|
Vĩnh Phúc
Vương
triều nhà Nguyễn từ khi mới lập nghiệp ở phương Nam đã sớm biết sử dụng nghệ
thuật âm nhạc để “di dưỡng tinh thần” và để biện chính cho sự nghiệp bá vương
của mình trong thế đối lập với nhà Trịnh ở Đàng Ngoài. Ngay từ đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) Lộc Khê hầu Đào
Duy Từ đã lập ra Hòa Thanh thự luyện tập một ban vũ và nhạc
để múa hát vào những
ngày khánh lễ. Hòa
Thanh thự gồm 3 đội...Đội Nhất và đội Ba trông coi về nhạc, đội Nhì trông coi
về ca và vũ.[1] Cố nhiên, đây chưa phải là Nhã nhạc, nhưng đã tạo dựng nền tảng
nghệ thuật chuyên nghiệp, làm tiền đề cho âm nhạc cung đình các vương triều
sau.
Sang thế kỷ XIX, dưới các triều
vua nhà Nguyễn, các loại hình nghệ thuật cung đình mới thực sự phát triển theo mô
thức, quy phạm của Nhà nước Phong kiến. Ngay từ khi Gia Long lên ngôi (1802)
mặc dù còn bận sắp đặt lại chính quyền trong nước, chỉnh đốn lại sinh hoạt cho
nhân dân nhưng không vì thế mà ít quan tâm đến âm nhạc. Nhiều sử liệu cho biết
vua Gia Long đã cho thành lập hai đội Tiểu nam và Tiểu hầu chuyên trông coi về nhạc và luyện tập múa hát trong cung. Năm Gia
Long thứ ba, hai đội này được hợp nhất lại dưới tên Việt tương đội.
Thời
Minh Mạng càng được phát triển quy mô hơn với Duyệt Thị Đường, nhà hát đầu tiên
ở Việt Nam được xây dựng trong cung; Thanh Bình Thự, một cơ quan quản lý nghệ
thuật và huấn luyện nghệ nhân ca, múa, nhạc cung đình được thành lập... Và chính Vua cũng đã tự tay viết câu đối nổi tiếng về
âm nhạc - sân khấu treo trước Duyệt Thị Đường :
“Âm nhạc
tịnh trần, hòa kỳ tâm dĩ dưỡng kỳ chí
Nghiên
xuy tề hiến, thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi”
Có nghĩa là :
“Tiếng
nhạc trong trẻo vang lên, cho tâm hồn được hòa hợp, ý chí được di
dưỡng,
Xấu tốt
cùng trình diễn, cho lẽ phải được giữ gìn, điều trái được né tránh”
Sử liệu
còn cho biết :Vua đặt ra bản nhạc Ngũ hưởng cho ban nữ nhạc tấu khi tế các
Miếu và tuyển thêm 50 nữ nhạc dưới quyền
hai nữ quan điều khiển, đợi lúc tế dâng rượu thì muá nhạc,[2] và chính vua Minh Mạngđã bàn về vấn đề cắt đặt lễ nhạc. [3]
Đây là giai đoạn cực thịnh của
nghệ thuật cung đình triều Nguyễn. Những nghi thức, lễ lạc của một nhà nước
phong kiến được bộc lộ đầy đủ nhất, đã chi phối toàn bộ sự phát triển của các
loại hình nghệ thuật cung đình. Các tổ chức âm nhạc trong cung từ thời các chúa
Nguyễn, đều được các đời chúa đời vua nhà Nguyễn sau này duy trì, kế thừa và
phát triển này càng quy mô, hoàn chỉnh hơn. Chẳng hạn về sau, vua Thành Thái
đổi thành Võ can đội, nhân viên có 120 người và 20 đồng ấu. Đến đời Khải Định
tuyển thêm 30 đồng ấu nữa vào Võ can đội...
Các nhạc
công đồng ấu trong biên chế dàn Tiểu nhạc- khoảng năm
1920. Sưu tập ảnh của Phan Thuận An.
Nhạc lễ (cung đình) là một loại thể của Âm nhạc cung đình, bao gồm toàn bộ loại
nhạc nghi
thức và tế lễcủa triều đình. Trong quá khứ,
theo một số tư liệu rất ít ỏi còn lại, có lúc, đã được các sử gia phong kiến
gọi chung là Nhã nhạc.
Tên gọi này rất biểu trưng. Chúng tôi cũng muốn căn cứ vào một vài chứng liệu
lịch sử để gọi phần lớn
các loại nhạc nghi thức và
tế lễ cung đình là Nhã
nhạc. Tuy vậy, sử liệu âm nhạc Việt Nam, dù rất hiếm hoi, nhưng cũng rất không
nhất quán. Nhã nhạc, có thời là toàn bộ âm nhạc cung đình chính thống; là để
phân biệt với tục nhạc; là bao
gồm cả múa văn - võ; có thời, chỉ là nhân
thanh. Có khi
đồng nhất với Nhạc lễ, laị có
khi chỉ là một bộ phận của Nhạc lễ; là tổ chức, biên chế của một dàn nhạc, mà
biên chế đó cũng không hề nhất quán. Dưới triều Nguyễn, có lúc, Nhã nhạc như
tương đồng, hoặc thay thế vai trò của dàn Tiểu nhạc, phân biệt rạch ròi với các loại dàn nhạc khác như Đại nhạc, Nhạc huyền... Nhưng gần đây và cả hiện nay, theo Gs Trần Văn Khê, cũng như một số
nhà nghiên cứu, nghệ nhân khác (kể cả trong chương trình giảng dạy Nhã nhạc của
trường Đại học Nghệ thuật Huế hiện tại), Nhã nhạc còn tồn tại ở cả hai loại:
Tiểu nhạc và Đại nhạc v.v...
Do đặc điểm lịch sử các
triều đại phong kiến Việt Nam, nên quá trình phát triển của âm nhạc cung đình
nói chung, Nhã nhạc Việt Nam nói riêng khá phức tạp. Nhưng khó khăn lớn nhất,
như ý kiến của Gs Tô Ngọc Thanh : “do thiếu tư liệu nên không thể nhìn sâu vào
quá khứ hơn những gì đã tồn tại trong hơn một trăm năm của triều Nguyễn, đặc
biệt là về âm nhạc”..., nhưng sau khi so sánh, đối chiếu giữa các nước có Nhã
nhạc như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, Gs đã có nhận xét : “Nhã
nhạc được
hiểu như toàn bộ âm nhạc cung đình chính thống của các triều đại phong kiến của cả bốn nước...Chức năng chung
của Nhã nhạc là loại nhạc lễ và nghi thức (ritual and ceremonial music) của cung đình.[4]
Chúng tôi cũng gặp trong Tự điển Hán Việt của
Đào Duy Anh giải thích Nhã nhạc
là âm nhạc chính đáng;Khâm
Định Đại Nam Hội điển Sử lệ gọi Nhã nhạc là chính
nhạc, người xưa dùng để tế Giao; Lê
Quý Đôn chú thích chữ Nhã có
nghĩa là chính đính, những bài hát ở chốn triều đình [5]...
Chúng ta đều biết, Nhạc lễ cung
đình của Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên đều bắt nguồn từ Trung Hoa, mà trong
tên gọi cũng còn có sự liên quan ít nhiều : YaYueh (Trung Hoa), Nhã nhạc (Việt Nam), Ahak (Triều Tiên),Gagaku (Nhật
Bản). Tuy vậy, mỗi nước đã tiếp thu ở Trung Hoa vào những thời kỳ khác nhau.
Nhật Bản tiếp thu từ
Nhã nhạc nhà Đường ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ VII, có sự kết hợp với âm nhạc
của ba nước Triều Tiên cổ (Tam Hàn) cùng với âm nhạc Phật giáo Ấn Độ, đã dần
dần Nhật Bản hoá và trở thành Nhã nhạc Nhật Bản, bao gồm trong 5 loại sau :
1. Hoà nhạc (nhạc Nhật bản chính thống, không pha tạp)
2. Đường nhạc (tiếp thu từ nhạc cung đình nhà Đường TQ)
3. Kỹ nhạc (tiếp thu từ TQ, kết hợp âm nhạc, múa và sân khấu)
4. Cao ly nhạc (tiếp thu từ Triều Tiên cổ)
Đối với
Triều Tiên, khoảng thế kỷ thứ V đã có sự tiếp xúc, tiếp thu âm nhạc Trung
Hoa...nhưng đến thế kỷ X trở đi, Nhã nhạc mới chính thức có mặt trong ba hệ
thống âm nhạc chính thống của Triều Tiên như : Hương nhạc (âm nhạc truyền thống vốn có), Đường nhạc (tiếp thu âm nhạc nhà Đường Trung
Hoa), Nhã nhạc (tiếp thu âm nhạc nhà Đường Trung Hoa).[7]
Ở Việt
Nam, sử liệu cho biết tên gọi Nhã nhạc được du nhập vào dưới thời nhà Hồ. Theo
Đại Việt sử ký toàn thư, năm Thiệu Thành thứ 2, (1402) có sự kiện Hồ Hán Thương
tổ chức lễ Tế giao không thành. Nhà vua đã “Đặt nhã nhạc, lấy con quan văn
làm kinh vĩ lang, lấy con quan võ làm chỉnh đốn lang, tập điệu múa văn, võ”.[8] Sử gia Ngô Thì Sĩ (1726 - 1780) đã bàn : “Từ
thời Trần trở về trước, lễ giao tế trời không thể cử hành được, có lẽ là lễ
nhạc chế độ còn thiếu thốn nhiều đấy”...[9] Tuy nhiên, trong quyển An Nam chí lược của Lê Tắc, có cho chúng ta
biết trong cung đình nhà Trần (1225 - 1400) đã có hai dàn nhạc : Đại nhạc và Tiểu
nhạc. Đại nhạc
gồm 5 nhạc cụ, trong đó có 2 nhạc cụ hơi thổi, 3 nhạc cụ gõ; Tiểu nhạc gồm 5
nhạc cụ dây và 3 nhạc cụ hơi thổi. Đại nhạc chỉ sử dụng trong cung đình, chỉ có
vua, những người trong hoàng tộc và các quan đại thần mới được dùng trong các
đại lễ của triều đình; Tiểu nhạc thì người giàu kẻ nghèo đều có quyền dùng . [10]
Như vậy, âm nhạc trong cung thời
Trần đã có thể chế, cơ cấu nhất định của nhạc lễ cung đình. Hai dàn Đại nhạc,
Tiểu nhạc chắc hẵn là bóng dáng của hình thức Tọa tấu (ngồi đánh nhạc trên đường) và Lập tấu (đứng tế nhạc dưới đường) của thể chế Nhã
nhạc Trung Hoa mà về sau, dưới thời Lê Thái Tông (1434 - 1442) Lương Đăng
đã phỏng theo nhạc lễ nhà Minh ở Trung Hoa mà đặt ra hai dàn nhạc là Đường thượng chi nhạc và Đường hạ chi nhạc ?
Vài dòng sử liệu sau đây cho
thấy sinh hoạt âm nhạc thời nhà Trần, tuy còn mang nhiều yếu tố chất phác của
dân gian, như đội mo
nang cầm dùi làm tửu lệnh; vua cũng
nhảy múa kiểu
người Hồ... song
không hẳn là không mang những nghi thức, nghi lễ cung đình, dáng dấp của thể
chế nhạc trên đường và nhạc
dưới đường : “khi yến hội ở điện Tập Hiền, trai tài gái sắc mỗi bên mười
người đều ngồi dưới đất...mỗi lần có tiệc lớn, trên điện có nhạc nổi lên, nhạc
khí và người ở dưới giải vũ, đều không thể thấy. Mỗi lần chuốc rượu thì lại hô
lớn, nhạc cử lên, ở dưới lại giơ theo”...Sử gia còn ghi lại tên của bốn
khúc nhạc đó là :
1. Giáng hoàng long
2. Nhập hoàng đô
3. Án giao trì
4. Nhất thanh phong
Chúng ta
còn được biết thêm, bốn khúc nhạc này “âm điệu đều gần với cổ, nhưng lại êm
ái. Nhà Trần cho như thế là văn minh. Khúc ca nhạc đó truyền đi, điệu nào điệu
ấy đều có thể chế chứ chẳng phải từ nước Nguyên đem lại”...[11] (Trong sách Lịch sử Âm nhạc dân gian cổ
truyền Việt Nam. Viện Nghiên cứu Âm nhạc, 1996, Nhạc sĩ Nguyễn Viêm có chép là
: Giáng châu long, Yến dao trì, khác với ĐVSKTB là Giáng hoàng long và Án giao
trì).
Trong An Nam chí lược, Lê Tắc có
kể tên năm bài hát sau :
1. Nam Thiên nhạc
2. Ngọc lâu xuân
3. Đạp thanh du
4. Mộng du tiên
Chúng tôi lại thấy trong Đại
Việt Sử Ký Tiền Biên của Ngô Thì Sĩ có ghi tên 3 bài hát khác, trong một
đoạn sử sau đây : “Xét chế độ nhạc vũ nhà Trần xướng xuất là vài chục người con
trai đều cởi trần đóng khố, lượn vòng rồi hát, lúc đi một người giơ tay thì hơn
chục người cùng giơ tay, buông tay cũng như vậy. Hát có :
Trang Chu mộng điệp,
Bạch Nhạc thiên mẫu biệt tử,
Vi Sinh Ngọc Túc,
Không rõ 3 bài hát này có liên quan với hệ
thống 5 bài mà An nam chí lược đã nêu không ? Nếu có, thì rõ ràng những bài hát chỉ có tên mà không có nhạc điệu còn lại dưới thời nhà Trần là 8 bài. Cùng với 4 khúc nhạc đã nêu ở trên,
chúng ta đã có một nhạc mục 12 bài, gồm cả bài ca và điệu nhạc.
Một đoạn sử liệu khác cho chúng ta biết có một loại nhạc lễ trong cung đình gọi
là nhạc
thái thường. Tên gọi
này chỉ thấy tác giả Vũ trung
tùy bút đề cập
đến mãi dưới thời nhà Lê, nhưng là để gọi một chức quan trông coi về Nhã
nhạc : quan
Thái thường, còn ở
thời Trần là một thể loại nhạc lễ. Sử chép đoạn Đỗ Thiên Hư đang ốm nặng nhưng
vẫn cố xin theo hầu vua đi đánh giặc :... “Thần thà chết ở ngoài cửa đình
chứ không chịu chết nơi giường đệm. Thượng hoàng khen ngợi ý chí bèn cho theo.
Vào đến đất của giặc thì mất. Thượng hoàng than thở thương tiếc ban sắc cho
dùng nhạc thái thường để cúng tế (khi đó dùng nhạc thái thường) trong việc cúng
tế chỉ có quan hành khiển được dùng, còn quan thẩm hình chỉ dùng lễ tế chay
nội. Thiên Hư được dùng nhạc thái thường có lẽ là ân đặc biệt đấy. Sau Nguyễn
Dũ mất cũng cho như vậy.” [14]
Mặc dù không có tư liệu vang, hoặc các ký hiệu về âm thanh, cũng như lời của
các bài hát, nhưng ít ra, cũng cho ta thấy một cách khái quát về âm nhạc trong
cung đình thơi Trần. Đó là có sự định đặt về thể chế, tổ chức dàn nhạc và sự
phân định rõ ràng hai thể loại Ca (nhạc có lời) và Nhạc (nhạc không lời).
Xa hơn nữa, thời kỳ nhà
Lý, sử sách đã cho biết sự am hiểu và yêu thích âm nhạc của các ông vua,
thể hiện trong việc định đặt số hậu phi và cung nữ dưới triều Lý Thái Tông
(1028-1054): “hậu và phi 13 người, ngự nữ 18 người, nhạc kỹ 100 người.” [15] Đời vua Lý Thần Tông có đội ca múa Thượng lâm đệ tử. [16] Đặc biệt là sự say mê nhạc Champa của các
vua Lý, như việc đặt ra
khúc nhạc gọi là Chiêm Thành âm; việc bắt
kỹ nữ Chiêm về ca múa khúc Tây Thiên v.v...
Gs Trần Văn Khê từ năm 1940 cũng
đã phát hiện một dàn nhạc có 10 nhạc công với 9 nhạc cụ được chạm khắc trên bệ
đá của chân cột chùa Vạn Phúc tỉnh Bắc Ninh, mà về sau ông xác định “có thể là
dàn nhạc cung đình triều đại Lý”...Vấn đề này, sách Lịch sử Âm nhạc Việt Nam của Lê Mạnh Thát [17] căn cứ vào các sử liệu Trung Hoa và sử liệu Phật giáo cho rằng 9
nhạc cụ trên có thể xuất hiện trước thế kỷ thứ V. Tác giả còn đưa ra lý do rất
thuyết phục về sự có mặt của chỉ 9 nhạc cụ ở chùa Vạn Phúc, trong khi vào thế
kỷ V ở Việt Nam đã có nhạc cụ đồ kim và đồ đá, mà tiêu biểu là trống đồng được ghi lại trong Hậu Hán
thư và khánh đá ghi ở Ngô chí cũng như Giao
Châu ký. Có thể
nói thêm, bằng những nguồn sử liệu quý báu, tác giả đã nhận định khác Gs. Trần
Văn Khê về lịch sử Âm nhạc Việt Nam từ giai đoạn khởi nguyên đến thế kỷ thứ IX
: “...giai đoạn từkhởi nguyên đến thế kỷ thứ IX, ông (TVK) cho rằng
không có một tư
liệu nào. Bây giờ cứ những trình bày trên của chúng tôi, ta không thể lặp lại
kết luận ấy, bởi vì ta có khá nhiều “mẫu tin về âm nhạc” không những trên bệ đá
chùa Vạn Phúc, mà còn trong những lá thư của Đạo Cao và những ghi chú của những người khác. Chúng ta biết sự có mặt
của ca hát, ngâm vịnh, đọc tụng và tấu nhạc (nhạc bối) cũng như của những nhạc
cụ đồ ống, đồ dây, đồ kim và đồ đá vào thế kỷ thứ 5 tại nước ta”. [18]
Tuy
nhiên, trên phương diện thể chế của Lễ nhạc, Gs. Tô Ngọc Thanh nhận xét : “Nhã
nhạc với tư cách một điển chế thì phải đợi đến thời đại nhà Lê (1427-1788) mới
hoàn thiện.” [19] Đó là sự kiện vua Lê Thái Tông, vào năm 1437 giao cho Nguyễn Trãi
và Lương Đăng chế tạo nhạc cụ dùng trong Triều đình, nhưng sau đó Nguyễn Trãi
dâng sớ tâu vua rằng : “Mấy lúc sau này, hạ thần và Lương Đăng có xem xét lại
và quy định Nhã nhạc, nhưng ý kiến của thần và Lương Đăng về âm nhạc bất đồng.
Thần xin được phép giao lại nhiệm vụ mà bệ hạ đã giao phó cho thần...” Vì thế, Nhã
nhạc nhà Lê đều do một tay hoạn quan Lương Đăng phỏng theo quy chế nhạc triều
nhà Minh để định đặt, mà hai dàn nhạc tiêu biểu là Đường thượng chi nhạc và Đường hạ
chi nhạc, 8 loại nhạc và 8 loại thanh âm...[20] Sự kiện thứ hai dưới thời Lê, theo Phạm Đình Hổ thì khoảng năm Hồng
Đức (1470) có các
quan đại thần như là ông Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh là bậc học
vấn bác hợp...mới kê cứu âm nhạc nước Tàu, hiệp vào quốc âm ta, đặt ra hai bộ :
Đồng văn và Nhã nhạc. Theo
Phạm Đình Hổ thì bộ Đồng
văn thời chuyên tập âm luật; bộ Nhã nhạc thời chuyên chuộng nhân thanh...nhã
nhạc với tục nhạc không có hổn tạp với nhau...[21] Tác giả không bàn gì thêm về âm luật và nhân
thanh của hai
bộ này. Chỉ biết rằng, Đến năm
Quang Hưng (1578)...bộ Đồng văn và Nhã nhạc, khi nào có lễ tế giao hay lễ triều
hạ gì lớn mới dùng đến, cho nên các con cháu nhà nghề âm nhạc đều thất nghiệp
cả... Theo tác
giả, đến thời kỳ này, có nghĩa là trên 100 năm sau, nhạc lễ thời Hồng Đức đã
thất truyền đi nhiều, đến nỗi mà tấu nhạc
ở chốn triều miếu, thời chỉ là om xòm loạn bậy, không còn thành ra xoang điệu
gì. [22]
Đồng văn Nhã nhạc đi đến chổ suy đồi, dàn nhạc Giáo phường (tục nhạc, đã phục
hưng sau hơn 100 năm bị bài xích) thay thế cho Đồng văn và Nhã nhạc, trong cả
những tế lễ trọng đại của triều đình như lễ Tế giao, Tế miếu và lễ triều hạ. Gs
Trần Văn Khê cho biết, trong Lê triều hội điển, Đồng văn và Nhã nhạc luôn luôn
được nhắc chung với nhau như là một dàn
nhạc vừa có
ca sinh...[23]
Từ thời Lê mạt, khi uy thế của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã vững
mạnh, họ Nguyễn chính thức thành lập một vương quốc riêng, đối lập với Đàng
Ngoài, tách khỏi vua Lê chúa Trịnh.
Thời kỳ các chúa Nguyễn,
âm nhạc trong dinh, phủ đã được quan tâm, nhưng cố nhiên không phải là Nhạc Lễ
theo đúng nghĩa Nhã nhạc. Có thể, ngoài chức năng giải trí còn được sử dụng
trong một số nghi thức, nghi lễ ngoại giao đơn thuần. Nhưng chí ít, cũng phải
đến thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nghe theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc
phong của vua Lê để chính thức lập ra nhà Chúa Nguyễn năm 1630, bắt đầu sự
nghiệp bá vương cho dòng họ này.
Đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Ánh lên
ngôi hoàng đế, Huế trở thành kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, các triều
vua Nguyễn mới đầy đủ tư cách để đặt nhạc lễ chính thức của triều đình. Dưới
thời Gia Long (1802 - 1820) sử liệu không cho biết gì nhiều ngoài 2 đội Tiểu
nam, Tiểu hầu chuyên
trông coi về nhạc và luyện tập múa hát, sau đó
hợp nhất lại thành Việt tương đội vào năm Gia Long thứ 3 (1804). Còn Nhạc lễ
thì mới thấy dưới thời Minh Mạng (1820 - 1840) khi giang sơn xã tắc đã tương
đối ổn định thì việc lễ nghi trong triều đình mới được định đặt lại theo thể
thức, quy chế chính thống của một nhà nước phong kiến.
Trong
khi các đời chúa Nguyễn có tư tưởng Phật
giáo hóa đất
nước, ( như muốn làm ngược trái với Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài đang ra sức Tống
Nho hóa ), thì từ thời Gia Long về sau, các vua Nguyễn lại sử dụng Nho giáo,
triệt để Nho hóa để củng cố địa vị thống trị của dòng họ. Có thể nói, vua Gia Long
và các triều vua sau Gia Long đã đẩy quá trình Tống Nho hóa lên tột đỉnh. Quá trình này bắt đầu từ thời Lý, phát triển mạnh mẽ
vào thời Lê, đến vương triều Nguyễn thì hoàn tất.[24]
Xuất phát từ kinh điển và đạo lý
Tống Nho, do vậy, thiết chế văn hóa của nhà Nguyễn, chỉ riêng trong lĩnh vực
giáo dục (thi cử, chữ viết...), và nghệ thuật ( âm nhạc, mỹ thuật, văn học...),
không thể không bị ràng buộc bởi tư tưởng triết học Trung Hoa cổ.
Trong lĩnh vực âm nhạc, chi phối
bởi quan điểm mỹ học giáo điều cổ đại Trung Hoa : Lễ là cái trật tự, Nhạc là
cái điều hòa; Âm nhạc liên thông với chính sự; nghe nhạc có thể biết được sự
thịnh suy của một nước (Thẩm nhạc dĩ tri chính)..Vì vậy, các triều đại phong
kiến Việt Nam nói chung và triều Nguyễn nói riêng, đã phải rất coi trọng nhạc
lễ cung đình, vì nó là bộ mặt quốc gia, đại diện cho cả một vương triều.
Trong suốt thời kỳ triều Nguyễn
trị vì (1802 - 1954), có thể nói, nhạc lễ cung đình đã được phục hưng và phát
triển rực rỡ chưa từng thấy trong lịch sử âm nhạc cung đình của các triều đại
phong kiến Việt Nam. Mặc dù chỉ là sự tiếp nối, kế thừa âm nhạc cung đình triều
Lê, nhưng triều Nguyễn đã hoàn thiện và phát sinh, phát triển thêm nhiều loại
thể mới, thể hiện ở sự phong phú của các loại dàn nhạc và bài bản.
Sử liệu
cho biết, vua Minh Mạng bàn với Phan Huy Thực, quan Hữu Tham tri bộ Lễ về việc
Nhạc lễ : “Trẫm
thấy là buổi đầu gây
dựng, lễ nhạc còn thiếu, thường muốn sáng chế mà chưa nắm được cốt yếu...Nay tuy nhạc xưa đã bỏ
mất, mà các đồ bát âm còn có thể khảo được. Nên tìm người hiểu âm nhạc, cùng
bọn các ngươi chế tác”. [25]
Qua đấy, chúng ta thấy nhạc xưa thì đã bỏ mất, còn các đồ
bát âm, tức là
các nhạc cụ trong dàn nhạc lễ cung đình của các triều đại trước, thì cũng chỉ có thể khảo được mà thôi. Thế nhưng, tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề lại cho
biết : Năm Gia Long thứ 15 (1816), trong lễ tấn phong Đông cung Thái tử
cho Hoàng tử Đảm, là vua Minh Mạng sau này, đã có nhã nhạc giàn bầy hai bên tả hữu thềm.[26] Như vậy, có gì mâu thuẩn với sử liệu nêu trên không ?
Chúng ta
đã biết, từ năm Gia Long nguyên niên (1802), trong cung đã có 2 đội Tiểu nam,
Tiểu hầu chuyên trách về nhạc và múa hát cung đình, với một biên chế gồm 2 Chánh ca trưởng, 6 Phó ca trưởng và 184
người lính.[27] Tổ chức âm nhạc này không thể không kế thừa truyền thống nghệ
thuật diễn xướng cung đình, đã có nền móng ít ra cũng trên 170 năm, kể từ
thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên với tổ chức Hòa Thanh thự. Chưa kể, cơ chế của đội
Tiểu nam, Tiểu hầu này, có thể là vóc dáng quy chế Nhạc triều của 2 bô Đồng văn
và Nhã nhạc triều Lê...Vậy thì, các tác giả Những đại lễ và vũ khúc của vua
chúa Việt Nam nói là đã có nhã nhạc
giàn bầy hai bên tả hữu thềm trong lễ
tấn phong Đông cung Thái tử vào năm Gia Long thứ 15, tưởng cũng không có gì là
vô căn cứ, nếu hiểu theo nghĩa Nhã nhạc - dàn nhạc. Còn Nhã nhạc - nhạc lễ, thì thật là mới được
định lại dưới thời Minh Mạng như đoạn sử liệu đã nêu trên.
Đến đây,
chúng tôi muốn chia sẻ ý kiến : Có một tên gọi Nhã nhạc để chỉ phần lớn các loại nhạc nghi thức, tế lễ cung
đình. Nhưng
cũng vì thế, mà không có nghĩa toàn bộ nhạc lễ
cung đình đều là
Nhã nhạc.[28]
Một
nhà nghiên cứu âm nhạc cung đình người Triều Tiên (Kim Young-bong) có nêu ra ý
kiến tương tự tại một cuộc hội thảo về Nhã nhạc ở Huế hồi tháng 4 năm1997. Chị
cho rằng, nghĩa rộng của Nhã nhạc, Gagaku, AhAk (tên gọi thể loại này của 3
nước Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên) là bao hàm tất cả âm nhạc trong cung đình;
còn nghĩa hẹp hơn, Nhã nhạc bao gồm chỉ một số loại nhạc chính thức, gắn
với nghi lễ, mà chúng được quyết định bởi cơ cấu, tính chất của dàn nhạc và
nhạc cụ.
Chẳng hạn trong Ga Gaku
(Nhã nhạc Nhật Bản), chủ yếu là nhạc do 2 dàn nhạc trong cung đình là Kangen
(gồm 8 loại nhạc cụ với 16 nhạc công diễn tấu) và Bugaku với 18 nhạc công với
cơ cấu tổ chức thành 2 loại : Togaku (Đường nhạc), Bokkaigaku (Cao ly nhạc)
cùng với múa...
Trong Ahak (Nhã nhạc Triều Tiên) và Nhã nhạc Việt Nam, Kim Young
Bong chỉ nêu ra những loại thể chủ yếu mang tính tương đồng cao trong Nhã nhạc
của hai nước như : Triều Tiên, có Bát âm, múa có Bát dật và 2 dànTung ga, Hon ga; Việt Nam cũng có Bát âm, Bát dật, và 2
dàn Đại
nhạc, Tiểu nhạc...
Vấn đề này, Gs. Tô Ngọc Thanh cũng đã bàn đến trong công trình Tư
liệu Âm nhạc Cung đình Việt Nam, khi đề cập đến tính tương đồng và dị biệt trong Nhã nhạc Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên. Theo
ông, để phục
vụ cho đời sống trong cung đình, còn có một số loại nhạc như Yến nhạc, Nữ nhạc
ở Việt Nam; nhạc giải trí như Togaku, Komagaku, các bài hát Imayo ở Nhật Bản
v.v... Những loại nhạc này cũng là nhạc cung đình, nhưng không được gọi là Nhã
nhạc... [29] Đặc biệt, Giáo sư đã nêu lên những quy định
có tính điển chế, chuẩn mực mà Nhã nhạc được thể chế hoá để thực hiện chức năng
cơ bản là lễ nhạc và nghi thức.
Một trong những chuẩn mực điển hình là “ việc trình diễn Nhã nhạc
được giao cho hai loại dàn nhạc có biên chế và cơ cấu nhạc cụ khác nhau
như Đường
thượng chi nhạc và Đường hạ chi nhạc ở Trung Hoa và Việt Nam;Tungga và Hon’ga ở Triều Tiên”. Dàn nhạc với biên chế nhỏ, nhạc cụ chủ yếu là dây,
hơi ngồi tấu ở trên thềm của cung điện; dàn nhạc biên chế lớn gồm đủ
các chủng loại nhạc cụ có âm lượng lớn như tất lật, biên chung, biên khánh và
đại cổ thì đứng[30] tấu ở dưới thềm. Ở Việt Nam, bộ sử xưa nhất An nam chí lược đã có
ghi lại vấn đề này ngay từ đới Trần qua một ghi chép cuộc đi sứ của Trương Lập Đạo sang An Nam năm
1291: “Đại nhạc tấu vu điện hạ, tế nhạc tấu vu điện thượng”,[31] và chắc là cả Nhã nhạc
- Đại nhạc
- Nhạc Huyền đời
Nguyễn, và kể cảĐại nhạc - Tiểu nhạc cuối thời Nguyễn.
Một
chuẩn mực khác, theo Gs. Tô Ngọc Thanh, trong các nghi lễ và lễ thức cung đình đều có múa theo
những quy định nghiêm
ngặt, được gọi là múa Văn, múa Võ ở Trung Hoa, múa Kinh vĩ lang và Chỉnh đốn
lang ở Việt Nam, Munmu và Mumu ở Triều
Tiên, và có lẽ hai loại múa “Bên Phải” và “Bên Trái” của
Nhật Bản cũng có ý nghĩa tương tự...[32]
Chúng ta biết rằng, Nhã
nhạc của các nước đều tiếp thu từ Trung Hoa. Những cặp từ ngữ bổ sung hoặc đối
lập thường sử dụng trong âm nhạc, nhất là âm nhạc cung đình các nước Á châu,
đều bắt nguồn từ khái niệm Âm - Dương trong nhạc Trung Hoa. Văn - Võ hay Bắc -
Nam, Trống - Mái, Tả - Hữu, Thượng - Hạ...đều mang ý nghĩa là những cặp
đối lập. Vì thế, Kinh vĩ
lang và Chỉnh đốn lang trong âm nhạc cung đình Việt Nam thời nhà Hồ cũng chỉ là một hình
thức của múa Văn - Võ.
Theo
Gs.Trần Văn Khê, trong
nhạc cung đình ở Việt Nam, Trung Quốc và Triều Tiên ngày xưa đều có hai điệu
múa : văn vũ (wen ou)gồm 64 vũ sinh đứng làm 8 hàng 8 người, tay mặt cầm lông
trỉ, tay trái cầm ống thược, loại sáo 3 lổ, và võ vũ (wu ou) gồm có 64 vũ sinh, tay
mặt cầm búa, tay trái đeo khiên. Trong điệu múabugaku (vũ nhạc) có điệu văn trong đó vũ sinh mặc áo tay
rộng, và điệu võ trong đó vũ sinh mặc áo tay hẹp.[33] Dưới triều Nguyễn, điệu múa này được gọi Bát
Dật (8 hàng), được chỉnh đốn lại năm Minh Mệnh nguyên niên (1820) để múa trong
các cuộc tế lễ lớn như Tế giao, Tế miếu v.v...
Ở Nhật Bản, điệu múa Bên Phải - Bên Trái gọi là Bugaku được chia
làm 2 bộ phận, nhưng không sử dụng cặp từ ngữ Văn-Võ, Thượng-Hạ, mà là Tả
(Shaho) và Hữu (Uho) như : Tả phương Đường nhạc và Hữu phương Cao Ly nhạc.[34] Cũng theo Gs. Trần Văn Khê : nhạc bên trái là những bản nhạc có gốc Trung quốc hay là Ấn Độ và gọi chúng là Togaku (Đường nhạc hay nhạc đời Đường) ; nhạc bên mặt là nhạc gốc Triều Tiên và cũng gọi là Komagaku (Cao Ly nhạc).[35]
Như đã đề cập, ở Việt Nam chúng ta, triều Nguyễn đã ra sức
củng cố địa vị của Nho giáo trong đời sống tư tưởng văn hóa. Vì thế, hệ tư
tưởng của nó là nền tảng cho mọi thiết chế nhà nước phong kiến, và đó cũng
chính là môi trường kích hoạt sự phát triển của Nhạc lễ, cũng như Âm nhạc cung
đình nói chung.
Nhạc lễ
cung đình thời kỳ này đã phát triển rất đa dạng với các hệ thống dàn nhạc, loại
nhạc nhằm đáp ứng việc phục vụ cho các nghi thức, tế lễ phong phú nhưng cũng
rất mực cầu kỳ của triều đình. Có thể, vì thế mà tên gọi Nhã nhạc không
còn dùng để chỉ chung cho các loại nhạc lễ cung đình như các triều đại trước.
Khái niệm Nhã nhạc đã trở nên quá chật hẹp để có thể chứa đựng tất cả các loại
hình nghệ thuật trong cung đình thời kỳ này, nhất là dưới thời Minh Mạng, Tự
Đức.
Chúng ta biết, nhạc lễ triều Nguyễn không chỉ là Đại nhạc - Tiểu nhạc như thời đại nhà Trần, cũng không chỉ như Đường thượng chi nhạc - Đường hạ chi nhạc và Đồng văn
- Nhã nhạc các
triều đại nhà Lê...mà là cả một hệ thống dàn nhạc, loại nhạc nghi lễ trong cấu
trúc tổng thể Âm nhạc cung đình. Vì vậy, Nhã nhạc thường chỉ để gọi một bộ phận
của hệ thống các loại dàn nhạc lễ có mặt trong cung đình thời kỳ này, như : Đại nhạc, Tiểu nhạc, Nhã nhạc, Nhạc Huyền, Tế nhạc, Ty chung, Ty
khánh v.v...[36] Những loại dàn nhạc này có sự quy định chức năng, vị trí trong
trình thức diễn tấu ở mỗi cuộc lễ, mỗi bàn bản khác nhau... Cùng với hệ thống
dàn nhạc, là hệ thống các loại nhạc mang tính thể loại đặc thù được phân định
theo tính chất của nghi thức và tế lễ triều đình, mà ở đó, là nơi tập hợp đầy
đủ các loại hình nghệ thuật trình diễn mang tính sân khấu hóa, bao gồm
các ca chương, các vũ điệu và dàn nhạc luân phiên trình tấu và diễn xướng cũng
theo trình thức mà mỗi nghi lễ cụ thể quy định...
Tuy nhiên,
khi so sánh, đối chiếu biên chế các loại dàn nhạc của các thời đại, qua một số
tư liệu lịch sử và các khảo cứu về Âm nhạc cung đình Việt Nam đã công bố,
chúng tôi nhận thấy : Cho dù Nhạc lễ cung đình triều Nguyễn phát
triển phong phú và đa dạng, hoàn chỉnh và quy mô hơn với các hình thức tổ
chức dàn nhạc, bài bản v.v...Nhưng nhìn chung, cốt lõi của chúng (toàn bộ
phần nhạc Lễ : dàn nhạc(Đại nhạc, Tiểu nhạc, Huyền nhạc) - Ca chương - múa Bát dật) vẫn là
thể chế của Nhã nhạc ( tiếp thu từ Trung Hoa ) đã có tự thời Trần, Lê. Thể chế
đó, như đã trình bày ở trên, được biểu hiện bằng những chuẩn mực chung, mà giữa
các nước có Nhã nhạc đều có sự tương đồng...
Từ đầu triều Nguyễn, Khổng giáo là nguồn
nuôi dưỡng trí tuệ và quy phạm đạo đức cho xã hội... “ Nhưng từ nửa sau thế kỷ
XIX, trước cuộc đụng độ đột ngột giữa Việt Nam và Pháp, Khổng giáo đã không còn
giữ được chức năng tinh thần trước kia của nó. Sự giảm thiểu hiệu năng tinh thần
của Khổng giáo là nguyên nhân trực tiếp đưa đến sự khủng hoảng tư tưởng ở Việt
Nam.” [37] Vì vậy, văn hóa cung đình, trong đó có Âm nhạc cung đình lâm vào
tình trạng suy thoái. Các nghi thức tế lễ được giản lược, Nhạc lễ cùng chung số
phận, mà đến giai đoạn cuối triều Nguyễn thì các dàn nhạc và bài bản chỉ còn lại
rất ít. Việc sử dụng âm nhạc trong các dịp lễ lượt cũng rất tùy tiện, không
phân định rạch ròi như xưa. Nhạc cung đình lan tỏa vào dân gian qua các nhạc
công cung đình, nhưng dân gian cũng chỉ tiếp nhận và lưu giữ một số ít những
bài bản, nhạc cụ phù hợp với cơ chế sinh hoạt dân gian.
Tài liệu tham khảo
An Nam Chí lược. Quyển
thủ.Nxb Viện Đại học Huế, 1961
Đại
Việt sử ký toàn thư. Tập 1,2,3, Nxb Văn Hoá -
Thông tin, 2000
Đại Việt sử ký tiền biên.
Nxb Khoa Học Xã Hội - Viện Hán Nôm, 1997
Khâm
định Đại Nam hội điển sử lệ. Quyển 96-99. Nxb Thuận Hoá, 1996
Những
người bạn Cố đô Huế (BAVH).Tập1-6,
Nxb Thuận Hoá, 1998
Triều Nguyễn, những vấn đê lịch sử, tư tưởng và
Văn hóa.
Thông báo Khoa học số 1,2, Chương trình nghiên cứu Triều
Nguyễn. Trường ĐHSP Huế.
Huế court music. Kỷ yếu hội thảo quốc tế về Nhã nhạc triều Nguyễn. Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế,
2004
Trần
Trọng Kim. Việt Nam sử lược . Nxb Văn Hoá- Thông tin, 1999
Nguyễn
Sĩ Giác. Đại Nam điển lệ toát
yếu. Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993
Lê
Văn Siêu. Việt Nam Văn minh sử.
Tập thượng. Nxb Lao Động, 2003
E.
Le Bris. Musique Annamite airs
traditionnels. Extrai du BAVH, Octobre - Novembre, 1922.
Lê Quý Đôn. Phủ
biên tạp lục. Nxb Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn Hoá. SG-1972
Lê Quý Đôn. Vân
đài loại ngữ. Nxb Văn Hoá- Thông tin, 1995
Đào Duy Anh. Việt
Nam Văn hoá sử cương. Nxb Đồng Tháp,
1998
Thái Văn Kiểm. Cố
Đô Huế. Nxb Đà Nẵng,1994
Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề. Những
Đai lễ và Vũ khúc của vua chúa Việt Nam. Nxb
Hoa Lư. Sài Gòn, 1968
Trần Văn Khê. Sơ
lược Âm nhạc truyền thống Việt Nam. ĐH Nghệ thuật Huế 1996
Nguyễn Thuỵ Loan. Lược
sử âm nhạc Việt Nam. Nxb Âm nhạc ,1993
Nguyễn Bình Định. Âm
nhạc Phương Đông. Giaó trình. Nhạc viện Hà Nội
Phạm Duy. Đặc
khảo dân nhạc ở Việt Nam. Nxb Lá Bối, SG, 1972
Nguyễn Viêm. Lịch
sử Âm nhạc cổ truyền, Nxb Viện Nghiên cứu AN, 1996
Dương Quang Thiện. Sử
liệu Âm nhạc Việt Nam . Nxb
Viện Âm nhạc 1995
Dương Bích Hà. Lý
Huế. Nxb Âm nhạc - Viên Âm nhạc 1997
Nguyễn Mạnh Thát. Lịch
sử Âm nhạc Việt Nam . Nxb Tp
HCM, 2001
Trần Kiều Lại Thuỷ. Âm
nhạc cung đình triều Nguyễn. Nxb Thuận Hoá, 1997
Tô Ngọc Thanh. Tư
liệu Âm nhạc cung đình Việt Nam. Nxb Âm nhạc 1999
Kiều Kiến Trung (chủ biên). Âm nhạc Trung Quốc. Nxb Thế Giới,
HN, 2002
Văn Minh Hương. Gagaku và Nhã nhạc. Nxb Thanh Niên.
2003
Thân Văn. Các
phương thức hòa nhạc cung đình Huế. Nxb Thuận Hóa, 2005
Nguyễn Đình Sáng. Khảo
sát Nhạc lễ cung đình Huế.Luận văn ĐH, Trường ĐHNT, 1999
Phan Thuận Thảo. Các
loại hình nghệ thuật biểu diễn cung đình Huế. Luận văn ĐH, Trường ĐH Nghệ thuật Huế,
2001
1 Đỗ Bằng
Đoàn, Đỗ Trọng Huề : Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt
Nam .Nxb Hoa
Lư, Sài Gòn, 1968, tr 442.
[2] Đỗ Bằng Đoàn, Đổ Trọng Huề : Sdd,tr 442.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn : Đại Nam Thực Lục, tập 9, tr. 183 - 184.(xem nội dung cụ
thể ở mục Khái niệm nhã nhạc.)
[4]
Tô Ngọc Thanh : Tư liệu âm nhạc cung đình Việt Nam . Nxb Âm nhạc - Viện Âm nhạc
1999,tr. 36,37.
[5]
Lê Quý Đôn : Vân Đài Loại Ngữ. Nxb Văn Hóa Thông Tin, 1995, tập II, quyển 6,
tr. 139.
[6]
Bình Định : Đề cương giáo trình Lịch sử Âm nhạc Phương Đông. Nhạc viện Hà Nội.
1997
[7]
Bình Định : Tài liệu đã dẫn. Phần Âm nhạc bán đảo Triều Tiên.
[8]
Đại Việt sử ký Toàn thư. Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội-2000. Tập 2, quyển 5,
tr. 316
[9]
Đại Việt sử ký tiền biên .Bản dịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nxb KHXH, 1997,
tr. 513.
[10]
An Nam chí lược. Nxb Viện Đại học Huế-Ủy ban phiên dịch sử liệu VN, 1961, tr.
47-48
[11]
Ngô Thì Sĩ : Đại Việt sử ký tiền biên.Viện Nghiên cứu Hán Nôm.Nxb KHXH,1997,
tr. 453, 454
[12]
Lê Tắc. Sách đã dẫn
[13]
Đại Việt sử ký tiền biên. Sách đã dẫn, tr. 453.
[14]
Đại Việt sử ký tiền biên. Sách đã dẫn. Tr. 435.
[15]
Trần Trọng Kim : Việt Nam Sử Lược. Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1999 tr.106.
[16]
ĐVSK Tiền biên. Tr. 283.
[17]
Lịch sử Âm nhạc Việt Nam, Nxb Tnành phố Hồ Chí Minh, 2001 (tái bản bản in năm
1969)
[18]
Lê Mạnh Thát, Sách đã dẫn, tr. 296.
[19]
Tư liệu Âm nhạc cung đình Việt Nam . Sách đã dẫn, tr. 28.
[20] Đại Việt sử ký Toàn thư. Sách đã dẫn, tập 2, quyển 5,
các trang 530, 531 và 540, 541
[21]
Bản dịch của Đông Châu, trong bài Tồn cổ lục đăng trên tạp chí Nam Phong số
30/1919, tr. 519.
[22]
Bản dịch của Đông Châu, tài liệu đã dẫn, tr. 519.
[23]
Trần Văn Khê, Sơ lược Âm nhạc truyền thống Việt Nam . Chương III. ĐH Nghệ thuật
Huế-1996.
[24]
Theo Trần Khuê trong bài Một cái nhìn về nhà Nguyễn. Thông báo khoa học số 3,
ĐHSP Huế, tr. 35.
[25]
Quốc sử quán triều Nguyễn : Đại Nam Thực Lục, Tập 9, tr. 183 - 184.
[26]
Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề. Sđd tr. 415
[27]
Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề. Sđd tr. 442
[28]
Xin hiểu Nhạc lễ cung đình đang nói chỉ là một thể loại của Âm nhạc cung đình
theo khái niệm đã nêu.
[29]
Tô Ngọc Thanh : Tư liệu âm nhạc cung đình Việt Nam . Sách đã dẫn, trang 36.
[30] Chữ có gạch
chân là do
chúng tôi thêm vào để nhấn mạnh.
[31] Lê Tắc. Sách đã dẫn, tr. 73
[32]
Tô Ngọc Thanh, Sách đã dẫn, tr. 37.
[33]
Trần Văn Khê : Thử tìm vài nguyên tắc trong cách tạo từ ngữ về âm nhạc
trong các nước Á châu. Tập san Khoa Học Xã Hội (của Việt kiều ở Pháp) số 4,
tháng 4/1978. Tr. 78.
[34]
Bình Định. Tài liệu đã dẫn và Văn Minh Hương trong Gagaku và Nhã nhạc, Nxb TN,
2003
[35] Trần Văn Khê. Tài liệu đã dẫn, tr. 79.
[36]
Xem thêm: Bùi Ngọc Phúc. Các loại dàn nhạc cung đình triều Nguyễn. NCKHCN
cấp Cơ sở, ĐHNT Huế-2006











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét