Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh
Có lẽ trong nền tri thức nước nhà, chưa có công trình nào tổng
kết một giai đoạn, một trào lưu văn, hoặc thơ tài tình như cuốn Thi nhân
Việt Nam của Hoài Thanh. Phải công phu và tài lắm mới có thể chọn trong
hàng vạn bài thơ của khoảng bốn ngàn người có thơ đăng báo, in sách trong khoảng
mười năm phong trào thơ mới (1932 - 1941) để chỉ giữ lại khoảng 169 bài của 46
tác giả và bình phẩm. Phải ở tầm tri thức cao lắm mới có thể am hiểu để mà so
sánh thời đại thi ca từ Tản Đà về trước cùng thời đại thi ca mới với những “...
hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông,
trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính,
kỳ dị như Chế Lan Viên,... và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.
Khi nói về ảnh hưởng của nền thi ca lãng mạn và tượng trưng của
Pháp đến phong trào thơ mới nước ta, ông có ý phàn nàn: “Mỗi nhà thơ Việt Nam
hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp”. Nhưng rồi ông lại phân bua rằng,
ấy chỉ vì ông “tìm ảnh hưởng để chia xu hướng”, chứ thực sự thì: “Tiếng Việt,
tiếng Pháp khác nhau xa. Hồn thơ Pháp nếu chuyển được vào thơ Việt là đã Việt
hóa hoàn toàn... Thi văn Pháp không làm mất bản sắc Việt Nam...”. Nhưng có lẽ bản
sắc Việt Nam được giữ gìn một cách thuần khiết hơn trong dòng thơ Đường còn sót
lại, và nhất là trong dòng thơ Việt mới, Ông đã nhắc tới các nhà thơ đồng quê với một
tình yêu đằm thắm. Hồn của mỗi câu thơ, mỗi bài thơ được Ông cảm thụ một cách hết
sức tinh tế để nhận ra rằng: “Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên chỉ ưa sống trong
tình quê mà ít để ý đến cảnh quê. Anh Thơ không nhà quê chút nào. Anh Thơ là
người thành thị đi du ngoạn nên chỉ thấy cảnh quê... Nhưng cảnh quê của Anh Thơ
thì bình dị, còn của Đoàn Văn Cừ thì rực rỡ. Tình quê của Nguyễn Bính được nuôi
dưỡng bằng hồn xưa của đất nước mộc mạc, chân thành; còn của Bàng Bá Lân là
tình của những người... không đủ can đảm sống lam lũ như những người dân quê thực,
nhưng thành thị thì họ đã chán ghét lắm rồi.”
Sau mười năm nhìn lại phong trào Thơ mới, tác giả Thi
nhân Việt Nam đã chắt lọc, nâng niu và làm sống động thêm những dòng thơ
mà Ông rung cảm, bất kể của ai, Ông thích hoặc không thích, nổi tiếng hoặc
không nổi tiếng. Ông nói chân tình: “... tôi chẳng muốn chê ai và cũng chẳng muốn
khen ai, tôi chỉ muốn hiểu cho đúng - không phải cho đủ - hình sắc những hồn
thơ”. Những hồn thơ mà Ông nói ở đây là những hồn thơ mới: mới trong cách thể
hiện phóng túng, không theo niêm luật như thơ cũ, và mới trong tư duy: lấy chữ
TÔI (rất cá biệt trong nền thơ mới) thay cho chữ TA (rất chung chung trong nền
thơ cũ).
Sau mỗi hồn thơ là một con người cụ thể - Nhà thơ. Với mỗi
nhà thơ, Ông đều dành cho một tình cảm đặc biệt. Ông thương xót Hàn Mặc Tử đến
não lòng: “Cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng ấy đã bắt người phải chịu
bao nhiêu cảnh phũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy... bao nhiêu năm người bó tay
nhìn cả thể phách lẫn linh hồn cùng tan rã... Một người đau khổ nhường ấy, lúc
sống ta hững hờ bỏ quên, bây giờ mất rồi ta xúm lại kẻ chê, người khen. Chê hay
khen tôi đều thấy có gì bất nhẫn”. Ông trân trọng Chế Lan Viên (lúc viết tập Điêu
tàn mới mười sáu tuổi), người đã đau quằn quại nỗi đau của người Chiêm
Thành xưa để “... xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị... Giữa
đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế thứ 20, nó đưng sùng sững như một Tháp
Chàm chắc chắn, lẻ loi, bí mật...”. Ông thừa biết “Nguyễn Vĩ đã đến giữa làng
thơ với chiêng chống, xập xoèng inh cả tai...., đã muốn lòe những kẻ tầm thường
như bọn ta bằng những vần thơ táo tợn và sáo rỗng”, nhưng Ông vẫn cảm thông và
biểu dương một cách chân thành: “Một bài thơ như Sương rơi đã sáng tạo ra một
nhạc điệu riêng để tả một cái gì đang rơi... những giọt sương ... những giọt lệ...
hay những giọt gì vẫn rơi đều đều, chầm chậm trong lòng ta mỗi lúc ta vơ vẩn buồn,
ta đứng một mình trong lặng lẽ”.
Tất cả những cảm nhận trên đây đã đưa tôi đến một niềm tin chắc
chắn rằng: Ông Hoài Thanh đã quan niệm Thơ không chỉ vì Thơ mà trước hết còn vì
cuộc sống, vì Con người! Ở Ông, tình yêu thơ cũng là tình yêu con người với mọi
góc cạnh lung linh của tâm hồn; là tình yêu cuộc sống với đầy đủ những vui, buồn
thánh thiện và dung tục.
Chắc chắn là Ông đã cho rằng, thơ trước hết phải hay, phải
làm rung động lòng người. Câu thơ của Bích Khê mà ông cho là “hay vào bậc nhất
trong thơ Việt Nam”:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! thu mênh mông
Chỉ đơn giản là rất, rất hay; chứ ta không hề biết là nó vì
cái gì và vì ai. Nhưng ngược lại, khi khen ngợi thơ của Chế Lan Viên là trước hết
Ông ca ngợi tinh thần nhân văn cao thượng của nhà thơ, dầu không mang họ Chế,
nhưng đã vẫn là một nhà thơ Chiêm Thành để khóc thương cho số phận một dân tộc
đã bị chinh phục đến bị tiêu diệt ấy.
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than...
Và đây nữa, khi viết về thơ Nguyễn Bính, Ông đã có những lời
hết sức xúc động: “Ở mỗi chúng ta đều có một người nhà quê, cái nghề làm ruộng
và cuộc đời bình dị của người làm ruộng cha truyền con nối từ nghìn năm đã ăn
sâu trong tâm trí chúng ta... Nhưng những cám dỗ và phiền phức của cuộc đời mới
đã làm ta dần quên cái chất nhà quê ấy”... và, “Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức
người nhà quê vẫn còn ẩn náu trong lòng ta. Ta vẫn thấy vườn cau, bụi chuối là
hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính
tình căn bản của ta”. Như vậy, Hoài Thanh đã khẳng định rằng, thơ của Nguyễn
Bính là thứ nghệ thuật vị nhân sinh. Ông tin rằng, những vần thơ của Nguyễn
Bính, chẳng hạn như những vần thơ sau đây, phải được sánh với những câu ca dao
mà dân quê thường quen hát quanh năm:
Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một giàn cau liên phòng
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
Lòng anh giếng ngọt trong veo
Giăng thu trong vắt biển chiều trong xanh
Lòng anh như bụi kinh thành
Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe.
Hoài Thanh bảo rằng, những câu thơ ấy đã mang lại cho chúng
ta “một điều mà người ta không thể hiểu được bằng lý trí, một điều quý vô ngần:
Hồn xưa của đất nước”.
Một người quan niệm về thơ như thế, nói về thơ như thế, mà lại
đã từng mang tiếng rằng chủ chương Nghệ thuật chỉ vì Nghệ thuật thì
thật là oan uổng lắm thay!.
Chu Hảo



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét