Đặc
điểm của khái niệm thi học cổ điển
Nói đến khái niệm (concept) hoặc phạm trù (category) là
liên quan đến vấn đề thuật ngữ (term). Khái niệm được sản sinh và tồn tại
phải dựa vào ngôn ngữ, cho nên các ngành khoa học đều hình thành
nên hệ thống thuật ngữ riêng. Có thể nói thuật ngữ là hình thức ngôn ngữ
của khái niệm, còn khái niệm là nội dung ý thức của thuật ngữ. Như thế muốn
phát hiện đặc điểm của các khái niệm của Thi học cổ điển Trung hoa thì phải bắt
đầu tử kiểu loại tư duy và ngôn ngữ văn tự Trung hoa.
Tư duy truyền thống cơ bản
ở phương Tây là tư duy phân tích, tư duy lô-gic. Bất kỳ một sự vật
hiện tượng gì cũng cần vươn tới một định nghĩa rành mạch rõ ràng. Ngay đối
với bản thể của vũ trụ cũng vậy, người phương Tây không những tiến hành
phân tích một cách lô-gic, mà còn có người cho đó không phải là cái gì khác, mà
chính là lô-gic. Chính Pythagore có nói lô-gic số học là bản chất của tồn tại.
Còn Platon, Aristote thì cho bản chất cuả thế giới là ý niệm, mà ý niệm cũng chẳng
qua là một cách gọi khác của lô-gic. Đến Hégel thì gọi ý niệm tuyệt đối, song
cũng không vượt ra ngoài cái khung tư duy đó. Trái lại các nhà hiền triết Trung
hoa như thủy tổ Đạo gia là Lão Tử thì cho bản chất vũ trụ là hỗn độn, mông
lung, nghĩa là siêu lô-gic. Còn Phật gia thì cho thế giới là “vô nội ngoại, vô
trung biên” (không có trong ngoai, không có trung tâm và ngoại biên).
Chính vì thế, muốn nắm bản chất của thế giới không thể phân tích lô-gic, mà chỉ
có thể cảm nhận một cách trực quan tổng hợp. Điều này có phần nào tương đồng
với Hiện tượng luận thế kỷ XX ở phương Tây cho rằng “thế giới không phải như
suy nghĩ chúng ta khẳng định, mà như cảm thụ của chúng ta trong cuộc sống”; ”phương
pháp phân tích lô-gic có thể tạo ra sự uy hiếp cho tính hoàn chỉnh của thế giới”.
v. v. . Cho nên nếu phương Tây theo lối tư duy tuyến tính rạch ròi, thẳng băng,
thì Trung hoa theo lối tư duy cầu tính linh động, mơ hồ đa nghĩa như
chúng tôi cũng đã từng đề cập đến (1)
Nhưng
thật ra điều này còn được hậu thuẫn bởi đặc điểm ngôn ngữ và văn tự Trung hoa.
Terry Eglaton, nhà thi học mác-xít phương Tây (Western marxism) cho rằng:”Đánh
dấu cho cuộc cách mạng ngôn ngữ trong thế kỷ XX từ Saussure và
Wittgenstein đến văn học đương đại là sự thừa nhận ý nghĩa không phải chỉ là
cái biểu đạt và phản ảnh bởi ngôn ngữ, mà trên thực tế nó là cái mà ngôn ngữ
sáng tạo ra. Không phải là dường như chúng ta có trước ý nghĩa và kinh nghiệm, rồi tiến lên mặc cho nó chiếc áo ngoài của từ ngữ, mà sở dĩ chúng ta có được ý
nghĩa và kinh nghiệm là bởi vì chúng ta có ngôn ngữ khiến cho cả hai có
thể lẫn trong đó” (Dẫn luận lý luận văn học). Cần lưu ý đến cụm từ cả hai
có thể lẫn trong đó, cho nên nếu nói ngôn ngữ sáng tạo ra ý nghĩa và kinh nghiệm
thì không dễ chấp nhận, bởi vì chí ít là làm sao giải thich được những
ngôn ngữ rất khác nhau lại có thể nói ra những ý nghĩa và kinh nghiệm rất giống
nhau được? Nhưng tất nhiên không thể hoàn toàn phủ nhận ngôn ngữ
quả có vai trò trong sự sáng tạo đó. Ngay Mác cũng đã từng cho rằng ngôn ngữ là
cái vỏ vật chất của tư duy, thì xét theo phép biện chứng, cái hình thức “vỏ vật
chất” ắt hẳn đã tác động trở lại đối với việc hình thành của nội dung tư duy.
Như thế thì chắc chắn rằng đặc điểm của mỗi loại ngôn ngữ sẽ để lại dấu ấn
trong mô thức tư duy về mọi mặt của mỗi dân tộc, mỗi đất nước. Khái niệm, phạm trù thi học cổ điển Trung hoa có mang những đặc điểm của Hán ngữ và Hán tự
là vì vậy.
1) Về tính mơ hồ đa nghĩa
Đây
không bàn về tính mơ hồ đa nghĩa của ngôn ngữ văn học rất phổ biến bất cứ ở
đâu, mà là về tính mơ hồ đa nghĩa của thuật ngữ khoa học (thi học) khá đậm đặc ở
Trung quốc, mà một trong nhiều nguyên nhân là do đặc điểm của Hán ngữ. Hán ngữ
thuộc loại đơn lập ngữ (langue isolante), hầu như mỗi âm đều chứa đựng một ý,
cho nên những khái niệm được tạo dựng nên đều rất cô đọng súc tích: thi,
văn, đạo, khí, lý. v. v…Hệ thống hư từ của nó hiển nhiên không ít, nhưng
cũng rất dễ tỉnh lược, mang lại sự gọn nhẹ cho cú pháp. Từ ngữ của nó cố định,
không có chuyện biến thái theo ngôi thứ, thời gian và số lượng, chủ thể không
thật xác định, giàu sắc thái phiếm định, góp phần tạo ramột trườngdiện
phóng khoáng cởi mở dễ mang lại sự liên tưởng và đồng cảm cho mỗi người, nghĩa
là cũng sẽ chung cho cả mọi người. Thời gian không xác định cũng có tác dụng
làm cho những cảm nghĩ trở nên vĩnh hằng, thông lưu nhau qua nhiều thế hệ.
Không phải ngẫu nhiên mà các nhà ngôn ngừ học nổi tiếng của Trung quốc như Cao
Danh Khải thì cho rằng “Tiếng Hán thiên về tâm lý, nhẹ về hình thức” (Hán
ngữ ngữ pháp luận), còn Vương Lực thì khẳng định: “Tây ngữ là pháp trị, Hán ngữ
là nhân trị” (Trung quốc ngữ pháp lý luận).
Hán ngữ vốn
không chặt chẽ về ngữ pháp, mà thiên về ngữ dụng, nghĩa của nó biến hóa theo từng
ngữ cảnh khác nhau. Từ Linh có nghĩa gốc là linh thiêng, linh ứng
trong việc cầu mưa, tự dạng của nó trên có chữ vũ (mưa), duới có chữ vu (thuật
đồng bóng). Nhưng nó cũng có nghĩa là lòng người: linh phủ, linh đài, lại
có nghĩa là thông minh trí tuệ như trong câu của Trang Tử: “Nhân ngu
giả chung thân bất linh” (người ngu thì suốt đời không linh). Từ hứng cũng
vậy, có khi chỉ trạng thái tinh thần của nhà văn như cảm hứng, có khi
chỉ tâm lý tiếp nhận của bạn đọc như hứng thú v. v…Đặc biệt là như ý kiến
của nhà Hán học Hoa kiều Lưu Nhược Ngu đã nói: “Những từ hai âm tiết thì càng
phức tạp, có khi chúng ta không biết quan hệ giữa chúng là về mặt cú pháp hay từ
pháp” (2), nói dung dị hơn, không biết đó là từ ghép chỉ một khái niệm hay là từ
tổ chứa đựng hai khái niệm liền nhau. Thí dụ khái niệm Thần vận được
ghép bởi hai từ đều tự có nghĩa hoàn chỉnh riêng. Thần vốn có nghĩa
là thần thánh, linh hồn, tinh thần, thần bí, thần kỳ, thần diệu. v. v…Vận có
nghĩa là vần điệu, thanh điệu, hài hòa, hòa âm, tiết tấu, thậm chi có khi chỉ
chất thơ. v. v…Nếu đây là hai khái niệm đồng đẳng, tùy ngữ cảnh mà xác định
trong hai dãy ý nghĩa nói trên. Nhưng nếu đây là một khái niệm thì cũng phải
tùy ngữ cảnh mà xác định là vần điệu thần diệu hay là sự hài hòa thần diệu. v.
v…Cũng có ý kiến cho thần là cái đẹp thiên về nội dung, còn vận thiên
về cái đẹphình thức, lại cũng có ý kiến cho thần vận là vận ngoại
chi vận (vần điệu bên ngoài vần điệu) chỉ cảm thấy thôi chứ không thể giải
thích được. Chả trách với người nước ngoài thì không ít khái niệm thi học cổ
Trung hoa chỉ để cảm nhận chứ không thể xác nhận được.
2) Về tính trực quan sinh động.
Hán tự lại
theo lối tượng hình ra từng ô vuông rất khác với văn tự phương Tây theo lối
phiên âm, biến ngôn ngữ thành ngôn ngữ thanh âm, làm cho giữa ngôn ngữ và sự vật
chỉ có thanh âm chừ không có hình ảnh, biến mỗi từ thành một khái niệm ít nhiều
trừu tượng. Văn tự tượng hình của Trung quốc, mỗi chữ tất nhiên có chứa đựng
thanh âm được xác định nhưng đồng thời ít nhiều cũng gợi lên hinh ảnh của ngoại
giới mà hình ảnh con người là trước tiên và cơ bản nhất. Bởi vì như
Khương Lượng Phu đã nói: “Tinh thần chung nhất của chữ Hán là xuất phát từ
con người (hay nói chính xác hơn là từ toàn bộ thân thể của con người). Mọi vật
chất tồn tại là do mắt người nhìn được, tai nghe được, tay sờ dược, mũi ngửi được,
lưỡi nếm được, mà nhìn là quan trọng nhất…Nói cao thì phải nhìn lên, thấp
thì phải nhìn xuống….Tóm lại là phải từ người mà nhìn sự vật, từ quan năng con
người mà xem sự vật”(3). Quả vậy trong loại văn tự cổ Giáp cốt, thì số chữ
phỏng theo thân thể, động tác, cảm thụ của con người chiếm đến một
phần năm, hơn hẳn việc phỏng theo động thực vật, thiên văn địa lý. Điều này góp
phần thể hiện rõ tinh thần nhân bản của Trung quốc, đối sánh với tính chất “vật
bản” của phương Tây, và tính chất “thần bản” của Ấn Độ. Tích hợp những đặc điểm
của cả ngôn ngữ và văn tự này thì thấy chúng đã để lại dấu ấn trong những
tính chất trực quan sinh động và hàm súc đa nghĩa của khái niệm thi học cổ điển
Trung hoa
Nhìn lại lịch sử thì từ
khi qua Kinh Dịch, nguyên tắc “quan vật thủ tượng” (xem vật để thu lấy
hình ảnh của nó), thì người Trung Quốc tự chứng tỏ là coi trọng hình họa hơn là
âm thanh, thể hiện rõ ngay trong lĩnh vực ngôn ngữ văn tự. Ngay từ thời Đông
Hán đã có Thuyết văn giải tự nói rõ tính chất tượng hình của chữ viết,
mãi đến thời Nam triều mới xác lập nguyên tắc “tứ thanh”, rồi mãi đến đời Tùy mới
có công trình Thiết vận. v. v. ., nghĩa là không bỏ qua vấn đề âm
thanh của ngôn ngữ văn tự, nhưng được bàn luận sạu. Tất nhiên ngyên tắc “quan vật
thủ tượng” ngày càng phong phú phức tạp, chứ không đơn giản như thuở đầu, nhưng
Hán tự bao giờ cũng là một kết cấu với ít nhiều ẩn ý. Cho nên không phải ngẫu
nhiên mà phương Tây từ xưa đến nay chuyên đào sâu vào mối quan hệ nhị
nguyên Ngôn ngữ -- Ý nghĩa, thì ở Trung quóc do văn tự tượng
hình đã góp phần hình thành mối liên hệ tam nguyên Ngôn- Tượng-
Ý. Ở đây không kể chuyện sáng tác, mà là bàn về lý luận văn học. Nếu
chỉ xuất phát từ ngôn ngữ ít nhiều trừu tượng để đi đến ý nghĩa thì tất yếu phải
dựa vào sự suy luận lý tính. Nhưng nếu còn phải kinh qua những gì có tính chất
hình ảnh mà chủ yếu là nhân ảnh, thì phải vận dụng cả sự trực quan, trực cảm,
trực giác, không dẫn đến những khái niệm trừu tượng, mà là những biểu tượng ít
nhiều sinh động.
Trước hết là khaí
niệm Văn, tự dạng của nó không dựa vào những thứ suôn sẻ, đơn điệu,
thẳng tắp là phỏng theo hình ảnh những hoa văn, đường vân, vết hằn, chỗ giao kết
hoặc gấp khúc của sự vật. Cho nên trong Kinh Dịch mới có câu: “Vật
tương tạp, cố viết văn”(Sự vật giao thoa, đan dệt rất phức tạp với
nhau, mới gọi là văn). Và Sử Bá, nhà tư tưởng đời Tây Chu cũng khẳng
định: “Vật nhất vô văn”(Vật đơn nhất không thể có văn). Hoặc khái niệm Khí thường
dùng trong thi học như Văn khí, Văn lấy khí làm chủ. v. v…thì tự dạng
của nó có ba nét ngang như những gợn sóng của những đám mây được tạo ra bởi những
cái gì hầu như vô hình nhưng lại lưu chuyển mạnh mẽ trong bầu trời! Rồi theo
nguyên lý “thiên nhân hợp nhất”, khí cũng là sức sống mạnh mẽ của con người. Thế
là từ đời Tần Hán trở đi, khái niệm Khí được đưa vào thi học, rồi trải qua đời
Lục triều đã trở thành một phạm trù rất thịnh hành và rất phổ biến khi luận bàn
về sự cuốn hút của thơ văn. Lưu Tương Tôn viết: “Văn lấy khí làm chủ…Cho nên
khi văn thịnh, thì như gió táp mưa sa, suối non cây cỏ đều biến động, sông ngòi
cuồn cuộn…Lớn thì như chạm khắc đá vàng …nhỏ thì cũng uyển chuyển tài tình”(Tựa Đàm
Thôn Tây thi văn). Tất nhiên không phải tấtcả Hán tự nói chung, thuật ngữ
thi học nói riêng đều trực tiếp mô phỏng sự vật, mà có khi một phần chỉ dựa vào
ký hiệu của sự vật tức là Hán tự vốn có theo lối ghép chữ, nhưng kết quả phần
nào cũng buộc người đọc quay về liên tưởng với sự vật khách quan, Thí dụ khái
niệm Mỹ, thì tự dạng là ghép hai chữ dương ở trên và chữ đại ở
dưới, làm cho người ta liên tưởng ngay đến hình ảnh con dê béo và nó tượng
trưng cụ thể cho vẻ đẹp theo quan niệm người xưa. Rồi hàng loạt khái niệm liên
quan đến chủ thể thẩm mỹ như tính, tình, ý, chí, ngộ, thì tự dạng của
chúng thảy đều có chữ tâm. v. v…
Điều này ít nhiều đều biết cả rồi, nhưng ý nghĩa sâu xa của nó thì phải đối sánh với phương Tây mới thấm thía hết được. Ernst Cassirer nhà ký hiệu học văn hóa vĩ đại người Đức từng than thở rằng do văn tự phiên âm, con người “phải trả một giá quá đắt, bởi vì cái còn lại chỉ là một thế giới ký hiệu của tư tưởng, chứ không phải là một thế giới của trải nghiệm trực tiếp”(Ngôn ngữ và thần thoại). Còn Hán tự là loại hinh văn tự tượng hình, hiển nhiên là có mặt trái của nó, nhưng được bù lại là nó có ít nhiêu ghi dấu lại những “ký hiệu sự sống”, trên cơ sở đó đã hình thành những thuật ngữ khoa học (trong đó có thi học) chứa đựng những khái niệm, phạm trù ít nhiều sông động, chứ không thuần lý trừu tượng như của phương Tây. Tất nhiên tính chất trực quan sinh động trong các khái niệm thi học cổ điển Trung hoa có nhiều nguyên nhân quan trọng khác, còn tính chất tượng hình của văn tự chỉ góp phần vào thôi!
Điều này ít nhiều đều biết cả rồi, nhưng ý nghĩa sâu xa của nó thì phải đối sánh với phương Tây mới thấm thía hết được. Ernst Cassirer nhà ký hiệu học văn hóa vĩ đại người Đức từng than thở rằng do văn tự phiên âm, con người “phải trả một giá quá đắt, bởi vì cái còn lại chỉ là một thế giới ký hiệu của tư tưởng, chứ không phải là một thế giới của trải nghiệm trực tiếp”(Ngôn ngữ và thần thoại). Còn Hán tự là loại hinh văn tự tượng hình, hiển nhiên là có mặt trái của nó, nhưng được bù lại là nó có ít nhiêu ghi dấu lại những “ký hiệu sự sống”, trên cơ sở đó đã hình thành những thuật ngữ khoa học (trong đó có thi học) chứa đựng những khái niệm, phạm trù ít nhiều sông động, chứ không thuần lý trừu tượng như của phương Tây. Tất nhiên tính chất trực quan sinh động trong các khái niệm thi học cổ điển Trung hoa có nhiều nguyên nhân quan trọng khác, còn tính chất tượng hình của văn tự chỉ góp phần vào thôi!
Để kết luận vắn tắt,
xin lưu ý thêm rằng, do trong tiếng Việt chiếm một tỉ lệ khá lớn là tiếng Hán,
và trong một thời gian dài ông cha ta cũng sử dụng chữ Hán, sau đổi thành chữ
Nôm, nhưng chữ Nôm cũng là một loại chữ tượng hình phái sinh từ chữ Hán, cho
nên những khái niệm của thi học cổ điển Việt Nam (hiển nhiên phải đọc nguyên
văn, chứ không phải qua lời dịch) cũng ít nhiều mang tính trực quan sinh động
và mơ hồ đa nghĩa như của Trung Quốc. Đó cũng là điều đáng lưu ý trong khi kế
thừa di sản dân tộc trên con đường hiện đại hóa nền thi học nước nhà.
* Bài này nằm trong Đề tài mã số VIII.1-2012 do Quỹ NAFOSTED
tài trợ.
(1) Phương Lựu, Từ Văn học so sánh đến Thi học so sánh, NxbVăn
học, Hà nội 2002, tr. 220
(2) Lưu Nhược Ngu, Lý luận văn học Trung quốc, Tứ xuyên nhân
dân xuát bản xã 1987, tr. 16
(3) Khương Phụ, Cổ văn tự học,Chiết giang nhân dân xuất bản xã
1984, tr. 69.
Phương Lựu






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét