Thơ Quang Dũng và những
thương nhớ trên đường
Nhìn tổng quát đời thơ Quang Dũng, dễ thấy chủ thể trữ tình
trong các sáng tác của ông thường là kẻ đang dấn bước trên những hành trình xê
dịch.
Hồn thơ Quang Dũng sớm biết rung cảm trước những cuộc lữ. Bài Chiêu Quân ông viết năm mười sáu tuổi là một thí dụ: Đây Nhạn Môn quan đường ải vắng/ Trường thành xa lắm Hán vương ơi!/ Chiêu Quân che khép mền chiên bạch/ Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi. Năm năm sau, tức năm 1942, khi viết Giang hồ, Quang Dũng càng tỏ rõ nỗi xúc động đặc biệt của mình trước những kiếp gió bụi: Mấy gã thanh xuân, lòng bốn cõi/ Nhẹ nhàng thân gửi kiếp ra đi/ Gói, khăn, trăng, gió trời mây bạc/ Hồn nhẹ quên trong xác nặng nề.
Điều này có vẻ hơi khác thường, song nếu biết đôi chút về đời
tư Quang Dũng, hẳn sẽ thấy không có gì khó hiểu cho lắm. Quang Dũng sinh năm
1921, quê ở làng Phượng Trì, xã Đan Phượng, tức phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây xưa
– vùng bán sơn địa cổ thường được gọi với cái tên bình dị là xứ Đoài. Nhưng
quãng thời gian Quang Dũng gắn bó với nơi này không dài. Mới lên bảy, ông đã được
gia đình cho ra Hà Nội học, ở nhà người cậu ruột. Cảnh sống xa nhà và những
thân phận u uẩn chiều lưu lạc/ buồn viễn xứ khôn khuây có lẽ vì vậy
mà đã ám ảnh tâm hồn Quang Dũng ngay từ thơ ấu.
Từ năm 1946, khi gia nhập Vệ quốc đoàn rồi trở thành một
thành viên của Binh đoàn Tây Tiến, ông càng dấn mình vào kiếp phiêu bạt. Cuốn hồi
kí Đoàn Võ trang Tuyên truyền Biên khu Lào – Việt(1) được Quang Dũng hoàn
thành năm 1952 là bản biên sử sinh động về quãng đời lênh đênh đầy nhọc nhằn
nhưng lãng mạn và tươi đẹp ấy. Mà có lẽ cũng chính từ đây, ông bắt đầu nhận ra
cái khoái thú của những chuyến đi. Cho nên sau này, dù đã giải ngũ, chuyển sang
làm công tác văn hóa, xuất bản rồi về hưu, ông vẫn không quên được đời ngao du
bay nhảy, thậm chí xem đó như một niềm mê đắm. Nhà thơ Trần Lê Văn, trong Lời
giới thiệu Tuyển tập thơ văn Quang Dũng (Nxb Hội Nhà văn, 2014), khẳng
định điều ấy khi nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng, người bạn thân của ông có niềm
say mê “được luôn luôn cất bước trên những dặm đường”, lúc nào cũng “hăm hở đi,
mải miết đi, như có một ma lực lôi kéo”.
Tâm thức lữ khách ấy len vào đến tận nguồn mạch thơ ca Quang
Dũng, làm thành một thứ thơ mà tôi muốn gọi là thơ “ở trên đường”.
***
Nhìn tổng quát đời thơ Quang Dũng, dễ thấy chủ thể trữ tình
trong các sáng tác của ông thường là kẻ đang dấn bước trên những hành trình xê
dịch. Đó là chàng lính vệ quốc đang hành quân trong Tây Tiến, Sử một trung
đoàn, Quán bên đường, Mắt người Sơn Tây, Nhà bên đường, Lính râu ria, Nhớ… Đó
là kẻ sống đời lữ thứ trong Cố quận, Những cô hàng xén, Buồn êm ấm, Thu… Đó
là người viễn khách đang trên đường qua Bố Hạ, đến Việt Trì, đi ngang sông
Châu, Phủ Lí, trằn trọc đêm Bạch Hạc, nín thở vượt dốc Pha Đin… Chưa kể, thử lướt
qua phần cuối các bài thơ, nơi Quang Dũng ghi lại địa điểm sáng tác và nhất là
nhìn vào sự hiện diện dày đặc của hàng loạt địa danh khác nhau, những tên đường,
tên sông, tên núi trải từ miền ngược đến miền xuôi trong thơ Quang Dũng (đơn cử
đoạn trong bài Bắt đầu: Ôi sông Hồng Hà cuộn đỏ/ Đêm thu qua bến Việt Trì/
Sông ơi có biết/ Lòng người ra đi/ Cổ Đô – Thổ – Tạng – những làng/ Sơn Tây –
Ba Vì những núi/ Bạch Hạc là đâu/ Phong Châu đất cũ/ Bến vắng thuyền xuôi giọng
hát ả đào/ Trăng lạnh mái chèo ca nữ), người ta đã phần nào hiểu được sức đi của
vị thi sĩ tài hoa này và cái cảm hứng “trên đường” chảy rào rạt trong thơ ông.
Nói đến đi và viết, có một thực tế thường thấy, rằng khách
văn chương, khi bước vào những hành trình, hình như không phải muốn kiếm tìm
hay phát kiến ra một thứ gì mới mẻ. Họ không phải là Columbus dong thuyền ra
khơi trong niềm khát khao những vùng đất lạ; họ không giống Darwin lênh đênh
trên biển suốt nhiều năm để quan sát và ghi nhận tự nhiên, từ đó gây dựng thuyết
tiến hóa; và họ cũng khác Lévi-Strauss – người từng bỏ công đi sâu vào vùng rừng
rậm Amazon, tìm đến những bầy người da đỏ nguyên thủy để khám phá xem đâu mới
là cái cơ cấu tư duy phổ quát của nhân loại đã có từ thượng cổ. Người văn
chương, ngược lại, ra đi kì thực là để tâm thức thực hiện những cuộc trở về.
Tôi rất thích tựa đề quyển bút kí của nhà văn Lê Vũ Trường Giang, “Đi như là ở
lại”. Nghe có vẻ nghịch nhĩ, song thực tế là trên những chặng đường ra đi ấy, hẳn
có lúc ta đã để lại một mảnh hồn, một khối tình cho những xứ sở ta qua, cho ngọn
cỏ dại ta nhìn thấy bên đường, cho trang sách ta tình cờ lần giở, cho tiếng
chuông sơn tự vang vọng vào những buổi sớm sương giáng… Cứ thế, ta đi nhưng thực
ra đã mãi ở lại trong những nơi chốn mà ta từng đến, trong những duyên tình ta
hạnh ngộ. Đi vì thế cũng là một cách nhung nhớ, mà thậm chí sâu bền và mãnh liệt
hơn nhiều so với ở lại: sự quen thân, nghịch lí thay, nhiều khi mới chính là
nguồn cội của quên lãng.
Thơ ca Quang Dũng phát khởi từ chính những thương nhớ trên đường
như vậy. Điều này lí giải vì sao trong nhiều bài thơ về đời lính, Quang Dũng
không nói đến những đoàn quân hào khí ngút trời hay những chiến công hiển hách,
oai dũng, mà lại rất hay kể về chặng đường hành quân gắn với những kỉ niệm chỉ
một lần gặp gỡ.
Đó là những cái quán nhỏ, những mái tranh vẹo xiêu ở lưng chừng
đèo dốc mà ông và đồng đội, trong một đêm ngắn ngủi nào, đã dừng lại nghỉ
chân: Khuya khoắt sông bờ vắng/ Lửa hồng quán tản cư/ Lính mấy chàng vất vả/
Tìm sống một đêm thơ (Lính râu ria); Đây căn nhà chật hẹp/ Tạm bợ dựng
bên đường/ Tường xếp gạch phá hoại/ Đôi mái liếp che sương/ Năm năm trời kháng
chiến/ Đây làm quán giang hồ/ Cửa rộng đón bằng hữu/ Rừng núi về trung du (Nhà
bên đường); hay Nhà tranh hốc hác/ Cuối làng chơ vơ/ Đường xa công tác/
Người lính ghé nhờ (Nhớ).
Đó là một đêm vui hiếm có giữa rừng Doanh trại bừng lên
hội đuốc hoa/ Kìa em xiêm áo tự bao giờ/ Khèn lên man điệu nàng e ấp/ Nhạc về
Viên Chăn xây hồn thơ (Tây Tiến), là một khoảng yên bình chóng vánh thời
chiến mà thi sĩ bắt gặp trên đường hành quân Bên cuối thôn xuân hoa gạo
rơi/ Sông xanh hiền triết lặng trôi xuôi/ Đò ngang một chuyến qua mưa bụi/ Ấm
áp trong mưa tiếng nói cười/ Cái giọng ru con từ ngõ trúc/ Thanh bình như phút
sống đang trôi (Đất nước).
Đó còn là cô em gái tản cư chung cảnh ngộ “thiếu quê
hương” Và chợt nhớ chúng ta xa nhà cửa/ Em tản cư tôi làm lính tiền
phương/ Quê Hà Nội cùng xa từ một thuở/ Lòng rưng rưng thương nhau qua dọc đường (Quán
bên đường), là người gái núi vừa gặp gỡ đã phải chia xa Ngỡ hết thôi rồi
muôn giới biên/ Em là gái núi mộng bình yên/ Anh là trai lỗi thời binh lửa/ Môi
lạnh không chờ chuyện lứa duyên (Đêm lạnh).
Thơ Quang Dũng viết sau khi ông rời quân ngũ vẫn tiếp nối mạch
cảm hứng của các sáng tác giai đoạn trước đó, vẫn là những hành trình đi và viết,
nhưng tâm thức lính đã nhạt dần, nhường chỗ cho những xúc cảm mang đậm màu sắc
thế sự hơn. Có nhiều bài là nỗi xót xa trước những điêu tàn thời chiến
như Đường chiều thứ bảy, Chabbi – Chabbi, Nhớ bạn, Những nghĩa trang… Song
cũng có những bài như Bắt đầu, Rừng, Hoa chè, Pha Đin, Bất Bạt đêm giao
quân, Những người tóc đã trắng, Mây đầu ô… lại là lời ca hi vọng, là tiếng
reo vui, dầu vẫn ở giọng trầm, trước những sinh sắc chớm nở ở miền Bắc hậu chiến.
Tuy nhiên, có một thứ kí ức sâu đậm hơn tất thảy, thứ kí ức
đã ở lại và day dứt mãi trong suốt cuộc đời Quang Dũng dù những hành trình thăm
thẳm có đưa bước chân ông đi đến tận đâu, và ngược lại, có lẽ cũng chính vì đi
nhiều mà cái kí ức ấy trong ông càng nhức nhối. Tôi đang muốn nhắc đến nỗi nhớ
cố hương phủ dày trong thơ Quang Dũng.
Hãy thử làm một thống kê: Ngồi đây năm năm miền li
hương/ Quê người đôi gót mỏi tha phương (Cố quận); Bộ hành thiêm thiếp
nhớ trung châu (Trưa hè); Và chợt nhớ chúng ta xa nhà cửa (Quán
bên đường); Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt/ Chiều xanh không thấy bóng Ba
Vì, Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm, Buồn viễn xứ khôn khuây (Mắt người Sơn
Tây); Hồn còn buồn vương hình dáng quê xưa (Tình quê); Quê mẹ
không còn dấu vết/ Như chẳng có bao giờ (Nhớ về mẹ); Có nhớ về đất Bắc/
Những người xa quê hương (Có nhớ về đất Bắc); Trưa hè bỗng nhớ sông
quê (Mây làng); Ai biết Hồ Nam giờ ra sao/ Xa cách hồn quê động bóng
cau (Hồ Nam); Áo chàm lên ga/ Hương rừng đã ngái/ Chạnh niềm quê
hương (Bắt đầu); Đường về quê hương về quê hương/ Có một ngày sao mà
bất tận (Không đề 2); Em chở anh qua đò/ Đi tòng quân một sớm/ Dòng
sông của quê ta/ Trong mắt anh chầm chậm (Đám cưới qua sông Đáy); Nhớ
Sơn Tây hơn một mối tình (Gửi Sơn Tây); Sấm đầu mùa đã động/ Sao động
lòng tha hương? (Chiều núi mưa rào); Nước mắt em buông lã chã/ Long
lanh nhớ giếng quê nhà (Bắt tép kho cà); Đất đá ong trong lòng giếng
mát/ Ôi Sơn Tây! Sài Sơn yêu thương! (Nhớ một bóng núi)…
Dễ thấy, trong thơ Quang Dũng, nỗi nhớ quê hương của ông đã
được bày ra với gần như toàn bộ những cạnh khía, những biến thể phức tạp nhất của
nó. Quang Dũng nhớ đất, nhớ sông, nhớ núi, nhớ da diết cảnh mây trắng trùm bọc
xứ Đoài, nhớ cái giếng nước mát, những tảng đá ong, thậm chí chỉ cần nghe tiếng
sấm một chiều giữa rừng, ông cũng bâng khuâng nhớ thương quê cũ.
Nhưng thao thiết và ám ảnh nhất có lẽ vẫn là nỗi nhớ về những
cố nhân nơi quê xưa, nỗi nhớ đã trở thành nguồn cảm hứng cho Đôi bờ, Mắt
người Sơn Tây, Những cô hàng xén – những bài thơ tiêu biểu nhất làm nên
tên tuổi Quang Dũng. Đôi bờ mở ra một bến sông khuya chìm khuất trong
rét mướt và mưa bụi, nhưng nỗi nhớ và khói thuốc đã đưa người em gái bên bờ
sông Đáy quê cũ năm nào trở về trong mộng mị: Khói thuốc xanh dòng khơi lối
xưa/ Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ/ Thoáng hiện em về trong đáy cốc/ Nói cười
như chuyện một đêm mơ. Mắt người Sơn Tây lại diễn tả cái khắc khoải
trong một đôi mắt xứ Đoài, đôi mắt mà binh lửa, lưu lạc và điêu tàn đã hằn lên
thành những “suối lệ”. Trong khi đó, Những cô hàng xén lại là nỗi nhớ
đẹp về một làng quê Bắc Bộ tươi nhuận đang vào độ vải chín, và nhất là về những
cô gái hàng xén ven sông Đáy duyên xinh, “đẹp như ca dao nước Việt”…
***
Mỗi lần đọc thơ Quang Dũng, tôi hay nhớ về chân dung ông, bức
chân dung chàng quân nhân Bùi Đình Diệm chụp những ngày Tây Tiến với chút râu
ria điệu nghệ, nhân trung hõm rõ, mà nhất là đôi mắt, một đôi mắt sâu, xa vắng,
thăm thẳm. Mắt người Sơn Tây có đoạn: Đôi mắt người Sơn Tây/ U uẩn chiều
lưu lạc/ Buồn viễn xứ khôn khuây. Nhiều người sẽ nghĩ rằng đôi mắt ấy là
đôi mắt của một người con gái. Nhưng có gì để bảo chứng? Trong một thoáng mơ
lãng, tôi nghĩ đó cũng rất có thể là bức tranh bằng chữ mà Quang Dũng đã dùng để
tự họa đôi mắt mình – đôi mắt mà ông cho là “u uẩn” vì “buồn viễn xứ”. Viễn xứ
quả là buồn, và Quang Dũng thực ra thấm thía lắm nỗi buồn ấy. Dầu vậy, ông vẫn
đi, tha thiết được đi, đi như một phận sự và đi như một lời réo gọi từ nội tại.
Bởi rõ ràng những hành trình trong đời đã khiến nỗi nhớ trong ông thêm cuồn cuộn
và sâu thẳm. Những thương nhớ trên đường u uẩn ấy, chính chúng tạo cho thơ
Quang Dũng một thứ hồn cốt hiếm có, một thế đứng độc đáo trong nền thơ ca hiện
đại Việt Nam.
Chú thích:
1. Quyển hồi ký vừa được gia đình nhà thơ Quang Dũng công bố vào năm 2019, Nxb Kim Đồng ấn hành, đặt lại tên là Đoàn binh Tây Tiến.
24/10/2021
Nguyễn Đinh Minh Khuê
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét