Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026
Dấu ấn Phật lý trong thơ Du Tử Lê
Dấu ấn Phật lý
Sau 1975, ở hải ngoại, Du Tử Lê tiếp tục hoạt động văn chương một cách sôi nổi, nhiệt thành và phải nói, cũng như ghi nhận rằng: Thơ ông cũng đã và đang được đưa vào giảng dạy, làm tài liệu nghiên cứu, đọc thêm tại một số trường đại học Hoa Kỳ và châu Âu. Năm 1998, Nhà xuất bản W.W. Norton, New York đã chọn Du Tử Lê vào một trong năm tác giả Việt Nam để in vào phần ‘Thế kỷ 20: Thi ca Việt Nam’ khi tái bản tuyển tập Worrld Poetry: An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (Tuyển tập Thi ca thế giới từ xưa tới nay). Trong cuốn Understanding Vietnam, tác giả, giáo sư Neil L. Jamieson đã chọn dịch một bài thơ của Du Tử Lê viết từ năm 1964. Cuốn sách này sau trở thành tài liệu giáo khoa, dùng để giảng dạy tại các đại học Berkeley, UCLA, và Cambridge, London” (“Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật”, Trần Thị Như Ngọc, 2012).
Jorge Luis Borges và cảm hứng sáng tác từ Bờ bến khác của thực tại
Jorge Luis Borges và cảm hứng
sáng tác từ Bờ bến khác của thực
tại
Jorge Luis Borges chắc chắn không phải là một tên tuổi
xa lạ đối với giới nghiên cứu văn học thế kỷ XX. Oxford book of Latin
American short stories (Sách Oxford về Truyện ngắn châu Mỹ Latinh) cho rằng:
“Gabriel Garcia Marquez cùng với Jorge Luis Borges là hai nhà văn Mỹ Latinh nổi
tiếng nhất tính đến hiện nay”[1]. Cùng quan điểm này, Scott Simpkins
trong công trình nghiên cứu về chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo đã đánh giá: “Jorge
Luis Borges và Gabriel Garcia Marquez là hai nhà văn đã có công đưa chủ nghĩa
Hiện thực huyền ảo đi xa hơn bằng cách thử nghiệm những điều kiện của chính cái
huyền ảo nguyên bản trong sáng tác của họ”[2]. Theo Scott Simpkins, nếu Alejo
Carpentier là người lập thuyết tiêu biểu cho trào lưu Hiện thực huyền ảo thì
Jorge Luis Borges và Gabriel Garcia Marquez chính là người đưa trào lưu văn học
huyền ảo đến với thế giới, bằng những sáng tác của mình.
So với tác phẩm của hậu duệ G. G. Marquez, truyện ngắn của J.
L. Borges ngay từ sớm giống như một trò chơi tư tưởng – thách thức, dị thường
và khó đọc. Truyện ngắn là nơi Borges thể nghiệm những ý tưởng và triết lý độc
đáo về cái huyền ảo. Khác với tính chất huyền ảo kiểu “magic” (pha chút huyễn
hoặc, ma thuật, tâm linh của nền văn hóa bản địa) thấm trên tác phẩm của G. G.
Marquez, truyện ngắn của J. L. Borges vốn thể hiện phong cách huyền ảo
“fantasy”: một sự tưởng tượng phóng túng, siêu hình và siêu tưởng, một cảm hứng
bắt nguồn từ “bờ khác của thực tại” – bờ bến của giấc mơ, của huyền thoại, vô
thức, của những ký hiệu triết học…
1. Jorge Luis Borges: “Tôi tin vào cảm hứng”
Cảm hứng hay thi hứng thường được ví như cuộc tao phùng giữa
nội tâm với ngoại cảnh. Cuộc gặp gỡ này khiến nhà văn cảm thấy giao động và
choáng ngợp bởi một tình cảm cuồng nhiệt, một thứ cảm giác huyền bí choàng lấy
tâm hồn. Cảm hứng đến từ sự kích thích bên ngoài, nhưng cảm hứng còn là sự nung
nấu, sự ám ảnh sâu xa, sự chuẩn bị từ lâu trong lòng nhà văn. Như F. G. Lorca từng
nói, cảm hứng thực ra là một trạng thái trầm tư mặc tưởng, một sự nghiền ngẫm,
một sự chờ đợi dài lâu. Ẩn đằng sau cảm hứng sáng tác là cả hệ tư tưởng và
phong cách viết của nhà văn.
Borges từng viết về chính mình:
“Tôi thường xuyên canh tác trên một loại văn học ma quái. Dù
cho trong những truyện ngắn vốn được làm bằng những chuẩn mực của trò chơi của
chủ nghĩa Hiện thực thì những vụ việc vẫn là ma quái: sự thật không như thế… Đặc
tính ma quái ấy không có nghĩa là tuỳ tiện, không một thứ văn học nào là tuỳ tiện
cả”[3].
Borges cũng nói thêm rằng: Mỗi truyện trong số những truyện
ngắn ấy đáp ứng những tâm trạng, những đam mê, hay những kinh nghiệm tôi có cho
dù sau đó chúng là tuyệt vời[4].
Cũng vì thế, Borges tin vào cảm hứng, tin rằng những cuốn
sách được viết từ cảm hứng thường trực và dai dẳng, dường như đối lập và bất chấp
ý chí của ông…
Octavio Paz, một trong những nhà văn viết về Borges tinh tế
nhất, trong bài luận nổi tiếng: Cây cung, mũi tên và điểm đích đã dẫn
lại lời nhận xét của Alfonso Reyes – nhà văn bậc thầy của Mexico. Reyes vẫn
luôn thán phục trước “một trí tuệ lạ lùng, một niềm hạnh phúc ngoại cỡ” của người
đồng hương Jorge Luis Borges. Octavio Paz còn bổ sung thêm nhận định của Reyes,
Paz viết: “Đồng thời, ông (Jorge Luis Borges – LNP ghi chú) còn là một đầu óc
thông tuệ đến lạ kì đã gắn kết với tính huyền ảo của một nhà thơ bị cám dỗ bởi
cái bờ khác của thực tại: nhờ vậy, ông chỉ có thể cười mỉm trước những công
trình hư ảo của lý trí”[5].
Hình ảnh “bờ khác của thực tại” mà Octavio Paz đã dùng nhằm ẩn
dụ cho sáng tạo độc sáng của Borges về một thực tại khác, không phải thực tại
ta có thể nhìn thấy, sờ chạm và nắm bắt mỗi ngày. Thực chất đó là một thế giới,
một hành tinh mơ tưởng của Borges. Như chính Borges từng nói ông luôn bị cám dỗ
bởi những gì “ma quái”, “huyền thoại”, bởi những mơ mộng siêu hình và trò chơi
tư tưởng. Chìa khóa cho toàn bộ sáng tác của Borges, theo Octavio Paz, nằm ở
hai điều: sự thông tuệ và tính ảo huyền. Vì thế, truyện ngắn Borges luôn thiếu
vắng cuộc sống đời thực, thiếu vắng chủ đề tình yêu, thiếu vắng những sự kiện
chính trị xã hội (một cách trực tiếp), thiếu vắng cả những vấn đề đạo đức thường
tình. Sáng tác của ông thường là con người cô độc, mộng mị và suy tưởng trước
vũ trụ và trước chính mình. Hệ đề tài của Borges chung qui đều dẫn đến hai trục:
bản thể huyễn hoặc của cá nhân và bản thể siêu hình của vũ trụ. Trí tưởng tượng
phong phú của Borges luôn bị quyến rũ bởi một thế giới khác thường, chen lẫn giữa
thực và ảo, từ đó cuốn ông đi đến chỗ thử nghiệm liên tục các mô hình huyền ảo
trong văn chương. Toàn bộ sự độc đáo và hiện đại của tác phẩm Borges được xây dựng
từ một thực tại siêu hình gắn trong chiều sâu của sự tồn tại và nhân tính. Xuất
phát từ cảm hứng này, Borges đã vượt ra khỏi bến bờ của hiện thực, sáng tạo nên
một thế giới khác của riêng ông.
Nhìn trên nghệ thuật tự sự, điều mang lại yếu tố huyền ảo cho
tác phẩm Borges là sự mơ hồ của cốt truyện, sự nhập nhòa của không – thời gian.
Sự việc và nhân vật thì rất đỗi bình thường và đầy tính “người”. Thế nhưng,
toàn bộ truyện ngắn lại tiệm cận đến bờ huyền ảo bởi sự mập mờ, đa nghĩa của
tình tiết truyện, bởi những đề tài luôn giữ một khoảng cách đối với hiện thực,
luôn trộn lẫn giấc mơ, truyền thuyết và đời thực. Kết cấu mở đầu và mở cuối của
truyện ngắn càng làm tính huyền ảo lan xa và để lại sự lấp lửng, mơ hồ. Tính ảo
huyền của tác phẩm Borges được tạo bởi một “điểm nhìn đảo lộn mọi điểm nhìn
truyền thống”[6], xoá mờ tất cả ranh giới, cuốn người đọc vào mê cung.
Tính ảo huyền này khiến “Borges giữ một vị trí duy nhất trong
văn chương thế kỉ XX”[7].
Nhắc đến chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh, người ta
không thể không nhắc đến Jorge Luis Borges. Ông là người tiên khu cho chủ nghĩa
Hiện thực huyền ảo, như từ rất sớm ông đã khẳng định: “Thiết nghĩ rằng huyền
thoại không kém phần thực so với điều chúng ta nhìn thấy trong thực tại. Huyền
thoại là một ngụ ngôn mà chúng ta đọc bằng một hình thức cụ thể với sự sùng
kính rõ ràng, huyền thoại là cần thiết…”[8].
Coi trọng huyền thoại, Borges đã mở màn cho dòng văn chương đậm
chất huyền ảo của Mỹ Latinh.
Văn chương từ cuối thế kỉ XIX kéo dài sang đầu thế kỉ XX vẫn
luôn nhấn mạnh “cái thực” trong lúc qui chiếu liên tục với hiện thực đời sống.
Coi trọng tính hiện thực của những sự kiện đời sống, người ta đồng thời xem nhẹ
tính không thực của tưởng tượng. Đến Jorge Luis Borges, ông chống lại quan niệm
này trong văn học. Borges cho rằng chủ nghĩa hiện thực nghiêm khắc giúp người đọc
“quên đi đặc trưng kĩ thuật ngôn từ của tác phẩm”, chỉ nhớ đến sự thực đời sống
được đưa vào. Ngay cả nhà văn vĩ đại nhất cũng có khuynh hướng đè nặng tác phẩm
của mình với những mô tả không cần thiết hay những trang bị về tâm lý. Sự chi
li, chi tiết đó nhằm cố gắng đạt đến tính hiện thực.
Nghi ngờ sự thực như là một giả tưởng, Borges cũng như những
nhà văn châu Âu, đặc biệt là A. Robbe-Grillet sớm đặt lại vị trí của tính hiện
thực và tính hư cấu tưởng tượng. “A. Robbe-Grillet tin rằng: Sức mạnh của tưởng
tượng có thể tạo ra một cái gì lạ lùng, thật hơn cả thực tế, và có thể khiến
cho hư cấu trở thành hiện thực. Cái ảo không còn là cái mà vì nó, tồn tại bị vượt
qua, cái ảo báo trước, chờ đợi và kêu gọi hiện thực, giống như một kiểu tương
lai của hiện thực… Vì thế, tưởng tượng đối với Robbe-Grillet, sẽ là hiện thực,
sẽ là cái mà ta có thể dùng để kiểm tra thực tế”[9].
Thuộc về những người tiên phong cho nền văn học mới, Borges ủng
hộ nồng nhiệt thời đại của hư cấu. Lạ mắt hơn, Borges bày tỏ sự-không-thực ấy
ngay ở tựa đề tác phẩm. Tập truyện mang tên Ficciones (Hư cấu) của
ông là cách đi ngược lại với tên tác phẩm thông thường. Trong khi các nhà văn
nhấn mạnh sự chân thực của tác phẩm mình thì Borges nhấn mạnh tính hư cấu. Hư cấu
là xảo thuật. Hư cấu là tưởng tượng.
Borges xây dựng hạt nhân huyền ảo từ huyền thoại về lửa, về
phù thuỷ, từ truyền thuyết những mê lộ, những tấm gương, những giấc mơ… Con người
hiện lên với tất cả sự mong manh, mơ hồ và sự phi lý của thân phận người. Chất
huyền ảo của Borges còn lồng qua những cuộc du hành không khởi đầu, không kết
thúc trong mê lộ, trong những chiếc gương, trong sự tuần hoàn vô tận… Vì thế, sự
“ma quái” của Borges không giống với cổ tích và truyện thần diệu, sự “ma quái”
của Borges càng không giống với J. Cortazar và G. Marquez, nó gần với huyền ảo
siêu hình, như chính Borges đã phát biểu: “Siêu hình là một nhánh của văn học
huyễn tưởng”.
Không thú vị với văn chương đạo đức, Borges càng không đam mê
văn chương chính trị. Khác với ba nhà văn Mỹ Latinh đồng thời: A. Asturias, A.
Carpentier, Juan Rulffo, tác phẩm Borges rất ít màu sắc chính trị. Ông không muốn
thỏa hiệp quan niệm của ông với bất cứ thông điệp, ý tưởng nào. Borges chỉ hứng
thú với các huyền thoại, với sự kì bí của vũ trụ, những cuộc suy tư và đối thoại
tư tưởng. Thế giới huyền ảo của ông trao đổi thường xuyên với triết học
Berkeley, Hume, Bergson, Schopenhauer và Nietzche… Từ đó những vấn đề sinh tồn
của cuộc sống thường nhật được lồng trong ảo giác mông lung, phát lộ nên câu hỏi
về bản thể tồn tại của cá nhân trong vũ trụ.
Xét trên tổng thể, toàn bộ tác phẩm của Borges chỉ xoay quanh
trục chính: Ta với chính Ta, Ta với cái Ta khác, và Ta với vũ trụ. Cả ba mối
liên hệ này đều dẫn đến con đường mong manh của bản thể, sự hoài nghi của tri
thức. Điều gì là cái có thực? Đâu là thực tại đích thực? Hay tất cả thực tại
cũng chỉ là giả định, chỉ là sự nhìn thấy/ sự mơ tưởng từ một cá nhân nào đó?
Đặt cái giả bên cạnh cái chân, cái huyền ảo bên cạnh sự thực,
Borges muốn nói điều gì? Một sự thực đích thực, hay không có sự thực nào cả? Một
sự hiểu biết hay thực ra sự che giấu cái hoang mang?
Cảm hứng về sự vô tận, tính hư trống vô định này tạo nên chất
huyền ảo. Borges vẫn thường nói: ông không lựa chọn điều này. Chúng tự ám ảnh
và tự tìm đến Borges. Phải chăng, như Claudio Magris đã gọi Borges là “nhà huyền
học cho dẫu niềm thần khải của ông không đến” [10]?
2. Cảm hứng trước bản thể huyễn hoặc của cá nhân
“Con người còn giá trị hơn cả vũ trụ”
(Charles Werner)
Jorge Luis Borges thường dành một cảm hứng thường xuyên cho vấn
đề về bản ngã. Bằng toàn bộ tác phẩm của mình, Borges làm sống lại một bản ngã
đầy mãnh liệt, sự chuyển động bên trong đầy phức tạp và mong manh. Thơ ca, truyện
ngắn, tiểu luận của Borges đều cùng một hệ đề tài lớn này.
Borges từng viết trong Thơ về những ân sủng
“Vào lúc lang thang trên những hành tinh tĩnh lặng
Với nỗi sợ mơ hồ ta cảm thấy
Rằng ta là kẻ khác, kẻ đã chết, sẽ bước
Những bước chân này trong chính ngày hôm nay”
(Thơ về những ân sủng)
“Ta là kẻ chẳng là ai, là kẻ không một thanh gươm
trong trận mạc. Ta là tiếng vọng, là lãng quên, là hư vô”
(Là)
Ám ảnh về cái Ta đã khiến văn chương Borges bao phủ sự mơ hồ,
sự hoài nghi về thân phận người. Cái Ta đối diện với nỗi cô độc hoàn hảo, không
thể sẻ chia. Cái Ta gấp khúc trong những cơn mơ vô tận. Cái Ta bối rối hoang
mang trong mê lộ. Cái Ta lưu lạc trong thời gian, không gian vô hình, vĩnh cửu.
Cái Ta không rõ ràng và đơn nhất. Cái Ta hoá thân thành người khác, biến thành
số nhiều, có khi hắn chỉ độc một chiếc bóng. Đề tài về bản ngã hiện diện hầu hết
ở các tác phẩm của Borges. Đề tài này chiếm vị trí trung tâm, hoặc ít nhất thì ở
mọi sáng tác, nó luôn được ẩn hiện hoặc lồng trong những đề tài khác.
Truyện ngắn của Borges lấy cảm hứng từ cuộc tồn sinh phức hợp
và đa tiết điệu. Ở đó, con người là “bản ngã hoán vị” mà bên trong tái hợp những
đam mê và những tư tưởng. Đời sống tâm linh luôn chờ đợi sự phóng vọt, luôn tái
sinh và đổi mới. Các tác phẩm xuất sắc của Borges như: Phương Nam, Văn tự
của Thượng đế, Người bất tử… đều được bẩy lên từ cảm hứng về bản thể này.
Liên quan đến bản thể Ta, Borges cũng thường viết về sự phân
thân, tách rời nhân cách. Thế nhưng, cảm hứng này không nhằm mang đến sự hồi hộp,
rùng rợn như văn chương kì ảo thế kỉ XIX. Không giống với sự phân thân trong
truyện ngắn của Maupassant và A. E. Poe, truyện ngắn Borges hoài nghi và u buồn
đượm nhẹ trước bản thể con người. Chẳng hạn, Phương Nam là một truyện ngắn đẹp
như thơ của Borges, kể về người đàn ông tên Juan Dahlmann, một thư kí của thư
viện thành phố, với niềm tin gia đình đang chờ đợi mình, anh đã sửa soạn về
phương Nam thăm quê hương. Thế nhưng, buổi chiều hôm ấy trong lúc vội vã leo xuống
cầu thang trong bóng tối, một vật đập vào trán anh khiến anh bị thương. Điều bí
ẩn đã bắt đầu ló dạng. “Trong đêm đó, cơn sốt đã vắt kiệt sức Dahlmann”. Anh được
mời thầy thuốc chữa bệnh nhưng không thuyên giảm. Anh được đưa đến bệnh viện bằng
xe cấp cứu. Người ta lột hết áo xống, cạo đầu, ghì chặt anh vào giường bằng những
tấm kim loại và rọi ánh sáng vào mắt… “Dahlmann thầm oán hận, oán hận bản thể
con người mình, những đòi hỏi của thân xác, tình trạng bị làm nhục của mình”.
Anh ta được bác sĩ phẫu thuật thông báo anh ta suýt chết vì bệnh nhiễm khuẩn
máu và sắp phục hồi. Dahlmann lại thấy mình được đưa về điền trang ở phương Nam
của mình, trên một chiếc xe cấp cứu.
Ở nhà ga đợi tàu hoả, anh ta uống một tách cafe, rồi anh ta
lên tàu, trong khi tàu chạy, anh bắt đầu đọc cuốn Nghìn lẻ một đêm. Đầu óc
Dahlmann chập chờn qua những suy nghĩ, qua những cơn mơ. Con tàu đột nhiên dừng
lại giữa đồng không mông quạnh và Dahlmann nhận ra đây không phải là nơi mình
muốn đến nhưng vẫn “chấp nhận đi bộ như một cú mạo hiểm nho nhỏ”. Dahlmann ở lại
một cửa hàng cơm và tại đây điều kì lạ lại xảy ra. Dahlmann đột nhiên cảm thấy
bị ném bởi những viên bi bằng bánh mì. Một người thổ dân chửi bới và sỉ nhục
anh, mời anh vào một cuộc đấu tay đôi. Dahlmann được một ông già ném cho một
con dao và anh ta bắt đầu vào cuộc. Truyện ngắn kết thúc bằng chi tiết:
“Dahlmann đâm mạnh con dao, mà có lẽ anh sẽ chẳng biết điều khiển nó, rồi anh
đi thẳng ra cánh đồng bao la”[11].
Có thể nhận thấy câu chuyện bao phủ bởi những tình tiết lập lờ
và mơ hồ. Vết thương gây cơn sốt của Dahlmann là thực hay giả? Anh ta trở về điền
trang thật hay đây chỉ là giấc mơ được giải phóng khỏi viện điều dưỡng? Và người
đàn ông chủ quán là người quen gần điền trang, hay là người của viện điều dưỡng?
Tại sao Dahlmann có cảm giác mơ hồ về người này? Và câu hỏi quan trọng nhất: vì
sao Dahlmann bị thách đấu và kết cuộc của anh ta là gì?
Tình tiết mập mờ, nhiều khoảng trống và kết thúc bị bỏ lửng. Phương
Nam là một truyện ngắn gọn gàng và bi đát. Những sự việc diễn ra bị lu mờ
khó hiểu trước nội tâm phức tạp và dịch chuyển liên tục của Dahlmann. Câu chuyện
trở về phương Nam có thể là thực, nhưng hoàn toàn có thể là cơn mơ, cơn váng vất
của Dahlmann. Anh ta có thể đã nằm mơ thấy cuộc trở về trước ngày gặp nạn hay
vào đúng những ngày anh bị giam cầm ở khu điều dưỡng. Dahlmann thấy mình một
lúc là hai con người: “Một người đang đi theo ngày thu và theo địa lý của Tổ quốc,
còn người kia giam mình trong viện điều dưỡng, phục tùng sự chăm sóc đúng
phương pháp”[12]. Một cái tôi đang ở trong thực tại, một cái tôi đang du hành ở
tận quá khứ hoặc tương lai. Kết thúc anh ta có thể chết trong cuộc đấu tay đôi
nhưng kết thúc cũng có thể là sự tỉnh dậy từ một giấc mơ trưa nào đó.
Cái huyền ảo trên sáng tác của Borges thường xuất phát từ cái
Ta đa bội và phức tạp, từ đó lan toả lên toàn câu chuyện. Borges thường xuyên
viết về nỗi cô đơn, sự lưu lạc của con người giữa thế giới không có trung tâm.
Tất cả các tác phẩm đều qui về đầu mối này. Borges nghiêng về chủ nghĩa hoài
nghi của Hume, cho rằng muôn vàn chướng ngại ngăn chặn con người tìm đến chân
lý về thực tại tối hậu. Vì thế mọi tri thức của con người liên quan đến thực tại
thường sai lệch và thiếu sót. Tác phẩm của Borges giống một thế giới bấp bênh
huyễn hoặc. Tác phẩm của ông cũng là một cuộc chơi. Trong đó con người gia nhập
nhưng không thể hiểu qui luật của cuộc chơi đó. Họ bị cuốn vào vòng xoáy của việc
tìm kiếm chính mình. Mọi nổ lực tìm kiếm dường như là bất khả. Cái bí ẩn vẫn chập
chờn phía trước.
Jorge Luis Borges cũng là người trở về với tư tưởng Đông
phương xưa cổ. Trên tác phẩm ông người ta sự tỉnh thức. Borges khơi sự suy tư
bên trong, sự tỉnh giấc bên trong. Câu hỏi lớn về tinh thần con người khiến
Borges đứng giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây.
Hệ đề tài của Borges dường như là các đề tài về “tôi” (Les
themes du “je”) mượn từ ý tưởng phân loại của T. Todorov. Quả thực, truyện ngắn
của Borges thường xuyên triển khai ý tưởng về sự lặp lại của cá thể – cái Tôi của
con người, những mô hình, sự nhân đôi đến vô tận của những giấc mơ, trò chơi hư
ảo, nỗi bối rối bản thể bị gấp khúc, tăng theo cấp số nhân… Truyện ngắn của
Borges hướng vào bản ngã bên trong, biểu hiện kín đáo qua những đề tài như: những
giấc mơ, mê lộ, tấm gương, những con hổ…
Sử dụng linh hoạt phương thức huyền thoại hóa, Borges đi từ
những huyền thoại kinh điển đến huyền thoại bản địa. Có thể thấy những cổ mẫu
trong tác phẩm ông: Vua Minos và mê lộ, Persee và tấm gương, kẻ phù thủy và điềm
báo, thần Lửa và giấc mơ, hoàng đế phương Đông và kẻ tử tù… Yêu mến những huyền
thoại kinh điển phương Đông lẫn phương Tây, Borges tái tạo lại cảm thức và sự
suy tư về bản thể con người.
3. Cảm hứng trước bản thể siêu hình của vũ trụ
Sau câu hỏi Ta là ai?, truyện ngắn của Borges đặt lại vấn đề
Vũ trụ là gì? Với Borges, bản thể vũ trụ không chỉ nằm ở hiện tượng và vật chất
tồn tại xung quanh. Nó vượt quá thế giới có thể nhìn thấy được. Nó thuộc về bản
chất kinh nghiệm và tương đồng với đời sống tâm linh.
Borges đã xây dựng tác phẩm mình hầu hết từ ý tưởng
này: Thế giới đối với ông là một thư viện khổng lồ. Một thư viện có trật tự
nhưng người ta không bao giờ tìm thấy nguyên tắc sắp xếp và giới hạn của nó. Thế
giới là một cuốn sách được lật giở vô tận. Thế giới cũng là một cuộc sổ số – một
trò chơi may rủi. Thế giới đó được nhân lên vô hạn và liên tục biến đổi. Con
người chỉ có thể thừa nhận sự “bất khả tri” trước thế giới.
Những truyện ngắn như Tlon, Uqbar, Orbis Tertius, Bản
thông báo của Brodie, Cuộc xổ số ở Babylon, Môn phái Phượng hoàng… đều được xây
dựng nên một thế giới vĩ mô độc đáo. Nếu Utopia là mảnh đất không tưởng của
Thomas Moore thì Tlon là một hành tinh không tưởng của riêng Borges. Sự kì dị của
Tlon là ở chỗ nó được tạo ra từ những nhà duy tâm. “Các dân tộc thuộc hành tinh
này duy tâm một cách bẩm sinh”, “Tlon không có khoa học, và cả luận lý cũng
không có nốt. Các nhà triết học ở Tlon không đi tìm sự thật, hay sự sáng tỏ mà
họ đi tìm sự ngạc nhiên”[13]. Yếu tính của Tlon nằm ở điều này: sự vật được
phóng chiếu ra từ tâm, chỉ có nội tâm con người là tồn tại và đi ngược lại hoàn
toàn sự ràng buộc của luận lý.
Sáng tạo ra hành tinh kì dị này, Borges không nhằm trực tiếp
đề đạc về trật tự xã hội và quyền sống cho con người. Có chăng, người đọc nối
tiếp dụng ý từ sự tưởng tượng của Borges.
Cuộc xổ số ở Babylon, Môn phái Phượng hoàng là một vũ trụ
khác được mã hóa bằng biểu tượng. Con người tham dự vào một thế giới phi lý,
trong đó vận mệnh của họ nằm trong sự may rủi, và nằm trong tay một công ty có
“quyền lực vô hạn và sức mạnh vô hình”. Truyện ngắn Bản thông báo của
Brodie lại kể về bộ tộc man mọi, ăn lông ở lỗ với những tập tục kì quái.
Truyện ngắn Người bất tử chính là ấn tượng khủng khiếp về cái không thể kết
thúc, cái luôn được tái diễn trong mơ hồ. Bất tử giúp thoả mãn khao khát vĩnh hằng
hay đó chính là một cơn ác mộng?
Đọc tác phẩm Borges, đúng như Andre Maurois nhận định, đôi
khi người ta không còn cảm thấy sự tỉnh táo của mình, hệt như “Alice lạc vào xứ
sở thần tiên”. Borges có lẽ là người thích thú sự giao lưu giữa những điều tưởng
tượng với những điều có thực. Ông là một trí tưởng tượng đầy trí tuệ, một trí
tưởng tượng được biểu trưng hoá ở dạng cấp cao.
Tư tưởng và lối viết kì lạ này rất dễ đẩy Borges vào tình huống
mất an toàn. Rất nhiều độc giả bình dân khó có thể chạm tới đến lối viết kén
người tiếp nhận của ông. So với những nhà văn Argentina khác như Cortaraz,
Manuel Puig, tác phẩm của Borges thực sự khó phổ biến rộng rãi trong công
chúng, mặc dù ông được đọc nhiều nhất trong tầng lớp trí thức và giới chuyên
môn. Borges là “nhà văn được các nhà văn ngưỡng mộ”, trong lúc đó quảng đại lại
bối rối và giữ thái độ “kính nhi viễn chi”.
Edwin Williamson đã nhận xét về Borges một cách thuyết phục:
“Trong truyện hư cấu của Borges những mâu thuẫn luôn luôn tự vận động thành những
sự thống nhất chỉ để giải quyết những mâu thuẫn lớn hơn, và tiếp tục như vậy
cho đến vô tận. Bởi vì ông chấp nhận quá trình này, nên ông là con người hiện đại
của thế giới…”[14].
Borges dành sự quan tâm đến cốt lõi của tinh thần nhân loại:
vấn đề cá nhân và mô hình vũ trụ, hơn là vấn đề địa phương và châu lục Mỹ
Latinh. Chính vì vậy, Borges được đánh giá như là một nhà văn thuộc về nền văn
hoá quốc tế rộng lớn. Dầu vậy, cũng cần nhìn nhận thêm rằng, điều này không đồng
nghĩa với việc Borges không có tính dân tộc và không có tính hiện thực. Một số
tác phẩm của Borges dành cho những cánh đồng, những gaucho, những kẻ lục lâm
hoang dã, những mâu thuẫn và những cuộc tranh chấp tay đôi. Chỉ có điều, đối tượng
của Borges không phải là những tầng lớp, giai cấp xã hội mang một lý lịch cụ thể.
Đối tượng của ông chỉ là một mảnh người, một kẻ bị lạc giữa Buenos Aires, lạc
giữa quê hương của mình.
Có thể nói, cảm hứng về “bờ bến khác của thực tại”
chính là niềm đam mê, sự thích thú của Borges trước những chủ đề huyền ảo, siêu
hình, siêu tưởng. Trí tuệ uyên thâm, đặc biệt là những kiến thức triết học đã
hòa quyện cùng khả năng hư cấu độc đáo ở Borges. May mắn là trí tưởng tượng ngoại
cỡ này khi kết hợp cùng triết lý siêu hình đã không đẩy nhà văn đến chỗ khô cứng
hay rối rắm. Như người làm xiếc trên dây, Borges vẫn giữ được cấu trúc hài hoà
trong khi hàm chứa rất nhiều bí ẩn. “Lối viết của Borges đầy những ẩn dụ và khả
năng gợi dẫn” – một lối viết đa nghĩa, giễu cợt, hài hước nhưng lại toát lên
chiều sâu của triết học. Sức mạnh văn chương của Borges nằm ở lối viết nhẹ và
nhạt mà Italo Calvino chọn phân tích trong Sáu điểm ghi nhớ cho thiên niên
kỉ mới [15]. Đó là một thủ pháp đặc biệt để Borges xây dựng nên thế giới
huyền ảo của riêng mình.
Tạm kết:
Gánh vác sứ mệnh của một người dẫn dắt văn chương đến với
châu lục, Jorge Luis Borges đã cống hiến cả cuộc đời cho nghiên cứu và sáng
tác. Không gia đình và không con cái. Kỳ lạ hơn, Borges là nhà văn bị mù hoàn
toàn vào năm 56 tuổi. Borges đã dần chấp nhận được rằng mù loà là số phận của
dòng họ ông, của chính ông. Đau khổ và tận cùng bất hạnh, nhưng mù lòa đã khiến
Borges nhìn thấy thế giới bằng một “con mắt khác”, một “con mắt bên trong” có
thể phát hiện thế giới qua những chiều kích huyền diệu. Hiện thực mà người mù
nhìn thấy là hiện thực của giấc mơ, hiện thực của những “bến bờ khác”. Tác phẩm
của Borges quả thực là vắng mặt cái thực tại, vắng mặt không gian, thời gian thực
tồn.
Truyện ngắn là nơi Borges thể hiện khả năng tưởng tượng như một
nhà văn, và suy tưởng như một nhà hiền triết. Nhà văn mù loà khải thị những miền
bí ẩn của nhân sinh, Jorge Luis Borges được gọi là Homere của thế kỷ XX.
Chú thích:
(*) Chữ mượn của Octavio Paz, trong bài viết “Cây cung, mũi
tên và điểm đích”, trích từ Những bậc thầy văn chương, NXB Hà Nội, 2002
[1] Echevarria Roberto Gonzalez (1999), The Oxford book of
Latin American short stories (Sách Oxford về Truyện ngắn Mỹ Latinh), NXB Đại học
Oxford, 1999, trang 383
[2] Lois Parkinson Zamora, Wendy B. Faris (1995) sưu tầm và
xuất bản, Magical realism: theory, history, community.
Nguồn:
http://books.google.com.vn/.
[3] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển
tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 25
[4] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển
tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 25
[5] Octavio Paz (2002), “Cây cung mũi tên và điểm
đích”, Những bậc thầy văn chương, NXB Hà Nội, 2002, trang 970
[6] Octavio Paz (2002), “Cây cung mũi tên và điểm
đích”, Những bậc thầy văn chương, NXB Hà Nội, 2002, trang 972
[7] Octavio Paz (2002), “Cây cung mũi tên và điểm
đích”, Những bậc thầy văn chương, NXB Hà Nội, 2002, trang 972
[8] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển
tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 25
[9] Nguyễn Thị Từ Huy (2009), Sự thực và diễn giải, NXB
Hội nhà văn, Hà Nội, trang 155
[10] Claudio Magris (2006), Không tưởng và thức tỉnh,
NXB Hội nhà văn, Hà Nội, trang 47
[11] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển
tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 89
[12] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển
tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 90
[13] Jorge Louis Borges (2001), Jorge Louis Borges tuyển
tập, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 185
[14] Nhiều tác giả (1999), Văn học Mỹ Latin, Trung tâm
khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện thông tin khoa học xã hội Hà Nội,
trang 56
[15] Calvino Italo, (2007), “Những bài giảng Mỹ – Sáu điểm
ghi nhớ cho thiên niên kỉ tới”, Cao Việt Dũng dịch và giới thiệu, Tạp chí Văn
học nước ngoài, số1, Hội Nhà văn Việt Nam.
5/10/2022
Lê Ngọc Phương
Theo https://vanvn.vn/
Trần Dần, thời đại và đổi mới
Trần Dần, thời đại và đổi mới
Những ngã tư và những cột đèn xứng đáng là một
tác phẩm văn chương đúng nghĩa phản ánh thời đại với lối viết mới mẻ, là một dấu
ấn mới cho văn chương Việt Nam trên con đường tìm tòi, đổi mới.
Tiểu thuyết kể về chàng thanh niên Dưỡng – một người vì những
hoài nghi, cực đoan của quãng quá độ dẫn đến cuộc đời của anh vô cùng “lỉnh kỉnh”
được viết dưới dạng “đối thoại” cách nhau 10 năm giữa một nhà văn vô danh tính
và Dưỡng thông qua những trang nhật kí mà anh để lại. Những ngã tư và những cột
đèn được Trần Dần viết bằng những trải nghiệm khi ông tiếp xúc với nhiều quân
lính trong các sở giam đã được chính quyền bấy giờ cho phép. Tiểu thuyết không
chỉ cho thấy cõi đời vụn vặt, vô cùng bất trắc cùng những xung đột nối nhau tồn
tại, mà phần nào đó cũng cho thấy những dụng ý nghệ thuật rất riêng của ông,
trong lối viết thi tính cũng như cách dùng từ ngữ vô cùng mới lạ.
Hiện tại là thứ sót lại
Thời gian chính là yếu tố quan trọng của tiểu thuyết này. Nó
đầy khách quan khi Trần Dần cố gắng phân định một cách rõ ràng giữa hai giọng kể.
Những Đông – 1954 và Xuân – 1955 được xác định rõ khi chưa hề có những sự “chọn
lựa”. Thế nhưng một khi đã hòa vào trong trang viết, thì dẫu là Dưỡng với ba cuốn
nhật kí “dằn di” mà mình đã viết, hay anh nhà văn (và là Trần Dần?) cố gắng thuật
lại một điều gì đó, thì chúng tản mát và khó xác định.
Mở đầu những đoạn gián tiếp kể lại, người nhà văn nọ luôn
luôn tuột sâu vào vùng “khử sạch thời gian”. Mất dấu ngày tháng, anh ta không
rõ thứ hai hay là chủ nhật, và những dòng chữ giờ đây rồi chỉ còn lại những sự
xê dịch liên tục lỉnh kỉnh. Vì hà cớ gì một người khách quan đứng ở bên ngoài
mà cũng cảm nhận được xu hướng ấy? Anh chia sẻ chung một sự cảm nhận về tính
ngoại biên của hiện tại, về tính “không” của đương lúc này, và hơn hết là sự
vĩnh hằng của nó.
Trong trang nhật kí, Dưỡng viết “Tôi không nhớ đã nhìn thấy ở
đâu, một bức hoạ đường tuyến tính của thời gian, như thế này: hai đầu của đường
tuyến tính, chạy cả về hai phía vô định, và biến mất. Hóa ra quá khứ và tương
lai chiếm hết cả chiều dài thời gian hiện tại chẳng là cái gì, chỉ là một cái
chớp mắt, chỉ là một phần rất nhỏ, của cái chớp mắt […] Tôi làm thêm một thử
nghiệm nữa, tôi vẽ hiện tại, bằng một dấu chấm bé nhỏ, nhưng bên ngoài đường
tuyến tính thời gian. Hiện tại của tôi thế là tồn tại vĩnh viễn, chẳng thuộc về
đâu cả, chẳng phụ thuộc quá khứ lẫn tương lai”.
Với Dưỡng, người mắc kẹt lại bởi sự đảo chiều của dòng lịch sử,
không có gì khác ngoài “hiện tại”. Ở đó anh bơ vơ qua những ảm đạm của sự nghi
kị. Trong vở “nộm đời” của thời gian ấy, cuộc sống của anh hết lộn sang trái lại
lộn sang phải, những gì anh viết liên tục vỡ nát và không lành lặn. Đối với
anh, thời gian không còn ý nghĩa. Nó không được tính ở thời mà Chúa ra đời, mà
là kéo dài bám theo từng sự kiện một. Đó là ba ngày đại nạn, là năm ngày lên kế
hoạch… và là điểm chuẩn cứ thế theo nhau san phẳng rồi lại lấp đầy.
Từ một phát súng nổ trong vườn khuya, cho đến một gã “nhọn cằm”
bám sát cành hông trong mọi ngõ ngách. Từ cô Cốm thiêng liêng ở tuổi 17 còn
không biết hôn phải làm thế nào, Dưỡng đến và hiến mình cho một ả đàng điếm, một
gái làng chơi, đổi lại tình yêu đã được trải nghiệm một cách sâu sắc… Ở những
ngã rẽ của chính số phận sắp đặt, anh liên tục chọn và rồi rẽ sai. Ở đó có những
đường ra có thể cứu vãn, nhưng cũng có lúc lựa chọn chỉ là cái chết.
Những ngã tư và những cột đèn nói cách khác là những ngã
tư của sự lựa chọn. Là những đèn không cột, và cột không đèn. Những cột đèn đó
như người theo dõi, như kẻ theo đuôi, như gã lang thang giương mắt chứng kiến
mà không thể can thiệp hay tác động được gì. Dòng lịch sử của giai đoạn ấy đã
đưa con người vào giữa trung tâm, và buộc họ phải chọn lựa. Giữa đào ngũ hay ở
lại, giữa bản thân hay bạn bè, giữa tội ác hay hình phạt, giữa chết chóc hay sống
còn và bị đồng hóa?
Ở cõi đời ấy, cái mong manh của hiện tại, cái chớp mắt cho hiện
tại qua nhanh, trở thành phương thuốc cuối cùng để giữ họ lại. Họ cô độc trong
một đời sống không thể tìm thấy được sự tối ưu. Họ sống trong nỗi sợ hãi tình bạn
– tình bạn thực dân. Họ đắm mình trong là những trò đùa, nhưng sâu bên trong là
những tổn thương. Họ đi bán rong hết lòng liêm sĩ, để chỉ còn lại những “bản đồ
tội”. Đó là liên tục những sự tra vấn từ hết đêm này cho đến ngày khác của 3 cá
thể: giữa thằng Tôi, cái sọ và cái bóng của thằng Tôi – trong những lửng lơ của
cuộc sống hằng ngày.
Ngã tư như những định mệnh, và Trần Dần đóng khung nhân vật của
mình vào thời điểm ấy, để nó mang tính thời khắc và là độc nhất. Bằng những láo
nháo của đêm, láo nháo của mưa, láo nháo của lá, láo nháo của gió, láo nháo của
đời… ông nắn nhân dạng của một con người như cái chớp mắt của kì phân rã.
Cũng như tính “không” của thứ vật chất mang tên thời gian,
ông hiểu không thể giữ mãi con người thật là con người. Những ngã tư và những cột
đèn nâng cấp trải nghiệm mà họ trải qua, bằng tính trung tâm (ngã tư), các nhân
chứng (cột đèn) và những phông nền (láo nháo)… để mãi giữ nó, để biến nó thành
vĩnh hằng, và để biết rằng khi vẫn còn ở giữa trung tâm, con người chưa phải lựa
chọn, thì họ là một điểm chấm nằm ngoài đường thẳng thời gian. Họ mãi vĩnh hằng
và thoát khỏi nó, khỏi sự đồng nhất, khỏi sự chồng lắp, khỏi sự chôn vùi và rồi
biến mất.
Nghệ thuật viết mới mẻ
Trong một văn bản đậm đặc chất thơ, thật khó để không nhận ra
dấu ấn Trần Dần. Bằng những câu vần vô cùng đặc sắc “Đầu bạc răng long, đời
mình đi tong”, những sự đảo ngữ có phần khác lạ “những đèn không đường, những
đường không đèn” hay cái giễu nhại thiên hướng bàng bạc “những chủ nhật mắm thối,
những tuần lễ khắm, những ngày mà đi cũng dở, ở cũng không xong”… Trần Dần đã tạo
nên một tác phẩm đầy rẫy cay đắng mà không điêu ngoa, đầy cái giễu nhại mà
không cay cú.
Cùng với đặc trưng ghi chép cũng như ít nhiều mang tính trinh
thám, Trần Dần phá vỡ khuôn thước của những thể loại, từ đó làm ra một tác phẩm
mới, đậm đặc hơi thở hiện đại nhưng cũng chứa đầy yếu tố cá nhân. Hành trình của
Dưỡng là chuỗi hành động mang tính phá án vô cùng đặc sắc, để thông qua đó, Trần
Dần sử dụng khía cạnh tội ác – hình phạt để làm rõ thêm “trách nhiệm tinh thần”
mà anh phải chịu, cùng đó là một sức hút không thể dứt ra cho đến cuối sách.
Cái chung và riêng ở tiểu thuyết này cũng được Trần Dần khai
thác vô cùng mới lạ. Cùng với Lê Đạt như người kéo gần khoa học lại với văn
chương, Trần Dần có những suy tư về mặt thời gian vô cùng độc đáo. Đặt hai dòng
chảy có phần tương đồng và phản ánh nhau, Những ngã tư và những cột đèn đặt ra
câu hỏi đậm tính thời đại về sự lựa chọn, về sự vô tận của những khả năng, cũng
như một sự liên tục lặp lại của một kiếp người.
Giống như Celiné tạo nên được tính tiên phong trong việc sử dụng
thể loại thư tín, thì với tác phẩm này, Trần Dần cũng mang đến cách nhìn khác về
thể loại nhật kí. Một thời gian dài người ta vẫn thường tự hỏi, vì sao các nhà
văn Đức như Thomas Mann vẫn viết nhật kí, dẫu luôn biết rằng khi mình mất đi,
thì chúng ít nhiều sẽ được công bố? Là một thể loại mang nhiều nghịch lí, Trần
Dần cũng khai thác sâu vào vấn đề này như để góp thêm một sự hỗn loạn vào trong
thời cuộc.
Ông đã viết rằng “động tác ghi nhật kí thực chất là tư hữu
hóa những sự kiện. Cách duy nhất để quên nhật kí, là đưa nhật kí, từ sở hữu của
một cá nhân anh, thành sở hữu của vô số người khác. Động tác xuất bản nhật kí của
anh, chính là để anh mất đi, mọi quyền hạn với nhật kí. Khi sách của tôi xuất bản,
thành hàng nghìn cuốn, anh sẽ bình thản đọc nó, như đọc nhật kí người không
quen, từ vị trí một độc giả. Câu chuyện một mình anh cũng sẽ trở thành chuyện của
vô số người khác. Đây là cách duy nhất, để anh rời bỏ, vĩnh viễn, một giai đoạn
khó quên, của quá khứ. Cũng là một cách, để nhật kí tác động vào thời gian, lần
cuối cùng”.
Thời gian, nhật kí, nỗi đau, chọn lựa… Bằng những yếu tố vừa
chung vừa riêng, vừa là trường tồn vừa là khoảnh khắc, Trần Dần đã viết nên một
tác phẩm vô cùng đặc sắc về sự lửng lơ, về thế lưỡng nan không bao giờ cũ. Những
ngã tư và những cột đèn xứng đáng là một tác phẩm văn chương đúng nghĩa phản
ánh thời đại với lối viết mới mẻ, là một dấu ấn mới cho văn chương Việt Nam
trên con đường tìm tòi, đổi mới.
6/10/2022
Tuấn Anh
Nguồn: TTO
Theo https://vanvn.vn/
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
“Bước gió truyền kỳ” thổi hồn đất nước Có dân tộc nào tồn tại, phát triển mà không chất chứa trong nó những nhọc nhằn, thăng trầm cay đắ...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...


