Tạ Tỵ – Tranh Trịnh Cung
Sáng hôm sau, chúng tôi
trình diện văn phòng tiểu đoàn. Tôi cũng không quên đem lá thư của đại
úy Giai gửi thiếu tá Nguyễn Khánh. Trong khoảng thời gian 1953, cấp thiếu
tá lớn lắm, (…) nên quyền hành tiểu đoàn trưởng rất rộng. Tiểu đoàn 13 lo bảo
vệ tỉnh Cần Thơ với 4 đại đội.
Chánh văn phòng thiếu tá
Khánh là trung úy Huỳnh văn Tồn (sau là đại tá, tỉnh trưởng
Gia Định), bảo chúng tôi về câu lạc bộ nghỉ ngơi, chờ quyết định của tiểu đoàn
trưởng. Vài hôm sau, tôi được trung úy Tồn mới đến văn phòng,
cho biết, thiếu tá muốn giữ tôi ở lại Bộ chỉ huy, để thay thế ông
ta làm chánh văn phòng cho thiếu tá Khánh.
Trung úy Tồn không
cho biết lý do, vì sao có sự tình đó. Tôi trả lời ngay, tôi không thích
làm văn phòng, xin đi chiến đấu. Sở dĩ tôi có quyết định nhanh
vậy, vì tôi được 1 sĩ quan ở tiểu đoàn ,trong giờ ăn tối đã
cho tôi biết về chuyện này. Theo sĩ quan đó,
trung úy Tồn muốn rời chức vụ, làm chánh văn phòng không có quyền lợi gì
hết, kể cả việc thăng cấp khó khăn- hơn nữa, lại phải tổ chức nhẩy đầm,
tiệc tùng và mời những cô gái đẹp trong tỉnh đến vui chơi cùng thiếu
tá tiểu đoàn trưởng. Giờ làm việc bắt buộc nghiêm chỉnh, nhiều khi
còn phải ở lại đến 9, 10 giờ tới mới được về. Tôi
cũng không hiểu vì sao, bạn sĩ quan kia, chưa quen biết bao giờ, lại khuyên
tôi vậy. Anh khuyên tôi đừng nhận, thà đi chiến đấu
khoái hơn. Lúc nào “uýnh” trận xong, có quyền lè-phè,
không ai động tới mình. Còn làm nghề chánh văn phòng, tuy chữ ”thọ” vững đấy, nhưng làm hèn con người. Tôi suy nghĩ thấy đúng,
nên trả lời nhanh vậy. Trung úy Tồn ghe xong, bào tôi
trở lại Câu lạc bộ chờ lệnh. Hai đứa long nhong cả tuần, sau cũng biết, cả 2 đều được bổ sung
cho Đại độ 4 ở quận Phụng Hiệp.
Đại đội 4 cho xe Jeep lên
tiểu đoàn đón chúng tôi, vào buổi trưa 1 ngày đầu tuần lễ thứ 2, kể từ
ngày có mặt tại Cần Thơ. Quận Phụng Hiệp cách Cần Thơ khoảng 50 cây số,
tài xế lái xe là người việt gốc Miên .Khẩu Carbine M2 gài
vào thành xe, với băng đạn gắn ngược đầu, nối liền bằng 1 miếng vải
nhựa. Về sau, khi đi trận, khẩu súng của tôi cũng có 2
băng đạn đen như vậy, nó tiện cho việc sử dụng khi cần
kíp. Tài xế đứng nghiêm chào, mời chúng tôi lên xe. Riệu
nhường tôi ngồi phía trước, chiếc xe lướt nhanh trên mặt lộ.
Phong cảnh 2 bên cũng chỉ là ruộng lúa, đôi chỗ có nhà cửa chạy dọc
theo con kinh đào. Suốt đường, chúng tôi im lặng, không ai nói chuyện với ai
Chiếc xe đang ngon trớn,
bỗng từ từ hạ tốc độ, chạy thêm quãng nữa, tôi nhìn thấy 1 chiếc cầu. Tài xế quẹo tay mặt vào con đường đá, ngay sát bờ sông, rồi băng
qua 1 dãy phố nghèo nàn, tôi nhìn thấy tấm bảng xanh, chữ trắng; QUẬN
PHỤNG HIỆP. Nhưng xe không dừng tại quận, mà chạy 1 đoạn đường
nữa, Tôi nhìn thấy 1 doanh trại, với những vòng kẽm gai với bao quát
quây kín. Ngay cổng trại có đặt những con ngựa
gai và vọng gác: chiếc cổng khá lớn có tấm bảng gỗ sơn màu
vàng, kẻ chữ đỏ: TIỂU ĐOÀN 13, ĐẠI ĐỘI 4 và
hình chiếc đầu trâu giống hệt Bộ chỉ huy tiểu đoàn vậy. Anh lính
gác cổng kéo cây cản. Chiếc Jeep lái ngoằn ngoèo, rồi
chạy vào doanh trại, đưa chúng tôi đến gặp Đại đội trưởng trình diện. Đại đội trưởng mang cấp bậc trung úy, người miền Nam, đứng chờ chúng
tôi ở bực thềm, rồi sau mời vào văn phòng.
Đây là căn nhà ngói duy nhất
doanh trại. Xung quanh toàn nhà vách nứa, mái lợp lá dừa. Sau mấy câu xã giao kiểu nhà binh, đại đội trưởng cho người dẫn chúng
tôi đến nơi ở. Căn buồng dành cho chúng tôi chẳng rộng bao
nhiêu, kê vừa đủ 2 chiếc ghế bố, 1 chiếc bàn viết. Túi quân trang
phải tím cách máng vào cây cột nơi góc nhà. Cuộc đời binh nghiệp
bắt đầu.
Hôm sau, chúng tôi đi lãnh
súng, mỗi ngưởi 1 cây Colt 45 và 1 khẩuCarbine. cây Colt tượng trưng cho sĩ quan chỉ huy, còn cây Carbine để
chiến đấu khi lâm trận. Mỗi người còn được quyền có 1
“ tà-loọc” để lo việc cơm, nước, giặt giũ, sai bảo v. v. ..
Riệu nắm Trung đội 1,
còn tôi Trung đội 2. Khi chưa có chúng tôi, 2 trung đội này do 2
thượng sĩ điều khiển. Đại đội tuy có 4 trung đội, nhưng chỉ
có 3 trung đội thực sự chiến đấu, còn 1 chuyên canh gác, làm tạp dịch doanh
trại. Trung đội trưởng thường vụ này vẫn do 1 thượng sĩ làm trung
đội trưởng. Khi chưa có chúng tôi, đại đội chì có 1 trung
úy đại đội trưởng là sĩ quan, còn hầu hết là cấp hạ sĩ
quan. Nay tất cả có 3 si quan- chỉ
có một trung úy đại đội trưởng quen chiến trận; còn 2 chúng tôi mới
ra trường, chưa biết trận mạc, nên chức vụ trung đội phó đều do các hạ sĩ
quan ở lâu trong quân ngũ phụ giúp, vì họ có kinh nghiệm chiến đấu.
Nhưng tôi cũng không ở đơn vị này lâu, dù tôi cũng đi hành quân khoảng 20 lần, khắp tỉnh Cần
Thơ. Có những cuộc hành quân liên tỉnh, phải lội sình cả tuần, nên đã biết thế nào là muỗi ở miệt Hậu Gang- quần áo treillis đầy
như vậy, mà vòi muỗi sắc như kim xuyên qua như không. Tối, trâu ngủ phải
buông mùng, nếu không, muỗi đốt, trâu cũng chết, nói gì tới con người! Tôi đã
biết thế nào là chiến tranh, biết máu đổ, và những giọt nước mắt, cùng tiếng
gào thét thảm thiết! Cảnh bắn giết này đâu phải do người Quốc gia chủ xướng,
mà do hoàn cảnh không may của đất nước đẩy đưa.
Một buổi, sau buổi hành
quân, thân xác còn mệt mỏi; tôi nhận được lệnh Tiểu đoàn bộ buộc
trình diện gấp. Hôm sau, chiếc xe Jeep của đại đội đưa
tôi lên Cần Thơ, với túi quân trang như khi xuống, sau khi đã trả lại súng ống,
giao lại cho trung đội cho một thượng sĩ gốc Miên. Có thể
nói, đến 70% lính của Đại đội 4 thuộc diện này. Tôi biết, tôi đã
có lịnh thuyên chuyển về Sài Gòn, trong lòng nửa vui, nửa luyến nhớ
trung đội đã cùng mình sống, chết trong mấy tháng qua. Con
đường từ Phụng Hiệp lên Cần Thơ, hoặc ngược lại, trong thời gian chiến
tranh, thường bị Việt Cộng đặt mìn, bắn xẻ ở khúc quẹo gắt, nơi toàn cỏ
lát mọc quá đầu người. Do vậy, mỗi sáng sớm, có 1 toán chuyên môn đi dò
mìn, khi biết chắc con đường an toàn mới thông báo cho đơn vi đóng quân biết
để di chuyển cho an toàn. Thường ra, muốn an toàn, nên
đi sau 9 giờ sáng.
Nhưng buổi sáng hôm đó,
tôi nôn nóng, không đợi chờ được, nên giục tài xế lên đường sớm, tài xế cười
cười, nhe bộ răng vàng chóe:
-Ủa, thiếu úy không sợ sao ?
Hỏi lại:
- Cậu có nhát không? Lính chiến hỏi vậy, nghe đâu được? Tôi lái mà !
Tôi ngồi lên xe, đề máy, còn tài xế ngồi ghế bên, tay ôm khẩu Carbine M2. Đại đội trưởng cùng Riệu và vài anh em khác chúc tôi lên đường may mắn, nhớ
là đừng quên anh em! Cảm ơn, cho xe chạy từ từ tiến ra cổng trại. Tôi muốn nhìn lại cái quận này lần cuối, nên lại vòng xung quanh chợ, gần
đó có 1 tiệm bán cơm, hủ tiếu Ba Tàu, nơi tôi vẫn thường ăn, sau lần hành
quân mệt mỏi, vì lội sình và bị muỗi đốt. Quận lỵ này rất
hiền hoà, mọi người đều quen thuộc với lính Đại đội 4. Khi ra trận,
họ có thể làm ẩu, nhưng trong quận thì không. Do vậy, tình quân
dân rất đậm đà.
Sau khi lái 1 vòng, tôi
cho xe chạy thẳng ra đường cái, nhấn lút ga, chiêc xe lao vùn vụt, dưới ánh nắng
sớm mai chưa tan sương mù. Sỡ dĩ lái nhanh, chính để giữ an toàn sinh mạng,
như xe bị cán mìn, với tôc độ cao, sự thiệt hại, nếu có, không đáng kể. Còn chuyện bắn sẻ cũng không lo, trừ phi kẻ bắn là tay thiện xạ,
bách phát, bách trúng! Cái đó hơi khó đấy, đồi với tay du kích
thỉnh thoảng mới bắn 1 viên đạn, xong, giấu súng chạy trốn! Tôi
cố giữ nguyên tốc độ cao, nên từ Phụng Hiệp tới Cần Thơ mất 1 tiếng đồng hồ,
nếu đi trung bình, phải mất 1 tiếng rưỡi; vì có nhiều đoạn đường bị lồi
lõm, do sự phá hoại của địch.
Tôi quyết
định chưa vào Bộ chỉ huy vội, kéo tài xế vô 1 quán ăn bữa no nê, thỏa thích. Xong, 2 thầy trò mơi quay về tiểu đoàn. Tài xế mang giùm túi quân
trang vào Câu lạc bộ, anh nghiêm chào tôi, trước khi lên ghế
lái. Từ đó, tôi và Đại đội 4 không còn gì liên hệ.
Viên quản lý câu lạc bộ đưa tôi lên lầu, lại đến cái phòng ngủ lần trước. Để túi quân trang đưới ghế bố, qua Bộ Chỉ huy trinh diện.
Trung úy Tồn cho biết, tôi
được thuyên chuyển về Sài Gòn, theo lệnh Bộ Tổng tham mưu. Sự vụ lệnh
và giấy tờ thuyên chuyển của tôi còn nằm trên bàn thiếu tá Khánh- chờ ký
xong- sẽ chuyển cho thiếu úy. Về phương tiện thì tiểu đoàn lo, khi nào
có, sẽ báo. Tôi ngồi chờ tới gần trưa, giấy tờ mới đến tay.
Như vậy, lại có quyền
đi chơi và ăn cơm ở Câu lạc bộ, đi chơi phố Cần
Thơ rồi. Nói cho đúng, ở Cần Thơ, tôi chẳng quen
ai, đi mãi cũng chán. Các cô gái đẹp Tây Đô kiếm
hoài mà vẫn chưa gặp, nều gặp, chỉ nhìn, ngắm xuông, làm gì có
hoàn cảnh để giăng lưới, dù khi ấy, tôi vừa tròn 30 tuổi. Đó
là tuổi huy hoàng nhất đời thanh niên!
Thành phố Cần Thơ nằm
bên dòng sông Bassac, trên bến, dưới thuyền sầm uất. bên kia là
vùng thuộc Hòa Hảo, do tướng Năm Lửa trấn giữ. Dạo ấy,
quân đội Quốc gia và Lực lượng Hòa Hảo không ưa nhau, nên các sĩ
quan từng ở lâu ở đây, khuyên tôi, không nên lớ ngớ
qua đó; nhỡ mang hoạ! Nhưng tôi cũng không ở lâu
tại nơi này, 2 ngày sau, có chuyến xe đi Sài Gòn công tác, cũng lại
xe Dodge. Lần này, tôi ngồi ghế trên, cạnh lái xe. Đằng
sau, chở một đống quân trang cũ và một trung sĩ.- lại
phải 2 lần qua” bắc” mất khá nhiều thời giờ, đến tận 2 giờ
chiếu mới tới Sài Gòn.
Tôi lại ghé nhà anh chị Độ
tá túc. Và đánh điện về Hànội, báo tin gấp cho
gia đình biết; việc tôi đã được thuyên chuyển, vì trong thời
gian ở Đại đội 4, tôi đã làm đơn xin nhà và phương
tiện cho vợ con vào Nam.
Tôi nghỉ ngơi 1 ngày,
rồi quần áo chỉnh tề tới Bộ Tổng tham mưu, Phòng 5 trình diện. Đại úy Phạm Xuân Giai niềm nở tiếp tôi, sau còn nghỉ vài ngày để thu xếp chỗ ở,
vì Câu lạc bộ sĩ quan, ngay sát Bộ Tổng tham mưu đã hết chỗ. Lúc
đó, sự thực, tôi chưa biết tính sao về chỗ ở – vì nhà anh chị Độ ở quá xa –
đi làm không tiện, mà lấy phương tiện đâu để đi? Do định mệnh an bài,,trong đầu tôi, bỗng nhớ tới anh bạn Nguyễn Doãn Chi, làm nghề nhà
in, ở hẻm 4 đường Nancy- cái địa chỉ này khi trước, chúng
tôi đã liên lạc với nhau qua thư. Khu Nancy gần
nơi làm việc của tôi. Ngay tối hôm đó, tôi tìm địa chỉ
của anh Chi để biết nhà anh, rồi sẽ tính sau.
Hẻm số 4 là một con lộ mới
làm, mỗi khi có xe hơi chạy qua, bụi tung mù mịt. Nếu đi từ
phía Sài Gòn xuống, quẹo tay mặt chừng hơn 100 thước, sẽ thấy
nó. Đây là 1 khu nghèo của thành phố Sài Gòn. Phần lớn nhà
bằng cây. Cái hẻm này còn có nhiều hẻm nhỏ bám vào nó. Mấy năm sau, con hẻm được tráng nhựa, và có tên PHAN VĂN TRỊ.
Nó thuộc vùng Chợ Lớn, chứ không thuộc Sài Gòn.
Khi tìm được nhà anh Chí,
sau những câu chuyện tầm phào, tôi nói với vợ chồng anh, về ý định của tôi,
muốn tá túc 1 thời gian, đi làm cho gần, khi nào vợ con tôi vào sẽ tính
sau.
Nguyễn Doãn Chí là
em họ của Nguyễn Doãn Vượng, tay này từng
là chủ nhiệm tạp chí TRUNG BẮC CHỦ NHẬT. Anh Chí là thợ nhà in, có 1 thới gian làm ở Nha thông tin Bắc Việt- sau
anh vào Sài Gòn, làm cho nhà in Đông Nam Á. Tuy không phải tay nghệ sĩ, nhưng anh có lòng mến yêu những ai là
nghệ sĩ. Anh có tật ở cánh tay trái, không bao giờ duỗi thẳng ra được,
nên anh em đặt cho biệt danh CHÍ KHÈO. Anh nghe mà không giận.
Khi nghe tôi trình bày xong,
vợ chồng anh Chí đều hoan hỉ, dù rằng nhà tuy chật chội; nhưng cố thu xếp,
tôi có 1 chỗ nằm thoải mái, ở ngay phòng khách, còn toàn gia đình ở buồng
trong + căn gác xép.
Tôi định sẽ đưa trả vợ chồng
anh mỗi tháng 500 đồng tiền ăn ở; nhưng anh chỉ lấy tiền ăn thôi, còn
chỗ ở, anh nói:
- Không có cậu, phòng khách có ai ngủ đâu? Kê cái đi-văng,
ai đến chơi càng có nhiều chỗ ngồi.
Mà đúng ra, anh Chí rất ít bạn bè.
Tôi bắt đầu làm việc ở
Phòng 5. Chỉ huy trực tiếp, trung úy Lê Đình Thạch, trưởng phòng báo
chí. Anh Thạch người miền trung, chuyên viết phóng sự thể thao, dưới
bút hiệu THẠCH LÊ..Trước kia, anh thuộc Vệ binh đoàn của thủ
hiến Phan Văn Giáo ở Huế. Dáng người thanh nhã, ít nói, làm việc với anh
vô cùng thoải mái. Anh vô Nam làm việc, do sự vận động giữa anh và đại
úy Phạm Xuân Giai, vì họ cùng quê.
Lúc ấy, Phòng 5 có 2 tờ
báo, một dành cho sĩ quan, một cho chiến sĩ. Tuy trưởng phòng báo
chí.
anh Thạch không viết 1 bài báo nào, dù đứng tên chủ
bút. Tất cà đều do THẨM THỆ HÀ chịu trách nhiệm
phần chuyên môn. Thẩm Thệ Hà, một nhà văn miền Nam, đồng
hoá cấp bậc thượng sĩ, hay trung sĩ gì đó – mà anh được cấp giấy phép đặc
biệt mặc thường phục, kể cả lúc lảm việc. Nội dung tờ báo, phần lớn, đều
dịch theo sách báo ngoại quốc, thơ văn ít thôi. Do vậy, công việc cũng
không khó khăn . nặng nhọc bao nhiêu. Hơn nữa, lại có sự đóng góp
các cây bút nhà bình, từ đơn vị gửi bài đăng.
Ngoài ra, chuẩn úy Tô
Kiều Ngân phụ trách viết bài cho cả 2 tờ báo. Chính thức,
còn có 1 số anh em nữa, tuy họ mang cấp bậc nhỏ; nhưng họ có khả năng, đóng
góp nhiều vào sự hình thành làm tờ báo lớn mạnh. Anh Thạch thường đi
công tác ở nước ngoài, ở nhà. ngồi bàn giấy, chỉ lấy chiếc nhíp ra nhổ râu,
chẳng trò chuyện với ai. Anh có tật mê cờ bạc, chiều nào, sau giờ
tan sở, anh vào khu Đại thế giới chơi trò đen, đỏ. Chả biết anh
chơi ra sao, chỉ biết thiếu nợ tùm lum, hầu như cả phòng đều là chủ nợ của
anh.
Nhà văn Thẩm Thệ Hà , con
người này cũng ít nói. Anh đeo bộ kính trắng dầy cộm, nước da
ngăm ngăm, khuôn mặt trái soan. Anh đến, đi như chiếc bóng. Tôi không thấy anh chơi với ai, ngoài bàn chuyện công việc. Hình
như, anh vào quân đội là lý do bất đắc dĩ – bộ quân phục, với anh, như
1 sự câu thúc- do vậy, sự có mặt của anh trong cơ cấu quân sự,
hình như bị lạc lõng. Nhưng đối với độc giả miền Nam, lúc ấy, tên
tuổi anh đã được kính trọng.
Còn Tô Kiều Ngân, tên thật Lê
Mộng Ngân, anh này có nhiều tài, nào viết, nào làm thơ, ngâm thơ, thổi
sáo, hát tân nhạc- da tài nên tài nào cũng ở mức trung bình- chính vì vậy, nên anh không có 1 công trình nghệ thuật nào nổi bật, để đưa anh vào 1 chiếu
ngồi xứng đáng như anh em khác.
Tôi cũng không quên, lúc đó còn có mặt trung sĩ Lưu Nghi,
người Hội An, cũng viết báo CHIẾN SĨ. Lưu Nghi có bộ mặt
choắt, miệng nhỏ – khi nói, 2 hàm răng viết lại, tài không bao nhiêu, lại có dáng
khinh bạc! Mấy năm sau, Lưu Nghi xin giải ngũ, làm cho Bộ Y tế,
rồi theo Cộng sản. Bị bắt, khai tùm lum, làm nhiều người bị vạ lây. Tên
này, theo đúng sách lược Cộng sản, nếu bị bắt, cứ người Quốc gia mà
khai. Hắn hoạt động ở ban Trí vận, vì quen
nhiều các nhà văn, nhà báo Sài Gòn. Sau 30-4-1975, tên Lưu Nghi đã viết
nhiều bài bêu xấu Quốc gia.
Cùng làm ở Phòng 5, còn
có ký giả Nguyễn Ang Ca, cũng mang cấp bậc trung sĩ, rồi thăng thượng
sĩ cho tới ngày giải ngũ. Nguyễn Ang Ca dáng mập mạp, nhanh nhẹn,
tháo vát, anh là ký giả, vừa viết báo quân đội, vừa viết báo dân sự. Anh người miền Nam, tính tình bộc trực trong công việc, anh không liên hệ nhiều
với tôi, như tôi và anh Lê Đình Thạch.
Sau còn Hà Thúc Cần,
tuy cấp nhỏ; nhưng có học vấn. Mấy năm sau, xin giải ngũ, làm nghề
điện ảnh và bây giờ sống tại Singapore.
Làm việc ở Phòng 5, còn có
thiếu tá Đàm Quang Thiện và đại úy Đái Đức Tuấn (nhà văn
TCHYA). Thiếu tá Thiện, tôi đã 1 lần nhìn thấy, trong buổi lễ mãn
khóa Thủ Đức; nhưng nhìn xa, không rõ mặt, nay có cơ hội gần, nên
mới biết rõ. Cả 2 người: Đàm Quang Thiện và Đái Đức Tuấn đều không làm việc
thường xuyên. Mỗi tuần, họ chỉ có mặt chừng vài buổi, muồn đi, đến giờ
nào tùy ý, có xe Jeep đưa đón. Họ là cố vấn cho đại úy Phạm
Xuân Giai, về phương diện chuyên môn, hơn là nhân viên thường. Thiếu tá Đàm Quang Thiện dáng người tầm thước, sắc da mai mái, khuôn mặt
luôn như ưu tư, trầm lắng- ngay cả lúc cười cũng có vẻ gượng gạo – không
hồn nhiên, thoải mái, như nụ cười đại úy Đái Đức Tuấn. Mỗi lần đến sở, cà 2 đều vào nói chuyện khá lâu với đại úy
Giai, sau đó ra ngồi bàn làm việc. Hai chiếc bàn thường để
trống, trên bàn không có giấy tờ chi cả. Thường ra, 2 vị đó
viết bằng tiếng Pháp – rồi đưa thẳng cho đại úy
Giai. Lúc đó, tôi chỉ biết, họ là nhân vật đặc biệt.
Tôi được Lê Đình Thạch giới thiệu tôi với cả 2 người. Dưới mắt họ, tôi chỉ là sĩ quan cấp nhỏ. trẻ, cả 2 chắc coi tôi như đứa
em, thường gọi bằng chú , hoặc tên, nhưng không
kêu cấp bậc.
Họ mến tôi ngay từ
buổi đầu. Đàm Quang Thiện ít nói, chứ TCHYA nói
cười hồn nhiên. Khi còn ở Hà Nội, tôi đã đọc nhiều truyện và
thơ của TCHYA, nhất là truyện THẦN HỔ, một truyện quái đản, với
“ma chành“ kinh dị. Thơ TCHYA hay, đối với tôi, thời
ấy:
… Gặp em
hôm ấy, em xinh thắm,
Em mỉm cười duyên mỉa thế gian
Bèo nổi, nước trôi, em vẫn trẻ
Cái già như sợ cái hồng nhan …
hoặc:
Nghệ sĩ trót sinh giầu cảm lụy
Dẫu
tàn thân thế khó quên nhau!
Thơ
của TCHYA đăng tải trên nhiều báo, chứ không viết riêng cho 1 tờ
báo nào. Nhưng cả 2, ngoài học vấn uyên bác, còn là đệ tử Phù
Dung Tiên Nữ. Tôi nghe anh em kể, Đàm Quang Thiện đang
học năm thứ 4 Trường Thuốc, thì bỏ ngang, vì chuyện riêng
tư gia đình. Khi đã quen thân, không bao giơ tôi đề cập chuyện
này, chỉ biết, anh là 1 con người có 1 trí nhớ siêu đẳng. Một
khi chữ nghĩa đã đi vào tiềm thức , hình như nó ở lì trong đó - để khi
cần- anh lấy ra dùng, như ta lấy đồ dùng trong ô ngăn kéo. Nói
theo kiểu hôm nay, trí nhớ anh Đàm Quang Thiện như cái đĩa software cùa
máy computer vậy. Ai cần biết điều gì, trong cuốn sách
nào, anh cho biết ngay nó ở trang bao nhiêu. Không biết trí nhớ
siêu đẳng của học giả Nguyễn Văn Tố ra sao, chứ trí nhớ
Đàm Quang Thiện thì tuyệt luân! Anh rất mê S. Freud và nghiên cứu về Phân tâm học. Anh viết và
dùng Phân tâm học để áp dụng vào tâm lý của Thúy Kiều, vì sao
mà bạc mệnh?
Cuốn sách này tuy mỏng,
nhưng anh phải để rất nhiều thời giờ cho nó. Có thể nói,
anh thuộc truyện Kiều và dẫn gỉải truyện Kiều, với những
điển tích mà không cần có cuốn Kiều trước mặt. Anh Thiện
nói tiếng Pháp rất giỏi, tuy giọng nói của anh không mấy hấp dẫn, nói lè nhè,
chậm rãi, như kể chuyện. Khi nói, đôi mắt anh lim dim, chứ không
mở to, như khối óc bị lôi cuốn vào câu chuyện đang nói.
Vào khoảng đầu 1954, Bộ Tổng
tham mưu còn rất nhiều sĩ quan Pháp, mọi giấy tờ đều phải viết bằng tiếng
pháp. Trong buổi nói chuyện về chiến tranh tâm lý, anh Đàm Quang Thiện
đã nói một hơi, mấy tiếng đồng hồ bằng tiếng pháp, trong tay không có 1 mảnh
giấy. Đại úy Phạm Xuân Giai thấy lâu quá, ra đấu để anh
ngưng, anh vẫn tiếp tục nói, cứ như không hay biết. Khi nào anh
muốn ngừng thì ngừng. Sau buổi thuyết trình, đại úy Giai ngỏ
ý trách, anh chỉ cười, rồi nói:
- Toa phải cho moa nói hết đã chứ, nếu cắt ngang, tụi
Pháp tưởng mình ngu!
Đại úy Giai cũng đành chịu. Tính tình anh Thiện rất tốt. Tôi chưa hề nghe thấy anh nặng lời với ai, dù người ấy có lầm lỗi. Gặp ai, dù thân hay sơ, anh cũng bày tỏ cảm tình, qua cái xiết tay, lời thăm
hỏi nồng nhiệt.
Còn đại úy Đái Đức
Tuấn (TCHYA) người dong dỏng, đầu tóc lúc
nào cũng chải chuốt gọn gàng. Anh có khuôn mặt trái soan, bộ ria
mép tỉa sén cẩn thận, nằm trên cặp môi dầy. Dáng dấp của anh nho
nhã. Anh nhiều tuổi hơn Vũ Hoàng Chương, nhưng giống Chương ở điểm: vừa giỏi tiếng pháp, cả chữ hán. Chữ viết TCHYA rất đẹp,
nhất là anh viết chữ hán, lối chữ thảo đẹp tựa bức
tranh thủy mặc. TCHYA luôn niềm nở tười cười, chứ
không kín đáo như Đàm Quang Thiện
Dạo ấy, chúng tôi làm việc cả chiều thứ bảy, sáng chủ nhật làm luôn – nhưng
những giờ chiều thứ bảy, sáng chủ nhật, thường ra chúng tôi có mặt ở Câu
lạc bộnhiều hơn ở bàn giấy.
Về rượu mạnh, anh Thiện
uống ít hơn, còn anh TCHYA uống được nhiều. Anh TCHYA
thường nói cho tôi biết, các loại rượu ngon pháp, cũng nhu tàu-
vì có 1 thời gian, anh làm cách mạng ở bên Tàu, do vậy anh biết nhiều
về các tỉnh phía nam Trung hoa. Anh đậu tú tài tây hồi còn
trẻ lắm, thi đỗ vào làm tham biện Nha học chính Đông
Dương. Tính tình phóng khoáng, thích văn chương, thi
phú,có địa vị, tiền bạc, nên rất đông bằng hữu. Có thể
nói hồi đó, anh giao du với hầu hết những người làm văn học ở miền
bắc, và xóm Dạ Lạc, cũng là nơi ăn, chốn ở
của anh hàng ngày.
Anh Đàm Quang Thiện ít
tâm sự với tôi; nhưng anh TCHYA trong giở rảnh rỗi, thường kể cho nghe
về cuộc đời luân lạc. Anh nó về danh lam thắng cảnh bên
Trung hoa, nơi đã đi qua, hoặc đã sống ngày lưu vong
nơi đất khách, quê người. Khi chưa nói được tiếng Tàu,
anh dùng lối bút đàm nói chuyện. Mãi 1 năm sau, anh mới
nói được tiếng Quan thoại. Kể từ ngày đó, đời
sống đỡ vất vả. Ở bên Tàu, anh làm đủ nghề, miễn có tiền
sống qua ngày. Có khi bị kẹt quá, làm cả chân rửa chén, bát cho tiệm ăn
nào đó, để có cơm ăn. Nhưng bao giờ, lúc kết
thúc câu chuyện, anh cho rằng chẳng đâu dễ sống bắng quê nhà.
“Nay, ngẫm lại thân phận tôi sau những năm dài sống nơi đất
khách, tuy nhìn được bao kỳ công người văn minh, nhiều cảnh đẹp hùng vĩ
tạo hóa – mà sao lòng vẫn cảm thấy bâng khuâng, tiếc nuối 1 cái gì đó- mà
mình không sao tìm thấy ở đất lạ, quê người; đó là sự ràng buộc
tâm hồn mình với cây tre, bụi chuối, đống rơm, đụn rạ, nhất là tiếng nói, câu
ru- đã nhập tâm trí mình từ lúc sơ sinh!”
Chính thực không phải chờ
đến ngày đi lính, làm việc ở Phòng 5 Bộ Tổng tham mưu, tôi mới biết anh
TCHYA, mà còn nhìn thấy anh, trong buổi chiều hè, anh thường mặc bộ quần áo
nâu may rộng rinh, theo lối cổ, tay cầm quạt thước, đi bách bộ trên vỉa hè phố
Huế (Hànội).
TCHYA lúc đó đối với
tôi, như cái gì quá xa vời, đến nỗi tưởng rằng, dù cho đi suốt đường đời,
cũng không chắc gì làm quen được. Tôi có nói chuyện này cho anh nghe,
anh TCHYA cười rất cởi mở:- Hồi đó, chú còn nhỏ, chưa có hoạt động gì về văn chương, nghệ thuật; nên
nghĩ như vậy là đúng. Nhứng khi chú đã bước chân vào khu
vườn cấm đó rồi; trước, hay sau; anh, em mình cũng có lúc gặp
nhau. Thản, hoặc, nếu vô duyên, không có cơ may làm bạn; thì:
”Cùng lận đận bên trời một
lứa cả! “
Nói cho đúng, trong
thời gian ấy, tôi chỉ kính trọng 2 người: ĐÀM QUANG THIỆN và ĐÁI
ĐỨC TUẤN, dù 2 người đều không giúp đỡ tôi gì về sự có mặt của tôi ở
Phòng 5 này; nhưng cả 2 đã dạy cho tôi biết, thế nào là tình bạn. Hai anh cùng ở chung 1 căn nhà, do quân đội cấp, vì lúc ấy Quân Đội Việt Nam
còn phụ thuộc vào Quân đội Pháp …
Tạ Tỵ
Nguồn: ThePhongblog
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét