Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Đặc điểm của khái niệm thi học cổ điển Phương Đông xét từ tiếng nói và chữ viết

Đặc điểm của khái niệm thi học cổ điển 
Phương Đông xét từ tiếng nói và chữ viết
 Nói đến khái niệm (concept) hoặc phạm trù (category) là liên quan đến vấn đề thuật ngữ (term). Khái niệm được sản sinh và tồn tại phải dựa vào ngôn ngữ, cho nên các ngành khoa học đều hình thành nên hệ thống thuật ngữ riêng. Có thể nói thuật ngữ là hình thức ngôn ngữ của khái niệm, còn khái niệm là nội dung ý thức của thuật ngữ. Như thế muốn phát hiện đặc điểm của các khái niệm của Thi học cổ điển Trung hoa thì phải bắt đầu tử kiểu loại tư duy và ngôn ngữ văn tự Trung hoa.
Tư duy truyền thống cơ bản ở phương Tây là tư duy phân tích,  tư duy lô-gic.  Bất kỳ một sự vật hiện tượng gì cũng cần vươn tới một định nghĩa rành mạch rõ ràng. Ngay đối với bản thể của vũ trụ cũng vậy,  người phương Tây không những tiến hành phân tích một cách lô-gic, mà còn có người cho đó không phải là cái gì khác, mà chính là lô-gic. Chính Pythagore có nói lô-gic số học là bản chất của tồn tại. Còn Platon, Aristote thì cho bản chất cuả thế giới là ý niệm, mà ý niệm cũng chẳng qua là một cách gọi khác của lô-gic. Đến Hégel thì gọi ý niệm tuyệt đối, song cũng không vượt ra ngoài cái khung tư duy đó. Trái lại các nhà hiền triết Trung hoa như thủy tổ Đạo gia là Lão Tử thì cho bản chất vũ trụ là hỗn độn, mông lung, nghĩa là siêu lô-gic. Còn Phật gia thì cho thế giới là “vô nội ngoại, vô trung biên” (không có trong ngoai, không có trung tâm và ngoại biên). Chính vì thế, muốn nắm bản chất của thế giới không thể phân tích lô-gic, mà chỉ có thể cảm nhận một cách trực quan tổng hợp.  Điều này có phần nào tương đồng với Hiện tượng luận thế kỷ XX ở phương Tây cho rằng “thế giới không phải như suy nghĩ chúng ta khẳng định, mà như cảm thụ của chúng ta trong cuộc sống”; ”phương pháp phân tích lô-gic có thể tạo ra sự uy hiếp cho tính hoàn chỉnh của thế giới”. v. v. . Cho nên nếu phương Tây theo lối tư duy tuyến tính rạch ròi, thẳng băng, thì Trung hoa theo lối tư duy cầu tính linh động,  mơ hồ đa nghĩa như chúng tôi cũng đã từng đề cập đến (1)
Nhưng thật ra điều này còn được hậu thuẫn bởi đặc điểm ngôn ngữ và văn tự Trung hoa. Terry Eglaton, nhà thi học mác-xít phương Tây (Western marxism) cho rằng:”Đánh dấu cho cuộc cách mạng ngôn ngữ trong thế kỷ XX từ Saussure và Wittgenstein đến văn học đương đại là sự thừa nhận ý nghĩa không phải chỉ là cái biểu đạt và phản ảnh bởi ngôn ngữ, mà trên thực tế nó là cái mà ngôn ngữ sáng tạo ra. Không phải là dường như chúng ta có trước ý nghĩa và kinh nghiệm, rồi tiến lên mặc cho nó chiếc áo ngoài của từ ngữ, mà sở dĩ chúng ta có được ý nghĩa và kinh nghiệm là bởi vì chúng ta có ngôn ngữ khiến cho cả hai có thể lẫn trong đó” (Dẫn luận lý luận văn học). Cần lưu ý đến cụm từ cả hai có thể lẫn trong đó, cho nên nếu nói ngôn ngữ sáng tạo ra ý nghĩa và kinh nghiệm thì không dễ chấp nhận, bởi vì chí ít là làm sao giải thich được những ngôn ngữ rất khác nhau lại có thể nói ra những ý nghĩa và kinh nghiệm rất giống nhau được? Nhưng tất nhiên không thể hoàn toàn phủ nhận  ngôn ngữ  quả có vai trò trong sự sáng tạo đó. Ngay Mác cũng đã từng cho rằng ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, thì xét theo phép biện chứng, cái hình thức “vỏ vật chất” ắt hẳn đã tác động trở lại đối với việc hình thành của nội dung tư duy. Như thế thì chắc chắn rằng đặc điểm của mỗi loại ngôn ngữ sẽ để lại dấu ấn trong mô thức tư duy về mọi mặt của mỗi dân tộc, mỗi đất nước. Khái niệm, phạm trù thi học cổ điển Trung hoa có mang những đặc điểm của Hán ngữ và Hán tự là vì vậy.
1) Về tính mơ hồ đa nghĩa
Đây không bàn về tính mơ hồ đa nghĩa của ngôn ngữ văn học rất phổ biến bất cứ ở đâu, mà là về tính mơ hồ đa nghĩa của thuật ngữ khoa học (thi học) khá đậm đặc ở Trung quốc, mà một trong nhiều nguyên nhân là do đặc điểm của Hán ngữ. Hán ngữ thuộc loại đơn lập ngữ (langue isolante), hầu như mỗi âm đều chứa đựng một ý, cho nên những khái niệm được tạo dựng nên đều rất cô đọng súc tích: thi, văn, đạo, khí,  lý. v. v…Hệ thống hư từ của nó hiển nhiên không ít, nhưng cũng rất dễ tỉnh lược, mang lại sự gọn nhẹ cho cú pháp. Từ ngữ của nó cố định, không có chuyện biến thái theo ngôi thứ, thời gian và số lượng, chủ thể không thật xác định, giàu sắc thái phiếm định, góp phần tạo ramột trườngdiện phóng khoáng cởi mở dễ mang lại sự liên tưởng và đồng cảm cho mỗi người, nghĩa là cũng sẽ chung cho cả mọi người. Thời gian không xác định  cũng có tác dụng làm cho những cảm nghĩ trở nên vĩnh hằng, thông lưu nhau qua nhiều thế hệ. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà ngôn ngừ học nổi tiếng của Trung quốc như Cao Danh Khải  thì cho rằng “Tiếng Hán thiên về tâm lý, nhẹ về hình thức” (Hán ngữ ngữ pháp luận), còn Vương Lực thì khẳng định: “Tây ngữ là pháp trị, Hán ngữ là nhân trị” (Trung quốc ngữ pháp lý luận).
Hán ngữ vốn không chặt chẽ về ngữ pháp, mà thiên về ngữ dụng, nghĩa của nó biến hóa theo từng ngữ cảnh khác nhau. Từ Linh có nghĩa gốc là linh thiêng, linh ứng trong việc cầu mưa, tự dạng của nó trên có chữ vũ (mưa), duới có chữ vu (thuật đồng bóng). Nhưng nó cũng có nghĩa là lòng người: linh phủ, linh đài, lại có nghĩa là thông minh trí tuệ như trong câu của Trang Tử: “Nhân ngu giả chung thân bất linh” (người ngu thì suốt đời không linh). Từ hứng cũng vậy, có khi chỉ trạng thái tinh thần của nhà văn như cảm hứng, có khi chỉ tâm lý tiếp nhận của bạn đọc như hứng thú v. v…Đặc biệt là như ý kiến của nhà Hán học Hoa kiều Lưu Nhược Ngu đã nói: “Những từ hai âm tiết thì càng phức tạp, có khi chúng ta không biết quan hệ giữa chúng là về mặt cú pháp hay từ pháp” (2), nói dung dị hơn, không biết đó là từ ghép chỉ một khái niệm hay là từ tổ chứa đựng hai khái niệm liền nhau. Thí dụ khái niệm Thần vận được ghép bởi hai từ đều tự có nghĩa hoàn chỉnh riêng. Thần vốn có nghĩa là thần thánh, linh hồn, tinh thần, thần bí, thần kỳ, thần diệu. v. v…Vận có nghĩa là vần điệu, thanh điệu, hài hòa, hòa âm, tiết tấu, thậm chi có khi chỉ chất thơ. v. v…Nếu đây là hai khái niệm đồng đẳng, tùy ngữ cảnh mà xác định trong hai dãy ý nghĩa nói trên. Nhưng nếu đây là một khái niệm thì cũng phải tùy ngữ cảnh mà xác định là vần điệu thần diệu hay là sự hài hòa thần diệu. v. v…Cũng có ý kiến cho thần là cái đẹp thiên về nội dung, còn vận thiên về cái đẹphình thức, lại cũng có ý kiến cho thần vận là vận ngoại chi vận (vần điệu bên ngoài vần điệu) chỉ cảm thấy thôi chứ không thể giải thích được. Chả trách với người nước ngoài thì không ít khái niệm thi học cổ Trung hoa chỉ để cảm nhận chứ không thể xác nhận được.
2) Về tính trực quan sinh động.
Hán tự lại theo lối tượng hình ra từng ô vuông rất khác với văn tự phương Tây theo lối phiên âm, biến ngôn ngữ thành ngôn ngữ thanh âm, làm cho giữa ngôn ngữ và sự vật chỉ có thanh âm chừ không có hình ảnh, biến mỗi từ thành một khái niệm ít nhiều trừu tượng. Văn tự tượng hình của Trung quốc, mỗi chữ tất nhiên có chứa đựng thanh âm được xác định nhưng đồng thời ít nhiều cũng gợi lên hinh ảnh của ngoại giới mà hình ảnh con người là trước tiên và cơ bản nhất. Bởi vì  như Khương Lượng Phu  đã nói: “Tinh thần chung nhất của chữ Hán là xuất phát từ con người (hay nói chính xác hơn là từ toàn bộ thân thể của con người). Mọi vật chất tồn tại là do mắt người nhìn được, tai nghe được, tay sờ dược, mũi ngửi được, lưỡi nếm được, mà nhìn là quan trọng nhất…Nói cao thì phải nhìn lên, thấp  thì phải nhìn xuống….Tóm lại là phải từ người mà nhìn sự vật, từ quan năng con người mà xem sự vật”(3). Quả vậy trong loại văn tự cổ Giáp cốt, thì số chữ phỏng theo thân thể,  động tác,  cảm thụ của con người chiếm đến một phần năm, hơn hẳn việc phỏng theo động thực vật, thiên văn địa lý. Điều này góp phần thể hiện rõ tinh thần nhân bản của Trung quốc, đối sánh với tính chất “vật bản” của phương Tây, và tính chất “thần bản” của Ấn Độ. Tích hợp những đặc điểm của cả ngôn ngữ và văn tự  này thì thấy chúng đã để lại dấu ấn trong những tính chất trực quan sinh động và hàm súc đa nghĩa của khái niệm thi học cổ điển Trung hoa
Nhìn lại lịch sử thì từ khi qua Kinh Dịch, nguyên tắc “quan vật thủ tượng” (xem vật để thu lấy hình ảnh của nó), thì người Trung Quốc tự chứng tỏ là coi trọng hình họa hơn là âm thanh, thể hiện rõ ngay trong lĩnh vực ngôn ngữ văn tự. Ngay từ thời Đông Hán đã có Thuyết văn giải tự nói rõ tính chất tượng hình của chữ viết, mãi đến thời Nam triều mới xác lập nguyên tắc “tứ thanh”, rồi mãi đến đời Tùy mới có công trình Thiết vận. v. v. ., nghĩa là không bỏ qua vấn đề âm thanh của ngôn ngữ văn tự, nhưng được bàn luận sạu. Tất nhiên ngyên tắc “quan vật thủ tượng” ngày càng phong phú phức tạp, chứ không đơn giản như thuở đầu, nhưng Hán tự bao giờ cũng là một kết cấu với ít nhiều ẩn ý. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà phương Tây từ xưa đến nay chuyên đào sâu vào mối quan hệ nhị nguyên Ngôn ngữ -- Ý nghĩa,  thì ở Trung quóc do văn tự tượng hình đã góp phần hình thành mối liên hệ tam nguyên Ngôn- Tượng- Ý. Ở đây không  kể chuyện sáng tác, mà là bàn về lý luận văn học. Nếu chỉ xuất phát từ ngôn ngữ ít nhiều trừu tượng để đi đến ý nghĩa thì tất yếu phải dựa vào sự suy luận lý tính. Nhưng nếu còn phải kinh qua những gì có tính chất hình ảnh mà chủ yếu là nhân ảnh, thì phải vận dụng cả sự trực quan, trực cảm, trực giác, không dẫn đến những khái niệm trừu tượng, mà là những biểu tượng ít nhiều sinh động.
Trước hết là khaí niệm Văn, tự dạng của nó không dựa vào những thứ suôn sẻ, đơn điệu, thẳng tắp là phỏng theo hình ảnh những hoa văn, đường vân, vết hằn, chỗ giao kết hoặc gấp khúc của sự vật. Cho nên trong Kinh Dịch mới có câu: “Vật tương tạp, cố viết văn”(Sự  vật giao thoa, đan dệt rất phức tạp với nhau,  mới gọi là văn). Và Sử Bá,  nhà tư tưởng đời Tây Chu cũng khẳng định: “Vật nhất vô văn”(Vật đơn nhất không thể có văn). Hoặc khái niệm Khí thường dùng trong thi học  như Văn khí, Văn lấy khí làm chủ. v. v…thì tự dạng của nó có ba nét ngang như những gợn sóng của những đám mây được tạo ra bởi những cái gì hầu như vô hình nhưng lại lưu chuyển mạnh mẽ trong bầu trời! Rồi theo nguyên lý “thiên nhân hợp nhất”, khí cũng là sức sống mạnh mẽ của con người. Thế là từ đời Tần Hán trở đi, khái niệm Khí được đưa vào thi học, rồi trải qua đời Lục triều đã trở thành một phạm trù rất thịnh hành và rất phổ biến khi luận bàn về sự cuốn hút của thơ văn. Lưu Tương Tôn viết: “Văn lấy khí làm chủ…Cho nên khi văn thịnh, thì như gió táp mưa sa, suối non cây cỏ đều biến động, sông ngòi cuồn cuộn…Lớn thì như chạm khắc đá vàng …nhỏ thì cũng uyển chuyển tài tình”(Tựa Đàm Thôn Tây thi văn). Tất nhiên không phải tấtcả Hán tự nói chung, thuật ngữ thi học nói riêng đều trực tiếp mô phỏng sự vật, mà có khi một phần chỉ dựa vào ký hiệu của sự vật tức là Hán tự vốn có theo lối ghép chữ, nhưng kết quả phần nào cũng buộc người đọc quay về liên tưởng với sự vật khách quan, Thí dụ khái niệm Mỹ, thì tự dạng là ghép hai chữ dương ở trên và chữ đại ở dưới, làm cho người ta liên tưởng ngay đến hình ảnh con dê béo và nó tượng trưng cụ thể cho vẻ đẹp theo quan niệm người xưa. Rồi hàng loạt khái niệm liên quan đến chủ thể thẩm mỹ như tính, tình, ý, chí, ngộ, thì tự dạng của chúng thảy đều có chữ tâm. v. v…
Điều này ít nhiều đều biết cả rồi,  nhưng ý nghĩa sâu xa của nó thì phải đối sánh với phương Tây mới thấm thía hết được. Ernst Cassirer nhà ký hiệu học văn hóa vĩ đại người Đức từng than thở rằng do văn tự phiên âm,  con người “phải trả một giá quá đắt, bởi vì cái còn lại chỉ là một thế giới ký hiệu của tư tưởng, chứ không phải là một thế giới của trải nghiệm trực tiếp”(Ngôn ngữ và thần thoại). Còn Hán tự là loại hinh văn tự tượng hình, hiển nhiên là có mặt trái của nó, nhưng được bù lại là nó có ít nhiêu ghi dấu lại những “ký hiệu sự sống”, trên cơ sở đó đã hình thành những thuật ngữ khoa học (trong đó có thi học) chứa đựng những khái niệm, phạm trù ít nhiều sông động, chứ không thuần lý trừu tượng như của phương Tây. Tất nhiên tính chất trực quan sinh động trong các khái niệm thi học cổ điển Trung hoa có nhiều nguyên nhân quan trọng khác, còn tính chất tượng hình của văn tự chỉ góp phần vào thôi!
Để kết luận vắn tắt, xin lưu ý thêm rằng, do trong tiếng Việt chiếm một tỉ lệ khá lớn là tiếng Hán, và trong một thời gian dài ông cha ta cũng sử dụng chữ Hán, sau đổi thành chữ Nôm, nhưng chữ Nôm cũng là một loại chữ tượng hình phái sinh từ chữ Hán, cho nên những khái niệm của thi học cổ điển Việt Nam (hiển nhiên phải đọc nguyên văn, chứ không phải qua lời dịch) cũng ít nhiều mang tính trực quan sinh động và mơ hồ đa nghĩa như của Trung Quốc. Đó cũng là điều đáng lưu ý trong khi kế thừa di sản dân tộc trên con đường hiện đại hóa nền thi học nước nhà.
* Bài này nằm trong Đề tài mã số VIII.1-2012 do Quỹ NAFOSTED tài trợ.
(1) Phương Lựu, Từ Văn học so sánh đến Thi học so sánh, NxbVăn học, Hà nội 2002, tr. 220
(2) Lưu Nhược Ngu, Lý luận văn học Trung quốc, Tứ xuyên nhân dân xuát bản xã 1987, tr. 16
(3) Khương Phụ, Cổ văn tự học,Chiết giang nhân dân xuất bản xã 1984, tr. 69. 
Phương Lựu
Theo http://nhavanvatacpham.vn/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...