ANH TÔI VÀ NHỮNG NGƯỜI THUỞ ẤY
Thân tặng những HS đã từng học Triết với anh Nguyễn Lương Hiền
tại Đà Nẵng trước 75
Cha tôi làm nghề rèn lại điều khiển đám học trò học việc, thợ
làm đồ sắt nên tính tình nóng nảy, hay la mắng các anh chị em tôi. Mỗi khi cha
ra khỏi nhà là mấy anh em mừng vì có chút không gian dễ chịu nhưng khi cha về
là ai nấy lại lặng lẽ làm việc. Trong nhà chỉ có tôi là được cưng nhất, có thể
vì là út mà lại mồ côi mẹ quá sớm.
Tôi lớn dần trong sự thương yêu đùm bọc của mọi người. Năm
tôi lên 6, 7 tuổi gì đó, ký ức tôi nhớ rõ là anh Hiền vẫn theo cha đi làm sắt để
đúc bê tông cho nhiều nhà trên phố như Thái Lợi, Rồng Vàng, Trương Đình Kiểm,
…. Anh Hiền làm việc chăm chỉ được mọi người cảm mến. Có lần, khi làm xong nhà,
ông Thái Lợi cho anh Hiền chọn một món quà trong quày tủ của tiệm và anh đã chọn
cây đèn pin.
Ban ngày làm lụng vất vả thế nhưng về đêm anh Hiền lại qua
nhà bác Uyển để học cùng anh Thông (Trần Thông). Một hôm, anh Thông cùng cha
mình qua nhà gặp cha tôi để xin cho anh Hiền đi học. Thế là anh Hiền được ông đồng
ý cho đi học ngay đầu niên khóa. Lớp đầu tiên anh học là lớp đệ thất. Tôi không
hiểu tại sao anh mình không học tiểu học, mà lại đi học liền lớp cao như thế
cũng được.
Một điều ngạc nhiên hơn nữa là anh Hiền lại học quá giỏi. Hầu
như trong bốn năm học từ đệ thất cho đến đệ tứ tại trường trung học Nguyễn Du
Huế rồi sau này qua học Quốc học, tháng nào và năm nào anh cũng đứng vị thứ
cao, không nhất thì nhì. Phần thưởng cuối năm mà anh có được luôn là phần thưởng
toàn thành phố. Mỗi lần lãnh thưởng anh đều phải nhờ xe xích lô chở. Trên tủ
sách của anh một dãy sách từ điển (La rousse) đều là phần thưởng của anh.
Anh học xuất sắc tất cả các môn nhưng sau này khi thi tú tài
và chọn ngành học anh lại theo ban Triết.
Tốt nghiệp Đại học sư phạm Triết tại Đại học Đà Lạt, anh ra
trường được bổ dụng về dạy tại trường trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng.
Người anh thứ ba - anh Hiệp, cũng ở nhà làm nghề với cha
nhưng vẫn rất hiếu học, ban đêm anh đi học, có gì không hiểu anh nhờ anh Hiền
bày. Tôi còn nhớ mỗi lần cha đi lên phố mua vật liệu hay đi nhà bà con kỵ giỗ
là hầu như anh Hiệp đều bỏ việc đang làm vội lên nhà trên ngồi vào bàn lấy sách
vở ra học. Và với sự cố gắng hết mình, năm 1964, anh Hiệp thi đỗ Diplôme, lúc
này anh Hiền đã vào Đà Nẵng dạy học.
Do anh Hiền học quá giỏi, bạn bè, bà con, nể phục, thường tiếp
cận với nhà tôi rất đông vui, mục đích là để được học hỏi từ anh Hiền. Tôi có một
ông chú, anh em thúc bá với cha tôi đã gửi con cho về ở với nhà chúng tôi để đi
học, ấy là chú Giáo, một người thuộc thế hệ với anh Hiền.
Anh Hiền, ngoài giờ đi học ở trường, anh dạy kèm tôi học. Mùa
hè, ban đêm anh dạy cho mấy HS hàng xóm học thêm với các em như anh Hiệp, anh Cự.
Bản tính anh rất nghiêm khi đứng dạy nhưng bài giảng của anh dễ hiểu. Mọi người
theo học anh đều thích. Và một điều này nữa, tất cả mọi người theo anh đều được
học “chùa”, nghĩa là anh không nhận tiền.
Tôi nhớ ngày ấy, tôi cùng Hảo, cô bạn láng giềng được anh dạy
toán. Anh dùng mấy quyển sách Hình học, Đại số viết bằng tiếng Pháp. Anh giao
chúng tôi tự dịch và làm lấy. Anh chỉ định, số trang, số bài. Đến ngày hôm sau,
anh kiểm tra. Người nào không làm …thì lãnh đủ với anh. Anh vẫn chủ trương, phải
soạn bài tập. Làm đúng hay sai không quan trọng. Có lần tôi bị anh phạt quỳ, úp
mặt vô tường vì không làm bài, trước mặt Hảo, cô láng giềng. Tôi xấu hổ quá.
Sau đó nhờ anh Nguyễn Văn Sâm, bạn anh xuống chơi xin giúp, mới được tha.
Anh Sâm, cao to như quân cảnh Mỹ, da trắng, tính tình dễ
thương. Nhà anh Sâm ở sát chùa áo vàng Tăng Quang Tự. Đó là một vườn rộng gồm
nhiều cây ăn trái, trong đó đặc biệt ổi Xa lỵ quá nhiều. Khi tôi lên chơi, tôi
tha hồ ăn thoải mái, vậy mà ra về lại được anh cho mang theo, cả hai túi quần đầy
ổi.
Anh Sâm thích chơi đàn. Không hiểu anh kiếm đâu cây đàn
violon, có lần lên chơi anh lấy đàn kéo tôi nghe một bài của NS Mạnh Giác mở đầu
là: “Vừa mới yêu nhau mà đã xa rồi …” tiếng đàn réo rắt nghe buồn quá!
Mấy người bạn của anh Hiền học đều giỏi nhưng so với anh Hiền
thì vẫn không sao bì kịp. Các anh: Nguyễn Văn Sâm, Võ Văn Điểm, Lê Quang Phú,
Trần Văn Giai, Dương phú Yên … là những HS giỏi của trường trung học Nguyễn Du.
Mới đây, tôi tìm thấy một tập truyện "Livre de poche" tên là
"Contes du lundi" của Alphonse Daudet, sách đã cũ, giấy ngã màu, mở
trang đầu thấy có bút tích của anh Dương Phú Yên ghi hàng chữ gửi tặng anh Hiền:
"Tặng anh Hiền không phải để kỷ niệm, mà để đọc, nhưng
câu này viết không ngoài để kỷ niệm - 1959, hè".
Phía dưới ghi ngày tháng là 12 juin 1959 - Dương Phú Yên, Ký
tên.
Qua đầu trang tiếp theo (trang lẽ), anh Dương Phú Yên lại ghi
tiếp dòng chữ: "Anh biết không?, cho nhau là một điều không tốt, nhưng cho
là một điều tốt và cũng là một điều xấu - Dương Phú Yên.
Thật là thú vị!!
Được biết anh Dương Phú Yên đã được chọn du học nước ngoài và
là một trong những sinh viên xuất sắc nhất. Anh Yên có một người em gái tên là
Dương Thị Hồng Huệ, học một lớp với tôi sau này, rất xuất sắc luôn đứng đầu hoặc
đứng thứ nhì lớp. Thì ra học giỏi cũng có "gen"!
Tôi được nghe Võ Văn Đôn, em ruột Võ Văn Điểm, đồng thời là bạn
thân của tôi kể lại, Anh Điểm so với anh Hiền thì chỉ đáng là học trò. Ngày ấy,
anh Điểm đã phải sắm bảng đen để nhờ anh Hiền lên dạy toán thêm cho anh Điểm và
mấy bạn của anh Hiền tại nhà thờ cụ Võ. Không ai ngờ rằng, sau này khi lên Đà Lạt
học, anh Hiền ở nhà của bà o ruột anh Điểm và kết hôn với con gái đầu của chủ
nhà, trở thành em của anh Điểm.
Các anh, khi lên học Đại học, mỗi người theo đuổi một nghành:
Anh Điểm theo anh Hiền lên Đà Lạt học Văn, anh Nguyễn Văn Sâm đi Hải quân, anh
Trương Quang Phú học sư phạm Anh Văn.
Có lần tôi lên nhà anh Điểm, đang ngồi dịch một tài liệu về
Michel Ange với Võ Văn Đôn thì anh Phú bước vào. Thấy vậy, anh Phú cho một lời
khuyên: Khi dịch, không cần phải bám sát nghĩa của từng từ mà có thể cho qua những
từ chưa biết, sau đó sẽ tra tự điển các từ để trống đó. Tra tự điển có lợi là
làm cho mình nhớ từ.
Khi anh Hiền lên Đà lạt theo học Đại học sư phạm ban Triết
thì ở xóm trên, trong kiệt Cây Gòn có gia đình cụ Chưởng mà cha tôi mỗi lần tiếp
chuyện vẫn gọi là ‘quan” một bẩm quan hai bẩm quan vì cụ làm quan cuối triều
nhà Nguyễn. Vợ cụ Chưởng lại có mối quan hệ bà con với bà nội tôi. Một hôm cụ
Chưởng ghé nhà tôi và ngõ ý qua cha tôi, cụ quyết định gởi con thứ là anh Phan
Thập Toàn lên Đà Lạt để anh Hiền có điều kiện kèm cho anh Toàn học để thi đỗ
cho bằng được Tú tài toàn phần. Sau một năm đèn sách tại Đà Lạt, anh Toàn về Huế
thi và kết quả đã đậu tú tài toàn.
Vẫn chưa hết, mỗi lần về Huế nghỉ hè hay tết, tôi thấy anh Hiền
lại vào nhà cụ Chưởng để kèm cho con gái cụ tức là chị Quế, chị anh Toàn học để
thi Tú tài.
Vấn đề các kỳ thi tốt nghiệp ngày ấy quả là rất khó. Tỷ lệ đỗ
vẫn là rất thấp, khoảng chừng 15 đến 20% là quá cao. Tôi còn nhớ, tôi đỗ bằng
Diplôme mà cha tôi đi khoe cùng xóm.
Khu xóm Chợ Dinh nơi nhà tôi sinh sống, sao quá thân tình và
đầm ấm. Láng giềng giúp đỡ nhau như người cùng một nhà. Tôi vẫn bồi hồi khi
nghe anh tôi kể lại nhờ bác Uyển cha anh Thông và anh Thông đích thân qua xin
mà cha tôi đã đồng ý để anh Hiền đi học. Anh Hiền học qua bài vở của anh Thông,
thế mà sau này anh Thông và anh Hiền hai người đều cùng học một lớp, lên đại học
anh Hiền thì học triết ở Đà Lạt, anh Thông thì học Việt văn tại đại học Huế
nhưng rồi hai người lại gặp nhau tại trường trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng.
Cả hai đều để lại những dấu ấn tốt đẹp trong lòng mọi HS thế hệ trước 1975.
Như đã kể, anh Phan Thập Toàn sau khi đỗ bằng tú tài, anh thi
vào sư phạm Quy Nhơn. Hai năm sau, ra trường, bổ dụng, anh Toàn về dạy tại trường
tiểu học Phú Hậu, ở dưới Bãi Dâu. Có điều kiện thuận lợi, anh ghi danh học tại
đại học Văn khoa cũng ban Triết, hệ niên chế, khác tôi hệ chứng chỉ. Năm anh học
năm hai thì tôi cũng thi lấy cái chứng chỉ cuối cùng. Anh vẫn thường hay ra
chơi nhà và xem tôi như bạn, mặc dù tôi thuộc thế hệ đàn em của anh.
Phan Thập Toàn rất vui tính, lại thích kể chuyện tiếu lâm. Dạo
ấy anh Toàn chưa có gia đình thường đến rủ tôi đi chơi, có khi vào Đại nội, hai
anh em chụp hình. Anh Toàn kể tôi nghe những ngày anh lên Đà lạt học luyện thi.
Mỗi khi rãnh anh thường hay đi chơi với Bình, mà sau này trở thành em vợ anh Hiền.
Có những lần hai anh em, Bình, Toàn rủ nhau đi hái trộm mận nhà người ta, mang
về vừa ăn vừa bỏ, rất lãng phí. Vườn mận bị phá quá, chịu không nổi, bà chủ nhà
nhờ người viết trên tờ giấy lớn hàng chữ: “đứa nào ăn trộm mận xem như chui qua
đáy quần tau!” bà chủ nhà cẩn thận lấy một cái quần rách, gắn vào hai ống quần,
xong bà treo lên cây mận. Tuy nhiên do bà chủ nhà không biết chữ, bà gắn ngược.
Đêm đó hai người chui qua vườn bà hái trộm mận, thấy vậy, buồn cười quá, phát
ra tiếng, bà chủ nhà rình bên trong chạy vội ra bắt trộm. Hai người nhanh chân
lĩnh mất.
Vốn còn độc thân, Phan Thập Toàn rất thích thú khi được diện
kiến hay nói chuyện với phái nữ. Mấy cô bạn của chị tôi - chị Chanh, anh Toàn rất
hiếu kỳ. Chị Chanh có mấy cô bạn xinh, dễ thương như chị Dung ở vườn đào đường
Chi Lăng hay chị Giáng, Thuyết ở đường Cao Bá Quát, anh Toàn đều biết.
Có lần tôi hỏi anh Toàn:
- Chị Dung đẹp, vẫn hay về chơi với chị Chanh, sao anh không
tán đi!
Anh trả lời:
- Mình mà tán Dung thì bà mẹ bắc ghế cao đứng chưởi cho nát
nước.
Tôi bật cười:
- Kể chi! quan trọng là chị Dung có ưa anh không?
- Cụ mi đừng có xúi ẩu. Ông già mình treo cổ mình lên xà nhà!
Thế rồi có một hôm, anh Toàn ra chơi, khi nói chuyện bồ bịch
anh tiết lộ:
- Cụ mi biết không, mình tán dính nhỏ Giáng rồi, một bửa tối
lên nhà nó, hai đứa đứng sau vườn, mình ôm nó, hôn đại nhưng vụng về luống cuống
răng mình đụng răng con nhỏ, kêu cái “cộp”, thấy hết ham.
Tôi tức cười quá nhưng nghe anh kể cũng thấy thích, tôi nói với
anh:
- Anh làm răng tài rứa, bày chiêu cho tui với.
- Cụ mi muốn dạn dĩ khi tán gái chỉ có cách là phải theo mình
xuống ngủ đò một lần là thấy khác hẳn liền. Trai mà còn trinh thì không được
chi mô.
Tôi cười:
- Đệ tử xin bái phục sư phụ!
Mùa hè Huế, trời nóng dữ dội. Mọi người đổ xô về tắm Bãi Dâu,
kể cả những người trên phố, suốt dọc đường Chi Lăng. Anh Toàn vẫn chiều chiều,
ra rủ tôi, có khi cả anh Hiệp đi tắm. Anh thích ngắm mấy cô gái ở xóm trên về tắm
như Cẩm Hoa, Mai Hoa, …
Một hôm anh tâm sự với tôi anh thích Mai Hoa ở đường Chi
Lăng, phía trên ngã ba Đò Cồn, bỏ công tán nhờ theo dõi biết Mai Hoa là nữ Hướng
đạo. Anh đón đường, cặp kè tán chuyện, đã có kết quả, rủ đi chơi được rồi nhưng
cha Mai Hoa cấm cản. Một bửa, ông tìm về tận nhà nói thẳng với cụ Chưởng, ba
anh Toàn. Ông cụ la cho một trận. Anh Toàn chán quá bỏ luôn ý định chinh phục
người đẹp.
Anh Toàn vẫn thường trực tại nhà chúng tôi. Anh thường nói
chuyện tình hình cuộc chiến, các biến động chính trị VN với cha tôi. Cả nhà đều
mến anh. Kỵ giỗ, ngày tết luôn có mặt anh. Còn nhớ mỗi mùa xuân sát tết khi anh
chị Hiền và mấy cháu về, anh Toàn ra chơi, gặp mặt, anh Toàn cũng như anh chị
Hiền vui lắm.
Thời kỳ hoàng kim của thế hệ chúng tôi, những con người thân
thương sống với nhau đầy tình nghĩa; những tháng ngày chúng tôi có cùng nhau những
kỷ niệm ngọc ngà như mới đây vẫn còn nguyên vẹn
Khốn khổ thay! Tôi lại sống hai hoàn cảnh, hai xã hội.
Xin cho tôi được nói lời cảm ơn với một thời kỳ, một giai đoạn lịch sử.
Nguyễn Lương Tuấn
Theo http://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét