Không khí trí thức ở nhà
Nguyễn Thành Long một thuở
Không khí bạn bè ở chỗ Nguyễn Thành Long là một không khí trí thức. Các anh vừa sống, vừa viết, vừa quan tâm tới một đời sống văn hóa khác, mà các anh yêu mến và sống hết lòng.
V. Theo như chính Nguyễn Thành Long từng kể, thì trước 1945 tức hồi còn học tú tài ở Hà Nội, anh đã có bài viết, in trên Thanh nghị là một tờ báo tập hợp được nhiều trí thức có uy tín thời ấy. Con đường đi của người trí thức trong lòng xã hội thuộc địa, từng là vấn đề day dứt lòng anh, và trở thành chủ đề của một vài cuốn sách – chắc chắn là còn non nớt và còn chưa kịp xuất bản – của anh bấy giờ.
Vấn đề trí thức cũng sẽ ám ảnh Nguyễn Thành Long trong suốt
cuộc kháng chiến: Một mặt lăn lộn với công nông không bỏ qua một chuyến đi thực
tế nào đó Chi hội văn nghệ Khu Năm bấy giờ tổ chức; mặt khác, luôn luôn anh sục
sạo săn tìm sách vở để xem người khác đã làm văn nghệ như thế nào, và bản thân
mình nên làm theo cách nào.
Trong hoàn cảnh của Khu Năm xa xôi, các anh vẫn tìm đọc từ Người
mẹ, Suối thép, Người Xô viết chúng tôi cho tới cả Sự hồi sinh của nền
văn hoá Pháp của Garaudy. Đúng theo cách làm của kháng chiến, sau khi đọc
xong một số tác phẩm anh đã tóm tắt lại để người khác cùng đọc. Bởi vậy, trong
danh mục sách của Nguyễn Thành Long đã in ở Khu Năm, mới có cuốn Kể lại một
số tiểu thuyết Xô viết.
Và về sau, khi làm báo Văn học, Nguyễn Thành Long còn viết
nhiều bài về văn học nước ngoài, ký tên Phan Minh Thảo, cũng như nhặt ra kinh
nghiệm viết văn của nhiều người in rải rác, rồi sau tập hợp thành cuốn sách nhỏ,
mang tên Sổ tay viết văn ký tên Lưu Quỳnh.
Có lẽ những chi tiết này càng cắt nghĩa rõ thêm về sự hấp dẫn
của Nguyễn Thành Long đối với một số anh em viết trẻ những năm đầu chống Mỹ mà
trên kia tôi vừa nhắc tới. Trong căn phòng chật hẹp của Nguyễn Thành Long lúc ấy,
thỉnh thoảng đến chơi, tôi thường gặp Chính Yên, Huy Phương, Trần Đĩnh, về sau
là Ngô Quân Miện và một vài người khác.
Ngoài những mảnh vụn thời sự trong nước quốc tế, cùng những
“chuyện làng chuyện xóm” lặt vặt vơ vẩn xảy ra hàng ngày trong giới cầm bút,
tôi thấy đặc biệt ở nhóm bạn của Nguyễn Thành Long có một loại chuyện khác.
Những cuốn sách tiếng Pháp (thường là loại sách bỏ túi) mà Hội
Nhà văn được biếu, các số Lettre Francaise, Europe, Lettres Sovietique,
Revue Roumanie… về đều đều được các anh truyền tay, kèm theo những nhận xét như
của người trong cuộc:
– Thế mới biết đảng Pháp họ quý một nhà văn ngoài đảng như thế
nào. Elsa Triolet chết mà L’humanité viền đen cả mấy số liền.
– Bản dịch Con người năm tháng cuộc đời của
Ehrenburg vừa được nhà Gallimard cho in. Khối chuyện được xới ra, bây giờ mọi
người mới thấy có lý. Về già mà Ehrenburg còn bợm thật. Người ta bảo đọc xong
cuốn hồi ký này, tự nhiên không ai muốn giở lại tiểu thuyết của ông ta nữa.
– Cái tay Kataev cũng lạ. Hồi ký gì mà như đánh đố, vừa thật
vừa giả. Nhưng mà một cuộc đời như thế thì phong phú thật. Hình như Elsa
Triolet có nói ở đâu đó rằng vì Kataev mà Maiakovski tự tử đấy.
– Chỉ là giọt nước cuối cùng thôi.
– Nói xuôi nói ngược gì cũng cần sự thật. Chính tôi thích hơn
cả, lại là cách viết trần trụi của Malaparte. La Peau mới thật là
khinh bạc cay đắng mà lại quý phái chứ.
… Giờ đây, hơn hai chục năm đã qua đi, tôi cũng nhớ không thật
rõ tất cả những chuyện lặt vặt nói trên, tôi nghe từ miệng ai nói ra và nội
dung có đúng là thế không. Nhưng cái này, thì xin bảo đảm chắc chắn: Không khí
bạn bè ở chỗ Nguyễn Thành Long, là một không khí trí thức. Các anh vừa sống, vừa
viết, vừa quan tâm tới một đời sống văn hoá khác, mà các anh yêu mến và sống hết
lòng.
Lúc đang say chuyện thỉnh thoảng các anh chêm vào một vài câu
tiếng Pháp. Tôi không hiểu được những câu nói ấy, nhưng nhìn nét mặt của các
anh, biết rằng phải làm thế, người nói mới diễn tả được hết ý nghĩ của mình, và
nỗi sung sướng đang đến trong lòng mình.
Từ câu chuyện nghe lỏm được qua miệng những Chính Yên, Trần
Đĩnh, Huy Phương, Nguyễn Thành Long, tôi bỗng cảm thấy cái đời sống văn học
mình đang có phần can dự, như được kéo dài ra, nối mãi vào cả cái khu vực bao
la huyền diệu, là toàn bộ đời sống văn học thế giới hiện đại.
Đôi lúc, có cảm tưởng rằng những quyển sách mà tôi chỉ ngắm
nhìn, những tác giả mà tôi chỉ nghe tên cũng như đang sống đâu đây, họ cùng gợi
nên những vui buồn yêu ghét trong lòng tôi, như những Nguyễn Đình Thi, Chế Lan
Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Khải, Tô Hoài… mà tôi hằng gặp.
Cũng phải nói thêm rằng, bên cạnh Nguyễn Thành Long viết truyện
ngắn, Nguyễn Thành Long làm báo và làm xuất bản, trong tôi còn một Nguyễn Thành
Long dịch giả, đúng hơn là một Nguyễn Thành Long tiếp cận những tìm tòi mới
trong văn xuôi hiện đại. Ý tôi muốn nói tới cuốn Roméo Juliet và bóng tối của
nhà văn Tiệp Khắc Jan Otchenasek do anh dịch ra tiếng Việt.
Đấy là một thể nghiệm nhằm sử dụng những tìm tòi của các bậc
thầy văn xuôi hiện đại như M. Proust, James Joyce vào việc biểu hiện những nội
dung hiện thực và cách mạng. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là điều băn khoăn
thường xuyên của Nguyễn Thành Long.
Nhiều anh em trong nghề biết rằng một vài thủ pháp kỹ thuật mới
của văn xuôi đã được áp dụng dè dặt trong các truyện ngắn […]. Trong đời sống
văn học ở Hà Nội từ 1975 về trước, những tìm tòi loại đó âm thầm bé nhỏ, không
đáng kể gì hết. Song, với típ người cầm bút như Nguyễn Thành Long thì nó là cả
một nhu cầu nội tại, kể cả nhiều khi biết rằng đeo đẳng chỉ thêm phiền, người
ta vẫn không từ bỏ nổi!
VI. “Tai họa như trẻ con trên mặt đất
Người ta rồi ai cũng có thôi
Anh nói điều ấy thật thản nhiên
Mắt đăm đắm nhìn chiều xuống”.
Mấy câu thơ ấy là do Bằng Việt dịch của Eluard. Không hiểu
sao chúng cứ trở đi trở lại trong đầu óc tôi, mỗi khi nghĩ đến những người căn
bản là lành, căn bản là tốt, mà thỉnh thoảng lại cứ gặp phải những tai nạn nghề
nghiệp nho nhỏ, như Nguyễn Thành Long. Hình như nghề này quá khó và những người
vụng về thì quá nhiều, cho nên đành tự an ủi là “rồi ai cũng có thôi”, vật vã
thắc mắc phân tích rạch ròi làm chi cho mệt!
Khoảng 1956, 1957, sau khi cho in những bút ký có được tiếng
vang nào đó hồi ấy, như Hướng Điền, như Gió bấc gió nồm, tự nhiên
Nguyễn Thành Long lại mắc vào vụ Một trò chơi nguy hiểm.
Những năm đầu chống Mỹ, bên cạnh Tờ hoa, Tình rừng của
Nguyễn Tuân, Cái gốc của anh cũng trở thành một đối tượng để phê
phán. Khi những vụ việc này xảy ra, tôi còn quá nhỏ (vụ trước) hoặc quá non nớt
trong nghề (vụ sau), nên không thật rõ mọi chuyện ra sao.
Tuy nhiên những năm có dịp gần Nguyễn Thành Long về sau tôi cứ
có cảm tưởng những chuyện tưởng như đã qua ấy vẫn còn vướng vất trong anh. Anh
trở nên thận trọng giữ gìn hơn trong suy nghĩ, khép nép hơn trong quan hệ với mọi
người. Lại có lúc anh sinh ra hay ngờ vực và dễ hùa theo chung quanh trong cách
đánh giá, dù là một cách hùa theo kín đáo. Thậm chí tôi cảm thấy ở Nguyễn Thành
Long còn nảy sinh nỗi nghi ngờ chính mình.
Đã có một con người khác xuất hiện để theo dõi và kiểm tra
con người hàng ngày của anh, khiến anh trở nên có chút gì như là nghiệt ngã nữa.
Có điều, dù phức tạp đến đâu, thì tất cả những chuyện ấy chỉ là chuyện nổi lên
trên bề mặt.
Ở phần sâu sắc của tâm hồn, có thể nhận ra một Nguyễn Thành
Long giản dị hơn. Anh hơi ngơ ngác, không hiểu sao mọi việc lại diễn ra như thế!
Nhất là anh cảm thấy đơn độc vô hạn. Mang tâm thế “kinh cung chi điểu”, có những
vụ việc do người khác gây ra tội vạ đổ lên đầu ai ai kia, song chính anh cứ vận
vào mình, cứ ngấm ngầm đau đớn xót xa hộ.
Và cứ mang máng cảm thấy rồi lại “cháy thành vạ lây” không biết
chừng! Mặc cảm chăng? Nhạy cảm quá chăng? Nói thế nào cũng được, chỉ biết là những
lúc ấy, không nên hỏi Nguyễn Thành Long mà nên để anh một mình với mình.
Từ nhà riêng bên phố Dã Tượng, sang cơ quan của Hội bên đường
Nguyễn Du, Nguyễn Thành Long thường đi bộ qua một quãng vắng đường Trần Bình Trọng,
phía cạnh cung Văn hoá Việt – Xô. Mùa hè một áo sơ mi cộc tay, mùa đông một cái
áo bông tầu cũ kỹ – sau là một cái áo vỏ ngoài bằng ni lông màu tím than – Nguyễn
Thành Long gần như một mình trên đường, đầu cúi xuống, bước thật chậm như chìm
đắm vào những suy tưởng riêng tư.
Thường nhìn thấy anh trên đoạn đường ấy, đang đi xe đạp, tôi
vội phóng qua thật nhanh, không phải chỉ vì không muốn phá đi dòng suy tưởng của
anh, mà là một tình cảm lẫn lộn, vừa sợ hãi vừa kính phục chợt đến với tôi – sợ
vì thấy cái nghề của mình nặng nề quá, và kính phục vì trong nghề đã có những
ngòi bút như Nguyễn Thành Long những người đang căng đôi vai ra để chịu đựng,
và vẫn hăm hở đi tiếp.
Hoá ra, trước mắt tôi, vẫn là một nhà văn do tâm huyết mà
thành đau khổ. Lại nhớ một câu của Ehrenburg khi nói về mình (đại ý): “Bề
ngoài, tôi trông u ám, nhưng bên trong, thật ra là một người nông nổi, nhẹ dạ”.
Trong số những người rất khớp với mẫu hình kiểu ấy, ắt hẳn có Nguyễn Thành
Long!
VII. Thông thường, tôi không thuộc diện được Nguyễn Thành Long tặng sách khi có sách mới in. Nhưng đến cuối 1985, cùng lúc anh cho tôi hai cuốn Giữa trong xanh và Sớm mai nào xế chiều nào. Cuốn thứ hai tôi không để ý lắm vì là sách mới viết. Nhưng cuốn thứ nhất thì khác: Đây là một tập hợp những thành quả tự Nguyễn Thành Long coi là đắc ý nhất trong đời viết của mình, một thứ tuyển tập “bốn mươi năm”, như anh lưu ý trong lời đề tặng tôi.
Qua trao đổi chuyện trò, tuy tác giả không nói ra trực tiếp,
nhưng dễ dàng đọc được cái ý anh muốn tôi viết về nó. Tôi chấp nhận sự thách thức
này, mặc dù biết đó là một việc khó.
Ít lâu sau, tôi mang tới Nguyễn Thành Long một bài viết, ở đó
bên cạnh những lời ca ngợi tài năng nghị lực của anh trong việc thực hiện những
yêu cầu cách mạng đặt ra đối với văn học, không quên lưu ý nhiều khi ngòi bút
Nguyễn Thành Long gò gẫm thiếu tự nhiên.
Thậm chí ở một đoạn tôi còn viết: “Mặc dù mở rộng lòng đón lấy
mọi diễn biến của đời sống, song rút cuộc tác giả vẫn không tránh khỏi trở đi
trở lại với những ý tưởng đã thành khuôn khổ, và sự chăm chú đều đều tới công
việc lại dẫn tới một tình trạng đơn điệu”.
Tháng 8/1986, khi bài báo được in ra trên một số báo Văn
nghệ, đọc lại cả bài, tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi không biết với một cuốn
sách mang tính cách tuyển tập, mình viết vậy, có làm anh Long buồn không. Nhưng
tôi vẫn nhớ là lúc cầm bản viết tay của tôi, tác giả Giữa trong xanh có một
thái độ khá bình thản.
Anh chỉ bảo sau cái ý “trở đi trở lại với những ý tưởng đã
thành khuôn khổ”, nên thêm vào một ý nhỏ, “dù là khuôn khổ của anh”. Chỉ có thế!
Chúng tôi chia tay nhau lặng lẽ, mỗi người không khỏi có chút tiếc xót rằng
đáng lẽ có thể làm cho người kia vui hơn, mà không làm được.
Vốn đã âm thầm buồn bã, cuộc đời riêng của Nguyễn Thành Long
từ sau 1986, nghĩa là từ sau khi anh về hưu, lại càng quạnh hiu, trống trải. Về
sau cháu Hồng, con gái thứ hai của anh có kể lại, mấy năm ấy anh buồn lắm
vì Sớm mai nào xế chiều nào là quyển anh viết kỹ và rất hy vọng là có
dư luận, song, vẫn rơi vào im lặng, nên anh không muốn viết truyện nữa. Nghe
nói Nguyễn Thành Long loay hoay làm ít trang hồi ký hoặc xoay vào việc gì nữa,
nhưng đều dang dở.
Một cuộc đời vất vả như thế, hậm hụi như thế, nhận thức lại
được, viết lại được cho thanh thoát đâu có phải dễ! Nhà văn Italy Moravia từng
đặt cho một tập truyện ngắn của mình cái tựa Một cuộc đời khác, ý muốn nói
là thường mỗi chúng ta đều luôn luôn bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ lẽ ra, chúng ta
phải sống khác mà sao không thể sống nổi.
Tôi nhớ là khi nghe tôi nói điều ấy, Nguyễn Thành Long có một
thoáng như hơi sững ra! Đang cầm chén nước, cánh tay gày guộc với lớp da rất
nhiều vết mồi của anh chợt run run thêm, cặp mắt sáng lên phút chốc, nhưng rồi
lại cụp xuống tăm tối.
Một niềm thất vọng nào đó đang dâng lên trong anh? Hay một sự
nuối tiếc? Hay một nỗi xót xa, xót cho mình là không làm được hết những điều muốn
làm, nói chung là bây giờ đã muộn rồi, không thể có một cuộc đời khác? Tôi
không rõ cảm giác nào là chính. Nhưng tôi nghĩ rằng trong những ngày cuối đời
Nguyễn Thành Long đã sống với tất cả những cảm giác đó.
Bởi vậy, ít lâu sau trên báo Lao động tôi mạnh dạn
nói rõ thêm:
“Trong cuộc đời này thiếu chi người mong thành nhà văn mà
không thành. May mắn hơn họ – hay là rủi ro hơn họ, nói thế cho công bằng – có
một số người suốt đời ăn chịu với nghề, sống là nhà văn và chết với tư cách nhà
văn. Nhưng có bao giờ một ngòi bút chân chính thực sự yên lòng với mình?
Ngoài những trang đã viết ra, cái di chúc lớn khác mà một nhà
văn chân chính để lại thường là nỗi khắc khoải vì biết rằng còn bao công việc
đáng lẽ phải làm, nhất là đáng lẽ mình phải viết khác kia mà tự khác đi làm sao
nổi. Nguyễn Thành Long là một nhà văn chân chính với nghĩa ấy”.
Ấy là những dòng tôi viết, để vĩnh biệt anh.
Không biết có chủ quan không, nhưng tôi nghĩ lần này, tôi đã nói hộ được một phần ý nghĩ của chính Nguyễn Thành Long.
1/10/2021
Vương Trí Nhàn
Nguồn: Trích từ sách Cây bút đời người
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét