Bùi Giáng là một nhà thơ
thiên tài sử dụng ngôn ngữ sức huyền ảo thượng thừa trong vườn thi ca hiện đại
Việt Nam.
Tôi được nghe nhiều người
truyền tụng ngợi ca Trung niên thi sĩ từ lâu lắm rồi, dần dần tôi làm quen tìm
đọc thơ của bác, lúc còn làm chú tiểu ở chùa Tường Vân-Huế. Cuối năm 1978
có dịp sắp xếp lại tủ sách của thầy bổn sư, bỗng dưng tôi bắt gặp được tập thơ
Mưa Nguồn của Bùi Giáng, liền giở ra xem, đọc đi đọc lại chỉ cảm nhận thôi, cho
dù không hiểu, không bình giải nỗi một chữ một câu trong thơ, tôi ngưỡng mộ bác
dù chưa một lần gặp gỡ. Thơ của bác tươi mát tràn ngập tâm hồn tôi từ dạo
ấy, cho đến hôm nay (2002) đúng 24 năm trời tôi vẫn trân trọng giữ gìn tập thơ
như một vật gia bảo quý hiếm!
Thời gian cứ vùn vụt trôi,
tôi lớn lên ôm ấp một hoài bão vào đất Saigon có điều kiện thuận duyên tiếp tục
học hành đến nơi đến chốn, lúc đó đầu năm 1981, lần đầu tiên tôi đặt chân đến
thành phố hoa lệ này, được tá túc tại thiền viện Vạn Hạnh, tôi thiết nghĩ nơi
đây hội ngộ đủ thành phần trí thức trong xã hội, là cái nơi đào tạo biết bao hiền
tài cho đạo pháp và dân tộc.
Ngoài giờ công phu tu học,
tôi hòa đồng cùng đại chúng để “sản xuất tương chao” trong những năm này kinh tế
nhà chùa có phần eo hẹp phải tự lực cánh sinh “nhất nhựt bất tác, nhất nhựt bất
thực”. Vào một ngày đẹp trời, thoạt nhiên bỗng đâu đó bác Giáng xuất hiện
thật là kỳ tuyệt mọi người bàn tán theo cảm tính của riêng họ, còn tôi lấy làm
sung sướng như gặp được “cố tri” đón tiếp niềm nỡ chu đáo, lúc này ở Viện vào
giờ chỉ tịnh ban trưa, sợ làm động chúng dễ bị quở trách, nhưng tôi cũng dàn xếp
trật tự kỷ cương mọi diễn biến đều êm xuôi cả. Tôi chế trà pha nước mời
bác uống, thấy bác rất hiền hòa, đôi mắt sáng ngời như Ðạt Ma sư tổ, áo quần
thì xốc xếch, giọng nói tiếng Quảng Nam đặc sệt, có lẽ bác nghe âm thanh của
tôi, bác cũng đoán biết là người đồng hương, bác viết tặng tôi hai câu thơ:
Ngõ về em có nhớ không
Bóng vang đầu nước hình lồng
cuối hoa.
(BG)
Và tiếp theo là bài thơ tặng
Tấn Huệ đi tu
Ði tu tu hú ở chùa
Tuyệt trù ở tận cuối mùa
lang thang
Một giờ phố thị mênh mang
Chanh hồng quít lục thu dàn
loạn ly
Mắt xanh hình thể trụ trì
Thường văn nhứt nhạn báo kỳ
lai thu
Ðường qua ngôn ngữ tuyệt trù
Mừng xuân viễn vọng đêm bù
cho đêm
Sau một giờ chỉ tịnh chuông
thiền viện báo thức tôi, cũng xin tạm biệt chia tay một cuộc hội ngộ đầy hứng
thú, đầy ấn tượng đối với bác, để tiếp tục công tác chấp lao phục dịch cho tròn
bổn phận của mình, nhưng vẫn dõi mắt trong theo hình bóng dáng đi thơ mộng đó,
nào gậy gộc túi đãy đeo quẩy luộm thuộm đầy người, bác lên đường làm kẻ rong
chơi từ hỗn độn. Nhiều người cho bác là nhà thơ “Ðiên” mà âu chăng bác
cũng cà rỡn thú thật như vậy:
Bây giờ tôi dạy tôi điên
Chấp tay tôi lạy cả miền Hà
Thanh.
(BG)
Tại sao nói bác Giáng
điên? Ðiên sao mà có lý trí viết thơ, dịch thuật, lý luận hay tuyệt vậy!
Tôi cho rằng có thể bác học nhiều, đọc sách thánh hiền Ðông Tây Kim Cổ cũng bộn,
tồn lưu trong tâm khảm nỗi bức xúc tư tưởng gây xung đột dễ trở thành người “dại
chữ”? Nhưng không, ở đây bác Giáng hiện xuất nguồn năng lượng dồi dào
sung mãn đặc sắc khác thường rất mực tài hoa!
Nhà thơ sống hồn nhiên thơ mộng
như trẻ nhỏ vui đùa giỡn cợt miệng lảm nhảm, có khi nói tục lộng ngôn hí ngữ
trêu ghẹo thật vi vu logích rất dễ thương: “H.T Minh Châu thương yêu sư cô Trí
Hải đẻ ra Bùi Giáng”, nếu Hòa Thượng có nghe được cũng ôm bụng cười khì.
Thế ra thi sĩ trung niên
Là thằng bê bối quàng xiên
trêu người
(BG – Thích Minh Châu Ca)
Ngưỡng kính thần tượng, tôn
thờ hình bóng “Sư cô”, cái đẹp chân thiện mỹ lồng lộng vượt trên những đam mê
chi phối đời thường, nhà thơ mơ màng gọi Phùng Khánh là Mẫu thân.
Ra sông nằm ngũ rập rình
Mẫu thân Phùng Khánh đẻ mình
ra sao.
(Sa mạc trường ca)
Trong quyển thi ca Tư Tưởng,
bác Giáng viết rằng: “Huống nữa là trong cõi thơ mộng chiêm bao tại bình diện
thi nhạc phiêu bồng, Phùng Khánh đích nhiên là mẹ của tôi nốt. Tôi vốn là
Trung niên thi sĩ. Ai có ngờ rằng những bài thơ bất tử tôi làm ra là do
Phùng Khánh cả đấy. Mỗi phen tôi mơ màng nghĩ tới dung nghi diễm lệ Phùng
Khánh thì dòng thơ bát ngát lại tuông ra ào ào. Vậy thì hiển nhiên như
nhiên thiên tài của tôi là do liên tồn Phùng Khánh đẻ ra vậy. Tôi suy gẫm suốt
bao năm trời nhận ra sự tình cố kỳ nhiên đó, mới dám mạo muội mạnh bạo gọi
Phùng Khánh bằng một tiếng Mẫu thân. Há đâu phải bốc đồng mà gọi bướng?”
Nhiều khi Thi sĩ đi ngang về
dọc xuống đường làm “cảnh sát giao thông” sau một vài giờ điều khiển cộ xe mệt
nhọc lão cái bang ung dung tự tại ghé lại Vạn Hạnh xin tiền, được Sư cô Trí Hải
(mẫu thân Phùng Khánh) nhiều lần an ủi vỗ về.
Mẹ về bảo nhỏ con thôi
Ðừng đeo đai nghiệp suốt đời
lầm than
Thơ là thẩn vậy tro than
Tàn canh con chết trên tàn mộng
kia.
(BG – Thích Phùng Khánh Ca)
Nhưng đâu cũng vào đó, rồi
thì:
Chạy quanh khu vực thần
tiên
Mỏi chân mười ngón kết liên
bốn mùa
Vườn cây trái ngọt trái
chua.
Mù sương hấp dẫn về chùa ngủ
quên
(BG)
Ngủ quên, một giấc ngủ, hiền
lành và an lành không mộng mị, một giấc ngủ thánh thiện, nằm thanh thiên bạch
nhật ở trước hiên chùa thẳng cẳng ngáy kho kho.
Thế mà...lại cũng...
Nửa đêm Bồ tát đề huề
Ði tu một trận còn mê khuynh
thành
(Sa mạc phát tiết)
Năm 1988 tôi tá túc chùa
Pháp Vân_Bình Thạnh gần đường Lê Quang Ðịnh để học khoa ngữ văn trường Ðại học
Tổng hợp, nhà Bùi Giáng cũng ở gần đó, tôi thường qua lại thăm bác luôn, bác
cũng vậy ghé đến chùa là viết thơ tặng cho tôi và thầy Nguyên Tạng, ngoài ra
bác nhờ cất dùm tờ khai sơ yếu lý lịch nữa chứ, tôi và bác có chụp chung một tấm
hình vẫn còn lưu giữ kỷ niệm.
Mãi cho đến ngày 5-7-1996
tôi cùng nhà thơ Nguyễn Ðức tác giả tập Thế Tôn Ca (gồm 4000 câu thơ lục bát)
chưa có điều kiện xuất bản, đến thăm bác giống như mọi khi, bác nằm trên võng
đu đưa xem dăm ba cuốn sách, với cặp mắt kiếng cộm dày, gãy gọng được bó cột
vài sợi dây nilon, thân thể bác tiều tụy vì nắng táp mưa sa cũng mặt kệ cho đời,
nhưng tâm hồn và trí tuệ thì quá ư là siêu việt.
Ngồi quây quần bên nhau, bác
trao đổi với anh em cõi văn nghệ, rồi bác xin tiền để uống rượu nhâm nhi, tôi
hoan hỷ biếu tặng, bác ứng khẩu thành thơ cầm bút viết ngay một mạch.
Bài thơ kính tặng đại ca
Ðinh-Hồi-Tấn-Tuệ-Tưởng là
muôn năm.
Bác ha hả cười reo huở tay
múa chân lăn từ trên võng xuống đất, tôi và Nguyễn Ðức cũng rộn rã vui
theo. Sau đó bác cho anh em chúng tôi hai tập thơ, bác đề tặng “Xin kính
tặng nhị vị đại ca hai tập thơ Rông Rêu khốn nạn của Trẫm” (BG) ký. Tôi lấy
làm sung sướng được bác quan tâm chiếu cố hỏi thăm nơi ăn chốn ở, tôi trả lời
sau một thời gian vắng bóng ở Sài Gòn, về ở một thị trấn nhỏ ven biển Hàm Tân,
chọn mảnh đất bên cầu suối Ðó dựng một thảo am gọi là chùa Ðây, để tập tành làm
thơ, đọc sách cho vui “Bay về hàm dưỡng công phu” (Thơ - Nguyễn Ðức) và cũng sắp
ra Hà Nội tham quan viếng cảnh chùa, ghé thăm một số bạn bè văn nghệ, đến vấn
an các cụ lão thành thi nhân tiền chiến! Nói đến đây bác Giáng rất hân
hoan mở to đôi mắt miệng nhanh nhẩu nói rằng: “À thầy đi cho tôi gởi tập thơ để
kính tặng nhà thơ Huy Cận”, tôi vui vẻ nhận lời, nhưng rồi cứ nhởn nhơ rong ruổi
phố thị la cà đến lúc cạn túi cháy da, phải chờ đến tháng 3-1997 mới đi được,
nhân dịp này ghé lại trụ xứ Liên Hiệp Các Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam ở 51
Trần Hưng Ðạo – Hà Nội, trực tiếp xin diện kiện gặp bác Huy Cận và trao lại tập
thơ Rong Rêu bác Giáng gởi tặng, bác Huy Cận tiếp đón tôi nồng hậu chuyện trò
thân mật chí tình, bác lấy giấy viết bài thơ nhỏ 4 câu bỏ vào phong bì và ghi:
“Kính gởi anh Bùi Giáng” (xin nhờ thầy Thích Tấn Tuệ đưa tận tay – cảm ơn –
H.C)
Sau khi chia tay bác Huy Cận,
tôi và nhà thơ Dương Hùng ghé thăm bác Tế Hanh, bác nữ sĩ Ngân Giang, bác Trinh
Ðường trước khi về lại Hải Phòng. Có một điều tôi băn khoăn áy náy trái ý
sai lời với bác Huy Cận không trao thư “tận tay” cho bác Giáng vì tôi còn ở lại
miền Bắc cho tới tháng 6-1997 mới về lại trong Nam. Nên chi tôi photocopy
gấp gởi ngay bản phụ vào cho anh Nguyễn Ðăng Trình kịp đăng tải trên tạp chí Thời
Văn, lúc đó bác Bùi Giáng bất ngờ đọc bài thơ của bác Huy Cận gởi tặng trên
trang sách mới in, sẽ hài lòng và cảm động xiết bao!
Ðặc san chuyên đề về Thi sĩ
Bùi Giáng dịp này tôi cảm tác bài thơ: Rong chơi giữa đôi bờ mộng thực, phát họa
sơ thảo vài nét chân dung Trung niên thi sĩ, lại được đăng chung cùng hội cùng
thuyền.
Cuộc đời và sự nghiệp văn học
của nhà thơ Bùi Giáng, chúng ta không thể dùng ngôn ngữ để lột tả hết được cái
“bất khả tư nghì” đó, chỉ mạo muội lấy vài giọt nước của biển cả đại dương mà
nhấm thử, thì làm sao cho thắm thía tận cùng xương xẩu máu me. Chỉ gởi đến
chút tình trong biết bao giai thoại, chia nhớ sớt nhung cho một nhóm anh em văn
nghệ yêu quý thi sĩ Bùi Giáng.
Ngày bác từ giã cõi đời, tôi
thật bùi ngùi thương tiếc, không đến được để thắp một nén nhang đưa tiễn, xin
hương linh bác niệm tình thứ cho, mong duyên lành “ngàn thu rớt hột” nhà thơ
hãy tái lai hội nhập cõi ta bà, để múa ca vi vút giữa trần gian thánh thiện này
Suối Ðó – chùa Ðây 20-9-2002
Ðinh Hồi Tưởng





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét