Thứ Năm, 17 tháng 12, 2015

Mùa về trên ngói

Mùa về trên ngói

Tôi thích ngắm những mái ngói cũ càng rêu phong. Trong tiềm thức, ngói là nơi lưu giữ những mảnh kí ức thời gian. Dù nhân tình có đổi thay, đời sống có thăng trầm bao nhiêu chăng nữa, mái ngói kia vẫn lặng im như ngàn năm vẫn thế, bình thản, và có chút gì đơn độc.
Thích nhất là ngắm bước chân mùa in hằn trên ngói. Ngói làm nền cho nàng xuân điệu đàng lơi lả. Thật lạ, mái ngói dù thâm nâu sờn cũ, mà sao ta vẫn thấy được hơi thở của mùa xuân. Những giọt sương sớm buông rơi trên ngói, rồi trơn trượt theo lớp rêu xanh bám chặt, rồi âm thầm thấm vào thân ngói lặng câm. Thật bình yên quá đỗi, chú chim sâu ngó nghiêng liên hồi, miệng bật thốt những thanh âm tíu tít gọi mùa về.
Có lẽ, mái ngói tươi vui nhất trong những ngày hạ. Nắng giòn tan. Màu vàng sánh rót xuống tràn trề. Ngói rộn rã, tí tách trong những hân hoan cựa mình, từng chút tế bào trong những mảnh vụn vôi vữa như tìm thấy niềm rạo rực bấy lâu chôn biến. Cha thì thầm vào tai chúng tôi, mùa nắng nóng thế này, chỉ có nhà ngói là mát dịu. Tôi thấy đúng. Nhưng tôi thấy thương những viên ngói lặng lẽ kia, chúng như hút vào mình hết thảy nóng nực của ngày hạ, để chúng tôi say mình trong những giấc mơ mát lộng của tuổi thơ. Cha tôi thường đi gom tranh khô, rơm rạ, đan bện lại rồi hì hục tấp lên mái ngói. Không hiểu sao, mỗi khi xa làng xa quê, nỗi nhớ trong tôi lại hướng về đôi cọng tranh khô nằm lặng lẽ trên mái ngói. Chúng nằm đó, khô gầy, hao kiệt, ngơ ngác ngắm nhìn mùa đang trôi đi. Có chút nhớ thương như đang giữ kín trong lòng, tâm tưởng hướng về phía xa, như chờ đợi mà như đã tuyệt vọng.

Rồi cuối cùng, thu cũng ghé qua. Dư âm xác xơ của mùa hạ như chút thời gian lưu cữu đọng lại hao gầy. Vườn nhà bung mở đôi bông cúc thắm. Làn gió heo may cũng rủ nhau quay về mang theo chút rùng mình se sắt. Những viên ngói khẽ khàng nằm xếp lớp lên nhau, mỗi sinh thể như đuổi theo một dòng nghĩ suy riêng biệt, sâu kín. Mùa đã trầm lặng. Mái ngói lại càng lặng lẽ hơn trong những u hoài. Giá có thể biết chúng đang nghĩ gì khi mùa lại sang, khi những bước chân thời gian lại lẳng lặng qua. Hèn gì những đêm trăng mùa thu, gió lộng qua khung cửa sổ, cha lại nằm vắt tay lên trán. Người đang đếm những viên ngói chênh chao trong đáy mắt hay đang đếm những muộn phiền, những nỗi sầu tư chan chứa? Rồi có những đêm không ngủ, ta cũng bắt chước cha, cũng lặng lẽ nhìn lên mái ngói cũ càng để tìm câu trả lời cho những đêm thao thức của cha. Từng viên ngói cười ngây ngô, rồi ơ hờ chìm vào tĩnh lặng. Rồi có khi đuổi bắt nhau, xô đẩy nhau, rồi bất ngờ dùng hết sức lực bình sinh, bung ra khỏi những khuôn gỗ rui, mèn, đổ ào vào bầu trời gió lộng. Ánh trăng huyễn hoặc của đêm trung thu chan đẫm cả căn phòng, thấm ướt cả chiếc gối mà ta nhầm tưởng là viên ngói. Ôi, những giấc mơ ngói của tôi!
Mùa đông. Gió hun hút lùa qua khe cửa gỗ mong manh. Trong đêm, nằm lặng mình nghe tiếng mưa rơi, ta có cảm giác có tiếng trở mình của ngói. Chút rùng mình ớn lạnh kia càng khiến không gian yên nguội, lặng vào trong chiều sâu của những tâm tư. Biết đông sang, gió chuyển mùa, rồi những cơn mưa thể nào cũng đến. Buổi chiều, cha hì hục leo lên mái ngói, cẩn thận xê dịch, vá dắm từng lỗ hổng, vết nứt. Ta không nhìn, nhưng sao tim ta vẫn nghe được những tiếng tí tách thầm thì của ngói. Những hạt bụi năm tháng dính đầy trên ngói. Màu đỏ thẫm ngày nào giờ đã bị phủ mờ bởi màu xanh của rêu và màu nâu đen của gió bụi. Phải chăng là màu của kí ức, màu của thời gian ưu phiền, như tiếng thở dài vẫn còn nén chặt trong lồng ngực. Những đêm mưa, tiếng rơi u buồn, không dữ dội như trên mái tôn đồm độp, không xao xác như trên mái nhà tranh, những giọt âm thanh hiu quạnh như buông ra mà cũng như đang nén chặt vào lòng, tựa lời tự tình sâu kín dè dặt buông ra mà sợ không có nổi một kẻ tri âm. Tiếng rơi đùng đục, trầm sâu, rồi ngấm, rồi loang chảy, rồi tan biến. Ta cũng không biết mình đang đếm tiếng mưa đêm hay đang lắng nghe tiếng thì thầm của những viên ngói đơn độc giữa tháng năm sương khói...
Mùa về trên ngói, hay chính ngói là hình bóng của hồn ta trong dòng chảy thời gian dằng dặc, miên man?
Ơ kìa, mùa đang về trên ngói... 
Lời rêu 
Tôi bị ám ảnh bởi rêu.
Đó là thứ nát nhàu và oằn mình dưới dấu giày của tha nhân. Đó là thứ hầu như vô hình trong đôi mắt nhân thế. Bởi rêu quá mỏng, quá gầy, quá hư hao...
Tôi nhớ lần đầu tiên tôi lắng nghe được lời của rêu. Ấy là năm tôi lên 10 tuổi. Tôi cùng đám trẻ con đến chúc mừng sinh nhật đứa bạn cùng lớp, ai nấy đều háo hức. Và càng mắt tròn mắt dẹt khi bước vào phòng khách lộng lẫy của nhà bạn, nhất là bể cá rất to, rất đẹp án ngữ ở góc nổi bật nhất của căn phòng. Cả bọn ào đến xem cá, ríu rít chỉ trỏ, xuýt xoa... Còn tôi, không hiểu sao, tôi chỉ chú ý đến những cánh rêu mỏng manh, trôi dạt trong những hạn định tầm thường không được kiến tạo nên bởi tự nhiên và vũ trụ. Tôi thương rêu! Tôi lắng nghe và cảm nghiệm được lời thở than xa vắng, nỗi oán thán bất lực, âm thanh của rạn vỡ và phôi pha...
Ngày ấy, buổi chiều, mẹ và các chị tôi thường rủ nhau đi "cất rớ". Đó là những mảnh vải màn cũ được cắt ra, may vào chiếc gọng bằng tre, rang một ít cám thơm làm thính, rắc xuống rớ và dùng một chiếc sào tre buông xuống ven hồ. Mẹ đi hết vòng quanh hồ là hết một lượt vài chục rớ và sẽ quay lại chiếc đầu tiên nhẹ nhàng nhấc bổng lên. Các chị tôi hào hứng say mê nhìn những chú tôm, đàn tép, có khi là vài con cá rô, cá diếc sa bẫy, khoái chí đổ vào chiếc rổ đậy lá chuối mẹ đã chuẩn bị. Nhưng, tôi lại gặp những bóng rêu. Một chút xanh lạc loài, một chút vàng vọt năm tháng, một chút ánh tím cô liêu... Tôi đón những lá rêu li ti vào lòng tay và tưởng như mình đã chạm được vào hồn cốt thẳm sâu của đáy nước. Tôi mê mải đến quên cả chiều tà, quên cả sự biến mất của ánh sáng, sự chiếm hữu của bóng đêm. Chỉ còn thứ âm thanh duy nhất quấn quýt lấy hồn tôi, chen lấn vào trong từng kẽ hở liu riu của các giác quan tôi đang trỗi dậy. Tôi thả rêu về với nước, về với sự tan loãng, về với sự không hạn định của tự nhiên. Bởi tôi biết, chút đong đưa của rong rêu cũng chẳng thể nào làm đau ai cả, dù là một tiếng sóng của dòng sông...
Tôi thường ngắm nhìn rêu trên mỗi con phố tôi qua, trên những đám tường loang lổ hằn in bước chân năm tháng. Rêu đang mải miết lưu lại những vết dấu đã qua của ngày, của đời, của cõi thường hằng vô định. Kim Trọng hẳn đã tái tê đến mức nào khi dấu tích cuộc tình đầu chỉ còn lại trong chút rêu phong cũ càng nhói buốt...
Rêu trong cảm thức gắn với thân phận của một người phụ nữ tôi yêu quý - dì tôi. Đó là một người đàn bà bất hạnh và xinh đẹp. Một lần, trò đuổi bắt trẻ thơ đã khiến dì bị ngã, dập nát nhiều bộ phận nội tạng. Từ đó, cuộc đời dì gắn liền với bệnh tật, với tàn phế và cô độc. Nhưng rồi một ngày, mối tình đẹp nhất mà tôi từng biết đã thăng hoa. Người đàn ông cao thượng ấy đã đủ yêu thương, đủ hơi ấm để nâng niu một cọng rêu hao gầy, tàn héo, đã lắng nghe được khát khao khẩn thiết của cánh rêu mỏng manh - khát khao được yêu, được sống, được cất lên bài hát dịu êm muôn thuở của hạnh phúc hữu hình...
Dẫu vậy, năm 40 tuổi, dì tôi qua đời. Mái nhà tranh của dì úa tàn trong tiếng kẽo kẹt tre nứa quạnh hiu. Bước chân tha hương dẫn tôi tìm về bên bậc thềm thuở trước, chỉ còn lại đám rêu cô đơn bạc phếch, nhức nhối. Tất cả lướt qua cõi nghìn trùng tựa đám mây phiêu lãng, không thể biết bắt đầu và dừng lại ở đâu, tựa như những rêu phong không biết đã đến và biến mất tự lúc nào.
Ngày mai, nếu ai đó trượt chân bởi chút rêu bám víu trên mặt phố, xin đừng oán giận. Xin hãy tin rằng có một tâm hồn đơn côi nào đó, một trái tim nhiều thương tổn nào đó đang muốn kể với bạn câu chuyện của cuộc đời. Chuyện của loài rêu!
Sự im lặng của dòng sông 
Hẳn trong cuộc đời, sẽ có bóng dáng đôi dòng sông uốn lượn quanh co trong tâm thức. Tôi vốn sợ nước, nhưng cảm thấy cuộc đời mình gắn với một dòng sông như duyên kiếp.
Ngày xưa, nhà tôi nằm quay lưng ra một con sông hẹp. Sông không giống như trong cổ tích - mềm mại, điệu đà, ẻo lả trong những đêm trăng huyền thoại. Dòng sông này hẹp, chảy về đâu tôi không rõ, chỉ biết từ xưa người ta đã gọi nó bằng cái tên không chút mĩ miều - sông Cụt. Sông nằm bên cạnh làng tôi, bên kia là khu chợ được xây dựng từ lâu đời. Có lẽ bởi sự ám ảnh về tên sông nên trong kí ức tôi, sông váng vất những nỗi buồn khó nói. Lòng sông như thể là nơi chôn giấu bao tâm sự, bao nỗi niềm của con người nơi đây. Thuở ấy chưa có cầu xây, chúng tôi đi chợ tắt qua sông bằng một chiếc cầu gỗ nhỏ, lắt lẻo, tạm bợ. Tôi không nhìn thấy phù sa bồi đắp bãi bờ. Tôi không nhìn thấy những cánh buồm chở đầy mơ ước. Tôi chỉ thấy những người đàn bà lam lũ gánh rau qua sông, bóng chập chờn oằn oại dưới dòng nước đục. Tôi chỉ thấy đôi ba con cá lạc đàn, ngơ ngác quẫy lội trong sự cạn kiệt của dòng trôi. Tôi không nghe thấy âm thanh của tiếng sóng. Tiếng sáo diều buổi chiều hay tiếng hát ca hò hẹn đêm trăng cũng chỉ là niềm khát khao xa xỉ. Tôi chỉ nghe thấy sự im lặng của dòng sông.
Ngày bé, tôi vốn thích theo mẹ đi chợ qua sông. Nhiều người ghét nó bởi nó không lãng mạn như bao con sông khác. Nhiều người vô tư vứt rác xuống lòng sông bởi đơn giản nghĩ rằng nó không đáng để giữ gìn sạch sẽ. Sông chỉ im lặng. Có lần người dân làng tôi hoảng hốt bàn tán khi nghe tin một người đàn bà gánh nước qua sông giữa trưa và về nhà bị ma ám. Tôi không biết thực hư thế nào, chỉ biết người đàn bà ấy từ ngày đó, cũng câm lặng như sông, mắt dõi nhìn về phía xa mờ, tóc buông xõa nhạt nhòa như nước sông những chiều lững lờ vô định.
Tôi thấy lòng trĩu nặng. Con sông ấy là kí ức tuổi thơ tôi, là những năm tháng tôi xây đắp biết bao mộng tưởng. Dù sông không đẹp, nhưng dòng chảy ấy mang dáng dấp, hồn cốt quê hương. Hay người đàn bà kia chính là hình bóng của sông, cô đơn, khắc khoải, mải miết kiếm tìm những hoài vọng xa xôi đến quên mình, đến ngơ ngác trước sự tồn tại của bản thể và lạc lõng giữa dòng đời phù du trôi nổi. Người đàn bà ấy còn im lặng đến bao giờ trước thời gian, khi dòng sông kia vẫn câm nín đôi bờ, cả con nước cũng lặng thầm cuộn chảy trong trong đêm, chỉ thì thầm những điều không rõ với đáy sông đầy cát và đá. Sự im lặng ấy đã bao lần cuộn sóng đáy hồn tôi.
Rồi năm tháng cứ thế trôi đi. Khu chợ được người ta xây dựng lại. Làng xóm tôi cũng không còn lác đác vài mái nhà tranh như xưa. Tất cả đã đổi khác, một diện mạo mới, trù phú hơn, rộn ràng hơn. Nhưng, điều tôi mong cầu đổi thay nhiều nhất chính là cây cầu nhỏ. Tôi mong người ta xây mới chiếc cầu, để tôi thấy bóng mình đổi khác dưới dòng nước cuộn, để tôi thấy lòng mình an nhiên tĩnh tại hơn khi ngắm nhìn đàn cá chao lượn bình yên, vài mặt người tảo tần gánh rau ra chợ nhưng trong đáy mắt không còn u uẩn như ngày nào... Tôi ước mong nhiều lắm, như thể dòng sông ấy, cây cầu ấy là linh hồn tôi khờ khạo, cứ mãi trôi xuôi và lặng lẽ giữa tháng năm. Tôi đang đi tìm dáng nét của hồn tôi trong sự im lặng của dòng sông?
Nhưng, tất cả không như niềm đợi chờ tha thiết của một tôi khờ dại. Người ta không xây mới cầu. cũng không đi tìm giai âm tiếng nói của dòng sông. Người ta mở đường, rồi lấp đi dòng sông im lặng ấy. Con đường thênh thang nằm ngạo nghễ ngay bên khu chợ, xóa nhòa một cách tuyệt đối sự hiện diện bao năm tháng của một dòng sông cô đơn. Người dân làng tôi không còn vất vả gánh hàng băng qua chiếc cầu gỗ mỏi mòn, xiêu vẹo. Nhưng sao tôi cảm thấy một sự trống vắng đến vô cùng. Chẳng có tiếng ếch nào cả như ngày xưa Tú Xương thảng thốt giật mình. Dòng sông ấy cơ hồ cũng như hạt bụi, đã từng hiện hữu trong cõi đời này, rồi giờ đây biến mất không còn vết dấu. Buổi chiều, tôi tìm ra bến sông xưa, nơi ngày trước cây cầu lắt lẻo đứng chênh vênh đơn độc. Người đàn bà năm nào bị ma ám ngồi bất động bên vệ đường, mắt dõi về phía xa mờ tìm kiếm bóng dáng của dòng sông. Chút hoài niệm nhức buốt càng khiến người đàn bà như hóa đá. Chẳng ai để ý, bận tâm đến người đàn bà dở hơi ấy, nhưng tôi biết, ngoài tôi, có thêm một người cũng nhung nhớ dòng sông. Tôi bỗng thấy lòng mình nhẹ lại, bởi tôi đã tìm thấy trong đáy mắt người đàn bà tội nghiệp ấy sự im lặng của dòng sông.
Khi ta nghe thấu một sự im lặng, chính là khi tim ta không thể nào lặng im được nữa!
Gốc rạ những con đường tôi từng đi qua có in hình những cánh đồng trải dài bất tận. Hình ảnh lúa ập vào mắt tôi theo từng thời khắc, từng thời kì, mùa vụ. Cái cảm giác hít thở vào lồng ngực mùi sữa non đòng đòng ngọt mát khiến hồn người như thanh hơn, sạch hơn, dịu lại... Hèn chi đám mục đồng bỏ quên cả đàn trâu cặm cụi gặm cỏ bên sông, rủ nhau hái đòng đòng lên bờ ngồi nhâm nhi tí tách, rồi cuối cùng mồm đứa nào đứa nấy bám đầy màu trắng đục của lúa non. Rồi khi lúa chín, người nông dân hào hứng thu hoạch, gặt hái. Những bắp chân thiếu nữ nõn nà, những đôi má hồng hây hẩy nắng, những bàn tay đều đặn thoăn thoắt... Đẹp và bình yên quá đỗi! Rồi buộc, rồi chở, rồi xe kéo lúa về làng... Cả cánh đồng đã thanh lọc hồn tôi, đã đẩy tôi rời xa những phồn tạp bụi bặm của đời sống thường nhật, dẫn tôi trở về với bản thể giản đơn, thuần khiết thuở hồng hoang.
Nhưng không hiểu sao, hình ảnh tôi nhớ nhất về cánh đồng nguyên sơ lại chính là những gốc rạ. Khi cánh đồng đã xa vắng bóng hình người nông dân, những bó lúa ươm vàng chắc đã được đưa về sân phơi phóng và cất kĩ, chỉ còn lại gốc rạ chỏng chơ giữa cái mênh mông thiếu vắng của đồng quê sau mùa gặt. Đến vụ cấy mới, tôi thấy người nông dân đưa máy móc ra đồng, cày xới cho đất tơi nhuyễn, sẵn sàng chờ đợi mạ non. Thế là trong phút chốc, những gốc rạ trơ buồn biến mất, chấm dứt một phận đời thừa thãi.
Tôi nhớ những ngày xưa, rất xa... Nhà tôi không làm nông, nhưng miền quê nơi chúng tôi sinh sống vẫn đậm chất dân dã, nông nghiệp. Những người dân sống xung quanh gia đình tôi hầu hết đều buôn bán vặt và sống dựa vào nghề nông. Mùa gặt, tôi theo lũ trẻ con trong làng ra đồng mót lúa. Chúng tôi lượm lặt quanh những gốc rạ những bông lúa còn sót lại. Người nông dân vội vã quá hay chăng? Hay vụ mùa bội thu khiến họ trở nên hào phóng và chia sẻ với chúng tôi niềm hân hoan của họ? Tôi không biết nữa. Tôi chỉ cảm thấy tràn ngập niềm sung sướng khi buổi chiều tàn, cả lũ mỗi đứa mang về một bó lúa nhỏ, tưng bừng phơi sấy, gom góp vốn liếng của riêng mình. Từ bận ấy, tôi thấy gần hơn với những gốc rạ buồn. Tôi thương chúng...
Chúng tôi còn bày ra bao nhiêu trò trong những ngày người nông dân gặt hái. Sau những ngày thu hoạch trọn vẹn, nhiều khi đất trời giở chứng, thả xuống những trận mưa. Cánh đồng xâm xấp nước. Những gốc rạ lại trở thành điểm đến của những đứa trẻ hiếu động. Chúng tôi rủ nhau đi mò "dam" (cua đồng). Chúng thi nhau trốn bên mép ruộng, trong những hang hốc nhỏ bé, dưới gốc rạ. Chỉ cần thò tay vào là nhanh chóng móc ra mấy chú "dam" trộn cùng bùn đất. Buổi tối, khi ăn món canh rau vặt cua đồng mẹ nấu, không hiểu sao, lòng tôi vẫn nhung nhớ những gốc rạ trơ trọi, chỏng chơ, màu nâu thẫm lẫn với màu của đất đai bùn ngấu. Chúng thật cô đơn. Người ta đã lấy đi ngọn nguồn sự sống của chúng. Nhưng vẫn bắt chúng tồn tại kiếp tật nguyền dai dẳng. Chúng vẫn sống mà như đã chết. Chúng vẫn tồn tại, vẫn nhìn ngắm bầu trời, vẫn chứng kiến bao bàn chân, bao gương mặt đi qua chúng... mà lại phải câm lặng. Bởi có ai lắng nghe lời của chúng, có ai đếm xỉa đến sự hiện diện ngoài cuộc của chúng trong cuộc mưu sinh mệt nhọc kia...
Vậy mà, một điều kì lạ đã xảy ra. Mùa hè trôi qua với bao trải nghiệm thuần túy nông thôn, tôi bước vào năm học mới. Đi qua cánh đồng, tôi thấy họ vẫn chưa sẵn sàng cho mùa gieo hạt tiếp. Những gốc rạ vẫn còn kia, như ngóng trông, như chờ đợi một phép màu để được tái sinh, để được thêm một lần nữa, dù chỉ là một lần thôi, ẻo lả, mềm oặt dưới bàn tay chăm bẵm của người nông dân, nũng nịu vòi vĩnh được cung cấp dưỡng chất, được tưới tắm trong thì con gái... Tôi thực sự ngỡ ngàng khi tiến lại gần hơn phía cánh đồng. Những gốc rạ khô gầy cằn cỗi hôm nào giờ đã nhú lên những mầm xanh mới. Mấy chiếc lá hanh hao cố đẩy mình trồi lên khỏi thân xác xáp rạp của gốc lúa, nuôi tham vọng tái tạo, phục sinh một đời sống mới. Tôi buồn bã nhìn chúng, còn xanh hết mình như thế nữa để làm gì, còn lại gì để vớt vát và níu kéo khi chúng đã hiến dâng đến trơ kiệt những giọt tinh túy của mình cho bông lúa trĩu hạt, cho trắng ngần, thơm dẻo vương lại mãi trên đôi môi người hưởng thụ. Tôi bước đi trong những nghĩ suy mơ hồ, vẩn vơ đó, và không muốn ngoái nhìn lại khi bóng người nông dân chuẩn bị cho mùa vụ mới đã thấp thoáng phía xa kia... 
Chiếc cúc áo tuổi thơ
Với mỗi người phụ nữ, một chiếc áo sẽ đẹp theo nhiều cách khác nhau. Có người hẳn sẽ để ý nhiều nhất đến kiểu dáng. Có người chọn bằng được chất liệu như ý. Có người chủ yếu tập trung vào màu sắc. Còn tôi, sự lựa chọn bắt đầu từ những chiếc cúc!
Cúc áo được phát minh ra chắc bởi xuất phát từ nhu cầu đầu tiên và cấp thiết: để cài vào khuy, đảm bảo chiếc áo được mặc lên theo đúng hình dáng, và còn để đảm bảo an toàn. Và giờ đây, hẳn ai cũng thừa nhận, cúc áo được sinh ra còn bởi những vai trò không kém phần quan trọng khác, đó là trang trí cho chiếc áo đẹp hơn, phong cách hơn, ấn tượng hơn trong vai trò là những điểm nhấn. Tôi chọn áo bắt đầu từ cúc cũng có yếu tố đó tác động. Nhưng có một nguyên do rất riêng tư khác, ấy là từ câu chuyện về một chiếc cúc áo tuổi thơ.
Đó là năm tôi học lớp Một. Nhà tôi gần trường, nhưng cũng phải đi bộ khoảng 5 phút, đi trên một con đường làng rất hẹp và băng qua một cánh đồng. Buổi ấy còn khó khăn, vậy mà chúng tôi đã có trường xây khang trang để học. Mỗi buổi đến trường, tôi hào hứng đứng chôn chân trước cổng, ngước mắt lên cho đến lúc cổ mỏi nhừ, quyết dịch và đọc thật nhuần nhuyễn dòng chữ: TRƯỜNG PHỔ THÔNG CƠ SỞ NAM HÀ. (Chả là hồi ấy, trường Tiểu học chúng tôi còn học chung với trường cấp 2, và bây giờ cách gọi tên trường cũng đã có sự thay đổi). Dù mới lớp một, nhưng mẹ cũng đồng ý cho tôi tự đi bộ đến trường, trừ những hôm lụt lội thì sai chị cõng. Tôi thường rảo bước trên con đường quen thuộc ấy mỗi ngày...
Nhưng sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra nếu không xuất hiện hội thằng Đường, thằng Sơn thường xuyên đứng chặn bọn con gái ngay tại lối rẽ vào trường. Bọn chúng đứng giăng hàng ngang, cười chả chớt, và đòi cống nạp... cúc áo! Thật tai ác! Nếu nộp kẹo, nộp vở, chắc còn kiếm được, đằng này... Thế là, ngày nào, trước khi đi học, tôi cũng lục tung đống áo cũ của mẹ, cắt cúc, cẩn thận bỏ vào túi và qua "trạm" nộp cho chúng. Ngày này qua ngày khác, cứ nơm nớp đi, nơm nớp sợ rồi cuối cùng thở phào thoát nạn. Mấy đứa con gái xúm nhau lại thì thầm bàn chuyện mách cô, nhưng gặp phải cái lừ mắt đe dọa của mấy thằng kia nên đành câm nín.
Một lần, nhà tôi có giỗ, khách đến đông, tôi quên khuấy chuyện chuẩn bị cúc áo, vô tư đeo cặp đi. Đến khúc rẽ, tôi hoảng hồn khi trông thấy mấy thằng "trời đánh" ấy đang đứng cười vật vã ở đấy, cười ré lên chia nhau chiến lợi phẩm. Thôi chết rồi! Không cống nạp, chúng sẽ không cho qua. Nếu chạy ngược về nhà, chắc chắn sẽ muộn học, với lại, đống áo cũ của mẹ tôi cũng đã "tiêu tán" hết cúc rồi. Tôi đứng như trời trồng, nước mắt bắt đầu dâm dấp. Tôi định chạy vụt qua nhưng bọn chúng cứ giang tay, ngáng chân khiến tôi ngã dúi dụi. Tức đến bầm gan tím ruột! Bỗng thằng Đường khều tay mấy thằng kia, chỉ trỏ vào chiếc áo trắng vải lon mẹ mới may cho tôi. Cả tuần nay mẹ hì hụi bên tấm vải, đêm cũng đỏ đèn may bằng tay mấy chiếc áo trắng cho chị em tôi. Hôm qua, khuya lắm rồi, tôi còn thấy mẹ đơm những chiếc cúc áo cuối cùng để sáng nay tôi diện đi khoe lũ bạn. Nghĩ đến đó, tôi òa khóc nức nở, vứt cặp xuống đất, hai tay nắm chặt vạt áo, cố che giấu đi những chiếc cúc màu trắng xinh xinh. Thằng Đường, thằng Sơn vẫn quyết không buông tha, mặc cho nước mắt lấm lem hết cả hai má của tôi rồi! Bỗng, một tiếng hét vang lên, tôi hé mắt lên và bắt gặp khuôn mặt bừng bừng của thằng An học cùng lớp. Bọn kia cười nhạo vì có đứa dám thể hiện, đối đấu với chúng. An giật phắt mấy chiếc cúc áo trên chiếc sơ - mi cũ sờn của cậu ấy, ném về phía chúng và kéo tay tôi chạy thẳng vào sau cánh cổng trường. Tôi líu ríu, vẫn không quên nhặt cặp lên, chưa kịp hiểu chuyện gì vừa xảy ra và gọi tên câu chuyện ấy là gì (mãi sau này tôi mới lờ mờ kiếm ra một tên gọi mà người lớn hay dùng, đại loại kiểu như anh hùng cứu mĩ nhân!!!). Nhưng kết cục của câu chuyện không có hậu như trong truyện cổ tích, vì ngay sau đó, An bị cô giáo phạt vì tội phanh áo, khoe ngực trần... giơ xương! Tôi cũng im như hến, không dám nói một lời biện minh cho An, chỉ vì tôi... xấu hổ quá!
Giờ đây, bao tháng năm đã trôi qua, đứa trẻ nhà tôi đã vào lớp Một. Đôi lúc tôi thấy mình thật ngớ ngẩn khi chờ con đi học về và mong con khó khăn xin mẹ... đôi chiếc cúc áo cũ! Tất cả đã qua rồi, bọn trẻ bây giờ hẳn cũng không thích sưu tầm cúc áo như bọn thằng Đường, thằng Sơn ngày xưa nữa. Nhưng tôi vẫn tin rằng, sẽ còn có những bạn như bạn An của tôi, đã cho tôi biết cúc áo đẹp như thế nào. Tôi sẽ đi tìm lại, - tìm trên những chiếc áo mới - chiếc cúc áo của tuổi thơ.
Chơi vơi phố
Bạn có thể đếm bao nhiêu con phố mình đã từng đi qua? Bao nhiêu bước chân mình đã rải? Bao nhiêu lần trong cuộc đời dài rộng bạn bước đi một mình trên con đường thăm thẳm? Và đã bao giờ bạn lắng nghe nỗi ưu tư của con phố dài trong những đêm mùa đông diệu vợi....?
Thuở bé, khi bạn chập chững những bước đi đầu tiên, bạn sẽ thấy mảnh sân nhà mình là cả một thế giới. Bạn run rẩy vì hạnh phúc khi lần đầu chạm bàn chân của mình vào đất mẹ. Lần đầu tiên, bạn khẳng định được vị thế của mình giữa cõi đời này. Và con phố đầu tiên bạn bước chân qua chính là con đường ngay trước ngõ nhà bạn. Có thể đó chỉ là một con đường làng quanh co đầy bụi hay là con phố lớn tấp nập người qua lại...
Có thể bạn sẽ không còn nhớ? Nhưng chắc chắn con phố ấy nhớ bàn chân bé nhỏ của bạn thuở ấu thơ, bởi nó đã nâng niu trân trọng mỗi phút giây, mỗi khoảnh khắc bạn bước qua trong cuộc đời...
Mỗi con phố gắn với mỗi chặng đường trong hành trình sống của bạn. Khi bạn lớn lên, bước chân đến trường, bàn chân tung tẩy cùng lũ bạn, niềm vui của bạn đã phủ kín bao con đường? Hay bạn đã lặng khóc một mình trong những bước độc hành trên bao con phố vắng? Bạn còn nhớ không? Vậy mà, những con đường ấy đã cất giấu trong trái tim của nó biết bao xốn xang, bao rung động với mỗi thân phận, mỗi cuộc đời đi qua sự hiện hữu của nó...
Và có thể, có một con phố bạn không thể quên sau bao biến chuyển của thời gian, sau bao thăng trầm chuyển dời của tạo vật. Con phố ấy chính là kí ức về mối tình đầu tiên của bạn? Chỉ có bạn và con phố ấy biết được bí mật của nụ hôn đầu vụng dại, của một lần bạn đứng khóc trong mưa khi bóng một người khuất dần sau góc phố, của một lần bàn tay bạn tê dại chờ được ủ ấm bởi một bàn tay?.
Hãy thử một lần lắng nghe tiếng thì thầm của những con phố hỡi ai, tiếng trở mình của phố trong những khoảnh khắc giao mùa, trong tiếng cựa quậy râm ran của cây lá khi mùa đến. Còn gì buồn hơn những con phố sinh ra trên cõi đời này để rồi bị những bàn chân quên lãng, chỉ còn lại mùi ẩm mốc lá khô, mùi rong rêu xa vắng tan chảy trong tiếng gió xào xạc hoang vu... Một lần, trong đêm thật muộn, ta thử đặt bàn chân mình xuống một làn phố vắng, thật khẽ, thật êm, thật dịu dàng... Chút cô đơn ma mị. Chút mênh mang rợn ngợp. Chút cô liêu chất chứa tìm về. Phố đang sống đời sống riêng tư của nó sau một ngày dài náo loạn tiếng còi xe, tiếng rầm rập nghiến nát từng mảnh phố oằn mình nghiêng ngả. Phố chơi vơi trong chính sự tĩnh lặng của riêng mình. Dáng trầm mặc hoang vu của phố trong đêm mùa đông khiến lòng bạn xao động như thể bạn đang tìm lại được con đường làng đầu tiên của tuổi thơ chập chững, con đường của mối tình khờ dại không lời. Hãy bước thật khẽ thôi, thật êm đềm, cứ như là bạn đang trôi trong dòng kí ức ngọt ngào của riêng bạn, ban đang trôi trong những giấc mơ không bao giờ kết thúc về những cuộc hành trình.
Phố của bạn. Phố của tôi. Con phố nào sẽ gặp gỡ nhau nơi cuối cùng ngã rẽ? Con phố nào sẽ là nơi một ngày ta mỏi mệt, ta dừng chân, ta tan loãng trong cõi vô cùng?
Đêm trắng
Trong một đêm mất ngủ, bạn nghĩ gì? Mỗi cuộc đời, mỗi thân phận sẽ có những cách nghĩ suy khác nhau, nhưng chắc hẳn, trong đêm mất ngủ, bạn sẽ nhìn và nghĩ về mọi thứ theo một cách khác, một chiều kích khác, một đường hướng khác. Sẽ có một chiều sâu nào đó tìm đến trong cõi lòng mình, thì thầm với bạn triền miên trong một đêm không ngủ.
Đêm không ngủ, ai cũng biết, đêm sẽ dài hơn. Có khi dài hơn cả một ngày mình vừa lướt qua vô định, có khi dài hơn cả những năm tháng bạn đã sống, đã cười, đã thở, đã khóc. Thậm chí, có khi, đêm mất ngủ tưởng như dài hơn cả một thế kỉ.
Bạn lắng nghe được những gì trong một đêm không ngủ? Ban đầu, bạn sẽ dỗ dành, sẽ vuốt ve bản thể bạn, dụ dỗ cơn ngủ kéo đến. Bạn sẽ đếm hết tất cả những gì bạn nhìn thấy, bạn nghĩ đến, bạn mường tượng ra, ví như ngói, như sao, như đàn cừu béo múp, như đàn ngựa hoang trên thảo nguyên… Rồi cuối cùng, bạn chán nản, bạn bất lực để cho cái bản ngã trong bạn bùng dậy, trêu ngươi, bời bời thách thức. Bạn sẽ nằm lặng im, sau rất nhiều lần trở mình quăng quật, và bạn sẽ lắng nghe…
Đừng hoảng sợ và trốn chạy! Hãy một lần, hít thở thật sâu, nằm bất động và cảm nhận tiếng tí tách của từng chút tế bào cựa quậy trên da thịt bạn. Có một đời sống nào đó rất khác ngày thường, rất khác những gì bạn từng trải qua và nhìn thấy suốt bao năm tháng. Bạn sẽ bắt gặp biết bao điều kì diệu và huyền nhiệm có thể tìm đến, chỉ trong một giây, một khoảnh khắc thôi, mọi cơn uất ức vì mất ngủ bỗng biến mất, thay vào đó là một tâm thế rộng mở, phấn chấn. Cánh cửa linh hồn bạn bao lâu khép chặt nay hé mở, sẵn sàng đón nhận, thẩm thấu những màu sắc có thể là vô hình, những giai điệu có thể là vô âm, những dáng hình có thể là hư ảo…
Trong bóng đêm đen đặc và câm nín, chỉ có bạn và sự trỗi dậy của những cảm thức từ lâu chôn biến. Có phải bạn đang nghe những thanh âm vọng vào từ bên ngoài khung cửa sổ? Tiếng rơi nhẹ bẫng của một giọt sương, tiếng uống cạn của chiếc lá nghìn năm khô khát. Có một câu chuyện kì bí của chiếc lá và giọt sương, chỉ được kể trong tiếng thì thầm tí tách của một chiếc chồi non mà đến vạn kiếp sau, người đời cũng chẳng thể nào biết được. Vậy mà, trong một đêm mất ngủ, bạn đã khám phá ra điều bí ẩn ấy của đêm, của lá, của sương. Một phút giây nào đó, bạn sẽ thấy mình hạnh phúc vì điều đó.
Trong bóng đêm chuồi dài theo từng khoảnh khắc trôi chảy của thời gian, ta thấy tim mình xa xót khi lắng nghe tiếng vần vũ của cơn gió hoang cô độc. Hẳn niềm đơn côi đặc quánh và tuyệt đối trong màn đêm đem thẫm đã khiến ngọn gió kia mất phương hương, thét gào khản giọng trong chính vòng quay cùng cực của mình. Ta thấy môi mình mềm mượt như vừa nếm trải chút dư vị của hạnh phúc, bởi ít ra, đôi chân ta không mỏi mệt vô định, ánh mắt ta không thảng thốt lạc hướng trong đêm, linh hồn ta không bơ vơ trong cõi hoang vu vô hạn. Ta để mặc hồn ta thỏa thê bám riết lấy sự sống trong tiếng thở đều đặn của trẻ thơ bên giường, trong tiếng tích tắc đồng hồ vĩnh cửu.
"Chuyện hòn cuội - đêm qua đứng khóc bên dòng sông - một vạn năm sau, dòng sông còn hoang dại . Trong một đêm mất ngủ, ta đã nghe được lời thở than của hòn cuội. Và chỉ mình ta biết, những giọt nước mắt ấy đã chảy về đâu...
Hé mở cánh cửa buổi sớm mai
Người ta thường âu yếm gọi buổi sáng gắn với những cách nói như bình minh, ngày mới, sớm mai... Những ngôn từ ấy dường như đều hàm chứa ý nghĩa về một điều tươi mới, tinh khôi, trong trẻo, ngát thơm sẽ đến. Có rất nhiều cách để đón nhận một buổi sớm mai, nhưng ta thích nhất khoảnh khắc mình từ trong căn phòng kín, hé mở cánh cửa để cho những gì dịu dàng nhất ùa về...
Khi bạn chạm tay vào cánh cửa trong buổi sớm mai, có thể bạn còn ngái ngủ, mái tóc chưa kịp chải, bộ xiêm y đẹp đẽ chưa kịp khoác vào. Một làn gió mát lành sẽ nhẹ nhàng thoảng đến, hôn vào đôi má bạn, bạn sẽ cảm nhận được có một sợi dây kết nối huyền bí nào đó giữa bản thể mình và vũ trụ vô cùng vô tận. Ngọt ngào hệt như khi ta mê đắm trong nụ hôn tình đầu. Cánh cửa hé mở và dẫn bạn bước ra mảnh vườn nhỏ bé. Những giọt nắng hồng dường như đang còn mê ngủ, trốn mình sau những tấm chăn mây, như những cô nàng điệu đà làm duyên nhưng vẫn còn làm nũng mẹ. Chỉ có những giọt sương trên cành lá là quyến luyến, bịn rịn, thì thầm nói những lời ly biệt với cỏ cây khi ánh ngày bắt đầu gõ cửa.
Hé mở cánh cửa buổi sớm mai, ánh nhìn của bạn sẽ không bị ràng buộc trong những hạn định nhỏ nhoi nào. Từ khu vườn ríu rít tiếng chim sâu, cây lá chộn rộn đón chào ngày mới, ánh mắt của bạn sẽ dừng lại nơi cuối con đường. Khi bạn thức dậy, cuối con đường kia đã hằn in bóng bà, bóng mẹ đi chợ về, bóng những người dân lao động rộn rã tất bật một ngày mưu sinh đầy khó nhọc. Đôi tai của bạn không thể không lắng nghe âm thanh háo hức của lũ trẻ í ới gọi nhau đến trường... Những vang động quá đỗi bình dị ấy lại gieo vào lòng ta bao rung cảm khó nói hết thành lời. Ta khát khao nắm giữ trong lòng tay mình, trong hồn mình, tim mình hình hài xinh tươi của sự sống và hứng lấy, giữ lấy từng giọt tinh túy nhất của cõi đời, cõi người náo nức.
Hé mở cánh cửa buổi sớm mai, ta có quyền ước ao một phép màu sẽ đến. Không hẳn là chàng Hoàng tử lặn lội trong rừng và đánh thức nàng Bạch Tuyết bằng một nụ hôn cháy bỏng, có thể, bàn tay nhỏ bé, giá lạnh của ta sẽ chờ đợi một bàn tay thật rộng, thật ấm. Bàn tay ấy sẽ dắt ta đi qua con đường có bóng bà, bóng mẹ, có bóng đàn em thơ vui bước đến trường. Rồi chỉ ước được đi mãi trên con đường ấy thôi, con đường không nhiệm màu cổ tích nhưng dẫn dụ và mê đắm hồn ta bởi bao hoài vọng ngọt ngào.
Hãy đi, rồi sẽ đến. Hãy đi, khi cánh cửa buổi sớm mai bắt đầu hé mở. Đừng đánh thức những hạt nắng ngủ quên. Đừng đuổi theo những cơn gió chối từ. Thật nhẹ, thật mềm, thật bình yên trong tâm can, hãy bước đi trên chính con đường thân thuộc nhất của bạn, nơi rải đầy những bước chân mòn mỏi của mẹ, nơi da diết nỗi niềm không nói của cha, nơi những âm vang của quê hương rót đầy vào tâm hồn bạn như một thứ mật ong ngọt lịm... Đó chính là điểm bắt đầu cho cuộc hành trình xa rộng. Và chỉ khi nào giọt nắng kia tỉnh giấc, ngọn gió thôi không còn vần vũ hoan lạc, chúng sẽ chỉ cho bạn, đâu là điểm cuối của con đường...
Một sớm mai nữa lại bắt đầu gõ cửa. Hãy hé mở cánh cửa nhà bạn, cánh cửa tâm hồn bạn để bạn có cơ hội được cảm nghiệm và nếm trải, rồi nắm bắt cả thời gian, không gian diệu vợi trong chính lòng tay bé nhỏ!
Chuyện của mẹ tôi
Đến thời điểm này tôi mới hiểu vì sao người ta nói người già thường sống bằng kí ức. Điều đó quả thật đúng với mẹ tôi.
Mẹ tôi năm nay đã xấp xỉ 70, cái tuổi được coi là xưa nay hiếm, nhưng mẹ vẫn còn rất trẻ, gương mặt còn vương những nét đẹp xuân xanh. Mẹ tôi thích hát những bài nhạc đỏ, đặc biệt là những bài hát kháng chiến. Nhưng có những câu chuyện tôi đã nghe đến thuộc lòng, đến mòn tai, ấy là chuyện ngày xưa mẹ đi Thanh niên xung phong (TNXP). Câu chuyện của mẹ luôn bắt đầu từ năm 16 tuổi, cô bé chăn trâu hồn nhiên vượt núi non tiến thẳng vào Trường Sơn. Vượt núi, băng rừng, trèo đèo, lội suối, đào hầm, thông đường, thông xe..., vất vả chồng chất là thế nhưng từ cô gái gầy gò 35 kg, chỉ ăn ngô ăn sắn mà lên đến tận 50 kg. Thật thần kì! Mẹ tôi thích hát và là một thành viên trong ban văn nghệ của tiểu đội. Nhiều đêm đi hát phục vụ chiến sĩ tới tận khuya, quên cả ăn, ngủ. Chúng tôi lớn lên trong những câu hát đó. Mãi sau này, tôi mới hiểu, mẹ đã hát bằng những kí ức hoa niên, nhưng dư chấn của một thời đạn bom khốc liệt.
Đại gia đình tôi thường tụ tập, quây quần vào những ngày cuối tuần. Sau bữa cơm sum vầy con cháu, mẹ bắt đầu ôn lại những câu chuyện chiến trường. Khổ nỗi, những chuyện ấy chúng tôi nghe đã bao lần, thuộc đến từng chi tiết vụn vặt. Đó là chuyện về một người đồng đội cùng đơn vị mẹ tôi. Vì anh là một trong số ít thanh niên nam nên rất chiều chuộng chị em phụ nữ. Những hôm các chị đi đào hầm thông đường về muộn, đã thấy bao nhiêu quần áo được anh dưa vào gấp gọn gàng, sắp xếp theo từng chồng của từng người một (chỉ trừ đồ lót là không phân loại được). Rồi một hôm, theo nhiệm vụ, các chị vào rừng, anh ở lại trực thông tin liên lạc. Khi mọi người trở về, lán đã bị bom giặc cày nát, thân thể anh đã bị chúng băm vằm thành nhiều mảnh, chỉ còn nguyên những bộ quần áo vừa mới được sắp xếp gọn gàng... Đó còn là câu chuyện dữ dội trong một đêm trăng giữa rừng sâu núi thẳm, một đoàn xe tải chừng 100 chiếc đậu lại giữa rừng ngủ qua đêm, chờ tảng sáng hành quân tiếp, tránh bị giặc phát hiện. Không ngờ, địa điểm bị bại lộ, máy bay giặc bất ngờ ập tới san phẳng cả mảnh rừng, bom rải dọc suốt cả trăm chiếc xe đang đậu ven bờ suối. Câu chuyện ấy là một nỗi ám ảnh kinh hoàng với mẹ tôi, bởi những cô gái TNXP thuở ấy làm sao có thể quên được bao máu xương, da thịt của những người đồng đội đã ngã xuống giữa chiến trường... Đó còn là chuyện những lá thư tình viết vội, cho đến tận bây giờ mẹ tôi vẫn còn nhớ như in, thuộc làu từng câu một...
Ban đầu, chị em chúng tôi háo hức lắm với những câu chuyện ấy, mồm há hốc, mắt tròn xoe nuốt từng câu, từng lời của mẹ. Nhưng lâu dần, chúng tôi đâm quen, đâm thuộc, rồi đâm chán. Ngày sum vầy, đứa thì bận xem chương trình ca nhạc, đứa thì mải mê lướt web, có những đứa đang râm ran bàn tán về thời sự, về thời trang, thời tiết... Đủ thứ chuyện trên đời, biết kể đến bao giờ cho hết? Và chúng tôi dần quên những câu chuyện của mẹ. Không kể cho các con, mẹ biết kể với ai bây giờ? Mẹ đã sống bằng chính những hoài niệm ấy. Mẹ đang thở, đang hát bằng chính những giai âm của núi rừng...
Một hôm, mẹ ốm. Cả lũ chị em chúng tôi xúm vào chăm sóc mẹ. Ai cũng hỏi mẹ muốn ăn gì, mẹ muốn đi chơi đâu không, mẹ muốn gặp người bạn nào... Nhưng mẹ tôi chỉ lắc đầu, người ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống và thì thầm vào tai chúng tôi rằng, mẹ muốn kể chuyện! Tôi thấy sống mũi mình cay cay. Hóa ra, những câu chuyện ấy đã hóa thành đời sống của mẹ, đã trở thành máu thịt, tâm hồn của mẹ. Tôi nhìn thấy thẳm sâu trong đáy mắt mẹ hình hài nguyên thủy của rừng hoang, bóng dáng của những đêm trăng huyền thoại. Tôi nghe thấy trong tiếng thì thào yếu ớt là âm thanh dữ dội của bom đạn, của tử thần, của sự sống giành giật từ miệng súng kẻ thù. Tôi hít thở thấy mùi lá cây, mùi thuốc súng, mùi áo quần trinh nguyên của bao chàng trai, cô gái. Bàn tay tôi tưởng như chạm được vào trái tim của mẹ - nơi vẫn thổn thức bao nhịp đập rộn rã buổi đầu đời...
Tôi đã nghe, đã ngửi, đã nhìn, đã chạm... và đã rung động với những câu chuyện của mẹ tôi. Những bộn bề tục lụy, những mất còn đời thực, những buồn đau chất ngất trong đời thường không còn khiến tôi bận tâm cháy lòng như thuở trước. Tôi yêu những bữa cơm cuối tuần. Tôi yêu những câu chuyện kể nghìn năm không cũ kĩ. Tôi yêu một thời đại hào hùng của dân tộc đi qua linh hồn chúng tôi, tâm thức chúng tôi bằng câu chuyện quen thuộc của mẹ - câu chuyện thời TNXP!.
Theo http://tiki.vn/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ cô đọng, nhiều tầng nghĩa và đầy cảm xúc

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ cô đọng, nhiều tầng nghĩa và đầy cảm xúc “Vườn mộng” thêm lần nữa, tôi có niềm xác tín hoàn hảo về Nguyễn Văn T...