Thứ Tư, 4 tháng 6, 2025

Cõi người ta

Cõi người ta

Cụ lặng người, giọng đột ngột xa xăm: “Đêm ấy ông Lưu chơi sáo hay đến kỳ lạ cậu ạ. Tiếng sáo lay động, nhức nhối. Tôi ngồi bên nhà nghe văng vẳng tiếng sáo, chợt nghĩ đến cái câu: “Con chim sắp chết kêu thương” mà giật mình. Không khéo cái nhà ông này… Cõi người ta thì mông lung, ảo huyền lắm. Nhưng, phải cố hòa nhập vào đấy mà sống. Khi đã phải co về, sống với cõi riêng của mình thì đáng sợ lắm. Tiếng sáo của ông Lưu đêm cuối cùng là cõi riêng của ông ấy đấy. Cái tôi trong nghệ thuật khi đã đạt tới đỉnh điểm thì rất hay nhưng, đầy bất trắc!
“Trăm năm trong cõi người ta” – Nguyễn Du.
Kể cũng khó tin, khi tôi và cụ Hàn Tiếu lại trở thành đôi bạn vong niên. Tôi nào dám thế! Điều này là do cụ. Mảnh sân sau nhà cụ có lẽ chỉ trải vừa hai vuông chiếu. Đêm ấy giăng sáng, đúng là gió mát giăng thanh. Tôi thu mình ngồi bên mép chiếu. Cụ im lặng ngồi cạnh, dõi mắt về phía chiếc chõng tre nhỏ nhắn, kê sát bụi nhài với những bông hoa trắng muốt, đã bắt đầu vượt khỏi cái thời hàm tiếu. Hàng chục năm nay, chiếc chõng nhỏ nhắn xinh xinh đã lên nước bóng láng này hàng ngày cụ vẫn mang ra đầu hè, bày bán những thứ hàng mà bọn trẻ con trong phố đã thuộc làu. Đấy là những thanh quế, quả nhót, quả quýt… những thứ hoa quả trông cũng quắt quoe, héo úa như cụ. Cụ thu lượm những hào những cắc từ túi bọn trẻ trong phố.
Một dạo tôi cũng là khách quen của cụ. Mỗi lần xin mẹ được trinh nào là chạy đến cái chõng này ngay. Lúc thì xuýt xoa đến chảy nước mắt vì vị cay của thanh quế mỏng tang cụ đưa cho. Khi thì hai tay ôm chặt một bên túi, cùng mấy đứa bạn chạy ào đến gốc bàng góc phố, hỉ hả ngồi duỗi dài chân, xoa lấy xoa để những quả nhót vào vạt áo. Rồi giơ lên thổi phù phù, nhăn nhó đến rụt cổ mà mút mát cái chua loét của quả nhót nhưng, khoái lắm. Trẻ mỏ mà!
Qua rồi cái thời trẻ mỏ! Nhưng, cũng chưa thể vươn tới cái thời người lớn. Bởi vậy đêm ấy gây cho tôi cái cảm giác sờ sợ. Mùi thân thể của người già nằng nặng, ngai ngái. Sao thính giác tôi đêm ấy lại rõ ràng đến thế? Cái ngan ngát của bụi nhài đêm giăng, cũng không át nổi hơi hướng từ thân thể cụ Hàn Tiếu. Tôi khẽ nhăn mũi, nhìn cụ. Tôi không thể tưởng tượng nổi con người già nua, quắt quoe trước mắt tôi đã một thời là đào hát ăn khách, có vẻ đẹp “chim sa cá lặn” ở nhà hát bà Ký Đường như lời kể của ông Lưu “Sáo”. Đâu rồi cái túm đuôi gà đỏng đảnh, cái thân thể thơm tho với nước da trắng như trứng gà bóc? Đâu rồi cái giọng hát mê luyến đã làm ngất ngây bao khách làng chơi? Thời gian cũng thật tàn nhẫn! Thời gian đã biến cô Ngát diệu vợi như lời ông Lưu “Sáo” kể, thành cụ Hàn Tiếu bây giờ. Tôi thấy buồn buồn, vơ vẩn nghĩ. Có lẽ là cụ biết tôi đang nghĩ gì. Cụ Hàn Tiếu  tinh tế lắm. Cụ từ từ đứng dậy, chống gậy, đi về phía chõng tre, lẩm nhẩm ngân nga:
Đâu biết rằng anh cũng chỉ là
Khách chơi giây lát nghé chơi qua
Rồi thôi, níu áo không tình nữa
Để mặc mình ai khổ ước mơ.
Rồi, móm mém cười:
– Cái tuổi già nó khổ thế đấy! Cậu ơi! Chắc cậu cũng thấy khó chịu vì tôi.
– Dạ! Không ạ. Tôi có phần ngây ngô.
– Tuần hương cũng sắp tàn rồi đơ…ơ.ơi ! – Giọng cụ kéo dài trong không gian, như nói với giăng giời.
Tôi nhìn que hương duy nhất trong bình, đặt trên chõng tre đã cháy gần sát đến chân. Làn khói huơng mong manh, hư ảo dưới trăng cứ lắt lay theo gió, gây cho tôi cảm giác rờn rợn. Nhưng, chắc chắn cụ Hàn Tiếu sẽ không có cảm giác ấy. Sự cảm nhận về hương khói của người già làm sao giống tôi được? Vả lại cụ vốn là đào hát, cái không gian giăng gió phóng đãng này hẳn đã khơi dậy nỗi niềm nơi cụ. Bởi vậy, cụ mới nhẩn nha đọc mấy vần thơ. Dù được gần gũi cụ đã lâu, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy cụ lẩm nhẩm đọc thơ.
– Hôm nay tôi đãi cậu chè bà cốt!
– Vâng ạ! Tôi liếc nhìn hai bát chè, đặt cạnh bình hương trên chõng tre – Sao cụ không mời ông Lưu “Sáo” sang cho vui? – Tôi dè dặt nói.
– Chè bà cốt là phải ăn nguội. Cái đằm của đường cát, vị thơm cay của gừng tươi mới quyện đượm được với nhau. Sự thơm ngon mới thấm đến tận chân răng. Cụ móm mém cười. – Sao lại mời thêm ông Lưu “sáo”? Cái cậu này! Buổi tối nay chỉ dành riêng cho tôi và cậu. Chúng ta làm lễ kết bạn vong niên cơ mà! Ngừng một lát, cụ lại khề khà – Người đời cũng khắt khe lắm, cậu ơi! Cuối đời được người bạn như cậu, tôi hả rồi.
Cụ Hàn Tiếu có vẻ vui hơn – “ Tuổi tác thì kể gì! Cốt là ở cái sự hiểu và chia sẻ được với nhau. Thế mới gọi là bạn vong niên, cậu nhỉ”. Rồi cụ trầm giọng – “Không nếm trải, không rộng lòng, không thể có được bạn vong niên đâu. cậu ơi”.
Mơ hồ! Không gian, và cách ăn nói của cụ Hàn Tiếu khiến tôi có cảm giác những gì đang diễn ra như không có thật. Cụ Hàn Tiếu già cả, móm mém này có sức hút gì? Tôi cũng không cắt nghĩa được. Bọn trẻ trong phố chẳng đứa nào chịu gần gũi cụ, dù cụ có tỏ ra quý mến, bán rẻ cho chúng nó. Mua xong hàng là chúng ào đi ngay. Lần mua hàng nào tôi nán lại bên chõng tre là cụ vui lắm. Cụ tìm cách vuốt ve, có khi thêm cho tôi cả một thanh quế, một quả quýt. Rồi hỏi han, kể chuyện. Những câu chuyện về phố này ngày trước.
Chuyện về con sông Đào, chảy ngang cửa lớp vỡ lòng của cô giáo Điện bây giờ. Chuyện về bà địa chủ Lan than rõ là nửa đời vinh hoa phú quý, nửa sau chẳng biết có phải gắn suốt với những hòn than quả bàng ngoài bến sông không? Chuyện “Cô Ky mà lấy ông Kỳ…” bọn tôi rất khoái. Rồi lại chuyện về ông Lưu “ Sáo”, hàng xóm nhà tôi. Rồi dần dà theo sự lớn lên và chịu khó qua lại nghe chuyện cụ kể, tôi cũng được nghe cả những chuyện về cuộc đời cụ…  về cái chiếu ả đào nhà hát bà Ký Đường ngoài phủ Vũ Tiên. Không hiểu sao tôi lại rất thích những chuyện này. Có lẽ vì tôi nghe chăm chú và ánh mắt đã le lói điều gì, một lần cụ rơm rớm nước mắt, bảo tôi: “Cậu  sống nội tâm lắm! Nhưng, đời cậu sau này chìm nổi đấy!” Tôi ngơ ngác. Cụ nói tiếp: “ Bây giờ còn có người chia sẻ được với tôi như cậu, thật phúc cho tôi lắm!” Có lẽ đấy là những nguyên nhân, để tối ấy tôi bất ngờ được cụ mời sang dự cái lễ có một không hai trong đời.
Hai người, một già một trẻ ngồi dãi dưới giăng ăn chè bà cốt, trong cái không gian khi thì phảng phất, lúc lại quyện đọng ngây ngây hương của hoa nhài và hương trầm. Một kiểu kết bạn của phụ nữ, của người già. Tôi thấy trong dạ ngùi ngùi, xen lẫn thú vị. Có lẽ cụ Hàn Tiếu nói đúng, từ ngày tôi biết, chả mấy người hàng phố chịu qua lại nhà cụ, trừ ông Lưu “Sáo”. Người ta khinh cái quá khứ của cụ. Ai mà thèm qua lại với hạng “cô đầu con hát”…  Cả sợ nữa thì phải. – Cái hạng tiểu tư sản, đầu óc còn chất chứa tư tưởng thực dân phong kiến, không “khéo” á, nó lại “vương” cả sang mình.
– Cụ ấy còn đọc thơ cho mày nghe?
– Vâng!
– Cụ ấy đọc thế nào?
– Chỉ có bốn câu thôi. Hay lắm! Nhưng cháu chỉ nhớ được mỗi câu cuối là: “ Để mặc mình ai khổ ước mơ” thôi ạ.
– Lại còn thế nữa! – Ông Lưu có vẻ bần thần.
– Bác thổi thử cây sáo này cho tôi.
Ông Lưu bỏ dở câu chuyện với tôi, đón cây sáo ngang từ tay ông khách, niềm nở:
– Bác tự thổi lấy có hơn không?
– Tôi có biết đàn sáo là gì đâu. Có thằng cu nhớn thấy tôi đi tỉnh, cứ dặn đi dặn lại là nhớ mua cho nó cây sáo. Mà nó còn dặn rõ là phải mua của ông Lưu “ sáo”. Tôi hỏi, người ta chỉ ra đây, có đúng là bác không đấy?
Ông Lưu cười tươi tỉnh:
– Dạ! Đúng là tôi đấy ạ. Thế cậu nhà bằng nào rồi mà chơi được sáo ngang? Bác đã nghe cậu ấy thổi sáo bao giờ chưa?
– Mười lăm tuổi rồi. Mê sáo lắm! Những đợt liên hoan văn nghệ xã, nó được người ta vỗ tay hoan hô rầm rầm ấy chứ.
– Thế thì quý hóa quá! Thời buổi này mà còn mê được sáo trúc là hiếm lắm đấy ạ. – Ông Lưu vẻ hồ hởi, đưa cây sáo lên miệng thử.
– Đúng là bài này đấy. “Bèo dạt mây trôi” phải không bác? Thằng cu nhà tôi nó bảo vậy. Hay quá! Cu nhà tôi nó cũng hay thổi bài này. Thế mà ra thóc ra gạo cả đấy bác ạ. Mỗi đợt liên hoan, nó được chấm những hai công rưỡi điểm của người làm thủy lợi cơ đấy. Xã tôi, chả đứa nào được bằng nó…  Nó còn dặn tôi chọn cây nào tiếng phải tròn cơ. Thế cây sáo này tiếng đã tròn chưa hả bác? – Ông mua sáo có phần khoe con, phấn khởi nói liền một mạch, mặc cho ông Lưu vẫn còn đang thử sáo.
Ông Lưu hạ sáo, từ tốn nói.
– Dạ, sáo tôi khoét là âm thanh chuẩn nhất vùng đấy ạ.
Đúng lúc ấy tôi nghe tiếng mẹ gọi, vội vã chạy sang bên kia đường để vào bến xe khách. Mẹ tôi bán nước chè, hoa quả tươi ở bến ô tô tỉnh. Những người không mua được vé, nhỡ độ đường phải nằm lại bến đông lắm. Đêm nào cũng chật như nêm. Họ trải áo mưa, hoặc bất cứ cái gì có thể ngả lưng được, nằm la liệt khắp trong nhà và vỉa hè. Những người đã có vị trí xếp hàng ở gần cửa bán vé, thường thì không chịu rời cái chỗ quý giá ấy. Họ gục đầu xuống gối, nghiêng ngả theo đủ mọi kiểu mà gà gật, trông đến thảm! Ấy nhưng cũng có những đám giai gái say chuyện, cứ rỉ rả suốt đêm. Hình như đây lại là một cơ hội để họ được nói, được mở rộng quan hệ mà cởi tấm lòng thì phải. Tôi chẳng thấy họ có dấu hiệu của những kẻ “sẩy nhà”, trái lại, còn rất vui vẻ. Có lẽ tuổi trẻ là thế! Thừa sinh lực và luôn có nhu cầu đổi trao tâm tình. Những người đã qua cái đận phải nằm bến, đợi xe trong những ngày ấy hẳn trong lòng phải có những kỷ niệm khó quyên. Mà, giai đoạn ấy thì đã mấy ai thoát được cảnh chầu chực, xếp hàng, vạ vật trong bến xe đêm. Tôi thì đã hơn năm năm, gần như phải thức thông đêm ở cái bến xe hàng tỉnh này. Nhà đông miệng ăn, lại còn đang đi học cả. Bố thì ốm đau quanh năm. Cả nhà chỉ còn biết trông vào cái chõng hàng nước chè tươi của mẹ. Tôi cũng đã học gần sang những năm cuối của bậc phổ thông, nhưng vì thương mẹ đêm hôm, tôi vẫn ra bán hàng cùng mẹ.
Tiếng sáo của ông Lưu từ bên kia đường vẫn vọng sang. Có lẽ tiếng sáo hợp với không gian khuya khoắt thanh vắng hơn là ban ngày. Những âm thanh trầm bổng như giót vào lòng, thấm thía. Không biết ông là người bán sáo trúc, hay là người chơi sáo hay có tiếng mà dân phố ai cũng gọi tên ông kèm theo từ “sáo”. Tôi nghĩ cũng là may cho ông lắm, nếu không, rất có thể người ta sẽ gọi ông là Lưu “bàn đèn”, hoặc Lưu “ cơm đen”. Ai người ta chả biết ông nghiện thuốc phiện có thâm niên. Nghiện từ cái thuở còn mồ ma thực dân phong kiến. Từ cái thuở còn ra vào nhà hát bà Ký Đường cơ. Nhưng phải công nhận ông có tài chơi sáo trúc. Tiếng sáo của ông còn hay hơn cả tiếng sáo của anh Hạ, nhạc công bên đoàn cải lương Kiến Thiết tỉnh. Tôi bị câu nói của cụ Hàn Tiếu ám ảnh – “ Làm nghệ thuật là phải toàn tâm, phải vắt ruột vắt gan, phải trút hồn vào thì mới hay được. Tiếng sáo của ông Lưu hơn anh Hạ ở cái hồn.” Cụ còn nói thêm: “ Ông ấy chơi sáo hay, nhưng hồi này tiếng sáo nghe sao buồn thế”. Rồi cụ hạ giọng, âm thanh như thoát ra từ lồng ngực: “ Buồn đến sầu thảm!”
Tôi được mẹ “thay ca” ngồi bán thì mừng lắm. Chẳng thấy buồn ngủ như mọi ngày, vội vã chạy sang bên kia đường. Ông Lưu đã thôi thổi sáo từ lâu, nhưng vẫn ngồi đấy. Những người từ tối ngồi vây quanh nghe ông thổi sáo và tán chuyện, đã mệt mỏi đi tìm chỗ ngả lưng cả. Tôi dè dặt đến bên ông, hỏi nhỏ.
– Đêm nay bác không về à? (Từ trước đến nay, ông Lưu chỉ bán đến chập tối là thu hàng).
– Mày lại sang đấy à? Giọng ông trầm hẳn xuống. – Mấy câu thơ cụ Hàn Tiếu đọc là một khổ trong bài Bến Sông Đưa Khách của ông Thế Lữ. Mô phật! Cụ vẫn không quên được cái thuở ấy. Ngừng một lát, ông tiếp: “ Trời nóng nực quá. Tao ngồi đây cho mát.”
Tôi biết là ông Lưu nói dối. Không phải vì trời nóng nực mà ông không về. Ông đang có tâm sự! Nhà tôi và nhà ông áp hậu vào nhau, ngày trước hai nhà phải đi hai ngõ nên gần lại hóa xa. Hai cái ngõ ba hai và ba ba của dẫy phố này, ngày giặc Mỹ chưa leo thang bắn phá Miên Bắc không thông nhau. Sau cái đận phải đi sơ tán về, hai ngõ lại hóa thông nhau. Số là một quả bom Mỹ đã san phẳng mấy cái nhà trong ngõ, khi dựng lại, theo chủ trương của khu phố người ta chừa ra một lối đi, để hai ngõ thông nhau cho tiện. Thành thử, nhà tôi và nhà ông đã trở thành hàng xóm thực sự. Cũng như đối với cụ Hàn Tiếu, người hàng phố chả mấy ai chịu qua lại nhà ông. Ngoài cái quá khứ ngày trước, người ta còn khinh vì ông nghiện thuốc phiện – “Nghiện hút thì, cái hạng ấy là đồ vất đi”.Cũng thật khổ, vợ con ông thì tội tình gì mà cũng bị rơi vào sự ghẻ lạnh? Không công bằng! Ngay cách nhìn của người hàng phố về tư cách giữa ông Lưu và cụ Hàn Tiếu cũng không công bằng.  Sao người ta cứ khắt khe với phụ nữ quá thế? Này nhá, ông Lưu và cụ Hàn Tiếu đều là những người có mặt trong chiếu Ả đào nhà hát bà Ký Đường cái năm xửa năm xưa. Một người là con hát, một người là khách làng chơi, ai chả rõ điều ấy. Thế thì hỏi rằng hai người có “ hơn, kém” gì nhau? Đúng ra thì phải đánh giá tư cách hai người ngang nhau mới phải chứ? Ấy nhưng người ta chỉ nói cụ Hàn Tiếu ngày trước là cái hạng “cô đầu nhà thổ”. Còn ông Lưu á, nếu không vướng vào nghiện hút thì cũng ít người nhớ đến cái tội “khách làng chơi” của ông. Cụ Hàn Tiếu còn có lần bảo tôi: “ Ông ấy ngày trước du côn lắm. Khi có tuổi lại chăm đi chùa. Con người ta cũng thật là…” Ngừng một lát, cụ tiếp: “Trước kia ông ấy theo đám ông lang Dương, đứng đầu du côn tranh khách cho hãng ô tô Mỹ Lâm Con Thỏ, đánh nhau sứt đầu mẻ trán là chuyện thường. Bến xe tỉnh ngày ấy còn ở bên hông rạp hát Kiến Thiết cơ, chứ không phải cái nơi cậu ngồi bán nước chè tươi bây giờ đâu. Hồi ấy, chênh chếch bến xe còn có quán bánh cuốn Minh Hương. Bánh cuốn nóng nhân thịt, nước chấm cà cuống thơm thơm là…” Đoạn cuối lời kể, gịong cụ có phần bùi ngùi.
– Mày chớ theo cái thói người ta mà khinh cụ ấy. Một con người có tâm, hiểu biết đấy. Bây giờ cụ ấy phải sống cô độc một mình, rõ khổ. Ơ, hay nhỉ?  Ngày trước cô Ngát dịu dàng, xinh đẹp dường ấy, bây giờ lại hóa ra cụ Hàn Tiếu! Sao lại Hàn Tiếu được nhỉ? Tao nhớ là ra vào chốn ấy, có cái ông Hàn Tiếu nào đâu nhỉ?  Tôi tủm tỉm cười, ông Lưu không biết nhưng tôi biết. Tôi là bạn vong niên của cụ Hàn Tiếu cơ mà! Ông lại tiếp: “Người ta bảo gái cô đầu con hát ít người có con, có lẽ đúng”. Ông nhìn tôi, chậm dãi: “Mày đã là bạn vong niên, thì cũng nên để mắt chăm sóc đến người ta. Cụ ấy già rồi!” Ông dằn giọng: “Có vậy mới ra con người!”
– Vâng ạ! Tôi khẽ khàng.
– Kể ra bọn mày bây giờ cũng thiệt thòi, những bài thơ hay như bài Bến Sông Đưa Khách cũng chả mấy đứa biết. Mà mày có biết thế nào là Thơ mới không? Thời bọn tao á, sướng lắm! Những bài Thơ mới là cứ ngâm vịnh thoải mái. Ông lại có vẻ ngẩn ra – Mà, lạ nhỉ! Sao lại đi cấm cái hay cái đẹp thế nhỉ?
– Chúng cháu cũng được giới thiệu dòng Thơ ấy trong chương trình học.
– Giới thiệu! Chương trình! Tao lạ gì! Mày biết không? Ông nói như một bí mật: “ngày trước nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng dậy tiểu học ở đây đấy. Cái trường của ông ấy ở sát khu cầu trượt, bập bênh của trẻ con bây giờ. Cả nhà thơ Thế Lữ nữa, có thời gian ông ấy ở cái nhà trên đường Guyu Pickê ấy”.
Lại Guyu Pickê! Ông Lưu không sao bỏ được thói quen gọi tên cũ, và thỉnh thoảng nói đá tiếng tây bồi. Thói quen này đã không ít lần mang lại rắc rối cho ông. Ông đã vài lần phải đọc bản kiểm điểm, bản cam kết trong các cuộc họp tổ dân phố. Thâm chí ông còn bị quy là phản Động, là gián điệp. Ông tổ trưởng dân phố đã có lần giận dữ, quát trong cuộc họp: “ Chỉ có bọn gián điệp phản động, mới không chịu gọi tên đường phố của chúng ta là đường Lê Lợi. Nó còn nuối tiếc cái chế độ thực dân phát xít chắc?” Tôi cũng đã bị chi đoàn khu phố kiểm điểm lên xuống, vì cái tội hay qua lại chuyện trò với ông Lưu “Sáo” và cụ Hàn Tiếu. Người ta không muốn để tôi bị lây nhiễm tư tuởng của những người bị coi là “tàn dư của chế độ thực dân phong kiến.” Ông Lưu biết, có lần bảo tôi:
– Mày không sợ à? Hay là đừng “chơi” với tao nữa.
Tôi cười chả nói gì, nhưng vẫn thậm thụt qua lại bên ông. Ông Lưu bây giờ người xanh xao tiều tụy lắm. Trông đã rõ ra cái thân thể của một con nghiện. Nghe nhắc đến nhà thơ Thế Lữ, trong tôi lại dậy lên nỗi ám ảnh bởi một truyện ngắn của ông . Tôi thì không biết ông Thế Lữ trọ ở cái đoạn nào, trên đường Guyu Pickê như lời ông Lưu kể. Nhưng, cái truyện ngắn về con rắn nghiện thuốc phiện của ông thì ám ảnh tôi ghê lắm. Nhiều lần ngó vào căn buồng tối tăm của ông Lưu, tôi cứ tưởng tượng đến một ngày nào đó, ông Lưu cũng phải nằm chết trong cái cuộn tròn của con rắn nghiện ngập mà rùng mình.
– Tao quý mày, vì mày không khinh rẻ những người như tao và cụ Hàn Tiếu. Chúng tao thuộc người của thời thế cũ, thời này không hợp. Nhưng, đúng ra tao cũng không đáng bị khinh rẻ như vậy. Mày có thấy thế không? Tao có thể mắc phải cái tội chơi bời quá trớn trong cái thời cũ, có thể là “tàn dư của chế độ thực dân phong kiến” như người ta nói. Nhưng gián điệp phản động thì không, tuyệt đối không. Tao cũng thấy những điều hơn hẳn của chế độ ta, so với thời kỳ đất nước còn bị thực dân Pháp đô hộ. Cũng đau lòng vì đất nước còn bị chia cắt như người ta, sao bảo tao là phản động được? Mà mày thấy đấy, gia đình tao cũng thực hiện triệt để những chủ trương, đường lối của Đảng…thằng cu nhớn nhà tao đầu năm ngoái làm đơn tình nguyện nhập ngũ, tao còn động viên, dù nó chưa đủ tuổi nghĩa vụ quân sự. Nó đang chiến đấu trong chiến trường B ấy. Gia đình tao cũng là gia đình bộ đội. Phản động cái nỗi gì? Ông thở dài.
– Người ta nói kệ người ta, mình có phản động đâu mà sợ. Bác buồn làm gì cho mệt.
– Mày nói cũng phải! Có điều tao thấy thời nay người ta sống  “thái” quá, cứ khư khư nghĩ về một phía và luôn cho là mình đúng. Luôn cho mình mới xứng đáng là con người triệt để cách mạng. Hình như họ nhìn đâu cũng thấy kẻ thù giai cấp, thấy bọn gián điệp phản động. Lạ thật! Với họ, cái gì đã xấu rồi có lẽ mãi mãi phải chịu thế, không thể khác đi được. Bởi vậy, họ không thể chịu được và không thể tha thứ cho những người như tao và cụ Hàn Tiếu. Tao biết chứ! Khổ nỗi là tao nào cũng đâu độc địa, xấu xa gì? Tao cứ bị ném về thời cũ, về cái thời mà mọi người phải kiên quyết đấu tranh xoá bỏ.  Hình như họ đang cố gìm giữ những người như tao, để còn có cái mà đấu tranh, để chứng minh cho lòng yêu chế độ của mình thì phải? Mày có thấy thế không? Khổ cho cái thân tao chưa.
Tôi im, chả dám nói câu nào trong sự dồn nén của ông Lưu. Ông  mệt mỏi,  tiếp: “Mày có nhớ câu đối của cụ Ngô Thời Nhậm, với ông Đặng Trần Thường đầu triều Gia Long không? “…Gặp thời thế thế thời phải thê!”  Đấy! Thời thế với con người ta đại khái nó là như vậy. Nghĩ cho cùng, tao cũng chả trách cái ông tổ trưởng dân phố mình, khi ông ấy lớn tiếng quy tao là gián điệp phản động. Cái “mẫu” con người ta thời này nó phải vậy. Người như ông ấy vượt lên sao được! Tao chỉ thấy buồn cười, thương cho ông ấy nữa. Người ta sống quan trọng ở cái tâm. Đúng không? Tao dở ở cái vướng vào vòng nghiện hút. Tao biết tội tao lắm! Nhưng giá mọi người đừng quá khinh rẻ xa lánh, rộng lòng một chút thì đời tao cũng đỡ đi được phần nào. Mày phải tránh xa thuốc sái ra, nhớ chưa. Nhục lắm! Mắc vào đấy là coi như mất không cuộc đời, còn làm khổ vợ, khổ con. Con cái Thúy, nó cũng vì tao mà khổ đấy. Tao thương nó quá! Giọng ông Lưu nghèn nghẹn.
Thúy là con thứ hai của ông Lưu, là bạn tôi. Cái nghĩa sâu xa về sự khổ của Thúy, như ông Lưu nói thì tôi chưa được tường tận. Nhưng hiện thời thì Thúy đang phải chịu khổ nhục. Mới mười bẩy tuổi đầu, đi nông trường trên mạn ngược, nghe Thúy nói là nông truờng trồng dứa. Ở đấy gần được hai năm thì Thuý vác về một đứa con hoang. Hàng phố khinh bỉ Thúy ra mặt, có lẽ chỉ còn thiếu cái nước gọt đầu bôi vôi của cái thời thực dân phong kiến đồi bại. Người ta bảo đúng là “nòi nào giống ấy”. Mà kể người ta khinh Thúy cũng có cái lý của người ta. Thúy đã mắc vào cái tội lớn thứ hai, sau tội lớn thứ nhất là tham ô của thời này. Ai mà tha được cái hạng tham ô, hủ hóa. Thúy đau khổ, xấu hổ đến tránh cả mặt tôi. Tôi thương Thúy, nhưng cũng chưa tìm được dịp nào để chia sẻ cùng em. Trong cái đêm giăng kết bạn vong niên cùng tôi, cụ Hàn Tiếu có nói: “Ông Lưu tuy là người không đến nỗi nào, nhưng không thể coi là bạn được. Đã mắc vào vòng nghiện hút là đồ vất đi. Thằng nghiện khi đã lên cơn thì giời nó cũng bán!” Đúng sai thế nào thì tôi chưa biết, nhưng nghe sợ quá. Cụ còn nói thêm: “Đấy rồi cậu xem, cuộc đời của những kẻ nghiện ngập sẽ kết thúc thảm khốc lắm.” Câu nói của người già như một lời tiên tri, cảnh báo. Tôi rùng mình. Con rắn của ông Thế Lữ lại hiện ra.
– Mà cụ Hàn Tiếu đã cho mày xem cái truyện ngắn Bà Ký Đường của ông Nguyễn Khắc Mẫn chưa? Ông Lưu như chợt nhớ ra, hỏi tôi.
–  Dạ! Cháu có hỏi, nhưng cụ ấy không cho xem. Cụ bảo cháu là cậu xem truyện ấy làm gì! Mấy ông nhà văn viết thì có vẻ hay thật, nhưng các ông ấy đã hiểu được mấy phần tâm tư của ả đào mà viết.
– Kể cụ ấy nói cũng có lý. Ông Lưu “sáo” thở dài.
Tôi đang trên đường đi làm thì anh văn thư của nhà máy gọi giật giọng, đưa cho tôi một bức điện. Tôi cúi đọc, giật mình. “Anh có thể về với em vài ngày được không? Bố em mất rồi! Thúy.” Tôi tái mặt. Cũng may là phép năm chưa nghỉ, tôi chạy vội lên phòng tổ chức của nhà máy, trình bức điện khẩn để xin phép, rồi vội vã ra bến mua vé “chui” tức tốc về ngay.
Thực ra sự có mặt của tôi trong những ngày này cũng chẳng an ủi Thúy được bao nhiêu. Cái chết quá thương tâm của người cha đã khiến em kiệt sức.
Cụ Hàn Tiếu buồn rầu bảo tôi:
– Cậu thấy tôi nói có sai đâu! Nhưng, ông ấy tự vẫn như thế thật quá sức tưởng tượng của người ta, việc gì phải tự đầy đọa, chịu đau đớn đến nhường ấy cơ chứ. Rõ thật là kinh khủng! Trẫm mình cũng chết được rồi! “Sinh nghề tử nghiệp” . Sợ thật! Ai đời lại tự đâm cổ bằng con dao khoét lỗ sáo ngay trên giường ngủ của mình không chết được, máu me dầm dề hàng cây số trên đường lết ra sông trẫm mình. Gớm giếc quá.
Tôi kinh hãi. Sự nghiệt ngã của đời thường thật khủng khiếp. Con rắn nghiện ngập và cái chết của ông lão đói cơm, đói thuốc trong cái truyện ngắn của nhà thơ Thế Lữ thật chẳng thấm vào đâu, với cái chết ghê sợ của ông Lưu “sáo” phố tôi.
Cụ Hàn Tiếu lại chậm chạp nói tiếp: “Đói thuốc quá đấy cậu ơi! Rõ khổ! Thời buổi chiến tranh ác liệt, khó khăn thế này ai người ta còn chơi sáo nữa mà bán. Nghiện ngập thì, có mà núi của cũng tan. Tiền nào mà cung cấp cho đủ”. Cụ lặng người, giọng đột ngột xa xăm: “Đêm ấy ông Lưu chơi sáo hay đến kỳ lạ cậu ạ. Tiếng sáo lay động, nhức nhối. Tôi ngồi bên nhà nghe văng vẳng tiếng sáo, chợt nghĩ đến cái câu: “Con chim sắp chết kêu thương” mà giật mình. Không khéo cái nhà ông này… Cõi người ta thì mông lung, ảo huyền lắm. Nhưng, phải cố hòa nhập vào đấy mà sống. Khi đã phải co về, sống với cõi riêng của mình thì đáng sợ lắm. Tiếng sáo của ông Lưu đêm cuối cùng là cõi riêng của ông ấy đấy. Cái tôi trong nghệ thuật khi đã đạt tới đỉnh điểm thì rất hay nhưng, đầy bất trắc! Cụ thở dài – Mà cậu có biết bài Tiếng Sáo Thiên Thai của ông Thế Lữ không? Ông ấy viết tài lắm! Nhưng tôi cho là vẫn chưa vươn tới được cái hồn phách của tiếng sáo đêm kia, tôi được nghe ông Lưu thổi trước lúc ra đi. Thế mới biết, các ông nghệ sỹ muốn viết hay, chỉ còn cách là phải lăn lộn với  đời.
Tôi buồn quá, chỉ nghe cụ bạn vong niên của mình nói, chứ chẳng thưa thốt lời nào.
Đám ma của ông Lưu “sáo” thế mà đông lắm! Kể như là mọi người phố tôi đều đi đưa đám cả. “Nghĩa tử là nghĩa tận!” Các cụ ta xưa mới thâm thúy làm sao!.
18/10/2024
Nguyễn Khương Trung
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...