Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2025

Vầng trăng gởi lại chiến trường

Vầng trăng gởi lại chiến trường

Cuối năm ấy, đơn vị C3 chúng tôi vẫn đóng quân ở phum Tròn. Hằng ngày cùng lực lượng công binh ra lộ 5 bảo vệ các đoàn xe chở nhu yếu phẩm, vũ khí đạn dược cho tuyến trên hướng Pursat, Tà Sanh, Battambong. Lúc này, lộ 5 cũng không được an toàn. Các tốp lính Pôn Pốt nhỏ lẻ chuyên đi gài mìn gây khó khăn cho bộ đội ta rất nhiều. Nhất là xe cơ giới thường vận chuyển qua lộ 5 thường xuyên bị vướng mìn. Nhiệm vụ của C3 là phải bảo đảm an toàn tuyệt đối tuyến đường huyết mạch đó.
Nhận lệnh xong, tôi cùng Thành, Dương, Khang rủ nhau vào trong phum chào và tạm biệt bà con. Tình cảm của người dân nơi đây đối với bộ đội Việt Nam rất gắn bó. Họ cảm nhận được những gì bộ đội Việt Nam đã làm, giúp họ được hồi sinh. Đặc biệt, trong phum này còn có một ông già người Việt Nam, trước đó được bộ đội phát hiện ông sống một mình, trong một căn nhà hoang ở bìa rừng. Ông không có người thân. Gặp bộ đội Việt Nam, ông oà khóc nức nở vì không ngờ có ngày mình được nghe lại tiếng nói, giọng cười của người quê mình. Từ khi được đưa vào phum Tròn sống cùng người dân ông thấy không còn lo sợ nữa. Biết chúng tôi vào chào và chia tay đi làm nhiệm vụ mới, ông bùi ngùi nói:
– Cuộc chiến này chưa biết lúc nào dừng, chưa biết lúc nào được về lại quê hương!
Đó là ông già Tư. Lưu lạc xứ người từ trước khi chiến tranh biên giới xảy ra. Người thân của ông đã bị chặt đầu, moi ruột chết hết rồi. Ông may mắn chạy thoát vào rừng và sống sót. Ông kể về cuộc đời mình với các cuộc tàn sát đẫm máu cứ như thời trung cổ, rất thương tâm. Vì nhiệm vụ chưa xong chúng tôi phải lên đường. Cũng giống như hồi đơn vị còn đóng quân bên bờ sông Ngự, bà con quyến luyến không muốn rời xa. Thành thay mặt anh em nói với ông Tư:
– Tụi con đi làm nhiệm vụ, chưa biết lúc nào quay trở lại. Cuộc sống nơi đây tạm ổn rồi, ông Tư và bà con cứ yên tâm nghe!
Ông Tư nắm tay anh em bộ đội miết. Đó là buổi chia tay để lại nhiều nỗi nhớ trong cuộc đời người lính. “Các anh đi bao giờ trở lại? Xóm làng tôi vẫn mãi chờ trông”. Câu hỏi ấy xoáy vào lòng, không ai có thể trả lời khi đang mùa chính chiến!
Sau đó mấy anh em quay về đơn vị chuẩn bị quân tư trang, súng đạn cần thiết. Tất cả đã sẵn sàng khi có lệnh di chuyển đội hình. Từ nơi đơn vị đóng quân ra lộ 5 khoảng từ mười lăm đến hai mươi cây số. Địa hình toàn rừng thấp, ruộng bỏ hoang của người dân và những ngôi nhà sàn đã nát.
Đơn vị đi qua những cánh đồng bỏ hoang như vậy vào mùa khô chỉ một màu nham nhở cháy. Tới cánh rừng lưa thưa thỉnh thoảng có những chồi xanh nhú ra cố vươn lên để tìm sự sống. Đoàn quân cứ đi. Những bước chân độc hành dưới cái nắng nóng cháy da. Cuộc chiến vẫn còn khắc nghiệt. Đâu chỉ đơn vị C3 chúng tôi mà còn có bao nhiêu sư đoàn khác với hàng ngàn quân tình nguyện Việt Nam sang giúp bạn. Dù đất nước Campuchia đã được giải phóng nhưng chính quyền non trẻ còn gặp nhiều khó khăn. Đám tàn quân Pôn Pốt lẫn trốn vào rừng, hoạt động lén lút, giết hại dân thường vẫn còn tiếp diễn.
Đang trên đường hành quân Thành bỗng nhớ mình đã cùng đồng đội đã cứu hai mẹ con chị Khmer đói lả trong rừng dạo nào.
Hôm đó, B3 đi đầu, qua cánh rừng thưa. Thành là người đầu tiên phát hiện ra hai mẹ con chị Khmer nằm bên gốc dầu rất to, chung quanh không một ai. Có thể những người đi cùng bỏ họ lại trên đường chạy trốn. Thành nghĩ đó là hai xác chết. Nghe tiếng người, cả hai cực cựa. Anh hô tô: “Còn sống. Còn sống”. Theo phản xạ tự nhiên, anh em tản ra, tránh tập trung làm người ngất càng khó thở. Cũng là Thành, bước đến bên hai mẹ con bắt mạch (làm giống những gì được học về sơ cấp cứu trong tình trạng khẩn cấp). Họ chỉ còn da bọc xương, đầu tóc rụng hết. Đứa trẻ khoảng sáu, bảy tuổi đang thoi thóp cạnh đó. Môi họ khô nứt ra như bờ ruộng tháng giêng, thâm sì. Hốc mắt trũng sâu, nhắm nghiền lại. Họ không khác gì cọng rơm khô nằm trơ trọi, lẻ loi trên mặt đất chờ những đàn dơi, quạ bay ngang cắn xé. Tất cả nhựa sống trong người họ cố tận dụng, tự cầm cự để duy trì hơi thở trong những ngày lưu lạc trong rừng đã sắp hết. Không thực phẩm, không nước uống. Nếu không có đơn vị chúng tôi đi ngang qua và phát hiện, có lẽ vài ngày tới hai mẹ con họ chết dần, chết mòn trong cơn đói khát. Mới hay sự sống quí giá biết chừng nào!
Người mẹ chỉ còn có thể chớp mắt báo hiệu mình còn sống. Lúc này, đồng chí Công y tá cũng đã có mặt. Sau khi bắt mạch xong, anh lấy nước pha chút đường thấm từng giọt vào miệng hai mẹ con họ. Hai con người như hai cái xác ve khô biết liếm môi từng chút một. Sự sống đã dần hồi sinh. Một vấn đề đặt ra buộc phải lựa chọn. Hoặc là đưa mẹ con họ theo. Hoặc là đơn vị phải dừng lại để cử người đưa hai mẹ con chị ta về phum Tròn. Đưa họ theo thì không thể. Vướng bận trong quá trình hành quân lại không bảo đảm an toàn. Sức khoẻ họ không đủ điều kiện. Cuối cùng, đồng chí Phúc đại đội trưởng quyết định B3 làm nhiệm vụ này. Đơn vị tạm dừng chân, cử các đồng chí khoẻ nhất đưa hai mẹ con họ quay lại phum Tròn chỗ người dân đang sinh sống. Thế là anh em lấy võng, xúm lại chặt cây làm cáng đưa họ đi.
Trái tim người người lính một lần nữa rung lên nhịp đập của lòng nhân ái. Trước tình cảnh ấy, bất cứ ai cũng có thể hành động như vậy huống chi đây lại là bộ đội Việt Nam!
Thành là người ít nói, thậm chí rất khô khan nhưng luôn ở vị trí tuyến đầu mỗi khi được đơn vị phân công. Anh hay xung phong nhận những nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm nhất. Không phải muốn làm nổi, muốn có thành tích mà là ý thức, tinh thần trách nhiệm của người lính rất cao. Hơn nữa, nếu nói về sức khoẻ thì Thành là vô địch. Sốt rét rừng chưa quật ngã được chàng trai xuất thân từ ruộng đồng này. Bạn bè hay nói đùa:
– Ở đồng bằng sức thằng Thành như trâu cui. Ở miền núi sức nó như voi.
Thành cười hiền hậu, không cải chính, với chiều cao một mét bảy hai, nặng bảy mươi ký, ở nhà là lao động chính thì việc gì cũng làm được. Những việc khuân vác đối với Thành là chuyện nhỏ. Vì mê bộ đội, muốn nối nghiệp ba nên anh đăng ký đi nghĩa vụ khi vừa đủ tuổi mười tám cũng là lúc chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Vào bộ đội rồi càng phát huy bản chất con nhà nòi của mình.
Từ vị trí phát hiện hai mẹ con quay ngược về cứ độ chừng năm, sáu cây số lại nằm sâu trong rừng. Anh em cứ thế cắt rừng, băng đồng khô cháy sém nhuộm màu tang thương mà đi. Tới nơi, chúng tôi nhờ bà con trong phum chăm sóc hai mẹ con chị Khmer kia. Cũng chưa kịp hỏi tên họ là gì. Trong ba lô anh em ai còn lương khô để lại hết cho họ. Hy vọng hai mẹ con chị Khmer sẽ sống tốt.
Giao người xong, tổ “công tác đặc biệt” về tiểu đoàn bộ cách phum Tròn gần cây số báo cáo đã hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ huy tiểu đoàn cũng biết vì đại đội đã điện báo cáo trước đó rồi.
Chúng tôi nhanh chóng quay trở lại cho kịp đơn vị đang di chuyển về hướng lộ 5. Trên đường tới vị trí phát hiện hai mẹ con chị Khmer nằm gần cây số bỗng nghe một tiếng nổ rất lớn. Linh tính chuyện chẳng lành. Thành nói với đồng đội:
– Có chuyện không hay rồi các đồng chí ơi! Mìn này của bọn chúng gài đó, không khéo anh em mình vướng phải…?
Thành không nói hết câu, cùng đồng đội cơ động gấp về hướng tiếng mìn vừa nổ chói tai. Tới nơi anh em chứng kiến một cảnh tượng rất đau lòng. Một đồng chí đơn vị công binh đào phải mìn của bọn Pôn Pốt gài đêm qua. Toàn bộ bàn chân phải của đồng chí ấy lóc hết thịt, quần áo rách tả tơi, người đang ngất lịm. Máu chảy linh láng. Vẫn là Thành, nhanh chóng băng bó cầm máu, điện báo cáo đồng chí Phúc – Đại đội trưởng tình huống vừa xảy ra. Anh cũng nhận lệnh tiếp tục quay ngược lại đưa đồng chí bị thương về cứ. Lúc này Thành mới phát hiện mình đã để quên cái võng chỗ phum Tròn cũng muốn quay lại lấy khi khiêng hai mẹ con chị Khmer lúc nãy.
Giá trị của hoà bình phải trả bằng rất nhiều xương máu!
Cả ngày hôm đó, đơn vị di chuyển không được xa vì có quá nhiều chuyện xảy ra. Khi chúng tôi tới phum Tròn thấy hai mẹ con chị Khmer đã tỉnh, họ ngơ ngác không nhận ra ai cả. Lấy võng xong, chúng tôi cùng hai đồng chí chiến sĩ mới cắt hướng khác ra lộ 5 để đuổi theo đơn vị. Đường hành quân phía trước còn vài cây số nữa. Đơn vị cứ bám theo mặt lộ mà đi, có nơi cách lộ 5 chừng ba trăm đến năm trăm mét. Lúc này trời đã nhá nhem tối, lợi dụng rừng thưa anh em mắc võng chốt lại chờ sáng hôm sau lập cứ đóng quân trải dài cho đến hết chốt giữ chừng hai cây số. Quân ít, địa hình trải dài, rất mỏng, phải chia nhau thành nhóm, tổ làm những lán tạm bảo vệ đường. Chốt như vậy mà bọn Pôn Pốt vẫn tìm được kẽ hở ra đường gài mìn, phục xe. B3 của chúng tôi như một lực lượng “tinh nhuệ” đi tìm những dấu vết của địch suốt từ ngày này qua ngày khác vẫn chưa thể tiêu diệt hết bọn chúng.
Một sáng đến chân núi, anh em cũng làm nhiệm vụ truy vết địch nhưng không tìm thấy khả nghi nào. Vừa ăn trưa xong, mắc võng nằm, Thành bỗng phát hiện trên đỉnh núi có đám khói bay lên. Nhìn ngược lên đỉnh núi, nghi ngờ bọn Pốt đang nấu nướng gì trên đó, anh đâm lo. Vì nơi đơn vị đóng quân cách ngọn núi chừng ba, bốn trăm mét thôi. Vậy là B3 lên kế hoạch tiếp cận “mục tiêu”. Nhưng không hề đơn giản. Chỗ này rừng cây tương đối rậm rạp, lối đi đầy gai nhọn, chúng tôi phải đi vòng vèo khá lâu mới đến gần quan sát được. Thì ra có một nhóm khoảng trên chục người dân, gồm những ông bà già, phụ nữ và vài đứa trẻ con đang xúm lại quanh đám lửa. Khi thức ăn chín họ quay ra đánh nhau, giằng xé nhau đến tơi tả áo quần. Chung quy cũng chỉ vì miếng ăn, họ đang rất đói. Lúc quan sát thấy an toàn bộ đội mới dám bước ra, còn trước đó do sợ có lính Pôn Pốt trà trộn vào nên phải cẩn thận. Đồng chí Khang thấy họ vẫn giành miếng ăn lẫn nhau buộc lòng anh phải nổ hai phát súng họ mới chịu dừng lại. Thực ra nhóm người này bị bọn Pôn Pốt lùa vào rừng sâu không tìm được lối ra. Họ ròng rã trong rừng nhiều ngày qua. Ngay cả khi bộ đội có la bàn mà vẫn bị đi lạc huống chi dân thường. Khi tất cả ổn định, bộ đội ta mới hiểu trên đường đi đến đây họ bắt được một con rắn to, xúm nhau lại nướng cho chín và xảy ra chuyện “tranh chấp” thức ăn, vì ai cũng đói.
Trong nhóm người dân đó, Thành bắt đầu để ý, có một cô gái trẻ rất rụt rè, trạc tuổi các anh bộ đội thôi, không tham gia giành thức ăn. Người dong dỏng cao, da dẻ trắng hơn chứ không đen thô nên trông cô khác hẳn những người đi cùng. Đặc biệt đôi mắt đen láy, nhìn long lanh, ngân ngấn nước. Thoạt nhìn rất thiện cảm. Tuy nhiên, có thể do lâu ngày ăn uống thiếu chất nên cô có vẻ tiều tuỵ, lại bị phù nề, khá chậm chạp. Cô lại gần, lấy tay giật tay áo Thành và chỉ vào bụi cây. Thành bước về phía ấy. Một người đàn ông trạc tuổi năm mươi, da bọc xương, hai chân sưng vù, đang đói, không đi lại được. Do đang đi hành quân, chúng tôi không mang nhiều lương khô, lúc nãy cũng đã chia cho người dân mỗi người một ít rồi. Anh bẻ nhỏ từng miếng lương khô đưa cho cha cô bé. Cả cô nữa. Họ ăn rất từ tốn không như những người dân kia. Còn một ít nước trong bình tong lại chia cho hai cha con họ. Nhìn hai cha con, lúc này, Thành thấy dậy lên một niềm thương cảm lạ. Dương thấy vậy liền nói:
– Thôi bây giờ ta giải quyết đưa đám người này về cứ nhanh đi, loanh quanh ở đây bọn Pốt tập kích vô chết cả đám đó các đồng chí.
Sau đó tất cả người dân đều được bộ đội đưa ra khỏi rừng. Riêng ông già vì quá yếu không còn sức để tự đi được, anh em định lấy võng khiêng ông ta, nhưng nhìn bộ dạng chưa đầy bốn mươi ký lô, Thành nói luôn:
– Thôi để tao cõng cho nhanh!
Thực ra, khiêng người đi trong rừng rất khó. Mà cõng rồi mới thấy cả một vấn đề. Phần vì chúng tôi cũng vừa trở đi, trở lại nhiều lần đưa hai mẹ con chị Khmer về phum Tròn, vừa đưa đồng chí thương binh về cứ nên rất mệt. Hơn nữa, do ông ta lâu ngày không tắm giặt người bốc mùi rất khó chịu. Cõng người đàn ông ấy xuống tới chân núi thì Thành cũng rất đuối. Cuối cùng cũng phải cho lên võng khiêng đi cho dễ. Sau này khi anh em ngồi ôn lại chuyện cũ, Thành cười mà nói vui:
– Chắc tại lúc đó thấy cô gái đầy thiện cảm nên tao có chút “dại gái”!
Khi về đến căn cứ, lúc này đồ ăn rất nhiều, nào thịt hộp, lương khô, cả gạo cũng trữ sẵn đủ hết rồi. Vì đơn vị hay ra trạm xe nhận hàng tiếp tế nên bộ đội không lo thiếu ăn nữa. Anh em cũng san sẻ cho người dân thêm mỗi người một ít và hướng dẫn đường để họ tự tìm về quê nhà.
Không biết do cảm mến bộ đội hay có tình cảm đặc biệt với Thành mà hai cha con cô gái không chịu đi theo người dân trở về quê cũ. Họ cứ theo Thành năn nỉ xin được ở lại cùng anh. Thậm chí cô gái đã quỳ xuống, tức tưởi khóc, van xin. Qua trao đổi bằng cử chỉ cụ thể Thành cũng phần nào hiểu ra nguyên nhân vì sao cha con cô gái từ chối đi với đám người kia. Hai cha con họ thuộc thành phần trí thức, trên đường đi họ đã bị đám người đói ăn đó cướp hết lương thực, nước uống mà không dám chống cự. Đối với cô gái, đó là những ngày tháng kinh hoàng nhất. Cha con cô là một trong số những người may mắn gặp được bộ đội Việt Nam khi cái chết kề bên. Chính vì sự biết ơn đó mà họ muốn đi theo anh. Thành lại gặp thêm một tình huống nan giải vô cùng khó xử. Cũng do sự nhiệt tình và lòng thương người của anh. Nhưng lần này, hình như anh thấy mình không hề từ chối mà còn tự nguyện là đằng khác. Tối lại anh lên gặp đồng chí Đạt trung đội trưởng vừa báo cáo vừa năn nỉ:
– Đằng nào mình cũng cứu người ta rồi, thôi đồng chí cho hai cha con cô bé ở lại đơn vị mình đi, khi nào họ khoẻ hẳn mình gởi xe cho họ ra ngoài.
Cơ bản là đồng chí trung đội trưởng đồng ý, kể cả nếu Thành báo cáo xin đồng chí Phúc đại đội trưởng cũng được chấp thuận. Đó là do Thành nghĩ vậy. Vì Thành là một chiến sĩ chiến đấu rất gan dạ, có nhiều thành tích nhất của đơn vị, việc làm của Thành có thể tạm chấp nhận. Nhưng nguyên tắc vẫn phải chấp hành.
– Tôi chấp thuận cho hai cha con họ ở lại khi nào khoẻ ta gởi xe ra ngoài, nhưng phải làm một cái lán riêng. Vì kỷ luật ở chiến trường rất nghiêm, đồng chí đã được quán triệt rồi, nhất là quan hệ với người dân Campuchia, nếu bị phát hiện hoặc người dân tố cáo sẽ bị phạt rất nặng đó.
Thế là chiều đó anh em xúm lại một một cái lán trại cho hai cha con họ.
Cứ nghĩ thế là xong. Đêm đến cha cô gái lên cơn sốt, Thành một mình trở lại cứ nơi đại đội đang đóng quân cách điểm chốt của trung đội hơn hai cây số tìm gặp đồng chí Công y tá. Thành trình bày “kín” tình trạng bệnh tình của ông già Khmer đang ở chỗ của mình, đồng chí y tá đồng ý đi không quên mang theo nhiều thuốc xuống chỗ các đồng chí giữ chốt. Lúc này, nói chung bộ đội cũng không có nhiều thuốc quý đâu. Chỉ vài loại thuốc đủ sơ cấp cứu ban đầu thôi. May mà cha cô gái “chịu” thuốc nên vượt qua được. Đồng chí Công tiêm cho ông ấy mũi thuốc và để lại thuốc uống rồi anh quày quả trở về đại đội. Việc này phải tuyệt đối giữ bí mật, Thành nhắn nhủ với đồng chí y tá và mong được thông cảm.
Thời gian này, ngoài làm nhiệm vụ được đơn vị phân công, Thành phụ với cô gái cơm nước chăm sóc ông già. Nhờ đó mà ông đã dần hồi phục sức khoẻ. Riêng cô gái vì được ăn uống đầy đủ cô cũng lại sức và một bất ngờ khác nữa khiến Thành bối rối là cô cực kỳ xinh đẹp. Dù vậy áo quần cô cũng không được lành lặn lại ở trong đơn vị bộ đội, rất khó xử, thấy vậy anh lấy một miếng vải “nhặt’ được lúc đánh vô sân bay Pôchengtong đưa cô ấy quấn lại. Thành cũng xin phép đồng chí Đạt dẫn hai cha con họ ra suối cách nơi đóng quân hai cây số để tắm. Ngồi canh gác bên trên, thỉnh thoảng liếc nhìn cô gái ngồi tắm cạnh hố nước anh em đào lên để lấy nước tắm giặt, ăn uống bên bờ suối. Rất lâu rồi Thành mới thấy da thịt phụ nữ trong làn áo mỏng, anh rạo rực trong lòng. Những thầm kín diễn ra nhanh chỉ mình Thành hiểu và anh giữ nó suốt thời gian tiếp xúc cô gái, khi có dịp kể về kỷ niệm chiến trường anh mới bộc bạch tâm tư đó cùng đồng đội cũ. Nói chung lúc đó mọi sinh hoạt có hơi bất tiện nhưng tạm thời khắc phục được.
Không biết đây có phải là rung động đầu đời của một thanh niên vừa đủ tuổi trưởng thành trong một môi trường khắc nghiệt không? Nhưng Thành lúc nào cũng muốn được giúp đỡ, che chở cô gái xa lạ kia. Việc làm này của Thành và b3 khá liều, cấp trên biết được mọi việc sẽ rất phức tạp.
Khi sức khoẻ ông già Khmer tạm ổn định, cô gái biết mình sắp chia xa các anh bộ đội Việt Nam. Nhất là với Thành. Người thanh niên – bộ đội Việt Nam hiền lành, nhân hậu. Cô gái mang ơn anh vì nhiều lẽ. Bất đồng ngôn ngữ là rào cản lớn nhất khiến họ không thể nói với nhau được nhiều. Một hôm cô gái ra dấu xin anh mảnh giấy và mượn cây viết. Ở chiến trường làm gì có sẵn các thứ ấy. Nếu có, khi lên cơn thèm thuốc họ cũng đốt hết rồi. May sao đồng chí Khang có được tờ giấy bạc trong bao thuốc lá, Thành xin và đưa cô gái. Cô ngồi nắn nót từng dòng chữ nhỏ li ti trên mặt giấy dưới ánh trăng đầy thơ mộng. Ước chi đây không phải là chiến trường. Đây là nơi những đôi trai gái yêu nhau, tỏ tình, thề hẹn cùng nhau thì lãng mạn quá. Đêm ấy, đối với Thành là một đêm thật huyền dịu. Cô gái ấy đáng yêu làm sao! Cô vừa tự chăm sóc cha mình, còn đi lấy nước về phụ nấu cơm giúp bộ đội. Thậm chí các anh đi chốt về không kịp giặt đồ cô cũng tự nguyện mang đồ ra suối giặt. Cấp trên biết được chắc chắn sẽ bị phạt rất nặng đây. Cuối cùng, đồng chí Đạt cũng gọi Thành lên trao đổi, đã đến lúc cho cha con cô gái về lại quê nhà. Biết Thành có tình cảm với cô gái, nhưng không thể giữ họ ở lại đơn vị lâu hơn được nữa:
– Để hai cha con họ ở đây mãi không được Thành à! Sáng mai, đồng chí ra lộ đón xe gởi họ về quê đi. Càng ở lâu càng không tốt. Tôi biết đồng chí có tình cảm với cô gái ấy. Vì nhiệm vụ, đồng chí phải biết gạt bỏ tình riêng, nhất là chúng ta đang ở chiến trường. Những ngày qua, cha con họ ở đây đồng chí cũng đã đối xử rất tốt với họ rồi.
Nghe đồng chí Đạt quán triệt, Thành xác định được tư tưởng và chấp hành. Giây phút chia tay đầy lưu luyến, cha con họ cảm ơn bộ đội đã cưu mang mình. Họ đã được sinh ra lần thứ hai trong đời. Chia tay không biết bao giờ gặp lại. Hai cha con ôm từng người, bịn rịn vô cùng. Đến Thành, ông lão ôm lâu hơn, chặt hơn. Có lẽ, mấy ngày qua ông quan sát biết được tình cảm của con gái mình dành cho anh bộ đội này như thế nào. Và ngược lại. Còn cô gái quá xúc động, không biết diễn đạt như thế nào nói lời cảm ơn sâu sắc. Về phần Thành, anh vô cùng bối rối cảm giác gì thì chưa rõ nhưng để cha con cô gái ra đi cũng thấy hụt hẫng. Một nỗi buồn hiện hữu như mất một cái gì rất quí. Biết mà không giữ lại được. Sáng hôm sau khi Thành đưa hai cha con cô gái ra lộ để gởi, lúc đoàn xe sắp đến cô gái bỗng ôm chặt lấy Thành mà khóc. Cha cô thấy vậy cũng ôm anh. Cả đoàn xe dừng lại để chứng kiến giây phút chia tay đầy xúc động này. Trước khi lên xe, cô gái lại bất ngờ ôm anh lần nữa, rồi lấy trong túi áo ra một mảnh giấy bạc mà cô xin anh đêm hôm trước và một túi nhỏ nhét vội vào tay anh rồi bước nhanh lên xe. Thành không nhận anh đưa lại cho cô, đợi xe chuyển bánh cô gái đã ném cái túi ấy về phía anh.
Đoàn xe hôm ấy đi về Phnom Pênh, cô gái trao anh mảnh giấy đêm trước ngồi viết dưới ánh trăng huyền ảo. Thật đáng tiếc, cô ấy viết bằng tiếng Pháp nên có đem ra đọc hàng trăm lần cũng không hiểu cô viết gì trong đó. Có người lõm bõm luận ra rằng, cô ghi địa chỉ nhà ở Phnom Pênh và mời các anh bộ đội có dịp ghé qua nhà để cha con cô cảm ơn tấm lòng của các anh. Hay cô ấy viết lời tỏ tình? Chỉ vậy thôi cũng đủ làm Thành xao xuyến suốt những chặng đường hành quân xa.
Một lá thư viết bằng tiếng Pháp, được trao tận tay, không ai biết tiếng để dịch lại. Vậy mà Thành giữ nó suốt cho tới khi hành quân vào rừng Pursat theo lộ 56 đi lên đèo Gà, qua đèo Khỉ vào sâu trong sông Klong giáp biên giới Thái anh đã vô tình làm ướt, nhoè hết chữ. Một tiếc nuối đến ngẩn ngơ vì mình đã đánh mất một kỷ niệm đẹp trong đời trên chiến trường Tây Nam đầy khói lửa. Bên trong cái túi nhỏ kia là một sợi dây chuyền vàng. Không bùa ngải nào bằng tình yêu đang nhem nhóm trong lòng. Thành bắt đầu dao động tư tưởng, cảm giác nhớ nhung ngày càng mãnh liệt. Thỉnh thoảng ra lộ nhìn xe xuôi ngược cho đỡ nhớ.
Đồng chí Đạt theo dõi từ ban đầu đã nắm rõ những diễn biến tư tưởng của anh em từ khi có cô gái về sống cùng đơn vị những ngày qua. Tất cả đã chấp hành tốt kỷ luật quân đội qui định không xảy ra sự cố đáng tiếc nào. Tuy nhiên, với Thành cần phải động viên cậu ấy nhiều hơn. Nghĩ vậy, đồng chí xuống lán của Thành để gặp gỡ trò chuyện:
– Về công tác “dân vận”, thời gian qua cậu làm rất tốt rồi. Mình cũng đã giúp nhiều người dân nữa chớ không riêng cha con cô gái ấy. Biết cậu có chút rung động đầu đời với cô ấy, nhưng cậu nghĩ xem trong đơn vị mình cậu là người mạnh mẽ nhất, nếu để anh em biết sẽ ảnh hưởng đến toàn đơn vị. Thôi cố gắng vượt qua, ngày mai cùng anh em đi truy kích địch, lâu rồi đơn vị mình chưa “xử lý” được thằng Pôn Pốt nào cả.
Thế là được vực dậy tinh thần, Thành vui vẻ cùng B3 lên kế hoạch mới. Vì suốt thời gian C3 chốt đường chưa bắn được thằng Pôn Pốt nào trong khi bọn chúng vẫn lẻn được ra ngoài mặt lộ gài được mìn phục bộ đội ta ở đó. Bị kích thích bởi đơn vị không đạt thành tích còn để bọn Pốt quấy phá nên Thành tỏ rõ quyết tâm. Đồng chí Đạt đã hài lòng về đồng đội của mình.
Nhưng bọn Pôn Pốt bấy giờ cũng đã khôn hơn. Biết bộ đội truy lùng chúng không đánh trả lại mà chạy trốn trong rừng sâu. Đêm tối mò ra gài mìn, phục xe, còn có đụng độ chỉ bắn vài viên rồi bỏ chạy. Ta cũng có cách. Đó là, nguỵ trang! Khi anh em rút về chốt, bí mật để lại một tổ “ém quân”. Thế là bọn Pôn Pốt rơi vào kế hoạch phục kích của ta. Trận đó B3 quyết tâm tiêu diệt ít nhất hai thằng lấy thành tích chung cho đơn vị. Không ngờ được cả năm. Giải toả được áp lực đã lâu không “xơi” được thằng nào. Thành cũng giải toả sự căng cứng trong tư tưởng. Xong trận anh thoải mái hơn lại cùng đồng đội lên kế hoạch tiếp theo.
Những ngày giáp tết âm lịch, anh em hay ra lộ đón xe chở đồ tiếp tế từ trong nước sang xin để ăn tết. Lúc này xe chạy lên khu vực Pursat, Battampong, Tà Sanh rất nhiều. Một cơ duyên nào đó Thành gặp được anh lái xe tên Hoàng người đã cho hai cha con cô gái đi nhờ dạo trước. Thế là tia hy vọng lại loé lên. Chắc chắn trên chặng đường dài từ lộ 5 về Phnom Pênh sẽ được nghe cô gái tâm sự và anh có thêm được một vài thông tin nào đó. Đúng như Thành dự đoán. Đồng chí lái xe dừng lại, kéo Thành vào lùm cây tránh nắng, chưa kịp hỏi tình hình cha con cô gái như thế nào đã bị anh Hoàng chửi cho một trận tơi bời:
– Mầy là thằng ngu. Cô gái yêu mầy như thế mà mầy bỏ con người ta. Biết thế, lúc đó tao cho mầy lên xe đi luôn, đưa cha con họ về tới quê hương bình yên rồi mầy đón xe quay về đơn vị có sao đâu. Cô ấy khóc suốt.
Thành nhận mình chỉ có chiến đấu giỏi chứ tình cảm thì mới biết tới chừng đó thôi. Có kinh nghiệm gì đâu mà biết xử lý tình huống. Đồng chí Hoàng nhập ngũ năm 1976, anh có nhiều kinh nghiệm lái xe ở chiến trường. Cũng suýt chết mấy lần do bọn Pôn Pốt gài mìn, may là xe vượt qua được chở hàng đến đơn vị an toàn. Hoàng kể rất kỹ về cô gái. Hôm ấy, từ lộ 5 qua U Đông về tới lộ 4 hai cha con xin xuống xe. Nói đến đây Thành biết rành. Nếu từ lộ 4 về Phnom Pênh khoảng bốn mươi cây số. Còn Hoàng từ lộ 4 về lộ 3, tức về Việt Nam nên không cùng đường nữa. Hoàng đã gởi cha con cô gái cho chuyến xe khác về Phnom Pênh. Đến lúc này Thành mới thấy nhẹ nhõm, tự dưng bật khóc trước mặt anh Hoàng. Nghe anh dặn:
– Nếu mầy còn ở đây, tuần sau xe tao quay ra, mầy đón ở đây tao chở về đó. Còn mầy muốn đi tìm cô gái hay không là việc của mầy. Xe ra vào rất nhiều mầy không sợ không có xe quay về đơn vị đâu.
Cảm kích trước tình cảm đồng chí lái xe đã dành cho mình, chỉ nghĩ đến cảnh gặp lại cô gái ấy đã làm anh nôn nao. Tối về anh báo cáo xin ý kiến của đồng chí Đạt và được sự đồng ý. Nhưng rồi kế hoạch ấy không thực hiện được. Do cấp trên đã có lệnh, bàn giao lại tuyến đường đó cho đơn vị công binh và đơn vị bạn, B3 sẽ quay lại phum Tròn chỗ tiểu đoàn bộ đóng quân và ăn tết tại đó.
Gần tết người dân về phum Tròn ở rất đông, không khí khá vui tươi nhộn nhịp. Thành cùng anh em cũng gặp lại hai mẹ con chị Khmer được cứu lần trước. Ông già Tư vui mừng khi gặp lại người quen. Chỉ có đồng chí bộ đội công binh đã hy sinh sau vài ngày được đưa về cứ vì mất quá nhiều máu.
Đồ nhu yếu phẩm cũng được tăng cường cho bộ đội ăn tết rất nhiều, người dân cũng được “ăn ké” với bộ đội. B3 của Thành lên chỗ đóng quân của đại đội cùng nhau căng phông trang trí, cắt dán chữ “Chúc Mừng Năm Mới”. Một cái tết tương đối tươm tất cho bộ đội đón mừng năm 1980 tại chiến trường. Tâm trạng anh em cũng thoải mái hơn như được về với quê hương, trở lại quê nhà.
Cho đến nay, hơn bốn mươi năm trôi qua, đồng chí Thành vẫn còn cảm giác đau đáu muốn gặp lại cha con cô gái năm nào. Mỗi khi gặp gỡ đồng đội nhắc chuyện xưa, năm cũ là kỷ niệm ấy lại hiện về. Hình ảnh cô gái Khmer lai có mái tóc óng mượt, đôi mắt đen láy, long lanh, dịu dàng ngồi nắn nót từng chữ viết lá thư tình gởi anh bộ đội trong một đêm trăng sáng vẫn luôn sống tâm tâm trí anh. Đó là ánh trăng đẹp nhất anh đã gởi lại chiến trường để khắc ghi, để nhớ mãi!.
18/11/2024
Cao Thanh Mai
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Trần Bảo Định, cây bút đặc sắc trong dòng văn học sinh thái Không tính 6 tập thơ “thù tạc” bày tỏ ân nghĩa với quê hương, ba...