Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

Tình ca muôn thuở - Trên ngôn tình sầu - Từ Công Phụng - Thơ Du Tử Lê

Tình ca muôn thuở 
Trên ngôn tình sầu - Từ Công Phụng - Thơ Du Tử Lê 
Hạnh phúc tôi từ những ngày nước lớn
Trời mưa mau tay vuốt mặt khôn cùng
Bầy sẻ cũ hom hem chiếu ngói xám
Trời xanh xao chân ngỏ cũng không về
Cây mộng nởtừng ngón tay lá nõn
Nôi tương tư cỏ ấm thịt da người
Tôi hiu hắt từ mắt em ngát tạnh
Môi thâm khô từ thưở định xin hôn
Ngày tháng hạ khi không mà trở rét
Em khi không mà trở mặt điêu ngoa
Tay trông ngón hương đưa mùi tóc mạ
Ngọn me xa theo ký ức rì rào
Chiều qua đó chân ai còn ríu rít
Lòi ai say cho trời đất lại gần
Kỷ niệm tôi từ những ngày vỡ tiếng
Nhẩn nha gom từng cọng thiết tha rơi
Con dế nhỏ lớn lên đằm tiếng hát
Khi đêm về ru giọng đớn đau hơn
Cây niên thiếu cũng thui mầm trong sáng
Lá oan khiên lả tả mái hiên người
Tôi èo uột từ những người cả gió
Con dế buồn tự tử giữa đêm sương
Bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ
Ngọn me xưa già khọm nhớ thương hờ
Em ở đó bờ sông còn ấm cát
Con sóng tình vỗ mãi một âm quên

(67, Khúc Thêm Cho Huyền Châu - Du Tử Lê 1967)
Chiều cuối thu, ngồi nhấp ly café ở góc phố, nghe lại bản nhạc “Trên ngọn tình sầu”, lòng cảm thấy bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm. Với giai điệu thiết tha và trầm buồn, giọng ca của chính tác giả đã đưa chúng ta về một miền thương nhớ, xa vắng… Hơn 40 năm rồi, tình ca ngày ấy vẫn còn nguyên những nét đằm thắm và quyến rũ đến lạ thường.
Ca khúc được nhạc sĩ Từ Công Phụng phổ từ một bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Du Tử Lê. “67, khúc thêm cho Huyền Châu” là bài thơ viết về một mối tình được in trong tập thơ “Tay gõ cửa đời” xuất bản năm 1967. Ngày ấy, Du Tử Lê yêu tha thiết cô giáo Huyền Châu, cháu ruột của giáo sư Lê Ngọc Trụ (Đại học Văn Khoa Sài Gòn). Thế nhưng, tình yêu của họ không đi đến hôn nhân vì sự ngăn cách của gia đình.
Sau biến cố 1975, Du Tử Lê định cư ở California để lại một mối tình đầu ban sơ và lưu luyến. Hai mươi sáu năm sau, năm 1991, ông quay trở về thăm lại người yêu cũ và có ý định đem Huyền Châu qua Mỹ. Cô đã từ chối với lý do cha mẹ già yếu. Hiện cô vẫn còn độc thân và cư ngụ tại một căn nhà cũ ở Bến Chương Dương – Sài Gòn
Thật ra, bài thơ sáng tác không phải cho Từ Công Phụng phổ nhạc. Thế nhưng, với nét nhạc tài hoa và sự đồng điệu của tâm hồn, Từ Công Phụng đã thành công trong việc đưa ý tưởng của Du Tử Lê trở thành một ca khúc bất hủ.
Từ Công Phụng có một người bạn thân tên là Nguyễn Thiệp, một sĩ quan VNCH đã chết trong một lần vượt ngục bất thành vào năm 1978. Tình cờ gặp nhau, Từ Công Phụng được anh Thiệp giới thiệu bài thơ này, anh Phụng đọc xong, thấy hay và soạn thành ca khúc. Sau đó, anh mang bản thảo ra quán café La Pagode, nằm trên đường Tự Do (nay là Đồng Khởi – Sài Gòn), nơi Du Tử Lê thường xuyên lui tới. Đây là một quán café nổi tiếng đối diện với Công viên hòa nhạc phía bên kia đường, cũng là nơi tụ tập của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của miền Nam trước 1975. Từ Công Phụng hát cho Du Tử Lê nghe và đề nghị nhà thơ đặt tên cho ca khúc, Du Tử Lê không dùng “67, khúc thêm cho Huyền Châu” mà đổi lại “Trên ngọn tình sầu”.
Có những chi tiết được mọi người gọi là “sự can đảm” của nhạc sĩ trong khi viết ca khúc này là sử dụng âm vực rất rộng, lên cao và xuống thấp. Ngay khởi đầu “Trên ngọn tình sầu”, Từ Công Phụng đã sử dụng nốt nhạc cao, từ Sol lên Fa hay vì Mi lên Fa, tức là quá một tone để tạo một âm hưởng lạ ? Và đó cũng là cách để dòng nhạc diễn tả hết nỗi buồn và đau xót của của một tình yêu đã đi xa.
Nếu so sánh ca từ, chúng ta sẽ thấy, Từ Công Phụng có thay đổi một số ý để phù hợp hơn với tinh thần của bản nhạc. Điệp khúc “hạnh phúc” và “mưa mau” được nhắc lại như một sự níu kéo của đôi tình nhân:
“Hạnh phúc tôi, hạnh phúc tôi
từ những ngày con nước về.
ngoài trời mưa mau, ngoài trời mưa mau
tay vuốt mặt khôn cùng…”
Ông cũng đã thêm “rêu xanh” vào câu thơ của Du Tử Lê:
“…bầy sẻ cũ hom hem
chiều ngói xám, rêu xanh…”
Thời gian trôi đi để mái ngói xám trở thành rêu xanh với lớp bụi thời gian. Tình yêu bây giờ quá xa xăm với những tháng ngày xưa cũ…
Riêng câu cuối cùng, Từ Công Phụng đã dùng từ “quen” thay “quên”. Suy cho cùng, hai từ đều có những cái hay riêng. Vượt qua tất cả, để ngồi lại với nhau, nhắc đến một giai điệu quen, một âm thanh quen thuộc và dấu yêu cũng là một cách diễn đạt cái ân tình của người nghệ sĩ.
“…em ở đó bờ sông còn ẩm cát
con sóng tình vỗ mãi một âm quen”
Sau này, khi nghe ca khúc này, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã khen ngợi về sự xuất sắc của Từ Công Phụng khi chuyển hóa “67, khúc thêm cho Huyền Châu” trở thành ca khúc để đời.
Hạnh phúc tôi, hạnh phúc tôi
Từ những ngày con nước về
Ngoài trời mưa mau, ngoài trời mưa mau
Tay vuốt mặt không cùng
Bầy sẻ cũ hom hem
Chiều mái xám rêu xanh
Trời êm cao chân nhỏ
Cũng không về trên dòng sông tội lỗi....
Vài chục năm sau, khi nghe lại, chúng ta mới thấy những tình ca của Từ Công Phụng thật ấm áp và tuyệt vời. Nói như nhà văn Song Thao trích trong lời bạt tập “Một góc đời phôi pha”:
“…Những tình khúc của Từ Công Phụng như những đợt sóng biển nối tiếp nhau vỗ về cõi lòng của những người trẻ thuộc nhiều thế hệ. Chẳng có cuộc tình nào giống cuộc tình nào. Mỗi cuộc tình là một thế giới riêng lẻ. Mỗi ánh mắt là một tín hiệu âm thầm. Mỗi nụ cười là một hân hoan nhớ đời. Mỗi một giọt nước mắt là một mất mát khó quên.
Tình ca của Từ Công Phụng đã len lỏi vào từng thế giới thân thiết đó. Chúng không phải là tình ca lướt trên da thịt mà đã luồn lách vào từng dòng máu, từng hơi thở của những người yêu nhau. Từ Công Phụng đã cho những tình nhân thứ ngôn ngữ đằm thắm, thâm trầm và đầy trí tuệ…”
Vào khoảng tháng 4/1999, Từ Công Phụng có viết cho độc giả những dòng tâm sự. Ông coi đây như là một điều tâm đắc nhất trong sự nghiệp âm nhạc của mình.
“Tình ca như dòng sông hiền hòa chảy hoài từ ngàn kiếp. Đó là thứ hạnh phúc bắt trong buổi sáng nắng dậy chan hòa có bông hoa nở rộ và chim muông ngợi ca một ngày mới bắt đầu bằng nụ hôn nồng ấm của đôi tình nhân.
Tình ca là những lời phủ dụ ngọt ngào của tình yêu như giòng suối róc rách từ thiên thu dành cho những đôi tình nhân của bao mien man thế hệ, như một kẻ đồng lõa cho sự tồn tjai của nhân loại.
Xin cảm ơn Đấng Tạo Hóa đã ban cho loài người có trái tim biết rung động, có tâm hồn biết thổn thức để tình yêu và cuộc đời còn được thăng hoa bằng những bản tình ca.
Nếu chim muông có một thời để ca hát, cỏ cây có một thời để xanh tươi, và loài người có một thời để sống và một đời để chết, thì xin hãy hát lên những bản nhạc tình để ngợi ca một thời để sống trước khi bước vào những nỗi khốn cùng buồn thảm của cái chết lẻ loi.
Bởi vậy, tình ca là con đường tôi đã chọn và cưu mang một đời. Dù tôi có là chứng gian cho một cuộc tình không thực, nhưng ít ra tôi đã mang đến một chút hạnh phúc nhỏ nhoi, một chút kỷ niệm khó phai mờ cho những kẻ tình nhân của một thời yêu thương say đắm.
Xin cảm ơn những kẻ tình nhân đã nâng niu những bản tình ca của tôi từ những thập niên qua như là nhân chứng cho tình yêu của mình, dù chúng có mang những nỗi hân hoan trong đôi mắt hay nụ cười, dù chúng có chứa chan những giọt lệ ngậm ngùi cho một đời tình ngắn ngủi.
Xin các bạn hãy mở những trang tiếp theo, và hãy hát cho nhau nghe những lời tiếp tục ngợi ca tình yêu – cho tôi hay cho các bạn – vẫn mong là nỗi niềm của chúng ta một đời thủy chung, dâng hiến”
"Niềm đau đớn, hiểu theo một cách khác, cũng là một thứ hạnh phúc còn đọng lại trong cuộc đời chúng ta như là một hành trang cho những suy nghĩ về cuộc đời."
(Từ Công Phụng)
Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi
Từ những ngày con nước về
Ngoài trời mưa mau ngoài trời mưa mau
Tay vuốt mặt không cùng
Bầy sẻ cũ hom hem
Chiều mái xám rêu xanh
Trời êm cao chân nhỏ
Cũng không về trên dòng sông tội lỗi
Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Môi thâm khô từ thuở định hôn người
Ngày tháng hạ khi không mà trở rét
Giọt nắng vàng lung linh màu lạnh ngắt
Sao khi không người ngoảnh mặt kiêu sa
Chiều qua đó chân ai còn ríu rít âm thưa
Lời ai ru như mơ cho trời xuống thật gần
Người trông ngóng hương đưa mùi mái tóc đêm mưa
Nhẹ theo lá oan khiên lả tả mái hiên người
CÓ NHỮNG CHIỀU THU (PHẠM MẠNH CƯƠNG)
Nơi này...mùa thu không có lá vàng rơi...
Mưa rất nhẹ...trong đêm rơi tí tách...
Nắng nhạt nhòa...mang dấu vết heo may...
Cô lại miên man đi tìm những mùa thu cũ, những ngón tay gầy guộc muốn gõ gõ những mông lung...Ngày ấy, giữa độ thu vàng, trong góc chiều lá chín, người ra đi ...không dám ngoái lại nhìn... Hành trang mang theo là những ngày làm học trò con gái, tóc xõa buông dài trong gió xôn xao...Là những chiều tập làm cô giáo...mà hàng ghế cuối cùng...thầy giáo cũ đang nghe...Là con đường đến trường...thênh thang trong nắng...Là những lúc ngược chiều gió thổi...bánh xe nào nặng trịch những vòng quay...
Ngày ấy, giữa độ thu vàng, những bước chân lạ lẫm, sông nước miền Tây, bồng bềnh những lục bình tím ngát...Vậy mà ...đã biết bao độ thu vàng như thế!!! Những mùa thu cứ lặng lẽ trôi qua, với những lo toan đời thường cứ vướng víu...Để rồi một khoảnh khắc lặng yên, cô lại nhớ về những điều đã cũ...
Nơi này vào thu khi sắc hoàng lan, sắc bằng lăng đã nhạt dần trong mắt lá...Một chút u buồn trong mưa trong nắng...Một chút khát khao đã lãng quên chầm chậm quay về...Đâu đây chiếc giỏ xe ngày cũ chở những hồn thu lang thang trong gió sang mùa...
Nơi này, có một chiều không phải mùa thu...mà lá vàng rơi khắp lối...để cô chợt nhớ về những mùa thu cũ đã xa xưa...
Màn sương buông kín mòn lối đi
Nhẹ nhàng rơi lá vàng biệt ly
Đại lộ vắng bóng chiều lặng lẽ
Cùng dìu bước phố chiều lộng gió
Sánh vai tròn giấc mơ
Thời gian ơi xin hãy dừng bước trôi
Để chiều thu có người bên tôi
Cùng ngồi đếm lá chiều vàng úa
Dệt mộng thắm với nhiều hẹn ước
Cánh hoa đời ngát hương
Anh đã ra đi chiều nao
Ôi phút chia ly buồn sao!
Nghe gió heo may bồi hồi
Chiều thu mang rét mướt cho long tôi
Thời gian xin xóa nhòa giấc mơ
Để chiều nay có người bơ vơ
Một mnìh đếm lá chiều vàng úa
Một mình bước phố chiều buồn vắng
Nhớ anh… ngưòi gió sương.


 MÙA THU CÁNH NÂU (NGUYỄN ÁNH 9)
Em nhìn thu vàng úa,
nghe đời hắt hiu trên môi.
Mình em chiều quên,
làm nghiêng bóng trên đường vắng âm thầm.
Xa cách rồi còn ai, thương giấc buồn trên tay...
Nguyễn Ánh 9 viết ca khúc này dành riêng cho Khánh Ly. Họ là bạn thân của nhau nên rất nhiều ca khúc của Nguyễn Ánh 9 được viết riêng cho giọng hát Khánh Ly, như bài Không chẳng hạn. Nhưng nói cho chính xác thì MÙA THU CÁNH NÂU là ca khúc mà Nguyễn Ánh 9 viết dựa theo lời của một bài thơ mà một nhà thơ (mình vẫn chaư kiểm chứng đượ. Nếu có gì mới, mình sẽ bổ túc sau) viết về Khánh Ly và tặng cho cô. Khánh Ly đã thâu âm Mùa thu cánh nâu trong tếp nhạc NHỮNG ĐIỆU THU CA BẤT HỦ, phát hành tại Sài Gòn vào khoảng năm 1970:
20 năm sau, Khánh Ly thâu âm lại Mùa thu cánh nâu trong CD THƯƠNG MỘT NGƯỜI, do trung tâm băng nhạc Diễm xưa phát hành tại Hòa Kỳ .
Em về, qua đường cũ,
nghe nhịp bước chân bơ vơ.
Hàng cây ngày xưa,
buồn trơ đón trên từng lá mong chờ.
Quán chiều ngủ say, giấc buồn trên cây.
Em nhìn thu vàng úa,
nghe đời hắt hiu trên môi.
Mình em chiều quên,
làm nghiêng bóng trên đường vắng âm thầm.
Xa cách rồi còn ai, thương giấc buồn trên tay.
Em lang thang, một mình thương yêu trống vắng.
Mùa thu cánh nâu, vàng con lá sầu.
Em đi, một mình cô đơn trái chín.
Chiều lên gió cao, hú gọi tên nhau.
Em về, nghe đời nhớ,
trên từng ngón tay cô đơn.
Nhịp chân gầy xanh,
buồn như lá thu ngày tháng hao mòn.
Em về chiều nay, thu vàng trên tay.




 SÓNG LÒNG (DƯƠNG THIỆU TƯỚC)
Vắng người ta ước mơ,
Khiến lòng bao ngẩn ngơ.
Bến đời u ám như mây mờ.
Cách trùng dương núi sông.
Cánh hồng say ngóng trông...
Trong lòng tôi, cố nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là bậc lão tiền bối rất đáng tôn kính. Ông sinh năm 1915 (tuổi Giáp Dần) người làng Vân Đình, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông, là cháu nội cụ Dương Khuê, một thi hào khoa bảng, có tên trong văn học sử Việt Nam (Việt Nam Văn Học Sử Yêú cuả Giáo sư Dương Quảng Hàm, xuất bản tại Hà Nội vào thập niên 30).
Ông hơn tôi ngót hai chục tuổi, lẽ ra tôi phải xưng hô chú cháu, nhưng ông chủ trương văn nghệ sĩ không tính tuổi, nên tôi được phép gọi ông bằng anh.
Trong làng Nhạc Việt, ông là một trong số vài nhạc sĩ đi tiên phong mở đầu cho sáng tác Tân Nhạc. Vào thập niên 30, dân ta chỉ thuộc và hát những bài hát Pháp như: C'est à Capri, En passant par la Lorraine, J'ai deux amours, Madelon... qua những đĩa hát, chạy bằng kim và lên giây cót, với giọng ca của nam danh ca TINO ROSSI Ọ Còn nhạc Việt, được gọi là nhạc cải cách, chưa có bài nào hay, phổ biến quá hạn chế nên ít được ưa chuộng và thịnh hành. Vào những năm ấy, môt bài nhạc được in ra mỗi lần chừng vài trăm bản, bày bán ở Hà Nội còn ở các tỉnh thì thấy rất ít, có tỉnh không có bày bán nữa . Thời khai sơn phá thạch này, ngoài Dương Thiệu Tước, ta cũng chỉ thấy vẻn vẹn có mấy nhạc sĩ như Thẩm Oánh, Văn Chung, Dzoãn Mẫn, Nguyễn Xuân Khoát ... Tuy nhiên, với Dương Thiệu Tước, lúc ấy người ta chỉ được biết ông là chủ một tiệm bán đàn ở phố Hàng Gai, Hà Nội ; chứ người biết ông là một nhạc sĩ sáng tác thì quá ít ỏi ! Lúc ấy, ông đã có vợ và hai con. Hai cô con gái lớn của ông, thời ấy đã là những đoá hoa hương sắc của Hà Thành, được rất nhiều người biết đến. Dưới chế độ phong kiến và Pháp thuộc, dân ta nặng đầu óc khoa bảng nên khi kén chồng cho con, đa số các cụ vẫn chủ trương phi cao đẳng bất thành phu phụ, giới văn nghệ sĩ bị coi thường vì thế giới lao động nghệ thuật bị người đời coi bằng nửa con mắt. Dù biết rõ như vậy nhưng số nhạc sĩ tiền phong vẫn kiên trì, không hề nản chí, đó thật là một điều rất đáng ca ngợi !
Ngày xưa, Vua Lê Thánh Tôn trọng văn học, thích thơ phú nên đã lập ra văn đàn nhị thập bát tú. Đến Dương Thiệu Tước cũng theo gương tiền nhân, đứng ra quy tụ anh em nhạc sĩ tiền phong để cùng tự học rồi sáng tác. Ông đứng ra lo việc in ấn và phát hành. Sau đó ông cùng với nhạc sĩ Thẩm Oánh tiến hành một phong trào khuyến nhạc để rồi về sau có được hội khuyến nhạc tại Hà Nội .
Đến đầu thập niên 40, Dương Thiệu Tước rời Hà Nội để vào Huế rồi vô Sài Gòn.
Là một người có tâm hồn nghệ sĩ, lãng mạn và phóng khoáng nên khi đặt chân lên đất đế đô, Dương Thiệu Tước đã say mê cảnh và người. Dù mới chân ướt chân ráo, chỉ sau một vài ngày, Dương Thiệu Tước đã có được một số bạn ca nhạc sĩ của kinh đô cổ kính. Chiều chiều, Dương Thiệu Tước đã cùng bạn hữu chèo thuyền, nhẹ nhàng và chậm rãi lướt trên giòng Hương Giang ngược lên Chùa Thiên Mụ . Tiếng chuông lúc thu không để làm cho Dương Thiệu Tước trầm xuống. Rồi đến một hôm như gặp được lương duyên tiền định, Dương Thiệu Tước đã gặp và quen MinhTrang - một ca sĩ được đa số dân chúng miền Trung biết đến. MinhTrang là một nữ sinh theo học chương trình Pháp nên trình độ Pháp văn rất vững. Cô có giọng nói Pháp rất lưu loát và đúng là người Pháp của Thủ Đô Ba Lê (Parisienne). Chính vì thế sau này cô đã là xướng ngôn viên phần phát thanh Pháp Ngữ của các đài phát thanh Quốc Gia ( đài Sài Gòn ) và đài phát thanh Pháp á (Radio France Asia - SaiGon) vào thập niên 50. Cô là ca sĩ duy nhất có trình dđộ nhạc lý rất vững vàng, xướng âm rất chuẩn xác : đưa bất cứ bài nhạc mới nào, nhìn lần đầu (première vue) cô hát đúng điệu và đúng nhịp ngay nên anh chị em ca nhạc sĩ rất mến phục. MinhTrang không đẹp nhưng ăn nói nhỏ nhẹ, có duyên, tuy giỏi nhưng rất nhũn nhặn và rất phục thiện nên được lòng mọi người .
Khi quen Dương Thiệu Tước, MinhTrang rất trọng tài và mến nết, yêu dáng văn nhân nho nhã nhưng vẫn phảng phất nét hào hoa nghệ sĩ của chàng nhạc sĩ Bắc Hà. Từ bước mến mộ đầu tiên ấy đến tình yêu chỉ còn là gang tấc.
Hai người dìu nhau vào cuộc tình thật là thơ mộng. Có những chiều cặp tình nhân nghệ sĩ này sánh vai nhau, chậm rãi từng bước theo dọc giòng Hương Giang nước chảy lững lờ, làn gió nhẹ thổi làm tà áo MinhTrang phất phơ bay, làm cho mái tóc bồng bềnh của Dương Thiệu Tước tung lên, hạ xuống như những đợt sóng nhẹ, cùng nhau thủ thỉ tâm tình. Những buổi mưa rơi trên xứ Huế, hai ngườì vẫn gặp nhau rồi ngồi trong quán nước gần bến Vân Lâu, vai tựa mái kề, sưởi ấm lòng nhau, bốn mắt cũng chỉ nhìn màn mưa giăng giăng khiến cảnh vật càng lúc càng tiêu điều, buồn bã.
Có những đêm trăng vàng toả sáng xuống giòng Hương, Dương Thiệu Tước cùng MinhTrang mời một số bạn văn nghệ, thuê thuyền neo giữa giòng sông để ca hát, ngâm thơ. Với những đêm thơ mộng này Dương Thiệu Tước đã thả hồn trong tiếng đàn hạ uy cầm (guitare hawaienne) lả lướt, trôi nổi với làn sóng gợn của sông Hương. MinhTrang cũng cất tiếng ca hát lên những điệu hò buồn lắng làm mọi người nín thở để tận hưởng âm thanh, cung bậc của quê hương qua giọng ca thật chải chuốt, đậm nét trữ tình.
Những ngày chủ nhật, MinhTrang và Dương Thiệu Tước dành hoàn toàn cho những cuộc đi thăm lăng tẩm. Theo Dương Thiệu Tước đây là những giờ phút thả hồn tự do phơi phới với thiên nhiên và tâm hồn hoài cổ ! Dương Thiệu Tước là con người chịu một nền giáo dục gia đình, một gia đình khoa bảng, nho phong nên ông rất mến, rất trọng và rất hoài cổ. Có lần người nói chuyện về Huế, Dương Thiệu Tước, MinhTrang và tôi đã cùng gặp nhau một ý : mến và thích lăng Tự Đức hơn là lăng Khải Định . Lăng Tự Đức là một công trình kiến trúc hoàn toàn ngày xưa, xứng đáng là một di tích lịch sử còn lăng Khải Định mang nặng phong cách Âu Châu, đúng là kiến trúc... lai căng!
Càng ngày, với MinhTrang và Dương Thiệu Tước, duyên càng thắm, tình càng nồng. Hai tâm hồn trí thức lại nghệ sĩ, dìu nhau vào cuộc tình thật thần tiên và lý tưởng. Có đìêu đáng nói ở đây, Dương Thiệu Tước không yêu MinhTrang vì sắc (như xưa kia các cụ ta thường nói gái tham tài, trai ham sắc) vì về ngoại hình, MinhTrang không đẹp để dễ hớp hồn người khác, mà Dương Thiệu Tước yêu MinhTrang là yêu tâm hồn và cái duyên dáng. Yêu như thế, tình yêu mới lâu bền chứ nếu yêu sắc (háo sắc) thì bông hoa nào dù có hương sắc vẹn toàn thì sớm nở thì tối cũng phải tàn thôi, người đàn bà cũng vậy! Chỉ có tâm hồn và tính nết mới sống mãi.
Thời gian dừng chân ở Huế, được tình nồng ấp ủ, Dương Thiệu Tước sưu tầm và ký âm được rất nhiều điệu dân ca của miền Trung. Dương Thiệu Tước đã có được một cái vốn về dân ca miền Thuỳ Dương rất là phong phú. Chính vì thế mà khi viết nhạc, ông viết được thật đúng và thật đầy đủ để bất cứ ai đàn đúng bài là nghe thấy rõ điệu hát có âm hưởng dân tộc, không như Ph.D viết nhạc dân ca khi đàn hát lên phải thêm láy, thêm lượn mới nghe thấy đúng âm hưởng nhạc cổ truyền của dân tộc (thí dụ: bài Ru Con chẳng hạn). Những điệu hò mái nhất, hò mái nhì, hò mái đẩy, hò giã gạo, nam bình, nam ai ... đều được MinhTran hát rất hay rất đúng để Dương Thiệu Tước ký âm nên rất chính xác và đầy đủ. Tình yêu nở rộ trong vườnn nghệ thuật thì thật là tuyệt diệu! Chính trong thời gian này, Dương Thiệu Tước đã có một vài sáng tác trữ tình, âm hưởng dân tộc và có giá trị, trong đó có bài Tiếng Xưa là hay nhất, mở đầu cho nhứng sáng tác sau này . Suốt bao nhiêu năm qua bước vào địa hạt sáng tác, Dương Thiệu Tước chưa có lấy được một bài nhạc nào hay để mọi người mến mộ. Đến thời này, không ai dám phủ nhận rằng cuộc tình thơ mộng, nghệ sĩ, tâm đầu ý hợp với MinhTrang mà Dương Thiệu Tước mới có được Tiếng Xưa bài nhạc nổi tiếng. Bóng dáng MinhTrang đã ngự trị tâm hồn Dương Thiệu Tước để từ đó ông có được nhạc hứng chân thành và nếu không vậy thì tác phẩm làm sao có hồn, đi vào lòng người, để người đời mến chuộng.
Sau một thời gian sống trong nnguồn ân, bể ái, mộng hồng ủ ấp, MinhTrang - Dương Thiệu Tước chính thức tuyên hôn thành vợ thành chồng. Bạn bè, gia đình đều tán thành và đồng tâm giúp đỡ để hôn lễ sớm được cử hành. Sau ngày đó, MinhTrang - Dương Thiệu Tước quyết định rời bỏ Cố Đô để vào Sài Gòn sinh sống. Trong thời gian chuẩn bị vô Nam, người ta vẫn thấy MinhTrang Dương Thiệu Tước vẫn hàng ngày hàng đêm tay trong tay, vai sát vai, dìu nhau đếm bước dưới ánh trăng vàng dịu hiền toả sáng xuống giòng Hương Giang êm đềm, thơ mộng, vẫn có những buổi chiều sắp tắt nắng, thâm tâm chay tịnh đón nhận tiếng chuông thu không của Chùa Thiên Mụ, vẫn có những buổi trưa bên nhau tai nghe văng vẳng giọng hát ru con buồn rười rượi trong khung cảnh thôn Vỹ Dạ đìu hiu ... làm cho cuộc sống vợ chồng vẫn thơ mộng như buổi ban đầu ! Cảnh sống nghệ sỹ lý tưởng ấy thật dễ gì mấy ai có được .
Xưa kia, khi nhìn phố phường của thành Thăng Long, nỗi niềm hoài cổ dâng lên, Bà Huyện Thanh Quan đã viết:
... Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường
Nhưng với M.T. Dương Thiệu Tước thì tuy sắp phải xa cố hương tràn đầy kỷ niệm để sống cuộc đời ly hương nhưng lại rất vui và đầu ngập tràn hạnh phúc, trước mặt đầy tương lai hứa hẹn. Cho đến đêm cuối cùng ở Đế Đô, Dương Thiệu Tước được một số bạn thân mời dự buổi tiễn đưa một chén quan hà tại nhà một người trong nhóm, ngay trên Bến Ngự. Buổi ấy M.T. không dự được vì phải lo hành lý chu đáo để mai đi sớm. Buổi này lúc đầu là chén chú chén anh ở trong nhà. Cuộc liên hoan này đầy ắp tiếng nói, cười . Màn đêm lẹ làng buông xuống. Bến Ngự ban ngày đã vắng lặng, ban đêm lại càng vắng lặng hơn. Lúc ấy bàn tiệc tàn và tất cả ra Bến Ngự để xuống thuyền và cùng thức trắng. Dưới khoang thuyền, giữa khoảng trời quang mây tạnh, trên bầu trời hàng ngàn, hàng vạn vì sao thi nhau lấp lánh.
Qua nửa đêm, gần về sáng, trăng hạ tuần chậm chạp nhô lên Dương Thiệu Tước tự nhiên đứng dậy ra đầu mũi thuyền ngồi một mình, mắt đăm chiêu về phía thành nội với niềm thương, nỗi nhớ MinhTrang đang chăn đơn, gối chiếc, vò võ chốn khuê phòng nhớ Huế ngày mai phải lìa xa . Nhạc hứng rào rạt như giòng máu nóng tuần hoàn vội vã làm bừng nóng cả toàn thân. Dương Thiệu Tước vội vàng lấy giấy ra ghi cho kịp giòng nhạc tràn ra như ngọn thuỷ triều dâng lên, với những đợt sóng xô nhau vỗ vào bờ, trùm kín cả bãi cát trắng mênh mông. Giòng nhạc thật trữ tình, mang được tình thương, nỗi nhớ khi sắp phải tạm biệt miền Trung đa tình đa cảm. Điệu nhạc buồn da diết, nét vẽ (dessin mélodique) thật đẹp, kiến trúc âm thanh (structure sonora) thật vững vàng trên nền móng dân ca xứ Huế, nghe thât não nuột làm sao ?
Làm xong, Dương Thiệu Tước trở vào khoang thắp ngọn đèn dầu lên coi và thử lại rồi hát tặng các bạn ngay lúc bấy giờ. Mọi người thật thích thú, lòng ai nấy dều nao nao . Hát xong, Dương Thiệu Tước nói ngay là đặt tên cho bài sáng tác mới này là Đêm tàn Bến Ngự , ai nấy đều tỏ vẻ hài lòng.
Tiếng gà xao xác từ mọi nơi vọng lại báo hiệu bình minh anh chị em chìa tay ra bắt tay tạm biệt người nhạc sĩ tài hoa để hẹn ngày tái ngộ tưng bừng. Vội vã trở về nhà, vừa gặp mặt MinhTrang, Dương Thiệu Tước khoe ngay đứa con tinh thần vừa ra chào đời hồi hôm, trên mũi thuyền, dưới ánh trăng về sáng, được đặt tên là Đêm Tàn Bến Ngự . Nói xong, Dương Thiệu Tước ôm vai MinhTrang dìu nhau vào phòng rồi ông lấy đàn hát cho M.T. nghe . Điệu nhạc buồn thoang thoảng, thấm dần vào từng thớ thịt của người nữ ca sĩ đất Thần Kinh. Hát đã hết bài, tiếng đàn chỉ còn lại tiếng ngân dần dần thuôn nhỏ tiếng của sợi tơ hồng mà MinhTrang vẫn còn đắm mình trong điệu nhạc trầm bổng, du dương. Một lát sau, bừng tỉnh MinhTrang vội vỗ tay, mặt hớn hở, nói ngay:
- Bài hay quá thật là cả một trời Huế, cả một giọng hò, điệu hát thật Huế, dễ làm mê lòng người và làm mủi lòng người, nhất là với người Huế phải ly hương thì nghe nhạc mà tê tái lòng, không thua gì Tiếng Xưa, mỗi bài mỗi vẻ !
Dương Thiệu Tước ôm chặt bờ vai MinhTrang ghé sát tai nói:
- Hồi hôm, ngồi bàn tiệc, lúc đàn hát trên thuyền, anh nhớ thương em vô vàn. Chính niềm thương, nỗi nhớ ấy, hình ảnh em luôn luôn lúc ẩn lúc hiện trong tim, trong óc anh. ở nhà, em có sốt ruột không ? Em đã cho anh mối tình tuyệt đẹp và bài Đêm Tàn bến Ngự cũng nhưng Tiếng Xưa là anh viết cho em và vì em, riêng mình em thôi đấy !.
Năm 1960, khi viết về Dương Thiệu Tước trong cuốn Nhạc sĩ danh tiếng hiện đại, tôi đã xếp bài Đêm Tàn Bến Ngự là tác phẩm có giá trị về nghệ thuật , có được cả giá trị vĩnh cửu hay nhất (chef d'oeuvre) của ông.
Rời Huế, MinhTrang Dương Thiệu Tước sống chung dưới một mái nhà êm ấm tại đường Phan Đình Phùng, Sài Gòn. Với cuộc sống vợ chồng cùng nhìn chung một hướng trong nhà bao trùm một bầu không khí thuận hoà, niềm hạnh phúc thật tràn đầy, nhìn tương lai sáng sủa mà Dương Thiệu Tước lại hăng say sáng tác được nhiều bài có giá trị, được mọi người yêu thích như Ngọc Lan, Bóng Chiều Xưa, Thiếu NiênXuân Khúc, Chiều ... thật ngược hẳn với câu nói của một nhà hiền triết Tây Phương: khi nào người nghệ sĩ có được một cuộc sống hạnh phúc, đầy đủ thì cuộc đời sáng tác của họ kể như chấm dứt ! Phải chăng đây cũng là một biệt lệ .
Ban ngày Dương Thiệu Tước làm việc ở đài phát thanh Sài Gòn với chức vụ Chủ sự phòng Văn Nghệ, Minh Trang đi thu thanh cho các ban ca nhạc của các đài, rồi đi thu dĩa nên cuộc sống rất phong lưu, tình lúc nào cũng mặn nồng, nhiều người ước ao, thèm muốn. Vào thập niên 60 và 7O, Dương Thiệu Tước được mời dạy guitare classique tại trường Quốc gia Âm Nhạc Saigon. Trong hai thập niên dạy đàn, Dương Thiệu Tước đã đào tạo được nhiều học trò giỏi, sau này là những danh cầm của thành phố.
Đến ngày 30 tháng 4 năm l975, ông thôi dạy ở trường nhạc, còn MinhTrang thì từ cuối thập niên 60; cô đã ngưng không hát nữa. Thấy vậy, đã có lần tôi hỏi lý do sao cô lại dứt hẳn cái nghiệp cầm ca một cách dễ dàng vậy, khi cô đã đạt được chỗ đứng của một danh ca đàn chị, được nhiều người ngưỡng mộ, M.T. đã trả lời ngay rằng:
- Dạo này tuổi bắt đầu cao, giọng đứng bóng sắp đến thời đi xuống rồi, tôi tự ý ngưng hát thôi anh ạ!
Tôi rất phục MinhTrang là người khôn ngoan, biết lúc nào nên dừng lại để mọi người vẫn nhớ và trọng tiếng hát hay một thời của mình chứ già, đuối sức, yếu hơi còn cố hát thì không khác nào cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm thì thật là không thức thời chút nào
Sau ngày 30 tháng 4 một vài năm, Minh Trang cùng các con ra đi Dương Thiệu Tước ở lại. Những năm tháng sau này ông về cư ngụ tại đường Hoàng Hoa Thám, Quận Bình Thạnh, mở tại nhà một lớp dạy guitare classique, rất đông học trò.
Ngày 1 tháng 8 năm l995, Dương Thiệu Tước đã vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 82 tuổi .
Dương Thiệu Tước tuy không còn nữa nhưng những Đêm Tàn bến Ngự , Tiếng Xưa vẫn là những viên ngọc quý, và mọi người đều phải nhìn nhận rằng chính Minh Trang là người dã chắp cánh cho Dương Thiệu Tước bay bổng tuyệt vời trong vườn hoa đầy hương sắc của âm nhạc Việt Nam.
Khi tin Dương Thiệu Tước từ trần bay ra ngoại quốc, chị Minh Trang đã nói lên cảm nghĩ đầy xúc động của mình với bạn hữu:
- Nhà tôi là một người thích một đời sống êm ả. Ông thích trầm tư trong cuộc sống nội tâm hơn là phô trương những công việc ông làm, do đó nhạc của ông tuy được rất nhiều người trình diễn song hầu như khán, thính giả ít người biết đến nhân dạng nhà tôi. Khi sáng tác, nhà tôi hoàn toàn vì yêu thích âm nhạc, coi âm nhạc như là một lẽ sống, thành thử ông không sáng tác vì bất cứ mục đích nào, ngoại trừ lòng yêu âm nhạc.
Nhiều người khi nhắc đến Dương Thiệu Tước là nghĩ ngay đến Đêm Tàn Bến Ngự, Tiếng Xưa, Ngọc Lan, Chiều ... ít ai biết đến những bài nói lên tinh thần đạo đức Việt Nam như bài: Ơn nghĩa sinh thành hoặc giả những bài nhạc nói lên những rung động giữa con người với con người, con người và thiên nhiên..."
Trước cái tang lớn của làng Văn Nghệ Việt Nam, mọi người ngậm ngùi thương tiếc Dương Thiệu Tước, riêng tôi, tôi cầu nguyện vong hồn anh sớm siêu thoát và mỉm cười nơi chín suối khi thấy lúc oe oe ba tiếng khóc chào đời anh được mọi người hân hoan cười đón và lúc nhoẻn miệng cười lúc nhắm mắt lìa đời thì mọi người nhỏ lệ khóc thương!
Đến đây tôi xin mượn mấy vần thơ của thi sĩ Thanh Chương làm kính tặng hương hồn nhạc sĩ Dương Thiệu Tước để kết luận trên mười trang viết về ông:
Đêm sắp tàn, sao trăng đã khuất
Bến không thuyền, đợi nhớ thương sông
Hương Giang tiền định theo giòng nước
Tình lỡ Trang đài vương vấn không?
Chim Tước còn, không hót Tiếng Xưa
Ngọc Lan hé nở giữa đêm mưa
Luyến lưu Bến Ngự từ thủa ấy
Giọng hát ngân hoài, nhịp sóng đưa!

(Lê Hoàng Long)
Vắng người ta ước mơ,
Khiến lòng bao ngẩn ngơ.
Bến đời u ám như mây mờ.
Cách trùng dương núi sông.
Cánh hồng say ngóng trông.
Biết ngày nào thấy nhau, hoài mong.
Trên án thư, kìa hình ai tươi nét mơ.
Mắt thu huyền dịu dàng gieo ý thơ.
Tiếng đờn xa vấn vương.
Khúc nhạc theo gió sương.
Sóng lòng dâng nỗi nhớ niềm thương.
âm thầm*
Tiếng ca u hoài ôi! lâm ly, từ đâu tới đây.
Trên làn sóng âm thanh, như đắm mơ, hồn say.
Oán thương bao tình, vì chinh chiến nghiêng gánh tang bồng.
Mối tình với nước non nặng chĩu bên lòng.
(Vắng người ta ước mơ... =>
...Sóng lòng dâng nỗi nhớ niềm thương.)
Tiếng ca u hoài trong đêm thanh, sầu dâng tiếng ngân.
Sóng đời đắm gió sương, bóng quê hương lầm than.
Tiếng ca âm thầm, nhưng ai oán tha thiết căm hờn.
Khúc nhạc chốn xa xăm nặng chĩu tâm hồn.
(Vắng người ta ước mơ... =>
...Sóng lòng dâng nỗi nhớ niềm thương.)


 HƯỚNG VỀ HÀ NỘI (HOÀNG DƯƠNG)
Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi
Ánh đèn giăng mắc muôn nơi áo màu tung gió chơi vơi
Hà Nội ơi, phố phường dài ánh trăng mơ
Liễu mềm nhủ gió gây thơ thấu chăng lòng khách bơ vơ...
Người nhạc sĩ tài hoa ấy năm nay đã gần tám mươi tuổi. Ngồi nói chuyện với ông, ôn lại những tháng ngày xưa cũ, NS Hoàng Dương bảo khi nói về Hà Nội, mảnh đất ngàn năm văn vật ấy, trong lòng ông vẫn vẹn nguyên những khôn nguôi kỷ niệm… qua lời tâm sự của chính tác giả
“Đó là những năm 1953- 1954, tôi đang hoạt động các mạng tại Đội tuyên truyền văn nghệ Thành nội bộ Hà Nội nên luôn phải trốn trách sự truy lùng của quân địch. Một lần khi đang tá túc tại nhà người dân nơi ngoại thành Hà Nội, tiếng pháo tiếng súng phía bên kia thành phố vẫn dội một bên tai, kháng chiến chưa biết ngày nào toàn thắng, nhớ lại bóng hình người con gái Hà Nội mình thầm yêu chẳng biết có bao giờ còn dịp gặp lại…
Tất cả những điều đó đã thôi thúc tôi ngồi vào bàn viết. “Ánh đèn giăng mắc muôn nơi”, “mái trường phượng vĩ dâng hoa”, “thanh bình tiếng guốc reo vui”, “phố phường dãi ánh trăng mơ”… đều là những hình ảnh quen thuộc, khảm sâu suốt một thời tuổi trẻ nên tôi viết rất nhanh, cảm xúc cứ thế tự nhiên đến.”
Năm 1954, “Hướng về Hà Nội” được công bố qua tiếng hát Kim Tước để rồi sau đó được phổ biến rộng rãi. Nó là lời nhắn gửi của một thế hệ, một tầng lớp thanh niên tri thức thủ đô “gác bút nghiên” lên đường vì nghĩa lớn. Chính vì vậy bài hát mang một vẻ đẹp sang trọng và buồn, đậm chất của những con người thành phố và có thể nói, đây cũng là một bài hát mang đậm… “nỗi buồn tiểu tư sản”.
Những nỗi lòng mà chúng ta từng gặp trong lớp “người ra đi đầu không ngoảnh lại, sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” của Nguyễn Đình Thi hay “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” của Quang Dũng, cả hai ông đều là những bậc văn nhân kỳ tài của đất thủ đô.
“Tôi nhớ có lần Quang Dũng đến chơi nhà tài tử Ngọc Bảo, được nghe ông hát bài hát của tôi, Quang Dũng đã nhờ Ngọc Bảo nhắn với tôi rằng ông rất muốn tôi đến chơi nhà của thi sĩ. Mấy ngày sau tôi tìm đến, Quang Dũng đã ôm lấy và bảo: “Cảm ơn Dương, mặc dù mới được gặp cậu lần đầu nhưng tâm hồn của chúng ta đã rất giống nhau. Tớ cảm nhận được rất nhiều sự đồng điệu trong đó”.
Nhưng cũng giống như nhiều tác phẩm bị “quy” vào cái “tội”: “mạng tính chất tiểu tư sản”, một thời gian dài “Hướng về Hà Nội” không có cơ hội được phát công khai. Không được phổ biến rộng rãi nhưng những lời thơ ấy vẫn âm thầm chảy trong ký ức, trong trái tim của biết bao thế hệ con người Hà Nội, dù đi xa hay ở ngay tại lòng thành phố, mỗi khi lời hát được cất lên, trong nền nhạc violoncenl trầm đục, mỗi người con của thành phố đều cảm thấy rưng rưng biết bao kỷ niệm.
Nhà thơ Ý Nhi, dù chưa một lần gặp nhạc sĩ Hoàng Dương, năm 1994, vô tình được nghe tác phẩm này đã không khỏi những xúc cảm: “Hà Nội của nhạc sỹ Hoàng Dương là một người tình. Các tiếng thì thầm “Hà Nội ơi” cứ lặp lại trong bài hát là tiếng gọi người yêu, nó khiến mỗi tấm lòng yêu nhói đau…”
Nhắc chuyện này lại với tôi, nhạc sĩ cười kể thêm, phải hơn bốn mươi năm sau, đến những năm cuối của thế kỷ 20, bài hát mới được “minh oan” và đón nhận được nhiều sự chia sẻ của khán giả. Có nhà phê bình âm nhạc đã không tiếc lời khi nói: “Hướng về Hà Nội” là sự chưng cất của nét tài hoa lắng đọng trong không gian thời gian và linh thiêng sông núi.
Và Ông đã yêu Hà Nội bằng cách của riêng mình
Mỗi người con của Hà Nội đều có cách yêu mảnh đất của mình khác nhau và ông cũng vậy. Tình yêu Hà Nội trong Hoàng Dương là nỗi nhớ nhung về những tháng ngày quá vãng, là thuở gác bút nghiên lên đường cảm tử cho tổ quốc quyết sinh. Là một Hà Nội nhỏ nhắn và dịu dàng (lời của ông) nơi ông chôn chặt mối tình thời trai trẻ với một cô gái Hà Nội, người mà ông đã không có duyên nợ nhưng qua đó đã cho ông có được một bài hát mà như ông thừa nhận: “Cũng là tiếng lòng dành cho mảnh đất quê hương”.
Tính từ thời điểm bài hát ra đời, đến nay đã hơn năm mươi năm. Một khoảng lặng dài với biết bao biến thiên dâu bể, Hà Nội bây giờ đã to đẹp hơn, vị thế của thủ đô đã được nâng lên tầm quốc tế nhưng vẫn còn đó biết bao bộn bề cộng việc đòi hỏi sự chung sức chung lòng của muôn triệu người dân để xây dựng vun đắp.
“Thật khó để biết khi nào mình có thể trả đủ những ân tình cho mảnh đất quê hương. Còn sức khỏe tôi còn viết về mảnh đất này. Cụ thể bây giờ tôi đang chủ biên tập sách “Ca khúc Hà Nội thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21” dày gần sáu trăm trang, như một món quà nhỏ gửi tặng mảnh đất mình yêu quý. Hầu hết các khâu tôi đã làm xong, chỉ chờ thủ tục để phát hành. Đó cũng là một cách yêu Hà Nội của riêng tôi.”
Nhưng giản dị hơn ông bảo, giữa biết bao công việc đang giang dở nhưng hàng tuần, ông đều cùng một vài người bạn đồng niên khác đạp xe trên các con phố cũ của Hà Nội, tự lắng nghe tiếng thở của thành phố hòa nhịp với trái tim mình để tìm về những kỷ niệm xa xưa. Hoặc như hôm nay chẳng hạn, trước khi ngồi nói chuyện với tôi, ông bà đã cùng nhau đi chợ để chuẩn bị thức ăn cho bữa cơm chiều nhưng quan trọng hơn, được bước đi trong tiếng ồn ào náo nhiệt của chợ búa, giữa khói bụi và tiếng ì xèo của chốn đông người, lắng nghe những thanh âm gần gụi ấy, ông cảm thấy Hà Nội không xa, nó vẫn hiện hữu hàng ngày đây thôi, ngay trước mắt và trong chính trái tim mình.
Tên khai sinh của ông là Ngô Hoàng Dương, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1933, quê ở Từ Liêm, Hà Nội. Công tác tại Nhạc Viện Hà Nội, cư trú tại Hà Nội. Là Phó Giáo sư. Hoàng Dương là một nhà sư phạm. Đồng thời ông là nghệ sĩ biểu diễn và người sáng tác âm nhạc có tên tuổi.
Ông là người có công đầu trong việc xây dựng bộ môn Đàn Violoncelle hơn 40 năm, kể từ ngày đầu của Trường Âm nhạc Việt Nam, góp phần đào tạo nhiều thế hệ nghệ sĩ đàn violoncelle. Ông đã viết nhiều tác phẩm cho đàn violoncelle hơm 4 năm, kể từ ngày đầu của Trường Âm nhạc Việt Nam, góp phần đào tạo nhiều thế hệ nghệ sĩ đàn violoncelle.
Ông đã viết nhiều tác phẩm cho đàn violoncelle, piano, accordéon, clarinette, hautbois,… được biểu diễn và dùng trong giáo trình các khoa của Nhạc viện, như Bài ca không lời (piano), Vũ khúc mùa xuân, Tây Nguyên tươi đẹp (accordeon), sonatine Bài thơ Hạ Long, hát ru, Giai điệu quê hương, Mơ về trái núi Thiên Thai (cello và piano), tổ khúc Tiếng hát sông hương (cello và dàn nhạc).
Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi
Ánh đèn giăng mắc muôn nơi áo màu tung gió chơi vơi
Hà Nội ơi, phố phường dài ánh trăng mơ
Liễu mềm nhủ gió gây thơ thấu chăng lòng khách bơ vơ
Hà Nội ơi, những ngày vui đă ra đi,
Biết người có nhớ nhung chi,
Hết rồi giây phút phân ly
Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê,
Tóc thề thả gió lê thê
Biết đâu ngày ấy anh về
Một ngày mùa chinh chiến ấy,
Chim đã xa bầy mịt mờ bên trời bay
Một ngày tả tơi hoa lá,
ngóng trông về xa ... luyến thương hình bóng qua
Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi,
Nắng hè tô thắm lên môi, thanh bình tiếng guốc reo vui
Hà Nội ơi, kiếp đời muôn hướng buông trôi
Nhớ về người những đêm rơi
Nhắn theo ngàn cánh chim trời
Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xưa,
Mắt buồn lồng những đêm mưa,
Não nùng mây gió đong đưa
Hà Nội ơi, nỗi lòng gởi gấm cho nhau,
nhớ hoài chỉ biết thương đau,
đắng cay chờ những kiếp sau.
Hà Nội ơi, những ngày thơ ấu trôi qua,
mái trường phượng vĩ dâng hoa
dáng chiều ủ bóng tiên nga.
Hà Nội ơi, mắt huyền ngây ngất đê mê,
tóc thề thả gió lê thê, cứ tin ngày ấy anh về
Một ngày tàn cơn chinh chiến,
lửa khói lăn chìm, tìm về nơi bờ bến
Một ngày hồng tươi hoa lá
Hát câu tình ca nói lên lời thiết tha
Hà Nội ơi, biết người còn có trông mong,
Hướng về ai nữa hay không những ngày xa vắng bên sông.
 LỜI TÌNH BUỒN (VŨ THÀNH AN; 
THƠ CHU TRẦM NGUYÊN MINH)
Bao giờ cũng thế,muôn đời vẫn vậy cái thời xuân trẻ,giữa hai mê mải mù lòa săn tìm, thường là một cuộc tình – là nơi buồng tim rung động – nghe qua sóng siêu âm, hồng huyết co bóp, bơm đẩy ào ạt. Cung đàn thơ cũng khởi đi từ đấy – từ những ngăn chứa tràn trề yêu thương. Thơ tình Saigon thập niên 60,70 thế kỷ trước phổ biến là những khúc buồn mong nhớ, khát đợi muôn thuở - Tình thơ lãng mạn,chất thơ nhẹ nhàng sang trọng – tiếng thơ nói hộ tâm trạng của những người chưa kịp sống, Chưa kịp yêu, chưa kịp nhận diện mình trong chiến cuộc- đã bị hủy diệt !
Đặt trong không gian ngày cũ, bài thơ Lời tình buồn (ra đời khoảng năm1967) của Chu Trầm Nguyên Minh, khơi gợi một thời bất định- mỗi cá thể có mặt lúc bấy giờ dường như mang tâm trạng của người gác chắn tàu hằng đêm soi chiếc đèn bão vào bóng tối thăm thẳm, chờ ngóng chuyến tàu khuya tìm về với chút hy vọng nhạt nhòa…!?
Bài thơ nghe như một tá từ, chia xa, nắm níu, nuối tiếc, vô vọng – “Anh đi rồi” như là một dấu chấm hết - nếu nhìn từ phía thời cuộc, vận nước điêu linh, ta nghe như một lời than trách áo não – Câu hỏi “Đêm xuống rồi em buồn không hở?” đi liền với cái tứ “Trời sa mù tầm tay với âu lo”, cảm xúc rất hay - làm xao động lòng người:
Anh đi rồi còn ai vuốt tóc
Lời tình thơm sách vở học trò
Đêm xuống rồi em buồn không hở?
Trời sa mù tầm tay với âu lo
Mùi thơm sách vở học trò gợi hình ảnh mối tình đầu ngan ngát hương yêu trong vắt – những hẹn hò,những mộng mị ngất ngây – trong Áo lụa Hà Đông,nhà thơ Nguyên Sa ghi lại:
Gặp một bữa anh đã mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị hỉ của tâm hồn
Thơ học trò anh chất lại thành non
Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu.
Mối tình nào chẳng là câu chuyện hai người – tác giả vẽ ra chân dung nhân vật trữ tình: Áo em bay khuất mất thiên đường / Tóc em xanh trùng dương sóng lượn…trên nền nhạc Vũ Thành An, là một cảm xúc thẩm mỹ thanh thoát nhẹ nhàng, ru hồn chơi vơi.
Anh đi rồi còn ai đưa đón
Áo em bay khuất mất thiên đường
Tuổi hai mươi trong vòng tay chờ đợi
Ngôn ngữ nào anh nói hết yêu thương
Anh đi rồi còn ai chiêm ngưỡng
Cổ em cao tay mười ngón thiên thần
Tóc em xanh trùng dương sóng lượn
Anh chợt buồn đứng ngóng bâng khuâng
Anh đi rồi còn ai tình tự
Đêm đầy trời ru tiếng nhớ bơ vơ
Phúc yêu em dấu lần quá khứ
Nụ hôn đầu rụng xuống hư vô
Bài thơ khép lại với hình ảnh “Nụ hôn đầu rụng xuống hư vô” - tất cả rồi ra chỉ là những sợi sắc không - tôi tìm thấy ở đây một kết thúc buồn nhưng mở ra khát vọng mãnh liệt hướng về phía cuộc sống: thèm được sống – muốn được yêu…!?
Chu Trầm Nguyên Minh trần tình: “Sau năm 1975,tôi không viết, không đọc hơn 30 năm, dù có lúc muốn viết đến điên cuồng mà không thể viết được… Nhìn lại thời gian bỏ phí đến nửa đời người, tôi ân hận tiếc nuối đến đắng lòng…”(Lời Ngỏ tập thơ “Lời tình buồn” – in lại 2012), bạn yêu thơ cùng thời rất cảm thông chia sẻ nhưng lấy làm tiếc với một phong cách thơ hiện đại,một phẩm chất tài hoa - hoài phí 30 năm, quả thật là một thiệt thòi cho thi nhân và cho thi ca.
Mọi sự rồi sẽ được soi rọi,giải mã - tất cả chúng ta không tránh khỏi là sản phẩm của lịch sử, chịu sự chi phối của vận mệnh đất nước. Tôi tin những đóng góp cho văn học nghệ thuật hướng về CON NGƯỜI thì dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, mãi mãi còn nguyên giá trị!
Thơ hay cốt ở cảm xúc chân thực,âm điệu trữ tình tinh tế,cách diễn đạt phong phú sáng tạo - với Chu Trầm Nguyên Minh, ngôn từ hiền lành trang nhã. Thơ đậm chất tâm sự - bài thơ trôi vào quá khứ lâu rồi nhưng âm hưởng vẫn còn đó, tiếng vọng lại từ cõi người!
Anh đi rồi còn ai vuốt tóc
Lời tình thơ sách vở học trò
Đêm xuống rồi em buồn không hở ?
Trời sa mù tầm tay với âu lo
Anh đi rồi còn ai đưa đón
Áo em bay khuất mất thiên đường
Tuổi hai mười vòng tay níu gọi
Ngôn ngữ nào anh nói yêu thương
Anh đi rồi còn ai chiêm ngưỡng
Cổ em cao tay mười ngón thiên thần
Tóc em xanh trùng dương sóng lượn
Anh chợt buồn đứng ngóng bâng khuâng
 NỤ CƯỜI TÍM (TRƯỜNG SA)
Gởi nụ cười nhẹ thấm bờ môi
Sưởi tim người dịu dàng đôi lời
Xoá tan đi nỗi niềm thương xót
Của một thời đã lỡ yêu người...
Đây không biết là lần thứ bao nhiêu em phải xa anh và chịu đựng cái cảm giác nhớ anh đến phát điên.
Sao thế nhỉ? .....
Em biết em nghĩ gì và con tim em muốn nói gì.... nhưg em không thể thú nhận... vì kết quả sẽ chẳng bao giờ như em mong muốn.
Đến bao giờ em mới thôi thổn thức vì anh?
Em mong chờ một người khác đến đẩy anh ra khỏi trái tim em nhưng hình như trái tim em không muốn mở cho một ai khác nữa ngoài anh mất rồi.
Những ngày ở bên anh thật quá ngắn ngủi, nhưng thời gian được ở bên anh thật như em được sống ở thiên đường (em nghĩ nó là thiên đường vì ngươì ta hay nói cuộc sống ở thiên đường rất hạnh phúc, và người ta luôn ao ước có được điều đó) những ngày có anh bên cạnh em luôn cảm thấy mình hạnh phúc và vui. Bên anh em thấy mình nhỏ bé và luôn cần anh che chở.
Em thấy ấm áp và vô cùng hạnh phúc anh ạh!
Đựơc ngồi sau xe của anh, vi vu mỗi buổi tối, anh biết không, em luôn ước con đường đi về nhà đừng bao giờ kết thúc, để em không phải chào tạm biệt anh, rồi lại nhớ anh cho đến lúc ngủ quên.
Tại sao chứ? Sao anh lại tốt với em như thế, sao anh lại luôn chiều theo những mong muốn ngang bướng của em như thế? Sao anh lại hứa với em một lời hứa quan trọng đến thế? Sao anh lại không nói em phiền phúc, em rắc rối đi ... để rồi tất cả lại làm em thấy đau khi nghĩ anh sẽ chẳng bao giờ thuộc về em?
Mấy ngày ngắn ngủi nhưng ngọt ngào và hạnh phúc đổi lại sau đó khi xa anh là những ngày cực khổ mà em phải chịu vì nhớ anh, nhớ đến phát điên. Em chỉ thấy quanh em là 4 bức tường cứng khô khan mà em không thể vượt qua nó để nhìn thấy anh được, nỗi nhớ ấy khiến em vất vả lắm anh biết không?
Luôn phải ngăn những dòng suy nghĩ về anh thế nhưng càng không muốn nhớ đến thì những hình ảnh của anh lại càng xô đến khiến em khó thở. Hình ảnh thì chỉ còn trong trí nhớ, còn em thì không thể thấy anh đứng trước mắt em, không thể nghe giọng nói của anh. Tất cả làm em khó chịu và bất lực truớc nỗi nhớ anh!
Em muốn khóc!
Chiều lạnh lùng tím ngắt nụ cười
Xa vắng trên giòng sông cuốn trôi
Anh nhớ rồi em biết không
Khi gió đông hôn tóc êm
Nghe chút tàn phai không em ?
Chiều còn làm rét mướt về người
Mang cánh chim hải âu viễn khơi
Anh nhớ em nhiều trong mắt môi
Theo áng mây trôi vẫn trôi
Để lỡ một thời yên vui
Còn hờn nhau nữa mà chi
Cho héo mòn thêm đôi vai gầy
Ngắt cánh hoa màu tê tái
Hoa về tan tác rơi trong chiều hoang
Những cánh rơi buồn nhặt khoan
Để người về nuối chút tình hoài
Áo tím xưa mờ trong dáng mây
Đôi mắt xưa màu xanh chớm phai
Cho tháng năm nghe xót xa
Từng chuỗi buồn dài em mang

BÂNG KHUÂNG CHIỀU NỘI TRÚ 
(NGUYỄN TRUNG CANG; THƠ HOÀI MỸ)
Hồi nhỏ, mưa chỉ đơn giản là tiếng cười nắc nẻ tóe nước bên hàng hiên mái ngói, hay tiếng hò reo theo con thuyền giấy gấp vội trôi theo dòng nước trước ngõ nhà. Lớn lên một chút, mưa thành những suy tư vội vàng trên cành lá trĩu nước, xanh mát miên man. Rồi không biết tự lúc nào hóa thành cái xao lòng vương theo tà áo tinh khôi phất phơ bay giữa chiều mưa bụi trên con đường đầy lá me rơi. Và bây giờ, thấp thoáng trong mưa là đôi mắt buồn vời vợi mang tên “em” của một thời kỷ niệm …
“Chiều nội trú bâng khuâng
như đôi mắt ai ngày nào tao ngộ
Chiều nội trú bâng khuâng
như đôi mắt ai vời vợi tha thiết
Ánh mắt thật gần mà cũng thật xa
Ôi yêu thương quá ánh mắt êm đềm
Mong tình yêu cho hồn trở lớn khôn thêm”
Có một chiều nội trú, mênh mang theo những cảm xúc của thuở bắt đầu mơ mộng, biết buồn, biết nhớ. Có một chiều nội trú xa xăm tơ tưởng. Để rồi khi bất chợt nhận ra có ánh mắt ai da diết quá khiến lòng bồi hồi đến lạ, vừa trông chờ, vừa nghi hoặc, phân vân. Tâm hồn rộng mở đón nhận những rung động đầu đời đang chớm nở hoài mong, vương vấn. Nguyễn Trung Cang đã dùng giai điệu dịu dàng mà dè dặt, ngọt ngào nhưng thoáng chút ưu tư mở đầu cho nhạc phẩm “Bâng khuâng chiều nội trú” để khơi gợi lại cái thuở ban đầu lưu luyến ấy trong miền hoài niệm riêng của mỗi người. Giữa khung trời nội trú bâng khuâng đó, một tâm hồn đang bẽn lẽn rũ đi thơ dại mà trở mình biết suy tư.
“… Là một thoáng mây bay trong đôi mắt ai một ngày nắng đẹp
Là một thoáng giăng mây trong đôi mắt ai một ngày u ám
Ánh mắt mơ hồ phủ kín hồn tôi
Nghe sao chới với có thể quên người
Mưa chiều nay cho hồn tôi luống bâng khuâng…”
“Đôi mắt ai” sao trở nên thân thuộc quá, tình cảm trong sáng ấy từ sự chớm nở dần thành sâu đậm. Mắt ai vui thì hồn ta trong trẻo, mắt ai buồn thì hồn ta u ám. Không chỉ còn là xao động nhất thời, ánh mắt yêu thương giờ đã ngập tràn cả cảm xúc tương tư. Ôi, ánh mắt lãng đãng như mây trời, đam mê say sưa, níu bước ai trong những chiều nhẹ rung mênh mang cơn mưa. Không rõ cơn mưa đầu mùa là khách thể đồng cảm, góp thêm nỗi da diết hay chính là chủ thể trữ tình đang rì rào trong man mác bâng khuâng.
“… Mưa đầu mùa hạt nhỏ long lanh
Mưa quấn quít giọt dài giọt vắn
Mưa hỡi mưa ơi có bao giờ nhớ nắng
Sao ta buồn lại nhớ thương nhau
Mưa tình đầu nghe rất mong manh
Mưa tí tách thì thầm trên ngói
Em có nghe mưa tưởng chăng lời anh nói
Rất nồng nàn ngọt tiếng: yêu em…”
Có chiều nào miên man như chiều mưa ký túc, lặng nhìn mưa rơi, lặng nghe tiếng tí tách, lòng bồi hồi thầm ghen với những hạt mưa nhỏ có đôi, đang rì rào ca khúc tự tình. Để rồi, ta mượn thanh âm của mưa gửi đi chút tương tư thương nhớ, gửi đi lời tỏ tình đầu hạ. Nhạc vừa réo rắt, vui say, vừa nồng nàn, dịu nhẹ như mối tình đầu trong khung trời ký túc, làm dâng trào những cảm xúc vụng dại mà lãng mạn vô cùng… Từ trong khoảng xa xôi chợt trở về ánh mắt mê đắm năm cũ. Và, biết đâu trong chiều mưa hạ nào đó, ta lại thành ta của những ngày xưa, giũ đi những oằn nặng của cuộc đời, của thời gian, để cho tâm tưởng lại bay bổng cùng những thanh âm rào rạt mà mỉm cười cùng nuối tiếc yêu đương xa xưa.
Bản nhạc không chỉ hay mà còn lạ bởi nó được phổ từ hai bài thơ của một cô sinh viên ngành tư pháp. Nguyễn Trung Cang, một trong những ông vua nhạc trẻ của miền Nam trước 75, đã thổi giai điệu đầy suy tư mà ngọt ngào để chấp cánh cho hai bài thơ trở thành lời tự sự cho những ước mơ đã nguôi ngoai, cho những mối tình đã phôi phai cùng với khuất xa hình bóng cũ. Rồi, bất chợt một ngày, ta bỗng giật mình nhận ra, ngoài kia trời vẫn đang mưa rả rích. Mưa vẫn như người tri âm ngày đó để ta nhắn gửi yêu thương, ve vuốt nỗi niềm, chỉ có ta là thay đổi quên đi ân tình dào dạt thuở ấy. Mưa đang tí tách rơi trên mái hay đang hát lại bản tình ca năm cũ ?
Nếu như Phạm Duy có những chiều chủ nhật Duy Tân hẹn hò đây đó, “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” dạt dào kỷ niệm, thì Nguyễn Trung Cang lại có những chiều mưa nội trú bâng khuâng vời vợi thương nhớ. Hãy dành chút thời gian lắng lại, nghe Tuấn Ngọc ru hồn bên tách cà phê thơm lừng, mở cửa thời gian cho kí ức ùa về, buông lòng cho giai điệu lả lướt xoa dịu đi nhọc nhằn, hằn học tầm thường, để hạt giống thanh thản nảy mầm trên mảnh đất tâm hồn màu mỡ.
Chiều nội trú bâng khuâng
như đôi mắt ai ngày nào tao ngộ
Chiều nội trú bâng khuâng
như đôi mắt ai vời vợi tha thiết
Ánh mắt thật gần mà cũng thật xa
Ôi yêu thương quá ánh mắt êm đềm
Mong tình yêu cho hồn trở lớn khôn thêm
Là một thoáng mây bay trong đôi mắt ai một ngày nắng đẹp
Là một thoáng giăng mây trong đôi mắt ai một ngày u ám
Ánh mắt mơ hồ phủ kín hồn tôi
Nghe sao chới với có thế quên người
Mưa chiều nay cho hồn tôi luống bâng khuâng
Mưa đầu mùa hạt nhỏ long lanh
Mưa quấn quít giọt dài giọt vắn
Mưa hỡi mưa ơi có bao giờ nhớ nắng
Sao ta buồn lại nhớ thương nhau
Mưa tình đầu nghe rất mong manh
Mưa tí tách thì thầm trên ngói
Em có nghe mưa tưởng chăng lời anh nói
Rất nồng nàn ngọt tiếng: YÊU EM
Chiều nội trú bâng khuâng
như đôi mắt ai ngày nào tao ngộ
Chiều nội trú bâng khuâng
như đôi mắt ai vời vợi tha thiết
Ánh mắt thật gần mà cũng thật xa
Ôi yêu thương quá ánh mắt êm đềm
Mong tình yêu cho hồn trở lớn khôn thêm
Là một thoáng mây bay trong đôi mắt ai một ngày nắng đẹp
Là một thoáng giăng mây trong đôi mắt ai một ngày u ám
Ánh mắt mơ hồ phủ kín hồn tôi
Nghe sao chới với có thế quên người
Mưa chiều nay cho hồn tôi luống bâng khuâng


Người con gái Việt Nam da vàng
Trịnh Công Sơn
Người con gái Việt Nam da vàng
yêu quê hương như yêu đồng lúa chín
Người con gái Việt Nam da vàng
yêu quê hương nước mắt lưng tròng
Người con gái Việt Nam da vàng
yêu quê hương nên yêu người yêu kém
Người con gái ngồi mơ thanh bình
yêu quê hương như đã yêu mình
Em chưa biết quê hương thanh bình
Em chưa thấy xưa kia Việt Nam
Em chưa hát ca dao một lần
Em chỉ có con tim căm hờn
Người con gái một hôm qua làng
đi trong đêm, đêm vang ầm tiếng súng
Người gái chợt ôm tim mình
trên da thơm, vết máu loang dần
Người con gái Việt Nam da vàng
mang giấc mơ quê hương lìa kiếp sống
Người con gái Việt Nam da vàng
yêu quê hương nay đã không còn
Ôi cái chết đau thương vô tình
Ôi đất nước u mê ngàn năm
Em đã đến quê hương một mình
Riêng tôi vẫn âu lo đi tìm


 HOA XUÂN (PHẠM DUY)
Hàn Mặc Tử đã có những câu như thế này:
“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm-tấm vàng
Sột-soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên-lý bóng xuân sang…”
Xuân đã chớm về theo xanh tươi cành lá, trong mơ màng khói tỏa cùng chút nắng hồng ửng lên mái nhà tranh. Chỉ với vài câu chữ, một bức tranh xuân tuyệt đẹp, vừa rực rỡ, vừa dịu nhẹ đã mang đến cho người đọc thoáng mơ màng, bâng khuâng. Đó là tài của Hàn thi sĩ vậy!
Nếu như trong thơ ca, câu chữ là men say của sự chưng cất cái tứ, cái tình, thì trong âm nhạc, mỗi nốt nhạc có thể là một cung bậc của cảm tính, là sự giao thoa của những run rẩy, choáng ngợp, bềnh bồng hay mênh mang, dịu dàng, thanh thản trong miền thế giới riêng của thính giác. Mùa xuân cùa Hàn thi sĩ dịu mát đến say lòng người đọc. Mùa xuân trong “Hoa xuân” của Phạm Duy tươi tắn rộn ràng mà cũng không kém phần thi vị.
”Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn”
Nét nhạc đơn giản chỉ với 4 nốt “đô, mi, sol, la” nhưng ta đã thấy xuân về nhè nhẹ, êm ái như lời ru. Cái lạ của khúc mở đâu ở đây là tại sao Phạm Duy lại đưa hình ảnh của lá vàng vào đầu của khung cảnh mùa xuân? Phải chăng ông muốn gửi gắm rằng sự kết thúc chính là mở đầu cho hồi sinh? Là vàng rụng về cội để cho chồi non đâm lộc? Xuân của Phạm Duy đã bắt đầu từ lúc lá vàng rơi xuống, xuân của Phạm Duy là xuân của nguồn cội. Ta cảm được tiếng lá rơi tuy rơi nhẹ nhưng là sự lẩy nhịp tạo nên bước chuyển của không gian khiến bức tranh xuân bừng lên từng mảng rực rỡ:
“Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung ròn”
Xuân không chỉ có sắc mà còn có hương, không chỉ có “tĩnh” mà còn có “động”. Hình ảnh của ong bướm vui đùa bên bên cái e ấp, thanh tân của hoa xuân rất sống động với hai chữ “tung ròn” hạ xuống cuối câu nhạc. Dường như trong hình ảnh lại cài hình ảnh, trong thanh âm lại lồng thanh âm tạo nên sự náo nức, giòn giã của tâm hồn đang dần đắm trong gió xuân đang về trên cành lá.
“Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi
Muốn yêu anh vác cầy trên đồi
Hay là yêu chiến sĩ nghìn nơi
Thấy hoa tươi cười bỗng thương đời.”
Đã có “hương”, có “sắc”, có “âm thanh” nhưng nếu thiếu cái “tình” thì chưa phải là xuân đúng nghĩa. Tình xuân ở đây là tình của thiên nhiên, đất trời, hoa lá, tình chân thành dành cho những con người đang cần cù xây dựng, bảo vệ quê hương chứ không phải cái tình hời hợt lả lơi, vụn vặt, ve vãn tầm thường. Hoa bừng lên sức sống để vun đắp chứ không phải để tô điểm hào nhoáng giả tạo. Nhạc cứ trôi dìu dặt mà nhẹ nhàng, mang cái xuân sắc thơ tình quyện vào lòng người nghe làm dậy nên niềm lạc quan khó tả. Không réo rắt, không dồn dập, xuân cứ dịu dàng mà tràn ngập.
“Xuân! Hoa còn tươi mãi
Hoa vì nhân thế biết sum vầy cuộc vui
Xuân! Hoa nở vì ai
Tay nhịp bàn tay cùng đắp xây ngày mai…”
“… Có một chàng thi sĩ miền quê
Ngắt bông hoa biếu người xuân thì
Có một đàn em bé ngoài đê
Hát câu i tờ đón Xuân về”
Bức tranh xuân dần hiển hiện ra đầy đủ từng mảng màu tươi tắn, khoảng khoát nhưng có lẽ sẽ kém sinh động nếu thiếu mất đi chủ thể cùng hòa nhịp theo từng bước xuân về. Nhành hoa mà chàng thi sĩ ngắt tặng cho nàng không rõ là hoa gì nhưng có lẽ hương thơm của nó đã ngan ngát qua khung nhạc, đem đến sự miên man, say đắm. Và trên bước đường làng xôn xao tiếng mục đồng đánh vần con chữ cho rộn ràng thêm xuân sắc. Hoa xuân, hoa của tình yêu ngọt ngào, hoa của tâm hồn trẻ thơ bừng nở trong chớm chạm vào ánh sáng của tri thức. Hoa trở thành người hay người cũng chính là một bông hoa đang khoe hương sắc giữa mùa xuân cuộc đời. Cánh nhạc đơn sơ chỉ phác họa vài nét chấm phá mở toang ra thế giới mùa xuân rất riêng của miền thính giác, âm thanh trở thành màu sắc, trở thành hình họa, dựng nên bức tranh của mùa xuân.
Hình như đã không còn ranh giới giữa thính giác, thị giác, cảm giác, ta nghe để cảm, cảm để nghe. Xuân cũng không còn là hình ảnh hiển hiện ra mà lại tan theo sóng âm tạo thành phép màu, thôi thúc sự chuyển động của chủ thể. Chủ thể đó không phải gói gọn trong câu chữ bản nhạc nữa, chủ thể đó bao gồm luôn cả ta, cái ta chìm trong vi diệu của âm nhạc.
“… Những đoàn người trên luống cầy nâu
Thấy hoa xuân phép lạ ra màu
Bỗng nhủ lòng ra sức cầy sâu
Tiếng ca như thể tiếng kinh cầu
Hoa bèn yêu bóng dáng cần lao
Bắt tay nhau tránh cuộc cơ cầu
Người cùng mùa đã thoát vực sâu
Sức reo hoa nở lúc Xuân đầu…”
“… Xuân! Hoa tỏa hương mới
Nhân quần ân ái đã kêu đòi niềm vui
Xuân! Hoa là tình tôi
Đua nở cùng ai cùng quyến luyến mọi nơi…”
Lời nhạc đẹp đầy chất tượng hình và giàu sức biểu cảm, lay động lòng người. Thiết nghĩ không cần phải bàn thêm nữa bởi câu chữ để bình lúc này gần như bất lực trước lối diễn tả quá tuyệt vời của nét nhạc. Ẩn sau sự đơn sơ, nhẹ nhàng mà đơn giản của từng nốt nhạc là từng lớp hình ảnh sắc nét, sống động mang đậm cảm xúc của tâm hồn con người đang rung động trước vẻ đẹp của mùa xuân đất trời, mùa xuân con người. Mùa xuân là mùa của mùa của hạnh phúc, là mùa của sự thỏa mãn những niềm vui mang tính nhân bản trong sự giao hòa với thiên nhiên. Âm nhac lúc này đã trờ thành văn chương, thành hội họa.
“Có một bầy thôn nữ nhìn hoa
Chúc cho Xuân vui vẻ thái hoà
Có một vài tóc trắng thầm mơ
Ước cho hoa nở mãi không già”
Hẳn là có sự sắp đặt trong đoạn cuối của bản nhạc này. Đây là đoạn nhạc của luân chuyển thời gian. Thanh xuân được đặt cùng với bạc đầu tạo nên sự quay vòng không tránh khỏi được của thời gian. Phạm nhạc sĩ đã gửi gắm mơ ước xuân sẽ mãi trường tồn cũng như mong ước cái thanh xuân của đời người sẽ được tiếp nối trọn vẹn để vun đắp nên không khí vui vẻ, thái hòa - một ước mơ của nhân thế muôn đời!
Xét về nhạc lý, “Hoa xuân” thật giản đơn, không có những đoạn dồn dập cao trào, không có những đỉnh cao mê mẫn. Xét trong hoàn cảnh sáng tác, năm 1953, ta còn nhận thấy bản nhạc là sự rung cảm hết sức tinh tế của tâm hồn của người nghệ sỹ trước sự kì vọng vào mùa xuân thanh bình của đất nước mà mỗi một con người chung tay xây dựng, bảo vệ là một đóa hoa xuân khoe hương sắc, không bao giờ tàn cùng mùa xuân chung dân tộc. Bản nhạc cứ dịu nhẹ đi vào lòng người, chậm rãi vẽ nên bức tranh sinh động của thiên nhiên đất trời trong thanh sắc mùa xuân, ở đó có chuyển động của hình họa, có quay vòng của thời gian. Âm nhạc đạt đến cảnh giới khác, hòa trộn vào đó cả văn chương, cả hội họa như một thước phim điện ảnh. Những nốt nhạc tưởng chừng như đơn giản nhưng khắc họa nhiều mảng, nhiều hình tượng tạo nên không gian sâu lắng mà rộn ràng, mênh mang mà tươi tắn đồng thời cũng gửi gắm tình cảm, ước mơ mang đậm tính nhân văn, nhân bản. Đó là cái tài của Phạm nhạc sĩ vậy!
Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn
Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung tròn
Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi
Muốn yêu anh vác cầy trên đồi
Hay là yêu chiến sĩ ngàn nơi
Thấy hoa tươi cuời bỗng thương đời
Xuân! Hoa còn tươi mãi
Hoa vì nhân thế biết sum vầy cuộc vui
Xuân! Hoa nở vì ai
Tay nhịp bàn tay cùng đắp xây ngày mai
Có một chàng thi sĩ miền quê
Ngắt bông hoa biếu người xuân thì
Có một đàn em bé ngoài đê
Hát câu i tờ đón Xuân về
Những đoàn người trên luống cầy nâu
Thấy hoa xuân phép lạ ra màu
Bỗng nhủ lòng ra sức cầy sâu
Tiếng ca như thể tiếng kinh cầu
Hoa bèn yêu bóng dáng cần lao
Bắt tay nhau tránh cuộc cơ cầu
Người cùng mùa đã thoát vực sâu
Sức reo hoa nở lúc Xuân đầu
Xuân! Hoa tỏa hương mới
Nhân quần ân ái đã kêu đòi niềm vui
Xuân! Hoa là tình tôi
Đua nở cùng ai cùng quyến luyến mọi nơi
Có một bầy thôn nữ nhìn hoa
Chúc cho Xuân vui vẻ thái hòa
Có một vài tóc trắng thầm mơ
Ước cho hoa nở mãi không già



 LỐI VỀ XÓM NHỎ (TRỊNH HƯNG)
Về thôn xưa ta hát khúc hoan ca
Ngọt hương lúa tình quê thêm đậm đà
Dào dạt bao niềm thương trong mái lá...
“Lối về xóm nhỏ” là tựa đề của một trong nhiều bài hát quen thuộc một thời với dân miền Nam ở bên nhà vào giữa thập niên 50. Lấy một thời điểm cụ thể là năm 1956 thì ngày ấy tôi mười bốn tuổi và có một kỷ niệm không dễ quên đối với bài hát này.
Dạo đó Đài Phát Thanh hàng ngày cho phổ biến khá nhiều bài hát theo tiết điệu “Mambo”. Cũng chả có gì lạ, bởi tiết điệu này lúc đó đang được phổ biến ở Âu Mỹ. Một trong những ban nhạc nổi tiếng ở Mỹ thời ấy, “chuyên trị” cái vụ “Mambo” là ban nhạc của “Xavier Cugat”. Bên Pháp thì Dario Moreno, một giọng ca đang ăn khách trên đĩa nhựa loại “45 tours”, cũng đang nổi tiếng với bài “Mambo Italiano”.
Các nhạc sĩ có tài của nước ta có cái hay là không bắt chước cái gì của phương Tây thì thôi nhưng đã bắt chước thì tạo nên cái hay riêng với nét nhạc xứ mình. (Cứ xem những bài hát của Văn Phụng thì biết! ). Thời ấy một bài nổi tiếng theo tiết điệu “Mambo” của ta là bài “Khúc ca ngày mùa” của Lam Phương mà cho đến bây giờ tôi vẫn cho là đặc sắc. Tôi nghe qua Đài Phát Thanh những bài như “Tôi yêu”, “Lối về xóm nhỏ” của Ông Trịnh Hưng cũng vào cái thời ấy. Tôi nhớ đặc biệt bài “Lối về xóm nhỏ” từ một kỷ niệm. (Có cái gì ta chịu khó nhớ mà không từ kỷ niệm?)
Nhưng trước hết phải nói là thời ấy tuy nghe loại tiết điệu đó, cũng na ná như “Cha Cha Cha”, thấy “có lý” đấy thế nhưng tôi không mấy “khoái”! Tính tôi hợp với các tiết điệu “uyển chuyển”, dịu dàng hơn, cho dù là “Rhumba”, “Bolero” hay “Tango”. Mà cái đám bạn bè thuộc loại “nhóc con” như tôi thời ấy thì bọn chúng không ưa loại nhạc “nhè nhẹ”, “chầm chậm” kiểu “diễn tả tình cảm” ! Kể ra thì chúng cũng có lý: Con nít mà “diễn” với “tả” cái gì ? Do đó mà có tụ tập lại với nhai để đàn địch thì trước sau gì cũng có một lô các bài theo tiết điệu “Mambo"!
Có điều là vào một dịp gần Tết thì một đứa trong đám bạn cùng trường của tôi bên “Chasseloup” có quen với một cô bé ở một trường tư thục theo chương trình Việt. Tết đến, các “em” xúm nhau lại tổ chức họp mặt ca hát trong lớp để đón Xuân, nghỉ Tết. Thằng bạn của tôi một hôm xách cây đàn “ghi-ta” đến trường con nhà người ta để đệm đàn cho con bé bạn của nó. Nó rủ tôi theo vì tôi chạy cái xe gắn máy thì nó ngồi vắt vẻo nơi yên sau để ôm một cây đàn “ghi-ta” và một cây “mandoline”!
Đến nơi thì hóa ra trong danh mục những bài mà “các em” sẽ hát lại có cả bài “Lối về xóm nhỏ” của Trịnh Hưng! Bài này do một “em” tên là Thu Hà đảm trách vụ hát hỏng. “Em” Thu Hà không phải con bé bạn của thằng bạn tôi. Tôi thắc mắc với các “em”: ”Tết nhất đến nơi, không hát những bài Xuân mà khi không đi chọn “Lối về xóm nhỏ” là thế nào?” Mấy “em” còn ngơ ngác chưa biết nói năng thế nào với cái “tay Bắc Kỳ tính nết có vẻ khó ưa này” thì thằng bạn Nam Kỳ của tôi gắt: ”Người ta thích hát cái gì thì thây kệ người ta chứ mắc mớ gì đến mày?” Tôi cãi: ”Mày muốn tao phụ đệm đàn cho nó hát thì tao cũng phải thích bài hát đã chứ!” Mấy “em” kia nhao nhao: ” Aaa ! Ai là “nó” đấy ? Người gì mà dữ tợn” ! Thằng bạn của tôi thấy coi bộ không xong bèn chen vào: ”Ôi ! Hơi đâu mà bắt chẹt nó! Coi vậy chứ nó cũng hiền lắm !” Tôi gỡ: ”Đấy, thì nó chẳng vừa gọi tôi bằng “nó” là gì ?” Các “em” lại nhao nhao: ”Nhưng hai người là bạn với nhau ...” Tôi lý sự: ”Như vậy thì mấy cô không coi tôi như bạn ?” Các “cô”: “Nhưng người ta là con gái ...” Một “cô” khác: ”Người gì mà không “vô-lăng” tí nào!”
Nhưng rốt cuộc rồi thì tôi cũng đệm đàn cho “em” Thu Hà hát bài “Lối về xóm nhỏ” của Trịnh Hưng. Bài hát thì tất nhiên là hay rồi. Chỉ phiền là “em” Thu Hà ngày đó dáng dấp, mặt mũi xinh xắn như thế nhưng hát hỏng thì lại chả có ra làm sao cả! Trật nhịp lui trật nhịp tới, tuy cấu trúc về nhịp của bài hát đâu có gì là phức tạp?
Hôm nay, một ngày Xuân muộn ở Nam Cali, cái Tết đã qua từ lâu, nhưng đuợc cái tin buồn là vừa mới đây nhạc sĩ Trịnh Hưng qua đời, tôi ngồi vào đàn, đàn lại bài “Lối về xóm nhỏ” để nhớ lại một quãng đời đã xa lắc xa lơ của riêng mình. Nhớ đến công ơn –xin lập lại: ”công ơn”- của một nhạc sĩ tài hoa đã để lại cho đời những giai điệu thật đẹp tuy chả biết dễ mấy ai còn nhớ đến tên tuổi cùng tài năng của ông!
Tôi đàn lại giai điệu của bài hát mà chỉ tiếc là giá như hồi ấy người ta cũng đã chế tạo ra các lọai “piano điện tử” như ngày nay để vào cái dịp Tết năm ấy tôi đã có cái hấp dẫn hơn để đệm đàn cho “em” Thu Hà thời ấy hát. Nhưng nghĩ lại thì thấy là như vậy cũng đuợc rồi. Có đàn với cái hòa âm phong phú hơn thì chung cuộc “cô em” đã lại càng hát sai thêm!
(Thanh Trang)
Về thôn xưa ta hát khúc hoan ca
Ngọt hương lúa tình quê thêm đậm đà
Dào dạt bao niềm thương trong mái lá
Bờ dâu xanh, cô gái hát êm êm
Tầm mai chín gởi anh dâng mẹ hiền
Lòng già thêm hơi ấm khi chiều lên.
Có những chiều hôm
Trời nghiêng nắng xế đầu non
Nắng xuống làng thôn
Làm cho đôi má em thêm dòn
Lúa đã lên bông
Mắt già tươi sáng thôi chờ mong
Tiếng hò cô lái bên Cửu Long
Mơ rằng mai lúa lên đầy bông
Chiều hôm nay quay gót bước phiêu du
Về thôn xóm để vui chung ngày mùa
Đường về thôn quyện chân lên nhánh lúa
Vầng trăng nghiêng soi mái tóc em thơ
Vài cô gái nhỏ to vui chuyện trò
Đường về thôn niềm vui dâng đây đó ...



 CÁNH THIỆP ĐẦU XUÂN (LÊ DINH & MINH KỲ)
Tấm thiệp được sử dụng nhiều trong các dịp lễ hội, đặc biệt là mùa Xuân, thậm chí thời @ còn được người ta dùng e-Card (điện thiệp, tương tự dạng e-Mail hoặc điện thư). Ở gần nhau, người ta trực tiếp chúc nhau. Ở xa nhau, người ta dùng thiệp để chúc nhau những điều tốt lành nhất.
Về tấm thiệp ngày Tết, Nhạc Sĩ Lê Dinh đã sáng tác ca khúc “Cánh Thiệp Đầu Xuân” (với Ns Minh Kỳ là đồng tác giả). Ca khúc này được viết ở nhịp 4/4, âm thể Trưởng, với cấu trúc quen thuộc thời đó là A – A’ – B – A’’. Tiết tấu không cầu kỳ, chỉ có chút đảo phách như “điểm nhấn” nét vui của mùa Xuân. Giai điệu “sáng” và đẹp.
Ca từ cũng không trau chuốt, giản dị và mộc mạc: “Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng, Xuân đến rồi đây nào ai biết không?”. Chính câu hỏi đó cũng là câu trả lời rồi. Nhưng ông không nhìn mùa Xuân qua dáng vẻ bề ngoài, mà qua nét nội tâm: “Mang những hoài mong đi vào ngày tháng, bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang”. Chắc chắn ai cũng tràn trề hy vọng và mơ ước cho một năm mới.
Có nhiều lời chúc, tùy người mà dùng lời chúc cho hợp cảnh, hợp tình. Ông cân nhắc: “Tôi chúc gì đây vào mùa Xuân này? Khi nắng vàng tươi nhuộm làn tóc ai, khi gió nhẹ lay hoa đào hồng thắm, trong khi Xuân ấm mới tô đẹp tháng năm”. Cũng dễ mà cũng khó, chúc cầu kỳ thì có vẻ “tiểu thuyết”, chúc thực tế thì có vẻ mất hay. Mỗi người mỗi ý thích, không đơn giản chút nào!
Thôi thì chúc những gì bình thường mà phổ biến, văn vẻ mà không là “sáo ngữ”, thực tế mà vẫn cần: “Tôi chúc muôn người mọi điều ước muốn, non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình, để người anh yêu dấu quay về gia đình, tìm vui bên lửa ấm”. Chắc chắn ai cũng có những ước muốn. Và ước muốn thực tế nhất của thời chiến là niềm khao khát hòa bình luôn cháy bỏng trong mọi người – cả nhân dân và cả quân đội. Hòa bình lên ngôi thì mọi người an tâm vui Xuân, ăn Tết.
Chúc điều chung nhất cho mọi người, và điều riêng cho một giới nào đó. Mùa Xuân là mùa yêu thương, “cô gái xuân thì” chính là biểu hiện của mùa Xuân: “Tôi chúc yên lành người người khắp chốn, mong gió đưa duyên cho cô gái xuân thì, ước nguyện sao chóng thành rượu hồng xe duyên”. Đất nước an bình thì cô gái mới tin tưởng “cầu duyên”, và mới có thể hy vọng sớm cho mọi người uống rượu vui ngày vu quy.
Dù thế nào cũng vẫn phải hy vọng – hy vọng cho mình và cho mọi người khác, đơn giản là cho người yêu: “Tôi chúc ngày mai dầu đường xa vời, trai gái bền duyên đẹp tình lứa đôi, cho bướm vàng bay trên nẻo đường mới, vai trên vai những lúc tâm tình bên nhau”. Hạnh phúc lên ngôi và bền vững không chỉ cho cuộc tình riêng, mà còn cho mọi cuộc tình của bất kỳ ai. Tình yêu thắm nở thì lúc nào cuộc đời cũng có mùa Xuân, chứ không chỉ mấy ngày Tết mới có mùa Xuân.
Chúc cho người vui rồi thì cũng phải chúc cho người buồn, chúc cho người lớn và người nhỏ, chúc cho người gần và người xa: “Tôi chúc rồi đây người về phương nào, cho dẫu thời gian lạnh lùng lướt mau”. Ai cũng cần vui, ai cũng cần Xuân, ai cũng khát khao hạnh phúc. Không gì hơn là ai cũng được tận hưởng mùa Xuân trọn vẹn, và dù hoàn cảnh có thế nào thì tình nghĩa, dù là loại tình cảm nào, cũng vẫn phải trước sau như một: “Mong ước ngày sau như là ngày trước, tay trong tay nhớ lúc trao thiệp đầu Xuân”.
Thiệp Xuân là niềm mơ ước chân thành, và cũng là lời chúc tốt lành trao nhau ngày Xuân. Đó là niềm hạnh phúc trao nhau với cả tấm lòng, vì hạnh phúc không thể tận hưởng một mình, chí ít cũng phải có hai người, nghĩa là càng nhiều người càng tốt. Hạnh phúc như nước hoa, càng cho đi càng tỏa hương thơm, và hạnh phúc càng được nhân lên gấp bội.
Mùa Xuân đặc biệt lắm, chính Kinh thánh ví phúc lộc như mưa Xuân: “Long nhan rạng rỡ là bầy tôi được sống, ơn vua ban xuống như mây đổ mưa xuân”
Kinh thánh không chú trọng mùa nào, dù là mùa Xuân, nhưng nhiều lần nhắc tới việc chúc phúc, chúc lành, chúc tụng – mà lời chúc có liên quan mùa Xuân. Chúa Giêsu căn dặn: “Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy” (Mt 10:12). Chúa Giêsu còn đòi hỏi gắt gao hơn, như một quy luật bắt buộc phải thi hành: “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6:28). Thánh Phaolô cũng nói rõ: “Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa: Vui với người vui, khóc với người khóc”
Quả thật, lời chúc rất quan trọng trong cuộc sống thường nhật, nhất là khi Tết đến, Xuân về.
Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng,
Xuân đến rồi đây nào ai biết không?
Mang những hoài mong đi vào ngày tháng
Bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang.
Tôi chúc gì đây vào mùa Xuân này
Khi nắng vàng tươi nhuộm làn tóc ai
Khi gió nhẹ lay hoa đào hồng thắm
Trong khi Xuân ấm mới tô đẹp tháng năm
Tôi chúc muôn người mọi điều ước muốn
Non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình
Để người anh yêu dấu quay về gia đình
Tìm vui bên lửa ấm.
Tôi chúc yên lành người người khắp chốn
Mong gió đưa duyên cho cô gái Xuân thì
Ước nguyện sao chóng thành rượu hồng se duyên.
Tôi chúc ngày mai dù đường xa vời
Trai gái bền duyên đẹp tình lứa đôi
Cho bướm vàng bay trên nẻo đường mới
Vai bên vai những lúc tâm tình lên khơi
 MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN (TUẤN KHANH)
Mùa Xuân đã có từ ngàn xưa. Xuân cứ đến rồi đi theo trình tự của đất trời, chẳng ai biết Mùa Xuân nào là Mùa Xuân đầu tiên, nhưng cuộc đời mỗi người đều có Mùa Xuân đầu tiên, theo nghĩa bình thường hoặc theo nghĩa đặc biệt. Theo nghĩa riêng biệt, NS Tuấn Khanh đã viết ca khúc “Mùa Xuân Đầu Tiên” [nhịp 4/4, âm thể trưởng, viết trước 1975, còn ca khúc “Mùa Xuân Đầu Tiên” của NS Văn Cao là bài khác, nhịp 6/8, âm thể thứ, viết sau 1975]. Đó là ước mơ về Mùa Xuân Hòa Bình, khi mà mọi người được vui mừng tận hưởng lần đầu tiên sau những tháng năm chiến tranh tàn khốc.
Ca khúc “Mùa Xuân Đầu Tiên” của NS Tuấn Khanh được viết ở âm thể trưởng mà nghe giai điệu lại da diết chứ không vui nhộn. Ca khúc này nói về một chiến sĩ nhớ về người yêu ở quê nhà.
Anh ở tiền tuyền, em ở hậu phương, đôi nơi cách biệt cả không gian và thời gian, trái tim người lính nơi chiến trường luôn đầy ắp nỗi nhớ thương và hình bóng cô nàng:
Bao nhiêu thương nhớ gom nhặt đầy
anh trở về thăm em
Bao lần ngồi thâu đêm
nghe mùa Xuân vừa đến
Em ơi hoa thắm rơi ngập đường
trời nắng xế vương vương
Lòng nhớ đến em luôn
khi chiều tàn chim gọi đàn...
Nỗi nhớ đó càng đầy và càng dày thêm vào thời điểm cuối ngày, chạnh lòng biết bao mỗi khi nghe tiếng chim gọi đàn và rủ nhau về tổ.
Đêm xuống dần, sương lạnh thấm vai, người lính vừa đứng gác vừa nhìn trăng khuya mà mong trời mau sáng:
Em ơi đôi lúc nghe lòng buồn
trên sườn đồi thông xanh
Sương phủ đầy vai anh
canh tàn trăng mờ ánh
Long lanh sao rớt phương đầy trời
dòng cát trắng bao la
chờ sáng đến chim ca
cho đường dài cũng không xa
Lúc đó, Mùa Xuân Đầu Tiên trong hoàn cảnh đất nước thanh bình chưa hiện thực, đó chỉ là Mùa Xuân Hòa Bình trong trí tưởng tượng của người lính tác chiến nơi tiền đồn heo hút, nhưng với anh thì rất thật, dù chỉ là thật trong ý nghĩ. Anh “đặt vấn đề” với cô người yêu:
Người yêu ơi! biết chăng anh về
Người yêu ơi! nhớ chăng lời thề
Anh say sưa nhịp bước trên hè
Anh nâng niu nụ hoa vừa hé
Đôi môi xinh người em nhỏ bé mộng mơ
Rồi anh lại vu vơ hỏi đất trời như đang tâm sự với người yêu thật: “Mùa Xuân ơi, biết tôi yêu đời? Mùa Xuân ơi, nói sao nên lời? Em ơi em, dù nhớ vơi đầy, bao lâu nay đợi nhau là mấy, em đâu ngờ bến bờ hạnh phúc là đây”. Hạnh phúc rất đơn giản thế nhưng hạnh phúc lại to lớn quá!
Vừa vui Xuân Đất Trời vừa vui Xuân Tình Yêu, niềm vui như tăng theo cấp số nhân khi lại được chung niềm vui Xuân Hòa Bình đầu tiên: “Em ơi, Xuân đến bên thềm rồi, nhắp rượu hồng vơi đi, hết rồi mùa chia ly, cho tình Xuân vừa ý. Xin yêu thương đến đôi bạn hiền để xóa hết cô đơn, rồi quyến luyến nhau hơn cho người em thôi giận hờn”.
Không thể vui một mình, niềm vui phải được sẻ chia, làm lây lan sang người khác. Mình không thể tận hưởng niềm vui mình ên mà phải chia vui với người khác qua những lời chúc tốt đẹp nhất: “Xuân nay ta chúc cho mẹ già vui vườn cà thêm hoa, vui ruộng đồng bao la, tóc bạc phơ đẹp quá! Xin yêu thương đến vơi hận thù để tiếng hát hôm nay, người chiến sĩ mê say bên đàn trẻ bé thơ ngây”. Cũng như niềm hạnh phúc, niềm vui rất giản dị, nhưng niềm vui vẫn có sức mạnh lan tỏa khắp nơi… từ người già tới trẻ thơ.
Niềm vui hòa bình hiện thực, mọi người vui mừng tột đỉnh khi được trao nhau nụ cười thân thiện và chúc nhau năm mới vạn sự như ý, phát lộc và phát tài: Chúc Mừng Năm Mới – Happy new Year. Xuân Hòa Bình mới thực sự là Xuân mà người ta được hưởng Phúc-Lộc-Thọ-Khang-Ninh.
Bao nhiêu thương nhớ gom nhặt đầy
anh trở về thăm em
Bao lần ngồi thâu đêm
nghe mùa Xuân vừa đến
Em ơi hoa thắm rơi ngập đường
trời nắng xế vương vương
Lòng nhớ đến em luôn
khi chiều tàn chim gọi đàn
Em ơi đôi lúc nghe lòng buồn
trên sườn đồi thông xanh
Sương phủ đầy vai anh
canh tàn trăng mờ ánh
Long lanh sao rớt phương đầy trời
dòng cát trắng bao la
chờ sáng đến chim ca
cho đường dài cũng không xa
Người yêu ơi! biết chăng anh về
Người yêu ơi! nhớ chăng lời thề
Anh say sưa nhịp bước trên hè
Anh nâng niu nụ hoa vừa hé
Đôi môi xinh người em nhỏ bé mộng mơ
Mùa Xuân ơi! biết tôi yêu đời
Mùa Xuân ơi! nói sao nên lời
Em ơi em, dù nhớ vơi đầy
Bao lâu nay, đợi nhau là mấy
Em đâu ngờ bến bờ hạnh phúc là đây
Em ơi Xuân đến bên thềm rồi
nhắp rượu hồng vơi đi
hết rồi mùa chia ly
cho tình Xuân vừa ý
Xin yêu thương đến đôi bạn hiền
để xóa hết cô đơn
rồi quyến luyến nhau hơn
cho người em thôi giận hờn
Xuân nay ta chúc cho mẹ già
vui vườn cà thêm hoa
Vui ruộng đồng bao la
tóc bạc phơ đẹp quá
Xin yêu thương đến vơi hận thù
để tiếng hát hôm nay
người chiến sĩ mê say
bên đàn trẻ bé thơ ngây



ĐÊM THU (ĐẶNG THẾ PHONG)
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau

(Nguyễn Du)
Suy từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người tài hoa là người bạc mệnh, kẻ hồng nhan thường đa truân. Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam nói chung hay nhìn vào làng nhạc Việt Nam nói riêng, Đặng Thế Phong là một trường hợp đặc biệt và điển hình rõ nét nhất. Ông là một trong rất ít nhạc sĩ tiên phong của thời kỳ tân nhạc còn phôi thai, chết rất trẻ nhưng kịp để lại cho đời 3 ca khúc bất hủ.
Ðặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Ông là con trai Đặng Hiển Thế, thông phán Sở Trước bạ Nam Định. Thân phụ ông chẳng may mất sớm, gia đình túng thiếu, ông phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure, nay là lớp bảy cấp hai phổ thông cơ sở). Vướng vào cái nghiệp văn nghệ từ thuở còn nhỏ nên ông đã lên Hà Nội theo học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Ecole supérieure de Beanx Arts) với tư cách bàng thính viên (auditeur libre). Đặng Thế Phong đã thực sự lấy nghề nuôi nghiệp: thời gian theo học này, ông đã phải vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ báo là nhà văn Phạm Cao Củng) để có tiền ăn học. Trong một kỳ thi, ông đã vẽ một bức tranh cây cụt, không có một cành nào. Lúc nạp bài, giáo sư Tardieu, thầy dạy ông đã nói rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!
Ông đã phiêu du vào Sài Gòn rồi sang Nam Vang vào đầu năm 1941 và mở một lớp dạy nhạc tại kinh đô xứ Chùa Tháp cho đến mùa thu 1941 ông lại trở về Hà Nội.
Cũng giống như Mozart lúc sinh thời, Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo, nên cuộc sống của ông chật vật. Ngoài tài làm nhạc, vẽ tranh, ông còn có giọng hát khá hay, tuy chưa được là Ténor nhưng cũng được khán giả hâm mộ. Lần đầu tiên ông lên sân khấu, hát bài Con Thuyền Không Bến tại rạp chiếu bóng Olympia (phố Hàng Da – Hà Nội) vào năm 1940, được hoan nghênh nhiệt liệt. Đặng Thế Phong là một thiên tài, nhưng vẫn không có được cuộc sống sung túc giữa cố đô Thăng Long lúc bấy giờ vì nhạc và tranh dù có hay, có đẹp đến mấy chăng nữa cũng chẳng có mấy ai mua. Thời ấy, chính quyền bảo hộ Pháp có mở một phòng triến lãm tranh tại hội Khai Trí Tiến đức, khu Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Sau lễ khai mạc được ông Đốc Lý thành phố Hà Nội đến cắt băng, người ta thấy những người đến xem tranh phần rất lớn toàn là ông Tây, bà Đầm, còn người Việt thì đúng là lơ thơ tơ liễu buông mành, nhìn kỹ thấy toàn là các quan ta, những công chức cao cấp, giới trí thức, thượng lưu chứ chẳng thấy một dân thường nào! Ngoài ra, thời bấy giờ chính quyền Pháp có tổ chức mở phòng triển lãm là bảo trợ cho các hoạ sĩ Pháp trưng bày tranh của mình còn hoạ sĩ Việt Nam thì số người lọt được vào, ta có thể đếm trên đầu ngón tay. Đến nhạc thì nếu có in, mỗi lần xuất bản cũng chỉ in nhiều nhất là 500 bản, dân chúng chưa yêu chuộng nhạc cải cách (tân nhạc) nên dù có thực tài thì cũng không thể có được một cuộc sống sung túc nếu nhờ vào sức lao động nghệ thuật!
Đặng Thế Phong phải chịu một cuộc sống khó khăn, chật vật trong “kiếp con tằm đến thác vẫn còn vương tơ” cho đến đầu năm 1942, ông từ giã cõi đời tại căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng Nam Định vì bệnh lao màng (tuberculose péritonique), hưởng dương 24 tuổi, tuổi son trẻ, đầy thơ mộng, sắp bước vào thời xây dựng sự nghiệp (tam thập nhi lập).
Cuộc đời của Đặng Thế Phong thật quá ngắn ngủi nhưng đời sống tinh thần của ông rất phong phú và thi vị. Nhờ thế mà tuy sáng tác chỉ có ba bài: Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu nhưng bài nào cũng trở thành vĩnh cửu, qua hơn nửa thế kỷ vẫn là những bài hay nhất của làng nhạc Việt Nam. Nhạc hứng chân thành đều phát xuất từ con tim, vì thế mà sáng tác của ông có hồn, đi vào lòng người và sống mãi! Qua Ðặng Thế Phong, ta chứng minh được văn nghệ tính phẩm chứ không tính lượng (quý hồ tinh bất quý hồ đa). Con người làm văn nghệ viết được một câu để đời đã là khó, được một tác phẩm để đời là đáng mãn nguyện lắm rồi. Với âm nhạc, người chuyên sử dụng một nhạc cụ cho thật điêu luyện được tôn kính hơn là người biết sử dụng nhiều thứ đàn, chẳng thế nào có được một thứ thật tuyệt hảo. Về sáng tác cũng vậy, làm cho nhiều, cố nặn cho lắm, thể điệu nào cũng có bài thì dù viết cả ngàn bài chưa chắc đă có lấy một bài có giá trị nghệ thuật và vĩnh cửu! Chỉ sáng tác có ba bài thôi, Đặng Thế Phong đã sống mãi trong lòng mọi người, chắc chắn là hơn người có cả ba trăm bài mà chẳng có một bài nào để người ta nhớ! Nói đến điều này, điển hình trong làng nhạc nước nhà, chúng ta nhìn vào ông nhạc sĩ tiền bối Th.O, ông này là một trong số ít người đi tiên phong trong việc sáng tác tân nhạc. Từ đó cho đến sau này, suốt hơn 40 năm, ông có một tập sáng tác khá đồ sộ, trên dưới 500 bài nhưng cho đến ngày hôm nay không có lấy một bài nhạc nào đi vào lòng người nếu ta không muốn nói là sáng tác của ông đã hoàn toàn bị chìm trong quên lãng! Với nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, muốn thành công là phải có tài năng thiên phú chứ không thể nhờ vào thời gian, kiên nhẫn, sách vở, trường lớp hay bằng cấp mà đạt được! Vì thế chúng tôi dám tôn vinh Đặng Thế Phong là một thiên tài của làng nhạc Việt, thật không ngoa.
Cuộc đời Đặng Thế Phong đã có được một mối tình thật chung thủy tuyệt đẹp:
Khi còn ở Nam Định, Đặng Thế Phong đã đem lòng yêu một thiếu nữ con một chủ tiệm buôn bán “gối màn chăn drap” ở chợ Sắt (Nam Định). Chợ duy nhất và lớn nhất của thành phố. Cô này không đẹp nhưng lại rất có đuyên. Vốn tính nhút nhát, Đặng Thế Phong nghĩ mãi cũng không biết làm cách nào để “tiếp cận” người đẹp. Cuối cùng, anh vờ làm khách hàng vô hỏi giá rồi... nhét vội vào tay nàng một lá thư. Chẳng biết nội dung bức thư đầu tiên này mùi mẫn như thế nào mà sau đó cô Tuyết đã cự tuyệt một anh thông phán trẻ làm việc ở Tòa Đốc lý Nam Định, khi anh này dạm hỏi.
Cặp tình nhân trai tài, gái đảm đã dìu nhau vào cuộc tình thật trong sáng và cao thượng! Điều đáng ca ngợi là chàng nhạc sĩ tài hoa họ Đặng không bao giờ đụng chạm đến đồng tiền của người yêu, dù cho người đẹp, tên Tuyết, nhiều lần khôn khéo bày tỏ lòng mình muốn giúp chàng. Những buổi chiều trời quang, mây tạnh hay gió mát, trăng thanh, hai người đều dìu nhau trên những con đường ngoại ô để tâm tình. Thời bấy giờ, nhiều thanh niên rất ngưỡng mộ Đặng Thế Phong, khi biết mối tình của cặp Phong – Tuyết, đều mến trọng và tôn kính là một cuộc tình lý tưởng!
Đặc biệt nhất là mấy cô gái phố Hàng Đồng, gia đình rất khá giả tỏ lòng yêu mến Đặng Thế Phong, nhưng ông vẫn một lòng yêu cô Tuyết, dù cô không đẹp bằng mấy cô kia. Có một hôm, mấy cô kia đang đứng nói chuyện với nhau thấy Đặng Thế Phong đi qua, với lối đi có vẻ vội vã. Thấy bóng ông, mấy cô ngưng bặt, rồi chẳng cô ai bảo cô nào, tất cả ánh mắt đều hướng về ông như dán chặt vào người ông vậy. Khi Đặng Thế Phong vừa bước tới ngang chỗ các cô thì một giọng nói đầy hờn dỗi pha thêm mai mỉa, được nói lớn lên, cố ý cho Đặng Thế Phong nghe thấy:
- Mấy chị đứng dịch ra, người ta đi vội kẻo trễ hẹn!
Đặng Thế Phong nghe rõ nhưng coi như điếc, cứ rảo bước như không có gì xảy ra. Đến nơi hẹn, gặp cô Tuyết đã đứng chờ, Đặng Thế Phong kể cho cô nghe vụ vừa bị chọc ghẹo. Cô Tuyết không nói gì mà chỉ tủm tỉm cười với ánh mắt nhìn người yêu, thật là trìu mến. Về nhà, Đặng Thế Phong không nói ra với anh chị em mà thầm thì kể cho ông chú họ, cùng lứa tuổi, là ông Nguyễn Trường Thọ biết thôi . Ngoài ra, ông còn kể cho ông Thọ nghe chuyện cô Tuyết có một chàng thông phán trẻ, đẹp trai, có tiền, có địa vị, làm ở Tòa Đốc Lý thành phố theo đuổi, còn nhờ cả hai người mai mối nhưng cô nhất quyết khước từ , bất chấp cả lời dị nghị của mọi người, nhất là gia đình cố ý gán ghép.
Năm 1940, Đặng Thế Phong phải tạm xa cô Tuyết để lên Bắc Giang ít ngày. Ai đã đến Bắc Giang là biết thị xã này có con sông Thương, một con sông có hai dòng nước, bên đục, bên trong. Kẻ viết bài này, lúc bé học ở Bắc Giang, vào những ngày hè nóng bức, cùng bạn bè ra sông bơi. đứng từ trên cầu ra tháp nước khá cao, nhìn thấy rõ hai dòng nước đục trong rõ rệt ! Ở Bắc Giang, một buổi tối trăng sao vằng vặc, Đặng Thế Phong đã cùng bạn bè thuê thuyền cắm sào rồi cùng nhau chén chú, chén anh hàn huyên mọi chuyện. Đang lúc đang vui thì có người ra đưa cho Đặng Thế Phong một bao thư.
Ông ngưng ngay chuyện trò và vào trong khoang, lấy bao diêm ra đốt lửa để coi thư và đây đúng là thư của cô Tuyết, từ thành Nam gửi lên cho ông. Đọc xong thư, ông có vẻ buồn và suy nghĩ. Bạn bè thắc mắc nên hỏi, được ông cho biết thư báo tin cô Tuyết nhuốm bệnh cả tuần rồi và nhớ ông lung lắm nên có lẽ ông phải về Nam Định gấp! Chính đêm này, lúc đêm sắp tàn, Đặng Thế Phong thao thức không sao chợp mắt được, đã ngồi dậy sáng tác được tác phẩm Con Thuyền Không Bến buồn não ruột:
Đêm nay thu sang cùng heo may
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi giòng
Như nhớ thương ai trùng tơ lòng…
.. Lướt theo chiều gió
Một con thuyền theo trăng trong
Trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng
Biết đâu bờ bến?
Thuyền ơi thuyền trôi nơi nao
Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu?…
Hai hôm sau Đặng Thế Phong từ giã bạn bè, rút ngắn thời gian để về Nam Định. Được tin Đặng Thế Phong đã về, cô Tuyết thấy bệnh thuyên giảm rất nhanh. Và tối hôm sau hai người hẹn gặp lại nhau. Lúc ấy miền Bắc đang vào Thu, gió heo may kéo về mang cái lạnh. Tối hôm ấy trăng lên muộn, trời tối gió nhẹ làm cho hai người thấy thích thú đi bên nhau để sưởi ấm lòng nhau sau bao ngày xa cách. Dìu nhau đến nơi cũ, Đặng Thế Phong ghé sát tai cô Tuyết, hát nhẹ nhàng, giọng rạt rào tình cảm như rót vào tai cô bài Con Thuyền Không Bến mà ông vừa sáng tác trong một đêm trắng trên sông Thương vì thương nhớ cô . Khi hát xong, Đặng Thế Phong phải lấy khăn tay ra nhẹ nhàng lau hai giòng lệ đang từ từ chảy xuống má cô với lòng xúc động không kém! Lúc ra về, Đặng Thế Phong nói: “Làm được một bài nhạc nhờ em, nay về được hát cho em là người đầu tiên nghe, thế là anh sung sướng lắm rồi!”
Cô Tuyết cũng đáp lại lòng tri kỷ : “Là một người đàn bà tầm thường như em mà đã làm cho anh có được một bài hát thì với em đó là một vinh dự, một hạnh phúc thật cao sang, không phải ai ở trên đời cũng có được! Tình anh trao cho em thật trọn vẹn, thật bất diệt, chắc chắn không bao giờ hình ảnh anh bị phai mờ trong tim trong óc em được, bây giờ và mãi mãi..” Đến lúc ấy chị Hằng mới ló mặt ra dịu dàng nhìn xuống trần thế và chứng giám hai người yêu nhau đang đứng sát bên nhau sau khi đã uống cạn lời nói của nhau. Sau hôm ấy, Đặng Thế Phong mới cho phổ biến rất hạn chế trong đám thanh niên tỉnh nhà bài Con Thuyền Không Bến, được mọi người yêu chuộng nên rất nhiều người biết đến.
Chính vì thế mà có một ngườl ở Hà Nội mới mời Đặng Thế Phong lên Hà Nội để hát tại rạp chiếu bóng Olympia bài hát của mình. Trong buổi ấy, Đặng Thế Phong ra sân khấu hát Con Thuyền Không Bến đầy xúc động vì ngay ở hàng ghế đầu, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội nghe người yêu hát bài làm vì mình và cho mình ! Riêng với Đặng Thế Phong, ông xúc động là phải vì với số khán giả đông đảo không đáng ngại mà là trong lòng ông thầm nghĩ hát hôm nay rất cần và chỉ cần để một người nghe là đủ nên phải mang hết tài trí ra biểu diễn sao cho thành công!
Hát xong, khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.
Riêng bài Đêm Thu được ông sáng tác trong một đêm cắm trại của Hướng đạo sinh (1940) trước khi quen và yêu Tuyết, Ca từ của bản nhạc rất trong trẻo, lạc quan...
Sau một thời gian ở Bắc Giang, ông nhuốm bệnh. Vì lúc đó bệnh lao là nan y nên ông dấu mọi người, ai biết đều sợ bị lây nhiễm, không hiểu sao cô Tuyết biết được. Cô Tuyết rất tế nhị và khôn khéo hỏi Đặng Thế Phong:
- Sao dạo này em thấy anh gầy và xanh lắm? Anh có bệnh gì không mà em thấy sút lắm? Anh đi nhà thương khám và thuốc men, cho khoẻ để mình còn tính đến tương lai!
Ông ậm ừ cho qua. Từ đó cô Tuyết âm thầm tìm mọi cách để giúp người yêu trong lúc nhà nghèo bệnh trọng. Đặng Thế Phong cũng đến nhà thương để khám bệnh. Sau khi dò hỏi, biết bệnh của ông, cô Tuyết nhân quen với một số y sĩ (médecin indochinois) làm ở nhà thương, mua thuốc rồi nhờ ông ta nhận là thuốc của nhà thương ông lấy cho Đặng Thế Phong. Thuốc bệnh lao lúc ấy vừa hiếm lại vừa đắt, cô Tuyết không những không ngại tốn kém, mà còn thường xuyên gặp Phong để săn sóc một cách kín đáo, kể cả không sợ bị lây. Về phần Đặng Thế Phong thì ông không hề biết thuốc là của cô Tuyết mua cho mình. Trong các cuộc ao đẹp của văn nghệ sĩ nước nhà, có hai nữ lưu đáng để người đời ca tụng : cô Tuyết biết người yêu bị bệnh nan y, rất dễ lây, Mộng Cầm biết Hàn Mặc Tử bị bệnh phong cùi, vừa ghê sợ vừa dễ lây thế mà hai ngườí đã có tình yêu chân thật, chung thủy, không những không sợ mà còn hết lòng chăm sóc,thuốc men cho đến ngày tử biệt! Thật hiếm hoi và cao quý vô cùng!
Mùa xuân năm 1941, cô Tuyết cùng Phong từ Nam Định lên Hà Nội để tiễn chân và tạm biệt Đặng Thế Phong vào Sài Gòn (rồi đi Nam Vang). Ở kinh đô xứ Chùa Tháp, ở Hòn Ngọc Viễn đông một thời gian thấy cuộc sống cũng không được thoải mái như ý mong muốn, Đặng Thế Phong trở về Hà Nội. Về lần này, Đặng Thế Phong không về Nam Định mà thuê một căn gác hẹp tường cây, mái lá ở làng trồng hoa Ngọc Hà, vùng ngoại ô thành phố Hà Nội. Đặng Thế Phong ở chung với chú là ông Nguyễn Trường Thọ. Bệnh tình Đặng Thế Phong tái phát ngày một nặng vì người bị bệnh này phải mua thuốc men đầy đủ, phải nghỉ ngơi và ăn uống tẩm bổ tối đa mà những điều phải ắt có và đầy đủ này, với Đặng Thế Phong không thể có được. Chính vì thế mà không tuần nào là cô Tuyết không lên thăm và lo chữa bệnh cho Đặng Thế Phong.
Tháng Bảy mưa ngâu tầm tã, rả rích suốt ngày này sang ngày nọ, tháng này qua tháng khác, gió lạnh kéo về, nhà thì tường cây, mái lá, lạnh buốt lọt xương, cuộc sống kham khổ khiến bệnh tình Đặng Thế Phong ngày càng trầm trọng. Từng cơn ho làm rũ người, tiếp đến những cơn thổ huyết làm cho Đặng Thế Phong ngày một sút hẳn đi. Một mình trên giường bệnh, Đặng Thế Phong nhớ gia đình thì ít mà nhớ người yêu thì nhiều. Thân xác thì bệnh tật khó qua, tâm trí thì luôn luôn phải vật lộn với trăm ngàn ý nghĩ và hình ảnh cuộc tình tươi đẹp nên bệnh mỗi lúc một tăng.
Còn đâu những cuộc hẹn hò thơ mộng, quên làm sao được những lời thủ thỉ ân tình và hy vọng gì ở những ước vọng được thành đôi chim nhạn tung trời mà bay, tất cả đã được Đặng Thế Phong ngày đêm day dứt, tiếc thương, muốn níu kéo lại thì cũng chẳng còn gì để bám víu!
Đặng Thế Phong đã mang lấy nghiệp vào thân thì đời con tằm đến thác cũng còn vương tơ, tránh sao thoát khỏi cái lưới trời thưa mà khó lọt ấy? Chính vì lẽ ấy mà Đặng Thế Phong đã thực sự thể hiện được câu các cụ đã dạy cọp chết để da, người ta chết để tiếng, dù cuộc đời ông ngắn ngủi với 24 mùa lá rụng, một cuộc đời ngắn đến nổi đo chửa đầy gang!
Thế rồi, một hôm mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường, Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn Cổ Sầu. Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát cho mọi người nghe. Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn khóc. Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong, đổi tên là Giọt Mưa Thu. Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là giòng nước mắt tuôn chảy lênh láng của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong – Tuyết cũng phải cùng chung số phận phũ phàng giống vậy chăng? Đến một ngày cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về.
Về nhà, lần này cô Tuyết đích thân đến hàng ngày để chăm sóc, thuốc men cho Đặng Thế Phong, không ngại mệt mỏi và không sợ nguy hiểm đến bản thân mình. Những người quen biết đến thăm, thấy cảnh ấy đều mũi lòng và khâm phục lẫn mến thương cuộc tình cao quý, chung thủy của cặp Phong -Tuyết.
Không biết có phải là tại thần giao cách cảm hay không mà một hôm, nhạc sĩ Bùi Công Kỳ đột nhiên từ Hà Nội về Nam Định thăm Đặng Thế Phong lại vừa đúng lúc Đặng Thế Phong sắp lìa đời. Trên giường bệnh, phút lâm chung, không nói gì được với nhau, Bùi Công Kỳ ôm đàn hát cho Đặng Thế Phong nghe một lần chót bài Giọt Mưa Thu. Giọng hát Bùi Công Kỳ vừa dứt thì mọi người nhìn thấy Đặng Thế Phong mở cặp mắt nhìn như ngỏ lời chào vĩnh biệt rồi nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng.
Một vì sao Bắc Đẩu của làng nhạc Việt Nam, vừa ló dạng trên bầu trời đã vụt tắt gây niềm xúc động mãnh liệt và niềm thương tiếc vô bờ trong lòng mọi người! Trong tang lễ, nam nữ thanh niên của thành Nam đã lũ lượt kéo nhau đi, chật cả phố phường để tiễn đưa Đặng nhạc sĩ đến nơi an nghỉ cuối cùng với rất nhiều cặp mắt rưng rưng lệ! Cô Tuyết xin phép và được cả hai gia đình cho, mặc đại tang, đúng như một người vợ trong tang lễ chồng, thật là cảm động.
Năm 1960, tại Phú Nhuận, tôi được tiếp một thiếu phụ chưa hề quen biết. Sau lời chào hỏi, bà tự giới thiệu tên là Tuyết, người Nam Định, di cư vào Nam hiện ở Ban Mê Thuộc. Nhân lần vô tình đọc trên báo Tự Do, thấy quảng cáo trước cuốn Nhạc Sĩ Danh Tiếng Hiện Đại (tập II) của tôi sắp xuất bản, viết về năm nhạc sĩ trong đó có Đặng Thế Phong, nên bà về gặp tôi để xin tôi cho bà mượn hình của cố nhạc sĩ, chụp lại để về thờ. Trước kia, bà đã có nhưng lúc sắp di cư tấm ảnh đó bị thất lạc, kiếm mãi không sao thấy. Tôi vội lấy ảnh đưa ngay. Cậu cháu đi theo bà mang ngay ra tiệm hình ở đầu hẻm chụp gấp lấy ngay, xong trở vào gửi trả lại tôi. Trong lúc cậu cháu đi chụp hình, tôi có hỏi bà về chuyện tình tươi đẹp như bài thơ, trong sáng như trăng mười sáu thì bà Tuyết xác nhận những điều tôi biết là đúng và còn bổ sung cho tôi thêm ít nhiều chi tiết. Bà cũng không quên nói lên điều thắc mắc là tại sao tôi biết rõ thế? Tôi nói thật ngay là được ông chú Nguyễn Trường Thọ cho tôi mượn ảnh, kể rành rẽ cuộc đời ái tình của Đặng Thế Phong cho tôi nghe. Bà cười và nói:
- Chú Thọ tuy là chú nhưng cùng tuổi với anh Phong, nên hai người vừa là chú cháu vừa có tính bạn bè, nên trong gia đình chỉ có chú Thọ là được anh Phong tâm sự mà thôi. Thảo nào ông biết quá rõ, quá đúng và quá đủ!
Sau lời cám ơn và trước khi ra về, bà Tuyết còn nói với tôi câu cuối cùng, đến nay đã 35 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ:
- Cho đến ngày hôm nay, và mãi mãi về sau, tôi tôn thờ anh Phong và đời tôi luôn luôn thương nhớ anh ấy với tất cả cái gì trân trọng nhất.
Viết ra những giòng trên đây, tôi xin được phép coi là nén hương lòng, suy tôn một bậc đàn anh khả kính và khả ái. Tuy anh đã ra người thiên cổ hơn nửa thế kỷ rồi nhưng những Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu vẫn là những vì sao tinh tú sáng rực trên bầu trời ca nhạc. Thể xác anh có thể trở về hư không nhưng tinh anh vẫn còn lại muôn đời với giang sơn gấm vóc này. Cuộc đời con người ta, sinh ký, tử quy đó là luật muôn đời của tạo hoá. Nhưng khi sống cho ra sống, lúc về được qua Khải Hoàn Môn, khi cất ba tiếng khóc chào đời, mọi người hân hoan cười mừng đón ta, khi nhoẻn miệng cười để lìa đời, mọi người thương tiếc khóc ta, thế mới thật là sống, mới đáng sống ! Anh đã vĩnh viễn ra đi nhưng tất cả những thế hệ hậu sinh, dù chưa được biết anh, khi hát những bài hát bất hủ của anh để lại, đều tưởng nhớ đến anh, một thiên tài mà ta có thể nói anh là một MOZART của Việt Nam, với tất cả tấm lòng kính mến trang trọng nhất!
Vườn khuya trăng chiếu
Hoa đứng im như mắt buồn
Lòng ta xao xuyến
Lắng nghe lời hoa
Cánh hoa vương buồn trong gió
Áng hương yêu nhẹ nhàng say
Gió lay
Cành sương nặng trĩu
Ru bóng êm trong nắng vàng
Màn đêm buông xuống
Mái im triền miên
Bóng cô đơn dường thao thức
Mãi trong đêm nặng sầu thương
Hồn vương
Hoa lá cành
Ánh trăng lan dịu dàng
Ru hồn bao nhớ nhung
Đêm lắng buồn
Tiếng Thu như thì thầm
Trong hàng cây trầm mơ
Làn gió lướt tới cuốn đưa hồn ta phiêu diêu theo mây trắng trôi lơ lửng
Ngàn muôn tiếng réo rắt côn trùng như than như van mơ hồ theo gió lan
Trăng xuống dần
Cỏ cây thêm âm thầm
Đông buồn trong ánh sao
Như chiếu vào mắt ta bao lạnh lùng
Lay hồn ta rồi tan...



MÙA THU CHO EM (NGÔ THỤY MIÊN)
Thu đã chớm qua ta vào sắc lá
Áo hàng cây vuơng cả buồn vui
Ai lặng đứng như dòng sông yên ả
Cuốn trôi tôi - một mảnh mênh trời...
Hôm nay trời vào thu, có phải chăng là thế? Mỗi mùa trong năm đều mang những âm thanh riêng, màu sắc riêng, nhưng có lẽ tôi đã ưu ái cho mùa thu hơn cả. “Mùa thu Hà Nội” - nó mang trong mình một vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng mà kiêu sa. Với tôi, mùa thu Hà Nội thật tuyệt: đó là khi lang thang ngắm hoa sữa nơi công viên Thủ Lệ một chiều lộng gió, là khi dạo bước dưới những hàng cây lát già cỗi dọc hai bên con đường Đê La Thành cũ kĩ, còn là cảm giác ấm áp khi nhâm nhi một tách cà phê bên Hồ Tây vào mỗi sáng chủ nhật... Tất cả dư vị đó làm tôi thêm sung sướng khi lại sắp được tận hưởng nó, bởi vì có lẽ trời đã vào thu.
Hôm nay trời vào thu - thật vậy. Hình như cái nắng đã không còn gay gắt nữa, sân trường giờ đây đã không còn những màu đỏ hừng hực của hoa phượng, không còn sự rực rỡ trong màu tím ngẩn ngơ của những hàng bằng lăng, không còn tiếng ve râm ran trên từng con phố... mà chỉ có chút gió, gió nhẹ và sự bâng khuâng.
Mùa thu khiến cho con người say mê vì vẻ đẹp đến lạ lùng của nó, chẳng thế mà các thi sĩ, tác gia thường tìm cho mình những tín hiệu riêng để nhận biết mùa thu. Chẳng hạn như Đoàn Chuẩn đã cảm nhận thấy tiết thu trong mùi thơm của cốm ủ lá sen, còn Nguyễn Đình Thi nhận ra thu trong làn hương cốm mới, Trần Đăng Khoa biết thu về khi hoa cau rụng vào những thoáng heo may... còn tôi, tôi nhận ra mùa thu này qua ánh mắt của em nhìn tôi trong chiều Hà Nội, ánh mắt ấy vẫn làm tim tôi phải thổn thức thật nhiều, rất quen thuộc nhưng cũng rất đỗi gần gũi; tôi yêu cái khoảng nắng mùa thu trong đôi mắt em bởi khi nhìn vào đó, tôi cảm thấy mình có một sự bình yên đến lạ kì...
Vậy là lại thêm một lần trời đất Bắc nhịp nối vào thu. Nhưng tôi vẫn thắc mắc “Tháng tám mùa thu, lá rơi vàng chưa nhỉ?...”. Khi mà từng bước chân còn nhẹ nhàng, chậm rãi như nhuốm màu cho cái không gian còn đang xoay tròn trong những ngọn gió giao mùa; khi mà còn thoáng chút ngỡ ngàng và bối rối khi chợt nghe thấy tiếng chuông nhà thơ vang lên từ con phố Nhà Chung; khi mà tiếng cười của em bỗng trong vắt tan lịm vào vị đắng huyền ảo của giọt ca phê rồi hoà cùng dòng người xuôi theo từng con phố... tôi chợt thinh lặng, bồi hồi ngắm những chiếc lá lấp lánh đang vẫy đùa trong gió khi dạo bước trên đường Thuỵ Khuê rẽ về Lạc Long Quân...
Tháng 8 - nó mang độ chín rộ của một ngày mùa Hạ. Có lẽ cái thời khắc giao mùa dìu dịu này là không đủ để cho mùa thu chín vàng trên màu của lá, không đủ để đậm đà thêm hương của mùi hoa sữa, không đủ để thêm phần ngọt ngào nơi gánh cốm xanh dọc hai bên đường Phố Cổ và càng không đủ làm sáng bừng như một ngày nắng Hạ, nó chỉ đủ thêm hương sen đượm nồng để có thể làm ngan ngát một chiều hồ Tây...
Có ai biết rằng những bông sen cuối Hạ đang cố gắng toả hương như đón mừng hoa cúc mùa thu đang còn ngập ngừng chưa muốn nở. Để sáng nay ta bỗng thật sự băn khoăn không biết chọn cho mình một bó cúc tinh khôi hay những búp sen đầy sức sống? Tôi đã chọn sen cho một chút gì đấy còn vương vấn mùa hạ cháy bỏng một niềm yêu; Tôi cũng đã chọn sen cho em - em thích chứ, thơm ngào ngạt mà trong vắt giọt yêu thương?
Mùa thu đẹp lắm và em cũng vậy. Trong ánh chiều hoàng hôn của một ngày sắp tắt, ánh mắt tôi dõi theo từng chiếc lá mỏng manh rơi trên con phố vắng cho mắt ai nhìn xa xăm để tự hỏi đã bao lần đặt chân đến nơi này với người yêu dấu. Và ở ngoài kia mùa thu cũng đã đến thật rồi - thật đẹp và lạ lùng, như chính tình yêu của tôi dành cho em vậy...
Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới
mang ái ân mang tình yêu tới
em có nghe nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé
Em có hay mùa thu mưa bay gió nhẹ
em có hay thu về hết dấu cô liêu
Và em có hay khi mùa thu tới
bao trái tim vương màu xanh mới
em có hay hay mùa thu tới hồn anh ngất ngây
Nắng úa dệt mi em
và mây xanh thay tóc rối
nhạt môi môi em thơm nồng
tình yêu vương vương má hồng
sẽ hát bài cho em
và ru em yên giấc tối
ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
chờ em anh nghe mùa thu tới
Em có mơ mùa thu cho ai nức nở
em có mơ mơ mùa mắt ướt hoen mi
Và em có mơ khi mùa thu tới
hai chúng ta sẽ cùng chung lối
em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương...



Theo https://www.facebook.com/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...