Một nhà làm văn học mà khi
còn sống cũng như khi chết bao quanh ông nhiều huyền thoại, giai thoại nhất.
Người đó chính là Bùi Giáng.
Bùi Giáng là một nhà thơ, một
dịch giả,một triết gia, nhà nghiên cứu văn học. Trong địa hạt nào ông cũng lẫy
lừng. Các bút hiệu khác của ông: Trung Niên Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi văn Bốn,
Vân Mồng. Ông nổi tiếng khi xuất bản tập thơ” Mưa Nguồn” năm 1962.
Bùi Giáng sinh ngày 17/12/1926 tại Thanh Châu, xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.
Cha của ông là Bùi Thuyên
thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi tại Quảng Nam, vợ mất sớm nên ông tục huyền với
bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con của Bùi Thuyên và Huỳnh Thị Kiền.
Bắt đầu đi học tại làng
Thanh Châu, học tiểu học tại trường Bảo An
Trung học tại trường Thuận
Hóa Huế. Năm 1945 ông đậu bằng Thành Chung. 1950 ông đậu bằng tú tài I.
1952 ông đậu bằng tú tài II. ông vào sài Gòn ghi danh đại học Văn Khoa. Tuy
nhiên theo bà Thụy Khuê sau khi nhìn danh sách giáo sư giảng dạy ông quyết định
không đi học và cũng chấm dứt việc học tại đây. Ông bắt đầu viết khảo luận,
sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục tại Sài Gòn.
1965 nhà bị cháy, tất cả các
bản thảo cũng như sách vở đều bị thêu hủy.
1969 ông bắt đầu điên “rực rỡ”
(chữ của Bùi Giáng). Sau đó ông lang thang du hành lục tỉnh (cũng chữ của Bùi
Giáng) trong đó có Long Xuyên và Châu Đốc.
1971 ông trở lại sống ở Sài
Gòn. Ông mất lúc 2 giờ chiều ngày 7/10/1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy.
Sau những năm tháng “sống điên rồ lừng lẩy” và chết “vẻ vang” (chữ của Bùi
Giáng.)
Ông để lại một kho tàng sách
vở:
về thơ: 15 tập
về nhận định 4 tập
về Giảng Luận 4 tập
về triết học 4 tập.
về tạp văn 4 tập
Với chừng đó sách vở đáng khẳng
định con người tài hoa của ông. Trong vòng hai năm 1962 - 1963 ông xuất bản
6 tập thơ và 3 quyển triết học. Đó là một thành tích kỷ lục, với một thời gian
ngắn mà ông xuất bản được 9 tác phẩm đều nặng ký. Ta nên nhớ một điều bệnh điên
đã chiếm hầu hết thời gian sau nầy của ông, trong khi điên nhảy múa ngoài đường
phố ông không sáng tác được, thế mà khi tỉnh ông ngồi vào bàn, viết miệt mài.
Ông mê đọc sách, chính điều nầy đã tạo cho ông một kiến thức sâu rộng. Ông là một
người có năng khiếu về sinh ngữ, ông biết nhiều thứ tiếng, những tác phẩm do
ông dịch thuật rất sâu sắc từ văn chương đến triết học. Lúc đầu những học giả
đánh giá ông chịu ảnh hưởng của những triết gia tây phương, nhưng khi nghiên cứu
kỹ ông cũng có những ảnh hưởng của Phật và Lão Trang rải rác trong tác phẩm văn
chương của ông.
Ông là người cam chịu những
khổ đau, vợ con mất trong một tại nạn khủng khiếp, vì vậy theo Khiêm Lê Trung
cho rằng đối diện với cái chết ấy ông trở thành nạn nhân của bi kịch định mệnh
khắc nghiệt. Nó là vết thương đục khoét tâm hồn ông biến ông thành kẻ lưu đày
trong chính số kiếp của mình. Khi đọc Kiều, ông cảm thấy gần gũi với Nguyễn Du,
đồng cảm với Nguyễn Du. Ông xem những nghịch cảnh éo le của Kiều, truân chuyên
của Kiều chính là cái khổ đau mà chính ông gánh chịu. Từ những suy nghĩ, những
khổ đau ngấm ngầm đục khoét tâm hồn ông biến ông trở thành một người điên “rực
rỡ” (chữ của ông hay dùng). Trong văn chương Việt Nam ông rất tôn sùng Nguyễn
Du và Huy Cận, thế nhưng đọc thơ ông ta không tìm thấy hai thi sĩ nầy ảnh hưởng
tới thơ ông.
Hầu hết dân Sài Gòn ai cũng
biết ông. Một người đàn ông đứng tuổi ăn mặc xốc xếch diêm dúa, nhảy múa tưng bừng(cũng
chữ của ông thường dùng) trên đường phố Sài Gòn. Thân người ốm, nhỏ con nhưng
có đôi mắt rực sáng. Nhà thơ Tường Linh nói với chúng tôi rằng ông trong
lúc điên, đang nhảy múa. Muốn cho ông tĩnh lại ghé vào tai ông nói một câu tiếng
Tây hay tiếng Anh sai, trật lất, thì ông tỉnh lại ngay. Kêu người đó lại
gần chỉnh ngay, nói như thế nầy mới đúng, nói trật chúng cười. Có lẽ giai thoại
về ông nhiều vô kể. Có cái người ta mục kích, cũng có cái người ta thấy ông
khùng điên như vậy nên thêu dệt thêm, thêm mắm dặm muối cho vui. Tất cả đều tạo
quanh người ông những giai thoại rất dễ thương và cũng rất sâu sắc.
Ông thích đọc kiếm hiệp vì vậy
ông dịch tập kiếm hiệp nhan đề tôi còn nhớ mang máng là “ Phiên Kiếm Điêu
Linh”(lâu quá không biết có đúng không), Đọc kiếm hiệp của ông dịch, thật tuyệt
vời, chữ nghĩa của ông dùng bay bướm, hấp dẫn. Trên địa hạt nầy có lẽ ông là
người dịch kiếm hiệp hay nhất từ trước tới nay. Song song với dịch thuật ông
còn viết về triết học. Văn chương của ông một cõi riêng, ngôn ngữ của ông một
cõi riêng, dưới mắt ông tất cả đều “chơi thôi mà” chữ ông thường dùng nhất.
Vì vậy tất cả mọi địa hạt ông đều giỡn mà những người đọc nghiêm chỉnh không chịu được. Ngay cả bút hiệu ông cũng dùng những từ nói lái của quê hương Quảng Nam thường dùngn Bùi Giáng tức là Bàn Dúi. Ông đùa giỡn với thi ca, với triết học, với dịch thuật, với nhận định văn học và ngay cả cuộc đời của ông cũng vậy. Ông giỡn một cách dễ thương và không từ nan một chỗ nào. “Thi sĩ sinh ra giữa cỏ cây và sẽ chết đi giữa cỏ cây li kỳ gay cấn”. Một câu tưởng chừng nghiêm chỉnh, nhưng cuối câu cũng cà khịa một chút cho vui. Đọc ông ta thấy văn phong của ông không giống ai, một chỗ đứng riêng biệt mà người đọc nhận ra ông ngay.
Vì vậy tất cả mọi địa hạt ông đều giỡn mà những người đọc nghiêm chỉnh không chịu được. Ngay cả bút hiệu ông cũng dùng những từ nói lái của quê hương Quảng Nam thường dùngn Bùi Giáng tức là Bàn Dúi. Ông đùa giỡn với thi ca, với triết học, với dịch thuật, với nhận định văn học và ngay cả cuộc đời của ông cũng vậy. Ông giỡn một cách dễ thương và không từ nan một chỗ nào. “Thi sĩ sinh ra giữa cỏ cây và sẽ chết đi giữa cỏ cây li kỳ gay cấn”. Một câu tưởng chừng nghiêm chỉnh, nhưng cuối câu cũng cà khịa một chút cho vui. Đọc ông ta thấy văn phong của ông không giống ai, một chỗ đứng riêng biệt mà người đọc nhận ra ông ngay.
Thế nhưng cuối cùng nói về
Bùi Giáng, chúng ta phải đề cập tới thơ của ông. Trong bài viết của Thụy Khuê:
“Ông Bùi Giáng sống tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng thơ, ông cả đời lục bát. Tại
sao lục bát? bởi vì đối với Bùi Giáng;”Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn
nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển, ba bảy sông hồ”. Thật tình Bùi Giáng
cũng có làm thơ nhiều thể loại, nhưng không nhiều lắm. Lục bát là chính và hầu
hết thơ của ông đều làm theo thể lục bát.
Ông có nhiều câu thơ xuất thần,
lên đồng cõi vô thức, vô thường (lời của Hiền Nguyễn). Hay không chịu được.
Mang một ấn tượng sâu lắng, một ý thơ vô cùng cao siêu:
Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất
xa
ta về rũ áo mù sa
Trút quần phong nhụy cho tà
huy bay
Thanh Tâm Tuyền nói về Bùi
Giáng với Mai Thảo trong tòa sạn báo Văn: “..Ngủ ra thơ. Thở ra thơ. Đi
ra thơ. Đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ.” Nói thế để biết rằng,
Bùi Giáng làm thơ một cách dễ dàng như lấy đồ trong túi ra. Có nhiều người bỏ công
ra tìm hiểu thơ Bùi Giáng, nhưng rốt cuộc không mang tới kết quả. Ta hãy đọc
ông viết về thơ ông: “Thơ tôi làm (…) chỉ là cách dìu ba đào về chân trời khác.
Đi vào giữa trung tâm báo động một lúc thì lập tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá
vòng vây áp bức. Ta gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần
gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi (…) Tôi ra bờ sông nằm ngủ
khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ
đó vẫn bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao. (tài liệu Bùi Vĩnh Phúc) Viết
như vậy đố ai hiểu được, thế nhưng ta cảm được những lý do trong trạng thái bất
bình thường đã khiến ông làm thơ. sống với thơ. Và chỉ có thơ mới giải quyết những
vấn đề nội tâm của ông:
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên
màu ấy không?
Ta đi gửi lại đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương
mù.
Một tiên đoán huyền diệu, vầng
trăng ông gửi lại cho đời vẫn nguyên màu. Đôi dòng ông gửi lại cho hậu thế vẫn
còn vang dội. Chỉ có thân xác ông đã tiêu diêu theo mây theo khói. Nhưng với
ông hề chi, miễn khi còn sống vui là trên hết: Sống lẫy lừng, chết vẻ vang. Bên
ngoài ta thấy ông thật tội nghiệp. Lang thang nhảy múa, áo quần diêm dúa hôi
hám, thế nhưng nội tâm của ông trong sáng, hàm chứa một vũ trụ cực kỳ sâu lắng.
Ông an nhiên tự tai như một tiên ông, ông hạnh phúc với cái điên của mình đang
có. Ông nhìn cuộc đời như một giấc mộng dài, giữa hai bờ sinh tử chẳng có một lằn
ranh:
Bây giờ riêng đối diện tôi
Trịnh Công Sơn lấy câu thơ nầy
trong một tác phẩm của ông. Thơ ông đa dạng, mang nhiều triết lý, nhiều ẩn dụ,
đôi lúc ngây ngô, đôi lúc trần tục, làm cho người đọc cảm thấy bất ổn khi đọc
vì nó nửa hư nửa thật, nửa đùa nửa nghiêm túc. Chính như vậy mới tạo nên cõi
thơ riêng của Bùi Giáng, ông không giống ai mà cũng không có ai giống ông. Thơ
ông như phiêu bồng trong cõi hư vô, như huyền ảo và mộng mị như người mộng du.
Ông có một lối thơ bình di nhưng sâu sắc, chân thật nhưng rất lung linh. Lối
thơ nầy người ta cho rằng thơ điên, thế nhưng ngẫm nghĩ đôi khi ta phải giật
mình vì nó cao siêu và thanh thoát:
Em vui vô tận thiên thần
Anh buồn vô lượng bất thần
trở cơn
Ông là một hiện tượng lớn của
thời thập niên 60 của thế kỷ trước, cùng với Trinh Công Sơn và Phạm công Thiện.
Nhưng ông khác với hai người kia ở chổ là khi còn sống cũng như khị ông chết tất
cả các huyền thoại, các giai thoại bao quanh ông nhiều vô kể. Có cái hư có cái
thật, cái nào cũng có sự thêm thắt, biến câu chuyện trở nên duyên dáng, mặn
mòi. Cho nên xung quanh cuộc đời ông, sự nghiệp ông còn rất nhiều chuyện thật
giả lẫn lộn, đánh vào sự tò mò của độc giả (theo Hiền Nguyễn) vì thế chuyện về
ông chưa thể chấm dứt. Tất cả đều mang một chủ đích ca tụng sự thông minh, bốp
chát lanh lẹ, ứng biến nhanh chóng mà chỉ có người tài trí mới hành xử một cách
ngoạn mục như vậy. Nói tới Bùi Giáng bao giờ cũng đề cập tới những giai thoại
chính người kể tận mắt nghe thấy hay được nghe người ta kể lại. Trước tiên là
vui, sau đó là khâm phục và cuối cùng là cười xòa. Lợi dụng cái “điên” của
ông mà người ta nghĩ ra đủ thứ về ông. Chung quy cũng chỉ “vui thôi mà” như lời
của ông thường nói. Với ông cuộc đời chẳng có chi là quan trọng cho nên lấy cái
vui giải quyết mọi vấn đề.
Bùi Giáng là nhà thơ của các
nhà thơ. Ông mang một tâm trạng khác thường nửa điên nửa tỉnh. Ông rong chơi
cùng khắp bằng đôi chân trần, mang vóc dáng điên khùng nhưng có một trái tim
bao dung, có một trí óc thông minh. Ông cũng mang một tâm hồn lãng mạn, nhân
văn sâu sắc (chữ dùng của Khánh Huyền). Những yếu tố nầy đã tạo nên một Bùi
Giáng mà người đọc ngưỡng mộ và khâm phục.
Nói về ông một câu thì thiếu,
nhưng ngàn câu vẫn không đủ. Ca tụng ông những lời hoa mỹ cũng bằng thừa, vì
chính con người tài hoa của ông đã khỏa lấp những từ ngữ tầm thường. Ông có một
chỗ đứng trang trọng không những trong lòng những người yêu văn chương mà ông
còn đứng vững chắc trong lòng dân tộc. Ông mang tầm vóc lớn trong thi ca, trong
triết học, trong dịch thuật, để lại một kho tàng chữ nghĩa cho hậu thế. Ông biến
ngôn ngữ trở thành một trò chơi trí tuệ, vượt qua lằn ranh hiện đại để tiến tới
hậu hiện đại, bằng cái nhìn thông thoáng của một thi nhân.
Trong thời gian hạn hẹp của
bài nói chuyện không cho phép tôi dài dòng thêm về ông và tôi cũng cảm thấy vừa
đủ khi giới thiệu về ông. Trước khi dứt lời xin mượn câu thơ của ông “Chào
nguyên xuân”:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường
phía sau.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét