Cách tân ngôn từ về văn bản trong thơ mới
|
Thơ Trung đại cùng những khắt khe trong mỗi thể loại như thất
ngôn bát cú Đường luật, thất ngôn tứ tuyệt, cổ phong... đều có số câu, số chữ,
cách hiệp vần, gieo vần, ngắt nhịp được quy định sẵn. Và các nhà thơ chỉ việc
làm theo thể loại mình đã chọn, tức là gò bó câu thơ, bài thơ vào đó, như trong
bài Bánh trôi nước được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt.
Thân
em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy
nổi ba chìm với nước non
Rắn
nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà
em vẫn giữ tấm lòng son
(Hồ
Xuân Hương)
Số lượng chữ
trong câu đã được quy định sẵn. Ý tứ nội dung cũng được gói gọn trong đó.
Riêng Thơ Mới
với lối thể hiện mới, phóng khoáng hơn, tự do hơn và thoải mái bày tỏ cảm xúc
cũng như tâm trạng mình hơn, mang tới cho người đọc một luồng sinh khí mới mẻ hẳn.
Bởi giọng điệu thơ lúc này là giọng điệu của lời nói hằng ngày. Nói như Mã
Giang Lân “Bài thơ có thể được hình thành nhờ một âm thanh vang dội tới, một
màu sắc gây ấn tượng, một kỷ niệm thức dậy, một biến cố trong cuộc đời, một ẩn ức
bị dồn nén, một bất chợt của tiềm thức, một suy nghĩ hoặc rất nhiều những sự việc
cụ thể trong đời sống tác động mạnh vào chủ thể sáng tác”. Tiếng chuông
chùa của Nguyễn Vỹ là một trong những bài như vậy:
Bốn
phương trời
Sương
sa
Tiếng
chuông chùa
Ngân
nga...
Trời
lặng êm
Nghe
rêm
Tiếng
chuông
Rơi
Thảnh
thơi Êm
đềm...
Hồi
chuông
Trôi,
Êm
ru
Vô
âm u
Hồn
tôi...
Hồi
chuông
Vang
bốn phương...
Mùi
trầm hương
Vang
trong sương
Lòng
tôi...
Nghe
tiếng chuông
Trong,
Trong,
Hồi
hộp
Hồn
lâng lâng
Lên
vút
Cao
xanh,
Thanh
Thanh...
Tiếng
chuông chùa
Khoan
thai,
Kêu
ai,
Lòng
nhớ thương
Tê
Mê
Trong
sương...
Khác xa với
phong cách của các nhà thơ Trung đại, để thể hiện được cái tôi trữ tình, thể hiện
cảm xúc, các nhà thơ thường sáng tạo ra một thể thức trình bày để cùng một lúc
tác động vào thị giác, thính giác của độc giả trên nền kết cấu. Bài thơ bây giờ
cũng dài ngắn tùy “hơi’’ thơ của tác giả, tạo điều kiện cho cái tôi trữ tình bộc
lộ mọi cung bậc tình cảm, tâm trạng, mọi nhịp rung tơ lòng. Các nhà thơ có khi
làm cho bài thơ của mình như những giọt sương rơi, cũng có khi như tiếng vọng
ngân nga của tiếng chuông chùa thanh tịnh.
Để có thể hòa
mình cùng tiếng chuông chùa và viết nên những dòng thơ đầy sức gợi như thế có lẽ
là điều rất khó, nhưng ta thấy, dường như nó lại hoàn toàn dễ dàng với một hồn
thơ nhạy cảm và tinh tế như Nguyễn Vỹ. Bài thơ là sự nhảy múa, đưa đẩy của con
chữ để nâng tiếng chuông ngân nga, vang vọng. Từng nhịp, từng nhịp như rơi, như
rụng, như tan vào giữa thiên nhiên đất trời. Ở đó, mỗi âm thanh chẳng khác nào
một tiếng vọng lớn có khả năng đánh thức tâm hồn thi sĩ. Bởi lẽ, mỗi nhịp
chuông vang là sự kết dính và tạo thành một dòng chảy êm ru trôi vào tâm hồn
con người một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Khi hồi chuông ấy ngân lên giữa bầu
không khí im lặng, từng dư âm rung lên vừa như réo rắt nhưng lại vừa thảnh thơi
êm đềm đã khiến tác giả và bao kẻ tha hương khát khao muốn quay về nơi ấy. Cho
nên, cái hay của Nguyễn Vỹ là đã làm cho người đọc cảm nhận được tiếng chuông
đang trải rộng và xâm chiếm tâm hồn mình. Đó là những tiếng chuông chứa đựng
chuỗi âm thanh rụng rơi như tiếng nấc từ sâu thẳm đáy lòng, nơi mà “mọi giọt buồn”
đều không thể nói được thành lời mà chỉ biết hồi hộp bâng khuâng, lòng nhớ
thương trong sương mờ ảo.
Không chỉ là
tiếng chuông, những bài thơ được cách tân về mặt văn bản còn được viết
theo tiếng lòng:
Nàng ơi!
Tay đêm đang giăng mềm
Trăng
đan qua cành muôn tay êm
Mây
nhung pha màu thu trên trời
Sương
lam phơi màu thu muôn nơi
Vàng
sao nằm im trên hoa gầy
Tương
tư người xưa thôi qua đây
Ôi!
Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa
vừa đưa hương gây đê mê
...
Buồn
lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn
sang cây tùng thăm đông quân
Ô!
Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng
rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông
(Bích Khê - Tỳ bà)
Toàn bộ bài
thơ được Bích Khê viết bằng vần bằng nhưng cũng réo rắt theo nhạc điệu
riêng của nó. Nhờ đó, bài thơ đã toát lên một âm hưởng đặc biệt. Cả bài thơ được
tổ chức một cách chặt chẽ, có dụng ý không kém gì trong âm nhạc, nên đã mang đến
âm điệu du dương, êm đềm, dìu dặt rất mới lạ. Bích Khê đã đẩy lùi ngữ nghĩa xuống
và ưu tiên cho mặt ngữ âm. Chính điều này đã làm cho thơ ông có thể xóa nhòa mọi
khoảng cách, đem những thứ xa lạ, vô can đến gần nhau, xóa mờ những đường viền
xác định sự vật và tiến tới “tương giao ngữ nghĩa”. Với một thứ thơ dùng vần
bằng làm chủ lực, Bích Khê đôi khi đã đạt tới được cái công thức nổi tiếng của
P.Valéry: “Bài thơ là sự phân vân kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa”. Chính lối
điều hòa thanh điệu ấy đã góp phần dựng nên ý nghĩa thứ hai, đưa vào trong mỗi
từ riêng biệt những yếu tố bất ngờ của ý tưởng thứ hai tạo nên sự trùng phức,
đa nghĩa. Đó cũng là lý do thơ Bích Khê hấp dẫn bạn đọc.
Hay trong bài Hoàng
hôn của Nguyễn Vỹ, với cách thể hiện con chữ bài thơ cũng làm toát lên được
phần nào khung cảnh mà bài thơ muốn “tả”:
Một
đàn
Cò
con
Trắng
nõn
Trắng
non
Bay
về
Sườn
non
Gió
giục,
Mây
dồn
Tiếng
gọi
Hoàng
hôn
Buồn
bã
Nỉ
non
Từ
giã
Cô
thôn...
Còn
con
Cò
con
Trắng
non
Nào
kia
Lạc
bầy,
Lại
bay
Vào
mây
Ô
kìa!
Sự trỗi dậy của
ý thức cá nhân bên trong mỗi nhà thơ trong phong trào Thơ Mới đã thực sự thôi
thúc các hồn thơ không ngừng tìm ra những cách biểu đạt ưu việt nhất cho thơ của
mình. Điều đó đồng nghĩa với việc, tác phẩm thơ giờ đây đã vượt ra khỏi “khuôn
vàng thước ngọc” với số câu, số chữ, cách hiệp vần, đối vận, bằng trắc quy phạm,
để hướng đến giải phóng cảm xúc mãnh liệt của thi sĩ. Cách tân về văn bản có thể
xem là một trong những thủ pháp hữu hiệu góp phần đưa đến sự thay đổi lớn lao
đó.
Trước hết,
chúng ta dễ dàng nhận thấy, cách tân về văn bản đã thể hiện được sự đa điệu
trong cảm xúc, cảm giác của tác giả. Khi các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới hữu
hình hóa âm thanh, màu sắc cảnh vật trong thơ của mình, làm cho bài thơ mang
dáng dấp của những giọt sương, quả trám, cánh cò, thậm chí là của hình nút
chai, tam giác, hình bậc thang... thì đồng thời, thi nhân cũng lồng vào đó các
cung bậc sắc thái tình cảm: vui, buồn, mộng mơ, say đắm, thiết tha... của chủ
thể trữ tình. Lấy bài Sương rơi của Nguyễn Vỹ làm ví dụ, sẽ thấy, sự
mô phỏng hình ảnh của giọt sương sớm linh hoạt, sống động đến bất ngờ. Từng giọt,
như cắt, như xé vào nỗi đau của nhà thơ. Và đó cũng chính là sự mệt mỏi, chán
chường, cô đơn của thi nhân trước thời cuộc. Bởi vậy, có thể nói: “Cái tôi trữ
tình Thơ Mới trở về đúng nghĩa của nó - một cái tôi cảm xúc”.
Sự đa điệu
trong cảm xúc luôn bắt nguồn từ chính tâm trạng của chủ thể trữ tình. Các nhà
thơ đi sâu vào đối tượng thẩm mỹ, lắng nghe tiếng con tim thổn thức và cảm nhận
sự nhẹ nhàng, tinh tế của sinh khí đất trời, để chiết lấy từng giọt thơ độc
đáo. Với lối thơ bình thanh, Bích Khê hòa mình vào tiếng con tim để nghe lời
thì thầm của nó. Đó chẳng khác nào sự dịu dàng, đằm thắm nhưng chất chứa cả một
nỗi buồn sâu thẳm của thi nhân:
Buồn
lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn
sang cây tùng thăm đông quân
Ô!
Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng
rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông
Hiện tượng
cách tân ngôn từ về văn bản còn thể hiện tài năng, phong cách của nhà thơ. Những
bài thơ với mô hình mới lạ, một mặt đã phô diễn được tính độc đáo trong cách vận
dụng ngôn ngữ diễn đạt, mặt khác lại là tiếng lòng tri âm của thi nhân trao gửi
đến trái tim bạn đọc. Vì thế, có lúc, bài thơ được tổ chức theo dòng âm thanh (Tiếng
chuông chùa), đôi khi lại được tổ chức theo dòng cảm xúc “tâm thế sáng tạo thơ
chuyển từ ý, hình sang lời, giọng điệu”.
Tối
Đi hoài
Chân mỏi
Giăng ló ngàn
Chim về núi
Muôn dặm mịt mù
Một mình lặn
lội
Đèo ải bước gập ghềnh
Quãng vắng canh trường vòi vọi
Ô hay gai góc quãng đường
đời
Vất vả
thâu đêm đi
chưa khỏi
(Trần Huấn Chương - Tối)
Hay:
Lưa thưa
Vài ba giọt
Ai khóc tả tơi
Giọt lệ tình đau xót?
Nhưng mây mù mịt gió đưa
Cây lá rung xạc xào giữa trưa
Mưa đổ xuống ào ạt mưa, mưa, mưa!
Thời gian trôi tan tác theo tiếng mưa cười.
Không gian dập vùi tan tác theo tiếng mưa trôi
Đàn em thơ chạy ra đường giỡn hớt chạy rầm mưa
Cỏ hoa mừng nên vận hội nghiêng ngả tắm gội say sưa.
Nhưng ta không vui mừng không ca không hát
Ta đưa tay ra trời xin giòng mưa tắm mát
Tưới vết thương lòng héo hắt tự năm xưa
Nhưng ô kìa! Mưa rụng chóng tàn chưa?
Trời xanh mây bay tan tác
Ai còn ươm hạt mưa đào
Lóng lánh trong tim ta
Ai ươm mơ sầu
Ôi mong manh
Trong tim
ta (Nguyễn Vỹ - Mưa)
Dường như,
chính sự phát triển của ý thức cá nhân cùng với sự tài hoa của thi sĩ đã giúp
cho những thi phẩm trở nên mới mẻ nhưng vẫn hết sức tự nhiên, lôi cuốn. Mặc dù
phá vỡ những quy tắc mang tính quy phạm của thơ Trung đại nhưng người đọc lại
không hề xem đó là lỗi mà lại nhận thấy được sự đổi mới đáng ghi nhận. Sương
rơi, Tỳ bà, Tiếng chuông chùa, Hoàng hôn, Mưa, Tây hồ... chính là những bài thơ
trôi chảy tự nhiên, thậm chí là tưởng chừng đơn giản, song bên trong sâu thẳm lại
là nỗi buồn man mác, chứa đựng tâm trạng và cảm xúc chân thành của nhà thơ:
Từng
giọt,
Thánh
thót,
Từng
giọt,
Tơi
bời
Mưa
rơi,
Gió
rơi
Lá
rơi,
Em
ơi!...
(Nguyễn
Vỹ - Sương rơi)
Như vậy, có thể
nói sự cách tân ngôn từ về văn bản chính là một lối phá cách dễ dàng nhận thấy
nhất, nhưng cũng chứa đựng và thể hiện nhiều giá trị, ý nghĩa sâu sắc của tác
phẩm.
Châu Ngọc Chiến



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét