Thi sĩ Phạm Thiên Thư quê Thái Bình, sinh năm
1940. Thuở nhỏ thường lêu lổng, rong chơi quanh trang trại Đá Trắng ở Hải Dương,
rồi đến năm 1954 lên đường di cư vào Nam, lưu trú tại Sài Gòn từ đó đến nay.
Đại học Vạn Hạnh là nơi
thi sĩ trưởng thành và cũng bắt đầu làm thơ từ đấy. Chảy trôi xanh biếc huyền
mộng là cõi thơ dạt dào bao tình cảm thiết tha qua những thi phẩm : Động hoa
vàng, Đoạn trường vô thanh, Quyên từ độ bỏ thôn Đoài, Trại hoa đỉnh đồi, Nhân
gian, Ngày xưa người tình, Đôi lời thược dược, Huyền ngôn xanh, Hát ru Việt sử
thi, Đạo ca và đặc biệt là những tác phẩm thi hóa kinh Phật như Kinh Ngọc, Kinh
Hiền, Kinh Hiếu, Kinh Thơ. Thơ và nhạc hòa âm cùng một suối nguồn lung linh
diệu ảo, vô cùng diễm tuyệt ngân nga :
Mười con nhạn trắng về
tha
Như Lai thường trụ trên
tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối
tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền
tuyết thơm
Đó là 4 câu thơ mở đầu
dẫn vào Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư, một thi phẩm thâm thúy, trữ tình chứa
chan đầy chất thi ca âm nhạc, là bản trường ca dài 400 câu lục bát, lãng đãng
nàng thơ diễm tuyệt, bước về trang nghiêm cho cuộc đời và cỏ hoa sông núi, rừng
biển thiên nhiên.
Đi vào cõi thơ Phạm Thiên
Thư là phiêu du lồng lộng những phương trời bồng bềnh chuếnh choáng, tràn đầy
cỏ hoa, chim bướm, sắc nước hương trời với nhiều quyến rũ thanh kỳ tú lệ. Đi từ
ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác với biết bao thú vị như lạc vào chốn nào
thấp thoáng sương mù, bàng bạc ẩn hiện ánh trăng huyền ảo, rạo rực phơi bày lung
linh những sắc màu kỳ hoa dị thảo, lấp lánh long lanh giữa trời thơ đất mộng.
Từ nơi vườn lòng thong thả, nhà thơ ngồi lắng nghe văng vẳng tiếng dế kêu rì
rào quạnh vắng vườn khuya, thưởng thức giọng chim vành khuyên ca hót líu lo
trong buổi bình minh nắng sớm hay chập chờn theo cánh bướm vàng bay lượn cuối
nẻo hoàng hôn ùn mây khói nhạt nhòa:
Dế buồn dỗ giấc mù sa
Âm nao lãng đãng tơ ngà
sương bay
Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm
dài gót mơ
Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang
đầu
Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái
cầu gấm hoa
Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhụy lẫn tà
huy bay
Dùng dằng tay lại cầm tay
Trao nhau khăn lụa nhớ
ngày sầu đưa
Sầu đưa chi mà da
diết lâm ly, ngan ngát hương vị tình yêu siêu nhiên nguyên thủy. Một hương vị
tình yêu diệu kỳ chỉ có thể thưởng thức được từ giữa tâm hồn lai láng bồi hồi
của chúng ta mà thôi. Ơi chao ! Từ đâu em đến hay từ vô lượng kiếp em về khơi
mở lung linh chuyện tình sử ngọn ngành :
Từ em khép nép hài xanh
Về qua dục nở hồn
anh đóa sầu
Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu
nước xuôi
Sông này chảy một dòng
thôi
Đường về hái nụ mù sa
Đưa theo dài một nương cà
tím thôi
Thôi thì em chẳng yêu tôi
Leo lên cành bưởi nhớ
người rưng rưng
Sao em bước nhỏ ngập
ngừng
Bên cầu sương rụng mấy
từng mai mơ
Đêm về thắp nến làm
thơ
Tiếng chân còn vọng nửa
tờ thư tôi
Thi sĩ thì chỉ biết làm
thơ thôi chứ còn biết làm chi hơn nữa, phải không hỡi người em diễm kiều
yêu dấu ? Vĩnh viễn thiên thâu, từ đây cho đến ngàn đời tái sinh, chết đi sống
lại trong vòng luân hồi bất tận thì thi nhân cũng còn mãi tiếp tục làm thơ,
trút hết tinh hoa hòa điệu cùng nhịp thở với tâm tình tha thiết kính tặng, dâng
hiến riêng cho em mà thôi :
Đôi uyên ương trắng bay
rồi
Tiếng nghe tha thiết bên
trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn
hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài
đồng thiết tha
Con chim chết dưới cội
hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang
hà xanh xao
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào
thiên thu
Giọt lệ nhỏ xuống cho tình
yêu là giọt lệ thiêng liêng nhất, chính những giọt lệ đó đã kết tinh thành suối
nhạc nguồn thơ của nhân loại từ thuở hồng hoang cho đến thời hiện đại hôm nay.
Thấy rõ sâu sắc một cách tinh tế điều đó, nhà thơ càng thêm dồi dào bao cảm
xúc, rung động trước vẻ đẹp thuần túy bình dị của nàng thơ, thục nữ nhu mì mềm
mại, dịu dàng duyên dáng, yểu điệu đi về trên gót mộng thanh tân :
Em về hong tóc mùa xuân
Trăng trầm hương tỏa dưới
chân một vành
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành
đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót
xuân
Gót mộng thanh xuân rực
ngời mới lạ trên hội ngộ tao phùng, tung tăng nhảy múa hát ca, huy hoàng rạng
rỡ một thời xanh hoa mộng, rồi phôi pha tạ từ trong mong nhớ chờ đợi, trong
buồn thấm ngậm ngùi, phơ phất từng cơn gió thu về lành lạnh heo may :
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi
tây hững hờ
Tìm trang lệ ố hàng thơ
Chữ xưa quyên dục
bây giờ chim di
Mây xưa cũng bỏ non về
Em xưa cũng giã câu thề
đó đây
Nhớ đành biết mấy tầm tay
Lông chim biển bắc hoa
gầy bãi đông
Đợi ai trăng dõi hoa buồn
Vắng em từ thuở theo buồm
gió xuôi
Chiều chiều mở cổng mây
trôi
Chênh vênh núi biếc mắt
ngời sao hôm
Đôi mắt thi nhân đăm
chiêu ngắm nhìn sâu vào lòng đời nhân thế, để thấy rõ tận tường, hiểu biết thâm
sâu hai mặt của thực tế, trùng phùng rồi chia tay, gặp gỡ rồi ly biệt, theo lẽ
đương nhiên như thế, thì nhà thơ cũng tùy duyên, uyển chuyển theo công cuộc
sáng tạo giao thoa cùng mưa nắng bốn mùa:
Chim từ bỏ động hoa thưa
Người từ tóc biếc
đôi bờ hạ đông
Lên non kiếm hạt tơ hồng
Đập ra chợt thấy đôi
dòng hạc bay
Người về đỉnh núi sương
tây
Ta riêng nằm lại đợi ngày
mướp hoa
Bến nam có phố giang hà
Nghiêng nghiêng nậm ngọc
dốc tà huy say
Tình cờ anh gặp nàng đây
Chênh vênh gót nguyệt vóc
gầy liễu dương
Qua sông có kẻ chợt buồn
Ngó hoa vàng rụng bên
đường chớm thu
Hình ảnh thi nhân “dốc tà
huy say” thật ấn tượng làm sao ! Say tình say mộng, say nhạc say thơ, say
và say chuếnh choáng càn khôn, khiêu vũ cùng vũ trụ đất trời, bởi vì em là chất
rượu quý ngàn năm ấp ủ men nồng, ơi rượu hồng nhan cạn hết một ly, hai cốc, ba
chén, bốn xị là đã thấu thị cuộc tình vạn đại lưu linh, vô lượng thương yêu
diệu ảo giao hòa :
Hoa đào tưởng bóng đào
xưa
Thuyền sang bến nọ dòng
mờ khói vơi
Hoa dương vàng nhạt sầu
người
Ta về uống nước sông
khuây khỏa lòng
Đưa nhau đổ chén
rượu hồng
Mai sau em có theo chồng
đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan
hà chuốc say
Lấy nước sông xanh làm
rượu uống chơi cũng là một cách điệu tiêu dao tao nhã. Với nhà thơ nhạy
cảm, chỉ cần một giọt sương, một suối tóc là cũng đủ say túy lúy rồi, huống chi
là rượu quan hà dưới dòng trong trẻo nước trôi qua. Lý Bạch ngày xưa chắc cũng
thống khoái cuồng ngâm với rượu trăng đầm đìa trên sông Dương Tử hay như Phạm
Công Thiện từ thuở còn thơ dại đã lấy sông Cửu Long làm rượu hồng đào, nên mãi
xuất thần say đắm, say sưa suốt bình sinh cuộc sống, hoặc như Tản Đà say rượu
hoàng hoa bên bến sông Hồng phiêu hốt cuồng ca, còn Phạm Thiên Thư thì lấy rượu
tình thơ làm chất xúc tác cho thêm thi vị đậm đà :
Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà
uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng
uống xuân
Người vui ngựa chợ xe
thành
Ta leo cầu trúc bên ghềnh
thác rơi
Theo chân chim gặp mây
trời
Lại qua khói động hỏi
người tu non
Còn gì thích thú hơn
là một ngày nhàn nhã, thảnh thơi rời bỏ phố thị ồn ào, náo nhiệt, làm một cuộc
ngao du thanh thản lên rừng núi thiên nhiên, viếng thăm những bậc thiền sư, ẩn
sĩ, ni cô hào hùng cùng tuế nguyệt thi gan :
Mùa xuân mặc lá trên ngàn
Mùa thu mặc chú bướm vàng
tương tư
Động nam hoa có thiền sư
Đổi kinh lấy rượu tâm hư
uống tràn
Nên khuya lửa hắt hiu
vàng
Trang kinh lác đác đôi
hàng nhạn sa
Ý nào hóa hiện ngàn hoa
Chữ nào cẩn nguyệt trên
tà áo ni
Dỗ non suối giọng thầm
thì
Độ tam thế mộng sá gì vóc
hoa
Ni cô hiện giữa ta bà
Búp tay hồng ngọc
nâng tà áo trăng
Giai thoại thiền kể rằng,
có một thiền sinh đốn ngộ bất ngờ khi khám phá ra “ni cô vốn là con gái.” Có
chi đâu giữa bờ mê bến ngộ chỉ cách nhau một kẻ tóc đường tơ. Nàng con gái
không ưa thích chuyện lấy chồng, sinh con đẻ cái nheo nhóc, đeo mang nặng nhọc
trong cuộc sinh tồn nhiều bức bách nhiêu khê. Vì thế, nhẹ nhàng cất bước thong
dong lên đường như cánh nhạn vút bay lên bầu trời tâm nội thanh thoát vân du :
Ni về khép cửa chùa tu
Sớm mai mở cổng quét thu
vườn hồng
Thu vươn ngọn chổi đôi
bông
Thoảng dâng hương lạ bướm
vòng cánh duyên
Sư lên chót đỉnh rừng
thiền
Trong tim chợt thắp một
viền tà dương
Cầm nghiêng Tịnh độ một
phương diệu vời
Một dòng hoa nổi trên
trời
Một dòng hoa nở trong
người trầm tư
Cánh nào mở cõi không hư
Phiến băng tuyết khảm một
tờ Kim Cang
Hồn thơ Phạm Thiên Thư
được hàm dưỡng từ tinh thần vô sở trụ của Thiền tông nên luôn luôn linh động,
sáng tạo hài hòa giữa đời với đạo một cách tự nhiên, như thi sĩ Bùi Giáng đã có
lần tán thán : “Nguồn thơ Phạm Thiên Thư chảy từ cõi uyên nguyên Phật giáo,
tràn ngập vào lục bát Việt Nam, trở thành một dòng riêng biệt bát ngát.”*
Phật giáo uyên nguyên cho
biết rằng, từ đời thuở nào, con người chúng ta vốn sẵn có Tự tánh thanh tịnh
rồi, nên mình khỏi phải làm gì thêm nữa mà chỉ cần thấy tánh là trở về nhập
cuộc. Nhập vào nguồn sống vi diệu ngay bây giờ và ở đây, như có lần Phạm Thiên
Thư tâm sự : “Gạn sạch ý niệm để tịch mặc trước cỏ hoa, chiêm ngưỡng thiên thu
trong ánh chớp, lắng nghe tiếng rơi của hạt mưa, thể chứng đại nguyện của vách
đá, trầm lặng tàn khốc như biển xanh. Vắng vẻ mọi so đo chân giả, xa lìa mọi
giả danh, tham chấp, đạp lên biến hoại để trùng sinh. Hãy tái tạo từng hơi thở,
từng tế bào, từng sợi tóc. Sống mãnh liệt, vượt thoát cõi giới ý niệm vàng võ,
nổ tung mọi con đường ảo tưởng, mọi tiến bộ trá ngụy, mọi cố hương ru ngủ, mọi
chia phân giới hạn để thể nhập kiến không. Đẩy cửa vào Tâm giới, nơi đáy cùng
của vạn vật Nhất như, thức ngủ với trăng sao, im lặng sấm sét như núi lớn, đồng
nhất nơi Tự tánh bình đẳng.”**
Đúng vậy ! Hãy nhập
cuộc vào cái trật tự tự nhiên cùng nhật nguyệt thiên địa, càn khôn vũ trụ bao
la. Trong trật tự ấy, chúng ta là một pháp vô tâm nên vô sự như trời xanh mây
trắng, nắng vàng cơn mưa, núi đồi biển cả, khói sương làn gió, cỏ cây chim hót,
cánh bướm đóa hoa...là những pháp vô sự nên vô vi. Muôn loài vạn vật đều vô vi
mà bình đẳng nhau trong pháp giới vô ngại rỗng rang.
Từ cõi miền uyên
nguyên đó, Phạm Thiên Thư thênh thang, nhẹ nhàng từng bước chân thi sĩ đi về
thể hiện ngoạn mục giữa cõi tồn lưu sinh động hàm dung, cũng sầu vui chia sẻ
cùng nhịp đập trái tim cuộc đời với người em thuần hậu chơn mỹ thi ca, cũng đầy
nhiệt tình mà vẫn giữ niềm xa cách, như có vẻ nguội lạnh mà vẫn chan chứa yêu
thương, vừa say đắm mặn nồng vừa lững lờ hờ hững như không :
Thế thôi phố bụi xe hồng
Hồ ngăn ngắt dục đôi dòng
nhạn bay
Đưa nhau đấu rượu hoa này
Mai đi dã hạc thành ngoài
cuồng ngâm
Xuống non nhớ suối hoa
rừng
Vào non nhớ kẻ lưng chừng
phố mây
Về thành nhớ cánh chim
bay
Xa thành thương vóc em gầy
rạc hoa
Đó là tâm trạng của nhà
thơ cũng là tâm trạng chung của chúng ta . Thôi thì cứ để mặc nhiên, như nhiên
cho dòng thơ trôi chảy. Thơ là hơi thở, làm thơ là chuyển động không khí chung
quanh, hấp thụ dưỡng chất mặt đất và chuyển hóa tinh thần hướng về cái đẹp chân
thiện mỹ. Đi đứng nằm ngồi, tư duy suy tưởng, nói năng im lặng đều cùng một
năng lượng từ cỗi nguồn tâm tánh nhiệm mầu. Sâu thẳm trong đó là cả một kho
tàng phong phú, chỉ cần tương ứng là diệu dụng ngay lập tức, hiện liền ra trước
mắt đây thôi. Lặng yên thi sĩ chiêm ngưỡng hương sắc mong manh để cảm nhận vẻ
đẹp phù du của mộng đời hư huyễn phù trần :
Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần
dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhéđoạn
trường thế thôi
Đoạn trường dâu bể ừ thì
dâu bể đoạn trường, thi nhân vẫn dấn bước đăng trình trên phong thái phiêu
linh, tùy hỷ, tùy thuận chúng sinh. Chấp nhận hết thảy mọi buồn vui sướng khổ,
mọi đắng cay mặn chát mà thực ra không chát mặn, đắng cay gì hết trọi. Nói như
nhà thơ Tuệ Sỹ : “Suốt đời học Thiền, suốt đời vẫn đày đọa thân tâm, đày đọa
trong cái Không và cái Tĩnh. Đày đọa đó mà kỳ thực không là đày đọa. Cũng vậy,
suốt đời làm thơ thì suốt đời khổ lụy lao đao nhưng không là khổ lụy lao đao.
Chỗ ảo diệu đó, chưa đạt đến cõi thượng thừa của thi ca làm sao hiểu nổi ? ”***
Cõi thượng thừa của thi
ca là gì ? Một câu hỏi chơi vơi, không có câu trả lời. Thi sĩ mỉm cười im
lặng, rồi thong dong đọc thơ lục bát, những vần thơ bảng lảng thiên thanh vĩnh
thúy, nghi ngút tận cuối bãi đầu ghềnh, lênh láng ngàn mây trắng giăng phủ đồi
hoang dại mờ khuất dặm mù xa :
Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên
đồi dạ lan
Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng
ngủ say
Ngựa xưa qua ải sương này
Còn nghe nhạn lạc
kêu hoài bãi sông
Nước xuôi gờn gôn mây
hồng
Tiếng ca lạnh thấu hoàng
hôn giục đò
Bềnh bồng sông nước
thường trôi về trong dòng thơ Phạm Thiên Thư cũng như nàng thơ gầy cũng thường
xuyên hiện hữu. Hình bóng yểu điệu thục nữ ấy là tinh anh kết tụ từ muôn sắc
ngàn hoa, từ hồn thiêng sông núi tạo thành, khiến chàng thi sĩ đa tình lãng mạn
bỗng hóa thân thành cánh bướm Trang Tử bay lượn về chấp chới vờn quanh vườn hoa
cỏ bên thềm :
Mắt nàng ru chiếc nôi êm
Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm
tuyệt vời
Em là hoa hiện dáng người
Tôi là cánh bướm cung
trời về say
Say thơ say nhạc, say
em mềm mại suối tóc mây hồng, suốt ngày đêm say mê đắm mộng, nồng nàn điệu thở
chờ nhau. Yêu dấu hỡi ! Xiết bao nao nức, rộn rã, dạt dào rồi bàng hoàng, sững
sốt mới hay chỉ là huyễn mộng chiêm bao :
Áo em vạt tím ngàn sim
Nửa nao nức gọi nửa im
lặng chờ
Yêu nhau từ thuở bao giờ
Gặp đây giả bộ hững hờ
khói bay
Tình cờ như núi gặp mây
Như sương đậu cánh hoa
gầy tiêu dao
Tỉnh ra thì giấc chiêm
bao
Chuyện mười năm cũ lại
nao nao lòng
Yêu nhau từ vô lượng kiếp
rồi em ạ em ơi ! Lời thơ thổn thức, rưng rưng ngấn lệ phập phồng. Mộng và
thực xóa nhòa không còn biên giới phân hai nữa mà
nhập vào Bồ đề thể tánh
toàn triệt uyên tư :
Em từ rửa mặt Chân như
Nghiêng soi hạt nước mời
hư không về
Thau hương hiện kính Bồ
đề
Phấn son chìm lắnghạt mê
luân hồi
Luân hồi sinh tử trùng
trùng vô tận, từ vô thủy đến vô chung. Có mê man, đắm lụy trần hồng thì
mới mau đưa tới vỡ bùng tỉnh thức. Thức tỉnh rồi thì mọi việc ở đời coi như đã
xong, thong dong bước vào Tịnh độ, xả buông xuống hết mọi lợi danh, tham vọng,
mê si ám chướng, mở rộng lòng đại từ đại bi, trang trải ra khắp mười phương,
phát đại nguyện thượng thừa thương yêu tất cả muôn loài vạn vật chốn trần gian
:
Thư em ướp nụ lan vàng
Lời em gió núi chiên đàn
thoảng xa
Áo em phất cõi Di Đà
Ngón chân em nở cánh hoa
đại từ
Hoa đại từ bừng nở, hương
từ bi, từ ái ngan ngát, lan tỏa mọi miền khắp cõi nhân sinh, làm cho thiên hạ,
ai ai cũng hít thở được bầu không khí vi diệu, nồng ấm đậm đà. Phải chăng cõi
ta bà đã biến thành cảnh giới Niết bàn, Tịnh độ hào phóng hân hoan:
Đưa em tìm động hoa vàng
Then mây khóa một Niết
bàn ven khe
Mai sau viễn khách nào
nghe
Tìm lên xin hỏi một bè
mây xanh
Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ca hát trên
nhành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng
này
Sông Ngân tìm một bến
ngoài hóa duyên
Động hoa vàng thấp thoáng
giữa thiên thu vời vợi, lãng đãng bên miền chẳng có đâu mà vẫn hiện hữu
nhiệm mầu, vẫn duy tâm sở hiện giữa thực tại hiện tiền. Mầu nhiệm như tiếng đàn
vô thanh của Thúy Kiều đã làm rung động hàng triệu triệu trái tim con người
trên mặt đất nhân sinh từ bao giờ cho đến bây giờ, thật không thể nghĩ bàn sức
sáng tạo tuyệt trù của bậc đại thi hào Nguyễn Du. Cùng tương ứng với Nguyễn Du
có Phạm Thiên Thư cũng thử hòa âm vào giai điệu da diết tiếng lòng muôn thuở
đồng thanh :
Lòng như bát ngát mây
xanh
Thân như sương tụ trên
cành đông mai
Cuộc đời chớp lóe mưa bay
Càng đi càng thấy dặm dài
nỗi không
Thân tâm bệnh nghiệp trần
hồng
Lênh đênh trầm nguyệt
bềnh bồng phù vân
Giam trong tài mệnh giả
chân
Trăm năm hồ dễ một lần
bay cao
Đau lòng chuốc tiếng đàn
nao
Năm cung nước chảy lại
chao phận mình
Đời Kiều trải mấy nhục
vinh
Ngã nhân đã vượt thế tình
đã qua
Đoạn trường sổ gói tên
hoa
Xưa là giọt lệ nay là hạt
châu
Đó là cuộc đi kỳ
cùng của Thúy Kiều theo thể điệu : “Trăm năm trong cõi người ta... Mua vui cũng
được một vài trống canh” song hành với nhịp đàn chan chứa ân tình linh diệu cứ
mãi vang lên văng vẳng tận đáy lòng, sau mười lăm năm đoạn trường mới trùng
phùng tao ngộ, bắt gặp lại nụ cười :
Mười lăm năm lại đơm tươi
Duyên may bọt sóng chim
trời gặp nhau
Lan xưa in đáy lòng sầu
Trách chi con suối nhạt
màu thời gian
Trăng nao man mác tơ đàn
Chừ nghe hờ hững đôi làn
khói bay
Lò trầm ai chửa ngừng tay
Mà sao hơi lạnh như ngày
mưa thưa
Vui giờ nuối cái buồn xưa
Chút gì để nhớ để chờ để
không
Tưởng đàn nối nhịp tơ
đồng
Thuyền trăng sớm tếch bến
hồng bay lên
Chơi vơi trong cõi diệu
huyền
Đời Kiều dệt một trường
thiên tuyệt vời
Tuyệt vời, tuyệt diệu đến
độ vô ngôn, chỉ biết cảm nhận thôi, chứ không thể diễn đạt bằng lời. Trời đất
quê hương vẫn còn mãi rung ngân bất tuyệt tiếng đàn tâm hạnh thanh thoát tài
hoa:
Tơ chùng tưởng cuốn mưa
sa
Hiên văn khép mở phên hoa
khói trầm
Bao năm vùi giữa cát lầm
Như cành sen trổ trong
đầm hạ xanh
Giờ Kiều lại nối âm thanh
Thử đem sương gió tựu
thành cung dây
Tiếng đàn rã liễu rời mây
Ngón tay dã hạc vờn bay
dặt dìu
Hai hàng lau lách đìu hiu
Đồi phong lá gọi bóng
chiều xác xao
Hạt đàn tấm tức nao nao
Suối tuôn mạch đá đau bào
lòng non
Lơ thơ hoa trải đường mòn
Bâng khuân ráng đỏ theo
con nhạn về
Năm cung da diết đê mê
Nắng hoen thềm phấn mây
kề song hương
Ngón cong đàn trổ nụ
hường
Ngón xuôi tơ rụng hoa
vương mấy dòng
Thế là, kể từ Thúy Kiều
mười lăm năm đọa đày, luân lạc, đoạn trường của Nguyễn Du đến Thúy Kiều hóa
thân thành nàng thơ diễm tuyệt huyền mộng, Phạm Thiên Thư đã đưa ngôn ngữ thi
ca Việt Nam phiêu diêu lên đến chỗ tuyệt đỉnh ngút ngàn :
Cho thơ hòa với mênh mang
Cho mênh mang đọng hạt
đàn vô thanh
Đất dày nhập với trời
xanh
Đoạn trường xưa hóa
trường thành lưng mây
Áo thơ hồng quả tươi cây
Tiếp thu lẽ sáng chan đầy
mạch linh
Muôn loài mở cuộc hồi
sinh
Dựng lên khắp cõi bình
minh đại hòa
Kiều giờ là cỏ là hoa
Đường gân mạch máu xương
da cũng nàng
Bài thơ thoát vận đoạn
tràng
Hóa thành hạt ngọc nghiêm
trang trời người
Nếu thế giới thi ca
Nguyễn Du còn mãi âm vang đồng vọng một tiếng lòng muôn thuở thiên thu thì thế
giới thi ca Phạm Thiên Thư cũng cứ vẫn rạt rào trên cung bậc ngân nga suối nhạc
nguồn thơ vĩnh cửu.
* Bùi Giáng. Thi ca tư tưởng. Nhà xuất bản An Tiêm, Sài Gòn 1972
** Phạm Thiên Thư. Kinh Ngọc. Đại học Vạn Hạnh ấn hành, Sài Gòn 1971
*** Tuệ Sỹ. Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng. Tái bản lần thứ ba. Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn, 2007.
Thơ Phạm Thiên Thư trích trong 2 thi phẩm :
- Động hoa vàng. Tiếng Thơ xuất bản, Sài Gòn 1971
- Đoạn trường vô thanh. Tái bản lần thứ hai. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003.
** Phạm Thiên Thư. Kinh Ngọc. Đại học Vạn Hạnh ấn hành, Sài Gòn 1971
*** Tuệ Sỹ. Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng. Tái bản lần thứ ba. Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn, 2007.
Thơ Phạm Thiên Thư trích trong 2 thi phẩm :
- Động hoa vàng. Tiếng Thơ xuất bản, Sài Gòn 1971
- Đoạn trường vô thanh. Tái bản lần thứ hai. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003.
Tâm Nhiên








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét