Lần đầu tiên những người yêu thích âm nhạc Việt
Nam chúng ta đón mùa Xuân về mà không có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đây là một sự
hụt hẫng mà có người bảo rằng "phải tập làm quen trong nhiều mùa
xuân nữa mới quen được". Nhưng đối với tôi - một người bạn chưa bao
giờ ở với Sơn ngày nào nên tôi vẫn cảm thấy Sơn đang sống ở đâu đó. Tôi không
gặp Sơn như lúc tôi đến nhà 47C Phạm Ngọc Thạch mà Sơn ngủ chưa dậy. Tôi đành
quay xe và tự hẹn với mình lần sau vào Thành phố Hồ Chí Minh sẽ lại đến.
Cho đến nay, Trịnh Công Sơn vẫn chưa - như gia đình tôi hay dùng-
exit (thoát) khỏi đời sống của tôi. Bởi vì, tôi là một người luôn luôn thích
khám phá bí ẩn nhưng có nhiều giai đoạn trong cuộc đời của bạn tôi, tôi chưa
công bố. Tôi vẫn còn nợ giai đoạn Trịnh Công Sơn dạy học và bắt đầu làm nhạc
phản chiến ở Blao-Lâm Đồng. Đây là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời Sơn
nhưng Sơn rất ít viết, ít đề cập đến và tất nhiên bạn be ẵ-những người yêu
thích âm nhạc Sơn, cũng ít biết. Để chuẩn bị cho việc "trả nợ
nầy", tôi đã làm một cuộc hành hương trở lại vùng cao nguyên bụi đỏ
sương mù Blao để làm sống dậy những điều mà Trịnh Công Sơn đã chôn chặt nơi
đây.
Người cung cấp những thông tin đầu tiên về những năm tháng Trịnh
Công Sơn dạy học và sáng tác ở Blao cho tôi là chị Lê Thị Ngọc Trinh - bạn học
Sư phạm khóa I (1962-1964) với Sơn ở Qui Nhơn và đồng nghiệp của Sơn ở Blao.
Người dẫn đường là thầy giáo Lê Quang Kết ở Blao. Những người hiểu rõ những năm
tháng Trịnh Công Sơn ờ Blao là cụ Lê Cao Lợi - nguyên trưởng ty Tiểu học, lãnh
đạo của thầy giáo Trịnh Công Sơn lúc ấy và cụ Phạm Trung Thành, nhân viên cũ
của Ty Tiểu học (từ năm 1964) - người chơi đàn violon, hay trao đổi về âm nhạc
với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở Blao. Tư liệu bổ sung do hai ông bạn họa sĩ Đinh
Cường và Trịnh Cung giúp.
Trịnh Công Sơn - trưởng giáo trường sơ học Bảo An
Như chúng ta đã biết, Trịnh Công Sơn học khóa I thường xuyên
trường Sư phạm Qui Nhơn (1962-1964). Năm 1964 mãn khóa được bổ lên Blao cùng
một số bạn cùng quê, cùng khóa, trong đó có Lê Thị Ngọc Trinh - người trong ban
đồng ca của trường Sư phạm Qui Nhơn đã từng lĩnh xướng trường ca Dã Tràng của
Sơn. Lê Thị Ngọc Trinh được bổ về trường Nữ Bảo Lộc ở ngay trung tâm Thị xã,
Trịnh Công Sơn bổ đi xa hơn một chút là trường sơ học Bảo An cách Tỉnh đường và
Ty Tiểu học Lâm Đồng gần một cây số.
Trường Bảo An có ba lớp 1,2,3, sĩ số mỗi lớp chừng vài mươi
em, đa số học sinh là người dân tộc ít người, chỉ có dăm ba em là người Kinh.
Cơ sở của trường có hai phòng đứng cho vơ trên một bãi đất trơ trụi, mái lợp
tranh, vách nứa; học sinh mặt mày lem luốt, mũi dãi lò thò, áo quần rách rưới,
nhuộm bụi đỏ trông rất thê thảm. Bảo An thuộc loại trường sơ cấp, không có chức
Hiệu trưởng. Người phụ trách trường có cái tên cổ cổ là trưởng giáo giống như
ông Ngô Đình Khả lúc mới được bổ nhiệm làm trưởng giáo trường Quốc Học hồi cuối
thế kỷ XIX vậy (1896).
Trịnh Công Sơn được "đào tạo chính qui" nên
làm trưởng giáo và đứng dạy lớp ba vào buổi sáng, ông giáo Tạ Văn Thống sắp về
hưu dạy hai lớp 1 và 2 vào buổi chiều. Hằng ngày ông trưởng giáo họ Trịnh đi về
dạy học phải cuốc bộ trên con đường dốc mà vào mùa nắng thì bụi đó mịt mù, vào
mùa mưa bùn lầy nhoe nhoét rất khó bước. Tuy đi về hơi vất vả một chút nhưng
chuyện soạn bài và đứng lớp rất thoải mái. Học trò miền núi dễ bảo. Vào mùa hái
chè các em ở nhà giúp cha mẹ, đến lớp chỉ có mươi mười lăm em. Phòng học không
có cửa, nhiều hôm mây mù bay tràn vào lớp làm cho thầy giáo và học trò cũng lảng
đảng theo mây. Nhiều ý nhạc khởi dậy trong lòng ông trưởng giáo Trịnh:
"Bụi về với mây. Người còn đó gieo hạt lúa
trên ruộng đất nầy" (Phúc
Âm Buồn, 1965).
"Qua khoảng trời trống trơn của lớp học Sơn
đã vẽ nhiều ký họa đẹp và sinh động những người dân tộc trên nương rẫy, dưới
bóng suối mát". (Đinh Cường kể).
Dạy học ở vùng thượng du thế ấy. Không vui. Nhưng dù sao với chỉ
số lương (indique) 320 cộng thêm phụ cấp đắc đỏ vùng cao, mỗi tháng Trịnh Công
Sơn cũng lĩnh được 5.200$. So với vật giá lúc ấy: Cà-phê loại ngon 1$/ly, phở
3$/tô, cơm 600$/ tháng, vàng 2.000$/ lượng. . . lương như thế là cao, có của
ăn, của để.
Nhà trọ của Trịnh Công Sơn tại Blao là một ngôi nhà kiểu biệt thự
mới xây trên khu đất khoáng đạt ở gần Ty Công chính Lâm Đồng. Chủ ngôi nhà là
cô Phi - trưởng phòng kế toán Ty Công chính. Trịnh Công Sơn thuê nhà cùng với
ba đồng nghiệp họ Nguyễn là Thanh Ty (Nha Trang), Hảo Tâm và Văn Ba (Sư phạm
Sài Gòn). Mỗi người phải trả tiền nhà 300$/tháng. Bà chủ nhà có dáng người mảnh
dẻ, hơn ba mươi tuổi, cùng với đứa con gái ở chung trong nhà. Nhờ thế các thầy
giáo trẻ sống xa nhà đỡ bớt khô khan.
Những khi lễ lược, Blao có tổ chức văn nghệ, Trịnh Công Sơn được
mời sinh hoạt với các đồng nghiệp. Ngoài Trịnh Công Sơn, những cây văn nghệ lúc
đó mà đến nay dân Blao còn nhớ là Hoàng Thị Ni Na, Lê Thị Ngọc Trinh, Đỗ Thị
Nghiễm. Lúc ấy dân địa phương Blao ít có người chơi nhạc. Mỗi khi muốn nói
chuyện âm nhạc Trịnh Công Sơn hay đến 24 đường Tiên Dung gặp ông Nguyễn Trung
Thành làm việc ở Ty Tiểu học. Ông Thành được đào tạo đễ chơi đàn violon trong
ban nhạc lễ của nhà thờ Bảo Lộc. Ông không thích nhạc của Sơn nhưng ông phải
công nhận với Sơn rằng :" Ca từ (parole) của Trịnh Công Sơn rất tuyệt
vời. Sau nầy anh có được người đời biết tiếng chính là nhờ cái phần ca từ".
Đến nay thì ông Thành xin nói lại với tôi :" Ca khúc của Trịnh Công
Sơn, ca từ hay mà nhạc cũng rất hay !".
Sinh hoạt văn nghệ thường xuyên của Trịnh Công Sơn lúc nầy là hát
cho học sinh nghe và dạy cho học sinh hát. Từ hồi còn học Sư phạm, Trịnh Công
Sơn đã sáng tác nhiều bài hát cho thiếu nhi. Lúc lên dạy học ở Blao, anh lại
sáng tác thêm nhiều bài nữa. Ngày nay nhiều người còn thuộc bài Ông Tiên Vui.
Cô giáo Lê Thị Ngọc Trinh vừa kể chuyện cũ ở Blao vừa hát cho tôi nghe:
Ông Tiên vui ông có cái râu dài Đêm ông thường ngủ yên trên đỉnh
mây Ông tiên vui ông thường hay nhắc đến Chốn Thiên đình chẳng còn tháng ngày
trôi Ông tiên vui ông có cái căn nhà Trên ngọn đồi hằng đêm ông ghé qua Hôm em
lên ông chợt đi đâu vắng Lúc em về em buồn đến ngẩn ngơ.
Từ "Tuổi đá buồn" đến "Ca khúc da
vàng."
Buổi chiều nghỉ dạy, sau giấc ngủ trưa, Trịnh Công Sơn sửa lại
chiếc áo ka-ki vàng, bỏ vô quần tẹc-gan nghiêm chỉnh rồi xỏ chân vào đôi giày
Batar rảo bước ra quán Cà-phê bi-Da Ngọc Trang. Anh chơi ở đó cho đến tối. Cũng
có hôm, anh cùng với vài người bạn dạo quanh hồ Bảo Lộc hoặc đi dọc theo quốc
lộ Sài Gòn Đà Lạt chạy qua Thị xã nói chuyện phiếm. Nhiều hôm thiếu bạn, anh
dạo phố một mình với nỗi buồn da diết mà anh đã thể hiện trong bài "Chiều
Một Mình Qua Phố" hồi còn học ở Sư phạm Qui Nhơn (1963).
Lúc đầu thanh niên Blao nhìn mái tóc thưa mềm, chạy dài
xuống gảy và hàng râu mép hung hung nâu của Sơn, họ lấy làm lạ. Về sau có dịp
đến gần và biết Trịnh Công Sơn vừa là thầy giáo vừa là nhạc sĩ hiền hậu hồn
nhiên họ đâm ra cảm mến và rất hân hạnh được gần anh. Những chiều không thấy
anh dạo phố hay khom mình trên bàn bi-da Ngọc Trang họ cảm thấy vằng vẻ và có ý
chờ trông.
Vào dịp nghỉ lễ hay nghỉ cuối tuần, Sơn hay lên xe đò về Sài Gòn
chơi với Đinh Cường hoặc Trịnh Cung, chiều Chủ nhật trở lại Blao để sáng thứ
hai lên lớp. Anh về Sài Gòn còn có mục đích xuất bản tập nhạc đầu tay của anh.
Nhiều lần Trịnh Công Sơn không lên kịp vào đầu tuần, ông giáo Thống đã giúp dạy
hộ cho anh. Sự vắng mặt không xin phép của một giáo viên là phạm kỷ luật, may
mắn sao ông Lê Cao Lợi - trưởng ty Tiểu học, là người biết mến mộ nghệ sĩ nên
dù Trịnh Công Sơn vắng mặt nhiều lần (có lần đến ba tuần) ông vẫn không khiển
trách.
Từ sau ngày Nguyễn Văn Ba - người bạn đồng nghiệp và cùng thuê
chung nhà, chết vì trúng mìn trên đường Blao-Sài Gòn, Trịnh Công Sơn phải tiêu
phí những ngày nghỉ ở Blao. Một mình "nằm trong căn gác đìu
hiu", nghe gió lướt thước kéo qua rừng lau dưới những cơn mưa không
dứt, Sơn nghĩ về đời mình, nghĩ về cái chết của Nguyễn Văn Ba, nghĩ về tiếng
chuông nhà thờ Bảo Lộc ở phía bên kia đường sáng sáng chiều chiều dội vào sự cô
đơn của anh. Và, chính trong những ngày bó gối ở nhà ấy, anh phát hiện có một
người đẹp hằng ngày đi Nhà thờ bằng con đường qua trước cửa phòng anh. Trịnh
Công Sơn hơi ân hận. Lâu nay anh bù khú với bọn bạn trai nên không để ý đến
người hàng xóm gái ấy. Người có tên là Ngà. Ngà không sắc sảo, không quý phái
như các cô gái Huế đã "hờp hồn" anh như Ph. Th.,
Bích Diễm, nhưng với cái dáng mảnh mai, tóc thề chấm vai, khuôn mặt thánh thiện
như mặt Đức Mẹ Đồng Trinh của cô cũng đã làm cho Trịnh Công Sơn mất ngủ. Sự
phát hiện trong cõi cô đơn ở Blao có Ngà như một cái nhấn làm bật dậy những dồn
nén cô đơn mang tính tâm linh trong Sơn lâu nay. Anh viết bài Tuổi đá buồn.
"Trời còn làm mưa mưa rơi mênh mang. Từng
ngón tay buồn em mang em mang, đi vào giáo đường, ngày chủ nhật buồn còn ai còn
ai. Đóa hoa hồng cài trên tóc mây, ôi đường phố dài, lời ru miệt mài ngàn năm
ngàn năm, ru em nồng nàn, ru em nồng nàn"
Bản in lần đầu Ca khúc Trịnh Công Sơn (Nxb An Tiêm, SG 1967), bài
Tuổi Đá Buồn được soạn với nhịp 4/4, đoạn mở đầu với 30 nhịp rưỡi mới có một
dấu lặng, phần ca từ suốt 55 từ không hề có một cái chấm phẩy nào. Hình ảnh cô
Ngà mang ngày chủ nhật buồn (Sombre dimanche) đến nhà thờ, con đường quốc lộ
Sài Gòn - Đà Lạt dài hun hút đi qua Thị xã. . . . nối tiếp nhau. Đoạn nhạc dài
lê thế ấy diễn tả những cơn mưa không dứt của Bõ lao trong tâm hồn Sơn. Sự cô
đơn của Trịnh Công Sơn không phải của người trần thế, của con người với con
người, của xác thịt với xác thịt mà chính là của thân phận làm người. Sự cô đơn
hư vô nhuốm một chút siêu hình:
" Trời còn làm mưa rơi mưa rơi, từng phiến
băng dài trên hai tay xuôi. Tuổi buồn em mang đi trong hư vô ngày qua hững
hờ".
Sự cô đơn "hư vô" của thân phận làm
người nên bao giờ còn "làm kiếp con người" thì còn
cô đơn. Vì thế những ý tưởng ấy cứ ẩn hiện không ngừng trong cảm xúc của Sơn.
. . ." Trời còn làm mưa mưa rơi thênh thang.
Từng gót chân trần em quên em quên.
Ôi miền giáo đường ngày chủ nhật buồn còn ai còn
ai"
Nếu không có những ngày chủ nhật buồn ở Blao có lẽ Trịnh Công Sơn
không có những ca khúc buồn đến thế. "Người nằm co" trong
Phúc Âm Buồn chính là hình ảnh Trịnh Công Sơn trong những ngày ấy.
"Người nằm co như loài thú khi mùa đông về
Người nằm yên không kêu than buốt xương da
mình"
Muốn tránh xa mọi người, một người nằm yên nhưng không thể nằm yên
được.
"Từng tiếng người nhiều tiếng người gọi
hoài giữa đêm"
Trịnh Công Sơn viết bài Phúc Âm Buồn vào năm 1965 - Đấy là năm
quân Mỹ đổ bộ ồ ạt lên bến phá Toà Khâm Huế, nhiều bạn bè của anh xuống đường
đấu tranh chống chiến tranh, chống lại việc dùng tuổi trẻ như một thứ củi đốt
cho chiến tranh của Mỹ. Cũng có một số bạn của Trịnh Công Sơn bị động viên, bị
bắt đi quân trường (nhà thơ Ngô Kha), hay đang trốn lính.
Ngày 20.7.1965, Uỷ ban Thanh niên Sinh viên của Nguyễn Cao Kỳ mời
sinh viên miền Nam về Sài Gòn hội thảo "chuẩn bị giải phóng miền
Bắc". Trong hội thảo nầy bà Ngô Bá Thành, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn
Đắc Xuân đã công khai chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình. Ở Huế Thái Luân cho
ra đời tập thơ phản chiến Vùng Tủi Nhục lên án chiến tranh do Mỹ đạo diễn được
sinh viên học sinh chuyền tay nhau đọc. Tận bên Mỹ Bob Dylan, Joan Baez ôm đàn
du ca hát phản chiến. . . .Qua thư từ, Trịnh Công Sơn hiểu rõ hết tính hình
chiến tranh và đấu tranh kêu gọi hòa bình ấy. Những người bị mời dự hội thảo
của Nguyễn Cao Kỳ chống chiến tranh vì tinh thần dân tộc. Trịnh Công Sơn là một
người hiền hòa nhân hậu, rất sợ chuyện chém giết. Năm 1963, lúc còn theo học Sư
phạm ở Qui Nhơn, đọc Mythe de Sisyphe của Albert Camus (1942) Trịnh Công Sơn đã
thấy sự hiện hữu của con người là phi lý (absurde) giống như anh chàng Sisyphe
bị khổ sai bằng việc hằng ngày phải lăn một tảng đá lên núi rồi thả tay cho đá
lăn xuống núi không tạo ra một tác dụng nào cả :
"Người chợt nhớ mình như đá .
Đá lăn vết lăn buồn". (Vết Lăn Trầm, 1963)
Đến năm 1965, chiến tranh làm bi thảm hơn sự phi lý của thân phận
con người. Đúng như tình hình anh đã thấy trước đó một năm:
"Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè
ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê
hương"
(Xin Mặt Trời Ngủ Yên, 1964)
Với một ý thức dân tộc chung chung, Trịnh Công Sơn không còn thụ
động được nữa, anh phải dấn thân. Suốt cả mùa hè năm 1965, Trịnh Công Sơn nằm
lại Bõ lao, đóng cửa soạn những ca khúc chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình như
các bài "Gia Tài Của Mẹ, Ca Dao Mẹ, Người hát Bài Quê Hương, Du Mục, Lại
gần Với Nhau, Người Già Em bé, Người Con Gái Việt Nam Da Vàng . . ."
Lúc ấy hai chữ "hòa bình" bị cấm kỵ.
Nói hòa bình là "Cộng sản". Cho nên những ca khúc phản
chiến của Trịnh Công Sơn soạn xong phải giữ kín và chỉ hát trong giới bạn bè
thân thiết thôi. Những bạn bè thân thiết đó ở Đơn Dương, Sài Gòn, Huế, và đặc
biệt là Đa Lạt. Bạn bè nghe nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn rất thích, tác
giả cất lên tiếng nói bất lực trước cuộc chiến tranh và thể hiện khát vọng hòa
bình hộ cho nhiều người thế hệ anh. Nhưng cũng có nhiều người không thích.
Những ca khúc phản chiến "nguy hiểm" đến như thế thì
có ca sĩ nào dám hát ? May sao, trong những chuyến lên về Đà Lạt, Trịnh Công
Sơn đã gặp được một cô "bé quê" trong một phòng trà
và cô bé đã lột xác hóa thân thành ca sĩ Khánh Ly hát nhạc phản chiến bắt đầu
từ Quán Văn Đại học Văn khoa Sài Gòn (1965-1966). Nhạc phản chiến của Trịnh
Công Sơn gắn liền với giọng ca Khánh Ly. Gặp gỡ Khánh Ly là một bước ngoặt mang
tính định mệnh của Trịnh Công Sơn. Không có những tháng năm dạy ở Blao để tiện
đường lên về Đa Lạt thì làm sao Sơn có thể gặp được Khánh Ly?
Đến năm 1967, không chỉ có bạn bè anh mới bị "chinh
chiến mang đi", mà các đồng nghiệp của anh ở Blao và chính anh bị gọi
nhập ngũ . Trịnh Công Sơn không chấp nhận cuộc chiến tranh của Mỹ nên anh trốn
lính. Trốn lính từ Blao. Trốn lính và chấp nhận cuộc sống bất hợp pháp, điều đó
có nghĩa là anh phải giả từ cuộc đời làm thầy giáo ngắn ngủi của anh. Trịnh
Công Sơn không tự ý bỏ nghề thầy mà vì chính quyền miền Nam lúc ấy đã buộc anh
phải nghỉ dạy học để đi lính. Anh trốn lính để có thể đi đến cùng sự nghiệp đấu
tranh cho hòa bình, cho quyền tự quyết dân tộc.
Trịnh Công Sơn ăn lương dạy học tại Blao chỉ có ba năm (1964 đến
1967). Thời gian ấy ngắn so với cuộc đời sáu mươi ba tuổi của anh (1939-2001).
Nhưng không ai có thể viết tiểu sử nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một cách trung thực
khi chưa rõ giai đoạn "bụi đỏ sương mù" của anh ở
Blao. Bởi vì chính trong giai đoạn nầy anh đi làm thầy giáo rồi buột phải thôi
dạy, anh cho xuất bản những tập nhạc đầu tiên của anh, anh soạn loạt bài phản
chiến mang tên Ca Khúc Da Vàng, anh gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly và khẳng định sự
nghiệp làm nhạc sĩ cho đến cuối đời anh.
Khi
lang thang xa xứ với hành trang đơn giản, không ít người Việt mang theo mình nhạc
Trịnh Công Sơn. Những người Việt ấy gặp nhau, những lời ca đầy ẩn ý của Trịnh
vuột ra một cách tình cờ trong cuộc trò chuyện... Và không thể không nhìn nhau
đồng cảm... Nơi
xa xứ gặp được "người tình"
Người viễn xứ hiểu họ đã gặp nhau từ lâu lắm và thân nhau từ lâu lắm. Những câu chuyện không phải gặp ai cũng có thể kể, nếu không nhờ những điều thân thuộc được gợi từ nhạc Trịnh...
Bao người đã tìm thấy ở nhạc Trịnh một niềm tri âm. Không phải lúc nào cái sự nghe Trịnh qua từng thời kỳ của mỗi người cũng giống nhau. Nhưng trong những cuộc viễn du vào tâm hồn âm nhạc, người ta thường dành tình thương mến cho nhạc Trịnh ở một cấp độ cao hơn.
Tôi yêu sự tồn tại tự thân của nhạc Trịnh. Như ngày tôi còn bé, sự lựa chọn về âm nhạc đó không đến từ tôi. Nó đến từ sự lãng đãng, thanh bình và êm ả trong khu tập thể nhỏ bé mọi người vẫn giữ thói tập trung trà nước ở một ngôi nhà trung tâm, ai cũng có thể đến chơi. Nó đến từ những chiều mộng như trong tranh, tôi ngồi đấy và kể líu lo về những gì xảy đến trong ngày với mình cho gia đình bạn.
Tôi đã được yêu nhiều biết bao trong những ngày tháng ấy. Tôi đã được cho nhiều biết bao từ những ngày ấy. Nhạc Trịnh đã tồn tại hiểu nhiên trong lũ trẻ con nhí nhố chúng tôi thuở ấy. Tất cả lẫn với những bức tranh phố mái ngói nâu trầm, những thanh âm lách cách của cuộc sống bình dị...
Tôi tin, người ta ai cũng cần một tâm hồn, một niềm tin và một tình yêu trong trẻo để thấy mình giàu có. Có những thứ không ai có thể lấy đi được, có những hạt giống tâm hồn được gieo hạt và được nuôi dưỡng để trở thành những cái cây khỏe mạnh, biết cắm rễ sâu vào đất tìm mạch sống.
Tôi đã gặp lại nhạc Trịnh trong ngôi nhà của bao người bạn khác của mình. Những gia đình trí thức. Những vị phụ huynh thành đạt. Gia đình nhỏ của những người trẻ tuổi. Tiếng nhạc vang lên trầm tĩnh và đậm đặc như những mảnh hồn biết nói.
Những con người ấy, tôi biết. Không có gì bắt được họ nghe thứ họ không muốn nghe. Họ chọn nhạc Trịnh, yêu nó và trải qua bao vui buồn đời họ cùng nó, và lại truyền tình yêu ấy cho con cái của mình.
Không phải ai trong số những ngươi ấy cũng viết về tình yêu mình dành cho nhạc Trịnh. Vậy nên, khi tôi gặp được, bỗng hiểu, sự lựa chọn của mình từ buổi đầu không còn là sự lựa chọn cá nhân.
Nhạc tìm đến người, xoa dịu niềm đau và nâng cao tầm triết lý vào những điều thiết thân trong các cung bậc tình cảm phức tạp của con người.
Nhạc Trịnh tự sắp đặt định mệnh cho mình để trở thành người tình của nhiều người, rất rất nhiều người Việt. Rồi khi nhạc thấm vào người, bỗng thấy đó là một người tình đơn độc không bao giờ rời bỏ lối mình đi.
Có Trịnh, có tình
Khi em gái của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, ca sỹ Trịnh Vĩnh Trinh về nước làm album đầu tiên “Ru tình”, tất cả khu phố của chúng tôi đã đón đợi nó.
Trịnh Công Sơn làm diễn viên trong phim "Đất khổ" (Land of sorrows) của đạo diễn Hà Thúc Cần, thực hiện năm 1970
Tôi vẫn còn nhớ, mình và cô bạn thân hối hả đạp xe lên Hàng Gai mua băng cát-xét đầu đời.
“Ru em hài nhung gấm,
Ru em gót sen hồng
Ru em bầy lá nhỏ
Miệng ngọt hạt từ tâm…”
Trịnh Vĩnh Trinh có một giọng ca thánh thót, ngân nga. Quá lạ lùng so với những gì chúng tôi - những đứa trẻ con mười sáu tuổi quen nghe. Tôi đã bật băng “Ru tình” đó lên nghe bằng một sự ngưỡng mộ không bao giờ quên ngay từ lần đầu tiên.
Sau này, tôi luôn nghĩ, sự đầu tiên đặc biệt vì nó chỉ có một lần. Cảm xúc chưa từng biết đầy ắp và trong trẻo tròn đầy chỉ có một lần. Lần đầu tiên biết đến giọng hát Trịnh Vĩnh Trinh ấy, về sau còn mãi với tôi.
Đĩa CD duy nhất tôi mang theo khi xa nhà là đĩa “Tình yêu tìm thấy” của Trịnh Vĩnh Trinh. Nghe đi nghe lại, lần nào cũng yêu quá sự duyên dáng và thật thà ngọt ngào của “Còn đây có bao ngày và em hãy yêu tôi, đời đốt nến chia phôi dù nhớ thương cũng hoài…”
Lần đầu tiên, gặp Trịnh Vĩnh Trinh tại quán “Trịnh”, ngõ 47 Phạm Ngọc Thạch, Quận 1, TPHCM, tôi đã xúc động rất nhiều. Tôi đã nghe cô hát bằng tâm hồn một cô bé 16 tuổi. Tôi đã nhìn ngắm những bức hình ít ỏi của cô bằng ánh mắt tràn những sự ngưỡng mộ không biên giới của một cô bé 16 tuổi. Tôi đã yêu và ngộ những lời ca tình yêu nồng nàn và hoài niệm tiếc nhớ bảng lảng bằng một niềm đau chưa tỏ của một cô bé 16 tuổi. Tôi đã sống và tôi đã nhìn. Tôi đã tiếc và tôi đã thương.
Một buổi chiều nhạc Trịnh ngồi trong quán Trịnh, với những con người đã làm nên tên tuổi Trịnh, tôi chọn không nói gì, không nhìn nhiều mà chỉ chăm chỉ viết vào một cuốn sổ nhỏ. Mọi người nghĩ tôi đang làm việc. Còn tôi hiểu, mình đang ghi những nhật ký của một người tình nhỏ.
Người không biết đến thực sự hình ảnh của người mình yêu. Vậy mà yêu đắm đuối. Yêu những cảm xúc dội qua từ suy tưởng và từ sự cộng hưởng mà tôi may mắn có được với những người bạn có chung một hợp cảm về âm nhạc khác.
Tôi đã có một người mà cả tôi và cậu đều yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên, bằng xương bằng thịt. Tư tưởng của chúng tôi hợp nhau và chúng tôi say sưa nói về âm nhạc, về nhạc Trịnh. Sau này, tôi ghi lại những gì tôi đã sống với tình yêu qua lăng kính của những dòng nhạc Trịnh. Bỗng một ngày, tôi thấy mình đã có hơn chỉ một người Tình!
Liệu, có đến một ngày, tôi thôi không viết về người yêu ấy, về những kỷ niệm nằm sâu dưới đáy nhưng chưa hoàn toàn ngủ yên? Có thể. Và tôi sẽ đón chào điều đó bằng cả niềm vui lẫn sự nghẹn ngào.
Đôi khi, trong niềm đau và thương nhớ, người ta bỗng hiểu mình hơn và biết mình cần sự yêu thương đến mức nào hơn. Và như thế, tôi nên thực sự biết ơn những Tình Yêu mà nhạc Trịnh đã dạy cho tôi và dành cho cuộc sống này.
Dương Quỳnh Hoa
Nguồn TuanVietNam.net
Người viễn xứ hiểu họ đã gặp nhau từ lâu lắm và thân nhau từ lâu lắm. Những câu chuyện không phải gặp ai cũng có thể kể, nếu không nhờ những điều thân thuộc được gợi từ nhạc Trịnh...
Bao người đã tìm thấy ở nhạc Trịnh một niềm tri âm. Không phải lúc nào cái sự nghe Trịnh qua từng thời kỳ của mỗi người cũng giống nhau. Nhưng trong những cuộc viễn du vào tâm hồn âm nhạc, người ta thường dành tình thương mến cho nhạc Trịnh ở một cấp độ cao hơn.
Tôi yêu sự tồn tại tự thân của nhạc Trịnh. Như ngày tôi còn bé, sự lựa chọn về âm nhạc đó không đến từ tôi. Nó đến từ sự lãng đãng, thanh bình và êm ả trong khu tập thể nhỏ bé mọi người vẫn giữ thói tập trung trà nước ở một ngôi nhà trung tâm, ai cũng có thể đến chơi. Nó đến từ những chiều mộng như trong tranh, tôi ngồi đấy và kể líu lo về những gì xảy đến trong ngày với mình cho gia đình bạn.
Tôi đã được yêu nhiều biết bao trong những ngày tháng ấy. Tôi đã được cho nhiều biết bao từ những ngày ấy. Nhạc Trịnh đã tồn tại hiểu nhiên trong lũ trẻ con nhí nhố chúng tôi thuở ấy. Tất cả lẫn với những bức tranh phố mái ngói nâu trầm, những thanh âm lách cách của cuộc sống bình dị...
Tôi tin, người ta ai cũng cần một tâm hồn, một niềm tin và một tình yêu trong trẻo để thấy mình giàu có. Có những thứ không ai có thể lấy đi được, có những hạt giống tâm hồn được gieo hạt và được nuôi dưỡng để trở thành những cái cây khỏe mạnh, biết cắm rễ sâu vào đất tìm mạch sống.
Tôi đã gặp lại nhạc Trịnh trong ngôi nhà của bao người bạn khác của mình. Những gia đình trí thức. Những vị phụ huynh thành đạt. Gia đình nhỏ của những người trẻ tuổi. Tiếng nhạc vang lên trầm tĩnh và đậm đặc như những mảnh hồn biết nói.
Những con người ấy, tôi biết. Không có gì bắt được họ nghe thứ họ không muốn nghe. Họ chọn nhạc Trịnh, yêu nó và trải qua bao vui buồn đời họ cùng nó, và lại truyền tình yêu ấy cho con cái của mình.
Không phải ai trong số những ngươi ấy cũng viết về tình yêu mình dành cho nhạc Trịnh. Vậy nên, khi tôi gặp được, bỗng hiểu, sự lựa chọn của mình từ buổi đầu không còn là sự lựa chọn cá nhân.
Nhạc tìm đến người, xoa dịu niềm đau và nâng cao tầm triết lý vào những điều thiết thân trong các cung bậc tình cảm phức tạp của con người.
Nhạc Trịnh tự sắp đặt định mệnh cho mình để trở thành người tình của nhiều người, rất rất nhiều người Việt. Rồi khi nhạc thấm vào người, bỗng thấy đó là một người tình đơn độc không bao giờ rời bỏ lối mình đi.
Có Trịnh, có tình
Khi em gái của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, ca sỹ Trịnh Vĩnh Trinh về nước làm album đầu tiên “Ru tình”, tất cả khu phố của chúng tôi đã đón đợi nó.
Trịnh Công Sơn làm diễn viên trong phim "Đất khổ" (Land of sorrows) của đạo diễn Hà Thúc Cần, thực hiện năm 1970
Tôi vẫn còn nhớ, mình và cô bạn thân hối hả đạp xe lên Hàng Gai mua băng cát-xét đầu đời.
“Ru em hài nhung gấm,
Ru em gót sen hồng
Ru em bầy lá nhỏ
Miệng ngọt hạt từ tâm…”
Trịnh Vĩnh Trinh có một giọng ca thánh thót, ngân nga. Quá lạ lùng so với những gì chúng tôi - những đứa trẻ con mười sáu tuổi quen nghe. Tôi đã bật băng “Ru tình” đó lên nghe bằng một sự ngưỡng mộ không bao giờ quên ngay từ lần đầu tiên.
Sau này, tôi luôn nghĩ, sự đầu tiên đặc biệt vì nó chỉ có một lần. Cảm xúc chưa từng biết đầy ắp và trong trẻo tròn đầy chỉ có một lần. Lần đầu tiên biết đến giọng hát Trịnh Vĩnh Trinh ấy, về sau còn mãi với tôi.
Đĩa CD duy nhất tôi mang theo khi xa nhà là đĩa “Tình yêu tìm thấy” của Trịnh Vĩnh Trinh. Nghe đi nghe lại, lần nào cũng yêu quá sự duyên dáng và thật thà ngọt ngào của “Còn đây có bao ngày và em hãy yêu tôi, đời đốt nến chia phôi dù nhớ thương cũng hoài…”
Lần đầu tiên, gặp Trịnh Vĩnh Trinh tại quán “Trịnh”, ngõ 47 Phạm Ngọc Thạch, Quận 1, TPHCM, tôi đã xúc động rất nhiều. Tôi đã nghe cô hát bằng tâm hồn một cô bé 16 tuổi. Tôi đã nhìn ngắm những bức hình ít ỏi của cô bằng ánh mắt tràn những sự ngưỡng mộ không biên giới của một cô bé 16 tuổi. Tôi đã yêu và ngộ những lời ca tình yêu nồng nàn và hoài niệm tiếc nhớ bảng lảng bằng một niềm đau chưa tỏ của một cô bé 16 tuổi. Tôi đã sống và tôi đã nhìn. Tôi đã tiếc và tôi đã thương.
Một buổi chiều nhạc Trịnh ngồi trong quán Trịnh, với những con người đã làm nên tên tuổi Trịnh, tôi chọn không nói gì, không nhìn nhiều mà chỉ chăm chỉ viết vào một cuốn sổ nhỏ. Mọi người nghĩ tôi đang làm việc. Còn tôi hiểu, mình đang ghi những nhật ký của một người tình nhỏ.
Người không biết đến thực sự hình ảnh của người mình yêu. Vậy mà yêu đắm đuối. Yêu những cảm xúc dội qua từ suy tưởng và từ sự cộng hưởng mà tôi may mắn có được với những người bạn có chung một hợp cảm về âm nhạc khác.
Tôi đã có một người mà cả tôi và cậu đều yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên, bằng xương bằng thịt. Tư tưởng của chúng tôi hợp nhau và chúng tôi say sưa nói về âm nhạc, về nhạc Trịnh. Sau này, tôi ghi lại những gì tôi đã sống với tình yêu qua lăng kính của những dòng nhạc Trịnh. Bỗng một ngày, tôi thấy mình đã có hơn chỉ một người Tình!
Liệu, có đến một ngày, tôi thôi không viết về người yêu ấy, về những kỷ niệm nằm sâu dưới đáy nhưng chưa hoàn toàn ngủ yên? Có thể. Và tôi sẽ đón chào điều đó bằng cả niềm vui lẫn sự nghẹn ngào.
Đôi khi, trong niềm đau và thương nhớ, người ta bỗng hiểu mình hơn và biết mình cần sự yêu thương đến mức nào hơn. Và như thế, tôi nên thực sự biết ơn những Tình Yêu mà nhạc Trịnh đã dạy cho tôi và dành cho cuộc sống này.
Dương Quỳnh Hoa
Nguồn TuanVietNam.net






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét