Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026
Thơ từ trải nghiệm của người đàn bà đa cảm Châu Ly
Thơ từ trải nghiệm của
Đọc thơ Châu Ly, người đọc sẽ nhận ra tiếng thơ của một người đàn bà sống và yêu đến tận cùng bằng trái tim nhân ái, bao dung. Chị luôn trăn trở, thao thức suy tư về người, về đời của một người đàn bà từng trải. Do vậy, thơ chị dễ gây sự đồng cảm với bạn đọc và nhất là bạn đọc đứng tuổi.
Thơ Nguyệt Ánh - Niềm yêu mơ vĩnh cửu
Thơ Nguyệt Ánh
Niềm yêu mơ vĩnh cửu
Cầm bản thảo tập thơ Gọi về miền nhớ của tác
giả Nguyệt Ánh, tôi đắn đo và suy nghĩ nhiều để viết mấy dòng cho đứa con tinh
thần đầu lòng của chị. Không suy nghĩ, đắn đo sao được, khi xuyên suốt tập thơ
là cả một thế giới thơ tình yêu với nhiều cung bậc cảm xúc nhớ thương, hờn giận,
muộn phiền… trào dâng từ trái tim của một niềm yêu mơ vĩnh cửu.
Hóa ra, chính cái chữ “Tình” rộng rinh mênh mông kia nên thơ
ca viết ra tưởng dễ, song đọng lại hồn người một bài hoặc đôi câu thơ hay quả
là khó vô cùng. Thấu hiểu điều đó, nên việc làm “bà mối” bắt nhịp cầu duyên giữa
tác giả – một cô giáo dạy Văn làm thơ – với trăm ngàn trái tim độc giả đã và
đang yêu giữa cõi người thật khó lắm thay. Bởi lẽ ấy mà tôi băn khoăn mãi, khó
khăn nhiều lắm mới đặt bút viết đôi dòng tựa này.
Như đã nói, xuyên suốt 54 bài thơ trong thi tập Gọi về
miền nhớ của tác giả Nguyệt Ánh bao trùm một cung điệu tình yêu chứa chan
vạn thuở. Đạo Tình Yêu có tín đồ đông nhất, nhưng cũng khổ lụy nhiều nhất,
trong đó có nữ tác giả Nguyệt Ánh chăng? Với dăm bài viết cho mẹ, cho em gái,
cho con so với số lượng toàn tập chủ yếu là thơ tình yêu quả là không đáng kể,
chỉ như chút thanh âm khác lạ rung ngân trong bản đàn tình ái tràn ngập cõi yêu
mơ tha thiết. Trạng thái cảm xúc tình yêu trong thơ Nguyệt Ánh phần lớn là nỗi
buồn vỡ tan không gì che chắn nổi. Dù không gian nghệ thuật phong phú, xê dịch
đến đâu vẫn không ngăn được “niềm đau giông bão”. Một góc phố, một con đường, một
biển lớn, một buồng riêng… hiện ra trong hiện thực hay huyễn mộng chập chờn vẫn
không xua tan nỗi cô đơn, sầu thương khắc khoải. Tôi nói thế, hẳn bạn đọc cho rằng
có gì lạ đâu, những nhà thơ đi trước đã nói cả rồi. Quả là không sai, có điều
ta hãy lọc ra trong thi tập này những câu thơ hay, những ý tình và cảm xúc thật
sự được cất lên từ điệu hồn tác giả. Ví như cái thi tứ gặp người yêu cũ đi với
người khác đã được nhiều nhà thơ khai thác, nhất là các nữ sĩ: “Nếu anh đi
với người yêu/ Xin anh hãy nhớ một điều nhỏ thôi/ Con đường ta đã dạo chơi/ Xin
đừng đi với một người khác em” (Con đường – Phan Thị Thanh Nhàn). Đến tác
giả Nguyệt Ánh, không quá tài hoa và sắc nét như thơ Phan Thị Thanh Nhàn, song
cảm xúc thơ chị thành thật lắm, thành thật đến đáng thương; nó đau đớn, phũ
phàng quá khiến ta dễ dàng sẻ chia và đồng cảm: “Em vùi mình giấu nước mắt
trong mưa/ Xóa tan hết những điều vừa trông thấy/ Anh với người ta đẹp đôi đến
vậy/ Em nhận về mình giông bão, người ơi!” (Lối riêng). Cũng chính từ khi
thấu hiểu cái “lối riêng” nghiệt ngã ấy, Nguyệt Ánh nhận về mình là người “gánh
đa đoan”, muốn bán nhưng lại “sợ trời trêu ngươi” nên đành vác lên thân phận cuộc
đời mình nỗi buồn của tình yêu với khối u tình muôn thuở: “Nợ duyên một
gánh tròng trành/ Trần gian còn lắm lênh đênh kiếp người” (Gánh đa đoan).
Điều làm tôi trăn trở, không thể không nói đôi lời về các bài
thơ “nửa già nửa non” trong thi tập. Đó là các thi phẩm Mắc cạn, Gọi về miền
nhớ, Trách trời mưa, Một chút cho đời, Buôn Hồ dấu yêu… Quả vậy, tác giả Nguyệt
Ánh có những bài thơ tình thoáng nhìn non vụng, nhưng tình ý lại thẳm sâu. Người
làm thơ thành danh sẽ nói “sến”, nhưng không có cái “sến” ấy làm sao đo được một
tấm lòng yêu, một cảm xúc nỉ non, van lơn đến tột cùng của nỗi đớn đau tưởng chừng
khánh kiệt: “Mình buông tay anh nhé/ Như sen rũ mùa hè/ Không còn vương nắng
hạ/ Vắt kiệt rồi tiếng ve” (Mình buông tay anh nhé). Cái cụm từ “anh nhé”
hơi “sến”, nhưng cái tình thật của người làm thơ thì không chê đâu được. Đó là
những câu thơ dung dị, rất đỗi bình thường song lại ẩn chứa một nỗi niềm mênh
mang, khắc khoải. Bạn sính chữ nghĩa, tôi sính cái tình thật, biết sao giờ? Có
lẽ nhờ đó mà tôi nghĩ rằng, với người đọc “bình dân”, họ sẽ bỏ qua câu chữ để lắng
hồn mình trong tình ý, cảm xúc để rồi khóc cười đa đoan cùng với tác giả chăng?
Thơ Nguyệt Ánh thi thoảng cũng lấp lánh cái nhìn lạc quan,
yêu đời nhưng dường như tác giả cố dỗ mình nhiều hơn thì phải. Vẻ đẹp của khu
vườn mộng kia có lẽ cũng chỉ nằm trong cõi yêu mơ, nó dệt bằng ánh sáng của niềm
khát khao đến cháy bỏng từ một nỗi lòng mơ tưởng: “Dát trăng vào những đêm
trường/ Ru bờ vai lạnh, riết tương tư sầu/ Dìu vào giấc mộng tìm nhau/ Vườn yêu
tràn ngập sắc màu ái ân” (Vườn mộng). Thảng hoặc, có được nụ cười trên môi
bước đi giữa cõi đời, tô điểm cho cuộc đời niềm vui sống cũng đã ẩn giấu biết
bao nỗi niềm yêu mơ trắc ẩn, nhọc nhằn: “Thêm một chút nụ cười/ Cho đời
luôn tươi sáng/ Thêm một chút lãng mạn/ Cho vơi bớt nhọc nhằn” (Một chút
cho đời). Có thế, Nguyệt Ánh mới tâm sự cùng người em sớm trở thành góa phụ bằng
những câu thơ gan ruột, giàu lòng yêu thương, động viên: “Nếu mệt rồi hãy
ngủ đi em/ Yêu dấu con thơ dù khuyết người chia sẻ/ Dù duyên nợ cuộc đời em trắc
trở/ Hãy mở lòng đón nhận nửa về sau” (Gửi em).
Về nghệ thuật, qua thi tập Gọi về miền nhớ, phải công bằng
thấy rằng, thơ Nguyệt Ánh chưa có nhiều bứt phá và sáng tạo. Phần lớn thơ chị
được viết bằng các thể thơ truyền thống gần gũi có từ giai đoạn Thơ mới 1932 –
1945. Thể thơ 5 chữ, 7 chữ, lục bát, nhất là thơ 8 chữ (chiếm số lượng nhiều nhất)
đã phần nào chuyên chở được các trạng thái và cảm xúc trong tình yêu đến với độc
giả. Cũng không quá chủ quan khi nói rằng, chính các thể thơ quen thuộc và gần
gũi ấy là phương tiện nghệ thuật để tác giả Nguyệt Ánh lần đầu bày giãi tâm tư
của mình đến với bạn đọc được tự nhiên hơn. Ngôn ngữ thơ trong thi tập Gọi
về miền nhớ mang trọn vẹn ý tình như chính tâm hồn tác giả muốn khơi tỏa,
thành ra không xa lạ với người tiếp nhận. Dù vậy, chính cách biểu đạt trực tiếp
cảm xúc qua ngôn ngữ đủ để cho trái tim người đọc bâng khuâng, nhất là những
bài thơ có được ý tứ vững vàng: “Có thử thách nào nghiệt ngã thế không
anh?/ Sao phải bắt em rạch ròi quên – nhớ/ Giữa nhớ và quên trong em điều không
thể/ Càng cố quên người, nỗi nhớ lại đầy thêm…” (Thử thách). Trong thi tập Gọi
về miền nhớ, có mấy bài làm theo thể lục bát tôi cho là khá chắc tay về nghệ
thuật của tác giả Nguyệt Ánh: Gánh đa đoan, Bao giờ trả hết mẹ ơi!, Chờ. Bài
thơ Chờ viết về tâm trạng đợi chờ mòn mỏi của hình tượng người chị thật
cảm động nhờ tác giả biết lấy lòng mình để hiểu lòng người. Vẻ đẹp bài thơ có
chiều sâu cảm xúc, đẹp ở hình tượng thơ, đồng thời với thể thơ lục bát nhuần
nhuyễn và có tính chuyên nghiệp đã tạo vóc dáng chững chạc cho thi phẩm: “Chị
ngồi hong tóc mơ phai/ Nhặt hoa xoan rụng trải dài ngõ quê/ Đan tay chị vét lời
thề/ Trăng vàng rớt đáy sông quê thuở nào” (Chờ)
Thơ Nguyệt Ánh đang ở giai đoạn khởi đầu. Cấu tứ, ngôn ngữ,
giọng điệu nhìn chung hãy còn chịu ảnh hưởng của các lớp nhà thơ đi trước. Vẻ đẹp
dấu ấn cá nhân trong thơ chị vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong từng “bóng mây thơ”
nơi chân trời thi ca phía trước. Hi vọng rằng, sự trải nghiệm cuộc đời và thi
ca sẽ giúp cho Nguyệt Ánh có được những bài thơ mới lắng sâu thi tứ và cảm
xúc nồng đượm hơn. Như cánh chim thơ đang bắt đầu sải cánh, ai biết được nó sẽ
bay bao xa giữa trời đất dặm dài? Bầu trời thi ca có lẽ còn rộng mở nhiều hơn,
đang chờ đón những đường bay thi ca lấp lánh và ngoạn mục từ hồn thơ tác giả.
Trân trọng giới thiệu tập thơ Gọi về miền nhớ của nhà giáo Nguyệt Ánh
đến với bạn đọc gần xa.
Buôn Hồ, 1/11/2019
Lê Thành Văn
Theo https://vanhocsaigon.com/
Sau Covid-19, còn điều gì nữa
Sau Covid-19, còn điều gì nữa?
Vào ngày 21 tháng Hai, Diêm Liên Khoa, nhà văn, giảng
viên và Chủ nhiệm Khoa Văn hóa Trung Quốc tại Đại học Khoa học Kỹ thuật Hong
Kong, đã giảng bài trực tuyến cho lớp sau đại học về coronavirus, ký ức cộng đồng
và những người sáng tác sẽ nói về đại dịch này như thế nào. Dưới đây là chuyển
ngữ của bài giảng đó, được xuất bản lần đầu tiên trên tờ ThinkChina.
Các trò thân mến,
Hôm nay là ngày học trực tuyến đầu tiên của chúng ta. Trước
khi vào bài, cho phép tôi nói lạc đề một chút.
Khi tôi còn nhỏ, mỗi lần mắc cùng một lỗi hai đến ba lần, cha
mẹ thường lôi tôi ra trước mặt họ, chỉ tay lên trán tôi rồi nói:
“Sao mày nhanh quên thế?”
Trong lớp tiếng Trung, mỗi lần tôi quên bài đọc thuộc lòng
sau khi đã đọc đi học lại không biết bao nhiêu lần, giáo viên sẽ yêu cầu tôi đứng
lên và hỏi tôi trước cả lớp:
“Sao trò nhanh quên thế?”
Khả năng ghi nhớ là mảnh đất để các ký ức lớn lên, và ký ức
là trái cây sinh ra từ mảnh đất đó. Có được ký ức và khả năng ghi nhớ là khác
biệt căn bản giữa con người và động vật hay cây cỏ. Đó là điều kiện đầu tiên để
chúng ta lớn lên và trưởng thành. Đã bao nhiêu lần, tôi cảm thấy rằng điều đó
còn quan trọng hơn là ăn mặc, và cả hít thở — một khi ta quên đi các ký ức, ta
sẽ quên cách làm sao để ăn, hay mất đi khả năng biết cày ruộng. Ta sẽ quên quần
áo ta mặc ở đâu khi ngủ dậy mỗi sáng. Ta sẽ tin rằng vị hoàng đế lúc trần truồng
sẽ đẹp hơn là khi mặc quần áo. Tại sao tôi lại nói ra những điều này vào ngày
hôm nay? Đó là bởi vì Covid-19—một thảm họa của quốc gia và của toàn cầu—vẫn
chưa hoàn toàn được kiểm soát; các gia đình vẫn ly tán, và những tiếng khóc
than vẫn còn vọng từ Hồ Bắc, Vũ Hán và nhiều nơi khác. Thế nhưng, những khúc ca
chiến thắng đã nổi lên từ nhiều nơi. Tất cả bởi vì các số liệu thống kê đã tốt
đẹp hơn.
Xác người còn chưa lạnh và nhân dân vẫn còn than khóc. Thế
nhưng các khúc khải hoàn ca đã được cất lên và người ta bắt đầu tuyên bố: “Ôi
thật sáng suốt và vĩ đại làm sao!”
Từ cái ngày mà Covid-19 đi vào đời sống của chúng ta cho tới
nay, ta không biết rõ bao nhiêu người đã tử vong vì nó—bao nhiêu người đã chết ở
các bệnh viện, và bao nhiêu người đã qua đời ở bên ngoài kia. Ta còn không có
cơ hội để nghiên cứu về những thứ đó. Hay thậm chí còn tệ hơn là, những điều
tra và nghi vấn có thể sẽ chấm dứt khi thời gian trôi đi, và sẽ mãi là bí ẩn
không lời giải. Có lẽ, ta sẽ phải để cho thế hệ sau truyền thừa một hỗn độn giữa
sự sống và cái chết, mà không ai có ký ức gì về nó.
Khi đại dịch đã lắng xuống, ta không được giống như thím Tường
Lâm (một nhân vật trong tiểu thuyết của Lỗ Tấn, điển hình cho kiểu phụ nữ lao động
u mê trong xã hội phong kiến cũ), kêu rên khi đứa con trai bị chó sói ăn thịt:
“Tôi chỉ biết bọn thú hoang đi rình mồi vào mùa đông, khi trên núi không có gì
ăn; Ai mà biết được là bọn chó sói làm thế cả vào mùa xuân”. Nhưng chúng ta
cũng không thể giống như AQ, lần nào cũng tự nhủ thầm rằng mình là kẻ chiến thắng
sau khi bị ăn đòn, bị sỉ nhục và bị dồn vào cái chết.
KHI KÝ ỨC CÓ THỂ KHÔNG MANG CHO TA SỨC MẠNH THAY ĐỔI THỰC TẠI,
ÍT NHẤT LÀ NÓ CŨNG CÓ THỂ LÀM LÒNG TA DẤY LÊN CÂU HỎI KHI TA PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI
DỐI TRÁ.
Trong quá khứ và cả thời đại chúng ta đang sống, tại sao bi kịch
và thảm họa lại luôn đến với cá nhân, gia đình, xã hội, thời đại, đất nước, lần
lượt cái này liền tiếp vào cái sau? Và tại sao những bi kịch lịch sử lại phải
trả giá bằng ngàn vạn mạng dân thường? Giữa vô số các yếu tố mà ta không biết,
ta không hỏi hay được bảo rằng đừng có hỏi (mà ta nhất mực nghe theo), thì có một
yếu tố này: nhân loại, trong tồn tại tập thể của mình, vô danh như kiến, vốn dĩ
là những thực thể dễ quên.
Ký ức của chúng ta đã bị chỉnh đốn, thay thế và xóa bỏ. Ta nhớ
những gì người khác bảo ta phải nhớ, và quên những gì người khác bảo ta phải
quên. Ta im lặng khi được được yêu cầu làm thế, và hát theo mệnh lệnh. Ký ức đã
trở thành công cụ của thời đại, được dùng để tạo ra ký ức tập thể của một quốc
gia, được tạo ra bởi những gì ta được bảo rằng phải quên đi hay phải nhớ.
Thử nghĩ mà xem: không nói đến những cuốn sách phủ bụi cũ kỹ
đã trở thành quá khứ, chỉ cần nhớ lại những gì đã xảy ra trong vòng 20 năm qua.
Những biến cố mà người trẻ như các trò, những đứa sinh ra vào năm 80 và 90, tất
cả đều đã trải qua và ghi nhớ những đại thảm họa quốc gia như AIDS, SARS và
Covid-19. Theo các trò, đó là những thảm họa do con người tạo ra hay là những
thảm họa thiên nhiên mà con người phải bất lực khi đối mặt với nó, như động đất
ở Đường Sơn hay Tứ Xuyên? Mà rồi tại sao yếu tố con người trong những thảm kịch
quốc gia trước đây đều như nhau? Đặc biệt là dịch SARS từ cách đây 17 năm, và sự
leo thang của dịch Covid-19 hiện tại, dịch bệnh nhìn có vẻ như chúng được dựng
lên bởi cùng một đạo diễn. Thảm kịch lại tái hiện ngay trước mắt chúng ta. Và
con người mong manh như cát bụi, ta còn không thể tìm được ai là đạo diễn, cũng
như không đủ chuyên môn để thu thập và chắp nối những tư tưởng, ý niệm và sáng
tạo của nhà biên kịch. Nhưng khi chúng ta đối diện trước sự tái hiện của “vở kịch
tử thần” này một lần nữa, chẳng phải ít nhất ta cũng nên tự hỏi chính mình rằng
ta có những ký ức gì về biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà ta là một phần trong
đó?
Ai đã xóa sạch ký ức của ta?
Những kẻ hay quên, về bản chất, giống như bụi đất trên đường.
Người ta có thể dùng đế giày dẫm đạp lên họ kiểu gì cũng được.
Những kẻ hay quên, về bản chất, giống như tấm gỗ đã cắt rời
khỏi thân cây đã mang tới sự sống cho chúng. Cưa và rìu hoàn toàn kiểm soát
chúng sẽ trở thành gì trong tương lai.
Đối với chúng ta, những người gắn cho đời sống ý nghĩa bằng
tình yêu văn chương, những người nương vào các nhân vật trong văn chương Trung
Hoa mà sống; đối với các học viên thạc sĩ của Đại học Khoa học Kỹ thuật Hong
Kong đang online này, và dĩ nhiên là bao gồm cả những tác giả đã tốt nghiệp hay
vẫn đang theo học lớp viết sáng tác chuyên nghiệp tại Đại học Nhân dân Trung
Hoa—nếu chính chúng ta cũng bỏ rơi ký ức về máu đổ và sự sống, thì ý nghĩa của
việc viết là gì? Giá trị của văn chương là gì? Tại sao xã hội lại cần những người
viết? Việc sáng tác cần mẫn, không ngừng nghỉ, và biết bao nhiêu cuốn sách được
viết ra có gì khác so với việc trở thành một con rối bị người khác kiểm soát? Nếu
phóng viên không tường thuật lại những gì họ chứng kiến, và tác giả không viết
về những ký ức và cảm xúc; nếu những người còn được lên tiếng trong xã hội, và
biết cách để nói ra luôn kể lại đọc lại và công bố mọi thứ trên tinh thần đúng
đắn về mặt chính trị, thì ai có thể nói cho chúng ta rằng việc sống như máu thịt
trên đời này còn ý nghĩa gì nữa chăng?
Hãy thử nghĩ mà xem: nếu như nhà văn Phương Phương không tồn
tại ở Vũ Hán. Cô ấy không ghi chép lại những ký ức cá nhân và cảm xúc của mình.
Cũng không có hàng ngàn vạn người giống như Phương Phương đang kêu cứu qua điện
thoại. Thì chúng ta nghe thấy gì? Chúng ta nhìn thấy gì?
Giữa dòng nước lũ của thời đại, ký ức của một người giống như
bọt nước, bị nhấn chìm hay đánh dạt sang một bên bởi sóng nước và tiếng ồn, làm
ký ức đó câm lặng bằng tiếng nói và ngôn từ, giống như chúng chưa bao giờ tồn tại.
Chao ôi, khi thời đại qua đi, mọi thứ tan vào quên lãng. Máu và thịt, thân xác
và linh hồn đều biến đi. Mọi thứ đều ổn, và điểm tựa nhỏ bé của sự thật mà có
thể nâng được cả thế giới đã mất. Như thế, lịch sử trở thành tập hợp của huyền
thoại, của mất mát và những câu chuyện tưởng tượng, không có nền tảng và vô căn
cứ. Từ quan điểm như thế, điều quan trọng là ta có thể nhớ và nắm giữ ký ức của
mình khiến không ai có thể chỉnh đốn hay xóa bỏ. Đó chỉ là một chút nhỏ sự chắc
chắn và bằng chứng mà ta có thể mang ra khi ta nói lên một sự thật nhỏ bé. Đây
là điều đặc biệt quan trọng với những học viên của lớp sáng tác. Phần lớn chúng
ta coi nghiệp của đời mình là viết lách, tìm kiếm sự thật, và sống như một cá
nhân qua những ký ức của mình. Nếu như đến một ngày ngay cả những người như
chúng ta mất đi những điều chân thực nhỏ nhoi còn sót lại và những ký ức, sẽ
còn chăng những gì chân thực của cá nhân và lịch sử? Sẽ còn chăng sự thật?
Trên thực tế, ngay cả khi khả năng ghi nhớ và ký ức của chúng
ta không thể làm gì để thay đổi thế giới, ít nhất thì nó cũng giúp chúng ta nhận
thức được rằng có gì đó không đúng khi ta phải đối mặt với “sự thật” đã được tập
trung chỉnh đốn. Giọng nói nhỏ bé trong ta sẽ cất lên: “Cái đó không đúng!”. Ít
nhất, thì trước khi bước ngoặt của đại dịch thực sự đến, ta có thể nghe và ghi
nhớ những tiếng lầm than từ những người, những gia đình và những kẻ bị gạt ra
bên lề, giữa tiếng hân hoan của khúc ca khải hoàn.
Ký ức không thể thay đổi thế giới, nhưng nó cho chúng ta một
tấm lòng chân thật.
TÔI HY VỌNG RẰNG MỖI TRÒ Ở ĐÂY, VÀ TẤT CẢ NHỮNG AI ĐÃ TRẢI
QUA ĐẠI DỊCH COVID-19 SẼ TRỞ THÀNH NHỮNG NGƯỜI GHI NHỚ, NHỮNG NGƯỜI RÚT ĐƯỢC NHỮNG
KÝ ỨC RA TỪ TRÍ NHỚ.
Dẫu ký ức có thể không mang cho ta sức mạnh thay đổi thực tại,
ít nhất là nó cũng có thể làm lòng ta dấy lên câu hỏi khi ta phải đối diện với
dối trá. Nếu như có một ngày, một cuộc Đại Nhảy Vọt nữa lại tới, và người ta lại
đắp lò nung ở sân nhà, ít nhất ký ức cũng cho ta biết rằng cát không thể biến
thành sắt, và một mẫu ruộng không cho ta trăm nghìn cân lương thực. Ít nhất ta
cũng biết rằng đây là lẽ thường cơ bản nhất, và không phải là sức mạnh ý thức tạo
ra vật chất, từ không khí biến ra đồ ăn. Nếu có một cuộc Cách mạng Văn hóa nữa
diễn ra, ta ít nhất cũng có thể đảm bảo rằng mình sẽ không phải là kẻ đưa cha mẹ
ta vào tù hay ra pháp trường.
Các trò thân mến, chúng ta đều là những học viên ngành nghệ
thuật mà có lẽ sẽ dành cả đời để vật lộn với thực tại và ký ức bằng ngôn từ. Đừng
để mình nói về ký ức tập thể, về ký ức quốc gia hay ký ức của dân tộc, mà hãy
là của chính chúng ta; vì trong lịch sử, ký ức tập thể sẽ luôn che đậy và thay
đổi ký ức của chúng ta. Ngày hôm nay, vào chính thời điểm này, khi Covid-19 vẫn
còn lâu mới trở thành ký ức, khi mà chúng ta đã nghe thấy khải hoàn ca vang lên
từ khắp nơi. Vì lẽ đó, tôi hy vọng rằng mỗi trò ở đây, và tất cả những ai đã trải
qua đại dịch Covid-19 sẽ trở thành những người ghi nhớ, những người rút được những
ký ức ra từ trí nhớ.
Trong tương lai gần có thể dự đoán được, khi mà cả nước mừng
chiến thắng đại dịch Covid-19 với ca nhạc, tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ không
trở thành những người viết trống rỗng vô hồn, mà sẽ là những người đơn giản sống
thật với ký ức của mình. Khi buổi đại nhạc hội diễn ra, tôi hy vọng rằng chúng
ta sẽ không phải là diễn viên hay người kể chuyện trên sân khấu, hay là một
trong những người vỗ tay để có cảm giác mình là một phần của hội diễn—Tôi hy vọng
rằng chúng ta sẽ là những kẻ kín đáo, bị bỏ rơi đứng ở góc xa nhất của sân khấu,
vừa khóc vừa lặng lẽ nhìn. Nếu tài năng, sự can đảm và sức mạnh tinh thần của
chúng ta không đủ biến ta thành một người viết như Phương Phương, thì chúng ta
cũng không ở trong số những người, những giọng nói nghi ngờ hay nhạo báng
Phương Phương. Trong khi mọi thứ quay trở lại trạng thái bình thường và thịnh
vượng như xưa, cùng những làn sóng ca hát, nếu ta không thể lớn tiếng đặt câu hỏi
về nguồn gốc và sự lây lan của Covid-19, thì chúng ta cũng có thể nói nhỏ, nói
bằng giọng trầm, vì đó cũng là sự thể hiện lương tri và lòng dũng cảm. Viết thơ
sau giai đoạn trại tập trung Auschwitz là một điều dã man, nhưng thậm chí còn
dã man hơn nếu như chúng ta chọn quên nó đi trong ngôn từ, trong đối thoại và
trong ký ức—điều đó thật sự dã man và kinh khủng hơn.
Nếu như ta không phải là một “người thổi còi” như bác sĩ Lý
Văn Lượng thì ít nhất hãy để mình là một kẻ biết lắng nghe tiếng còi đó.
Nếu ta không thể nói to thì hãy là những kẻ thầm thì. Nếu ta
không thể là những kẻ thầm thì, hãy để chúng ta trở thành những kẻ lặng câm
nhưng mang theo ký ức. Trải qua những khởi đầu, những tàn phá và lây lan của
Covid-19, hãy để chúng ta là những kẻ lặng lẽ bước ra ngoài lề một bước khi đám
đông tụ tập lại để hát khúc khải hoàn ca sau khi chiến thắng—những kẻ mang
trong tim mình những nấm mộ với ký ức được khắc trên đó; những người ghi nhớ và
một ngày nào đó có thể truyền lại ký ức cho thế hệ tương lai.
2/4/2020
Diêm Liên Khoa
Vũ Ngọc Khuê dịch
Theo https://vanhocsaigon.com/
Văn chương Việt và khủng hoảng mang tính nhân loại
Văn chương Việt và
khủng hoảng mang tính nhân loại
Vẫn quá sớm để nói đến việc khủng hoảng văn chương. Vì
cứ mỗi lần giới phê bình lên tiếng thì văn chương tự khắc có lối mở, thoát hiểm
ngoạn mục, khiến mọi chỉ trích trở thành khôi hài. Cuộc khủng hoảng tiểu thuyết
Mới Mới vào thập niên 1950 là một minh chứng.
Thêm nữa, đòi hỏi văn chương ngay lập tức sản sinh ra kiệt
tác là điều không thể. Phải mất cả thập kỉ, thậm chí là vài thập kỉ, nhân loại
sáu tỉ người mới có thể đón đọc được một vài tác phẩm thực sự có giá trị. Qua
thời gian, số còn lại chỉ là một vài đại diện tiêu biểu nhất mà thôi. Chẳng hạn
thời Phục hưng bây giờ còn lại gì ngoài Don Quixote, Hamlet và vài ba cái tên
khác?
Như thế, sự khủng hoảng văn chương xem ra là của mọi thời. Thời
nào cũng có và bằng cách nào đó thời nào văn chương cũng sống lại, mạnh mẽ hơn
xưa. Vấn đề đặt ra là, ngày nay người ta viết văn như thế nào và người đọc cần
loại văn chương nào. Câu trả lời đâu dễ. Khảo sát tình hình xuất bản Việt những
năm gần đây, ta thấy, hầu như chẳng có sự đổi mới lớn lao nào. Vẫn đa phần là
những cây bút cũ với lối viết thì chẳng thể nào cũ hơn. Theo cách, có một cốt
truyện, một cảm hứng thường trực, nhà văn miệt mài gõ bàn phím để cho câu chữ
dày lên thành tác phẩm. Chưa có nhiều động thái mang dấu hiệu thực sự của cuộc
cách tân văn chương. Trong khoảng mười năm trở lại đây, văn chương Việt như thể
vẫn giẫm chân tại chỗ, với nhịp điệu “bước đều bước” nhưng không nhúc nhích lấy
một li. Những cái bóng Tố Hữu, Lê Đạt, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Huy
Tưởng, Lưu Quang Vũ… dần chìm khuất mà chẳng thấy hậu sinh nào nổi lên.
Việt đã vậy mà thế giới cũng chẳng khá khẩm gì hơn. Rải rác vẫn
xuất hiện vài gương mặt có những nỗ lực nhất định để nói được tiếng nói của văn
chương thời đại. Chẳng hạn, Nhật có hai đại diện đang sung sức. Đó là Haruki
Murakami và Banana Yoshimoto. Họ viết hay, hấp dẫn. Tác phẩm của họ được dịch
ra hàng chục thứ tiếng và được tiêu thụ hàng triệu bản… Tuy nhiên, đọc kĩ thì
thấy họ vẫn chỉ là hạng hai so với bậc tiền bối Yasunary Kawabata. Tương tự,
sau bộ tứ lừng danh John Updike, Don DeLillo, Thomas Pinchon và Philip Roth thì
Hoa Kì vẫn chưa xuất hiện gương mặt nào khả dĩ để “đánh bật” các bậc tiền bối
kia. Xem ra thì cái thời khủng hoảng văn chương đã đến thực sự rồi.
Khủng hoảng văn chương còn có thể kiểm chứng qua khủng hoảng
giải thưởng. Theo dõi giải Nobel văn học hai năm lại đây ta thấy sự biến diễn
ra rất rõ. Cả hai lần trao giải, một cho tác phẩm phóng sự và một cho tác phẩm
nhạc được biện minh khôi hài là chất thơ trong nhạc.
Nobel 2016 được dành cho Bob Dylan. Đây là vinh quang trái
khoáy mà ngay đến cả nằm mơ Dylan cũng chẳng thể nào tưởng tượng nổi. Buồn cười
hơn là ngay sau đó, không biết vô tình hay cố ý, rất nhiều tờ báo giật tít “Ca
sĩ, nhạc sĩ Bob Dylan giành giải Nobel văn học 2016”. Rõ ràng, suốt đời Dylan
chỉ có ca hát, ông đâu có dính dáng gì đến văn chương. Biết mình nhận được vinh
quang đó, Dylan lúng túng mãi thời gian sau mới chấp nhận giải thưởng.
Việc trao Nobel cho người thiên về phóng sự và một nhạc sĩ
chính hiệu đã phần nào chỉ ra sự khủng hoảng lớn lao trong sáng tác văn chương.
Các tác phẩm vẫn không ngừng được viết ra, các giải thưởng vẫn không ngừng trao
không có nghĩa văn chương vẫn trên hành trình gặt hái thành tựu. Xét về mặt nào
đó, chính các giải thưởng cũng góp phần tạo nên khủng hoảng.
Vẫn chuyện Bob Dylan, thông thường, một người đầu óc bình thường
thì chẳng thể nào xem âm nhạc là văn chương được và chẳng có ai rồ đến mức gọi
âm nhạc là văn chương. Nhưng ngẫm kĩ thì hành động đó ít nhiều cũng có cái lí của
nó. Việc trao giải Nobel này hướng đến cái đích là mở rộng ranh giới văn
chương, không đóng kín văn chương trong các thể loại đã được định hình đông cứng
mà cánh lí thuyết phê bình phân chia bấy lâu. Như thế đã rõ, các vị Hàn lâm viện
đó nhận thức được sự khủng hoảng.
Thử nhìn lại các giải thưởng Việt được trao những năm gần đây
cũng có diễn biến gần như vậy. Ta thấy có hai cách thức được tiến hành, hoặc là
“so bó đũa chọn cột cờ”, xem cái nào khả dĩ nhất thì trao thưởng; hoặc là “hồi
cố” tặng cho những tác phẩm đã ra đời trước đây. Tình thực mà nói, ngay cả người
đứng ra tặng hay ngay chính người được tặng, đa phần đều biết rõ có gì đấy chưa
được ổn, bởi lẽ những tác phẩm đoạt giải đó phần nhiều đâu có giá trị cao về mặt
tư tưởng lẫn nghệ thuật, đâu có mấy người đọc và bị lãng quên ngay sau khi giải
được trao.
Vấn đề đặt ra là nguyên nhân nào làm suy yếu văn chương đến
thế. Hào quang văn chương nhân loại rực rỡ vào thời Hi Lạp cổ đại hoặc gần hơn
là vào thời của chủ nghĩa lãng mạn. Lúc đó, con người tôn vinh những giá trị
tinh thần, đặc biệt là lối tư duy khai phóng, tưởng tượng bay bổng lạ thường,
trên cái nền nhân văn thấm đẫm tình người, tình yêu thương nhân loại tha thiết.
Văn chương lấy thiên chức hướng thiện, giam cấm thô lỗ, cục cằn, làm giàu đời sống
tâm hồn, phóng thích kí ức… làm nguyên tắc tối thượng để sống còn. Người Hi Lạp
có một nền văn chương trác tuyệt vì nó được tôn vinh như là đỉnh cao tri thức,
đạo đức và xúc cảm của con người. Con người có thể sống chết vì văn chương. Thơ
và kịch rất được đề cao. Đặc biệt, khi một tác giả kịch đoạt giải nhất trong
năm thì người đó được tôn vinh hơn cả một vị quân vương. Tương tự, Victor Hugo
cũng rất được sùng bái lúc sống. Cả triệu người háo hức đợi ngày tác phẩm của
ông được ấn hành. Ngay đến khi chết, người tham dự đám tang ông đông hàng triệu.
Trong khoảng năm mươi năm trở lại đây, nhân loại đâu còn truyền
thống tôn vinh văn học đến mức thần thánh. Vẫn xuất hiện nhà văn giỏi, cỡ như
Gabriel Garcia Marquez, nhưng ông đâu được sùng bái như Tổng thống Vladimir
Putin, Bill Clinton hay ông chủ Microsoft Bill Gates. Vị thế của văn chương vì
thế ngày càng xuống cấp. Mối quan tâm của con người giờ đây thiên hẳn sang vật
chất và địa vị xã hội. Càng nhiều tiền và quyền lực càng lớn thì càng được đánh
giá cao. Hằng năm, người ta miệt mài thống kê có bao nhiêu tỉ phú dollar, ai là
người đứng đầu thị trường chứng khoán, chứ mấy ai đi làm thống kê là có bao
nhiêu nhà văn nổi tiếng và nhà văn nào là nổi tiếng nhất đâu. Những giá trị
tinh thần bị lãng quên đã khiến văn chương ngày càng rơi vào nỗi bi đát.
Gắn với vật chất là các giá trị công nghệ. Cuộc cách mạng
công nghệ 4.0 đang thu hút hầu hết chất xám của nhân loại vào cuộc chạy đua bất
tận về những thành tựu khoa học kĩ thuật. Tiện ích của cách mạng công nghệ thì
miễn bàn, nhưng nhiều người lẽ ra đã trở thành nhà văn vĩ đại lại hóa kĩ sư
quèn. Ngược lại, có ai đó chẳng thể thành kĩ sư cơ khí bèn chuyển hướng sang
sáng tác văn chương, trở thành nhà văn bất đắc dĩ. Sự khủng hoảng nhân loại từ
khía cạnh này quả là vượt qua cả giới hạn văn chương. Ngày nay, con người dường
như chẳng biết mình là ai, hành động vì lẽ gì mà cứ như những con thiêu thân
lao đầu vào những cám dỗ nhất thời để mất đi những giá trị bền vững cao quý.
Muôn đời văn chương cũng đều vì con người. Văn chương luôn đảm
trách việc giáo huấn người. Nhưng nếu lộ liễu thì sẽ khó có sức thuyết phục.
Văn chương nói theo cách đặc thù, có thể từ nỗi đau để cảm hóa, có thể từ sự mỉa
mai để thức tỉnh, có thể từ tiếng cười để tống tiễn những thói tật; văn chương
nói lời yêu thương, cảm thông, tha thứ và nghiêm cấm thù hằn… Trên tất cả, văn
chương cần vượt qua được sự khủng hoảng của chính nó.
Đỉnh cao của văn chương hiện đại Việt có thể nằm ở thời
1930-1945, có thể ở thời sau 1986 và có thể ở thời nào đó trong tương lai. Điểm
lại những mốc này để thấy, đã có những khủng hoảng và văn chương Việt đã vượt
qua tuy thành tựu có được không thực sự nhiều. Cũng bị cuốn vào những cám dỗ vật
chất và cách mạng 4.0, có lẽ những phần tử tinh túy nhất cho trí tuệ Việt cũng
đã nhao vào đó hoặc những nơi mà người ta thấy có thể đảm bảo được công việc và
cuộc sống. Bằng chứng dễ nhận thấy nhất của chuyện này là khoảng mười năm trở lại
đây, học sinh khối C (thiên về môn văn) đa số những người giỏi đều chọn vào các
ngành quân đội và công an, những ngành hầu như chẳng sử dụng nhiều trí tưởng tượng
bay bổng, không cần nhiều ngôn từ hoa mĩ, nhưng lại đảm bảo cho họ một cuộc sống
tương lai khả dĩ hơn là theo đuổi nghiệp văn đầy bất trắc. Gần như rất hiếm nhà
văn Việt có thể sống bằng nghề.
Mỗi thời đại dường như đều lưu tồn hai xu hướng văn học
chính. Một dòng mang tính xu thời (có thể gọi là văn học định chế), một dòng phục
vụ cho sự tiến hóa (có thể gọi là văn chương khai phóng). Nhà văn xu thời thì
thường được hưởng nhiều quyền lợi hơn từ công chúng bình dân và thậm chí là từ
giới cầm quyền. Nhà văn khai phóng thì lầm lũi đi trên con đường đơn độc của
sáng tạo nghệ thuật, có thể bị hắt hủi, chê bai, nhưng chính họ mới có thể tạo
ra sự thay đổi thẩm mĩ. Cá biệt, có số ít nằm giữa hai nhóm này, họ là những kẻ
trung dung, sáng tạo vừa phải và xu thời cũng vừa phải. Cả ba hướng sáng tác
này đều có “cái dụng” nhất định của nó. Trong nền văn học Mĩ đương đại, Stephen
King là một nhà văn định chế. Ông này không có những cách tân làm thay đổi bộ mặt
văn học Mĩ nhưng với lối kể kinh dị, ma quái rất truyền thống Mĩ của mình, King
đã hớp hồn hàng chục triệu độc giả không chỉ ở trong nước mà còn cả ngoài nước,
tạo nên “cơn cuồng King”. King chính là nhà văn phục vụ lợi ích đám đông trước
mắt, được đám đông tung hô, kiếm được rất nhiều tiền, nhưng giá trị văn chương
đích thực thì chẳng đáng trông cậy.
Những sáng tác kiểu này cũng là nguyên nhân gây nên cuộc khủng
hoảng văn chương. Bề ngoài thì được nhiệt liệt hoan hô, nhưng ai cũng biết đấy
chỉ là thứ văn chương giải trí tầm phào, rất ít, nếu không muốn nói là không có
người tìm đọc lần thứ hai. Loại văn chương “đọc một lần vứt xó” thường chiếm tỉ
lệ rất lớn trên văn đàn. Chúng tồn tại là nhờ các định chế thẩm mĩ nông cạn đã
thành nếp, lười tư duy của người đọc, hoặc khác đi là nhờ nhu cầu giải trí tức
thời của con người. Một khi tiêu khiển xong thì chẳng còn ai đoái hoài đến.
Trong khi đó, văn chương chân chính thì không bao giờ là “tiêu khiển”, “vứt
xó”. Nó là nỗi đau hay hạnh phúc cứ đeo riết lấy hồn người dài lâu.
Xem ra thì mọi phân tích hay định giá, phân hạng văn chương đều
có chỗ bất cập. Những gì được nói đến ở trên chỉ là sự phân giải cho rõ ý chứ
thực tế thì phức tạp hơn nhiều. Trở lại với mối quan ngại về cái gọi là “văn
chương lâm nguy” (chữ của Todorov) của người Việt, ta thấy nổi lên vấn đề là
chúng ta hầu như ít có tác phẩm xuất sắc khoảng mười năm trở lại đây. Tình thế
này đòi hỏi cánh sáng tác ngôn từ cần nỗ lực hơn nữa. Tuy nhiên, sáng tạo văn
chương là chuyện thiên mệnh. Không ai có thể dạy nhà văn viết như thế nào và
không phải cứ muốn làm nhà văn thì có thể trở thành nhà văn. Khi viết, nhà văn
hoàn toàn không thể đoạn tuyệt với cái bóng của chính anh ta. Tài năng của nhà
văn được ghi nhận ở chỗ anh ta có thể vượt thoát hoặc thoát được bao xa dấu ấn
văn hóa đã định thành quán tính trong cách nghĩ, anh ta có đổ chút mồ hôi nào để
vật lộn với chính cái bóng quái ác đó hay không. Văn chương chân chính ra đời
trên những lối rẽ. Càng nhiều lối rẽ, càng nhiều mê lộ, tác phẩm đó càng thu
hút sự giải mã bất tận từ phía người đọc. Mọi sự đơn giản đều giết chết văn
chương.
Cần phân biệt giữa sự phức tạp làm đỏm và sự đơn giản trí tuệ,
minh triết. Ngôi nhà xưa bên suối của Cao Duy Sơn hay nhiều truyện ngắn
của Phan Việt được viết theo lối tối giản. Những tác phẩm văn học này khước từ
sự “khua môi múa mép” ngôn từ bề mặt. Nhà văn tôn sùng sự giản đơn đến tận
cùng. Nhưng cái sự giản đơn đó đâu hề đơn giản bởi mỗi chi tiết nhỏ nhoi của
tác phẩm đều ẩn chứa trong nó những giá trị nhân văn sâu thẳm, có thể mở hướng
mê lộ vào nhiều nẻo khuất tâm hồn.
Chủ nghĩa tối giản trong văn học có thể xem là điểm nối giữa
văn chương và báo chí. Ngày nay, nhân loại đang tiến dần đến cách viết dung hòa
đó, được định danh là thể văn báo chí (Journalism). Nó pha trộn lối viết hư cấu
truyền thống với bút kí, hồi kí, phóng sự, du kí, phỏng vấn… trong một câu chuyện
nửa thật nửa hư. Vì lẽ này mà Nobel văn chương năm 2015 được trao cho nữ nhà
văn – nhà báo Svetlana Alexievich với “lối viết văn phức điệu”, nơi tính báo
chí chi phối mạnh lối tư duy hư cấu của nữ văn sĩ.
Văn chương Việt cũng bắt kịp xu hướng báo hóa. Gần đây, các
tác phẩm tùy bút được xuất hiện nhan nhản trên các quầy sách. Có lẽ cần có tên
gọi mới cho loại hình văn xuôi này, bởi chúng không hẳn là tùy bút như quan niệm
bấy nay. Nếu không thì đơn giản, ta có thể gọi đó là truyện, nhấn mạnh đặc
trưng kể về sự kiện xen bộc lộ cảm xúc… Lối viết này có triển vọng là sẽ khai
sinh ra một dạng văn chương mới. Đặc điểm của nó là vừa thực vừa ảo, vừa hư cấu
vừa phi hư cấu, vừa ghi chép vừa bịa đặt…
Văn chương cũng như con người, nhiều khát vọng nhưng ít khi
thành hiện thực. Vậy nên, ngay cho dù phải thất bại thì giá trị của nó cũng cứ
được ghi nhận ở chỗ khao khát cống hiến chút gì đó cho đời. Ta hãy cùng hi vọng
về những áng văn khổng lồ Việt trong một tương lai không xa.
Đây là tham luận của GS-TS Lê Huy Bắc tại Hội thảo toàn quốc
Các xu hướng vận động của văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay: thực trạng và
định hướng phát triển do Hội đồng Lí luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung
ương tổ chức tại Quảng Ninh ngày 5.12.2017.
4/4/2020
Lê Huy Bắc
Theo https://vanhocsaigon.com/
Tản mạn với Võ Chân Cửu
Tản mạn với Võ Chân Cửu
Ta có thể gặp ở đây những số phận long đong của Hoàng
Ngọc Tuấn, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định…; những dự phóng văn chương dang dở của
các tập san Trước Mặt ở Quảng Ngãi, Nhân Sinh ở Nha
Trang, Khai Phá ở Châu Đốc, Văn Chương ở Sài Gòn… Long
đong, dang dở, nhưng họ để lại cho đời những tác phẩm văn chương trọn vẹn,
trong đó có những bài thơ hay ít người biết mà Võ Chân Cửu không ngần ngại chép
lại nguyên văn cho bạn đọc thưởng thức, chẳng hạn những bài thơ của Lưu Vân,
Nguyễn Tôn Nhan, Phan Nhự Thức…
Với nhan đề 22 tản mạn, cuốn sách đầu tiên trong bộ sách
ba tập của Võ Chân Cửu về văn chương miền Nam đã góp phần biến “tản mạn” vốn là
một tính từ thành một danh từ, và vốn là một thể báo chí – gần với nhàn đàm, tạp
bút – trở thành một biến thể của phê bình văn học.
Trong tập hợp những bài tản mạn của Võ Chân Cửu, có thể thấy
sự hiện diện và cộng sinh của bình thơ, tiểu luận, tùy bút, tư liệu văn học…
khiến cho mỗi cuốn sách là một hợp thể, và cả bộ sách là một hợp thể lớn hơn,
giúp ta hình dung được bối cảnh của văn học miền Nam thời chiến cũng như tâm thế
của những nhà văn cầm bút trong bối cảnh đó.
Nói “hợp thể” là một cách nói để dễ nhận diện, chứ thật ra bộ
sách này không phải là một hệ thống có chủ đích nhất quán, cho nên ta không nhất
thiết phải đọc nó như một thiên khảo luận có trật tự lớp lang, mà có thể – và rất
nên – đọc như một cuốn sách với những đoản thiên rời, đọc ngẫu hứng, không cần
theo trình tự trước sau, vì tác giả có vẻ như cũng ngẫu hứng mà viết ra. Giống
như ta ngồi bên ô cửa toa tàu mà nhìn phong cảnh hiện ra trước mắt: có lúc tàu
chạy nhanh chỉ kịp thấy cánh đồng và dòng sông vừa lướt qua, có lúc tàu leo dốc
chầm chậm cho ta chiêm ngưỡng từng bụi cây ngọn cỏ của vạt rừng dưới chân đèo.
Nhưng tất cả hòa kết trong tâm trí ta một cảnh tượng văn chương bỗng thức dậy
sau những giấc ngủ dài tưởng đã phôi pha cùng năm tháng.
Giới sáng tác văn học ở miền Nam thời chiến mỗi người mỗi vẻ,
những phân loại khái quát về khuynh hướng chỉ có ý nghĩa tương đối, có khi dễ
thành phiến diện. Mỗi tờ báo quy tụ một nhóm nhà văn gần nhau về cảnh ngộ sinh
hoạt tinh thần nhưng không hẳn cùng chia sẻ hoàn toàn một quan niệm văn chương
hay lý tưởng xã hội. Chính điều đó gây khó cho người nghiên cứu về sau, đồng thời
cũng là thử thách gợi hứng thú cho họ. Nó cho thấy yếu tố dân chủ của một đời sống
văn học nhiều phân hóa.
Nói về thế hệ cùng thời với Võ Chân Cửu, cách phân loại vừa
quen thuộc vừa dễ dãi được một số người chấp nhận lâu nay: khuynh hướng “dấn
thân” và khuynh hướng “viễn mơ”. Nhưng ranh giới giữa hai khuynh hướng đó đâu dễ
phân định. Chỉ cần đặt câu hỏi: dấn thân về đâu mới là dấn thân đích thực? Và
người ta có thể dấn thân mà không cần viễn mơ? Thậm chí, người dấn thân có thể
cũng là người mơ tưởng hão huyền nhất!
Dù sao, trong văn cảnh miền Nam thời đó, Võ Chân Cửu dễ được
xếp vào nhà thơ “viễn mơ”, căn cứ vào thi hứng, thi tứ và cả nhan đề tác phẩm của
ông: Tinh sương, Đại mộng, Tà huy, Bóng trăng ngàn, Đường vô núi, Sáng
thinh không, Ngã tư vầng trăng, Quẩy đá qua đồng, Chùa cổ bên sông… Con đường
“viễn mơ” đó bao đời nay đã là một dòng lớn của thi ca Việt Nam. Đâu phải ngẫu
nhiên mà Nguyễn Lương Vỵ nhớ đến thơ Thiền đời Lý – Trần khi đọc Một ngày
bộ hành của Võ Chân Cửu: Sớm về phía mây tụ/ Chiều đến nơi mây tan/
Phải nơi này chốn cũ/ Trên mặt đất còn hoang/ Trời rộng đau gió hú/ Ôi hư không
tràn lan.
Thật là dễ hiểu, trong ba tập sách “tản mạn” này, Võ Chân Cửu
nhớ nhiều đến những bạn văn một thời cùng ông lao đao lận đận đuổi theo những
giấc mộng dài giữa những cảnh đời thực dữ dội của chiến tranh. Ta có thể
gặp ở đây những số phận long đong của Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu
Định…; những dự phóng văn chương dang dở của các tập san Trước Mặt ở
Quảng Ngãi, Nhân Sinh ở Nha Trang, Khai Phá ở Châu Đốc, Văn
Chương ở Sài Gòn… Long đong, dang dở, nhưng họ để lại cho đời những tác phẩm
văn chương trọn vẹn, trong đó có những bài thơ hay ít người biết mà Võ Chân Cửu
không ngần ngại chép lại nguyên văn cho bạn đọc thưởng thức, chẳng hạn những
bài thơ của Lưu Vân, Nguyễn Tôn Nhan, Phan Nhự Thức…
Không dừng lại ở vai trò người chứng hay người cung cấp tư liệu
về một thời văn học, nhưng Võ Chân Cửu cũng không đi quá xa trong những bình luận
và đánh giá về các hiện tượng. Ông chỉ miêu tả những gì hiện ra trước ý thức
văn nghệ của ông. Phần còn lại ông dành cho bạn đọc tự rút ra kết luận của
mình. Chẳng phải vì ông sợ trách nhiệm mà có lẽ vì ông tin rằng bạn đọc có thước
đo thẩm mỹ công minh của riêng họ. Đôi khi, ông cũng bộc lộ thiên kiến nghệ thuật
“có phần cực đoan”, như Chu Ngạn Thư nhạy bén nhận ra trong lời tựa “Cùng theo
dấu nhà thơ”.
Đặt tên cho cuốn sách thứ ba – mà tác giả nói là cuốn cuối
cùng trong bộ sách về văn chương miền Nam – là Vén mây, ý hẳn Võ Chân Cửu
muốn gợi ra hình ảnh “vén mây… nẩy trăng”. Nói theo Milan Kundera, sáng tác văn
chương là một cách vén màn, những bức màn của ảo tượng và ma thuật, cho người đời
nhìn thấy thực tướng của thế giới từng bị che phủ, như mặt trăng khuất sau làn
mây. Dù sao, hành động “vén mây” đó cũng chỉ mở ra một cái nhìn trắc diện về đời
sống văn chương, vốn cần đến nỗ lực của nhiều người để có thể xóa đi phần nào tấm
màn đan dệt bởi thiên kiến và ngộ nhận trong sự giải thích và phán xét.
5/4/2020
Huỳnh Như Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/
Cảm thức về phái đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử
Cảm thức về phái
đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử
… Phái đẹp là một yếu tố không thể thiếu để bút lực
Hàn Mặc Tử có thể thăng hoa “thấm nhuần những ý nghĩ cao cường, truyền sang bởi
điện tinh truyền của trí tuệ” (HMT) và để “phơi lên mảnh giấy thanh sạch này những
tình cảm nóng ran, tràn trề và thơm lựng”(HMT). Cảm thức về Phái đẹp trong thơ
Hàn Mặc Tử là một hệ giá trị thẩm mỹ độc đáo mang giá trị nhân văn, nhân bản
sâu sắc. Từ đây, nó hé lộ cho người đọc nhiều thế hệ hiểu hơn: vì sao thơ Hàn Mặc
Tử không thể có phiên bản thứ hai và luôn tiềm tàng một sức cuốn hút mê hoặc
lòng người, bất chấp dòng chảy nghiệt ngã của thời gian...
1. Huỳnh Phan Anh trong “Hàn Mặc Tử hay là hiện hữu của thơ”
đã băn khoăn với hàng loạt câu hỏi: “Trong ám ảnh của cái chết, trong thôi thúc
của thời gian, trong khả hữu của hư vô toàn diện, đâu là cơ hội sau cùng của
thi sĩ? Đâu là sự cứu rỗi cho phận số hữu hạn? Phải chăng đó là niềm tin ở một
đấng? Phải chăng đó là phút huy hoàng mãnh liệt và đầy ắp? Phải chăng đó là sự
kêu đòi hay nguyện cầu vô vọng?” (1)
Những trăn trở của Huỳnh Phan Anh muốn truy tìm cội nguồn cảm
xúc thẩm mỹ trong thơ Hàn Mặc Tử cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng
bởi lẽ thân xác “Người thơ” đã vĩnh viễn về cùng cát bụi nhưng “Hồn thơ” của
ông đã sống một “cuộc sống” vô cùng mãnh liệt, đầy ẩn số mà bất cứ ai, ở thời đại
nào khi nghiền ngẫm tiếp nhận đều có thể nhận ra những điều thú vị bất ngờ. Thời
gian càng lùi xa, những vần thơ của Hàn Mặc Tử càng phát lộ hào quang vi diệu
và có sức hấp dẫn đặc biệt. Vũ trụ thơ của Hàn là không giới hạn, thi nhân đã từng
bộc bạch trong Quan niệm thơ: “Trong khi làm thơ Trí đã tận hưởng những
phong vị của nhạc, của hoa, của trăng, của gái một cách vô tội…”(2). Đọc thơ
Hàn thấy quả đúng là hàng trăm ngàn vũ trụ cũng chưa đủ cho thi sĩ sống kịp đời
mình. Khi “định mệnh tàn khốc theo riết bên mình” (HMT), ở những giây phút tuyệt
vọng nhất, Hàn Mặc Tử đã không từ chối bất cứ một cơ hội, một sự cứu rỗi nào.
Thi nhân đã “tận hưởng” những gì tinh túy nhất, đẹp đẽ nhất của cõi trần ai để
có thêm sinh lực sống và sáng tạo. Một trong những “đấng” cứu rỗi tinh thần cho
Tử phải chăng chính là phái đẹp? Đọc thơ Hàn Mặc Tử, không thể phủ nhận một
sự thật đó là những bài thơ hay, ám ảnh nhất là những bài thơ đều ít nhiều xuất
hiện hình ảnh phái đẹp: Bức thư xanh, Thánh nữ Đồng trinh Maria, Gái đồng
trinh, Gái ở chùa, Chưa biết yêu, Trên cầu Tràng Tiền, Đây thôn Vĩ Dạ, Nhớ
nhung, Một đêm nói chuyện với gái quê, Nguồn thơm, Lời gái giang hồ, Phan Thiết!Phan
Thiết!, Ghẹo cô bán chè bông cỏ, Kén chồng, Say chết đêm nay, Trường tương
tư, Cô bán trầu, Thương, Trên dòng tiêu Kim Thủy, Huyền ảo, Mùa xuân chín, Tặng
Mộng Cầm, Lưu luyến, Mơ hoa, Mơ duyên, Sáng trăng, Một miệng
trăng, Một nửa trăng, Cưới trăng, cưới vợ, Những giọt lệ, Duyên kỳ ngộ, Tối tân
hôn,Đàn ngọc, Nỗi buồn vô duyên… có thể thấy tràn trề trong thơ Hàn Mặc Tử
là cảm xúc của thi nhân dành cho phái đẹp – thứ cảm xúc thiết tha, da diết,
phong phú sắc màu, đa dạng cung bậc. Đằng sau những dòng tâm tư bất định
đó phải chăng là cả một bầu trời cháy bỏng khát vọng yêu thương và vời vợi ước
mơ về hạnh phúc, và trên hết là niềm ham sống, hướng về những giá trị nhân văn,
nhân bản nhất dẫu cho cuộc sống thật phũ phàng! Với Hàn Mặc Tử, Đức Mẹ Maria đồng
trinh, Mẹ, Chị, hoặc những bóng hồng mà Hàn yêu thương, đã ít nhiều ngang qua đời
thi sĩ, và thậm chí những cô “gái quê”, hoặc những “nàng tiên” chỉ xuất hiện
trong những giấc mơ bất chợt hắt lên từ tiềm thức đều là biểu tượng cho cái Đẹp,
tình yêu và sức mạnh tinh thần cứu rỗi linh hồn, là niềm tin yêu, lẽ sống của
cuộc đời thi sĩ. Ở bài viết này, chúng tôi muốn bàn đến cảm thức về phái đẹp
trong thơ Hàn Mặc Tử như một phương diện mang giá trị thẩm mỹ sâu sắc, bởi
bên cạnh nhiều phương diện khác như nhạc, hoa, trăng, hồn, máu… đã được các nhà
nghiên cứu quan tâm luận giải thì phái đẹp trong thơ Hàn cũng là một
trong những phương diện hé lộ nhiều thông điệp mang ý nghĩa sâu sắc về “con người
bên trong con người” của thi nhân; và trên hết, nghiên cứu cảm thức về phái đẹp
cũng là góp phần tiếp tục hành trình khám phá những ẩn số trong thơ Hàn Mặc Tử.
2. Luận giải về cội nguồn cảm xúc thẩm mỹ trong thơ Hàn Mặc Tử,
Nguyễn Kim Chương dựa vào tri thức tâm lý học sáng tạo đã đưa ra nhận xét xác
đáng và tinh tế: “Với Hàn Mặc Tử, đau thương mang một nội dung lưỡng giá: nó
làm cho nhà thơ suy nhược thể xác nhưng làm lớn dậy tâm hồn ông”(3). Thực tế
cho thấy, năm 1937, khi đó Hàn Mặc Tử mới 24 tuổi thì phát hiện mình mang bệnh
hiểm nghèo. Với tất cả sự tự trọng và nỗi niềm đau khổ, choáng váng tột cùng
thi nhân đã giấu bệnh và tuyệt giao với bạn bè. Căn bệnh nan y ập xuống số phận,
tước đoạt tất cả, tuổi trẻ, tình yêu, khát vọng, khoái lạc…Tất cả đổ vỡ, rạn nứt,
băng hoại… “Bệnh càng tăng, nỗi đau khổ càng ray rứt, thấm thía. Nỗi đau khổ
càng ray rứt, thấm thía, thơ Tử càng thêm sức mạnh, càng thêm dồi dào và dào dạt
phun ra những “luồng sóng điện nóng ran”, những “tia sáng xôn xao”, thoát ra những
“tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú”… “Con trai bị hạt sạn hạt cát làm tổn thương
cõi lòng, liền nhả tinh ba ra quấn lấy hạt sạn hạt cát cho êm dịu vết thương, mỗi
ngày tinh ba mỗi tiết, lần kết thành ngọc trai” (4). Như vậy nguồn cảm hứng thơ
của Hàn Mặc Tử xuất phát từ bi kịch bất hạnh, đau thương, xuất phát từ tận đáy
tâm hồn đau khổ vô biên của một đời trai trẻ – tất cả như một dự phóng
sáng tạo để Hàn Mặc Tử phát tiết ra thơ bằng tất cả tinh lực của mình, và
ám ảnh những người đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử cũng không nằm ngoài cội nguồn xúc
cảm thẩm mỹ đó.
Thường khi gặp bi kịch, trắc trở trong cuộc đời con người tìm
đến tôn giáo để cầu sự bình an, hóa giải sự phiền muộn. Hàn Mặc Tử đã nhìn thấy
từ Đức Mẹ Maria vẻ đẹp khải huyền và sức mạnh cứu rỗi con người. Quách Tấn kể:
“Một đêm Tử nằm mộng thấy Đức Mẹ Maria lấy nhành dương nhúng nước thánh rảy khắp
mình Tử, Tử cảm thấy “mát đến ớn lạnh”. Cho nên khi cầm viết viết được, liền soạn
bài Thánh nữ Đồng Trinh để tạ ơn Đức Mẹ”(5) Ave Maria được coi như một
bài thơ xuất thần của Hàn Mạc Tử đã làm xúc động và cuốn hút bao tâm hồn
say thơ, kính Mẹ, không kể là lương hay giáo. Giọng điệu vừa dịu dàng vừa mãnh
liệt của bài thơ như ru hồn người: Maria linh hồn tôi ớn lạnh!/ Run như
run thần tử thấy long nhan/ Run như run hơi thở chạm tơ vàng… , trong cảm thức
của thi nhân Đức Trinh Nữ Maria hiển hiện như một đấng cứu thế vô cùng thiêng
liêng, cao quý, Đức Mẹ mang một quyền năng huyền bí nhưng không hề xa lạ, cao vời,
Bà gần gũi và ấm áp biết bao, Bà trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho thơ, tiếp
thêm sinh lực cho đứa con khốn khổ luôn mến yêu cung chúc Người ngay cả trong
đau thương cùng cực:
Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn/ Giàu nhân đức, giàu muôn
hộc từ bi/… Tôi cảm động rưng rưng hai dòng lệ/ Dòng thao thao như bất tuyệt
của nguồn thơ/ Bút tôi reo như châu ngọc đền vua/ Trí tôi hớp bao nhiêu là khí
vị…/Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí/ Và trong tay nắm một vạn hào quang…/
Số phận đã nhận chìm thi sĩ tài hoa trong biển máu lệ cuộc đời,
để chính trong đau thương vô biên ấy, có sự nâng đỡ của Thánh nữ “đầy ơn phước”
thi sĩ đã được chạm vào các dấu đinh, vào vết đòng của Chúa Giêsu, phát tiết
bao câu thơ huyền bí, thần nhiệm trong sự tôn thờ, mến yêu, cảm phục đến ngây
ngất Thánh Nữ Đồng Trinh Maria – Mẹ của Chúa Giêsu tử nạn – Mẹ đã sinh ra Hàn Mặc
Tử lần thứ hai trong cuộc đời:
Cho tôi thắp hai hàng cây bạch lạp/ Khói nghiêm trang sẽ dâng
lên tràn ngập/ Cả Hàn giang và màu sắc thiên không/ Lút trí khôn và ám ảnh
hương lòng/ Cho sốt sắng, cho đê mê nguyền ước…/
Hàn Mặc Tử đã sống với một đức tin mãnh liệt, chính vì vậy
thơ của ông không hạn hẹp với những gì thuộc thực tại trần gian mà nó còn như một
sự cảm nghiệm độc đáo về Đức Tin – Tình Yêu và về Thiên Chúa. Trong sự mong
manh của kiếp sống, Đức tin và Tình yêu đó như một điểm tựa, như liều thần
dược giúp Hàn vượt qua khổ đau về thể xác và tinh thần, giúp thơ Hàn thanh
thoát, bay xa, và tiến vào đời sống tâm linh thăm thẳm. Trong mê cuồng hồn
say, đau nỗi khổ đau của bản thân mình và đồng loại, Hàn quì lạy trong
thơ, cầu xin và ca tụng đấng siêu nhiên. Thi nhân dang tay hướng về phía Mẹ
Maria với tất cả sự sùng kính và hy vọng: Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước/
Cho tình tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm/ Thơ trong trắng như một khối băng tâm/
Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu…/Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu/ Hồn
tôi bay đến bao giờ mới đậu...
Trong phần kết của bức thư gửi cho Hoàng Trọng Miên vào năm
1939 với tựa đề Quan niệm thơ, Hàn Mặc Tử viết: “Cho nên tất cả thi sĩ ở
trong đời phải quy tụ, phải khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời. Thi sĩ không phải là
một người thường. Với một sứ mệnh của Trời, thi sĩ phải biết đem cái tài năng
ra ca ngợi Đấng chí Tôn và làm cho người đời thấy rõ vẻ đẹp của thơ để đua nhau
nhìn nhận và tận hưởng. Những thi sĩ nào không biết đem tài ứng dụng vào chỗ tốt
đẹp thì sẽ bị Đức Chúa Trời lấy lại một cách nhãn tiền! Thơ là tiếng kêu rên thảm
thiết của một linh hồn thương nhớ cảnh chiêm bao, giải thích bằng hai mặt: lạc
quan và bi quan. Còn Trí phải lấy Đức Chúa Trời làm Chân lý, làm tiêu chuẩn cho
văn thơ. Văn thơ không phải bởi không mà có”(6).
Như vậy, cùng với bài thơ Ave Maria tuyên ngôn thơ
của Hàn Mặc Tử thêm một lần nữa khẳng định: đối với Hàn Mặc Tử, Đức Chúa
Trời mà đại diện là Thánh Nữ Đồng Trinh Maria có một vai trò vô cùng quan trọng
– Mẹ Maria Đồng Trinh chính là “nguồn thánh thiện như tơ vàng trọng thể”,
là “nguồn Trăng yêu mến”, là “nguồn Đau chầu lụy”, Bà tựa như ngọn hải đăng soi
đường để Hàn Mạc Tử có thể mơ về một bến bờ neo đậu cho thân phận lưu đày chìm
nổi của thi nhân, tìm thấy “nguồn thiêng liêng yêu chuộng Mẹ Sầu bi” – nguồn cảm
xúc giúp tâm hồn Hàn bay lên ánh sáng khải huyền, tái tạo năng lượng và phát
huy trí tưởng tượng sáng tạo phi phàm để từ đó hiến dâng cho đời những vần thơ
vừa chân thực vút lên tự cõi lòng tan nát khổ đau, vừa thánh thiện tinh tuyền lộng
lẫy từ trời cao phủ xuống. Từ cảm thức của Hàn về Mẹ Maria Đồng Trinh, chúng ta
nhận thấy lý tưởng Thiên Chúa giáo với tất cả những gì nhân văn, nhân bản
nhất có thể coi như một chỗ dựa tinh thần, một yếu tố tiên quyết, ảnh hưởng,
chi phối sâu sắc thế giới quan, nhân sinh quan của Hàn Mặc Tử trong suốt quá
trình sáng tạo thi ca của ông. Để rồi khi thân thể Hàn mãi mãi trở về cùng cát
bụi, thơ của ông lại càng đến gần với Chúa hơn để góp phần cứu rỗi, an ủi những
phận người mà sự sống mong manh như ảo ảnh.
Sinh thời, Hàn Mặc Tử không chỉ nổi tiếng về thi ca mà còn nổi
tiếng với những bóng hồng đi ngang qua cuộc đời ông, với những mối tình đẹp và
buồn của thi nhân. Cũng như các nhà thơ của phong trào Thơ mới, tình yêu là nguồn
cảm hứng, là đường dẫn đến với “nàng Thơ” của Hàn Mặc Tử. Nhưng có lẽ không nhà
thơ nào kể cả Xuân Diệu – người được mệnh danh là “ông hoàng của thơ tình”… lại
có nhiều bóng dáng người tình trong thơ như Hàn Mặc Tử. Những cái tên giai nhân
Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình, Ngọc Sương, Thương Thương đã gắn liền cùng những
thi phẩm tuyệt bút của Hàn Mặc Tử: Đây thôn Vỹ Dạ, Lưu luyến, Trường tương
tư, Người ngọc, Tiêu sầu, Phan Thiết! Phan Thiết! Những người con gái đã tạo
nguồn thi hứng để nhà thơ bộc bạch bao khát khao, mộng tưởng hạnh phúc vừa ngọt
ngào, đắng cay, vừa tuyệt vọng, hy vọng… Song dù thế nào, trong tiềm thức của
Hàn, những người con gái Hàn yêu thương đều mang một vẻ đẹp dịu dàng, trong
sáng, thánh thiện vô ngần:
Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa/ Sương điểm trăng lồng bóng
thướt tha/ Vẻ mặt khác chi người quốc sắc/ Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta (Vịnh
hoa Cúc); Lệ Kiều ơi! Em còn giữ ý thơ?/ Trong đôi mắt mùa thu trong leo lẻo (trường
tương tư); Với đôi tay nàng trút hết đê mê/ Dạ lan hương bừng nở cánh e dè (Đàn
ngọc); Nghe tiếng gió ôm ngang lấy gió/ Tưởng chừng như trong đó có hương/
Của người mình nhớ mình thương (Muôn năm sầu thảm); Nhưng phép
lạ! Có một vì tiên nữ/ Hao hao như nường Nguyệt cõi Đào Nguyên/ Ta đắm mê trong
ánh sáng trần duyên…(Phan Thiết! Phan Thiết!); Đặc biệt, trong cuộc đời Hàn Mặc
Tử, sự hiện hữu của nữ sĩ Mai Đình trong những ngày nhà thơ vừa lâm trọng bệnh,
vừa bị phụ tình (Mộng Cầm chia tay Hàn Mặc Tử vì hoàn cảnh không thể chờ đợi và
tiếp tục chung đường) là niềm an ủi lớn, phần nào xoa dịu nỗi đau nhức nhối tưởng
chừng khôn nguôi trong lòng thi sĩ: Thơ em cũng giống lòng em vậy/Là nghĩa
thơm tho như ánh trăng / Mềm mại như lời tơ liễu rủ /Âm thầm trong áng gió bâng
khuâng/ Anh đã ngâm và đã thuộc làu / Cả người rung động bởi thương đau/ Bởi vì
mê mẩn vì khoan khoái /Anh cắn lời thơ để máu trào (Lưu luyến). Từ cuộc đời
thực, cô gái có tên Mai Đình đã đi vào thơ Tử với tất cả sự đam mê mãnh liệt
chân thành của một trái tim trai trẻ. Tình yêu tha thiết của Mai Đình đã khiến
Hàn Mặc Tử rất cảm động, khi hai bên từ biệt nhau, Tử tặng nàng một bài thơ có
nhiều câu thống thiết: Đây Mai Đình tiên nữ ở Vu Sơn/ Đem mộng xuống gieo
vào muôn sóng mắt/ Nàng, ôm nàng hai tay ta ghì chặt/ Cả bài thơ êm mát lạ lùng
thay (Thắm thiết). Phải trân quý người mình yêu lắm, Hàn mới ví người mình
yêu là “cả bài thơ êm mát”. Bởi vì đối với cuộc đời Hàn chỉ còn lại Thơ là lẽ sống
thiêng liêng nhất.
Mối tình với Ngọc Sương (chị gái của thi sĩ Bích Khê) chỉ là
giấc mơ thoáng qua trong đời Hàn Mặc Tử, như bẩy sắc cầu vồng hiện lên trong
khoảnh khắc sau mưa nhưng cũng đủ cho bạn đọc muôn sau thấy khát khao đến
cháy lòng của một tâm hồn mong manh dễ tổn thương trong cuộc đời vốn nhiều chua
chát: Ta đề chữ Ngọc trên tàu lá/ Sương ở cung thềm gió chẳng thôi /Tình
ta khuấy mãi không thành khối/ Nư giận đòi phen cắn phải môi (Người ngọc).
Ngọc Sương trong thơ Hàn mãi mãi long lanh như một giọt sương mai hiền dịu, bao
dung, nhân hậu.
Câu danh ngôn: “Không phải bạn sống bao lâu mà là cách bạn chọn
sống cuộc đời mình” quả là đã ứng vào định mệnh của Hàn Mặc Tử. Trong hành
trình ngắn ngủi của cuộc đời, bệnh tật nan y từng ngày tỉa rút từng hơi thở,
ngăn giữa sự sống và cái chết chỉ là một đường biên mỏng mảnh, Tử đã lựa chọn,
đã nhân lên gấp bội quỹ thời gian sống của mình bằng cách chắt chiu từng giây
phút để sống có ý nghĩa, và thi nhân đã sống, đã yêu hết mình. Trong cơn đau
tuy thân xác bị rỉa rói, hao mòn, nhưng chỉ với hình ảnh Thương Thương ấp ủ
ngày đêm trong tưởng tượng, hư cấu mà Tử đã để lại cho đời sau tập thơ
tình Cẩm Châu duyên, hai vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Quần
tiên hội. Những thi phẩm cuối đời của Hàn Mặc Tử vẫn in đậm dấu ấn của nàng Thơ
mà thi nhân đắm đuối, yêu thương: Hương trầm bâng khuâng quyện mình hoa/
Nhịp nhàng nường đi theo nhịp đàn/ Âm thanh lên cao nhạc lừng ran/ Tôi lại gần
bên ồ! Lạ thường! Nường trăng. Ô! Chính là Thương Thương (Tiêu sầu).
Điều đó cho thấy nội lực phi thường của Hàn Mặc Tử…
Trong cơn mê thi nhân đã trải niềm đau – những mảnh vỡ tâm trạng
qua những vần thơ cùng những cô gái mà Hàn quyến luyến bởi trăm tình yêu mến.
Nhưng nếu biết rõ rằng trong đời thực những người đẹp bước vào thơ Hàn dường
như Hàn ít hoặc chưa từng gặp, tất cả chỉ là sự tưởng tượng bay bổng của thi
nhân, là cái cớ để Hàn giãi bày tâm trạng thì chúng ta càng thấm thía hơn nỗi
thương đau của chàng trai trẻ đang ở độ tuổi đôi mươi với trái tim nồng nàn,
tràn đầy khát vọng hạnh phúc, yêu đương. Trong cô đơn tuyệt vọng đến cùng cực
có lúc Tử điên cuồng, gào khóc xót xa, đau đớn tự hỏi: Tôi vẫn còn đây hay
ở đâu?/ Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết/ Nhỏ
xuống lòng tôi những giọt châu? (Những giọt lệ). Không có lời giải đáp,
câu trả lời rơi vào hố thẳm khôn cùng của vũ trụ. Nhưng rồi, Tử vẫn tiếp tục bước
đi trên con đường đầy tuyết trắng và máu…Trên hành trình nhọc nhằn của kiếp người,
hình bóng những giai nhân ám ảnh, trở đi trở lại như một điểm tựa quan trọng để
nâng đỡ, vực dậy tâm hồn đầy vết thương tâm của Hàn Mặc Tử, và thi nhân cứ tự
tin bước về phía trước: “Tôi đang đi trên con đường sáng láng tìm lấy Chân lý
ngàn năm, mà hào quang của tinh tú, của những ngọc ngà, châu báu, trời tuôn xuống
không biết hằng hà sa số nào nữa…” (Chiêm bao với sự thực). Ở đây, cái Đẹp
thực sự đã “cứu rỗi thế giới”, cái Đẹp cứu rỗi linh hồn, đọc thơ Hàn Mặc Tử
chúng ta hiểu hơn rằng chính phái đẹp – “một nửa thế giới” chứ không phải bất kỳ
điều gì khác đã cứu vãn một hồn thơ tài năng thuộc loại độc nhất vô nhị của thi
ca Việt. Nhờ hình ảnh những người đẹp dịu dàng, bao dung, vị tha, hiền thục, bảng
lảng như sương khói, lưu giữ trong tâm tưởng mà: “Hàn Mặc Tử đã có những câu
thơ tình hay vào bậc nhất trong thi ca Việt Nam hiện đại. Những câu thơ như tiếng
kêu tự đáy lòng, lời thơ như dính máu, dính hồn và nước mắt thi sĩ” (Chế Lan
Viên).
Tình yêu và phái đẹp phải chăng muôn đời luôn là nơi nuôi dưỡng
cảm xúc mãnh liệt để thi nhân chắp cánh cho thơ. Đối với Hàn nguồn năng lượng
đó càng gấp nhiều lần giá trị – đó là nơi truyền lửa, là cứu cánh, tiếp thêm niềm
tin để thi nhân tiếp tục ru hồn mình vào viễn mộng, sáng tạo nên những vần thơ
bất tử… Những nàng Thơ hiện diện trong thơ Hàn Mặc Tử mãi mãi như biểu tượng của
tình yêu, của niềm tin, lẽ sống trong đời. Có một dòng sinh lực như mạch ngầm dẻo
dai, bất tận chảy trong thơ Tử, đối với thi nhân, tuyệt vọng không phải là chấm
dứt mà tuyệt vọng để lại tiếp tục sống, yêu và sáng tạo… Càng tuyệt vọng lại
càng như mong mỏi/ Càng xa nhau càng thấy được gần nhau/ Ai có dè hoa cỏ cũng
thương đau/ Mở rộng cửa bốn phương trời ảo não/ Viết bằng chữ là thơ không kín
đáo/ Giơ tay thề mà ai chứng lòng cho/ Anh yêu em không cần phải so đo/ Vì
trinh tiết há là hương vạn đại?/ Không dò xét, mặc cho lòng giả dối/ Ta cười thầm
tình ái dại vô song (Tràn đầy). Chiêm nghiệm những vần thơ bất tử của Hàn
để lại cho đời, thấy quả đúng là “thân phận con người thì hư ảo và mong manh
như sương khói mù khơi. Nhưng tình yêu của con người nếu biết nuôi dưỡng, tôn
thờ sẽ là một giá trị hằng có của cái đẹp hiện sinh, góp phần nối dài ý nghĩa về
sự hiện hữu vốn rất hữu hạn của kiếp người”(7).
Tiếp nhận ngọn gió tư tưởng từ phương Tây thổi đến để nhanh
chóng trở thành “chủ soái” của “Trường thơ Loạn”, một vấn đề đặt trong
thơ Hàn Mặc Tử đó là liệu ông có mắc vào một lỗi nghệ thuật mà nhiều nghệ sĩ
phương Tây ở cuối thế kỷ XIX đã mắc phải: mượn hình bóng phụ nữ để giải phóng ức
chế nhục thể và sự bất an của linh hồn từ đó có xu hướng trục xuất linh hồn ra
khỏi thân xác người phụ nữ, đánh mất ý nghĩa nữ tính, tước đoạt chủ thể tính của
họ? Khảo sát thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta thấy tuyệt nhiên không có điều này. Trong
thơ của Hàn Mặc Tử, phái đẹp luôn hiện diện với vẻ đẹp tinh khôi, đầy nữ tính từ
tâm hồn đến thể xác. Thi nhân luôn ngưỡng mộ tôn thờ, coi phái đẹp
như một hệ giá trị thẩm mỹ.
Trong ký ức của Hàn, người đẹp xứ Huế mơ mộng, diễm lệ Trên
cầu Tràng Tiền : Biết bao cô áo tím/ Nước da trắng nõn nà/ Tà áo gió
tung bay… trong Chiêm bao với sự thực Hàn đã so sánh: “Hỡi quý nhân,
người có nghe thấy điều gì mới lạ, tinh khôi, reo lên, hiện lên, và sử linh tư
tưởng của người?(…) Người thấy gì trong ánh sáng? Một chất cao quý thanh khiết,
trắng hơn hàm răng của người gái đẹp?. Trong lung linh tinh khôi và sắc trắng
thanh khiết, thi nhân chỉ cần chấm phá, điểm xuyết một “hàm răng của người
gái đẹp” cũng đã đủ tạo nên điểm nhấn có sức quyến rũ hút hồn người, điều này
cũng giống như ca dao xưa có câu: Ta về ta nhớ hàm răng mình cười –
chỉ một nụ cười duyên cũng khiến người đẹp có thể in dấu vĩnh hằng trong tâm thức
bao thế hệ. Vẻ đẹp thanh tân, trong trắng của thiếu nữ được Hàn Mặc Tử coi như
một vẻ đẹp lý tưởng, ở đó thi nhân gửi gắm bao cồn cào khao khát, mê đắm của một
trái tim yêu đời, yêu người đến cuống quýt, khờ dại: Xuân trẻ, xuân
non, xuân lịch sự/ Tôi đều nhận thấy trên môi em/ Làn môi mong mỏng tươi như
máu/ Đã khiến môi tôi mấp máy thèm/ Từ lúc bóng em bỏ trái đào/ Tới chừng cặp
má đỏ au au/ Tôi đều nhận thấy trong con mắt/ Một vẻ ngây thơ và ước ao (Gái
quê). Trong cái nhìn của thi sĩ, người thiếu nữ mới bắt đầu biết yêu đáng yêu
làm sao! Sắc xuân, sức xuân, khí xuân dâng tràn… hiển lộ thành sắc màu, thành cử
chỉ, thành hơi thở, thành hương thơm, thành tiếng hát của “Em”: .Em tôi thì hổn
hển / áo xiêm lấm tấm vàng / Em tôi đã hiểu chưa?/ Đó là khúc tình ca / Nẩy
theo hơi thở nhẹ / ở trên làn dây tơ / Của lòng em rộn rã…(Sáng trăng).
Sáng tác với phương châm “Thi sĩ phải biết tận hưởng những
công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã tạo nên… và trút vào linh hồn người ta
những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho tinh sạch” (Quan niệm về Thơ).
Chính vì vậy cho nên bên cạnh trăng, hoa, nhạc, hương thì “phong vị của
gái” (từ dùng của HMT) đối với Hàn Mặc Tử cũng là “công trình châu báu của Đức
Chúa”, sinh ra để cho người đời “tận hưởng”, và Hàn đã “tận hưởng” nguồn khoái
lạc vô biên tuyệt đích đó một cách say sưa với những câu thơ bay bổng về một giấc
mơ hướng đến thế giới thần tiên mà ở đó cảnh và người ngập tràn tự do và hạnh
phúc: Ta cắp Nàng bay cao hơn tiếng nhạc/ Cho Nàng hớp đầy môi hương khoái
lạc/ Cho hồn nàng dính chặt với hồn ta/ Tình đôi ta muôn kiếp gỡ không ra (Bức
thư xanh); Em như trái đào tơ/ Đôi mắt còn ngây thơ/ Chưa biết say tình
ái/ Đuổi trăng em nô đùa/ …Em là nước ngọc truyền/…Em là bóng trăng thinh…(Chưa
biết yêu).
Có thể nhận thấy rất rõ, trinh khiết trở thành vẻ đẹp phổ biến
của những Nàng thơ trong cõi thơ Hàn Mặc Tử, gắn cùng hình bóng họ là sắc trắng
tinh khôi, thanh khiết, lung linh nhất: Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc
bờ sông trắng nắng chang chang (Mùa xuân chín), Mơ khách đường xa,
khách đường xa/ áo em trắng quá nhìn không ra…( Đây thôn Vỹ Dạ). Vẻ đẹp trinh
khiết như là chuẩn mực cho cảm quan thẩm mĩ của Hàn Mặc Tử. Lấy vẻ đẹp của con
người làm chuẩn cho việc định giá cái Đẹp, điều đó cho thấy tư duy thơ của Hàn
Mặc Tử đã bắt kịp tư duy thơ hiện đại, bứt thoát khỏi những quy phạm cổ điển đã
trở nên tẻ nhạt, đơn điệu, vươn lên tầm cao mới trong thời đại Thơ mới. Căn bệnh
phong quái ác khiến chàng trai trẻ Hàn Mặc Tử phải sống trong mặc cảm bị kỳ thị,
buộc phải cách biệt với cuộc sống đầy hương sắc, quyến rũ, phải chia cắt với những
người thân yêu, tất cả điều đó là nỗi khổ tâm, hành hạ chàng hơn cả cực hình
tra tấn đã khiến cho tâm lý của Hàn Mặc Tử rơi vào tình trạng bất ổn, thi nhân
luôn luôn phân thân, mộng mị và thậm chí sống trong miền hoang tưởng. Hoàn cảnh
buộc Hàn phải tìm đến một thế giới tưởng tượng, ru hồn mình trong một thế giới
đầy ảo ảnh để tiếp tục sống và sáng tạo. Vì lẽ đó, đọc thơ Hàn chúng ta không
ngạc nhiên khi thấy trong cảm thức của thi nhân luôn có sự trộn lẫn giữa vẻ đẹp
quyến rũ của mỹ nhân với vẻ đẹp của thiên nhiên:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/ Đợi gió đông về để
lả lơi/ Hoa lá ngây tình không muốn động/ Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi/ Trong
khóm vi vu rào rạt mãi/ Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?/ Ô kìa, bóng nguyệt trần
truồng tắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe/ Vô tình để gió hôn lên má/ Bẽn
lẽn làm sao lúc nửa đêm…(Bẽn lẽn). Vầng trăng trong tâm thức của Hàn không còn
là một khối vật chất vô hồn mà đó là một vầng trăng đã bị “bóp méo” bởi trí tưởng
tượng, là một ảo ảnh trăng trong hình hài thiếu nữ nóng bỏng, tràn trề sức sống,
đang độ khao khát yêu và được yêu. Có khi trăng lại có tâm hồn tinh tế,
trang nhã như cô gái mới lớn: Mới lên trăng đã thẹn thò/ Thơm như tình ái
của ni cô…(Huyền ảo). Có lúc thi nhân lại muốn: Em hãy nhập hồn em trong
bóng nguyệt (Hãy nhập hồn anh). Khối hình hài vô tri vô giác được thổi hồn
đến mê hoặc lòng người.Trăng hay thiếu nữ? Thiếu nữ hay trăng? Khó có thể phân
định! Chỉ có thể cảm nhận đằng sau cặp đôi hòa quyện trăng – thiếu nữ là
hình ảnh của một “Thi sĩ đồng trinh” đã dồn hết tâm lực còn lại, vượt qua nỗi
đau thể xác để vươn đến cái kỳ vĩ, cái vĩnh hằng của khát vọng được tận dâng, tận
hiến, được sống thật đến tận cùng bản chất Người của mình. Cho nên có thể xác
quyết những màu sắc dục tính trong thơ Hàn rạo rực, say đắm nhưng không hề vẩn
đục vì nó được Người khách lạ “dừng lại để hái những tinh hoa”. Tài năng của
Hàn Mặc Tử là ở đó, thanh khiết, cao xa mà vẫn mang hơi ấm trần thế, trần thế
nhưng lại có cả vạn sắc thiên đường.
Hàn Mặc Tử quan niệm “Thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của một
linh hồn thương nhớ, ao ước trở lại với trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy
vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt” (Quan niệm thơ). Chính vì vậy, trong cảm
thức nghệ thuật của mình Hàn luôn bộc bạch trạng thái “chưa bưa”, chưa đã, chưa
hả hê chút nào khi “nuốt khí thanh tao của mùa xuân ấm”, tận hưởng vẻ đẹp thanh
tân của “nàng” trên cõi trần gian. Cho nên thi nhân vẫn khát khao vô tận, cứ muốn
“hưởng cái thơ trên thơ khác nữa” , và vẫn mãi đi tìm…Bởi mong ước không bến bờ
như thế, cho nên Hàn Mặc Tử đã vượt hẳn ra ngoài Hư Linh. “Thơ ông là sự trộn
trạo của những dòng “tâm tư bất định”, những thi ảnh rực rỡ vượt tầm sự thực để
hòa lẫn chiêm bao. Với Hàn, chiêm bao cũng là một sự thực”. Vì lẽ đó, đọc Chơi
giữa mùa trăng chúng ta hiểu vì sao hình ảnh “Chị” lại được thi sĩ “tắm”
trong một thứ ánh sáng vô cùng huyền bí, vi diệu: Chị tôi cười nả nớt, tiếng
cười trong như thuỷ tinh và thanh khiết lạ thường/Tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ
thanh thoát quá, tinh khôi, tươi tốt và oai nghi như pho tượng Đức Bà Maria là
đức tinh truyền chí thánh. Tôi muốn sốt sắng quỳ lạy mong ơn bào chữa. Nhưng trời
ơi, sao đêm nay chị tôi đẹp đẽ đến thế này. Nước da của chị tôi đã trắng, mà vận
áo quần bằng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi (…) Chị tôi hí hửng như
xuân, chạy nhảy xênh xang cơ hồ được dịp phát triển hết cả ngây thơ của người
con gái mười lăm tuổi, tôi ngắm mãi chị tôi, và tự vui sướng trong lòng vô hạn.
Có lúc tôi đã kiêu ngạo thay cho cái sắc đẹp nhu mì ấy, mà chỉ dưới trời thu
đêm nay tôi mới biết thưởng thức. Những phút sáng láng như hôm nay, soi sáng
linh hồn tôi, và giải thoát cái “ta” của tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt…
Tôi bỗng rú lên một cách điên cuồng, và chực ngửa tay hứng một vì sao đang rụng (Chơi
giữa mùa trăng).
Từ trong sâu thẳm tiềm thức, thơ của Hàn vút lên những tiếng
kêu “trời ơi!”, và “rú” lên thảng thốt, điên cuồng. Đối diện thường trực với
tai họa không lường trước được của cuộc sống, thơ Hàn phản ánh tâm trạng đối cực:
bi quan và hưởng lạc, hạnh phúc và đớn đau. Thi sĩ phóng chiếu vào sáng tác của
mình nỗi lo, sự sợ hãi và hoang mang khi ý thức được mọi cái đang dần dần rời
xa tay với của mình, và sợ nhất đối với chàng là cái Đẹp dần dần tan loãng rụng
rơi vào cõi xa xôi, đơn lạnh…
Thi giới Hàn Mặc Tử là một thi giới không dễ tiếp nhận. Đọc
Hàn Mặc Tử người đọc cũng phải đắm chìm trong thế giới của trí tưởng tượng để
“đồng sáng tạo” với thi nhân. Nói thơ của Hàn Mặc Tử là thơ có sức “vẫy gọi” là
vì vậy! Tinh thần tự do trong tư tưởng, khát vọng kiếm tìm cái mới trong sáng tạo
nghệ thuật khi phải sống trong nhức nhối, đau thương đến tột cùng của thân phận
“lưu đày” giữa cõi trần ai…tất cả đã minh chứng cho thấy một nghị lực phi thường,
một trí tưởng tượng ở đỉnh cao của trí tuệ mẫn tiệp, một tâm hồn phong phú, sâu
sắc, giàu cá tính. Cảm thức về phái đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử cũng không nằm
ngoài “từ trường” sáng tạo đó.
Trong thơ Hàn Mặc Tử, cảm thức về phái đẹp đã vượt thoát khỏi
hệ quy chiếu của quan điểm nam quyền vốn đã tồn tại từ lâu trong đời sống văn học.
Tâm hồn thánh thiện và vẻ đẹp thanh tân của những “Em”, “Nàng”, “Chị” được Hàn
Mặc Tử tôn thờ, nâng niu, trân trọng, coi họ là những “Ngọc nữ”, là biểu tượng
của cái Đẹp kiêu sa, cao quý, là niềm kiêu hãnh của thi nhân. Dẫu họ chỉ hiện
lên trong giấc mơ dằng dặc nỗi buồn của thi nhân nhưng cũng đủ để Hàn giữ vững
niềm tin trên hành trình khó khăn khám phá chính bản thân, khẳng định sức mạnh
nội lực của mình và trên hết là đóng đinh nhân vị của mình trên dòng
chảy của dòng sông cuộc đời đầy nỗi oan khổ, đắng cay. Hàn Mặc Tử đã bay lên với
những giấc mơ cùng người đẹp để phiêu lãng với những buồn, vui, hoặc tái tê
trong hạnh phúc bình dị nhưng rất đỗi thiêng liêng, để được sống cuộc sống
phong phú, muôn màu mà mình khao khát mơ ước, cuộc sống khác thực tại đau
thương… L.Tolstoi đã từng viết: “Khó khăn hơn cả là yêu cuộc sống với những nỗi
đau khổ của mình”, đọc Hàn Mặc Tử hôm nay, phiêu diêu và chiêm nghiệm cùng thi
giới rực rỡ của thi nhân – một thế giới thiêng liêng của cái Đẹp và sự hướng
thiện, chúng ta không thể không ngậm ngùi và cúi đầu cảm phục: Hàn Mặc Tử đã vượt
lên hố thẳm của hư vô tuyệt vọng, vượt lên những mặc cảm nặng nề về thân phận hẩm
hiu của một “con hủi” để sống và đi vào cõi vĩnh hằng với tất cả niềm hy vọng
kiêu hãnh của một Con Người.
Yêu cuộc sống và con người một cách nồng nhiệt, cuồng si cho
nên trong thơ của Hàn, chúng ta còn bắt gặp những trăn trở phận người mà Hàn
chia sẻ cùng phái đẹp. Đây đó là ý nghĩ đau đớn, lo âu cho những bóng dáng yêu
kiều mà sự đổi thay số phận rình rập ở đâu đó có thể đột ngột giáng xuống: Sóng
cỏ xanh tươi gợn tới trời/ Bao cô thôn nữ hát trên đồi/ – Ngày mai trong đám
xuân xanh ấy/ Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi (Mùa xuân chín). Tài hoa đến lạ
thường! Chỉ bằng một vài nét phác họa đơn sơ mà cả một bầu trời ly biệt hiện ra
như tiền định. Có lúc thi nhân tiếc thương, than khóc cho những người con gái
“đồng trinh” mà thân thể vẫn còn “thơm hơn ngọc” nhưng đã sớm phải lìa xa cuộc
sống: Đêm qua trăng vướng trong cành trúc/ Cô láng giềng bên chết thiệt rồi/
Trinh tiết vẫn còn nguyên vẹn mới/ Chưa hề âu yếm ở đầu môi/Xác cô thơm quá
thơm hơn ngọc/ Cả một mùa xuân đã hiện hình/ Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi/ Chết
rồi – xiêm áo trắng như tinh…(Cô gái đồng trinh). Hàn khóc cho những thân
phận bọt bèo trôi dạt vào cõi hư vô hay khóc cho cái Đẹp mong manh bị phôi pha
theo năm tháng? Khóc cho chính số kiếp đau thương của đời mình? Tất cả hòa nhập
làm một trong một vũ trụ thơ bay bổng, có sức mê hoặc lòng người kỳ lạ, và có lẽ
cũng không nên phân cắt rõ ràng mọi nhẽ khi chiêm nghiệm thơ Hàn, bởi lẽ mơ
hồ nghĩa chính là nghệ thuật cao cường nhất của “loài thi sĩ” (HMT) và Hàn
Mặc Tử là một thi sĩ đích thực luôn đạt tới đỉnh cao của sự cao cường đó.
3. Sinh thời, Hàn Mặc Tử từng ao ước: Tôi ước ao là tôi
ước ao/ Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao/ Như bông trăng nở, bông trăng nở/ Những
cánh bông thơ trắng ngạt ngào…Gần 80 năm đã trôi qua, kể từ khi thi sĩ giã từ
cuộc sống để đi vào cõi vĩnh hằng dường như chưa phút giây nào bạn đọc nguôi
quên “những cánh bông thơ trắng ngạt ngào” của ông. Như mỏ vàng quý giá giàu trữ
lượng, thơ của Hàn càng khai thác càng thấy phát lộ hào quang huyền bí vi diệu
đặc biệt. Trong nỗi đau tận cùng của bi kịch cuộc đời, giữa muôn màu cuộc sống,
giữa vụ trụ bao la, Hàn Mặc Tử đã lựa chọn phái đẹp như một niềm an ủi,
một chỗ dựa tinh thần để thi nhân lấp đầy khoảng trống vắng của cuộc đời cô độc,
thiếu vắng tình thương và nhất là những mất mát trong tình yêu…Những ẩn ức cô
đơn, bơ vơ, sự thèm khát hạnh phúc, tình yêu và hơi ấm của tình người đã trở
thành nỗi ám ảnh khôn nguôi trong suốt một đời thơ Hàn Mặc Tử. Phái đẹp đã
trở thành chuẩn mực thẩm mỹ, nguồn cảm hứng bất tận, nuôi dưỡng và tiếp lửa một
trong những hồn thơ tài năng bậc nhất của thi đàn văn học dân tộc. Phái đẹp là
một yếu tố không thể thiếu để bút lực Hàn Mặc Tử có thể thăng hoa “thấm nhuần
những ý nghĩ cao cường, truyền sang bởi điện tinh truyền của trí tuệ” (HMT) và
để “phơi lên mảnh giấy thanh sạch này những tình cảm nóng ran, tràn trề và thơm
lựng”(HMT). Cảm thức về Phái đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử là một hệ giá trị thẩm
mỹ độc đáo mang giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc. Từ đây, nó hé lộ cho người
đọc nhiều thế hệ hiểu hơn: vì sao thơ Hàn Mặc Tử không thể có phiên bản thứ hai
và luôn tiềm tàng một sức cuốn hút mê hoặc lòng người, bất chấp dòng chảy nghiệt
ngã của thời gian.
Người thơ phong vận như thơ ấy (Xuân đầu tiên), qua thơ
có thể thấy Hàn Mặc Tử đã sống thật mạnh mẽ, chưa bao giờ nguôi ngoai khát vọng,
chưa bao giờ mất đi tình yêu thương với con người. Thi nhân luôn tin ở cái Đẹp
và lòng nhân ái của con người. Hàn Mặc Tử – Ngôi sao “Đồng trinh” chỉ xoẹt qua
bầu trời thi ca Việt nhưng đã kịp cháy bùng, để lại một vầng sáng rực rỡ, dữ dội,
lạ lùng. Những da diết khắc khoải khôn nguôi về con người, nỗi đớn đau, trăn trở
về sự tồn sinh của cái Đẹp trong thơ Hàn đã, đang và mãi mãi thắp lên ngọn lửa ấm
áp, nâng đỡ, an ủi trái tim bạn đọc. Và cũng như thi nhân, chúng ta tin tưởng
và hy vọng vào một chân lý vĩnh hằng: Chỉ có trăng sao là bất diệt/ Cái gì
khác nữa thảy đi qua/ Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi/ Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn
nà... (Thời gian).
Chú thích:
(1). Huỳnh Phan Anh, “Hàn Mặc Tử hay là hiện hữu của
thơ”, Văn, số 73-74, Sài Gòn, 1966, tr.9.
(2). Nhóm tri thức Việt (tuyển chọn), Hàn Mặc Tử
thơ và đời, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2016, tr.125.
(3), (4), (6). Nhóm tri thức Việt (tuyển chọn), Hàn
Mặc Tử thơ và đời, Nxb. Văn học, Hà Nội,2016, tr.148,75,128.
(5). Quách Tấn “ Đôi nét về Hàn Mặc Tử”, Văn, số
73-74, Sài Gòn, 1966 tr.81.
(7). Trần Hoài Anh, Đi tìm ẩn ngữ văn chương, Nxb.
Hội Nhà văn Hà Nội, 2017, tr.339.
5/4/2020
Cao Thị Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Nhà văn nữ - Nhìn từ tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới trong phê bình văn học miền Nam trước 1975
Nhà văn nữ - Nhìn từ tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới trong phê bình văn học miền Nam trước 1975 Tuy số lượng nhà văn nữ không nhiều so ...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...





