1. Sau những phân tích về các
hình ảnh cổ, thật là sai lầm không thể tha thứ nếu vẫn tiếp tục nhầm lẫn những
giáo huấn về con người cổ trong truyền thống, với thuyết nhân học. Truyền thống,
trước tiên và trên hết nhìn thấy trong con người hình ảnh cổ của nó, trí tuệ
thượng đế của nó. Còn trong từng cá nhân, truyền thống chỉ ra bản chất đã đánh
dấu của con người bằng dấu ấn của thượng đế, của các sức mạnh, các Quyền lực của
trí tuệ thượng đế, con người đứng ở vị trí giới hạn của sự sống.
Như vậy con người bị gim chặt
từ ba góc độ: trước tiên trong bản chất vĩnh cửu của nó là linh hồn bất tử, thứ
hai con người như một thể loại, và thứ ba, con người như một tính cách.
Viễn tưởng ấu trĩ về tư duy
truyền thống của con người lịch sử, nhất là người châu Âu đều thể hiện
rất rõ ở điều này. Những hình ảnh khác nhau về con người cổ không phải (cái gọi
là) những ẩn dụ thi ca, những motip cổ tích hay các kết luận cần phải hiện thực
hóa. Tại sao? đơn giản vì: con người ở mức độ cổ xưa có khả năng gọi
tên các sự vật một cách chính xác, nhưng khả năng này đã bị vật chất hóa, và từ
đó đến nay ngôn ngữ chỉ gọi tên sự vật một cách tượng trưng hoặc chỉ theo nghĩa
bóng mà thôi.
Chính vì con người đã
đánh mất khả năng đặt tên một cách chính xác và trực tiếp sự vật sự
việc nên nó đánh mất luôn cả khả năng sáng tạo ngôn ngữ, và đánh mất
cả khả năng vâng theo ngôn ngữ của các sức mạnh và các Quyền lực thế giới. Và
như vậy ngôn ngữ người chỉ trở thành sự tượng trưng.
Lấy một ví dụ: quan niệm của
người hiện đại về từ tái sinh. Đây là một hiểu lầm lớn nhất của con người hiện
đại với thời cổ. Hình ảnh tái sinh của linh hồn không có nghĩa là linh hồn cá
nhân- mà Veda gọi là dzsivatma-được sinh ra, chết đi, rồi sống lại, từ đời
sống ở trái đất bay vào đời sống của thế giới bên kia, rồi từ thế giới bên kia
quay lại với đời sống trái đất, quay tròn, luân hồi và vật vờ.
Chỉ lối tư duy chứa
đựng rất nhiều thuật ngữ máy móc và vì thế mù lòa mới có thể phát biểu như vậy.Tái
sinh không phải là một hình ảnh cổ liên quan đến cái cá nhân của con người mà
liên quan đến con người vĩnh cửu. Ý nghĩa của nó không phải là dzsivatma -cái
TÔI bé nhỏ của con người hôm nay chết đi, ngày mai sẽ được sinh ra lần nữa ở một
miền đất nào đấy trên quả đất và trong hình hài khác, mà ý nghĩa của nó là con
người cổ rơi từ tạo hóa tinh thần xuống thế gian vật chất, và từ vật chất này
thức tỉnh như một nhân loại, và từ sự đông đảo chia thành các cá nhân, từ
sự đông đảo này từng cái TÔI là một bến đỗ của con người cổ, từng”sự tái
sinh”-luân hồi của con người cổ. Không có sự mất đi và tái sinh một cách tự động.
Sự tái sinh của từng cá nhân
chưa bao giờ, chưa có bất kỳ cái gì nhắc đến, từ thời cổ, hay ở phương Đông,
hay kinh Veda, đạo Phật, siêu hình học Ai cập, Pitago, Platon cũng chưa bao giờ
nói đến. Luân hồi, sự tái sinh là hình ảnh cổ sâu đậm vĩ đại nhất của số phận
con người vĩnh cửu, hình ảnh luân hồi số phận của cái TÔI cá nhân lồng
bóng số phận con người vĩnh cửu, và được hiểu như một sinh linh tái sinh trong
mối quan hệ của nhân loại siêu việt.
Linh hồn tái sinh cùng dấu ấn
của thượng đế như một hình hài tiêu biểu, linh hồn tái sinh với tính cách như một
trường hợp giới hạn cực đoan ra đời, như một khuôn mặt, như một sinh linh cá
nhân hóa.
Nếu hình ảnh con người trong
truyền thống có ý nghĩa lớn như vậy, thì sự tái sinh, chỉ có thể hiểu
đã tồn tại, và giải thích được trong tinh thần siêu hình của thời cổ. Sự diễn
giải này nhất thiết phải dựa trên nền tảng của trạng thái cổ.
Trong trạng thái cổ con người
là Adam Kadmon: con người Rực Rỡ. Adam có nghĩa là kẻ thống trị. Con
người cổ trước hết là chúa tể thiên nhiên, nhận được sức mạnh của lời từ Tạo
Hóa, bằng ngọn lửa, bằng logo: là kẻ thống trị toàn bộ các sinh linh và các thế
gian bằng tình thương yêu của trời. Các nguyên tử, loài động vật, các Quyền lực
đều cúi đầu ngoan ngoãn trước con người.
Các luân hồi của hình ảnh cổ
Adam Kadmon là các vị vua lớn, các nhà lập pháp các nhà thông thái của nhân loại.
Đấy là „loại người bí ẩn” mà truyền thống hay nhắc đến: Manu, Menes, Minos, hay như
tri thức Hindu, Ai cập, Hy lạp, Eheatl, Mexico, Kecalkoatl, Toltek Manko Kapa,
Peru nhắc đến.
Đây là con người” không
khí”, đúng hơn là thực thể tinh thần thuần túy, là nhà vua rạng rỡ, kẻ phân
chia các quốc gia, như truyền thống Toltek đã viết, kẻ trao cho các dân tộc
ngôn ngữ, dân ca, quần áo, thức ăn thức uống và phân chia họ, như ngày nay người
ta nói: đánh thức ý thức của họ.
Đấy là kẻ cai trị theo trật
tự của Melkizedek, là nhà vua của sự chính trực, của hòa bình, của tình thương.
Đấy là con người cổ mà Đạo Đức Kinh nhắc đến, là Quân Tử của Khổng tử; là kẻ
duy trì sự thật (aletheia) như Platon đã dạy, và bởi vậy đấy là cái đầu của dân
chúng, của Politheia.
Đặc tính của con người này
vượt trên cả giống loài, quốc gia, tôn giáo, thời đại: đấy là tinh thần vũ trụ.
Tinh thần vũ trụ chỉ có nghĩa như sau: không phải là ý thức của cái TÔI vật chất,
mà là ý thức thượng đế-ý thức tinh thần cổ. Con người sống, tư duy, hành động,
giao tiếp, cai trị trong đặc tính này không phải là một khuôn mặt cái TÔI, một
loài, một tính cách, một dấu ấn, mà là linh hồn thượng đế siêu việt, là tri thức
thượng đế.
Đây là „Những đứa con của
Thượng đế”- những đứa con của đấng Brahma-những đứa con của Toth- đây là” Bảy
nhà thông thái”, là „Bảy risi”, là những kẻ truyền nguồn sống Thượng
đế-thiên nhiên cổ xuống sự sống thế gian vật chất mặt đất.
Có những truyền thống khác gọi
những người này là Thần Hộ Mệnh, Thần Canh Gác hoặc Kẻ Thức: egregoroi,
phülakesz, pneumaton. Ở Mexico người ta gọi: tlapian-giống như phülax,
Thần Hộ Mệnh.
Tác động của những con người
này là vô bờ bến, như truyền thống đã nói. Tại sao? Bởi vì đây là con người tồn
tại trực tiếp từ tinh thần tỉnh táo của thượng đế, và như sách thánh Iran từng
viết: „Thượng đế trao quyền lực vô biên cho tình thương yêu”. Trật tự
Melkizedek mang quyền lực vô biên vì đó là vua của tình thương yêu và hòa bình. Đấy
là sự hiện hữu của sinh linh được Thượng đế tạo ra trong ngày thứ sáu, Adam
Kadmon, kẻ cai trị.
Con người hiện đại chỉ có thể
trải nghiệm bất ngờ ngắn ngủi trạng thái cổ lóe lên trong chốc lát, khi sự nhận
thức và tình yêu thương hòa tan vào làm một. Trong trạng thái cổ này giáo
huấn của Pitago là sự nhập định; từ một vài câu nói của Empedokles hiện thực được
sắp xếp đâu vào đấy; Thiên thần triết học của Platon chỉ là một hình hài nhợt
nhạt hơn; nhưng Platon là một kẻ nhập định hoàn hảo.
Muộn hơn, trong thời
Alexandria người ta biểu trưng sự thống nhất của nhận thức và tình yêu thương bằng
logo - trái tim lửa cháy. Trong thời kỳ gần đây nhất, kẻ nhập định vào trạng
thái cổ là Ramakrisna. Đây là trạng thái khi sự ấm áp của tình yêu thương làm
lóe sáng nhận thức, và khi ánh sáng của tư tưởng soi rọi tình yêu thương.
Sự hợp nhất của trái tim bốc
lửa, nhận thức và tình yêu thương không thiên vị rạng rỡ trong ánh sáng tri thức
của tinh thần: đây là sự hợp nhất của tri thức và xúc cảm, khối óc và trái tim,
tư tưởng và tình cảm. Con người cổ không nhầm lẫn bằng trái tim, nhưng bằng tri
thức cũng không. Con người cổ duy trì thế gian làm một bằng tình yêu thương và
tri thức. Điều này có nghĩa là, con người đầu tiên chính là trí tuệ thượng đế.
2. Bến đỗ thứ hai: Sự phạm tội.
Sự phạm tội xảy ra khi con
người rơi xuống vương quốc của cái chết. Nó đánh mất sự tỉnh táo của nó; nó đui
mù, câm lặng, ánh sáng của nó tắt, mối quan hệ với đặc tính tinh thần bị đứt đoạn.
Nó chìm vào vật chất và ở đó trong sự vô thức hoàn toàn về bản thân và về thế
gian, nó hóa đá, hóa băng trong tối tăm.
Trạng thái này không mang
tính tượng trưng của sự mê muội, mê mẩn. Theo truyền thống hình
ảnh cổ của sự phạm tội là cấp độ trước khi bị tiêu hủy hoàn toàn, là cấp độ trước
cấp độ cuối cùng. Nếu rơi thấp xuống sâu thêm một độ nữa: sẽ tan ra, và biến
thành cát bụi. Con người phạm tội, khi biến thành vật chất, nó lao xuống ngưỡng
cửa của sự tiêu hủy hoàn toàn, và đứng chết cứng ở đây.
Không có gì để nói về bến đỗ
này. Đây là một bóng râm nhỏ bé duy nhất cách sự hủy diệt hoàn toàn; đây là bực
thang trước bực thang cuối cùng. Đây là bến đỗ trước ngưỡng giới hạn của phi-sự
sống: vô thức, tối tăm, vô nghĩa, không tình thương yêu, bất nhẫn, không hình
hài, phi trí tuệ, không bản chất, phi tư tưởng.
Cái tội mà con người cổ đã
phạm, ngày nay ta không hiểu nổi. Baader cho rằng ta không hiểu nổi vì ta không
thể phạm được nữa. Truyền thống Ai cập và Do thái gìn giữ kỷ niệm về sự phạm tội
này bằng nghi thức cắt bao quy đầu. Như thế nghĩa là gì, không ai giải thích được.
Một phần của Tử thư Ai cập
dường như nhắc đến điều này từ xa: nhìn tội lỗi cổ của linh hồn, là nhìn bản
thân mình từ bên ngoài, và bằng cử chỉ này lật nhận thức-tình yêu thương tạo
hóa ra bên ngoài: quay ra bên ngoài là quay ra ngoại vi thay
cho việc quay về trung tâm- thay việc quay về với Thượng đế là quay lại bản
thân mình.
3. Bến đỗ thứ ba: Sự tỉnh táo
Sự tỉnh táo là cấp bậc mà (
cái gọi là) thời kỳ lịch sử duy trì sự xuất hiện của con người. Khi con
người rơi xuống biên giới của không-sự sống, trước khi bị tiêu hủy nó đứng lại,
và con người đứng trân trân này bỗng ngoan ngoãn nghe theo lời kêu gọi từ sự
quên lãng của đất, từ vương quốc của sự tăm tối và của thần chết và tỉnh giấc.
Kẻ tỉnh dậy đầu tiên là Adam
sau đó đến Êva, và từ đó đến nay lần lượt tất cả chúng ta thức dậy. Chúng ta đã
từng đóng vai chủ tạo hóa, giờ đây chúng ta được mời đến như khách trong cuộc sống
trần tục.
Khi rơi xuống con người đã
đánh mất sự nhận thức cổ và lòng yêu thương, giờ đây sinh
ra từ đất, con người cần lấy lại cả hai thứ này, được bao nhiêu tùy sự có thể của
nó. Trong hình hài này con người mang dấu đã ấn định của các Quyền lực (tüposz),
mang tính cách cá nhân hóa (cái TÔI). Nó bị xác định trong không –thời gian, và
sống một đời sống có hạn.
Loại, tính cách, không gian
và thời gian không chỉ là sự hạn chế: đó còn là những khả năng và những điều kiện
dành cho con người để nó quay trở lại. Trong loài ẩn giấu những sức mạnh mà con
người có thể sử dụng; cái TÔI là thứ công cụ để linh hồn diễn đạt các sức mạnh;
không gian là vị trí để nó sống và dành cho các hoạt động của nó; còn thời gian
là thứ ân huệ lớn nhất : nếu con người ngay lập tức một lần quyết định và không
bao giờ rút lại, nó sẽ rơi xuống vật chất một cách yếu ớt; thời gian là sự kéo
dài khả năng tiến tới thức tỉnh- bởi linh hồn thức tỉnh cần thời gian.
Trong sự sống trần thế con
người sống giữa các điều kiện bị phá hỏng bởi các Quyền lực. Nhưng như truyền
thống Hermetikus hoặc thuật giả kim đã nói: không phải các sinh linh mà là bản
chất của sự sống, hay dùng từ khác: các ý tưởng ban đầu của sự sống đã bị phá vỡ.
Quá trình cá nhân hóa, sự hư
hỏng của cái TÔI cá nhân là hình ảnh của sự sống bị phá hỏng. Linh hồn sống
trong thế gian vật chất, rất hãn hữu hoặc có nhớ lại cũng khá mơ hồ trạng thái
trong sạch cổ. Cái ngự trị linh hồn là sự đờ đẫn vì vật chất. Nếu linh hồn nhớ
lại, dù rất ít, trạng thái sáng sủa của nó nó sẽ nhận ra rằng sự thức tỉnh từ
cái chết không hề tự nhiên, mà theo đúng nghĩa của từ ngữ, đấy là
khoảnh khắc trái tự nhiên, siêu nhiên. Và khi linh hồn ngày càng thức tỉnh hơn
nó sẽ dần dần nhận rõ hơn, sự tái sinh từ thế gian vật chất thực ra là sự sống
lại, sự phục sinh.
Huyền thoại ghi nhận biến cố
này khi cho rằng NGÀI đã tách ánh sáng ra khỏi bóng tối. Ở Palestin đấy là
Jahve, ở Peru là Virakocsa tạo ra ánh sáng, trong thứ ánh sáng này con người
hóa đá, tê liệt, biến thành đất một lần nữa có thể thức tỉnh. Thượng đế từ cát
bụi sinh ra và hà hơi thở cho nó lần nữa.
Trong thời Alexandria người
ta gọi sự ra đời tất nhiên là geneszis còn sự thức tỉnh có tên là ta
geneszia. Bởi bản thân sự ra đời tất nhiên không mang ý nghĩa gì, nếu không
cùng lúc là sự thức tỉnh của linh hồn.
Trong trạng thái thức tỉnh
sau chấn động dữ dội, linh hồn một lần nữa mở ra. Nơi nó tìm thấy nó, giờ đây
không phải là sự sống nữa mà chỉ là đời sống. Truyền thống không diễn đạt được
trạng thái đời sống bằng một từ duy nhất vì cả trạng thái cổ cũng không biết.
Khả năng đặt tên chính xác dành cho con người đã bị mất; cái còn lại chỉ là sự
đặt tên mang ý nghĩa tượng trưng; nhưng những hình ảnh tượng trưng của thời cổ
cũng bị mất, bởi vậy con người thời kỳ lịch sử gần như sống với những khái niệm
câm và mù lòa.
Có thể đánh dấu trạng
thái cổ của sự sống bằng các khái niệm như: sự thống nhất của kiến thức và tình
yêu thương: là hình ảnh trái tim bốc lửa. Nhưng thời điểm thức tỉnh là lúc đã
không còn sự sống, chỉ còn đời sống.
Và trạng thái đời sống này một
lần nữa chỉ có thể diễn đạt một cách thiết thực, hai chiều bằng hai từ: sự sợ
hãi và sự đau khổ. Thống nhất hai từ này là một sự bất lực. Tại sao? Bởi vì nơi
hai từ này gặp gỡ nhau nằm xa khung diễn giải của ngôn ngữ ngày nay, bởi vì sự
diễn giải muốn đời sống dính mắc trong cội rễ của nó, nhưng trong trạng thái của
đời sống, ngôn ngữ đã không bao giờ có thể gắn bó trong cội rễ của nó được nữa.
Giáo huấn Sankhja bắt đầu bằng
câu: đời sống là đau khổ. Đạo Phật cũng nói đúng như thế. Nhưng bằng sự đau khổ
cả Sankhja lẫn đạo Phật đều muốn nói lên sự hợp nhất của sợ hãi và đau khổ, và
từ đau khổ thường xuyên được sử dụng.
Một đối thoại của Hermes
Trismegistos, khi nói về trạng thái cổ và thời kỳ sa ngã của con người có nói:
sự run sợ -phobosz đã tóm lấy Tạo Hóa. Sự sợ hãi này là một trạng thái ban
đầu cổ xưa đến mức từ đây theo nhiều nghi chép Ấn cổ Atman sở dĩ tạo ra thế giới
bởi vì” sợ một mình”.
Böhme, người mà trực giác
huyền bí khó có thể lầm trong lời giải thích viết cho Genezis đã viết về hai bản
năng của Tạo Hóa. hai bản năng đó là:” Y chí cứng như đá” và „Niềm
vui tự do”. Hai bản năng này, Böhme nói thổi bùng lên đam mê hướng về nhau, và
trong khoảnh khắc, khi cả hai chạm vào nhau” Sự run rẩy nổ toang”(Schrack) như
khi chớp giật.
” Trong sự khủng khiếp
này ngọn lửa đầu tiên nhóm lên. Bởi ý chí cứng như đá không là gì khác
ngoàibóng tối và sự đông cứng, giờ đây từ ánh sáng và từ sự mềm mại bao bọc của
niềm vui tự do, nó run lên. Trong ý chí cứng như đá, khi trong chính bản thân
nó tự bóp ngạt tính ích kỷ lạnh lùng đóng băng và khóa trái bản thân nó lại, ghê
sợ của cái chết nhen nhúm. Bởi bản chất của bóng tối là sự ghê sợ; Như vậy nó tự
kìm hãm nó vào bản thân nó, như nỗi losợ ánh sáng, như kẻ thù của ánh sáng. Và
đây là trạng thái cổ của thế giới tối tăm, đây là bản thân thế giới tối tăm.”
Nỗi sợ hãi, phobosz,Schreck mà
szmti của Ấn độ, hay Hermes và Böhme nhắc đến là nỗi sợ hãi từ sự đau khổ; Sự
đau khổ mà Phật và Sankhja nói đến là sự đau khổ bởi sợ hãi. Cả hai là một, sợ
hãi là đau khổ và đau khổ là sợ hãi.Mọi sự sống trần thế đều đau khổ; nhưng mọi
sự sống trần thế đều là sự sợ hãi.
Đây là trạng thái của đời sống. Con
người run rẩy và đau đớn, rùng mình, lo âu trong trạng thái thức tỉnh từ bóng tối
đi ra, trong những tia nắng đầu tiên của sự sáng sủa.
” Sự sợ hãi- Böhme nói -là một
dạng của sự nhậy cảm, là kẻ đánh thức tâm trạng, là một cái gì đó thôi thúc cảm
giác hoạt động.”
Sự sợ hãi và sự đau khổ
thực ra là một dấu hiệu mơ hồ đầu tiên của sự tỉnh táo. Đau khổ và sợ hãi xuất
hiện để con người đừng rơi vào sự tăm tối,cái chết và sự quên lãng một lần
nữa: tất cả mọi người cần phải đau khổ và sợ, để thức tỉnh.
Đây là trạng thái thức tỉnh.
Linh hồn đóng băng, tăm tối, biến thành màn đêm, biến thành đá trong sự sợ hãi
và trong đau khổ trưởng thành và vỡ tan, để sự sống một lần nữa mở ra.
Sợ hãi và đau khổ mang hai ý
nghĩa và có hai mặt; bởi vậy nó cũng có thể khóa lại cũng như có thể mở ra: nó
có thể mang lại tự do cũng như mang đến một ngục tù tăm tối. Trong sự thức tỉnh
linh hồn có thể thành vật thí nghiệm cho hai hướng: ánh sáng- sự quay lại trạng
thái cổ, hoặc bóng tối-sự rơi xuống vật chất.
Nhưng trong thế giới
nó đang sống, hoàn cảnh của nó dễ hơn: ánh sáng và bóng tối đứng riêng, âm và
dương, như người Trung quốc hay nói đêm và ngày, mùa đông và mùa hè, sự tỉnh
táo và sự đờ đẫn.
Sự sợ hãi và đau khổ khiến
linh hồn con người từ những nhậy cảm cơ bản biết quyết định và tham dự. Con người
không hiểu nỗi sợ hãi và sự đau khổ. Người ta tránh nó, mà không nhận ra rằng
khi lẩn tránh thực ra họ tự khóa họ vào nỗi sợ hãi và sự tối tăm. Người nào sợ
hãi và đau khổ, người đó cùng lúc gọi luôn cả sự minh bạch của trạng thái cổ và
vương quốc tối tăm của sự quên lãng. Người nào bảo tồn sự nhậy cảm về nỗi sợ
hãi và sự đau khổ trong bản thân, người đó đang đi về phía ánh sáng; người nào
khóa nó lại trong bản thân, người đó cho phép lời mời chào của vật chất và bị
khóa vào tăm tối. Cần phải sợ hãi và đau khổ: bằng sợ hãi và đau khổ con người
gánh vác số phận của linh hồn và nhận lời mời gọi tiến lên phía trước.
Những hậu quả tâm lý của nỗi
sợ hãi và sự đau khổ là vô tận: sự sợ hãi và sự đau khổ quyết định toàn bộ đời
sống của con người sống trong thiên nhiên vật chất. Mọi biểu hiện của sự trốn
tránh, cởi mở, chân thành, dối trá, sự đảm bảo, sự quyết định, sự dũng cảm hay
hèn nhát đều từ sự sợ hãi và sự đau khổ mà ra, và không bao thắng được nó hoàn
toàn.
Có thể nhận biết ra sự lặp lại
ở những biểu hiện bên ngoài của con người hiện đại. Người ta đều biết thực thể
người trong tử cung của người mẹ phải trải qua những biến thái bí ẩn,và họ
hiểu được ý nghĩa của những điều bí ẩn này: con người cá nhân lặp lại con đường
giống nòi của nhân loại.
Người ta gọi sự lặp lại này
là sự phát triển, như thể con người đang đi trên con đường hoàn thiện, và ngày
càng hoàn thiện.
Tất nhiên không có sự phát
triển nào ở đây cả.
Con người trải qua từng mức
độ của sự thức tỉnh, và khi được sinh ra, nó không trở nên độc lập và chỉ tiếp
tục sự lặp lại. Khi nó lặp lại không có nghĩa là đời sống của lượng đông đảo vĩ
đại của nhân loại thêm một mức độ, một cấp bậc mới, thực ra sự lặp lại không là
gì khác ngoài sự nhắc lại của những cấp độ trước của con người một lần nữa.
Nhưng sự lặp lại này không
chỉ ở bên ngoài. Từ nền tảng một vài nhận thức mới của tâm lý học hiện đại, con
người ngày nay bắt đầu hiểu, sự lặp lại các mức độ đời sống trước nó không chỉ
trong hình dạng sinh học, mà sự bí ẩn của quá trình biến thái là một quá trình
bên trong.
Con người trong tử
cung trải qua những bến đỗ mơ hồ của đời sống như trong giấc mộng- qua những cơ
cấu động vật học của sự sống, như hình ảnh tượng trưng của sự luân hồi. Khi con
người sinh ra, đấy là khoảnh khắc của sự thức tỉnh: khi linh hồn con người
ngoan ngoãn nghe theo tiếng gọi bước ra ánh sáng mặt trời.
Đấy là sự tạo dựng Adam. Khi
con người được sinh ra, sự sáng sủa tách ra khỏi bóng tối. Và con
người tiếp tục lặp lại. Trong thời thơ ấu nó nhắc lại những cử động, thói quen,
ngành nghề của các thế hệ cổ xưa; bé trai chơi trò đánh trận, làm ông bố trong
gia đình, đóng vai tướng cướp, thủ lĩnh; bé gái giả nấu ăn, chơi búp bê, khâu
vá, đẩy xe nôi.
Trò chơi không phải sự chuẩn
bị cho những vai trò xã hội quan trọng như người ta nghĩ; linh hồn lặp đi lặp lại
một cách vô thức những hoạt động đã hằn sâu trong linh hồn. Thực thể người cá
nhân sao chép lại những hoạt động của con người vĩnh cửu trên đường
đi của con người vĩnh cửu.
Và loài người, rất hãn hữu,
có thể nói trừ một vài ngoại lệ, không bao giờ biến thành chủ thể, không bao giờ
bước ra khỏi sự lặp lại, không bao giờ làm gì khác ngoài việc lặp lại một lần nữa
những lý tưởng, tư tưởng, cảm xúc, hành vi, quan điểm của những thế hệ đã sống
trước nó.
Những quá trình thức tỉnh có
hiệu quả trong thời cổ luôn được diễn ra để đánh thức con người và nâng họ lên
sự sống chủ động. Đấy là những quá trình nhập định. Với nhân loại loài người
chưa xảy ra quá trình này.
Nhân loại từ sau khi thời cổ
biến mất đứng dẫm chân tại một chỗ: không làm gì hết ngoài việc nhắc lại, lặp lại.
Nhắc lại, lặp lại những bến đỗ dân tộc, loài giống, giới tính, quốc gia, ngôn
ngữ, tư tưởng: chưa bao giờ nghĩ ra điều gì khác, xúc cảm khác, phát ngôn khác
ngoài những điều cả trăm nghìn thế hệ trước đã phát ngôn, cảm xúc, suy nghĩ.
Chưa bao giờ linh hồn cá thể
tuyên ngôn một lần duy nhất, đạt đến một lần duy nhất một nhiệm vụ, một quá
trình cá nhân hóa, một sự sao chép bản sao Thượng đế vượt quá sự lặp lại, trước
khi một lần nữa bước qua ngưỡng của của cái chết. Nhiều người không đạt tới hết
các mức độ của nhân loại vũ trụ- không lặp lại nổi toàn bộ con đường, không sống
hết toàn bộ các biến thái của con người.
Kinh Thánh đã nói rất rõ về
điều này: về con người được giao cho nhiệm vụ cất giữ và bảo vệ tiền
– đấy là con người cả cuộc đời không làm gì khác ngoài việc lặp lại những gì
loài người đã nhận được.; đấy là con người đã biết nhân đôi số tiền được trao
giữ- là con người bằng sự sống đặc thù của nhân loại đã làm giàu có, mở rộng,
soi sáng và nâng cao cái chủ thể vĩnh cửu trong hành động hoặc trong tác phẩm.
„ Con người- Baader nói- cần
trở thành hình ảnh đích thực của Thượng đế, như hình ảnh tượng trưng của Thượng
đế tự nhiên. Trong mọi sự vật, sự việc, cá nhân, thực thể cần phải lặp lại, nhắc
lại cho đến khi điều này con người vĩnh cữu thực hiện được trong bản thân
mình.”
Con người không thức tỉnh để
trở thành sự lặp lại của sự sống vũ trụ, mà để hiện thực hóa Con Người Trời cổ
trong một dáng hình nào đó.
Sau khi thức tỉnh có hai con
đường mở ra trước mặt con người: lang thang vật vờ và thức tỉnh. Lang thang vật
vờ vô hướng; sự đờ đẫn mê muội từ mơ hồ quên lãng chứa bên trong nó một sức mạnh
không biết gì hơn ngoài việc lặp đi lặp lại như một thực hành những âm điệu đã
xảy ra trước sự sống.
Trạng thái lang thang vật vờ
là trạng thái vô luật. Là sự nhầm lẫn vật vờ. Kinh Veda gọi là luân hồi (szamszara).
Con người sống trong sự đờ đẫn vật vờ: nó lang thang trong sự rối loạn vô
nghĩa, nửa tỉnh nửa mê, bám víu,yếuớt, mù quáng, không biết gì hơn chỉ lặp lại
những mức độ đã sống qua hàng trăm nghìn lần của sự sống-
Còn thức tỉnh là con đường
thứ hai, con đường tỉnh giấc. Đây là con đường của ánh sáng, là trạng thái đúng
luật. Đây là vidja.
Con người tỉnh táo biết rằng,
nó cần phải trải qua toàn bộ quá trình biến thái, tự nó. Cần tự trải qua nỗi sợ
hãi và sự đau khổ, để tự giải phóng nó và sau rốt tự nó cất lời. Khi nó hoàn
thành hàng hàng loạt sự lặp lại, nó bước ra khỏi luân hồi. Nó vẫn còn trên quả
đất, vẫn là con người, nhưng không phải là kẻ vật vờ nữa, mà là một người hành
hương, người đang bước trên con đường đi về phía Người Trời.
5 Bến đỗ thứ năm: Bóng tối bên
ngoài.
Saint-Martin nói:” Nói đúng
ra thế giới bên kia không bao giờ rời khỏi”.
Mối quan hệ với Người Trời ở
mỗi người chưa bao giờ đứt đoạn hoàn toàn. Tất cả các bến đỗ của con người đều
trên con đường của Con người Vĩnh cửu, nhiệm vụ không thể nói bằng lời, hay
trong hình ảnh. Số phận của tất cả mọi người đều đi đến sự lặp lại và đều đồng
nhất: không ngoại lệ, tất cả mọi người đều trải qua trạng thái cổ, đều sống qua
sự lao xuống và đều thức tỉnh, đều cần phải nhắc lại con đường của Con người
Vĩnh cửu.
Nhưng giờ đây con đường chia
đôi. Trong trường học của Pitago truyền thuyết Heracles được biểu tượng bằng chữ
Y. Phần dưới của chữ Y là con đường chung, dành cho tất cả mọi người đều giống
nhau. Nhưng điểm giữa nơi chữ Y chia làm hai ngả, Heracles là con đường đã lựa
chọn.
Cần lựa chọn giữa sự vật vờ
lang thang và sự thức tỉnh. Giữa con đường” hẹp” và con đường”rộng”. Con đường”hẹp”
tự gỡ từ nó những lớp chăn phủ maja, tính sổ với các giác quan, với manas, với
cái TÔI, với buddhi, và quay về với Atman.
Con đường”rộng” đi về
phía khác: chìm vào các giác quan, vào cái TÔI, các đam mê, các hình ảnh giấc mộng,
các ảo ảnh. Đấy là sự chìm đắm vào bóng tối bên ngoài: sự lầm lẫn sau cùng, sự
đờ đẫn sau cùng, dưới bản án không thể chuộc lại của bản thân họ. Bởi vậy sách
thiêng đã nói, kẻ nào bị dẫn dắt đến sự tăm tối bên ngoài, sẽ hối cải tại đáy địa
ngục: không bao giờ quay lại nơi sinh ra của linh hồn, quay lại ánh sáng.
Ở đây cần lưu ý đến một sự
nhầm lẫn cơ bản của con người hiện đại. Sự nhầm lẫn này là bên trong củaviparjaja;
Viparjaja có nghĩa là sự lộn ngược ý nghĩa gốc gác của quan điểm.
Con người lịch sử lộn ngược
ý nghĩa gốc rễ của quan điểm khi cho rằng thị giác đầu tiên và tất nhiên có hướng”quay
ra ngoài”, chỉ dưới tác động của các hạn chế bên ngoài con người mới bắt đầu
quay vào trong.
Đánh tan sự nhầm lẫn này
không đơn giản.
Thực ra điểm bắt đầu là sự tách
rời thế giới bên ngoài và bên trong không là gì khác ngoài kết cấu gương thô
thiển nhất. Cái giới hạn cực đoan của sự mù lòa nhận thức của con người xảy ra
khi kiến thức về thế giới”bên trong” hoàn toàn bị đánh mất, và chỉ có khả năng
coi nó là đối kháng „bên ngoài” Trong thực tế bên trong và bên ngoài ở ý nghĩa
đó không tồn tại.
Con người lịch sử từ phương
pháp thực hành muốn đặt tên cái thế giới giác quan và vô hình với niềm tin rằng
cái thế giới tinh thần- linh hồn vô hình này nằm bên trong con người, như một bộ
phận hoặc một tế bào, và là đối kháng của thế giới hữu hình.
Truyền thống khi gợi lên sự
phân biệt này, trong mọi trường hợp là hình ảnh tượng trưng, cần phải hiểu
trong thế giới” bên trong” là cảnh giới của người trời, của sự hướng về cái TÔI
thượng đế( Atman), là thế giới siêu nhiên vượt trên cả giác quan và thiên
nhiên- còn thế giới „bên ngoài” là thế giới vật chất nặng nề thô thiển nằm trái
ngược với Atman.
Từ sự phân biệt này của truyền
thống tất nhiên điều tiếp theo là thế giới linh hồn-tinh thần không chỉ là đầu
tiên, trước nhất, cơ bản mà còn là thế giới của ánh sáng, của thượng đế, của
cái TÔI thượng đế của tạo hóa cổ.
Và từ đó tất nhiên điều tiếp
theo là quan điểm và thấu giác cơ bản đầu tiên của con người hướng „vào trong”
và ở”bên trong”. Việc quay ra bên ngoài trùng với sự”phạm tội”, với quá trình vật
chất hóa, quá trình rớt từ thế giới tinh thần.
Quay ra ngoài, con người rất
muộn mằn mới bắt đầu nhận ra, và nhận thức này bắt đầu xuất hiện trong sự tiếp
nối của ức chế tai hại ngăn cản nhận thức quay „vào trong”. Khi linh hồn con
người bắt đầu nhìn ra ngoài, thực ra lúc đó nó nhìn ngược với hướng của tinh thần:
nó quay về phía tự nhiên vật chất, về thế giới thô thiển và nặng nề- về phía tối
tăm.
Đến đây cần nhắc lại, không
chỉ là vấn đề nhận thức.
Cần hiểu từ nhận thức đầu
tiên, nhận thức cổ truyền thống muốn nói đến trạng thái cổ, sự yên bình êm ả, đến
thiên đường, đến sự thống nhất giữa tình thương và sự hiểu biết, đến Adam
Kadmon, chúa tể chói lòa của thế giới.
Khi con người quay ra ngoài,
bản chất này của nó là kết quả của sự tăm tối hóa; Sự lu mờ, mơ hồ bên trong xuất
hiện trong quá trình quay ra ngoài: linh hồn đánh mất ánh sáng của chính nó, trở
nên tăm tối, và sự sờ soạng trong bóng tối này được đặt tên là nhận thức” bên
ngoài”.
Quay ra ngoài không là gì
khác ngoài việc mất ánh sáng bên trong; mất ánh sáng bên trong không là gì khác
ngoài việc tách xa Người Trời.
”Nhận thức của con người thiếu
ánh sáng thượng đế không thấy gì khác ngoài những sự vật của thế giới bên
ngoài, và nó càng tách biệt với sự cao cả bao nhiêu nhận thức và thấu giác của
nó quay về bản thân càng bị khóa lại bấy nhiêu.”
Bởi vậy”cái bên ngoài” không
phải là linh hồn, là thiên nhiên, là vật chất, là hiện thực, mà cái bên ngoài
chính là: bóng tối.
Ở Tây Tạng người ta gọi biên
giới giữa ánh sáng bên ngoài và bên trong là csösznjid-maba. Ánh sáng bên
ngoài không là gì khác ngoài là hình ảnh tượng trưng bên trong. Nếu mối quan hệ
của con người đứt đoạn với thế giới bên trong, thế giới bên ngoài của nó rơi
vào tăm tối. Mối quan hệ này mất đi nếu con người cắt đứt với ánh sáng thượng đế
và dẫn dắt con đường của mình đi ra bên ngoài.
Dấu hiệu của điều này là kỷ
niệm cội rễ của thượng đế trong nó đã tắt. Cái TÔI chiếm lĩnh sự thống trị nó.
Đây là sự lặp lại của tội tổ tông. Đây là sự kiêu ngạo. „ Kẻ nào kiêu ngạo kẻ
đó để Quyền lực cắt đứt con người khỏi gốc rễ của nó”. Và khi con người cắt đứt
chính nó, nó yếu ớt rơi rụng.
Cái tên Aton ở Ai cập nghĩa
là: Mặt trời Bên Trong. Cái tên Szét nghĩa là: bóng tối bên ngoài. Ý nghĩa của
truyền thuyết Oziris: kẻ nào quay ra phía ngoài kẻ đó bị bóng tối giết chết.
Những người theo trường phái
Hermetikus hiểu biết về những đêm nhỏ và lớn. Đêm nhỏ là nơi từ đó con người
sinh ra, nhỏ bởi nó mang khả năng bước ra: được sinh ra. Còn đêm lớn là nơi đời
sống của nó sẽ rơi vào sau cái chết của một linh hồn sống vô nghĩa.
Đây là bóng tối bên
ngoài, khi đứt đoạn với cái bên trong, nghĩa là đứt đoạn với thế giới bên kia,
với trạng thái cổ. Linh hồn cũng biến thành cái bên ngoài: thành đồ vật, sự vật
và trở thành kẻ như những người theo phái Scientifista nói: thành phản xạ,
thành bộ máy. Thành bóng ma.
”Một dạng của nhận thức,
không bước qua khỏi những giác quan động vật, một sự sống người bị cách mạng
hóa: tuột dốc…Loại người này là sự tha hóa trầm trọng nhất của tri thức.” Con
người hoàn toàn sống trong „những hình ảnh của sự tối tăm riêng biệt của nó”.
Không bao giờ còn mang tính thượng đế nữa, chỉ là cái TÔI hung tợn.
Ở Iran Ahriman là
vương quốc của sự tối tăm tạo dựng thế giới Mâu thuẫn tối tăm đối nghịch với thế
giới ánh sáng. Cư dân ở thế giới này là Drug- drug có nghĩa là” người
khác” một kẻ” không phải kẻ đó”.
Sự tối tăm không là gì khác
ngoài” Sự vô công rồi nghề vũ lực”- luôn luôn nỗ lực để những hoạt động của con
người chết cứng lại giữa những hạn chế không được giải tỏa.
Sự tăm tối bên ngoài là vị
trí cuối cùng của con đường của con người. Khi” nhận thức tăm tối cho rằng thế
giới bên ngoài là hiện thực duy nhất.” và nó sống trong sự tăm tối
bên ngoài.
Vị trí của con người lịch sử
đang ở tận cùng, bởi nó khiến sự tăm tối bên ngoài này trở thành phổ biến.” Bởi
con người bên ngoài đang bị tiêu diệt, trong khi con người bên trong đổi mới và
phục sinh”
Kẻ nào đặt bản chất của mình
vào thế giới bên ngoài, là đặt mình vào sự tăm tối của cái chết và sự quên
lãng. Cái bên ngoài tăm tối nghĩa là như vậy.
6. Bến đỗ thứ sáu: Sự giải
phóng.
Sự giải phóng dành cho tất cả
mọi người, những ai thức tỉnh từ sự quên lãng vật chất, đây là một bí ẩn mở.
Bởi vì con đường quay lại
Người Trời này không đồng nhất với con đường của sự đứt đoạn với con người vũ
trụ; và linh hồn, khi quay lại một cách đã được giải phóng, không quay lại vị
trí cũ.
Con đường của sự giải phóng
cũng tương tự như con đường của sự đứt đoạn, nhưng lại không đồng nhất; linh hồn,
khi quay lại đúng vị trí gốc rễ của nó, đúng vị trí đó nhưng đồng thời không phải
vị trí đó.
Đây là sự huyền diệu mà ý
nghĩa của nó là: linh hồn là vị vương trẻ tuổi được vua cha già nua gửi vào trần
thế để học hỏi, và khi vương tử trẻ tuổi này học xong trường học trần thế, quay
trở lại đảm nhận ngai vàng của mình (kinh Veda). Tất nhiên đây là hình ảnh tượng
trưng.
Sự giải phóng, sau khi đã thức
tỉnh là sự cập bến đến đích; nhưng cùng lúc dường như không có gì xảy ra, chỉ
vì những ảo ảnh riêng tư đã làm đui mù linh hồn, và mang lại những giấc mộng:
thế gian, cái TÔI,nhân loại,đời sống, lịch sử, sự ra đời, tình yêu, bệnh tật,
cái chết- nhưng khi những hình ảnh mộng này tan biến, linh hồn được giải phóng
khỏi sự quyến rũ của những hình ảnh in dấu ấn và ngây ngất này.
Sự giải phóng là một bí ẩn
huyền diệu trong đó ẩn dấu và tồn tại bí mật này:con người từ đâu và cái gì được
giải phóng, và kết quả của sự giải phóng này là gì.
Cần phải gọi là sự giải
phóng bởi vì: giải phóng khỏi thân xác, nhà tù của linh hồn phải sống một đời sống
sợ hãi và đau khổ trong thế gian vật chất; giải phóng khỏi những ảo ảnh mà sự đờ
đẫn cứ tưởng đấy là hiện thực.
Sự giải phóng là bến đỗ cuối
cùng của các biến thái linh hồn con người: nếu con người biết sử dụng đúng đắn
sự thức tỉnh của mình, sẽ không bị chìm đắm vào bóng tối bên ngoài- sẽ được giải
phóng.
Mục đích: Trở lại thành con
người Thượng đế, Người Trời- là Atman- là linh hồn cổ. Con đường: Sự nhập định.









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét