Mối tình son sắt của chàng
trai
Chàng trai đó là Phạm Đăng
Thuật. Ông là con trai của Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng và là em của Thái
hậu Từ Dụ (vợ của vua Thiệu Trị, mẹ của vua Tự Đức). Ông có tự là Kế Chi, hiệu
Tiêu Lâm, người thôn Tân Niên Đông, tổng Hòa Bình, huyện Kiến Hòa, trấn Định Tường
(nay thuộc xã Long Hưng, TX. Gò Công, tỉnh Tiền Giang).
Từ đường thờ phò mã Phạm
Đăng Thuật
và công chúa Quy Đức. Ảnh: Tư liệu
Năm 1850, ông kết hôn với
công chúa Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh, được phong làm Phò mã Đô úy, sau thăng Lang
trung bộ Lễ. Công chúa Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh sinh năm 1824, tự Trọng Khanh, hiệu
Nguyệt Đình, là con thứ 18 của vua Minh Mạng. Bà có tư chất thông minh, tính
tình hiếu đễ, khiêm tốn, không ưa xa xỉ, ham đọc sách, được người anh là Tuy Lý
vương Miên Trinh, một nhà thơ nổi tiếng đã tận tình chỉ bảo, nên bà thông làu
kinh truyện.
Bà còn giỏi sáng tác thơ
văn, có tập “Nguyệt Đình thi thảo”, được người đương thời đánh giá là “văn
chương trác tuyệt” và “giàu thi tính”. Tập thơ này được Tuy Lý vương Miên Trinh
hết lời khen ngợi: “Xưa, phần nước Vệ ở Biến phong trong kinh Thi, bài Tái Trì
là thơ của phu nhân Hứa Mục công, bài Hà Quảng là thơ của phu nhân Tống Hoàn
công, thảy thảy phát ra từ tình cảm mà dừng lại ở lễ nghĩa, cho nên quốc sử
khen ngợi và học giả tôn sùng. Nay việc làm của em nhất nhất đều ngay chính.
Như thế dù không có thơ cũng đã đủ để lưu truyền rồi, huống chi còn có thơ nữa
thì những người thu thập về sau mà ta biết thế nào cũng có, ắt chẳng đáng chép
đi in lại vài lần sao!”.
Ông Phạm Đăng Thuật và công
chúa Vĩnh Trinh sống với nhau rất hạnh phúc, tâm đầu ý hợp, xướng họa vô cùng
tương đắc. Trong một cuộc hội thảo về văn hóa Huế, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm,
nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương cho biết:
“Khu vườn (của bà Nguyệt Đình và chồng) được đặt tên là Túc Ung viên, nghĩa là
khu vườn của sự kính trọng và hòa thuận, ít nhiều nói lên tình nghĩa vợ chồng
cao quý của họ. Vườn trồng 36 cây vải, tức cây lệ chi. Theo bản thảo Hán tự,
cây lệ chi còn có tên là “thập bát nương” (cô nàng 18). Về thứ thế trong gia
đình, bà Nguyệt Đình thứ 18 và ông Thuật cũng thứ 18. Sự trùng hợp kỳ lạ đó nhắc
người ta trồng 36 cây vải để vợ chồng mãi mãi gắn bó bên nhau”.
Bức song ảnh của Phạm Đăng Thuật (trái)
và công chúa Quy Đức . Ảnh: Tư liệu
Năm 1861, giặc Pháp xâm chiếm
3 tỉnh miền Đông Nam kỳ là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường, ông vâng mệnh vua
Tự Đức vào Nam xem xét tình hình, nhiệm vụ hết sức nặng nề và nguy hiểm. Thật
không may, ông hy sinh vì việc nước. Vua Tự Đức (gọi ông bằng cậu) vô cùng
thương tiếc, truy tặng ông hàm Quang Lộc tự khanh.
Hết lòng thương yêu chồng,
bà dâng biểu xin nhà vua đưa thi hài ông về an táng tại Huế, thủ tiết thờ chồng,
nuôi người con gái là Uyển La nhưng lại không may mất sớm. Năm 1876, vua Tự Đức
phong bà là Quy Đức công chúa. Bà mất năm 1892, thọ 68 tuổi, táng chung một chỗ
với chồng.
Hiện nay, từ đường thờ công
chúa Quy Đức và phò mã Phạm Đăng Thuật ở đường Lê Ngô Cát, xã Thủy Xuân, thành
phố Huế, do ông Phạm Ngọc Công - một hậu duệ của dòng họ Phạm trông coi thờ tự.
Trên bàn thờ trong ngôi từ đường cũng là cung phủ ngày xưa của công chúa Quy Đức
có một bức song ảnh (ảnh hai người) rất độc đáo.
Đó là hai cái bóng người tô
mực đen theo lối nhìn nghiêng đối diện nhau, chính là bóng của hai ông bà từ
thuở xưa. Ngày đó chưa có nhiếp ảnh, dựa vào ánh đèn, hai ông bà đã cho vẽ hình
mình lên tường để lưu giữ hình ảnh vợ chồng.
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm khẳng
định: “Tôi xem bức song ảnh này, có vẻ đã được khôi phục lại, nhưng câu chuyện
về bức song ảnh là hoàn toàn chân thực, đã làm ta xúc động tận đáy lòng về tình
yêu của họ ngày nào”.
Song Lan
Ấp Bắc




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét