Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Tiếng kèn của núi và tiếng vọng của vẻ đẹp nữ tính

Tiếng kèn của núi và tiếng vọng 
của vẻ đẹp nữ tính  
Vẻ đẹp nữ tính là chất men say đắm lòng người trong văn học Nhật Bản từ nhiều thế kỷ. Từ hợp tuyển thơ ca TK VIII có tên Vạn diệp tập đến tập thơ gần đây như Ngày kỷ niệm Xalát của Tawara, vô số tâm hồn phụ nữ Phù Tang hiện ra với ta, trong hạnh phúc và đau khổ, trong ghen tuông và độ lượng, trong bình an và sóng gió…Và trên chiếc gương soi của họ ta nhìn thấy một nữ tính vĩnh cửu” (1). Đó là cái đẹp mềm mại, nữ tính, cái đẹp của tâm hồn nhạy cảm không chỉ có ở phái đẹp mà còn biểu hiện ra ngoài thiên nhiên thành đường nét mềm mại của sự vật. Bước sang thời đại làn sóng mưa Âu, gió Mỹ từng làm nhiều nhà văn trẻ ngã lòng, nhưng Yasunari Kawabata, người lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp, vẫn tin tưởng rằng “nền văn chương phương Đông, nhất là kinh Phật là nền văn chương vĩ đại nhất của thế giới… Tôi muốn viết một tác phẩm tên là Bài ca phương Đông (Tohowata), đó sẽ là bài ca tươi đẹp của tôi… Tôi có thể chết trước khi bài ca đó thành tựu nhưng hãy biết rằng tôi đã dự trù cả một chương trình trong tâm trí của mình”(2). Y.Kawabata mang ân tình sâu nặng và duyên nợ với cái đẹp. Sự khám phá và ngợi ca cái đẹp của thế gian là đóng góp không nhỏ của Y.Kawabata đối với nền văn học nghệ thuật Nhật Bản.
Tiếng rền của núi là tiếng vọng của những giá trị văn hóa truyền thống Nhật Bản từ những trang văn tài hoa của người nghệ sĩ nặng lòng với cái đẹp. Sống hòa hợp với thiên nhiên, các nhân vật trong tác phẩm như những đóa hoa dạt dào một vẻ đẹp nữ tính, bất chấp thực tại vẫn còn nhiều gian truân. Vẻ đẹp nữ tính trong Tiếng rền của núi được thể hiện rõ nhất qua hai nhân vật Singô và Kikucô.
Vẻ đẹp nữ tính trong tác phẩm được Y.Kawabata chú ý miêu tả trước hết ở vẻ đẹp ngoại hình. Là con út trong một gia đình đông anh em, Kikucô được lớn lên trong sự chiều chuộng của gia đình. Đến lúc về nhà chồng khi tuổi đời còn rất trẻ, nàng vẫn giữ được dáng vẻ của một thiếu nữ mới lớn và không ngừng cao lên ngay cả khi nàng đã trở thành thiếu phụ: “Từ hồi về đây, chiều cao của con vẫn tiếp tục tăng lên chút ít, song gần đây nó bỗng tăng vọt lên. Anh Suychi con rất lấy làm ngạc nhiên đấy ạ… Singô cảm thấy một cái gì đó thật tươi mát và tốt đẹp trong sự phát triển khó giải thích của con dâu mình. Không có lẽ cô đã cao lên đáng kể đến mức Suychi nhận ra được trong những lúc ôm cô trong tay?”. Và mỗi cử chỉ của nàng đều toát lên vẻ đẹp tinh tế một cách tự nhiên, chứa đầy biểu cảm: “Trong điệu bộ ngúng nguẩy đôi vai của Kikucô, Singô nhận thấy một vẻ đẹp gì đó rất đáng yêu thoáng một nét đỏm dáng ngây thơ, trong trắng”. Kikucô luôn trinh bạch và trong sáng dù Suychi không cảm nhận được vẻ đẹp thanh khiết của cô, vẻ đẹp ngây thơ ấy cần một chỗ dựa vững vàng nhưng bên một người chồng vô cảm, bờ vai ấy trở nên yếu đuối vô cùng. Khi người cha chồng Singô khuyên vợ chồng cô ra ở riêng, nàng đã để lộ ra nỗi cô đơn khủng khiếp nếu phải sống chỉ có hai vợ chồng: “Dường như Kikucô lo sợ thực sự vì đôi vai cô cứ run lên”. Thân hình Kikucô như một tuyệt tác mà tạo hóa dày công sáng tạo, mỗi cử chỉ của nàng là đường nét thể hiện nghệ thuật của tác phẩm ấy. Cảm giác tươi mát và tốt đẹp mà Singô cảm nhận được ở nàng là cảm giác con người đang chiêm ngưỡng một đóa hoa ngát hương tự ngàn đời.
Vẻ đẹp ngây thơ của Kikucô vẫn còn phảng phất trên gương mặt “còn mang rõ dấu ấn của tuổi thơ trong trắng” và khuôn mặt ấy mang vẻ đẹp tinh khôi của người con gái mới lớn: “Khuôn mặt trắng xanh tinh tế của cô – khuôn mặt còn mang vẻ non dại của một đứ con út, được lớn lên giữa sự nâng niu chiều chuộng của gia đình”. Sắc diện tái xanh phủ trên khuôn mặt ngây thơ của Kikucô cho thấy những nỗi ưu tư sâu thẳm trong tâm hồn nàng. Vẻ đẹp thánh thiện của nàng xa lạ với cuộc đời ô trọc chung quanh nàng và Singô đau khổ khi vẻ đẹp ấy lại bị lãng quên ngay dưới mái nhà ông: “Đường nét của chiếc cằm và cái cổ thanh tú của cô trông thật tinh khiết và đẹp đẽ. Vẻ tươi đẹp như vậy không phải thế hệ nào cũng sinh ra được”.
Vẻ đẹp trong sáng của Kikucô lan tỏa một làn hương trìu mến đối với những người trong gia đình Ôgata. Cô như ngọn lửa tỏa ánh sáng từ trái tim trinh bạch ngây thơ xua tan giá lạnh trong ngôi nhà Ôgata. Mối thiện cảm của gia đình dành cho nàng khiến Suychi cảm thấy kỳ lạ: “Hình như tất thảy những ai sống trong nhà này đều chú ý đến Kikucô thì phải”. Và vẻ đẹp trinh bạch của Kikucô thậm chí còn chinh phục và khơi dậy trong Âycô, một người từng phải lòng Suychi, sự cảm thông và ý muốn bảo vệ hạnh phúc cho Kikucô: “Ôi không hiểu nổi Suychi - cô tuyên bố - vợ đẹp như thế! Ngài có biết không, thấy anh ta sa đà với ả kia tôi cũng khó chịu, nhưng không khi nào tôi cảm thấy ghen với Kikucô cho dù cô ấy có được Suychi yêu chết mê chết mệt đi chăng nữa!... Kikucô là một người vợ tuyệt vời”.
Sự hiện diện của người con dâu trẻ Kikucô là sự trở lại những giấc mơ của Singô về người chị gái của Yaxucô giữa cõi đời, người phụ nữ lý tưởng của Singô, được Singô nhắc đến ở những dòng hoài niệm. Đó là hình ảnh của người thiếu nữ mang một vẻ đẹp thuần khiết, vẻ đẹp đã thuộc về thế giới thần tiên: “Chị ấy xinh đẹp đến nỗi không ai ngờ được là hai chị em cùng một mẹ”. Qua những dòng hoài niệm của Singô, hình ảnh người chị gái xinh đẹp của Yaxucô như gieo vào lòng người một nỗi nhớ khôn nguôi: “Ngay giờ đây ta vẫn còn thấy rõ bác ấy mặc kimônô đen và mái tóc xõa xuống trán, như đang ở trước mắt vậy…Sáng sáng bác ấy dậy từ lúc trời còn chưa tỏ để dọn tuyết trên các dãy chậu hoa. Ở Sinanô trời rất lạnh và miệng bác ấy thở ra hơi trắng…Thứ hơi trắng ấy từng phảng phất mùi hương tươi mát của hoa trinh nữ”.
Thể hiện cái đẹp nữ tính của con người trong tác phẩm, Y.Kawabata không chỉ miêu tả vẻ đẹp bên ngoài mà ông còn chú ý hướng tới đời sống nội tâm phong phú, chiều sâu tâm hồn của mỗi nhân vật. Trong Tiếng rền của núi, vẻ đẹp tâm hồn ấy được toát lên từ tình cảm yêu thương, sự vị tha, nhân hậu trong mối quan hệ giữa Kikucô với các thành viên trong gia đình Ôgata.
Tác giả tập trung vào mối quan hệ giữa Kikucô và người cha chồng Singô, mối quan hệ thể hiện sự yêu thương và đồng cảm sâu sắc giữa hai thế hệ. Đối với Singô, cô con dâu Kikucô không chỉ là đứa con hiếu thuận, niềm an ủi duy nhất của ông bà lúc xế chiều vẫn còn canh cánh về hạnh phúc của con cái, mà còn là một người bạn tâm giao.
Kikucô là nơi ông tìm thấy sự đồng cảm và có thể chia sẻ với cô những điều ông không bao giờ hy vọng vợ con ông hiểu được: “Trong suốt cuộc đời Singô chưa có người đàn bà nào yêu thương ông đến mức muốn để tâm đến tất cả những gì khêu gợi sự chú ý của ông”. Cũng chỉ có Kikucô mới có thể chia sẻ cùng ông niềm vui khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật: “Chúng tôi vừa đi xem hòn đá của Akicô - Singô nói với con dâu - bài thơ trên đó được tạt theo nét chữ của nhà thơ và mang tựa đề là Sakiamuni. Ông thích ôn lại những kỷ niệm xưa và bàn về nghệ thuật với Kikucô như hai người bạn tâm giao. Họ cùng nhau trò chuyện về những chiếc mặt nạ nô, về trà đạo và nói về những dự định trong tương lai của Kikucô.
Ở con người Kikucô là sự hội tụ những vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống Nhật Bản. Luôn biết sống vì mọi người, tránh cho bố mẹ chồng nỗi buồn về Suychi, nên cô vẫn vui vẻ đón bố về sau ngày làm việc, dẫu cõi lòng cô trống vắng khi mỗi buổi chiều tan sở không thấy Suychi về cùng ông. Kikucô không hỏi nhưng Singô hiểu không lúc nào cô quên phận sự của một người vợ, vẫn lặng lẽ chờ chồng trong những bữa cơm gia đình: “Kikucô không để lộ tình cảm của mình, mà cô không hỏi Suychi đi đâu… Những lời của cô con dâu nói thực đúng chỗ, đã tránh cho ông cái khó xử chỉ vì mua có ba xuất ăn. Kikucô quả là nhạy cảm và khéo léo. Có thể là cô đã nghĩ đến cách khác để dành phần cho Suychi như cô sẽ không ăn, hoặc ăn chung một phần với bà Yaxucô…”. Cách ứng xử khéo léo của Kikucô không chỉ xuất phát từ cái tâm trong sáng của người vợ trẻ mà còn là biểu hiện của một tâm hồn nhạy cảm đầy nữ tính. Không chỉ Singô luôn dành những mối quan tâm, những thiện cảm cho người con dâu mà bà Yaxucô cũng luôn dành cho Kikucô mối thiện cảm lớn lao. Bà nói với chồng: “Ông có ảnh hưởng lớn đối với con dâu và điều đó thật đáng quý”.
Với Suychi, người chồng khiến Kikucô phải chịu bao đau khổ nhưng cô vẫn hết lòng bao dung đối với anh. Cô âm thầm dấu kín sự ghen tuông để giữ hòa khí trong gia đình, luôn cảm thông và tha thứ cho chồng: “Dù thế nào thì Kikucô cũng là một người vợ tốt, cô đã cư xử đầy thiện chí với người chồng say rượu từ chỗ tình nhân của anh ta trở về… Kikucô, nạn nhân của Suychi, lại chính là người đã tha thứ cho lỗi lầm của anh ta. Cô mới hai mươi tuổi và sẽ còn phải tha thứ như thế đến bao giờ?”.
Kikucô cũng đã phản đối quyết liệt chuyện ngoại tình của chồng qua việc từ chối sinh con. Đó là sự đau đớn tột cùng của người phụ nữ khi phải từ bỏ đi một phần cơ thể của mình. Nhưng dường như yêu thương là bản năng của Kikucô và khi cảm nhận được nỗi cô đơn của chồng, cô cảm thấy cần phải bù đắp và hy sinh cho anh thật nhiều. Tình yêu thương, sự vị tha của Kikucô khiến cho Singô tự hỏi: “Kể từ khi con trai ông có nhân tình, quan hệ vợ chồng của anh ta trở nên chín muồi hơn. Còn khi Kikucô đi phá thai, thì nó lại trở nên nồng nàn và âu yếm… còn trong đêm mà Suychi say khướt bò về thì cô lại cao thượng hơn bất cứ lúc nào. Kikucô có đau khổ thực không, hay chỉ tại cô ngốc nghếch? Cô có tính đến tất cả những chuyện ấy không. Hay cô chẳng nhận thấy gì và để mặc cho sóng gió của cuộc đời đưa đẩy mà vẫn hiến dâng bản thân mình với tất cả sự ngây thơ, cho những phép lạ của tự nhiên?... Vài ngày sau cô đã trở lại và lại càng gắn bó với Suychi. Dường như cô cầu xin sự tha thứ cho một tội lỗi nào đó, dường như cô đang ra sức chữa lành một vết thương”.
Kikucô cảm thông với người chị chồng gặp bất hạnh trong hôn nhân, chia sẻ gánh nặng chăm sóc các cháu cùng chị, luôn biết quan tâm và hy sinh cho mọi người: “Kikucô cũng mua cho mình một chiếc lược y như vậy, chỉ khác màu thôi. Nhưng mà Phuxacô thích quá nên Kikucô đã tặng cho nó. Chắc là con bé muốn vợ chồng nó có lược giống nhau và ai mà biết được cái lược đó có ý nghĩa thế nào đối với nó!”. Như một sứ giả của tình yêu thương, Kikucô luôn coi việc phụng sự cho những người mình yêu thương là lẽ sống. Dù gặp nhiều khó khăn trắc trở trong hôn nhân nhưng cô không quay lưng với gia đình Ôgata. Cô cảm thông sâu sắc tấm lòng của người bố chồng Singô và tình cảm cô dành cho ông cao hơn là trách nhiệm, bổn phận của người con dâu. Đó là sự đồng cảm của những tấm lòng đầy tình thương giữa hai thế hệ.
Singô là nhân vật được tác giả dành nhiều tâm huyết nhất trong Tiếng rền của núi. Qua những dòng độc thoại, thế giới cảm xúc của nhân vật được mở ra đối lập với vẻ ưu tư của một người đã bước qua tuổi xế chiều. Singô rất nhạy cảm trước sự trôi chảy của thời gian, và đặc biệt từ khi ông nghe được những âm thanh tiếng rền của núi thì thời gian trở thành nỗi ám ảnh trong ông. Từ việc cảm nhận thấy tiếng ve râm ran khác thường vào một đêm trăng sáng thì tiếp đó ông cũng nghe được tiếng rền của núi: “Một đêm trăng sáng. Từ ngoài vườn vẳng vào tiếng ve sầu, Singô không ngờ rằng tiếng ve có thể râm ran đến như vậy. Phải chăng là chúng đang ngủ mơ những cơn ác mộng, ông thầm nghĩ…Sau đó ông nghe thấy tiếng rền của núi…Thỉnh thoảng ban đêm tiếng ầm ào của sóng biển cũng vang vọng đến tận chốn thâm sơn cùng cốc này. Singô bỗng chợt nghĩ hay là ông vừa nghe tiếng biển. Nhưng không - đây rõ ràng là tiếng núi. Nó giống như tiếng gió xa, nhưng có thể ví với tiếng rền trầm vang từ sâu trong lòng đất vọng ra. Singô cảm thấy như đó là tiếng rền từ trong chính bản thân mình hoặc bị ù tai, vì thế ông lắc mạnh đầu. Tiếng rền biến mất. Đến lúc ấy Singô mới cảm thấy sợ. Biết đâu đó chẳng là dấu hiệu thần chết sắp gọi ông”.
Y.Kaxabata đã đặt nhân vật của mình vào khoảng không gian yên tĩnh để nhân vật nghe được mọi âm thanh từ cuộc sống và cũng lắng nghe được tiếng của lòng mình. Cũng chính từ đêm ấy trở đi, Singô luôn chú ý đến mọi âm thanh của cuộc sống, từ tiếng rền của núi cho đến tiếng chim ó ở gần quả đồi nhà mình. Qua đó, nhân vật bộc lộ những suy nghĩ, nỗi niềm của bản thân, đặc biệt là trong những đêm vắng.
Nếu Kikucô mang tâm hồn trẻ trung của một thiếu phụ, nhạy cảm trước những cái đẹp mong manh, với những nỗi đau cuộc đời thì Singô lại mang nặng trái tim suy tư của một người già. Cả Singô và Kikucô đều có chung một tâm hồn đồng cảm, họ cùng nhau đàm đạo về nghệ thuật và lắng nghe được những âm thanh của cuộc sống, cảm nhận được âm thanh của đất trời. Một vẻ đẹp nữ tính, mềm mại ẩn chứa trong dáng vẻ con người, trong tâm hồn phong phú và đa cảm.
Cái đẹp nữ tính sang trọng và tinh tế từ cội nguồn của áng văn chương mọi thời đại, Truyện Genji, đã có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền văn học Nhật Bản. Vẻ đẹp nữ tính ấy ngàn năm sau vẫn nồng nàn trong những tác phẩm của Y. Kawabata và là một trong những đặc điểm nổi bật của quan niệm về cái đẹp trong Tiếng rền của núi. Nguồn mạch nữ tính và sự mềm mại trong Tiếng rền của núi như đã hé mở cho người đọc cánh cửa tâm hồn của người dân Phù Tang, đó là tình yêu cái đẹp kín đáo và sâu sắc.
1. Nhật Chiêu, Nhật Bản trong chiếc gương soi, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999.
2. Các trích dẫn trong bài đều dẫn từ Yasuanari Kawabata, Tuyển tập tác phẩm, Nxb Lao động, Hà Nội, 2005.
Lê Thị Bích Thủ
 Nguồn: Tạp chí VHNT 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...