Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

 

Sóng độc – Cuộc giải phẫu thấu đáo một căn bệnh thời đại

Thành tích, tham nhũng và hạ bệ tranh giành địa vị của nhau đang là ba căn bệnh thời đại.

Nhưng xin trước hết giới thuyết khái niệm.

Như mọi người đều biết, xã hội loài người khi đi từ thị tộc bước lên chế độ nhà nước cũng kéo theo nó các dấu vết nguyên thủy: Tranh giành ngôi vị, tham ô; và để giành giật ngôi vị, của cải thói quen khoe thành tích (bắn trúng con thú, giết được nhiều kẻ địch ở bộ tộc bên cạnh…) và nói xấu dìm người khác cũng dần hình thành. Về sau, tất cả nhiễm sâu vào máu, vào gen. Bởi vậy, nếu nói như trên mà không giới thuyết, e rằng chúng ta đánh đồng thuộc tính với bệnh tật. Sử gia Hoa Kỳ F. L. Schoell viết: “Sự chỉ định các ứng viên vào chức vị Tổng thống diễn ra trong một bầu không khí khó tin, gồm: Chợ phiên, diễn thuyết mị dân, ngôn ngữ thái quá, bài báng lẫn nhau. Tuy nhiên, một chính thể bề ngoài đáng ghét như vậy có thể lại không phải là dở: nó chẳng đã đưa vào Nhà Trắng những nhân vật nổi tiếng như một Lincoln, một Wilson, một Franklin Roosevelt, một John Kennedy hay sao?” Ngày nay, qua internet, chúng ta thấy đảng Cộng hòa và Dân chủ Mỹ bài báng, buộc tội nhau mỗi ngày; thế nhưng đó chỉ là thuộc tính của chính trường Mỹ.

Ở ta, tại Đại hội Đảng gần nhất, có một nhân sự trong danh sách đề cử. Đến sát ngày bầu cử, BTC nhận được đơn tố giác tội lỗi có bằng cứ và nhân sự ấy bị gạt khỏi danh sách bầu. Đó là kỹ thuật tố giác, không thuộc nội hàm căn bệnh thời đại chúng ta đang nói tới. Bệnh ấy với triệu chứng lâm sàng là, từ lâu lắm rồi, mỗi khi có cuộc thăm dò uy tín nhân sự để cất nhắc, đề bạt thì ở rất nhiều nơi, cơ quan chức năng nhận được rất nhiều đơn thư nặc danh, vu khống, bôi nhọ. Đặc biệt, từ khi có quy định, tạm thời không đưa vào danh sách đề cử (đề bạt hay quy hoạch đề bạt) thì đơn thư ngày càng nhiều. Nhiều đến mức các cơ quan chức năng không thể kiểm tra xuể, đúng sai đành gác lại cơ hội của nhân sự ấy, đôi khi là cơ hội duy nhất của những người có năng lực. Thời xưa, hình luật có tội danh “đàn hặc” dùng để quy cho những kẻ vu khống người khác. A bị B tố cáo một tội, nếu xét xử thấy đúng, A bị chém đầu thì khi xét thấy A vô tội, thì B bị khép tội vu khống [đàn hặc] và bị chém đầu. Nhiều nước trên thế giới hiện người ta xử thật nặng tội vu khống và có cơ chế kiểm tra rất nhanh nên hạn chế, không để việc hạ bệ nhau lây lan thành bệnh xã hội. Nước ta có tội danh vu khống, nhưng bên cạnh đó lại có nguyên tắc “quần chúng có quyền phê bình, phản ánh với Đảng các sai trái của cán bộ” và khi đã nhân danh quần chúng, không bao giờ người vu khống chịu hình phạt tù của tội vu khống. Các khe cửa hẹp: Gạt ra ngoài danh sách bầu cử [quy hoạch đề bạt] cùng với tội vu khống không bị xét xử bỏ tù chính là sơ hở để kẻ xấu, kẻ bất tài, kẻ tham quyền cố vị lợi dụng để hạ bệ nhau; đánh bật khỏi hệ thống những người có năng lực và nhân cách. Tuy nhiên, tình trạng này hiện đã thành căn bệnh thời đại khó chữa lại chủ yếu ở phương pháp tư tưởng: Giải quyết các đơn thư tố giác dĩ hòa vi quý, vo gọn lại “xấu chàng hổ ai”.

Sóng độc, cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà thơ Trần Gia Thái viết về căn bệnh ấy, ở một Đài Phát thanh Truyền hình  địa phương, Đài Bắc Hà. Giám đốc Bắc Hà là Văn Đức sắp về hưu, Phó giám đốc Đỗ Thiết cùng ê kíp dưới quyền tạo ra hàng loạt scandan, vừa nhằm quy trách nhiệm cho Văn Đức, đẩy nhanh tiến độ nghỉ hưu của ông; vừa nhằm ngăn chặn bước tiến của Thư ký chương trình là Phạm Quang Thiện. Thiết thúc đẩy vụ quân chủng Tăng thiết giáp kiện Đài đã phát lại chương trình vụ làm sai lệch sự thật lịch sử trưa 30 tháng 4 năm 1975. Lý do kiện là vụ nhầm lẫn đã được sửa chữa, chuyện đã cũ, nay Bắc Hà phát sóng lại là nhằm bôi nhọ quân đội. Thực tế thì Tân – người của Thiết cố tình lồng nhạc của nước lạ vào chương trình chào mừng Giải phóng miền Nam, Thiện phát hiện nên ách lại, thay bằng chương trình phim tài liệu cũ. Người của Đỗ Thiết còn dùng lại một băng hình cũ cố tình không xóa đoạn phim sex, đây là đòn cực hiểm, nếu Thiện không nhạy cảm hoặc chỉ cần không cẩn thận, cái “đuôi” sex kia sẽ lên sóng thì điều gì sẽ xảy ra. Thật may, khi xảy ra chuyện này, Phạm Quang Thiện mới 38 tuổi, anh còn đủ nhạy cảm, lại là người thận trọng nên mới ách lại kịp màn chào mừng trong nền nhạc nước lạ  kia, cái đoạn sex “khóa đuôi” chương trình kia.

Nhưng đó mới là màn giáo đầu.

Đỗ Thiết là người có chuyên môn vững, lại có nhiều toan tính và vây cánh thế lực; là chỗ tập kết những kẻ cơ hội, cánh hẩu. Việc giám đốc Văn Đức chỉ còn 3 tháng, Phó giám đốc Trần Thụy chỉ có năng lực chung chung, lại cũng chỉ vài ba năm nữa thì hưu; Đỗ Thiết là ứng cử viên sáng giá nhất. Ấy là một cơ hội nhãn tiền. Nhưng Tổ chức tỉnh ủy và lãnh đạo Đài là Văn Đức,  Trần Thụy lại muốn đưa thêm Quang Thiện vào diện thăm dò tín nhiệm chức danh giám đốc. Lập tức kích hoạt phản ứng của Đỗ Thiết.

Ngay sau cuộc lấy phiếu thăm dò chức danh giám đốc, Thiết và tay chân gửi đơn lên tỉnh, lên ngành dọc cấp trên, lên cả trung ương. Đây là loại đơn thư tố giác vu vơ, thực tế thì còn chưa kiểm phiếu nhưng lại gây chấn động, bởi một ông to to ở trên gọi điện cho Bí thư Hoàng Minh. Cú điện thoại khiến Hoàng Minh ngờ rằng, Thiết có “quan hệ” với cụ to to; lại sắp Đại hội tỉnh Đảng bộ nên, để cho yên, cả hệ thống của Tỉnh đành bạch hóa việc kiểm phiếu thăm dò đồng thời cho chuyển Văn Đức đi chỗ khác. Rồi quyết định đưa Lê Hùng Dũng, một cán bộ hàm Cục trưởng từ trên về. Nghe tin, Đỗ Thiết lại kích hoạt đám tay chân kiện Tỉnh vì vi phạm quy chế báo chí: đưa Hùng Dũng không phải người làm báo về lãnh đạo cơ quan báo chí. Đọc Sóng độc, người đọc luôn luôn cảm thấy ghê tởm bộ sậu Đỗ Thiết, cứ tự hỏi sao cái việc tanh tưởi thế mà họ vẫn dám làm? Dần dà thì nhận ra một quy luật: Kẻ xấu luôn luôn thắng, luôn luôn sinh sôi nảy nở vì người tốt không thể/ không thèm làm những việc ghê tởm. Thành ra, trên vũ đài ghê tởm họ không có đối thủ. Cả cơ quan biết rõ bộ sậu Thiết, gọi họ là “câu lạc bộ Lá Mơ” – tên một quán rượu thịt chó mà đám này hay tụ tập; họ cũng biết rõ tên tuổi, tục danh của những Bạc Phò, Hoàn Toác, Mùi Già, Đạt Láu… với các mánh lới chiêu trò. Thực ra thì “trình” của CLB Lá Mơ cũng chỉ như năng lực chuyên môn xoàng xĩnh của họ, kiểu như nhân Đại hội CNVC cơ quan, Mùi Già đi muộn, bị mưa lướt thướt đến đại hội với xấp báo Mới, in bài đánh Phạm Quang Thiện rồi phân phát như rải truyền đơn. Đến Đỗ Thiết thì cũng vầy vậy, trình anh ta chỉ đến mức nhận thức được tệ lậu xã hội đang nhức nhối:  “Cái gì không làm thì bàn, cái gì bàn thì không làm.” để tổ chức Hội thảo nâng cao, phấn đấu,quyết tâm….rồi cho ghi hình phát sóng. Vậy là không chỉ nhờ “dĩ hòa vi quý” vo viên, khép lại để đại hội cho êm thấm, thói quen không dây với hủi, không gây sự với Chí Phèo của hết thảy người tốt đã là hai tác nhân quan trọng nhất gây bệnh. Vâng, gây bệnh và nuôi dưỡng căn bệnh thời đại này – như dinh dưỡng nuôi tế bào ung bướu.

Nhưng khi CLB Lá Mơ đánh bầm dập, đánh tả tơi Phạm Quang Thiện mới là phần chủ yếu của tiểu thuyết Sóng độc. Ở phần này Đỗ Thiết sử dụng chiêu trò tinh vi hơn, với một quyết tâm “không ăn được thì phá thối.” Lúc này, như nhận định của Thiết, Hùng Dũng về nhanh thì đi nhanh, ông ta chỉ thực hành “luân chuyển” qua Bắc Hà cho một quy hoạch chức danh khác. Hùng Dũng, với tư duy “không phải việc của mình”; ông Hoàng Minh cũng muốn tỉnh yên để lên TW nhận chức mới nên đã đưa Đỗ Thiết lên Q Giám đốc đài Bắc Hà. Mưu mô của Thiết và CLB Lá Mơ nếu đánh chặn được việc bổ nhiệm cho Thiện, sẽ đưa người của mình thay vào, Bắc Hà sẽ ép trên phải cắt Q cho Thiết, lại cũng có thể “phải” ở lại mấy năm để quy hoạch người thay mình.

Vụ đầu tiên Lá Mơ đánh Thiện với bài viết Học giả, bằng thật in trên báo Mới. Việc đến tai Bí thư Hoàng Minh, ông vốn tin Thiện, ra hạn Kiểm tra Tỉnh ủy trong 1 tháng phải tìm ra sự thật. Sự thật như sau: Thiện đã trúng tuyển một kỳ thi rất gắt gao, cho một khóa đạo diễn đặc biệt. Khóa học nằm trong quy chế đặc thù [có tính pháp lý] của ngành nghệ thuật, nhưng về sau tiền dành cho dự án hết; Trường Nghệ Thuật chuyển sinh viên Thiện sang học hệ tại chức, môn nào đã học ở Khóa đặc thù thì thôi, nên thi tốt nghiệp sớm. Nhưng bài báo ám chỉ Thiện “học” chẳng qua cốt để mua bằng. Một mặt, đơn thư được gửi lên Bộ GD ĐT, Bộ cho thanh tra. Phó chánh thanh tra là người tay trong, sau khi nhận phong bì lót tay đã “đồng ý giúp” Thiết tìm mọi cách để thu hồi bằng của Quang Thiện.

Thiện bị tạm thu bằng để học và thi lại cho đủ môn . Đến đây, vụ lình sình làm dậy sóng làng báo. Nắm lấy sự kiện này, Đỗ Thiết dùng báo chí và đơn thư ép  cấp trên phải thu hồi quyết định đề bạt Phó giám đốc của Quang Thiện với lí sự: Tạm thu có nghĩa là bằng không hợp pháp. Có bằng đại học mới được thi nâng ngạch công chức và được học cao cấp chính trị. Có bằng Đại học, có bằng cao cấp chính trị mới được đề bạt Phó giám đốc. Vây thu bằng đại học thì phải thu hồi các bằng và quyết định bổ nhiệm. Có nghĩa là “ lột sạch”,  “Cho mày chân đất về quê”.

Nguyễn An, một tên tuổi lẫy lừng chuyên khui các đại án đại quan tham vào cuộc. Ông đã “giữa đường thấy sự bất bình” nhảy ra với chứng cứ đầy sức thuyết phục trí trự xuất sắc, ông đã chỉ ra những sai luật, bất chấp luật của gã Phó chánh thanh tra, những sơ suất và cả khuất tất chấm hỏi [?] về động cơ của gã. Bài báo tác động mạnh khiến Bộ GD ĐT phải xử lý kịp thời và Bí thư Hoàng Minh vẫn tiến hành bổ nhiệm Phó đài cho Phạm Quang Thiện. Nhưng nọc độc của chữ nghĩa đã phát tác gây sốc cho ông Khiêm, bố của Thiện ở bài Học mập mờ vơ chức vụ thật. Khổ thân ông Khiêm, một lão nông hồn nhiên, với ông cứ báo đài nói là sự thật. Ông Khiêm phải nằm viện lâu, khi nhúc nhắc đỡ, đã được đưa về nhà thì lại xuất hiện bài báo thứ hai. Bài báo đã khiến ông ra đi trong phẫn uất về thằng con trai ông hằng tin cậy. Những trang viết về cái chết oan ức của ông Khiêm, cả những trang viết về nhà báo Nguyễn An sau cuộc chiến báo chí kết thúc, ông đã lẳng lặng mang tất cả những báo có bài nói rõ sự thật về quê Thiện, rải kín báo trên ngôi mộ ông Khiêm, cất lời khấn anh linh ông hãy đọc để hiểu rõ về đứa con mà ông đặt tên là Thiện. Rồi hóa. Đó là những trang viết về mặt bất nhân của ngòi bút, không chỉ nhắc nhở các nhà báo, các nhà văn cũng rất nên cẩn thận với chữ nghĩa của mình; chữ nghĩa có nọc độc, không thể dùng tùy tiện. Và đó là những trang hay của tiểu thuyết Sóng độc, hào sảng, nghĩa hiệp.

Những trang viết về bài báo tố Thiện không có bằng Tốt nghiệp THPT và các tình tiết quanh nó cũng hay. CLB Lá Mơ yên trí rằng sau hơn 20 năm, mấy ai còn giữ bằng tốt nghiệp cấp 3, chúng đã tính đây là đòn chết tử. Đến Thiện cũng đinh ninh bằng đã mất. Nhưng vật gần như không biết còn để làm gì, lại là một giá trị mang ý nghĩa thiêng liêng với những người cha như ông Khiêm – người cha coi thành tựu học hành công tác của con cháu là tất cả ý nghĩa đời mình. Việc còn tấm bằng cất kỹ cùng Học bạ và các giấy tờ liên quan khác của Thiện mang một ẩn dụ sâu xa, nó lâu bền, gần như bất tử với các trò nhố nhăng hiện đang gây điên đảo xã hội.

Sóng độc là tiểu thuyết hấp dẫn, có thể đọc một mạch. Trước hết nhờ tính logic của các tình huống, các diễn biến tâm lý, các câu thoại và phản ứng giữa các nhân vật âm mưu hãm hại nhau. Tất cả đều thật. Tôi đặc biệt thú vị các lời thoại, nhân vật nào nói cũng là lời của nó; nó không thành mặt nạ nói lời tác giả hay những điều lớn lao tác giả muốn chuyển đến bạn đọc như nhiều tiểu thuyết gia đã và đang sai khiến chúng. Các nhân vật quan chức nói năng ý nhị, đầy lập trường, nguyên tắc. Các quan chức xấu cũng vậy, cũng ý nhị, đầy lập trường nguyên tắc khi đụng đến các âm mưu, đụng đến tiền hối lộ, mua chuộc. Đấy cũng là lợi thế của tác giả, các nhân vật quan chức cả tốt xấu đều là mối quan hệ hằng ngày với tác giả. Nhờ tính chân thực của ngôn ngữ nhân vật, cuộc giải phẫu căn bệnh thời đại của Sóng độc đạt đến độ tinh tế, thấu đáo.

Cố nhiên, nếu viết một cuốn tiểu thuyết chỉ nhằm phơi bày cái xấu, khối ung nhọt của thời thế thì vẫn chỉ là văn chương hạng hai. Đóng góp của Sóng độc ở chỗ khác và nền tảng hơn. Ấy là đọc xong nó, tôi liên tưởng đến cái “chính thể đáng ghét” nhưng lại chọn ra những Lincoln, Franklin Roosevelt và John Kennedy làm Tổng thống Hoa Kỳ. Ấy là khi gập sách lại, tôi bâng khuâng nghĩ: Nếu ông Văn Đức, ông Trần Thụy cứ đưa Trưởng ban Phạm Quang Thiện lên thẳng Giám đốc Đài Bắc Hà và nếu các ông Hoàng Minh, Hoàng Vĩnh Quyền, Trịnh Nhuệ cứ thấy phải là làm thì sao nhỉ? Thì hẳn sẽ không có căn bệnh thời đại này và xã hội sẽ văn minh hơn, thẳng tiến hơn. Nhưng, với các ông ấy quy trình vẫn phải giữ, nên vẫn cần những cuốn tiểu thuyết kiểu như Sóng độc này, để giải phẫu những căn bệnh sinh ra từ quy trình và được nó cũng như được các thuộc tính xấu của con người nuôi dưỡ

30/9/2022
Văn Chinh
Theo https://vanvn.vn/

 

Đỗ Anh Vũ chuyển soạn tác phẩm văn học bằng thơ

Việc chuyển thể các loại hình nghệ thuật không phải là một hiện tượng mới nhưng tác động của nó đến sự tiếp nhận văn học và lan tỏa chất lượng của tác phẩm là một điều khá rõ ràng. Từ những văn bản chuyển soạn bằng thơ của Tiến sĩ – thi sĩ Đỗ Anh Vũ, các nhà giáo dục học nói chung và người giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng chắc chắn đã phần nào tìm ra được một hướng tiếp cận văn bản tự nhiên, thú vị mà cực kì hấp dẫn. Người học các tác phẩm nguyên tác có thể tiếp tục có những hình thức chuyển thể khác để tác phẩm văn học tỏa rộng trong đời sống xã hội.

Gần đây, một số tác phẩm văn học nổi tiếng như ”Vợ chồng A Phủ”, “Chí Phèo”, “Vợ nhặt”, “Hai đứa trẻ”, “Rừng xà nu”… được TS – thi sĩ Đỗ Anh Vũ chuyển soạn thành thơ. Điều này đã tạo ra những ấn tượng trong lòng công chúng đặc biệt là đối với giáo viên dạy Ngữ văn. Những ấn tượng này xuất phất từ những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, lần đầu tiên những tác phẩm văn học kinh điển được giảng dạy trong nhà trường phổ thông đã được chuyển soạn bằng thể thơ truyền thống: lục bát hoặc song thất lục bát. Đây là những văn bản chuyển soạn được viết bằng một thứ ngôn ngữ uyển chuyển, tinh tế chứ không phải chỉ là dạng thơ gieo lấy vần lấy điệu (điều mà nhà chuyển soạn dễ mắc phải khi chuyển soạn nguyên tác). Tất nhiên, vì là chuyển soạn trên cơ sở nguyên tác nên cũng sẽ có đâu đó những đoạn, những câu chỉ thuần là “thơ gieo vần”. Dưới đây là một đoạn chuyển soạn rất hay về tác phẩm “Chí Phèo”

“Bây giờ không trẻ không già/ Chí Phèo là quỷ, là ma, là người?!/ Bao lần ăn vạ kêu trời/ Bao lần đâm chém tả tơi trong làng/ Cơn say tràn ngập mênh mang/ Bao nhiêu cơ nghiệp tan hoang cũng đành”

Đây là đoạn chuyển soạn trên cơ sở nguyên tác nói về sự tha hóa của Chí Phèo khi trở thành tay sai của cụ Bá. Vừa bám sát nguyên tác lại vừa có sự phóng túng trong ngôn ngữ khi thể hiện “sự tác quái” của Chí Phèo. Các biện pháp như điệp ngữ, câu hỏi tu từ đã được Đỗ Anh Vũ sử dụng khá tự nhiên, tài tình trong mạch kể chuyện.

Còn đây là những câu thơ về tác phẩm “Hai đứa trẻ”:

“Biết bao nhiêu sự xa xôi/ Những gì lắng lại đầy vơi trong hồn/ Giống như một chiếc đèn con/ Chỉ còn chiếu được một vùng nhỏ nhoi/ Mắt Liên cũng nặng dần rồi/ Ngập vào giấc ngủ đầy vơi âm thầm/ Như đêm trong phố lặng câm”/Chỉ còn bóng tối tịch trầm vây quanh…”

Đây là đoạn chuyển soạn trên cơ sở những câu văn cuối cùng trong nguyên tác “Rồi Liên đến bên em nằm xuống. Chị gối đầu lên tay nhắm mắt lại. Những cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên và hình ảnh của thế giới quanh mình mờ đi trong mắt chị. Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Nhưng Liên không nghĩ được lâu; mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối”. Rõ ràng, vì là chuyển soạn bằng thơ, một dạng thể loại khác biệt so với truyện nên mạch chuyển soạn sẽ có những khác biệt. Đặc biệt, tính trữ tình trong thơ cũng được làm rõ qua những câu thơ thấm đẫm hương vị của nhân vật trữ tình. Các từ ngữ trong đoạn thơ cũng được Đỗ Anh Vũ chọn lọc khá cặn kẽ như đầy vơi, lặng câm, tịch trầm… Những từ ngữ này có thể không xuất hiện trong truyện nhưng đã mang được “hồn” của truyện.

Thứ hai, sự thú vị trong các bài thơ chuyển soạn của Đỗ Anh Vũ còn bắt nguồn từ ngôn ngữ hóm hỉnh, vui đùa, luôn để lại trong lòng người đọc một nụ cười. Ngôn ngữ này có thể là những từ khẩu ngữ hoặc cũng có thể là những từ có khả năng biểu cảm “rất Đỗ Anh Vũ”. Thông thường những đoạn thơ kể theo mạch truyện chứa đựng ngôn ngữ đối thoại của nhân vật thể hiện rõ sự hóm hình và thú vị này. Thí dụ: “Làm gì thế, xin chào cô bé!/ Liên biết rồi, đúng nhẽ cụ Thi/ Hơi điên một tí tì ti/ Thường sang mua rượu tì tì uống luôn/ Một hơi cạn sạch, cười giòn/ Trả tiền, lảo đảo bước bon ra ngoài”- (Hai đứa trẻ)

Hay: Án tù chỉ mấy năm thôi/ Hắn đi một mạch xa khơi tít mù/ Tám năm sau bỗng lù lù/ Lần về làng cũ, bước vô lạ lùng”–  (Chí Phèo)

Thứ ba, sự chuyển soạn từ truyện sang thơ ở trường hợp Đỗ Anh Vũ nằm trong hệ thống chuyển thể các loại hình nghệ thuật nói chung, xét trong bản thân nó đã rất thú vị. Thú vị hơn khi sự chuyển thể ở đây là sự chuyển thể sang một thể loại văn học có vần điệu, có nhạc tính cho nên người đọc dễ nhớ, dễ thuộc. Nhờ đó, giáo viên Ngữ văn có thể đa dạng hóa phương pháp tiếp cận văn bản khi giảng dạy cụ thể là thực hiện công việc tóm tắt văn bản bằng thơ. Cùng với đó, học sinh học tập môn Ngữ văn sẽ cảm thấy việc tóm tắt văn bản trở nên nhẹ nhàng hơn, thú vị hơn, gián tiếp thúc đẩy hoạt động đọc hiểu văn bản.

Hiện tượng chuyển thể các loại hình nghệ thuật không phải là một hiện tượng mới nhưng tác động của nó đến sự tiếp nhận văn học và lan tỏa chất lượng của tác phẩm là một điều khá rõ ràng. Từ những văn bản chuyển soạn bằng thơ của TS, thi sĩ Đỗ Anh Vũ, các nhà giáo dục học nói chung và người giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng chắc chắn đã phần nào tìm ra được một hướng tiếp cận văn bản tự nhiên, thú vị mà cực kì hấp dẫn. Người học các tác phẩm nguyên tác có thể tiếp tục có những hình thức chuyển thể khác để tác phẩm văn học tỏa rộng trong đời sống xã hội.

1/10/2022
Lê Thị Thùy Vinh
Theo https://vanvn.vn/

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

"Mật mã" mối tình Phạm Thái - Quỳnh Như

"Mật mã" mối tình
Phạm Thái - Quỳnh Như

Trước nay, ta vẫn biết đến cuộc tình nổi tiếng trong thời trung đại là mối tình giữa thi sĩ Phạm Thái và nàng Trương Quỳnh Như qua bài văn tế nổi tiếng mà Phạm Thái viết cho người yêu, rồi ngày nay được đưa vào sách giáo khoa để dạy học trò.
Quỳnh Như tự vẫn, nhìn từ con mắt ngày nay, chắc cũng không khác lắm cái chết vì tình của Julliet. Khác biệt ở chỗ, Julliet là một nhân vật trong kịch của Shakespears, còn Quỳnh Như thì… chết thật. Nghĩa là nàng “chết như tiểu thuyết”, nói thế thì quá nhẹ, đúng ra phải nói là nàng đã dùng cả tính mạng của mình để đặt cược cho tình yêu. Trong thế giới Nho giáo, vợ tự tử vì chồng thì nhiều, nhưng tự tử vì người yêu thì chỉ có một Quỳnh Như mà thôi, và để đáp lại nàng, Phạm Thái đã không lấy vợ, ông có lẽ cũng là hạng đàn ông hiếm hoi “chung thủy” với người yêu, cho đến tận cái chết. Hơn thế nữa, tôi cho rằng, ông cũng đã dùng rượu để hủy hoại bản thân mình để nhanh về với cõi của người yêu.
Ai là ai? Tài tử gặp giai nhân
Trước tiên ta cần biết rằng, cả Phạm Thái và Quỳnh Như đều là hai nhân vật lịch sử có thật. Phạm Thái sinh năm 1777 trong gia đình họ Phạm, lá số tử vi như ông tự xem, là có tướng khôi khoa hiển hoạn, tài năng hơn người. Cha ông là Trạch Trung hầu một bề tôi của nhà Lê Trịnh. Trong khi đó Quỳnh Như là em gái của Trương Đăng Thụ- một vị quan của nhà Lê, và hai người có một người cha cực nổi tiếng khi đó là Tiến sĩ Trương Đăng Quỹ, người Thanh Nê (Thái Bình).
Khi quân Tây Sơn ra bắc, xã hội động loạn. Bố Phạm Thái mất khi theo vua Lê. Phạm Thái quyết trả nợ nước thù nhà, đi theo phong trào Cần vương, phò Lê phục quốc. Ông từng bị truy sát, phải cải trang làm sư, lấy hiệu là Phổ Chiêu thiền sư tu ở chùa Tiêu. Đội lốt nhà sư, ông lên tận Lạng Sơn gặp đồng chí là Trương Đăng Thụ để kết nối. Đến khi Thụ mất, ông về viếng bạn tận nhà ở Thanh Nê (khoảng năm 1802). Ở đây, ông gặp cụ Trương Đăng Quỹ, được cụ mến tài, lưu lại làm môn khách, và sinh hoạt trong thi xã nhà ông. Chính trong thi xã này, Phạm Thái xướng họa hợp ý với Quỳnh Như, và phát hiện ra việc nàng cải trang nam nhân để bình văn học sách. Hai người mến cảm tài năng của nhau, và có qua lại. Phạm Thái gặp được duyên lành, bèn soạn “Sơ kính tân trang” để tặng người yêu. Trương Đăng Quỹ thấy đôi trẻ hợp ý, cũng muốn tác thành. Nhưng, mẹ của Quỳnh Như chê Phạm Thái bơ vơ, nghèo khó, hứa gả Quỳnh Như cho người khác. Quỳnh Như cự tuyệt không được, bèn tự vẫn, để nguyện bảo vệ tình yêu của mình.
Từ “dâm thư” đến cuộc tình như sách vở
Trước nay mọi người thường chỉ biết qua về mối tình Phạm Thái – Quỳnh Như qua cái chết của nàng Quỳnh, mà không mấy ai biết đến mối tình ấy cụ thể ra sao. Trong bài biết này, tôi cho rằng, cả Phạm Thái và Quỳnh Như đã “cảm nhau”, đến với nhau vì họ đã đọc và học theo một dòng sách thị dân đương thời về tình yêu đôi lứa. Dòng sách này vẫn thường bị các nhà Nho gọi là “dâm thư” (sách không chính đáng), với những cuốn tiêu biểu như là “Phan Trần”, “Ngọc Trâm kí”, “Trương Vu Hồ truyện”,…
Trong đó truyện Phan Trần là một văn bản đã được dịch ra cả chữ Nôm ở Việt Nam. Truyện này kể việc nho sinh Phan Tất Chính tán đổ ni cô Diệu Thường (Trần Kiều Liên) ngay dưới mái chùa, hai người say nhau đến mức: “Ngày người đất Bụt, đêm người động Tiên”. Để hợp lý hóa cuộc tình vụng trộm, tác giả đã khéo léo đưa chi tiết “trâm ngọc- hai người trao nhau vật hứa hôn” của hai bên gia đình trước khi hai người ngủ với nhau.
Chi tiết “trâm ngọc” này sau đó cũng dùng để chính danh “cái thai” trong bụng của Diệu Thường, và cũng là chứng cứ thoát tội “dâm ô tiền hôn nhân” của cả hai người. Trong thời cổ, người ta coi “vật hứa hôn” của hai bên cha mẹ như là một biểu tượng hợp thức về mặt pháp lý và đạo đức cho các cặp trai gái. Nên, trong “Phan Trần” và nhiều dâm thư khác, vật hứa hôn thường xuyên xuất hiện nhằm “siêu chỉnh” cho những hành vi vượt ngoài lễ giáo. “Đọc vị” được thủ pháp “lách luật” này, các nhà Nho vẫn cực lực lên án những cuốn dâm thư như “Phan Trần”: “đàn ông chớ đọc Phan Trần, đàn bà chớ đọc Thúy Vân – Thúy Kiều.”
Vậy “Sơ kính tân trang” – cuốn tự truyện tình yêu của Phạm Thái đã có những điểm nào giống với “Phan Trần”? Thứ nhất, “Sơ kính tân trang” dựng việc hai bên gia đình Trương – Phạm có hôn ước với nhau. Trong khi đó, từ góc độ lịch sử, ta biết Phạm Thái là bạn của Trương Đăng Thụ- anh của Quỳnh Như. Bố Phạm Thái và Trương Đăng Quế không có quen biết, và có ước hẹn với nhau. Việc “Sơ kính tân trang” lấy gương- lược làm vật ước giữa hai họ Phạm- Trương thực chất là mô phỏng vật ước quạt ngà – trâm ngọc trong “Phan Trần”: “Muốn cho vẹn nghĩa kim lan / Quạt trâm phải định Trần- Phan một lời”. Như vậy, Phạm Thái đã phát biểu hiển ngôn, khi nêu đích danh hai họ Trần – Phan trong sách Phan Trần. Điểm giống thứ hai, nàng Quỳnh Thư trong “Sơ kính tân trang” được mô tả xinh đẹp, nết na, giỏi thơ văn, sành âm điệu giống như nàng Diệu Thường trong “Phan Trần” và “Cổ kim nữ sử”.
Truyện này ghi nàng Diệu Thường ngoài 20 tuổi ở chùa Nữ Trinh, nhan sắc tuyệt trần, giỏi thơ văn, âm luật, biết cả cầm kì thi họa. Còn nam nhân vật chính của cả hai truyện thì là Nho sinh. Như thế, cặp nhân vật chính trong “Sơ kính tân trang” được xây dựng theo giống như truyện “Phan Trần”. Nhưng “Phan Trần” là truyện, còn Phạm Thái và Quỳnh Như là thật, tài tử giai nhân gặp nhau, cảm mến nhau là chuyện thường tình. Điều này cho thấy, “Phan Trần” có sức ảnh hưởng tích cực đến chuyện tình của Phạm Thái và Quỳnh Như.
Dấu vết của cuộc tình
Ngoài hai chi tiết trên, tôi còn phát hiện ra một cứ liệu vô cùng thú vị khác, đó là dấu vết của “Trương Vu Hồ” truyện đối với Phạm Thái và Quỳnh Thư. Như trên đã nói, truyện “Phan Trần” là một bản diễn Nôm ở Việt Nam vào thế kỷ 18-19 ở Việt Nam từ nguyên tác Ngọc Trâm ký viết bằng Hán văn. Bản thân tác phẩm Hán văn này cũng có nhiều dị bản khác nhau, trong đó bản “Trương Vu Hồ” truyện chỉ có bản Hán mà chưa từng được dịch sang tiếng Việt. Thế nhưng, “Sơ kính tân trang” có những dấu vết rõ rệt cho thấy các tác giả (Phạm Thái, Quỳnh Như) đã đọc trực tiếp bản Hán văn “Trương Vu Hồ truyện” mà không phải qua bản Nôm.
Nếu trong “Trương Vu Hồ truyện”, Tất Chính phát hiện ra tài năng và tâm hồn thi ca của Diệu Thường qua bài từ điệu “Tây Giang nguyệt”, thì trong “Sơ kính tân trang”, chàng Phạm và nàng Trương cũng dùng điệu “Tây Giang nguyệt” (trong khi “Phan Trần” chỉ dùng thơ lục bát và Đường luật). Nếu như, “Sơ kính tân trang” là cuốn tự truyện về chuyện tình của Phạm Thái – Quỳnh Như, được làm để tặng cho Quỳnh Như, thì có khả năng, Phạm Thái đã bảo lưu nguyên trạng hai tác phẩm xướng họa thực tế của hai người. Đó được coi như là nguyên nhân để hai người liên tài, cảm mến và đến với nhau, đó là dấu hiệu để hai người cùng nhận ra cái “nòi tình trong nhau”. Tây giang nguyệt chính là tín hiệu để hai người cùng nhận ra cái sở trường văn chương và tâm hồn luôn hướng đến tình yêu như trong sách vở.
Bài thứ nhất như sau:
Oanh yến véo von gọi khách,
Cỏ hoa hớn hở mừng ai.
Gió xuân hây hẩy giục đưa người,
Dễ khiến lòng thơ bối rối.
Thấp thoáng thoi oanh dệt liễu,
Thung thăng phấn bướm dồi mai.
Vũ Lăng xa diễn biết bao vời,
Khôn hỏi Đào Nguyên đâu tá!
Bài này do họ Phạm gửi tới trước để ngỏ lời. Vì không rõ người nhận tình ý thế nào, nên lời lẽ bài này cực tinh tế. Chim oanh chim yến hót véo von là biểu thị tin lành, hoa cỏ hớn hở mừng xuân. Hai chữ “khách” và “ai” ở cuối câu là rất vu vơ, nhưng thực ra là nhắm đến cái người nhận: ai là ai mà khách cũng là ai. Rồi những tín hiệu được đưa ra rất nhẹ nhàng: “thoi oanh dệt liễu”, “Phấn bướm dồi mai”, đều là các tín hiệu của mùa xuân. Làm tiền đề cho câu kết ở dạng nghi vấn: Đào Nguyên ở chốn nào? Chữ Đào Nguyên là lưỡng nghĩa, nếu là nhà Nho thì nghĩ rằng đó là cảnh giới lý tưởng trong thơ Đào Uyên Minh, còn nếu là người mơ mộng thì lại nghĩ ngay đến điển Lưu – Nguyễn nhập Thiên Thai gặp được tiên trong thơ Đường. Tức là, Phạm Thái đã dùng một từ có hai lớp nghĩa để ngụy trang tình ý, khiến cho sự ướm hỏi rất tinh tế và lịch sự. Và khi Quỳnh Như bắt được sóng, thì đã đáp lại bằng bài từ đúng điệu:
Im ỉm màn sương đợi khách,
Thênh thênh cửa nguyệt chờ ai.
Giai nhân tài tử mấy lăm người,
Trạnh tưởng tâm tình thêm bối rối.
Phơi phới gió lay chồi liễu,
Phau phau tuyết điểm cành mai.
Non cao chất ngất bể xa vời,
Ai biết Bồng Doanh chăng tá?
Bài trả lời còn hơn cả một lời đồng ý. Màn sương tuy đóng im ỉm, nhưng thực tế là “đang đợi khách”, cửa trăng thênh thênh mở ra như là đang chờ ai. Tín hiệu đã quá rõ ràng rồi. Bài trên hỏi khách, hỏi ai, thì bài đáp nói rõ khách đó ai đó hãy đến mà gõ cửa thưởng trăng. Bởi cả thế giới này đang đợi người rồi. Bởi nhẽ, đọc văn ra người, Quỳnh Như phát biểu rõ ràng rằng: đời này tài tử giai nhân có được bao nhiêu người đâu, nên tâm tình người gửi dù là bối rối xao động đấy, nhưng cũng làm cho người đọc xốn xang. Nếu trong thơ chàng là “thấp thoáng”, thì trong thơ nàng là “phơi phới”. Nếu chàng e ấp tỏ tình, thì nàng hân hoan đáp lại. Nếu chàng ý nhị nói nước đôi về chốn Đào Nguyên, thì nàng chỉ rõ một chốn Bồng Lai tiên cảnh.
Có thể nói, “Sơ kính tân trang” là cuốn tự truyện tình yêu, phần đầu của nó sáng tác ngay trong năm 1804, và được Phạm Thái dùng để tặng cho người yêu. Trong đó, “mật mã” tình yêu chính là điệu Tây Giang Nguyệt trong sách “Trương Vu Hồ truyện”. Nhưng đời không như là truyện, không môn đăng cũng chẳng hộ đối, nàng Quỳnh tìm đến cái chết để bảo toàn tình yêu đầu đời, và cuộc tình ấy đã đi vào thiên thu với hàng hàng tình lệ mà Phạm Thái đã để lại trong văn thơ Nôm của ông.
1/10/2022
Trần Trọng Dương
Theo https://vanvn.vn/

Sự nhập cuộc của một nhà thơ lão thành qua trường ca Corona

Sự nhập cuộc của một nhà
thơ lão thành qua trường ca Corona

Từ Chùm thương nhớ (1999), Tìm xưa (2000), Không gian em (2005), Nắng trầm tư (2008), Chiếc cằm nũng đôi (2013), Hai vệt nắng chiều (2018), trường ca Đếm lại bước chân mình (2020), đến trường ca Corona (2002), Xuân Trường có một hành trình thơ mà sự nồng đượm với tình yêu thơ ca, tình yêu con người và cuộc sống tỉ lệ thuận với bước chân tăng tốc…
Bây giờ, nhìn lại các thời điểm từ đại dịch Covid 19 khởi phát qua các thời đoạn tập trung chống dịch, nới lỏng giãn cách xã hội, bùng phát trở lại, những tháng ngày đỉnh điểm trước khi trở lại trạng thái bình thường mới, nhiều người không khỏi rùng mình. Đại dịch Covid- 19 là đại dịch toàn cầu, đã đưa Việt Nam và cả thế giới vào những thay đổi ứng biến từ ý thức đến hành động, từ cách thức tổ chức đến lối sống tương thích, đầy gian nan thương khó để đương đầu và vượt qua. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, hằng ngày, hằng giờ cập nhật các tin tức về đại dịch từ thôn bản đến xã phường, từ quận huyện đến tỉnh thành, trong nước và quốc tế.
Đối với TP Hồ Chí Minh- xứ sở đặc thù của sự hội tụ cư dân tứ chiếng học tập, làm ăn, giao hảo, lại thường là nơi đi đầu trong công việc thiện nguyện với các vùng khó khăn của cả nước- trong hoàn cảnh này, cả nước cũng đồng lòng thể hiện sự quan tâm đặc biệt. Quãng thời gian đó của của những người đồng hành với cuộc chiến chống dịch trên nhiều vai trò khác nhau từ khu vực hành chính công đến các doanh nghiệp, từ y bác sĩ đến tình nguyện viên, từ lực lượng vũ trang đến dân sự, từ cán bộ đến nhân dân qua các làn sóng đương đầu đại dịch, đến lần thứ 4, biến chủng Delta với tốc độ lây lan nhanh khiến thành phố phải liên tục thay đổi chiến lược phòng chống dịch, hẳn chưa phai trong ký ức. Hình ảnh, bóng dáng của các đợt cách ly, giăng dây, tem phiếu, đi chợ hộ, hành trình chở F0 đi điều trị; tang lễ lặng lẽ diễn ra trong đại dịch; cuộc tầm soát Covid-19 quy mô lớn nhất; đêm trực căng thẳng tại bệnh viện dã chiến; những lương tâm đặt cao cùng trách nhiệm, những cưu mang của tình người…vẫn còn in đậm trong những con chữ, những khuôn hình, những thước phim, những bức tranh, nét nhạc…
Nhà thơ Xuân Trường đã trải qua những tháng ngày dữ dội ấy ở trung tâm TP Hồ Chí Minh, và điều đáng trân trọng ở ngòi bút này là trên cương vị tuổi lão thành mà vẫn luôn nhiệt tâm và năng động hết mình, như tính cách của thành phố ông cư ngụ. Ông ý thức một cách sâu sắc trách nhiệm của người cầm bút và thực hiện như một sứ mệnh tiên phong: “Ẩn số không lời giải/ Không viết gì cho hôm nay/ Là thiếu sót cho mai sau, vì thơ văn có tính thời sự riêng của nó/ Những ý này xuất hiện trên tờ Think China. Và lan tỏa sang Hồng Kông, văn chương đã vào cuộc, mạnh miệng nhanh tay…bao lần”. Trong cảnh huống điểm mặt gốc gác của con virus gây ra “Những cái chết nhanh gây nhiều hoang mang ở Vũ Hán/ Thế giới báo hiệu- bắt đầu thêm một cuộc lầm than”, ông không thể không thốt lời kêu gọi những đồng nghiệp: “Những ngòi bút thế giới các bạn đang ở đâu/ Hãy vẽ bức tranh đau thương trên mặt địa cầu/ Từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc trên quê hương các bạn/ Bởi vì đại dịch rồi đây còn biết bao điều phải nói cho mai sau/ Và nhân loại sẽ còn vượt qua bao nhiêu nỗi đau”.
Ý thức nhập cuộc luôn thường trực trong tư duy Xuân Trường với những câu hỏi mang tầm khái quát: “Thế giới mỗi ngày, mỗi ngày/ Thêm bao hiểm họa/ Trái đất nóng lên môi trường nghiệt ngã/ Sự tồn tại của loài người tính đến mong manh/ Bao giờ trời lại xanh”.  Nhiều hình ảnh vì cộng đồng rất đẹp qua Trường ca Corona của Xuân Trường là hình ảnh những từ “thiên thần áo trắng”: “Thương những bác sĩ thần tốc ba lô lên đường từ Hải Phòng- Hà Nội- Sài Gòn/ Sẽ cứu nguy cho Đà Nẵng thân yêu/ Cho Bắc Giang cho Hải Dương những nơi dịch bùng phát/ Ơi ngành Y Việt Nam hôm nay những đôi vai nặng trĩu” đến những anh bộ đội: “Bộ đội lăn xả giúp dân tiếp tế thực phẩm vào các khu phong tỏa/ Ôi tình thương diệu kỳ/ Những gian truân thử thách/ Cũng vô cùng thập tử nhất sinh”.
Nhà thơ Xuân Trường đặc biệt ý thức và dành tình cảm cho người lính, qua tình cảm với người lính ngày đêm canh giữ biển trời, ông cảnh báo những hiểm họa cố hữu và tàn khốc hơn cả đại dịch: “Thương những chiến sĩ ở đảo xa mắt chong chừng/ Virus xâm lấn chủ quyền còn nguy hiểm hơn Corona/ Với đôi tay dài từng ngày vươn tới mộng xa/ Giấc mộng hoang đường lưỡi bò chín đoạn”. Giữa cuộc quyết liệt chống dịch, ông lắng lòng tìm thấy những chi tiết cảm động lung linh của đời sống thường nhật: “Thương nhân dân tôi không còn những tháng ngày yên ả/ Cũng có tiền tuyến, hậu phương thâm tình đến lạ/ Có một anh xe thồ từ chối không nhận tiền công/ Khi biết người mình chở đi là một bác sĩ”.
Trường ca Corona có tầm vóc phản ánh trên diện rộng, nhưng hình ảnh thành phố nơi cư ngụ hiện thời của tác giả, ông đã gửi lại những tâm tình thống thiết của một thi sĩ lão thành: ” Ôi Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh đã gồng mình lên trong những ngày chống dịch/ Lịch sử ba trăm năm có lẽ đây là đỉnh điểm những thăng trầm/ …Tôi sẽ không bỏ Sài Gòn mà đi, bởi Sài Gòn đã nuôi tôi từ những ngày tay trắng/ Dẫu có chết ở nơi đây vì dịch, tôi cũng chẳng trách móc gì”. Với tư cách một công dân thường trú, hơn nữa, một trái tim thi sĩ giàu nghĩa tình và dạt dào cảm xúc, ông nói lời “tri ân của trái tim Sài Gòn”: ” Sài Gòn xin cúi đầu tri ân những dũng sĩ những thiên thần/ Xin thắt lòng trước phút giây tưởng niệm/ Những trái tim đã hy sinh trọn vẹn cho Sài Gòn… Có giấy bút nào viết cho hết công lao/ Mỗi phút lại đầy thêm tấm lòng bác ái”.
Trong một trường ca 9 chương với trăm trang, mục đích phản ánh những khốc liệt và thăng trầm của đại dịch “Viết lên trời xuống đất những thét gào của nhân gian” để tìm tới không khí thanh thản của đời sông bình thường, Xuân Trường không ngại lặn lội giữa một rừng tin tức, bình luận thông tấn hằng ngày và chắt lọc từ đó những “hồng cầu thời sự” để tăng mạch đập cho ngôn ngữ thơ dồn dập khẩn trương băng qua một hiện thực nước sôi lửa bỏng, những câu hỏi dường như ẩn chứa trong đó câu trả lời. Tinh thần nhập cuộc và dấn thân là tinh thần xã hội đặt ra và đòi hỏi giới văn học nghệ thuật, trên những vấn đề trọng đại và nóng bỏng của đời sống dân tộc, đất nước.
Nhà thơ Xuân Trường đã tự nguyện hướng thế giới quan của mình vào đề tài Corona với chủ điểm cảnh báo những mưu toan quốc tế, những bành trướng, tham vọng bá chủ, tàn sát môi sinh, gieo rắc những tai ương cho nhân loại. Với quyết tâm ấy, nhà thơ tỏ rõ thái độ, từ việc chỉ tên xuất xứ virus đến những nhân danh khác trên chính trường các cường quốc trong các cuộc giành giật lợi ích bè phái cục bộ, hoặc cuộc lợi dụng xương máu của nhân dân và sản nghiệp của quốc gia để trục lợi, nấp sau những lời lẽ mị dân hào nhoáng nhằm đi ngược giá trị chân thiện mỹ của loài người… Với tâm thế đó, ông được sự đồng cảm và khích lệ của nhiều đồng nghiệp, đầu tiên là những nhà thơ đang đảm đương những trọng trách ở tổ chức Hội Nhà văn, từ lúc Trường ca Corona còn ở dạng bản thảo: “Nhà thơ Xuân Trường dựng lên cuộc truy tìm nguồn gốc Covid-19 nhưng là để truy tìm nguồn gốc của sự phát sinh ra cái Ác của con người” (Vaccine của lòng nhân ái- Nguyễn Quang Thiều); “Nhà thơ Xuân Trường biết cách gieo cấy suy tư nóng bỏng vào dặm dài hoang mang dịch bệnh” (Viết lên trời lời nguyện cầu thế kỷ- Lê Thiếu Nhơn).
Từ những năm bản lề thế kỷ XX vắt qua XXI đến nay, Xuân Trường chứng tỏ bằng sự nhiệt thành và sung sức của một cây bút với bản lĩnh nói theo ngôn ngữ dân gian là “gừng càng già càng cay”. Từ Chùm thương nhớ (1999), Tìm xưa (2000), Không gian em (2005), Nắng trầm tư (2008), Chiếc cằm nũng đôi (2013), Hai vệt nắng chiều (2018), trường ca Đếm lại bước chân mình (2020), đến trường ca Corona (2002), Xuân Trường có một hành trình thơ mà sự nồng đượm với tình yêu thơ ca, tình yêu con người và cuộc sống tỉ lệ thuận với bước chân tăng tốc. Ông giao thiệp với các thế hệ, các khu vực sinh hoạt thơ ca như một người không có tuổi. Có lẽ điều đó sẽ góp chút hưng phấn, tương thích với khí chất của một nhà thơ không ngừng lặn lội vạn nẻo muôn màu của cõi trần ai, với tâm thế nhập cuộc.
2/10/2022
Nguyễn Thanh Mừng
Theo https://vanvn.vn/

Mỹ học Trạng Trình

Mỹ học Trạng Trình!

Ngôi nhà mỹ học Việt Nam hiện đại phải có nền móng là hệ thống những quan niệm về cái đẹp của cha ông thể hiện trong văn học dân gian, trong sáng tác của các tác gia lớn. Bài viết xin tìm hiểu trên nét lớn mỹ học Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), soi vào ngày hôm nay để thấy chúng ta còn phải học nhiều hơn từ truyền thống.
Trong “Tân quán ngụ hứng” (bài số 47, chữ Hán) Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm cái đẹp là cơ sở để đất nước hòa bình, phát triển: “Nghìn thứ hoa đua nhau vẻ đẹp, đất này cứ xuân mãi/ Hai vầng nhật nguyệt thay nhau chiếu dọi, vùng trời không có đêm/ Khi vui thì đem tâm mình mà dung hòa cảnh sắc ngoài chốn bụi bặm”.
Ngoài nghĩa đen, hình tượng hoa thiên về nghĩa ẩn dụ chỉ con người. Mỗi người một vẻ đẹp thì đất nước ắt là cả mùa xuân và mãi mãi xuân. Đặt trong quan niệm chung có thể hiểu “hai vầng nhật nguyệt” là đạo Nho và đạo Phật cùng soi sáng nhân quần. Đất nước thanh bình yên ả thì con người cũng vui, vui cả trong tâm tính, cả biểu hiện bên ngoài. Đây là cái nhìn mới gắn liền nghệ thuật với đời sống con người và xã hội. Cái đẹp vừa là cơ sở vừa là động lực cũng là mục đích của xã hội.
Chủ trương xây dựng một xã hội hài hòa hướng về cái đẹp Trạng Trình đề cao giáo dục đạo đức. Ở bài “Ngụ hứng” (số 4) có hai câu thể hiện rõ quan niệm này: “Huề hương hoa mãn kính/ Thực đức hạnh thành lâm” (Thoảng mùi thơm có hoa đầy luống/ Trồng cây đức hạnh thành rừng). Mỗi người là một “cây đức hạnh” cả xã hội thành “rừng” đức hạnh thì sẽ là một xã hội thịnh trị. Nhà thơ quan niệm xây dựng cái đẹp gắn với sự từ bi của đạo Phật: “Khai thì bất yếu tranh xuân sắc/ Chỉ yếu như như kiến Phật tâm – Hoa nở chẳng phải để tranh đua sắc xuân/ Cốt đạt đến vẻ chân như để thấy tâm Phật” (Ưu đàm hoa).
Xuất phát từ quan niệm cái đẹp không tĩnh tại mà trong thế phát triển nên ở thơ ông hay gặp hình ảnh cái đẹp đi cùng cái mới: “Vô hạn xuân phong hảo/ Kim niên thắng tích niên – Gió xuân hòa dịu vô cùng/ Năm nay đẹp hơn năm trước” (Trung tân quán ngụ hứng). Mỹ học Trạng Trình giản dị, chân quê nhưng luôn mới: “Tối ái ngư ông giang thượng địch/ Lạc mai nhất khúc lộng tân thanh – Đáng ưa nhất là tiếng sáo của ông chài trên sông/ Một khúc Lạc mai phổ vào điệu nhạc mới” (Ngụ hứng số 7). “Lạc mai” (hoa mai rụng) vốn là khúc hát cổ phương Đông phải được “phổ vào điệu nhạc mới”. Có thể hiểu với tác phẩm nghệ thuật thì nội dung có thể truyền thống nhưng phải được thể hiện bằng hình thức mới. Ý này có cả trong bài “Tích hoa”: “Nhất chi cựu thị nhất chi tân – Một cành cũ mà cũng là một cành mới”. Rất rõ một sự kế thừa tư tưởng mỹ học cái mới của Phật hoàng Trần Nhân Tông: Mỗi lần nêu là một lần mới!
Có cái gốc là mỹ học bình dân, gần dân nên thơ ông chuộng sự giản dị: “Văn tự tòng kim bất yếu công – Văn chương từ nay không cần trau chuốt” (Tự thuật 2). Hình tượng thơ mộc mạc dân giã: “Tạ khước hồng lâu tử mạch nhàn/ Nhậm tùy dã dật bạn khê san – Từ giã chốn lầu hồng, ngõ tía thanh nhàn/ Thích mọc ở đồng nội, bạn với suối khe” (Dã hoa thi), không ưa cái xảo: “Tự cổ xảo ngôn thành khả úy – Từ xưa lời khéo rất đáng sợ” (Bách thiệt thi). Thế nên nhà thơ tôn trọng bản thể tự nhiên của mình: “Nhàn lai ngô diệc lạc ngô thiên – Khi nhàn ta vui với tính tự nhiên của ta” (Ngụ hứng). Do vậy mà tránh xa cái lụy vật chất: “Lợi danh tự tiếu vi thân lụy – Danh lợi, tự cười đó là cái lụy cho thân mình” (Tân quán ngụ hứng 52). Nhiều lần ông nhắc đến chuyện rời bỏ danh lợi để về với suối khe mà vui cái thú lâm tuyền.
Xin nhấn mạnh một quan niệm mỹ học hiện đại (chưa thấy nhà nghiên cứu nào phân tích) ở Trạng Trình là sự thích nghi, điều mà ở ngày hôm nay, rất nên học tập: “Cự sương khai xứ tối nghi sương – Chống chọi với sương giá tốt nhất là thích nghi với sương giá” (Phù dung hoa thi).
Triết học liên văn hóa (The Intercultural Philosophy) của thế giới đương đại đang trong quá trình xác lập mô hình con người văn hóa trên cơ sở tích hợp nhiều nguồn văn hóa, bao gồm: tri thức, khoan dung, hòa đồng, tôn trọng cái đẹp tự nhiên, thấu hiểu và thấu cảm để gắn kết và gắn nối con người với con người, với tự nhiên, với xã hội… Thật ngạc nhiên và tự hào, những vấn đề ấy lại biểu hiện một cách tương đối đầy đủ và hệ thống trong mỹ học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Điều ấy cho thấy ông là con người của nhân loại, mang tầm văn hóa nhân loại, đi trước thời đại.
Là nhà Nho nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm học Phật, hiểu Phật, am hiểu sâu sắc Lão Trang, giỏi Dịch lý và phong thủy. Đó là các mạch nguồn tri thức để cây đại thụ Trạng Trình kết nên những trái cây tư tưởng “liên văn hóa” đích thực.
Bài “Trung Tân quán bi ký” mang tính tuyên ngôn: “Trung nghĩa là trung chính vậy. Giữ được toàn vẹn tính thiện của mình là trung, không giữ được toàn vẹn tính thiện của mình thì không phải là trung vậy. Tân tức là bến vậy. Biết chỗ dừng, đó là đúng bến; không biết chỗ dừng, thì là lạc bến vậy”.
Có thể hiểu“bến” là bến bờ Giác ngộ. Muốn cập bến Giác ngộ, phải có hiểu biết, còn không sẽ bị “lạc bến” mà trôi vào bể khổ của tham, sân, si… Đó sự tích hợp, tổng hòa rất đẹp của ba luồng tư tưởng lớn: Phật, Nho, Lão. Một biểu hiện của “tam giáo đồng nguyên” đặc sắc trong tư tưởng Việt Nam, góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt.
Nhà thơ hay nói đến chữ “nhàn”: “Nhàn trung tối lạc sơn tuyền thú – Trong đời nhàn vui nhất là thú rừng suối” (Tân quán ngụ hứng 27). “Nhàn” không phải là không làm gì mà là “nhàn tâm”, “nhàn” với vòng danh lợi. Một cuộc sống thoát tục về tinh thần nhưng vẫn ở giữa trần gian vui những thú vui trần thế và những lo toan trần thế. Thơ ông có rất nhiều chữ tĩnh, tĩnh để suy ngẫm, tĩnh để nhàn, tĩnh trong càn khôn trời đất, tĩnh trong lòng người… Tĩnh để hiểu lẽ trời: “Càn khôn tĩnh lý suy – Lẽ trời đất hiểu được từ trong yên lặng” (“Hựu thập nhị vận”). Ngày nay người ta kêu gọi “sống chậm”, muốn vậy phải có “tĩnh”, không gian “tĩnh” và “tâm tĩnh”. Trạng Trình đi trướcnhiều!
Như là hệ quả của “tĩnh” mà thơ ông có rất nhiều chữ “tri” tức sự tính toán để biết thời thế: “Đắc toán nhiêu đa thắng/ Tri cơ thẩm vạn tuyền – Tính toán đúng thì thừa thắng lợi/ Biết cơ ứng biến được vẹn toàn” (Quan kỳ cổ ý). Có “tri” mới biết được bản chất, nguồn cội vấn đề: “Chí tĩnh tri chân lạc/ Vô hà hiện đức âm – Thật yên lặng, nhìn rõ nguồn vui đích thực/ Không tì vết nào, đức tốt hiển hiện” (Thạch giả sơn). Có “tri” mới thành người “trí” để tiên tri (biết trước). Đây cũng là quan niệm của Hồ Chí Minh sau này khi gọi văn nghệ sĩ là các bậc tiên tri, tiên giác!
Muốn có “tri”, không cách nào khác là phải đọc nhiều sách: “Thi thư thiên quyển trợ nghiên tinh – Ngàn quyển sách giúp cho sự nghiền ngẫm đạt đến tinh vi” (“Minh song thi 2”). Con người lười học, xã hội lười học, tất cả sẽ sa vào sự hoang dại, hoang hóa: “Thánh học trăn vu cửu thất chân – Thánh học hoang vu sẽ mất đi sự chân xác” (Tân quán ngụ hứng 21). Nhờ “tĩnh” để có “tri”, có “tri” nên trọng “hòa”, do vậy mà chữ “hòa” cũng có mặt với tần số rất cao. Hòa là “âm chủ” của nghệ thuật: “Các cảnh đẹp đều đầy đủ, song chưa có tiếng khánh, biết lấy gì đặng khiến người ta tự xét sâu xa, hiểu rõ thân nghiệp, rửa sạch nhĩ căn mà có sự cảnh tỉnh giác ngộ vậy thay!”.
Một xã hội lấy hòa làm trọng, lấy đạo đức làm gốc, đó là xã hội hạnh phúc, như ông nói: “Ta bảo: theo đạo để giác ngộ điều thiện, nhân thanh âm để dẫn đạo tinh thần, ắt phải chế tạo pháp khí đặng làm hình tượng vậy. Ôi, hòa là chủ của âm nhạc, thiện là gốc của giáo hóa. Khánh đá một khi treo lên, tiếng vang khôn cùng”. Chữ “đạo” ở đây nghĩa gốc là con đường, nên được hiểu rộng rãi, nếu ngày xưa là tôn giáo (Nho, Phật, Lão) thì nay có thể hiểu đó là một tư tưởng chính trị, một lý tưởng sống…
Bốn chữ “tĩnh”, “tri”, “trí”, “hòa” như bốn đỉnh tháp tư tưởng sừng sững trong thế giới thơ Trình Quốc công. Hình như nhà thơ muốn khẳng định: xây tòa nhà giáo dục cho xã hội cũng như xây ngôi nhà nhân cách cho mỗi người phải lấy bốn chữ này làm bốn cột cái! Nếu thiếu “Tĩnh” con người sẽ không có bình tĩnh, điềm đạm mà dễ nóng giận; thiếu “Tri” sẽ dễ vô văn hóa; thiếu “Trí” sẽ không nhận ra đâu là phải trái; thiếu “Hòa” sẽ dễ gây ra xung đột… Mà hôm nay con người hình như đang thiếu cả bốn điều cơ bản ấy!!!.
3/10/2022
Nguyễn Thanh Tú
Theo https://vanvn.vn/

Trần Quang Quý - Một hành trình thơ

Trần Quang Quý
Một hành trình thơ

Nhà thơ Trần Quang Quý sinh ngày 02.01.1955, tại xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Ông tham gia quân đội tháng 12.1971. Sau khi ra quân, học Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và làm báo. Ông đã xuất bản 14 tập thơ, truyện ngắn, tiểu luận, bút ký… Được 11 giải thưởng văn học, trong đó có 2 giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2004 (Giấc mơ hình chiếc thớt) và 2012 (Màu tự do của đất). Tôi chưa có điều kiện đọc tất cả các tập thơ của ông nên chưa thể phác họa một chân dung văn học về ông. Tôi đọc 4 tập thơ: Siêu thị mặt (2006), Màu tự do của đất (2012), Ga sáng (2016) và Namkau (2016) và thử hình dung hành trình 10 năm sáng tạo thơ của Trần Quang Quý, trong hành trình của 10 năm thơ Việt.
1. Siêu thị mặt, thơ của người “cả nghĩ” và “cơn mơ gieo hạt”        
Tác giả ghi nhận ở New York hai chuyện nhỏ, thứ nhất: “có một nền văn hóa “tip”/ bạn chớ quên khi rời taxi hay tiệm nhậu/ xin vui lòng để lại thêm mười phần trăm”, thứ hai: “vô tình đụng trên đường thật khó tránh/ nhưng tất cả cùng lời: Xin lỗi!”. Từ hai ghi nhận, tác giả bộc bạch nghĩ suy:
“Hai chuyện nhỏ làm tôi một đêm cả nghĩ/… Có phải thành phố này lên cao từ những điều rất nhỏ: sự rạch ròi, sòng phẳng tiền boa/ cả lịch lãm một lời xin lỗi?” (Hai chuyện nhỏ ghi ở New York).
Tập thơ Siêu thị mặt là những nghĩ suy như vậy. Nhà thơ ghi nhận những hiện tượng xã hội, qua đó tra hỏi về bản chất của sự việc, đâu là chân lý, đâu là đúng – sai, phải – trái. Con mắt và trái tim nhà thơ hướng về cuộc sống xung quanh mình: Một chiều cafe ở Hồ Tây (Giọt chiều), chú bé đánh giày ở vỉa hè (Giai điệu vỉa hè). “Hai người mẹ, hai số phận có cùng tên Nỗi đau” (Khác biệt và không khác biệt). Một em gái “rời làng ra phố bán hoa/…những tưởng em ra phố để đổi đời/ phố cũng chỉ là một cánh đồng khác” (Sắc hoa). Buổi sáng nghe tiếng “chim khướu hót từ chiếc lồng nhà hàng xóm” (Tiếng của loài chim), gặp “… cả một siêu thị mặt/ nhỏ to, ngắn dài, tròn méo, buồn vui, cáu giận hay lạnh tanh chảy thành dòng/ trên phố…” (Siêu thị mặt). Rồi quan sát những đồ vật trong nhà: một cái chăn, một ngọn đèn dầu, một chiếc xe đạp thời khó nghèo. Nghĩ về Huyền thoại bên máng lợn, về nước mắt đàn bà (Nước mắt). Ở Tam Đảo, mây sà xuống cửa sổ: “Tôi lùa tay vớt cõi phù vân bên khung cửa sổ nhà nghỉ…” (Một mây Tam Đảo). Buổi trưa ở Mũi Đao, “… gọi em để mua một đôi ngàn đồng sim”. Trong quán nhậu ở Củ Chi, lai rai với món bò luộc, mắm nêm, và Những bản tin hàng ngày “… về cuộc đọ súng ở Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á/ những phụ nữ đánh bom liều chết… những cuộc đấu trên sân khấu chính trị và người dân nghèo chết mòn trong bạo bệnh/… bệnh viện chật cứng bởi đột quỵ và tim mạch…”. 
Ghi nhận như vậy để thấy trái tim nhà thơ hướng về môi trường sống đương đại, nghĩ suy về những vấn đề của hôm nay (những năm đầu thế kỷ XXI), phản ứng với tâm thức của người trong cuộc hôm nay, không dựa vào quá khứ để tụng ca sử thi, không “Ăn mày quá khứ” để tự gắn huy chương cho cái Ta, cũng không tự huyễn hoặc như “Cái thời lãng mạn”.
Nhà thơ cũng tự soi vào lòng mình để thấy những nỗi buồn. “Có năm tháng nào lòng ta buồn hơn/ nỗi buồn khắc vào mặt thế hệ hình thập ác” (Khác biệt và không khác biệt). “… Có thể một người lẫn trong bao người khác/ anh vẫn một cánh đồng ngày xưa gieo hạt/ hạt khổ đau” (Những ngày xưa). Đó là nỗi buồn của mọi kiếp người (Câu hỏi), về những bi kịch của đời (Không đề), và nhà thơ “Không biết chôn nỗi buồn vào đâu” (Cảm). Trong hành trình “đi tìm mê lộ bờ cong, mê lộ hoàng hôn/ chợt mắt xưa ngơ ngác cổng thế hệ…”, nhà thơ tự thú nhận “… tôi chỉ là người bại trận” (Cuộc cờ), và ý thức về sự bé nhỏ của kiếp người với thời gian vô tận: “Ngày như chiếc bóng lẻ ta/ ta như chiếc bóng của ngày/ vô tận” (Ngày).
Nhà thơ không dừng ở sự quan sát hiện tượng mà soi vào bản thể con người để thấy rõ những gì là thật – giả, những gì là vĩnh cửu và hư không, cả những niềm tin vẫn còn. “sự thật có thể không mang gương mặt thật/ ảo ảnh tự ru mình/ hư danh thường ầm ĩ” (Lập ngôn). Và đây là Lẽ thường: “Người khi vui rồi lại khi buồn/ khi dửng dưng mặt lạnh như đá/ lúc giận hờn cũng tạnh như không/ Có cuộc đời thoáng như mây khói/ thế gian nhỏ bé và mong manh/ có người khắc vào ký ức ta vết khắc không tàn/ cuộc đời mà/ là thế!”. Nhà thơ nhìn đời bằng con mắt thứ ba: “cõi đời, nhìn con mắt mở/ cõi người, nhìn con mắt nhắm/ Từ mẫn cảm về thời, từ tiếng gọi những vết bầm ký ức/ tôi học nhìn bằng con mắt thứ ba” (Học). Con mắt thứ ba, còn gọi là Huệ nhãn, là khả năng thấu thị những gì không nhìn thấy bằng mắt thường (nhục nhãn). Nhờ thế nhà thơ đã nhìn thấy giữa một thế giới của đối trọng và nghịch lý, vẫn còn hy vọng: “em bé đánh giày rửa đức tin bằng uy tín màu xi/ chị hàng rong đi rao cơn mơ số phận/… những bàn tay cùng chìa trong bão lũ/ mái phố rêu phong gục vào chiều cổ thụ/ mong đức tin nảy mầm…”.
Trong tập thơ, Trần Quang Quý không vươn lên hướng thơ tư tưởng, mà cháy lên cảm hứng thế sự với diễn ngôn có ý phê phán thực tại xã hội. Cảm hứng xót xa ẩn trong sự miêu tả những cảnh đời, những phận người “dưới đáy”, những tương phản gương mặt và lối sống nhầy nhụa. Nhưng ngòi bút Trần Quang Quý đủ tỉnh táo để không đụng chạm đến những vấn đề “nhạy cảm”, không miêu tả cụ thể những mặt tiêu cực của xã hội, không ám chỉ bất cứ loại người nào trong Cuộc cờ. Câu thơ được cắt gọt hết ngoại hình ngoại cảnh, để chỉ còn lại cái lõi của vấn đề, và vấn đề ấy những người thiện tâm đều có thể chia sẻ, cho nên dù nhà thơ có lên tiếng mạnh mẽ, quyết liệt thì thơ vẫn vượt lên trên bờ bến hiện thực.
Những cái mặt mày râu nhẵn nhụi
những cặp môi mỏng quẹt và cái mồm ống thổi lụng bụng lưỡi
chúng thường hát đồng ca phản trắc và sống nhạt 
(Cuộc cờ)
Trên sân khấu người ta vừa quét dọn
có hình những chiếc mặt còn in bóng lộn mặt sàn
chúng đã diễn quá lâu…
… hãy lột chiếc mặt nạ tự phỉnh mình 
hãy lộn túi những mớ chữ mị dân 
(Quen)
Với tư cách người làm thơ, Trần Quang Quý không thôi trăn trở về sự trì trệ, về lối mòn, sự lặp lại và cả sự “gục ngã” trên đường sáng tạo:
Để gieo được một hạt ý tưởng
có thể phải ngã gục trên cánh đồng cày ải tư duy 
… Tôi đã mang cơn mơ gieo hạt
từ chiếc thúng cảm thức đựng nỗi buồn mùa lép
ám ảnh lối mòn tri thức
như vẫn gặp những con bò nằm nhai lại rơm khô  
Không gì đến dễ dàng, tôi biết.
(Tự giải)
“… Chiếc ghế nhẵn một chỗ ngồi, ngày buồn nhão một gương mặt
có gì mòn mỏi hơn bằng giam cầm trong nhàm cũ
có gì mê muội hơn bằng ngủ sâu trong cái bóng chính mình?…”
(Ngày nhạt)
Có lẽ nhờ Tự giải những “Ngày nhạt”, để thực hiện “cơn mơ gieo hạt”, Trần Quang Quý đã tự làm mới thơ mình. Trần Quang Quý xuất hiện từ những năm 1990, Siêu thị mặt in năm 2006, giữa cao trào “thơ trẻ khó hiểu” và những nỗ lực ào ạt cách tân thơ Việt, nhưng Trần Quang Quý vẫn giữ được mạch thơ truyền thống và góp phần vào kiểu thi pháp mới khác hẳn thi pháp thơ thời chống Mỹ. Trần Quang Quý hướng về những vấn đề của hôm nay, sử dụng kiểu ngôn ngữ hôm nay, trần trụi, mới lạ, đảo lộn. Tuy vậy, Trần Quang Quý phản đối những thể nghiệm kiểu “thích mân mê chiếc áo vỏ hình thức/ đôi lúc hoắng trò chơi sắp đặt.” (Bờ khác của tư duy).
Thơ Trần Quang Quý là những phát ngôn trực tiếp, là nhận thức có khuynh hướng tư tưởng, nhưng không phải là tư tưởng triết học, mà đó là những kinh nghiệm của bản thân. Đây là những phát ngôn:
Có những điều lớn lao mà không cần lý giải
có những việc tầm thường khoác vỏ đại ngôn…
… sự thật có thể không mang gương mặt thật
ảo ảnh tự ru mình 
hư danh thường ầm ĩ”
(Lập ngôn)
Vì thiên về suy nghĩ, thơ Trần Quang Quý cũng thiên về lập tứ. Nhiều bài ý tứ được trình bày theo kiểu tư duy quy nạp. Câu thơ thường ngắn lại để khẳng định.
Bài thơ Vết là một thí dụ:
Cánh rừng xoá vết chém lưỡi rìu bằng thân cây ứa nhựa
con đường xoá dấu chân bằng phế hoang cỏ
Người ta thường nô lệ ký ức
ký ức làm sao xoá?
Anh đã từng khép lại bóng hình em
và trái tim suốt đời đi vá sẹo
Sau khi dẫn ra hai hình ảnh Cánh rừng xóa vết chém và con đường xóa dấu chân, nhà thơ đưa ra hình ảnh thứ ba tương phản: người ta làm sao xóa được ký ức. Từ đó dẫn đến chủ đề: Trái tim anh suốt đời đi vá sẹo. Đó là cách lập tứ quy nạp. Câu thơ cuối thường chứa đựng chủ đề. Hầu hết các bài thơ của Siêu thị mặt được lập tứ như vậy. Xin đọc: Đồ vật, Mặt, Câu hỏi, Không đề, Cuộc cờ, Giọt chiều, Điệp khúc những ngón chân, Tiếng của loài chim, Ngày, Răng và lưỡi, Khác biệt và không khác biệt, Sắc hoa, Tự giải, Quen, Lập ngôn, Mũi tên, Bên sông, Nước mắt, Hai chuyện nhỏ ghi ở New York, Những chiếc cốc mơ lành, Những bản tin.
Nhưng Thơ Trần Quang Quý gây ấn tượng ở kiểu ngôn ngữ “Thơ trẻ”, và những bài hay trong tập thơ là những bài có kiểu ngôn ngữ mới lạ này. Xin đọc Bầy rốn, Giọt chiều, Mắt thu, Khoảnh khắc, Châu thổ, Huyền thoại bên máng lợn, Tự giải, Ngâu Huế, Một mây Tam Đảo, Trong quán nhậu ở Củ Chi.
“Từng nghe tiếng mưu sinh ì oạp lòng máng gỗ
đèn khuya đỏ mắt đêm
sương sớm gột mái đầu thôn nữ
gió hanh mùa, nghe rạn gót quê
Tuổi xuân của em là nối dài những chiếc máng lợn
chiếc máng hầu bao hy vọng
và một ngày những giấc mơ đến thật lạ
em cưỡi trên chiếc máng, bay qua những bờ tre lầm lũi
có một chân trời tít tắp và lấp lánh vẫy gọi
những bến sông chôn đứng con đò
thành phố mọc từ bờ ẩn ức…”
(Huyền thoại bên máng lợn)
Đoạn thơ có những từ được lạ hóa bằng cách đặt vào một trường ngữ khác nghĩa với trường ngữ bình thường (Ì oạp, đỏ mắt đêm, bờ ẩn ức), có những cách diễn đạt mới lạ khác thường do cách sử dụng những ẩn dụ liên tưởng qua nhiều bước, có cả giấc mơ Siêu thực. Giấc mơ “em cưỡi trên chiếc máng, bay qua những bờ tre lầm lũi./ có một chân trời tít tắp và lấp lánh vẫy gọi/ những bến sông chôn đứng con đò/ thành phố mọc từ bờ ẩn ức”. Nghệ thuật ngôn ngữ này khác hoàn toàn với ngôn ngữ thơ truyền thống và ngôn ngữ thơ thời chống Mỹ. Trần Quang Quý đã có những đóng góp vào sự cách tân thơ Việt ở kiểu tư duy nghệ thuật này. Tôi rất thích Giọt chiều, Mắt thu, Ngâu Huế, Một mây Tam Đảo vì ở những bài thơ này, Trần Quang Quý còn bộc lộ chất tài hoa thi ca nữa.
Dù mới lạ, thơ Trần Quang Quý đọng lại rất sâu ở tình cảm yêu thương mãnh liệt những phận người, ở sự thấm thía nỗi buồn thế sự bên dưới những ghi nhận, nghĩ suy và ở sự tài hoa ẩn trong sự bộc trực, gân guốc ngôn từ. Những bài thơ tình hiếm hoi cũng chứa đựng năng lượng cảm xúc có sức bùng nổ.
2. Màu tự do của đất – “Ánh sáng của một ngày tự thức”
Trong bài Đồng loại, nhà thơ Trần Quang Quý tự hỏi: “Ta là ai? Câu hỏi đã xưa rồi/ và điều đó chỉ riêng ta biết/ ta là cả muôn loài, duy một điều khác biệt/ ta vẫn phải suốt đời mang gương mặt là ta!”. Đến cuối tập thơ, nhà thơ nói đến ánh sáng “tự thức,/ đánh thức bản nguyên,/ ánh sáng khoan thai trong khung cửa ngộ thức,/ hình như tôi vừa tự mở khóa mình” (Sự sáng). Những dấu chỉ ấy phải chăng là hành trình tự nhận thức cá tính sáng tạo của nhà thơ, cũng là sự thức tỉnh trước thực tại thơ Việt để tự khai mở con đường thi ca của mình. Đâu là con đường Trần Quang Quý tự thức?
Phóng túng gì bằng được giải phóng lời khỏi những mật ngữ
hứng khởi gì bằng bóc vỏ tự do
nghe trái tim cuộn chảy dòng máu nhân sinh
nghe sự thật bong ra khỏi vai diễn
nghe cội rễ tự nhổ khỏi đất cằn những ngày nhạt
(Có những điều giản dị)
Tự thức là “bóc vỏ tự do”, “giải phóng lời” để “trái tim cuộn chảy dòng máu nhân sinh” và “bong ra khỏi vai diễn” để sống thật, thoát khỏi những “ngày nhạt”. Những điều ấy là những điều giản dị, nhưng trong cõi nhân gian này, thì đâu có dễ. Tự do bị bọc vỏ, hay chỉ có vỏ bọc, phải bóc vỏ để tự do trở thành đất của mầm mơ ước/ những chói sáng thăng hoa lại bắt đầu từ những hạt tự do (Bầu trời phi lý thuyết). Khi tự do bị bọc vỏ thì lời cũng bị cầm tù, vì thế phải giải phóng lời, để cả một thời đại đừng nói ngọng nữa (Giọng). Làm sao để “trái tim cuộn chảy dòng máu nhân sinh” khi mà bao nỗi oan khiên dâu bể vẫn bày ra trước mắt mà nhà thơ phải câm lặng!
Ngay trong tập thơ này, có được bao nhiêu bài “tự thức” như thế? Bao nhiêu bài trái tim nhà thơ “cuộn chảy dòng máu nhân sinh”! Gần như những vấn đề “nóng” của ngày hôm nay không có mặt trong tập thơ (?), hoặc nếu có, cũng chỉ là ẩn dụ bóng gió, như thể đó là việc chẳng phải của ai. Xin đọc:
“Sau tất thảy trận mạc, khúc bi thương hay khúc oai hùng
chiếc gươm ngủ giấc hào quang
hay thức mòn trong bi kịch những vết chém?
Bỏ lại phía sau tiếng mài rợn đá
những tiếng mài gọi nhau từ toát lạnh vỉa tầng tử khí
tiếng mài của đớn đau và bi kịch sự mài
tiếng nghiến răng lịch sử
còn khía những vết thương hòa bình
Những giọt máu đã khô trong lạnh lùng ánh thép
chiêm ngưỡng gì thân phận một cây gươm?
trên con dốc thời gian gập bóng những lát cắt số phận
mỗi vết thương lại khai quật nỗi buồn
và nỗi buồn không muốn một thanh gươm
nằm rỉ máu vết thương ký ức 
(Chiếc gươm trong bảo tàng – 1/8/2011)
Hãy bỏ những từ ngữ làm hoa mỹ bài thơ, nội dung bài thơ toát lên sự oán ghét chiến tranh, bởi chiến tranh gây ra những điều khủng khiếp: “Những giọt máu đã khô trong lạnh lùng ánh thép/ chiêm ngưỡng gì thân phận một cây gươm?”. Chẳng lẽ lại đi chiêm ngưỡng cây hung khí đã để lại những vết chém trên những số phận, đã gây ra bao nhiều đau buồn, máu chảy đầu rơi? Hỡi người! Có nghe không “tiếng nghiến răng lịch sử”, tiếng oán hờn của bao sinh linh! Trần Quang Quý nói về thanh gươm trong viện bảo tàng là nói về chiến tranh thời chưa có súng đạn,… Nhưng những số phận, những bi kịch vết chém, những đau đớn do thanh gươm chiến tranh gây ra thì hôm qua, hôm nay hay mai sau đều giống nhau, cho nên dù chỉ là chuyện trong bảo tàng, thì những vết thương hòa bình vẫn rỉ máu, những số phận bi kịch vẫn không thôi đau đớn. Ý thức là vậy, nhưng Trần Quang Quý đã không thể nói cụ thể cuộc chiến nào! Bài thơ chỉ là một ẩn dụ (có lẽ để có sức khái quát), nhưng thanh gươm thật chắc chắn là có lịch sử. Ngôn ngữ thơ Trần Quang Quý có sức mạnh như những nhát gươm, chém vào tâm thức con người hôm nay trước những bi kịch của dân tộc, ai cũng biết nhưng không nói ra, không thể “giải phóng lời”!
Trong tập thơ này, những bài thơ nói được những vấn đề của dân tộc là những bài thơ hay và có sức mạnh lay động thấm thía. Xin đọc: Từ đất, Bài hát tháng Mười, Đàn bò vào phố, Đồng loại, Nỗi buồn hát,… Màu tự do của đất đau đáu nỗi niềm làm sao một dân tộc thoát khỏi lam lũ đói nghèo, làm sao người nông dân không bị mất đất:
“Liềm hái thèm ngày thôi gặt gió sương
người nông dân thèm tự do được giải phóng mình khỏi nhọc nhằn cơ bắp
và tự do đầu tiên lại là tự do không thoát ly bùn đất
tự do của mồ hôi
tự do neo đời mình vào cánh đồng sương gió”
Để nói những vấn đề của hiện thực, Trần Quang Quý dùng nhiều hình ảnh biểu tượng và cách nói ẩn dụ. Chiếc ghế là biểu tượng quyền lực. Trên ghế là “những gương mặt mộng du quyền lực”, “trên ghế những mặt đời sấp ngửa” (Mặt ghế); “Ngọng” là biểu tượng cho cả một thời đại: “ngọng ở góc làng, ngọng loanh quanh nửa quê nửa phố/ ngọng lên xe hoa/ ngọng nhà không số/ ngọng huyên thuyên vào cả diễn đàn (Giọng). “Chiếc đinh” là hình ảnh tội ác. Nó thi hành mệnh lệnh “Cắm vào nỗi đớn đau kẻ khác từng milimet”, để thực hiện những “đòn thù” một cách “hiểm độc” (Chiếc đinh)… Nhiều bài thơ, trái tim nhà thơ chạm vào được những vấn đề nhân sinh, nhưng không có gì cụ thể. Phải chăng đó là cách nhà thơ “tự mở khóa” để thoát khỏi những phiền toái của bút pháp hiện thực?
Thoát khỏi bút pháp hiện thực, Thơ Trần Quang Quý bay bổng trong thế giới lãng mạn. Những bài thơ này mang được khí chất lãng mạn – tài hoa – phóng túng của Trần Quang Quý. Xin đọc: Sơn Tây, Điệu thức Cao Bằng, Đàn môi, Ngựa đêm, Một chấm nhân gian, Vết của mùa thu, Uống rượu ở Bangkok… Trần Quang Quý thả mình bay bổng, và phóng bút làm rung chuyển mọi cung bậc tưởng tượng và cảm xúc, đặc biệt là sự “giải phóng” những ẩn ức phồn thực (?) (Vết của mùa thu, Đến, Đàn môi, Sự hình dung).
… Tôi cưỡi mây trắng bay điệp điệp sông Hồng
bay phiêu du bằng dân dã hồn làng
có cánh diều làm nghiêng cả một vòm trời lãng mạn
có bầu trời tự do thúc ngựa hí những khát dâng trong ngực
có trái tim già dắt trái tim non đi vấp váp trên con đường nhân bản
nối đời này đời nọ gió lành Sơn Tây…
(Sơn Tây)
Em có biết cơ thể em chứa bóng tối của tôi
chúng mò mẫm bóng đêm dục cảm
qua đôi vú căng thơm bình minh
và toả sáng khát vọng
đôi vú, một bầu trời đang cơn chuyển động
chứa phồn thực mùa hè giấu mùa đông ngún lửa
(Sự hình dung)
Vì bay bổng lãng mạn và sử dụng kiểu ngôn ngữ tượng trưng như thơ Lãng mạn trước 1945, nhiều bài thiếu máu thịt đời sống thực, ngôn ngữ bay bướm muôn sắc màu lơ lửng trên tầng không. Xin đọc: Buổi sáng, Ru cỏ, Lại nhớ tóc dài, Nỗi buồn hát, Chảy, Trong mưa, Đàn môi…
“Trên vai tôi dòng lưu chảy từ cổ xưa lại ào ạt chảy
có giọt vắt ra từ đá lạnh
có giọt tẩm liệm trên những hàng mi ướt lại quay về
những dòng sông lang thang thế gian như quên mình có một nguồn
biển gầm rỗng đại dương, một ngày đọng về mềm oặt cỏ sương”
(Trong mưa)
Câu thơ chỉ là những suy tưởng, những liên tưởng không bấu víu được vào bất cứ mỏm bờ hiện thực nào trong cõi người (?). Những bài thơ không hồn vía, khí sắc, máu thịt đời sống này, làm rỗng tập thơ. Nó có thể là một cách nhà thơ “tự mở khóa”(?) nhưng mở ra con đường dẫn nhà thơ đến đâu?
Cũng may, cội nguồn thơ Trần Quang Quý là đời sống hầm hập sức nóng “những dấu hỏi ngược về cổ xưa tiền kiếp” (Bài hát tháng Mười), ngày thấp thỏm, đêm chập chờn vì “những con mắt gài quanh bờ giậu” của rắn, của bầy chó đồng loại (Đồng loại), và biết đâu những chiếc đinh sẽ đóng đòn thù sâu vào những thân phận nhỏ nhoi (Chiếc đinh)…; thế nên những phút bay bổng chỉ làm dịu mát một khoảng sân thơ… Những câu thơ về mẹ, về làng quê, những yêu thương và khát vọng, đích thực căn cốt của hồn thơ Trần Quang Quý.
Ta gọi sẻ, gọi những mùa thơm hạt
nhớ mái hiên chiều mẹ ta sàng gạo
dưới tay Người rào rạo mắt thời gian
mẹ sàng cả tiếng chim, lăn líu ríu từng chùm lên mặt đất
cái tiếng chim nhỏ nhoi, ta thương sẻ loài chim không biết hót
cả một đời chiêm chiếp tiếng sẻ thôi
(Gọi sẻ)
3. Ga sáng – Nơi ký ức vọng về
Ga sáng tiếp tục mạch thơ từ Siêu thị mặt nhưng đã có những bước chuyển. Trần Quang Quý tiếp tục suy tư về lẽ đời bằng sự trải nghiệm, nhưng thế giới nghệ thuật Ga sáng là thế giới của ký ức. Nhà thơ nhớ lại, nghĩ suy về những gì đã qua, để tâm hồn “bay bằng đôi cánh cảm xúc” (Ở Xuân Lũng giờ này), “bay trên đôi cánh lãng mạn” (Sông Đà) và liên tưởng miên man. “Thơ đổi mới” trở về “thơ truyền thống”. Cái Tôi trữ tình là yếu tố trung tâm, thu hút những lát cắt hiện thực vào tâm tưởng và tỏa ra những suy tư, những nhận thức và cả cảm giác trải nghiệm (Bản Concerto số 9).
Có thể đọc Mưa Tiên Điền như một đặc điểm thi pháp thơ của Ga sáng
“Chiều thắp hương xong trên lăng mộ Nguyễn Du
mưa đổ bến Giang Đình, mưa vắt phố
mưa Nghi Xuân níu bờ sang Vinh
mưa như rượu
tưới lòng nhân ái
mưa như chan nước mắt nàng Kiều
hay nước mắt Nguyễn Du cũng không biết nữa
hay nước mắt trời ứa nhân gian?
Nào em nào em xích lại gần hơn
anh sợ tuột em vào cơn mưa lạnh
sợ bàn tay suông
mắt hờ hững
sợ Giang Đình lạc bến gió liêu xiêu
Trong Nguyễn Du đâu chỉ một nàng Kiều
cơn mưa dắt muôn ngả Kiều cộng lại
máu đã rỏ hồn Người trên ngọn bút
mỗi câu thơ chắt cạn nhân gian
chắt tâm sự một tâm hồn lớn
hóa cơn mưa tưới ngọt Tiên Điền?
Anh nắm tay em sợ tuột vào hoang gió
Sợ tuột Kiều
Vào trống vắng thành Vinh”
(Bến Thủy, 2h15 ngày 4/12/2015. Dự lễ kỷ niệm 250 năm ngày sinh Nguyễn Du)
Bài thơ chỉ có một chi tiết hiện thực là Chiều thắp hương xong trên lăng mộ Nguyễn Du thì trời mưa. Nhà thơ lan man suy tưởng về mưa, về nàng Kiều và về Nguyễn Du. Phép so sánh trùng điệp được sử dụng triệt để, diễn đạt những ý tưởng sinh sản. Nhân vật em (tưởng tượng) chen vào bài thơ chút ngọt ngào tình tự nhưng không liên quan gì đến nghĩ suy về Kiều và Nguyễn Du. Thấp thoáng cái nhìn của nhà thơ về đời bể dâu: “mưa như chan nước mắt nàng Kiều/ hay nước mắt Nguyễn Du cũng không biết nữa/ hay nước mắt trời ứa nhân gian?”, “cơn mưa dắt muôn ngả Kiều cộng lại”, “Bao nhiêu cơn mưa đổ xuống cuộc đời/ Bao trú ngụ cuộc đời tốc mái?” (Những cơn mưa). Đâu đó là một nỗi “sợ” mơ hồ về sự vô cảm: Sợ “bàn tay suông/ mắt hờ hững…/ sợ lạc bến/ sợ trống vắng.” Có cả những lúc hoang mang hiu quạnh (Họa mi hót). Vì là thơ tâm trạng, chất hiện thực rất mỏng (được dấu trong ẩn dụ) nên những suy tư chưa đủ sức nặng để lay động, dù nhà thơ có liên tưởng từ nước mắt nàng Kiều đến nước mắt Nguyễn Du để dẫn đến nước mắt trời ứa vì nhân gian, nhưng cái nhân gian hiện thực hôm nay, “những điều trông thấy” hôm nay thì Kiều chưa đủ sức đại diện. Chính Nguyễn Du ngày xưa cũng đã né tránh, ông đã không ghi một dòng nào về lịch sử xã hội Việt Nam trong Kiều. Trần Quang Quý nhắc đến Nguyễn Du và Kiều chỉ là nhắc lại quá vãng, gợi một chút gì đó còn trong ký ức.
Nhà thơ có cả một bảo tàng ký ức (Ở Xuân Lũng mùa này), biển ký ức: “… biển đổ ròng ròng ký ức” (Bên biển Phú Quốc), và “những nhớ thương ùa sóng cả…” (Một bờ sông Hậu) trong đó có những tầng ký ức (Về những sợi tóc). Ký ức không rơi rụng: “Đã bao mùa rụng lá, cây bàng không rụng được ký ức… (Café Paris). Ký ức in hằn trong tâm tưởng: “Tôi vẫn nhớ… những vệt lõm dấu chân đã hằn ký ức” (Dấu chân). Và hương ký ức tỏa mãi (Hoàng lan), đến nỗi người thơ ví mình như con dế “bị nhốt trong hộp ký ức” (Trên bức tường rào gạch). Bởi vì, “Làm sao quên chiều sân ga 1972/ Cha tiễn tôi,… (Trở lại sông Thao), làm sao quên “ngõ làng mùa rê thóc/ mẹ đội lễ sang bà ngoại ngày giỗ chạp” (Sông Đà). Làm sao quên “… đêm cà phê Paris/… ngày bạn đi mãi mãi tại nơi này”. Nhớ thuở áo tơi gầy tướp gió (Bóng quê), nhớ: “nơi anh và em cùng ngồi dưới vòm xanh tỏa bóng/ người ta đã đốn cây rồi” (Nơi cũ), giờ “nhìn đâu cũng em, đâu cũng là ngày ấy” (Mưa Sài Gòn), “Ngày ấy, em thiếu nữ 18” (Những giọt sương lãng mạn), Nhớ “mắt em… ngước nhìn anh trong thế giới đang héo hắt lãng mãn” (Bản concerto số 9). Nhớ một lúm đồng tiền ký gửi trong ngân hàng tình cảm (Ngày Vinh), nhớ “bản hòa tấu em chọn cho anh…” (Bản hòa tấu tình yêu). Và nhớ Tôi ngày xưa, “Tôi ngược tết…/ gặp lại tôi… thơ bé/ (Ngược tết), “bầy dế gáy vang chân trời cổ tích (Khởi cỏ)…
Trong thế giới của ký ức, nhà thơ bộc lộc tất cả cung bậc cảm xúc thương yêu của mình. Dù thời gian có làm rơi rụng tất cả thì vòm trời yêu thương vẫn xanh và hạt gốc nhân bản vẫn nảy mầm.
“… tôi bay bằng đôi cánh cảm xúc quanh những gò đồi/ chim sẻ ríu ran gọi mùa về trên vòm cây tháng tư/ hoa xoan vừa thoát tục…” (Ở Xuân Lũng giờ này).
 “… Ngày ấy, em thiếu nữ 18, hai bím tóc nhí nhảnh/ mắt em hai giọt sương tinh khiết treo trong mắt anh/ treo 35 năm bây giờ chưa rụng… Ngày ấy, anh lính 23 ngu ngơ trở về khát vọng học trò còn dở dang đèn sách/ chiến tranh đóng cũi bao ước mơ …” (Những giọt sương lãng mạn).
 “Bà nội mất, còn day dứt nỗi buồn cháu không kịp về nhìn mặt lần cuối/ may có cô, cháu thấy bà như vẫn đâu kia… Thương cô lưng còng, lại nhớ bà khôn xiết/ Và kỳ lạ, mỗi lần về quê chợt lòng yên tĩnh/ Bóng cô kia hay đó bóng bà thăm thẳm một đời quê” (Bóng quê).
Trong vòm trời xanh của ký ức, Trần Quang Quý thổ lộ: “Cứ mỗi lần ngước lên bầu trời tôi tự hỏi…” đàn sếu bay hình mũi tên trên bầu trời có “mật chỉ” gì?. Nhà thơ tự hỏi Về những sợi tóc rụng, về sự sắc nhọn của những chiếc gai, lắng nghe Bài hát của chiếc giày, nghe một quả rơi tiếng hạt nảy mầm, cảm nhận hương thơm của Hoàng lan, của hoa sen “nhụy vàng mây, thơm nõn gió/ hương sắc thu muôn tinh tú”, chiếc lá bồ đề mang về từ đất Phật, cả chuyện Trong bình rượu bìm bịp: “Bổ gì, rựơu bìm bịp/ khi ta uống là cạn ly xác chết/ ta uống cả tiếng kêu thảm thiết/ vẫn đang còn vỗ cánh ở ngoài kia”.
“… Không phải cái gì mất cũng tìm được
có cái tìm được thì đã mất…”
(Hoàng Lan)
 “… mưa như chan nước mắt nàng Kiều/ hay nước mắt Nguyễn Du cũng không biết nữa/ hay nước mắt trời ứa nhân gian?”
(Mưa Tiên Điền)
Tác giả ghi nhận đời sống ở Ấn Độ: “người Ấn thản nhiên trong lam lũ”. Nhà lụp xụp, người thợ xây đội từng bao xi măng, những chiếc xe lôi lầm lũi trong khuya. Đường phố của phân bò, phân chó, phân dê, phân ngựa, nước tiểu và rác thải/ thì cũng chẳng có gì phải vướng bận”. “Tất cả cùng cười/ gương mặt giữ nhau đầy an lành”. Tác giả tra hỏi: “Dường như phía sau những gương mặt cần lao kia/ phía sau những ngôi nhà lầm lũi, tự do bò rống và lợn chạy/ có một Ấn Độ khác, một tinh thần khác/ một tinh thần văn minh lạ kỳ… Tôi bỗng hiểu vì sao… nơi này Phật ngộ” (Có gì lạ phía sau Ấn Độ?)
Từ những vật cụ thể gần gũi, Trần Quang Quý mở rộng suy tư ý nghĩa nhân sinh của Hoàng hạc (Hạc vàng), về Lý Bạch, Nguyễn Du, về dân tộc Ấn Độ…
“Hạc vàng đã bay/ Liệu còn hạc nào in trên bầu trời…/ …Lý Bạch tiên thi trước Thôi Hiệu cũng đành nín bút… một vòm trời biền biệt hư không/ Trường Giang, Trường Giang những ly biệt đời người/ đâu bến thành danh đâu bến vô danh/ còn lại bóng thi nhân… (Hạc vàng).
“Tôi không hy vọng chiếc lá bồ đề mang về phép màu nhiệm nào/ nhưng ít nhất, chiếc lá đang reo trong tôi bài hát của rừng nguyên thủy/ chiếc lá thức trong tôi ngọn nến thắp lòng thiện/ ngay cả chính nơi không có bóng Phật” (Những chiếc lá bồ đề).
“… Tôi gọi hạt tôi… xanh cây che mỏng nỗi người/ ít nhất biết mỉm cười trước rừng lưỡi gièm pha, và bủa vây ganh tỵ” (Gieo).
Điều đáng quý ở nhà thơ là một tâm hồn xanh trong. “Tôi gọi hạt tôi… xanh cây che mỏng nỗi người”.Chiếc lá bồ đề “thức trong tôi ngọn nến thắp lòng thiện”. “Tôi ăn ngủ cùng chữ tháp tùng chữ bước vào những số phận”. “Hy vọng từng ngày làm lại tương lai”.
4. Namkau – Định vị một khuôn mặt 
Trong hỗn độn mớ tôi
tôi đã từng đột phá đi tìm
bản thể
Sự khám phá có khi thật giản dị
có người suốt đời đi không tìm được chính mình
(Tìm 2)
Nhà thơ đi tìm bản thể là tìm chính mình, là xác định mình là gì, khác người khác cả về nội dung và nghệ thuật thơ trong hành trình sáng tạo. Tất nhiên một tập Namkau chưa đủ quán xuyến tất cả đặc điểm cá tính sáng tạo của Trần Quang Quý, song nếu một giọt sương đong được cả mặt trời (Giọt sương ban mai), thì Namkau cũng đủ lấp lánh khuôn mặt thơ Trần Quang Quý.
Đã từng đi nát con đường
gỗ hương long mộng chân giường đứng ngây
Đã từng hẹn tuột vỏ cây
Gió ghen vần vũ đám mây tụt quần
Đã yêu yêu cạn mùa xuân… (Bước yêu)
Tôi chọn bài Namkau lục bát dễ đọc để định vị thơ Trần Quang Quý. Trần Quang Quý kế thừa thơ truyền thống bằng linh hồn của lục bát và ca dao tình yêu mang đậm chất phồn thực. Hò hẹn, đứng chờ, ghen tuông, và yêu “long mộng chân giường”; “tụt quần” để “yêu cạn mùa xuân” thấp thoáng trong bài ca dao. Trần Quang Quý bộc lộ khí chất mạnh mẽ trong việc dùng từ, đặc biệt là các động từ “đi nát con đường”, “hẹn tuột vỏ cây”,“đám mây tụt quần”, “yêu cạn mùa xuân”. Điệp từ “đã từng, đã yêu” góp phần tô đậm khí chất nam tính thơ.
Nhưng điều đặc sắc, mới mẻ của thơ Trần Quang Quý là góc nhìn mới và kiểu tư duy ngôn ngữ mới, làm cho bài thơ tình yêu quen thuộc có sức gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Dường như chẳng có liên quan gì giữa “con đường” (câu 1) với cái giường bị long mộng và “gỗ hương, đứng ngây” (câu 2). “Hẹn tuột vỏ cây” là một so sánh ngầm hoàn toàn mới lạ, bởi “hẹn hò” và “tuột vỏ cây” nằm ở hai trường ngữ khác nhau. “gỗ hương long mộng chân giường đứng ngây” là một cấu trúc câu lạ. “Gỗ hương” là một vật bất động, không thể làm long mộng chân giường, và đâu là chủ ngữ của “đứng ngây”? Cấu trúc câu tiếng Việt đã bị phá vỡ. Các hình ảnh được xếp chồng lên nhau, mà sự liên tưởng phải qua nhiều bậc mới với tới được. Và hơn thế, đã có sự phá vỡ mọi cấu trúc. Cấu trúc những cuộc hẹn hò, cấu trúc những cuộc yêu, cấu trúc không gian và thời gian và cầu trúc tâm trạng yêu của hay kẻ hẹn hò, muốn yêu long mộng chân giường và muốn sex (tụt quần) bạo liệt. Nếu người đọc không tái cấu trúc thơ, không vượt qua được những khoảng cách đòi hỏi liên tưởng nhiều bậc này, sẽ thấy thơ khó hiểu. Nhưng làm thế nào để kết hợp các cấu trúc đã bị đập vỡ để tạo nên một cấu trúc thơ mới, đó là sáng tạo, và đó là chất riêng Trần Quang Quý.
Xin đọc thêm một bài nữa:
Lâu lâu bạn đến nhà
ta ngâm men tri kỷ
rượu khai xuân chan nhau ngầu khuya
ta vì bạn dốc ta tận đáy
bạn về đáy rỗng lộn ngược ta
(Bạn đến)
Câu thơ đầu tiên gợi ngay đến bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến (Đã bấy lâu nay bác tới nhà). Nguyễn Khuyến với bạn là tri kỷ. Tình bạn, cảm hứng về uống rượu là những đề tài rất quen thuộc trong thơ cổ điển. Thơ Trần Quang Quý ướp hương cổ điển, nhưng đọc lại thấy mới lạ. Cái mới lạ của khí chất thơ: mạnh mẽ, táo bạo thấp thoáng phồn thực và “lộn ngược” kiểu ngôn ngữ truyền thống.
Người đọc hình dung ra nhà thơ và bạn uống rượu trong đêm xuân, uống đến khuya, như thể họ ngâm trong rượu. Rượu chưa đầy họ chan thêm. Có bao nhiêu rượu trong bình, họ dốc hết, dốc đến tận đáy. Sau đó bạn về, còn lại nhà thơ say, cảm giác mọi thứ đều lộn ngược.
Nếu chỉ như thế, cũng đã đạt đến cái ngất ngư “Đất trời nghiêng ngửa” của Vũ Hoàng Chương trong Say đi em. Điều lắng đọng của bài thơ là tình tri kỷ của nhà thơ và bạn, không phải là tình rượu. Nhà thơ đã dốc hết tình tri kỷ với bạn.
Cả bài thơ là cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ẩn dụ và bằng sự phá vỡ các cấu trúc, tạo ra các lớp nghĩa chồng lên nhau, bắt người đọc phải tháo gỡ câu thơ ra, tái cấu trúc và liên tưởng nhiều tầng lớp, để lần ra nghĩa thực. Không phải khi bạn đến nhà thì nhà thơ mới đi ngâm men để làm rượu. Cũng không phải rượu của nhà thơ là rượu có vẩn đục (“ngầu”), cũng không phải nhà thơ và bạn trở thành hai gã say làm đục ngầu đêm xuân. Câu thơ: “ta vì bạn dốc ta tận đáy” đọc thế nào cho đúng cấu trúc câu tiếng Việt? “ta vì/ bạn dốc ta tận đáy” hay “ta vì bạn/ dốc ta tận đáy”? Cả hai đều không chuẩn ngữ pháp Việt. Diễn xuôi có thể là, “ta vì bạn [mà ta] dốc tận đáy [những gì] ta [có]”. Câu thơ trở nên lạ. Cũng vậy, câu thơ: “bạn về đáy rỗng lộn ngược ta”. Có ba mệnh đề chồng lên nhau: Bạn về, bình rượu rỗng đến đáy. Ta say, nhìn mọi thứ đều lộn ngược. Các chủ ngữ của “đáy rỗng” và “lộn ngược ta” bị giấu đi, câu thơ trở thành lạ. Và cái thú đọc thơ là sự khám phá những cái “lạ” ấy trong ngôn ngữ thơ Trần Quang Quý.
Nội dung, chủ đề nhiều bài thơ trong Namkau là những điều rất đỗi quen thuộc, nhưng nhờ nghệ thuật “lạ hóa” ngôn ngữ, và truyền vào ngôn ngữ cái khí lực dào dạt của tác giả, thơ Trần Quang Quý trở nên hấp dẫn. Muộn thu, Rêu Tháp Rùa, Tóc yêu, Vườn đêm, Tháng ba quê, Tươi, Dị biến… là những bài thơ rất riêng và hấp dẫn.
Tôi mọc rêu lên tận đỉnh Tháp Rùa
nghe gió mọc ngàn năm hoang cổ
sóng vặn đáy hồ mở sáng huyền ảo
Tháp Rùa cũng mọc rêu sang tôi
bằng ánh thép thanh gươm trả nợ
(Rêu Tháp Rùa)
Những bài thơ đọng lại được, lại là những bài chạm đến những vấn đề nhân sinh vượt ra ngoài những nghĩ suy của nhà thơ, và những bài thơ tình quê đậm hương ca dao. Những bài như thế không có nhiều trong tập Namkau:
Phố vắng tanh như phố bỏ hoang
Chỉ tiếng rao “muối đê” khía đến sót lòng
Muối ướp cứng cả thành phố lạnh
Người bán muối mang ngày thiêng đời mình đi bán lẻ
Hy vọng thu về những mảnh vụn mùa xuân
(Hà Nội sớm mồng 1 tết)
 
Những bông hoa nở bên hàng rào nhà ta
triền cỏ ven đê mê bước chân chiều
hoa nở tím làm mùa hè chùng lại
Bóng em vừa ngang qua ngõ ấy
bỗng tươi lại hồn làng
(Tươi)
Thơ năm câu (Namkau) mà Trần Quang Quý đề xuất có thể là một hướng đổi mới thơ ca. Tuy vậy, những bài thơ ngắn có các cấu tứ như namkau đã có trong tập thơ trước. Khi bị đóng khung vào một cái khuôn, tôi có cảm giác chật chội. Khí chất Trần Quang Quý là phóng túng, khi thì trữ tình – lãng mạn – bay bổng, khi thì mạnh mẽ – quyết liệt – cô đặc. Ngôn ngữ luôn vượt ra ngoài cái “chuẩn” thường ngày, và bị làm cho “lộn ngược”, câu thơ bị phá vỡ cấu trúc tạo ra nhiều lớp nghĩa. Khi ông bó mình vào khuôn namkau, sự phong phú khoáng đạt của thơ Trần Quang Quý bị ức chế. Mỗi bài namkau chỉ khai thác một chi tiết, một ý tưởng, và nhiều khi, những ý tưởng đó chưa đủ độ sâu tư tưởng, chưa đủ độ sung mãn của cảm xúc thơ, thành ra sức hấp dẫn của Namkau chưa bị hạn chế (Ngẩng, chiếc răng khểnh, Đỉnh, nằm, tiếng cá quẫy, Ngón, tiếng chim hót, Giọt sương, Thấy, Dìm, tiếng Violon…). Kiểu lập tứ quy nạp tuy có gây sự kinh ngạc phát hiện, song nhiều bài, câu kết phơi trắng ra tất cả. Ý tưởng nguyên vẹn là ý tưởng, chưa cất cánh thành thơ.
Bên sen thấy trời rộng
hương sen nâng ngàn dặm mây xa
hồ xanh dịu bằng màu hoa thanh khiết
Bí quyết ư, giản dị
cả vạn năm tu rễ ở bùn
(Sen)
Tôi nghĩ rằng kiểu thơ năm câu (namkau) chỉ đạt tới giá trị của nó khi thơ trở thành thơ tư tưởng như Tứ tuyệt hay Haiku chẳng hạn. Nếu chỉ là những ý nghĩ còn thô như: “Ngẩng lên là khoảng rỗng/ nhưng sẽ thấy bầu trời” (Ngẩng), hay “Khai quật đen/ phượng chắt đỏ hè” (Đỏ) thì namkau khó vượt lên như thơ Tân Hình Thức (Khế Iêm) chẳng hạn. Dù vậy, gần đây đã có một câu lạc bộ thơ Namkau (như câu lạc bộ thơ Đường, Câu lạc bộ thơ Lục bát). Tôi ủng hộ nỗ lực đổi mới thơ của Trần Quang Quý.
Một hành trình 
Mười năm thơ (2006-2016) là một hành trình sáng tạo. Trần Quang Quý tỏ ra sung sức và dồi dào năng lực sáng tạo. Tôi rất ít thấy Trần Quang Quý lặp lại từ ngữ, cảm xúc hay thi liệu. Dù viết lại một đề tài, ông vẫn có những khám phá mới. Hành trình ấy đã trở thành một con đường, và in rất đậm vóc dáng lực lưỡng nhưng thanh thoát của nhà thơ. Trần Quang Quý kế tục thơ truyền thống ở mạch trữ tình, ở những tình cảm yêu thương, những trăn trở về phận người, cả những cảnh ngộ bất hạnh. Dù ở New York, hay ở sông Hằng Ấn Độ; ở Sơn Tây hay ở Đất Mũi; trên bãi biển, trên những con đường quê hay ở giữa phố thị; dù đối mặt quyết liệt với hiện thực hay bay bổng với lãng mạn tình yêu hổn hển hơi thở phồn thực, nơi nào ông cũng ghi nhận, cũng cảm, cũng nghĩ và viết những dòng thơ đủ sức neo vào lòng người đọc ấn tượng thẩm mỹ, những nghĩ suy của ông hòa trong những nghĩ suy của người đọc.
Con đường thơ của ông là con đường “tự thức” để thực hiện “giấc mơ gieo hạt”. Ông từ chối: “Những cơn bão ngôn từ có lúc muốn lồng lên/ cả tiềm thức cũ mèm hay ngữ nghĩa vừa khoác manh áo mới từ vựng/ những con chữ cởi trần, không câu nệ xiêm y mỹ tự…” (Ngoặc đơn – Màu tự do của đất). Ông “tháo ngoặc” để con chữ được tự do. Và gần như ông tháo tung tất cả cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc thời gian, không gian, cấu trúc câu truyện (xin đọc Bước yêu và Bạn đến ở trên) để tạo những cấu trúc mới. Ông từ bỏ những thi liệu cũ, những đề tài cũ, những cách viết cũ, những góc nhìn cũ mà nhiều nhà thơ cho đến nay vẫn “ăn mày quá khứ”, để dấn thân khai phá những “vỉa tầng” mới của tâm hồn thời đại. Với những nỗ lực ấy, Trần Quang Quý thực sự đóng góp vào sự đổi mới thơ Việt đương đại, sự đổi mới có ngọn nguồn truyền thống. Hướng đi này có nhiều triển vọng, bởi những nỗ lực đổi mới thơ Viết từ những năm 1990 đến nay theo hướng Hậu hiện đại dường như đã chững lại, trong khi Trần Quang Quý tiến về phía trước trong hành trình thực hiện “giấc mơ gieo hạt” của mình.
3/10/2022
Bùi Công Thuấn
Theo https://vanvn.vn/

  Sóng độc – Cuộc giải phẫu thấu đáo một căn bệnh thời đại Thành tích, tham nhũng và hạ bệ tranh giành địa vị của nhau đang là ba căn bệnh...