Trần Quang Quý – Một hành trình thơ
Nhà thơ Trần Quang Quý sinh ngày 02.01.1955, tại xã
Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Ông tham gia quân đội tháng 12.1971.
Sau khi ra quân, học Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và làm
báo. Ông đã xuất bản 14 tập thơ, truyện ngắn, tiểu luận, bút ký… Được 11 giải
thưởng văn học, trong đó có 2 giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2004 (Giấc
mơ hình chiếc thớt) và 2012 (Màu tự do của đất). Tôi chưa có điều kiện đọc tất
cả các tập thơ của ông nên chưa thể phác họa một chân dung văn học về ông. Tôi
đọc 4 tập thơ: Siêu thị mặt (2006), Màu tự do của đất (2012), Ga
sáng (2016) và Namkau (2016) và thử hình dung hành trình 10 năm
sáng tạo thơ của Trần Quang Quý, trong hành trình của 10 năm thơ Việt.
1. Siêu thị mặt, thơ của người “cả nghĩ” và “cơn mơ gieo
hạt”
Tác giả ghi nhận ở New York hai chuyện nhỏ, thứ nhất: “có một
nền văn hóa “tip”/ bạn chớ quên khi rời taxi hay tiệm nhậu/ xin vui lòng để lại
thêm mười phần trăm”, thứ hai: “vô tình đụng trên đường thật khó tránh/ nhưng tất
cả cùng lời: Xin lỗi!”. Từ hai ghi nhận, tác giả bộc bạch nghĩ suy:
“Hai chuyện nhỏ làm tôi một đêm cả nghĩ/… Có phải thành phố này lên cao từ những điều rất nhỏ: sự rạch ròi, sòng phẳng tiền boa/ cả lịch lãm một lời xin lỗi?” (Hai chuyện nhỏ ghi ở New York).
Tập thơ Siêu thị mặt là những nghĩ suy như vậy. Nhà
thơ ghi nhận những hiện tượng xã hội, qua đó tra hỏi về bản chất của sự việc,
đâu là chân lý, đâu là đúng – sai, phải – trái. Con mắt và trái tim nhà thơ hướng
về cuộc sống xung quanh mình: Một chiều cafe ở Hồ Tây (Giọt chiều), chú bé đánh
giày ở vỉa hè (Giai điệu vỉa hè). “Hai người mẹ, hai số phận có cùng tên Nỗi
đau” (Khác biệt và không khác biệt). Một em gái “rời làng ra phố bán hoa/…những
tưởng em ra phố để đổi đời/ phố cũng chỉ là một cánh đồng khác” (Sắc hoa). Buổi
sáng nghe tiếng “chim khướu hót từ chiếc lồng nhà hàng xóm” (Tiếng của loài
chim), gặp “… cả một siêu thị mặt/ nhỏ to, ngắn dài, tròn méo, buồn vui, cáu giận
hay lạnh tanh chảy thành dòng/ trên phố…” (Siêu thị mặt). Rồi quan sát những đồ
vật trong nhà: một cái chăn, một ngọn đèn dầu, một chiếc xe đạp thời khó nghèo.
Nghĩ về Huyền thoại bên máng lợn, về nước mắt đàn bà (Nước mắt). Ở Tam Đảo,
mây sà xuống cửa sổ: “Tôi lùa tay vớt cõi phù vân bên khung cửa sổ nhà nghỉ…” (Một
mây Tam Đảo). Buổi trưa ở Mũi Đao, “… gọi em để mua một đôi ngàn đồng sim”. Trong
quán nhậu ở Củ Chi, lai rai với món bò luộc, mắm nêm, và Những bản tin hàng
ngày “… về cuộc đọ súng ở Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á/ những phụ nữ đánh bom liều
chết… những cuộc đấu trên sân khấu chính trị và người dân nghèo chết mòn trong
bạo bệnh/… bệnh viện chật cứng bởi đột quỵ và tim mạch…”.
Ghi nhận như vậy để thấy trái tim nhà thơ hướng về môi trường
sống đương đại, nghĩ suy về những vấn đề của hôm nay (những năm đầu thế kỷ
XXI), phản ứng với tâm thức của người trong cuộc hôm nay, không dựa vào quá khứ
để tụng ca sử thi, không “Ăn mày quá khứ” để tự gắn huy chương cho cái Ta, cũng
không tự huyễn hoặc như “Cái thời lãng mạn”.
Nhà thơ cũng tự soi vào lòng mình để thấy những nỗi buồn. “Có
năm tháng nào lòng ta buồn hơn/ nỗi buồn khắc vào mặt thế hệ hình thập ác” (Khác
biệt và không khác biệt). “… Có thể một người lẫn trong bao người khác/ anh vẫn
một cánh đồng ngày xưa gieo hạt/ hạt khổ đau” (Những ngày xưa). Đó là nỗi buồn
của mọi kiếp người (Câu hỏi), về những bi kịch của đời (Không đề), và nhà thơ “Không
biết chôn nỗi buồn vào đâu” (Cảm). Trong hành trình “đi tìm mê lộ bờ cong, mê lộ
hoàng hôn/ chợt mắt xưa ngơ ngác cổng thế hệ…”, nhà thơ tự thú nhận “… tôi chỉ
là người bại trận” (Cuộc cờ), và ý thức về sự bé nhỏ của kiếp người với thời
gian vô tận: “Ngày như chiếc bóng lẻ ta/ ta như chiếc bóng của ngày/ vô tận” (Ngày).
Nhà thơ không dừng ở sự quan sát hiện tượng mà soi vào bản thể
con người để thấy rõ những gì là thật – giả, những gì là vĩnh cửu và hư không,
cả những niềm tin vẫn còn. “sự thật có thể không mang gương mặt thật/ ảo ảnh tự
ru mình/ hư danh thường ầm ĩ” (Lập ngôn). Và đây là Lẽ thường: “Người khi
vui rồi lại khi buồn/ khi dửng dưng mặt lạnh như đá/ lúc giận hờn cũng tạnh như
không/ Có cuộc đời thoáng như mây khói/ thế gian nhỏ bé và mong manh/ có người
khắc vào ký ức ta vết khắc không tàn/ cuộc đời mà/ là thế!”. Nhà thơ nhìn đời bằng
con mắt thứ ba: “cõi đời, nhìn con mắt mở/ cõi người, nhìn con mắt nhắm/ Từ mẫn
cảm về thời, từ tiếng gọi những vết bầm ký ức/ tôi học nhìn bằng con mắt thứ ba”
(Học). Con mắt thứ ba, còn gọi là Huệ nhãn, là khả năng thấu thị những gì không
nhìn thấy bằng mắt thường (nhục nhãn). Nhờ thế nhà thơ đã nhìn thấy giữa một thế
giới của đối trọng và nghịch lý, vẫn còn hy vọng: “em bé đánh giày rửa đức tin
bằng uy tín màu xi/ chị hàng rong đi rao cơn mơ số phận/… những bàn tay cùng
chìa trong bão lũ/ mái phố rêu phong gục vào chiều cổ thụ/ mong đức tin nảy mầm…”.
Trong tập thơ, Trần Quang Quý không vươn lên hướng thơ tư tưởng,
mà cháy lên cảm hứng thế sự với diễn ngôn có ý phê phán thực tại xã hội. Cảm hứng
xót xa ẩn trong sự miêu tả những cảnh đời, những phận người “dưới đáy”, những
tương phản gương mặt và lối sống nhầy nhụa. Nhưng ngòi bút Trần Quang Quý đủ tỉnh
táo để không đụng chạm đến những vấn đề “nhạy cảm”, không miêu tả cụ thể những
mặt tiêu cực của xã hội, không ám chỉ bất cứ loại người nào trong Cuộc cờ.
Câu thơ được cắt gọt hết ngoại hình ngoại cảnh, để chỉ còn lại cái lõi của vấn
đề, và vấn đề ấy những người thiện tâm đều có thể chia sẻ, cho nên dù nhà thơ
có lên tiếng mạnh mẽ, quyết liệt thì thơ vẫn vượt lên trên bờ bến hiện thực.
Những cái mặt mày râu nhẵn nhụi
những cặp môi mỏng quẹt và cái mồm ống thổi lụng bụng lưỡi
chúng thường hát đồng ca phản trắc và sống nhạt
(Cuộc cờ)
Trên sân khấu người ta vừa quét dọn
có hình những chiếc mặt còn in bóng lộn mặt sàn
chúng đã diễn quá lâu…
… hãy lột chiếc mặt nạ tự phỉnh mình
hãy lộn túi những mớ chữ mị dân
(Quen)
Với tư cách người làm thơ, Trần Quang Quý không thôi trăn trở
về sự trì trệ, về lối mòn, sự lặp lại và cả sự “gục ngã” trên đường sáng tạo:
Để gieo được một hạt ý tưởng
có thể phải ngã gục trên cánh đồng cày ải tư duy
… Tôi đã mang cơn mơ gieo hạt
từ chiếc thúng cảm thức đựng nỗi buồn mùa lép
ám ảnh lối mòn tri thức
như vẫn gặp những con bò nằm nhai lại rơm khô
Không gì đến dễ dàng, tôi biết.
(Tự giải)
“… Chiếc ghế nhẵn một chỗ ngồi, ngày buồn nhão một gương mặt
có gì mòn mỏi hơn bằng giam cầm trong nhàm cũ
có gì mê muội hơn bằng ngủ sâu trong cái bóng chính mình?…”
(Ngày nhạt)
Có lẽ nhờ Tự giải những “Ngày nhạt”, để thực hiện “cơn mơ
gieo hạt”, Trần Quang Quý đã tự làm mới thơ mình. Trần Quang Quý xuất hiện từ
những năm 1990, Siêu thị mặt in năm 2006, giữa cao trào “thơ trẻ khó
hiểu” và những nỗ lực ào ạt cách tân thơ Việt, nhưng Trần Quang Quý vẫn giữ được
mạch thơ truyền thống và góp phần vào kiểu thi pháp mới khác hẳn thi pháp thơ
thời chống Mỹ. Trần Quang Quý hướng về những vấn đề của hôm nay, sử dụng kiểu
ngôn ngữ hôm nay, trần trụi, mới lạ, đảo lộn. Tuy vậy, Trần Quang Quý phản đối
những thể nghiệm kiểu “thích mân mê chiếc áo vỏ hình thức/ đôi lúc hoắng trò
chơi sắp đặt.” (Bờ khác của tư duy).
Thơ Trần Quang Quý là những phát ngôn trực tiếp, là nhận thức
có khuynh hướng tư tưởng, nhưng không phải là tư tưởng triết học, mà đó là những
kinh nghiệm của bản thân. Đây là những phát ngôn:
Có những điều lớn lao mà không cần lý giải
có những việc tầm thường khoác vỏ đại ngôn…
… sự thật có thể không mang gương mặt thật
ảo ảnh tự ru mình
hư danh thường ầm ĩ”
(Lập ngôn)
Vì thiên về suy nghĩ, thơ Trần Quang Quý cũng thiên về lập tứ.
Nhiều bài ý tứ được trình bày theo kiểu tư duy quy nạp. Câu thơ thường ngắn lại
để khẳng định.
Bài thơ Vết là một thí dụ:
Cánh rừng xoá vết chém lưỡi rìu bằng thân cây ứa nhựa
con đường xoá dấu chân bằng phế hoang cỏ
Người ta thường nô lệ ký ức
ký ức làm sao xoá?
Anh đã từng khép lại bóng hình em
và trái tim suốt đời đi vá sẹo
Sau khi dẫn ra hai hình ảnh Cánh rừng xóa vết chém và con
đường xóa dấu chân, nhà thơ đưa ra hình ảnh thứ ba tương phản: người ta làm sao
xóa được ký ức. Từ đó dẫn đến chủ đề: Trái tim anh suốt đời đi vá sẹo. Đó
là cách lập tứ quy nạp. Câu thơ cuối thường chứa đựng chủ đề. Hầu hết các bài
thơ của Siêu thị mặt được lập tứ như vậy. Xin đọc: Đồ vật, Mặt,
Câu hỏi, Không đề, Cuộc cờ, Giọt chiều, Điệp khúc những ngón chân, Tiếng của
loài chim, Ngày, Răng và lưỡi, Khác biệt và không khác biệt, Sắc hoa, Tự giải,
Quen, Lập ngôn, Mũi tên, Bên sông, Nước mắt, Hai chuyện nhỏ ghi ở New York, Những
chiếc cốc mơ lành, Những bản tin.
Nhưng Thơ Trần Quang Quý gây ấn tượng ở kiểu ngôn ngữ “Thơ trẻ”,
và những bài hay trong tập thơ là những bài có kiểu ngôn ngữ mới lạ này. Xin đọc Bầy
rốn, Giọt chiều, Mắt thu, Khoảnh khắc, Châu thổ, Huyền thoại bên máng lợn, Tự
giải, Ngâu Huế, Một mây Tam Đảo, Trong quán nhậu ở Củ Chi.
“Từng nghe tiếng mưu sinh ì oạp lòng máng gỗ
đèn khuya đỏ mắt đêm
sương sớm gột mái đầu thôn nữ
gió hanh mùa, nghe rạn gót quê
Tuổi xuân của em là nối dài những chiếc máng lợn
chiếc máng hầu bao hy vọng
và một ngày những giấc mơ đến thật lạ
em cưỡi trên chiếc máng, bay qua những bờ tre lầm lũi
có một chân trời tít tắp và lấp lánh vẫy gọi
những bến sông chôn đứng con đò
thành phố mọc từ bờ ẩn ức…”
(Huyền thoại bên máng lợn)
Đoạn thơ có những từ được lạ hóa bằng cách đặt vào một trường
ngữ khác nghĩa với trường ngữ bình thường (Ì oạp, đỏ mắt đêm, bờ ẩn ức), có những
cách diễn đạt mới lạ khác thường do cách sử dụng những ẩn dụ liên tưởng qua nhiều
bước, có cả giấc mơ Siêu thực. Giấc mơ “em cưỡi trên chiếc máng, bay qua những
bờ tre lầm lũi./ có một chân trời tít tắp và lấp lánh vẫy gọi/ những bến sông
chôn đứng con đò/ thành phố mọc từ bờ ẩn ức”. Nghệ thuật ngôn ngữ này khác hoàn
toàn với ngôn ngữ thơ truyền thống và ngôn ngữ thơ thời chống Mỹ. Trần Quang
Quý đã có những đóng góp vào sự cách tân thơ Việt ở kiểu tư duy nghệ thuật này.
Tôi rất thích Giọt chiều, Mắt thu, Ngâu Huế, Một mây Tam Đảo vì ở
những bài thơ này, Trần Quang Quý còn bộc lộ chất tài hoa thi ca nữa.
Dù mới lạ, thơ Trần Quang Quý đọng lại rất sâu ở tình cảm yêu
thương mãnh liệt những phận người, ở sự thấm thía nỗi buồn thế sự bên dưới những
ghi nhận, nghĩ suy và ở sự tài hoa ẩn trong sự bộc trực, gân guốc ngôn từ. Những
bài thơ tình hiếm hoi cũng chứa đựng năng lượng cảm xúc có sức bùng nổ.
2. Màu tự do của đất – “Ánh sáng của một ngày tự thức”
Trong bài Đồng loại, nhà thơ Trần Quang Quý tự hỏi: “Ta là ai? Câu hỏi đã xưa rồi/ và điều đó chỉ riêng ta biết/ ta là cả muôn loài, duy một điều khác biệt/ ta vẫn phải suốt đời mang gương mặt là ta!”. Đến cuối tập thơ, nhà thơ nói đến ánh sáng “tự thức,/ đánh thức bản nguyên,/ ánh sáng khoan thai trong khung cửa ngộ thức,/ hình như tôi vừa tự mở khóa mình” (Sự sáng). Những dấu chỉ ấy phải chăng là hành trình tự nhận thức cá tính sáng tạo của nhà thơ, cũng là sự thức tỉnh trước thực tại thơ Việt để tự khai mở con đường thi ca của mình. Đâu là con đường Trần Quang Quý tự thức?
Phóng túng gì bằng được giải phóng lời khỏi những mật ngữ
hứng khởi gì bằng bóc vỏ tự do
nghe trái tim cuộn chảy dòng máu nhân sinh
nghe sự thật bong ra khỏi vai diễn
nghe cội rễ tự nhổ khỏi đất cằn những ngày nhạt
(Có những điều giản dị)
Tự thức là “bóc vỏ tự do”, “giải phóng lời” để “trái tim cuộn
chảy dòng máu nhân sinh” và “bong ra khỏi vai diễn” để sống thật, thoát khỏi những
“ngày nhạt”. Những điều ấy là những điều giản dị, nhưng trong cõi nhân gian
này, thì đâu có dễ. Tự do bị bọc vỏ, hay chỉ có vỏ bọc, phải bóc vỏ để tự
do trở thành đất của mầm mơ ước/ những chói sáng thăng hoa lại bắt đầu từ những
hạt tự do (Bầu trời phi lý thuyết). Khi tự do bị bọc vỏ thì lời cũng bị cầm
tù, vì thế phải giải phóng lời, để cả một thời đại đừng nói ngọng nữa (Giọng).
Làm sao để “trái tim cuộn chảy dòng máu nhân sinh” khi mà bao nỗi oan khiên dâu
bể vẫn bày ra trước mắt mà nhà thơ phải câm lặng!
Ngay trong tập thơ này, có được bao nhiêu bài “tự thức” như
thế? Bao nhiêu bài trái tim nhà thơ “cuộn chảy dòng máu nhân sinh”! Gần như những
vấn đề “nóng” của ngày hôm nay không có mặt trong tập thơ (?), hoặc nếu có,
cũng chỉ là ẩn dụ bóng gió, như thể đó là việc chẳng phải của ai. Xin đọc:
“Sau tất thảy trận mạc, khúc bi thương hay khúc oai hùng
chiếc gươm ngủ giấc hào quang
hay thức mòn trong bi kịch những vết chém?
Bỏ lại phía sau tiếng mài rợn đá
những tiếng mài gọi nhau từ toát lạnh vỉa tầng tử khí
tiếng mài của đớn đau và bi kịch sự mài
tiếng nghiến răng lịch sử
còn khía những vết thương hòa bình
Những giọt máu đã khô trong lạnh lùng ánh thép
chiêm ngưỡng gì thân phận một cây gươm?
trên con dốc thời gian gập bóng những lát cắt số phận
mỗi vết thương lại khai quật nỗi buồn
và nỗi buồn không muốn một thanh gươm
nằm rỉ máu vết thương ký ức
(Chiếc gươm trong bảo tàng – 1/8/2011)
Hãy bỏ những từ ngữ làm hoa mỹ bài thơ, nội dung bài thơ toát
lên sự oán ghét chiến tranh, bởi chiến tranh gây ra những điều khủng khiếp: “Những
giọt máu đã khô trong lạnh lùng ánh thép/ chiêm ngưỡng gì thân phận một cây
gươm?”. Chẳng lẽ lại đi chiêm ngưỡng cây hung khí đã để lại những vết chém trên
những số phận, đã gây ra bao nhiều đau buồn, máu chảy đầu rơi? Hỡi người! Có
nghe không “tiếng nghiến răng lịch sử”, tiếng oán hờn của bao sinh linh! Trần
Quang Quý nói về thanh gươm trong viện bảo tàng là nói về chiến tranh thời chưa
có súng đạn,… Nhưng những số phận, những bi kịch vết chém, những đau đớn do
thanh gươm chiến tranh gây ra thì hôm qua, hôm nay hay mai sau đều giống nhau,
cho nên dù chỉ là chuyện trong bảo tàng, thì những vết thương hòa bình vẫn rỉ
máu, những số phận bi kịch vẫn không thôi đau đớn. Ý thức là vậy, nhưng Trần
Quang Quý đã không thể nói cụ thể cuộc chiến nào! Bài thơ chỉ là một ẩn dụ (có
lẽ để có sức khái quát), nhưng thanh gươm thật chắc chắn là có lịch sử. Ngôn ngữ
thơ Trần Quang Quý có sức mạnh như những nhát gươm, chém vào tâm thức con người
hôm nay trước những bi kịch của dân tộc, ai cũng biết nhưng không nói ra, không
thể “giải phóng lời”!
Trong tập thơ này, những bài thơ nói được những vấn đề của
dân tộc là những bài thơ hay và có sức mạnh lay động thấm thía. Xin đọc: Từ
đất, Bài hát tháng Mười, Đàn bò vào phố, Đồng loại, Nỗi buồn hát,… Màu tự
do của đất đau đáu nỗi niềm làm sao một dân tộc thoát khỏi lam lũ đói nghèo,
làm sao người nông dân không bị mất đất:
“Liềm hái thèm ngày thôi gặt gió sương
người nông dân thèm tự do được giải phóng mình khỏi nhọc nhằn
cơ bắp
và tự do đầu tiên lại là tự do không thoát ly bùn đất
tự do của mồ hôi
tự do neo đời mình vào cánh đồng sương gió”
Để nói những vấn đề của hiện thực, Trần Quang Quý dùng nhiều
hình ảnh biểu tượng và cách nói ẩn dụ. Chiếc ghế là biểu tượng quyền lực. Trên
ghế là “những gương mặt mộng du quyền lực”, “trên ghế những mặt đời sấp ngửa” (Mặt
ghế); “Ngọng” là biểu tượng cho cả một thời đại: “ngọng ở góc làng, ngọng loanh
quanh nửa quê nửa phố/ ngọng lên xe hoa/ ngọng nhà không số/ ngọng huyên thuyên
vào cả diễn đàn (Giọng). “Chiếc đinh” là hình ảnh tội ác. Nó thi hành mệnh
lệnh “Cắm vào nỗi đớn đau kẻ khác từng milimet”, để thực hiện những “đòn thù” một
cách “hiểm độc” (Chiếc đinh)… Nhiều bài thơ, trái tim nhà thơ chạm vào được những
vấn đề nhân sinh, nhưng không có gì cụ thể. Phải chăng đó là cách nhà thơ “tự mở
khóa” để thoát khỏi những phiền toái của bút pháp hiện thực?
Thoát khỏi bút pháp hiện thực, Thơ Trần Quang Quý bay bổng
trong thế giới lãng mạn. Những bài thơ này mang được khí chất lãng mạn – tài
hoa – phóng túng của Trần Quang Quý. Xin đọc: Sơn Tây, Điệu thức Cao Bằng,
Đàn môi, Ngựa đêm, Một chấm nhân gian, Vết của mùa thu, Uống rượu ở Bangkok… Trần
Quang Quý thả mình bay bổng, và phóng bút làm rung chuyển mọi cung bậc tưởng tượng
và cảm xúc, đặc biệt là sự “giải phóng” những ẩn ức phồn thực (?) (Vết của mùa
thu, Đến, Đàn môi, Sự hình dung).
… Tôi cưỡi mây trắng bay điệp điệp sông Hồng
bay phiêu du bằng dân dã hồn làng
có cánh diều làm nghiêng cả một vòm trời lãng mạn
có bầu trời tự do thúc ngựa hí những khát dâng trong ngực
có trái tim già dắt trái tim non đi vấp váp trên con đường
nhân bản
nối đời này đời nọ gió lành Sơn Tây…
(Sơn Tây)
Em có biết cơ thể em chứa bóng tối của tôi
chúng mò mẫm bóng đêm dục cảm
qua đôi vú căng thơm bình minh
và toả sáng khát vọng
đôi vú, một bầu trời đang cơn chuyển động
chứa phồn thực mùa hè giấu mùa đông ngún lửa
(Sự hình dung)
Vì bay bổng lãng mạn và sử dụng kiểu ngôn ngữ tượng trưng như
thơ Lãng mạn trước 1945, nhiều bài thiếu máu thịt đời sống thực, ngôn ngữ bay
bướm muôn sắc màu lơ lửng trên tầng không. Xin đọc: Buổi sáng, Ru cỏ, Lại
nhớ tóc dài, Nỗi buồn hát, Chảy, Trong mưa, Đàn môi…
“Trên vai tôi dòng lưu chảy từ cổ xưa lại ào ạt chảy
có giọt vắt ra từ đá lạnh
có giọt tẩm liệm trên những hàng mi ướt lại quay về
những dòng sông lang thang thế gian như quên mình có một nguồn
biển gầm rỗng đại dương, một ngày đọng về mềm oặt cỏ sương”
(Trong mưa)
Câu thơ chỉ là những suy tưởng, những liên tưởng không bấu
víu được vào bất cứ mỏm bờ hiện thực nào trong cõi người (?). Những bài thơ
không hồn vía, khí sắc, máu thịt đời sống này, làm rỗng tập thơ. Nó có thể là một
cách nhà thơ “tự mở khóa”(?) nhưng mở ra con đường dẫn nhà thơ đến đâu?
Cũng may, cội nguồn thơ Trần Quang Quý là đời sống hầm hập sức
nóng “những dấu hỏi ngược về cổ xưa tiền kiếp” (Bài hát tháng Mười), ngày thấp
thỏm, đêm chập chờn vì “những con mắt gài quanh bờ giậu” của rắn, của bầy chó đồng
loại (Đồng loại), và biết đâu những chiếc đinh sẽ đóng đòn thù sâu vào những
thân phận nhỏ nhoi (Chiếc đinh)…; thế nên những phút bay bổng chỉ làm dịu mát một
khoảng sân thơ… Những câu thơ về mẹ, về làng quê, những yêu thương và khát vọng,
đích thực căn cốt của hồn thơ Trần Quang Quý.
Ta gọi sẻ, gọi những mùa thơm hạt
nhớ mái hiên chiều mẹ ta sàng gạo
dưới tay Người rào rạo mắt thời gian
mẹ sàng cả tiếng chim, lăn líu ríu từng chùm lên mặt đất
cái tiếng chim nhỏ nhoi, ta thương sẻ loài chim không biết
hót
cả một đời chiêm chiếp tiếng sẻ thôi
(Gọi sẻ)
3. Ga sáng – Nơi ký ức vọng về
Ga sáng tiếp tục mạch thơ từ Siêu thị mặt nhưng
đã có những bước chuyển. Trần Quang Quý tiếp tục suy tư về lẽ đời bằng sự trải
nghiệm, nhưng thế giới nghệ thuật Ga sáng là thế giới của ký ức. Nhà
thơ nhớ lại, nghĩ suy về những gì đã qua, để tâm hồn “bay bằng đôi cánh cảm xúc”
(Ở Xuân Lũng giờ này), “bay trên đôi cánh lãng mạn” (Sông Đà) và liên tưởng
miên man. “Thơ đổi mới” trở về “thơ truyền thống”. Cái Tôi trữ tình là yếu tố
trung tâm, thu hút những lát cắt hiện thực vào tâm tưởng và tỏa ra những suy
tư, những nhận thức và cả cảm giác trải nghiệm (Bản Concerto số 9).
Có thể đọc Mưa Tiên Điền như một đặc điểm thi pháp
thơ của Ga sáng
“Chiều thắp hương xong trên lăng mộ Nguyễn Du
mưa đổ bến Giang Đình, mưa vắt phố
mưa Nghi Xuân níu bờ sang Vinh
mưa như rượu
tưới lòng nhân ái
mưa như chan nước mắt nàng Kiều
hay nước mắt Nguyễn Du cũng không biết nữa
hay nước mắt trời ứa nhân gian?
Nào em nào em xích lại gần hơn
anh sợ tuột em vào cơn mưa lạnh
sợ bàn tay suông
mắt hờ hững
sợ Giang Đình lạc bến gió liêu xiêu
Trong Nguyễn Du đâu chỉ một nàng Kiều
cơn mưa dắt muôn ngả Kiều cộng lại
máu đã rỏ hồn Người trên ngọn bút
mỗi câu thơ chắt cạn nhân gian
chắt tâm sự một tâm hồn lớn
hóa cơn mưa tưới ngọt Tiên Điền?
Anh nắm tay em sợ tuột vào hoang gió
Sợ tuột Kiều
Vào trống vắng thành Vinh”
(Bến Thủy, 2h15 ngày 4/12/2015. Dự lễ kỷ niệm 250 năm ngày
sinh Nguyễn Du)
Bài thơ chỉ có một chi tiết hiện thực là Chiều thắp
hương xong trên lăng mộ Nguyễn Du thì trời mưa. Nhà thơ lan man suy tưởng
về mưa, về nàng Kiều và về Nguyễn Du. Phép so sánh trùng điệp được sử dụng triệt
để, diễn đạt những ý tưởng sinh sản. Nhân vật em (tưởng tượng) chen vào bài thơ
chút ngọt ngào tình tự nhưng không liên quan gì đến nghĩ suy về Kiều và Nguyễn
Du. Thấp thoáng cái nhìn của nhà thơ về đời bể dâu: “mưa như chan nước mắt nàng
Kiều/ hay nước mắt Nguyễn Du cũng không biết nữa/ hay nước mắt trời ứa nhân
gian?”, “cơn mưa dắt muôn ngả Kiều cộng lại”, “Bao nhiêu cơn mưa đổ xuống cuộc
đời/ Bao trú ngụ cuộc đời tốc mái?” (Những cơn mưa). Đâu đó là một nỗi “sợ” mơ
hồ về sự vô cảm: Sợ “bàn tay suông/ mắt hờ hững…/ sợ lạc bến/ sợ trống vắng.”
Có cả những lúc hoang mang hiu quạnh (Họa mi hót). Vì là thơ tâm trạng, chất hiện
thực rất mỏng (được dấu trong ẩn dụ) nên những suy tư chưa đủ sức nặng để lay động,
dù nhà thơ có liên tưởng từ nước mắt nàng Kiều đến nước mắt Nguyễn Du để dẫn đến
nước mắt trời ứa vì nhân gian, nhưng cái nhân gian hiện thực hôm nay, “những điều
trông thấy” hôm nay thì Kiều chưa đủ sức đại diện. Chính Nguyễn Du ngày xưa
cũng đã né tránh, ông đã không ghi một dòng nào về lịch sử xã hội Việt Nam
trong Kiều. Trần Quang Quý nhắc đến Nguyễn Du và Kiều chỉ là nhắc lại quá vãng,
gợi một chút gì đó còn trong ký ức.
Nhà thơ có cả một bảo tàng ký ức (Ở Xuân Lũng mùa này), biển
ký ức: “… biển đổ ròng ròng ký ức” (Bên biển Phú Quốc), và “những nhớ thương ùa
sóng cả…” (Một bờ sông Hậu) trong đó có những tầng ký ức (Về những sợi tóc). Ký
ức không rơi rụng: “Đã bao mùa rụng lá, cây bàng không rụng được ký ức… (Café
Paris). Ký ức in hằn trong tâm tưởng: “Tôi vẫn nhớ… những vệt lõm dấu chân đã hằn
ký ức” (Dấu chân). Và hương ký ức tỏa mãi (Hoàng lan), đến nỗi người thơ ví
mình như con dế “bị nhốt trong hộp ký ức” (Trên bức tường rào gạch). Bởi vì, “Làm
sao quên chiều sân ga 1972/ Cha tiễn tôi,… (Trở lại sông Thao), làm sao
quên “ngõ làng mùa rê thóc/ mẹ đội lễ sang bà ngoại ngày giỗ chạp” (Sông Đà).
Làm sao quên “… đêm cà phê Paris/… ngày bạn đi mãi mãi tại nơi này”. Nhớ thuở
áo tơi gầy tướp gió (Bóng quê), nhớ: “nơi anh và em cùng ngồi dưới vòm xanh tỏa
bóng/ người ta đã đốn cây rồi” (Nơi cũ), giờ “nhìn đâu cũng em, đâu cũng là
ngày ấy” (Mưa Sài Gòn), “Ngày ấy, em thiếu nữ 18” (Những giọt sương lãng mạn),
Nhớ “mắt em… ngước nhìn anh trong thế giới đang héo hắt lãng mãn” (Bản concerto
số 9). Nhớ một lúm đồng tiền ký gửi trong ngân hàng tình cảm (Ngày Vinh), nhớ “bản
hòa tấu em chọn cho anh…” (Bản hòa tấu tình yêu). Và nhớ Tôi ngày xưa, “Tôi
ngược tết…/ gặp lại tôi… thơ bé/ (Ngược tết), “bầy dế gáy vang chân trời cổ
tích (Khởi cỏ)…
Trong thế giới của ký ức, nhà thơ bộc lộc tất cả cung bậc cảm
xúc thương yêu của mình. Dù thời gian có làm rơi rụng tất cả thì vòm trời yêu
thương vẫn xanh và hạt gốc nhân bản vẫn nảy mầm.
“… tôi bay bằng đôi cánh cảm xúc quanh những gò đồi/ chim sẻ
ríu ran gọi mùa về trên vòm cây tháng tư/ hoa xoan vừa thoát tục…” (Ở Xuân Lũng
giờ này).
“… Ngày ấy, em thiếu nữ 18, hai bím tóc nhí nhảnh/ mắt
em hai giọt sương tinh khiết treo trong mắt anh/ treo 35 năm bây giờ chưa rụng…
Ngày ấy, anh lính 23 ngu ngơ trở về khát vọng học trò còn dở dang đèn sách/ chiến
tranh đóng cũi bao ước mơ …” (Những giọt sương lãng mạn).
“Bà nội mất, còn day dứt nỗi buồn cháu không kịp về
nhìn mặt lần cuối/ may có cô, cháu thấy bà như vẫn đâu kia… Thương cô lưng
còng, lại nhớ bà khôn xiết/ Và kỳ lạ, mỗi lần về quê chợt lòng yên tĩnh/ Bóng
cô kia hay đó bóng bà thăm thẳm một đời quê” (Bóng quê).
Trong vòm trời xanh của ký ức, Trần Quang Quý thổ lộ: “Cứ mỗi
lần ngước lên bầu trời tôi tự hỏi…” đàn sếu bay hình mũi tên trên bầu trời có
“mật chỉ” gì?. Nhà thơ tự hỏi Về những sợi tóc rụng, về sự sắc nhọn của những
chiếc gai, lắng nghe Bài hát của chiếc giày, nghe một quả rơi tiếng hạt nảy
mầm, cảm nhận hương thơm của Hoàng lan, của hoa sen “nhụy vàng mây, thơm nõn
gió/ hương sắc thu muôn tinh tú”, chiếc lá bồ đề mang về từ đất Phật, cả chuyện Trong
bình rượu bìm bịp: “Bổ gì, rựơu bìm bịp/ khi ta uống là cạn ly xác chết/ ta uống
cả tiếng kêu thảm thiết/ vẫn đang còn vỗ cánh ở ngoài kia”.
“… Không phải cái gì mất cũng tìm được
có cái tìm được thì đã mất…”
(Hoàng Lan)
“… mưa như chan nước mắt nàng Kiều/ hay nước mắt Nguyễn
Du cũng không biết nữa/ hay nước mắt trời ứa nhân gian?”
(Mưa Tiên Điền)
Tác giả ghi nhận đời sống ở Ấn Độ: “người Ấn thản nhiên trong
lam lũ”. Nhà lụp xụp, người thợ xây đội từng bao xi măng, những chiếc xe lôi lầm
lũi trong khuya. Đường phố của phân bò, phân chó, phân dê, phân ngựa, nước tiểu
và rác thải/ thì cũng chẳng có gì phải vướng bận”. “Tất cả cùng cười/ gương mặt
giữ nhau đầy an lành”. Tác giả tra hỏi: “Dường như phía sau những gương mặt cần
lao kia/ phía sau những ngôi nhà lầm lũi, tự do bò rống và lợn chạy/ có một Ấn
Độ khác, một tinh thần khác/ một tinh thần văn minh lạ kỳ… Tôi bỗng hiểu vì
sao… nơi này Phật ngộ” (Có gì lạ phía sau Ấn Độ?)
Từ những vật cụ thể gần gũi, Trần Quang Quý mở rộng suy tư ý
nghĩa nhân sinh của Hoàng hạc (Hạc vàng), về Lý Bạch, Nguyễn Du, về dân tộc Ấn
Độ…
“Hạc vàng đã bay/ Liệu còn hạc nào in trên bầu trời…/ …Lý Bạch
tiên thi trước Thôi Hiệu cũng đành nín bút… một vòm trời biền biệt hư không/
Trường Giang, Trường Giang những ly biệt đời người/ đâu bến thành danh đâu bến
vô danh/ còn lại bóng thi nhân… (Hạc vàng).
“Tôi không hy vọng chiếc lá bồ đề mang về phép màu nhiệm nào/
nhưng ít nhất, chiếc lá đang reo trong tôi bài hát của rừng nguyên thủy/ chiếc
lá thức trong tôi ngọn nến thắp lòng thiện/ ngay cả chính nơi không có bóng Phật”
(Những chiếc lá bồ đề).
“… Tôi gọi hạt tôi… xanh cây che mỏng nỗi người/ ít nhất biết
mỉm cười trước rừng lưỡi gièm pha, và bủa vây ganh tỵ” (Gieo).
Điều đáng quý ở nhà thơ là một tâm hồn xanh trong. “Tôi gọi hạt tôi… xanh cây che mỏng nỗi người”.Chiếc lá bồ đề “thức trong tôi ngọn nến thắp lòng thiện”. “Tôi ăn ngủ cùng chữ tháp tùng chữ bước vào những số phận”. “Hy vọng từng ngày làm lại tương lai”.
4. Namkau – Định vị một khuôn mặt
Trong hỗn độn mớ tôi
tôi đã từng đột phá đi tìm
bản thể
Sự khám phá có khi thật giản dị
có người suốt đời đi không tìm được chính mình
(Tìm 2)
Nhà thơ đi tìm bản thể là tìm chính mình, là xác định mình là
gì, khác người khác cả về nội dung và nghệ thuật thơ trong hành trình sáng tạo.
Tất nhiên một tập Namkau chưa đủ quán xuyến tất cả đặc điểm cá tính
sáng tạo của Trần Quang Quý, song nếu một giọt sương đong được cả mặt trời (Giọt
sương ban mai), thì Namkau cũng đủ lấp lánh khuôn mặt thơ Trần Quang
Quý.
Đã từng đi nát con đường
gỗ hương long mộng chân giường đứng ngây
Đã từng hẹn tuột vỏ cây
Gió ghen vần vũ đám mây tụt quần
Đã yêu yêu cạn mùa xuân… (Bước yêu)
Tôi chọn bài Namkau lục bát dễ đọc để định vị thơ
Trần Quang Quý. Trần Quang Quý kế thừa thơ truyền thống bằng linh hồn của lục
bát và ca dao tình yêu mang đậm chất phồn thực. Hò hẹn, đứng chờ, ghen tuông,
và yêu “long mộng chân giường”; “tụt quần” để “yêu cạn mùa xuân” thấp thoáng
trong bài ca dao. Trần Quang Quý bộc lộ khí chất mạnh mẽ trong việc dùng từ, đặc
biệt là các động từ “đi nát con đường”, “hẹn tuột vỏ cây”,“đám mây tụt quần”, “yêu
cạn mùa xuân”. Điệp từ “đã từng, đã yêu” góp phần tô đậm khí chất nam tính thơ.
Nhưng điều đặc sắc, mới mẻ của thơ Trần Quang Quý là góc nhìn
mới và kiểu tư duy ngôn ngữ mới, làm cho bài thơ tình yêu quen thuộc có sức gây
ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Dường như chẳng có liên quan gì giữa “con đường”
(câu 1) với cái giường bị long mộng và “gỗ hương, đứng ngây” (câu 2). “Hẹn tuột
vỏ cây” là một so sánh ngầm hoàn toàn mới lạ, bởi “hẹn hò” và “tuột vỏ cây” nằm
ở hai trường ngữ khác nhau. “gỗ hương long mộng chân giường đứng ngây” là một cấu
trúc câu lạ. “Gỗ hương” là một vật bất động, không thể làm long mộng chân giường,
và đâu là chủ ngữ của “đứng ngây”? Cấu trúc câu tiếng Việt đã bị phá vỡ. Các
hình ảnh được xếp chồng lên nhau, mà sự liên tưởng phải qua nhiều bậc mới với tới
được. Và hơn thế, đã có sự phá vỡ mọi cấu trúc. Cấu trúc những cuộc hẹn hò, cấu
trúc những cuộc yêu, cấu trúc không gian và thời gian và cầu trúc tâm trạng yêu
của hay kẻ hẹn hò, muốn yêu long mộng chân giường và muốn sex (tụt quần) bạo liệt.
Nếu người đọc không tái cấu trúc thơ, không vượt qua được những khoảng cách đòi
hỏi liên tưởng nhiều bậc này, sẽ thấy thơ khó hiểu. Nhưng làm thế nào để kết hợp
các cấu trúc đã bị đập vỡ để tạo nên một cấu trúc thơ mới, đó là sáng tạo, và
đó là chất riêng Trần Quang Quý.
Xin đọc thêm một bài nữa:
Lâu lâu bạn đến nhà
ta ngâm men tri kỷ
rượu khai xuân chan nhau ngầu khuya
ta vì bạn dốc ta tận đáy
bạn về đáy rỗng lộn ngược ta
(Bạn đến)
Câu thơ đầu tiên gợi ngay đến bài thơ Bạn đến chơi nhà của
Nguyễn Khuyến (Đã bấy lâu nay bác tới nhà). Nguyễn Khuyến với bạn là tri kỷ.
Tình bạn, cảm hứng về uống rượu là những đề tài rất quen thuộc trong thơ cổ điển.
Thơ Trần Quang Quý ướp hương cổ điển, nhưng đọc lại thấy mới lạ. Cái mới lạ của
khí chất thơ: mạnh mẽ, táo bạo thấp thoáng phồn thực và “lộn ngược” kiểu ngôn
ngữ truyền thống.
Người đọc hình dung ra nhà thơ và bạn uống rượu trong đêm
xuân, uống đến khuya, như thể họ ngâm trong rượu. Rượu chưa đầy họ chan thêm.
Có bao nhiêu rượu trong bình, họ dốc hết, dốc đến tận đáy. Sau đó bạn về, còn lại
nhà thơ say, cảm giác mọi thứ đều lộn ngược.
Nếu chỉ như thế, cũng đã đạt đến cái ngất ngư “Đất trời
nghiêng ngửa” của Vũ Hoàng Chương trong Say đi em. Điều lắng đọng của bài
thơ là tình tri kỷ của nhà thơ và bạn, không phải là tình rượu. Nhà thơ đã dốc
hết tình tri kỷ với bạn.
Cả bài thơ là cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ẩn dụ và bằng sự
phá vỡ các cấu trúc, tạo ra các lớp nghĩa chồng lên nhau, bắt người đọc phải
tháo gỡ câu thơ ra, tái cấu trúc và liên tưởng nhiều tầng lớp, để lần ra nghĩa
thực. Không phải khi bạn đến nhà thì nhà thơ mới đi ngâm men để làm rượu. Cũng
không phải rượu của nhà thơ là rượu có vẩn đục (“ngầu”), cũng không phải nhà
thơ và bạn trở thành hai gã say làm đục ngầu đêm xuân. Câu thơ: “ta vì bạn dốc
ta tận đáy” đọc thế nào cho đúng cấu trúc câu tiếng Việt? “ta vì/ bạn dốc ta tận
đáy” hay “ta vì bạn/ dốc ta tận đáy”? Cả hai đều không chuẩn ngữ pháp Việt. Diễn
xuôi có thể là, “ta vì bạn [mà ta] dốc tận đáy [những gì] ta [có]”. Câu thơ trở
nên lạ. Cũng vậy, câu thơ: “bạn về đáy rỗng lộn ngược ta”. Có ba mệnh đề chồng
lên nhau: Bạn về, bình rượu rỗng đến đáy. Ta say, nhìn mọi thứ đều lộn ngược.
Các chủ ngữ của “đáy rỗng” và “lộn ngược ta” bị giấu đi, câu thơ trở thành lạ.
Và cái thú đọc thơ là sự khám phá những cái “lạ” ấy trong ngôn ngữ thơ Trần
Quang Quý.
Nội dung, chủ đề nhiều bài thơ trong Namkau là những
điều rất đỗi quen thuộc, nhưng nhờ nghệ thuật “lạ hóa” ngôn ngữ, và truyền vào
ngôn ngữ cái khí lực dào dạt của tác giả, thơ Trần Quang Quý trở nên hấp dẫn. Muộn
thu, Rêu Tháp Rùa, Tóc yêu, Vườn đêm, Tháng ba quê, Tươi, Dị biến… là những
bài thơ rất riêng và hấp dẫn.
Tôi mọc rêu lên tận đỉnh Tháp Rùa
nghe gió mọc ngàn năm hoang cổ
sóng vặn đáy hồ mở sáng huyền ảo
Tháp Rùa cũng mọc rêu sang tôi
bằng ánh thép thanh gươm trả nợ
(Rêu Tháp Rùa)
Những bài thơ đọng lại được, lại là những bài chạm đến những
vấn đề nhân sinh vượt ra ngoài những nghĩ suy của nhà thơ, và những bài thơ
tình quê đậm hương ca dao. Những bài như thế không có nhiều trong tập Namkau:
Phố vắng tanh như phố bỏ hoang
Chỉ tiếng rao “muối đê” khía đến sót lòng
Muối ướp cứng cả thành phố lạnh
Người bán muối mang ngày thiêng đời mình đi bán lẻ
Hy vọng thu về những mảnh vụn mùa xuân
(Hà Nội sớm mồng 1 tết)
Những bông hoa nở bên hàng rào nhà ta
triền cỏ ven đê mê bước chân chiều
hoa nở tím làm mùa hè chùng lại
Bóng em vừa ngang qua ngõ ấy
bỗng tươi lại hồn làng
(Tươi)
Thơ năm câu (Namkau) mà Trần Quang Quý đề xuất có thể là một
hướng đổi mới thơ ca. Tuy vậy, những bài thơ ngắn có các cấu tứ như namkau đã
có trong tập thơ trước. Khi bị đóng khung vào một cái khuôn, tôi có cảm giác chật
chội. Khí chất Trần Quang Quý là phóng túng, khi thì trữ tình – lãng mạn – bay
bổng, khi thì mạnh mẽ – quyết liệt – cô đặc. Ngôn ngữ luôn vượt ra ngoài cái
“chuẩn” thường ngày, và bị làm cho “lộn ngược”, câu thơ bị phá vỡ cấu trúc tạo
ra nhiều lớp nghĩa. Khi ông bó mình vào khuôn namkau, sự phong phú khoáng
đạt của thơ Trần Quang Quý bị ức chế. Mỗi bài namkau chỉ khai thác một
chi tiết, một ý tưởng, và nhiều khi, những ý tưởng đó chưa đủ độ sâu tư tưởng,
chưa đủ độ sung mãn của cảm xúc thơ, thành ra sức hấp dẫn của Namkau chưa
bị hạn chế (Ngẩng, chiếc răng khểnh, Đỉnh, nằm, tiếng cá quẫy, Ngón, tiếng chim
hót, Giọt sương, Thấy, Dìm, tiếng Violon…). Kiểu lập tứ quy nạp tuy có gây sự
kinh ngạc phát hiện, song nhiều bài, câu kết phơi trắng ra tất cả. Ý tưởng
nguyên vẹn là ý tưởng, chưa cất cánh thành thơ.
Bên sen thấy trời rộng
hương sen nâng ngàn dặm mây xa
hồ xanh dịu bằng màu hoa thanh khiết
Bí quyết ư, giản dị
cả vạn năm tu rễ ở bùn
(Sen)
Tôi nghĩ rằng kiểu thơ năm câu (namkau) chỉ đạt tới giá trị của
nó khi thơ trở thành thơ tư tưởng như Tứ tuyệt hay Haiku chẳng hạn. Nếu chỉ là
những ý nghĩ còn thô như: “Ngẩng lên là khoảng rỗng/ nhưng sẽ thấy bầu trời” (Ngẩng),
hay “Khai quật đen/ phượng chắt đỏ hè” (Đỏ) thì namkau khó vượt lên như thơ Tân
Hình Thức (Khế Iêm) chẳng hạn. Dù vậy, gần đây đã có một câu lạc bộ thơ Namkau
(như câu lạc bộ thơ Đường, Câu lạc bộ thơ Lục bát). Tôi ủng hộ nỗ lực đổi mới
thơ của Trần Quang Quý.
Một hành trình
Mười năm thơ (2006-2016) là một hành trình sáng tạo. Trần
Quang Quý tỏ ra sung sức và dồi dào năng lực sáng tạo. Tôi rất ít thấy Trần
Quang Quý lặp lại từ ngữ, cảm xúc hay thi liệu. Dù viết lại một đề tài, ông vẫn
có những khám phá mới. Hành trình ấy đã trở thành một con đường, và in rất đậm
vóc dáng lực lưỡng nhưng thanh thoát của nhà thơ. Trần Quang Quý kế tục thơ
truyền thống ở mạch trữ tình, ở những tình cảm yêu thương, những trăn trở về phận
người, cả những cảnh ngộ bất hạnh. Dù ở New York, hay ở sông Hằng Ấn Độ; ở Sơn
Tây hay ở Đất Mũi; trên bãi biển, trên những con đường quê hay ở giữa phố thị;
dù đối mặt quyết liệt với hiện thực hay bay bổng với lãng mạn tình yêu hổn hển
hơi thở phồn thực, nơi nào ông cũng ghi nhận, cũng cảm, cũng nghĩ và viết những
dòng thơ đủ sức neo vào lòng người đọc ấn tượng thẩm mỹ, những nghĩ suy của ông
hòa trong những nghĩ suy của người đọc.
Con đường thơ của ông là con đường “tự thức” để thực hiện “giấc mơ gieo hạt”. Ông từ chối: “Những cơn bão ngôn từ có lúc muốn lồng lên/ cả tiềm thức cũ mèm hay ngữ nghĩa vừa khoác manh áo mới từ vựng/ những con chữ cởi trần, không câu nệ xiêm y mỹ tự…” (Ngoặc đơn – Màu tự do của đất). Ông “tháo ngoặc” để con chữ được tự do. Và gần như ông tháo tung tất cả cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc thời gian, không gian, cấu trúc câu truyện (xin đọc Bước yêu và Bạn đến ở trên) để tạo những cấu trúc mới. Ông từ bỏ những thi liệu cũ, những đề tài cũ, những cách viết cũ, những góc nhìn cũ mà nhiều nhà thơ cho đến nay vẫn “ăn mày quá khứ”, để dấn thân khai phá những “vỉa tầng” mới của tâm hồn thời đại. Với những nỗ lực ấy, Trần Quang Quý thực sự đóng góp vào sự đổi mới thơ Việt đương đại, sự đổi mới có ngọn nguồn truyền thống. Hướng đi này có nhiều triển vọng, bởi những nỗ lực đổi mới thơ Viết từ những năm 1990 đến nay theo hướng Hậu hiện đại dường như đã chững lại, trong khi Trần Quang Quý tiến về phía trước trong hành trình thực hiện “giấc mơ gieo hạt” của mình.
3/10/2022
Bùi Công Thuấn
Theo https://vanvn.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét