và lẫn lộn thời gian biểu của hai đứa nhỏ (tôi có một con gái 15 tuổi
và một con trai 13 tuổi). Lúc các triệu chứng bắt đầu, tôi mới 46 tuổi, nên
không ai nghĩ là bệnh Alzheimer.
Tôi nghĩ các đơn thuốc rất có ích. Tôi đang dùng Aricept và
Namenda. Tôi có những ngày rất ổn và những ngày tệ hại. Vào những ngày ổn định,
mọi người và cả gia đình tôi nghĩ rằng tôi hoàn toàn ổn, thậm chí tôi chỉ dựng
chuyện lên thôi! Tôi không thảm đến mức phải được quan tâm! Rồi, ngày tồi tệ đến,
tôi không nghĩ ra được từ ngữ hay bị mất tập trung, và tôi không thể làm nhiều
việc một lúc. Tôi còn cảm thấy cô đơn nữa. Tôi rất mong được gặp cô.
Cathy Roberts.
TÁI BÚT: Cô có biết đến Mạng lưới Hỗ trợ và Tư vấn bệnh mất
trí Quốc tế không? Hãy vào trang: www. dasninternational.org. Đây là một trang
tuyệt vời cho người mắc bệnh khởi phát sớm như chúng ta ở giai đoạn đầu để nói
chuyện, tâm sự, được hỗ trợ và chia sẻ thông tin.
Họ đây rồi. Và họ đã đến.
MARY, CATHY CÙNG DAN CỞI ÁO KHOÁC rồi tìm chỗ ngồi trong
phòng khách. Người vợ, người chồng đi cùng họ giữ áo khoác, ngập ngừng chào tạm
biệt, cùng với John đi uống café ở quán Jerri’s.
Mary có mái tóc vàng dài đến cằm, đôi mắt nâu chocolate lẩn
trốn sau cặp kính gọng đen. Cathy có gương mặt sáng sủa, tươi tắn và đôi mắt biết
cười. Alice có thiện cảm với cô ngay tức khắc. Dan có ria mép dày, đầu hói và
thân hình rắn chắc. Họ chắc đã từng là những giáo sư từ nơi khác đến, thành
viên của một hội sách hay những người bạn cũ.
“Có ai muốn suy nghĩ chút gì không?” – Alice hỏi mọi người. Họ
nhìn chằm chằm vào cô và nhìn nhau, không trả lời. Phải chăng họ quá ngượng
ngùng hay lịch sự mà không trả lời trước?
“Alice, có phải cô muốn nói nhâm nhi không?” – Cathy hỏi.
“Phải, đó là điều tôi muốn hỏi.”
“Cô vừa nói ‘suy nghĩ’.”
Alice đỏ mặt. Nhầm từ không phải là ấn tượng đầu tiên cô muốn
tạo ra.
“Tôi thật sự muốn một ly ‘suy nghĩ’. Mấy ngày rồi, đầu tôi trống
rỗng này, tôi có thể được lấp đầy rồi.” – Dan nói đùa.
Họ cười, và cuộc gặp gỡ kết nối họ lại với nhau ngay lập tức.
Alice mang café và trà lên, trong khi Mary kể chuyện.
“Tôi làm nhân viên bất động sản được hai mươi năm. Đột nhiên,
tôi bắt đầu quên các cuộc họp, buổi hẹn, các buổi họp phụ huynh của con mình.
Tôi về nhà mà không có chìa khóa. Tôi lạc trong lúc chở khách đi xem nhà trong
khu vực mà tôi luôn nắm trong lòng bàn tay. Tôi lái xe loanh quanh cả bốn mươi
lăm phút trong khi bình thường chỉ mất mười phút thôi. Tôi có thể tưởng tượng
ra cô ấy nghĩ gì lúc đó.
Tôi bắt đầu dễ nỗi giận và phát điên đối với các nhân viên
khác trong phòng. Trước kia, tôi luôn dễ tính và được yêu mến, nhưng đột nhiên,
tôi trở nên nổi tiếng vì tính thất thường của mình. Tôi đã hủy hoại hoàn toàn
danh tiếng của mình. Danh tiếng là tất cả đối với tôi. Bác sĩ của tôi kê cho
tôi một đơn thuốc chống trầm cảm. Và khi thuốc này lờn, ông ấy lại cho tôi thuốc
khác, và thuốc khác nữa.”
“Trong một thời gian dài, tôi chỉ nghĩ là tôi đã quá mệt và
làm nhiều việc một lúc quá mức” – Cathy chia sẻ. – “Để nuôi hai đứa nhỏ và chăm
lo cho gia đình, tôi đã làm thêm ngoài giờ tại cửa hàng bán thuốc tây, quay cuồng
từ công việc này đến việc khác như gà mất đầu. Tôi mới bốn mươi sáu tuổi nên
không thể nào mắc bệnh mất trí được. Rồi một ngày trong khi làm việc, tôi không
thể nhớ ra tên thuốc, tôi không biết phải đo trên mười ml như thế nào. Ngay sau
đó, tôi nhận ra tôi có thể đưa nhầm liều lượng hay thậm chí nhầm thuốc, tôi có
thể vô tình giết chết ai đó. Vậy nên tôi cởi bỏ áo blouse, về nhà sớm, và không
bao giờ quay lại làm nữa. Tôi hoàn toàn tuyệt vọng. Tôi tưởng tôi hóa điên rồi.”
“Còn anh thì sao, Dan? Điều anh chú ý đến đầu tiên là gì?” –
Mary hỏi.
“Tôi từng rất tháo vát việc nhà. Rồi một ngày, tôi không thể
nghĩ ra làm sao để sửa thứ mà tôi luôn sửa được. Tôi luôn giữ xưởng của mình
ngăn nắp, mọi thứ đâu vào đấy. Giờ thì nơi ấy thật sự là một đống hỗn độn. Khi
tôi không tìm được thứ gì, tôi đổ lỗi bạn tôi mượn đồ nghề của tôi và xáo trộn
mọi thứ mà không trả lại cho tôi. Nhưng thật ra chỉ có tôi thôi. Tôi là một
lính cứu hỏa. Tôi bắt đầu quên tên các đồng nghiệp trong lực lượng. Tôi không
thể nói được hết câu. Tôi quên phải pha café như thế nào. Tôi nhìn thấy những
thứ giống mẹ tôi hồi tôi mười mấy tuổi. Bà cũng mắc Alzheimer khởi phát sớm.”
Họ chia sẻ câu chuyện về những triệu chứng đầu tiên của họ,
những khó khăn để đi đến chẩn đoán chính xác, những chiến lược họ dành để đối
phó và sống với bệnh mất trí. Họ gật đầu, cười và khóc vì những câu chuyện về mất
chìa khóa, đánh mất những suy nghĩ, những ước mơ trong cuộc sống. Alice cảm thấy
thật chân thực và thật sự được lắng nghe. Cô cảm thấy mình bình thường.
“Alice, chồng cô vẫn làm việc à?” – Mary hỏi.
“Phải. Anh ấy vẫn vùi mình trong nghiên cứu và giảng dạy. Anh
ấy di chuyển khá nhiều. Cũng khó. Nhưng sang năm chúng tôi cùng có một năm
nghiên cứu. Nên tôi chỉ cần cố đến hết kỳ tới, chúng tôi sẽ có thể ở nhà với
nhau cả năm.”
“Cô vượt qua được mà, sắp rồi.” – Cathy nói. Chỉ còn vài
tháng nữa thôi.
ANNA BẢO LYDIA VÀO BẾP để làm bánh mì kem sữa chocolate trắng.
Thai nhi đã lớn, và cô không còn ốm nghén, Anna dường như ăn liên tục, như thể
bù cho năng lượng mất đi suốt những tháng mà sáng nào cô cũng phát bệnh.
“Bố có vài tin” – John nói. – “Bố đã được đề nghị vị trí chủ
tịch ở Chương trình Sinh học Ung thư và Gien ở Sloan-Kettering.”
“Là ở đâu vậy bố?” – Anna hỏi, miệng cô nhét đầy việt quất bọc
chocolate.
“New York.”
Không ai nói một lời nào. Trên máy nghe nhạc, Dean Martin ca
bài Thế giới kẹo xốp.
“Vâng, mà bố đâu hứng thú với vị trí đó đâu phải không?” –
Anna hỏi.
“Thật ra là có. Bố đã đến đó vài lần hồi mùa thu, và vị trí
đó thật hoàn hảo cho bố.”
“Còn mẹ thì sao?” – Anna hỏi.
“Mẹ không đi làm nữa, và mẹ hiếm khi phải đi vào trường.”
“Nhưng mẹ cần phải ở đây.” – Anna nói.
“Không, không cần đâu. Mẹ con sẽ ở với bố.”
“Ôi Trời! Con ghé qua ban đêm để bố có thể làm việc đến
khuya, con ngủ lại mỗi khi bố đi khỏi thành phố, còn Tom đến mọi cuối tuần em ấy
có thể” – Anna nói. – “Tụi con không ở đây suốt, nhưng…”
“Phải, tụi con không ở đây suốt nên tụi con chưa thấy tình
hình tệ thế nào đâu. Mẹ con giả vờ biết được nhiều hơn những gì mẹ thật sự biết.
Con nghĩ mẹ con thật sự mong đợi việc bố mẹ ở Cambridge thêm một năm? Mẹ con
không nhận ra cô ấy đang ở đâu khi mà bố mẹ mới đi qua có ba dãy nhà. Bố mẹ có
thể sống rất thoải mái ở thành phố New York, và bố có thể nói đó là quảng trường
Harvard, và mẹ con sẽ chẳng thấy được gì khác biệt đâu.”
“Có đó bố à” – Tom nói. – “Đừng nói vậy bố.”
“Mà tới tháng Chín bố mẹ mới dời đi. Còn lâu mà.”
“Không quan trọng là khi nào dời đi, mẹ cần phải sống ở đây.
Mẹ sẽ xuống dốc rất nhanh nếu bố đi” – Anna nói.
“Con cũng nghĩ vậy” – Tom nói.
Họ nói về cô như thể cô không ngồi ở ghế dựa ngay đó, chỉ
cách đó vài bước chân. Họ bàn về cô, ngay trước mặt cô, như thể cô là người điếc
vậy. Họ bàn về cô, ngay trước mặt cô, mà không để cô tham gia vào, như thể cô
là bệnh nhân Alzheimer.
“Cả đời bố cũng chẳng bao giờ có được vị trí này một lần nào
nữa đâu, và họ cần bố.”
“Con muốn mẹ còn được gặp hai bé song sinh,” – Anna nói.
“New York đâu có xa. Mà cũng đâu có gì buộc tất cả các con sống
ở Boston.”
“Có lẽ con sẽ đến đấy” – Lydia nói.
Lydia đứng ở cửa ra vào giữa nhà bếp và phòng khách. Nhưng tới
khi cô mở lời Alice mới thấy, sự xuất hiện bất ngờ từ trong góc phòng của Lydia
làm Alice giật mình.
“Con nộp đơn vào Đại học New York, Brandeis, Brown và Yale. Nếu
con vào được Đại học New York, con sẽ sống với bố mẹ và giúp mẹ. Và nếu bố mẹ ở
đó mà con vào được Brandeis hay Brown, con cũng có thể qua lại” – Lydia nói.
Alice muốn nói với Lydia rằng đó là những trường xuất sắc. Cô
muốn hỏi Lydia về những chương trình mà con mình thích thú nhất. Cô muốn bảo với
Lydia rằng cô cảm thấy tự hào. Nhưng hôm nay suy nghĩ của cô, đi từ ý tưởng đến
lời nói rất chậm, và giả sử những suy nghĩ ấy bơi hàng cây số băng qua dòng
sông bùn lầy trước khi ngoi lên để nói ra được thì phần lớn chúng cũng chết đuối
đâu đó trên đường đi rồi.
“Thật tuyệt, Lydia” – Tom nói.
“Như vậy thôi à? Bố định tiếp tục cuộc sống giống như mẹ
không mắc Alzheimer và chúng ta không có gì để nói nữa?” – Anna quay sang hỏi.
“Bố đã hi sinh rất nhiều” – John nói.
John luôn yêu thương Alice, nhưng cô không thể làm khó anh được.
Cô nâng niu từng giây từng phút còn được ở bên anh. Cô không biết cô còn cầm cự
được bao lâu nữa, nhưng cô đã tự nhủ rằng, cô sẽ ổn cho đến hết năm nghiên cứu.
Năm nghiên cứu cùng nhau cuối cùng. Cô sẽ không để mất dù bất kì giá nào.
Nhưng, anh thì có. Sao anh có thể làm vậy? Câu hỏi không lời
giải vùng vẫy giữa dòng sông bùn lầy trong đầu cô. Sao anh có thể làm vậy? Rồi
câu trả lời lóe lên trong cô và bóp nghẹt lấy tim cô. Một trong hai bọn họ phải
hi sinh tất cả.
- 18 -
tháng một, năm 2005
Alice, hãy trả lời những câu hỏi sau:
1. Bây giờ là tháng mấy?
2. Cô sống ở đâu?
3. Văn phòng của cô ở đâu?
4. Sinh nhật của Anna vào ngày nào?
5. Cô có bao nhiêu người con?
Nếu cô thấy khó trả lời bất cứ câu hỏi nào trong những câu
trên, hãy mở thư mục “Bươm bướm” trên máy tính của cô và làm theo hướng dẫn
ngay lập tức.
Tháng Mười Hai, Quảng trường Harvard, Harvard, Tháng Tư, Ba
THÁNG MỘT, NĂM 2005
“Mẹ ơi, dậy đi. Mẹ đã ngủ bao lâu rồi bố?”
“Tới giờ là khoảng mười tám tiếng rồi.”
“Đã bao giờ mẹ ngủ lâu vậy chưa?”
“Vài lần rồi.”
“Bố à, con thấy lo. Lỡ như hôm qua mẹ uống thuốc quá liều thì
sao?”
“Không đâu, bố kiểm tra lọ thuốc và hộp chia thuốc của mẹ rồi.”
Alice có thể vẫn nghe họ nói, và cô có thể hiểu họ đang nói
gì, nhưng không hứng thú lắm. Giống như là nghe trộm một cuộc nói chuyện giữa
hai người lạ về một người phụ nữ mà cô không quen biết. Cô không muốn thức dậy.
Cô cũng không ý thức được rằng mình đang ngủ.
“Ali? Em nghe thấy anh không?”
“Mẹ ơi, con nè, Lydia nè, mẹ thức dậy được không?”
Cô gái tên là Lydia nói về việc gọi bác sĩ. Người đàn ông được
gọi là bố nói về việc để người phụ nữ tên Ali ngủ thêm một lát. Họ bàn về việc
gọi thức ăn Mexico và cùng ăn tối ở nhà. Có lẽ mùi thức ăn trong nhà sẽ đánh thức
người phụ nữ tên Ali dậy. Sau đó, các giọng nói ngừng đi. Mọi thứ lại tăm tối
và tĩnh lặng.
CÔ BƯỚC XUỐNG CON ĐƯỜNG phủ cát dẫn đến khu rừng xanh um,
băng qua hàng loạt những đoạn đường quanh co dẫn ra khỏi khu rừng đưa đến một
vách đá cao lớn hùng vĩ. Cô tiến tới bờ vực và nhìn xuống. Biển phía bên dưới
đông đặc, bờ biển bị chôn vùi dưới hàng đống tuyết tích tụ lại. Toàn cảnh trước
mắt cô bất động, không màu sắc, tĩnh mịch đến bất thường. Cô gào lên gọi John,
nhưng cổ họng cô không phát ra được một âm thanh nào. Cô quay lui định về lại,
nhưng con đường và cánh rừng đã biến mất. Cô nhìn xuống mắt cá chân tím tái
xương xẩu và đôi bàn chân trần của cô. Không còn lựa chọn nào, cô buộc phải bước
xuống vách đá.
ALICE NGỒI XUỐNG GHẾ DỰA ngoài bãi biển và vùi chân xuống rồi
nhấc lên khỏi lớp cát mịn ấm áp. Ngắm nhìn Christina – cô bạn thân nhất ở nhà
trẻ của cô đang thả một con diều bươm bướm, cô ấy vẫn chỉ mới lên năm. Những
bông hoa cúc màu hồng và vàng in trên đồ bơi của Christina, đôi cánh xanh và
tím của diều bươm bướm, màu xanh của bầu trời, mặt trời vàng cam và màu sơn
móng tay đỏ bóng loáng của cô, mọi màu sắc trước mắt cô thật sự rực rỡ hơn bất
cứ thứ gì cô từng thấy. Dõi theo Christina, cô ngập tràn niềm vui và tình cảm,
không hẳn là vì người bạn thời thơ ấu của cô, mà vì những màu sắc rực rỡ choáng
ngợp trên đồ bơi và con diều của cô ấy.
Chị của cô, Anne, và Lydia đều khoảng mười sáu tuổi. Họ nằm cạnh
nhau trên những tấm khăn đi biển sọc đỏ, trắng và xanh. Làn da ngăm đen bóng của
họ cùng với bộ bikini màu hồng giống màu bong bóng kẹo cao su sáng lên dưới ánh
nắng. Và họ cũng vậy, họ sáng loáng những màu sắc như phim hoạt hình, đầy mê hoặc.
“Sẵn sàng chưa?” – John hỏi.
“Em hơi sợ đấy.”
“Bây giờ hoặc không bao giờ.”
Cô đứng đó, anh thắt bộ dây đai an toàn vào người cô và gắn
vào cái dù lượn màu cam. Anh nhấn vào các khóa và điều chỉnh tới khi cô cảm thấy
an toàn tuyệt đối. Anh giữ vai cô, đè lại trước sức mạnh vô hình chuẩn bị nâng
bổng cô lên.
“Chuẩn bị chưa?” – John hỏi lại lần nữa.
“Rồi.”
Anh thả cô ra, và cô bay vút vào trong nền trời với một tốc độ
đủ gây phấn khích. Mỗi cơn gió cô lướt qua là một luồng xoáy màu sắc đầy kinh
ngạc hòa trộn những màu xanh lơ, màu tía hoa dừa cạn, màu tím oải hương, màu
tím hoa lồng đèn. Đại dương bên dưới pha ra những sắc màu kính vạn hoa của xanh
Thổ Nhĩ Kỳ, xanh nước biển và tím.
Con diều của Christina đứt dây và đập cánh ngay bên cạnh cô.
Đây là điều tuyệt diệu nhất Alice từng thấy, và cô muốn được cảm nhận lâu hơn nữa,
hơn mọi thứ cô từng khát khao có được. Cô với tay tóm lấy dây diều, nhưng một
luồng không khí mạnh đột ngột hất cô xoay vòng. Cô nhìn lại, nhưng con diều đã
mất hút trong màu cam hoàng hôn chói lòa trên dù lượn của cô. Đến giờ cô mới nhận
ra cô không lái được. Cô nhìn xuống đất, nhìn thấy gia đình cô như những điểm
nhấp nháy. Cô không biết liệu những cơn gió xinh đẹp và nồng nhiệt này có mang
cô về lại chỗ gia đình mình.
LYDIA NẰM CUỘN MÌNH BÊN CẠNH ALICE. Căn phòng ngập tràn ánh
sáng nhẹ dịu của ban ngày.
“Mẹ đang mơ hả?” – Alice hỏi.
“Không, mẹ dậy rồi.”
“Mẹ ngủ bao lâu rồi?”
“Vài ngày rồi mẹ.”
“Ôi không, mẹ xin lỗi.”
“Ổn rồi mẹ. Nghe tiếng mẹ con mừng quá. Mẹ có nhớ là mẹ uống
thuốc nhiều quá không?”
“Mẹ không nhớ. Có thể là vậy. Mẹ không cố ý.”
“Con thấy lo cho mẹ.”
Alice nhìn Lydia từng chút một, cẩn thận ghi nhớ từng đường
nét của con gái. Cô nhận ra từng góc cạnh ấy như người ta nhận ra căn nhà họ đã
sống và lớn lên, nhận ra giọng nói của bố mẹ họ, nhận ra từng đường chỉ tay của
họ một cách rõ ràng mà không cần phải cố gắng hay chú tâm nghiền ngẫm. Nhưng lạ
thay, cô phải khó khăn lắm mới nhận ra được Lydia một cách hoàn chỉnh.
“Con xinh thật” – Alice nói. – “Mẹ rất sợ nhìn thấy con mà
không nhận ra được.”
“Con nghĩ là dù một ngày nào đó mẹ không còn biết con là ai
thì mẹ vẫn biết là con yêu mẹ.”
“Nếu mẹ nhìn con mà không biết con là con gái của mẹ, và mẹ
cũng không biết con yêu mẹ?”
“Vậy thì con sẽ nói rằng con yêu mẹ, và mẹ sẽ tin con.”
Alice thích cuộc nói chuyện như vậy. Nhưng liệu cô có luôn
yêu thương Lydia. Liệu tình cảm dành cho Lydia có ở mãi trong đầu hay trong tim
cô? Nhà khoa học trong cô tin rằng, cảm xúc được hình thành nên ở vận mạch phức
tạp của thùy viền, nơi những mạch máu mà đối với cô lúc này đang tắc nghẽn theo
dòng cuộc chiến mà chắc chắn rằng chẳng ai sống sót được. Còn người mẹ trong cô
tin rằng, tình yêu cô dành cho đứa con gái của mình sẽ an toàn trước những
thương tổn trong trí nhớ cô, bởi tình yêu ấy vốn nằm trong tim cô.
“Mẹ sao rồi?”
“Không ổn lắm. Kỳ này khá là khó khăn, không có công việc,
không đến Harvard, bệnh thì vẫn tiến triển, bố con chẳng mấy khi ở nhà. Mọi thứ
quá khó khăn.”
“Con xin lỗi. Con ước con có thể ở đây nhiều hơn. Mùa thu tới
con sẽ ở gần đây hơn. Con đã nghĩ về chuyện chuyển về, nhưng con vừa được nhận
thử vai trong một vở lớn. Cũng là vai nhỏ thôi nhưng…”
“Không sao mà. Mẹ ước mẹ có thể xem con nhiều hơn, nhưng mẹ
không bao giờ để con dừng sống cuộc sống của con vì mẹ được.”
Cô nghĩ về John.
“Bố con muốn chuyển về New York. Bố nhận được đề nghị ở
Sloan-Kettering.”
“Con biết. Con có ở đó lúc bố nói về chuyện này.”
“Mẹ không muốn đi.”
“Con cũng nghĩ là mẹ không muốn.”
“Mẹ không đi khỏi đây được. Cặp song sinh sẽ ra đời vào tháng
Tư.”
“Con mong được thấy mấy đứa nhỏ quá.”
“Mẹ cũng vậy.”
Alice tưởng tượng ra cảnh được bế chúng trong vòng tay, cơ thể
ấm áp của chúng, những ngón tay tí hon co lại, đôi bàn chân mũm mĩm chưa bao giờ
bước đi, và đôi mắt tròn nằm trong bọng mắt của chúng. Và mùi em bé. Cô mong được
ngửi mùi những đứa cháu ngoại của mình.
Hầu hết những người làm ông, bà đều phấn khích khi tưởng tượng
ra cuộc sống của cháu mình, họ mong chờ được tham dự những buổi diễn, những bữa
tiệc sinh nhật, lễ tốt nghiệp và đám cưới. Cô biết cô sẽ không đợi được đến những
buổi diễn của cháu mình, hay tiệc sinh nhật, lễ tốt nghiệp và đám cưới. Nhưng
cô sẽ ở đây đến lúc được ẵm chúng trong tay và ngửi mùi em bé, và nếu như cô phải
ngồi một mình đâu đó ở New York thì thật đau khổ biết bao.
“Malcolm thế nào?”
“Ổn mẹ. Bọn con vừa tham gia chương trình Memory Walk ở Los
Angeles cùng nhau.”
“Cậu ta thế nào?”
Lydia cười trước khi cô hỏi xong câu hỏi.
“Anh ấy cao, thích ra ngoài, mà hơi mắc cỡ.”
“Đối với con thì sao?”
“Anh ấy dịu dàng. Anh ấy thích sự thông minh của con, anh ấy
tự hào vì con đi diễn. Anh ấy kể về con nhiều lắm, ngượng thật. Mẹ sẽ thấy
thích anh ấy.”
“Còn đối với cậu ấy con ra sao?”
Lydia suy nghĩ chốc lát như là cô chưa nghĩ về câu hỏi đó bao
giờ.
“Vẫn là chính con.”
“Tốt rồi.”
Alice cười và siết chặt tay Lydia. Cô đã nghĩ sẽ hỏi Lydia về
việc đó có ý nghĩa như thế nào, để Lydia có thể tự mô tả bản thân, để nhắc cô
nhớ lại, nhưng suy nghĩ ấy bốc hơi quá nhanh để kịp nói ra.
“Chúng ta đang nói về việc gì?” – Alice hỏi.
“Malcolm, chương trình Memory Walk? New York?” – Lydia hỏi lại
để gợi ý cho mẹ.
“Mẹ đi bộ quanh đây, mẹ cảm thấy an toàn. Mặc dù mẹ mất chút
thời gian đi vòng vòng nhưng cuối cùng mẹ cũng thấy được gì đó quen thuộc và có
đủ người trong các cửa hàng biết mẹ và họ chỉ mẹ đi đúng hướng. Cô gái ở quán
Jerri’s lúc nào cũng để mắt đến ví và chìa khóa giúp mẹ.
“Và mẹ có những người bạn trong nhóm hỗ trợ ở đây. Mẹ cần họ.
Giờ mẹ không thể nạp New York vào đầu được. Mẹ sẽ mất luôn chút khả năng tự lập
ít ỏi mà mẹ đang có. Một công việc mới. Bố con sẽ làm việc suốt. Mẹ sẽ mất ông ấy
luôn.”
“Mẹ à, mẹ phải nói hết cho bố.”
Lydia nói đúng, nhưng nói với cô thì dễ hơn nhiều. “Lydia, mẹ
tự hào về con.”
“Cám ơn mẹ.”
“Trong trường hợp mẹ quên, con hãy biết rằng mẹ yêu con.”
“Con cũng yêu mẹ.”
“EM KHÔNG MUỐN ĐI NEW YORK” – Alice nói.
“Từ giờ đến lúc đó còn cả một quãng đường dài, chúng ta chưa
phải quyết định ngay bây giờ” – John nói.
“Em muốn quyết định ngay bây giờ. Em đang quyết định. Em muốn
rõ ràng về chuyện này trong khi em còn có thể. Em không muốn chuyển đến New
York.”
“Nếu Lydia ở đó thì sao?”
“Còn nếu con bé không ở đó? Lẽ ra anh phải bàn riêng với em
trước khi thông báo cho các con chứ.”
“Anh đã bàn rồi.”
“Không, anh chưa.”
“Có, anh nói nhiều lần rồi.”
“Ồ, vậy là do em không nhớ phải không? Hay thật.”
Cô hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng, để cho một lúc bình
tĩnh kéo cô ra khỏi cuộc tranh cãi kiểu học sinh tiểu học đang cuốn họ vào.
“John, em biết là anh sẽ gặp những người ở Sloan-Kettering,
nhưng em sẽ không bao giờ hiểu được rằng họ lại dụ dỗ anh vào một vị trí trong
năm tới. Em sẽ lên tiếng nếu em biết về chuyện này.”
“Anh đã nói em nghe vì sao anh đến đó rồi.”
“Được rồi. Họ có thể để anh đi nghiên cứu một năm rồi bắt đầu
vào tháng Chín sau đó một năm không?”
“Không, họ cần ai đó ngay bây giờ. Khó mà thương lượng với họ
quá đáng vậy được, anh còn cần thời gian để hoàn tất vài thứ ở phòng nghiên cứu
ở đây nữa.”
“Họ có thể thuê ai tạm thời, để anh đi nghiên cứu một năm với
em, rồi anh về đảm nhiệm công việc sau không?”
“Không.”
“Anh từng yêu cầu họ thử chưa?”
“Nghe này, cạnh tranh trong lĩnh vực này hiện tại rất căng, mọi
thứ phát triển rất nhanh. Bọn anh đang ở ngưỡng cửa của những phát kiến vĩ đại.
Ý anh là bọn anh đang gõ cửa đi vào phương pháp chữa trị ung thư đấy. Các công
ty dược rất có hứng thú. Và tất cả những lớp học và những thứ quan liêu vớ vẩn ở
Harvard chỉ làm anh chậm lại thôi. Nếu anh không nắm lấy cơ hội này, anh có thể
sẽ làm hỏng tác phẩm duy nhất của anh trong việc tìm ra thứ gì thật sự có ý
nghĩa.”
“Đây không phải là tác phẩm duy nhất của anh. Anh xuất sắc,
anh không mắc bệnh Alzheimer. Anh sẽ còn nghiên cứu ra vô vàn thứ.”
Anh nhìn cô mà không nói gì.
“Năm tới đây mới là năm duy nhất còn lại của em, John, không
phải của anh. Năm tới đây sẽ là cơ hội cuối cùng để em sống cuộc đời mình và biết
được rằng nó có ý nghĩa với em. Em không nghĩ em sẽ còn nhiều thời gian được
làm chính mình, và em muốn dành thời gian đó với anh, và em không tin được anh
không muốn dành ra khoảng thời gian đó bên nhau.”
“Anh sẽ dành ra mà. Chúng ta sẽ ở bên nhau.”
“Vớ vẩn, anh biết rõ mà. Cuộc sống của chúng ta ở đây. Tom và
Anna và hai đứa bé, rồi còn Mary, Cathy và Dan, và có thể cả Lydia nữa. Nếu anh
nhận công việc, anh sẽ làm việc suốt, anh cũng biết trước rồi, và em sẽ phải cô
đơn. Anh quyết định như vậy đâu có cân nhắc gì việc ở bên em, và mọi thứ còn lại
của em sẽ mất hết thôi. Em không theo đâu.”
“Anh không làm việc suốt đâu, anh hứa đấy. Và nếu Lydia sống ở
New York thì sao? Nếu em đến ở với Anna và Charlie một tuần mỗi tháng thì sao?
Luôn có cách giải quyết để em không cô đơn.”
“Còn nếu Lydia không ở New York thì sao? Nếu con bé ở
Brandeis?”
“Đó là lý do tại sao anh muốn em đợi sau này rồi quyết định,
khi nào chúng ta có thêm thông tin ấy.”
“Em muốn anh chọn một năm nghiên cứu.”
“Alice à, quyết định dành cho anh không phải là ‘nhận vị trí ở
Sloan’ hay ‘chọn một năm nghiên cứu mà là nhận vị trí ở Sloan’ hay ‘tiếp tục ở
lại Harvard.’ Năm tới anh không nghỉ được.”
Hình ảnh anh mờ đi vì cơ thể cô rung lên và nước mắt tràn ra
trong cơn giận.
“Không không chịu được nữa đâu! Làm ơn đi! Em không thể tiếp
tục mà không có anh! Anh có thể nghỉ một năm. Nếu anh muốn, anh có thể. Em muốn
anh nghỉ.”
“Nếu như anh từ chối, anh nghỉ một năm, và em thậm chí chẳng
còn biết anh là ai nữa thì sao?”
“Nếu em biết thì sao, nhưng năm sau đó em không còn biết nữa?
Sao anh có thể nghĩ đến cả việc dành ra thời gian còn lại của chúng ta cho cái
phòng nghiên cứu vớ vẩn của anh? Em sẽ không bao giờ làm vậy với anh.”
“Anh sẽ không bao giờ yêu cầu em làm vậy.”
“Anh không cần phải yêu cầu.”
“Anh không nghĩ anh có thể làm được, Alice. Anh xin lỗi, anh
chỉ không nghĩ là anh có thể chọn việc ở nhà cả năm, chỉ ngồi nhìn căn bệnh cướp
em đi. Anh không thể chọn việc nhìn em xoay sở không biết mặc quần áo thế nào,
không biết sử dụng tivi thế nào nữa. Nếu anh ở phòng nghiên cứu, anh không phải
nhìn em dán giấy ghi chú khắp các tủ và cửa. Anh không thể ở nhà và nhìn em trầm
trọng hơn được. Anh chết mất.”
“Không, John, anh không chết, mà là em. Em đang trầm trọng
hơn, cho dù anh ở nhà nhìn em, hay trốn ở phòng thí nghiệm. Anh cũng dần mất
em. Em cũng đang đánh mất chính mình. Nhưng nếu anh không dành ra năm tới ở bên
em, sau đó, chúng ta sẽ mất anh trước. Em mắc Alzheimer. Anh còn muốn biện hộ
cái quái gì nữa?”
CÔ LÔI HẾT LON, HỘP VÀ chai, ly, đĩa và chén, chậu và chảo.
Cô dồn tất cả mọi thứ lên bàn bếp, và khi đã hết chỗ, cô tận dụng cả sàn nhà.
Cô lấy từng chiếc áo khoác ra khỏi tủ hành lang, kéo khóa và
lộn túi áo ra ngoài. Cô tìm được tiền, cuống vé, khăn giấy và chẳng có gì khác.
Sau cuộc lục soát triệt để, cô thả chiếc áo khoác vô tội xuống sàn nhà.
Cô lật mấy chiếc gối xuống khỏi ghế sofa và ghế bành. Cô dọn
hết bàn làm việc, ngăn kéo và tủ. Cô dốc ra hết mọi thứ trong giỏ đi làm, giỏ đựng
máy tính xách tay và cả cái giỏ nhỏ của cô. Cô lùa những ngón tay qua đống đồ đạc,
chạm vào từng món bằng các ngón tay của cô để nhẩm lại tên của từng vật trong đầu.
Chẳng có gì cả.
Cuộc tìm kiếm của cô không buộc cô phải nhớ những nơi cô đã
xem qua. Cả một đống những thứ được lôi ra như dấu vết cho những khu vực được
cô khai quật. Sau cuộc tìm kiếm, các đồ vật bao phủ hoàn toàn sàn tầng một. Cô
đẫm mồ hôi, phấn khích. Cô chưa bỏ cuộc. Cô lao lên lầu.
Cô lục lọi giỏ đồ giặt, bàn đầu giường, ngăn tủ quần áo, tủ
trong phòng ngủ, hộp trang sức của cô, tủ vải, tủ thuốc. Phòng tắm dưới lầu. Cô
lại chạy xuống tầng dưới, đẫm mồ hôi, phấn khích.
John đứng trên hành lang, quần áo ngập đến mắt cá chân anh.
“Cái quái gì đang xảy ra đây?” – Anh hỏi.
“Em đang kiếm một thứ.”
“Gì cơ?”
Cô không gọi tên nó được, nhưng cô tin rằng đâu đó trong đầu
cô, cô nhớ và biết nó.
“Em sẽ biết khi mà em tìm ra nó.”
“Ở đây thảm họa hoàn toàn rồi. Trông như nhà chúng ta vừa bị
trộm.”
Cô chưa nghĩ về việc ấy. Có thể đó là lý do cô không thể tìm
ra.
“Ôi Chúa ơi. Có khi ai đó lấy cắp nó mất rồi.”
“Chúng ta chưa bị trộm, mà em vừa phá tan hoang căn nhà đấy.”
Cô chỉ vào cái rổ tạp chí bên cạnh ghế sofa trong phòng
khách. Cô để mặc John cùng với lý thuyết về kẻ trộm ở lại hành lang, cô nhấc
cái rổ nặng lên, dốc hết tạp chí ra sàn nhà, lật qua hết chúng và rồi lại bước
đi. John bước theo cô.
“Dừng lại Alice, em còn không biết em tìm cái gì.”
“Có, em biết.”
“Thế thì em tìm gì?”
“Em không nói được.”
“Nó trông thế nào, dùng vào việc gì?”
“Em không biết, em nói anh rồi. Em sẽ biết khi mà em tìm ra
nó. Em phải tìm, không thì em chết mất.”
Cô nghĩ về điều cô vừa nói.
“Thuốc của em đâu?”
Họ bước vào nhà bếp, luồn chân vào đống hộp ngũ cốc, lon súp
và cá hồi. John tìm ra rất nhiều lọ thuốc và vitamin của cô trên sàn và hộp
chia thuốc đặt trong một cái chén trên bàn bếp.
“Chúng đây rồi” – anh nói.
Sự khẩn cấp giống như nhu cầu sống còn vẫn không tan đi.
“Không, không phải đâu.”
“Điên thật. Em phải dừng lại. Nhà mình ngập rác rồi.”
Rác.
Cô mở máy hút bụi, lôi túi nilon ra và đặt nó xuống.
“Alice!”
Cô luồn các ngón tay của cô qua đống vỏ bơ, mỡ gà nhầy nhụa,
khăn giấy và giấy vệ sinh đã vò cục, các hộp giấy rỗng và giấy gói, và những thứ
rác rưởi gì đó khác. Cô nhìn thấy đĩa DVD Alice Howland. Cô cầm cái vỏ đĩa ướt
nhớp nháp trên tay, nghiền ngẫm. Mình không định vứt nó đi.
“Đây rồi, chắc chắn phải là nó” – John nói. – “Anh mừng vì em
tìm được nó.”
“Không, không phải luôn.”
“Được rồi, làm ơn đi, rác đầy trên sàn rồi. Dừng lại đi, hãy
ngồi xuống, thư giãn. Em đang phát điên. Có lẽ nếu em dừng lại và thư giãn, nó
sẽ tự động hiện ra thôi.”
“Được rồi.”
Có lẽ, nếu cô ngồi yên, cô sẽ nhớ ra nó là cái gì và cô để nó
ở đâu. Hoặc có lẽ, cô thậm chí sẽ quên luôn cô đang tìm thứ gì đó.
NHỮNG BÔNG TUYẾT ĐÃ RƠI TỪ HÔM QUA VÀ ngập lên chừng nửa mét
bao phủ gần hết New England cũng đã ngừng rơi. Cô có lẽ không chú ý gì khác
ngoài tiếng rít của thanh gạt nước mưa gạt qua lại trên ô kính trước vừa mới
khô. John tắt gạt nước. Đường đã được dọn, nhưng xe của họ là chiếc duy nhất
trên đường. Alice luôn thích sự yên bình trong trẻo và vẻ tĩnh mịch sau một cơn
bão tuyết dữ dội, nhưng hôm nay, quang cảnh ấy đang làm cô bồn chồn.
John lái xe vào khu nghĩa trang Mount Auburn. Không gian
khiêm tốn để đậu xe đã được dọn bớt tuyết, nhưng khu nghĩa trang, đường đi vào
và bia mộ vẫn còn ngập trong tuyết.
“Anh đã lo rằng mọi thứ vẫn như thế này. Phải để lúc khác
quay lại thôi” – anh nói.
“Không, khoan đã. Để em xem một phút thôi.”
Cây cổ thụ đen ngòm vươn ra những cành khúc khuỷu dài ngoằng
phủ đầy băng tuyết trắng tinh ngự trị vùng đất mùa đông kỳ diệu này. Cô có thể
nhìn thấy một vài thứ có vẻ như là đỉnh của những tấm bia cao, cầu kỳ của những
người lúc còn sống rất giàu có và uy quyền ngoi lên mặt tuyết, nhưng thực tế
đúng là vậy. Mọi thứ khác đều bị chôn vùi. Những thân thể mục rữa được vùi
trong những cỗ quan tài, những cỗ quan tài được chôn dưới đất đá, đất đá được
phủ lên bởi tuyết. Mọi thứ chỉ có trắng và đen, đóng băng và chết.
“John?”
“Sao?”
Cô gọi tên anh thật lớn, đột nhiên phá tan sự tĩnh lặng khiến
anh giật mình.
“Không có gì. Chúng ta đi được rồi. Em không muốn ở đây.”
“CHÚNG TA CÓ THỂ QUAY LẠI ĐÂY trong tuần nếu em muốn” – John
nói.
“Quay lại đâu?” – Alice hỏi anh.
“Nghĩa trang.”
“Ồ.”
Cô ngồi vào bàn bếp. John rót rượu vang đỏ vào hai chiếc ly
thủy tinh rồi đưa cô một ly. Cô lắc nhẹ ly rượu theo thói quen. Cô vẫn thường
xuyên quên tên con gái cô, đứa con gái làm diễn viên của cô, nhưng cô lại có thể
nhớ cách lắc ly rượu vang và nhớ được là cô thích làm vậy. Căn bệnh điên khùng.
Cô thích chuyển động xoáy tròn của rượu trong ly, màu đỏ máu của rượu, hương vị
đậm đà của nho, gỗ sồi và đất, và cảm giác âm ấm khi rượu chảy xuống bụng cô.
John đứng trước tủ lạnh đang mở và lấy ra một khối pho-mát, một
quả chanh, một thứ dung dịch đậm gia vị và một vài thứ rau củ màu đỏ.
“Món gà sốt enchilada thì sao?” – Anh hỏi cô.
“Được đấy.”
Anh mở ngăn đá và lục tìm bên trong.
“Chúng ta còn miếng thịt gà nào không nhỉ?” – Anh hỏi.
Cô không trả lời gì.
“Ôi không, Alice.”
Anh quay sang để cho cô xem một thứ gì đó trong tay anh. Đó
không phải gà.
“Đó là chiếc BlackBerry của em, nó ở trong ngăn đá.” – Anh nhấn
các nút, lắc nó và lau chùi nó.
“Có vẻ như bị vào nước rồi, chúng ta có thể kiểm tra sau khi
nó rã đông, nhưng anh nghĩ nó tiêu rồi” – anh nói.
Trên mắt cô tuôn ra dòng nước mắt đau khổ đến tận tim gan.
“Ổn rồi mà. Nếu nó hỏng, chúng ta sẽ mua cho em một cái mới.”
Nực cười làm sao, làm sao mình có thể buồn vì một thiết bị sắp
xếp công việc bị hỏng? Có lẽ cô thật sự khóc vì mẹ cô, chị cô và bố cô đã
qua đời. Có lẽ cô cảm thấy được cảm xúc đã dâng lên trong cô lúc ở nghĩa trang
nhưng cô không bộc lộ rõ được. Như vậy nghe có lý hơn. Nhưng chuyện không phải
vậy. Có lẽ chiếc máy hỏng tượng trưng cho công việc của cô ở Harvard kết thúc,
và cô đang tưởng niệm sự kết thúc cho sự nghiệp của mình. Vậy nghe cũng có lý.
Nhưng cái mà cô cảm thấy là một nỗi đau không thể nguôi ngoai vì đơn thuần là
chiếc BlackBerry đã hỏng.
- 19 -
tháng hai, năm 2005
Cô ngồi phịch xuống ghế bành cạnh John, đối diện bác sĩ
Davis, cảm giác cô ngán ngẩm và đầu óc cô mệt đừ rồi. Cô đã thực hiện hàng loạt
các bài kiểm tra tâm lý thần kinh trong căn phòng nhỏ bé với người phụ nữ ấy,
người vẫn thường ở trong căn phòng tí hon đảm nhiệm các bài kiểm tra tâm lý học
thần kinh dài đến đau khổ. Những từ ngữ, thông tin, ý nghĩa của những câu mà
người phụ nữ kia hỏi và câu trả lời của Alice giống như bong bóng xà phòng, loại
bọn trẻ vẫn hay thổi bằng những que thổi bằng nhựa trong một ngày nhiều gió.
Chúng trôi xa khỏi cô nhanh chóng và theo những hướng loạn xạ, phải căng mắt tập
trung mới dõi theo được. Và dù cho cô có cố gắng để thực sự giữ được một số
trong tầm mắt, chúng cũng nhanh chóng vỡ tan! Chúng tan đi, biến mất chẳng có
nguyên nhân rõ ràng nào, như thể chúng chưa bao giờ tồn tại. Và giờ đến lượt
bác sĩ Davis cầm que thổi.
“Được rồi, Alice, cô có thể đánh vần ngược từ water không?” –
Anh hỏi cô.
Sáu tháng trước, cô thường cảm thấy câu hỏi này tầm thường và
thậm chí xúc phạm, nhưng hôm nay, nó trở thành một câu hỏi nghiêm túc và cô phải
gắng sức đương đầu với nó. Cô chỉ cảm thấy hơi ngại và xấu hổ với nó, không như
sáu tháng trước, cô cảm thấy lo lắng và nhục nhã vì câu hỏi. Dần dần, cô cảm nhận
khoảng cách giữa cô và ý thức về bản thân của cô ngày càng xa. Cảm giác của cô
về Alice, về những gì cô biết và cô hiểu, những gì cô thích và ghét, những gì
cô biết và những gì cô tin cũng như bong bóng xà phòng vậy. Chúng cứ thế bay
cao hơn lên trời và khó xác định hơn, chẳng có gì ngoài lớp màng không thể mỏng
hơn bảo vệ chúng khỏi vỡ tan trong không khí.
Alice nhẩm đánh vần xuôi từ nước trước, cô xòe bốn ngón tay
trái ra, gán vào mỗi ngón tay một chữ cái, bắt đầu bằng chữ “R”. Cô gập ngón
tay lại. Cô đánh vần xuôi lại một lần, dừng lại ở ngón đeo nhẫn, rồi cũng gập
ngón tay ấy xuống.
“E.” – Cô làm lại y hệt.
“T.” – Cô chĩa ngón cái và ngón trỏ lên như giả làm súng. Cô
đọc thầm – “A.”
“W”
Cô cười, tay trái cô nắm lại, giơ nắm tay ra như biểu tượng
chiến thắng, cô nhìn sang John. Anh xoay xoay chiếc nhẫn cưới và gượng cười.
“Tốt lắm” – bác sĩ Davis nói. Anh cười rất tươi và tỏ ra ấn
tượng. Alice thích như vậy.
“Giờ, tôi muốn cô hãy chỉ vào cửa sổ sau khi cô chạm tay trái
vào má phải.”
Cô nâng tay trái lên mặt. Bốp!
“Tôi xin lỗi, anh có thể nói lại hướng dẫn cho tôi không?” –
Alice hỏi, tay trái cô vẫn trong tư thế sẵn sàng trước mặt.
“Dĩ nhiên” – bác sĩ Davis khéo léo tỏ ra thân thiện, giống
như một bậc phụ huynh tha cho con mình việc lén nhìn con chủ bài trong một ván
bài hay nhích lên vạch xuất phát một chút trước khi hô ‘bắt đầu’.
“Chạm tay trái vào má phải rồi chỉ vào cửa sổ.”
Tay trái cô chạm vào má phải trước khi anh nói xong, cô vung
thẳng tay phải về phía cửa sổ nhanh nhất có thể và thở ra thật mạnh.
“Tốt lắm, Alice” – bác sĩ Davis cười và nói.
John không tán dương, không tỏ ra chút bằng lòng hay tự hào.
“Được rồi, giờ tôi muốn cô nhắc lại tên và địa chỉ tôi đã yêu cầu cô nhớ trước
đó.”
Tên và địa chỉ. Cô chỉ còn chút cảm giác mơ hồ về nó, giống
như cảm giác thức dậy sau một giấc ngủ dài cả đêm và biết rằng cô chỉ mơ thôi,
thậm chí có lẽ cô biết là giấc mơ về một chuyện cụ thể, nhưng dù cô có ráng nhớ
lại cỡ nào, những chi tiết về giấc mơ cũng tan biến. Biến mất mãi mãi.
“Là John gì đó. Lần nào anh cũng hỏi tôi, và tôi chẳng bao giờ
nhớ được anh chàng này sống ở đâu.”
“Được rồi, hãy đoán nào. Là John Black, John White, John
Jones, hay John Smith?”
Cô hoàn toàn không có chút khái niệm gì nhưng cô không hứng
thú chơi tiếp.
“Smith.”
“Anh ta sống ở đường East, đường West, đường South, hay đường
North?”
“Đường South.”
“Là thị trấn Arlington, Cambridge, Brighton, hay Brookline?”
“Brookline.”
“Được rồi, Alice, câu hỏi cuối cùng, tờ hai mươi đô của tôi ở
đâu?”
“Trong ví của anh?”
“Không, trước đó, tôi có giấu một tờ hai mươi đô trong căn
phòng, cô có nhớ tôi để nó ở đâu không?”
“Anh giấu nó lúc tôi ở trong phòng hả?”
“Phải. Cô có nghĩ ra chút gì không? Cô sẽ được giữ tờ tiền nếu
cô tìm ra.”
“Chà, nếu biết, tôi hẳn đã nghĩ cách để ghi nhớ nó.”
“Tôi chắc là cô có biết. Cô nhớ được chút gì không?”
Cô nhìn thấy sự tập trung ánh mắt của anh hướng về bên phải của
cô, chỉ lệch lên trên vai cô một chút trong chốc lát rồi quay lại tập trung vào
cô. Cô xoay người lại. Đằng sau cô là một tấm bảng trắng treo trên tường có ba
từ được viết bằng bút dạ đỏ: Glutamate. LTP. Chết rụng tế bào. Bút dạ
đỏ đặt trên khay ở cuối bảng, ngay bên cạnh là tờ bạc hai mươi đô gấp lại. Cô
phấn khởi bước đến chỗ tấm bảng và giành lấy giải thưởng của mình.
Bác sĩ Davis cười. “Nếu bệnh nhân nào của tôi cũng thông minh
như cô thì tôi sạt nghiệp mất.”
“Alice, em không lấy tờ tiền đó được, em thấy anh ấy nhìn nó
rồi” – John nói với cô.
“Em thắng được mà” – Alice nói.
“Không sao đâu, cô ấy tìm được nó” – bác sĩ Davis nói.
“Sau một năm có dùng thuốc mà cô ấy vẫn ra như vậy sao?” –
John hỏi.
“Có lẽ có một vài vấn đề đang diễn ra. Có thể cô ấy đã phát bệnh
từ lâu trước khi được chẩn đoán hồi tháng Một năm trước. Bản thân cô ấy, cả
anh, gia đình anh và đồng nghiệp của cô ấy có thể không chú ý đến các triệu chứng
xảy ra ngẫu nhiên, mà chỉ xem các triệu chứng này là bình thường hoặc cho rằng
do cô ấy căng thẳng mà ngủ không đủ giấc, rồi lại cứ chìm trong căng thẳng và cứ
thế mãi. Việc này có thể đã diễn ra dễ dàng trong một hai năm hay lâu hơn nữa.
Và cô ấy thông minh hơn người. Nói đơn giản là, nếu một người
bình thường có mười khớp thần kinh dẫn đến một mẩu thông tin, Alice dễ phải có
đến năm mươi. Khi một người bình thường mất đi mười khớp thần kinh đó, người đó
sẽ không thể truy cập vào mẩu thông tin nữa, và họ sẽ quên. Nhưng Alice có thể
mất mười khớp đó và vẫn còn bốn mươi khớp khác để nhớ được. Vậy nên ban đầu những
suy giảm bên trong không được phát hiện một cách thấu đáo và cụ thể.”
“Nhưng giờ thì cô ấy mất nhiều hơn mười rồi” – John nói.
“Phải, tôi e là vậy. Trí nhớ ngắn hạn của cô ấy giờ đã thấp
hơn ba phần trăm so với ngưỡng của những người có thể hoàn thành các bài kiểm
tra, khả năng ngôn ngữ của cô ấy đã giảm đáng ngại và cô ấy đang mất dần ý thức
bản thân, đúng với tất cả những gì chúng ta không may buộc phải chứng kiến.
“Nhưng cô ấy vẫn linh hoạt đến không ngờ đấy. Cô ấy dùng nhiều
phương pháp rất sáng tạo để trả lời các câu hỏi một cách chính xác mà thực tế
cô ấy chẳng nhớ được.”
“Nhưng chưa kể nhiều câu hỏi cô ấy không trả lời được” – John
nói.
“Phải, thực tế là vậy.”
“Căn bệnh trở nên trầm trọng nhanh quá. Chúng ta có thể tăng
liều lượng một trong hai loại thuốc Aricept hay Namenda không?” – John hỏi.
“Không, cả hai loại cô ấy đều dùng liều tối đa rồi. Không
may, đây là căn bệnh luôn tiến triển trầm trọng thêm mà không chữa được. Căn bệnh
sẽ tệ hơn cho dù chúng ta dùng thuốc gì đi nữa.”
“Và rõ ràng rằng dù cô ấy dùng giả dược hay Amylix cũng không
có tác dụng” – John nói.
Bác sĩ Davis im lặng như thể không biết phải phản đối hay tán
thành ý kiến của John.
“Tôi biết là anh thấy nản. Nhưng tôi thường thấy nhiều giai
đoạn bình ổn không ngờ, lúc đó căn bệnh sẽ được kìm lại và duy trì một thời
gian.”
Alice nhắm mắt, hình dung ra bản thân cô đang đứng vững chãi
trên một bình nguyên. Một đỉnh núi bằng phẳng. Cô có thể thấy được bình nguyên ấy,
thật đáng kỳ vọng. John có thể thấy được nó không? Liệu anh có thể giữ hi vọng
nơi cô, hay anh đã từ bỏ rồi? Hay tệ hơn nữa, anh đang hi vọng cô suy sụp hơn nữa,
không còn nhớ được gì nữa và nghe lời anh, để anh có thể đưa cô đến New York
vào mùa thu? Anh sẽ chọn cùng cô đứng trên bình nguyên, hay đẩy cô xuống dốc?
Cô khoanh tay, buông đôi chân đang vắt chéo, đặt cả hai bàn
chân xuống sàn.
“Alice, cô còn chạy bộ không?” – Bác sĩ Davis hỏi cô.
“Không, tôi ngưng một thời gian rồi. Vừa vì lịch làm việc của
John, vừa vì cơ thể tôi hoạt động không thống nhất mấy. Tôi dường như không thể
thấy được lề đường hay những gờ trên đường, và tôi không ước lượng được khoảng
cách. Tôi ngã khá nặng vài lần. Ngay cả khi ở nhà, tôi vẫn quên về thứ gì đó được
nâng lên ở các cửa ra vào, và vào phòng nào tôi cũng vấp. Tôi có cả đống vết bầm.”
“Được rồi, John, nếu là tôi thì tôi sẽ gỡ hết mấy cái gì đó ở
cửa ra vào hoặc sơn màu nổi lên, màu gì đó thật sáng, hoặc dán băng keo màu
sáng, như vậy Alice sẽ chú ý đến. Còn không thì phải sửa cho bằng với sàn nhà.”
“Được.”
“Alice, hãy kể tôi nghe về nhóm hỗ trợ của cô” – bác sĩ Davis
nói.
“Chúng tôi có bốn người. Chúng tôi gặp nhau hàng tuần trong
vài giờ ở nhà của một trong bốn người, và chúng tôi gửi thư điện tử cho nhau mỗi
ngày. Tuyệt lắm, chúng tôi kể về mọi thứ.”
Hôm nay, bác sĩ Davis và người phụ nữ ở trong căn phòng tí
hon hỏi cô rất nhiều câu hỏi thăm dò để đo chính xác mức độ suy thoái trong đầu
cô. Nhưng không ai hiểu được những gì vẫn tồn tại trong đầu cô rõ bằng Mary,
Cathy và Dan.
“Tôi muốn cám ơn cô đã làm người khởi xướng và sửa chữa lỗ hổng
lớn trong hệ thống hỗ trợ ở đây. Nếu tôi gặp những bệnh nhân ở giai đoạn đầu hoặc
khởi phát sớm, tôi có thể hướng dẫn họ liên lạc với cô không?”
“Vâng, anh hãy làm vậy. Anh cũng nên nói với họ về DASNI, Mạng
lưới Hỗ trợ và Tư vấn bệnh mất trí sớm Quốc tế. Đó là diễn đàn trực tuyến dành
cho những người mắc các bệnh mất trí. Tôi đã gặp hơn chục người trong đó từ khắp
đất nước và cả Canada, Anh và Úc. Tôi chưa thực sự gặp họ, chỉ là trên mạng
thôi, nhưng tôi cảm thấy tôi quen biết họ và họ quen tôi còn thân thiết hơn nhiều
người tôi đã quen biết cả đời. Chúng tôi không lãng phí thời gian, vì chúng tôi
cũng chẳng có đủ thời gian. Chúng tôi thường nói về những việc quan trọng.”
John đổi chỗ và ngồi rung đùi.
“Cám ơn Alice, tôi sẽ thêm trang đó vào tập thông tin tiêu
chuẩn của chúng tôi. Còn anh thì sao, John? Anh có nói chuyện với nhân viên xã
hội ở đây hay đến các buổi gặp mặt của nhóm hỗ trợ những người chăm sóc bệnh
nhân chưa?”
“Chưa, tôi chưa. Tôi có uống café với vợ chồng những người
trong nhóm hỗ trợ của cô ấy vài lần, còn lại thì chưa.”
“Anh cần phải cân nhắc việc tìm kiếm sự hỗ trợ cho mình. Anh
không mắc bệnh, nhưng anh sống với Alice thì cũng như đang sống với căn bệnh vậy.
Và cuộc sống thì khó khăn cho những người chăm sóc bệnh nhân. Tôi biết được tổn
thất của người nhà bệnh nhân khi phải đến đây. Ở đây có Denise Daddario, cô ấy
là nhân viên xã hội ở đây, và có nhóm hỗ trợ người chăm sóc bệnh nhân của Bệnh
viện Đa khoa Massachusetts, tôi cũng biết Hiệp hội Alzheimer Massachusetts có
nhiều nhóm hỗ trợ cho người chăm sóc. Tài liệu dành cho anh có sẵn ở đây, nếu cần
thì đừng ngại nhé.”
“Được rồi.”
“Nhắc đến Hiệp hội Alzheimer, Alice, tôi vừa nhận được chương
trình Hội thảo Chăm sóc bệnh nhân mất trí thường niên của họ, và tôi thấy cô
chuẩn bị phát biểu toàn văn khai mạc” – bác sĩ Davis nói.
Hội thảo Chăm sóc người bệnh mất trí là một cuộc họp quốc tế
dành cho những chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc người bệnh mất trí và gia
đình của họ. Các nhà thần kinh học, bác sĩ đa khoa, lão khoa, các nhà tâm lý học
thần kinh, y tá và các nhân viên công tác xã hội đều tụ họp để trao đổi thông
tin về các phương pháp chẩn đoán, điều trị và chăm sóc bệnh nhân. Cuộc hội thảo
nghe cũng tương tự như nhóm hỗ trợ của Alice và DASNI, nhưng nó lớn hơn và dành
cho những người không mắc bệnh mất trí. Cuộc họp năm nay được lên lịch sẽ diễn
ra vào tháng tới ở Boston.
“Phải” – Alice nói. – “Tôi định hỏi, anh có đến không?”
“Có, tôi chắc chắn sẽ ngồi hàng ghế đầu. Cô biết đấy, tôi
chưa bao giờ được mời thuyết trình hết một bài cả” – bác sĩ Davis nói. – “Cô thật
sự là một người phụ nữ dũng cảm không ngờ đấy.”
Lời khen của anh, vẻ chân thật và không hề ra vẻ đã tăng thêm
sự tự tin cần có cho cô sau khi cô bị vùi dập tả tơi bởi hàng loạt bài kiểm
tra. John xoay chiếc nhẫn. Anh nhìn cô, nước mắt đọng trên mắt anh, anh gượng
cười làm cô cảm thấy khó hiểu.
- 20 -
tháng ba, năm 2005
Alice đứng trên bục, tay cầm bài phát biểu được đánh máy và
nhìn xuống mọi người đều đã yên vị trong hội trường lớn của khách sạn. Trước
đây, cô có thể quan sát khán giả ngồi bên dưới mà đoán ra số người tham dự bằng
óc phán đoán gần như luôn chính xác của cô. Giờ thì cô không còn kỹ năng ấy nữa.
Trong phòng có rất nhiều người, người tổ chức, không biết tên là gì, đã bảo với
cô rằng, có đến bảy trăm người đã đăng kí vào cuộc hội thảo này. Alice từng nhiều
lần thuyết trình trước lượng khán giả chừng đó hoặc nhiều hơn nữa. Khán giả của
cô ngày đó là các giảng viên xuất chúng từ trường Ivy League, những người giành
giải Nobel, và những chuyên gia hàng đầu thế giới trong ngành Tâm lý học và
Ngôn ngữ.
Hôm nay, John ngồi ở hàng ghế đầu. Anh cuốn tờ giới thiệu
chương trình thành một cái ống, ngoái đầu nhìn ra phía sau. Đến giờ cô mới để ý
anh mặc chiếc áo xám may mắn của anh. Anh thường để dành nó chỉ cho những ngày
công bố kết quả nghiên cứu trọng đại. Cô cười vì trò mê tín của anh.
Anna, Charlie và Tom ngồi cạnh anh, họ nói chuyện với nhau.
Mary, Cathy và Dan đi cùng vợ và chồng của họ ngồi ở một vài ghế hàng sau. Bác
sĩ Davis ngồi sẵn sàng ngay chính giữa hàng ghế đầu. Phía sau bọn họ còn cả một
biển những chuyên gia y tế cống hiến cho sự nghiệp chăm sóc bệnh nhân mất trí.
Đây có lẽ không phải những khán giả làm cô thấy hãnh diện nhất, nhưng trong tất
cả những lần cô phát biểu, cô hi vọng lần này sẽ tạo ra được ảnh hưởng mạnh mẽ
nhất.
Cô đưa ngón tay miết nhẹ đôi cánh láng mịn đính đá quý của mặt
dây chuyền bươm bướm trên cổ mình. Sợi dây chuyền cô đeo như ngự trên đỉnh
xương ức của cô. Cô hắng giọng, nhấp một ngụm nước. Cô chạm vào cánh bướm một lần
nữa để lấy may. Ngày hôm nay là một dịp đặc biệt, mẹ à.
“Chào buổi sáng. Tôi là Tiến sĩ Alice Howland. Tuy nhiên, tôi
không phải là một nhà Thần kinh học hay một bác sĩ đa khoa. Bằng tiến sĩ của
tôi chuyên về Tâm lý học. Tôi từng là giáo sư tại đại học Harvard trong hai
mươi lăm năm. Tôi đã giảng dạy các khóa học Tâm lý học nhận thức, tôi đã nghiên
cứu về các mảng Ngôn ngữ học và tôi đã đi giảng ở khắp nơi trên thế giới.
Tuy vậy, tôi không đến đây để phát biểu với cương vị một
chuyên gia Tâm lý học hay Ngôn ngữ. Tôi đến đây để phát biểu với vai trò một
chuyên gia về bệnh Alzheimer. Tôi không chăm sóc bệnh nhân, không thực hiện các
thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu các đột biến ADN hay cho lời khuyên các bệnh
nhân và gia đình họ. Tôi là một chuyên gia trong lĩnh vực này là vì một năm trước,
tôi được chẩn đoán mắc phải Alzheimer khởi phát sớm.
Hôm nay, tôi vinh dự có được cơ hội đứng đây với hy vọng chia
sẻ những hiểu biết về việc sống với bệnh mất trí. Mặc dù tôi biết được cuộc sống
đó như thế nào, nhưng sớm thôi, tôi sẽ không còn khả năng diễn đạt cho các bạn
nữa. Và thậm chí rất nhanh sau đó, tôi sẽ không còn biết rằng tôi mất trí. Vậy
nên những gì tôi phải nói hôm nay rất đúng lúc.
“Ở giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer, chúng tôi chưa hoàn toàn
mất hết năng lực. Chúng tôi vẫn có khả năng ngôn ngữ và những suy nghĩ có ý
nghĩa và những khoảng thời gian minh mẫn dài hơn mọi người tưởng. Tuy vậy, năng
lực của chúng tôi không đủ vững vàng để được tin tưởng, để đáp ứng những yêu cầu,
trách nhiệm của cuộc sống trước đây. Chúng tôi cảm thấy chúng tôi không thuộc về
thế giới nào cả, như một nhân vật điên khùng nào đó của Tiến sĩ Seuss ở vùng đất
kỳ lạ. Thật sự đó là một nơi rất buồn và cô đơn.
Tôi không còn làm việc ở Harvard nữa. Tôi không còn đọc và viết
các bài nghiên cứu hay viết sách nữa. Tình trạng của tôi hoàn toàn khác và rất
bất thường so với tình trạng cách đây không lâu. Những sợi dây thần kinh tôi
dùng để hiểu được những gì các bạn nói, những gì tôi nghĩ và những gì đang xảy
ra quanh tôi đã bị amyloid xâm chiếm. Tôi phải cố gắng lắm mới tìm ra được những
từ ngữ tôi muốn nói và tôi thường nghe chính mình nói nhầm từ. Tôi không còn tự
tin đánh giá được khoảng cách không gian nữa. Cụ thể là tôi đánh rơi các vật dụng
và ngã rất nhiều lần, và tôi còn đi lạc khi mới từ nhà đi qua khỏi hai dãy nhà.
Trí nhớ ngắn hạn của tôi lúc này giống như chỉ mành treo chuông vậy.
Tôi đang dần quên hết những ngày hôm qua của tôi. Nếu ai đó hỏi
tôi hôm qua tôi làm gì, chuyện gì đã xảy ra, tôi đã thấy gì, cảm thấy gì, nghe
thấy gì, tôi khó mà trả lời cụ thể được. Tôi có thể phán đoán chính xác trong một
vài việc. Tôi rất giỏi đoán. Nhưng thật sự thì tôi không biết. Tôi không nhớ được
ngày hôm qua hay ngày kia nữa.
Và tôi không thể kiểm soát được ngày hôm qua nào tôi sẽ giữ
được và ngày nào tôi sẽ xóa đi. Căn bệnh này không mặc cả được. Tôi không đổi
tên các vị Tổng thống Mỹ lấy tên các con tôi được. Tôi cũng không thể đổi lấy
tên các bang để giữ lại ký ức về chồng tôi.
Tôi thường sợ ngày mai. Lỡ như tôi thức dậy và không còn biết
chồng tôi là ai? Lỡ như tôi không còn biết tôi ở đâu hay không nhận ra được
chính mình trong gương? Đến khi nào thì tôi không còn là chính mình nữa? Liệu
phần não bộ chịu trách nhiệm cho con người tôi có quá mong manh trước căn bệnh
này? Hay nhân cách gì đó của tôi sẽ sống sót mặc cho những tế bào thần kinh,
protein và những phân tử trong ADN bị nhiễm bệnh? Liệu tâm hồn và tinh thần của
tôi có miễn nhiễm trước cuộc càn quét của Alzheimer? Tôi tin là có.
Được chẩn đoán mắc phải Alzheimer giống như bị đóng lên mình
chữ A màu đỏ đầy tội lỗi. Và giờ tôi đã trở nên như thế, tôi là một kẻ mất trí
nào đó. Đã một thời gian, đó là cách tôi định nghĩa chính mình, và cũng sẽ là
cách những người khác định nghĩa tôi sau này. Nhưng tôi không phải là những gì
tôi nói ra, những gì tôi làm hay những gì tôi nhớ. Tôi căn bản vẫn còn nhiều
hơn thế.
Tôi là một người vợ, một người mẹ, người bạn và sắp trở thành
bà ngoại. Tôi vẫn cảm nhận được, hiểu được và xứng đáng có được tình yêu và niềm
hạnh phúc trong những mối quan hệ đó. Tôi vẫn là một thành viên tích cực trong
xã hội. Não tôi không còn làm việc hoàn hảo nữa, nhưng tôi dùng tai của mình để
lắng nghe vô điều kiện, dành ra đôi vai tôi để nâng đỡ kẻ đang khóc, và vòng
tay tôi để ôm lấy những ai đang mắc các bệnh mất trí. Thông qua hoạt động một
nhóm hỗ trợ ở giai đoạn đầu, thông qua Mạng lưới Hỗ trợ và Tư vấn bệnh mất trí
Quốc tế, và thông qua việc phát biểu ngày hôm nay, tôi đang giúp đỡ những bệnh
nhân khác sống tốt hơn dù họ mắc bệnh. Tôi không phải một người đang chết mòn.
Tôi đang sống với căn bệnh Alzheimer. Tôi muốn sống tốt hết mức có thể.
Tôi muốn khuyến khích việc chẩn đoán sớm, để các bác sĩ không
cho rằng những người ở tuổi bốn mươi, năm mươi gặp các vấn đề về trí nhớ và nhận
thức là do trầm cảm, căng thẳng hay mãn kinh. Chúng ta càng sớm phát hiện ra
căn bệnh, chúng ta càng tiếp cận với việc điều trị sớm hơn, với hi vọng đẩy lùi
lại tiến trình và duy trì tình trạng bình ổn đủ lâu để sớm tận dụng được thành
quả của những phương pháp, loại thuốc điều trị tốt hơn. Tôi vẫn hi vọng một liều
thuốc cho bản thân mình, cho những người bạn mắc các bệnh mất trí của tôi, bởi
con gái tôi cũng mang gien đột biến. Tôi có lẽ sẽ không bao giờ có thể lấy lại
những gì tôi đã mất, nhưng tôi có thể giữ được những gì tôi có. Và tôi vẫn còn
rất nhiều thứ.
Xin đừng gán vào chúng tôi “chữ A màu đỏ” và gạt bỏ chúng
tôi. Hãy nhìn thẳng vào chúng tôi, nói chuyện trực tiếp với chúng tôi. Đừng hoảng
loạn hay lờ chúng tôi đi nếu chúng tôi phạm sai lầm, bởi chúng tôi chắc chắn sẽ
phạm sai lầm. Chúng tôi thường tự nhắc đi nhắc lại, đặt các vật dụng nhầm chỗ
và thường đi lạc. Chúng tôi thường quên tên các bạn và quên mất những gì bạn vừa
nói mới hai phút trước. Chúng tôi thường cố gắng hết sức để bù đắp những thiệt
hại do tổn thương nhận thức của mình và vượt qua những tổn thương ấy.
Tôi động viên các bạn ủng hộ chúng tôi chứ không kìm hãm
chúng tôi. Nếu ai đó chấn thương cột sống, mất tay chân hay khiếm khuyết sau
khi bị đột quỵ, gia đình và các chuyên gia đều ra sức để người đó hòa nhập, tìm
ra cách để đương đầu, xoay sở vượt qua những tổn thất. Hãy hành động cùng chúng
tôi. Giúp chúng tôi phát triển những công cụ hỗ trợ chức năng cho những mất mát
trong trí nhớ, ngôn ngữ và khả năng nhận thức. Hãy khuyến khích sự tham gia vào
các nhóm hỗ trợ. Chúng ta có thể giúp nhau, cả bệnh nhân lẫn người chăm sóc bệnh
nhân, tìm đường đi trong vùng đất của Tiến sĩ Seuss vốn không thuộc về bất kỳ
thế giới nào.
Những ngày hôm qua của tôi đang biến mất dần đi, và những
ngày mai, tôi cũng không chắc được, vậy tôi còn sống để làm gì? Tôi sống từng
ngày. Tôi sống trong từng khoảnh khắc. Một ngày mai nào đó không xa, tôi sẽ
quên rằng tôi đã đứng đây, phát biểu trước mọi người. Nhưng việc tôi sẽ quên một
ngày mai nào đó không có nghĩa rằng tôi không sống trong từng giây phút của
ngày hôm nay. Tôi sẽ quên hôm nay, nhưng không có nghĩa rằng hôm nay không có ý
nghĩa gì.
Tôi không còn được mời giảng về Ngôn ngữ học ở các trường đại
học hay hội thảo Tâm lý học trên khắp thế giới nữa. Nhưng tôi ở đây hôm nay,
phát biểu những lời tôi hi vọng là những lời phát biểu có sức ảnh hưởng nhất đời
mình. Và tôi đang mắc bệnh Alzheimer.
Xin cám ơn.”
Từ lúc bắt đầu nói đến giờ cô mới ngước lên khỏi bài phát biểu.
Cô không dám rời mắt khỏi những dòng chữ trên trang giấy cho tới khi cô nói
xong vì cô sợ sẽ lạc mất. Không thể bất ngờ hơn với cô, cả hội trường đứng lên
vỗ tay rầm rộ. Thật sự vượt quá những gì cô hi vọng. Cô đã chỉ hi vọng hai điều
đơn giản là không mất khả năng đọc trong khi phát biểu và hoàn thành bài phát
biểu mà không làm điều gì ngớ ngẩn.
Cô nhìn những gương mặt quen thuộc ở hàng ghế đầu và biết chắc
rằng cô đã vượt xa những kỳ vọng khiêm tốn kia. Cathy, Dan và bác sĩ Davis cười
rạng rỡ. Mary đang dụi mắt bằng cả nắm khăn giấy. Anna vỗ tay và cười, không ngừng
lại để lau dòng nước mắt đang tuôn xuống trên mặt cô. Tom vỗ tay hoan hô và
trông anh dường như khó có thể kiềm lại việc chạy lên ôm lấy cô và chúc mừng.
Cô cũng muốn ôm anh hết mức.
John đứng cao lên không hề nao núng, anh mặc chiếc áo xám may
mắn của anh. Ánh mắt anh tràn ngập tình cảm và niềm hạnh phúc trong lúc anh vỗ
tay cho cô.
- 21 -
tháng tư, năm 2005
Nguồn năng lượng cô cần để viết ra bài phát biểu, để đọc nó
trôi chảy, và để bắt tay, đối thoại rành mạch với hàng trăm người nhiệt tình đến
dự Hội thảo Chăm sóc bệnh nhân mất trí cũng là quá lớn đối với cả những người
không mắc bệnh Alzheimer. Đối với những người mắc Alzheimer, nó còn khổng lồ
hơn nữa. Một thời gian sau đó, cô cố gắng tận hưởng niềm phấn khích do
adrenalin dâng lên, tận hưởng ký ức về tràng pháo tay tán dương, và sự tự tin về
vị thế tinh thần mới được hồi sinh. Cô là Alice Howland, nữ anh hùng dũng cảm
phi thường.
Nhưng niềm phấn khích không kéo dài lâu, ký ức rồi cũng phai
đi. Khi cô đánh răng bằng kem dưỡng ẩm, cô mất đi một chút tự tin và vị thế của
mình. Cô mất thêm một chút khi mỗi sáng cố gọi cho John bằng điều khiển tivi.
Cô mất luôn phần cuối cùng khi mùi cơ thể không mấy dễ chịu của cô thông báo
cho cô biết đã nhiều ngày rồi cô chưa tắm, cô không tìm đâu ra đủ dũng cảm và
kiến thức cô cần để bước vào bồn tắm. Cô là Alice Howland, một bệnh nhân
Alzheimer.
Năng lượng của cô cạn đến mức không còn một chút nào để cô
trút ra, sự hưng phấn của cô tan đi, ký ức về chiến thắng và sự tự tin bị lấy mất,
cô phải chịu đựng một cảm giác nặng nề lấn át cô đến kiệt quệ. Cô dậy trễ và nằm
lại trên giường vài giờ. Cô ngồi trên ghế sofa, khóc mà không vì nguyên nhân
gì. Không có giấc ngủ hay nước mắt nào làm cô thoải mái trở lại được.
John đánh thức cô sau một giấc ngủ say như chết và thay đồ
giúp cô. Cô để anh làm giúp cô. Anh không bảo cô chải đầu hay đánh răng. Cô
cũng không quan tâm. Anh giục cô lên xe thật nhanh. Cô tì trán lên ô kính lạnh
tanh. Quang cảnh bên ngoài phủ lên một màu xanh xám. Cô không biết họ đang đi
đâu. Cô chẳng cảm thấy muốn hỏi gì.
John tắp vào một nhà để xe. Họ xuống xe và vào trong tòa nhà
qua một cánh cửa bên trong nhà để xe. Ánh đèn huỳnh quang trắng xóa làm cô đau
mắt. Những hành lang rộng, thang máy, các biển trên tường: phòng chụp X quang,
phòng phẫu thuật, sản khoa, khoa thần kinh. Khoa thần kinh.
Họ bước vào một căn phòng. Thay vì phòng chờ như cô tưởng, cô
thấy một phụ nữ ngủ trên giường. Mắt cô ấy sưng lên, nhắm nghiền, ống truyền nước
cắm vào tay cô.
“Con bé bị làm sao vậy?” – Alice thì thầm.
“Không sao cả, nó chỉ mệt thôi” – John trả lời cô.
“Con bé trông thảm quá.”
“Suỵt, con bé nghe thấy đấy.”
Căn phòng trông không như một phòng bệnh. Bên cạnh chiếc giường
người phụ nữ đang ngủ còn một chiếc giường nhỏ hơn chưa được trải ga, một chiếc
tivi lớn ở góc phòng, một lọ cắm những bông hoa vàng và hồng đáng yêu đặt trên
bàn, và sàn gỗ cứng. Có lẽ đây không phải bệnh viện. Có thể là một khách sạn.
Nhưng rồi, sao người phụ nữ ấy lại cắm ống vào tay?
Một anh chàng đẹp trai mang một khay café đến. Có thể là bác
sĩ của cô ấy. Anh đội nón của đội Red Sox, mặc quần jean và áo thun đội Yale.
Có lẽ là phục vụ phòng.
“Chúc mừng con” – John thì thầm.
“Cảm ơn bố. Tom vừa đi khỏi. Lát trưa cậu ấy sẽ quay lại. Con
mang café cho mọi người và trà cho mẹ Alice. Con sẽ qua bồng hai đứa nhỏ.”
Chàng trai ấy biết tên cô.
Chàng trai trở lại, đẩy chiếc xe mang hai lồng nhựa trong
hình hộp chữ nhật. Trong mỗi lồng là một đứa bé tí hon, thân thể chúng được bọc
hoàn toàn trong khăn trắng và đỉnh đầu chúng cũng đội nón trắng, chỉ có thể thấy
được mặt chúng thôi.
“Để con gọi cô ấy dậy. Cô ấy không muốn ngủ lúc mẹ gặp hai đứa
nhỏ đâu” – chàng trai nói. – “Cưng à, dậy đi, chúng ta có khách nè.”
Người phụ nữ gắng gượng thức dậy, nhưng khi cô ấy thấy Alice
và John, niềm phấn khởi như bay vào đôi mắt mỏi mệt của cô và làm cô tỉnh hẳn.
Cô mỉm cười, gương mặt dường như nhăn nhúm lại. Ôi trời ơi, là Anna!
“Chúc mừng con, con yêu” – John nói. – “Hai đứa nhỏ xinh xắn
quá” – anh khom người xuống hôn lên trán cô.
“Cám ơn bố.”
“Con trông khá rồi đấy. Con đang cảm thấy thế nào, ổn không?”
– John hỏi Anna.
“Cảm ơn bố, con ổn, chỉ kiệt sức thôi. Chuẩn bị chưa nào, hai
đứa bé đây rồi. Đây là Allison Anne, và cậu nhóc này là Charles Thomas.”
Chàng trai đưa một đứa bé cho John. Anh bế đứa còn lại đang đội
nón có thắt ruy-băng hồng, anh đưa đến Alice.
“Mẹ muốn bồng bé không?” – Chàng trai hỏi cô.
Alice gật đầu.
Cô bồng đứa bé tí hon đang ngủ say, đầu nó dựa vào khuỷu tay
đang gập lại của cô, mông nó trên bàn tay cô, cơ thể nó dựa vào ngực cô, tai nó
áp vào tim cô. Đứa bé tí hon đang say ngủ thở thật khẽ qua lỗ mũi tí hon của
nó. Theo bản năng, Alice hôn vào đôi má ửng hồng tròn trĩnh của đứa bé.
“Anna, con có con rồi này” – Alice nói.
“Phải rồi mẹ, mẹ đang bế cháu gái đấy, là Allison Anne” –
Anna nói.
“Con bé thật tuyệt. Mẹ yêu nó quá.”
Cháu gái của mình. Cô nhìn đứa bé có ruy-băng xanh trên tay
John. Cháu trai của mình.
“Và chúng sẽ không bị Alzheimer như mẹ phải không?” – Alice hỏi.
“Không đâu mẹ.”
Alice hít thật sâu, hít vào mùi hương đáng yêu của những đứa
cháu của cô, cảm giác thoải mái bình yên mà đã lâu cô không biết tới về lại,
tràn đầy trong cô.
“MẸ ƠI, CON ĐƯỢC NHẬN VÀO ĐẠI HỌC NEW YORK và cả Brandeis.”
“Ôi, hay quá. Mẹ nhớ cảnh được nhận vào trường học ghê. Con học
ngành gì đấy?” – Alice hỏi.
“Sân khấu mẹ ạ.”
“Quá tuyệt. Hồi trước thì mẹ học Harvard. Mẹ cũng thích ở đó.
Mà con nói con vào được trường nào?”
“Con chưa biết nữa. Con được nhận ở Đại học New York và
Brandeis.”
“Vậy con chọn trường nào?”
“Con không chắc. Con đã nói với bố, và bố muốn con học ở Đại
học New York.”
“Vậy con muốn học ở Đại học New York không?”
“Con không biết nữa. Trường đó có tiếng hơn, nhưng với con
thì Brandeis tốt hơn. Con muốn ở gần Anna, Charlie và hai đứa nhỏ, ở gần Tom với
bố mẹ nữa, nếu mà bố mẹ ở lại đây.”
“Nếu mẹ ở lại đâu?” – Alice hỏi cô.
“Ở đây, Cambridge.”
“Mẹ còn sẽ ở đâu nữa?”
“New York.”
“Mẹ không đến New York đâu.”
Họ ngồi cạnh nhau trên ghế sofa, gấp quần áo em bé, xếp riêng
những bộ màu hồng và màu xanh. Tivi chiếu hình ảnh, nhưng không mở tiếng.
“Vấn đề là, nếu con vào Brandeis, rồi bố mẹ chuyển đến New
York, con sẽ cảm thấy con vào nhầm chỗ, giống như quyết định sai lầm vậy.”
Alice ngừng gấp đồ, nhìn vào cô gái ấy. Cô trẻ, gầy và xinh xắn.
Cô cũng mệt mỏi và đầy mâu thuẫn.
“Con bao nhiêu tuổi?” – Alice hỏi.
“Hai mươi bốn.”
“Hai mươi bốn. Mẹ thích tuổi hai mươi bốn. Con còn cả cuộc đời
phía trước. Mọi chuyện đều có thể xảy ra. Con lập gia đình chưa?”
Cô gái xinh xắn đầy mâu thuẫn ngưng gấp quần áo, nhìn thẳng
vào Alice. Cô đang nhìn vào mắt Alice. Cô gái xinh xắn đầy mâu thuẫn có một đôi
mắt thăm thẳm chân thật màu nâu bơ đậu phộng.
“Chưa, con chưa lập gia đình.”
“Con cái.”
“Chưa luôn.”
“Vậy thì con phải làm đúng những gì con muốn.”
“Nhưng nếu bố quyết định nhận công việc ở New York?”
“Con không thể quyết định những việc như vậy phụ thuộc vào việc
người khác làm. Đây là quyết định của chính con, chuyện học của con. Con đã là
người lớn, con không cần phải làm theo ý bố nữa. Hãy quyết định theo những gì tốt
cho cuộc đời con.”
“Được rồi, con sẽ làm vậy, cảm ơn mẹ.”
Cô gái xinh xắn với đôi mắt đáng yêu màu bơ đậu phộng nở một
nụ cười thích thú, trút ra một tiếng thở và quay lại gấp quần áo.
“Chúng ta đã làm cùng nhau rất nhiều việc rồi mẹ nhỉ.”
Alice không hiểu cô nói gì.
“Con biết không” – Alice nói với cô – “con nhắc mẹ nhớ đến
đám sinh viên của mẹ. Mẹ từng làm công tác sinh viên đấy. Mẹ khá giỏi việc đó.”
“Đúng rồi. Mẹ vẫn đang làm đó chứ.”
“Trường con muốn vào tên gì vậy?”
“Brandeis.”
“Ở đâu vậy?”
“Ở Waltham, chỉ cách đây vài phút thôi.”
“Và con tính học gì?”
“Diễn xuất mẹ à.”
“Quá tuyệt. Con sẽ diễn trong các vở kịch phải không?”
“Đúng rồi mẹ.”
“Shakespeare?”
“Dạ phải.”
“Mẹ thích Shakespeare, đặc biệt là các bi kịch.”
“Con cũng vậy.”
Cô gái xinh xắn nhích tới và ôm lấy Alice. Cô có một mùi
hương sạch sẽ và tươi mới, giống như xà phòng vậy. Cái ôm của cô ngấm sâu vào
Alice cũng như ánh mắt màu nâu bơ đậu phộng vậy. Alice cảm thấy hạnh phúc và gần
gũi với cô.
“Mẹ, mẹ đừng đến New York.”
“New York? Đừng ngớ ngẩn vậy. Mẹ sống ở đây. Sao mẹ lại đi
New York được.”
“EM KHÔNG BIẾT CHỊ LÀM THẾ NÀO” – nữ diễn viên nói. – “Em đã
thức bên mẹ hầu hết các buổi tối, và em cảm thấy muốn phát điên. Em làm trứng
bác, nướng bánh mì và pha trà lúc ba giờ sáng.”
“Chị cũng từng thức vậy. Giá như em có sữa nhỉ, em sẽ giúp chị
cho một đứa bé” – mẹ của hai đứa bé nói.
Người mẹ ngồi trên ghế sofa bên cạnh nữ diễn viên, cho đứa bé
mặc quần áo màu xanh bú. Alice bế đứa mặc màu hồng. John bước vào, anh vừa tắm
rửa và thay quần áo, một tay anh cầm một cốc café và tay kia cầm tờ báo. Những
người phụ nữ đều mặc pyjama.
“Lyd, cám ơn con đã thức tối qua. Bố thật sự cần phải ngủ đấy”
– John nói.
“Bố, sao bố có thể tới New York, rồi vượt qua chừng này việc
mà không có tụi con giúp?” – Người mẹ hỏi.
“Bố sẽ thuê một hộ lý tại gia. Bố đang kiếm ai có thể bắt đầu
công việc ngay bây giờ luôn này.”
“Con không muốn người lạ chăm sóc mẹ. Họ sẽ không ôm ấp mẹ
hay thương mẹ như tụi con” – nữ diễn viên nói.
“Và người lạ sẽ không biết về quá khứ và những ký ức của mẹ
như tụi con. Tụi con đôi khi có thể lấp đầy những lỗ hổng trong ký ức của mẹ và
đoán được ngôn ngữ cơ thể của mẹ, vì tụi con biết rõ mẹ mà” – mẹ của hai đứa bé
nói.
“Bố không nói là các con sẽ không chăm sóc mẹ nữa, bố chỉ
đang suy nghĩ thực tế thôi. Chúng ta không phải tự mình gánh hết. Con thì sẽ
quay lại làm trong một vài tháng nữa và chỉ có thể trở về nhà mỗi tối với hai đứa
nhỏ, con sẽ không ở bên cạnh tụi nó cả ngày.
“Còn con sắp vào học rồi. Con cứ nói về chương trình học căng
thẳng. Tom thì đang phẫu thuật, chúng ta đã bàn rồi. Sắp tới các con sẽ bận rộn
hơn bao giờ hết, mà mẹ sẽ chẳng bao giờ muốn các con từ bỏ những thứ tốt đẹp
trong cuộc sống của các con vì bà ấy. Bà ấy chẳng bao giờ muốn làm gánh nặng
cho các con.”
“Mẹ không phải là gánh nặng, mẹ là mẹ của tụi con” – mẹ của
hai đứa bé nói. Họ đang nói quá nhanh, và dùng quá nhiều đại từ. Đứa bé mặc quần
áo hồng bắt đầu quấy khóc, càng làm cô mất tập trung. Alice không thể xác định
được họ đang nói về ai hay cái gì cả. Nhưng qua biểu cảm trên mặt họ và điệu bộ
giọng nói, cô có thể nhận xét rằng, đây là một cuộc tranh luận nghiêm trọng. Và
những người phụ nữ mặc pyjama đang cùng phe với nhau.
“Có lẽ con nghỉ thai sản lâu hơn thì sẽ tốt cho con. Con cảm
thấy hơi gấp rút và Charlie cũng đồng ý với việc con nghỉ nhiều hơn, và con ở
bên mẹ thì tốt hơn.”
“Bố à, đây là cơ hội duy nhất cho chúng ta ở cùng mẹ. Bố
không thể đi New York được, bố không thể lấy đi khoảng thời gian này được.”
“Nghe này, con có thể vào Đại học New York thay vì Brandeis,
con có thể dành tất cả thời gian con muốn ở bên cạnh mẹ. Con có lựa chọn của
con, bố cũng có lựa chọn của bố.”
“Sao mẹ không được có chút tiếng nói nào trong lựa chọn này vậy?”
– Mẹ của hai đứa bé nói.
“Mẹ không muốn đến New York” – nữ diễn viên nói.
“Con không biết mẹ con muốn gì đâu” – John nói.
“Mẹ nói là mẹ không muốn đi. Bố cứ hỏi mẹ đi. Đâu phải mẹ mắc
Alzheimer là mẹ không biết mẹ muốn gì hay không muốn gì. Vào ba giờ sáng, mẹ muốn
trứng bác và bánh mì nướng, và mẹ không muốn bột ngũ cốc hay thịt muối. Và mẹ
hoàn toàn không muốn quay lại giường. Bố làm ngơ những gì mẹ muốn chỉ vì mẹ bị
Alzheimer” – nữ diễn viên nói.
Ồ, họ đang nói về mình.
“Bố không làm ngơ những gì mẹ muốn. Bố đang làm tất cả những
gì có ích cho cả bố và mẹ. Nếu bà ấy có thể có tất cả những gì bà ấy đơn phương
muốn có, chúng ta thậm chí còn không có được cuộc nói chuyện này.”
“Vậy là sao?” – Người mẹ nói.
“Chẳng sao cả.”
“Cứ như bố không hiểu là mẹ vẫn chưa quên hết tất cả, như là
bố đang nghĩ thời gian còn lại của mẹ chẳng có ý nghĩa gì nữa. Bố đang hành động
như một đứa trẻ ích kỉ vậy” – người mẹ nói.
Người mẹ khóc, nhưng cô ấy trông tức giận nhiều hơn. Cô trông
giống chị Anne của Alice, và giọng cô cũng giống. Nhưng cô không thể là Anne được.
Hoàn toàn không thể. Anne không có con.
“Làm sao con biết bà ấy nghĩ là thời gian này có ý nghĩa? Xem
này, đâu phải vì chỉ mình bố. Alice trước đây, trước khi mắc bệnh, cũng sẽ
không muốn bố từ bỏ đâu. Bà ấy không muốn ở lại đây như vậy” – John nói.
“Vậy nghĩa là sao?” – Người phụ nữ có ngoại hình và giọng nói
giống Anne vừa khóc, vừa hỏi.
“Chẳng gì cả. Nghe này, bố hiểu và trân trọng mọi thứ các con
nói. Nhưng bố đang cố đưa ra một quyết định bằng lý trí chứ không phải cảm
tính.”
“Tại sao? Cảm tính thì có gì sai trong chuyện này? Tại sao lại
không tốt? Tại sao quyết định cảm tính lại không đúng?” – Người phụ nữ đang
khóc hỏi John.
“Bố vẫn chưa quyết định hẳn, và hai con đang cố ép bố phải
quyết định. Các con không biết gì cả.”
“Vậy nói tụi con nghe đi bố, nói tụi con nghe những gì tụi
con chưa biết” – người phụ nữ đang khóc nói, giọng cô run run và đanh lại.
Lời cô khiến anh im lặng giây lát.
“Giờ bố không có thời gian, bố phải đi họp.”
Anh đứng lên và bỏ lại cuộc tranh luận, bỏ mặc những người phụ
nữ và hai đứa bé. Anh bước ra, đóng sầm cửa lại khiến đứa bé mặc bộ đồ xanh vừa
mới ngủ trên tay mẹ nó giật mình. Nó khóc rức rức. Như thể bị lây, cô gái ngồi
cạnh đó cũng bắt đầu khóc. Có thể cô cảm thấy mình bị gạt ra. Giờ thì mọi người
đều khóc. Đứa bé mặc áo màu hồng, đứa bé mặc áo màu xanh, người mẹ, và cả cô
gái ngồi cạnh người mẹ. Tất cả, trừ Alice. Cô không buồn, không giận dữ, không
cảm thấy thất bại hay sợ hãi. Cô chỉ đói bụng.
“Tối nay chúng ta ăn gì vậy?”
- 22 -
tháng năm, năm 2005
Họ đến quầy sau khi xếp hàng chờ rất lâu.
“Được rồi, Alice, em muốn dùng gì?” – John hỏi.
“Em sẽ ăn giống anh.”
“Anh ăn vị vanilla.”
“Được thôi, anh sẽ gọi.”
“Em không muốn vanilla, em muốn chocolate có thêm gì đó.”
“Rồi, vậy anh sẽ gọi chocolate.”
Chuyện có vẻ đơn giản và không mấy to tát với cô, nhưng anh lại
căng thẳng rõ rệt với sự thay đổi này.
“Tôi muốn kem ốc quế vị vanilla, và một kem chocolate có kẹo
mềm bên trên cho cô ấy, cả hai đều loại lớn.”
Ra khỏi cửa hàng và hòa vào đám đông, họ ngồi xuống một băng
ghế đầy những hình vẽ nguệch ngoạc bên bờ sông và ăn kem. Một vài con ngỗng
đang gặm cỏ chỉ cách đó vài bước chân. Những con ngỗng đầu cúi xuống, rất chú
tâm gặm cỏ, hoàn toàn không quan tâm đến sự hiện diện của Alice và John. Alice
cười khúc khích, tự hỏi liệu lũ ngỗng có nghĩ như thế không.
“Alice, em biết giờ là tháng mấy không?”
Trời vừa mưa trước đó, nhưng bầu trời bây giờ rất trong xanh,
nhiệt độ từ mặt trời và băng ghế khô ráo đều ấm tới tận xương cốt. Thật tuyệt với
thời tiết ấm áp này. Rất nhiều chùm hoa sắc trắng và hồng từ cây hải đường bên
cạnh họ nằm rải rác trên mặt đường như những chùm kim tuyến trong bữa tiệc.
“Là mùa xuân.”
“Là tháng nào của mùa xuân?”
Alice liếm cây kem chocolate và cẩn thận xem xét câu hỏi của
anh. Cô không thể nhớ lần cuối mình coi lịch là khi nào. Có vẻ đã khá lâu kể từ
khi cô cần phải chú ý đến địa điểm hoặc thời gian nhất định. Hoặc nếu cô cần đến
đó, John sẽ giúp cô và đảm bảo rằng cô sẽ ở đó khi cô vừa nghĩ tới. Cô không
dùng máy hẹn, và đã lâu rồi cô không mang đồng hồ đeo tay.
Ồ, xem nào. Những tháng trong năm.
“Em không biết, tháng mấy vậy?”
“Tháng Năm.”
“Ờ.”
“Em có nhớ sinh nhật của Anna không?”
“Vào tháng Năm à?”
“Không.”
“Ừm, em nghĩ sinh nhật Anne là vào mùa xuân.”
“Không, không phải Anne, là Anna.”
Một chiếc xe tải màu vàng chạy rầm rĩ ngang qua chiếc cầu gần
đó khiến Alice giật mình. Một con trong bầy ngỗng liền dang rộng đôi cánh và
kêu quang quác thách thức chiếc xe tải, giống như đang bảo vệ cả đàn. Alice tự
hỏi là nó đang dũng cảm hay chỉ vì nóng nảy, muốn khiêu chiến. Cô cười khúc
khích, suy nghĩ về con ngỗng đầy nhiệt huyết ấy.
Cô liếm cây kem chocolate và nghiên cứu kiến trúc của tòa nhà
xây bằng gạch đỏ bên kia sông. Nó có rất nhiều cửa sổ và một chiếc đồng hồ với
những con số kiểu cũ đặt trên mái vòm bằng vàng. Trông nó rất trang trọng và
quen thuộc.
“Tòa nhà kia là gì vậy?” – Alice hỏi.
“Đó là khu kinh doanh. Một phần của Harvard.”
“Ồ. Em đã từng dạy trong đó à?”
“Không, em dạy ở một tòa nhà khác phía bên này sông.”
“Ờ.”
“Alice, văn phòng của em ở đâu?”
“Văn phòng của em? Ở Harvard.”
“Phải, nhưng Harvard ở đâu?”
“Ở một tòa nhà bên này sông.”
“Tòa nhà nào?”
“Đó là một hội trường, em nghĩ thế. Anh biết mà, em không còn
đến đó.”
“Anh biết.”
“Chuyện nó ở đâu không là vấn đề mà, phải không? Tại sao
chúng ta không tập trung vào những điều thật sự quan trọng?”
“Anh đang cố.”
Anh nắm tay cô. Tay anh ấm áp hơn. Tay cô cảm thấy dễ chịu
bên trong tay anh. Hai con ngỗng trong số bầy lạch bạch nhảy xuống dòng nước.
Không có ai bơi lội dưới sông. Thời tiết này quá lạnh đối với con người.
“Alice, em còn muốn ngồi đây không?”
Lông mày anh nhíu lại, nhìn thật nghiêm trọng, và những nếp hằn
của đôi mắt sâu hơn. Hình như câu hỏi này rất quan trọng với anh. Cô mỉm cười,
hài lòng với bản thân vì cuối cùng cũng có thể tự tin có câu trả lời cho anh.
“Còn. Em thích ngồi đây với anh. Và em cũng chưa ăn xong.”
Cô giơ cây kem chocolate lên cho anh xem. Kem đã bắt đầu tan
ra và chảy sang hai bên cây ốc quế xuống tay cô.
“Sao thế, ta phải đi bây giờ à?” – Cô hỏi.
“Không. Em cứ tận hưởng đi.”
- 23 -
tháng sáu, năm 2005
Alice ngồi trước máy vi tính, chờ đợi màn hình hiện lên.
Cathy vừa gọi, kiểm tra và lo lắng. Cô nói rằng Alice đã không xem email trong
một thời gian, cô đã không vào phòng chat về chứng mất trí mấy tuần qua và cô lại
bỏ lỡ nhóm hỗ trợ vào hôm qua. Mãi đến khi Cathy nói về nhóm hỗ trợ thì Alice mới
biết về người mà Cathy đề cập đến. Cathy nói rằng có hai người vừa tham gia
nhóm hỗ trợ của họ, và đã được đề nghị tham dự Hội nghị Chăm sóc người mắc
bệnh mất trí nhớ, đồng thời cũng có nghe qua bài phát biểu của Alice.
Alice trả lời rằng đấy là một tin tức tuyệt vời. Cô xin lỗi Cathy vì đã làm cô
lo lắng và nhờ cô nhắn với mọi người rằng mình vẫn ổn.
Nhưng thật sự, cô không ổn chút nào. Cô vẫn có thể đọc và hiểu
được một số từ ngữ, nhưng bàn phím máy vi tính đã trở thành một mớ bòng bong những
ký tự. Thật sự, cô đã mất khả năng sáng tạo câu chữ từ những ký tự trên bàn
phím. Khả năng sử dụng ngôn ngữ của cô – điều khác biệt lớn nhất giữa con người
và loài vật, đã từ bỏ cô, và cô cứ cảm thấy càng lúc càng xa rời bản năng con
người vì điều đó. Cô muốn nói một lời chia tay đầy nước mắt đến quãng thời gian
ổn định trước kia.
Cô kiểm tra hộp thư điện tử. Bảy mươi ba thư mới. Quá choáng
ngợp và bất lực, cô đóng ứng dụng mà không mở bất kỳ lá thư nào. Cô nhìn chằm
chằm vào màn hình phía trước. Ba thư mục ở máy tính được xếp dọc xuống: “Ổ cứng,”
“Alice,” “Bươm bướm”. Cô nhấp vào thư mục “Alice”.
Bên trong là rất nhiều mục con với các tiêu đề khác nhau:
“Tóm tắt”, “Hành chính”, “Bài giảng”, “Hội nghị”, “Sơ đồ”, “Đề xuất trợ cấp”,
“Nhà”, “John”, “Con cái”, “Chương trình Ăn và Học”, “Từ Phân tử tới Tư duy”,
“Giấy tờ”, “Thuyết trình”, “Học sinh”. Cô không thể chịu được nếu nhìn vào
trong, sợ rằng bản thân sẽ không thể nhớ hay hiểu chính cuộc sống của mình.
Thay vào đó, cô nhấp vào thư mục “Bươm bướm”.
Gửi Alice,
Cô đã viết lá thư này cho chính cô khi não bộ còn nhận thức
bình thường. Nếu cô đang đọc nó, và cô không thể trả lời một hoặc nhiều hơn những
câu hỏi sau, não cô đã không còn ổn nữa:
Tháng này là tháng mấy? Cô đang sống ở đâu? Văn phòng cô ở
đâu?
Sinh nhật Anna là khi nào?
Cô có bao nhiêu đứa con?
Cô mắc chứng Alzheimer. Cô đã đánh mất bản thân, rất nhiều thứ
cô yêu, và cô đang sống cuộc sống mình không hề muốn. Không có kết quả tốt đẹp
nào cho căn bệnh này, nhưng cô phải chọn một kết quả xứng đáng nhất, công bằng
và tôn trọng nhất cho bản thân và gia đình cô. Cô đã không còn tin tưởng phán
đoán của chính mình, nhưng cô có thể tin tôi, là cô bình thường hơn, là cô trước
khi chứng Alzheimer đã đưa cô đi quá xa.
Cô đã sống một cuộc đời phi thường và đáng giá. Cô và chồng
cô, John, có ba đứa con khỏe mạnh và tuyệt vời, những người được yêu thương và
thành công nhất thế giới, và cô có một sự nghiệp lừng lẫy ở Harvard với đầy thử
thách, sự sáng tạo, niềm đam mê và thành tựu.
Phần cuối của cuộc đời cô, gắn với căn bệnh Alzheimer, và kết
thúc mà cô đã cẩn thận lựa chọn, thật bi thảm, nhưng cô đã không sống một cuộc
đời bi thảm. Tôi yêu cô, tôi tự hào về cô, về cách cô sống và những thứ cô đã
hoàn thành trong khi còn có khả năng.
Bây giờ, hãy về phòng ngủ. Hãy tới cái bàn đen đặt cạnh giường,
cái mà có cây đèn màu xanh ở trên ấy. Mở ngăn kéo ra. Ở trong ngăn kéo có một
chai thuốc. Cái chai có nhãn trắng, ghi dòng chữ màu đen là “dành cho Alice”.
Có rất nhiều viên thuốc trong chai. Hãy nuốt chửng toàn bộ chúng với một cốc nước
lớn. Hãy nuốt toàn bộ chúng. Sau đó, nằm lên giường và ngủ. Đi ngay, trước khi
cô quên. Và đừng cho ai biết cô sắp sửa làm gì. Xin hãy tin tôi.
Yêu thương,
Alice Howland
Cô đọc nó lần nữa. Cô không nhớ mình đã viết chúng. Cô không
biết câu trả lời nào cho những câu hỏi đã đưa ra ngoại trừ câu hỏi về số con cô
đã có. Nhưng đó là nhờ cô được cung cấp bởi lá thư. Cô không chắc lắm về tên
chúng. Anna và Charlie, có thể. Cô không thể nhớ thêm ai khác.
Cô lại đọc nó, chậm rãi hết sức có thể. Đọc nó trên màn hình
vi tính thật khó khăn so với đọc trên giấy, nơi cô có thể dùng bút và đánh dấu.
Và cô có thể đem giấy vào phòng ngủ rồi đọc nó. Cô muốn in chúng ra nhưng không
tài nào tìm được cách. Cô ước sẽ trở lại con người cũ, là bản thân cô trước khi
bệnh Alzheimer đã mang đi quá nhiều thứ, bao gồm cả những hướng dẫn để in một
trang giấy.
Cô đọc thêm lần nữa. Nó thật hấp dẫn và siêu thực, cứ như
đang đọc quyển nhật ký mà bản thân viết hồi còn trẻ, từ những từ ngữ thần bí và
chân thành của một cô gái mà cô chỉ nhớ một cách mơ hồ. Cô ước mình đã viết nhiều
hơn. Lời văn đã khiến cô buồn bã và tự hào, mạnh mẽ và nhẹ nhõm. Cô hít một hơi
thật sâu, thở ra và đi lên lầu.
Cô lên tới đầu cầu thang và quên những gì mình định làm. Phải
là chuyện gì đó quan trọng và cấp bách, nhưng cô không nhớ ra. Cô xuống dưới lầu
và tìm kiếm những bằng chứng cho biết việc cô vừa làm. Cô thấy máy vi tính và một
lá thư của chính mình ở trên màn hình. Cô đọc nó và đi lên lầu.
Cô mở ngăn kéo bàn cạnh giường. Cô lôi ra mấy gói khăn giấy,
bút viết, một chồng giấy dính, một chai kem dưỡng da, một vài viên kẹo ho, tăm
xỉa răng và vài đồng xu. Cô trải mọi thứ ra giường và chạm vào từng thứ, lần lượt.
Khăn giấy, bút, bút, bút, giấy dính, đồng xu, kẹo, kẹo, tăm xỉa răng, kem dưỡng
da.
“Alice?”
“Hả?”
Cô nhìn xung quanh. John đứng ở ngưỡng cửa. “Em đang làm gì
thế?” – Anh hỏi.
Cô nhìn những món đồ trên giường. “Em đang tìm vài thứ.”
“Anh phải chạy về văn phòng để lấy tài liệu anh để quên. Anh
sắp sửa đi, vậy nên anh sẽ không ở đây trong vài phút.”
“Được thôi.”
“Đây, tới giờ rồi, uống chúng đi trước khi em quên.”
Anh đưa cho cô một ly nước và một nắm thuốc. Cô nuốt ực từng
viên.
“Cảm ơn” – cô nói.
“Không có gì. Anh sẽ trở lại ngay.”
Anh cầm cái ly rỗng của cô và rời phòng. Cô nằm xuống giường,
bên cạnh những vật dụng trong ngăn kéo, mắt nhắm lại, cảm giác buồn bã xen lẫn
tự hào, mạnh mẽ và nhẹ nhõm như mong đợi.
“ALICE, NÀO EM, MẶC ÁO KHOÁC và đội mũ vào đi, ta phải đi bây
giờ.”
“Chúng ta sắp đi đâu?” – Alice hỏi.
“Lễ phát bằng ở Đại học Harvard.”
Cô chỉnh trang trang phục lần nữa. Cô vẫn không hiểu lắm. “Lễ
phát bằng là sao?”
“Đó là ngày tốt nghiệp ở Harvard. Phát bằng là một sự khởi đầu
mới.”
Lễ phát bằng. Tốt nghiệp Harvard. Một sự khởi đầu. Những
từ ngữ quay cuồng trong tâm trí cô. Tốt nghiệp Harvard là đánh dấu một sự khởi
đầu, sự khởi đầu của tuổi trưởng thành, bắt đầu một cuộc sống chuyên nghiệp, một
cuộc sống sau Harvard. Lễ phát bằng. Cô thích từ này và muốn ghi nhớ
nó.
Họ đi dọc vỉa hè đông đúc người mặc trang phục màu hồng đậm
và đội mũ đen sang trọng. Cô cảm thấy rất vô lý và hoàn toàn không tin tưởng
vào quyết định chọn quần áo của John trong vài phút đầu tiên. Sau đó, bất thình
lình, họ ở khắp nơi. Từng đoàn người trong phục trang và nón y hệt cô nhưng với
một loạt màu sắc khác nhau đổ xô từ các hướng lên vỉa hè cùng họ, và cùng nhau
đi bộ trong cuộc diễu hành trang phục cầu vồng.
Họ bước vào một sân cỏ, có bóng râm của những tán cổ thụ và
bao quanh bởi các tòa nhà cổ to lớn và âm thanh nghi lễ chậm rãi của kèn túi.
Alice rùng mình xúc động. Cô đã trải qua chuyện này. Đám rước dẫn họ đến một
hàng ghế và ngồi xuống.
“Đây là lễ tốt nghiệp Harvard” – Alice nói.
“Phải” – John đáp.
“Lễ phát bằng.”
“Phải.”
Sau một lúc, các diễn giả bắt đầu. Những bài tốt nghiệp
Harvard luôn mang đặc trưng của những người nổi tiếng và có sức hút, nhất là
các nhà lãnh đạo chính trị.
“Nhà vua Tây Ban Nha đã từng phát biểu cách đây một năm” –
Alice nói.
“Phải” – John đáp. Anh khẽ cười thích thú.
“Anh ta là ai?” – Alice hỏi, đề cập đến người đàn ông trên bục
giảng.
“Một diễn viên” – John đáp. Tới lượt Alice cười thích thú.
“Em đoán năm nay không ai trở thành vua” – Alice nói.
“Em biết mà, con gái em là một diễn viên. Con bé có thể ở
trên ấy vào ngày nào đó” – John nói.
Cô lắng nghe chàng diễn viên. Anh ta là một diễn giả dễ tính
và năng động. Anh đang nói về tiểu thuyết phiêu lưu.
“Đó là gì vậy?” – Alice hỏi.
“Đó là cuộc phiêu lưu dài để răn dạy ta những bài học anh
hùng.”
Nam diễn viên nói về cuộc phiêu lưu đời mình. Anh nói rằng
mình ở đây để truyền lại tất cả cho họ, những bài học tốt nghiệp, những con người
đã mở đầu cho cuộc phiêu lưu, những kinh nghiệm anh đã học được suốt hành
trình. Anh đưa ra năm điều: sáng tạo, hữu ích, thiết thực, rộng lượng, và kết
thúc lớn.
Mình có mọi điều, mình nghĩ vậy. Ngoại trừ, mình chưa có kết
thúc lớn. Mình chưa kết thúc lớn.
“Quả là một lời khuyên hay.” – Alice nói.
“Phải, hay thật” – John đáp.
Họ ngồi nghe, vỗ tay, rồi lại nghe và vỗ tay dài hơn so với sự
quan tâm của Alice. Sau đó, tất cả mọi người đứng lên và đi từ từ trong một cuộc
diễu hành lộn xộn. Alice, John cùng một số người khác bước vào một tòa nhà gần
đó. Lối vào lộng lẫy với trần gỗ sẫm màu, cao đáng kinh ngạc và tường gắn kính
màu hứng ánh nắng mặt trời khiến Alice ngỡ ngàng. Khổng lồ, cổ kính, và những
chùm đèn lớn lờ mờ hiện ra xung quanh.
“Đây là gì thế?” – Alice hỏi.
“Đây là tòa nhà Memorial, một phần của Đại học Harvard.”
Cô cảm thấy hơi thất vọng, họ đã không dành nhiều thời gian
cho lối đi tuyệt đẹp này mà di chuyển ngay lập tức vào một khán phòng nhỏ hơn,
không mấy ấn tượng rồi ngồi xuống.
“Chuyện gì đang diễn ra vậy?” – Alice hỏi.
“Những sinh viên sau đại học về Nghệ thuật và Khoa học đang
nhận bằng tiến sĩ. Chúng ta tới đây để xem Dan tốt nghiệp. Cậu ấy là học trò của
em.”
Cô nhìn quanh căn phòng đầy các gương mặt trong bộ trang phục
màu hồng đậm. Cô không biết ai là Dan. Thực tế, cô không nhận ra những khuôn mặt,
nhưng cô cảm nhận được cảm xúc và năng lượng trong phòng. Họ đều hạnh phúc và đầy
tự hào. Họ đã sẵn sàng với những thách thức mới, để khám phá, sáng tạo, giảng dạy,
để trở thành anh hùng trong hành trình của riêng mình.
Những điều cô nhìn thấy ở họ đã khiến cô nhận ra chính bản
thân mình. Đây là điều gì đó cô từng biết, nơi này, sự phấn khích và sẵn sàng
này, sự khởi đầu này. Đây cũng là khởi đầu cuộc phiêu lưu của cô, mặc dù cô
không thể nhớ hết mọi chi tiết, nhưng sâu trong lòng cô biết rằng nó rất phong
phú và đáng giá.
“Cậu ấy đấy, ở trên bục” – John nói.
“Ai?”
“Dan, học trò của em.”
“Người nào?”
“Tóc hoe.”
“Daniel Maloney” – ai đó thông báo.
Dan bước về phía trước và bắt tay người đàn ông trên sân khấu
và nhận lấy một tấm bìa màu đỏ. Sau đó, Dan nâng tấm bìa đỏ cao hơn đầu và mỉm
cười trong chiến thắng vẻ vang. Đối với niềm vui của cậu, với những gì cậu chắc
chắn đạt được ở đây, với cuộc phiêu lưu cậu sắp sửa lao vào, Alice rất hoan
nghênh cậu – người sinh viên mà cô không còn nhớ.
ALICE VÀ JOHN ĐỨNG BÊN NGOÀI, dưới một tấm bạt trắng lớn cùng
với các sinh viên trong trang phục màu hồng đậm, trên mặt tràn ngập niềm hạnh
phúc. Một người đàn ông trẻ, tóc hoe đến gần Alice, cười toe toét. Không chút
do dự, cậu ôm và hôn lên má cô.
“Em là Dan Maloney, sinh viên của cô.”
“Chúc mừng em, Dan, cô rất mừng cho em” – Alice nói.
“Cảm ơn cô rất nhiều. Em rất mừng vì cô có thể đến lễ tốt
nghiệp của em. Em thật may mắn vì là sinh viên của cô. Em muốn cô biết rằng, cô
là lý do em chọn Ngôn ngữ học làm lĩnh vực nghiên cứu. Niềm đam mê tìm hiểu
cách ngôn ngữ hoạt động, phương pháp tiếp cận nghiêm túc và phối hợp của cô để
nghiên cứu, tình yêu với giảng dạy, cô đã truyền cảm hứng cho em rất nhiều. Cảm
ơn cô vì đã hướng dẫn và dìu dắt em, giúp em phát triển nhiều hơn em nghĩ, và
cô đã cho em rất nhiều không gian để thực hiện ý tưởng của mình. Cô là giáo
viên tuyệt vời nhất mà em từng học. Nếu em có thể đạt được một phần nhỏ những
gì cô đã hoàn thành trong đời, thì đó thật sự là thành công đối với em.”
“Không có gì. Cảm ơn em vì đã nói vậy. Em biết mà, trí nhớ cô
dạo gần đây không tốt lắm. Cô rất vui khi biết em còn nhớ những điều về cô.”
Cậu đưa cho cô một phong bì trắng.
“Đây, em đã viết cho cô, mọi điều em vừa nói, vì vậy cô có thể
đọc nó bất cứ khi nào cô muốn và cô sẽ biết mình đã cho em những điều gì kể cả
khi cô không thể nhớ.”
“Cảm ơn em.”
Họ giữ phong bì, của cô màu trắng và của anh màu đỏ, với lòng
tự hào và tôn kính sâu sắc.
Một phiên bản già và mập hơn của Dan cùng hai người phụ nữ,
trong đó có một người già hơn, tiến đến chỗ họ. Phiên bản già và mập hơn của
Dan mang một khay với những chiếc ly cao chân đựng vang sủi tăm. Người phụ nữ
trẻ đưa ly cho từng người.
“Vì Dan” – phiên bản già và mập hơn của Dan nói, giơ ly lên.
“Vì Dan” – mọi người đáp, chạm ly và uống từng ngụm.
“Vì những khởi đầu tốt lành” – Alice thêm vào – “và kết thúc
lớn.”
HỌ BẮT ĐẦU RỜI KHỎI NHỮNG NGÔI LỀU, những tòa nhà gạch cũ và
mọi người trong trang phục, nón mũ, đi đến nơi ít người và ít ồn ào hơn. Một
người mặc trang phục đen hét lên và chạy đến bên John. John dừng lại, bỏ tay
Alice ra để bắt tay người vừa mới hét lên. Bị cuốn theo đà, Alice tiếp tục bước
đi.
Sau một giây định thần, Alice dừng lại và chạm phải ánh mắt của
một phụ nữ. Cô chắc chắn mình không biết người phụ nữ này, nhưng cuộc giao tiếp
này có một ý nghĩa nào đó. Người phụ nữ có mái tóc hoe, tai nghe điện thoại và
đằng sau cặp kính là đôi mắt to màu xanh dương đang có vẻ bàng hoàng. Cô ta
đang lái một chiếc ô tô.
Sau đó, chiếc mũ trùm đầu của Alice đột nhiên siết chặt quanh
cổ cô, và cô giật lùi về sau. Cô ngã xuống đau điếng, cả lưng và đầu đều ngã ngửa
ra đất. Trang phục và chiếc mũ sang trọng đã ít nhiều bảo vệ cô.
“Anh xin lỗi, Ali, em ổn chứ?” – Người đàn ông trong chiếc áo
choàng màu hồng đậm cất tiếng hỏi, quỳ bên cạnh cô.
“Không” – cô đáp, ngồi dậy và đỡ tay sau đầu.
Cô nghĩ sẽ thấy máu trên đầu cô nhưng không có.
“Anh xin lỗi, em đi thẳng qua đường. Chiếc ô tô suýt chút nữa
thì đâm trúng em.”
“Cô ấy ổn chứ?”
Đó là người phụ nữ trong ô tô, mắt cô vẫn mở lớn và kinh
hoàng.
“Tôi nghĩ vậy” – người đàn ông đáp.
“Ôi trời ơi, tôi suýt giết cô ấy. Nếu anh không kéo cô ấy ra
khỏi đường, tôi có thể đã giết cô ấy.”
“Ổn mà, cô không giết cô ấy, tôi nghĩ cô ấy sẽ ổn thôi.”
Người đàn ông đỡ Alice đứng lên. Anh nhìn xuống đầu cô.
“Anh nghĩ em ổn. Em có thể bị thương nhẹ. Em đi bộ được chứ?”
– Anh hỏi.
“Được.”
“Tôi có thể cho hai người đi nhờ” – người phụ nữ đề nghị.
“Không, không, ổn cả mà, chúng tôi ổn” – người đàn ông đáp.
Anh choàng tay quanh eo Alice và chạm vào khuỷu tay cô, cuối
cùng thì cô đi bộ về nhà cùng một người lạ tốt bụng đã cứu mạng mình.
- 24 -
mùa hè năm 2005
Alice ngồi xuống chiếc ghế bành lớn màu trắng một cách thoải
mái và cố lý giải chiếc đồng hồ trên tường. Đó là loại có kim chỉ giờ, khó đọc
hơn với loại chỉ hiển thị số. Là năm giờ chăng?
“Mấy giờ rồi?” – Cô hỏi người đàn ông ngồi ở một chiếc ghế
bành khác, cũng to và có màu trắng.
Anh nhìn vào cổ tay mình. “Khoảng ba giờ rưỡi.”
“Tôi nghĩ đã đến lúc mình phải về.”
“Em đang ở nhà mà. Đây là nhà em ở Cape.”
Cô nhìn quanh phòng – đồ nội thất màu trắng, những bức tranh
về ngọn hải đăng và bờ biển trên tường, những cửa sổ khổng lồ, những cành nhỏ
khẳng khiu bên ngoài khung cửa.
“Không, đây không phải nhà của tôi. Tôi không sống ở đây. Tôi
muốn về nhà bây giờ.”
“Chúng ta sẽ trở lại Cambridge trong vài tuần nữa. Chúng ta
đang đi nghỉ. Em thích ở đây mà.”
Người đàn ông ngồi trên ghế tiếp tục đọc sách và uống đồ uống
của mình. Quyển sách dày và đồ uống có màu nâu vàng nhạt với những viên đá bên
trong, giống như màu mắt của cô. Anh thưởng thức và tận hưởng cả quyển sách lẫn
thức uống.
Đồ nội thất màu trắng, những bức tranh về ngọn hải đăng và bờ
biển trên tường, những cửa sổ khổng lồ, những cành nhỏ khẳng khiu bên ngoài
khung cửa không tạo cho cô cảm giác quen thuộc. Những âm thanh này không hề
thân quen. Cô đã nghe tiếng chim, những loại sống ở đại dương, tiếng đá xoáy và
tiếng ly chạm leng keng khi người đàn ông ngồi trên ghế uống ly nước, tiếng anh
thở bằng mũi khi đọc sách, và tiếng tích tắc của đồng hồ.
“Tôi nghĩ tôi đã ở đây đủ lâu rồi. Tôi muốn về nhà bây giờ.”
“Em đang ở nhà. Đây là nhà em trong kỳ nghỉ. Đây là nơi ta đến
để nghỉ ngơi và thư giãn.”
Nơi này không thấy hay nghe có vẻ giống nhà mình, và cô không
hề thấy thư thái. Gã đàn ông đang đọc sách và uống trên chiếc ghế to màu trắng
kia chắc hẳn không biết mình đã nói gì. Có lẽ anh ta quá chén.
Anh thở, đọc và uống, đồng hồ kêu tích tắc. Alice ngồi trên
chiếc ghế to, màu trắng và nghe thời gian trôi qua, ao ước ai đó đưa mình về
nhà.
CÔ NGỒI TRÊN MỘT TRONG NHỮNG chiếc ghế gỗ màu trắng, uống trà
đá và lắng nghe tiếng ồm ộp chói tai của lũ ếch cùng tiếng côn trùng buổi hoàng
hôn.
“Đây, Alice, anh đã tìm được chiếc vòng cổ bươm bướm của em”
– người chủ ngôi nhà nói.
Anh đưa sợi dây chuyền bạc có treo lủng lẳng một con bướm trước
mặt cô.
“Đấy không phải dây chuyền của tôi, mà là của mẹ tôi. Và nó rất
đặc biệt, anh hãy trả lại nó, chúng ta không thể đùa với thứ này được.”
“Anh đã nói với mẹ em, và bà bảo rằng em có thể giữ nó. Bà đã
tặng nó cho em.”
Cô quan sát đôi mắt, miệng và ngôn ngữ cơ thể của anh, tìm kiếm
vài dấu hiệu giải thích cho hành động vừa rồi. Nhưng trước khi cô có thể nhận
ra sự chân thành của anh, vẻ đẹp của con bướm xanh lấp lánh đã quyến rũ cô, khiến
cô bỏ qua những quy tắc cẩn trọng của mình.
“Bà nói tôi có thể giữ nó ư?”
“Ừ, phải.”
Anh cúi xuống từ phía sau và đeo nó vào cổ cô. Cô lướt những
ngón tay trên đôi cánh bằng đá quý màu xanh, cơ thể làm bằng bạc và hai sợi râu
đính kim cương. Cô cảm thấy có một đốm lửa tự mãn nhen nhóm trong lòng. Anne hẳn
sẽ rất ghen tỵ.
CÔ NGỒI TRÊN SÀN NHÀ, đối diện tấm gương dài trong phòng ngủ
và nhận xét hình ảnh phản chiếu trong gương. Người phụ nữ trong gương có quầng
thâm tối ở dưới hai mắt. Da cô ấy trông lỏng lẻo, nổi đốm ở mọi nơi và nhăn
nheo ở góc mắt hay dọc theo trán. Hàng lông mày dày và rậm cần được tỉa tót lại.
Mái tóc xoăn đa phần là màu đen, nhưng vẫn len lỏi màu xám. Cô gái trong tấm
gương này thật già dặn và xấu xí.
Cô lướt những ngón tay lên hai má và trán, cảm nhận gương mặt
cô qua những ngón tay và bàn tay. Đây không phải mình. Hẳn là có gì đó không
đúng với khuôn mặt mình thì phải. Người phụ nữ ở trong gương làm cô phát bệnh.
Cô tìm thấy phòng tắm và bật đèn lên. Cô nhìn hình ảnh tương
tự trong gương trên bồn rửa. Đó là đôi mắt nâu vàng, chiếc mũi cao, đôi môi
hình trái tim của cô, nhưng sự hòa trộn giữa những bộ phận ấy thì sai lầm một
cách kì quặc. Cô lướt những ngón tay trên mặt kính lạnh và trong suốt. Chắc có
gì đó không đúng với những tấm gương này?
Phòng tắm nhà cô cũng không có mùi giống như thế này. Hai chiếc
ghế thang màu trắng bóng, một cây cọ sơn, một chiếc thùng đặt trên mấy tờ báo
dưới sàn nhà phía sau cô. Alice cúi xuống hít quanh chiếc thùng. Cô cạy nắp
thùng, nhúng cây cọ vào và ngắm nhìn từng giọt sơn trắng nhỏ xuống.
Cô bắt đầu với những chiếc gương mà cô biết đã bị hỏng, một
cái trong phòng tắm và một cái trong phòng ngủ. Cô tìm thấy thêm bốn chiếc
gương nữa và sơn chúng thành màu trắng.
CÔ NGỒI TRÊN MỘT CHIẾC GHẾ BÀNH LỚN màu trắng và người đàn
ông chủ ngôi nhà ngồi trên ghế khác. Anh đang đọc sách và dùng đồ uống. Quyển
sách dày còn đồ uống có màu nâu vàng với đá bên trong.
Cô cầm một quyển sách trên bàn lên và lướt nhanh qua nó,
trông nó còn dày hơn quyển sách anh đang đọc. Đôi mắt cô dừng lại trên phần sơ
đồ gồm các chữ và ký tự liên kết với nhau bằng dấu mũi tên, dấu gạch ngang hay
các hình minh họa nhỏ. Cô nghiên cứu từng từ một khi duyệt qua các trang – về sự
giải ức chế, sự photphoryl hóa, gien, acetylcholine, sự bồi dưỡng, tính nhất thời,
ma quỷ, hình vị, âm vị học.
“Tôi nghĩ mình đã đọc quyển sách này trước kia” – Alice nói.
Anh nhìn qua quyển sách cô đang cầm và sau đó nhìn vào cô.
“Em còn làm nhiều hơn thế. Em viết ra nó. Em và anh đã cùng
nhau viết quyển sách đó.”
Ngập ngừng trước những lời của anh, cô đóng quyển sách và đọc
chữ trên bìa màu xanh bóng loáng. “Từ Phân tử tới Tư duy” bởi Tiến sĩ John
Howland và Tiến sĩ Alice Howland. Cô nhìn sang người đàn ông ngồi trên ghế. Anh
ta là John. Cô lật sang những trang trước. “Mục lục. Tâm trạng và Cảm xúc, Động
lực, Sự kích thích và Chú ý, Trí nhớ, Ngôn ngữ”. Ngôn ngữ.
Cô mở ở đâu đó gần cuối quyển sách. “Khả năng diễn tả không
giới hạn, dễ dàng và tự nhiên, rất phổ biến. Khả năng này được nghiên cứu dựa
theo bản năng, các ngữ nghĩa, cú pháp, ngữ pháp theo trường hợp, động từ bất
quy tắc”. Những gì cô vừa đọc dường như đẩy cô từ đầm lầy cỏ dại và vũng bùn
gây nghẹt thở trong tâm trí về một nơi còn hoang sơ và nguyên vẹn, để cô cố bấu
víu vào.
“John” – cô nói.
“Phải.”
Anh đặt quyển sách xuống và ngồi thẳng lên ở mép ghế bành.
“Em viết quyển sách này cùng anh” – cô nói.
“Phải.”
“Em nhớ rồi. Em nhớ anh rồi. Em nhớ em đã từng rất thông
minh.”
“Phải, em từng như thế, em là người thông minh nhất anh từng
biết.”
Quyển sách dày với bìa màu xanh bóng loáng kia đã đại diện
cho rất nhiều điều cô từng làm. Mình từng biết cách trí não xử lý ngôn ngữ
và mình có thể truyền đạt những gì mình biết. Mình từng là một người biết rất
nhiều. Đã không còn ai hỏi ý kiến hay xin lời khuyên của mình nữa. Mình nhớ điều
đó. Mình từng ham học hỏi, độc lập và tự tin. Mình nhớ mình từng chắc chắn những
điều này. Không hề thoải mái khi không chắc chắn về điều gì đó. Mình nhớ cách mọi
thứ đều được thực hiện dễ dàng. Mình nhớ bản thân khi là một phần của những
chuyện đã diễn ra. Mình nhớ cuộc sống và gia đình mình. Mình yêu cuộc sống và
gia đình.
Cô muốn nói với anh những điều cô nhớ và nghĩ, nhưng cô không
thể truyền tải mọi ký ức và suy nghĩ này, bao gồm rất nhiều từ, mệnh đề và câu,
đã đẩy cô trở lại đầm lầy cỏ dại và vũng bùn gây nghẹt thở trong tâm trí. Cô chỉ
tóm tắt và nỗ lực để nói những gì cần thiết nhất. Những điều còn lại sẽ lặng
yên bấu víu ở một góc hoang sơ.
“Em nhớ chính bản thân mình.”
“Anh cũng nhớ em, Ali, rất nhiều.”
“Em không bao giờ định sẽ trở thành như vậy.”
“Anh biết.”
- 25 -
tháng chín, năm 2005
John ngồi ở phía cuối chiếc bàn dài và nhấp một ngụm lớn café
đen. Nó có vị mạnh và cực đắng, nhưng anh không quan tâm. Anh không uống vì mùi
vị của nó. Anh muốn uống nhanh nhất có thể, nhưng café nóng muốn bỏng lưỡi. Anh
sẽ cần đến tận hai hay ba tách lớn trước khi hoàn toàn tỉnh táo để tiếp tục làm
việc.
Hầu hết mọi người đều ghé đến mua café để mang đi và vội vã
lên đường. John không có cuộc họp ở phòng thí nghiệm trong vài giờ tới và chẳng
có lý do gì khiến anh phải tới văn phòng sớm vào ngày hôm nay. Anh thoải mái tận
hưởng thời gian của mình, ăn bánh quế nướng, uống café và đọc New York Times.
Anh mở mục “Sức khỏe” đầu tiên, như điều anh vẫn làm với mỗi tờ báo mình đọc
trong một năm nay, một thói quen có từ lâu để nuôi dưỡng hy vọng mà trước đây
được thể hiện bằng những hành động thực tế. Anh đọc bài viết đầu tiên trên
trang và bật khóc như thể vì tách café bị nguội khiến anh đau lòng.
AMYLIX THỬ NGHIỆM THẤT BẠI
Theo kết quả của nghiên cứu Synapson giai đoạn III, những bệnh
nhân mắc chứng Alzheimer từ nhẹ đến trung bình được thử nghiệm Amylix trong suốt
mười lăm tháng đã thất bại, không có gì thay đổi so với kết quả sử dụng giả dược.
Amylix là một tác nhân giảm amyloid-beta có chọn lọc. Bằng
cách gắn kết Abeta 42 hòa tan, mục tiêu của loại thuốc thử nghiệm này là ngăn
chặn sự tiến triển của bệnh, và nó không giống như các loại thuốc hiện có của bệnh
nhân Alzheimer – những loại này chỉ hoạt động tối đa khi bệnh ở giai đoạn cuối
cùng.
Thuốc được tiếp nhận và đã vượt qua giai đoạn I và II với nhiều
hứa hẹn và kỳ vọng của phố Wall. Nhưng sau hơn một năm dùng thuốc, các chức
năng nhận thức của bệnh nhân – thậm chí là khi sử dụng liều cao nhất của Amylix
đều không cho thấy sự cải thiện hay ổn định khi được tính bằng thang đo mức độ
bệnh Alzheimer và điểm trên hoạt động sống hằng ngày, chúng cho kết quả không
như dự kiến.
KẾT
Alice ngồi trên ghế với một người phụ nữ và nhìn bọn trẻ đi
ngang qua họ. Không hẳn là trẻ con. Chúng không phải kiểu mấy đứa trẻ nhỏ sống
chung với mẹ. Chúng là gì nhỉ? Những đứa trẻ tương đối lớn.
Cô quan sát khuôn mặt của những đứa trẻ này khi chúng bước
đi. Nghiêm túc, bận rộn. Đầy suy tư. Có vẻ chúng đang phân vân về con đường
chúng lựa chọn. Có những băng ghế khác gần đó, nhưng không có đứa trẻ nào dừng
lại ngồi xuống. Mọi người bước đi, bận rộn trên con đường tìm đến đích.
Cô không cần phải đi đâu cả. Cô thấy may mắn vì điều này. Cô
cùng người phụ nữ ngồi bên cạnh đang lắng nghe một cô gái có mái tóc dài chơi
nhạc và hát. Cô gái ấy có một giọng hát rất dễ thương, cô mặc một chiếc váy đầy
hoa, miệng cười tươi đầy hạnh phúc khiến Alice vô cùng ngưỡng mộ.
Alice ngân nga theo điệu nhạc. Cô thích thú với tiếng ậm ừ của
mình hòa quyện với giọng hát của cô gái.
“Được rồi, Alice, Lydia sẽ về nhà bất cứ lúc nào. Cô muốn cho
tiền Sonya trước khi ta đi không?” – Người phụ nữ hỏi.
Người phụ nữ đứng lên, mỉm cười và lấy tiền ra. Alice cảm thấy
lôi cuốn khi được tham gia cùng. Cô đứng lên, và người phụ nữ đưa cô tiền.
Alice thả chúng vào chiếc nón đen trên nền gạch dưới chân cô gái đang hát. Cô
gái tiếp tục để nhạc chạy nhưng dừng hát một chút vì muốn nói chuyện với họ.
“Cảm ơn, Alice và Carole, hẹn gặp mọi người sau!”
Khi Alice bước đi với người phụ nữ giữa những đứa trẻ “không
còn nhỏ”, âm nhạc trở nên nhỏ dần phía sau họ. Alice thật sự không muốn rời đi,
nhưng người phụ nữ kia vẫn cứ bước và Alice biết rằng mình nên ở cùng cô ấy. Cô
ấy vui vẻ, tốt bụng và luôn biết cần làm cái gì, đấy là điều mà Alice đánh giá
cao vì cô thường không biết.
Đi bộ được một lát thì Alice phát hiện một chiếc xe chú hề
màu đỏ và một chiếc màu sơn móng tay lớn đậu trên đường về nhà mình.
“Cả hai đều ở đây” – người phụ nữ nói, cô cũng nhìn thấy những
chiếc xe tương tự.
Alice cảm thấy hứng thú và vội vã vào nhà. Người mẹ đang ở
hành lang.
“Cuộc hẹn hôm nay kết thúc nhanh hơn tôi nghĩ nên tôi về sớm.
Cảm ơn vì đã hỗ trợ” – người mẹ nói.
“Không có gì đâu mà. Tôi đã gỡ drap giường con bé nhưng chưa
kịp bao lại. Mọi thứ vẫn còn trong máy sấy” – người phụ nữ nói.
“Được rồi, cảm ơn, tôi sẽ lo liệu.”
“Cô ấy cũng đã có một ngày tốt lành.”
“Không đãng trí?”
“Không hề. Cô ấy là cái bóng đáng tin cậy của tôi bây giờ. Đồng
phạm của tôi đấy. Phải không, Alice?”
Người phụ nữ mỉm cười, nhiệt tình gật đầu. Alice mỉm cười và
gật đầu đáp lại. Cô không có ý gì khi đồng ý, nhưng nó có vẻ tốt đối với cô nếu
người phụ nữ kia nghĩ vậy.
Người phụ nữ bắt đầu thu dọn sách và túi đồ ở cửa trước.
“Ngày mai John sẽ tới à?” – Người phụ nữ hỏi.
Có tiếng trẻ con khóc, người mẹ vội vàng rời đi.
“Không, nhưng chúng tôi đã có sự trợ giúp” – tiếng người mẹ
nói. Người mẹ trở lại, mang theo một đứa trẻ mặc đồ xanh, hôn liên tục vào cổ
nó. Thằng bé vẫn khóc, nhưng ít nhiều nó đã bị phân tâm. Những nụ hôn liên tiếp
của mẹ nó đã có tác dụng. Người mẹ đặt núm vú giả vào miệng đứa bé.
“Con ổn mà, bé yêu. Cảm ơn Carole nhiều lắm. Cô thật sự là
món quà của Chúa. Cuối tuần tốt lành, hẹn thứ Hai gặp lại.”
“Hẹn thứ Hai gặp lại. Tạm biệt, Lydia!” – Người phụ nữ thét
vang.
“Tạm biệt, cảm ơn Carole!” – Một âm thanh vang lên, từ đâu đó
trong căn nhà.
Đôi mắt to tròn của đứa bé nhìn vào mắt Alice, nó mỉm cười
sau khi vừa ngậm núm vú giả xong. Alice cười đáp lại và đứa bé hồi đáp với nụ
cười toe toét. Núm vú giả rơi xuống sàn. Người mẹ ngồi xổm xuống và nhặt nó
lên.
“Mẹ, mẹ có muốn ẵm thằng bé không?”
Người mẹ đưa em bé cho Alice, và thằng bé đung đưa thoải mái
trong vòng tay và ở hông cô. Nó bắt đầu sờ lên mặt cô với đôi bàn tay ướt nhẹp.
Nó rất thích thú, và Alice cũng thích chiều theo thằng bé. Nó nắm lấy môi dưới
của cô. Cô vờ cắn và ăn ngón tay trong khi giả tiếng kêu của thú hoang.
Thằng bé bật cười và dời tay lên mũi cô. Cô khịt mũi, hít mạnh
và vờ hắt hơi. Thằng bé di chuyển tay lên mắt cô. Cô nheo mắt để không bị chọc
vào và nhấp nháy mắt để cố cù đôi tay của nó bằng lông mi. Nó di chuyển tay lên
trán để chạm vào mái tóc cô, siết chặt nắm tay và kéo. Cô nhẹ nhàng nới tay nó
ra và thay thế tóc bằng ngón trỏ của mình. Thằng bé đã thấy sợi dây chuyền của
cô.
“Thấy con bướm xinh đẹp này chứ?”
“Đừng để thằng bé ngậm nó nha mẹ!” – Người mẹ nói, cô đang ở
phòng khác nhưng vẫn trong tầm nhìn.
Alice đã không hề để thằng bé ngậm dây chuyền, và cô cảm thấy
bị buộc tội sai. Cô bước vào phòng nơi người mẹ ngồi đấy. Nó đầy ắp những loại
đồ vật đầy màu sắc quanh chiếc nôi, chúng có thể kêu, phát ra tiếng bíp hay nói
chuyện khi thằng bé đập vào. Alice đã quên rằng đây là căn phòng mà khắp nơi đều
gây ra sự ồn ào. Cô muốn rời đi trước khi người mẹ đề nghị cô đặt đứa bé vào
đâu đó. Nhưng nữ diễn viên cũng ở đây, và Alice muốn nhập hội với họ.
“Bố có đến vào cuối tuần này không?” – Nữ diễn viên hỏi.
“Không, bố không thể, bố bảo sẽ đến vào tuần sau. Chị có thể
để thằng bé ở cùng em và mẹ một lúc không? Chị phải đến cửa hàng. Allison nên
ngủ thêm một giờ nữa.”
“Được thôi.”
“Chị sẽ tranh thủ. Có cần gì không?” – Người mẹ hỏi trong lúc
đi ra khỏi phòng.
“Mua chocolate, thêm cả kem nữa nhé!” – Nữ diễn viên hét lên.
Alice tìm thấy một món đồ chơi mềm mại không phát ra tiếng để
đưa cho thằng bé khám phá khi ngồi trong lòng cô. Cô thơm lên quả đầu trọc lóc
của thằng bé và nhìn nữ diễn viên đang ngồi đọc sách. Cô ấy cũng nhìn lại.
“Mẹ ơi, mẹ có thể nghe con đọc đoạn độc thoại mà con luyện tập
trên lớp và nói con biết mẹ nghĩ tới điều gì không? Không phải là chuyện kể
đâu, nó là thể loại truyện dài. Mẹ không cần phải nhớ các từ, chỉ cần nói con
biết mẹ có cảm xúc thế nào thôi. Khi con đọc xong, hãy nói con biết mẹ thấy thế
nào, được chứ?”
Alice gật, và nữ diễn viên bắt đầu. Alice nhìn, lắng nghe và
tập trung hơn vào những gì nữ diễn viên nói. Cô nhìn thấy đôi mắt cô ấy trở nên
tuyệt vọng, tìm kiếm, van vỉ một sự thật. Cô thấy chúng đáp xuống nhẹ nhàng và
đầy biết ơn vì điều đó. Giọng cô ban đầu ngập ngừng và sợ hãi. Từ từ, và không
hề to lên, giọng cô dần tự tin hơn và sau đó có chút vui vẻ, thi thoảng lại có
vẻ như đang ngân nga một bài hát. Lông mày, vai và tay cô co lại rồi rộng mở,
đòi hỏi sự chấp nhận và trao tặng sự cảm thông. Giọng nói và cơ thể của cô tạo
một năng lượng truyền đến khiến Alice rơi lệ. Cô ôm ghì đứa bé xinh đẹp vào
lòng và hôn lên quả đầu ngọt ngào mùi hương của nó.
Nữ diễn viên dừng lại và trở về là chính mình. Cô nhìn Alice
và chờ đợi.
“Được rồi, mẹ cảm thấy thế nào?”
“Tôi cảm nhận tình yêu. Đó là tình yêu.”
Nữ diễn viên hét lên, chạy về phía Alice, hôn lên má cô, mỉm
cười đầy hạnh phúc, mỗi nếp nhăn trên mặt cô đều thể hiện sự vui mừng.
“Tôi đoán đúng chứ?” – Alice hỏi.
“Phải, mẹ à. Mẹ hoàn toàn chính xác.”
THÔNG TIN HỮU ÍCH
về bệnh alzheimer
Loại thuốc Amylix trong thử nghiệm lâm sàng được mô tả trong
cuốn sách chỉ là hư cấu. Tuy vậy, nó vẫn giống với những hợp chất có thật được
phát triển lâm sàng hướng đến giảm mức độ amyloid-beta 42 một cách có chọn lọc.
Không giống như các loại thuốc hiện tại chỉ có thể kéo dài thời gian tiến triển
đến giai đoạn cuối của căn bệnh, loại thuốc này được hy vọng sẽ ngăn chặn sự
phát triển của bệnh Alzheimer. Tất cả các loại thuốc khác được nhắc đến là thật,
liều lượng sử dụng và tác dụng của các thuốc này trong điều trị Alzheimer đều
được mô tả chính xác như trong truyện.
Để biết thêm thông tin về bệnh Alzheimer và các thử nghiệm
lâm sàng, hãy truy cập vào trang
http://www.alz.org/.
Câu hỏi gợi ý thảo luận của Câu lạc bộ độc giả
1. Khi Alice trở nên mất phương hướng ở quảng trường Harvard,
một nơi mà cô đã ghé qua hàng ngày trong suốt hai mươi lăm năm, tại sao cô
không kể cho John? Có phải cô quá sợ phải đối mặt với bệnh tật và lo lắng về phản
ứng của anh hay vì một nguyên nhân khác.
2. Sau lần đầu tiên Alice biết được cô mắc Alzheimer, “âm
thanh gọi tên cô len lỏi sâu vào từng tế bào và dường như lan ra khắp cơ thể
cô. Cô tự nhìn chính mình từ phía góc phòng” (trang 99). Bạn nghĩ gì về phản ứng
của Alice trước việc chẩn đoán? Tại sao cô ấy lại tách bản thân mình ra và cảm
thấy mình đang trải qua hiện tượng xuất hồn?
3. Bạn có thấy trớ trêu khi Alice, giáo sư đại học Harvard và
là một nhà nghiên cứu lại mắc phải căn bệnh hủy hoại dần não của cô? Bạn nghĩ tại
sao tác giả Lisa Genova lại chọn nghề nghiệp này? Quá khứ thành công trong giới
học thuật ảnh hưởng đến khả năng chống chọi của Alice và gia đình cô với căn bệnh
như thế nào?
4. “Anh không muốn nhìn thấy cô uống thuốc. Hoặc có thể anh sợ
nếu nói chuyện thì cô có thể bị phân tâm và lẫn lộn thuốc ở các ngăn, nên anh rời
phòng.” (trang 124). Phản ứng của John có dễ hiểu không? Ý nghĩa của việc anh
thường chơi với chiếc nhẫn cưới khi bàn về sức khỏe của Alice là gì?
5. Khi ba đứa con của Alice – Anna, Tom và Lydia biết rằng họ
có thể cần phải kiểm tra mình có mang gien đột biến gây ra bệnh Alzheimer hay
không, chỉ có Lydia không muốn biết. Tại sao cô lại không muốn? Bạn có muốn biết
Lydia có mang gien ấy không?
6. Tại sao dây chuyền bươm bướm của mẹ lại rất quan trọng với
Alice? Có phải đơn giản là vì Alice nhớ mẹ cô? Alice có cảm thấy mối liên kết
nào với loài bướm ngoài liên kết với sợi dây chuyền ra.
7. Alice khẳng định rằng cô muốn dành thời gian còn lại với
gia đình và những cuốn sách của cô. Xét đến lòng tận tụy của cô dành cho công
việc, tại sao nghiên cứu của cô không nằm trong danh sách những việc được ưu
tiên? Vậy Alice coi bản thân mình là một người mẹ, người vợ hay một nhà nghiên
cứu?
8. Bạn có bất ngờ với kế hoạch dùng thuốc ngủ quá liều của
Alice khi căn bệnh đi đến giai đoạn trầm trọng? Quyết định như vậy có bình thường
không? Nếu gia đình cô phát hiện ra, họ có chấp nhận không?
9. Khi các triệu chứng nặng hơn, Alice bắt đầu cảm thấy như
thể cô đang sống trong một vở kịch của Lydia: “(Cảnh trong văn phòng của bác
sĩ. Nhà thần kinh học đã rời phòng. Người chồng xoay chiếc nhẫn. Người vợ hi vọng
tìm ra một phương thuốc.)” (trang 191). Liệu suy nghĩ này là một dấu hiệu của
căn bệnh hay cô chỉ vờ như căn bệnh không có thực để dễ dàng đương đầu với thực
tế hơn?
10. Mối quan hệ của Alice với các con cô có khác đi? Tại sao
cô lại đọc nhật ký của Lydia? Và Lydia quyết định vào đại học có phải chỉ để cô
nở mày nở mặt?
11. Mẹ và chị của Alice qua đời khi cô đang học năm nhất đại
học, nhưng Alice đã luôn nhắc bản thân rằng họ chưa sẵn sàng ra đi. Khi các triệu
chứng nặng thêm, tại sao Alice nghĩ về mẹ và chị mình nhiều hơn? Có phải những
kí ức xa xăm của cô thì dễ nhớ lại hơn không? Liệu cô đang nghĩ về khoảng thời
gian cô đã hạnh phúc hơn hay lo về cái chết của mình?
12. Alice và các thành viên trong nhóm hỗ trợ của cô, Mary,
Cathy và Dan, tất cả đều nói về danh tiếng của họ bị ảnh hưởng bởi căn bệnh vì
những người khác nghĩ họ đang có vấn đề lạm dụng chất gây nghiện. Đối với những
người mắc Alzheimer, giữ gìn tài sản của họ có phải là một trong những trở ngại
lớn nhất không? Những ví dụ nào cho thấy mọi người vẫn tôn trọng ý nguyện của
Alice, và những khi nào cô bị chối bỏ?
13. “Năm nghiên cứu cùng nhau cuối cùng. Cô sẽ không để mất
dù bất kỳ giá nào. Nhưng anh thì có” (trang 294). Tại sao John quyết định tiếp
tục công việc? Việc anh chuyển đến New York và cho rằng đến khi họ chuyển đến
Alice có thể sẽ không biết được cô ấy đang ở đâu có hợp lý không? Việc anh nói
với các con rằng cô sẽ không muốn anh hi sinh công việc là đúng hay sai?
14. Tại sao Lisa Genova quyết định kết thúc câu chuyện bằng
đoạn John đọc về Amylix, rằng loại thuốc Alice đã dùng không có hiệu quả đối với
bệnh nhân Alzheimer? Tại sao thông tin ấy làm John khóc?
15. Bác sĩ của Alice đã bảo cô rằng: “... cô đang gặp vấn đề
về trí nhớ nên những thông tin cô cung cấp có thể chưa hoàn toàn chính xác.”
(trang 79). Tuy vậy, Lisa Genova đã kể câu chuyện theo góc nhìn của Alice. Khi
căn bệnh của Alice nặng hơn, cách nhìn nhận của cô thực tế không thật sự đáng
tin cậy. Tại sao tác giả kể câu chuyện dưới góc nhìn của Alice? Chúng ta sẽ thấy
được những gì, và không thấy được những gì?
Phát triển câu lạc bộ độc giả của bạn
1. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về Alzheimer hoặc giúp những
người đang mắc bệnh, hãy truy cập vào www.actionalz.org hoặc www.alz.org.
2. Để giúp đỡ mẹ cô, Lydia làm một đoạn phim tài liệu ghi lại
cuộc sống của gia đình Howland. Hãy làm một đoạn phim về gia đình bạn và chia sẻ
với nhóm của mình.
3. Nếu muốn tìm hiểu thêm về Vẫn là Alice hoặc muốn
liên lạc với Lisa Genova, hãy vào trang www.StillAlice.com.
Trò chuyện cùng Lisa Genova
Vẫn là Alice viết về điều gì?
Vẫn là Alice viết về một phụ nữ trẻ dần mất đi trí nhớ
vì mắc phải Alzheimer khởi phát sớm. Khi Alice là một giáo sư Tâm lý học năm
mươi tuổi tại trường đại học Harvard, cô bắt đầu trải qua những thời điểm lãng
quên và bối rối. Tuy vậy, cũng như những con người bận rộn, học thức uyên bác
quanh cô, ban đầu cô chỉ nghĩ những dấu hiệu đó là do tuổi tác, quá căng thẳng,
ngủ không đủ giấc. Nhưng khi tình hình trở nên trầm trọng hơn, cô đã đến gặp một
nhà Tâm thần học và biết được rằng mình đã mắc Alzheimer khởi phát sớm.
Khi Alice mất đi khả năng dựa trên tư duy và trí nhớ của
mình, cô mất đi cuộc sống của một trí thức Harvard, nơi mà cô đã đặt hết giá trị
và tính cách của mình. Cô buộc phải tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Giờ đây tôi
là ai?” và “Tôi có quan trọng hay không?” Khi căn bệnh trở nên trầm trọng và tiếp
tục tước đi những điều đã từng được cô xem là một phần của đời mình, chúng ta
khám phá ra nhiều điều ở Alice hơn những gì cô nhớ được.
Điều gì đã truyền cho cô nguồn cảm hứng để viết Vẫn là
Alice?
Có một vài chuyện, nhưng cái chính là bà tôi đã mắc Alzheimer
ở tuổi tám mươi. Khi ngẫm lại, tôi chắc rằng bà đã mắc bệnh từ nhiều năm trước
khi gia đình tôi nhận ra. Chúng tôi đã coi mức độ lãng quên của bà tôi là bình
thường đối với người già rồi cứ để mặc nhiều chuyện xảy ra. Đến khi chúng tôi
quan tâm đến bà thì căn bệnh đã khá nặng rồi. Và chúng tôi rất sửng sốt. Bà
luôn là một người thông tuệ, độc lập, sôi nổi và thích hoạt động. Rồi chúng tôi
phải chứng kiến căn bệnh từng bước cướp mất bà. Bà không còn biết tên các con
bà, thậm chí không biết bà có con (đến 9 người), bà không biết bà sống ở đâu,
phải vào nhà vệ sinh khi cần, bà không nhận ra chính gương mặt mình trong
gương. Tôi từng thấy bà cưng nựng mấy con búp bê nhựa như là nựng em bé thật vậy.
Thật sự rất đau lòng. Tuy vậy tôi lại cảm thấy hứng thú kỳ lạ. Lúc ấy tôi đang
là một nghiên cứu sinh, chuẩn bị lấy bằng Tiến sĩ Thần kinh học ở Harvard. Và
nhà Thần kinh học trong tôi tự hỏi rằng chuyện gì đang xảy ra trong não của bà.
Chúng ta có thể thấy được kết quả của quá trình hủy hoại từ bên ngoài. Nhưng
tôi cảm thấy thắc mắc về chuỗi các sự kiện gây ra sự hủy hoại từ bên trong. Và
tôi tự hỏi sẽ ra sao khi những phần não bộ chịu trách nhiệm cho nhận thức và
tính cách chúng ta không còn hoạt động được nữa. Tôi liên tục nghĩ về câu hỏi:
Dưới góc nhìn của một bệnh nhân Alzheimer, căn bệnh sẽ như thế nào? Bà của tôi
đã quá trầm trọng để đưa ra được câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng một ai đó mắc
bệnh khởi phát sớm sẽ có thể. Và đó là khởi nguồn cho Vẫn là Alice.
Địa vị chuyên môn của cô có giúp ích trong việc sáng
tác Vẫn là Alice?
Có. Tôi nghĩ việc quan trọng nhất là tôi có thể nhờ vào nó để
tiếp xúc được với đúng người tôi cần nói chuyện hết lần này đến lần khác. Học vị
Tiến sĩ Thần kinh học ở Harvard giống như một tấm thẻ vàng đa năng có thể qua mọi
cửa. Xét từ phía các nhà nghiên cứu, trưởng khoa Thần kinh của bệnh viện
Brigham và khoa Phụ nữ ở Boston, khoa Xét nghiệm tâm lý học thần kinh ở Bệnh viện
Đa khoa Massachusetts, các nhà tư vấn di truyền, và các chuyên gia hàng đầu
trong nghiên cứu Alzheimer đến phía bệnh nhân, những người đang sống với căn bệnh
và người chăm sóc của họ, địa vị chuyên môn và giấy ủy nhiệm của tôi cho họ sự
đảm bảo cần thiết để họ cảm thấy thoải mái cho phép tôi hòa nhập và chia sẻ những
gì họ biết.
Hơn nữa, trong các cuộc nói chuyện với các bác sĩ và các nhà
khoa học, hiểu biết sinh học phân tử về căn bệnh này đã cho tôi kiến thức và vốn
từ để hỏi được đúng câu hỏi và cũng cho tôi khả năng hiểu được câu trả lời phức
tạp của họ.
Cô liên kết với Hiệp hội Alzheimer Quốc tế như thế nào?
Trước khi Vẫn là Alice được xuất bản, dường như tôi
đã sáng tạo ra được một câu chuyện tuy là hư cấu, nhưng trên thực tế, câu chuyện
mô tả cuộc sống với bệnh Alzheimer dưới một góc nhìn rất tôn trọng và chân thực.
Và điểm độc đáo là truyện mô tả dưới góc nhìn của một bệnh nhân Alzheimer chứ
không phải người chăm sóc. Còn đa số những chia sẻ thông tin về bệnh Alzheimer
đều được viết dưới góc nhìn của người chăm sóc.
Vì vậy, tôi nghĩ là Hiệp hội Alzheimer Quốc tế sẽ có hứng thú
với cuốn sách theo một cách nào đó, có thể họ sẽ ủng hộ cuốn sách hoặc cho một
đường dẫn trong trang điện tử của họ. Tôi đã liên lạc với bộ phận tiếp thị của
họ và gửi đường dẫn đến trang điện tử của cuốn sách mà tôi đã lập nên từ trước
khi cuốn sách được phát hành. Họ phản hồi rằng thường thì họ không hợp tác xuất
bản sách, nhưng họ đã yêu cầu xem bản thảo. Sau đó không lâu, nhân viên thị trường
của họ liên lạc với tôi và bảo rằng họ rất thích cuốn sách. Họ muốn ủng hộ cuốn
sách và đề nghị tôi viết blog cho chiến dịch quốc gia Voice Open Move mà họ bắt
đầu tiến hành vào cuối tháng đó.
Tôi buộc phải đưa ra quyết định về cuốn sách. Vẫn là
Alice chưa được xuất bản. Cuốn sách có thể mất nhiều năm để tìm được một
nhà xuất bản và đến được tay người đọc. Khi nhận ra rằng tôi đã tạo nên được thứ
gì đó mà Hiệp hội Alzheimer cảm thấy có giá trị cung cấp tri thức và trấn an
hàng triệu người đang tìm đường đi trong thế giới bệnh Alzheimer, tôi cảm thấy
mình có một trách nhiệm cấp bách phải để cuốn sách được xuất bản tức khắc. Vậy
nên tôi đã đồng ý viết blog và đồng ý bán bản quyền cuốn sách. Sau đó Vẫn
là Alice được xuất bản. Đó là một cơ hội tôi không thể nào bỏ lỡ.
Làm thế nào cô chọn lựa được những thông tin quan trọng để
đưa vào Vẫn là Alice?
Tôi biết là tôi không thể nào ghi lại hết trải nghiệm của những
người mắc Alzheimer, nhưng tôi có thể ghi lại những phần cốt lõi nhất. Tôi đã
thường xuyên đối chiếu với những người mắc Alzheimer khởi phát sớm để bảo đảm mọi
thứ đều chính xác. Họ là giấy quỳ cho thí nghiệm của tôi. Mô tả lại những triệu
chứng ban đầu hết sức quan trọng, để cho thấy họ mất phương hướng và cô đơn đến
chừng nào. Tôi cảm thấy có trách nhiệm chỉ ra quá trình chẩn đoán căn bệnh như
thế nào. Đối với nhiều người mắc Alzheimer khởi phát sớm, con đường đến với chẩn
đoán thật sự dài và gian nan đến khó ngờ, vì các triệu chứng thường dễ bị lầm với
các nguyên nhân tiềm ẩn khác trong nhiều năm, như trầm cảm chẳng hạn. Đây là điểm
duy nhất trong cuốn sách tôi xa rời thực tế vì chuyện này diễn ra với hầu hết mọi
người. Tôi đã đưa Alice đến thẳng với chẩn đoán ra bệnh, vừa để chỉ ra một ví dụ
mọi chuyện nên diễn ra như thế nào và vừa để viết ra một câu chuyện không dài đến
cả năm trăm trang. Tôi cảm thấy để nhân vật Alice nghĩ đến việc tự vẫn cũng
quan trọng. Tôi đã suy nghĩ rất lâu và cẩn thận trước khi đưa tình tiết này
vào. Đối với những chủ đề cái chết hay nạo phá thai, mọi người thường có phản ứng
rất mạnh về quyền được kết liễu đời mình khi phải đối mặt với bệnh hiểm nghèo,
và tôi không muốn xa rời độc giả. Nhưng tôi nhận thấy mọi người mắc bệnh
Alzheimer dưới tuổi sáu mươi lăm mà tôi biết đều đã nghĩ đến chuyện tự vẫn. Điều
đó không bình thường. Một người năm mươi tuổi bình thường thì không nghĩ tới
chuyện tự kết thúc đời mình, nhưng nếu người ấy mắc bệnh Alzheimer thì họ sẽ
nghĩ đến việc đó. Đó là điều mà căn bệnh sẽ đưa đến cho bạn, và tôi nghĩ là
Alice cũng sẽ làm vậy.
Hiện tại cô có thực hiện một dự án sáng tác nào không?
Tôi đã bắt đầu viết tiểu thuyết tiếp theo mang tên Left
Neglected. Đây là câu chuyện về một người phụ nữ khoảng ba mươi lăm tuổi giống
như nhiều phụ nữ khác tôi đang biết. Cô làm đủ mọi việc trong một ngày, cố gắng
trở thành mọi thứ đối với mọi người ở chỗ làm, ráng sức làm rất nhiều việc. Một
buổi sáng bình thường, cô trễ giờ làm, cô đưa con đến trường và nhà trẻ rồi lao
xe đi. Cô không để mắt đến đường đi trong một khoảnh khắc vì cố gọi điện đến cuộc
họp mà cô phải có mặt. Trong nháy mắt, tất cả mọi chuyển động vùn vụt trong cuộc
đời nhồi nhét đầy công việc của cô nghiến phanh theo chiếc xe. Đầu cô bị thương
nặng. Kí ức và trí tuệ của cô vẫn an toàn. Cô vẫn có thể nói và đếm được. Nhưng
cô đã mất hết tất cả hứng thú và khả năng nhận biết các thông tin đến từ phía
bên trái.
Phần bên trái của thế giới đã mất đi. Cô đã mắc chứng Xao
lãng một bên.
Cô cảm thấy mình sống trong một thế giới kì lạ chỉ có một nửa.
Ở đó, cô ăn phần thức ăn bên phải trên đĩa, chỉ đọc nửa bên phải trang sách, và
dễ dàng quên mất cánh tay và bàn tay trái thuộc về cô. Trong quá trình hồi phục,
cô đối mặt với vô vàn khó khăn không chỉ để khôi phục ý thức về bên trái, mà
còn khôi phục cuộc sống của mình, cuộc sống mà cô luôn muốn sống.
Khi làm việc với Mạng lưới Hỗ trợ và Tư vấn bệnh mất trí Quốc
tế, cô phải nói chuyện với bệnh nhân Alzheimer hàng ngày. Cô cảm thấy trải nghiệm
đó như thế nào? Thách thức thường gặp nhất của những bệnh nhân đó là gì?
Trải nghiệm đó rất tuyệt vời. Những thành viên trong đó không
nói chuyện quá xa vời hay vòng vo. Họ không có nhiều thời gian để lãng phí.
Chúng tôi hỗ trợ lẫn nhau và nói về những vấn đề thật sự ý nghĩa, vì vậy chúng
tôi luôn can đảm trò chuyện, không che đậy gì, cuộc nói chuyện luôn ngập tràn
tình cảm, sự hài hước, cả bực dọc lẫn phấn khích. Và khi bạn chia sẻ bản thân
như vậy, bạn có thể có một tình bạn thân thiết sâu đậm. Tôi thật sự yêu quý và
ngưỡng mộ những người bạn tôi gặp trong nhóm này. Nhiều người tôi vẫn chỉ biết
qua email. Tôi đã đến gặp một vài người ở các hội thảo về Alzheimer, thật là một
trải nghiệm tuyệt vời. Chúng tôi trở thành đồng nghiệp trong công việc tư vấn.
Bệnh nhân Alzheimer thường phải đứng trên một mặt phẳng tưởng
như luôn chuyển động dưới chân họ. Những triệu chứng quen thuộc thường trở nên
trầm trọng hơn (thường xuyên và nặng hơn) hoặc các triệu chứng mới phát sinh, vậy
khi bệnh nhân đã thích nghi với căn bệnh, hãy thực hiện những thay đổi, thích ứng
cần thiết, và sẽ có nhiều việc khác phải làm nữa. Việc này có thể rất bực bội,
mệt mỏi và chán nản. Tôi đã chứng kiến tất cả.
Tôi nghĩ thử thách gay go nhất mọi người phải đối diện là sự
lạc lõng và cô đơn. Bởi căn bệnh này sẽ loại mọi người ra khỏi nhịp sống vội
vàng trước đây của họ, sự nghiệp họ tự gây dựng nên; bởi mọi người khác sẽ tiếp
tục bận rộn với cuộc sống của họ và những bệnh nhân sẽ phải chậm lại; và bởi định
kiến khổng lồ gán lên căn bệnh Alzheimer, các bệnh nhân khởi phát sớm cảm thấy
cô đơn vô cùng. Đó là lý do tại sao nhóm trực tuyến này lại có ý nghĩa đến vậy.
Họ mang những người từ khắp nơi trên đất nước đến với nhau để chia sẻ những trải
nghiệm chung và phá bỏ sự cách biệt.
Cô có nghĩ chúng ta cần được thông tin thêm về bệnh
Alzheimer?
Tôi nghĩ là có, đặc biệt là về bệnh Alzheimer khởi phát sớm
và về các giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer. Có hơn nửa triệu người trên toàn nước
Mỹ được chẩn đoán mắc phải các chứng suy giảm trí nhớ khi chưa đến sáu mươi lăm
tuổi, và họ không được tính đến khi người ta bàn về Alzheimer. Đại đa số quần
chúng đều biết một người ông, người bà tám mươi lăm tuổi ở giai đoạn cuối của
căn bệnh trông ra sao và nói năng thế nào, nhưng họ biết rất ít về người bố,
người mẹ năm mươi tuổi mắc Alzheimer sẽ trông như thế nào và nói năng ra sao.
Thật sự đã đến lúc những người này được lắng nghe và được chú ý đến.
Ý thức cao hơn về những triệu chứng và trải nghiệm ban đầu rất
quan trọng vì mọi người cần nhận diện ra các triệu chứng để được chẩn đoán và
điều trị sớm hơn. Chuyện này quan trọng vì những bệnh nhân khởi phát sớm cần những
nguồn lực (như tiếp cận được các nhóm hỗ trợ) hiện tại chỉ mới dành cho những
người chăm sóc. Chuyện này còn quan trọng bởi các công ty dược cần nhận ra rằng
đây là một nhóm có quy mô đáng kể và đáng được đưa vào các thử nghiệm lâm sàng
của họ. Ngay bây giờ, nhiều bệnh nhân Alzheimer khởi phát sớm không thể tham
gia vào các thử nghiệm lâm sàng bởi họ quá trẻ. Hơn nữa, chuyện này cũng quan
trọng bởi các gia đình đều xứng đáng được lên kế hoạch hợp lý cho tương lai của
họ cả về vấn đề tài chính lẫn tinh thần. Và chuyện này quan trọng vì ý thức về
căn bệnh sẽ giảm đi định kiến đặt lên những người đang phải sống với căn bệnh của
họ.
Những nhà văn nào đã truyền cảm hứng cho cô?
Oliver Sacks là nguồn cảm hứng lớn nhất của tôi. Trên thực tế
ngay từ đầu, Người đàn ông nhầm vợ vì cái mũ đã thắp lên ngọn lửa đam
mê của tôi đối với Thần kinh học. Trong đó có một câu trích dẫn:
“Qua nghiên cứu về bệnh, chúng ta thu nhận tri thức về giải
phẫu học, triết học và cả sinh học. Qua nghiên cứu về bệnh nhân, chúng ta thu
nhận tri thức về cuộc sống.”
Đó là tất cả những gì đã truyền cảm hứng cho tôi, là những gì
tôi hi vọng làm được với việc sáng tác của mình, cả hư cấu và phi hư cấu.
Hiện tại cô đang đọc những gì?
Thật kỳ lạ là tôi đang đọc Một địa cầu mới của
Eckhart Tolle, nhưng không phải vì Oprah bảo tôi đọc. Một người bạn mắc
Alzheimer của tôi đã giới thiệu cho tôi vào tháng Tám. Lúc ấy tôi đang phỏng vấn
anh ấy để viết cuốn sách tiếp theo, và anh ấy rất phấn khích kể tôi nghe về những
phát hiện khó tin của anh ấy, từ phương pháp thiền đến chế độ ăn, từ tập thể dục
đến sự tự nhận thức. Anh ấy bảo tôi nhất định phải đọc Một địa cầu mới và
bảo rằng cuốn sách sẽ thay đổi đời tôi. Anh ấy đã đúng. Tôi cũng đang đọc Người
bói lưới ren của Brunonia Barry nữa. Quá tuyệt!
Cô có lời khuyên gì cho những tác giả mới?
Tôi biết có rất nhiều tay bút mới, đang ngồi vào một thế chờ
đợi, trong khi tác phẩm của họ đã xong, họ phải đợi để tìm một người đại diện
văn học. Họ bị mắc kẹt, không thể cho phép bản thân viết cuốn tiếp theo vì họ
đang đợi để biết được tác phẩm của họ có “đủ hay”, để biết được họ có phải “nhà
văn thực thụ” hay không. Tình trạng đợi như thế này, không viết được gì, nghi
ngờ bản thân, là tình trạng tệ nhất mà mọi nhà văn đều có thể gặp phải. Lời
khuyên của tôi là, nếu bạn không tìm thấy một người đại diện cho mình ngay lập
tức, nếu bạn cảm thấy tác phẩm của mình đã hoàn chỉnh và sẵn sàng chia sẻ ra thế
giới, hãy tự xuất bản. Đưa tác phẩm của bạn ra thế giới. Hãy giải phóng tác phẩm
của mình và viết tiếp. Hãy cứ tự do! Gần đây, tôi đã ở trong xe mình nghe
Diablo Cody, nhà biên kịch của phim Juno, trò chuyện trên đài NPR. Khi được hỏi
về lời khuyên cho những biên kịch trẻ, cô đã nói “Hãy tự xuất bản”. Tôi reo lên
trong xe một mình, và cô đã đoạt một giải thưởng của Viện hàn lâm.
Hãy kể về thời gian biểu sáng tác của cô.
Tôi mới sinh con, nên những ngày này phải tranh thủ thôi.
Nhưng còn cuốn Vẫn là Alice thì tôi đã viết mỗi ngày ở Starbucks khi
con gái sáu tuổi của tôi đến trường. Tôi cảm thấy viết ở nhà khá là khó. Có quá
nhiều thứ gây mất tập trung như phải trả lời các cuộc điện thoại, thức ăn trong
tủ lạnh, phải giặt ủi, thanh toán phí sinh hoạt. Bạn biết đấy, khi lo thanh
toán phí sinh hoạt thì chắc chắn là phải hoãn lại sáng tác đoạn tiếp theo rồi!
Còn ở Starbucks, chẳng có gì cản trở cả. Không có gì khác để làm ngoài viết. Bạn
thậm chí không thể mơ tưởng, không tỏ ra lười biếng. Vậy nên bạn chỉ việc cúi
xuống và viết. Và tôi luôn nhận ra tôi thường gián đoạn vì phải đi đón con gái.
Thường cứ đến một đoạn hay, ngay trong lúc tập trung cao độ thì đến giờ tôi phải
đi đón con. Và tôi phải để lại đoạn đó hết ngày cho tới sáng hôm sau. Tôi bị kẹt
như vậy. Thời gian dành cho sáng tác là thời gian của tôi, còn thời gian dành
cho con gái là thời gian của chúng tôi. Tôi nghĩ có một khoảng thời gian sáng
tác hạn hẹp mỗi ngày khiến tôi luôn mong mỏi được tiếp tục. Tôi không bao giờ mệt
mỏi hay bí ý tưởng. Mỗi ngày, tôi đều mong đến lúc vào Starbucks, uống trà sữa
chai và sáng tác.
Trong cuộc chiến chống lại bệnh Alzheimer, cô đã thấy những
bước tiến nào?
Nhận thức để chẩn đoán sớm là một bước quan trọng. Mặc dù các
loại thuốc hiện tại trong điều trị Alzheimer không thể thay đổi tiến trình của
căn bệnh, nhưng chúng có thể trì hoãn quá trình một khoảng thời gian đáng kể,
cho phép các bệnh nhân Alzheimer sống một khoảng thời gian ổn định, tận hưởng
những gì họ còn có thể làm được lâu hơn. Và một người càng sớm được chẩn đoán,
điều trị, và giữ ở mức bình ổn thì họ càng có khả năng tiếp cận được lợi ích từ
một liệu pháp tốt hơn khi liệu pháp ấy ra đời.
Một bước tiến nữa tôi thấy là thế hệ thuốc Alzheimer tiếp
theo sẽ thay đổi được căn bệnh. Các thuốc này sẽ ngăn được tiến trình của căn bệnh.
Trước đây từng có một suy nghĩ rằng mảng amyloid và đám rối sợi thần kinh tích
tụ trong não, làm “rối” và hoại tử các dây thần kinh. Và quá trình hoại tử của
các dây thần kinh gây ra Alzheimer.
Còn đây là lối tư duy mới.
Sự suy giảm nhận thức, triệu chứng của bệnh mất trí, diễn ra
trước khi các mảng hình thành, trước khi các sợi thần kinh chết đi. Trong não của
một người mắc Alzheimer có quá nhiều những protein dễ hòa tan được gọi là
amyloid-beta 42, được sản sinh ra quá nhiều hoặc không được đào thải đi đúng mức.
Khi có quá nhiều loại protein này, những chuỗi ngắn đơn lẻ sẽ nối liền với nhau
và hình thành các oligomer. Các oligomer bám dính hình thành từ amyloid-beta 42
này tụ lại ở các khớp thần kinh, khoảng trống giữa các dây thần kinh cản trở sự
truyền tải ở các khớp thần kinh hay có thể hiểu là khả năng dây thần kinh số một
“nói chuyện” với dây thần kinh số hai. Khi hiện tượng này diễn ra, thông tin mới
sẽ không được tiếp nhận. Hoặc thông tin vốn có sẽ không thể truy xuất được.
Tính linh hoạt của các khớp thần kinh bị ảnh hưởng. Dần dần, bởi các khớp thần
kinh này không hoạt động chính xác nữa và hiện tượng viêm nhiễm cùng với những
vấn đề khác sẽ khiến các dây thần kinh thoái hóa, để lại những khoảng trống
(não bị teo đi có thể thấy trên phim chụp cộng hưởng từ) và có thể là một đống
amyloid-beta 42 trong một mảng amyloid.
Như vậy căn bệnh khởi đầu dưới dạng một cuộc tấn công vào các
khớp thần kinh. Mức độ suy giảm trí nhớ chỉ liên quan đến rối loạn ở khớp thần
kinh, chứ không liên quan đến suy giảm dây thần kinh, số lượng mảng hay sự teo
não thấy được trên phim chụp.
Đối với việc chữa trị dành cho chứng mất trí sau này, loại liệu
pháp thay đổi được căn bệnh sẽ:
- Kìm hãm sự sản sinh ra amyloid-beta 42,
- Gia tăng sự đào thải của amyloid-beta 42 đã sinh ra,
- Ngăn các amyloid-beta 42 tích tụ thành oligomer hoặc
- Phân tách các oligomer đã được tạo thành.
Viễn cảnh tươi sáng và niềm hi vọng từ các liệu pháp này là
các bệnh nhân đang chịu những triệu chứng của mất trí có thể được chữa trị trước
khi họ trải qua quá trình hoại tử thần kinh. Nếu các khớp thần kinh được chữa,
quá trình lưu thông trong thần kinh sẽ hoạt động trở lại. Và chức năng sẽ được
khôi phục lại.
Để kể về một nữ bệnh nhân Alzheimer, tại sao cô lại cho Alice
là một giáo sư Harvard năm mươi tuổi thay vì một bà lão tám mươi tuổi đã về
hưu?
Vâng, một lý do là một người năm mươi tuổi thì sẽ chú ý đến
và sẽ được cảnh báo về căn bệnh ngay từ giai đoạn đầu. Bởi theo một khía cạnh
văn hóa, một bà lão tám mươi tuổi sẽ dễ bị đãng trí, những người ông, người bà
đã về hưu không còn được xem như những nhân vật quan trọng nữa, bởi họ không phải
tạo ra một lượng sản phẩm chất lượng nhất định mỗi ngày, bởi họ góa vợ, góa chồng
và sống một mình, không chứng kiến những gì đang diễn ra một cách trọn vẹn, bởi
chúng ta làm ngơ trước những gì đang diễn ra sau khi chúng ta nghi ngờ về nó
hay thậm chí trải qua nó còn dễ dàng hơn nữa, chúng ta thường không nhìn ra bệnh
Alzheimer ở giai đoạn đầu. Đối với một người ở tuổi năm mươi, địa vị và nhân
cách đều dựa trên một bộ não ưu việt thì bạn sẽ thấy căn bệnh ngay từ đầu. Và
khi tấm thảm dưới chân bị rút mạnh, cú ngã sẽ rất đau.
Một dòng trong cuốn sách, đoạn bác sĩ của Alice bảo với cô,
“... cô đang gặp vấn đề về trí nhớ nên những thông tin cô cung cấp có thể chưa
hoàn toàn chính xác”. Tuy vậy, cô vẫn chọn kể câu chuyện theo góc nhìn của
Alice. Như vậy có khó khăn hơn không khi mà bệnh của Alice dần trầm trọng thêm
và cảm nhận của cô ấy thực tế trở nên kém tin cậy hơn?
Thực tế là khó khăn hơn, nhưng tôi nghĩ đó là quyết định mạnh
mẽ nhất. Bằng cách kể câu chuyện qua thấu kính của Alice, tôi đặt người đọc
nhìn thẳng vào căn bệnh Alzheimer của cô ấy. Bạn nên thấy sự bối rối, đau buồn
và hoảng sợ đi cùng với cô ấy. Và vâng, quyết định này sẽ buộc chúng ta phải mất
đi những gì diễn ra trong suy nghĩ của chồng cô và những nhân vật khác, nhưng
chúng ta lại có được cái nhìn của một người trong cuộc về tâm tư của một ai đó
đang trượt dài, thật dài đến với căn bệnh Alzheimer. Hầu hết mọi người không mắc
bệnh sẽ không thể đặt mình vào vị trí ấy được.
Vậy trích đoạn nào cô thích nhất trong cuốn sách?
Có lẽ là hai đoạn. Đầu tiên là một đoạn ngắn của Alice với ba
người con của cô. Các con cô đều tranh cãi về mẹ của họ có nên cố nhớ ra một thứ
gì đó không. Alice hỏi họ mấy giờ họ sẽ đến vở kịch hôm sau đó. Con trai cô bảo
cô đừng lo về việc đó, cô không cần phải nhớ gì cả, cô không cần phải nhớ vì họ
sẽ không đi mà không có cô. Con gái lớn của cô nghĩ rằng cô nên luyện tập khả
năng ghi nhớ mọi lúc có thể, theo lý thuyết “dùng nó hoặc sẽ quên mất nó”. Con
gái út nghĩ rằng họ cứ để mẹ biết thông tin, và mẹ muốn làm gì với thông tin ấy
cũng được. Đây là chuyện khá phổ biến ở các gia đình có người mắc bệnh
Alzheimer. Sự bất đồng, khăng khăng theo ý mình và tự ái cứ diễn ra. Đầy rẫy những
mâu thuẫn. Trong đoạn này, họ cãi nhau, không thể thống nhất được, họ làm tổn
thương nhau ngay trước mặt Alice. Người ta lúc nào cũng nói về bệnh nhân
Alzheimer ngay trước mặt họ như thể họ không có ở đó vậy.
Đoạn còn lại là đoạn văn đầu tiên. Tôi thích mọi thứ về đoạn ấy.
Tôi vẫn cảm thấy rùng mình, chắc tôi đã đọc đoạn này cả trăm lần rồi.
Cộng đồng Alzheimer đã có phản ứng gì về Vẫn là Alice?
Còn cộng đồng những người không mắc bệnh và không có liên quan gì đến căn bệnh
thì sao?
Phản ứng của họ thật sự tích cực vượt xa mong đợi. Tôi không
thể diễn tả nổi việc này có ý nghĩa với tôi thế nào. Đối với một người mắc
Alzheimer, hoặc một người chăm sóc người thân bị bệnh, họ nói rằng tôi đã làm
đúng, tôi đã viết đúng tất cả một cách tuyệt diệu, rằng họ thấy chính mình
trong cuốn sách, đó thật sự là lời tuyên dương nồng hậu nhất dành cho tôi. Tôi
đã viết ra sự thật về căn bệnh, và đó cũng là mục tiêu quan trọng của tôi khi
thực hiện nghiên cứu để viết cuốn sách, tôi quen biết với những bệnh nhân
Alzheimer ngày càng nhiều hơn. Và con đường tôi đi càng phải thận trọng hơn,
không thể kịch tính hóa hay lãng mạn hóa căn bệnh, nhưng cũng không giảm nhẹ nó
đi được.
Và Hiệp hội Alzheimer Quốc tế cũng đã duyệt cuốn sách. Trong
tất cả các đầu sách hiện tại về chủ đề Alzheimer, theo như tôi biết thì sách của
tôi là quyển duy nhất nhận được sự phê duyệt của họ.
Cũng có những độc giả không có liên quan gì đến căn bệnh
nhưng vẫn gửi phản hồi đến cho tôi. Câu chuyện thật cảm động và tôi nghĩ nó rất
thành công vì những gì nó nói đến không chỉ là căn bệnh Alzheimer. Cuốn sách
không thuyết giảng hay đào sâu vào nghiên cứu lâm sàng quá mức mà khai thác những
khía cạnh cuộc sống quan trọng và diễn tả những ảnh hưởng của căn bệnh đối với
các mối quan hệ. Và cuốn sách trở thành một thành quả ngoài sức tưởng tượng khi
tôi biết rằng nó đã đem đến cho người đọc một ý thức mới và sự nhạy bén đối với
những thực trạng khi sống với căn bệnh Alzheimer.
Lisa Genova
Thanh Xuân, Minh Nhật, Quốc Dũng dịch
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét