Đoàn Văn Cừ: Đường Về Quê Mẹ - Một trong những
bài thơ hay
nhất thế kỷ XX
Tháng 5 năm 2007, Nhà xuất bản Gíáo dục và Trung tâm văn hóa
Doanh Nhân cho ra đời tuyển tập 100 bài thơ hay nhất thế kỷ 20. Một tháng sau
(6.07), Nxb Hội nhà văn cũng cho ấn hành Tuyển tập thơ chọn lọc thế kỷ 20. Cả
hai tuyển tập đều chọn bài thơ Đường về Quê Mẹ - một trong ba thi phẩm xuất sắc
của nhà thơ Đoàn Văn Cừ (2 bài kia là Đêm hè, Chợ tết).
Đoàn Văn Cừ được dư luận người đọc đương thời mệnh danh
là 1 trong 4 ’’Thư kí thời đại đã lưu giữ hồn quê Việt Nam’’ trong thơ ca của
mình. (Ba người kia là Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Nguyễn Bính).
Đường Về Quê Mẹ viết theo thể thât ngôn tứ tuyệt, 6 khổ, 24
câu, vẽ lại hình ảnh người phụ nữ nông thôn VN khi xưa, muốn cho con cái không
quên cội nguồn, người mẹ trẻ dắt các con về thăm quê ngoại.
Bài thơ chỉ miêu tả khung cảnh đồng quê trên đường đi mà
không bình luận. Tác gỉa ’’chộp’’ lấy khoảng thời gian, không gian, khung cảnh
cánh đồng, làng quê… đẩy cảm xúc nghệ thuật lên cao rồi ghi lại. Chỉ
tới 4 câu kết, nhà thơ mới gían tiếp bày tỏ tâm tư thông qua nhận xét của dân
làng: Dẫn là thân phận ’’nữ nhi ngoại tộc’’, người phụ nữ thảo hiền vẫn không
quên quê cha đất tổ…
Theo nguyên tắc của thể thơ Đường, tác gỉa vào đề bằng hồi ức
của đứa con vẫn giữ lại trong trí tưởng hình ảnh lúc bé theo mẹ về thăm quê ngoại:
U tôi ngày ấy mỗi mùa xuân
Dặm liễu mây bay sắc trắng ngần
Lại dẫn chúng tôi về nhận họ
Bên miền quê ngoại của hai thân.
U - là cách gọi mẹ của dân mấy huyện xung quanh thành Nam. (gọi
cha, bố là Thầy).Nguyễn Bính người huyện Vụ Bản cũng xưng hô với mẹ như thế.
Ông đưa vào bài thơ Chân Quê: ’’Thầy U mình với chúng mình chân quê’’ (1). Thế
nhưng dân ở hai huyện Giao Thủy, Hải Hậu – cũng là đất Nam Định - thì vẫn xưng
hô: Bố - Mẹ.
Hai thân (hay song thân) - là cách gọi bố mẹ của những người
có học thể hiện sự kính trọng, văn hoa. Nhà thơ dùng cụm từ:: ’’dặm liễu – mây
bay – (sắc) trắng ngần’’ - vừa như tả cảnh trí (mây trắng bay…) nhưng cũng thể
hiện cách điệu sắc đẹp ngoại hình của mẹ: Tinh tế, thướt tha, uyển chuyển...
Tôi nhớ đi qua những rặng (cây) Đề
Những giòng sông trắng lượn ven đê
Cồn xanh, bãi tía kề liên tiếp
Người xới cà, ngô - rộn bốn bề.
Quê cụ Đoàn làng Đô Quan, xã Nam Lợi, huyện Nam Trực - nằm
cách chân đê sông Hồng không xa.
Tại sao lại có ’’Những giòng sông trắn lưọn ven đê’’?
Dọc con đê, phía ngoài là sông Hồng - sông lớn nhất ở miền Bắc,
ven đê phía trong lại có những sông con lượn quanh. Nguyên do: Để chống lại những
cơn lũ gây vỡ đê khi nước sộng dâng cao mỗi mùa lũ tới, dân cư hai bên bờ tả ngạn
(Nam Định) - hữu ngạn (Thái Bình), đào đất trên cánh đồng, đem bồi đắp đê ngăn
nước. Đê sông Hồng là con đê to nhất miền Bắc, bởi vậy đất đào nhiều, tạo thành
những con sông chạy dọc theo đê. Khoảng cách giữa đê chính và sông đào tuy
không xa nhưng khoảnh đất này khá lớn lại khó có thể trồng lúa vì khi xưa không
có bơm điện nên ở đây úng lụt.
Không để lãng phí đất, dân quê phải tôn lên cao (vượt), tạo
thành những cồn đất. Còn bãi - thường nằm dưới chân đê cạnh mép nước sông. Trên
bãi, dân cư trồng hoa mằu như ngô, khoai, rau cải, cà pháo, cà tím, đâu... các
cây trồng đã tạo cảnh sắc ’’Cồn xanh (mầu lá rau cải…) bãi tía (tím nhạt) - cà
tím, khoai tía…) kề liên tiếp’’...
Dọc bờ sông đào được trồng những hàng cây Đề, tạo thành rặng
cây. Cây Đề cùng họ rễ buông với cây Đa. Trên bờ, Đề buông rễ xuống mặt nước...
đây đó từng đoạn vài trăm mét lại có một lều cất vó hoặc những con thuyền nan
có những cụ gìa buông cần câu cá, làm phong cảnh sông nước, đồng quê thật bình
yên, tĩnh lặng, nên thơ...
Thúng cắp bên hông, nón đội đầu
Khuyên vàng, yếm thắm, áo the nâu
Trông U chẳng khác thời con gái
Mắt sáng môi hồng mà đỏ ău.
Người phụ nữ thời xưa thường dùng (cái) thúng - đan bằng tre,
vành cạp mây - đựng đồ vật để buôn bán hay di chuyển, mang đi. Thi sĩ Nguyễn Vĩ
đã viết trong Gửi Trưong Tửu: ’’Còn tôi bưng thúng theo đàn bà/ ra chợ bán văn
ngày tháng qua’’ (3). Lần về này, mẹ mang thúng đựng qùa tặng Thầy,
U và người thân. Vì trọng lượng thúng nhẹ - dăm ba cân, đi gần - mẹ cắp bên
hông chứ không đội.
Người mẹ mà nhà thơ miêu tả - dắt theo mấy đứa con (...dẫn
chúng tôi...), chắc thời con gái mẹ đẹp lắm. Bây giờ dù đã có đàn con, nhưng
nhìn trang phục: Yếm thắm, khuyên vàng, áo the nâu và ’’má (vẫn) đỏ ău’’, cậu
bé có cảm nhận mẹ mình vẫn như thời con gái! Dưới cái nhìn của câu, người mẹ
thân yêu thật đẹp. Đó cũng là hình ảnh của những người mẹ trẻ đương thời, vì
khi nhà thơ viết ĐVQM đã ở tuổi 29 (1913 - 1942). Kí ức về mẹ của tác gỉa chỉ
còn rất ít, vì khi theo mẹ về quê ngoại, nhà thơ mới 5 tuổi...
Gío chiều cuốn bốc bụi sau lưng
Bóng U như bóng người thôn nữ
Cúi nón mang đi cặp má hồng
Về làng, mẹ con phải vượt qua cánh đồng. Tấm áo the nâu của mẹ
mỏng tang. Gío chiều thổi mạnh, cuốn bốc bụi sau lưng. Mẹ khép mình, như tránh
những làn bụi hắt vào thân thể. Cúi đầu, kéo nón che cả khuôn mặt để tránh bụi
bay vào mắt. ’’Cúi nón’’ - khiến che cả má hồng của mẹ. Trông mẹ như e ấp… cậu
bé cảm thấy mẹ mình như bao cô gái quê ở tuồi cập kê - khép nép, dịu dàng…
Chiều mát, đường xa nắng nhạt vàng
Đoàn người về ấp gánh khoai lang
Trời xanh , cò trắng bay từng lớp
Xóm chợ lều phơi xác lá bàng.
Làng Đô Quan, phía nam là vùng đất trũng chỉ trồng được lúa.
Phía bắc giáp với các làng Thôn Nội, Liên Tỉnh… là vùng đất cao, pha cát, thích
hợp trồng hoa mầu nên dân cư không trồng lúa...
Khoai lang của vùng đất pha cát - rât đặc biệt: Củ to bằng bắp
chân người lớn, nặng từ 300 đến 1 kilô. Có nhiều củ nặng đến vài ba kí lô. Khi
luộc, bột khoai bở, nuốt phát nghẹn. Có loại khoai nghệ, luộc chín, bóc vỏ, ruột
khoai vàng như nghệ, đường tứa ra ngọt như tẩm mật nên dân Nam Định gọi là
khoai nghê – khoai mật.
Thời gian mẹ về quê vào buổi chiều nên gặp nhiều nông dân bới
khoai gánh về thôn ấp. Chiều quê hương thật đẹp: Bầu trời xanh cao thăm thẳm, từng
đàn cò trắng bay về tổ, in trên nền xanh làm nổi hẳn những cánh cò trắng phau.
Qua chiếc chợ ở đầu làng (người mua kẻ bán đã về hết), nhựng chiếc lêu qúan
xiêu vẹo ngập xác lá (cây) Bàng, thứ cây thường được trồng ở những nơi dân cư tụ
tập (chợ, trường học, đình làng…) để lấy bóng râm, che cho người đứng dưới mát
mẻ, giảm oi nồng trong mùa hè nóng nực.
Qua khỏi chợ, mẹ con tiến vào làng:
Tới đầu làng gặp những người quen
Ai cũng khen U nết thảo hiền
Dẫu phải theo chồng thân phận gái
Đường về quê mẹ vẫn không quên.
Người mẹ trẻ gặp bà con chòm xóm. Ai cũng vui mừng hồ hởi vì
biết nàng dù đã đi lấy chồng nơi xa nhưng vấn về thăm quê hương, tổ tiên, ông
bà, cha mẹ. Thơi xa xưa, dân ta đã tổng kết: ’’Con gái là con ngưòi ta’’. Con
gái gả chồng coi như ’’bát nước đổ đi’’. Trên thực tế: Người con gái lấy chồng
phải đổi họ, phải gánh vác ’’giang sơn’’ nhà chồng. Gánh nặng cuộc đời đè nặng
trên vai gầy của người đàn bà tần tảo, nghèo khiến họ không còn khả năng giúp đỡ
bố mẹ đẻ…
Bố mẹ đẻ cũng cưới con dâu cho em (anh) trai cô gái đã đi ở
riêng. Người con dâu kia cũng lặp lại theo chu kì mà con gái ông bà đã đi. Đây
chính là quy luật cuộc đời, là cái ’’nợ đồng lần’’ mà tất cả mọi gia đình trong
cộng đồng tộc Việt đều chia sẻ.
Theo nhiều tư liệu: Đoàn văn Cừ sinh năm 1913, mồ côi mẹ từ
lúc 5 tuổi. Cũng giống Nguyễn Bính, dù mất mẹ lúc còn nằm trong nôi, cũng viết
về mẹ rất hay (bài Lòng Mẹ). Người Mẹ trong thi ca của cả hai nhà thơ đất Nam Định
đều được người đọc Việt Nam tán thưởng đến xúc động.
Tuy nhiên, tôi góp ý về nhận định của Trần Ngọc Thụ Trong một
bài viết, có đoạn:
’’… Nói nhiều đến từ "thật" là vì gần đây một nhà
thơ khi bình thơ Đoàn Văn Cừ có nói: Đường về quê mẹ là bài thơ nhiều màu sắc,
đủ 12 màu như bài Chợ tết, và Đoàn Văn Cừ lấy hình ảnh của những thiếu nữ nông
thôn đương thời để viết về mẹ mình ngày xưa, tạo nên hình ảnh người phụ nữ nông
thôn tiêu biểu thời xưa.
Nói như thế thật không thấu lý đạt tình’’
Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến nhận xét của nhà thơ mà tác gỉa
TNT không tán thành. Cụ Đoàn Văn Cừ viết ĐVQM trên nền sự thật, cảnh thật mà
tác gỉa nhìn thấy trên đường về quê ngoại (làng Cổ Gỉa). Tuy cảnh phải nói là rất
’’THẬT’’, nhưng đã được điển hình hóa của nhiều cảnh thật xung quanh, chứ không
phải cái thật cụ thể trên đường từ Đô Quan (quê nội) đến Cổ Gỉa (quê
ngoại). Đoạn đường này nằm ở phía tây , không có ’’Những giòng sông trắng lượn
ven đê’’, càng không có ’’cồn xanh bãi tía kề liên tiếp’’ - để nhà
thơ dựng lên khung cảnh bài thơ ĐVQM.
Bởi vì, khi tác gỉa mới 5 tuổi, cụ bà - mẹ nhà thơ - đã mất.
Một đứa trẻ 5 tuổi không có nhận xét về mẹ… như các câu thơ của bài thơ. Sự thực,
bài thơ được tái tạo vào năm 1942 - lúc Đoàn Văn Cừ 29 tuổi. Tác gỉa kết hợp từ
quan sát ’’thì’’ hiện tại, với hồi ức của qúa khứ mới viết ra ĐVQM.
Bài thơ là sự khái quát được kết tinh hoàn toàn do trí sáng tạo.
Nói cụ thể hơn: Cái ’’thật’’ trong thơ chỉ là ’’Bột’’ đề ngòi bút tài năng gột
nên ’’Hồ’’ – Đường về quê Mẹ!
Cũng giống như Nguyễn Bính viết bài Lòng Mẹ. Hình ảnh người mẹ
trong bài thơ hoàn toàn do tác gỉa tưởng tượng ra trên nền của các hình ảnh diễn
ra xung quanh, do người thân, do dân cư trong vùng kể lại hoặc do chính Nguyễn
Bính chứng kiến sau này. Bà mẹ trong bài thơ Lòng Mẹ có cô con gái đi lấy chồng…
trong khi NB mất mẹ từ khi hãy còn ẵm ngửa.
Có rất nhiều thí dụ về sự sáng tạo của nhà Thơ. Nhân vật - Thật
- Gỉa gắn quyền - tạo ra nhân vật sống động, trường hợp này là ’’GỈA’’, nhưng
trường hợp khác lại hoàn tòan ’’THẬT’’… Dù Gỉa đấy, nhưng là hình ảnh
của nhiều người được tác gỉa chắt lọc xây dựng lên. Người nữ du kích trong Núi
Đôi của Vũ Cao, được sáng tạo từ những anh hùng liệt sĩ khác… Ngược
lại, nhân vật ’’nàng’’ trong Mầu Tím Hoa Sim của Hữu Loan - lại là bản
sao thật của người vợ trẻ của nhà thơ…
Một chi tiết khác: Tôi là người làng Xối Tây (Xã Nam Long),
làng tôi và làng Đô Quan của cụ Đoàn (Xã Nam Lợi) - chỉ cách nhau 1 cánh đồng
(4). Quê ngoại của cụ là làng Cổ Gỉa (…) – nằm ở phía tậy, phía trong 2 xã kia,
gần đưòng tỉnh lộ số 55. Cổ Gỉa nằm cách xa đê sông Hồng nên không có ’’những
giòng sông… lượn ven đê’’, không có ’’cồn xanh, bãi tía’’. Nhưng từ làng Đô
Quan đi ra phía đê sông Hồng, nghĩa là ngược hướng với Cổ Gỉa (quê ngoại) , thì
cảnh trí này toàn là… thật – như câu thơ đã viết.
Cũng như vậy - Bài Chợ Tết nổi tiếng cũng của Đoàn Văn Cừ -
không phải cảnh chợ tết ở quê hương nhà tho. Vì huyện Nam Trực không có núi đồi
đề miêu tả ’’Trên con đường viền trắng mép đồi xanh’’. Điều này cũng đã đưọc cụ
Đoàn nói rõ trong một bài phỏng vấn của phóng viên Văn Nghệ - ND.(khi đó cụ
Đoàn đã yếu lắm, phải trò truyện bằng bút đàm): ’’…
Hỏi: Ông đã lấy những hình ảnh phiên chợ tết quê mình để
viết bài thơ Chợ Tết phải không?
Trả lời: Phải vậy cũng không phải vậy… Từ năm tám tuổi tôi đã
thích theo mẹ đi chợ. Có những chợ ở cạnh sông, lại có những chợ ở bên núi. Chợ
ở giữa trời đất. Những cái chợ đấy có cả ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Việt Trì... chứ
đâu chỉ có ở quê mình. Cái chợ này là hồn vía của người Việt Minh ở miền bắc. Mấy
năm trước bên làng Lao có một đoàn người sang gặp tôi bảo rằng đó chính là
phiên chợ của làng họ. Họ xin phép tôi cho khắc đá bài thơ…’’ (*)
Nói tóm lại: Các bài thơ hay nhất của Đoàn Văn Cừ đều là thơ
miêu tả khung cảnh đồng quê Việt Nam. Trước hết được tác gỉa sáng tạo
trên nền của cái ’’Thật’’. Có điều vốn sống của nhà thơ qúa dồi dào, tài năng,
công với sự quan sát kỹ càng, tỷ mỉ, sâu sắc, nắm bắt được cái thần - bản chất
của người và vật, xử dụng ngôn từ tinh tế, dân dã… đã tạo ra tác phẩm thành
công mĩ mãn.
Hầu như toàn bộ sáng tác thơ của Cụ Đoàn trong 2 tập thơ Thôn
Ca (I, II) - đều được thể hiện theo phong cách tả cảnh. Dù là tả cảnh ’’sao
chép… chụp ảnh’’, nhưng… người đọc nhìn cảnh – sinh tình, cảm thụ đưọc hết vẻ đẹp
của thôn quê Việt Nam. Vả lại, dưới ngoài bút tài hoa, hiểu biết đồng quê,
’’Người thư kí thời đại’’ Đoàn Văn Cừ đã mang đến cho người đọc cảm xúc rạt
rào, nhận thức sâu sắc, đẩy khoái cảm thẩm mĩ lên cao…
Điều quan trọng hơn: Từ chủ đề rõ ràng, cấu trúc chặt chẽ,
câu, ý thơ trong sáng khiến hiệu qủa truyền cảm của tác phẩm thêm mãnh liệt.
Hai câu kết của Đường Về Quê Mẹ có thể đã vượt ra ngoài dụng ý của tác gỉa. Người
đọc phải suy tư, đi đến đồng cảm… Tận trong cõi sâu tâm hồn nhận ra - bài thơ
đã chuyển ý, vượt ra khỏi khuôn mẫu, bay bổng, kích thích trí tưởng: Đó là lời
nhắn nhủ, là thông điệp của tác gỉa chuyển đến mọi người đọc:
Dù đã đi theo người…
Dù đã về làm dâu nhà người…
Đừng bao giờ quên Đường Về Quê Mẹ!
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều...
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh…
Em ơi! giữ lấy Chân quê!
Theo nhiều người đương thòi với tác gỉa: Nguyễn Bính viết bài
này nhằm phê phán một số nhà thơ ’’mất gốc’’,’’cóp nhặt’’
phong cách thơ nước ngoài (Pháp, Nhật…) - làm mất
vẻ đẹp truyền thống của thơ Việt…
(2) - Cùng 5 huyện phía nam (bên kia cầu đò Quan – sông Đào)
với tỉnh Thái Bình - tạo nên vựa lúa của đồng bằng châu thổ sông Hồng. 6 huyện
phía nam: Nam Trực, Trực Ninh, Hải Hậu, Xuân Trường , Giao Thủy, Nghĩa Hưng - đều
chuyên canh trồng lúa nước. Chỉ có vài xã giáp ranh với làng Đô quan (thuộc huyện
Nam Trực) là trồng mầu – cây công nghiệp.
(3) – Cái thúng là một vật đan bằng tre, rất thông dụng ở
nônng thôn VN. Các bà, các chị bỏ đồ vật, (thóc, gạo…) vào trong. Nếu di chuyển
gần thì bưng, bê. Xa hơn – vài cây số - cắp nách- Xa dăm cây số - đội.
Xa mươi cây số thì bỏ vào quang, gánh… .
(4) - Thời kháng chiến chống Pháp, các thôn: Ngọc Tỉnh, Duyên
hưng, Nam hưng, Bằng hưng, Xối tây, Xối trì, Hạ lao, Đô quan - đều thuộc xã Nam
Long. Sau năm 1954 xã chia đôi thành Nam Long và Nam Lợi…
(*) Hai trích đoạn này lấy trong trang tác gỉa Đoàn Văn Cừ
- của Google.
Lê Xuân Quang





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét