Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2025

Chuyện tình Sài Gòn và Con gái của người Giải phóng quân

 Chuyện tình Sài Gòn và Con gái
của người Giải phóng quân

Nhà văn Hoài Hương có hành trình viết bền bỉ hơn 20 năm nay với 13 ấn phẩm cá nhân đã ra mắt bạn đọc. Hiện chị là Hội viên: Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn TPHCM và Hội Điện ảnh TPHCM.
Văn chương như một nhịp thở luôn thao thiết chảy tràn mê đắm trong chị. Chị viết nhiều, đa dạng các thể loại và nghiêm cẩn khi viết. Tác phẩm của chị luôn mang một dấu ấn của sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại. Với chị, mỗi chuyến đi, mỗi một sự gặp gỡ chính là chất xúc tác để sự sáng tạo luôn dồi dào và tươi mới.
Tận tụy với văn chương, Hoài Hương cũng đã để lại dấu ấn trên văn đàn bằng nhiều giải thưởng như: Giải B truyện ngắn “Hình tượng người chiến sĩ Cảnh sát nhân dân” – Bộ Công An, 2022; Giải Ba Bút ký “Những hy sinh thầm lặng” – Hội Nhà văn TPHCM, 2022; Giải Khuyến khích Truyện ngắn “Hình tượng người chiến sĩ cảnh vệ CAND”- Bộ Tư lệnh Cảnh vệ – Bộ Công An, 2023; Giải B Kịch bản văn học sân khấu “Hình tượng người chiến sĩ CAND” – Bộ Công an, 2024; Giải Đặc biệt Bút ký “Viết về Phát thanh”- VOV- 2024…
NHÀ VĂN TỐNG PHƯỚC BẢO giới thiệu
Chuyện tình Sài Gòn
1. –  Cậu có quen cô Việt kiều Mỹ tên Nam Phương?
  –  Dạ thưa chú không. Mà có gì không chú?
  –  Lạ ghê. Tại sao họ lại chỉ đích danh cậu. Mà cậu thì nói không quen…
Giám đốc Sở Ngoại vụ thành phố nhìn Hiếu tỏ vẻ có chút nghi hoặc, vừa đưa Hiếu xem bộ hồ sơ, trong đó có hình cô gái trẻ.
– Có quen cũng không sao, giờ đã qua hơn 25 năm, ¼ thế kỷ chiến tranh đã là quá khứ, mình đã bình thường hóa với Mỹ rồi mà. Thành phố cũng vừa đón Tổng thống Mỹ ghé thăm…
 – Dạ, thiệt sự con không có quen ai tên đó. Cô này càng không. Nhưng sao chú hỏi con?
–  Bên Tổng Lãnh sự quán Mỹ vừa đưa văn thư sang. Trong thư chỉ đích danh, tên họ địa chỉ rõ ràng nhà má cậu ở Củ Chi. Còn vì sao họ biết, thì Mỹ mà, cái gì muốn biết thì họ sẽ biết. Bên đó nhờ ta giúp một cô Việt kiều, hiện đang làm Luận văn Tiến sĩ sử học đương đại “Giải mã một số vấn đề về chiến tranh Việt – Mỹ”. Cô có yêu cầu muốn chính cậu sẽ giúp cô trong thời gian 3 tháng tìm tư liệu ở Việt Nam, đặc biệt thời gian ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam bộ.
–  Vậy chú trả lời với họ chưa?
–  Rồi. Có chi đâu mà từ chối. Và kêu cậu lên giao công tác nè. Mà thiệt không có quen?
–  Thiệt. Lạ hoắc à. Nhưng mà cô ấy có vẻ xinh đẹp.
– Hừm! Liệu liệu đó. Danh dự và uy tín cơ quan Nhà nước, ráng giữ. Dù gì họ cũng là từ Mỹ về. 
2. Chuyến bay đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất vào lúc chạng vạng, bên sảnh đợi ga quốc ngoại khá nhiều người đi đón thân nhân về, Hiếu chật vật len qua đám đông, tiến sát gần tới cửa, đưa giấy tờ cho an ninh sân bay, xin phép vào trong giúp làm thủ tục hải quan cho vị khách đặc biệt này. Có một chút hồi hộp, ừ, chắc vì vị khách này là một cô gái còn trẻ, sinh năm 1979, thua Hiếu mấy tuổi, theo hồ sơ là độc thân, theo hình trên hồ sơ thì khá xinh, dù hình kiểu passport thì chả có ai đẹp nổi. Cũng có nhiều câu hỏi lộn xộn trong đầu Hiếu, vì sao lại là anh, vì sao lại biết rõ địa chỉ nhà má anh ở Củ Chi, vì sao là con gái, lại chọn chủ đề chiến tranh làm luận văn…
– Nè! Khách của anh đã xong thủ tục nhập cảnh! Ra giúp họ khai báo hải quan. Chà, lần này là một cô Việt kiều rất xinh đẹp nha, nhưng không biết nói tiếng Việt.
Người cán bộ an ninh khu vực nhập cảnh tới thông báo cho Hiếu cùng cái nheo mắt trêu chọc. Họ quen nhau qua nhiều lần Hiếu đi làm thủ tục nhập cảnh giúp khách của Sở Ngoại vụ thành phố.
Hiếu có chút bối rối dù ngay lập tức diều chỉnh mình khi nhìn thấy cô khách Việt kiều. Thật sự, anh bạn an ninh sân bay nói không sai, một cô gái rất đẹp, cái đẹp dễ làm người đối diện choáng ngợp nhưng cũng dễ làm người ta phải xa cách tránh né bởi vẻ lạnh lùng trong ánh mắt. Cô nhìn thẳng vào Hiếu, một thoáng ánh nhìn có vẻ như là đã biết anh từ lâu, chủ động cất tiếng chào hỏi bằng tiếng Anh với chất giọng gần như không biểu cảm. Hiếu có chút hụt hẫng, nhưng rồi rất nhanh, anh đáp lễ bằng câu chào thân thiện và nụ cười hiền vốn có của mình. Công việc ở Sở Ngoại vụ ngoài khách ngoại quốc thì tiếp xúc với rất nhiều Việt kiều, và trong số họ, không phải ai cũng dễ chịu, Hiếu và các đồng nghiệp cũng quen với nhiều cung cách khác nhau trong ứng xử giao tiếp của họ, và luôn luôn giữ hòa khí.
Rất nhanh, mọi thủ tục hải quan hoàn thành, ngay cả với một số tài liệu cô mang theo cũng được cơ quan Kiểm duyệt văn hóa phẩm thuộc Sở Văn hóa Thông tin Thành phố duyệt cấp phép cho mang vào xử dụng. Hiếu giúp cô mang hành lý và đưa cô ra xe. Cô gái mặt lạnh như băng im lặng đi theo sau Hiếu. Cho tới khi ra khỏi sân bay, xe chạy trên đường Nam Kỳ Khởi nghĩa, qua gương chiếu hậu, Hiếu kín đáo quan sát cô, thấy cô nhìn chăm chú ra ngoài, ánh mắt hình như có chút ấm áp và hiếu kỳ.
–  Có phải hồi nãy mình vừa đi qua Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn?
Bất chợt một giọng nói rất ấm, rất Sài Gòn cất lên, làm Hiếu giật mình. Má ơi, sao lại có cái giọng nói cực dễ thương đến thế, cứ ngỡ không biết tiếng Việt, ai dè. Hiếu lúng túng tới vài chục giây, mới định thần trả lời.
– À, đúng rồi. Nơi đó bây giờ là Bộ Tư lệnh Quân khu 7. Trong chương trình, sẽ có một số buổi mình vào đây làm việc, gặp các tướng trận thời chiến tranh và vào Bảo tàng miền Đông cũng gần bên, đối diện với nơi đó.
– Chút nữa anh có thể cho xe đi một vòng trung tâm thành phố, trước khi về khách sạn được không? Như qua Dinh Tổng thống, Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán Mỹ, Đài Phát thanh, Cục An ninh quân đội Sài Gòn, Bót Catina, Nha Thông tin, Tối cao pháp viện…
–  Được… Nếu cô không thấy mệt sau chặng bay dài.
– Không mệt. Vừa chạm chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất, tôi đã hình dung ra nơi này từng có những trận chiến ác liệt mùa xuân năm 1968, đã tưởng tượng ra Trại Đa-vít nơi ở của Phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng…
Đến lúc đưa cô gái về khách sạn, Hiếu mới thở nhẹ, may mà anh đã được thông báo trước chương trình làm việc của cô Việt kiều này, và trước đó anh đã phải vào thư viện, tìm đọc rất nhiều tư liệu chiến tranh, tìm hiểu các địa điểm, các trận đánh, các chiến dịch… Ôi, nếu không thì chắc mệt với cô gái này. Mà cô ta cũng khá “ghê gớm”, dùng toàn tên địa danh cũ thời chiến tranh, “khẩu khí” cũng rất khiêu khích, dù giọng Sài Gòn thì không thể chê vào đâu được. Chỉ từ sân bay về khách sạn, cô đã “phủ đầu” Hiếu mấy chiêu, xem ra cô Việt kiều này khá “hóc”.
3. Đã qua hơn 2 tháng đưa Nam Phương đi khắp các nơi như kế hoạch trong chương trình, và cả những chuyến đi không nằm trong dự định, chỉ phát sinh ra sau khi cô tiếp xúc các nhân vật và nghiên cứu số tài liệu thu thập được. Giữa Hiếu và cô hình như vẫn có một khoảng cách không ra thân thiện không ra xa cách, cô không còn vẻ lạnh lùng ban đầu, thi thoảng còn mỉm cười rất dịu dàng cảm ơn khi được Hiếu tận tâm giúp cô mỗi khi công việc có chiều khó khăn ách tắc, nhưng cũng chỉ thế thôi. Ờ, mà nhiều khi Nam Phương nhìn Hiếu bằng ánh mắt rất thân thiện, trò chuyện như với một người thân, cảm giác như có một mối dây ràng buộc vô hình không rõ ràng.. Ờ, mà Hiếu cũng chưa có dịp nào hỏi tại sao cô lại biết mà yêu cầu đích danh Hiếu giúp cô trong chuyến sang Việt Nam làm việc, anh chẳng biết gì về cô gái mang cái tên Nam Phương này ngoài phần hồ sơ giới thiệu là nghiên cứu sinh ngành Sử học ở Đại học Harvard – Harvard University danh tiếng.
–  Ngày mai chủ nhật, không có lịch làm việc. Anh Hiếu có thể đưa đi tham quan Bảo tàng Mỹ thuật thành phố?
–  Ồ, được mà. Khi rảnh tôi cũng hay ghé đây, vừa xem các tác phẩm mỹ thuật, như một cách thư giãn, vừa là tìm hiểu thêm những giá trị tinh hoa văn hóa của Việt Nam qua những di vật mỹ thuật ở Bảo tàng. Cũng là để tự mình khám phá “giải mã” về Việt Nam.
Bảo tàng Mỹ thuật thành phố nguyên là ngôi biệt thự cổ hơn trăm tuổi của “Chú Hỏa” – một doanh nhân gốc Hoa tạo dựng sự nghiệp ở Sài Gòn từ đầu thế kỷ 20. Mang phong cách kiến trúc kết hợp hài hòa giữa hai trường phái kiến trúc châu Á và châu Âu, có mái lợp ngói âm dương màu đỏ rực dưới nắng hè, diềm mái ngói được tráng men màu xanh lục như cẩn ngọc khi bình minh lên, các ô cửa sổ lắp kính màu có hoa văn mang đậm phong cách nghệ thuật châu Âu phản chiếu ánh sáng lung linh kỳ ảo lúc hoàng hôn… Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh ngày 5/9/1987 đã quyết định dành biệt thự cổ này làm Bảo tàng Mỹ thuật của thành phố và năm 1989 Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh chính thức mở cửa phục vụ khách tham quan.
Nam Phương đã đứng thật lâu ngắm ngôi biệt thự cổ, và cô còn tỉ mỉ chăm chú quan sát từng chi tiết của ngôi nhà. Và tới khi vào tham quan những căn phòng trưng bày, cô như biến thành một con người khác, không còn vẻ lạnh lùng, không còn vẻ xa cách. Cô liên tục hỏi Hiếu, ánh mắt lấp lánh như trẻ thơ vừa có được một món đồ chơi thích thú, khi đứng trước bộ sưu tập gốm Việt Nam, khi ngắm những tác phẩm điêu khắc mỹ thuật cổ của văn hóa Óc Eo, Chămpa, Tây Nguyên, của các thời kỳ Lý – Trần – Lê – Nguyễn, ngắm tranh dân gian, từ Đông Hồ – Bắc Ninh, Hàng Trống – Hà Nội, tranh kính Nam bộ, tranh làng Sình – Huế, đến dòng tranh của hội họa trường phái Đông Dương, Gia Định, dòng tranh cách mạng…, thì cô như phát hiện ra một điều gì đó.
– Cảm ơn anh đã dành thời gian quý giá và tôi đã có ngày chủ nhật rất tuyệt. Vâng! Các hiện vật trong bảo tàng đã cho tôi nhiều suy nghĩ liên tưởng.
– Vậy giờ cô nghĩ sao?
– Có lẽ trong đề tài của tôi, cần phải bổ sung thêm về văn hóa truyền thống Việt Nam, tôi nghĩ, là một trong vấn đề then chốt để Việt Nam chiến thắng trong cuộc chến tranh Việt – Mỹ.
–  Theo tô, đúng thế. Cần như thế. Trong văn hóa truyền thống, còn có một di sản ngầm đầy quyền lực, chính di sản đó là nền tảng để Việt Nam luôn chiến thắng các thế lực ngoại bang lớn mạnh.
–  Là gì? Tôi chưa hiểu lắm.
–  Di sản “tinh thần yêu nước” của con người Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử, được thử thách trước “thiên tai và địch họa”…
Yêu nước là di sản tinh thần thiêng liêng gắn với niềm tự hào, tự tôn dân tộc, là phẩm giá Việt Nam. Nhưng đồng thời tinh thần đó lại tạo nên một nước Việt có những tinh hoa văn hóa sánh ngang với các cường quốc, tạo nên diện mạo đa dạng của văn minh nhân lọai. Không thể không tự hào khi là người Việt có một nền văn hiến truyền thống 4000 năm lịch sử. Và chính nền văn hiến đó đã tạo nên sức mạnh cho dân tộc Việt không để một thế lực hùng mạnh nào thay đổi, di dời, đồng hóa. Sức mạnh đó còn là nền tảng để đời đời các thế hệ người Việt kế tiếp mãi giữ gìn, bảo tồn và phát triển những tinh hoa tinh túy, như một di sản lớn nhất, quý giá nhất của quốc gia, đất nước, dân tộc. Khi có kẻ xâm lược thì tinh thần đó tạo nên sức mạnh để chiến thắng…
– Thêm một lần cảm ơn anh. Anh có thể cho xin những lời anh vừa nói, để vào luận văn của tôi. Tôi đã thấy có ánh sáng vài mấu chốt điểm cho việc “Giải mã một số vấn đề về chiến tranh Việt – Mỹ”. Tự dưng tôi thấy mắc cỡ với chính mình, là người Việt Nam, mang dòng máu Việt, nghiên cứu về lịch sử mà hiểu quá ít về lịch sử văn hóa Việt Nam…
Hiếu bỗng dưng có một sự thương cảm cô gái Việt kiều này, có chút xót khi cô trầm giọng tự dằn vặt bản thân mình.
– Bây giờ cũng đâu quá muộn. Mà cô cũng đang tìm về cội nguồn, tìm đúng mạch ngầm lịch sử đất nước.
– Thế hệ chúng tôi được xem là F1 của những người Việt ra đi sau năm 1975, sinh ra trên đất Mỹ, từ tiếng khóc chào đời đã mang nhiều dấu ấn văn hóa Mỹ. Đôi khi còn vì sự thù hận quá khứ của thế hệ trước để lại, đã như một barie chắn ngang và rất nhiều trong chúng tôi, hiểu biết về Việt Nam đầy khiếm khuyết, chưa kể còn không biết nói tiếng Việt.
–  Tôi thấy cô nói tiếng Việt, giọng Sài Gòn rất chuẩn mà.
– Vâng! May là ba tôi từng là sinh viên Văn khoa Sài Gòn, má tôi là cô giáo dạy môn Việt văn trong một trường Tây ở Sài Gòn trước năm 1975. Nên tôi được học tiếng Việt từ ba má. Nhưng quả thật, chỉ khi về Việt Nam, đây là lần đầu tôi được nói tiếng Việt một cách thoải mái và nhiều nhất.
4. Tháng 3/1975, trên quốc lộ 22 đoạn ngang qua Cây Trôm – Bàu Tre (nay là xã Phước Hiệp và Tân An Hội- Củ Chi), một đơn vị quân Giải phóng cùng du kích Củ Chi đã tấn công đoàn xe tiếp tế của Quân đoàn 3 Quân lực Việt Nam Cộng hòa chi viện cho chiến trường Tây Ninh. Trong trận đó, có một người lính Việt Nam Cộng hòa, nguyên là sinh viên Văn khoa vừa bị bắt đi lính, và đây là trận đầu tiên anh ra trận, đánh nhau với Việt Cộng. Chưa kịp gì thì anh đã thành tù binh của quân Giải phóng.Trận chiến vẫn tiếp diễn, không thể mang theo người tù binh đối phương, một người lính Giải phóng đã định bắn bỏ, thì người Giải phóng khác ngăn lại: “Thả cho nó đi, mặt mày nhát hít thế kia, chắc tân binh trận đầu, tha cho nó một mạng, còn có giữ được mạng trong trận này hay không là tùy số phận”, và ra dấu cho người tù binh chạy đi. Nhưng chưa kịp quay lưng chạy, thì một trận mưa pháo của quân đội Sài Gòn dập xuống tơi bời, người Giải phóng ngăn đồng đội mình bắn tù binh, nhoài người anh ta ngã  xuống và gần như nằm đè lên. Khi tiếng pháo dứt, người tù binh sững đơ người khi thấy một mảnh pháo găm xuyên lưng, người Giải phóng đã tắt thở, người Giải phóng kia chỉ còn nửa thân người. Dù rất hoảng sợ, nhưng người tù binh hiểu anh đã được người lình Giải phóng cứu mình lần thứ hai. Thấy bên hông người đó còn có một cái bòng… Những đồ vật trong cái bòng sau đã được anh mang theo sang Mỹ trong chuyến di tản đầy khổ ải trần ai, nhưng kỳ lạ là những món đồ trong đó không hề bị mất.
Căn phòng Nam Phương ở trên tầng thứ 8 của khách sạn Majestic nhìn ra hướng bờ sông Sài Gòn. Sau một ngày khá vất vả với gần 300 km từ Cần Thơ về thành phố đã tối muộn. Nhìn ra ngoài phía balcon, cô bỗng lặng người ngắm, mặt trăng tròn như chiếc đĩa ngọc trong suốt, đang tỏa ánh sáng bàng bạc tạo thành một màn như dệt bằng bụi vàng kỳ ảo trên dòng sông, có điều gì đó làm cho tim cô bỗng đập nhanh… Ba mình đã dặn, đúng ngày 18 âm lịch tháng này, con hãy đến nơi đó và thay mặt ba má, xin lỗi và tạ ơn họ. Hôm nay rằm. Ôi, chút xíu nữa là cô quên mất vì công việc cuốn đi, không để ý tới ngày tháng.
Cô lại bàn, lật trang đầu cuốn sổ tay có vẻ đã cũ, lầy ra tầm hình nhìn lại lần nữa. Giống thật. Mà sao anh ta chưa một lần nào cau có hay tỏ ý khó chịu với mình, dù có lúc mình tỏ ra lạnh lùng, đòi hỏi thế này thế kia. Ừ, không biết anh ta học trường nào, nhưng kiến văn vô cùng rộng, tiếng Mỹ anh ta dùng cũng rất hay, chả kém gì mình. Ừ, mà anh ta có vẻ đẹp rất đàn ông và đầy quyến rũ. Bỗng cô thầy má mình nóng ran.
5. – Chủ nhật này anh có thể đưa tôi về nhà anh ở Củ Chi thăm bà nội và má anh?
– Ơ… Tôi thấy trong chương trình không có kế hoạch của ngày chủ nhật. Đã tính về nhà. Chủ nhật này giỗ ba tôi. Cô muốn đi cũng được, nhưng thiệt, không giấu, đất Củ Chi mà, gần như nhà ai cũng có liệt sĩ giải phóng. Cô lại là Việt kiều Mỹ… giả có ai đó nói này kia khiến cô buồn…
– Không sao. Tôi đã chuẩn bị tâm thế ngay từ khi quyết định về Việt Nam. Và suốt hơn 2 tháng qua, hàng trăm cuộc gặp gỡ, tôi chưa thấy ai tỏ ý gì phản đối hay không hoan nghênh tôi, thậm chí mầy cô thanh niên xung phong đường vận tải 1C của chiến trường miền Tây Nam bộ xưa còn rất thương tôi, mấy ngày bên họ, được cưng, cho ăn bao nhiêu món Việt miền sông nước.
– Vậy nếu lỡ có ai nặng nhẹ, cô ráng nhịn nha.
–  Dạ.
Cô bỗng bật cười với tiếng “dạ” của mình, vừa giống như một sự nhõng nhẽo, vừa như một sự đồng ý đầy thân thương.
Còn Hiếu, bỗng dưng anh hồi hộp. Cảm giác cô không chỉ muốn thăm gia đình anh, mà còn là vì một điều gì đó rất đặc biệt. Chứ không, sao mấy lần tới làm việc ở địa đạo Củ Chi, cô đâu có ngỏ ý ghé thăm, dù nhà anh cách đó chỉ vài cây số.
– Ngoại, Má, con về rồi nè. Mà nhà ta có khách nha.
–  Má, ra coi thằng Hiếu mang ai dzìa kìa.
– Má, đây là cô khách Việt kiều của cơ quan con. Cô ngỏ ý muốn thăm gia đình mình.
–  Đâu đâu. Mèn ơi. Con, con tên gì? Nam Phương à. Tên hay quá, mà người cũng đẹp nữa. Thằng Hiếu khéo chọn.
– Trời, ngoại. Đây là cô khách của cơ quan con. Ở bển về làm việc. Ngọai nói vậy, người ta  trách con giờ.
Không hiểu sao, Nam Phương cũng bị lây không khí chộn rộn.
– Dạ, thưa ngoại, thưa má… Con, con có mấy món đồ, ba con nhờ gởi lại ngoại, má và anh. Con thay mặt ba má con tạ ơn gia đình, đã cho ba con sống…
Và rồi khi cô mang cuốn sổ tay, tấm hình, cùng vài món đồ lặt vặt như chiếc khăn rằn có thêu bông, chiếc mền dù pháo sáng… Ngoại và Má Hiếu ôm những di vật của ba Hiếu cùng òa khóc. Thấy vật như thấy người. Ngày đó, pháo của quân đội Sài Gòn điên cuồng dập mấy bận liên tục, đơn vị đã không thể tìm thấy xác ba Hiếu, chỉ làm mộ gió ở nghĩa trang liệt sĩ.
6. Đây là câu chuyện về ba má tôi. Sau đó, như một duyên lành, cũng trầy trật nhiêu khê nhiều thử thách, ba má tôi đã yêu nhau.
Tôi kể lại nhân kỷ niệm ngày giỗ thứ 47 của ông nội.
Con gái của người Giải phóng quân
1. Quá nửa thế kỷ, nhưng người cựu chiến binh Mỹ tên Michael ở chiến trường Việt Nam vẫn cứ đau đáu nỗi niềm ăn năn, không biết làm sao có thể nguôi ngoai được, dù bao lần đi xưng tội với Cha thay mặt Chúa ở nhà thờ, nhưng hình như sự ám ảnh từ đôi mắt của bé gái trong bức hình, vừa buồn mênh mang vừa như một câu hỏi “tại sao” đến the thắt, luôn làm Michael cảm thấy bứt rứt, như mắc nợ bé một câu trả lời mà chính bản thân mình cũng chưa biết phải trả lời ra sao.
Ngày ấy, năm 1967, Michael mới 18 tuổi, đã bị bắt lính, và sau một đợt huấn luyện cấp tốc, thì lên tàu sang miền Nam Việt Nam, rồi cũng rất nhanh được phiên vào một đơn vị thuộc sư Kỵ binh bay của Mỹ, ra ngay chiến địa ở miền Trung, rơi thẳng vào trận chiến khốc liệt ở Đắk Tô. Không thể kể lại hết những kinh hoàng, thống khổ, những khốc liệt hủy diệt như ngày tận thế mà một tân binh Mỹ trực diện nếm trải. Từ những trận đấu pháo của Mỹ với Quân Giải phóng, đến các trận đánh bằng xe thiết giáp chiến thuật với sự xuất hiện dũng mãnh của những chiếc xe tăng Quân Giải phóng, rồi hai bên dàn quân đánh trận theo đúng quy mô quy cách một trận chiến quân sự truyền thống giữa các binh chủng hợp thành thiện chiến của cả hai bên, một bất ngờ tác chiến đối với phía Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Việc hàng ngày Michael phải chứng kiến khoảnh khắc đội thu gom tử sĩ của sư đoàn là hàng trăm tấm pông-sô gói xác lính Mỹ được dồn lại và cho lên trực thăng chuyền tới quân cảng Đà Nẵng chở về Mỹ, mà cảnh này kéo dài gần cả tháng, đã làm tinh thần của Michael gần như rơi vào hoảng loạn, lo sợ, bất an, hoang mang, không biết ngày nào thì mình cũng sẽ bị cuốn vào tấm pông-sô bít bùng đó.
Michael không biết làm gì ngoài việc làm dấu Thánh và lầm nhẩm cầu Chúa, khẩu súng AR.15 gần như dính chặt vào người hướng mũi súng ra bên ngoài và mắt thì nhắm nghiền, tay bóp cò súng, không cần biết phía trước có ai, mà cũng rất khó biết vì lúc đó cả chiến địa bị cày xới lộn tung lên, trên thì bom và rocket của máy bay Mỹ thả xuống, rồi pháo bắn, rồi các loại mìn, lựu đạn, vũ khí từ B.40, B.41, AK của Quân Giải phóng đến các loại M.79,  cối 81… của lính Mỹ, mờ mịt khói lửa, tiếng nổ, giống như lật trời đảo đất của một cơn địa chấn. ..  Rồi bỗng dưng trong đám hỗn mang khói lửa đó, một nhóm Quân Giải phóng bỗng hiện ra xông về phía chiến hào trận địa của Michael, một cuộc đấu súng trực diện giữa hai bên, và ở khoảnh khắc sinh từ cận kề này, không ai kịp nghĩ gì về đồi phương, mà cứ nhắm mắt nhả đạn, chậm tích tắc là có thể không còn ngày mai.
Có lẽ đó cũng là khoảnh khắc ghim chặt vào ký ức của Michael không thề phai nhòa, thành vết thương hội chứng thần kinh hậu chiến tranh Việt- Mỹ kéo dài đến mấy chục năm sau, khi bất chợt trước mắt, gần như đụng vào mũi súng của Michael là một lính Quân Giải phóng. Như một phản xạ tự nhiên, tay bóp có súng, và cả một loạt đạn ghim thẳng vào người lính Quân Giải phóng, anh té nhào chồm về phía trước, hai tay gần như ôm róng riết xung quanh thắt lưng Michael, Michael cảm nhận phía trước bụng mình thấm ướt máu của anh ta, và hoảng hốt cố gắng hất ra.
Bất chợt người Giải phóng quân buông tay từ từ khuỵu xuống, một tay chống trên đất, một tay lần tìm nơi túi áo, và lấy ra một tấm hình, là một bé gái, ánh mắt nhìn Michael không có vẻ căm thù hay hận thù, mà là ánh mắt của một sự thương hại một sự tha thứ đến kỳ lạ. Chính ánh mắt đó đã làm Michael day dứt xốn xang, cảm thấy cần làm một điều gì cho anh. Michael cầm tấm hình, lật phía sau thấy có mấy hàng chữ Việt, nhưng không hiểu viết gì, hình như là địa chỉ. Người Giải phóng quân lịm đi mắt khép lại và nằm nhoài hẳn ra đất. Michael cũng vội nhét tấm hình vào túi áo và chạy nhanh về phía trước theo mấy người lính Mỹ của đơn vị mình.
Trận chiến còn kéo dài tới ba ngày sau mới kết thúc, phía quân Mỹ bị tiêu hao gần hết sức chiến đấu. Phần còn lại của sư đoàn Kỵ binh bay được lệnh rút về căn cứ ở Đà Nẵng, để bổ sung quân. Cũng lạ, Michael không bị một vết thương nào dù mấy lần tưởng chừng cận kề cái chết.
2. Đêm đầu tiên trở về căn cứ ở Đà Nẵng, Michael không ngủ được, bức hình bé gái như động đậy, Michael lấy ra khỏi túi, chăm chú nhìn, bé gái đâu chừng 5-6 tuổi, ánh mắt nhìn như xoáy sâu vào Michael, một đôi mắt to tròn u buồn đến nao lòng.
–  Tại sao ông lại sang tận đất nước tôi rồi bắn cha tôi?
–  Tại sao ông lại chia cắt cha con tôi âm dương cách biệt?
–  Tại sao ông không thấy tội lỗi khi giết người?
Michael bỗng nhiên run tay, toát mồ hôi lạnh, cảm giác hàng chục câu hỏi của bé gái trong bức hình đang cứa sâu vào tim mình, mà không câu nào có thể trả lời được.
– Ừ, tại sao mình lại có mặt ở đất nước này, cách xa nước Mỹ hơn nửa vòng trái đất, không có gì ở đây gọi là đe dọa nền hòa bình của nước Mỹ?
– Ừ, tại sao lại phải bắn giết họ khi không có thù hận gì, đổi lại là hàng ngàn người trai trẻ anh tú của nước Mỹ phải bỏ thây ở đất nước xa lạ này?
– Ừ, tại sao lại phải luôn sống trong nỗi sợ hãi khi cái chết vô lý có thể đến với mình  bất kể lúc nào…?
Thế rồi, đêm đêm Michael như bị một thôi thúc thần bí nào đó, lại mang bức hình ra nhìn, đôi mắt cô bé vẫn rất buồn, một nỗi buồn thao thiết bi thương, vẫn hàng chục câu hỏi “tại sao” mà Michael không thể trả lời được, ngay cả câu hỏi đơn giản nhất “tại sao lại có mặt ở đất nước Đông Nam Á xa xôi này”. Có đêm nhìn bức hình, Michael bật khóc, một nỗi thất vọng tràn trề với những gì được cấp trên truyền đạt, chỉ thấy càng ngày sự có mặt của những người lính Mỹ ở Việt Nam càng vô lý. Chưa kể những cuộc càn quét hủy diệt đã làm cho bao người dân vô tội bỏ mạng, làng mạc thôn xóm bị cày xới như bị những cuộc đại địa chấn…
Nỗi dày vò ngày càng lớn, Michael rơi vào trầm cảm nặng, và được trở về Mỹ. Trong hành trang về nhà của người lính Michael có bức hình bé gái, cùng tâm tư nặng trĩu không biết sẽ làm gì với nó, không biết phải làm sao chuộc lỗi với người Giải phóng quân và gia đình anh. Khi về đến nhà, cảm giác “món nợ” này càng nặng, choán hết tâm tư của người lính Michael, bởi khoảng cách quá xa, và chiến tranh Việt- Mỹ vẫn tiếp diễn đầy tàn khốc, và những “bọc” pông-sô chuyển về Mỹ ngày càng nhiều.
Michael đã cho bức hình vào một khung gỗ nhỏ, đặt ngay trên bàn làm việc của mình trong phòng. Ngày tiếp ngày, tháng nối tháng, năm qua năm, bé gái trong hình dần như một thành viên trong nhà Michael, cả nhà đặt tên cho bức hình là “Vietnamese Girl”- Cô bé Việt Nam. Ngày nào Michael cũng dành ít phút ngồi lặng ngắm và thầm trò chuyện với bức hình, cảm giác cô bé đang ở trước mặt, đang chất vấn bằng ánh mắt vời vợi buồn.
Thời gian càng chồng chất năm tháng, Michael cảm giác ánh mắt cũng ngày càng như buồn nhiều hơn, buồn đến the thắt, mà khi nhìn vào, Michael càng day dứt mặc cảm hơn tội lỗi của mình. Lời hứa với người Giải phóng quân chưa thực hiện được cũng làm cho Michael thấy bản thân mình tồi tệ, trong tim cứ như có một khối u ngày càng to hơn, vật vã Michael trong những cơn đau vô hình mà quặn thắt.
3. Tại Đà Nẵng có tổ chức cuộc hội thảo Việt- Mỹ mang chủ đề “Chấn thương, khủng hoảng trong chiến tranh và chữa lành bằng nghệ thuật” do các trường Đại học nghệ thuật của Việt Nam và Mỹ phối hợp tổ chức. Tính từ sau Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh được ký kết vào ngày 27/1/1973, tới thời điểm này cũng đã được 50 năm, rất nhiều học giả Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Úc, Nhật…. tham dự.
Và trong cuộc hội thảo, một học giả – Giáo sư tâm lý- nghệ thuật học người Mỹ, đã mang ra bức hình được chụp lại- là chân dung một bé gái chừng 5- 6 tuổi- “Vietnamese Girl”. Ông đã kể câu chuyện của người cựu chiến binh Mỹ tên Michael và cho biết hiện tại ông ta sống trong trạng thái trầm cảm nặng, luôn thường trực ám ảnh tội lỗi, ông muốn qua cuộc hội thảo này, giúp tìm bé gái trong bức hình để trả lại cho gia đình, và nếu có thể được ông sẽ sang Việt Nam, đến tận nơi tạ tội với cô bé, với gia đình người Giải phóng quân, như một sự chuộc lỗi, cho ông được thanh thản những năm tháng cuối đời. Ông cũng đã chụp lại hàng chữ phía sau bức hình khi chưa bị thời gian kịp làm mờ, và dò hỏi biết được đó là địa danh- có lẽ là địa chỉ làng quê- ngôi nhà của người lính Giải phóng.
Câu chuyện đã nhanh chóng được truyền thông cả Việt Nam và nước ngoài đưa tin. Sự luân lạc của bức hình và vết thương tâm lý hậu chiến như một đề tài thú vị,  đã được một Hãng thông tấn nước ngoài đưa thành tin HotNew, và một tờ báo xuất bản ở Việt Nam mua đăng lại với dòng chữ “Em là ai- Em bé Việt Nam?”.
Ngày thứ hai của cuộc hội thảo, ngay từ đầu giờ, vị Giáo sư người Mỹ thông tin cho các thành viên tham dự, đã có những hồi âm nhiều tín hiệu vui, có tới 3 người phụ nữ của vùng quê đó cho biết bé gái chính là mình. Cả ba đều có cha là Giải phóng quân, cùng bị “mất tích”- hy sinh ở chiến trường Đắk Tô ngày ấy. Làm sao xác định được ai mới chính là cô bé trong hình, khi cả ba người đều có nét hao hao và hiện tại họ cùng xấp xỉ tuổi 60 như nhau.
Vâng! Đó là một thách thức không hề dễ dàng gì, bởi không thể lấy khoa học huyết thống bằng AND để chứng minh. Mà chân dung của người Giải phóng quân qua mô tả của Michael thì rất mơ hồ, làm sao kịp nhìn rõ gương mặt, đặc điểm nhận dạng vào thời điểm sinh tử đó, để có thể biết là cha của ai trong ba người phụ nữ này. Bản thân họ cũng không có hình chân dung của cha họ, thì cũng rất khó đối chiếu. Và cũng có lẽ như một cô gắng “chữa lành”, và để có sự kết giao trong việc hàn gắn các vết thương chiến tranh của cả hai bên, thông tin câu chuyện đã được chuyển cho Bộ Ngoại giao của hai nước Việt Nam và Mỹ, đồng thời cũng được chuyển cho hai Bộ Quốc phòng, truy tìm xem đơn vị nào của Quân Giải phóng và Mỹ trực tiếp tác chiến vào thời gian ấy ở khu vực này.
Cũng mất khá nhiều công sức sưu tra thông tin của nhiều cơ quan, đơn vị ở cả hai bên, đối chiếu các tài liệu lưu trữ, sau cùng thì phía Việt Nam đã cung cấp được ba chân dung phác họa về ba chiến sĩ “mất tích” trong trận chiến vào thời điểm đó. Tất cả được chuyển sang Mỹ cho người cựu chiến binh Michael nhận dạng. Lúc Michael mở email có chứa tập tin chân dung ba người Giải phóng quân, ông hơi hồi hộp, có chút ngập ngừng. Cảm giác sẽ gặp lại người lính của đối phương mà mình bắn chết bỗng dưng làm cho Michael sợ, một nỗi sợ mơ hồ không thể gọi tên.
Nhưng rồi ánh mắt của “Vietnamese Girl” trong khung ảnh để trên bàn như thôi thúc, như giục giã, có cả như một van lơn rất thống thiết, Michael quyết định mở file. Ba chân dung người lính Giải phóng quân được vẽ theo trợ giúp của công nghệ AI, nhìn rất sống động, y như hình ảnh thật. Michael lần lượt nhìn kỹ từng chân dung, rồi nhắm mắt định thần lại, ông đưa tay cầu nguyện Chúa như một bám víu đức tin của mình, hãy giúp ông nhìn đúng chân dung cha của cô bé. Michael quyết định xem kỹ hơn lâu hơn từng bức chân dung, và như một lình cảm đặc biệt khi nhìn vào đôi mắt chân dung thứ hai, ông thấy rất quen thuộc, như thấy lại ánh mắt sau cùng của người Giải phóng quân, nhìn ông vừa như tha thứ vừa như gừi gắm…
Michael trả lời là bức thứ hai. Cùng lúc đó, ông nhìn vào bức hình cô bé, có lẽ ông hoa mắt, lần đâu tiên ông cảm giác thấy nụ cười của cô.
4. Thật nhanh, chân dung người Giải phóng quân số 2 đã được đưa về gia đình ba người phụ nữ để nhận dạng. Và cũng rất nhanh, hay một điều may mắn đến kỳ lạ, vợ của người Giải phóng quân thứ hai, ngót 80 tuổi, từ khi nhận được tin chồng “mất tích”, bà cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn, ngày nào cũng ra ngóng ngoài cổng nhà, bỗng như hồi sinh thần trí, nhìn hình nhận ngay ra chồng mình. Đúng là chồng, lúc đó anh mới chừng 30 tuổi, và suốt hơn 50 năm nay, vẫn trong hồ sơ “mất tích”, bà và cô con gái luôn hy vọng chồng mình cha mình sẽ trở về. Rồi bà kể rất rõ ràng, bức ảnh cô con gái được chụp lúc bé lên 5 tuổi, cả nhà mang nhau ra thị trấn chụp ở cửa hiệu ảnh to nhất chợ, sau đó thì người cha lấy tấm hình con gái mang theo ra trận, còn hình ba người thì để ở nhà. Bà lật đật tới giường ngủ của mình, lấy ra một gói nhỏ để trong chiếc gối, mở ra mấy lớp giấy, sau cùng là một tấm hình cũng đã cũ- ba người, nhưng vẫn nhìn rất rõ nét mặt, người cha rất trùng khớp với tầm hình phục dựng và cô bé trong bức hình gia đình giống y hệt cô bé “Vietnam Girl”, cũng chiếc áo chấm hoa dâu li ti cổ lá sen. Một sự vỡ òa, vừa hạnh phúc vừa đau đớn. Bà vợ ôm bức hình chân dung chồng khóc và giữ chặt, nhất định không đưa cho ai.
Tin cũng được ngay lập tức chuyển về cho Michael, ông vừa mừng vừa thêm một nỗi lo, rồi làm sao đối diện với cô bé, với gia đình người Giải phóng quân. Ông quyết định trả lại bức ảnh cho gia đình cô gái, mà lúc này ông đã biết tên của cô- tên của một loài hoa dịu dàng- Cúc, bà Cúc. Bức hình đó cũng là kỷ vật cuối cùng của người cha người chồng. Nhưng cũng không thể gừi theo đường bưu điện, vạn dặm đường xa, sợ thất lạc. Michael cảm thấy hơi bất an. Sau bao đắn đo, ông quyết định bay sang Việt Nam, trực tiếp gặp gia đình cô bé tạ tội, trả bức hình tận tay cô, và tùy ý họ phán xử ông thế nào ông cũng chịu.
Tính ra gần 60 năm Michael mới quay trở lại Việt Nam, trở lại chiến trường xưa đầy kinh hoàng và tội lỗi đến ám ảnh từng giấc ngủ từng bữa ăn. Để ông an tâm, Lãnh sự quán cử một người tháp tùng cùng đến nhà của cô bé, vừa làm phiên dịch giúp ông. Trên đường đi, Michael cố quan sát và nhớ lại, nhưng tất cả đã hoàn toàn không còn gì gọi là chiến địa như xưa. Có nơi đi qua là cánh đồng lúa xanh mướt, có nơi đi qua là một thị trần đông đúc, hình như các dấu vết của chiến tranh đã thuộc về quá khứ trong ký ức. Mà những người Việt Nam ông gặp trên đường đi lại rất thân thiện, hiền lành và ấm áp trong cảm nhận của ông, họ hướng ánh mắt gật đầu chào cả hai người như với hai người khách quý, mấy đứa trẻ con còn hét lên “Hello”, rồi đưa tay vẫy vẫy, miệng cười tươi.
Michael vẫn chưa hết sự căng thẳng, ông hồi hộp không hình dung ra cuộc gặp gỡ sẽ như thế nào, liệu người con gái của anh Giải phóng quân có tha thứ cho ông hay sẽ làm gì? Rồi người vợ, và những người trong gia đình anh sẽ đối xử với ông ra sao? Họ có nguyền rủa ông, hay đánh ông, xua đuổi ông… Bao nhiêu cảm xúc ngồn ngang trong lòng Michael, nhưng có lẽ sự quyết tâm tạ lỗi, sẵn sàng chịu đựng sự trừng phạt- mà Michael thấy là rất đáng phải nhận. Ông cảm thấy tự tin hơn, nghĩ mình cứ chân thành và hối lỗi tự tâm mình. Ông được nghe nói, người Việt Nam bao dung, nhân hậu lắm, họ luôn muốn khép lại những hận thù, để hướng đến tương lai trong hòa bình, hữu nghị…
Càng gần tới nhà cô gái, Michael càng xao xác lo lắng, cố trấn tĩnh mà xem ra thật khó, người lúc nóng lúc lạnh. Không biết bao lần Michael đã tập nói những câu xin lỗi, hối lỗi và tạ lỗi bằng tiếng Việt đến cô gái và gia đình, nhưng lúc này gần như trống rỗng, không thể nhớ một câu nào.
5. Ra đón hai người có lẽ là cả làng, rất đông. Xe vừa dừng lại, Michael đã cảm nhận đầy chính là quê hương của người Giải phóng quân mà anh từng sống, và cũng chính từ nơi này anh đã vào trận rồi không bao giờ trở lại. Có chút chùng chình, có chút ớn lạnh sợ hãi. Michael run rẩy, ông cố tình kéo dài thời gian chưa mở cửa ra vội, nghĩ không biết họ có bị kích động mà nhào tới đánh chửi khi biết ông chính là người đã bắn chết người thân của họ. Nhưng ngay lập tức, Michael nhận thấy nụ cười thân thiện của họ dành cho mình, đặc biệt, ông để ý thấy một phụ nữ luống tuổi, đứng khiêm nhường bên gốc cây to, rợp mát, hướng ánh mắt đến ông, chạm vào cái nhìn, bỗng dưng ông nổi gai, nhủn hết người, đúng cái ánh mắt buồn mênh mông, buồn da diết đó nhìn ông hơn 50 năm nay trong nhà ông. Ông bươn bải tới bên người phụ nữ, nói thật chậm từng chữ bằng tiếng Việt. Để chuẩn bị cho chuyến đi tạ lỗi này, Michael đã học tiếng Việt, vì muốn nói những lới sám hối bằng tiếng Việt đến cô gái và gia đình người Giải phóng quân.
–  Chào cô! Có phải là cô Cúc- bà Cúc?
Có một khoảnh khắc im lặng đến lạnh người. Nhưng rồi một nụ cười thoáng qua đầy dịu dàng.
–  Dạ. Tôi là Cúc. Là người trong bức hình.
Bỗng dưng giống một luồng điện lạnh ngắt chạy dọc sống lưng, Michael gần như cứng người, không biết nói câu gì tiếp theo. Ông nhìn bà Cúc đầy bối rối. Có lẽ nhận ra những lúng túng có phần hoang mang và tội nghiệp của ông, bà Cúc ra dấu ông đi theo, một sự vô thức kỳ lạ, ông đi theo bà, đi líu ríu từng bước ngắn, và sau ông là một hàng người làng rồng rắn dài sọc, họ cũng tò mò nhìn ông, trong các ánh mắt đều khá hiếu kỳ và thân thiện, không vẻ gì đe dọa. Cũng không biết vì sao, ông lại cảm thấy bình an đến kỳ lạ, những nỗi sợ tan biến. Đi khoảng 100m thì đến nhà bà Cúc, một căn nhà lợp lá đơn sơ, nhưng thoáng mát.
Cúi đầu bước vào trong, Michael ngồi xuống ghế, ngay lập tức nhận ra phia gian giữa ngôi nhà, bàn thờ người Giải phóng quân khói nhang đang ngoằn ngoèo vướng vít quẩn quanh chiếc lư không tan đi. Bức hình phục dựng theo công nghệ AI đã được đóng khung để trang trọng trên bàn thờ, cạnh bên còn một tấm Bằng Tổ quốc ghi công.  Michael vội đứng dậy, xin phép bà Cúc, xin phép bà vợ của người Giải phóng quân và gia đình, cho được thắp nhang tạ tội với ông, với gia đình.
Michael quỳ giữa nhà, hướng lên bàn thờ người Giải phóng quân, nhìn chăm chú vào chân dung ông, nói rất chậm bằng tiếng Việt. Xung quanh trước đó lao xao tiếng người, thì giờ cũng im bặt. Có một khoảng lặng thiêng liêng.
–  Tôi là Michael, hôm nay tôi đã đến đây, đến ngôi nhà của ông, thực hiện lời hứa mang tấm hình về trả lại cho con gái ông. Tôi ngàn lần xin lỗi vì đã gây ra sự biệt ly vĩnh viễn giữa cha con ông và người thân. Tôi đã tự chịu sự trừng phạt suốt từng ấy năm, và ngày nào cũng nghĩ về tội lỗi của mình, ăn năn và sám hối. Chỉ mong ông và gia đình tha thứ cho tôi, cho tôi có được một chút thanh thản những ngày còn lại.
Nói xong, Michael cúi đầu lặng yên một lúc lâu. Tới khi ngẩng lên, nhìn thấy cô con gái- bà Cúc và người vợ khóc lặng, Michael không kìm nén được bật lên tiếng khóc, khóc như một sự tẩy rửa tội lỗi, khóc như một sự ăn năn suốt hơn 50 năm.  Hai mẹ con bà Cúc khi thấy Michael khóc, đã tới bên ôm lấy ông, vỗ nhẹ vào vai ông, Vâng! Họ đã tha thứ. Nỗi đau và lòng căm thù đã được hóa giải bằng sự bao dung nhân ái. Tất cả đã thành quá khứ và khép lại hận thù.
Michael nén cảm xúc, lấy trong chiếc túi nhỏ khung hình bé gái- nguyên gốc năm xưa, trao lại cho hai mẹ con bà Cúc. Nhìn hai mẹ con ấp tấm hình lên ngực, thêm một lần Michael lại khóc. Ông cảm nhận được sự khoan dung của họ, cảm nhận được sự nhân hậu của họ, đại diện cho những người Việt Nam.
Ngày hôm đó có lẽ là một trang mới trong cuộc đời của Michael, ông như được hồi sinh bởi cất được gánh nặng tội lỗi hơn 50 năm. Không những thế, ông còn được gia đình bà Cúc cùng người làng đãi ông những món ăn làng quê Việt, giản đơn mà thấm đẫm tình, họ xem ông như một người bạn, để cùng nhau nhìn về tương lai.
Cho đến khi trở về nhà, Michael vẫn còn lâng lâng cảm xúc, vẫn luôn tự hỏi tại sao một đất nước Việt Nam có những con người hiền hòa như thế, ấm áp như thế, yêu thương sự bình yên, mà ngày trước họ lại sang đó để tước đoạt sự sống của họ, chia cắt tình thân của họ, hủy diệt sự yên bình của họ… Michael nhớ, trước khi tam biệt ngôi nhà của người Giải phóng quân, ông đã thầm hứa, một lời hứa sẽ sống thật tốt để xứng với những tha thứ của người Việt Nam.
Và nhất định ông sẽ mang câu chuyện này, câu chuyện về bức hình “Vietnamese Girl”- Bé gái Việt Nam, con gái người Giải phóng quân, kể cho bạn bè đồng đội của mình, những cựu chiến binh Mỹ cũng từng bị ám ảnh tội lỗi, như một câu chuyện “chữa lành” những di chứng tâm lý hậu chiên tranh Việt - Mỹ.
15/8/2024
Hoài Hương
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...