Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026
Phê bình như là tự truyện
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Cẩm nang nhỏ có giá trị
để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các
sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc
sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn
dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Ngắn gọn, súc tích, “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn
là cuốn cẩm nang dễ hiểu nhất, giúp độc giả đi vào thế giới của sách. Sách viết
về phương pháp đọc sách đã có rất nhiều. Cuốn sách được coi là kinh điển cho
dòng này là: “Thú đọc sách” của charles van doren; “ Đọc sách như một nghệ thuật”
của Adler Modtimer ... Đó là những tác phẩm được biên soạn rất công phu. Mặc dầu
vậy khó khăn trong tâm lý đọc sách của độc giả ngại khó, ngại dài. Độc giả
có thể tìm đọc cuốn nhẹ nhàng hơn của tác giả Nhật Bản Yuji Akaba, đã rất nổi
tiếng hiện nay là cuốn “ Kỹ năng đọc sách hiệu quả”. Ở Việt Nam, học giả
Hoàng Xuân Việt có viết cuốn: “Nghệ thuật đọc sách báo” cũng rất hay
nhưng đã lâu không tái bản.
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách
hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn xuất
là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi
đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp. Sách được xuất bản giữa thời điểm thế giới
công nghệ thông tin đang bùng nổ, ngành xuất bản có nhiều đổi mới, đầy triển vọng
và cũng nhiều thách thức. Trong bối cảnh đó, người nắm bắt thông tin nhanh nhạy
sẽ có thế mạnh. Nhưng mọi tri thức của nhân loại đều có trong sách. Sứ mệnh của
con người cần biết đọc sách, mà đọc sách giỏi trước hết phải biết điểm sách.
Tác giả viết: “Tôi đã biết những gì và cảm nhận được những gì sau khi đọc xong
cuốn sách này?”. Như thế , “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn hứa hẹn
cho độc giả biết nhiều bí mật của sách. Nó như nấc thang đầu tiên giúp độc giả
đến với sách không phải với tâm lý e ngại, mà rất phấn khích, đã vững rồi lại
muốn đi những bước tiếp theo. Cuốn sách phù hợp với các bạn yêu sách , lại có ước
vọng cao hơn là đến nghề văn. Bước đầu tiên là giúp họ biết cách đọc một cuốn
sách làm sao thâu hái được nhiều tri thức nhất, từ đó giúp họ biết cách điểm
sách hay nói rộng biết phân tích, bình luận một cuốn sách.
Bạn đọc đi sâu với hai phương pháp điểm sách đặc thù: Đầu
tiên là điểm sách theo cách mô tả. Tác giả hướng dẫn rất cụ thể với 3 phần: Mở
bài, thân bài, kết luận. Qua mỗi cách, tác giả đều làm rõ từng phần, có ví dụ cụ
thể từ các tác phẩm kinh điển. Đáng nói là qua 3 phần tác giả đều có lối đi
riêng, độc đáo. Chẳng hạn tác phẩm: “Tôi thấy hoa trên thảm cỏ xanh” nếu mở
theo cách tập làm văn xưa sẽ viết: “Tôi thấy hoa trên thảm cỏ xanh là một tác
phẩm văn học chứa đựng nhiều tuổi thơ của biết bao thế hệ trẻ em Việt Nam”. Với
Nguyễn Ngọc Sơn, anh có cách đi cho riêng mình, bằng lối mở đầy tính bất ngờ,
sáng tao. Anh viết: “Thơ mộng, đầy chất thơ. Đọc Tôi thấy hoa vàng trên cỏ
xanh là cách nhanh nhất, dễ dàng nhất để giúp bạn quay về với tuổi thơ hồn
nhiên, ngọt ngào...”. Vẫn hướng đi sáng tạo này, phần kết luận, tác giả còn gợi
mở thêm nhiều cách kết bài mới, bên cạnh những cách đã có trước đây. Chẳng hạn
muốn kết bài cho tiểu sử Steve Job, tác giả dẫn bằng một câu danh ngôn của nhà
triết học người Pháp Descartes: “ Đọc sách hay cũng giống như trò chuyện với
các bộ óc tuyệt vời nhất của những thế kỷ đã trôi qua”. Steve Job - người có bộ
óc tuyệt vời của thế kỷ 21 - chắc chắn sẽ là nhân vật tuyệt vời, đáng để bạn
trò chuyện bên tách cafe vào mỗi buổi sáng.
Cách thứ hai là điểm sách theo cách bình luận. Đây là hoạt động
giới thiệu sách mang đậm tính học thuật. Để bình luận thành công một cuốn sách,
tác giả hướng người đọc trả lời 3 câu hỏi sau:
- Lập luận này của tác giả đúng chưa? Vì sao tác giả nói như
vậy?
- Những vấn đề này là kiến giải khoa học hay chỉ là những nhận
định phiến diện và chủ quan?
- Những kiến thức của tác giả có thể ứng dụng được không? Những
thông tin của tác giả có chính xác không?
Đáng chú ý, tác giả đi đến cách đặt vấn đề bình luận những cuốn
sách theo thể loại. Tôi rất tâm đắc khi Nguyễn Ngọc Sơn đã có những ý kiến xác
đáng về các thể loại sách mang tính học thuật cao, đầy tính gai góc: “Bạn
muốn bình luận cuốn sách về văn học thì mở bài của nó phải nói về trường phái
văn học, phong cách viết hoặc nói về xu hướng của văn học hiện đại. Nếu bạn
bình luận về sách triết học, phần mở bài của bạn không thể không nhắc đến
chủ nghĩa duy tâm siêu hình, chủ nghĩa duy vật biện chứng, những trường phái
triết học kinh điển. Khi bạn bình luận về sách kinh tế chính trị, thì bạn không
thể không nhắc đến “bàn tay vô hình” hay “giá trị thặng dư”, những học thuyết
kinh điển của kinh tế chính trị”. Tiếc rằng những chỉ dẫn này không được làm
sáng tỏ trong phần trích dẫn quan trọng và trình bày trích dẫn từ cuốn sách
khác. Thế nên việc bình luận cụ thể những cuốn sách về văn học, triết học, kinh
tế... còn bị bỏ ngỏ do tác giả không dẫn ví dụ về loại này, lại thay bằng bình
luận cuốn sách về Bí quyết thuyết trình của Steve Job: “Bằng cách đưa ra những
dẫn chứng sâu sắc về thuyết phục, Carmine Gallo đã chỉ ra những bí quyết
trình bày cực kỳ đắt giá trong suốt thời gian Steve Job làm lãnh đạo Apple.
Thông qua việc phân tích các bài thuyết trình trên Youtube, tác giả đã chỉ ra
được các bí quyết, phương pháp mà vị lãnh đạo này thường áp dụng mỗi khi giới
thiệu những sản phẩm mới”.
Bên cạnh chủ đề trọng tâm là đọc sách, điểm sách, Nguyễn Ngọc
Sơn cũng không quên đề cập đến chuyện bếp núc xoay quanh vấn đề đọc sách và viết
lách. Từ chuyện phát triển kỹ năng đọc và viết, đến chuyện tiêu chí chọn sách tốt,
đặt tiêu đề, sử dụng ngôn từ... Tất cả góp phần làm cho cuốn sách thêm phong
phú về nội dung, thỏa mãn được chờ mong của bạn đọc yêu sách. Tuy nhiên với
dung lượng nhỏ (chỉ khoảng 150 trang), cuốn sách không có tham vọng đi vào mọi
ngõ ngách của nghề sách. Với những gợi mở của nó, hi vọng sẽ giúp độc giả có nền
tảng để thêm nhiều tìm tòi, đi sâu hơn vào thế giới mênh mông này. Sách
kinh dịch nói: Nhà muốn vững trước hết phải có nền, huống chi đối với người đọc
sách. Quý độc giả có tâm huyết với sách tại sao lại không tạo nền móng vững chắc
cho mình. Còn chần chừ gì nữa mà bạn đọc bỏ lỡ “Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn
Ngọc Sơn.
1/1/2026
Vương Sỹ Thanh Chương
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Văn học mùa Giáng sinh
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt
đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi
vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi,
lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ
về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối
cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi,
bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Lo âu và có một cơn giận dữ thầm lặng đang bùng cháy trong
lòng ông. Nước Anh thời Victoria ngày càng giàu... và ngày càng tàn nhẫn. Trẻ
em bị bóc lột, gia đình đói khát, người nghèo bị đối xử như thể đó là tội của họ.
Dickens nhìn thấy mọi thứ. Và ông không thể câm lặng, giả vờ như chẳng có gì xảy
ra.
Chính vì vậy, chỉ trong sáu tuần quyết liệt, ông đã viết A
Christmas Carol ("Khúc ca Giáng Sinh".)
Cuốn sách ra mắt vào ngày 19 tháng 12 năm 1843. Dickens muốn
nó phải đẹp, được giữ gìn cẩn thận, xem như một vật quý giá: bìa vải đỏ, viền
vàng, hình minh họa màu của John Leech. Nó phải được xem là một món quà tặng chứ
không chỉ để đọc.
Bản in đầu tiên với 6.000 bản đã được bán hết trước đêm Giáng
sinh. Trong năm sau, nó đã được tái bản nhiều lần. Chi phí sản xuất có làm giảm
thu nhập nhưng tác động xã hội là rất lớn.
Một trăm tám mươi năm sau, "cuốn sách nhỏ về ma" đó
vẫn không mất đi sức mạnh của nó. Ngược lại. Nó đã trở thành một nghi lễ. Một
nguyên mẫu. Một la bàn đạo đức trở lại rất đúng giờ vào mỗi tháng Mười Hai hàng
năm.
Câu chuyện trong sách rất đơn giản và phổ quát.
Ebenezer Scrooge, một người keo kiệt và cô đơn, coi thường
Giáng Sinh và tất cả những gì Thánh lễ này đại diện. Gã coi đó là một điều vô
nghĩa và đắt tiền. Một thứ lãng phí thời gian.
Nhưng vào đêm trước Giáng sinh, gã được hồn ma của người bạn
Jacob Marley và ba linh hồn đến viếng thăm:
- Giáng sinh quá khứ
– Giáng sinh hiện tại
– Giáng sinh tương lai
Thông qua họ, Scrooge buộc phải thực sự nhìn vào bản thân
mình.
Quá khứ cho thấy ông ta là một đứa trẻ bị lãng quên và một
chàng trai trẻ đã hy sinh tình yêu trên bàn thờ tiền bạc.
Hiện tại tiết lộ cho ông ta sự giàu có vô hình của những người
tuy có ít nhưng biết cách chia sẻ mọi thứ cho mọi người.
Tương lai đặt trước mặt gã là một hậu quả đáng sợ: chết mà
không để lại bất cứ điều gì, nếu không muốn nói là sự thờ ơ.
Và ở đây Dickens vẫn ảnh hưởng đến chúng ta cho đến ngày nay.
Bởi vì, sau tất cả, chúng ta đều là một lão Scrooge. Chúng ta
sống trong một thế giới hối hả, siêu kết nối, phố xá đầy ánh sáng và các cửa
hàng lấp lánh, nhưng chúng ta thường thiếu thời gian, được lắng nghe và cảm thấy
ấm áp thực sự. Chúng ta đang phấn đấu để làm cho Giáng Sinh trở nên "hoàn
hảo", như thể đó là một pha trình diễn, và cuối cùng chúng ta mệt mỏi, tâm
hồn trở nên trống rỗng và lòng đầy hoài nghi.
Khi Scrooge hỏi:
"Tại sao phải vui vẻ? Tại sao phải chi tiêu? Tại sao phải
cố gắng trở thành người tốt?"
… Một số người trong chúng ta hiểu câu hỏi đó.
Và Dickens trả lời ngay mà không cần tài hùng biện: nếu chúng
ta không thắp sáng ánh sáng bên trong mình, chúng ta không thể chiếu sáng cho bất
kỳ ai.
Ngay cả sự ra đời cuốn sách cũng là một hành động khẩn cấp.
Năm 1843, Dickens gặp khó khăn về kinh tế và sáng tạo. Như bộ phim The Man Who
Invented Christmas đã kể lại, ông đang tìm kiếm một câu chuyện vừa tố cáo xã hội
vừa làm thức tỉnh đạo đức. Sau một bài phát biểu ở Manchester chống lại nghèo
đói ở trẻ em thì ý tưởng đã hình thành. Ông đi dạo quanh London hàng giờ, nói
chuyện với chính mình, trong khi Scrooge và những hồn ma càng lúc càng sống động
trong tâm trí.
Dickens không chỉ viết một tiểu thuyết hay truyện kể.
Ông đã khôi phục ý nghĩa cho một Thánh lễ Giáng Sinh đang trở
nên trống rỗng.
Ông nhắc nhở thế giới rằng Giáng Sinh không phải là để tiêu
dùng hay - phô trương mà là để kết nối.
Và mỗi khi chúng ta đọc cuốn sách hoặc xem một trong những bản
chuyển thể của nó, thông điệp ấy vẫn còn nguyên vẹn:
Hãy quay trở lại với những điều thật sự cần thiết.
Một cử chỉ tử tế
Một bàn ăn để cùng chia sẻ
Một cái nhìn để nhận ra người khác
Như triết gia Seneca đã viết:
"Si vis amari, ama."
Nếu bạn muốn được yêu, thì hãy yêu.
Có lẽ đây là lý do tại sao, sau một trăm tám mươi năm, A
Christmas Carol vẫn tiếp tục nói với chúng ta.
Bởi vì nó không yêu cầu hay đòi hỏi là chúng ta phải hoàn hảo.
Nó chỉ yêu cầu CHÚNG TA PHẢI LÀ CON NGƯỜI.
* A Christmas Carol ("Khúc ca Giáng Sinh") của
Charles Dickens
2/1/2026
Trương Văn Dân dịch
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã
tự làm sáng con đường dấn thân
phụng
sự văn nghiệp của mình
Đọc ĐƯỜNG SÁNG của Nguyễn Văn Mạnh là đọc lại một
hành trình đời người nhiều bão tố nhưng không khuất phục. Từ người lính trận,
nhà báo, luật gia đến nhà thơ, nhà văn, Nguyễn Văn Mạnh đã tự viết nên số phận
mình bằng dấn thân và trung thực. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài
viết của nhà thơ Phạm Trung Tín – người bạn học, bạn đồng hương – mang đến một
cái nhìn gần gũi, tin cậy và giàu xúc cảm về cuốn tiểu thuyết mới này.
Những ngày cuối năm 2025, tôi đọc tiểu thuyết ĐƯỜNG SÁNG của
luật gia, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Văn Mạnh.
Đây là cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật tái hiện cuộc sống hơn nửa thế kỷ
qua của chính tác giả. Khi gấp sách lại, trong tâm thức của tôi bao nhiêu kỷ niệm
lại ùa về sau chặng đường hơn 60 năm tôi và Mạnh cùng trải nghiệm và suy ngẫm.
Chúng tôi sinh ra trên mảnh đất Hiệp Hòa khó nghèo heo hút.
Là xã cuối cùng trong bản đồ dư địa chí của thành phố Hải Phòng. Chúng tôi cùng
tuổi Bính Thân, cùng học chung một lớp từ cấp 1 đến hết cấp 2 phổ thông tại trường
xã và học chung cấp 3 trường huyện. Có thể nói tuổi thơ, tuổi học trò của chúng
tôi đã có sự gắn bó sẻ chia với bao kỉ niệm vui buồn không thể nào lãng quên dù
năm tháng đã phủ một lớp bụi mờ trên ký ức.
Quê chúng tôi là một vùng quê chiêm trũng đói nghèo lạc hậu.
Thời chiến tranh loạn lạc, máy bay Mỹ quần thảo bắn phá suốt đêm ngày, thanh
niên trai tráng trong làng lần lượt lên đường tòng quân chiến đấu, chỉ còn những
người già, phụ nữ và trẻ em ở tuổi học sinh ở lại hậu phương. Mùa hè nóng nực,
mùa đông giá rét, chúng tôi vừa đi học vừa phụ giúp gia đình chăn trâu cắt cỏ,
mót khoai hôi cá để vượt qua nạn đói nghèo luôn rình rập quanh năm. Mạnh thuở ấn
niên ốm đau còi cọc, dáng người gầy gò bé nhỏ lụp xụp trong bộ áo quần nhuộm
nâu nhưng đôi mắt sáng tinh nhanh và nụ cười hiền luôn thường trực trên khuôn mặt
thánh thiện của tuổi học trò. Lớp học của chúng tôi được đào âm sâu vào lòng đất,
trên đắp tường dày cả thước, mái nhà được bện rơm để tránh mảnh bom. Tôi và Mạnh
đều là học sinh thông minh hiếu học, có ý chi tự lập và không chịu đầu hàng số
phận. Hoàn cảnh nhà Mạnh còn khó khăn nghèo đói hơn cả nhà tôi do bố Mạnh mất sớm.
Trong hoàn cảnh mồ côi, mấy anh chị em yếm thế vì bị đối xử phân biệt do ông bố
của Mạnh thời Pháp thuộc làm chức sắc trong thôn xóm, bị Cách mạng quy địa chủ
cường hào, bị tịch thu gia sản ruộng vườn. Sau này, được hạ thành phần là địa
chủ kháng chiến, nhưng lúc đó đã mất hết nhà cửa, phải dựng túp nhà tranh nhỏ
bé ở góc làng trú thân qua mưa nắng. Mẹ của Mạnh là người phụ nữ đoan trang, hiền
hậu, khuôn mặt hằn nét chịu đựng vất vả truân chuyên của cuộc đời. Tôi đã nhiều
đêm ngủ cùng Mạnh trong ổ rơm ngay cạnh bếp vừa nấu cơm vừa nấu cám lợn cho đỡ
rét. Hồi đó chính quyền địa phương và cả nhà trường còn coi nặng thành phần
giai cấp xuất thân, dù chỉ phụ thuộc nhưng tạo ra những áp lực nặng nề cho các
học sinh là con em các gia đình có vấn đề về lý lịch. Dù học giỏi thì lớn
lên cũng chỉ cày ruộng không dám mơ đi học đại học hoặc làm các ngành nghề
thoát ly đồng ruộng. Ngay từ khi học xong lớp 7/10, ở lứa tuổi 14 – 15, chúng
tôi đã nung nấu ý chí phải thoát ly khỏi luỹ tre làng bằng con đường tình nguyện
đi bộ đội. Dù biết rằng là người lính chiến đấu ở chiến trường (hoặc là xanh cỏ
hoặc là đỏ ngực). Chủ nghĩa lý lịch còn được duy trì ngay cả trong quân ngũ, giữa
chiến trường ác liệt đạn bom nhưng con đường phấn đấu kết nạp Đảng, đào tạo sĩ
quan cũng bị phân biệt bởi có ông cha dính dáng phục vụ chế độ cũ…
Trong chương I và chương II của tiểu thuyết, Nguyễn Văn Mạnh
đã cho chúng ta biết hoàn cảnh chính trị, điều kiện xuất thân và gia thế của
mình. Nhưng với tính khiêm nhường, kiệm lời vốn có, tiểu thuyết chỉ khắc hoạ một
phần cuộc sống mà tác giả đã trải qua. Thật chạnh lòng khi ghi lại một đoạn tự
sự của Mạnh: “Số phận đã đóng dấu cho mình là con địa chủ thì mình sẽ xoá dấu ấy
bằng máu và long trung thành trên chiến trường”.
Những năm giặc Mỹ tái đánh phá ra miền Bắc, máy bay B52 ném
bom huỷ diệt, tôi và Mạnh cùng học cấp 3 của trường huyện nhưng khác lớp. Trường
phải phân học sinh sơ tán về các xã. Lớp học ấn dưới luỹ tre xanh của các
xóm nhỏ ven sông. Ngồi học trong lớp nhưng tâm trí chúng tôi không thể tập
trung bởi tiếng bom gào, máy bay gầm thét, bởi dòng suy nghĩ luôn hướng đến việc
lên đường tòng quân cầm súng giết giặc. Tháng 2/1973 tôi tình nguyện đi bộ đội
khi đang học lớp 9/10. Đến tháng 5/1974 đến lượt Nguyễn Văn Mạnh cũng tình nguyện
viết đơn bằng máu và vinh dự được nhập ngũ. Trải qua rèn luyện chiến đấu tại
chiến trường Nam bộ, gian khổ hy sinh do hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến trường,
lằn rành sinh tử đã đào luyện chúng tôi trở thành những người lính dạn dày gan
dạ, không sợ hiểm nguy, như những cánh chim đã trưởng thành trong bão tố và máu
lửa. Theo chính sách của quân đội, những quân nhân nào không đủ tiêu chuẩn phục
vụ lâu dài sẽ được chuyển ngành hoặc xuất ngũ về địa phương. Năm 1979 từ mặt trận
biên giới Tây Nam tôi được chuyển ngành về bộ Công nghiệp nhẹ tại thành phố Hồ
Chí Minh, còn Nguyễn Văn Mạnh năm 1980 được chuyển ngành về công tác tại báo
Minh Hải… Đường đời cứ thế trôi đi, biết bao gian nan vất vả khi mỗi người phải
tự đương đầu với hoàn cảnh công tác và thực tế cuộc sống khó khăn thiếu thốn của
một thời bao cấp…
Tôi không tin vào sự huyễn hoặc của số phận nhưng ở lứa tuổi
chúng tôi cái tuổi Bính Thân 1956 gặp rất nhiều hoàn cảnh long đong về sinh kế,
trắc trở về đường công thành danh toại và lận đận bước tình duyên. Chẳng thế mà
người đời có câu: “Người ta tuổi ngọ tuổi mùi/ Tôi nay ngậm ngùi lận đận tuổi
thân”. Nhưng ông bà lại dạy “đức năng thắng số”, chỉ có nỗ lực vượt khó, chỉ có
khát vọng vươn lên để tự thay đổi vận mạng cuộc đời mình thì mới có cơ hội nhập hòa cuộc sống để ổn định phát triển, tiến tới tính chuyện “ an cư lạc nghiệp”.
Trong tiểu thuyết ĐƯỜNG SÁNG, chương III và chương IV, Nguyễn
Văn Mạnh đã tái hiện những thăng trầm trong cuộc chiến đấu khi là người lính trực
tiếp bảo vệ tổ quốc hay trên cương vị một phóng viên khi đã chuyển ngành công
tác tại báo Minh Hải. Với khí chất cương thường của người con đất cảng Hải
Phòng, với cách sống trung thực tận tuỵ, cách viết đầy tính hiện thực, không
phô trương bóp méo sự thật, anh không dễ dàng hoà nhập với tập thể có nhiều người
kèn cựa ganh ghét dèm pha. Và rồi như mặc định một cánh chim bão bùng giông tố,
anh không khuất phục nghịch cảnh, không chấp nhận số phận nghiệt ngã để quyết
tâm đứng vững trước mọi thử thách truân chuyên. Anh chuyển công tác qua toà án
Minh Hải rồi lại ra toà án tỉnh Khánh Hòa. Mỗi bước di chuyển là một sự vùng vẫy
thoát ra trong nghịch cảnh khó khăn trong sự đa đoan trách nhiệm phục dưỡng mẹ
già, nuôi vợ dại con thơ.
Đầu thập kỷ 90 Mạnh chuyển về báo Công nghiệp tại thành phố Hồ
Chí Minh cũng là lúc tôi gặp lại Mạnh sau gần 20 năm xa cách bặt tin nhau. Từ
đó đến nay đã 30 năm tôi và Mạnh luôn có dịp gặp gỡ chia sẻ những vui buồn
trong cuộc sống và trong công viêc, trong đam mê sáng tác văn chương. Trong lớp
bạn bè cùng học ở quê chỉ có tôi và Mạnh còn tham gia hoạt động xã hội, ở tuổi
70, dù đã nghỉ hưu nhưng chúng tôi luôn bận rộn với các công việc sáng tác và
tham dự các hoạt động báo chí văn chương.
Tôi cho rằng Nguyễn Văn Mạnh là người có ý chí, bản lãnh phi
thường để duy trì ổn định cuộc sống bình thường. Hơn 50 năm qua Mạnh đã dấn
thân chiến đấu và phấn đấu không ngừng nghĩ, không thối chí, chấp nhận những
khó khăn thách thức số phận. Chấp nhận những đổi thay dù vất vả rủi ro để mong
tạo cơ hội thay đổi cuộc sống, để tiếp cận các vận hội, phụng sự xã hội và mưu
cầu hạnh phúc chính cuộc đời mình. Lúc ra Bắc, lúc vào Nam, lúc ở tận cùng đất
Mũi lại có lúc trụ lại giữa rừng núi Khánh Sơn của tỉnh khánh Hoà đèo heo hút
gió giữa vùng sơn cước. Có lẽ hoàn cảnh đẩy đưa đã tôi luyện cho Mạnh sức chịu
đựng dẻo dai, bản lĩnh chiến đấu hơn người để vươn lên làm chủ vận mệnh của
mình. Bên cạnh những lo toan về công việc anh còn đau đáu nỗi niềm thương cảm đứa
em ruột thịt đã hy sinh tại biên giới phía Bắc từ năm 1979 đến nay cũng chưa
tìm kiếm được hài cốt.
Tôi nhớ lại câu thơ: “Ví thử đường đời bằng phẳng cả/
Anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Câu thơ như vận vào cuộc đời của Mạnh, va vào nghịch
cảnh và duyên phận, phổ vào chức nghiệp và sự dấn thân bằng tất cả tâm huyết của
mình. Sự thành công nào cũng phải đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, thậm chí bằng
cả máu của mình. Từ một thanh niên thoát ly luỹ tre làng với lý lịch nặng nề vì
bị quy chụp thành phần “địa chủ” Mạnh đã nhẫn nhịn chịu đựng và dấn thân tận hiến
trong chiến đấu. Lấy máu của mình để xoá dấu ấn xuất thân, lấy khát vọng của
mình để đạt các bước trưởng thành trong cuộc sống. Hơn nửa thế kỷ bôn ba, Mạnh
đã thành công, thành danh và thành nhân
Là người lính xông pha trận mặc, là nhà báo dũng cảm đấu
tranh với cái ác bảo vệ những giá trị chân chính, là một luật gia luôn đứng về
lẽ phải mang lại niềm tin cho người yếu thế, là một nhà thơ luôn có cái nhìn
sâu sắc bản thể hướng tới chân thiên mỹ. Trong hoàn cảnh nào Mạnh cũng tự tin
ngẩng cao đầu mang dấu ấn ứng xử tiết tháo cương thường của người đất Cảng
không đầu hàng số phận. Ở chương V và VI trong tiểu thuyết mang yếu tố tự thuật
về cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ của mình, Mạnh có bước ngoặt vô cùng ngoạn
mục, trải qua thử thách trải nghiệm tài năng đức độ của một nhà báo, nhà văn được
những bậc đàn anh đàn chị quý mến tin tưởng giao cho trọng trách là người biên
tập chính của Diễn đàn văn nghệ, một phụ thương của Thời báo văn học
- nghệ thuật Việt Nam. Đên nay đã phát hành 43 số báo với nội dung phong
phú đủ các thể loại, tập hợp các bài viết của các tác giả là các nhà báo, nhà
văn, nhà nghiên cứu khoa học có uy tín trên văn đàn nước Việt.
Năng khiếu văn chương có từ thời học sinh cấp 2, 3 được hun
đúc qua chặng đường nửa thế kỉ tu luyện đã bùng cháy soi sáng con đường văn
nghiệp. Chỉ trong 4 năm, Mạnh xuất bản 2 tập thơ, 1 tập tản văn và 1 tiểu thuyết.
Nhớ lại chuyện cách đây 7- 8 năm, tôi và Mạnh cùng tham gia sinh hoạt với các
anh em quê Vĩnh Bảo trong câu lạc bộ thơ Vĩnh Bảo trời Nam do tôi sáng lập và
làm chủ nhiệm nhưng người cộng tác tận tuỵ hiệu quả là Mạnh. Tôi có nói Mạnh tập
hợp các bài thơ của mình để in các tác phẩm, đăng kí vào Hội nhà văn thành phố
Hồ Chí Minh. Mạnh đã âm thầm sáng tác, khí phách và nội lực văn chương phát tiết
thật phong phú, sung sức, chất lượng văn chương khẳng định tầm nhận thức và sức
biểu cảm của một người thơ giàu nghị lực và khát vọng. Lộc văn chương phát tiết
rực rỡ khi Mạnh trở thành hội viên hội nhà văn Thành phố Hải Phòng năm 2023 và
trở thành hội viên hội nhà văn Việt Nam năm 2024.
Vĩnh Bảo quê hương của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một
danh nhân văn hóa lỗi lạc của dân tộc trong thế kỷ XVI. Truyền thống tinh hoa
văn học đã hun đúc lên các thế hệ nhà văn Việt Nam người Vĩnh Bảo thế kỷ XX,
XXI. Đến nay các nhà văn người Vĩnh Bảo là một tập hợp những người cầm viết có
tâm và có tầm trên văn đàn Việt vàcó lịch sử cống hiến rất đáng trân trọng.
Trong số 21 nhà văn góp mặt trong tập sách Nhà văn Việt Nam huyện Vĩnh Bảo mới
phát hành năm 2025, người ta đọc thấy các tên tuổi: Khái Hưng, Trần Bảng, Thi
Hoàng, Kim Chuông, Tô Ngọc Thạch, Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Thuý Loan, Nguyễn
Bình Minh, v.v... cùng góp mặt trong tên tuổi các nhà văn Việt Nam còn có Phạm
Trung Tín, Nguyễn Văn Mạnh và các anh chị em đã tận hiến cho sự nghiệp văn
chương.
Tôi rất tâm đắc với tên ĐƯỜNG SÁNG là tựa đề cho cuốn tiểu
thuyết của luật gia, nhà báo nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh được PGS.TS nhà phê bình
văn học Bùi Việt Thắng viết lời tựa và đặt lại tên cho tác phẩm. Nhưng tôi khẳng
định rằng chính tác giả Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng
sự văn nghiệp của mình.
Tp.HCM, 1/1/2026
Phạm Trung Tín
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Những câu thơ biết thức
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành
luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho
xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng
- ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập
thơ tình chăng?
Tối đến mở xem thì bất ngờ bị nó cuốn hút. Sức cuốn hút của
“vật thể nặng” nên đêm trằn trọc mãi không ngủ được. Mùa thu bỗng trở nên nặng
nề đến thế! Mùa thu này là sự dịu nhẹ của cọng gió thẳm xanh hay là dáng cương
thường của cây sấu già trắng bão đây? Có lẽ nó có cả (!). Và, Đất sẽ là cái kết,
trả lời cho những nghi vấn bắt buộc ấy. Năm bốn lăm làng chết trăm người
Bố tôi một mình ra tỉnh
Nửa đời trở về, tay trắng
Ông đứng lặng trước ngôi nhà xưa
Phóng chiếc mai xuống đất mà thề:
- Không đi nữa!
Như một tuyên ngôn về cái sự đời. Nửa đời long đong nơi đất
khách quê người để ông đủ nhận ra canh bạc của lòng người. Ở đâu cũng thế cả,
chuyện lam làm, giành giật kiếm sống; đồng bạc buột ra rơi tõm vào đám chợ. Nửa
đời mà đâu đã nên người, đâu làm đã nên ăn. Cái chí lớn đeo đuổi suốt từ khi ấy
chẳng thành. Và rồi người ta thấy ông đột ngột trở về, hai bàn tay trắng! Cái
hình ảnh vốn cương thường kia, đứng lặng trước ngôi nhà của mình, cay đắng,
nghiệt ngã, nuốt hận mà ngước con mắt lên “phóng” mạnh cái mai xuống. Không đâu
bằng đất nhà mình, đất của chính ông cha nhà mình để lại. Ở đó nó có tất cả,
không cần phải đi tìm ở đâu cả. Bây giờ ông đã nhận ra nó như vậy đấy!
Gần như là một tuyên ngôn thứ hai, nó có mối liên kết chặt chẽ
với câu chuyện trên kia. Thơ tìm ta trú ngụ, ta nghèo xót xa trắng ngọn cỏ, ta
chết còn thơ thì không. Điều này cũng chỉ được rút ra, cô đặc lại từ kinh nghiệm
xương máu của người cha:
Con ơi!
Thơ không tắt thở
Thơ không cần vuốt mắt như bố
Thơ hóa thạch ở lòng người!
Thơ vận người. Nhưng người - đến lúc nào đó - nhất định rồi sẽ
nhắm mắt, ngừng thở, còn thơ thì vẫn thức. Câu chuyện lại còn ẩn khuất điều kỳ
lạ là: Từ nhát phóng mai xuống đất khi trở về sau mấy chục năm trời, ông thờ chữ
Nhẫn. Vậy trước khi nhắm mắt xuôi tay, ở con người cả quyết ấy đã dặn lại con
cháu điều gì và hành động gì của ông là sau chót? Thật chẳng ai ngờ, ông lại bảo
lấy vôi xóa sạch cái chữ Nhẫn kia đi!...Vậy chẳng lẽ từ thế hệ sau ông thì
không cần đến, không chọn đến chữ Nhẫn ấy nữa.Trớ trêu vậy chăng?
Đấy là câu chuyện hay về cái nhẽ ở đời. Nhưng, đây là thơ.
Thái Hưng viết thơ như thế sao? Nặng về bố cục một nội dung mà thiếu đi độ bóng
bảy cần thiết? Không, với dụng ý mà tác giả cần truyền tải, anh cứ viết sao cho
nó hàm xúc, nó đầy một tâm trạng chân thành. Rõ ràng, chúng ta đọc đã thực sự
thấy có một sức hấp dẫn tự nhiên - như thơ tự bản năng vậy. Chợt nhớ, khi còn
đi học, chúng tôi đã rất thích kiểu thơ “thời sự” của Владимирович Маяковский,
(1893 - 1930), nó thức, ví như một đoạn trong bài Những người loạn họp,(cái
cách diễn đạt hợp tạng, Thái Hưng dễ bị lây):
…Kích động quá, không tài nào chợp mắt
Trời đã sáng tờ mờ
Tôi đón ban mai với một ước mơ:
“Ôi ước sao
Được họp thêm một cuộc.
Để tìm phương thanh toán
Các cuộc họp trên đời”
(Gs. Hoàng Ngọc Hiến dịch)
Cứ mạch thơ theo kiểu cách ấy kéo dài suốt trong tập. Mỗi bài
là một vấn đề được cấu tứ theo một lập luận có trình tự, song buông bỏ bằng
cách đưa ra minh chứng đang tồn tại thực tế để mặc bạn đọc đi tìm cái nghĩa
đích thực. Trong bài Anh tôi, với một cấu tứ rằng:
Dưới trưa nắng xoay trần
Vét bùn đổ lên
mặt ruộng
Mồ hôi bám lưng bóng mật
Ròng ròng trên ngực chẳng khô
Chân bấm lún đá ngõ làng chuyển lúa
Vai cuộn lằn thoi gỗ
Gánh vơi cả đồng suốt tháng suốt năm…để hình ảnh người nông
dân lam làm ấy:
Bóng đổ lặng im trên vách
Lưng cong sao Thần Nông trên trời.
Còn nếu muốn nghỉ thì anh ấy mượn ngày giỗ bố mà nghỉ, nghỉ
xen lẫn cả giải trí nữa:
Hôm nay
Tôi về giỗ Bố
Ngồi bên vò rượu nếp thơm
Nghe anh tôi đọc bài thơ tự làm…Thật vậy, cái vò rượu nếp
thơm kia là thành quả của sự lao động vất vả, nhọc nhằn, đối mặt với nắng, mưa,
bão tố, với cả chính những thói tham lam của con người nữa. Song đêm đêm, ngước
sương sao, ông vẫn còn cảm tác thành thơ. Buông bỏ mấy câu, đọc chơi như Lý Bạch
(!). Đấy chính là con người.
Bài Về vùng than có những câu như thế này:
Về vùng than tìm bạn
Than đen - người đen
nụ cười - chớp trắng
Ngồn ngột nóng…
Dưới sâu trăm mét đất...
Than như máu chảy vọt lên.
Một đời người than
Một ngàn đời than
Sừng sững một góc bể
Những thứ lờ mờ không thể lẫn vào than.
Vậy ở cái khoảng trời bể sừng sững, mênh mang kia có những
cái thứ gì lờ mờ nhỉ? Thì hãy một lần thả mắt mà nhìn trong đám mây nước mà
xem, quả nhiên, nhiều vệt, nhiều hình và nhiều màu nhằng nhịt lắm. Chừng ấy nó
sắm vai đại diện cho tất cả chứ không phải là cái khối màu đen xì, hé ra cái miệng
chớp trắng sâu tít trong lòng đất kia! Phải rồi, ở đây, Thái Hưng lại không cho
phép những cái thứ đại diện ấy được lẫn với màu riêng có của bạn mình, bởi anh
coi hình ảnh đó mới là giá trị đích thực của mọi thành quả.
Trước những năm 2000, cái nghèo như con ma ngay ở sau lưng,
ta sợ, vùng chạy mà nó cứ khư khư bám riết. Cái nghèo trùm lên những mối tình,
đòi gây khó dễ bởi nhiều lý do khác nhau. Có những đêm đông, cha run rẩy đội
mưa về bên mẹ, cứ như người đi trộm vặt về. Còn với chị vợ liệt sĩ thì:
…Trái tim thương chín cả trời
Khát khao như lửa mà đời biết đâu
Một mình cằm cặm đêm thâu
Câu thơ như tượng Mị Châu cụt đầu
Bây giờ, người chị mà cả đời cặm cụi, lam lũ, lẩn quất ở góc
cái đồng làng chua mặn ấy đã khuất xa mãi, có lẽ chỉ còn có mỗi tác giả nhớ.
Cái nhớ cũng chết cứng, bất lực như tượng đá, nơi thỉnh thoảng có gió, cát và
chú chim sâu đơn độc:
Mà sao giờ tiếng chim
Vọng về côi cút thế
Vòm cây hoa vẫn nở
Người đi rồi….lắng im.
Còn với cả người mình yêu nữa, rốt cuộc cũng chỉ để lại cho
anh một bi kịch suốt chặng đường đời còn lại. Bây giờ là sau năm 2000, với bao
nhiêu những hình ảnh, những âm thanh và những gợi cảm đủ đầy quến rũ, nhưng sao
tác giả cứ da diết nhớ về cái tình xưa cũ ấy. Phải chăng, ý nghĩ của năm tháng
đã qua đã tạo thành lối mòn trong tâm tư, rồi mặc đời, cứ thêu hoa dệt gấm cho
mối tình riêng của mình:
Nhưng sao khi mùa thu đi qua
Lối mòn tình yêu trổ chùm nấm dại
Em vần vũ cơn mưa huyền thoại
Giũ rối đời anh - lá khô rơi…
Và lại nữa, những vần thơ viết sau 2000, nghĩa là sau Truyện
kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, khi mà người ta có thể bộc bạch về một sự thật từng
bị ẩn khuất bằng cái đầu của mình. Thái Hưng có một lối suy nghĩ khác về sự kiện
Nhà văn hóa Nguyễn Trãi (1380 -1442), quân sư của vua Lê Lợi,
với vụ oan khuất Lệ Chi Viên - vụ án đã dẫn đến cả ba đời gia tộc Nguyễn Trãi bị
triều đình hành quyết, mãi 22 năm sau mới được minh oan. Điều mà Nguyễn Thái
Hưng nhìn đến là ở chỗ hình như người đời đã thật sự cảm thấy thỏa đáng?! Âu
cũng là lẽ thường tình. Nhưng chính sự hiện diện của hình ảnh Nguyễn Trãi ở Côn
Sơn thì có phải lại thêm một “oan khuất” nữa?! Rằng, Người ngồi đó, hưởng lộc
trời, còn mọi người trong dòng họ của Người thì đâu rôi?. Rằng, đã vô tình có một
sự tương phản ở đây!
Hai mươi hai năm máu đỏ lại rồi
Nhân dân tôn thờ, nhân dân kính vọng
Một mình ông một ngôi đền,
còn gia tộc thì đâu?!
Nước suối chảy hoài mềm lại thương đau
Mây trắng, trời xanh, gió về vi vút
Lỗi lầm xưa đất nước này đã chuộc
Sao ông vẫn ưu tư…
không siêu thoát chốn tiên bồng?
(bài: Viếng đền Côn Sơn)
Vâng, hầu như các bài thơ trong tập của Thái Hưng đều để lại
hoặc khơi dậy một vấn đề mà hình như tác giả đã tự va chạm, tự hành, tự đối diện
với nó trong một thời gian dài. Từ một tâm trạng nặng trịch được nhào nặn cho
nó nhuần nhuyễn tới mức buột ra thành một cấu trúc thơ. Cái hàm ý về sự hiện diện
của Nguyễn Trãi như nói trên được diễn tả bằng thơ thì thật phải khéo lựa lắm mới
thành thơ được. Về ý nghĩa tư tưởng của bài, tác giả cũng dừng lại ở mức độ ấy
là hợp lẽ, còn lại gì nữa thì thuộc về bạn đọc chúng ta.
Dẫu là Thơ của một Luật sư rồi một Kiểm sát viên thì không chỉ
viết chơi. Song để cho suy tư đau đáu, ngồn ngộn trăm chiều luôn bị đánh thức
kia được dịu vợi đi, tôi mượn mấy câu dạng tự tình của anh để khép lại đôi lời
của mình:
MUỘN
Cây đã quên không gọi
Mùa hè vội đi không nói
Để quả chín cuối cành
Một mình ngơ ngẩn mãi.
Là tôi đấy, quả ơi! đừng nghi ngại
Chót muộn cùng, xin hãy rụng về nhau….
Nguyên tiêu, 2025.
Chú thich:
* Nhà thơ Bùi Việt Mỹ – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội
* Nguyễn Thái Hưng
- Nhà văn Hà Nội
- Luật sư - TW Hội luật gia Việt Nam
- Tác phẩm đã xuất bản:
+ Đi qua mùa thu - NXB Hội Nhà văn -2024
+ Lá thay mùa- NXB Hội Nhà văn -2025
+ Bằng lăng tím lối Mễ Trì - NXB Hội Nhà văn-2024 (In chung
nhiều tác giả).
8/1/2026
Bùi Việt Mỹ
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp
tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ
thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất
là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải
dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai
vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi
đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh
được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Theo đoán định của tôi, với thiên truyện vừa Bất chợt
mai vàng, Nguyễn Trí Huân không có dụng tâm kể với chúng ta về cuộc chiến đấu
vô cùng ác liệt giữa những chiến sĩ Giải phóng quân với đội quân tinh nhuệ và
tàn ác bậc nhất hành tinh là bọn xâm lược Mĩ tại chiến trường Khu 5. Cái đó đã
có nhiều cuốn sách nói rồi. Điều chủ tâm của tác giả muốn nói với chúng ta là số
phận của những người trong đội quân chiến thắng ấy ra sao. Có thể nói đây là
hai cuộc chiến tranh cùng diễn ra một lúc. Một đằng là đánh giặc cứu nước, một
đằng là gột rửa những rác rưởi ngay trong hàng ngũ những người chiến thắng. Đây
là nét phát triển mới của văn học ta chỉ có thể làm được từ sau sự nghiệp đổi mới
được khởi phát vào năm 1986.
Cần phải nói ngay rằng, tự soi lại mình để nghiêm túc nhận rõ
cái được cái hay và cái dở của bản thân, không phải lúc nào và ai cũng có thể
làm được. Phải là người có bản lĩnh lắm mới có thể gỡ bỏ cái vòng kim cô vô
hình mà có thật bao năm thắt bó trên đầu mình. Nói rộng ra, một xã hội, một dân
tộc phải đạt tới sự phát triển đến mức nào đó mới đủ dũng cảm làm được việc đó.
Thật ra, vào tuổi 31 lại có đến 4 mặt con, anh Kháng (anh
trai ruột của tác giả) không nằm trong danh sách tuyển quân. Nhưng anh rất mực
xin đi vì “Đói ăn chịu được. Bị người ta khinh nhục lắm.” Cái nhục này, ngoài
nghĩa là không dám xả thân nơi trận mạc, mà với anh còn có nghĩa khác là có bố
bị đi lính cho Pháp. Tôi phải mở ngoặc đơn nói đỡ tác giả chuyện này. Trong
nguyên bản tác giả nói là đi lính đánh thuê cho Pháp. Sự thực
là bị bắt đi lính cho Pháp. Việc này diễn ra từ cuộc Chiến tranh thế
giới lần thứ nhất (1914 - 1918). Lúc đó thực dân Pháp đã có lệnh bắt tất cả
thanh niên khoẻ mạnh ở các nước thuộc địa đi làm bia đỡ đạn cho chúng tại mặt
trận Pháp - Đức. Trong đó có trường hợp bố anh Kháng. Đây là bị bắt, chứ
không phải là tự nguyện xin đi. Cũng giống như dược sư Thái Văn Du, chồng bà
Tương Phố. Mặc dù là em ruột thượng thư Thái Văn Toàn đầy quyền lực, nhưng dược
sư Thái Văn Du vẫn bị bắt sang Pháp, sau 3 năm bị mắc bệnh phổi, mới được tha về
nước chữa trị nhưng không qua khỏi, nên đã mất vào năm 1919. Năm đó bà Tương Phố
mới 22 tuổi. Thương nhớ chồng, bà viết bài thơ dài Giọt lệ thu nổi tiếng
được in lần đầu trên báo Nam Phong số 131 (7/1928). Sau 3 năm để tang chồng, bà
Tương Phố tái giá với ông Phạm Khắc Chánh là tuần phủ Phúc Yên. Bà mất năm
1973. Tôi phải mở cái ngoặc đơn dài dòng này để nói rõ hai chữ bắt lính và đi
lính mà không phải ai ở địa phương nào cũng phân biệt được rõ ràng. Và
chính sự không rõ ràng này mà anh Kháng phải mang ra để thay đổi lí lịch. Hồi
đó, chủ nghĩa lí lịch còn nặng nề lắm. Nó trùm phủ lên số phận của biết bao con
người. Thậm chí có lúc nó được coi là tiêu chuẩn số một để đào tạo, cất nhắc
cán bộ.
Ngoài cái chức phận làm nghĩa vụ công dân thời loạn, anh
Kháng còn âm thầm, nung nấu làm cho đàn con mình được mở mặt như mọi đứa trẻ
trong làng. Hai lí do gửi vào một mục đích. Ở vào mặt trận B5 (Tây Nguyên) ác
liệt và thiếu đói bậc nhất ấy, thôi thì không có việc gì anh không xung phong
đi đầu. Đi cõng ngô cứu đói, anh gùi gấp rưỡi người khác. Trong thác lũ, trong
lúc mọi người còn do dự anh lao mình xuống suối cứu được o Hương là nữ y tá của
đại đội. Trong trận pháo kích vào sân bay Đà Nẵng nhằm phá cuộc càn lớn của địch
đang chuẩn bị đánh ra vùng giải phóng, anh đã vui vẻ nhận lời đi thay ông Tuân
cáo ốm. Trận đánh thắng lợi, chỉ còn vài bước là anh rút khỏi trận địa trở về
an toàn, nhưng khi nghe chiến sĩ vác máng tên lửa DKB nóng quá, anh vội quay lại
để vác thay. Rủi thay, anh vừa vác đỡ máng pháo nóng bỏng đi được mấy bước thì
bị trùm phủ trong một trận pháo bẫy khiến cả tổ đều hi sinh. Khi o Hương và tổ
làm chính sách đi tìm thì cả ba chiến sĩ không ai còn nguyên vẹn, thịt xương họ
trộn lẫn với nhau. Người ta đành chia làm ba gói vụn thân thể của ba chiến sĩ
làm ba ngôi mộ dưới chân đồi. Xong xuôi, lúc ra đường về họ còn tìm thấy một
bàn tay vắt trên cành cây. O Hương bảo đó là bàn tay của anh Kháng. Tất cả đành
quay lại chôn bàn tay ấy ở giữa ba ngôi mộ, để dưới âm, của ai người ấy nhận. Tối
hôm ấy, chi bộ làm lễ kết nạp anh Kháng vào Đảng cùng với ba đồng chí khác.
Đáng lẽ, cái danh hiệu cao quý ấy anh Kháng đã được nhận lúc
đang còn sống, chi uỷ cơ bản đã nhất trí. Đến khi xin ý kiến quần chúng thì ông
Tuân là người duy nhất phản đối vì nghi anh Kháng có tình ý khác với o Hương. Mặc
dù chẳng đưa ra được dẫn chứng nào cụ thể và xác thực, nhưng nguyên nhân sâu xa
là ông Tuân đã nhiều lần tán tỉnh o Hương nhưng đều thất bại. Ông đổ lỗi cho
ông Kháng vì nghi ngờ o Hương có cảm tình với anh từ sau khi được anh cứu khỏi
chết đuối.
Thật ra, o Hương cũng có cảm tình đặc biệt với anh Kháng. Có
lúc trong cơn xúc động bồng bột o còn tình nguyện, chủ động dâng trinh tiết của
mình cho anh nữa. Nhưng anh Kháng đã kiên quyết gạt đi, giúp o bình tĩnh lại. Nếu
không, câu chuyện giữa o Hương, anh Kháng và ông Tuân sẽ trở thành một câu chuyện
tình tay ba mà người ta đã viết đến nhàm chán ra rồi. Hơn nữa, anh Kháng sẽ trở
thành kẻ phản bội chị Luyến, phản bội cái mục đích vào chiến trường để thay đổi
lí lịch của mình. Ta đành chấp nhận những phút nhói về số phận của o Hương sau
chiến tranh, kiên quyết không lấy chồng để thờ anh Kháng - một người đáng thờ.
Việc ông Tuân ngáng chân mình, anh Kháng biết rõ mười mươi. Vậy
mà anh vẫn vui vẻ nhận ra trận để chết thay cho ông ấy. Hơn nữa, anh còn giấu
kín chuyện hai lần ông Tuân định bỏ trốn. Lần thứ nhất ông Tuân nói thẳng với
anh. “Kháng này, hay là mình và cậu trốn đi. Ở đâu chả là sống. Dân tộc là loài
người. Tổ quốc là thế giới. Cái nhục ở chỗ này là cái vinh ở chỗ khác. Anh tôi
đứng bật dậy: Cậu không được nghĩ bậy, làm bậy. Tôi đã thấy những tờ truyền đơn
trong túi cậu. Anh tôi gầm lên trong cổ họng: Liệu mà giữ mồm giữ miệng. Coi
như tôi chưa nghe thấy cậu nói gì, biết chưa?” Lần thứ hai, sau khi giao nộp một
số khí tài và một số dụng cụ của Mĩ để đào bệ phóng cho lữ đoàn, trên đường về,
anh Kháng và ông Tuân bất ngờ bị một chiếc tàu rọ tâm lí chiến của địch quây
tròn trên đầu với lời kêu gọi trở về với chính nghĩa quốc gia. “Anh tôi tựa vào
vách đá thở gấp. Bên cạnh, ông Tuân mặt cắt không còn một hột máu. Cặp mắt lé của
ông ta nhìn chếch về chiếc tàu rọ. Đôi môi mấp máy: Anh Kháng, hay là… Ông tháo
bỏ gùi, cuốc xẻng loạng quạng lao về phía cửa hang. Dừng lại, không tao bắn.
Anh tôi quát. Ông Tuân đứng khựng lại rồi lồm cồm bò về phía anh tôi.” Lại cũng
giống như lần trước, khi đã thoát nạn, anh Kháng lại bỏ qua cho ông Tuân, không
nói với ai điều này. Sự tha thứ này với một kẻ đã phản mình và toan phản bội Tổ
quốc là sự cao thượng, khoan dung hay là sự bao che cho sự bất lương? Hay là sự
thương hại mù quáng của Kháng? Tác giả không cho ta thấy anh băn khoăn về việc
này. Có lẽ là anh Kháng chờ đợi sự hối cải, tỉnh ngộ của ông Tuân chăng? “Sau
này, ông Cáp bảo anh tôi nhu nhược, thoả hiệp với cả cái xấu, cái ác, dẫn đến
những sai phạm tiếp theo của ông Tuân không ai có thể tha thứ được.”
Và cái điều tệ hại nhất đã xảy ra không lâu sau đó. Chính cái
hôm anh Kháng hi sinh, ông Tuân được cử đi thu nạp thi thể của anh Kháng và đồng
đội, cùng với ông Cáp và o Hương. Khi nhận lệnh, ông Tuân đã gói ghém ba lô, rồi
trong lúc mọi người đang ra sức tìm bới từng mảng xương thớ thịt của các liệt
sĩ thì ông Tuân bỏ trốn. “Đồ chó dái. Ông Cáp chửi tục. Ông nghĩ trong chuyện
này có lỗi của anh tôi. Anh tôi đã du di bỏ qua cho ông Tuân từ chuyện lớn đến
chuyện nhỏ. Ngay cả chuyện ông đã rình mò toan cưỡng bức o Hương ngoài bờ suối,
cầu khẩn o cho một đứa con, anh tôi cũng bỏ qua, bảo rằng đó là chuyện xấu xí
trong tình cảm chứ không phải tội lỗi. Việc ông Tuân bỏ trốn đã để lại một vết
xước nhơ nhớp trong đơn vị của anh tôi.”
Trong khi những người lính ở chiến trường trần lưng chống trả
với cái chết thì cuộc sống phía sau họ thế nào? Tất nhiên đó là một bản thành
trì vững chắc cho mỗi tay súng ở phía trước tựa vào. Với một bút pháp chân thực
đến chân tơ kẽ tóc, Nguyễn Trí Huân đã cho ta thấy biết bao nhiêu điều tốt đẹp
cũng như biết bao nhiêu giọt nước mắt đời không thấy ở phía sau bức thành trì
kia. Khổ nhất lại vẫn là những người đàn bà. Mẹ thương con đã đành. Còn những
cô vợ trẻ? Nếu chỉ riêng nỗi nhớ chồng cào xé đến mức đêm đêm phải đổ thóc ra
xay thì đã đi một nhẽ. Đằng này, từng ngày họ còn phải quay lưng trơ mặt vào những
con sâu mọt như ông Văn. Với một bên chân thọt, Văn lọt lưới các đợt tuyển
quân, lại còn được cử làm thư kí uỷ ban xã. Ông ta đã sẵn sàng nhận một việc
khó nhất là cầm những tờ báo tử đem đến cho các gia đình liệt sĩ. Với công việc
ấy, ai cũng ngại khi ông đến nhà. Vì ông gõ cửa nhà ai là mang theo chết chóc đến
cho họ. Nên không biết từ đâu, ai ai cũng gọi Văn là con chim lợn, một loài
chim rất thính với mùi tử khí. Nhưng nếu sự việc chỉ dừng lại ở đó thì chẳng ai
nỡ lòng nào đặt cái biệt hiệu chết chóc kia cho hắn. Đằng này, Văn với bản năng
thú tính không sao kìm hãm được đã lợi dụng ngay những tờ báo tử kia làm mối
dây để bắt tình, lừa tình, ép tình những người vợ liệt sĩ. Thậm chí, vừa đưa tờ
báo tử hôm trước, đêm hôm sau hắn đã gõ cửa làm cái điều đồi bại ấy với người vợ
vừa thắt tang chồng. Đã có không ít người vợ lính đáng thương sa vào tay hắn.
Con chim lợn này có thừa dã tâm để đánh trúng nỗi thèm khát bản năng của những
người phụ nữ thiếu thốn tình cảm. Có lần hắn còn mang một cặp bánh dầy vào nhủ
nhê một em bé 16 tuổi để thoả mãn thú tính của hắn, may mà có bà dì đã kịp cứu
được đứa cháu gái vào phút chót. Nhưng sự bẩn thỉu này đã không dừng lại ở đó.
Chị Luyến, vợ anh Kháng đã bao lần bị hắn xâm hại đầy thô bạo. Và chị cố lẩn
tránh hắn như lẩn tránh một con hủi, mà vẫn không được yên thân. Đến buổi chiều,
từ trại nuôi gà của hợp tác về nhà, chị gặp một cơn mưa lớn. Khi đi ngang miếu
âm hồn bất ngờ một bóng đen từ cửa miếu lao vào khiến chị ngã ngồi trên đám cỏ
chân vịt. Vẫn là ông Văn. Chị vùng dậy dùng chân đạp vào bụng cái bóng đen chồm
lên chị. Sau đó chị đi báo tổ du kích trực chiến đến cứu ông Văn. Nhưng thần chết
đã nhanh chân hơn họ. “Con chim lợn chết, làng như vơi nhẹ hẳn đi. Người ta
không còn phải chốt cửa mỗi khi đêm xuống. Cũng không ai phải lo gặp ông ngoài
đường nữa. Lúc khâm niệm cho ông Văn, mọi người tìm thấy trong túi áo ngực của
ông tờ giấy báo tử của anh tôi.”
Tôi không thấy có gì bi đát trong câu chuyện đáng hổ thẹn của
làng Hạ, ngược lại tôi cảm ơn chị Luyến, người đã thuỷ chung đặt vòng hoa đẹp
nhất lên mộ anh Kháng chồng chị và mộ của những người liệt sĩ khác đã bị tên khốn
nạn kia phản bội và làm nhục. Làng vẫn là làng. Nước vẫn là nước, nhưng đó
không còn là chỗ nương thân của những kẻ đồi bại như ông Văn.
Bây giờ, chúng ta hãy trở lại câu chuyện còn bỏ dở về việc
ông Tuân bỏ trốn đúng vào cái hôm đi nhặt thi thể người đã chết thay ông. Từ
khu đồi tan hoang trộn lẫn đất đá và máu thịt ấy, ông chạy bổ vào rừng. Bất
giác ông đụng phải một chiếc võng treo lơ lửng trên không, trong đó có một bộ
xương khô và một khẩu AK đã hoen gỉ. Sau khi xếp bộ hài cốt của người lính vô
danh vào hang đá, ông Tuân thay đổi ý định, không chạy về đồng bằng theo địch
mà ra đầu thú tại một đơn vị bộ đội địa phương. Sau ba năm cải tạo, ông bị tước
quân tịch, thải về địa phương. Vợ ông đã đi lấy chồng. Ông làm lại đời mình với
một cô gái câm. Họ có với nhau hai đứa con, nhưng cả hai đều bệnh nọ tật kia do
cha nó nhiều năm sống ở vùng rừng đầy chất độc hóa học. Nói như thế cho dễ
nghe, còn người đọc lại có thể nghĩ khác. Một kẻ què quặt về tâm địa sao có thể
sinh ra được những đứa con lành lặn. Là một giáo viên dạy văn, ham đọc, ông
Tuân về quê cũng tìm cách kiếm sống bằng cách viết tin, viết báo nhì nhằng. Có
phải vì sách vở đã giúp ông nhìn sâu vào những vùng tăm tối của lòng mình, để
làm lại mình trong cơn bão lốc của ân hận và tủi nhục. Dấu hiệu đầu tiên của sự
hoàn lương này là ông đã tìm về quê, đứng trên bờ đê vái ông Kháng từ xa khi
gia đình làm lễ tang đón di hài anh về an táng tại quê nhà. Bước tiếp theo là
ông đã mua một chậu hoa mai thuê xe ôm đưa vào tặng chị Luyến trước ngày đón tết.
Bước thứ ba là ông đã đến viếng bà Luyến khi đám tang sắp kết thúc. Sau khi vái
tạ người quá cố, ông đã thú nhận gần như tất cả hành vi phản quốc, phản dân, phản
đồng đội của mình, rồi lùi lũi bước thấp bước cao ra khỏi cổng như một con chuột.
Một thân hình tàn tạ. Một đôi mắt lèm nhèm đục trắng như cùi nhãn. Một lời thú
tội vội vàng như trút hơi thở cuối cùng. Ngần ấy đã đủ lấp đầy cái vũng bùn
trong quá khứ của ông chưa? Có trời biết, ngay cả chính ông nữa. Nhưng dù “vớt
hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa” vẫn còn có chút để người đời thương hại. Vì thế
mà cái chậu hoa mai câm nín bấy lâu đã chợt nở ra những đốm hoa vàng mỏng manh
và chói gắt vừa đúng 15 ngày sau khi bà Luyến ra đi. Chính cái chấm hoa vàng bất
chợt này là tấm lòng khoan dung của Nguyễn Trí Huân đấy. Anh không muốn đẩy sự
thù hận đến góc tối cuối cùng. Cái chấm mai vàng bất chợt ấy chính là cái dấu mốc
Nguyễn Trí Huân tự vượt lên chính mình đấy. Bởi ngoài thân phận một người em,
anh còn là một nhà văn nữa, một nhà văn đúng với cái nghĩa đẹp nhất của nó.
Còn truyện Con hoạ mi lông xù vừa bay vừa hót trong
tập truyện Bất chợt mai vàng thì tôi được đọc sớm hơn từ một tờ tạp
chí. Còn nhớ khi đọc xong truyện ấy, tôi đã nói với Nguyễn Trí Huân: “Cái chi
tiết ông để cho ông đội trưởng cải cách ngủ nhờ dưới gầm cầu thang gác cửa khu
tập thể đọc đã quá.” Nhưng thực ra, toàn bộ câu chuyện lại không phải tập trung
vào cái ông đội trưởng cải cách ấy, mà là số phận của ông Phong, đội phó của
ông ta. Đây là câu chuyện viết về cải cách theo hướng tích cực, nghĩa là không
phủ nhận sạch trơn, nhưng hàn gắn lại những đổ vỡ, những sứt mẻ, những dại dột
thì không dễ một chút nào. Có một lần tôi đã nói với một người có trách nhiệm
cũng trong giới cầm bút: “Không cấm được người ta viết về những sai lầm trong cải
cách ruộng đất đâu. Bịt chỗ này rồi nó sẽ xì ra chỗ khác. Thà cứ để người ta
nói cho đã một lần cho xong. Tôi rất tin người mình rồi cũng biết cách ăn ở với
nhau cho phải lẽ.” Và tôi đã thể hiện cái ý tứ ấy trong bài thơ Nghệ nhân
Bát Tràng với hai câu: Khó nhất là thu lại lửa/ Và khó hơn là thu lại
mọi lỗi lầm.
Lão Phong, nhân vật chính của truyện, vốn là đứa con trai độc
nhất của hai vợ chồng làm mõ làng. Thân phận phải làm cái việc hạ đẳng ấy,
nhưng cả hai vợ chồng lại “xanh vỏ đỏ lòng”, dám đào một chiếc hầm bí mật trong
túp lều rách nát của mình để che chở cho anh Dung là đội trưởng du kích xã. Tất
nhiên, việc đó có thể bí mật với ai chứ không thể che mắt được đứa con duy nhất
trong nhà. Dù đã dặn con hết lời rồi, nhưng không biết trời xui đất khiến thế
nào, cậu Phong đã hở mồm hở miệng với cậu Tới cùng cảnh đi tát nước thuê cho Tổng
Quỳnh. Lập tức hôm sau Tổng Quỳnh đã đưa lính về đốt trụi căn lều tội nghiệp
kia, chiếc hầm bị đào bới. Cả hai bố mẹ Phong bị bắn chết, chặt đầu cắm cọc giữa
làng. “Đêm hôm ấy, bà Thuộc cô ruột của lão cắp một chiếc thúng và hai chiếc
khăn trùm đen, đem theo một ít tiền cho bọn lính gác rồi lượm hai chiếc đầu của
bố mẹ lão đem về chắp vào thân người bó chiếu đem chôn ở khu Gò Mả, trước sự bảo
vệ của anh Dung và đội du kích xã. Sau lễ mai táng âm thầm và tức tưởi bố mẹ
lão, bà Thuộc cô ruột lão bảo: Thôi, con về ở với cô, từ nay mày là con ruột của
cô. Lão đã về ở với bà, tham gia đội du kích của anh Dung bắt đầu từ đêm hôm
đó.” Ở với bà Thuộc, lão có cái ăn cái mặc, không phải đi làm thuê nữa. Được
anh Dùng dìu dắt, lão biết bắn súng, đánh vu hồi, và cùng với chú Bốn chôn mìn
giết được một tên quan một và một tên lính lái xe, phá huỷ một chiếc xe. Lúc
này anh Dung lại chuyển lên làm một cái hầm bí mật sau vườn bà Thuộc. Bà Thuộc
làm nghề bán cháo se, món mà Tổng Quỳnh ưa thích. Trước thì thích cháo, sau thì
mê người. Một buổi Tổng Quỳnh đột ngột dẫn lính vào nhà bà, thấy chỉ có mình
bà, hắn đuổi hết lính ra, rồi hãm hiếp bà trên chiếc sập gụ trước bàn thờ tổ.
Bà Thuộc kêu toáng lên để đánh động anh Dung và mấy người du kích sau vườn kịp
vội xuống hầm.
Hoà bình lập lại, chưa kịp hưởng những ngày hoà bình đầu tiên
thì cơn bão cải cách ruộng đất ập tới làng Hạ, “…với sức tàn phá khủng khiếp bằng
7 năm kháng chiến cộng lại.” “Còn lão, một thanh niên cốt cán của đội cải cách,
lúc nào cũng hừng hực, coi trời bằng vung. Lão đi lại vênh vác, gặp ai cũng doạ
dẫm, đe nạt. Một lần, lão gặp bà Hậu, một người đáng tuổi mẹ, lão quát: Hậu, mụ
không có miệng à? Bà Hậu dừng lại, cúi gập người: - Dạ, con xin chào con ông bà
mõ ạ.” Những gì sau đó mới thực là cải cách ruộng đất. Tổng Quỳnh bị đấu tố rồi
bị bắn, chính tay lão bóp cò súng trong sự nhớn nhác của phiên toà. Tiếp đó,
nhiều người bị vu là Quốc dân Đảng phải thắt cổ tự tử, trong đó có ông Phôn,
bác ruột của lão. Biết rõ ông Phôn bị oan, nhưng lão không mở miệng nói lại cho
ông một lời nào. “Có lần ông Cải trưởng họ, một lính khố xanh giải ngũ nhổ nước
bọt trước mặt lão, lão đã sai dân quân gô cổ ông, bắt ông nhịn đói nhịn khát một
ngày một đêm trong hậu cung của đình làng.” Đến khi bà Thuộc bị quy lên địa chủ,
bị đấu tố, thì trước sức ép của đội trưởng đội cải cách, lão đã tuyên bố từ nay
từ bỏ bà Thuộc và dòng họ của lão, không cần tổ tiên nữa. Với tất cả công trạng
đó, lão được cất nhắc lên chức phó chủ tịch xã khi mới 19 tuổi. “Một buổi tối,
anh Dung đến trụ sở uỷ ban đóng tạm trong căn nhà ngang của Tổng Quỳnh. Anh bảo:
- Cậu xử tệ quá. Đổ đốn quá. Tôi sẽ làm giấy cho cậu nhập ngũ. Cậu không thể ở
lại với cái làng này đâu.” Vào bộ đội, hình như lão tìm được đất dụng võ. Lão
được đào tạo, đề bạt và đã rất dũng cảm, mưu lược trong chiến đấu với sở trường
đánh vu hồi nổi tiếng. Từ một binh nhì lão trở thành một vị tướng, một anh hùng
lực lượng vũ trang, một dũng sĩ diệt Mĩ, một tư lệnh sư đoàn. Lão được đeo huân
chương đầy ngực, đi báo cáo thành tích khắp nơi. Khi sức khoẻ sa sút, lão được
chuyển ra làm vụ trưởng một vụ quan trọng. Như vậy, lão đã có thể được xem là một
người thành đạt, khiến nhiều người ghen tị và thèm muốn. Về phương diện nào đó,
lão là người đàng hoàng, biết ơn anh Dung đã dìu dắt lão từ nhỏ, biết ơn chính
uỷ sư đoàn đã lấy thân che cho lão và đã chết vì lão trước khi có lệnh bổ nhiệm
làm chính uỷ sư đoàn.
Nhưng cuộc đời đã không mãi mỉm cười với lão. Và việc phải
nghĩ lại đời mình chỉ đến với lão sau khi nhận giấy về hưu. Một mình sống trong
căn hộ 5 phòng, ngoài một Con hoạ mi lông xù, lão không biết trò chuyện với
ai. Quanh quẩn mãi, rồi lão nghĩ phải trở về làng, trở về với họ mạc. Nhưng về
với ai? Bà Thuộc thì lão đã tuyên bố từ mặt rồi. Trước khi chết, bà dặn anh
Dung nói lại với lão: “Nhớ bảo thằng Phong làm quan thì phải thương dân, đừng dại
dột nhẫn tâm như hồi cải cách.” Còn với họ hàng, thì ông Cài trưởng họ dứt
khoát không cho lão nhập lại. Việc về làng, về với họ bây giờ còn khó gấp vạn lần
khi cầm quân. Lão đã đánh mất lòng người rồi, mất cái lớn nhất mà một người tử
tế cần có. Hồi còn làm tướng, lão có thể đi tay không ra một chiếc tàu chiến để
thuyết phục 500 lính nguỵ trở về với cách mạng. Cái việc được xem như một hành
động anh hùng ấy bây giờ lão không thể lặp lại với cái họ Phạm đã trở nên xa lắc
của lão nữa rồi. Làm sao còn cứu được cái việc lão đã đứng lên lớn tiếng tuyên
bố từ bỏ dòng họ, từ bỏ bà Thuộc vừa là cô ruột vừa là mẹ nuôi của lão? Làm sao
lão cứu được việc tống giam ông Cài, trưởng họ Phạm vào hậu cung đình làng, bỏ
đói bỏ khát một ngày một đêm chỉ vì ông đã dám nhổ nước bọt vào mặt lão sau những
việc quá tồi tệ của lão? Bây giờ lão như một thân cây bị nhổ bật khỏi gốc rồi,
quay mặt về đâu cũng có thể được, chứ quay mặt về làng thì không thể. Nghĩ mãi,
lão mới tìm ra việc gột rửa quá khứ của mình bằng cách đổi căn hộ 5 phòng đàng
hoàng của lão ở tầng 2 lấy căn hộ 2 phòng tồi tàn ở tầng 4 cho một cậu vụ phó.
Lão lại có thể trả gấp 3 lần tiền thuê xe ôm và tặng kèm một bộ quần áo cho cậu
Cương. Rồi khi dịch Covid-19 bùng phát, lão tự nguyện xin vào tổ trực chiến,
xông xáo vào mọi chỗ có F0, F1 để chuyển họ đi bệnh viện. Lão lại còn viết di
chúc rằng, sau khi chết, lão hiến tặng căn hộ 2 phòng của lão cho trẻ em làng Hạ
trọ học miễn phí. Những việc ấy được bà con khu tập thể rất nể phục. Và nó cũng
chỉ có ý nghĩa như một người bệnh tự tiêm thuốc giảm đau mà thôi. Mãi cho đến
khi do sự vận động của nhân vật “tôi”, chính là tác giả của thiên truyện này,
miễn cưỡng lắm ông trưởng họ mới đồng ý cho lão về gặp mặt để tìm cách thuyết
phục các bô lão trong họ, thì việc đã quá muộn. Khi biết mình đã bị mắc
Covid-19, lão kiên quyết không tiêm thuốc Trung Quốc, khoá trái cửa, tự tìm đến
cái chết. “Tôi nghĩ rằng, cái chết của lão Phong là dấu hiệu chấm hết cho một vết
thương cũ. Vết thương hơn 60 năm từng xói mòn biết bao nhiêu số phận.”
Khi bình tro của lão được đưa về làng, ông trưởng họ làm lễ
xin tổ tiên cho lão nhập họ, ba lần gieo đài ba lần không được. “Làng nước đã
buông bỏ rồi. Nhưng các cụ thì chưa. Tội tổ tông là tội lớn lắm.”
Trong khi đó, chiếc bình tro của lão vừa hạ huyệt thì trên trời
xuất hiện một Con hoạ mi lông xù mà lão thường nuôi vừa bay qua vừa cất
tiếng. Đó là việc rất hiếm thấy ở làng Hạ.
Với hai chi tiết ấy, tác giả chọn một cách kết thúc mở cho
người đọc.
Lâu nay chúng ta vẫn hay nói về việc đổi mới tư duy tiểu thuyết.
Cuộc thảo luận thật rôm rả và hầu như không có hồi kết. Nguyễn Trí Huân bằng
hai thiên truyện vừa trong cuốn Bất chợt mai vàng đã hiện thực hoá một quan điểm
riêng của anh. Đó là sự mở rộng không gian của đề tài và chủ đề, của tưởng tượng
và hư cấu, thay thế cái đơn tuyến, một chiều bằng cái đa thanh, phức hợp, mở rộng
các kích cỡ để quan sát số phận con người, đem đến một triết lí thẩm mĩ mới mẻ.
Nhân vật của anh tưởng quen mà rất lạ. Anh Kháng 4 con, 31 tuổi không phải diện
tuyển quân nhưng tự nguyện nhập ngũ để quyết thay đổi lí lịch cho các con. Điều
đó cũng đồng nghĩa với việc góp phần thay đổi lí lịch cho cả một dân tộc sau
bao năm bị chia cắt và xâm lược. Do đó trong trường hợp của anh Kháng, việc nước
và việc nhà được gắn kết trong một thể thống nhất cho nên cái chết đối với anh
nhẹ như lông hồng. Còn ông Tuân, trong diện tuyển quân, nhập ngũ nhưng nhất quyết
phải giữ lấy thân để duy trì nòi giống, vì ông là trai độc đinh. Thế là việc nhà
và việc nước đã tách làm hai ngả mất rồi. Với một tâm thế ấy chẳng nói bạn đọc
cũng biết cuộc sống ở mặt trận của ông sẽ ra sao.
Quá trình phát triển tính cách của hai nhân vật này là cả một
chuỗi đan xen giữa sáng và tối, cao cả và thấp hèn. Và anh Kháng đã tự nhận lấy
cái chết mang đậm chất anh hùng ca, còn ông Tuân thì vẫn còn sống, nhưng là sống
dưới đáy đen ngòm của sự sỉ nhục. Cái kết cục theo kiểu “hòn ngọc thì mất, hòn
đất thì còn” này đứng ngoài sự chờ đợi của người đọc vốn quen với những trang
văn kết thúc có hậu. Nhưng nó lại có tác dụng mở rộng không gian cho một thể loại
văn học luôn đòi hỏi người viết phải rọi ánh sáng vào tận những vùng tăm tối nhất
của cuộc sống.
Ở thiên truyện Con hoạ mi lông xù vừa bay vừa hót,
Nguyễn Trí Huân lại cho người đọc tiếp cận một kiểu nhân vật còn hiếm thấy
trong văn học ta. Với kiểu nhân vật này, tác giả đã mở tung ra một vực thẳm
ngay dưới chân một người anh hùng. Yếu tố tâm linh đã được vận dụng đến mức tối
đa làm cho nhân vật chính luôn phải sống trong tâm trạng “ngồi không yên ổn, đứng
không vững vàng”. Nguyễn Trí Huân đã dành khá nhiều trang thể hiện mối quan hệ
giữa lão Phong, nguyên sư trưởng với bà vợ của ông chính uỷ sư đoàn sau khi ông
lấy thân mình phủ lên mình lão, hứng lấy cái chết từ một loạt tiểu liên của địch
trong trận đánh vu hồi vào hậu phương của địch. Đó là một mối quan hệ thân
tình, trong sáng, hết lòng vì nhau, thậm chí có lúc đạt đến giới hạn mong manh
nửa nạc nửa mỡ. Khi bà bị nhiễm Covid-19, lão đã lao vào phòng bệnh, ở lì đó với
bà, đến khi cô y tá hỏi ông quan hệ là gì với bà ấy, ông gần như thét lên:
“Tôi, tôi là anh, là chồng của bà ấy. Nhà tôi không còn ai. Tôi phải ở lại với
bà ấy.” Thân thiết đến mức ấy, nhưng tác giả đã không để cho ông ta vặn nắm đấm
cửa để sang với bà trong cái lần cùng đi biển với nhau. “Nếu như lúc đó lão mở
cửa, có thể lão sẽ được tất cả, cũng có thể mất tất cả.” May mà lão đã biết dừng
lại. Nếu không thì chưa lấp xong vực thẳm phía sau, lão đã bị đẩy vào vực thẳm
phía trước. Sống sao nổi. Hãy để cho lão yên nghỉ dưới vòng hoa trắng muốt với
dòng chữ “Vĩnh biệt anh, một người và một thời” của bà là đủ.
Thật đáng tiếc, tác giả thiên truyện này đã không kịp cho lão
biết, cái ông vẫn thường tìm đến ngủ nhờ dưới gầm cầu thang khu tập thể của lão
đã chết sau một cơn ho sét đánh, chính là ông đội trưởng cải cách ruộng đất ở
làng Hạ năm nào.
Vậy thì, thiên truyện Con hoạ mi lông xù vừa bay vừa
hót là viết về một người hay một thời? Là bi kịch hay hài kịch? Cái đó
cũng lại nhường quyền cho bạn đọc. Riêng tôi, tôi muốn xem nó là cái nhếch mép
đầy giễu cợt và cay đắng của lịch sử. Một ông Phồn, nguyên là chủ tịch liên xã
kháng chiến Hồng Phong, Hồng Thái, Hồng Hà bị quy oan tham gia Quốc dân đảng, tới
mức phải treo cổ tự vẫn. Việc bà Thuộc, người đã để cho anh Dung và đội du kích
đào hầm bí mật ngay sau nhà mình, cam chịu để cho tên Tổng Quỳnh hãm hiếp trước
bàn thờ tổ, chỉ kịp thét lên cho anh Dung và đồng đội của anh xuống hầm, lại
còn đang đêm liều lĩnh đi thu hai cái đầu lâu bị bêu nắng của bố mẹ lão Phong về
chắp nối lại và chôn cất cho tử tế, nay bị đem ra đấu tố, tịch thu hết cả gia sản,
bị đuổi xuống nhà bếp, rồi bà dỡ tung cái nơi trú thân cuối cùng ấy, vác cột
kèo ném vào nhà các gia đình bần cố nông, và bà đã quát vào mặt lão Phong khi
lão tuyên bố từ bỏ họ Phạm, từ bỏ bà “Các người điên hết rồi, cả cái làng này
điên hết rồi” rồi quyết định làm một người câm cho đến trước khi chết. Trong
khi đó, thằng Tới, kẻ đã bán tin cho Tổng Quỳnh về chiếc hầm bí mật trong nhà vợ
chồng ông mõ để lấy 10 đồng bạc, thì nay lại được đội cải cách chia cho ở ngôi
nhà trên của bà Thuộc cùng với lão. Cuộc đổi trắng thay đen chóng mặt đã cướp
đi cái quý nhất của làng Hạ là lòng tin. Mà như người ta nói, mất lòng tin là mất
tất cả.
May thay cho làng Hạ, vẫn còn anh Dung đó, người đã làm dịu
đi biết bao đau đớn và ngày càng hoà vào số phận của nhân dân, thật xứng đáng
là người đứng đầu chính quyền thành phố. Và còn may nữa là tác giả thiên truyện
này, người đã đem lương tâm nhà văn làm cho người ta cần nhớ những gì đáng nhớ.
Viết về chiến tranh mà bom đạn và kẻ địch chỉ được xem là cái
nền để tác giả soi rọi vào số phận những người chiến thắng, đó là một đóng góp
trân trọng và cần tôn vinh xứng đáng của Nguyễn Trí Huân vào nền văn học đang đổi
mới của chúng ta.
Hà Nội, 15/6/2025
Hữu Thỉnh
Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Trở lại cánh đồng thơ của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh Nhà thơ Y Phương ở miền non nước Cao Bằng đã từng tâm niệm: “Thơ cũng giống như tình y...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Nhạc sĩ Y Vân "Cuối thập niên 1950, anh Y Vân là nhạc công chơi cho các nhà hàng ở Sài Gòn. Hằng đêm, mẹ ở nhà giặt quần áo ở máy n...
.gif)




.gif)