Đọc thơ từ tuyển tập “Văn,
thơ, nhạc Vĩnh Long 20 năm”
Thật là quá muộn bây giờ tôi
mới đặt bút ghi lại cảm nhận của minh từ những dòng thơ từ tuyển tập “Văn thơ
nhạc Vĩnh long 20 năm” trong khi tập sách đã ra khá lâu rồi.
Lật qua các trang thơ, tôi tự
hỏi không lẽ hai muoi năm mà thơ Vĩnh Long được chọn lọc từng này ư?
Hỏi ra mới biết đây là phần
góp nhặt rấy nhỏ trong kho tàng vô tận của những người làm thơ viết về Vĩnh
Long. Bởi vì kinh phí hạn hẹp nên Sở Văn hóa Thông tin và Hội Văn học
Nghệ thuật Vĩnh Long không thể đáp ứng lòng mong mỏi của tác giả cũng như những
người yêu thích thơ.
Đọc qua 89 bài thơ của 57
tác giả, tôi không thể trích ra hết. Mỗi tác gỉa thể hiện niềm vui nỗi buồn qua
nhiều cái nhìn tinh tế, sâu sắc, có lúc trào phúng, có lúc lạnh lùng dửng dưng
khô khốc.
Với giọng thơ trào phúng Việt
Chung ghi lại “Đêm hát cúng đình”:
Ông Hương Cả ngồi cầm chầu
nhịp trống
Tiếng kèn la, tiếng trống gõ
lung tung
Một triều đình đầy vàng son
lộng lẫy
Đứng vây quanh kẻ nịnh với
anh hùng.
Mới đọc qua tôi cứ ngờ ngợ
làm gì có cái kèn la, chỉ có một dụng cụ mang tên phèn la thường dùng vào nhhững
buổi dạo đầu, đánh lên để báo hiệu trong xóm làng có người chết rất phổ biến ở
miến Trung, nhưng khi đọc hết câu thơ tôi mới thấu hiểu hết ý nghĩa của tiếng
“kèn la” rất đơn điệu ở hợp xướng trống “gõ lung tung” của đêm hát cúng đình mà
người “hùng” cầm chầu được vây quanh bởi bọn nịnh bợ, lũ sâu dân mọt nước.
Và Hồ tĩnh Tâm thường ngày
vui nhộn, tiếng cười của anh vỡ cả không gian, nhưng khi đối diện với chính
mình thì tiếng cười nói ấy như biến vào thinh không. Anh đứng trước “Cõi phàm”
thì:
Cõi phàm liên nhu ta dâng
Uống cạn chén đời bật khóc
Nghìn năm dẫu chưa bạc tóc
Một lời đủ chạnh niềm riêng.
Rồi Nguyễn Bạch Dương khô khốc
đến nỗi khi chọn cái tựa cho bài thơ cũng trơ trọi một từ “Lời” với ba âm ngắn
ngủn. Anh ví lòng mình như một cái đáy giếng kiệt nước trơ ra những chiếc lá
vàng, một giọt mưa lạc lỏng rơi vào cũng làm ta ngỡ ngàng sững sốt. Anh cần có
những giây phút yên lặng, lời anh thống thiết van nài:
Giếng tôi khô kiệt nước rồi
Em đừng ném sỏi nghe lời lá
vang
Chút mưa cũng chỉ ngỡ ngàn
Làm sao thấu được mạch khan
một đời.
Còn Phạm Thị Quý trớc trò
chơi “Đu quay” rất bình thường của bọn trẻ, bất chợt ở khoảnh khắc ngắn ngủi chị
phát hiện trên cái vòng quay chóng mặt ấy vị trí của người nầy mất đi thì người
khác thay vào. Phải chăng đó là quy luật muôn đời mà con người không thoát ra
được:
Trẻ con đu quay rất đổi hồn
nhiên
Đâu nghĩ mình đang đổi nhau
vị trí
Chỉ có chúng ta trước trò
chơi giản dị
Bỗng nhận ra mình trên chiếc
đu quay.
Và trước mặt mình cuộc sống
đang xoay
Với nhiều vòng tròn chóng mặt.
Lại có người ví mình như một
sinh vật nhỏ bé để nói lên quan niệm sống. Tầm Học qua bài “Con kiến vàng”:
Thân mình nhỏ nhít sánh chi
voi
Phận kiến đâu ham miếng mặn
mòi
Hay:
Lớn bé trẻ già chung một tổ
Nêu gương hòa nhẫn đáng vàng
thoi.
Hoặc Phan Phúc Bình gắn đời
mình vào dòng phấn trắng, bục giảng. Từ chỗ đứng bình thường anh đã thốt lên:
Đường đời chên vênh, đường đến
lớp gập ghềnh
Nơi bục giảng cò dễ đâu bằng
phẳng
Nếu chẳng giữ để bước chân hụt
hẫng
Thì mực tím học trò chỉ còn
là nhớ thương.
Cuộc sống mỗi ngày có khó
khăn, nhiều người hụt hơi chạy theo cơm, áo, gạo, tiền còn anh vẫn dửng dưng:
Và mỗi ngày, trên bục giảng
mỗi ngày
Ta vứt bỏ áo cơm ngoài cửa lớp
Như phấn trắng dẫu mòn đi thầm
lặng
Chút bụi cuối cùng cũng cố
giữ màu riêng!
Có lẽ đất Vĩnh Long đã giữ
chân nhiều người từ xa đến. Có người rất an tâm khi nhận nơi đây làm quê hương
thứ hai của mình. Ta thử tìm về Vĩnh Long vùng đất phù sa giữa hai nhánh sông
Tiền, sông Hậu để nghe Sao Vàng nói về quê mình qua bài “Thương quê nội nhớ về
quê ngoại”:
Thương quê ngoại nhớ nhiều
quê nội
Hạt phù sa thơm hoa trái bốn
mùa
Dòng nước ngọt ôm cánh đồng
màu mỡ
Mùa hè vui quanh bóng mát
hàng dừa.
Sao Vàng khắc hoạ quê hương
của mình bằng những hình ảnh mộc mạc, bình dị như hạt phù sa, hàng dừa, hoa
trái, đồng ruộng. Với Sao Vàng ở nơi đâu cũng là cội rễ cả:
Một núm ruột hai quê thương
nhớ
Lá rơi nào khỏi cội xa nguồn
Khi con ở xa chân trời góc
biển
Tấm lòng nào không nặng
nghĩa quê hương?
Dù quê nội hay quê ngoại,
quê anh hay quê em, tôi có cái cảm nhận hơi “hồ đồ” là những bài thơ trong tập
“Văn, thơ, nhạc” hầu như những người cầm bút cũng gởi gấm vào Vĩnh Long những
tình cảm đậm đà sâu nặng. Từ rặng bần, con đò, bến nước; từ con tôm, con cá,
con đom đóm dân dã. Hữu Nghĩa với “Cây bần”:
Nhớ con nước dỡ chà bần bên
vịnh
Vui nôn nao tôm cá mấy
khoang đầy
Nhớ làm sao nồi canh chua bần
chín
Ven bải cồn bè bạn xúm lai
rai.
Và:
Bần giản dị đến âm thần lặng
lẽ
Cứ đêm đêm đom đóm rủ nhau về
Thắp cho bần lấp lánh ánh
đèn khuya.
Người địa phương nặng tình với
quê hương Vĩnh Long là điều hiển nhiên, nhưng người từ xa đến càng quay quắt
hơn đó mới là chuyện lạ. Cái gì làm cho họ cồn cào ray rức? Ồ đây rồi! Tôi đã bắt
gặp Dương Thanh Thanh đến với quê hương thứ hai của mình qua bài “Con gái Huế
làm dâu”:
Chỉ biết cầu tre qua câu hát
ví dầu
Mà làm sao em dám về làm dâu
Quê anh?
“Con gái Huế răng mà gan giữ
rứa?”
Em chỉ cười nghe câu ghẹo
thương yêu.
Đúng. Dương Thanh Thanh chỉ
biết mỉm cười. Tôi chưa thấy Thanh Thanh cười khi được ghẹo, nhưng tôi tin chắc
trong nụ cười đó phản phất cái lo. Lo không có mẹ bên cạnh dạy nấu canh chua Nam bộ,
lo không có mẹ nắm tay qua dắt cầu khỉ gập ghềnh. Nhưng bạn đừng phập phồng lo
sợ nữa. Vì chàng trai Nam bộ ấy sẵn sàng làm thay bạn mọi việc. Đọc
bài thơ chị, ta thấy chị đột ngột chuyển từ “Mẹ” theo tiếng gọi rất quen thuộc
phong tục người miến Trung, đặc biệt là ngưới gốc Huế sang từ “Má” rất phổ biến
của người miền Nam:
Em quen tự bao giờ chẳng rõ
Tần tảo thân cò, em yêu Má
nhiều hơn
Hoá ra Má của anh là Mẹ của
em. Cũng là những bà mẹ thật thà chất phác, cũng thân cò lặng lội bờ sông và chị
cũng đồng ý”suốt đời” ở lại Vĩnh Long, vì:
Vì tình yêu..em đã: Về làm
dâu
Quê anh.
Những dòng thơ trên là tấm
lòng bộc bạch của người con gái nhận Vĩnh Long làm quê hương thứ hai. Còn người
con trai thì như thế nào? Ta nghe Phan Tư Thúy tâm sự bằng những vần thơ trữ
tình ngọt ngào man mác:
Anh chứa tình yêu em trong nỗi
nhớ dòng sông
Trong bóng màu xanh của màu
cây và mắt biếc
Làm lòng anh cứ cồn cào luyến
tiếc
Cớ sao mình chẳng ở bên kia
sông?
Bên cạnh dòng sông còn thấp
thoáng rặng bần và con đò lặng lờ trôi theo dòng nước. Dường như nơi đây Nguyễn
Mẫn Cán một lần “tiễn chị”:
Chị về, em lại tiễn đưa
Đò ngang một chuyến, giữa
trưa ngập ngừng
Tay cầm, mắt chị rưng rưng
Lao xao con nước, rặng bần bên
sông.
Vô tình hay cố ý, trên cùng
một trang thơ Nguyễn Mẫn Cán “Tiễn chị” vừa xong lại tiếp tục “Đưa người xa xứ”:
Mai em đi Cali
Buồn tênh người xa xứ
Ly bia đầy sóng sánh
Em cố uống thật say.
Mới đọc ba dòng thơ đầu tôi
cứ ngỡ người uống bia là anh chứ không phải em. “Buồn tênh nguời ở lại” chứ
không phải người xa xứ. Nguyễn Mẫn Cán dồn cái buồn cho người xa xứ. Em nâng ly
cố uống thật say để ngày mai hãy tỉnh. Cái tỉnh sau cơn say mới thấm thía:
Nỗi buồn dâng mắt biếc
Ngút ngát tình cố hương.
Em đi rồi biết ngày nào trở
lại. Sau cuộc chia tay ấy còn đọng lại dư âm, đợi chờ và nuối tiếc. Lắng nghe
tâm sự của Ngọc Hải qua “Dư âm”:
Hay ngơ ngác trên bước đường
rong ruổi
Cánh chim xa trông chờ nhau
đã mỏi
Biết bao giờ cho đến bao giờ?
Đợi chờ, hoài vọng và sựu trống
vắng vây quanh ta. Còn đâu cái thời ta hào phóng đem cả trời biển ra tặng cho
nhau và nhận về mình vị đắng của nỗi buồn như “Không đề” của Thành Khởi:
Tôi có nỗi buồn làm tràn ly
rượu
Rượu mềm môi-Chảy hết về tim
Tôi có niềm vui làm liền dấu
chân chim
Nhưng – niềm vui ít đến
Tôi tặng em điều này
Và nhận về mình
Một chút đắng cay.
Trong tình yêu có cho mà
không nhận, có người nhận mà không cho. Ngọc Mai do dự với “Tự tình II”
Muốn cho anh nhưng ngại câu
hò
Giếng sâu, giếng cạn…
Em không tiếc sợi dây dài
Mà chỉ tiếc đời nhau.
Họ cứ sợ sệt, thăm dò. Không
ai dám ngỏ lời trước để lòng bồn chồn quay quắt, nói xa, nói gần. Văn Lệ Trinh
như hoá đá trước tình cảm ấy qua bài “Đêm trăng”:
Canh cánh lòng quay quắt nhớ
người xa
Trăng đắm say thả mộng xuống
quê nhà
Trăng rất thật còn anh thì
hư huyễn
Đêm mênh mông cỏ cây cùng
hòa quyện
Trơ trọi một mình em hoá đá
dưới trăng
Riêng Thái Hồng thì nói xa,
nói gần:
Dân ca có tự tháng ngày
“người dưng khác họ…” dễ đày
doạ nhau.
Rồi hai kẻ người dưng khác họ
ấy ngoan ngoãn tự hành hạ chính mình để chắt lọc ra nụ cười đầy nước mắt:
Như con chiên của Chúa
Ta cúi tạ ơn nhau
Xin giữ gìn tiếng khóc
Xin giữ gìn nụ cười.
Hoặc úp úp mở mở như Hồ Duy.
Khi anh đã hiểu em rồi, nhưng cứ chờ anh lên tiếng trước. Hồ Duy do dự hoài rồi
chọn ngày đầu năm tỏ tình để “lấy hên” nhưng mãi vẫn không thốt ra lời phải chờ
đến năm sau và nhiều năm sau nữa mà nói không thành lời tiếng yêu em:
“Dặn lòng rằng tết năm nay
Sang thăm em sẽ nắm tay tỏ
tình”
“Thôi đành hẹn lại hôm sau
Gặp em viện lẽ có câu chuyện
cần”
“Mồng ba lần nữa sang nhà
Thấy em nâng nhẹ cánh hoa
mai vàng”
“Đêm nằm mùng bốn nhủ thầm
Trộn yêu em đến hết năm tỏ
tình”
Khi sợi chỉ đời trói buộc những
người yêu nhau thành vợ, thành chồng. Anh đối đầu với cơm áo, gạo tiền. Em tay
bế, tay bồng bếp núc lo cơm nước chồng con. Bất chợt anh lặng nhìn con ngủ
trong vòng tay em và tự hỏi:
Con ngủ rồi em mới ngủ phải
không
Anh lặng ngắm sợ làm em thức
giấc
Em nhẹ cười. Tay nắm
lấy tay con
Ừ ngủ đi, em cứ ngủ cho
ngoan
Con ngoan lắm nương vào hơi
mẹ
Bao toan tính của đời thường
lặng lẽ
Cũng tan đi trong giấc ngủ
yên bình
(Lặng nhìn em ngủ-Bằng Lăng)
Chiến tranh đã đi qua, chúng
ta đang ở trong đất nước thanh bình, nơi bọn trẻ dễ gần nhau, tình yêu dễ đâm
chồi kết trái. Nhưng Thuý vân vẫn không quên tìm về biên giới chia sẻ với những
người lính đang thức cùng gian tuân:
Nếu không đến cùng anh
Làm sao em biết được
Biên giới rừng mênh mông
Sương đêm thấm buốt lòng.
Từ biến giới, Thuý Vân buốt
lòng cùng người lính trẻ, còn hậu phương Ngọc Hiệp cũng chạnh lòng trước “Những
bia mộ không tên”:
Tôi đến bên dãy đất mọc ven
đường
Những nắm đất xếp hàng cùng
đồng đội
Tôi lặng lẽ đọc tên từng bia
mộ
Bỗng bàng hoàng vì bia mộ
không tên
Chiến tranh qua rồi còn lại
nỗi đau
Xã vùng sâu mọc lên bao nắm
đất.
Chuỗi thời gian đất nước
thay da đổi thịt. Người làm thơ tiếp cận trước màu sắc của cuộc sống thanh
bình. Vết thương chiến tranh còn lành hẳn không khi ngồi trên bàn nhậu bất chợt
Văn Quốc Thanh phát hiện người lính trở về với thân hình không lành lặng:
Ngừơi lính già tôi gặp chiều
nay
Dáng khập khễnh cứ nghiêng về
phía trước
Dấu chấm phẩy viết ra sau mỗi
bước
Đuổi theo ông đến cuối cuộc
hành trình.
Rồi:
Ta chợt hiểu từ đôi chân ấy
Dấu chấm phẩy viết ra từ máu
thịt của con người.
Tuyển tập “Văn, thơ, nhạc
Vĩnh Long 20 năm” còn rất nhiều câu thơ, đoạn văn, dòng nhạc phản ánh muôn màu
muôn vẻ về tình đất, tình người. Hai mươi năm đâu phải là dài, nhưng với ngần ấy
thời gian cũng đủ cho chúng ta suy gẫm nhiều về cuộc sống.
Những dòng viết trên đây là
phút giây bất chợt của một người yêu thích thơ, không mang tính phê bình nghiên
cứu văn học nhiều. Bên cạnh những câu thơ vừa trích còn nhiều truyện hay và
dòng nhạc ấm áp tình người. Hy vọng một ngày nào đó sẽ có nhiều bài viết nhận
xét sâu sắc dành cho Tuyển tập nói về văn, thơ, nhạc của vùng đất Vĩnh Long
giàu đẹp.
Văn Quốc Thanh



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét