Thứ Hai, 15 tháng 9, 2025

21 bài học cho thế kỷ 21 - Phần 1

21 bài học cho thế kỷ 21 - Phần 1

Tiếp nối sau sự thành công (và cả tranh cãi nữa) của Sapiens và Homo deus, Harari lại viết 1 cuốn sách mang đến những làn sóng trái chiều: 21 bài học cho thế kỷ 21!
Nội dung cuốn sách mới của Harari cũng là sự liền mạch với 2 tác phẩm trc đó, nếu như Sapiens đưa chúng ta về đồng cỏ châu Phi cách đây cả trăm nghìn năm, Homo deus mang chúng ta đến 1 tương lai vừa gần gũi vừa xa lạ ngay trên chính hành tinh chúng ta, thì cuốn sách này giúp ta nhìn nhận rõ hơn về thực tại, để có sự chuẩn bị tốt hơn, và giúp cái tương lai bất định có vẻ xa lạ kia thân thuộc thêm 1 chút!
Vì thế, nếu có ý định tìm đọc cuốn sách này, thì ít nhất hãy đọc 2 cuốn sách trước đó của Harari, để có đủ thông tin, dữ liệu và sự liên lạc trong từng ý tứ, từng câu chữ của tác giả.
Có thể nói cách viết và cách tư duy của Harari là thống nhất trong các tác phẩm của mình. Ông kiên định cho rằng diễn trình lịch sử sự sống cũng như lịch sử nhân loại không phải là 1 kết quả tất yếu, mà là kết quả của 1 loạt những lựa chọn ngẫu nhiên…. có nghĩa là nếu ta có thể quay ngược lại lịch sử và lựa chọn những cách khác, lịch sử sẽ rẽ sang nhánh khác – có thể rất rất khác so với thực tại (tất nhiên, chúng ta đã may mắn (hoặc không may) khi có được kết quả ngày hôm nay sau những lựa chọn của tổ tiên)…. đây là 1 tư duy – dù đúng hay sai – cũng rất đột phá, bởi nó đi ngược lại so với tất cả những người theo chủ nghĩa duy tâm, những kẻ sùng đạo, và đồng thời cũng trái ngược với những ng duy vật biện chứng, những môn đồ của Karl Marx!…. và khi anh chọn vị trí đứng của mình là 1 kẻ vô thần nhưng cũng tách biệt so với những người vô thần khác thì tiếng nói của anh gây tranh cãi là không phải bàn! Để diễn giải cách tư duy của Harari theo đúng cách của Harari, thì nếu ta coi những lựa chọn lịch sử là việc mở những cánh cửa, thì cánh cửa đến thiên đường với hoa thơm cỏ lạ được đặt ngay cạnh và cùng màu sắc, kích thước, thiết kế với cánh cửa dẫn đến địa ngục đầy dung nham sôi trào và quỷ dữ….
Trở lại với cuốn sách, Harari không cho chúng ta gợi ý về việc ta phải chọn cánh cửa nào, mà chỉ mô tả về những thứ có thể có đằng sau những cánh cửa ấy (bởi biết đâu, cánh cửa nào đó đã được mở rồi, và việc của chúng ta là lựa chọn đi tiếp đến đích đến sau cánh cửa hay tìm đường tắt sang cánh cửa khác)….ở cánh cửa hiện tại, có thể dẫn ta đến 1 tương lai nơi khủng hoảng việc làm nghiêm trọng đến nỗi hầu hết cư dân tương lai đều thuộc giai cấp Vô dụng. Nơi đó có những siêu nhân và những siêu trí tuệ nhân tạo, hậu quả của sự đứt gãy công nghệ không thể kiểm soát. Nơi đó còn là thảm họa của sự sụp đổ hệ sinh thái, là chủ nghĩa khủng bố, là khủng hoảng niềm tin….nghe có vẻ như toàn là chủ đề hot, và toàn những vấn đề to tát, nặng nề, u ám….đúng như vậy, nhưng với cách viết hài hước, dí dỏm, cùng với cách ví von siêu thông minh của mình Harari luôn khiến độc giả cảm thấy nhẹ bẫng khi tiêu hóa những kiến thức đao to búa lớn trong tác phẩm của mình!
Một ví dụ về sự ví von thông minh của Harari trong cuốn sách là khi ông nói về bản chất của chủ nghĩa khủng bố – vốn ko gây ra thiệt hại gì quá đáng kể về vật chất nếu so với tai nạn giao thông, nhưng lại luôn mang đến ám ảnh về tinh thần với người dân, giới truyền thông và chính khách (bởi vì các cuộc tấn công khủng bố luôn là đề tài được truyền thông săn đón, và chính sự săn đón của giới truyền thông thổi phồng quả bóng khủng bố kinh hãi trong lòng người dân, và buộc các chính trị gia phải lên tiếng và hành động). Harari đã viết: chủ nghĩa khủng bố giống như đồng xu trong 1 cái lọ rỗng, 1 đồng xu nhỏ trong 1 cái lọ rỗng to thì rất ồn ào – một cách ví von thật xuất chúng!!!
Tóm lại, nếu đã đọc Sapiens và Homo deus thì phải nên đọc cuốn sách này. Hay nếu muốn biết cần phải chuẩn bị gì cho tương lai, cho con cái, thì cũng nên đọc cuốn sách này để tham khảo! Dù đoạn giữa cuốn sách có phần khó hiểu (do chủ đề giàu tính triết lý, và cũng có thể do người dịch ko thoát ý), nhưng nhìn chung đây vẫn là cuốn sách hay và dễ đọc, và vì là sách của Harari, nên vẫn cho 5 sao!
Lời nhà xuất bản
Bạn đọc Việt Nam đã biết đến cây viết thể loại lịch sử – triết học Yuval Noah Harari qua hai tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt của ông là Sapiens và Homo Deus. Lần này chúng tôi xin giới thiệu tiếp cuốn thứ ba có tựa đề: 21 bài học cho thế kỷ 21.
Trong cuốn sách này, tác giá xuất phát từ góc nhìn của một nhà tương lai học để hình dung ra thế giới hiện đại trong kỷ nguyên số sẽ vận hành ra sao. Từ đó, ông nêu ra các giả thiết về sự tác động to lớn của kỷ nguyên số tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người, cũng như các quan niệm truyền thống về tự do, hy sinh, dân tộc, tôn giáo, . . .
Cũng giống như Newton đã thắc mắc khi nhìn thấy quả táo rơi xuống đất – mà người bình thường khác thì không để ý – để từ đó làm tiền đề cho sự phát hiện ra định luật hấp dẫn, tác giả Yuval Noah Harari luôn “lật ngược lại vấn đề” để có một cái nhìn “trái chiều”, khác lạ với cách nhìn quen thuộc từ xưa đến nay. Chính điều này làm cho nội dung cuốn sách trở nên cuốn hút người đọc.
Tuy nhiên, tác giá cũng thừa nhận mình là người đa nghi và không muốn mọi người có ấn tượng sai lầm rằng cái gì có tác dụng với ông thì cũng sẽ có tác dụng với tất cả mọi người, bởi lẽ các cá nhân không ai giống ai, cả về cấu tạo cơ thể, hệ thần kinh lẫn duyên nghiệp, . . . ông cũng không ngần ngại tuyên bố là độc giả cũng nên biết cặp kính ông dùng “để nhìn thế giới, từ đó bóp méo tầm nhìn cũng như những viết lách của tôi, có màu gì” và ông cũng sẵn sàng đặt mình vào “tầm ngắm” để độc giá phán xét.
Do vậy, độc giả hãy đọc cuốn sách với tinh thần phản biện vì không phải tất cả các luận thuyết của tác giả đều đã, hay sẽ là đúng đắn, là chân lý, là khách quan. Các triết gia cứ việc luận bàn, còn thế giới sẽ vận hành theo quy luật riêng của nó!.
Nhà xuất bản Thế giới
Giới thiệu
Trong một thế giới ngập tràn những thông tin không chính đáng, sự sáng suốt là sức mạnh. Trên lý thuyết, bất cứ ai cũng có thể tham gia cuộc tranh luận về tương lai của loài người, nhưng thật khó để giữ một tầm nhìn sáng suốt. Thường thì chúng ta còn không nhận thấy có một cuộc tranh luận đang diễn ra và những câu hỏi mấu chốt của nó là gì. Hàng tỷ người trong chúng ta không đủ xa xỉ mà tìm hiểu bởi chúng ta còn nhiều việc cấp thiết hơn phải thực hiện: Ta phải đi làm, nuôi con hoặc chăm sóc cha mẹ già. Đáng tiếc là lịch sử không có chiết khấu hay giảm giá. Nếu tương lai của loài người được định đoạt lúc bạn vắng mặt, vì bạn đang mải lo chuyện ăn, chuyện mặc cho con mình, thì cả bạn và các con đều sẽ không được miễn trừ hậu quả. Điều này thật bất công; nhưng ai bảo lịch sử là công bằng kia chứ?
Là một nhà sử học, tôi không thể cho người khác cơm ăn hay áo mặc; nhưng tôi có thể thử mang lại một sự sáng tỏ nhất định, từ đó giúp tạo ra một sân chơi toàn cầu công bằng. Nếu điều này trao quyền cho thêm một nhóm người, dù nhỏ, giúp họ tham gia vào cuộc tranh luận về tương lai của giống loài mình, thì xem như tôi đã hoàn thành công việc.
Cuốn sách đầu tiên của tôi, Sapiens, nghiên cứu về quá khứ của loài người, xem xét tại sao một loài vượn tầm thường lại trở thành chúa tể của hành tinh Trái đất.
Homo Deus, cuốn sách thứ hai của tôi, khám phá tương lai lâu dài của sự sống, suy ngẫm về việc con người rốt cuộc có thể trở thành những vị thần như thế nào, và số phận sau cùng của trí tuệ và ý thức có thể là gì.
Trong cuốn sách này, tôi muốn xoáy ống kính vào vấn đề “ngay tại đây” và “ngay lúc này”. Tiêu điểm của tôi đặt ở các sự kiện hiện tại và tương lai gần nhất của các xã hội loài người. Điều gì đang xảy ra ngay lúc này? Những thách thức lớn nhất và những lựa chọn quan trọng nhất của ngày nay là gì? Ta cần chú ý đến điều gì? Ta nên dạy con cái ta những gì?
Dĩ nhiên, bảy tỷ người trên thế giới sẽ có bảy tỷ “chương trình nghị sự” (tức quan niệm về các vấn đề và mục tiêu tương lai) khác nhau; và như tôi đã nói ở trên, nghĩ về bức tranh tổng thể (hay tương lai của loài người) là một điều xa xỉ khá hiếm hoi. Một người mẹ đơn thân đang chật vật nuôi nấng hai đứa con trong một khu ổ chuột ở Mumbai phải tập trung vào việc lo bữa mai; những người tị nạn lênh đênh trên một con thuyền giữa Địa Trung Hải căng mắt nhìn về chân trời mà tìm kiếm bất cứ dấu hiệu nào của đất liền; một người hấp hối trong một bệnh viện đông đúc ở London gom hết sức tàn để hít thêm một hơi nữa, Họ đều có những vấn đề cấp bách hơn rất nhiều so với sự nóng lên toàn cầu hay cuộc khủng hoảng của nền dân chủ tự do. Không một quyển sách nào có thế giải quyết thấu đáo tất cả những điều đó và tôi không có bài học nào để dạy cho những người trong những hoàn cảnh như vậy. Tôi chỉ có thể hy vọng được học hỏi từ họ.
“Chương trình nghị sự” của tôi ở đây mang tính toàn cầu. Tôi nhìn vào nhũng động lực chính đang định hình các xã hội trên khắp thế giới và có khả năng ảnh hưởng đến tương lai của hành tinh chúng ta nói chung. Biến đổi khí hậu có thế nằm ngoài phạm vi quan tâm của những người đang ở giữa cơn sống chết, nhưng rốt cuộc nó có thể khiến những khu ổ chuột Mumbai không còn sinh sống được nữa, đẩy những làn sóng người tị nạn khống lồ mới qua Địa Trung Hải và dẫn đến một cuộc khủng hoảng toàn cầu về y tế.
Thực tế được đan dệt từ nhiều tình tiết, sự kiện, và cuốn sách này cố gắng bao quát các lĩnh vực khác nhau của trạng huống toàn cầu của chúng ta, dù không phải là toàn bộ. Không như Sapiens và Homo Deus, cuốn sách này không phải là một tự sự lịch sử mà là một bộ các bài học được tuyển lựa. Những bài học này không đúc rút thành những câu trả lời đơn giản. Chúng hướng đến việc khuyến khích đào sâu suy nghĩ và giúp độc giả tham gia vào một số cuộc đàm luận chính yếu trong thời đại của chúng ta.
Cuốn sách này được viết ra như một cuộc chuyện trò với công chúng. Nhiều chương được viết để trả lời các câu hỏi mà các độc giả, phóng viên và đồng nghiệp đã đặt cho tôi. Một số phần trong sách trước đó đã được xuất bản ở các dạng khác, nên tôi có cơ hội nhận được những ý kiến phản hồi và mài giũa các lập luận của mình. Một số phần tập trung vào công nghệ, một số vào chính trị, một số vào tôn giáo và số khác vào nghệ thuật. Có những chương tôn vinh trí khôn của con người và một số khác nhấn mạnh vai trò thiết yếu của sự ngu dốt của chính giống loài ấy. Nhưng câu hỏi bao trùm vẫn thế: điều gì đang xảy ra trên thế giới ngày nay và đâu là ý nghĩa sâu xa của các sự kiện đó?
Sự nối lên của (hiện tượng) Donald Trump nói lên điều gì? Ta có thể làm gì với vấn nạn “tin giả”? Tại sao nền dân chủ tự do lại lâm vào khủng hoảng? Chúa đã trở lại rồi chăng? Một cuộc Thế chiến mới đang đến? Nền văn minh nào thống trị thế giới: phương Tây, Trung Quốc hay Hồi giáo? Châu Âu có nên mở cửa cho người nhập cư? Chủ nghĩa dân tộc có thể giải quyết được các vấn đề về bất bình đẳng và biến đối khí hậu không? Ta nên làm gì với chủ nghĩa khủng bố?
Mặc dù cuốn sách này có cái nhìn mang tính toàn cầu, tôi cũng không phớt lờ góc độ cá nhân. Trái lại, tôi muốn nhấn mạnh những mối liên hệ giữa các cuộc cách mạng vĩ đại của thời đại chúng ta với đời sống nội tại của mỗi con người. Chẳng hạn, chủ nghĩa khủng bố vừa là một vấn đề chính trị toàn cầu, vừa là một cơ chế tâm lý học nội tại. Chủ nghĩa khủng bố hoạt động bằng cách nhấn một cái nút sợ hãi thẳm sâu trong tâm trí ta và cướp đi những tưởng tượng riêng tư của hàng triệu người. Tương tự, cuộc khủng hoảng của nền dân chủ tự do diễn ra không chỉ trong các nghị viện và các điểm bỏ phiếu mà còn trong các nơron và khớp thần kinh. Nói rằng sự riêng tư cũng thuộc chính trị thì nghe hơi sáo, nhưng trong một kỷ nguyên mà các nhà khoa học, các tập đoàn và các chính phủ đang nghiên cứu giải mã não người, thì điều hiển nhiên này lại càng đe dọa chúng ta hơn bao giờ hết. Do đó, cuốn sách này đưa ra những quan sát về cả hành vi của các cá nhân cũng như toàn xã hội.
Một thế giới toàn cầu đặt những áp lực chưa từng có lên hành vi và đạo đức cá nhân của chúng ta. Mỗi chúng ta bị vướng vào vô vàn những mạng lưới giăng mắc muôn nơi, một mặt hạn chế các hoạt động của chúng ta, mặt khác lại truyền đi những vùng vẫy, dù là khó thấy nhất, của chúng ta tới các điểm xa xôi. Những thói quen hằng ngày của chúng ta có thể tác động đến đời sống của những con người và động vật cách nửa vòng trái đất; một số hành động của cá nhân có thể bất ngờ trở thành tiêu điểm của cả thế giới, như cuộc tự thiêu của Mohamed Bouazizi ở Tunisia đã châm ngòi cho làn sóng cách mạng Mùa Xuân Ả Rập, như việc những người phụ nữ chia sẻ câu chuyện bị xâm hại tình dục của mình và nhóm lên phong trào #MeToo.
Chiều kích toàn cầu này của cuộc sống cá nhân đồng nghĩa với việc hé lộ những thiên kiến tôn giáo và chính trị của chúng ta, những đặc quyền chủng tộc và giới tính của chúng ta, và sự đồng lõa vô ý của chúng ta trong những áp đặt mang tính thể chế đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nhưng liệu đấy có phải là một hành động táo bạo có tính thực tế? Làm sao tôi có thể tìm một chỗ đứng vững chắc về mặt đạo đức trong một thế giới vượt xa chân trời của mình, hoàn toàn vuột khỏi tầm kiểm soát của con người, một thế giới nghi ngờ mọi thánh thần và mọi ý thức hệ?
Cuốn sách này bắt đầu bằng việc khảo sát trạng huống chính trị và công nghệ hiện tại của chúng ta. Khi thế kỷ 20 khép lại, có vẻ những cuộc chiến ý thức hệ vĩ đại giữa chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa toàn trị và chủ nghĩa tự do đã đi đến hồi kết là chiến thắng giòn giã của chủ nghĩa tự do. Nền chính trị dân chủ, nhân quyền và chủ nghĩa tư bản thị trường tự do có vẻ đã được ấn định đế thống trị toàn thế giới. Nhưng như thường lệ, lịch sử đã có một bước ngoặt không ngờ; sau khi chủ nghĩa phát xít sụp đổ, giờ chủ nghĩa tự do đang lâm nguy. Vậy ta đang đi về đâu?
Câu hỏi này đặc biệt thấm thía bởi chủ nghĩa tự do đang mất dần sự tín nhiệm đúng lúc cuộc cách mạng kép trong công nghệ thông tin và công nghệ sinh học buộc chúng ta đối mặt với những thử thách lớn nhất mà loài người từng gặp phải. Cuộc hợp nhất của công nghệ thông tin và công nghệ sinh học có thể sẽ sớm đẩy hàng tỷ người ra khỏi thị trường lao động và làm suy yếu cả tự do lẫn công bằng. Các thuật toán Big Data có thể tạo ra những “nền độc tài số”, trong đó mọi quyền lực tập trung trong tay một nhóm tinh hoa cực nhỏ trong khi hầu hết những người khác phải gánh chịu, không phải sự bóc lột mà là một thứ tồi tệ hơn nhiều: sự vô dụng.
Tôi đã bàn về sự hợp nhất của công nghệ thông tin và công nghệ sinh học trong cuốn Homo Deus. Nhưng trong khi cuốn sách đó tập trung vào tương lai dài hạn với tầm nhìn hàng thế kỷ, thậm chí hàng thiên niên kỷ, thì cuốn sách này tập trung vào các cuộc khủng hoảng xã hội, kinh tế và chính trị sát sườn hơn. Mối quan tâm của tôi ở đây không nằm ở việc tạo ra sự sống vô cơ mà thiên về mối đe dọa đối với nhà nước phúc lợi và những tổ chức cụ thể như Liên minh châu Âu.
Cuốn sách này không cố bao quát mọi ảnh hưởng của các công nghệ mới. Cụ thể thì mặc dù công nghệ mang lại nhiều hứa hẹn tuyệt vời, dự định của tôi ở đây là chủ yếu nêu bật các mối đe dọa cũng như hiểm họa của nó. Những tập đoàn và các doanh nghiệp dẫn đầu cuộc cách mạng công nghệ đương nhiên đều tụng ca các sáng tạo của mình, nên các nhà xã hội học, triết học và sử học như tôi phải gióng hồi chuông cảnh báo và giải thích tất cả các cách mà mọi thứ có thể trở nên cực kỳ tồi tệ.
Sau khi phác ra các thử thách mà chúng ta đang đối mặt, trong phần hai của cuốn sách, tôi nghiên cứu một loạt cách ứng phó tiềm năng. Liệu các kỹ sư Facebook có thế dùng AI (trí tuệ nhân tạo) để tạo ra một cộng đồng toàn cầu bảo vệ tự do và công bằng của loài người không? Có lẽ câu trả lời là đảo ngược quá trình toàn cầu, hóa và tái trao quyền cho nhà nước? Có lẽ chúng ta cần quay ngược lại nhiều hơn nữa và tìm kiếm hy vọng cũng như trí tuệ từ cội nguồn của các truyền thống tôn giáo cổ xưa?
Trong phần ba của cuốn sách, chúng ta sẽ thấy rằng mặc dù các thách thức của công nghệ là chưa có tiền lệ và các mâu thuẫn chính trị là rất gắt gao, con người vẫn có thể nắm bắt thời cơ nếu chúng ta biết kiểm soát nỗi sợ và có các quan điểm khiêm nhường hơn. Phần này xem xét những gì có thể làm đối với hiểm họa của chủ nghĩa khủng bố, với mối đe dọa của chiến tranh toàn cầu và với những thiên kiến cũng như thù hằn đã châm ngòi cho những mâu thuẫn đó.
Phần bốn bàn về khái niệm “hậu-sự thật” và đặt câu hỏi: chúng ta vẫn có thể hiểu những sự phát triển trên toàn cầu và phân biệt sai trái với công lý đến mức độ nào? Liệu Homo sapiens có thể hiểu được thế giới mà nó đã tạo ra? Liệu có còn một ranh giới rõ ràng giữa thực tế và hư cấu?
Trong phần năm, và cũng là phần cuối, tôi thu thập những đầu mối khác nhau và có một cái nhìn tổng thể hơn về đời sống trong một thời đại nhiễu loạn, khi những câu chuyện cũ đã sụp đổ và chưa có câu chuyện mới nào xuất hiện để thay thế chúng. Chúng ta là ai? Chúng ta nên làm gì trong đời? Những loại kỹ năng nào là cần thiết? Với tất cả những gì chúng ta biết và không biết về khoa học, Chúa, chính trị và tôn giáo, chúng ta có thể nói gì về ý nghĩa cuộc đời ngày nay?
Điều này nghe có vẻ quá tham vọng, nhưng Homo sapiens không thể chờ được. Triết học, tôn giáo và khoa học đều đang cạn dần thời gian, Con người đã tranh luận về ý nghĩa cuộc sống hàng ngàn năm nay. Chúng ta không thể kéo dài cuộc tranh luận này mãi. Cuộc khủng hoảng sinh thái đang lấp ló, mối đe dọa của các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt đang ngày càng lớn, và sự trỗi dậy của các công nghệ đột phá mới sẽ không cho phép điều đó. Có lẽ quan trọng nhất là việc trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học đang đem lại cho con người quyền năng tái định hình và tái thiết kế sự sống. Rất sớm thôi, ai đó sẽ phải quyết định sử dụng quyền năng này như thế nào, dựa trên một câu chuyện ngụ ý hay công khai nào đó về ý nghĩa cuộc sống. Các nhà triết học là những người rất kiên nhẫn, nhưng các kỹ sư thì thiếu kiên nhẫn hơn rất nhiều, và các nhà đầu tư là ít kiên nhẫn hơn cả. Nếu bạn không biết phải làm gì với quyền năng tái thiết kế sự sống thì các động lực thị trường sẽ không đợi cả ngàn năm để bạn đưa ra câu trả lời đâu. Bàn tay vô hình của thị trường sẽ áp đặt câu trả lời mù quáng của nó lên bạn. Trừ phi bạn vui vẻ phó thác tương lai của mình vào lòng từ bi của các bản báo cáo doanh thu quý, bạn cần có một ý kiến sáng suốt về ý nghĩa cuộc sống này.
Trong phần cuối chương I, tôi tự cho phép mình đưa ra một vài nhận định cá nhân, nói chuyện với tư cách một Homo sapiens với một Homo sapiens khác, ngay trước khi tấm màn nhung khép lại với giống loài chúng ta và một vở kịch hoàn toàn khác bắt đầu.
Trước khi bắt đầu hành trình tri thức này, tôi muốn làm rõ một điểm tối quan trọng. Trong phần lớn cuốn sách này, tôi bàn về những khiếm khuyết của thế giới quan tự do và hệ thống dân chủ. Tôi làm như vậy không phải vì tôi tin nền dân chủ là đặc biệt có vấn đề mà vì tôi nghĩ nó là mô hình chính trị linh hoạt nhất mà con người đã phát triển được để đối phó với những thách thức của thế giới hiện đại. Mặc dù nó có thế không phù hợp cho mọi xã hội trong mọi giai đoạn phát triển, nó đã chứng tỏ giá trị của mình trong một số xã hội và hoàn cảnh. Thế nên khi nghiên cứu những thử thách mới trước mắt, chúng ta cần phải hiểu những hạn chế của nền dân chủ tự do và khám phá xem chúng ta có thể điều chỉnh cũng như cải tiến các thể chế của nó như thế nào.
Thật không may, trong môi trường chính trị hiện tại, mọi suy nghĩ phản biện về chủ nghĩa tự do và dân chủ có thể bị nhiều phong trào phi tự do khác nhau lợi dụng, mục đích của họ là làm mất uy tín của nền dân chủ tự do hơn là tham gia một cuộc đàm luận mở về tương lai của loài người. Mặc dù họ rất vui khi tranh luận về các vấn đề của nền dân chủ tự do, họ gần như không chịu đựng được bất kỳ lời chỉ trích nào nhắm vào họ.
Do đó, với tư cách tác giả, tôi buộc phải đưa ra một lựa chọn khó khăn. Tôi có nên cởi mở nói rõ lòng mình và chấp nhận nguy cơ những lời nói của tôi có thể bị dùng ngoài văn cảnh? Hay tôi nên tự kiểm soát mình? Các chế độ phi tự do có một đặc điểm là họ làm cho quyền tự do ngôn luận trở nên khó khăn hơn ngay cả bên ngoài biên giới của họ. Chính vì sự lan rộng cúa những thể chế đó mà việc tư duy mang tính phản biện về tương lai của loài người đang ngày càng trở nên nguy hiểm.
Sau một hồi tự soi thấu bản thân, tôi đã chọn thảo luận tự do. Nếu không chỉ trích mô hình tự do, chúng ta không thế sửa chữa những khuyết điểm của nó hay tiến xa hơn nó. Nhưng làm ơn lưu ý rằng cuốn sách này chỉ có thể được viết ra khi con người vẫn còn được tương đối tự do nghĩ gì họ thích và thể hiện bản thân như họ muốn. Nếu bạn tôn trọng cuốn sách này, bạn cũng nên tôn trọng quyền tự do biểu đạt.
Phần 1 - Thách thức công nghệ
Loài người đang mất lòng tin vào câu chuyện tự do đã thống trị nền chính trị toàn cầu trong vài thập kỷ gần đây, chính xác là từ khi sự hợp nhất của công nghệ sinh học và công nghệ thông tin bắt ta đối đâu với những thách thức lớn nhất mà loài người từng phải đối mặt.
Bài học 1 - Vỡ mộng
SỰ KẾT THÚC CỦA LỊCH SỬ ĐÃ BỊ HOÃN LẠI
Con người suy nghĩ theo các câu chuyện hơn là theo các thực tế, số liệu hay đẳng thức; câu chuyện càng đơn giản càng tốt. Mỗi người, nhóm người và quốc gia đều có những câu chuyện và huyền thoại riêng của mình. Nhưng trong thế kỷ 20, giới tinh hoa toàn cầu tại New York, London, Berlin đã “nhào nặn” nên ba câu chuyện vĩ đại tự nhận là giải thích được toàn bộ quá khứ và tiên đoán được tương lai của cả thế giới: câu chuyện về chủ nghĩa phát xít, câu chuyện về chủ nghĩa toàn trị và câu chuyện về chủ nghĩa tự do. Thế chiến thứ hai hạ gục câu chuyện phát xít, và từ cuối thập niên 1940 đến cuối thập niên 1980, thế giới trở thành một “chiến trường” với hai câu chuyện: chủ nghĩa toàn trị và chủ nghĩa tự do. Rồi câu chuyện toàn trị đi qua và câu chuyện tự do còn lại là “kim chỉ nam” “thống trị” quá khứ của con người và là cuốn “cẩm nang” không thể thiếu cho tương lai của thế giới, hoặc ít nhất với giới tinh hoa toàn cầu là như vậy.
Câu chuyện tự do tôn vinh giá trị và quyền năng của tự do. Nó kể rằng hàng ngàn năm nay, loài người đã sống dưới những chế độ áp chế cho con người rất ít quyền chính trị, các cơ hội kinh tế, hay tự do cá nhân; chúng hạn chế nặng nề sự chuyển dịch của các cá nhân, ý tưởng và hàng hóa. Nhưng con người đã đấu tranh cho tự do, và tự do đã từng bước chiếm thế thượng phong. Các thể chế dân chủ thay thế những nền độc tài tàn bạo. Doanh nghiệp tự do vượt qua các rào cản kinh tế. Con người học cách nghĩ cho bản thân và đi theo trái tim thay vì mù quáng tuân phục những thầy tu đầy thiên kiến và những truyền thống bảo thủ. Những con đường mở, những cây cầu rộng và những sân bay đông đúc đã thay thế tường, hào và dây kẽm gai.
Câu chuyện tự do thừa nhận rằng, thế giới không phải cái gì cũng tốt đẹp và vẫn còn rất nhiều trở ngại phải vượt qua. Đâu đó trên hành tinh chúng ta vẫn có những kẻ độc tài thống trị, và ngay ở các quốc gia “tự do” nhất, nhiều công dân vẫn chịu cảnh nghèo đói, bạo lực và áp bức. Nhưng ít nhất chúng ta biết phải làm gì để vượt qua những vấn đề này: cho con người nhiều tự do hơn. Chúng ta cần bảo vệ quyền con người, cho mọi người quyền bầu cử, thiết lập thị trường tự do và để cho các cá nhân, ý tưởng cũng như hàng hóa di chuyển khắp thế giới càng dễ dàng càng tốt. Theo giải pháp tự do triệt để được cả George W.Bush và Barack Obama chấp nhận theo vài phiên bản hơi khác nhau này, nếu chúng ta cứ thế tiếp tục “mở cửa” và toàn cầu hóa các hệ thống chính trị và kinh tế, chúng ta sẽ đem lại hòa bình và thịnh vượng cho tất cả mọi người.
Các quốc gia tham gia vào cuộc hành quân tiến bộ không gì có thể cản bước này sẽ được tưởng thưởng bằng hòa bình và thịnh vượng sớm hơn. Quốc gia nào cố đi ngược điều không thể tránh khỏi này sẽ phải gánh chịu hậu quả cho đến khi chính họ hiểu ra, mở cửa biên giới, tự đo hóa xã hội, chính trị và thị trường. Điều này có thể cần thời gian, nhung cuối cùng thì ngay cả Triều Tiên, Iraq và El Salvador rồi cũng sẽ giống Đan Mạch hay Iowa.
Vào những năm 1990 và 2000, câu chuyện này trở thành một câu thần chú toàn cầu. Nhiều chính phủ từ Brazil đến Ấn Độ đã đưa “công thức” tự do vào trong một nỗ lực tham gia vào cuộc hành quân không gì có thể ngăn cản nổi này của lịch sử. Những nơi không làm được điều này trông như một vùng nguyên thủy lạc hậu. Vào năm 1997, tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tự tin chỉ trích chính phủ Trung Quốc, nói rằng việc từ chối tự do hóa nền chính trị Trung Hoa đã đặt nước này “đi ngược trào lưu lịch sử”.
Tuy nhiên, từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, người dân khắp nơi trên thế giới đã ngày càng trở nên vỡ mộng với câu chuyện tự do. Tường rào và tường lửa được ưa dùng trở lại. Sự phản đối nhập cư và các thỏa thuận thương mại đang gia tăng. Một số chính phủ, khoác danh nghĩa dân chủ đang làm suy yếu tính độc lập của hệ thống tư pháp, biến mọi sự đối lập thành tội phản quốc. Những lãnh đạo chính trị ở các nước như Thổ Nhĩ Kỳ và Nga thử nghiệm các kiểu dân chủ phi tự do mới. Ngày nay, rất ít người dám tự tin tuyên bố Trung Quốc “đi ngược trào lưu lịch sử”.
Năm 2016, được đánh dấu bằng cuộc bỏ phiếu Brexit ở Anh và sự nổi lên của Donald Trump ở Mỹ, báo hiệu thời điểm con sóng thủy triều của sự vỡ mộng này vỗ vào những quốc gia theo chủ nghĩa tự do trung tâm ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Trong khi một vài năm trước, người Mỹ và người châu Âu vẫn đang cố tự do hóa Iraq và Libya bằng họng súng, nhiều người ở Kentucky và Yorkshire giờ đang bắt đầu coi viễn cảnh tự do như một cái gì đó không đáng mong ước hay không thể đạt được. Một số phát hiện ra mình bắt đầu hoài vọng thế giới theo trật tự cũ, và họ đơn giản là không muốn từ bỏ các đặc quyền chủng tộc, dân tộc hay giới tính của mình. Một số đi đến kết luận (đúng hoặc sai) rằng tự do hóa và toàn cầu hóa là một phi vụ lớn chỉ kiếm lời cho một nhóm thiểu số tinh hoa với cái giá phải trả của cả đám đông.
Vào năm 1938, con người được đưa cho ba câu chuyện toàn cầu để lựa chọn; đến năm 1968 chỉ có hai và vào năm 1998, có vẻ như chỉ còn một câu chuyện trụ lại. Đến năm 2018, ta có số không tròn trĩnh. Chẳng trách mà giới tinh hoa theo tư tưởng chủ nghĩa tự do, những người đã thống lĩnh phần lớn thế giới trong những thập kỷ gần đây, đang sốc và mất phương hướng. Có một câu chuyện là an tâm hơn tất cả. Mọi thứ rõ ràng tuyệt đối. Đột ngột chẳng còn câu chuyện nào thì thật đáng sợ. Chẳng còn gì có ý nghĩa nữa. Một chút giống như giới tinh hoa của Liên Xô trong những năm 1980, những người theo chủ nghĩa tự do không hiểu tại sao lịch sử lại đi chệch khỏi con đường đã vạch sẵn từ trước và họ thiếu một lăng kính thay thế để diễn giải hiện thực. Mất phương hướng khiến họ nghĩ “Ngày tận thế” đang đến, như thể việc lịch sử không đi đến được kết cuộc có hậu mà người ta trông mong chỉ có thể có nghĩa là lịch sử đang lao về phía “Diệt Vong” trong cuộc xung đột giữa Thiện và Ác. Đã đến lúc phải xem xét tình hình hiện tại khó chịu này thay vì lờ nó đi, nhưng người ta lại không thể, trí óc cứ bám lấy các viễn cảnh thảm họa. Như một người tưởng tượng một con nhức đầu tệ hại là dấu hiệu của một khối u não giai đoạn cuối, nhiều người theo chủ nghĩa tự do sợ rằng Brexit và sự nổi lên của Donald Trump báo hiệu cái kết của văn minh nhân loại.
TỪ DIỆT MUỖI ĐẾN DIỆT SUY NGHĨ
Tốc độ đứt gãy do công nghệ ngày càng tăng làm cho cảm giác mất phương hướng và ngày tàn đang cận kề của chúng ta trở nên tồi tệ thêm. Hệ thống chính trị tự do được định hình trong thời đại công nghiệp để quản lý thế giới các động cơ hơi nước, nhà máy lọc dầu và màn hình ti vi. Nó gặp khó khăn khi đối đầu với các cuộc cách mạng đang diễn ra trong công nghệ thông tin và công nghệ sinh học.
Cả chính trị gia lẫn cử tri đều gần như không hiểu được các công nghệ mới, nói gì đến việc quản lý tiềm năng bùng nổ của chúng. Từ những năm 1990, mạng Intemet đã thay đổi thế giới có lẽ nhiều hơn bất kỳ yếu tố nào khác, thế nhưng cuộc cách mạng intemet lại do các kỹ sư dẫn dắt nhiều hơn là các đảng phái chính trị. Bạn có bao giờ bầu gì cho mạng Intemet chưa? Hệ thống dân chủ vẫn đang chật vật để hiểu xem ai vừa giáng cho mình một cú và nó không được trang bị để đối mặt với những cú sốc tiếp theo, như là sự trỗi dậy của AI (trí tuệ nhân tạo) và cuộc cách mạng blockchain.
Ngày nay, máy vi tính đã biến hệ thống tài chính trở nên phức tạp đến nỗi rất ít người có thể hiểu được. Khi AI phát triển, sớm thôi, sẽ không ai trong chúng ta có thể hiểu nổi nền tài chính nữa. Việc này sẽ ảnh hưởng ra sao đến tiến trình chính trị? Bạn có thể tưởng tượng ra một chính phủ “gò lưng” chờ một thuật toán xét duyệt ngân sách hay bản cải cách thuế mới cho mình không? Trong khi đó, các mạng blockchain ngang hàng (P2P) và các đồng tiền mã hóa như Bitcoin có thể hoàn toàn tái cơ cấu hệ thống tiền tệ, khiến các cải cách thuế triệt để là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn, việc tính và đánh thuế thu nhập bằng đô la có thể trở thành bất khả thi hoặc bất hợp lý vì hầu hết các giao dịch sẽ không bao gồm việc trao đổi các đồng tiền quốc gia, hay thậm chí là bất cứ đồng tiền nào, một cách rõ ràng. Các chính phủ do đó cần phải phát minh ra những loại thuế hoàn toàn mới, có lẽ là một loại thuế đánh vào thông tin (vừa là tài sản quan trọng nhất trong nền kinh tế, vừa là thứ duy nhất được trao đổi trong vô số các giao dịch). Hệ thống chính trị có thể xoay sở để đối phó với cuộc khủng hoảng này trước khi cạn tiền không?
Quan trọng hơn, cuộc cách mạng kép trong công nghệ thông tin và sinh học có thể tái cơ cấu không chỉ các nền kinh tế và các xã hội mà chính cơ thể và tâm trí của chúng ta. Trong quá khứ, con người đã học cách kiểm soát thế giới bên ngoài, nhưng chỉ kiểm soát được rất ít thế giới bên trong. Chúng ta biết cách xây một cái đập và ngăn dòng một con sông, nhưng không biết làm thế nào để ngăn cơ thể khỏi lão hóa. Chúng ta biết làm sao để thiết kế một hệ thống tưới tiêu nhưng không biết làm thế nào để thiết kế một bộ não. Nếu một con muỗi vo ve bên tai và phá giấc ngủ, chúng ta biết làm thế nào để diệt con muỗi; nhưng nếu một ý nghĩ vo ve trong đầu và làm trằn trọc thâu đêm, hầu hết chúng ta không biết làm gì để diệt ý nghĩ đó.
Các cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin và công nghệ sinh học sẽ cho chúng ta khả năng kiểm soát thế giới bên ngoài, đồng thời tái định hình và tái thiết kế sự sống. Chúng ta sẽ học cách thiết kế các bộ não, kéo dài sự sống và tiêu diệt ý nghĩ tùy thích. Chẳng ai biết hậu quả sẽ là gì. Con người luôn giỏi chế tạo công cụ hơn là sử dụng chúng một cách khôn ngoan. Nắn dòng một con sông bằng cách xây một con đập thì dễ hơn nhiều việc dự đoán tất cả những hệ lụy phức tạp mà điều này sẽ gây nên cho hệ sinh thái rộng lớn hơn. Tương tự, nắn dòng suy nghĩ thì dễ hơn là hiểu được việc đó sẽ ảnh hưởng ra sao tới tâm lý cá nhân hay hệ thống xã hội của chúng ta.
Trong quá khứ, chúng ta đạt được quyền năng kiểm soát thế giới xung quanh và tái định hình cả hành tinh này; nhưng chúng ta không hiểu sự phức tạp của hệ sinh thái toàn cầu nên những thay đổi chúng ta tạo ra đã vô tình làm gián đoạn toàn bộ hệ sinh thái và giờ ta đang đối mặt với một cuộc sụp đổ sinh thái. Trong thế kỷ tiếp theo, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin sẽ cho chúng ta quyền năng kiểm soát thế giới bên trong và tái định hình bản thân; nhưng vì không hiểu sự phức tạp của chính tâm trí mình nên những thay đổi chúng ta sẽ tạo ra có thể làm đảo lộn hệ thần kinh đến mức chính nó cũng có thể sẽ sụp đổ.
Các cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin và công nghệ sinh học hiện đang được các kỹ sư, doanh nhân và các nhà khoa học khởi xướng; họ là những người gần như không ý thức được tầm ảnh hưởng chính trị của các quyết định mà họ đưa ra, và chắc chắn không đại diện cho bất cứ ai. Liệu các nghị viện và đảng phái chính trị có xắn tay vào? Hiện tại thì có vẻ không phải vậy. Sự đứt gãy do công nghệ gây ra thậm chí còn không phải là một đề mục ưu tiên trong các chương trình nghị sự. Trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ 2016, sự đứt gãy của công nghệ được nói đến ở trên chủ yếu lại liên quan đến vụ lùm xùm về email của Hillary Clinton; và mặc dù các bài nói chuyện của hai ứng cử viên đều về tình trạng mất việc làm, không ai đả động đến nguy cơ của tự động hóa. Donald Trump cảnh báo các cử tri rằng người Mexico và người Trung Quốc sẽ lấy đi việc làm của họ, do đó họ nên xây một bức tường dọc biên giới với Mexico. Ông ta chưa bao giờ cảnh báo cử tri rằng các thuật toán sẽ lấy đi việc làm của họ cũng như không gợi ý xây một bức tường lửa dọc biên giới với California.
Đây có thể là một trong những nguyên do (dù không phải là duy nhất) các cử tri ngay tại những vùng trung tâm của xã hội phương Tây tự do đang mất dần lòng tin vào câu chuyện tự do và tiến trình dân chủ. Người thường có thể không hiểu trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học, nhưng họ có thể cảm nhận được tương lai đang bỏ họ lại phía sau. Vào nàm 1938, tình trạng của một thường dân ở Liên bang Xô-viết, Đức hay Mỹ có thể tệ, nhưng người ta liên tục rỉ vào tai anh ta rằng anh là thứ quan trọng nhất thế giới, rằng anh là tương lai (đương nhiên miễn anh là một “người bình thường” chứ không phải người Do Thái hay người Phi). Anh ta nhìn những tấm áp-phích tuyên truyền, thường vẽ những người thợ mỏ, công nhân thép và các bà nội trợ trong những tư thế anh hùng, và thấy mình ở đó: “Mình có trong tấm áp-phích ấy! Mình là người hùng của tương lai!”
Đến năm 2018, thường dân ngày càng cảm thấy mình vô dụng. Rất nhiều từ ngữ bí ẩn đang được bàn qua tán lại một cách đầy hứng khởi trong các buổi TED Talk, các viện nghiên cứu của chính phủ và các hội thảo công nghệ cao: toàn cầu hóa, blockchain, công nghệ di truyền, trí tuệ nhân tạo, học máy; và thường dân có thể nghi ngờ là chẳng có từ nào trong đó nói về họ cả. Câu chuyện tự do là câu chuyện của những thường dân. Làm sao nó còn thỏa đáng được trong một thế giới của người-lai-máy và các thuật toán kết nối mạng?
Trong thế kỷ 20, quần chúng làm cách mạng chống bóc lột và tìm cách biến vai trò chính yếu của mình trong nền kinh tế thành quyền lực chính trị. Giờ đây, quần chúng sợ sự vô dụng và lao vào sử dụng chút quyền lực chính trị còn sót lại của mình trước khi quá muộn. Brexit và sự nổi lên của Trump do đó có thể minh họa cho một quỹ đạo đối lập với quỹ đạo của các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa truyền thống. Các cuộc cách mạng Nga, Trung Quốc và Cuba được tạo ra bởi những người quan trọng với nền kinh tế nhưng chưa mạnh về chính trị; vào năm 2016, Trump và Brexit được chống lưng bởi nhiều người vẫn thích hưởng quyền lực chính trị nhưng e sợ rằng mình đang mất giá trị kinh tế. Có lẽ trong thế kỷ 21, các cuộc nổi dậy dân túy sẽ được tiến hành không phải để chống lại một lớp tinh hoa kinh tế bóc lột con người mà sẽ chống lại một lớp tinh hoa kinh tế không cần đến người dân nữa. Đây rất có thể sẽ là một trận chiến nhất định thua. Đấu tranh chống lại sự vô dụng thì khó hơn rất nhiều chống lại sự bóc lột.
PHƯỢNG HOÀNG TỰ DO
Đây không phải lần đầu tiên câu chuyện tự do đối mặt với một cuộc khủng hoảng lòng tin. Từ khi câu chuyện này có sức ảnh hưởng toàn cầu, trong nửa sau thế kỷ 19, nó đã chịu nhiều cuộc khủng hoảng định kỳ. Kỷ nguyên đầu tiên của toàn cầu hóa và tự do hóa kết thúc trong cuộc tắm máu của Thế chiến thứ nhất, khi nền chính trị quyền lực đế quốc rút ngắn cuộc “hành quân” tiến bộ toàn cầu. Trong những ngày tiếp sau cuộc ám sát thái tử Franz Ferdinand ở Sarajevo, hóa ra những bậc nắm quyền vĩ đại lại tin vào chủ nghĩa đế quốc hơn chủ nghĩa tự do rất nhiều; và thay vì thống nhất thế giới qua thương mại tự do và hòa bình, họ tập trung vào việc chiếm một miếng to hơn của quả địa cầu bằng vũ lực. Thế nhưng chủ nghĩa tự do đã sống sót qua thời khắc của Franz Ferdinand và trỗi dậy mạnh mẽ hơn trước từ cơn lốc chiến tranh, vốn được hứa hẹn là “cuộc chiến để chấm dứt mọi cuộc chiến”. Có vẻ như cuộc tàn sát không tiền khoáng hậu này đã dạy con người cái giá khủng khiếp của chủ nghĩa đế quốc, và giờ đây con người cuối cùng cũng đã sẵn sàng kiến tạo một trật tự thế giới mới dựa trên các nguyên tắc của tự do và hòa bình.
Thế rồi thời khắc của Hitler lại đến; vào thập niên 1930 và đầu thập niên 1940, chủ nghĩa phát xít dường như là không thể cưỡng lại. Chiến thắng mối đe dọa này thuần túy báo hiệu một mối đe dọa khác. Trong thời khắc của Che Guevara, giữa những năm 1950 và 1970, có vẻ như một lần nữa chủ nghĩa tự do đã đến hồi cáo chung, và tương lai thuộc về chủ nghĩa toàn trị. Cuối cùng, chủ nghĩa toàn trị lại ra đi. Siêu thị hóa ra mạnh hơn nhà tù rất nhiều. Quan trọng hơn, câu chuyện tự do hóa ra lại mềm mỏng và linh hoạt hơn bất cứ đối thủ nào của nó. Nó chiến thắng chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa toàn trị bằng cách kế thừa một số ý tưởng và hành động tốt nhất của các đối thủ. Cụ thể, câu chuyện tự do học được bằng việc mở rộng vòng tròn thấu cảm và tôn trọng sự bình đẳng cùng với sự tự do.
Ban đầu, câu chuyện tự do chủ yếu quan tâm đến những quyền tự do và đặc quyền của đàn ông trung lưu châu Âu, và có vẻ mù lòa trước tình cảnh của những người lao động, phụ nữ, người thiểu số và những người phi-phương Tây. Vào năm 1918, khi Anh và Pháp thắng trận hào hứng nói về tự do, họ không hề nghĩ về các thần dân trong các đế chế toàn cầu của họ. Chẳng hạn, những đòi hỏi về quyền tự quyết của người Ấn Độ dã được đáp trả bằng cuộc thảm sát Amritsar năm 1919, trong đó quân đội Anh giết hại hàng trăm người biểu tình tay không tấc sắt.
Ngay cả lúc mở màn Thế chiến thứ hai, những nhà tự do chủ nghĩa phương Tây vẫn rất vất vả khi áp dụng các giá trị được cho là có tính phổ quát của họ lên những người phi-phương Tây. Do đó, khi Hà Lan trỗi dậy vào năm 1945 sau 5 năm bị quân Nazi cai trị tàn bạo, gần như việc đầu tiên họ làm là thành lập quân đội và điều quân đi nửa vòng Trái đất để tái chiếm thuộc địa cũ của họ là Indonesia. Trong khi vào năm 1940, người Hà Lan tự từ bỏ độc lập chỉ sau chưa tới bốn ngày giao chiến, nhưng lại chiến đấu hơn bốn năm ròng rã và cay đắng để đàn áp quyền độc lập của người Indonesia. Chẳng trách mà nhiều phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đặt hy vọng vào Moscow và Bắc Kinh hơn là những người hùng tự do tự xưng ở phương Tây.
Tuy nhiên, dần dà, câu chuyện tự do mở rộng tầm nhìn, và cuối cùng, ít nhất là về lý thuyết, đã đi đến chỗ tôn vinh cả tự do và quyền lợi của tất cả mọi người, không có ngoại lệ. Khi vòng tròn tự do mở rộng, câu chuyện tự do cũng dần nhận ra tầm quan trọng của các chương trình phúc lợi kiểu của các nhà nước phi tự do. Tự do chẳng đáng giá là bao trừ phi đi kèm với một kiểu mạng lưới bảo hộ an sinh xã hội nhất định. Các nhà nước phúc lợi dân chủ-Xã hội kết hợp dân chủ và nhân quyền với giáo dục và y tế được nhà nước đài thọ. Ngay cả nước Mỹ siêu – tư bản cũng nhận ra việc bảo vệ tự do cần ít nhất một số dịch vụ phúc lợi công. Để trẻ con bị đói thì chẳng phải tự do gì sất.
Đến đầu thập niên 1990, các nhà tư tưởng và chính trị gia đồng lòng tung hô điểm “Kết thúc của lịch sử”, tự tin khẳng định rằng tất cả các câu hỏi lớn về chính trị cũng như kinh tế của quá khứ đã được giải quyết và gói tự do được “tân trang” lại gồm dân chủ, nhân quyền, thị trường tự do và các dịch vụ phúc lợi công vẫn là lựa chọn tối ưu. Gói này có vẻ như chắc chắn sẽ lan rộng ra khắp thế giới, vượt mọi rào cản, xóa mọi ranh giới quốc gia và biến loài người thành một cộng đồng toàn cầu tự do duy nhất.
Nhưng lịch sử lại không kết thúc; theo sau thời khắc của Franz Ferdinand hay của Hitler; giờ đây chúng ta thấy mình đang đứng giữa thời khắc của Trump. Tuy nhiên, lần này, câu chuyện tự do không phải đối mặt với một đối thủ ý thức hệ nhất quán như chủ nghĩa đế quốc hay chủ nghĩa phát xít. Thời khắc của Trump mang tính hư vô chủ nghĩa hơn rất nhiều.
Trong khi các phong trào chính của thế kỷ 20 đều mang tầm nhìn nhân loại, như thống trị thế giới, cách mạng hay tự do, thì Donald Trump chẳng đề xuất cái gì như vậy cả. Ngược lại thì đúng hơn. Thông điệp chính của ông ta là việc nhào nặn và tung hô một tầm nhìn toàn cầu không phải là việc của nước Mỹ. Tương tự, những người ủng hộ Brexit ở Anh chỉ có một kế hoạch cho tương lai của Vương quốc Anh Không Liên hiệp; tương lai của châu Âu và của thế giới vượt xa tầm nhìn của họ. Hầu hết những người bầu cho Trump và Brexit không hoàn toàn bác bỏ gói tự do, họ chỉ mất lòng tin chủ yếu vào phần toàn cầu hóa. Họ vẫn tin vào dân chủ, thị trường tự do, quyền con người và trách nhiệm xã hội, nhưng họ nghĩ những ý tưởng cao đẹp đó nên dừng ở đường biên giới. Thực ra, họ tin rằng để bảo toàn tự do và thịnh vượng ở Yorkshire hay Kentucky, cách tốt nhất là xây một bức tường ở biên giới và áp dụng các chính sách phi tự do đối với người nước ngoài.
Siêu cường Trung Quốc đang trỗi dậy lại cho thấy một hình ảnh gần như phản chiếu kịch bản này. Thận trọng tự do hóa phần nội địa, nhưng lại áp dụng một cách tiếp cận tự do hơn nhiều với phần còn lại của thế giới. Trên thực tế, đứng trước vấn đề tự do thương mại và hộp tác quốc tế, Tập Cận Bình như người kế tục đích thực của Obama. Trung Quốc có vẻ khá hài lòng với trật tự quốc tế tự do.
Nước Nga tái sinh tự thấy mình là một đối thủ cực kỳ đáng gờm của trật tự tự do toàn cầu, nhưng mặc dù đã tái lập sức mạnh quân sự của mình, về mặt ý thức hệ, nó hoàn toàn “phá sản”. Vladimir Putin hẳn nhiên rất được lòng người ở Nga và các trào lưu cánh hữu khắp nơi trên thế giới, nhưng ông ta không có thế giới quan toàn cầu nào có thể hấp dẫn những người Tây Ban Nha thất nghiệp, những người Brazil bất mãn hay các sinh viên mơ mộng viển vông ở Cambridge.
Nước Nga quả có đưa ra một mô hình phát triển thay thế, nhưng đó không phải là một ý thức hệ nhất quán. Đúng hơn, nó là một đường lối chính trị tạo điều kiện cho một số người độc quyền kiểm soát của cải và quyền lực quốc gia rồi sử dụng truyền thông để làm bình phong cho các hoạt động đó. Mô hình dân chủ vốn dựa trên nguyên tắc của Abraham Lincoln, rằng “anh có thể lừa tất cả mọi người vào một lúc nào đó và một số người vào mọi lúc, nhưng anh không thể lừa tất cả mọi người vào mọi lúc được”. Nếu một chính quyền lỏng lẻo và không thể cải thiện đời sống của người dân, đến một lúc nào đó sẽ có đủ công dân nhận ra điều này và phản đối. Nhưng quyền kiểm soát truyền thông lại làm suy yếu logic của Lincoln. Thông qua truyền thông, người ta có thể hết lần này đến lần khác đổ lỗi mọi thất bại của mình lên người khác và đánh lạc hướng chú ý sang các mối xung đột từ bên ngoài, dù thực tế hay tưởng tượng.
Khi bạn sống trong một hoàn cảnh như vậy, luôn có một cuộc khủng hoảng nào đó được ưu tiên hơn những thứ bình đẳng như y tế hay ô nhiễm. Nếu một chính quyền đang phải đối mặt với ngoại xâm hay âm mưu lật đổ thâm độc thì liệu còn có đủ thời gian lo lắng về các bệnh viện quá tải và những dòng sông ô nhiễm? Bằng cách tạo ra một loạt những cuộc khủng hoảng không hồi kết, một chính quyền có thể kéo dài sự tồn tại của nó lâu dài.
Thế nhưng, dù tồn tại lâu dài trên thực tế, mô hình này không hấp dẫn ai hết. Không như các ý thức hệ khác tự hào thuyết giáo về tầm nhìn của mình, các chính thể chuyên chế không tự hào về những đường lối của mình và chúng thường sử dụng các ý thức hệ khác như một tấm bình phong. Những người cực đoan cánh hữu ở Pháp và Anh hoàn toàn có thể dựa vào sự trợ giúp của Nga và thể hiện sự ngưỡng mộ dành cho Putin; nhưng các cử tri của họ thực ra sẽ không thích sống trong một đất nước sao y mô hình nước Nga; một đất nước còn hiện trạng tham nhũng, dịch vụ trời ơi, luật pháp không nghiêm và còn nhiều bất bình đẳng. Theo một số chỉ số, Nga là một trong những nước bất bình đẳng trên thế giới với 87% của cải tập trung trong tay 10% những người giàu có nhất. Liệu có bao nhiêu người lao động ủng hộ Mặt trận Dân tộc ở Pháp sao chép mô hình phân phối của cải này?
Con người “bỏ phiếu bằng chân”2. Trong những lần chu du thế giới, tôi đã gặp vô số người ở rất nhiều quốc gia muốn di cư sang Mỹ, Đức, Canada hay Úc. Tôi đã gặp vài người muốn chuyển tới Trung Quốc hay Nhật Bản. Nhưng ít có người nào mơ được định cư ở Nga cả.
Như với “Hồi giáo toàn cầu”, nó hấp dẫn chủ yếu những người sinh ra trong lòng nó. Trong khi nó có thể hấp dẫn một số người ở Syria và Iraq, thậm chí thanh niên theo Hồi giáo thấy mình lạc lõng ở Đức và Anh, thật khó hình dung những người Hy Lạp hay Nam Phi, chưa kể Canada hay Hàn Quốc, tham gia một đế chế Hồi giáo toàn cầu như một liều thuốc chữa lành những vấn đề của họ. Ngay cả trong trường hợp này, con người cũng bỏ phiếu “bằng chân”. Cứ mỗi thanh niên theo đạo Hồi đi từ Đức đến Trung Đông để sống dưới một nền chính trị thần quyền Hồi giáo, lại có hàng trăm thanh niên Trung Đông muốn hành trình ngược lại và bắt đầu một cuộc sống mới cho chính họ ở nước Đức tự do.
Điều này có thể nói lên rằng, cuộc khủng hoảng đức tin hiện tại là ít nghiêm trọng hơn những lần khủng hoảng trước. Bất cứ một người theo chủ nghĩa tự do nào đang thấy tuyệt vọng vì các sự kiện diễn ra trong vài năm gần đây có thể nhớ là mọi thứ đã từng tồi tệ hơn đến mức nào trong các năm 1918,1938 hay 1968. Cuối cùng, loài người sẽ không từ bỏ câu chuyện tự do. Con người có thể thất vọng về hệ thống, nhưng vì chẳng có chỗ nào khác để đi, cuối cùng họ vẫn quay về với nó.
Mặt khác, con người có thể hoàn toàn từ bỏ việc có một thể loại câu chuyện toàn cầu mà thay vào đó tìm sự an toàn trong những câu chuyện mang tính dân tộc và tôn giáo địa phương. Trong thế kỷ 20, các phong trào dân tộc đóng vai trò chính trị cực kỳ quan trọng, nhưng chúng thiếu một tầm nhìn nhất quán cho tương lai của thế giới bên cạnh việc ủng hộ sự phân chia địa cầu ra thành các quốc gia-dân tộc độc lập. Các nhà dân tộc chủ nghĩa Indonesia đấu tranh chống lại sự thống trị của người Hà Lan và các nhà dân tộc chủ nghĩa của các quốc gia khác có bối cảnh tương tự muốn có một nền độc lập, nhưng không có câu chuyện nào của Indonesia hay các quốc gia kia dành cho toàn thể nhân loại cả. Khi cần phải giải thích xem Indonesia và tất cả các quốc gia tự do khác nên liên hệ với nhau như thế nào và con người nên đối phó với các vấn đề toàn cầu như mối đe dọa chiến tranh hạt nhân ra sao, thì những nhà dân tộc chủ nghĩa vẫn mong quay trở về với các ý tưởng tự do hoặc toàn trị.
Nhưng nếu hiện giờ cả chủ nghĩa tự do lẫn chủ nghĩa toàn trị đều đã lỗi thời, có lẽ con người nên từ bỏ luôn ý tưởng về một câu chuyện toàn cầu duy nhất. Xét cho cùng, chẳng phải tất cả các câu chuyện toàn cầu này, ngay cả chủ nghĩa toàn trị, cũng là sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc phương Tây hay sao? Tại sao những người nông dân nên đặt niềm tin vào đứa con tinh thần của một người đàn ông Đức đến từ Trier và một nhà tư bản công nghiệp người Manchester? Có lẽ mỗi đất nước nên có đường lối đặc thù riêng, được định hình bởi chính các truyền thống của nó. Có lẽ ngay cả những người phương Tây cũng nên tạm ngừng việc cố vận hành thế giới và tập trung vào chính các vấn đề của mình để thay đổi.
Đây có vẻ là điều đang xảy ra khắp toàn cầu, khi khoảng trống bị để lại sau sự sụp đổ của chủ nghĩa tự do đang nhất thời được những ảo tưởng hoài cổ về quá khứ hoàng kim bản địa nào đó lấp đầy. Donald Trump ghép những lời kêu gọi về chủ nghĩa biệt lập kiểu Mỹ với lời hứa “khiến nước Mỹ vĩ đại trở lại”, như thể nước Mỹ của những năm 1980 hay 1950 là một xã hội hoàn hảo mà người Mỹ bằng cách nào đó nên tái tạo vào thế kỷ 21. Những người theo Brexit mơ ước biến Anh quốc thành một thế lực độc lập, như thể họ vẫn còn sống trong thời kỳ của Nữ hoàng Victoria và “sự cô lập huy hoàng” là một chính sách khả thi trong thời đại Internet và nóng lên toàn cầu. Giới tinh hoa Trung Quốc đã khám phá lại các di sản của các vương triều, và Khổng giáo như một sự bổ sung hay thậm chí thay thế cho ý thức hệ có phần lung lay đến từ phương Tây. Ở Nga, tầm nhìn chính thức không phải là xây dựng một “đế chế đầu sỏ” mà là khôi phục đế chế kiểu Sa hoàng xưa. Một thế kỷ sau cách mạng Bolshevik, Putin hứa hẹn một sự quay trở lại những vinh quang thời Sa hoàng với một chính phủ được chủ nghĩa dân tộc Nga và lòng mộ đạo Chính thống giáo nâng đỡ, trải dài quyền lực từ biển Baltic đến vùng Caucasus.
Những giấc mơ hoài cổ tương tự, pha trộn giữa sự gắn bó mang tính dân tộc chủ nghĩa với các truyền thống tôn giáo, là trụ cột của các thể chế ở Ấn Độ, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều quốc gia khác. Không đâu có những ảo tưởng này cực đoan hơn ở Trung Đông: những người theo chủ nghĩa Hồi giáo muốn sao chép hệ thống do nhà tiên tri Muhammad xác lập ở thành phố Medina 1.400 năm trước; vượt mặt họ là những người Do Thái chính thống ở Israel mơ đi ngược 2.500 năm về thời Kinh Thánh. Các thành viên của chính phủ liên hiệp cầm quyền tại Israel công khai nói về hy vọng mở rộng đường biên giới của Israel ngày nay để sánh ngang với Israel thời Kinh Thánh, về việc tái lập luật Thánh kinh và thậm chí xây lại đền cổ Yahweh ở Jerusalem thay cho nhà thờ Hồi giáo Al-Aqsa.
Giới tinh hoa tự do nhìn những diễn tiến này với sự kinh hoàng và hy vọng rằng loài người sẽ trở về con đường tự do đúng lúc để tránh thảm họa. Trong bài diễn văn cuối cùng trước Liên Hiệp Quốc vào tháng Chín năm 2016, Tổng thống Obama đã cảnh báo các cử tọa tránh lùi vào “một thế giới phân rẽ sâu sắc và cuối cùng là đối đầu nhau dọc theo những đường biên cổ xưa của quốc gia và bộ lạc và chủng tộc và tôn giáo”. Thay cho những điều đó, ông nói, “những nguyên tắc của thị trường mở và chính quyền có trách nhiệm, của dân chủ và nhân quyền và luật quốc tế… vẫn là nền tảng vững chắc nhất cho tiến bộ của loài người trong thế kỷ này”.
Obama đã chỉ ra đúng vấn đề là, dù gói tự do có vô số khiếm khuyết, nó vẫn có một “hồ sơ” khá khẩm hơn bất cứ lựa chọn nào khác rất nhiều. Hầu hết mọi người chưa bao giờ được hưởng nền hòa bình hay sự thịnh vượng nào vĩ đại hơn dưới thời của trật tự tự do đầu thế kỷ 21. Lần đầu tiên trong lịch sử, tỷ lệ tử vong do bệnh truyền nhiễm ít hơn do tuổi già, nạn đói ít hơn bệnh béo phì, và bạo lực ít hơn tai nạn.
Nhưng chủ nghĩa tự do không có những câu trả lời rõ ràng cho những vấn đề lớn nhất mà chúng ta đang đối mặt: sụp đổ hệ sinh thái và sự đứt gãy do công nghệ. Chủ nghĩa tự do theo truyền thống vẫn dựa vào tăng trưởng kinh tế để giải quyết các mâu thuẫn xã hội và chính trị một cách thần kỳ. Chủ nghĩa tự do đã hòa giải giai cấp, những người có đạo và những người vô thần, người bản địa và người nhập cư, người châu Âu với người châu Á bằng cách hứa hẹn ai cũng có một miếng bánh lớn hơn. Với một miếng bánh liên tục phình to3 thì điều đó là khả thi. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế sẽ không cứu được hệ sinh thái toàn cầu; hoàn toàn ngược lại, phát triển kinh tế thực ra là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng sinh thái. Và tăng trưởng kinh tế cũng không giải quyết được sự đứt gãy do công nghệ gây ra bởi nó dựa vào sự phát minh ra những công nghệ ngày càng gây đứt gãy.
Câu chuyện tự do và logic của chủ nghĩa tư bản thị trường tự do khuyến khích con người ta có những kỳ vọng lớn lao. Trong nửa sau của thế kỷ 20, mỗi thế hệ, dù ở Houston, Thượng Hải, Istanbul hay Sao Paulo, đều đã hưởng một nền giáo dục tốt hơn, y tế ưu việt và thu nhập cao hơn thế hệ trước đó. Tuy nhiên, trong các thập kỷ sắp tới, khi sự đứt gãy do công nghệ và sụp đổ sinh thái kết hớp với nhau, đối với thế hệ trẻ hơn, việc đơn giản là ở nguyên một chỗ đã là may mắn.
Do vậy, chúng ta được lãnh nhiệm vụ tạo một câu chuyện cập nhật cho thế giới. Cũng như những xáo trộn của Cách mạng Công nghiệp đã cho ra đời các ý thức hệ mới lạ của thế kỷ 20, những cuộc cách mạng sắp tới trong công nghệ sinh học và công nghệ thông tin hẳn sẽ cần những tầm nhìn tươi mới. Do đó, các thập kỷ tiếp theo có thể sẽ được định hình bởi những cuộc tự vấn sâu sắc và việc hình thành các mô hình xã hội và chính trị mới. Liệu chủ nghĩa tự do có thể một lần nữa tự đổi mới, như nó đã từng làm khi bùng phát các cuộc khủng hoảng của thập niên 1930 và 1960, và trỗi dậy hấp dẫn hơn bao giờ hết? Liệu tôn giáo và chủ nghĩa dân tộc truyền thống có thể đưa đến những câu trả lời đã vuột khỏi tay các nhà tự do chủ nghĩa, và liệu họ có thể sử dụng trí tuệ cổ xưa để xây dựng lên một thế giới quan bắt kịp thời đại? Hay có lẽ đã đến lúc đoạn tuyệt hẳn với quá khứ và nhào nặn một câu chuyện hoàn toàn mới, không chỉ vượt ra khỏi những vị thần và các quốc gia cũ mà cả các giá trị hiện đại cốt lõi của tự do và bình đẳng nữa.
Hiện tại, loài người còn xa mới đạt được bất cứ đồng thuận nào cho những câu hỏi này. Chúng ta vẫn đang trong thời khắc hư vô của vỡ mộng và tức giận, sau khi con người đã mất lòng tin vào những câu chuyện cũ nhưng trước khi đón nhận một câu chuyên mới. Vậy thì tiếp theo sẽ là gì? Bước đầu tiên là phải làm dịu đi những tiên đoán tận thế và chuyển từ trạng thái hoảng sợ sang trạng thái hoang mang. Hoảng sợ là một dạng ngạo mạn. Nó đến tà cảm giác cao ngạo rằng ta biết chính xác thế giới đang tiên đến đâu: xuống hố. Hoang mang khiến người ta khiêm nhường hơn, và do đó sáng tỏ hơn. Bạn có muốn chạy xuống phố và gào lên: “Tận thế đến rồi” không? Hãy cố tự nhủ rằng: “Không, không phải thế. Sự thật là, tôi chỉ không hiểu điều gì đang xảy ra trên thế giới.”
Những chương tiếp theo sẽ cố làm sáng tỏ một vài viễn cảnh mới gây hoang mang mà chúng ta đang phải đối diện và cách ta bước tiếp từ đây. Nhưng trước khi khám phá các giải pháp tiềm năng cho thực trạng của loài người, chúng ta cần hiểu rõ hơn thách thức mà công nghệ mang lại. Những cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin và công nghệ sinh học vẫn đang trong giai đoạn trứng nước; và người ta vẫn còn đang tranh cãi rằng thật ra chúng phải chịu trách nhiệm đến đâu cho cuộc khủng hoảng hiện tại của chủ nghĩa tự do. Hầu hết mọi người ở Birmingham, Istanbul, St.Petersburg và Mumbai chỉ lờ mờ nhận thức được, nếu có, về cuộc trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo và ảnh hưởng tiềm tàng của nó lên cuộc sống của họ. Tuy nhiên, một điền không thể nghi ngờ là các cưộc cách mạng công nghệ sẽ tăng tốc trong vài thập kỷ tới và sẽ bắt loài người đối điện với những thử thách khó khăn nhất mà chúng ta từng gặp phải. Bất cứ câu chuyện nào muốn chiếm được lòng tin của con người trước hết sẽ bị kiểm tra khả năng đối phó với cuộc cách mạng kép trong thông tin và sinh học. Nếu chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa dân tộc, Hồi giáo hay bất cứ tín điều mới mẻ nào đó muốn định hình thế giới của năm 2050, nó sẽ không chỉ cần hiển được trí tuệ nhân tạo, các thuật toán Big Data và công nghệ sinh học mà còn phải đưa chúng vào một câu chuyện mới mẻ và ý nghĩa.
Để hiểu được bản chất của thử thách công nghệ này, có lẽ tốt nhất ta nên bắt đầu với thị trường lao động. Từ năm 2015, tôi đã đi khắp thế giới để nói chuyện với các nhân viên chính phủ, các doanh nhân, các nhà hoạt động xã hội và cả học sinh về trạng huống của loài người. Mỗi khi họ trở nên mất kiên nhẫn hay uể oải trước những câu chuyện về trí tuệ nhân tạo, thuật toán Big Data và công nghệ sinh học, thường thì tôi chỉ cần nhắc đến một từ thần kỳ để kéo sự chú ý của họ quay lại ngay lập tức: việc làm. Cuộc cách mạng công nghệ có thể sớm đẩy hàng tỷ người ra khỏi thị trường lao động và tạo ra một “tầng lớp vô dụng” khổng lồ mới, dẫn đến những biến động xã hội và chính trị mà không một chủ thuyết hiện hữu nào biết cách giải quyết. Tất cả những cuộc chuyện trò về công nghệ và ý thức hệ có thể nghe rất trừu tượng và xa xôi, nhưng viễn tưởng rất thật về tình trạng thất nghiệp hàng loạt, hoặc thất nghiệp đơn lẻ, khiến bất cứ ai cũng phải quan tâm.
Bài học 2 - Công việc
KHI CON LỚN LÊN, CÓ THỂ CON SẼ KHÔNG CÓ VIỆC LÀM
Chúng ta không có bất kỳ ý niệm gì về việc thị trường lao động sẽ ra sao vào năm 2050. Nhìn chung mọi người đồng thuận cho rằng học máy và công nghệ robot sẽ thay đổi gần như mọi ngành nghề, từ sản xuất sữa chua đến dạy yoga. Tuy nhiên, có những quan điểm trái ngược nhau về bản chất của sự thay đổi này và thời điểm nó xảy ra. Một số tin rằng chỉ trong một hay hai thập kỷ, hàng tỷ người sẽ trở nên vô dụng về mặt kinh tế. Một số khác kiên định rằng thậm chí về lâu dài thì tự động hóa vẫn sẽ tiếp tục tạo ra những công ăn việc làm mới và sự thịnh vượng lớn hơn cho tất cả.
Vậy chúng ta đang mấp mé bên bờ một biến động khủng khiếp hay những dự báo như vậy chỉ là một ví dụ nữa của cơn quá khích thiếu cơ sở kiểu Luddite4? Cũng khó nói. Nỗi sợ rằng tự động hóa sẽ tạo ra tình trạng thất nghiệp hàng loạt có từ thế kỷ 19, và cho đến nay, nó chưa bao giờ thành hiện thực. Từ lúc bắt đầu cuộc Cách mạng Công nghiệp, cứ mỗi việc làm “rơi vào tay” máy móc lại có ít nhất một việc làm mới được tạo ra; và mức sống trung bình đã tăng lên đáng kể. Thế nhưng vẫn có lý do xác đáng để nghĩ rằng lần này sẽ khác và học máy sẽ thực sự thay đổi cuộc chơi.
Con người có hai loại năng lực: thể chất và nhận thức. Trong quá khứ, máy móc cạnh tranh với con người chủ yếu ở năng lực thể chất thuần túy, trong khi con người vẫn giữ được lợi thế cực kỳ lớn về nhận thức đối với máy móc. Do đó, khi các công việc tay chân trong nông nghiệp và công nghiệp được tự động hóa, các công việc dịch vụ mới, đòi hỏi các loại kỹ năng nhận thức chỉ con người mới có, xuất hiện: học tập, phân tích, giao tiếp và trên hết là hiểu được cảm xúc của con người. Tuy nhiên, AI giờ đây đang bắt đầu vượt qua con người trong ngày càng nhiều các kỹ năng này, bao gồm cả việc hiểu cảm xúc con người. Chúng ta không biết tới lĩnh vực hoạt động thứ ba nào, ngoài việc tay chân và việc trí óc, nơi con người sẽ luôn giữ một lợi thế an toàn.
Điều quan trọng là phải nhận ra cuộc cách mạng AI không chỉ là chuyện máy tính trở nên nhanh hơn và thông minh hơn. Nó được tiếp thêm năng lượng bằng những đột phá trong khoa học sự sống và cả khoa học xã hội nữa. Chúng ta càng hiểu rõ về các cơ chế sinh hóa cơ sở cho cảm xúc, đam mê và lựa chọn của con người, thì máy móc càng có thể giỏi phân tích hành vi, dự báo quyết định và thay thế tài xế / nhân viên ngân hàng / luật sư-người hơn.
Trong vài thập kỷ vừa qua, nghiên cứu trong các lĩnh vực như khoa học thần kinh và kinh tế học hành vi đã cho phép các nhà khoa học “bẻ khóa” con người và đặc biệt là hiểu cách con người đưa ra các quyết định hơn rất nhiều. Hóa ra các lựa chọn của chúng ta về tất cả mọi thứ, từ đồ ăn cho đến bạn tình, không phải là kết quả của một ý chí tự do kỳ bí nào đó mà từ hàng tỷ nơron thần kinh tính toán các khả năng có thể xảy ra chỉ trong một phần nhỏ của giây. “Trực giác con người” từng được ngợi ca trong thực tế lại là việc “nhận dạng mẫu”. Các tài xế, nhân viên ngân hàng và luật sư giỏi không có các trực giác thần kỳ về giao thông, đầu tư hay đàm phán nào cả; thay vào đó, bằng cách nhận ra các mẫu lặp đi lặp lại, họ phát hiện và cố tránh những người đi đường bất cẩn, những người vay tiền hay trốn nợ và những tay lừa đảo quỷ quyệt. Đồng thời, hóa ra các thuật toán sinh hóa5 của não người còn xa mới gọi là hoàn hảo. Chúng dựa vào khả năng tự mày mò, các phím tắt và những mạch điện lạc hậu vốn thích nghi với đồng cỏ châu Phi hơn là rừng rậm thành thị6. Chẳng trách mà ngay cả những tài xế cừ, nhân viên ngân hàng giỏi và luật sư xịn thỉnh thoảng cũng phạm những sai lầm ngu ngốc.
Điều này có nghĩa AI có thể vượt qua con người ngay cả trong những việc vốn được cho là đòi hỏi “trực giác”. Nếu AI cần phải cạnh tranh với con người về mặt linh cảm huyền bí, thì nhiệm vụ đó quả là nghe có vẻ bất khả. Nhưng nếu AI thật sự cần cạnh tranh với các mạng lưới thần kinh trong việc tính toán các khả năng và nhận dạng mẫu, thì chuyện đó nghe có vẻ dễ hơn nhiều.
Đặc biệt, AI có thể giỏi hơn trong những công việc đòi hỏi trực giác về người khác. Nhiều công việc, như điều khiển một phương tiện trên phố đông người đi bộ, cho người lạ mướn tiền và thương thảo một thương vụ, đòi hỏi khả năng đánh giá chính xác các xúc cảm và mong muốn của người khác. Đứa bé kia có sắp chạy ào ra đường không? Liệu người đàn ông mặc vest kia có định cầm tiền của mình rồi biến không? Liệu gã luật sư kia có thực sự ra tay như đã dọa hay chỉ đang khoác lác? Khi người ta vẫn nghĩ những cảm xúc và mong muốn như thế được một linh hồn phi-vật chất tạo ra thì có vẻ rõ ràng là máy tính sẽ không bao giờ có thể thay thế những tài xế, nhân viên ngân hàng và luật sư. Vì làm sao một cái máy tính có thể hiểu được linh hồn con người, vốn được tạo ra một cách linh thiêng? Thế nhưng nếu những cảm xúc và mong muốn kia thực chất không gì khác ngoài các thuật toán sinh hóa thì không có lý do gì mà máy tính không thể giải mã những thuật toán đó, và làm thế tốt hơn bất cứ Homo sapiens nào.
Việc người tài xế dự đoán ý đồ của một khách bộ hành, chủ nhà băng đánh giá độ khả tín của một người vay vốn tiềm năng và luật sư phán đoán tình hình tại bàn thương lượng không dựa vào ma thuật. Thay vào đó, dù chính họ không ý thức được, não của họ đang nhận dạng các mẫu sinh hóa bằng cách phân tích vẻ mặt, ngữ điệu, cử động tay và cả mùi cơ thể nữa. Một AI được lắp các máy đo phù hợp có thể làm tất cả những việc trên chính xác và đáng tin cậy hơn một con người rất nhiều.
Vì lý do này mà mối đe dọa mất việc làm không chỉ đơn thuần xuất hiện từ sự nổi lên của công nghệ thông tin. Nó còn bắt nguồn từ sự kết hợp của công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Việc đưa một máy quét fMRI vào thị trường lao động đòi hỏi nhiều thời gian và chông gai, nhưng vẫn có thể hoàn thành trong một vài thập kỷ. Những gì các nhà khoa học não bộ ngày nay đang nghiên cứu về hạch amygdala và tiểu não có thể khiến các máy tính có khả năng vượt mặt các nhà tâm thần học và vệ sĩ con người vào năm 2050.
AI không chỉ sẵn sàng bẻ khóa con người và vượt mặt họ trong các kỹ năng vốn trước nay là độc đáo chỉ có ở loài người; nó còn được hưởng những kỹ năng phi-nhân độc nhất vô nhị, điều làm nên sự khác biệt cốt lõi giữa AI và một người lao động. Hai khả năng phi-nhân đặc biệt quan trọng mà AI sở hữu là kết nối và nâng cấp.
Con người là các cá thể nên khó kết nối họ với nhau và đảm bảo rằng tất cả đều được cập nhật. Trái lại, các máy tính không phải là các cá thể và việc kết hợp chúng thành một mạng lưới linh hoạt đơn nhất là rất dễ dàng. Điều chúng ta đang đối mặt không phải là sự thay thế hàng triệu công nhân bằng hàng triệu robot và máy tính; mà mỗi con người rất có thể sẽ bị thay thế bởi một mạng lưới hợp nhất. Do đó, khi cân nhắc về tự động hóa, sẽ là sai lầm nếu so sánh khả năng của một tài xế với một chiếc xe tự hành, hay một bác sĩ-người với một bác sĩ AI. Thay vào đó, ta nên so sánh khả năng của một tập hợp người với khả năng của một mạng lưới tích hợp.
Chẳng hạn, nhiều tài xế không nắm vững tất cả những quy định giao thông thay đổi liên tục và họ thường xuyên vi phạm. Thêm vào đó, mỗi phương tiện là một thực thể riêng biệt nên khi hai phương tiện cùng tiến về giao lộ vào cùng một thời điểm, tài xế có thể báo hiệu nhầm ý định của mình dẫn đến va chạm. Trái lại, các phương tiện tự hành có thể kết nối với nhau. Khi hai phương tiện như vậy cùng tiến về một giao lộ, chúng thực chất không phải là hai thực thể riêng biệt mà là một phần của một thuật toán duy nhất. Do đó, khả năng chúng có thể phát tín hiệu nhầm và va vào nhau là ít hơn. Và nếu ủy ban giao thông thay đổi một số luật giao thông, mọi phương tiện tự hành có thể dễ dàng cập nhật thông tin vào cùng thời điểm; và ngoại trừ một vài lỗi chương trình, chúng sẽ tuân theo luật mới chính xác đến từng con chữ.
Tương tự, nếu Tổ chức Y tế Thế giới phát hiện một loại bệnh mới, hay một phòng thí nghiệm điều chế được một loại thuốc mới, việc cập nhật thông tin về các tiến triển này đến mọi bác sĩ trên thế giới là gần như bất khả. Trái lại, ngay cả nếu có 10 tỷ bác sĩ AI trên thế giới, mỗi AI theo dõi sức khỏe của một người duy nhất, có thể cập nhật cho tất cả AI các thông tin trên trong vài phần giây và chúng có thể trao đổi với nhau các phản hồi của mình về căn bệnh mới hay loại thuốc mới. Các lợi thế tiềm nàng này của khả năng kết nối và cập nhật lớn đến nỗi ít nhất trong một số ngành nghề, việc thay thế tất cả con người bằng máy tính có lẽ là hợp lý, ngay cả khi nếu xét về mặt cá nhân thì một số người vẫn làm tốt hơn máy.
Bạn có thể phản đối rằng khi chuyển công việc từ những con người đơn lẻ sang cho một mạng lưới máy tính, chúng ta sẽ mất đi lợi thế của tính cá nhân. Chẳng hạn, nếu một bác sĩ-người chẩn đoán sai, anh ta không giết tất cả bệnh nhân trên thế giới; anh ta cũng không ngăn được sự phát triển của tất cả các loại thuốc mới. Trái lại, nếu tất cả bác sĩ thực ra chỉ là một hệ thống duy nhất và hệ thống đó phạm phải một sai lầm, hậu quả có thể cực kỳ thảm khốc. Tuy nhiên, trên thực tế, một hệ thống máy tính tích hợp có thể tối đa hóa những lợi thế của kết nối mà không mất đi lợi ích của tính cá nhân. Anh có thể chạy nhiều thuật toán khác nhau trên cùng một mạng lưới, thế là một bệnh nhân trong một ngôi làng xa xôi giữa rừng cũng có thể tiếp cận với không chỉ một bác sĩ có quyền hạn duy nhất mà thực ra là hàng trăm bác sĩ AI khác nhau, những người mà năng lực tương quan liên tục được só sánh với nhau, qua điện thoại thông minh của người đó. Bạn không thích những gì bác sĩ IBM vừa nói với bạn? Không vấn đề. Ngay cả khi mắc kẹt đâu đó trên sườn núi Kilimanjaro, bạn vẫn có thể dễ dàng liên lạc với bác sĩ Baidu để xin ý kiến khác.
Những lợi ích đối với xã hội loài người nhiều khả năng là cực kỳ lớn. Các bác sĩ AI có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn và rẻ hơn rất nhiều cho hàng tỷ người, đặc biệt là những ai đang không hề nhận được dịch vụ y tế nào. Nhờ các thuật toán tự học và các thiết bị cảm biến sinh trắc học mà một người dân làng nghèo tại một nước kém phát triển có thể tận hưởng chăm sóc y tế qua điện thoại thông minh tốt hơn nhiều những gì người giàu nhất thế giới ngày nay nhận được từ một bệnh viện thành phố tân tiến nhất.
Tương tự, các phương tiện tự hành có thể cung cấp cho con người các dịch vụ giao thông tốt hơn nhiều, đặc biệt là giảm tỷ lệ chết do tai nạn giao thông. Ngày nay, mỗi năm có gần 1,25 triệu người chết trong các tai nạn giao thông (gấp đôi số người chết vì chiến tranh, tội phạm và khủng bố cộng lại). Hơn 90% các tai nạn này xảy ra do các sai lầm của con người: ai đó uống rượu và lái xe, ai đó nhắn tin trong khi lái xe, ai đó ngủ gục trên tay lái, ai đó mơ mộng giữa ban ngày thay vì để ý đường đi. ủy ban An toàn Giao thông Cao tốc Quốc gia ước tính năm 2012 có 31% các tai nạn gây chết người ở Mỹ liên quan đến các tài xế sử dụng đồ uống có cồn, 30% do tốc độ và 21% do lái xe mất tập trung. Các phương tiện tự hành sẽ không bao giờ phạm phải những điều này. Mặc dù chúng có những vấn đề và hạn chế riêng, và dù một số tai nạn là không thể tránh khỏi, việc thay thế toàn bộ tài xế bằng máy tính được kỳ vọng là giảm khoảng 90% số người thương vong khi tham gia giao thông đường bộ. Nói cách khác, chuyển sang các phương tiện tự hành có thể ngăn được cái chết cho khoảng một triệu người mỗi năm.
Do đó, sẽ thật điên rồ nếu ngăn cản sự tự động hóa trong những lĩnh vực như giao thông và y tế chỉ để giữ việc làm cho con người. Xét cho cùng, cái chúng ta cần bảo vệ cuối cùng là con người, không phải việc làm. Các tài xế và bác sĩ mất việc sẽ phải đi tìm việc làm khác thôi.
MOZART TRONG CỖ MÁY
Ít nhất về ngắn hạn, AI và khoa học robot khó có khả năng loại bỏ hoàn toàn một số ngành nghề. Những công việc đòi hỏi chuyên môn hóa trong một phạm vi hẹp gồm các hoạt động lặp lại sẽ được tự động hóa. Nhưng để thay thế con người bằng máy móc trong các công việc ít lặp lại hơn, đòi hỏi sử dụng đồng thời một loạt các kỹ năng rộng và bao gồm việc đối phó với các tình huống chưa lường trước, sẽ khó hơn rất nhiều. Chẳng hạn như y tế. Nhiều bác sĩ tập trung gần như hoàn toàn vào xử lý thông tin: họ tiếp nhận các dữ liệu y tế, phân tích và đưa ra chẩn đoán. Trái lại, các y tá cần những kỹ năng vận động và cảm xúc tốt để tiêm thuốc, thay băng gạc hay kiềm chế một bệnh nhân manh động. Do đó, có lẽ chúng ta sẽ có một bác sĩ gia đình AI. trên điện thoại thông minh trước khi có một robot y tá đáng tin cậy nhiều thập kỷ sau đó. Ngành chăm sóc con người, tức chăm lo cho người ốm, người trẻ cũng như người già, có nhiều khả năng sẽ vẫn là địa hạt của con người trong một thời gian dài. Quả thực, khi con người sống thọ hơn và có ít con cái hơn, việc chăm sóc người cao tuổi có lẽ sẽ là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong thị trường lao động con người.
Bên cạnh chăm sóc, công việc sáng tạo cũng có những rào cản đặc biệt khó khăn cho tự động hóa. Chúng ta không cần những người bán nhạc nữa: chúng ta có thể tải xuống trực tiếp từ iTunes; nhưng các nhạc sĩ, nhạc công, ca sĩ và DJ vẫn là người bằng xương bằng thịt. Chúng ta dựa vào sức sáng tạo của họ không chỉ để sản xuất một thứ âm nhạc hoàn toàn mới mà còn để lựa chọn trong loạt khả năng hiện hữu nhiều vô kể.
Tuy nhiên, về lâu dài, không có công việc nào hoàn toàn không thể thay thế bởi tự động hóa cả. Ngay cả các nghệ sĩ cũng nên lưu ý. Trong thế giới hiện đại, nghệ thuật thường được gắn với cảm xúc con người. Chúng ta có xu hướng nghĩ rằng các nghệ sĩ đang truyền tải những nội lực tâm lý nào đó, rằng toàn bộ mục đích của nghệ thuật là kết nối chúng ta với cảm xúc hay khơi dậy trong ta một xúc cảm mới nào đó. Do vậy, khi đánh giá nghệ thuật, chúng ta thường phán xét dựa trên tác động về mặt cảm xúc của nó lên khán giả. Tuy nhiên, nếu nghệ thuật được định nghĩa bằng cảm xúc con người thì điều gì sẽ xảy ra một khi các thuật toán ngoại thân7 có thể hiểu và điều khiển được cảm xúc con người tốt hơn cả Shakespeare, Frida Kahlo hay Beyoncé?
Xét cho cùng, các cảm xúc không phải là hiện tượng kỳ bí gì; chúng là kết quả của một quá trình sinh hóa. Do đó, trong một tương lai không quá xa, một thuật toán học-máy cũng có thể phân tích được các dữ liệu sinh trắc từ các máy cảm ứng lắp trên và trong cơ thể bạn, phát hiện kiểu tính cách và những trạng thái tâm lý thay đổi của bạn, từ đó tính toán được tác động về mặt xúc cảm mà một bài hát cụ thể, thậm chí là một điệu nhạc nhất định, có thể gây ra cho bạn.
Trong tất cả các loại hình nghệ thuật, âm nhạc có lẽ dễ bị ảnh hưởng bởi phân tích Big Data chinh phục nhất vì cả đầu vào và đầu ra của nó đều thích hợp với việc mô tả chính xác bằng toán học. Đầu vào là các mô hình toán học của sóng âm, đầu ra là các mô hình điện hóa của xung thần kinh. Chỉ trong vài thập kỷ, một thuật toán chạy trên hàng triệu trải nghiệm âm nhạc có thể học để dự đoán cách khiến những đầu vào nhất định đưa ra những đầu ra nhất định.
Giả sử bạn vừa trải qua một cuộc cãi vã kinh khủng với bạn trai. Thuật toán phụ trách hệ thống âm thanh của bạn sẽ ngay lập tức nhận ra những xáo trộn cảm xúc trong bạn; và dựa vào những gì nó biết về cá nhân bạn cũng như tâm lý con người nói chung, nó sẽ chơi những bài hát phù hợp với trạng thái tâm lý, đồng cảm với nỗi buồn bực và nói hộ niềm đau của bạn. Những bài hát cụ thể này có thể không phù hợp với người khác, nhưng chúng hoàn hảo với tính cách của bạn. Sau khi cùng bạn đi đến tận cùng nỗi buồn, thuật toán sẽ phát bài hát duy nhất trên thế giới có khả năng làm bạn vui lên, có thể vì tiềm thức của bạn kết nối nó với một ký ức tuổi thơ hạnh phúc mà chính bạn cũng không ý thức được. Không một người DJ nào dám mơ chạm tới những kỹ năng của một AI như vậy.
Bạn có thể phản đối rằng AI sẽ giết chết những sự thú vị ngẫu nhiên và nhốt chúng ta trong một cái kén âm nhạc chật hẹp dệt bằng những cảm xúc yêu hay ghét trước đó của chúng ta. Thế còn khám phá các thị hiếu và phong cách âm nhạc mới thì sao? Không vấn đề. Bạn có thể dễ dàng điều chỉnh thuật toán để 5% lựa chọn của nó là hoàn toàn ngẫu hứng, bất chợt phát một bản thu từ dàn nhạc gamelan8 của Indonesia, một bản opera của Rossini hay một bài K-pop đình đám mới nhất. Dần dà, bằng cách theo dõi phản ứng của bạn, AI thậm chí có thể xác định được cả mức độ ngẫu nhiên lý tưởng, tối ưu hóa được khía cạnh khám phá mà vẫn tránh được sự khó chịu, có lẽ giảm mức ngẫu nhiên xuống 3% hay tăng lên 8%.
Một phản đối khả dĩ nữa là thuật toán có thể thiết lập mục tiêu cảm xúc của nó như thế nào. Nếu bạn vừa cãi nhau với bạn trai, thuật toán nên hướng đến việc làm bạn vui hay buồn đây? Liệu nó có mù quáng khư khư với một bộ cảm xúc “tốt” hay “xấu” cứng nhắc không? Có lẽ có những lúc trong đời mà cảm thấy buồn cũng tốt. Dĩ nhiên, vẫn câu hỏi đó có thể dành cho các nhạc công và các DJ con người. Thế nhưng với một thuật toán, có rất nhiều giải pháp thú vị cho vấn đề này.
Một phương án là cứ kệ theo khách hàng. Bạn có thể đánh giá cảm xúc của mình theo cách nào tùy thích và thuật toán sẽ đi theo mệnh lệnh của bạn. Bất kể bạn muốn gặm nhấm sự thương thân trách phận hay nhảy nhót vì vui mừng, thuật toán sẽ răm rắp theo chỉ dẫn đó. Sự thật là thuật toán có thể học được cách nhận ra các nhu cầu của bạn dù chính bạn cũng không ý thức một cách rõ ràng về chúng.
Hoặc giả bạn không tin tưởng bản thân, bạn có thể bảo thuật toán đi theo gợi ý của bất cứ nhà tâm lý học nổi tiếng nào bạn tin tưởng. Nếu cuối cùng bạn trai bạn vẫn đá bạn, thuật toán có thể đưa bạn qua năm giai đoạn đau buồn chính thức, đầu tiên là giúp bạn phủ nhận chuyện đã xảy ra bằng cách chơi bài “Don’t Worry, Be Happy” (tạm dịch: Đừng lo lắng, hãy vui lên) của Bobby McFerrin, rồi thổi bùng con giận dữ của bạn bằng bài “You Oughta Know” (tạm dịch: Hẳn là anh biết chứ) của Alanis Morissette, động viên bạn níu kéo bằng bài “Ne Me Quitte Pas” (tạm dịch: Đừng rời xa em) của Jacques Brel và bài “Come Back and Stay” (tạm dịch: Hãy quay về và ở lại) của Paul Young, đẩy bạn xuống hố sâu trầm cảm bằng “Someone Like You” (tạm dịch: Ai đó giống anh) và “Hello” (tạm dịch: Xin chào) của Adele, và cuối cùng giúp bạn chấp nhận tình thế bằng “I Will Survive” (tạm dịch: Tôi sẽ sống sót) của Gloria Gaynor.
Bước tiếp theo có thể là cho thuật toán bắt đầu tự vá víu, sửa các bài hát và giai điệu, thay đổi chúng một chút thôi cho vừa với thị hiếu của bạn. Có lẽ bạn ghét một đoạn nào đó trong một bài hát nói chung là rất hay. Thuật toán biết điều đó vì tim bạn lỡ một nhịp và nồng độ oxytocin tụt một chút mỗi khi bạn nghe cái đoạn khó chịu đó. Thuật toán có thể viết lại hay bỏ hẳn đi những nốt chướng tai đó.
Về lâu dài, các thuật toán có thể học cách sáng tác toàn bộ giai điệu, chơi với các cảm xúc của con người như thể đó là những phím đàn. Sử dụng các dữ liệu sinh trắc của bạn, các thuật toán thậm chí có thể sản xuất những giai điệu được cá nhân hóa mà chỉ mình bạn trong cả vũ trụ này mới yêu thích.
Người ta thường nói con người kết nối với nghệ thuật vì họ tìm thấy mình trong đó. Điều này có thể dẫn đến những kết quả bất ngờ, có phần ghê rợn, nếu có khi nào Facebook bắt đầu sáng tác nghệ thuật được cá nhân hóa dựa trên tất cả những gì nó biết về bạn. Nếu bạn trai đá bạn, Facebook sẽ cho bạn nghe một bài hát viết riêng về thằng cha mắc dịch đó chứ không phải về gã cha căng chú kiết đã làm tan vỡ trái tim Adele hay Alanis Morissette. Bài hát thậm chí còn nhắc bạn nhớ lại những sự kiện có thực trong mối quan hệ của bạn mà chẳng ai khác trên thế giới biết tới.
Dĩ nhiên, nghệ thuật được cá nhân hóa có thể không bao giờ thành mốt vì người ta sẽ tiếp tục thích các bài hát đình đám thông thường mà ai cũng thích hơn. Làm sao bạn nhảy hay hát chung theo một bài mà không ai khác ngoài bạn biết? Nhưng các thuật toán thậm chí có thể chứng minh rằng nó lão luyện với việc sản xuất các bản hit toàn cầu hơn là các bài hát hiếm hoi được cá nhân hóa kia. Bằng cách sử dụng các cơ sở dữ liệu sinh trắc đồ sộ thu thập từ hàng triệu người, thuật toán có thể biết nó nên bấm những nút sinh hóa nào để sản xuất ra một bản nhạc đình đám toàn cầu sẽ khiến mọi người “quẩy” theo như điên trên sàn nhảy. Nếu nghệ thuật thực sự là nhằm khơi gợi (hay điều khiển) cảm xúc con người thì sẽ hiếm, nếu có, nhạc sĩ nào có thể cạnh tranh nổi với một thuật toán như vậy, vì họ không thể sánh được với nó về việc hiểu thứ nhạc cụ chủ chốt mà họ đang chơi: hệ thống sinh hóa của con người.
Liệu tất cả những điều này có đem đến nghệ thuật xuất sắc? Điều đó dựa vào định nghĩa của nghệ thuật. Nếu cái hay thực sự nằm ở tai người nghe, và nếu khách hàng luôn đúng, thì các thuật toán sinh trắc có cơ hội sản sinh ra loại nghệ thuật hay nhất trong lịch sử. Nếu nghệ thuật là một cái gì đó sâu sắc hơn cảm xức con người và nên thể hiện một chân lý nào đó vượt ra ngoài những rung động hóa học của chúng ta, thì các thuật toán sinh trắc có lẽ sẽ không thể trở thành những nghệ sĩ giỏi. Nhưng hầu hết con người cũng vậy thôi. Để bước vào thị trường nghệ thuật và chiếm chỗ nhiều nhạc sĩ/ nghệ sĩ người khác, các thuật toán đâu phải bắt đầu bằng cách vượt qua Tchaikovsky. Chỉ cần hay hơn Britney Spears là đủ rồi.
VIỆC LÀM MỚI?
Việc mất đi nhiều công việc truyền thống trong mọi lĩnh vực, từ nghệ thuật đến y tế, sẽ phần nào được bổ khuyết bằng việc tạo ra các việc làm mới cho con người. Các bác sĩ người sơ cấp với công việc chẩn đoán các bệnh đã biết và tiến hành các phương pháp điều trị quen thuộc có lẽ sẽ bị các bác sĩ AI thay thế. Nhưng chính Vì thế, các bác sĩ và trợ lý phòng thí nghiệm sẽ được trả nhiều tiền hơn để thực hiện các nghiên cứu đột phá và phát triển các loại thuốc hay các thủ thuật phẫu thuật mới.
AI có thể giúp tạo ra các công việc mới theo một cách khác nữa. Thay vì cạnh tranh với AI, con người có thể tập trung vào phục vụ và nâng cấp AI. Chẳng hạn, máy bay không người lái đã loại bỏ một số công việc (như phi công) nhưng tạo ra nhiều cơ hội mới trong bảo trì, điều khiển từ xa, phân tích dữ liệu và an ninh mạng. Không lực Hoa Kỳ cần 30 người để vận hành mỗi máy bay không người lái Predator hay Reaper bay qua Syria, trong khi việc phân tích lượng thông tin thu thập được cần thêm ít nhất 80 người nữa. Vào năm 2015, Không lực Hoa Kỳ thiếu người được tập huấn đủ năng lực để đảm nhiệm các vị trí này, do đó đối mặt với một cuộc khủng hoảng rất trớ trêu trong việc đảm bảo nhân sự cho các máy bay không người lái.
Nếu vậy, thị trường lao động năm 2050 có thể sẽ được định hình bởi việc hợp tác giữa người-AI hơn là cạnh tranh. Trong các lĩnh vực từ cảnh sát đến ngân hàng, các nhóm người-AI có thể vượt qua cả người và máy tính. Sau khi chương trình cờ vua Deep Blue của IBM đánh bại Garry Kasparov vào năm 1997, con người đâu có ngừng chơi cờ. Thay vào đó, nhờ các huấn luyện viên AI, các kiện tướng cờ vua trở nên giỏi hơn bao giờ hết và ít nhất là có một thời gian, các nhóm người-AI được gọi là “nhân mã” đã thắng cả người và máy tính trong bộ môn này. Tương tự, AI có thể giúp rèn giũa nên những thám tử, nhân viên ngân hàng và binh sĩ tốt nhất trong lịch sử.
Tuy nhiên, tất cả những công việc mới đó có lẽ sẽ yêu cầu trình độ chuyên môn rất cao, do đó sẽ nảy sinh vấn đề lao động không có chuyên môn bị thất nghiệp. Tạo ra các việc làm mới có thể sẽ dễ dàng hơn việc tái đào tạo những người có thể thật sự đảm nhận những công việc ấy. Trong các làn sóng tự động hóa trước đó, con người thường có thể chuyển từ một công việc kỹ năng thấp, lặp đi lặp lại này sang một việc tương tự khác. Vào năm 1920, một người lao động tại trang trại bị sa thải vì cơ khí hóa nông nghiệp có thể tìm một việc mới trong nhà máy sản xuất đầu máy kéo. Vào năm 1980, một công nhân nhà máy thất nghiệp có thể bắt đầu công việc thu ngân trong siêu thị. Những thay đổi nghề nghiệp như vậy là khả dĩ bởi sự chuyển từ nông trại sang nhà máy rồi từ nhà máy sang siêu thị chỉ đòi hỏi việc đào tạo lại rất hạn chế.
Nhưng đến năm 2050, một nhân viên thu ngân hay công nhân nhà máy dệt mất việc vì một con robot sẽ không thể bắt đầu làm việc với tư cách một nhà nghiên cứu ung thư, một người điều khiển máy bay không người lái hay là một thành viên của nhóm người-AI ngành ngân hàng. Cô ta sẽ không có các kỹ năng cần thiết. Trong Thế chiến thứ nhất, việc điều hàng triệu tân binh chưa qua huấn luyện đi nạp đạn súng máy rồi hy sinh hàng ngàn người có thể là có lý. Kỹ năng cá nhân của họ không mấy quan trọng. Ngày nay, dù thiếu người vận hành máy bay không người lái và chuyên viên phân tích dữ liệu, Không lực Hoa Kỳ vẫn không muốn lấp chỗ trống bằng các nhân viên Walmart mất việc. Bạn sẽ không muốn một tay lính mới thiếu kinh nghiệm nhầm một lễ cưới của người Afghanistan với một hội nghị cấp cao của Taliban đâu.
Do vậy, mặc dù xuất hiện nhiều việc làm mới, chúng ta vẫn sẽ chứng kiến sự xuất hiện của một tầng lớp vô dụng đông đảo mới. Chúng ta có thể thật sự gánh chịu hậu quả tồi tệ nhất của cả hai vấn đề, tỷ lệ thất nghiệp cao và thiếu lao động có tay nghề. Nhiều người sẽ chịu chung số phận không phải với những người đánh xe ngựa thế kỷ 19 đã chuyển sang lái taxi, mà của những con ngựa thế kỷ 19: ngày càng bị đẩy khỏi thị trường lao động.
Thêm nữa, không một công việc còn lại nào cho con người còn có thể giữ được trước mối đe dọa của tự động hóa trong tương lai, bởi học máy và công nghệ robot sẽ tiếp tục phát triển. Một nhân viên Walmart 40 tuổi thất nghiệp, nhờ nỗ lực siêu phàm, đã trở thành một “phi công” điều khiển máy bay không người lái; nhưng có lẽ anh ta sẽ phải tự đổi mới một lần nữa vào mười năm sau đó, vì đến lúc ấy, việc điều khiển máy bay không người lái có thể cũng đã được tự động hóa nốt. Sự bất ổn khôn lường này cũng sẽ khiến việc tổ chức các công đoàn hay đảm bảo quyền lợi của người lao động trở nên khó khăn hơn. Ngay lúc này, nhiều công việc mới trong các nền kinh tế phát triển chỉ là các công việc tạm thời không được bảo đảm, lao động tự do và việc làm một lần. Làm thế nào tổ chức công đoàn cho một ngành nghề mọc lên như nấm sau mưa rồi biến mất trong vòng một thập kỷ?
Tương tự, trong các nhóm nhân mã người-máy hẳn sẽ diễn ra một cuộc chiến giằng co liên tục giữa người và máy tính, thay vì một mối hợp tác dài lâu. Các nhóm chỉ có con người, như Sherlock Holmes và bác sĩ Watson, thường phát triển các thứ bậc và quy trình bền vững kéo dài nhiều thập kỷ. Nhưng một thám tử lập nhóm với hệ thống máy tính Watson của IBM (trở nên nổi tiếng sau khi thắng chương trình đố vui truyền hình Jeopardy! vào năm 2011) sẽ thấy mọi quy trình chỉ là lời kêu gọi chia rẽ, mọi thứ bậc chỉ khơi lên cách mạng mà thôi. Phụ tá hôm qua có thể hóa thành giám sát ngày mai, và mọi giao thức, chỉ dẫn sẽ phải viết lại sau mỗi năm.
Một cái nhìn kỹ lưỡng hơn thế giới cờ vua có thể cho thấy mọi thứ đang đi về đâu trong dài hạn. Đúng là vài năm sau khi Deep Blue đánh bại Kasparov, hợp tác người-máy đã nở rộ trong bộ môn này. Nhưng trong những năm gần đây, máy tính đã đánh cờ giỏi đến nỗi các cộng sự người của chúng đã không còn giá trị và có thể sớm trở nên hoàn toàn vô dụng.
Ngày 7 tháng Mười hai năm 2017 đánh dấu một cột mốc quan trọng, không phải một máy tính đánh bại một con người trong môn cờ vua, tin đấy cũ rồi; đó là khi chương trình AlphaZero của Google đánh bại chương trình Stockfish 8. Stockfish 8 là nhà vô địch cờ vua máy tính thế giới năm 2016. Nó tiếp cận được hàng trăm năm kinh nghiệm của con người tích lũy trong môn cờ vua, cũng như hàng thập kỷ kinh nghiệm máy tính. Nó có khả năng tính toán 70 triệu nước cờ mỗi giây. Trái lại, AlphaZero chỉ tính được 80.000 nước mỗi giây và những nhà chế tạo ra nó chưa hề dạy nó bất cứ chiến thuật cờ vua nào, thậm chí các thế khai cuộc cơ bản cũng không. Thay vào đó, AlphaZero sử dụng các nguyên tắc học máy mới nhất để tự học chơi cờ bằng cách chơi với chính nó. Tuy nhiên, trong 100 ván cờ giữa tay mơ AlphaZero và Stockfish, AlphaZero thắng 28 và hòa 72. Nó không thua một ván nào. AlphaZero không học gì từ con người nên rất nhiều nước đi và chiến thuật đánh thắng của nó dưới mắt con người có thể nói là rất xa lạ. Có thể xem chúng là sáng tạo, nếu không muốn nói thẳng ra là thiên tài.
Bạn có đoán được AlphaZero học chơi cờ từ con số không, chuẩn bị cho trận đấu với Stockfish và phát triển các “bản năng” thiên tài của nó trong bao lâu không? Bốn giờ. Không phải lỗi đánh máy đâu. Suốt nhiều thế kỷ, cờ vua được xem là một trong những vinh quang của trí tuệ con người. AlphaZero đã đi từ hoàn toàn không biết gì đến bậc thầy sáng tạo trong bốn giờ đồng hồ, không cần sự chỉ dẫn nào từ con người.
AlphaZero không phải là phần mềm sáng tạo duy nhất. Giờ đây, nhiều chương trình thường xuyên vượt mặt các kỳ thủ người không chỉ trong tính toán sơ đẳng mà trong cả “sáng tạo”. Trong các giải cờ vua chỉ có con người, các giám khảo liên tục phải trông chừng các kỳ thủ cố ăn gian bằng cách bí mật nhận trợ giúp từ máy tính. Một trong các cách để bắt được những kẻ gian lận này là giám sát mức sáng tạo mà các kỳ thủ thể hiện. Nếu họ đi một nước cờ đặc biệt sáng tạo, các giám khảo thường sẽ nghi ngờ đấy không thể là nước đi của con người, phải là nước đi của máy tính! ít nhất là trong cờ vua, sáng tạo đang được xem là thương hiệu của máy tính chứ không phải của con người! Thế nên nếu cờ vua là con chim hoàng yến trong mỏ than, thì chúng ta bị cảnh báo rằng con chim ấy đang hấp hối9. Điều đang diễn ra ngày nay với các đội cờ người-AI có thể sẽ diễn ra sau này với các đội người-AI trong lĩnh vực cảnh sát, y tế và cả ngân hàng nữa.
Do đó, tạo các việc làm mới và đào tạo lại con người để thực hiện những việc đó sẽ không phải là một nỗ lực “một lần là xong”. Cuộc cách mạng AI sẽ không phải là một sự kiện bước ngoặt duy nhất để sau đó thị trường lao động sẽ ổn định trong một trạng thái cân bằng mới. Thay vào đó, nó sẽ là một dòng thác của các đứt gãy, cái sau còn lớn hơn cái trước. Ngay ngày nay đã có rất ít người xác định làm một việc cả đời. Đến năm 2050, không chỉ ý tưởng về một việc làm trọn đời mà ý tưởng về một ngành nghề trọn đời cũng có vẻ cổ lỗ.
Ngay cả khi có thể liên tục tạo ra các việc làm mới và đào tạo lại lực lượng lao động, chúng ta hẳn vẫn băn khoăn liệu một người trung bình có đủ bền bỉ về mặt cảm xúc cho một cuộc đời đầy những xáo trộn liên tục như thế không. Thay đổi lúc nào cũng gây căng thẳng và thế giới đầy biến động đầu thế kỷ 21 đã tạo ra một đại dịch căng thẳng toàn cầu. Khi tính bấp bênh của thị trường lao động và của sự nghiệp cá nhân gia tăng, liệu con người có đương đầu nổi? Chúng ta có lẽ sẽ cần các kỹ thuật giảm căng thẳng hiệu quả hơn nữa, từ thuốc thang đến liệu pháp phản hồi thần kinh đến thiền, để ngăn đầu óc con người không bị suy sụp. Đến năm 2050, một tầng lớp vô dụng có thể sẽ xuất hiện không chỉ vì hoàn toàn thiếu việc làm hay thiếu sự giáo dục hiệu quả mà còn vì không đủ sức bền thần kinh.
Đương nhiên, phần lớn những điều này chỉ là suy đoán. Đến thời điểm tôi viết cuốn sách này, tức đầu năm 2018, tự động hóa đã phá vỡ nhiều ngành công nghiệp nhưng chưa dẫn đến thất nghiệp hàng loạt. Trên thực tế, tại nhiều nước, ví dụ như Hoa Kỳ, thất nghiệp đang ở mức thấp lịch sử. Chẳng ai biết chắc chắn học máy và tự động hóa sẽ ảnh hưởng thế nào đến các ngành nghề khác nhau trong tương lai, và cực kỳ khó đoán lộ trình của các tiến bộ có liên quan, đặc biệt khi chúng phụ thuộc vào các quyết định chính trị và truyền thống văn hóa cũng nhiều như các đột phá thuần túy kỹ thuật. Do đó, ngay cả khi các phương tiện tự hành chứng tỏ chúng an toàn và rẻ tiền hơn tài xế-người thì các chính trị gia và người tiêu dùng vẫn có thể ngăn chặn sự thay đổi trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ.
Tuy nhiên, chúng ta không thể cho phép mình trở nên tự mãn. Cứ thế tin rằng sẽ xuất hiện đủ công ăn việc làm mới để bổ khuyết cho bất kỳ việc nào bị mất đi là hết sức nguy hiểm. Việc nó từng xảy ra trong các làn sóng tự động hóa trước kia không hề đảm bảo nó sẽ xảy ra một lần nữa dưới các điều kiện rất khác của thế kỷ 21. Biến động xã hội và chính trị tiềm ẩn đáng báo động đến mức ngay cả khi khả năng thất nghiệp hàng loạt mang tính hệ thống là thấp, chúng ta vẫn phải xem xét nó cực kỳ nghiêm túc.
Trong thế kỷ 19, Cách mạng Công nghiệp đã tạo ra các điều kiện và vấn đề mới mà không một mô hình xã hội, kinh tế và chính trị nào có sẵn có thể đương đầu nổi. Chế độ phong kiến, quân chủ và các tôn giáo truyền thống không thích ứng được để quản lý các đại đô thị công nghiệp, hàng triệu công nhân tha hương hay bản chất liên tục thay đổi của nền kinh tế hiện đại. Từ đó, loài người phải phát triển các mô hình hoàn toàn mới: các nền dân chủ tự do, các nền độc tài và các thể chế phát xít, … và chúng ta đã mất hơn một thế kỷ chiến tranh và cách mạng kinh hoàng để thử nghiệm các mô hình này, gạn đục khơi trong và thực thi các giải pháp tốt nhất. Lao động trẻ em trong các hầm mỏ thời Dickens, Thế chiến thứ nhất và nạn đói khủng khiếp năm 1932-1933 tại Ukraine chỉ là một phần học phí nho nhỏ mà loài người đã phải trả.
Thử thách chờ chực con người trong thế kỷ 21 đến từ công nghệ thông tin và công nghệ sinh học phải nói là lớn hơn nhiều thử thách do đầu máy hơi nước, đường ray hỏa xa và điện đặt ra trong thời đại trước. Và với sức hủy diệt khủng khiếp của nền văn minh hiện nay, chúng ta đơn giản là không thể trả giá cho bất kỳ mô hình thất bại, các cuộc thế chiến và các cuộc cách mạng đẫm máu nào nữa. Lần này, các mô hình thất bại có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân, các thảm họa biến đổi gien và sự sụp đổ hoàn toàn của sinh quyển. Chúng ta phải làm tốt hơn những gì con người đã làm khi đối mặt với cuộc Cách mạng Công nghiệp.
TỪ BÓC LỘT ĐẾN VÔ DỤNG
Các giải pháp tiềm năng rơi vào ba nhóm chính: làm gì để ngăn tình trạng mất việc làm; làm gì để tạo ra đủ việc làm mới; và làm gì nếu, dù đã cố hết sức, việc làm bị mất đi vẫn vượt quá số việc làm được tạo ra.
Ngăn chặn hoàn toàn chuyện mất việc làm là một chiến thuật kém hấp dẫn và có lẽ không khả thi, bởi như vậy có nghĩa là từ bỏ các tiềm năng khả quan vô bờ bến của AI và robot. Tuy nhiên, các chính phủ có thể quyết định thận trọng làm chậm lại tốc độ tự động hóa để làm giảm các cơn sốc mà nó gây và có thêm thời gian điều chỉnh. Công nghệ không bao giờ là tất định và việc có thể làm một cái gì đó không có nghĩa là phải làm cái đó. Quy định của chính phủ có thể ngăn chặn thành công các công nghệ mới, ngay cả khi chúng khả thi về mặt thương mại và có lợi về mặt kinh tế. Chẳng hạn, trong nhiều thập kỷ, chúng ta đã có đủ công nghệ để tạo một thị trường nội tạng người hoàn chỉnh với các “nguồn cung cấp” ở các nước kém phát triển và nhu cầu gần như không bao giờ cạn từ những người mua giàu có, tuyệt vọng. Các “kho người” như thế có thể có giá trị vài trăm tỷ đô la. Thế nhưng các quy định đều cấm mua bán tự do các bộ phận cơ thể người và dù có thị trường nội tạng chợ đen, nó vẫn nhỏ hẹp hơn rất nhiều những gì người ta có thể tưởng tượng.
Làm chậm tốc độ thay đổi có thể cho ta thời gian tạo ra đủ việc làm mới thay thế gần hết các việc làm đã mất. Thế nhưng, như đã nói ở trên, tinh thần khởi nghiệp sẽ phải đi kèm với một cuộc cách mạng trong giáo dục và tâm lý. Cứ cho rằng những công việc mới sẽ không chỉ là những việc “nhàn rỗi” của chính phủ thì có lẽ chúng sẽ đòi hỏi những trình độ chuyên môn cao, và khi AI tiếp tục cải tiến, lao động-người sẽ cần liên tục học các kỹ năng mới và thay đổi nghề nghiệp. Các chính phủ sẽ phải ra tay bằng cách bao cấp cho lĩnh vực giáo dục suốt đời lẫn cung cấp một tấm lưới an toàn cho các giai đoạn chuyển tiếp không thể tránh khỏi. Nếu một cựu nhân viên điều khiển máy bay không người lái đã 40 tuổi cần 3 năm để đổi mới bản thân, trở thành một nhà thiết kế các thế giới ảo thì có lẽ cô ấy sẽ cần rất nhiều trợ giúp từ chính phủ để trang trải cho bản thân cũng như gia đình trong thời gian đó (Hệ thống kiểu này hiện đang được tiên phong thực hiện tại Scandinavia, nơi các chính phủ đi theo phương châm “Bảo vệ người lao động chứ không phải việc làm”).
Ngay cả khi có đủ sự trợ giúp từ chính phủ, ta vẫn không rõ liệu hàng tỷ người có khả năng hên tục đổi mới bản thân mà không mất cân bằng hay không. Vì lý do này, nếu sau tất cả những nỗ lực của chúng ta, một tỷ lệ đáng kể dân số thế giới bị đẩy khỏi thị trường lao động, chúng ta sẽ phải khám phá các mô hình mới cho những xã hội, các nền kinh tế và chính trị hậu-việc làm. Bước đầu tiên là thành thật thừa nhận rằng các mô hình xã hội, kinh tế và chính trị mà ta đã thừa hưởng từ quá khứ không đủ sức giải quyết một thử thách như vậy.
Lấy ví dụ, chủ nghĩa cộng sản. Khi tự động hóa đe dọa làm rung chuyển hệ thống tư bản đến nền tảng của nó, người ta có thể cho rằng chủ nghĩa cộng sản có thể trở lại. Nhưng chủ nghĩa cộng sản không được xây dựng để khai thác loại khủng hoảng đó. Chủ nghĩa cộng sản thế kỷ XX cho rằng giai cấp công nhân là quan trọng đối với nền kinh tế, và các nhà tư tưởng cộng sản đã cố gắng dạy cho giai cấp vô sản làm thế nào để biến sức mạnh kinh tế to lớn của nó thành đầu mối chính trị. Kế hoạch chính trị cộng sản kêu gọi một cuộc cách mạng của giai cấp công nhân. Những giáo lý này sẽ có liên quan như thế nào nếu quần chúng mất giá trị kinh tế, và do đó cần phải đấu tranh chống lại sự không liên quan hơn là chống lại sự bóc lột? Làm thế nào để bạn bắt đầu một cuộc cách mạng của giai cấp công nhân mà không có một giai cấp công nhân?
Một số có thể tranh luận rằng con người không bao giờ có thể trở nên vô dụng về mặt kinh tế vì ngay cả khi không thể cạnh tranh được với AI tại nơi làm việc, họ vẫn luôn được cần đến với tư cách người tiêu dùng. Tuy nhiên, không có gì chắc chắn là nền kinh tế tương lai sẽ cần chúng ta với tư cách là người tiêu dùng. Máy móc và máy tính cũng có thể làm được điều đó. Về lý thuyết, ta có thể có một nền kinh tế trong đó một công ty khai khoáng sản xuất và bán sắt cho một công ty robot, công ty robot sản xuất và bán robot cho công ty khai khoáng, công ty này đào được nhiều sắt hơn, sắt lại được dùng để sản xuất thêm nhiều robot, và cứ thế. Các công ty này có thể phát triển và mở rộng đến tận cuối dải Ngân hà và chúng chỉ cần robot và máy tính mà thôi; chúng thậm chí không cần con người để mua các sản phẩm của chúng.
Trên thực tế, ngày nay, các máy tính và thuật toán đã bắt đầu hoạt động với tư cách khách hàng bên cạnh việc làm nhà sản xuất. Trên thị trường chứng khoán chẳng hạn, các thuật toán đang trở thành những người mua trái phiếu, cổ phần và hàng hóa quan trọng nhất. Tương tự, trong ngành công nghiệp quảng cáo, khách hàng quan trọng hơn cả là một thuật toán: thuật toán tìm kiếm Google. Khi thiết kế các trang web, người ta thường đi theo thị hiếu của thuật toán tìm kiếm Google hơn là “gu” của bất kỳ con người nào.
Thuật toán đương nhiên không có ý thức, thế nên không như khách hàng-con người, chúng không thể tận hưởng những gì chúng mua và các quyết định của chúng không do các rung động và xúc cảm nhào nặn mà thành. Thuật toán tìm kiếm Google không thể nếm kem. Tuy nhiên, các thuật toán lựa chọn mọi thứ dựa trên các tính toán bên trong và các ưu tiên gắn liền với chúng; các ưu tiên đó đang ngày càng định hình thế giới của chúng ta. Thuật toán tìm kiếm Google có một thị hiếu rất phức tạp khi xếp hạng trang web của những đơn vị bán kem, và những đơn vị bán kem thành công nhất thế giới là những đối tượng được thuật toán Google xếp hạng nhất, không phải là những đơn vị sản xuất ra loại kem ngon nhất.
Tôi biết được chuyện này nhờ kinh nghiệm cá nhân. Khi tôi xuất bản một cuốn sách, các nhà xuất bản yêu cầu tôi viết một mô tả ngắn để họ dùng quảng bá trực tuyến. Nhưng họ có một chuyên gia đặc biệt sẽ điều chỉnh những gì tôi viết theo thị hiếu của thuật toán Google. Chuyên gia đó đọc qua phần viết của tôi và nói: “Đừng dùng từ này, dùng từ kia kìa. Thế thì chúng ta mới thu hút thêm sự chú ý từ thuật toán Google”. Chúng tôi biết chỉ cần mình lọt vào mắt xanh của thuật toán thì coi như mình đã nắm chắc người dùng trong tay.
Vậy nếu con người không còn cần thiết, dù với tư cách người sản xuất hay người tiêu dùng, thì điều gì sẽ bảo vệ sự tồn tại về thể xác cũng như sự lành mạnh về tinh thần của họ? Chúng ta không thể ngồi chờ cuộc khủng hoảng bùng nổ hết mức trước khi bắt đầu tìm kiếm câu trả lời. Đến lúc đó sẽ là quá muộn. Để đương đầu với những đứt gãy công nghệ và kinh tế chưa hề có tiền lệ của thế kỷ 21, chúng ta cần phát triển các mô hình xã hội và kinh tế mới càng sớm càng tốt. Các mô hình này nên được dẫn dắt bởi nguyên tắc bảo vệ con người chứ không bảo vệ việc làm. Nhiều công việc đơn điệu nhàm chán và cũng không đáng để bảo vệ. Chẳng ai có mơ ước cả đời là đi làm thu ngân cả. Thay vào đó, chúng ta nên tập trung vào việc chuẩn bị cho các nhu cầu cơ bản của con người và bảo vệ địa vị xã hội cũng như giá trị bản thân của họ.
Một mô hình mới đang ngày càng được chú ý là thu nhập cơ bản phổ quát (UBI, viết tắt của Universal Basic Income). UBI đề xuất các chính phủ đánh thuế các tỷ phú và các tập đoàn kiểm soát các thuật toán và robot, rồi sử dụng số tiền đó để cho mỗi người một khoản lương hào phóng để chi trả cho những nhu cầu cơ bản của họ. Điều này sẽ giảm bớt tác động của việc thất nghiệp và mất địa vị kinh tế của người nghèo, trong khi bảo vệ người giàu trước con tức giận của những người theo chủ nghĩa dân túy. Một ý tưởng có liên quan đề xuất việc mở rộng phạm vi những hoạt động của con người được xem là “công việc”. Hiện tại, hàng tỷ ông bố, bà mẹ đang chăm sóc con cái, hàng xóm láng giềng trông nom nhau và các công dân tổ chức ra các cộng đồng, không hoạt động giá trị nào trong số này được xem là công việc cả. Có lẽ chúng ta cần thay đổi tư tưởng và nhận ra rằng chăm sóc một đứa trẻ có thể xem là công việc quan trọng và thử thách nhất trên thế giới. Nếu thế, sẽ không bao giờ thiếu việc làm ngay cả khi máy tính và robot thay thế hết tài xế, nhân viên ngân hàng và luật sư. Câu hỏi dĩ nhiên là ai sẽ định giá và trả tiền cho những công việc mới được thừa nhận này? Mặc nhiên, những em bé sáu tháng tuổi sẽ không trả lương cho mẹ chúng, chính phủ có lẽ sẽ phải tự chi trả khoản này. Giả sử chúng ta muốn các khoản lương đó sẽ trang trải được toàn bộ nhu cầu cơ bản của một gia đình, vậy thì cuối cùng chúng sẽ không khác thu nhập cơ bản phổ quát là bao.
Một cách khác là các chính phủ có thể trợ cấp các dịch vụ cơ bản phổ quát thay vì thu nhập. Thay vì cho mọi người tiền, để rồi họ dùng tiền đó mua sắm bất cứ thứ gì họ thích, chính phủ có thể miễn phí giáo dục, y tế, giao thông, . . . Đây thực chất là tầm nhìn lý tưởng của chủ nghĩa xã hội. Mặc dù giờ không cần tiến hành một cuộc cách mạng của tầng lóp lao động của chủ nghĩa xã hội nữa, chúng ta có lẽ vẫn nên hướng tới việc hiện thực hóa mục tiêu “cộng sản” bằng các phương cách khác.
Cho người dân thu nhập cơ bản phổ quát (theo tư bản chủ nghĩa) hay dịch vụ cơ bản phổ quát (theo xã hội chủ nghĩa) là tốt hơn thì còn phải bàn. Cả hai phương án có những mặt ưu điểm và mặt hạn chế riêng. Nhưng dù bạn chọn trào lưu nào, vấn đề chính nằm ở định nghĩa “phổ quát” và “cơ bản” thực sự nghĩa là gì.
PHỔ QUÁT LÀ GÌ?
Khi nói về hỗ trợ cơ bản phổ quát, dù là dưới hình thức thu nhập hay dịch vụ, người ta thường có ý nói hỗ trợ cơ bản quốc gia. Đến bây giờ, mọi đề xuất UBI đều hạn chế trong phạm vi quốc gia hoặc khu vực. Vào tháng Một năm 2017, Phần Lan bắt đầu thử nghiệm kéo dài hai năm, trợ cấp cho 2.000 người Phần Lan thất nghiệp 560 euro một tháng, bất kể họ đã tìm được việc làm hay chưa. Các thử nghiệm tương tự đang diễn ra ở Ontario của Canada, ở thành phố Livorno của Ý và một vài thành phố ở Hà Lan. (Vào năm 2016, Thụy Sĩ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về việc thiết lập một chương trình thu nhập cơ bản quốc gia, nhưng cử tri đã bác bỏ ý tưởng trên.)
Tuy nhiên, vấn đề với những chương trình mang tầm quốc gia và thành phố như vậy là các nạn nhân chính của tự động hóa có thể không sống ở Phần Lan, Ontario, Livorno hay Amsterdam. Toàn cầu hóa đã khiến người ở một nước này hoàn toàn lệ thuộc vào các thị trường ở nước khác, nhưng tự động hóa có thể tháo rời những mảng lấn của mạng lưới thương mại toàn cầu này và kéo theo những hậu quả thảm khốc cho những mắt xích yếu nhất. Trong thế kỷ 20, các nước đang phát triển thiếu tài nguyên thiên nhiên đạt tiến bộ kinh tế chủ yếu bằng cách bán sức lao động rẻ mạt của những người lao động không có tay nghề. Ngày nay, hàng triệu người Bangladesh đang kiếm sống bằng cách sản xuất áo sơ-mi và bán chúng cho các khách hàng ở Mỹ, trong khi người ở Bangalore kiếm sống bằng cách xử lý các phàn nàn của khách hàng Mỹ ở các tổng đài chăm sóc khách hàng.
Thế nhưng với sự phát triển của AI, robot và máy in 3D, lao động không có tay nghề giá rẻ sẽ trở nên ngày càng ít quan trọng. Thay vì sản xuất một cái áo sơ-mi ở Dhaka và vận chuyển nó từ đó đến tận Mỹ, bạn có thể mua mã của chiếc áo trên mạng từ Amazon rồi in nó ở New York. Các cửa hàng Zara và Prada ở Đại lộ Năm có thể được thay thế bởi các trung tâm in 3D Ở Brooklyn; một số người thậm chí có thể có máy in tại nhà. Cùng lúc đó, thay vì gọi điện đến tổng đài chăm sóc khách hàng ở Bangalore để phàn nàn về máy in của mình, bạn có thể nói chuyện với một đại diện AI trong đám mây Google (âm sắc và ngữ điệu của nó sẽ được điều chỉnh theo sở thích của bạn). Các công nhân và nhân viên trực tổng đài vừa thất nghiệp ở Dhaka và Bangalore không có nền tảng giáo dục cần thiết để chuyển sang thiết kế áo sơ-mi thời trang hay viết mã máy tính, thế họ sẽ sống sót ra sao?
Nếu AI và máy in 3D thực sự thay thế những người ở Bangladesh và Bangalore, phần doanh thu trước vốn chảy về Nam Á giờ sẽ đổ đầy két của một vài nhà tài phiệt công nghệ ở California. Thay vì phát triển kinh tế cải thiện điều kiện sống trên khắp thế giới, chúng ta có thể thấy lượng của cải mới khổng lồ được tạo ra trong các trung tâm công nghệ cao như Thung lũng Silicon, trong khi nhiều nước đang phát triển sẽ sụp đổ.
Dĩ nhiên, một số nền kinh tế đang nổi, bao gồm cả Ấn Độ và Bangladesh, có thể sẽ tiến bộ đủ nhanh để tham gia vào nhóm thắng cuộc. Con hoặc cháu của các công nhân nhà máy dệt và nhân viên trực tổng đài rất có thể sẽ trở thành các kỹ sư và doanh nhân sẽ tạo ra và sở hữu các máy tính và máy in 3D. Nhưng thời gian để tạo ra một biến chuyển như vậy đang cạn dần. Trong quá khứ, lao động thiếu tay nghề giá rẻ đóng vai trò như một cây cầu an toàn bắc qua hố sâu chia cắt kinh tế toàn cầu; ngay cả khi một nước nào đó tiến bộ chậm đi chăng nữa, nó vẫn có thể hy vọng rằng cuối cùng mình sẽ đến được nơi an toàn. Đi những bước đúng thì quan trọng hơn là tiến bộ nhanh. Nhưng giờ đây, cây cầu đang rung chuyển và chẳng mấy chốc có thể sẽ sập. Những người vốn đã vượt qua bên kia, tiến từ lao động giá rẻ lên lao động trong các ngành đòi hỏi tay nghề cao, có lẽ sẽ ổn. Nhưng những người đang tụt lại phía sau có thể thấy mình bị mắc kẹt ở bên này hố sâu ngăn cách mà không có phương tiện nào để đi qua bên kia. Bạn phải làm gì khi không ai cần các lao động giá rẻ không có tay nghề của bạn và bạn cũng không có nguồn lực để xây dựng một hệ thống giáo dục tốt và dạy họ các kỹ năng mới?
Thế thì số phận của những người tụt hậu sẽ ra sao? Các cử tri Mỹ hoàn toàn có thể đồng ý với việc dùng tiền thuế mà Amazon và Google phải nộp cho việc kinh doanh ở Mỹ chi trả lương hay dịch vụ miễn phí cho các thợ mỏ thất nghiệp ở Pennsylvania và các tài xế taxi mất việc ở New York. Nhưng liệu các cử tri Mỹ cũng đồng ý là số thuế này nên được gửi đi để hỗ trợ những người thất nghiệp ở những nơi mà Tổng thống Trump đã định nghĩa là “các nước bẩn thỉu”? Nếu bạn tin điều đó, hẳn bạn cũng tin ông già Noel và thỏ Phục sinh sẽ giải quyết được vấn đề.
CƠ BẢN LÀ GÌ?
Hỗ trợ cơ bản phổ quát là để chăm sóc các nhu cầu cơ bản của con người, nhưng lại không có định nghĩa nào về nó được chấp nhận rộng rãi. Từ góc độ sinh học thuần túy, một người cần chỉ 1.500 đến 2.500 calo mỗi ngày để tồn tại. Bất cứ thứ gì nhiều hơn thế là xa xỉ. Thế nhưng mọi nền văn hóa trong lịch sử đều đã từng định nghĩa các nhu cầu trên mức nghèo đói sinh học này là “cơ bản”. Ở châu Âu trung cổ, việc tiếp cận với các dịch vụ của nhà thờ được xem trọng hơn cả thức ăn vì tôn giáo chăm sóc linh hồn vĩnh hằng của bạn hơn là thể xác phù du. Ở châu Âu ngày nay, giáo dục và dịch vụ y tế tử tế được coi là nhu cầu cơ bản của con người; một số còn cho rằng cả việc tiếp cận Internet giờ cũng là thiết yếu cho nam phụ lão ấu. Nếu vào năm 2050, Chính phủ Thế giới hợp nhất đồng ý đánh thuế Google, Amazon, Baidu và Tencent để cung cấp hỗ trợ cơ bản cho mọi con người trên Trái đất, Ở Dhaka cũng như ở Detroit, người ta sẽ định nghĩa “cơ bản” như thế nào?
Chẳng hạn, giáo dục cơ bản bao gồm những gì: chỉ đọc và viết thôi, hay cả viết code máy tính và chơi đàn violin? Chỉ sáu năm tiểu học thôi hay đến tận tiến sĩ? Và y tế thì sao? Nếu đến năm 2050, các tiến bộ y tế có thể làm chậm quá trình lão hóa và tăng tuổi thọ con người lên đáng kể thì các liệu trình mới có phổ cập đến tất cả mười tỷ con người trên khắp hành tinh hay chỉ cho vài tỷ phú? Nếu công nghệ sinh học cho phép bố mẹ “nâng cấp” con cái mình, liệu điều này được xem là một nhu cầu cơ bản của con người hay ta sẽ thấy loài người chia làm các giai cấp sinh học khác nhau, với những siêu nhân giàu có tận hưởng các khả năng vượt xa các Homo sapiens nghèo khó?
Dù bạn chọn định nghĩa “các nhu cầu cơ bản của con người” như thế nào, một khi bạn cung cấp chúng cho tất cả mọi người hoàn toàn miễn phí, chúng sẽ ngay lập tức bị coi là đương nhiên, và rồi các cuộc cạnh tranh xã hội và đấu tranh chính trị khốc liệt sẽ tập trung vào những thứ “xa xỉ”, dù đó là xe tự hành, khả năng tiếp cận các công viên thực tế-ảo hay cơ thể được điều chỉnh, tăng cường về mặt sinh học. Nhưng nếu quần chúng thất nghiệp không nắm của cải kinh tế, thật khó hình dung làm sao họ có được những điều xa xỉ nói trên. Do đó, khoảng cách giữa giàu (các nhà quản lý của Tencent và các cổ đông của Google) và nghèo (những người sống phụ thuộc vào thu nhập cơ bản phổ quát) sẽ trở nên không chỉ quá lớn mà còn thật sự không thể vượt qua được.
Vì lý do này, ngay cả nếu chương trình hỗ trợ phổ quát toàn cầu nào đó cung cấp cho người nghèo năm 2050 dịch vụ y tế và giáo dục tốt hơn nhiều so với những gì họ đang nhận được ngày nay, họ rất có thể vẫn cực kỳ tức giận về bất bình đẳng toàn cầu và sự thiếu tính dịch chuyển xã hội. Người ta sẽ cảm thấy hệ thống đã bị thao túng để chống lại họ, chính phủ chỉ phục vụ giới siêu giàu và tương lai sẽ còn tối tăm hơn với họ và con cháu họ.
Homo sapiens đơn giản là không được “tạo ra” để thỏa mãn. Hạnh phúc của con người phụ thuộc vào các điều kiện khách quan ít hơn và vào kỳ vọng của chính chúng ta nhiều hơn. Tuy nhiên, kỳ vọng thì lại có xu hướng thích ứng với các điều kiện, bao gồm những điều kiện của những người khác. Khi mọi thứ tốt lên, kỳ vọng lại phình thêm và thế là ngay cả những tiến bộ vượt bậc của các điều kiện cũng có thể khiến chúng ta bất mãn y như trước. Nếu hỗ trợ cơ bản phổ quát nhắm đến cải thiện các điều kiện khách quan của một người-trung bình vào năm 2050, nó có cơ hội thành công. Nhưng nếu nó nhắm đến làm con người ta thỏa mãn hơn với số phận của mình một cách chủ quan và ngăn bất bình đẳng xã hội, có khả năng là nó sẽ thất bại.
Để thực sự đạt được những mục đích của mình, hỗ trợ cơ bản phổ quát cần được bổ sung thêm một số nhu cầu có ý nghĩa, từ thể thao cho đến tôn giáo. Có lẽ cho đến nay, thử nghiệm thành công nhất về cách sống một cuộc sống mãn nguyện trong thế giới hậu-việc làm đã diễn ra ở Israel. Ở đó, khoảng 50% đàn ông Do Thái siêu-Chính thống không bao giờ làm việc. Họ dành trọn cuộc đời nghiên cứu các thánh kinh thiêng liêng và thực hành các nghi thức tôn giáo. Họ và gia đình họ không bị đói một phần vì những bà vợ thường làm việc và một phần vì chính phủ dành cho họ những khoản trợ cấp hào phóng và các dịch vụ miễn phí, đảm bảo họ không thiếu các nhu yếu phẩm. Đấy là hỗ trợ cơ bản phổ quát avant la lettre, tức đi trước thời đại.
Dù nghèo và thất nghiệp, trong hết cuộc khảo sát này đến cuộc khảo sát khác, những người đàn ông Do Thái siêu-Chính thống này cho thấy mức độ hài lòng với cuộc sống cao hơn bất cứ nhóm dân cư nào khác của xã hội Israel. Điều này là do sức mạnh của sự gắn kết cộng đồng cũng như ý nghĩa sâu sắc mà họ tìm thấy khi nghiên cứu thánh kinh và thực hiện các nghi thức. Một căn phòng nhỏ chật ních những người đàn ông Do Thái ngồi bàn luận kinh Talmud có thể tạo ra nhiều niềm vui, sự gắn kết và thấu suốt hơn cả một nhà máy dệt khổng lồ toàn những công nhân lao động cật lực. Trong các cuộc khảo sát toàn cầu về mức độ hài lòng với cuộc sống, Israel thường đứng đâu đó gần đầu bảng, một phần nhờ những người nghèo thất nghiệp này.
Người Israel thế tục thường phàn nàn một cách cay đắng rằng những người siêu-Chính thống không đóng góp đủ cho xã hội và sống nhờ vào lao động vất vả của người khác. Người Israel thế tục cũng thường cho rằng lối sống của người siêu-Chính thống là không bền vững, đặc biệt khi gia đình của họ có trung bình bảy người con. Sớm muộn gì chính phủ cũng sẽ không thể hỗ trợ nhiều người thất nghiệp đến vậy và những người siêu-Chính thống sẽ phải đi làm. Thế nhưng, có khi điều ngược lại mới xảy ra. Khi robot và AI đẩy con người ra khỏi thị trường lao động, những người Do Thái siêu-Chính thống có thể sẽ được xem là hình mẫu của tương lai hơn là người cổ lỗ sĩ. Không phải tất cả mọi người đều sẽ trở thành người Do Thái siêu-Chính thống và đến các chủng viện (Yeshiva) để học kinh Talmud. Nhưng trong cuộc đời của mọi người, cuộc tìm kiếm ý nghĩa và cộng đồng có thể sẽ làm lu mờ cuộc kiếm tìm công ăn việc làm.
Nếu chúng ta tìm được cách kết hợp một tấm lưới an toàn kinh tế phổ quát với các cộng đồng mạnh và các nhu cầu ý nghĩa, chuyện mất việc vì các thuật toán có thể sẽ biến thành một diễm phúc. Tuy nhiên, chuyện mất kiểm soát cuộc đời của chính mình, là một viễn cảnh đáng sợ hơn rất nhiều. Mặc cho mối hiểm họa của thất nghiệp hàng loạt, cái chúng ta nên lo lắng nhiều hơn nữa là sự dịch chuyển quyền lực từ con người sang thuật toán, điều có thể phá hủy những niềm tin còn sót lại trong câu chuyện tự do và mở đường cho sự trỗi dậy của các nền độc tài số.
Bài học 3 - Tự do
BIG DATA ĐANG THEO DÕI NGƯƠI ĐẤY
CÂU CHUYỆN tự do tôn vinh quyền tự do của con người là giá trị số một của nó. Nó lý luận rằng xét cho cùng, mọi quyền lực đều bắt nguồn từ ý chí tự do của các cá nhân, được thể hiện bằng cảm xúc, ham muốn và lựa chọn của họ. Trong chính trị, chủ nghĩa tự do tin rằng cử tri biết rõ nhất. Do đó, nó đề cao các cuộc bầu cử dân chủ. Trong kinh tế, chủ nghĩa tự do cho rằng khách hàng luôn đúng. Do đó, nó tung hô các nguyên tắc thị trường tự do. Trong các vấn đề cá nhân, chủ nghĩa tự do khuyến khích con người lắng nghe chính mình, chân thực với bản thân và đi theo trái tim, miễn là đừng làm ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác. Tự do cá nhân được tôn thờ trong quyền con người.
Trong các diễn ngôn chính trị phương Tây, thuật ngữ “tự do” ngày nay đôi khi được dùng trong một nghĩa đảng phái hẹp hơn rất nhiều, để chỉ những người ủng hộ các vấn đề nhất định như hôn nhân đồng giới, kiểm soát súng đạn và quyền phá thai. Thế nhưng hầu hết những người được gọi là bảo thủ cũng ủng hộ thế giới quan tự do theo nghĩa rộng. Ở Mỹ chẳng hạn, cả đảng viên Cộng hòa lẫn Dân chủ thỉnh thoảng cũng nên tạm hoãn những cuộc tranh luận nảy lửa để tự nhắc rằng cả hai bên đều đồng thuận về các vấn đề cơ bản, như bầu cử tự do, tư pháp độc lập và nhân quyền.
Đặc biệt, nhất thiết phải nhớ rằng những người hùng cánh hữu như Ronald Reagan và Margaret Thatcher là những người bảo vệ vĩ đại không chỉ cho tự do kinh tế mà còn cho tự do cá nhân nữa. Trong một cuộc phỏng vấn nổi tiếng năm 1987, Thatcher nói: “Chẳng có cái gì gọi là xã hội cả. Chỉ có một thảm sống gồm đàn ông và đàn bà… và chất lượng cuộc sống của chúng ta phụ thuộc vào việc mỗi người trong chúng ta sẵn sàng chịu trách nhiệm cho bản thân đến mức độ nào.”
Những người kế thừa Thatcher trong Đảng Bảo thủ hoàn toàn đồng ý với Công Đảng về việc quyền hành chính trị đến từ cảm xúc, lựa chọn và ý chí tự do của các cử tri đơn lẻ. Khi nước Anh cần quyết định xem có nên rời Liên minh châu Âu không, Thủ tướng David Cameron đã không đề nghị Nữ hoàng Elizabeth II, Tổng giám mục Canterbury hay các nhà quý tộc Oxford và Cambridge giải quyết vấn đề. Ông ta thậm chí không yêu cầu các thành viên Nghị viện. Thay vào đó, ông ta tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý, trong đó từng người dân Anh được hỏi: “Bạn cảm thấy thế nào về việc đó?”
Bạn có thể phản biện rằng người ta được hỏi “Bạn nghĩ gì?” chứ không phải “Bạn cảm thấy gì?”, nhưng đây là một hiểu lầm phổ biến. Các cuộc trưng cầu và bầu cử luôn luôn nhắm đến cảm giác của con người, không phải lý trí của họ. Nếu dân chủ là vấn đề ra quyết định theo lý trí thì chẳng có lý do gì phải cho mọi người quyền bầu cử như nhau, thậm chí là bất cứ quyền bỏ phiếu nào. Nhiều bằng chứng cho thấy một số người hiểu biết và lý trí hơn rất nhiều so với những người khác, nhất là khi đụng đến các câu hỏi về kinh tế và chính trị nhất định. Sau cuộc trưng cầu dân ý Brexit, nhà sinh vật học nổi tiếng Richard Dawkins bày tỏ quan điểm cho rằng đáng lẽ người ta không nên yêu cầu đại đa số công chúng Anh, bao gồm chính ông, bỏ phiếu vì họ thiếu nền tảng cần thiết về kinh tế học và khoa học chính trị. “Anh cũng có thể kêu gọi một cuộc trưng cầu toàn quốc để quyết định xem liệu Einstein tính đại số có đúng không, hay để hành khách bỏ phiếu cho đường băng mà phi công nên hạ cánh.”
Tuy nhiên, dù hay hay dở, các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý không nhắm đến điều chúng ta nghĩ. Chúng nhắm đến chuyện chúng ta cảm thấy gì. Và khi nói đến cảm giác, cả Einstein và Dawkins cũng chẳng khá hơn bất cứ ai. Dân chủ mặc định là cảm giác của con người phản ánh một “ý chí tự do” kỳ bí và sâu xa, cái “ý chí tự do” này là nguồn cơn tối thượng của mọi quyền lực, và mặc dù một số người thông minh hơn người khác, mọi người đều tự do như nhau. Cũng như Einstein và Dawkins, một cô hầu gái mù chữ cũng có ý chí tự do, do đó đến ngày bầu cử thì cảm giác của cô ta, đại diện bằng lá phiếu của cô, cũng có giá trị như của mọi người khác.
Cảm giác không chỉ dẫn lối các cử tri mà cả các nhà lãnh đạo. Trong cuộc trưng cầu dân ý Brexit năm 2016, chiến dịch Rời Bỏ được Boris Johnson và Michael Gove dẫn đầu. Sau khi David Cameron từ chức, ban đầu Gove ủng hộ Ịohnson lên làm thủ tướng; nhưng đúng phút cuối, Gove tuyên bố Johnson không phù hợp với vị trí đó và công khai ý định chạy đua giành ghế của mình. Hành động của Gove, xem như hủy hoại cơ hội của Johnson, được mô tả như một vụ ám sát chính trị kiểu Machiavellia. Nhưng Gove biện hộ cho hành vi của mình bằng cách viện dẫn cảm giác của bản thân, giải thích rằng: “Trong mọi bước đi của cuộc đời chính trị của mình, tôi luôn đặt cho mình một câu hỏi: “Việc đúng đắn cần phải làm là gì? Trái tim này nói với mình điều gì?” Theo Gove, đấy là lý do ông ta chiến đấu hết mình cho Brexit, cũng là lý do ông cảm thấy mình phải đâm sau lưng “đồng chí” cũ Boris Johnson của mình và đích thân chạy đua giành vị trí dẫn đầu, bởi trái tim mách bảo ông ta làm như vậy.
Sự lệ thuộc vào trái tim này có thể trở thành gót chân Achilles cua nên dân chủ tự do. Vì một khi ai đó (dù là ở Bắc Kinh hay San Francisco) đạt được tầm công nghệ để bẻ khóa và điều khiển trái tim con người thì nền chính trị dân chủ sẽ biến dạng.
LẮNG NGHE THUẬT TOÁN
Niềm tin của chủ nghĩa tự do vào cảm giác và lựa chọn tự do của cá nhân là không tự nhiên cũng như không cổ xưa cho lắm. Trong suốt nhiều ngàn năm, con người tin rằng quyền hành đến từ các luật lệ thiêng hơn là từ trái tim con người, rằng chúng ta nên làm sáng lời Chúa hơn là vinh danh tự do của con người. Chỉ trong vài thế kỷ trở lại đây, nguồn gốc của quyền hành mới chuyển từ thần thánh ở trên trời xuống với con người bằng xương bằng thịt.
Chẳng bao lâu nữa, quyền lực có thể sẽ chuyển một lần nữa, từ con người sang các thuật toán. Cũng như quyền lực thiêng được các thần thoại tôn giáo hợp thức hóa và quyền lực con người được biện minh bằng câu chuyện tự do, cuộc cách mạng công nghệ sắp tới cũng có thể thiết lập quyền lực của các thuật toán Big Data trong khi làm suy yếu chính ý tưởng về tự do cá nhân.
Như đã nói ở chương trước, những tìm tòi khoa học chuyên sâu về cách bộ não và cơ thể chúng ta hoạt động cho thấy cảm giác của chúng ta không phải là một đặc tính tinh thần độc nhất ở con người, chúng cũng không phản ánh bất cứ dạng “ý chí tự do” nào. Thay vào đó, cảm giác là các cơ chế sinh hóa mà mọi loài thú và chim sử dụng để nhanh chóng tính toán các khả năng sinh tồn và sinh sản. Cảm giác không dựa trên bản năng, cảm hứng hay tự do; chúng dựa vào tính toán.
Khi một con khỉ, chuột hay người nhìn thấy một con rắn, nỗi sợ trỗi dậy bởi hàng triệu nơron trong não chớp nhoáng tính toán các dữ liệu có liên quan và kết luận rằng xác suất tử vong là cao. Cảm giác hấp dẫn tình dục nổi lên khi các thuật toán sinh hóa khác tính ra rằng một cá thể ở gần đó cho thấy khả năng thành công cao trong việc kết đôi, gắn kết xã hội hay đạt các mục tiêu được trông đợi khác. Các cảm giác mang tính đạo đức như bức xúc, tội lỗi và tha thứ xuất phát từ các cơ thế thần kinh đă được tiến hóa để mở ra triển vọng hợp tác nhóm. Tất cả các thuật toán sinh hóa này được mài giũa qua hàng triệu nầm tiến hóa. Nếu cảm giác của một tổ tiên xa xưa nào đó là sai và kết quả là người đó mắc phải một sai lầm chết người, những gien định hình các cảm giác đó đã không truyền sang thế hệ tiếp theo. Các cảm giác do đó không phải là trái ngược với lý trí; chúng chính là hiện thân của lý trí tiến hóa.
Chúng ta thường không nhận ra cảm giác thực ra là các tính toán vì quá trình tính toán cực nhanh xuất hiện ở tầng sâu dưới ngưỡng ý thức của chúng ta. Chúng ta không cảm thấy hàng triệu nơron trong não tính toán các khả năng sinh tồn và sinh sản, thế nên ta lầm tin rằng nỗi sợ rắn, lựa chọn bạn tình hay ý kiến của chúng ta về Liên minh châu Âu là kết quả của một “ý chí tự do” bí hiểm nào đó.
Chủ nghĩa tự do đã sai khi nghĩ rằng cảm giác của chúng ta phản ánh ý chí tự do; nhưng cho đến ngày nay, việc dựa vào cảm giác vẫn hợp lý trong thực tế. Bởi mặc dù cảm giác chẳng có gì thần thông hay tự do cả thì nó vẫn là phương pháp tốt nhất trong vũ trụ để quyết định phải học cái gì, cưới ai và bầu cho đảng nào. Và không một hệ thống bên ngoài nào có thể hy vọng hiểu được cảm giác của tôi rõ hơn tôi cả. Ngay cả nếu Tòa Hình án Tây Ban Nha có rình mò tôi từng phút từng ngày, họ vẫn thiếu kiến thức sinh học và khả năng tính toán cần thiết để “bẻ khóa” những quá trình sinh hóa định hình những nguyện vọng và lựa chọn của tôi. Về cơ bản, vẫn hợp lý khi biện luận rằng tôi có ý chí tự do vì ý chí của tôi được định hình chủ yếu bởi sự tương tác của các lực bên trong, không ai bên ngoài tôi có thể thấy được. Tôi có thể tận hưởng ảo tưởng rằng mình kiểm soát đấu trường bí mật nội tại, trong khi người ngoài không bao giờ có thể thực sự hiểu điều gì đang xảy ra trong tôi và cách tôi ra quyết định.
Do đó, chủ nghĩa tự do đã đúng khi khuyên con người là hãy đi theo trái tim của mình hơn là mệnh lệnh của một thầy tu hay một thành viên của đảng phái nào đó. Tuy nhiên, sớm muộn gì các thuật toán máy tính cũng có thể đưa ra những lời khuyên tốt hơn cảm giác con người. Khi Tòa Hình án Tây Ban Nha và KGB nhường chỗ cho Google và Baidu, “ý chí tự do” rất dễ bị lật tẩy là một thứ hoang đường và chủ nghĩa tự do sẽ mất đi các lợi thế thực tế của mình.
Bởi chúng ta đang ở điểm “hợp lưu” của hai cuộc cách mạng lớn. Các nhà sinh học đang giải mã những bí mật của cơ thể người và cụ thể là não bộ và cảm giác của con người. Cùng lúc đó, các nhà khoa học máy tính đang mang lại cho chúng ta khả năng xử lý dữ liệu chưa từng có. Khi cuộc cách mạng công nghệ sinh học kết hợp với cuộc cách mạng công nghệ thông tin, chúng sẽ sinh ra các thuật toán Big Data có thể theo dõi và hiểu được cảm giác của tôi rõ hơn bản thân tôi rất nhiều, rồi quyền lực có lẽ sẽ dịch chuyển từ con người sang máy tính. Ảo tưởng về ý chí tự do của tôi rất có thể sẽ tan vỡ khi tôi ngày ngày tiếp xúc với các tổ chức, tập đoàn và cơ quan chính phủ hiểu và điều khiển được những gì mà cho tới nay vẫn là thế giới bên trong bất khả xâm phạm của tôi.
Điều này đã xảy ra trong lĩnh vực y học. Những quyết định y tế quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta không phụ thuộc vào cảm giác khỏe hay yếu, hay thậm chí vào những chẩn đoán của bác sĩ, mà dựa trên các tính toán của những máy tính hiểu cơ thể ta hơn bản thân ta rất nhiều. Chỉ trong vài thập kỷ, các thuật toán Big Data được cung cấp một nguồn dữ liệu sinh hóa liên tục có thể giám sát sức khỏe của chúng ta 24/7. Chúng có thể phát hiện sự khởi phát của cúm, ung thư hay bệnh Alzheimer từ rất lâu trước khi chúng ta cảm thấy có gì không ổn trong người. Sau đó, chúng có thể gợi ý các phương pháp điều trị, các chế độ ăn uống và luyện tập hằng ngày hợp lý, được xây dựng riêng dựa trên thể trạng, ADN và tính cách độc đáo của mỗi chúng ta.
Con người sẽ tận hưởng dịch vụ chăm, sóc sức khỏe tốt nhất trong lịch sử, nhưng chính vì lý do này mà có lẽ chúng ta sẽ luôn bị bệnh. Ở đâu đó trong người chúng ta, lúc nào cũng sẽ có cái gì đó không ổn. Lúc nào cũng có cái gì đó để cải thiện. Trong quá khứ, bạn thấy hoàn toàn khỏe mạnh miễn là không cảm thấy đau đớn và không xuất hiện một thương tật gì đó, ví dụ như đi khập khiễng. Nhưng đến năm 2050, nhờ các cảm biến sinh trắc và các thuật toán Big Data mà các chứng bệnh có thể được chẩn đoán và điều trị từ rất lâu trước khi chúng dẫn đến đau đớn hay thương tật. Kết quả là bạn sẽ luôn thấy mình đang gánh chịu một “tình trạng y khoa” nào đó và phải nghe theo gợi ý này, gọi ý kia của thuật toán. Nếu bạn từ chối, có thể bảo hiểm y tế của bạn sẽ mất hiệu lực hay sếp sẽ sa thải bạn; tại sao họ phải trả giá cho sự cứng đầu của bạn cơ chứ?
Tiếp tục hút thuốc mặc dù các thống kê nói chung cho thấy mối liên hệ thuốc lá với ung thư phổi là một chuyện. Tiếp tục hút thuốc dù đã có cảnh báo rõ ràng từ một cảm biến sinh trắc vừa phát hiện ra mười bảy tế bào ung thư ở vùng trên của phổi trái là một chuyện hoàn toàn khác. Và nếu bạn sẵn sàng mặc kệ cảm biến, bạn sẽ làm gì khi nó gửi cảnh báo đến công ty bảo hiểm, quản lý và mẹ bạn?
Ai sẽ có thời gian và sức lực để xử lý tất cả những bệnh tật này? Rất có khả năng chúng ta sẽ chỉ hướng dẫn để thuật toán sức khỏe của mình tự xử lý hầu hết những vấn đề trên theo cách nó thấy phù hợp. Cùng lắm, nó sẽ gửi cập nhật định kỳ đến điện thoại thông minh của chúng ta, nói với ta rằng “mười bảy tế bào ung thư đã được phát hiện và tiêu diệt”. Những người mắc chứng bệnh tưởng có thể sẽ nghiêm túc đọc những cập nhật này, nhưng phần lớn chúng ta sẽ mặc kệ như cách chúng ta vẫn làm với những thông báo chống vi-rút khó chịu trên máy tính của mình vậy.
KỊCH TÍNH CỦA VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH
Chuyện vốn đang xảy ra trong y tế chắc chắn có khả năng sẽ xuất hiện trong ngày càng nhiều lĩnh vực. Phát minh chủ chốt cảm biến sinh trắc mà người ta có thể đeo trên hoặc trong người và chuyển các quá trình sinh học thành các thông tin điện tử mà máy tính có thể lưu trữ và phân tích. Khi có đủ dữ liệu sinh trắc và khả năng tính toán, các hệ thống xử lý dữ liệu bên ngoài có thể giải mã mọi ham muốn, quyết định và ý kiến của bạn. Chúng có thể biết chính xác bạn là ai.
Hầu hết mọi người không biết rõ về bản thân cho lắm. Tới năm 21 tuổi, cuối cùng tôi đã nhận thức rõ mình là người đồng tính, sau nhiều năm sống phủ nhận hiện thực ấy. Điều này không lấy gì là khác thường. Nhiều đàn ông đồng tính mất trọn những năm thiếu niên phân vân về xu hướng tình dục của mình. Giờ thử hình dung tình huống năm 2050, khi một thuật toán có thể nói cho bất cứ thiếu niên nào vị trí chính xác của mình trên phổ cong / thẳng (và thậm chí là mức độ “linh động” của vị trí đó nữa). Có lẽ thuật toán sẽ cho bạn xem ảnh hay video của những nam giới và nữ giới hấp dẫn, theo dõi chuyển động của mắt, huyết áp và hoạt động não bộ của bạn; trong vòng năm phút, nó sẽ hiện một con số trên thang Kinsey. Một phát minh như vậy hẳn đã cứu tôi khỏi nhiều năm vật vã. Có lẽ cá nhân bạn sẽ không muốn thực hiện một bài kiểm tra kiểu đó; nhưng rồi có thể lúc nào đó bạn sẽ thấy mình đang ở cùng một nhóm bạn trong buổi tiệc sinh nhật chán ngắt của Michelle và ai đó gợi ý là cả nhóm lần lượt tự kiểm tra trên thuật toán mới rất ngầu này (mọi người thì đứng quanh xem kết quả và bình luận). Bạn cứ thế bỏ đi mà được ư?
Ngay cả nếu bạn bỏ đi thật và ngay cả khi bạn cứ chạy trốn bản thân và bạn bè, bạn sẽ không thể trốn được Amazon, Alibaba hay cảnh sát mật. Khi bạn lướt web, xem YouTube hay đọc tin tức trên mạng xã hội, các thuật toán sẽ âm thầm giám sát bạn, phần tích bạn và thông báo vời hãng Coca-Cola rằng nếu họ muốn bán cho bạn một loại nước giải khát có ga nào đó, họ nên dùng quảng cáo có nam giới cởi trần hơn là nữ giới cởi trần. Bạn thậm chí sẽ không biết. Nhưng chúng sẽ biết và những thông tin như vậy đáng giá hàng tỷ đô.
Thế nhưng, có khi người ta lại sẵn sàng chia sẻ thông tin của mình để đổi lại những gợi ý tốt hơn và cuối cùng là để thuật toán quyết định cho họ. Hãy bắt đầu bằng những thứ đơn giản, ví dụ như ngồi xuống cùng bạn bè và cùng nhau có một buổi tối ấm cúng trước TV. Năm mươi năm trước, bạn có rất ít lựa chọn về thứ có thể xem; nhưng ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ xem theo yêu cầu, bạn có hàng nghìn tên phim để chọn. Đi đến đồng thuận có thể khá khó vì bạn thì thích phim viễn tưởng ly kỳ, Jack khoái phim hài lãng mạn, còn Jill thì chọn phim Pháp nghệ thuật. Cả hội có thể sẽ thỏa hiệp và kết thúc bằng việc xem một bộ phim hạng B xoàng nào đó để rồi đều thất vọng.
Thuật toán có thể giúp. Bạn có thể nói cho nó biết những phim từng người trong các bạn đã xem và thích; dựa vào cơ sở dữ liệu thống kê khổng lồ của mình, thuật toán sau đó có thể tìm ra một bộ phim phù hợp hoàn hảo cho cả nhóm. Không may là, một thuật toán còn thô sơ như vậy có thể dễ dàng bị nhầm hướng, đặc biệt vì tự mô tả là một thước đo đặc biệt thiếu tin cậy khi bàn về sở thích thực sự của nhiều người. Thường thì khi nghe nhiều người ca tụng một bộ phim như một kiệt tác, chúng ta sẽ cảm thấy mình nhất định phải xem và dù giữa chừng chán ngắt đến buồn ngủ, chúng ta cũng không muốn mình bị coi như những kẻ chả hiểu biết gì về nghệ thuật, thê là chúng ta nói với tất cả mọi người rằng đó là một trải nghiệm tuyệt vời.
Tuy nhiên, các vấn đề như vậy có thể được giải quyết nếu chúng ta cho phép thuật toán thu thập các dữ liệu thời gian thực về chúng ta khi chúng ta đang thật sự xem phim, thay vì chỉ dựa vào những lời tự thuật rất mập mờ của chính chúng ta. Với những người mới bắt đầu, thuật toán có thể theo dõi những phim chúng ta đã xem hết và những phim chúng ta ngừng xem giữa chừng. Ngay cả khi chúng ta nói với cả thế giới rằng Cuốn theo chiều gió là bộ phim hay nhất từng được sản xuất, thì thuật toán cũng sẽ biết chúng ta chưa bao giờ xem quá nửa tiếng đầu và chưa bao giờ thấy Atlanta chìm trong biển lửa.
Thế nhưng thuật toán có thể còn tiến xa hơn nữa. Các kỹ sư hiện đang phát triển phần mềm có thể phát hiện các cảm xúc của con người dựa trên cử động của mắt và các cơ mặt. Người ta gắn thêm một máy quay chất lượng vào ti vi và một phần mềm như vậy sẽ biết cảnh nào làm ta cười, cảnh nào làm ta buồn và cảnh nào làm ta chán. Tiếp theo, nối kết thuật toán với các cảm biến sinh trắc và nó sẽ biết mỗi khung hình ảnh hưởng đến nhịp tim, huyết áp và hoạt động não bộ của ta ra sao. Khi ta xem Pulp Fiction của Tarantino chẳng hạn, thuật toán sẽ nhận thấy cảnh hiếp dâm khiến ta thấy thoáng gợn chút hứng tình gần như không thể nhận ra, cảnh Vincent thình lình bắn vào mặt Marvin làm ta bật cười một cách tội lỗi và mặc dù không hiểu câu đùa về “cái bánh mì kẹp Kahuna bự”, ta vẫn cười để trông mình không bị ngu. Khi ép mình cười, co thể bạn sử dụng những mạch điện não và cơ khác với khi bạn thật sự buồn cười. Con người thường không nhận thấy sự khác biệt. Nhưng một cảm biến sinh trắc thì có thể.
Từ “television”, tức tivi, bắt nguồn từ tele trong tiếng Hy Lạp nghĩa là “xa” và visio trong tiếng Latin nghĩa là “nhìn”. Ban đầu, nó đưọc tạo ra như một phương tiện cho phép chúng ta nhìn từ xa. Nhưng chẳng mấy chốc nó sẽ cho phép chúng ta bị nhìn thấy từ xa. Như George Orwell đã hình dung trong cuốn 1984, chiếc TV có thể xem chúng ta trong khi chúng ta xem nó. Sau khi xem hết những bộ phim của Tarantino, chúng ta có thể sẽ quên gần hết. Nhưng Netflix hay Amazon hay bất cứ ai sỏ hữu thuật toán TV sẽ biết kiểu tính cách của chúng ta và cách khiến cảm xúc của chúng ta bùng nổ. Những dữ liệu như vậy có thể giúp Netflix và Amazon chọn phim cho chúng ta với sự chính xác phi thường, nhưng chúng cũng có thể cho phép họ đưa ra những quyết định quan trọng nhất cuộc đời hộ chúng ta, như học cái gì, làm ở đâu và cưới ai chẳng hạn.
Dĩ nhiên, Amazon sẽ không phải lúc nào cũng đúng. Điều đó là không thể. Các thuật toán sẽ liên tục mắc lỗi do dữ liệu không đủ, lập trình sai, lẫn lộn các mục tiêu và bản chất rối ren của cuộc đời. Nhưng Amazon đâu cần phải hoàn hảo. Nó chỉ cần giỏi hơn một người trung bình thôi. Và điều đó thì không quá khó vì hầu hết mọi người không hiểu rõ bản thân cho lắm và hầu hết thường phạm nhũng sai lầm khủng khiếp trong các quyết định quan trọng nhất cuộc đời. Con người cũng chịu cảnh dữ liệu thiếu, lập trình sai (do di truyền và văn hóa), lẫn lộn các vấn đề và cuộc sống rối ren còn nhiều hơn cả các thuật toán.
Bạn có thể liệt kê nhiều vấn đề xoay quanh các thuật toán và kết luận rằng con người sẽ không bao giờ tin vào chúng. Nhưng điều đó cũng hơi giống việc liệt kê tất cả các hạn chế của nền dân chủ và kết luận rằng không một người khôn ngoan nào sẽ lựa chọn ủng hộ một hệ thống như vậy. Winston Churchill đã nói một câu nổi tiếng rằng dân chủ là hệ thống chính trị tệ nhất thế giới, trừ tất cả những hệ thống còn lại. Đúng hay sai thì con người có thể sẽ đi đến kết luận tương tự về các thuật toán Big Data: chúng còn nhiều sai sót, nhưng chúng ta không có lựa chọn nào khá hơn.
Khi các nhà khoa học hiểu sâu hơn cách con người ra quyết định, sự cám dỗ của việc dựa vào các thuật toán hẳn sẽ ngày càng lớn. “Bẻ khóa” quá trình ra quyết định của con người không chỉ khiến các thuật toán Big Data trở nên đáng tin cậy hơn mà đồng thời khiến cảm xúc con người trở nên thiếu tin cậy hơn. Khi các chính phủ và các tập đoàn thành công trong việc “bẻ khóa” hệ thống vận hành của con người, chúng ta sẽ bị phơi ra trước một loạt dồn dập, liên tiếp các hình thức thao túng, quảng cáo và tuyên truyền được định hướng rất chính xác. Việc điều khiển ý kiến và cảm xúc của chúng ta sẽ trở nên dễ dàng đến mức chúng ta sẽ buộc phải dựa vào thuật toán hệt như cách một phi công đột nhiên bị chóng mặt, phải lờ đi những gì các giác quan của anh ta đang mách bảo và đặt toàn bộ niềm tin vào máy móc.
Tại một số quốc gia và trong một số tình huống, con người có thể không được lựa chọn chút nào và sẽ buộc phải tuân theo các quyết định của các thuật toán Big Data. Nhưng ngay cả trong các xã hội được cho là tự do, các thuật toán cũng có thể sẽ giành được quyền lực bởi qua các lần trải nghiệm, chúng ta sẽ học được cách tin vào chúng trong ngày càng nhiều vấn đề và dần mất đi khả năng tự quyết định cho bản thân. Cứ nghĩ về cách mà chỉ trong hai thập kỷ qua, hàng tỷ người đã đi đến chỗ giao phó cho thuật toán tìm kiếm Google một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất: tìm kiếm thông tin liên quan và đáng tin cậy. Chúng ta không còn tìm thông tin nữa. Thay vào đó, chúng ta dùng Google. Và khi chúng ta ngày càng phụ thuộc vào Google dể tìm câu trả lời thì khả năng tự tìm kiếm thông tin của chúng ta sẽ ngày càng thu hẹp. Đến ngày nay, “sự thật” được định nghĩa bằng các kết quả hàng đầu của mỗi lần tìm kiếm Google.
Điều này cũng đang diễn ra với các năng lực thể chất, ví dụ như định hướng trong không gian. Người ta nhờ Google chi đường cho họ. Khi họ đến một điểm giao cắt, cảm giác bản năng có thể bảo họ “rẽ trái” nhưng Google Maps lại bảo “rẽ phải”. Đầu tiên, họ nghe theo mình, rẽ trái để rồi dính ngay một vụ kẹt xe và lỡ một buổi hẹn quan trọng. Lần sau, họ nghe lời Google, rẽ phải và đến nơi đúng giờ. Họ học được từ các trải nghiệm là nên tin Google. Sau một, hai năm, họ mù quáng dựa vào bất cứ thứ gì Google Maps nói với họ và nếu điện thoại thông minh của họ hỏng, họ hoàn toàn ngơ ngác. Vào tháng Ba năm 2012, ba du khách Nhật Bản ở Úc quyết định đi một chuyến trong ngày đến một hòn đảo nhỏ ngoài khơi để rồi lái thẳng xe xuống Thái Bình Dương. Người lái xe, cô Yuzu Nucla 21 tuổi, sau đó có nói là cô chỉ đi theo chỉ dẫn của GPS và “nó bảo là chúng tôi lái được ở dưới đó. Nó cứ nói là nó sẽ dẫn chúng tôi đến một con đường. Chúng tôi bị mắc kẹt.” Trong vài vụ việc tương tự, nhiều người đã lái xuống hồ hay rơi khỏi một cây cầu bị hỏng vì nghe theo chỉ dẫn GPS. Khả năng định hướng cũng như một loại cơ bắp, không dùng đến sẽ mất. Khả năng chọn bạn đời hay chọn nghề nghiệp cũng vậy.
Mỗi năm hàng triệu người trẻ tuổi cần phải quyết định học gì ở đại học. Đây là một quyết định rất quan trọng và khó khăn. Bạn chịu áp lực từ bố mẹ, bạn bè và thầy cô, ai cũng có mối quan tâm và ý kiến riêng. Bạn cũng có những nỗi sợ và mong ước riêng phải xử lý. Khả năng suy xét của bạn bị các bộ phim bom tấn của Hollywood, những cuốn tiểu thuyết vô giá trị, các chiến dịch quảng cáo tinh vi phủ bóng và điều khiển. Việc đưa ra một quyết định khôn ngoan là đặc biệt khó khăn vì bạn không thực sự biết các nghề nghiệp khác nhau cần những điều gì để thành công và bạn không có một hình dung thực tế về sở trường cũng như sở đoản của chính mình. Cần gì để thành công với tư cách một luật sư? Làm sao để làm việc dưới áp lực? Mình có phải là một người làm việc nhóm tốt không?
Một sinh viên có thể bắt đầu học luật vì cô ấy hiểu không chính xác các kỹ năng của mình và có một quan niệm thậm chí còn méo mó hơn về chuyện làm luật sư thực sự cần những gì (bạn không đưa ra những bài phát biểu kịch tính và hét “Phản đối, thưa quý tòa!” suốt ngày đâu). Trong khi đó, bạn cô quyết định hiện thực hóa một giấc mơ thời thơ ấu và học ballet chuyên nghiệp, dù không có cấu trúc xương phù hợp hay tính kỷ luật cần thiết. Nhiều năm sau, cả hai cực kỳ hối tiếc về những lựa chọn của mình. Trong tương lai, chúng ta sẽ có thể dựa vào Google để đưa ra các quyết định như vậy cho mình. Google có thể nói cho tôi biết tôi sẽ chỉ phí thời gian trong trường luật và trường ballet nhưng có thể trở thành một nhà tâm lý học hay một thợ sửa ống nước xuất sắc (và cực kỳ hạnh phúc).
Một khi AI đưa ra các quyết định tốt hơn chúng ta về nghề nghiệp và có thể là cả các mối quan hệ, quan niệm của chúng ta về nhân tính và về cuộc đời sẽ phải thay đổi. Con người đã quen nghĩ về cuộc đời như một vở kịch của việc ra quyết định. Nền dân chủ tự do và chủ nghĩa tư bản thị trường tự do xem mỗi cá nhân như một thực thể tự quyết liên tục đưa ra lựa chọn về thế giới. Các tác phẩm nghệ thuật, dù là kịch Shakespeare, tiểu thuyết của Jane Austen hay các bộ phim hài rẻ tiền của Hollywood, thường xoay quanh nhân vật chính phải đưa ra những quyết định đặc biệt quan trọng. Tồn tại hay không tồn tại? Nghe lời vợ và giết vua Duncan hay nghe theo lương tâm mình và tha cho hắn? Cưới ngài Collins hay ngài Darcy? Tương tự, thần học Cơ Đốc và Hồi giáo cũng tập trung vào sự kịch tính của việc ra quyết định, lý luận rằng sự cứu rỗi vĩnh hằng phụ thuộc vào việc đưa ra lựa chọn đúng đắn.
Điều gì sẽ xảy ra với quan niệm sống này khi ta ngày càng dựa vào AI để ra quyết định? Hiện tại, ta phó thác Netflix để gợi ý phim cho ta và Google Maps để chọn rẽ phải hay rẽ trái. Nhưng một khi ta bắt đầu dựa vào AI để quyết định học cái gì, làm ở đâu và cưới ai, cuộc đời con người sẽ thôi không còn là một vở kịch của việc ra quyết định nữa. Các cuộc bầu cử dân chủ và các thị trường tự do sẽ không còn nhiều ý nghĩa. Hầu hết các tôn giáo và các tác phẩm nghệ thuật cũng thế. Hãy tưởng tượng Anna Karenina rút điện thoại thông minh của mình ra và hỏi thuật toán Facebook mình có nên tiếp tục làm vợ Karenin hay chạy trốn với bá tước Vronsky bảnh bao. Hay hình dung vở kịch Shakespeare yêu thích của bạn với tất cả các quyết định tối quan trọng được đưa ra bởi thuật toán Google. Hamlet và Macbeth sẽ có những cuộc đời dễ chịu hơn rất nhiều, nhưng kiểu cuộc đời đó là gì vậy? Chúng ta có mô hình nào để hiểu chúng không?
Khi quyền hạn chuyển từ người sang thuật toán, chúng ta có lẽ không còn nhìn thế giới như một sân chơi của các cá nhân tự quyết đang vật lộn để đưa ra những lựa chọn đúng đắn nữa. Thay vào đó, chúng ta có thể nhìn toàn bộ vũ trụ như một dòng chảy dữ liệu, xem các sinh vật chẳng hơn gì các thuật toán sinh hóa và tin rằng công việc mang tầm vóc vũ trụ của loài người là tạo ra một hệ thống xử lý dữ liệu bao trùm mọi thứ rồi hòa mình vào trong đó. Ngày nay, chúng ta đang trở thành các con chip nhỏ xíu trong một hệ thống xử lý dữ liệu khổng lồ mà chẳng ai thực sự hiểu. Mỗi ngày, tôi hấp thu vô số bit dữ liệu thông qua các email, các dòng tweet và các bài viết; tôi xử lý dữ liệu rồi lại truyền các bit mới thông qua nhiều email, tweet và các bài viết khác nữa. Tôi không thực sự biết mình khớp vào đâu trong hoạch định vĩ đại của vạn vật này, hay những bit dữ liệu của tôi kết nối với những bit do hàng tỷ người và máy tính khác sản sinh ra như thế nào. Tôi không có thời gian tìm hiểu vì tôi quá bận rộn với việc trả lời hết những email này.
CỖ XE TRIẾT HỌC
NGƯỜI TA có thể lý luận rằng các thuật toán sẽ không bao giờ đưa ra các quyết định quan trọng giúp chúng ta vì các quyết định quan trọng thường cho thấy một chiều hướng đạo đức mà các thuật toán thì không hiểu đạo đức. Thế nhưng không có lý do nào để cho rằng các thuật toán sẽ không thể vượt mặt được một người trung bình ngay cả trong vấn đề này. Ngày nay, khi các thiết bị như điện thoại thông minh và phương tiện tự hành đưa ra các quyết định vốn từng là độc quyền của con người những người tạo ra chúng đang bắt đầu vật lộn với những vấn đề đạo đức tương tự đã từng làm đau đầu con người suốt hàng nghìn năm.
Chẳng hạn, giả sử hai đứa trẻ đang đuổi theo một quả bóng và nhảy đến ngay trước mũi một chiếc xe tự hành. Dựa vào những tính toán nhanh như chớp của mình, thuật toán lái chiếc xe kết luận cách duy nhất để tránh đâm vào hai đứa trẻ là ngoặt sang làn ngược chiều và liều va chạm với một chiếc xe tải đang đi đến. Thuật toán tính ra rằng trong trường hợp như vậy, 70% khả năng người chủ xe, đang say ngủ ở ghế sau, sẽ bị chết. Thuật toán nên làm gì?
Các triết gia đã tranh cãi về các “vấn đề xe goòng” kiểu vậy hàng nghìn năm nay (chúng được gọi như vậy vì các ví dụ sách vở trong các cuộc tranh luận triết học hiện đại nói về một cái xe goòng đang chạy trên đường ray thay vì một chiếc xe tự hành). Đến bây giờ, các tranh cãi như vậy có tác động ít ỏi đến đáng xấu hổ tới hành vi thực tế của con người vì trong các thời điểm khủng hoảng, con người thường quên các quan niệm triết học của mình và chỉ đi theo cảm xúc và trực giác.
Một trong những thí nghiệm gây sốc nhất trong lịch sử khoa học xã hội đã được thực hiện vào tháng Mười hai năm 1970 trên một nhóm sinh viên ở trường dòng Thần học Princeton đang được đào tạo để trở thành các mục sư trong Giáo hội Tin Lành Trưởng lão. Mỗi sinh viên được yêu cầu phải đi nhanh đến một giảng đường ở xa để có bài nói chuyện về dụ ngôn Người Sa-ma-ri nhân đức; câu chuyện kể về một người Do Thái đi từ Jerusalem đến Jericho bị bọn cướp lột sạch đồ và đánh đập tệ hại rồi để mặc anh ta sống dở chết dở bên đường. Một lúc sau, một thầy tư tế và một người thuộc chi phái Levi đi ngang qua, nhưng cả hai đều phớt lờ người đàn ông nọ. Ngược lại, một người Sa-ma-ri, thành viên của một giáo phái bị người Do Thái cực kỳ coi khinh, đã dừng lại khi nhìn thấy nạn nhân, chăm sóc và cứu sống anh ta. Bài học đạo đức của dụ ngôn này là phẩm cách của con người cần được đánh giá bằng hành vi thực của họ chứ không phải tôn giáo hay quan điểm triết học của họ.
Các sinh viên trẻ tuổi hăng hái vội vã đi đến giảng đường, vừa đi vừa suy ngẫm xem làm thế nào để giải thích bài học đạo đức của câu chuyện dụ ngôn tốt hơn cả. Nhưng những người làm thí nghiệm đã sắp xếp để trên đường đi của họ xuất hiện một người ăn mặc rách rưới ngồi sụp xuống nơi bậc cửa, mặt cúi gằm và mắt nhắm nghiền. Mỗi khi có một sinh viên không để ý gì đến “nạn nhân” băng qua, “nạn nhân” lại ho và rên rỉ đầy vẻ đáng thương. Hầu hết các sinh viên thậm chí còn không dừng lại để hỏi xem người đàn ông có chuyện gì, nói gì đến việc đề nghị giúp đỡ. Áp lực cảm xúc do việc cần phải đi nhanh đến giảng đường đã đè bẹp nghĩa vụ đạo đức cần giúp đỡ người lạ đang gặp khó khăn.
Cảm xúc con người đè bẹp lý thuyết triết học trong vô số tình huống khác. Điều này biến lịch sử đạo đức và triết học của thế giới thành một câu chuyện khá thất vọng về các lý tưởng tuyệt vời và các hành vi không được lý tưởng cho lắm. Có bao nhiêu tín hữu Cơ Đốc thật sự chìa má bên kia, có bao nhiêu Phật tử thật sự vượt lên những ám ảnh vị kỷ, và có bao nhiêu người Do Thái thật sự yêu hàng xóm của mình như chính bản thân? Đấy chỉ là cách chọn lọc tự nhiên đã định hình Homo sapiens. Như mọi động vật có vú khác, Homo sapiens sử dụng cảm xúc để nhanh chóng đưa ra các quyết định một mất một còn. Chúng ta thừa hưởng con giận, nỗi sợ và ham muốn của mình từ hàng triệu tổ tiên, tất cả đều đã vượt qua những bài kiểm tra quản lý chất lượng khắc nghiệt nhất của chọn lọc tự nhiên.
Không may là những gì tốt cho sinh tồn và sinh sản tại thảo nguyên châu Phi một triệu năm trước không nhất định tạo nên hành vi có trách nhiệm trên đường cao tốc thế kỷ 21. Những người lái xe phân tâm, cáu kỉnh và sốt ruột làm chết hơn rnột triệu người trong các vụ tai nạn giao thông mỗi năm. Chúng ta có thể đưa tất cả các triết gia, các nhà tiên tri và mục sư đến rao giảng đạo đức cho những người lái xe này; nhưng trên đường, các cảm xúc của loài động vật có vú và các bản năng nơi đồng cỏ vẫn giành quyền kiểm soát. Do đó, các sinh viên trường dòng trong lúc vội vã sẽ phớt lờ những người đang gặp nạn và các lái xe trong cơn bấn loạn vẫn sẽ cán qua những khách bộ hành không may.
Sự cách biệt như vậy giữa trường dòng và đường cao tốc là một trong những vấn đề thực tế lớn nhất của đạo đức học. Immanuel Kant, John Stuart Mill và John Rawls có thể ngồi trong một giảng đường đại học ấm cúng nào đó và bàn luận các vấn đề đạo đức lý thuyết từ ngày này sang ngày khác, nhưng liệu các kết luận của họ có thật sự được các tài xế đang căng hết cả óc áp dụng trong một tình huống khẩn cấp chỉ vài phần giây? Có lẽ Michael Schumacher, nhà vô địch đua xe Công thức Một, đôi khi được tôn vinh là người lái xe giỏi nhất lịch sử, có khả năng nghĩ về triết học trong khi đua xe, nhưng hầu hết chúng ta đâu phải Schumacher.
Tuy nhiên, các thuật toán máy tính chưa bao giờ bị chọn lọc tự nhiên nhào nặn; chúng cũng không có cảm xúc hay trực giác. Do đó, trong những khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, chúng có thể đi theo các chỉ dẫn đạo đức tốt hơn con người rất nhiều, miễn là chúng ta tìm được cách mã hóa đạo đức thành những con số và thống kê chính xác. Nếu ta có thể dạy Kant, Mill và Rawls viết mã, họ có thể lập trình cho chiếc xe tự hành trong căn phòng thí nghiệm ấm cúng của họ; và chắc chắn, chiếc xe sẽ nghe theo những lời răn dạy của họ trên đường cao tốc Trên thực tế, mỗi chiếc xe do Michael Schumacher và Immanuel Kant lái sẽ nhập làm một.
Nếu bạn lập trình để một chiếc xe tự hành dừng lại và giúp những người lạ đang gặp hoạn nạn, nó sẽ làm như vậy bất kể chuyện gì xảy ra (dĩ nhiên, trừ phi bạn đưa vào một mệnh đề ngoại lệ cho các tình huống nguy cấp). Tương tự, nếu chiếc xe tự hành của bạn được lập trình để bẻ lái vào làn ngược chiều nhằm tránh hai đứa trẻ xuất hiện trên đường đi của nó, bạn có thể cược cả mạng sống của mình rằng đấy chính xác là điều chiếc xe sẽ làm. Có nghĩa là khi thiết kế những chiếc xe tự hành, hãng Toyota hay Tesla sẽ biến một vấn đề lý thuyết trong triết học đạo đức thành một vấn đề thực tiễn.
Đương nhiên, các thuật toán triết học sẽ không bao giờ hoàn hảo. Lỗi vẫn sẽ xảy ra, dẫn đến thương tật, tử vong và các vụ kiện cực kỳ phức tạp (Lần đầu tiên trong lịch sử, bạn có thể kiện một triết gia vì những hậu quả đáng tiếc xuất phát từ lý thuyết của họ; đó là vì lần đầu tiên, bạn có thể chứng minh một liên hệ nhân quả trực tiếp giữa các ý tưởng triết học và các sự kiện đời thực.) Tuy nhiên, để thay thế những tài xế-con người, các thuật toán không cần phải hoàn hảo. Chúng chỉ cần giỏi hơn con người mà thôi. Với việc các tài xế-con người cướp đi hơn một triệu mạng sống mỗi năm thì chuyện đó không phải quá khó. Xét cho cùng, bạn muốn một cậu choai choai say rượu hay nhóm Schumacher-Kant lái chiếc xe bên cạnh mình hơn?
Cùng logic này có thể áp dụng không chỉ trong lái xe mà trong rất nhiều tình huống khác nữa. Chẳng hạn như xin việc. Trong thế kỷ 21, việc các thuật toán quyết định thuê ai đó làm một công việc nhất định sẽ ngày càng phổ biến. Chúng ta không thể dựa vào máy móc để đặt ra các tiêu chuẩn đạo đức có liên quan; con người vẫn sẽ phải làm điều đó. Nhưng một khi chúng ta đã quyết định một chuẩn mực đạo đức trong thị trường lao động, không phân biệt đối xử với người da màu và phụ nữ chẳng hạn, chúng ta có thể dựa vào máy móc để thực hiện và duy trì tiêu chuẩn này tốt hơn con người.
Một người quản lý có thể biết và thậm chí đồng ý rằng phân biệt đối xử với người da màu và phụ nữ là vô đạo đức; nhưng khi một phụ nữ da màu xin việc, người đó sẽ vô thức phân biệt đối xử với cô ấy và quyết định không tuyển cô. Nếu ta để cho một máy tính đánh giá các hồ sơ xin việc và lập trình để nó hoàn toàn phớt lờ yếu tố chủng tộc và giới tính, chúng ta có thể chắc chắn là máy tính sẽ thực sự phớt lờ các yếu tố này vì máy tính không có vô thức. Dĩ nhiên, viết code để đánh giá các hồ sơ xin việc sẻ không dễ dàng gì và luôn có nguy cơ các kỹ sư sẽ bằng cách náo đó lập trình các thiên kiến vô thức của mình vào phần mềm. Thế nhưng, một khi ta đã phát hiện các lỗi như vậy, có lẽ việc sửa lỗi cho phần mềm sẽ dễ hơn nhiều việc bắt con người từ bỏ các định kiến chủng tộc và ghét phụ nữ.
Chúng ta đã thấy sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo có thể đẩy phần lớn con người ra khỏi thị trường lao động, bao gồm các tài xế và cảnh sát giao thông (vì khi những người hay gây rối được thay thế bằng các thuật toán biết vâng lời thì cảnh sát giao thông cũng trở nên thừa thãi). Tuy nhiên, những cơ hội mới cho các triết gia có thể sẽ mở ra bởi như cầu về kỹ năng của họ, vốn từ trước đến nay không có mấy giá trị thị trường, sẽ đột nhiên rất lớn. Thế nên nếu bạn muốn học thứ gì đó sẽ đảm bảo cho một công việc tốt trong tương lai, có lẽ triết học sẽ không phải là một canh bạc tồi.
Dĩ nhiên, các triết gia hiếm khi đồng thuận về đường hướng hành động. Rất ít vấn đề xe goòng được giải quyết mà làm hài lòng tất cả các triết gia và các nhà tư tưởng theo trường phái hệ quả luận như John Stuart Mill (đánh giá hành động dựa vào hậu quả) có các ý tưởng rất khác với các nhà nghĩa vụ luận như Immanuel Kant (đánh giá hành động dựa trên các quy luật tuyệt đối). Liệu hãng Tesla có thực sự phải chọn một lập trường trong những vấn đề nan giải như thế để sản xuất ra một chiếc xe không?
À, có lẽ Tesla chỉ cần để mặc thị trường thôi. Tesla có thể sản xuất hai dòng xe tự hành: chiếc Tesla Vị tha và chiếc Tesla Vị kỷ. Trong trường hợp khẩn cấp, chiếc Vị tha sẽ hy sinh chủ nhân vì lợi ích lớn hơn, trong khi chiếc Vị kỷ sẽ làm mọi điều trong khả năng của mình để cứu chủ nhân, ngay cả nếu điều đó có nghĩa là giết hại đứa trẻ. Khách hàng sau đó sẽ có thể mua chiếc xe phù hợp với quan điểm triết học ưa thích của mình. Nếu có nhiều người mua chiếc Tesla Vị kỷ hơn thì bạn cũng đâu thể đổ lỗi cho Tesla được. Xét cho cùng, khách hàng luôn đúng.
Đấy không phải là chuyện đùa. Trong một cuộc nghiên cứu tiên phong năm 2015, những người tham gia được đưa ra một tình huống giả định về một chiếc xe tự hành chuẩn bị cán qua vài khách bộ hành. Hầu hết nói rằng trong trường hợp đó, chiếc xe nên cứu người đi bộ ngay cả khi cái giá phải trả là mạng sống của chủ xe. Nhưng khi họ được hỏi liệu bản thân có mua một chiếc xe được lập trình để hy sinh chủ nhân cho mục đích cao cả hơn không, hầu hết đều nói là không. Cho bản thân thì họ vẫn thích chiếc Tesla Vị kỷ hơn.
Thử tưởng tượng tình huống này: bạn vừa mua một chiếc xe mới, nhưng trước khi có thể bắt đầu sử dụng, bạn phải mở mục cài đặt và đánh dấu chọn vài mục. Trong trường hợp tai nạn, bạn muốn chiếc xe hy sinh tính mạng của bạn hay giết cả một gia đình ở trên xe kia? Đấy có phải là một lựa chọn mà bạn muốn đưa ra không? Hãy nghĩ đến những lý lẽ bạn sắp đưa ra cho chồng về việc đánh dấu mục nào.
Thế nên có thể chính phủ sẽ can thiệp để điều tiết thị trường và đưa ra một quy tắc đạo đức bắt buộc với mọi chiếc xe tự hành. Một số nhà làm luật không nghi ngờ gì nữa sẽ cực kỳ phấn khích trước cơ hội làm ra những điều luật luôn luôn được tuân thủ đến từng chữ. Số khác sẽ hoảng hồn trước một trách nhiệm chưa từng có và tuyệt đối đến thế. Xét cho cùng, xuyên suốt lịch sử, các hạn chế trong quá trình thực thi luật trên thực tế đã mang lại một sự kiểm soát đáng mừng đối với các thiên kiến, sai lầm và “lạm quyền” của những nhà làm luật. Các luật chống đồng tính và báng bổ chỉ được thực thi phần nào là một điều cực kỳ may mắn. Chúng ta có thực sự muốn một hệ thống trong đó các quyết định của những chính trị gia dễ mắc sai lầm trở nên bất khả lay chuyển như trọng lực không?
NHỮNG NỀN ĐỘC TÀI SỐ
Ai thường làm con người sợ hãi vì họ không tin AI sẽ mãi tuân phục họ. Chúng ta đã xem quá nhiều phim khoa học viễn tưởng về những con robot nổi dậy chống lại những chủ nhân của chúng, chạy loạn trên đường phố và giết hại mọi người. Thế nhưng vấn đề thực sự với robot lại hoàn toàn ngược lại. Chúng ta nên sợ chúng vì có lẽ chúng sẽ luôn tuân phục chủ nhân và không bao giờ nổi loạn.
Tuân phục mù quáng thì chẳng có gì sai, đương nhiên, miễn là những con robot phục vụ những chủ nhân vô hại. Ngay cả trong chiến tranh, việc phụ thuộc vào những con robot sát thủ có thể đảm bảo rằng lần đầu tiên trong lịch sử, các chiến luật sẽ thực sự được tuân thủ trên chiến trường. Người chiến sĩ đôi khi bị cảm xúc dẫn dắt mà vi phạm chiến luật như giết người, cướp của và hãm hiếp. Chúng ta thường liên hệ cảm xúc với lòng trắc ẩn, tình yêu và sự đồng cảm; nhưng trong thời chiến, các cảm xúc lấn át thường xuyên hơn cả lại chỉ là sợ hãi, thù hận và tàn bạo. Vì robot không có cảm xúc, ta có thể tin rằng chúng sẽ luôn trung thành với các từ ngữ khô khan của điều lệnh quân đội và không bao giờ bị những nỗi sợ hãi cũng như thù hằn cá nhân làm lung lạc.
Vào ngày 16 tháng Ba năm 1968, một toán lính Mỹ trở nên mất kiểm soát hoàn toàn ở làng Mỹ Lai thuộc miền Nam Việt Nam và giết hại khoảng bốn trăm dân thường. Tội ác chiến tranh này bắt nguồn từ khởi xướng cục bộ của những lính đã tham gia cuộc chiến tranh du kích trong rừng suốt vài tháng. Nó không phục vụ bất cứ một mục đích chiến thuật nào và vi phạm cả luật pháp cũng như chính sách quân sự của Mỹ. Nếu nước Mỹ khi đó có robot sát thủ, cuộc thảm sát Mỹ Lai có thể đã không xảy ra.
Tuy nhiên, trước khi lao vào phát triển và triển khai robot sát thủ, chúng ta cần nhắc nhở mình rằng robot luôn phản ánh và khuếch đại chất lượng mã nguồn của chúng. Nếu mã nguồn là kiềm chế và ôn hòa, robot có lẽ sẽ là một tiến bộ cực lớn so với các binh lính người bình thường. Nhưng nếu mã nguồn là tàn nhẫn và độc ác, kết quả sẽ là thảm họa. Vấn đề thực sự với robot không phải là trí tuệ nhân tạo của chúng mà là sự ngu xuẩn và độc ác tự nhiên của những chủ nhân của chúng.
Vào tháng Bảy năm 1995, lực lượng người Serb ở Bosnia đã sát hại hơn 8.000 người Hồi giáo quanh thành phố Srebrenica. Không như cuộc thảm sát vô tổ chức ở Mỹ Lai, cuộc giết chóc ở Srebrenica là một chiến dịch kéo dài và được tổ chức kỹ lưỡng, phản ánh chính sách của người Serb ở Bosnia nhằm “thanh lọc sắc tộc” người Hồi giáo ở Bosnia. Nếu người Serb ở Bosnia có robot sát thủ vào năm 1995, cuộc thảm sát hẳn đã tồi tệ hơn nhiều. Không con robot nào sẽ chần chừ, dù chỉ một giây, khi thực hiện bất cứ mệnh lệnh mà nó nhận được và không con robot nào tha mạng cho một đứa trẻ Hồi giáo vì những cảm giác như “thương cảm”, “ghét bỏ” hay đơn giản là “thờ ơ”.
Một tên độc tài tàn bạo nắm trong tay những con robot sát thủ như thế sẽ không bao giờ phải sợ binh lính quay súng chống lại mình, dù mệnh lệnh của hắn có tàn ác và điên cuồng đến cỡ nào. Một binh đoàn robot có lẽ đã bóp chết cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 từ trong trứng nước; và nếu vào năm 2011, Hosni Mubarak có một binh đoàn robot giết chóc thì ông ta đã có thể thả chúng ra cắn xé nhân dân mà không sợ cảnh đào ngũ. Tương tự, một chính phủ đế quốc dựa vào một đội quân robot có thể tiến hành những cuộc chiến không được lòng dân mà chẳng phải lo lũ robot sẽ mất động lực hay gia đình chúng sẽ biểu tình phản đối. Nếu Mỹ có robot sát thủ trong chiến tranh Việt Nam, thì chính cuộc chiến có thể đã kéo dài thêm nhiều năm nữa vì chính phủ Mỹ sẽ không phải lo các binh sĩ mất tinh thần, các cuộc biểu tình phản chiến khổng lồ hay phong trào “robot cựu chiến binh phản chiến”. (Một số công dân Mỹ có thể vẫn phản đối chiến tranh; nhưng khi không còn nỗi sợ bị đăng lính, không có ký ức về việc tự tay gây tội ác phi nghĩa, hay nỗi đau đớn khi mất đi một người thân yêu, thì số người phản đối hẳn sẽ ít hơn.
Những kiểu vấn đề như thế này liên quan đến các phương tiện dân dụng tự hành rất ít vì không hãng xe nào lại đi lập trình cho phương tiện của mình nhắm đến việc tông chết người cả, Nhưng các hệ thống vũ khí tự động lại là một thảm họa đang chực xảy ra vì quá nhiều chính phủ có xu hướng đồi bại về đạo đức, nếu không muốn nói là độc ác rành rành.
Nguy cơ không chỉ giới hạn trong các loại máy móc giết người. Các hệ thống giám sát cũng rủi ro không kém. Trong tay một chính phủ ôn hòa, các thuật toán giám sát mạnh có thể là điều tuyệt vời nhất từng xảy đến với nhân loại. Thế nhưng cũng các thuật toán Big Data đó có thể trao quyền cho một Anh Cả tương lai, thế nên chúng ta có thể rốt cuộc rơi vào một cơ chế giám sát, trong đó mọi cá nhân bị giám sát mọi lúc.
Trên thực tế, có khi chúng ta sẽ đi đến kết cục không tưởng tượng nổi: một cơ chế giám sát toàn phần không chỉ theo dõi mọi hoạt động và lời nói bên ngoài mà còn có thể đi sâu quan sát các trải nghiệm bên trong của chúng ta nữa. Chẳng hạn, hãy xem một thể chế có thể làm gì với công nghệ mới. Trong tương lai, mỗi công dân ở thể chế đó có thể sẽ được yêu cầu đeo một vòng tay sinh trắc để giám sát mọi thứ mà người đó làm và nói, cũng như huyết áp và hoạt động não bộ. Bằng cách sử dụng những hiểu biết ngày càng lớn về não bộ con người và tận dụng sức mạnh khổng lồ của học máy, thể chế đó có thể lần đầu tiên trong lịch sử nắm bắt được điều mỗi công dân đang nghĩ từng giây từng phút. Nếu một người dân Bắc Hàn nhìn bức ảnh của Kim Jong-un và cảm ứng sinh trắc bắt được các dấu hiệu tiết lộ sự không hài lòng (huyết áp cao hơn, hoạt động vùng hạch hạnh nhân tăng), người đó sẽ có thể bị xử lý ngay sáng hôm sau.
Đương nhiên, thể chế đó có thể gặp khó khăn trong việc tự phát triển công nghệ cần thiết. Tuy nhiên, công nghệ đó có thể đã được khai phá tại các quốc gia giỏi về kỹ thuật và bị người khác sao chép hay mua lại. Một số nước đang liên tục cải tiến các công cụ giám sát của mình, và một số nước dân chủ khác, từ Mỹ cho đến đất nước quê hương Israel của tôi, cũng vậy. Với biệt danh “quốc gia khởi nghiệp”, Israel có ngành công nghệ cao cực kỳ năng động và một nền công nghiệp an ninh mạng hàng đầu. Cùng lúc đó, nó cũng bị mắc kẹt trong một cuộc xung đột chí tử với những người Palestine; ít nhất là một số lãnh đạo, tướng tá và công dân của Israel sẽ rất hài lòng khi tạo ra một thể chế giám sát toàn diện ở Bờ Tây ngay khi họ có các công nghệ cần thiết.
Ngay ngày hôm nay, mỗi khi người dân Palestine gọi một cuộc điện thoại, đăng cái gì đó lên Facebook hay đi từ thành phố này sang thành phố khác, rất có thể họ đang bị theo dõi bởi các máy thu âm, máy quay, máy bay không người lái hay phần mềm do thám của Israel. Các dữ liệu thu được sau đó được phân tích với sự trợ giúp của các thuật toán Big Data. Điều này giúp các lực lượng an ninh Israel xác định chính xác và vô hiệu hóa các mối đe dọa tiềm ẩn mà không cần phải có quá nhiều binh lính thực chiến. Người Palestine có thể quản lý một số thị trấn và làng mạc ở Bờ Tây, nhưng người Israel kiểm soát bầu trời, các dải sóng và không gian mạng. Do đó, lượng lính Israel cần thiết để quản lý hiệu quả khoảng 2,5 triệu người Palestine ở Bờ Tây là ít đến mức đáng ngạc nhiên.
Trong một sự kiện bi hài diễn ra vào tháng Mười năm 2017, một người lao động Palestine đăng lên tài khoản Facebook cá nhân một bức ảnh anh ta đang ở chỗ làm, cạnh một cái xe ủi. Bện cạnh hình ảnh đó, anh ta viết “Chào buổi sáng!”. Một thuật toán tự động đã mắc một lỗi nhỏ khi dịch các chữ Ả Râp. Thay vì ysabechhum (nghĩa là “chào buổi sáng”), nó nhận dạng các chữ cái thành ydbachhum (nghĩa là “giết chúng”). Nghi ngờ người đàn ông đó có thể là một kẻ khủng bố định dùng xe ủi cán mọi người các lực lượng an ninh Israel nhanh chóng bắt giữ anh ta. Anh ta được thả sau khi họ nhận ra lỗi của thuật toán. Nhưng bài đăng gây “gai mắt” trên Facebook kia vẫn bị gỡ. cẩn tắc vô ưu. Những gì người Palestine đang trải qua ngày hôm nay ở Bờ Tây có thể chỉ là một cuộc sơ duyệt cho những gì hàng tỷ người cuối cùng sẽ phải trải qua trên khắp hành tinh này.
Vào cuối thế kỷ 20, các nền dân chủ thường nổi trội hơn các nền độc tài vì chúng giỏi xử lý dữ liệu hơn. Nền dân chủ phân tán quyền xử lý thông tin và ra quyết định cho nhiều người và nhiều cơ quan, trong khi nền độc tài tập trung thông tin và quyền lực vào một chỗ. Với công nghệ của thế kỷ 20, việc tập trung quá nhiều quyền lực và thông tin vào một chỗ là không hiệu quả. Không ai có khả năng xử lý toàn bộ thông tin đủ nhanh và đưa ra các quyết định đúng cả.
Tuy nhiên, AI có thể sớm đẩy con lắc sang hướng ngược lại. AI khiến việc xử lý những lượng thông tin khổng lồ một cách tập trung trở nên khả thi. Trên thực tế, AI biến các hệ thống tập trung hóa trở nên hiệu quả hơn các hệ thống phân tán rất nhiều vì học máy hoạt động tốt hơn khi có nhiều thông tin để phân tích hơn, Nếu bạn bỏ qua mọi mối lo về quyền riêng tư và tập trung mọi thông tin liên quan đến một tỷ người trong một cơ sở dữ liệu, bạn có thể tạo ra các thuật toán giỏi hơn nhiều so với khi bạn tôn trọng quyền riêng tư cá nhân và có trong cơ sở dữ liệu của mình chỉ một phần thông tin của một triệu người. Chẳng hạn, nếu một chính phủ độc tài bắt toàn bộ công dân phải quét ADN và chia sẻ mọi dữ liệu y tế của họ với một cơ quan trung ương nào đó, nó sẽ có được một lợi thế cực kỳ lớn về mặt di truyền học và nghiên cứu y tế so với các xã hội mà các dữ liệu y tế là cực kỳ riêng tư. Nỗ lực tập trung mọi thông tin vào một chỗ, có thể trở thành lợi thế quyết định của chúng trong thế kỷ 21.
Khi các thuật toán dần biết ta quá rõ, các chính phủ độc tài có thể kiểm soát hoàn toàn công dân của mình, thậm chí còn hơn ở nước Đức Quốc xã, và việc chống lại các thể chế như vậy có thể là hoàn toàn bất khả. Nó không những sẽ biết chính xác bạn cảm thấy gì mà còn có thể khiến bạn cảm thấy bất cứ thứ gì nó muốn. Nhà độc tài có thể không cung cấp cho công dân của mình dịch vụ y tế hay sự bình đẳng, nhưng hắn có thể khiến họ yêu hắn và ghét những kẻ đối lập với hắn. Dân chủ ở dạng thức hiện tại không thể chống cự nổi sự hợp nhất của công nghệ sinh học và công nghệ thông tin. Hoặc nền dân chủ sẽ phải tự biến đổi tận gốc rễ trong một dạng thức hoàn toàn mới, hoặc con người sẽ đến lúc sống trong những “nền độc tài số”.
Đấy không phải là sự trở lại những ngày của Hitler và Stalin. Các nền độc tài số sẽ khác với nước Đức Quốc xã như Đức Quốc xã khác với nước Pháp quân chủ chuyên chế vậy. Vua Louis XIV là một nhà độc tài, nhưng ông ta không có công nghệ để xây dựng một đất nước toàn trị hiện đại. Ông ta không bị chống đối, nhưng vì chưa có radio, điện thoại và tàu hỏa nên ông ta hầu như kiểm soát được rất ít đời sống hằng ngày của nhũng nông dân tại các ngôi làng của người Breton xa xôi, hay ngay cả của những thị dân ở trung tâm Paris. Ông ta không có đủ ý chí cũng như khả năng để thiết lập một đảng phái lớn, một phong trào tuổi trẻ khắp toàn quốc hay một hệ thống giáo dục quốc gia. Chính những công nghệ mới của thế kỷ 20 đã mang lại cho Hitler cả động lực lẫn quyền lực để làm những điều đó. Chúng ta không thể dự đoán các động lực và quyền lực của các nền độc tài số vào năm 2084, nhưng khả năng cao là chúng sẽ không chỉ bắt chước Hitler và Stalin. Những người đang chuẩn bị để đấu tranh chống lại những trận chiến kiểu những năm 1930 có thể bị một cuộc tấn công từ một hướng hoàn toàn khác làm cho bất ngờ.
Ngay cả khi nền dân chủ tìm được cách thích nghi và tồn tại, con người vẫn có thể trở thành “nạn nhân” của những dạng áp bức và phân biệt mới. Ngày nay, ngày càng nhiều ngân hàng, tập đoàn và tổ chức đã và đang sử dựng các thuật toán để phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định về chúng ta. Chẳng hạn, khi bạn nộp đơn xin vay tiền ngân hàng, rất có thể hồ sơ của bạn sẽ được một thuật toán xử lý thay vì một con người. Thuật toán phân tích rất nhiều dữ liệu về bạn và số liệu thống kê về hàng triệu người khác và quyết định liệu bạn có đủ độ tin cậy để nhận khoản vay không. Thường thì thuật toán làm tốt hơn một nhân viên ngân hàng. Nhưng vấn đề là việc thuật toán phân biệt đối xử bất công với một số người là rất khó nhận biết. Nếu ngân hàng từ chối cho bạn vay vốn và bạn hỏi: “Tại sao?” thì ngân hàng sẽ trả lời: “Thuật toán bảo không được”. Bạn hỏi tiếp: “Tại sao thuật toán nói không được? Tôi có gì không được?” thì ngân hàng đáp rằng: “Chúng tôi không biết. Chẳng người nào hiểu thuật toán này, vì nó dựa vào học máy cao cấp. Nhưng chúng tôi tin thuật toán của mình, thế nên chúng tôi sẽ không cho ông vay.”
Khi sự phân biệt đối xử hướng đến cả nhóm người, như phụ nữ hay người da đen, các nhóm này có thể tổ chức phản kháng sự phân biệt đối xử nhóm như vậy. Nhưng bấy giờ, một thuật toán có thể phân biệt đối xử với riêng bạn mà thôi và bạn sẽ không biết vì sao. Có thể thuật toán sẽ tìm thấy cái gì đó trong ADN của bạn, trong tiểu sử của bạn hay trong tài khoản Facebook của bạn mà nó không thích. Thuật toán phân biệt đối xử với bạn không phải vì bạn là phụ nữ hay là một người Mỹ gốc Phi mà vì bạn là bạn. Bạn không biết lý do chính xác; và ngay cả khi biết đi nữa, bạn cũng không thể tổ chức một cuộc phản đối cùng những người khác vì chẳng ai khác chịu sự thiên vị y hệt cả. Thay vì phân biệt đối xử nhóm, trong thế kỷ 21, chúng ta có thể đối mặt với một vấn đề ngày càng lớn là phân biệt đối xử mang tính cá nhân.
Ở những tầng cao nhất của quyền lực, chúng ta có lẽ sẽ vẫn giữ lại các lãnh đạo “hư danh” là con người, những người sẽ cho ta ảo tưởng rằng các thuật toán chỉ là những cố vấn và quyền lực tối thượng vẫn nằm trong tay con người. Chúng ta sẽ không chỉ định một AI làm thủ tướng Đức hay CEO của Google. Tuy nhiên, các quyết định do ngài thủ tướng và CEO đưa ra sẽ được AI định hình. Ngài thủ tướng có thể vẫn chọn giữa vài phương án khác nhau, nhưng tất cả các phương án đó sẽ là kết quả của phân tích Big Data và chúng sẽ phản ánh cách AI nhìn thế giới hơn là cách con người nhìn thế giới.
Để dẫn một ví dụ tương tự, chính trị gia ngày nay trên khắp thế giới có thể chọn giữa vài chính sách kinh tế khác nhau, nhưng trong hầu hết các trường hợp, những chính sách khác nhau được đưa ra đó phản ánh một cách nhìn mang tính tư bản về nền kinh tế. Các chính trị gia có ảo tưởng về sự lựa chọn, nhưng những quyết định thực sự quan trọng đã được các nhà kinh tế, chuyên gia ngân hàng và những doanh nhân, những người đã định hình các phương án khác nhau trên thực đơn, đưa ra từ rất lâu trước đó. Trong vài thập kỷ tới, các chính trị gia có thể thấy mình đang lựa chọn từ một thực đơn do AI viết nên.
THÔNG MINH NHÂN TẠO VÀ NGU DỐT TỰ NHIÊN
Có một mẩu tin tốt là ít nhất trong vài thập kỷ tới, chúng ta sẽ không phải giải quyết cơn ác mộng khoa học viễn tưởng đang phát triển mạnh, rằng AI đạt tới tầm có được ý thức và quyết định nô dịch hay quét sạch loài người. Chúng ta sẽ ngày càng dựa vào các thuật toán để đưa ra các quyết định cho mình, nhưng ít có khả năng các thuật toán sẽ bắt đầu điều khiển chúng ta một cách có ý thức. Chúng sẽ không có chút ý thức nào cả.
Khoa học giả tưởng có khuynh hướng nhầm lẫn trí thông minh với ý thức và cho rằng để bắt kịp hoặc vượt qua trí thông minh của con người, máy tính sẽ phải phát triển ý thức. Cốt truyện cơ bản của gần như mọi bộ phim và tiểu thuyết về AI xoay quanh cái giây phút kỳ diệu, khi một máy tính hay một robot có được ý thức. Một khi điều đó xảy ra, hoặc là nhân Vật chính con người đem lòng yêu robot, hoặc robot cố gắng giết sạch con người; thỉnh thoảng cả hai xảy ra cùng lúc.
Nhưng trên thực tế, không có lý do gì để cho rằng trí tuệ nhân tạo sẽ có được ý thức vì trí thông minh và ý thức là hai thứ rất khác nhau. Trí tuệ là khả năng giải quyết vấn đề. Ý thức là khả năng cảm nhận những thứ như đau, vui, yêu và giận. Chúng ta có xu hướng nhầm hai thứ với nhau vì ở con người và các loài có vú khác, trí tuệ đi đôi với ý thức. Các loài có vú giải quyết hầu hết các vấn đề bằng cách cảm nhận mọi thứ. Tuy nhiên, máy tính lại giải quyết các vấn đề theo một cách rất khác.
Có một số con đường khác nhau dẫn đến trí tuệ cao và chỉ vài con đường trong số đó bao gồm việc có được ý thức. Cũng như máy bay bay nhanh hơn chim mà không bao giờ cần mọc lông, máy tính có thể giải quyết vấn đề tốt hơn các loài có vú rất nhiều mà không bao giờ cần phát triển cảm giác. Đúng, AI sẽ phải phân tích các cảm giác của con người một cách chính xác để chữa bệnh cho họ, nhận dạng những kẻ khủng bố, gợi ý bạn đời và tìm đường đi lối lại trên một con phố đầy người đi bộ. Nhưng nó có thể làm vậy mà không cần bất cứ cảm xúc gì của riêng nó cả. Một thuật toán không cần cảm thấy vui, giận hay sợ hãi để nhận ra các dạng thức sinh hóa khác nhau của những con linh trưởng đang vui, đang giận hay đang sợ hãi.
Dĩ nhiên, không phải hoàn toàn không có khả năng AI sẽ phát triển các cảm giác của riêng nó. Chúng ta vẫn không biết đủ nhiều về ý thức để chắc chắn về điều đó. Nói chung, có ba khả năng ta cần cân nhắc:
Bằng cách nào đó, ý thức liên quan đến hóa sinh hữu cơ theo cách khiến việc tạo ra ý thức trong các hệ thống vô cơ là không thể.
Ý thức không liên quan gì với hóa sinh hữu cơ, nhưng nó liên quan đến trí thông minh theo một cách khiến máy tính có thể phát triển ý thức và máy tính sẽ phải phát triển ý thức nếu chúng vượt qua một ngưỡng trí tuệ nhất định.
Không có mối liên hệ thiết yếu giữa ý thức và hóa sinh hữu cơ hay trí tuệ cao. Do đó, máy tính có thể phát triển ý thức, nhưng không nhất thiết phải thế. Chúng có thể trở nên siêu thông minh trong khi vẫn không có chút ý thức nào.
Với hiểu biết hiện tại của chúng ta, chúng ta không thể loại trừ bất cứ phương án nào trên đấy. Tuy nhiên, chính vì chúng ta biết quá ít về ý thức nên khó có khả năng ta có thể lập trình được các máy tính có ý thức trong tương lai gần. Do đó, dù khả năng của trí tuệ nhân tạo là rất lớn, trong tương lai có thể dự đoán được, việc sử dụng chúng vẫn sẽ tiếp tục phụ thuộc vào ý thức con người ở mức độ nào đó.
Mối nguy nằm ở chỗ nếu chúng ta đầu tư quá nhiều vào phát triển AI và quá ít vào phát triển ý thức con người, trí tuệ nhân tạo rất phức tạp của máy tính có thể chỉ phục vụ việc trao quyền cho sự ngu dốt bẩm sinh của con người mà thôi. Chúng ta có ít khả năng phải đối mặt với một cuộc nổi dậy của robot trong các thập kỷ tới, nhưng rất có thể chúng ta phải đối mặt với các binh đoàn robot biết cách kích hoạt những cảm xúc mạnh mẽ của chúng ta giỏi hơn cả mẹ chứng ta, và chúng sẽ dùng khả năng kỳ lạ này để cố thuyết phục chúng ta về một cái gì đó: xe hơi, một chính trị gia hay cả một ý thức hệ. Những con robot này có thể nhận thấy những nỗi sợ hãi, căm ghét và thèm khát sâu xa nhất của con người và sử dụng những ảnh hưởng bên trong này để chống lại chúng ta. Chúng ta đã được “nếm mùi” trước một chút những điều này trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý gần đây khắp thế giới, khi các hacker học được cách thao túng từng cử tri riêng lẻ bằng cách phân tích các dữ liệu về họ và khai thác các định kiến vốn có của họ. Trong khi các bộ phim khoa học viễn tưởng ly kỳ bị cuốn vào những biến cố kịch tính đầy khói lửa thì trên thực tế, chúng ta đang đối mặt với một biến cố tầm thường chỉ bằng cách nhấp chuột.
Để tránh những kết quả như vậy, với mỗi đô la và mỗi phút chúng ta đầu tư vào phát triển trí tuệ nhân tạo, sẽ là khôn ngoan nếu ta cũng đầu tư một đô la và một phút vào phát triển ý thức con người. Đáng tiếc là tại thời điểm hiện tại, chúng ta đang không làm được gì nhiều trong nghiên cứu ý thức con người và những cách phát triển chúng. Chúng ta đang nghiên cứu và phát triển các khả năng của con người chủ yếu theo nhu cầu tức thời của hệ thống kinh tế và chính trị thay vì theo các nhu cầu dài hạn của chính chúng ta với tư cách là các cá thể có ý thức. Sếp tôi muốn tôi trả lời email càng nhanh càng tốt, nhưng ông ta chẳng mấy hứng thú với khả năng nếm và thưởng thức đồ ăn của tôi. Do đó, tôi kiểm tra email ngay cả trong bữa ăn, đồng nghĩa với việc tôi mất khả năng chú ý đến vị giác của chính mình. Nền kinh tế tạo áp lực khiến tôi mở rộng và đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình nhưng chẳng cho tôi chút động lực nào để mở rộng và đa dạng hóa lòng trắc ẩn cả. Thế nên tôi gắng sức tìm hiểu những bí ẩn của thị trường chứng khoán trong khi ít nỗ lực tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa của sự khổ đau hơn rất nhiều.
Trong chuyện này, con người rất giống các động vật đã được thuần dưỡng khác. Chúng ta đã lai tạo ra những con bò dễ bảo, sản xuất hàng tấn sữa nhưng ngoài khía cạnh đó ra thì chúng hết sức kém cỏi so với tổ tiên hoang dã của chúng. Chúng kém nhanh nhẹn, kém tò mò và kém xoay xở trong các tình huống hơn. Giờ chúng ta đang tạo ra những con người dễ sai bảo, sản xuất hàng tấn dữ liệu và hoạt động như những con chip hết sức hiệu quả trong một guồng máy xử lý dữ liệu khổng lồ, nhưng những con bò-dữ liệu này khó mà tối đa hóa tiềm năng của con người. Thực sự là chúng ta không hề biết tiềm năng tối đa của con người là gì vì chúng ta biết quá ít về tâm trí con người. Thế nhưng chúng ta không đầu tư nhiều vào việc khám phá tâm trí con người; thay vào đó, ta tập trung vào tăng tốc độ kết nối Internet và tính hiệu quả của các thuật toán Big Data. Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ trở thành những con người hạ cấp sử dụng sai những máy tính cao cấp để tàn phá bản thân và thế giới.
Những nền độc tài số không phải là hiểm họa duy nhất chờ đợi chúng ta. Cùng với tự do, trật tự tự do cũng có niềm tin cực lớn vào giá trị của bình đẳng. Chủ nghĩa tự do luôn luôn tôn thờ bình đẳng chính trị và nó đã dần nhận ra bình đẳng kinh tế cũng quan trọng không kém. Vì nếu không có một tấm lưới bảo hộ an sinh xã hội và một chút bình đẳng kinh tế, tự do là vô nghĩa. Nhưng ngay khi các thuật toán Big Data dập tắt tự do, chúng có thể đồng thời tạo ra những xã hội bất bình đẳng nhất từng tồn tại. Tất cả của cải và quyền lực sẽ tập trung vào tay một nhóm tinh hoa cực nhỏ trong khi hầu hết mọi người sẽ hứng chịu không phải sự bóc lột mà là một thứ khác tồi tệ hơn rất nhiều: sự vô dụng.
Bài học 4 - Bình đẳng
AI NẮM DỮ LIỆU, NGƯỜI ĐÓ NẮM TƯƠNG LAI
Trong vài thập kỷ trở lại đây, con người khắp nơi trên thế giới bảo nhau rằng nhân loại đang trên đường đến bình đẳng, rằng toàn cầu hóa và các công nghệ mới sẽ giúp chúng ta đến đó sớm hơn. Trên thực tế, thế kỷ 21 có thể sẽ tạo ra những xã hội bất bình đẳng nhất trong lịch sử. Mặc dù toàn cầu hóa và Intemet đã nối liền khoảng cách giữa các quốc gia, chúng lại đe dọa nới rộng hổ sâu ngăn cách giữa các tầng lớp. Và đúng lúc nhân loại có vẻ như sắp đạt đến sự hợp nhất toàn cầu thì bản thân giống loài chúng ta lại có thể chia thành các đẳng cấp sinh học khác nhau.
Bất bình đẳng có từ tận thời Đồ Đá. Ba mươi nghìn năm trước, các nhóm săn bắt-hái lượm, đã chôn cất một số thành viên trong những khu mộ xa hoa ngập đầy hàng ngàn chuỗi hạt ngà voi, vòng tay, trang sức và đồ trang trí, trong khi các thành viên khác phải an phận trong mỗi một cái hố trống không. Tuy nhiên, các nhóm săn bắt-hái lượm cổ đại vẫn bình đẳng hơn bắt kỳ xã hội loài người nào sau đó bởi họ có rất ít tài sản. Tài sản là tiền đề cho sự bất bình đẳng lâu dài.
Tiếp sau Cách mạng Nông nghiệp, của cải sinh sôi và cùng với nó là bất bình đẳng. Khi con người sở hữu đất đai, vật nuôi, cây trồng và công cụ, các xã hội phân cấp cứng nhắc xuất hiện, trong đó các nhóm tinh hoa nhỏ nắm độc quyền hầu hết của cải và quyền lực từ thế hệ này đến thế hệ khác. Con người tiến tới chấp nhận sự sắp đặt này như một cái gì đó tự nhiên và thậm chí là thiên định. Sự phân cấp không chỉ là chuẩn mực mà còn là lý tưởng. Làm sao có trật tự nếu không có một sự phân cấp rõ rệt giữa quý tộc và thường dân, giữa đàn ông và đàn bà hoặc giữa bố mẹ và con cái? Tăng lữ, triết gia và thi nhân khắp thế giới kiên trì giải thích rằng cũng như không phải mọi bộ phận trong cơ thể người đều bình đẳng, như chân phải tuân lệnh cái đầu, bình đẳng trong xã hội con người sẽ chẳng mang lại gì ngoài bất ổn.
Tuy nhiên, vào cuối thời hiện đại, bình đẳng trở thành một lý tưởng trong hầu hết mọi xã hội loài người. Điều này một phần có được do sự trỗi dậy của các ý thức hệ mới là chủ nghĩa toàn trị và chủ nghĩa tự do. Nhưng nó cũng do cuộc Cách mạng Công nghiệp, thứ khiến quần chúng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Các nền kinh tế công nghiệp phụ thuộc vào quần chúng là những người lao động bình thường, trong khi quân đội thời đại công nghiệp phụ thuộc vào lực lượng đông đảo các binh lính thường dân. Các chính phủ ở cả những nền dân chủ lẫn những nền độc tài đều đầu tư mạnh vào sức khỏe, giáo dục và phúc lợi của quần chúng vì họ cần hàng triệu người lao động khỏe mạnh để vận hành các dây chuyền sản xuất và hàng triệu binh lính trung thành để chiến đấu nơi chiến hào.
Do đó, lịch sử của thế kỷ 20 phần lớn xoay quanh việc giảm bất bình đẳng giữa các tầng lớp, chủng tộc và giới tính. Thế giới năm 2000 vẫn có những phân tầng nhất định nhưng nó vẫn bình đẳng hơn thế giới năm 1900 rất nhiều. Trong những năm đầu thế kỷ 21, con người đã hy vọng rằng tiến trình bình đẳng hóa sẽ tiếp diễn và thậm chí là tăng tốc. Đặc biệt, họ đã hy vọng rằng toàn cầu hóa sẽ lan tỏa thịnh vượng kinh tế trên khắp thế giới và kết quả là con người ở Ấn Độ và Ai Cập sẽ dần được hưởng những cơ hội và đặc quyền giống như con người ở Phần Lan và Canada. Cả một thế hệ đã lớn lên cùng với lời hứa đó.
Đến giờ, có vẻ như lời hứa này sẽ không được thực thi. Toàn cầu hóa hẳn đã đem lại lợi ích cho phần đông nhân loại, nhưng có các dấu hiệu của bất bình đẳng ngày càng tăng giữa và trong các xã hội. Một số nhóm ngày càng giữ độc quyền thành quả của toàn cầu hóa trong khi hàng tỷ người bị bỏ lại phía sau. Ngày nay, 1% những người giàu nhất sở hữu một nửa của cải của thế giới. Đáng báo động hơn, 100 người giàu nhất cùng nhau sở hừu nhiều của cải hơn bốn tỷ người nghèo nhất.
Tình hình có thể tệ hơn rất nhiều. Như đã giải thích ở các chương trước, sự trỗi dậy của AI có thể xóa bỏ giá trị kinh tế và quyền lực chính trị của hầu hết loài người. Cùng lúc đó, những tiến bộ trong công nghệ sinh học có thể biến các bất công về kinh tế thành bất công về sinh học trở nên khả dĩ. Giới siêu giàu cuối cùng sẽ có cái gì đó xứng đáng để làm với khối tài sản kếch sù của họ. Trong khi cho đến nay, họ mới chỉ có thể mua những biểu tượng địa vị thì chẳng mấy chốc, họ có thể mua được chính sự sống. Nếu các liệu pháp mới để kéo dài sự sống và nâng lên các năng lực thể chất cũng như nhận thức hóa ra là đắt đỏ, thì nhân loại có thể phân chia thành các tầng lớp sinh học.
Trong lịch sử, người giàu và giới quý tộc luôn tưởng tượng mình có những kỹ năng ưu việt hơn tất cả những người khác, đấy là lý do vì sao họ nắm quyền. Như những gì chúng ta biết, điều này không đúng. Gã hầu tước tầm tầm chẳng tài cán gì hơn người nông dân bình thường cả, hắn có được sự ưu việt của mình chỉ nhờ phân biệt đối xử bất công trong pháp luật và kinh tế. Tuy nhiên, đến năm 2100, người giàu có thể thật sự tài năng hơn, sáng tạo hơn và thông minh hơn những người sống ở khu ổ chuột Một khi một hố ngăn năng lực thật sự mở ra giữa người giàu và người nghèo, việc lấp nó Lại sẽ gần như bất khả. Nếu người giàu sử dụng các khả năng ưu việt của mình để làm họ ngày càng giàu hơn, và nếu nhiều tiền hơn có thể mua cho họ những cơ thể và bộ não được nâng cấp, thì theo thời gian, hố ngăn đó sẽ chỉ rộng ra mà thôi. Đến năm 2100, 1% những người giàu nhất có thể không chỉ sở hữu phần lớn của cải của nhân loại mà cả phần lớn sắc đẹp, sự sáng tạo và sức khỏe của thế giới.
Do đó, hai tiến trình song song, công nghệ sinh học cùng sự trỗi dậy của AI, có thể dẫn đến sự phân chia loài người thành một tầng lớp nhỏ gồm các siêu nhân và một tầng lớp dưới khổng lồ gồm những Homo sapiens vô dụng. Và để khiến một tình thế vốn đã nguy hiểm trở nên tồi tệ hơn, khi đại chúng mất đi tầm quan trọng về kinh tế và quyền lực chính trị, nhà nước sẽ mất ít nhất là một chút động lực đầu tư vào sức khỏe, giáo dục và phúc lợi cho họ. Vô dụng là cực kỳ nguy hiểm. Khi ấy, tương lai của đại chúng sẽ phụ thuộc vào lòng tốt của một giới tinh hoa cực nhỏ. Có thể lòng tốt sẽ hiện hữu trong vài thập kỷ. Nhưng trong giai đoạn khủng hoảng, như thảm họa khí hậu chẳng hạn, thì việc thảy đám người thừa xuống biển sẽ trở nên rất cám dỗ và dễ dàng.
Ở các nước có truyền thống lâu đời về các niềm tin tự do và thực hành xã hội phúc lợi như Pháp và New Zealand, có lẽ tầng lớp tinh hoa sẽ tiếp tục chăm lo cho quần chúng ngay cả khi họ không cần đến tầng lớp ấy nữa. Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ, nơi chủ nghĩa tư bản sâu sắc hơn, tầng lớp tinh hoa sẽ tận dụng cơ hội đầu tiên để dỡ bỏ những gì còn sót lại của nhà nước phúc lợi Mỹ. Một vấn đề còn lớn hơn nữa sẽ rình rập các nước đang phát triển lớn như Ân Độ, Trung Quốc, Nam Phi và Brazil. Ở đó, một khi những người bình thường mất giá trị kinh tế, bất bình đẳng có thể sẽ tăng vọt.
Do đó, thay vì toàn cầu hóa đưa đến hợp nhất toàn cầu, nó có thể sẽ mang lại sự phân hóa loài: sự phân tách nhân loại thành các tầng lớp sinh học khác nhau hay thậm chí là các loài khác nhau. Toàn cầu hóa sẽ hợp nhất thế giới theo phương ngang bằng cách xóa bỏ các ranh giới quốc gia, nhưng cùng lúc đó, nó sẽ phân chia loài người theo chiều dọc. Những tập đoàn chính trị cầm đầu ở các quốc gia đa dạng như kiểu Hoa Kỳ có thể sẽ sáp nhập và chung sức chống lại đại đa số người bình thường. Từ góc độ này mà nói, sự căm ghét kiểu dân túy hiện tại đối với “giới tinh hoa” là rất có cơ sở. Nếu không cẩn thận con cháu của những tài phiệt Thung lũng Silicon và tỷ phú Nga có thể trở thành một giống loài riêng biệt, thượng đẳng hơn con cháu của những người sống ở vùng đồi núi Appalachia và dân làng Siberia.
Về lâu dài, một viễn cảnh như vậy thậm chí có thể hóa giải toàn cầu hóa thế giới do các giai tầng phía trên tập hợp bên trong một “nền văn minh” tự xưng và xây tường, hào ngăn cách khỏi “lũ man di” bên ngoài. Trong thế kỷ 20, nền văn minh công nghiệp phụ thuộc vào “lũ man di” để có lao động giá rẻ, nguyên liệu thô và thị trường; thường là nó chinh phục rồi “hấp thu” chúng. Nhưng trong thế kỷ 21, một nền văn minh hậu công nghiệp phụ thuộc vào AI, công nghệ sinh học và công nghệ nano có thể sẽ tự túc và bền vững hơn nhiều. Không chỉ các giai cấp mà các quốc gia và các lục địa cũng có thể trở nên vô dụng. Các pháo đài được máy bay không người lái và robot canh giữ có thể phân tách các vùng văn minh tự xưng, nơi người-máy đánh nhau bằng bom logic, với những vùng đất man dã, nơi loài người hoang dã đánh nhau bằng rìu và AK-47.
Xuyên suốt cuốn sách này, tôi thường dùng ngôi thứ nhất số nhiều để nói về tương lai của nhân loại. Tôi nói về những gì “chúng ta” cần làm với các vấn đề của “chúng ta”. Nhưng có lẽ sẽ không có “chúng ta” nào cả. Có lẽ một trong những vấn đề lớn nhất của chúng ta là các nhóm người khác nhau sẽ có những tương lai hoàn toàn khác nhau. Có lẽ ở một số nơi trên thế giới, bạn nên dạy con bạn viết mã máy tính, trong khi ở một số nơi khác, bạn nên dạy chúng rút súng thật nhanh và bắn thật thẳng.
AI SỞ HỮU DỮ LIỆU?
Nếu chúng ta muốn ngăn chặn sự tập trung toàn bộ của cải và quyền lực trong tay một nhóm tinh hoa nhỏ, chìa khóa là phải điều phối quyền sở hữu dữ liệu. Vào thời cổ đại, đất đai là tài sản quan trọng nhất trên thế giới, chính trị là một cuộc tranh giành để kiểm soát đất đai và nếu quá nhiều đất đai tập trung vào quá ít người, xã hội phân tách thành tầng lớp quý tộc và tầng lớp bình dân. Trong thời hiện đại, máy móc và nhà xưởng trở nên quan trọng hơn đất đai và các cuộc đấu tranh chính trị tập trung vào kiểm soát những phương tiện sản xuất tối quan trọng này. Nếu quá nhiều máy móc tập trung vào tay quá ít người, xã hội phân chia thành giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Tuy nhiên, trong thế kỷ 21, dữ liệu sẽ lấn át tầm quan trọng của cả đất đai và máy móc, trở thành tài sản quan trọng nhất; chính trị sẽ là một cuộc đấu hòng kiểm soát dòng chảy dữ liệu. Nếu dữ liệu tập trung vào một nhóm nhỏ, loài người sẽ phân chia thành các loài khác nhau.
Cuộc đua giành dữ liệu đã diễn ra, đứng đầu là các tập đoàn dữ liệu khổng lồ như Google, Facebook, Baidu và Tencent. Cho đến nay, phần lơn những người khổng lồ này đã áp dụng mô hình kinh doanh “kẻ buôn sự chú ý”. Họ nắm lấy sự chú ý của chúng ta bằng cách cung cấp cho chúng ta các thông tin, dịch vụ và giải trí miễn phí, rồi họ bán lại sự chú ý của chúng ta cho những nhà quảng cáo. Thế nhưng những người khổng lồ thông tin này có lẽ đang nhắm tới mục tiêu cao hơn bất kỳ kẻ buôn sự chú ý nào trước đó. Cuộc kinh doanh thật sự của họ không phải là để bán quảng cáo đâu. Sự thật là bằng cách nắm lấy sự chú ý của chúng ta, họ đã thu thập được một lượng thông tin khổng lồ về chúng ta, thứ giá trị hơn bất kỳ doanh thu quảng cáp nào. Chúng ta không phải là khách hàng của họ, chúng ta là sản phẩm của họ.
Về trung hạn, việc tích lũy dữ liệu này mở ra một con đường dẫn đến một mô hình kinh doanh hoàn toàn khác biệt mà các nạn nhân đầu tiên chính là ngành công nghiệp quảng cáo. Mô hình mới dựa vào việc chuyển quyền hạn từ con người sang các thuật toán, bao gồm quyền lựa chọn và mua sắm. Một khi các thuật toán lựa chọn và mua sắm cho chúng ta, ngành quảng cáo truyền thống sẽ sụp đổ. Thử lấy Google làm ví dụ. Google muốn đạt đến điểm là chúng ta có thể hỏi nó bất cứ thứ gì và có được câu trả lời tốt nhất trên thế giới. Điều gì sẽ xảy ra khi ta có thể nói với Google: “Chào Google. Dựa trên tất cả những gì bạn biết về xe hơi, và dựa trên tất cả những gì bạn biết về tôi (bao gồm nhu cầu, thói quen, quan điểm của tôi về sự nóng lên toàn cầu, cả ý kiến của tôi về chính trị Trung Đông nữa), đâu là chiếc xe tốt nhất dành cho tôi?” Nếu Google có thể đưa cho ta một câu trả lời tốt cho câu hỏi đó, và nếu chúng ta học được bằng kinh nghiệm là nên tin vào trí khôn của Google hơn là các cảm giác dễ bị thao túng của chính mình, thì những quảng cáo xe hơi còn dùng làm gì nữa?
Về dài hạn hơn, bằng cách gom đủ dữ liệu và đủ khả năng tính toán, các tập đoàn dữ liệu khổng lồ có thể bẻ khóa những bí mật sâu kín của sự sống rồi sử dụng kiến thức này không chỉ để lựa chọn cho chúng ta hay điều khiển chúng ta, mà còn để tái thiết kế sự sống hữu cơ và tạo ra các dạng sống vô cơ nữa. Bán quảng cáo có thể là cần thiết để duy trì những người khổng lề trong ngắn hạn, nhưng các công ty công nghệ thường định giá các ứng dụng, sản phẩm và các công ty khác theo lượng dữ liệu mà chúng “thu hoạch” được chứ không phải số tiền mà chúng làm ra. Một ứng dụng được ưa thích có thể thiếu mô hình kinh doanh và thậm chí lỗ trong ngắn hạn, nhưng miễn là nó hút được dữ liệu thì nó có thể đáng giá hàng tỷ đô. Ngay cả khi bạn không biết làm thế nào để dữ liệu làm ra tiền ngày hôm nay, vẫn đáng để sở hữu dữ liệu bởi nó có thể nắm chìa khóa dẫn đến kiểm soát và định hình cuộc sống trong tương lai. Tôi không biết chắc những gã khổng lồ thông tin có thực sự nghĩ về dữ liệu theo cách đó, nhưng hành động của họ cho thấy họ xem việc tích lũy dữ liệu có giá trị vượt xa những đồng đô la thuần túy.
Những người bình thường sẽ thấy rất khó cưỡng lại quá trình này. Hiện tại, con người đang vui vẻ cho đi tài sản giá trị nhất của họ, dữ liệu cá nhân, để đổi lấy dịch vụ thư điện tử miễn phí và các video hài hước về mèo. Điều này hơi giống những bộ lạc châu Phi và thổ dân châu Mỹ khờ khạo bán cả đất nước cho những đế quốc châu Âu để đổi lấy những hạt cườm lòe loẹt và mớ trang sức rẻ tiền. Nếu sau này người bình thường quyết định thử ngăn dòng chảy dữ liệu, họ sẽ thấy việc đó càng lúc càng khó khăn, đặc biệt là khi họ đã lệ thuộc vào mạng lưới để ra tất cả quyết định của mình, thậm chí cho chăm sóc sức khỏe và sự sinh tồn vật lý của họ nữa.
Con người và máy móc có thể hợp nhất với nhau trọn vẹn đến mức con người sẽ không thể sống sót nếu bị ngắt mạng. Hai bên sẽ kết nối với nhau từ trong bào thai và nếu sau đó bạn chọn ngắt kết nối, các hãng bảo hiểm có thể từ chối bảo hiểm cho bạn, các nhà tuyển dụng từ chối tuyển bạn và các dịch vụ y tế sẽ từ chối chăm sóc bạn. Trong cuộc chiến lớn giữa sức khỏe và quyền riêng tư, sức khỏe chắc chắn sẽ thắng tuyệt đối.
Khi ngày càng nhiều dữ liệu chảy từ cơ thể và não bộ của bạn qua các cảm biến sinh trắc sang các cỗ máy thông minh, các tập đoàn và tổ chức chính phủ sẽ ngày càng dễ dàng hiểu bạn, điều khiển bạn và ra quyết định thay cho bạn. Quan trọng hơn, họ có thể giải mã những cơ chế sâu bên trong mọi cơ thể và bộ não, từ đó đạt được quyền năng tái thiết kế sự sống. Nếu ta muốn ngăn chặn một nhóm tinh hoa nhỏ khỏi độc chiếm những quyền năng như Thượng đế như vậy, và nếu ta muốn ngăn loài người phân tách thành các giai tầng sinh học khác nhau, câu hỏi mấu chốt là: ai sở hữu dữ liệu? Liệu các dữ liệu về ADN, bộ não và cuộc sống của tôi thuộc về tôi, về chính phủ, về một tập đoàn hay thuộc về toàn thể nhân loại?
Yêu cầu các chính phủ quốc hữu hóa dữ liệu có lẽ sẽ giảm bớt quyền lực của các tập đoàn lớn, nhưng nó có thể dẫn đến các nền độc tài số đáng sợ. Các chính trị gia hơi giống các nhạc công và nhạc cụ mà họ chơi là hệ thống cảm xúc và sinh hóa của con người. Họ đọc một bài diễn văn và một làn sóng e sợ dâng lên trong nước. Họ đăng một dòng tweet và một cuộc hận thù bùng nổ. Tôi không nghĩ chúng ta nên đưa cho những nhạc công này chơi một nhạc cụ phức tạp hơn. Một khi các chính trị gia có thể trực tiếp kích thích các cảm xúc mạnh mẽ của chúng ta, tạo ra tùy ý nỗi lo lắng, thù ghét, niềm vui và sự nhàm chán thì chính trị sẽ trở thành một “rạp xiếc” cảm xúc đơn thuần. Chúng ta lo sợ quyền lực của các tập đoàn lớn bao nhiêu thì lịch sử cũng gọi ý là chúng không chắc sẽ khá khẩm hơn dưới tay các chính phủ quá quyền lực. Sau vụ tháng Ba năm 2018, tôi vẫn thà đưa dữ liệu của mình cho Mark Zuckerberg còn hơn cho Vladimir Putin (mặc dù vụ bê bối Cambridge Analytica tiết lộ rằng có lẽ chẳng có sự lựa chọn gì ở đây vì bất cứ dữ liệu nào được giao phó cho Zuckerberg vẫn có thể dễ dàng tìm đường tới Putin).
Việc sở hữu cá nhân các dữ liệu của bản thân nghe có vẻ hấp dẫn hơn các lựa chọn kia, nhưng điều đó thật sự có nghĩa là gì thì lại không rõ ràng. Chúng ta đã có hàng ngàn năm kinh nghiệm về kiểm soát sở hữu đất đai. Chúng ta biết cách xây hàng rào xung quanh một cánh đồng, đặt lính gác ở cửa và kiểm soát ai đi vào. Trong hai thế kỷ vừa qua, chúng ta đã trở nên cực kỳ thành thạo trong việc kiểm soát sở hữu công nghiệp; do đó, ngày nay tôi có thể sở hữu một phần General Motors và một ít Toyota bằng cách mua cổ phiếu của họ. Nhưng chúng ta không có nhiều kinh nghiệm trong việc kiểm soát sở hữu dữ liệu; nó vốn là một nhiệm vụ khó hơn rất nhiều vì không như đất đai và máy móc, dữ liệu có ở khắp nơi và cùng lúc chẳng có ở đâu cả, nó có thể di chuyển với tốc độ ánh sáng và bạn có thể tạo bao nhiêu bản sao cũng được.
Thế nên ta nên kêu gọi luật sư, chính trị gia, triết gia và ngay cả các nhà thơ hướng sự chú ý của họ về câu hỏi hóc búa này: làm thế nào kiểm soát được sở hữu dữ liệu? Đây có thể là câu hỏi chính trị quan trọng nhất trong kỷ nguyên chúng ta. Nếu ta không thể sớm trả lời câu hỏi này, hệ thống chính trị xã hội của chúng ta có thể sụp đổ. Con người đang cảm nhận được cơn địa chấn đang đến. Có lẽ đây là lý do vì sao công dân ở khắp nơi trên thế giới đang dần mất niềm tin vào câu chuyện tự do mà mới một thập kỷ trước còn tỏ ra không thể cưỡng lại.
Thế thì từ đây, ta có thể đi tiếp như thế nào và làm sao chúng ta đối mặt được với những thử thách kinh khủng của cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sinh học? Có lẽ chính những nhà khoa học và doanh nhân đã làm thế giới chia cắt từ đầu có thể nghĩ ra một giải pháp kỹ thuật nào đó. Chẳng hạn, liệu các thuật toán được kết nối có thể bắc giàn cho một cộng đồng người toàn cầu sẽ sở hữu tập thể toàn bộ dữ liệu và giám sát sự phát triển tương lai của sự sống không? Khi bất bình đẳng toàn cầu dâng cao và các căng thẳng xã hội gia tăng khắp thế giới, có lẽ Mark Zuckerberg sẽ kêu gọi hai tỷ bạn bè của mình sát cánh và cùng nhau làm gì đó.
Phần 2 - Thách thức chính trị
Sự hợp nhất của công nghệ thông tin và công nghệ sinh học đe dọa những giá trị hiện đại cốt lõi của tự do và bình đẳng. Bất cứ giải pháp nào cho thử thách công nghệ này đều phải bao gồm hợp tác toàn cầu. Nhưng chủ nghĩa dãn tộc, tôn giáo và văn hóa chia cắt con người thành những phe phái thù nghịch và khiến việc hợp tác trên quy mô toàn cầu trở nên rất khó khăn.
Bài học 5 - Cộng đồng
CON NGƯỜI THÌ CÓ THÂN THỂ
California đã quen với động đất, nhưng cơn địa chấn chính trị của cuộc bầu cử Mỹ năm 2016 vẫn là một cú sốc ghê gớm đối với Thung lũng Silicon. Nhận ra mình có lẽ là một phần của vấn đề, các phù thủy thiên tài về máy tính đã phản ứng bằng cách làm những gì các kỹ sư làm giỏi nhất: tìm kiếm một giải pháp kỹ thuật. Không đâu phản ứng lại dữ dội hơn ở trụ sở của Facebook tại Menlo Park. Điều này là dễ hiểu. Vì hoạt động kinh doanh của Facebook là mạng xã hội nên nó nhạy với các biến động xã hội hơn cả.
Sau ba tháng “tự vấn lương tâm”, vào ngày 16 tháng Hai năm 2017, Mark Zuckerberg đã công bố một tuyên ngôn táo bạo về sự cần thiết phải xây dựng một cộng đồng toàn cầu và vai trò của Facebook trong dự án đó. Trong một bài diễn văn tiếp sau đó, mở đầu Hội nghị thượng đỉnh các cộng đồng vào ngày 22 tháng Sáu năm 2017, Zuckerberg giải thích rằng các biến động xã hội-chính trị trong thời đại của chúng ta, từ nạn sử dụng ma túy tràn lan đến các thể chế độc đoán, kết quả sự mất kết nối của các cộng đồng trên quy mô lớn. Anh than vãn rằng “trong nhiều thập kỷ, số hội viên trong tất cả các dạng hội nhóm đã giảm đến một phần tư. Như vậy là rất nhiều người đang cần tìm kiếm cảm nhận về mục đích và nâng đỡ từ một nơi nào đó khác.” Anh ta hứa hẹn rằng Facebook sẽ dẫn đầu cuộc tiến công hòng Xây dựng lại những cộng đồng này và các kỹ sư của anh ta sẽ gánh vác gánh nặng đã bị các mục sư xứ đạo bỏ lại. Zuckerberg nói: “Chúng tôi sẽ bắt đầu đưa ra vài công cụ để việc xây dựng các cộng đồng trở nên dễ dàng hơn.”
Anh ta cũng giải thích thêm: “Chúng tôi đã khởi động một dự án để xem có thể đạt được những tiến bộ trong việc gọi ý các hội nhóm có ý nghĩa đối với các bạn không. Chúng tôi đã bắt đầu xây dựng trí tuệ nhân tạo để làm việc này. Và nó đang có tác dụng. Trong sáu tháng đầu, chúng tôi đã giúp thêm 50% các thành viên gia nhập các cộng đồng cố ý nghĩa”. Mục tiêu cuối cùng của anh ta là “giúp 1 tỷ người gia nhập những cộng đồng có ý nghĩa… Nếu chúng tôi có thể làm việc này, điều đó sẽ không chỉ đảo ngược hoàn toàn sự sụt giảm số lượng hội viên cộng đồng mà chúng ta đã chứng kiến nhiều thập kỷ nay mà nó sẽ bắt đầu thắt chặt kết cấu xã hội và đưa thế giới lại gần nhau hơn.” Mục tiêu này quan trọng đến mức Zuckerberg nguyện “sẽ thay đổi toàn bộ sứ mệnh của Facebook để đạt được điều này.”
Zuckerberg chắc chắn đúng khi than vãn về sự đổ vỡ của các cộng đồng. Thế nhưng vài tháng sau khi Zuckerberg trịnh trọng đưa ra lời tuyên bố của mình, đúng lúc cuốn sách này chuẩn bị in, thì vụ bê bối Cambridge Analytica hé lộ việc các dữ liệu được tin cậy trao cho Facebook đã bị các bên thứ ba thu thập và sử dụng để thao túng các cuộc bầu cử ở khắp nơi trên thế giới. Điều này đã biến những lời hứa hẹn cao siêu của Zuckerberg thành trò hề và làm lòng tin của công chứng vào Facebook vỡ vụn. Ta chỉ có thể hy vọng rằng trước khi xắn tay xây dựng các cộng đồng người mới, Facebook đầu tiên phải tự cam kết bảo vệ quyền riêng tư và an ninh của các cộng đồng đã có sẵn.
Tuy nhiên, ta cũng nên xem xét tầm nhìn mang tính cộng đồng của Facebook một cách kỹ càng và nghiên cứu xem một khi an ninh đã được thắt chặt hơn thì các mạng xã hội trực tuyến cố thể giúp xây dựng một cộng đồng người toàn cầu không. Trong thế kỷ 21, con người có thể được nâng cấp thành các vị thần; nhưng vào năm 2018, chúng ta vẫn chỉ là những động vật thời Đồ Đá. Để phát triển, ta vẫn cần gắn mình vào các cộng đồng mật thiết. Suốt hàng triệu năm, loài người đã thích nghi với việc sống thành các nhóm nhỏ không quá vài tá người. Ngay cả ngày nay, phần lớn chúng ta vẫn thấy khó thực sự hiểu hết về quá 150 cá thể, cho dù ta có huênh hoang về số bạn bè trên Facebook. Và nếu không là thành viên của bất kỳ cộng đồng mật thiết nào, con người cảm thấy cô đơn và xa lạ.
Không may là trong hai thế kỷ gần đây, các cộng đồng mật thiết đang dần tan rã. Nỗ lực thay thế các nhóm nhỏ gồm những người thật sự quen thân với nhau bằng các cộng đồng tưởng tượng gồm những quốc gia và đảng phái chính trị sẽ không bao giờ thành công trọn vẹn. Hàng triệu anh chị em trong gia đình-quốc gia và hàng triệu thành viên trong đảng phái không thể mang lại cho bạn sự thân thuộc ấm áp mà một người anh chị em ruột hay một người bạn có thể mang lại. Do đó, con người đang sống những cuộc đời ngày càng cô đơn trong một hành tinh ngày một thêm tính kết nối. Nhiều đứt gãy xã hội và chính trị của thời đại chúng ta có thể truy nguyên từ tình trạng này.
Do đó, tầm nhìn của Zuckerberg về việc tái kết nối con người với nhau là cao quý và đúng thời điểm. Nhưng lời nói thường rẻ hơn hành động, và để đưa tầm nhìn này vào hiện thực, Facebook có thể sẽ phải thay đổi toàn bộ mô hình kinh doanh của mình. Bạn khó lòng xây dựng một cộng đồng toàn cầu khi bạn kiếm tiền từ việc nắm lấy sự chú ý của người khác và bán chúng cho những nhà quảng cáo. Dầu vậy, chỉ sự sốt sắng của Zuckerberg khi đưa ra một tầm nhìn như vậy thôi cũng đã đáng khen ngợi. Hầu hết các tập đoàn tin rằng họ nên tập trung vào kiếm tiền, các chính phủ nên can thiệp càng ít càng tốt và nhân loại nên tin rằng các động lực thị trường sẽ đưa ra các quyết định thực sự quan trọng thay cho chúng ta. Do đó, nếu Facebook định đưa ra một cam kết mang ý nghĩa ý thức hệ thực sự nhằm xây dựng các cộng đồng thì những người đang run sợ quyền lực của nó không nên đẩy nó về cái kén tập đoàn của nó bằng những lời gào thét “Anh Cả!”. Thay vào đó, ta nên hối thúc các tập đoàn, tổ chức và chính phủ khác thách thức Facebook bằng cách đưa ra các cam kết mang ý nghĩa ý thức hệ của riêng mình.
Dĩ nhiên, không thiếu các tổ chức than vãn về sự đổ vỡ của các cộng đồng và cố công xây dựng lại chúng. Mọi người, từ các nhà hoạt động nữ quyền đến những kẻ Hồi giáo chính tông, đều hoạt động trong lĩnh vực xây-dựng-cộng-đồng và chúng ta sẽ nghiên cứu một số nỗ lực của họ trong các chương sau. Điều khiến bước khởi đầu của Facebook trở nên độc đáo chính là phạm vi toàn cầu của nó, sự chống lưng mang tính tập đoàn của nó và niềm tin sâu sắc của nó vào công nghệ. Zuckerberg nói rất thuyết phục rằng AI mới của Facebook không chỉ có thể nhận dạng “các cộng đồng có ý nghĩa” mà còn có thể “thắt chặt kết cấu xã hội và đưa thế giới lại gần nhau hơn”. Điều này tham vọng hơn nhiều so với việc dùng AI để lái một chiếc xe hay chẩn đoán ung thư.
Tầm nhìn cộng đồng của Facebook có lẽ là nỗ lực rõ ràng đầu tiên hòng sử dụng AI cho công cuộc kiến thiết xã hội được hoạch định một cách tập trung trên phạm vi toàn cầu. Do đó nó là một ca sát hạch cực kỳ quan trọng. Nếu nó thành công, nhiều khả năng là chúng ta sẽ chứng kiến nhiều nỗ lực như thế nữa và các thuật toán sẽ được công nhận là những chủ nhân mới của các mạng lưới xã hội con người. Nếu nó thất bại, nó sẽ hé lộ các giới hạn của những công nghệ mới: các thuật toán có thể dùng cho việc lái xe và chữa bệnh, nhưng khi nói đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, chúng ta vẫn nên dựa vào các chính trị gia và mục sư.
TRỰC TUYẾN VỚI NGOẠI TUYẾN
TRONG NHỮNG năm trở lại đây, Facebook đã đạt những thành công đáng kinh ngạc và hiện có hơn 2 tỷ người dùng đang hoạt động. Thế nhưng để hiện thực hóa tầm nhìn mới của mình, nó sẽ phải bắc nhịp cầu nối giữa trực tuyến và ngoại tuyến. Một cộng đồng có thể bắt đầu như một cuộc tụ tập trực tuyến; nhưng để thực sự đơm hoa kết trái, nó sẽ phải cắm rễ trong thế giới ngoại tuyến nữa. Nếu một ngày nọ, ai đó cấm Facebook ở đất nước mình hay rút hết dây cắm kết nối Internet, các cộng đồng sẽ tan biến hay sẽ tập hợp lại và đáp trả? Họ có thể tổ chức một cuộc biểu tình mà không cần trao đổi trực tuyến không?
Zuckerberg giải thích trong tuyên ngôn tháng Hai năm 2017 rằng các cộng đồng trực tuyến giúp nuôi dưỡng các cộng đồng ngoại tuyến. Điều này thi thoảng đúng. Nhưng trong nhiều trường hợp, trực tuyến hiện hữu với cái giá phải trả là đánh mất ngoại tuyến và có một sự khác biệt căn bản giữa hai hình thức này. Cộng đồng thực thể có một độ sâu sắc mà cộng đồng ảo không thể sánh kịp, ít nhất là trong tương lai gần. Nếu tôi nằm trên giường bệnh ở Israel, những người bạn mạng của tôi từ Califomia có thể nói chuyện với tôi nhưng họ không thể mang cho tôi xúp hay một cốc trà.
Con người thì có thân thể. Trong một thế kỷ vừa qua, công nghệ đã tạo khoảng cách giữa chúng ta với cơ thể của chính mình. Chúng ta đã và đang mất dần khả năng chú ý đến những gì mình ngửi và nếm. Thay vào đó, ta mải mê chìm vào điện thoại thông minh và máy tính. Ta hứng thú với những gì xảy ra trong không gian mạng hơn những gì xảy ra dưới phố. Nói chuyện với anh họ của tôi ở Thụy Sĩ thậm chí còn dễ hơn bao giờ hết, nhưng nói chuyện với chồng tôi trong bữa sáng thì lại khó hơn vì anh liên tục nhìn điện thoại thay vì nhìn tôi.
Trong quá khứ, con người không được phép bất cẩn như vậy. Những người hái lượm cổ đại lúc nào cũng tỉnh táo và tình ý. Lang thang trong rừng tìm nấm, họ chăm chú nhìn mặt đất để kiếm những chỗ bị đội lên báo hiệu có nấm. Họ lắng nghe những tiếng động nhỏ nhất trong đám cỏ để xem liệu có con rắn nào nấp ở đó hay không. Khi tìm thấy một cây nấm ăn được, họ quan sát hết sức chăm chú để phân biệt nó với đám họ hàng có độc. Các thành viên của những xã hội giàu có ngày nay không cần cảnh giác đến mức đó. Chúng ta có thể lang thang giữa các quầy hàng siêu thị trong khi tay bấm tin nhắn và có thể mua bất cứ loại nào trong hàng ngàn món ăn, mọi thứ đã được các cơ quan chăm sóc sức khỏe giám sát. Nhưng dù chọn gì đi nữa, rốt cuộc ta cũng sẽ ăn vội uống vàng trước một cái màn hình, kiểm tra thư điện tử hoặc xem TV trong khi chẳng mấy chú ý đến mùi vị thực sự của nó.
Zuckerberg nói Facebook cam kết “tiếp tục cải thiện các công cụ cho chúng tôi để cho bạn sức mạnh chia sẻ trải nghiệm của mình” với người khác. Nhưng có khi điều con người thục sự cần là công cụ để kết nối với trải nghiệm của chính họ. Với danh nghĩa “chia sẻ trải nghiệm”, con người được khuyến khích hiểu những gì đang xảy ra với mình theo cách người khác nhìn nhận chúng. Nếu có việc gì hứng khởi xảy ra, bản năng của người dùng Facebook là lôi điện thoại ra, bấm chụp ảnh, dăng lên mạng và đợi các lượt “thích”. Trong quá trình đó, họ gần như không để ý xem bản thân cảm thấy thế nào. Quả thực, các phản ứng trên mạng đang ngày càng quyết định những gì họ cảm thấy.
Những người xa rời co thể, giác quan và môi trường vật lý quanh mình nhiều khả năng sẽ thấy ngày càng lạc lõng và mầt phương hướng. Các nhà bình luận thường cho rằng sự sa sút cua các kết nối tôn giáo và dân tộc là thủ phạm gây ra nhừng cảm xúc xa cách đó, nhưng mất kết nối với cơ thể của bạn có lẽ còn đóng vai trò quan trọng hơn. Con người đã sống hàng triệu năm không có tôn giáo hay dân tộc; có lẽ họ có thể sống hạnh phúc không có hai thứ đó trong thế kỷ 21. Nhưng họ không thể sống hạnh phúc nếu họ bị mất kết nối với cơ thể mình. Nếu bạn thấy xa lạ trong chính cơ thể của bạn, bạn sẽ không bao giờ thấy thoải mái trong thế giới này.
Cho đến bây giờ, mô hình kinh doanh của chính Facebook luôn khuyến khích con người dành nhiều thời gian hơn nữa ở trên mạng dù điều đó có nghĩa sẽ có ít thời gian và năng lượng cho các hoạt động ngoài đời thực hơn. Liệu nó có thể áp dụng một mô hình mới khuyến khích con người chỉ lên mạng khi thật sự cần thiết và chú ý hơn tới môi trường vật lý, cho cơ thể cũng như các giác quan của chính họ? Các cổ đông của Facebook sẽ nghĩ gì về mô hình này? (Một phác thảo của mô hình thay thế như vậy đã được Tristan Harris, một cựu nhân viên Google và một triết gia công nghệ, đưa ra; anh cũng đã nghĩ ra một thước đo mới có tên gọi “thời gian được sử dụng tốt”.)
Những hạn chế của các mối quan hệ trực tuyến cũng làm xói mòn giải pháp đối với sự phân cực xã hội của Zuckerberg. Anh ta đã đúng khi chỉ ra rằng chỉ kết nối con người và cho họ tiếp xúc với các ý kiến khác nhau sẽ không thu hẹp khoảng cách xã hội vì “cho người ta xem một bài báo từ góc nhìn đối lập thật ra sẽ chỉ làm sâu thêm sự phân cực xã hội bằng cách đóng khung các góc nhìn khác đó là ngoại lai”. Thay vào đó, Zuckerberg gọi ý rằng “các giải pháp tốt nhất nhằm cải thiện giao tiếp có thể đến từ việc nhìn nhận nhau nhữ những con người toàn diện chứ không chỉ là các ý kiến, một điều mà Facebook đặc biệt phù hợp để làm. Nếu chúng ta kết nối với người khác dựa trên những điểm chung giữa chúng ta, như các đội bóng, các chương trình truyền hình, sở thích, việc đối thoại về những bất đồng sẽ dễ dàng hơn.”
Thế nhưng, việc nhìn nhận nhau như những con người “toàn diện” là cực kỳ khó. Nó đòi hỏi nhiều thời gian và cần tương tác vật lý trực tiếp. Như đã nói ở trên, một Homo sapiens trung bình có lẽ không có khả năng biết tường tận quá 150 người. Lý tưởng thì việc xây dựng các cộng đồng không cần là một cuộc chơi được mất ngang nhau. Con người có thể cảm thấy trung thành với nhiều nhóm cùng lúc. Không may là các mối quan hệ thân mật lại có thể là một cuộc chơi như thế. Quá một ngưỡng nhất định, thời gian và năng lượng bạn bỏ ra để tìm hiểu những người bạn trực tuyến đến từ Iran hay Nigeria sẽ phải trả giá bằng khả năng hiểu về những người hàng xóm kế bên.
Bài sát hạch quan trọng của Facebook sẽ xuất hiện khi các kỹ sư phát minh ra một công cụ mới khiến con người dành ít thời gian mua sắm các thứ trên mạng và nhiều thời gian cho các hoạt động ngoài đời có ý nghĩa với bạn bè hơn. Facebook sẽ áp dụng hay ỉm đi một công cụ như vậy? Facebook liệu có thực hiện cú nhảy để đời thực sự và đặt các mối quan tâm xã hội lên trên lợi ích tài chính? Nếu nó làm được như vậy, và xoay xở tránh phá sản, đó sẽ là một cuộc chuyển đổi quan trọng.
Dành nhiều sự chú ý cho thế giới thực hơn các bản báo cáo hằng quý cũng tác động lên các chính sách thuế của Facebook. Như Amazon, Google, Apple và vài người khổng lồ công nghệ khác, Facebook liên tục bị cáo buộc trốn thuế. Những khó khấn vốn có trong việc đánh thuế các hoạt động trực tuyến khiến các tập đoàn toàn cầu này dễ dàng tham gia vào đủ kiểu kế toán đa dạng. Nếu bạn nghĩ con người sống chủ yếu trên mạng và bạn cung cấp cho họ đủ các công cụ cần thiết cho sự tồn tại trực tuyến của họ thì bạn có thể tự xem mình là một dịch vụ xã hội sinh lợi ngay cả khi bạn né đóng thuế cho các chính phủ ngoại tuyến. Nhưng một khi bạn nhớ rằng con người thì có thân thể, do đó họ vẫn cần đường sá, bệnh viện và các hệ thống thoát nước, hành vi trốn thuế sẽ khó biện minh hơn rất nhiều. Làm sao bạn có thể ca tụng các giá trị cộng đồng khi từ chối hỗ trợ tài chính cho những dịch vụ cộng đồng quan trọng nhất?
Chúng ta đủ có thể hy vọng là Facebook có thể thay đổi mô hình kinh doanh của nó, áp dụng một chính sách thuế thân thiện hơn với đời thực, giúp hợp nhất thế giới mà vẫn có lãi. Nhưng chúng ta không nên nuôi dưỡng các hy vọng hão huyền về khả năng hiện thực hóa tầm nhìn cộng đồng toàn cầu của Facebook. Trong lịch sử, các tập đoàn chưa bao giờ là phương tiện lý tưởng trong việc dẫn dắt các cuộc cách mạng xã hội và chính trị. Một cuộc cách mạng thực thụ sớm muộn gì cũng đòi hỏi những hy sinh mà các tập đoàn, nhân viên và cổ đông của họ không sẵn lòng đáp ứng. Đấy là lý do các phong trào cách mạng xây dựng các nhà thờ, các đảng phái chính trị và quân đội. Những cái mà ta gọi là cách mạng Facebook và Twitter ở thế giới Ả Rập đã bắt đầu từ các cộng đồng trực tuyến đầy hứa hẹn; nhưng một khi nổi lên trong thế giới ngoại tuyến hỗn độn, chúng đều bị những kẻ cuồng tín và nhóm đảo chính trong quân đội trưng dụng. Nếu bây giờ Facebook hướng tới khởi xướng một cuộc cách mạng toàn cầu, nó sẽ cần thu hẹp khoảng cách giữa trực tuyến và ngoại tuyến tốt hơn nữa. Nó và các người khổng lồ trực tuyến khác thưởng xem con người như những động vật nghe-nhìn, một đôi mắt và một đôi tai nối với mười ngón tay, một cái màn hình và một thẻ tín dụng. Một bước đi tối quan trọng hướng tới hợp nhất nhân loại là phải trân trọng việc con người thì có thân thể.
Dĩ nhiên, nhận thức này cũng có mặt bất lợi. Nhận thấy những hạn chế của các thuật toán trực tuyến có thể chỉ khuyến khích các người khổng lồ công nghệ vươn tầm với của họ xa hơn. Các công cụ như Google Glass và các trò chơi như Pokemon Go được thiết kế để xóa nhòa phân biệt giữa trực tuyến và ngoại tuyến, hợp nhất chúng thành một công nghệ tương tác thực tế duy nhất. Ở một cấp độ còn sâu xa hơn, các cảm ứng sinh trắc và giao diện trực tiếp não-máy cũng hướng đến xóa nhòa ranh giới giữa máy điện tử và cơ thể hữu cơ, chui sâu vào bên trong chúng ta theo đúng nghĩa đen. Một khi các nhà khổng lồ công nghệ hiểu được cơ thể con người, rốt cuộc họ có thể điều khiển toàn bộ cơ thế chúng ta giống cái cách mà họ hiện đang điều khiển mắt, ngón tay và thẻ tín dụng của chúng ta vậy. Chúng ta có khi sẽ nhớ những ngày tươi đẹp cũ, khi ngoại tuyến còn tách biệt với trực tuyến.
Bài học 6 - Văn minh
CHỈ CÓ MỘT NỀN VĂN MINH TRÊN THẾ GIỚI
Trong khi Mark Zuckerberg mơ ước hợp nhất nhân loại trên mạng thì các sự kiện gần đây trong thế giới ngoài mạng có vẻ đang thổi một luồng sinh khí mới vào luận điểm “cuộc đụng độ của các nền văn minh”. Nhiều nhà bình luận, chính khách lẫn thường dân tin rằng cuộc nội chiến Syria, sự nổi dậy của Nhà nước Hồi giáo, cuộc hỗn loạn Brexit và sự bất ổn của Liên minh châu Âu đều xuất phát từ một cuộc đụng độ giữa “văn minh phương Tây” và “văn minh Hồi giáo”. Người ta tin rằng những nỗ lực áp đặt dân chủ và nhân quyền lên các nước Hồi giáo của phương Tây dẫn đến một cuộc phản ứng dữ dội của thế giới; và một làn sóng Hồi giáo di cư đi kèm với các cuộc tấn công khủng bố Hồi giáo khiến các cử tri châu Âu từ bỏ những giấc mộng đa văn hóa để đi theo các bản sắc địa phương bài ngoại.
Theo luận điểm này, loài người vốn luôn được chia thành các nền văn minh đa dạng, trong đó các thành viên nhìn nhận thế giới theo những cách không thể hài hòa với nhau. Các thế giới quan trái ngược này khiến mâu thuẫn giữa các nền văn minh là không tránh khỏi. Cũng như trong tự nhiên, các loài khác nhau đấu tranh sinh tồn theo quy luật chọn lọc tự nhiên khắc nghiệt, xuyên suốt lịch sử, các nền văn minh liên tục đụng độ và chỉ nền văn minh phù hợp nhất mới tồn tại để kể lại câu chuyện. Những ai bỏ qua sự thật đen tối này, dù là các chính trị gia tự do hay các kỹ sư đầu trên mây, đều là liều mạng.
Luận điểm “cuộc đụng độ của các nền văn minh” này có những ngụ ý chính trị mang tầm ảnh hưởng lớn. Những người ủng hộ nó cho rằng bất cứ nỗ lực nào nhằm hòa giải “phương Tây” và “thế giới Hồi giáo” đều nhất định thất bại. Các quốc gia Hồi giáo sẽ không bao giờ áp dụng các giá trị phương Tây và các nước phương Tây sẽ không bao giờ sáp nhập thành công các cộng đồng thiểu số người Hồi. Theo đó, Mỹ không nên cho phép người nhập cư từ Syria hay Iraq, Liên minh châu Âu nên từ bỏ ảo tưởng đa văn hóa để ủng hộ một bản sắc phương Tây tự chủ. Về lâu dài, chỉ một nền văn minh có thể sống sót sau những bài kiểm tra nghiệt ngã của chọn lọc tự nhiên; nếu giới chức ở Brussels từ chối cứu phương Tây khỏi hiểm họa Hồi giáo thì Anh, Đan Mạch hay Pháp nên tự thân vận động.
Dù được công nhận rộng rãi, luận điểm này có nhiều điểm sai lạc. Chủ nghĩa Hồi giáo chính tông quả thực có thể là một thử thách căn bản, nhưng nền “văn minh” mà nó thách thức là một nền văn minh toàn cầu chứ không phải là một hiện tượng chỉ có ở phương Tây. Và ngay cả những kẻ Hồi giáo chính tông, với tất cả những ảo tưởng trung cổ của chúng, vẫn bám rễ trong văn hóa toàn cầu đương đại sâu chắc hơn nhiều so với Ả Rập thế kỷ thứ 7. Chúng nuôi dưỡng nỗi sợ hãi và hy vọng của giới trẻ hiện đại đang thấy mình lạc lõng nhiều hơn là những cảm giác đó của nông dân và thương nhân trung cổ. Đúng như Pankaj Mishra và Christopher de Bellaigue đã nói một cách thuyết phục, những kẻ theo chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan bị ảnh hưởng bởi Foucault cũng nhiều như Muhammad, và chúng kế thừa di sản của những người theo chủ nghĩa vô chính phủ châu Âu thế kỷ 19 sâu sắc như từ các kha-líp Umayyah và Abbasid. Do đó sẽ chính xác hơn khi coi chính Nhà nước Hồi giáo như một nhánh lỗi của một nền văn hóa toàn cầu mà chúng ta cùng chia sẻ hơn là một nhánh của một loài cây xa lạ, bí hiểm nào đó.
Quan trọng hơn, phép loại suy giữa lịch sử và sinh học vốn là cốt lõi của luận điểm “cuộc đụng độ của các nền văn minh” là sai lầm. Các nhóm người, từ các bộ lạc nhỏ đến các nền văn minh khổng lồ, về cơ bản là khác các loài động vật khác và các mâu thuẫn lịch sử rất khác các quá trình chọn lọc tự nhiên. Các loài động vật có những nhận dạng khách quan được duy trì trên hàng ngàn thế hệ. Bạn là một con tinh tinh hay khỉ đột phụ thuộc vào gien chứ không phải niềm tin của bạn và các gien khác nhau quy định các hành vi xã hội hoàn toàn khác biệt. Tinh tinh sống trong các nhóm hỗn hợp đực và cái. Chúng cạnh tranh quyền lực bằng cách xây dựng các liên minh gồm những con ủng hộ cả đực và cái. Trái lại, với khỉ đột, một con đực đầu đàn duy nhất thiết lập một hậu cung gồm các con khỉ cái và thường đuổi cổ bất cứ con đực trưởng thành nào có thể thách thức vị trí của nó. Tinh tinh không thể áp dụng kiểu sắp xếp xã hội giống khỉ đột và khỉ đột không thể tổ chức bầy đàn giống tinh tinh; theo như những gì chúng ta được biết thì chính các hệ thống xã hội đó đã đặc trưng cho tinh tinh và khỉ đột không chỉ trong vài thập kỷ gần đây mà suốt hàng trăm nghìn năm nay.
Chúng ta không hề thấy điều đó ở con người. Đúng, các nhóm người có thể có các hệ thống xã hội khác biệt nhưng chúng không được quy định trong di truyền và hiếm khi duy trì quá vài thế kỷ. Hãy nghĩ về những người Đức thế kỷ 20 mà xem. Trong chưa đầy một trăm năm, người Đức đã tự tổ chức thành sáu hệ thống xã hội khác nhau: Đế chế Hohenzollern, nền Cộng hòa Weimar, Đệ tam quốc xã, Cộng hòa dân chủ Đức (hay còn gọi là Đông Đức), Cộng hòa liên bang Đức (hay Tây Đức) và cuối cùng là nước Đức dân chủ tái thống nhất. Dĩ nhiên, người Đức vẫn giữ ngôn ngữ và tình yêu của mình dành cho bia và xúc xích. Nhưng liệu có tính chất Đức độc đáo nào phân biệt họ với các quốc gia khác và được duy trì không thay đổi từ Wilhelm II đến Angela Merkel không? Và nếu bạn tìm được một thứ gì đó, liệu nó có hiện hữu ở đó từ 1,000 hay 5.000 năm trước?
Phần mở đầu của Hiến pháp chung châu Âu (chưa được phê chuẩn) bắt đầu bằng việc tuyên bố rằng nó lấy cảm hứng từ “di sản văn hóa, tôn giáo và nhân văn của châu Âu, cội nguồn đã phát triển nên các giá trị toàn cầu của những quyền không thể xâm phạm và không thể tách rời của con người là dân chủ, công bằng, tự do và luật pháp.” Điều này có thể dễ dàng cho người ta ấn tượng là văn minh châu Âu được định nghĩa bởi các giá trị nhân quyền, dân chủ, công bằng và tự do. Vô số bài phát biểu và tư liệu đã vạch ra đường nối trực tiếp giữa nền dân chủ Athens cổ đại với Liên minh châu Âu ngày nay, tôn vinh 2.500 năm tự do và dân chủ của châu Âu. Điều này gợi cho ta nhớ tới gã mù sờ voi trong truyện ngụ ngôn nọ: anh ta nắm lấy đuôi con voi và kết luận con voi giống một cái chổi. Đúng, các tư tưởng dân chủ từng là một phần của văn hóa châu Âu trong nhiều thế kỷ, nhưng nó chưa bao giờ là tất cả. Với tất cả sự vinh quang và tác động của nó, nền dân chủ Athens chỉ là một thí nghiệm miễn cưỡng tồn tại vỏn vẹn 200 năm trong một góc nhỏ xứ Balkan. Nếu văn minh châu Âu trong hai mươi lăm thế kỷ qua được định nghĩa bởi dân chủ và nhân quyền thì ta phải nghĩ gì về Sparta và Julius Caesar, về những đoàn Thập tự chinh và những người Tây Ban Nha đi xâm chiếm Mexico và Peru vào thế kỷ 16, về Tòa án dị giáo và buôn bán nô lệ, về Louis XIV và Napoleon? Phải chăng họ đều là những kẻ xâm lược đến từ một nền văn minh ngoại lai nào đó?
Trên thực tế, văn minh châu Âu là bất cứ thứ gì mà người dân châu Âu nghĩ về nó, cũng như Cơ Đốc giáo là bất cứ thứ gì mà người Cơ Đốc nghĩ, Hồi giáo là bất cứ thứ gì mà người Hồi nghĩ, và Do Thái giáo là bất cứ thứ gì mà người Do Thái nghĩ. Và họ đã nghĩ về chúng hết sức khác nhau trong nhiều thế kỷ qua. Các nhóm người được định rõ bởi những thay đổi mà họ đã trải qua hơn là bất cứ sự tiếp nối nào, nhưng dù sao họ vẫn tìm cách tạo cho mình các bản sắc cổ xưa nhờ các kỹ năng kể chuyện. Dù trải qua bao dâu bể cách mạng, họ vẫn thường có thể dệt cái cũ cũng như cái mới vào một mối dây duy nhất.
Ngay cả một cá nhân cũng có thể dệt các đổi thay cá nhân mang tính cách mạng vào một câu chuyện cuộc đời mạnh mẽ và nhất quán: “Tôi là người đã từng theo chủ nghĩa xã hội, nhưng rồi tôi trở thành một nhà tư bản; tôi được sinh ra ở Pháp và giờ tôi sống ở Mỹ; tôi từng lập gia đình, rồi tôi ly dị; tôi bị ung thư, rồi tôi khỏe lại.” Tương tự, một nhóm người như người Đức cũng có thể tự định rõ mình bằng mọi thay đổi họ đã kinh qua: “Chúng tôi từng là phát xít, nhưng rồi chúng tôi học được bài học của mình và giờ chúng tôi là những người dân chủ yêu hòa bình.” Bạn không cần phải tìm một tinh chất Đức độc đáo nào đó khởi phát ở Wilhelm II, rồi ở Hitler và cuối cùng là ở Merkel. Các chuyển biến có tính căn bản này chính là điều làm nên bản sắc Đức. Là một người Đức năm 2018 nghĩa là phải vật lộn với di sản khó khăn của chủ nghĩa phát xít trong khi gìn giữ các giá trị tự do và dân chủ. Ai mà biết được đến năm 2050 thì người Đức nghĩa là gì.
Con người thường trốn tránh nhận ra các thay đổi này, đặc biệt là khi nói đến các giá trị chính trị và tôn giáo cốt lõi. Chúng ta khăng khăng rằng các giá trị của mình là một di sản quý báu từ tổ tiên xa xưa. Thế nhưng thứ duy nhất cho phép ta nói điều đó là tổ tiên ta đã chết hết cả rồi và không thể tự bào chữa cho họ nữa. Chẳng hạn, hãy xem xét thái độ của người Do Thái đối với phụ nữ. Ngày nay, những người Do Thái siêu-Chính thống cấm hình ảnh phụ nữ trong không gian công cộng. Các biển hiệu và quảng cáo nhắm tới những người Do Thái siêu-Chính thống chỉ mô tả đàn ông và bé trai, không bao giờ có phụ nữ và bé gái.
Vào năm 2011, một vụ xì-căng-đan nổ ra khi tờ báo siêu-Chính thống tại Brooklyn là Di Tzeitung đăng ảnh các quan chức Mỹ đang theo dõi vụ tấn công vào hang ổ của Osama bin-Laden nhưng đã can thiệp số để xóa tất cả những người phụ nữ, bao gồm Ngoại trưởng Hillary Clinton. Tờ báo giải thích buộc phải làm vậy bởi “luật khiêm nhường” của người Do Thái. Một xì-căng-đan tương tự nổ ra khi tờ HaMevaser xóa Angela Merkel khỏi một bức ảnh chụp cuộc biểu tình phản đối vụ thảm sát Charlie Hebdo, phòng khi hình ảnh của bà gọi lên những ý nghĩ dục vọng trong tâm trí của các độc giả sùng đạo. Nhà xuất bản của tờ báo siêu chính thống thứ ba, tờ Hamodia, bảo vệ chính sách này bằng cách giải thích rằng “Chúng tôi được hàng nghìn năm truyền thống Do Thái ủng hộ.”
Không ở đâu mà lệnh cấm nhìn thấy phụ nữ lại nghiêm khắc hơn trong nhà thờ Do Thái. Trong các nhà thờ chính thống, phụ nữ bị tách khỏi nam giới và phải đi lại hạn chế trong một khu vực cấm, nơi họ bị giấu sau một bức màn để không người đàn ông nào tình cờ nhìn thấy bóng dáng phụ nữ khi đang cầu nguyện hay đọc kinh. Thế nhưng, nếu tất cả những điều này được hàng nghìn năm truyền thống Do Thái và các luật lệ thiêng bất biến ủng hộ thì giải thích thế nào khi các nhà khảo cổ phát lộ các thánh đường cổ xưa ở Israel từ thời xuất hiện kinh Mishnah và Talmud, họ không thấy dấu hiệu nào của phân tách giới; thay vào đó, họ phát hiện những mặt sàn ghép mảnh theo lối mosaic và tranh tường tuyệt đẹp về phụ nữ, một số còn ăn mặc khá hở hang? Những thầy tu Do Thái viết các quyển kinh Mishnah và Talmud thường xuyên cầu nguyện và nghiên cứu trong các thánh đường này, nhưng những người Do Thái Chính thống ngày nay sẽ xem đó là những sự mạo phạm truyền thống cổ xưa hết sức báng bổ.
Những sự bóp méo các truyền thống cổ xưa tương tự như vậy có ở mọi tôn giáo, Nhà nước Hồi giáo khoe khoang rằng mình đã khôi phục phiên bản thuần khiết, gốc rễ của đạo Hồi, nhưng trên thực tế, phiên bản đó là hoàn toàn mới. Đúng, chúng trích dẫn nhiều văn bản đáng tôn kính, nhưng chúng tùy tiện lựa chọn văn bản nào thì trích dẫn, văn bản nào thì lờ đi và diễn dịch chúng như thế nào. Quả thực, bản thân thái độ tự-thân-vận-động của chúng khi diễn dịch thánh kinh là rất hiện đại. Theo truyền thống, diễn dịch thánh kinh là độc quyền của những ulama học vấn uyên thâm, các học giả nghiên cứu luật và thần học của đạo Hồi trong các tổ chức uy tín như Al-Azhar ở Cairo. Có rất ít lãnh đạo Nhà nước Hồi giáo có những khả năng như thế, và ulama được tôn kính nhất đã xem Abu Bakr al-Baghdadi và đám tay sai của hắn là những tên tội phạm ngu xuẩn.
Điều đó không có nghĩa Nhà nước Hồi giáo là “phi Hồi giáo” hay “chống Hồi giáo” như một vài người đã nói. Việc các nhà lãnh đạo theo Cơ Đốc giáo như Barack Obama dám cả gan nói với các tín đồ Hồi giáo tự xung như Abu Bakr al-Baghdadi phải như thế nào mới là người Hồi giáo là một việc đặc biệt mỉa mai. Cuộc tranh luận sôi nổi về bản chất thực sự của đạo Hồi đơn giản là vô nghĩa. Đạo Hồi không có một ADN cố định nào. Đạo Hồi là bất cứ thứ gì mà tín đồ đạo Hồi nghĩ.
NGƯỜI ĐỨC VÀ NHỮNG CON KHỈ ĐỘT
Còn một điểm khác biệt sâu sắc hơn nữa giữa các nhóm người và các loài động vật. Các loài động vật thường tách ra nhưng không bao giờ hợp lại. Khoảng bảy triệu năm trước, tinh tinh và khỉ đột có tổ tiên chung. Chính loài tổ tiên duy nhất này đã tách thành hai quần thể, cuối cùng đã đi theo hai con đường tiến hóa riêng. Một khi việc này xảy ra thì không có đường quay lại. Các cá thể thuộc những loài khác nhau không thể sinh ra các hậu duệ có khả năng sinh sản nên các loài không bao giờ hợp nhất được. Khỉ đột không thể hợp nhất với tinh tinh, hươu cao cổ không thể hợp nhất với voi, và chó không thể hợp nhất với mèo.
Các bộ tộc người, trái lại, có xu hướng hợp nhất theo thời gian để thành các nhóm ngày càng lớn. Người Đức hiện đại được tạo ra từ sự hợp nhất các nhóm người Saxon, Phổ, Schwaben và Bavaria, những tộc người trước đây không lâu vốn không ưa gì nhau. Otto von Bismarck (sau khi đọc cuốn Bàn về nguồn gốc các loài của Darwin) được cho là đã phát biểu rằng người Bavaria là mắt xích còn thiếu giữa người Áo và con người. Người Pháp được tạo ra từ sự hợp nhất các nhóm người Frank, Norman, Breton, Gascon và Provencal. Trong khi đó, ở bên kia eo biển Manche, người Anh, Scotland, Wales và Ireland dần được hòa hợp (dù muốn hay không) để tạo thành người của Vương quốc Anh. Trong tương lai không xa, người Đức, Pháp và Vương quốc Anh có thể lại hợp nhất tạo thành người châu Âu.
Các cuộc hợp nhất không phải lúc nào cũng lâu bền, như những gì người dân ở London, Edinburgh và Brussels biết rất rõ trong những ngày gần đây. Brexit có thể châm ngòi cho sự tan rã đồng thời của Vương quốc Anh lẫn Liên minh châu Âu. Nhưng về lâu dài, hướng đi của lịch sử là rất rõ ràng. Mười nghìn năm trước, nhân loại phân chia thành vô số bộ tộc cô lập. Cứ sau mỗi thiên niên kỷ, các bộ tộc này lại hợp nhất thành các nhóm ngày càng lớn hơn, tạo ra ngày càng ít nền văn minh khác biệt hơn. Trong các thế hệ gần đây, những nền văn minh ít ỏi còn lại đã dần hòa thành một nền văn minh toàn cầu duy nhất. Các chia rẽ chính trị, dân tộc, văn hóa và kinh tế vẫn duy trì, nhưng chúng không xóa nhòa sự hợp nhất căn bản. Thực sự là một số chia rẽ chỉ có thể tồn tại nhờ một cấu trúc chung bao trùm. Chẳng hạn như trong kinh tế, sự phân chia lao động không thể thành công trừ phi mọi người cùng chung nhau một thị trường duy nhất. Một đất nước không thể chuyên về sản xuất xe ô tô hay dầu mỏ trừ phi nó có thể mua lương thực từ các nước khác trồng lúa mì và gạo.
Quá trình hợp nhất hóa con người mang hai dạng thức khác biệt: thiết lập các mắt xích giữa các nhóm riêng biệt và đồng hóa hoạt động giữa các nhóm. Các mắt xích có thể hình thành ngay giữa các nhóm tiếp tục hành xử rất khác nhau. Thật sự là các mắt xích có thể hình thành ngay giữa các kẻ thù không đội chung trời. Bản thân chiến tranh có thể tạo ra một số các mắt xích bền vững nhất của loài người. Các nhà sử học thường tranh luận rằng toàn cầu hóa đạt đỉnh đầu tiên vào năm 1913 rồi đi vào một cuộc suy thoái dài trong thời kỳ hai cuộc thế chiến và Chiến tranh Lạnh, rồi chỉ bắt đầu trở lại sau năm 1989. Điều này có thể đúng với toàn cầu hóa về kinh tế, nhưng nó phớt lờ chiều kích khác quan trọng chẳng kém là toàn cầu hóa về quân sự. Chiến tranh lan truyền ý tưởng, công nghệ và con người nhanh hơn thương mại rất nhiều. Năm 1918, Hoa Kỳ liên kết với châu Âu chặt chẽ hơn năm 1913, rồi cả hai dần tách rời nhau trong các năm giữa hai cuộc chiến chỉ để gắn số phận của chúng lại với nhau không thể tách rời nhờ Thế chiến thứ hai và Chiến tranh Lạnh.
Chiến tranh cũng khiến con người quan tâm tới nhau hơn nhiều. Hoa Kỳ chưa bao giờ quan hệ mật thiết với Nga hơn thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi mà mỗi tiếng ho ở một hành lang Moscow lại khiến người ta rầm rập lên xuống các cầu thang Washington. Người ta quan tâm đến đối phương của mình hơn nhiều các đối tác thương mại. Cứ mỗi một bộ phim Mỹ về Đài Loan lại có khoảng 50 phim nói về Việt Nam.
THẾ VẬN HỘI TRUNG CỔ
Thế giới đầu thế kỷ 21 đã vượt rất xa việc hình thành các mắt xích giữa những nhóm khác nhau. Con người ở khắp địa cầu không chỉ kết nối với nhau mà còn ngày càng chia sẻ các niềm tin và hành động giống nhau. Một ngàn năm trước, hành tinh Trái đất là mảnh đất màu mỡ của hàng tá các mô hình chính trị khác nhau. Ở châu Âu, bạn có thể thấy các lãnh chúa phong kiến cạnh tranh với các thành bang độc lập và những nền chính trị thần quyền bé xíu. Thế giới Hồi giáo có các kha-líp xưng bá chủ toàn cầu nhưng vẫn có các vương quốc, vua (sultan) và tiểu vương. Các vương triều Trung Hoa tin họ là thực thể chính trị chính thống duy nhất, trong khi về phía bắc và phía tây, các liên minh bộ tộc vui vẻ gây chiến với nhau. Ấn Độ và Đông Nam Á có vô vàn các thể chế, trong khi châu Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương trải từ các bộ lạc săn bắt-hái lượm nhỏ xíu cho tới các đế chế mênh mông. Chẳng trách mà ngay cả các nhóm người hàng xóm láng giềng với nhau cũng có vấn đề trong việc thống nhất các thủ tục xã giao chung, nói gì đến luật pháp quốc tế. Mỗi xã hội có mô hình chính trị riêng và khó mà hiểu hay tôn trọng các khái niệm chính trị ngoại lai.
Ngày nay, trái lại, một hệ chính trị duy nhất được chấp nhận ở mọi nơi. Hành tinh này được chia thành 200 quốc gia độc lập, nhìn chung đều đồng thuận về các quy tắc ngoại giao giống nhau và các luật quốc tế chung. Thụy Điển, Nigeria, Thái Lan và Brazil đều được đánh dấu trên bản đồ là những hình dạng rực rỡ cùng loại; họ đều là thành viên của Liên hiệp Quốc; và dù có vô vàn khác biệt, họ vẫn được công nhận là các quốc gia có chủ quyền được hưởng các quyền và đặc quyền giống nhau. Quả thực, họ có chung nhiều ý tưởng và hoạt động chính trị hơn là khác biệt, bao gồm ít nhất là một niềm tin được biểu hiện qua các cơ quan đại diện, đảng phái chính trị, quyền bầu cử phổ quát và nhân quyền. Có các nghị viên ở Tehran, Moscow, Cape Town và New Delhi cũng như ở London và Paris. Khi người Israel và người Palestine, người Nga và người Ukraine, người Kurd và người Turk tranh giành sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, họ đều sử dụng cùng một lập luận về nhân quyền, chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế.
Thế giới có thể rải rác đây đó đủ kiểu “nhà nước thất bại” nhưng chỉ có một mô hình duy nhất cho một nhà nước thành công. Chính trị toàn cầu do đó tuân theo quy tắc Anna Karenina: các nhà nước thành công đều giống nhau, nhưng mỗi nhà nước thất bại lại thất bại theo cách riêng của nó bằng việc thiếu đi một “nguyên liệu” nào đó trong “gói chính trị” chủ chốt. Nhà nước Hồi giáo gần đây nổi bật bởi nó hoàn toàn, khước từ gói này và nỗ lực thiết lập một nền chính trị hoàn toàn khác biệt: một kha-líp toàn cầu. Nhưng chính vì lý do này, nó đã thất bại. Vô số lực lượng du kích và các tổ chức khủng bố đã xoay xở thiết lập nên các quốc gia mới hoặc chiếm các quốc gia sẵn có. Nhưng chúng luôn làm như thế bằng cách chấp nhận các nguyên tắc cơ bản của trật tự chính trị toàn cầu. Ngay cả Taliban cũng tìm kiếm sự công nhận quốc tế như là chính quyền chính danh của đất nước có chủ quyền Afghanistan. Cho đến nay, không một nhóm nào phủ nhận các quy tắc chính trị toàn cầu, lại có được bất cứ sự kiểm soát lâu dài tại bất cứ vùng lãnh thổ đáng kể nào.
Có lẽ, sức mạnh của hệ hình chính trị toàn cầu có thể được hiểu rõ nhất bằng cách xem xét không phải những câu hỏi chính trị cốt lõi về chiến tranh và ngoại giao mà một thứ như Thế vận hội Rio năm 2016. Hãy dành một phút để nghĩ về cách thế vận hội này được tổ chức. Mười một nghìn vận động viên được chia thành các đoàn theo quốc tịch chứ không phải tôn giáo, giai cấp hay ngôn ngữ. Không có đoàn Phật giáo, đoàn vô sản hay đoàn nói tiếng Anh. Trừ một vài trường hợp ít ỏi, đáng chú ý nhất là Đài Loan và Palestine, việc quyết định quốc tịch của các vận động viên là hết sức dễ dàng.
Tại lễ khai mạc ngày 5 tháng Tám năm 2016, các vận động viên diễu hành theo nhóm, mỗi nhóm vẫy quốc kỳ của mình. Mỗi lần Michael Phelps giành thêm một huy chương vàng, lá cờ sao vạch lại được kéo lên trên nền nhạc bài “Lá cờ lấp lánh ánh sao”. Khi Emilie Andéol giành huy chương vàng môn judo, lá cờ ba vạch của Pháp được kéo lên và bài “La Marseillaise” ngân vang.
Thêm một sự tiện lợi nữa là mỗi quốc gia trên thế giới có một bài quốc ca tuân theo cùng một mẫu phổ quát. Gần như mọi bài quốc ca là những bản nhạc chỉ kéo dài vài phút thay vì một bài tụng ca dài hai chục phút chỉ có thể do một tầng lớp đặc biệt là các tu sĩ được kế truyền biểu diễn. Ngay cả các nước nhu Ả Rập Saudi, Pakistan và Congo cũng áp dụng các quy tắc âm nhạc của phương Tây cho quốc ca của họ. Các bài quốc ca đều nghe như một thứ gì đó do Beethoven sáng tác vào một ngày khá “bình thường” (Bạn có thể dành một buổi tối cùng bạn bè nghe các bài quốc ca khác nhau trên YouTube và thử đoán xem bài nào là của nước nào). Ngay cả lời bài hát cũng gần như giống nhau khắp thế giới, thể hiện các quan niệm phổ biến về chính trị và lòng trung thành tập thể. Chẳng hạn, bạn nghĩ bài quốc ca dưới đây thuộc về nước nào (Tôi chỉ thay tên nước thành cụm từ chung chung “Đất nước tôi”):
Đất nước tôi, quê hương tôi
Mảnh đất nơi tôi đã đổ máu xương
Đây là nơi tôi đứng
Làm người lính gác đất mẹ.
Đất nước tôi, dân tộc tôi,
Đồng bào tôi và quê hương tôi,
Ta hãy ca vang
“Đất nước kết đoàn!”
Đất nước muôn năm,tổ quốc trường tồn,
Dân tộc tôi, quê hương tôi, toàn vẹn.
Xây dựng linh hồn, đánh thức xác thân,
Vì đất nước vĩ đại của tôi!
Đất nước vĩ đại của tôi, độc lập và tự do
Mái nhà và đất nước mà tôi yêu quý.
Đất nước vĩ đại của tôi, độc lập và tự do,
Đất nước vĩ đại muôn năm!
Câu trả lời là Indonesia. Nhưng bạn có ngạc nhiên không nếu tôi nói câu trả lời thật ra là Ba Lan, Nigeria hay Brazil?
Những lá quốc kỳ cũng thể hiện một sự tuân thủ quen thuộc. Với một ngoại lệ duy nhất, mọi lá cờ đều là những mảnh vải hình chữ nhật được tạo dấu ấn bằng một vốn màu sắc, sọc và hình khối cực kỳ hạn chế. Nepal là ngoại lệ duy nhất với lá cờ gồm hai hình tam giác. (Nhưng Nepal chưa bao giờ giành được một huy chương Olympic nào). Cờ Indonesia gồm một sọc đỏ trên một sọc trắng. Cờ Ba Lan có một sọc trắng trên một sọc đỏ. Cờ Monaco giống cờ Indonesia. Một người mù màu khó có thể nhận ra sự khác biệt giữa cờ của Bỉ, Chad, Bờ Biển Ngà, Pháp, Guinea, Ireland, Ý, Mali và Romania: chúng đều có ba sọc dọc với ba màu khác nhau.
Một số nước trên đã từng đánh nhau khốc liệt, nhưng thế kỷ 20 đầy biến động chỉ có ba kỳ thế vận hội từng bị hoãn bởi chiến tranh (vào năm 1916, 1940 và 1944). Vào năm 1980, Hoa Kỳ và một số nước đồng minh đã tẩy chay Thế vận hội Moscow; vào năm 1984, Liên Xô tẩy chay kỳ Olympic Los Angeles; trong một vài trường hợp khác, thế vận hội đứng ngay trung tâm một con bão chính trị (đáng chú ý nhất là năm 1936, khi Berlin phát xít tổ chức Olympic, và năm 1972, khi những phần tử khủng bố người Palestine tấn công đoàn Israel đến dự Thế vận hội Munich). Thế nhưng nhìn chung, các mâu thuẫn chính trị không làm kế hoạch Olympic trệch khỏi đường ray.
Giờ hãy quay ngược lại 1.000 năm. Giả sử bạn muốn tổ chức một thế vận hội Trung cổ ở Rio vào năm 1016. Hãy tạm quên Rio lúc ấy chỉ là một ngôi làng nhỏ toàn người Anh-điêng Tupi; người châu Á, châu Phi và châu Âu thậm chí còn không biết đến sự tồn tại của châu Mỹ. Quên luôn các vấn đề như việc đi lại để đưa tất cả các vận động viên hàng đầu thế giới đến Rio khi không có máy bay. Cũng quên luôn là có rất ít môn thể thao được chơi khắp thế giới; ngay cả nếu mọi người đều biết chạy thì không phải ai cũng có thể đồng thuận các luật lệ chung cho một cuộc thi chạy. Chỉ cần bạn tự hỏi làm thế nào chia nhóm các đoàn thi đấu thôi, ủy ban Olympic Quốc tế dành vô số thì giờ bàn luận về vấn đề Đài Loan và vấn đề Palestine. Nhân số giờ này lên 10.000 lần để hình dung số giờ bạn sẽ phải dành ra hòng giải quyết các vấn đề chính trị của Olympic Trung cổ.
Để mở đầu vấn đề này, vào năm 1016, nhà Tống Trung Hoa không công nhận bất cứ thể chế chính trị nào trên Trái đất là ngang hàng với mình. Do đó, sẽ là một sự lăng nhục không thể hiểu nổi nếu cho đoàn Olympic của họ một địa vị tương đương với đoàn Cao Ly (Hàn Quốc) hay Đại cồ Việt (Việt Nam), chưa kể các đoàn “man di” từ bên kia đại dương.
Kha-líp ở Baghdad cũng tự xưng bá chủ toàn cầu và hầu hết người Hồi dòng Sunni công nhận ông là lãnh đạo tối cao của họ. Tuy nhiên, về mặt thực tế, kha-líp thậm chí chưa cai trị được thành Baghdad. Thế thì liệu tất cả các vận động viên dòng Sunni đứng vào cùng một đoàn Hồi giáo duy nhất hay nên chia thành hàng chục đoàn từ vô số các tiểu vương quốc thuộc thế giới Hồi giáo Sunni? Nhưng tại sao lại dừng lại ở các tiểu vương quốc? Sa mạc Ả Rập đầy rẫy các bộ lạc Bedouin tự do, không công nhận bất cứ vị chúa tể nào ngoài Đấng Allah. Mỗi bộ lạc ấy có được gửi đến một đoàn độc lập để thi đấu môn bắn cung hay đua lạc đà không? Châu Âu cũng sẽ khiến bạn đau đầu. Liệu một vận động viên đến từ thị trấn Ivry của người Norman sẽ thi đấu dưới lá cờ của bá tước Ivry địa phương hay của đức ngài công tước xứ Normandy, hay có lẽ là cờ của vua Pháp nhu nhược?
Nhiều thể chế chính trị trong số này đã xuất hiện rồi biến mất chỉ trong vài năm. Khi bạn đang hoàn tất các bước chuẩn bị cho Olympic 1016, bạn không thể biết trước đoàn nào sẽ đến vì chẳng ai dám chắc thể chế chính trị nào sẽ vẫn tồn tại vào năm tới. Nếu vương quốc Anh cử một đoàn đến dự Olympic 1016 thì khi các vận động viên cầm huy chương quay về, họ sẽ phát hiện ra người Đan Mạch vừa chiếm được London và nước Anh đã bị sáp nhập vào Đế chế Bắc Hải của vua Knud Đại đế cùng với Đan Mạch, Na Uy và một số vùng của Thụy Điển. Trong khoảng hai mươi năm nữa, đế chế đó tan rã; nhưng ba mươi năm sau, nước Anh bị chinh phục một lần nữa bởi công tước Normandy.
Không cần nói cũng biết, phần đông các thể chế chính trị sớm nở tối tàn này không có quốc ca để hát lên hay quốc kỳ để kéo. Các biểu tượng chính trị dĩ nhiên rất quan trọng, nhưng ngôn ngữ biểu tượng của chính trị châu Âu rất khác vối ngôn ngữ biểu tượng của chính trị Indonesia, Trung Hoa hay Tupi. Đồng thuận một nghi thức ngoại giao chung về ăn mừng chiến thắng cũng sẽ là một việc gần như bất khả.
Thế nên khi bạn xem Thế vận hội Tokyo năm 2020, hãy nhớ rằng thứ có vẻ như là ganh đua giữa các quốc gia này thực ra là một sự đồng thuận toàn cầu đáng kinh ngạc. Với tất cả niềm tự hào dân tộc mà người ta cảm thấy khi đoàn của họ giành một huy chương vàng và quốc kỳ của họ được kéo lên, chúng ta có một lý do lớn hơn nhiều để cảm thấy tự hào khi nhân loại có thể tổ chức được một sự kiện như vậy.
MỘT ĐÔ LA SẼ THỐNG TRỊ TẤT CẢ
Trong thời tiền hiện đại, con người đã thử nghiệm không chỉ các hệ thống chính trị đa dạng mà cả một loạt mô hình mẫu kinh tế nhiều đến sửng sốt. Các quý tộc Nga, các hoàng tử Hindu, các quan lại Trung Hoa và các tù trưởng Anh-điêng có những ý tưởng rất khác nhau về tiền bạc, thương mại, thuế khóa và nhân công. Ngày nay, trái lại, gần như mọi người đều tin vào những phiên bản hơi khác nhau của cùng một hệ tư bản và chúng ta là các bánh răng trong một dây chuyền sản xuất toàn cầu duy nhất. Dù bạn sống ở Congo hay Mông cổ, ở New Zealand hay Bolivia, các hoạt động thường ngày và vận hội kinh tế của bạn đều lệ thuộc vào các lý thuyết kinh tế, các tập đoàn và ngân hàng, cũng như các dòng vốn giống nhau. Nếu các bộ trưởng tài chính của Israel và Iran ăn trưa cùng nhau, họ sẽ có một ngôn ngữ kinh tế chung và có thể dễ dàng hiểu cũng như thông cảm những nỗi phiền muộn của nhau.
Khi Nhà nước Hồi giáo chinh phục những khu vực rộng lớn Syria và Iraq, chúng tàn sát hàng chục ngàn người, phá hủy các địa điểm khảo cổ, kéo đổ các bức tượng và phá hủy một cách có hệ thống các biểu tượng của các thể chế trước đó và của ảnh hưởng văn hóa phương Tây. Nhưng khi các chiến binh của chúng đột nhập vào các ngân hàng địa phương và thấy ở đó hàng chồng đô la Mỹ in hình cắc tổng thống Mỹ và những khẩu hiệu bằng tiếng Anh ca ngợi các lý tưởng chính trị và tôn giáo Mỹ, chúng đã không đốt các biểu tượng của chủ nghĩa đế quốc Mỹ này. Vì đồng đô la được “tôn sùng” trên phạm vi toàn cầu, vượt qua các ranh giới chính trị và tôn giáo. Dù nó không có giá trị nội tại nào, bạn không thể ăn hay uống một tờ đô la, niềm tin vào đồng tiền ấy và vào sự khôn ngoan của Cục Dự trữ Liên bang vững chắc đến nỗi ngay cả các kẻ Hồi giáo chính tông, các trùm ma túy Mexico và các nhà lãnh đạo Bắc Hàn cũng tin vào nó.
Thế nhưng sự đồng nhất của nhân loại hiện nay là rõ ràng nhất khi ta nói đến quan điểm của mình về thế giới tự nhiên và cơ thể người. Nếu bạn ngã bệnh cách đây một nghìn năm, việc bạn ở đâu cực kỳ quan trọng. Ở châu Âu, thầy tu ở nơi bạn sinh sống có lẽ sẽ nói với bạn rằng bạn đã làm Chúa tức giận, và để lấy lại sức khỏe, bạn nên quyên cúng gì đó cho nhà thờ, làm một chuyến hành hương đến một địa điểm linh thiêng và cầu nguyện tha thiết để Chúa tha thứ. Hoặc bà phù thủy trong làng sẽ giải thích là có một con quỷ đã nhập vào bạn và bà ta sẽ đuổi nó đi bằng cách ca hát, nhảy múa và máu của một con gà trống choai đen.
Ở Trung Đông, các bác sĩ được dạy dỗ theo truyền thống có thể giải thích là bốn thể dịch cơ thể bạn đang mất cân bằng và bạn nên làm chúng hài hòa trở lại bằng một chế độ ăn tử tế và những liều thuốc bốc mùi. Ở Ấn Độ, các chuyên gia Ayurveda sẽ đưa ra những lý thuyết riêng liên quan đến sự cân bằng giữa ba yếu tố cơ thể gọi là dosha và gợi ý một liệu trình gồm các loại thảo dược, mát xa và các tư thế yoga. Các thầy thuốc Trung Hoa, các shaman Siberia, các bác sĩ-phù thủy châu Phi, các thầy thuốc Anh-điêng, mỗi đế chế, vương quốc và bộ lạc lại có những truyền thống và chuyên gia của mình, mỗi bên đưa ra các cách nhìn khác nhau về cơ thể người và bản chất của bệnh tật, mỗi bên đề xuất một hệ thống vô số những nghi thức, thuốc men và cách chữa trị riêng. Một số có tác dụng tốt đến kinh ngạc, số khác chẳng khác gì một án tử. Điểm duy nhất “thống nhất” các thực hành y khoa châu Âu, Trung Hoa, châu Phi và châu Mỹ là ở khắp nơi, ít nhất là một phần ba trẻ em chết trước tuổi trưởng thành và tuổi thọ trung bình còn xa mới đạt tới 50 tuổi.
Ngày nay, nếu vô tình ngã bệnh, việc bạn ở đâu không khiến tình hình khác nhau là mấy. Ở Toronto, Tokyo, Tehran hay Tel Aviv, bạn sẽ được đưa đến các bệnh viện trông na ná nhau, nơi bạn sẽ gặp các bác sĩ mặc áo trắng cùng học những lý thuyết khoa học giống nhau trong các trường đại học y khoa như nhau. Họ sẽ tuân theo các quy trình giống nhau và sử dụng các xét nghiệm giống nhau để đưa ra các chẩn đoán rất tương đồng. Sau đó họ sẽ phát những loại thuốc y hệt được sản xuất bởi các công ty dược phẩm quốc tế như nhau, vẫn có một số khác biệt văn hóa nho nhỏ nhưng các bác sĩ Canada, Nhật Bản, Iran và Israel có phần lớn quan điểm về cơ thể người và các bệnh ở người là giống nhau. Sau khi Nhà nước Hồi giáo chiếm được Raqqa và Mosul, chúng không phá hủy các bệnh viện địa phương. Thay vào đó, chúng phát đi lời khẩn cầu các bác sĩ và y tá Hồi giáo khắp nơi trên thế giới tình nguyện đến phục vụ tại đó. Hẳn là cả các bác sĩ và y tá theo chủ nghĩa Hồi giáo cũng tin cơ thể được tạo ra từ các tế bào và các mầm bệnh gây ra bệnh tật, còn kháng sinh thì giết được vi khuẩn chứ.
Và điều gì tạo nên những tế bào và vi khuẩn này? Thực ra, điều gì tạo nên cả thế giới? Một ngàn năm trước mỗi nền văn hóa có câu chuyện riêng về vũ trụ, và về các nguyên tố cơ bản của nồi lẩu vũ trụ. Ngày nay, những người được học hành khắp nơi trên thế giới tin chính xác cùng những điều giống nhau về vật chất, năng lượng, thời gian và không gian. Chẳng hạn như các chương trình hạt nhân của Iran và Bắc Hàn. Toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ cả người Iran và người Bắc Hàn đều có quan điểm vật lý giống hệt người Israel và người Mỹ. Nếu người Iran và người Bắc Hàn tin rằng E = mc4, Israel và Mỹ sẽ không mảy may quan tâm đến các chương trình hạt nhân của họ.
Con người vẫn có các tôn giáo và bản sắc dân tộc khác nhau. Nhưng khi nói đến những thứ thực tế như làm thế nào để xây dựng một quốc gia, một nền kinh tế, một bệnh viện hay một quả bom, hầu hết chúng ta đều thuộc về một nền văn minh. Có những bất đồng, không nghi ngờ gì cả, nhưng mọi nền văn minh đều có các mâu thuẫn nội tại của chúng. Thực sự là các mâu thuẫn đó định hình nên chúng ta. Khi thử tìm bản sắc của mình, người ta thường tạo một danh sách kiểu “các món đồ cần mua” gồm các đặc điểm phổ biến. Đấy là một sai lầm. Họ sẽ làm tốt hơn rất nhiều nếu đưa ra một danh sách các mâu thuẫn và khó khăn thường gặp. Chẳng hạn, vào năm 1618, châu Âu không có một bản sắc tôn giáo chung: bản sắc ấy được định hình bởi mâu thuẫn tôn giáo. Là một người châu Âu vào năm 1618 nghĩa là bạn bị ám ảnh với những sự khác biệt giáo lý tí xíu giữa Cơ Đốc và Tin Lành hay giữa thuyết Calvin và thuyết Luther, đồng thời sẵn sàng chém giết và bị sát hại vì những sự khác biệt đó. Nếu một người năm 1618 không quan tâm đến những mâu thuẫn này, người đó có lẽ sẽ là một người Turk hay người Hindu, nhưng chắc chắn không phải người châu Âu.
Tương tự, vào năm 1940, Anh và Đức có các giá trị chính trị rất khác nhau nhưng chúng đều là một phần của “nền văn minh châu Âu”. Hitler không kém “châu Âu” hơn Churchill. Thực ra, chính sự đấu tranh giữa hai người đã xác định thế nào là một người châu Âu vào thời điểm đặc biệt đó của lịch sử. Trái lại, một người săn bắt-hái lượm thuộc bộ lạc !Kung10 năm 1940 không phải là người châu Âu vì cuộc xung đột nội tại của châu Âu về chủng tộc và đế chế sẽ không mấy ý nghĩa với anh ta.
Chúng ta tranh cãi nhiều nhất là với các thành viên trong gia đình. Bản sắc của chúng ta được định nghĩa bởi mâu thuẫn và các thế lưỡng nan nhiều hơn là những sự đồng thuận. Là một người châu Âu vào năm 2018 nghĩa là gì? Không phải là da trắng, tin vào Chúa Jesus hay tôn vinh tự do. Mà là tranh cãi kịch liệt về vấn đề nhập cư, về Liên minh châu Âu và về các hạn chế của chủ nghĩa tư bản. Nó cũng có nghĩa là ám ảnh với câu hỏi dành cho bản thân: “Điều gì định nghĩa bản sắc của tôi?” và lo lắng về dân số đang già đi, về chủ nghĩa tiêu dùng tràn lan và về sự nóng lên toàn cầu. Trong các mâu thuẫn và thế lưỡng nan của mình, người châu Âu thế kỷ 21 khác hẳn các tổ tiên của họ vào năm 1618 và 1940, nhưng ngày càng giống với các đối tác thương mại Trung Quốc và Ấn Độ của họ.
Bất cứ thay đổi nào chờ đợi chứng ta trong tương lai cũng có nhiều khả năng liên quan đến một cuộc đấu tranh huynh đệ tương tàn bên trong một nền văn minh duy nhất thay cho một cuộc xung đột giữa các nền vần minh xa lạ. Những thử thách lớn của thế kỷ 21, về bản chất, là mang tính toàn cầu. Điều gì sẽ xảy ra khi biến đổi khí hậu châm ngòi cho các thảm họa sinh thái? Điều gì sẽ xảy ra khi máy tính vượt trội con người trong ngày càng nhiều nhiệm vụ và thay thế họ trong ngày càng nhiều việc làm? Điều gì sẽ xảy ra khi công nghệ sinh học cho phép chúng ta nâng cấp con người và kéo dài tuổi thọ? Không nghi ngờ gì nữa, chúng ta sẽ có những cuộc tranh cãi khổng lồ và những mâu thuẫn cay đắng về các câu hỏi này. Nhưng những cuộc tranh cãi và mâu thuẫn này ít có khả nàng tách biệt chúng ta với nhau. Hoàn toàn ngược lại. Chúng sẽ khiến ta ngày càng phụ thuộc vào nhau hơn bao giờ hết. Dù nhân loại còn lâu mới đạt được một cộng đồng hòa hợp, chúng ta đều là thành viên của một nền văn minh toàn cầu ồn ào náo loạn duy nhất.
Thế thì làm sao giải thích được làn sóng dân tộc chủ nghĩa đang quét khắp thế giới? Có lẽ trong cơn hăng hái toàn cầu hóa, chúng ta đã quá nhanh nhảu bỏ qua các quốc gia già nua, tốt đẹp chăng? Liệu một sự quay đầu về chủ nghĩa dân tộc truyền thống có là giải pháp cho các cuộc khủng hoảng toàn cầu tuyệt vọng của chúng ta? Nếu toàn cầu hóa mang theo nó nhiều vấn đề đến thế, sao không bỏ quách nó đi?
Bài học 7 - Chủ nghĩa dân tộc
CÁC VẤN ĐỀ TOÀN CẦU CẦN CÂU TRẢ LỜI TOÀN CẦU
Xem như toàn thể nhân loại giờ chỉ cấu thành một nền văn minh duy nhất, với mọi người cùng chia sẻ những thử thách và cơ hội chung, thế thì tại sao người Anh, người Mỹ, người Nga và vô số các nhóm khác lại hướng tới sự tách biệt mang tính dân tộc chủ nghĩa? Liệu việc quay lại với chủ nghĩa dân tộc có mang lại những giải pháp thực sự cho các vấn đề chưa có tiền lệ của thế giới toàn cầu chúng ta, hay đó chỉ là một sự nuông chiều thoát ly thực tế, có thể sẽ nhấn chìm nhân loại và cả sinh quyển vào thảm họa?
Để trả lời câu hỏi này, đầu tiên chúng ta nên đập tan một huyền thoại phổ biến. Trái với hiểu biết thông thường, chủ nghĩa dân tộc không phải là một phần tự nhiên và vĩnh hằng của tâm lý con người; nó không có gốc rễ trong sinh lý con người. Đúng, con người là các động vật xã hội trăm phần trăm, với sự trung thành nhóm ấn định trong gien. Tuy nhiên, trong hàng trăm nghìn năm, Homo sapiens và các tổ tiên linh trưởng của mình đã sống trong các cộng đồng nhỏ mật thiết với số lượng không quá vài chục người. Con người dễ dàng phát triển lòng trung thành đối với các nhóm nhỏ mật thiết như một bộ lạc, một tiểu đội hay một công ty gia đình, nhưng khó mà nói việc con người trung thành với hàng triệu người hoàn toàn xa lạ là tự nhiên. Lòng trung thành đại chúng đó chỉ mới xuất hiện trong vài ngàn năm, trở lại đây – mới sáng hôm qua, nêu tính theo thuật ngữ tiến hóa – và nó đòi hỏi các nỗ lục cực lớn của cấu trúc xã hội.
Con người mất công xây dựng các quần thể có tính quốc gia vì họ vấp phải những thử thách mà không một bộ tộc riêng nào có thể giải quyết được. Thử lấy ví dụ là các bộ lạc cổ xưa sống dọc sông Nile hàng ngàn năm trước. Dòng sông là nguồn sống của họ. Nó tưới nước cho đồng ruộng và đưa hàng hóa đi khắp nơi. Nhưng nó là một “đồng minh” khó đoán. Quá ít nước và con người ta chết đói; quá nhiều nước và dòng sông tràn bờ, phá hủy xóm làng. Không một bộ tộc nào có thể giải quyết vấn đề này một mình vì mỗi bộ tộc chỉ sử dụng một phần nhỏ của dòng sông và chỉ có thể huy động không quá vài trăm nhân công. Chỉ một nỗ lực chung hòng xây dựng những con đập khổng lồ và đào hàng trăm kilomet kênh rạch mới có thể hy vọng chế ngự và khai thác con sông dữ. Đây là một trong những lý do các bộ lạc dần dần nhập thành một quốc gia duy nhất có sức mạnh xây đập và đào kênh, điều hòa dòng chảy con sông, xây các kho dự trữ lương thực đề phòng những năm đói kém và thiết lập một hệ thống giao thông, liên lạc rộng khắp.
Dù có nhiều lợi thế như vậy, việc chuyển đổi các bộ tộc và thị tộc thành một quốc gia duy nhất không bao giờ là dễ dàng, cổ đại hay hiện đại cũng vậy. Để nhận ra việc gắn mình với một quốc gia như vậy là khó như thế nào, bạn chỉ cần tự hỏi: “Mình có quen mấy người này không?” Tôi có thể kể tên hai người chị và mười một người anh em họ của mình, đồng thời dành cả ngày để nói về tính tình, thói quen và các mối quan hệ của họ. Tôi không thể kể tên tám triệu người có chung quốc tịch Israel như mình, tôi chưa bao giờ gặp hầu hết số đó và có rất ít khả năng gặp họ trong tương lai. Khả năng dù thế nào vẫn cảm thấy trung thành với đám đông mờ mịt này của tôi không phải là một di sản được truyền từ các tổ tiên săn bắt-hái lượm mà là một điều kỳ diệu trong lịch sử cận đại. Một nhà sinh vật học người Sao Hỏa chỉ quen nghiên cứu giải phẫu và tiến hóa của Homo sapiens sẽ không bao giờ đoán những con linh trưởng này có khả năng phát triển những liên kết cộng đồng với hàng triệu người xa lạ. Để thuyết phục được tôi trung thành với “Israel” và tám triệu người dân của nó, phong trào Phục Quốc và nhà nước Israel phải tạo ra một bộ máy khổng lồ bao gồm giáo dục, tuyên truyền và kêu gọi, cũng như các hệ thống quốc gia về an ninh, sức khỏe và phúc lợi.
Điều đó không có nghĩa là các kết nối dân tộc có gì sai. Những hệ thống khổng lồ không thể vận hành mà không có sự trung thành tập thể và việc mở rộng vòng thấu cảm của con người chắc chắn có giá trị của nó. Các dạng thức ôn hòa hơn của chủ nghĩa ái quốc là một trong những sáng tạo nhân từ nhất của con người. Tin tưởng rằng dân tộc mình là độc đáo, rằng nó xứng đáng với lòng trung thành của mình và mình có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các thành viên của nó tạo cảm hứng khiến tôi quan tâm đến người khác và hy sinh vì họ. Sẽ là một sai lầm nguy hiểm nếu tin rằng không có chủ nghĩa dân tộc, chúng ta tất thảy sẽ sống trong một thiên đường tự do. Khả năng cao là chúng ta sẽ sống trong con hỗn loạn giữa các bộ tộc. Các đất nước hòa bình, thịnh vượng và tự do như Thụy Điển, Đức và Thụy Sĩ đều có ý thức dân tộc vững vàng. Danh sách các quốc gia thiếu mối hên kết dân tộc mạnh bao gồm Afghanistan, Somalia, Congo và hầu hết các quốc gia thất bại khác.
Vấn đề bắt đầu khi chủ nghĩa ái quốc hiền hòa biến hình thành chủ nghĩa siêu ái quốc sô-vanh. Thay vì tin rằng dân tộc mình là độc đáo, điều hoàn toàn đúng với mọi dân tộc, tôi có thể bắt đầu cảm thấy dân tộc mình là thượng đẳng, rằng tôi nợ nó tất cả lòng trung thành của mình, rằng tôi không có nghĩa vụ đáng kể gì với bất cứ ai khác. Đây là mảnh đất màu mỡ cho các xung đột bạo lực, Suốt nhiều thế hệ, chỉ trích cơ bản nhất dành cho chủ nghĩa dân tộc là nó dẫn đến chiến tranh. Nhưng mối liên hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và bạo lực không làm giảm đi sự thái quá của chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt là khi mỗi quốc gia biện hộ cho việc phát triển quân sự bằng sự cần thiết phải bảo vệ đất nước chống lại mưu đồ cửa các nước láng giềng. Miễn là quốc gia mang lại cho hầu hết công dân của mình với các mức độ an ninh và thịnh vượng chưa từng có thì người dân sẵn sàng trả giá bằng máu. Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, thỏa thuận này (giữa cá nhân và quốc gia) của chủ nghĩa dân tộc vẫn còn khá hấp dẫn. Mặc dù nó đang đưa đến các mâu thuẫn khủng khiếp trên phạm vi chưa từng có, các nhà nước hiện đại vẫn xây dựng các hệ thống y tế, giáo dục và phúc lợi khổng lồ. Dịch vụ y tế quốc gia khiến trận Passchendaele và trận Verdun có vẻ như xứng đáng.
Mọi thứ thay đổi vào năm 1945. Việc phát minh ra các vũ khí hạt nhân đã làm cân bằng của giao kèo dân tộc chủ nghĩa lệch đi. Sau Hiroshima, con người không còn sợ chủ nghĩa dân tộc sẽ dẫn đến chiến tranh đơn thuần nữa; họ bắt đầu sợ nó sẽ dẫn đến chiến tranh hạt nhân. Hủy diệt toàn cầu có cách riêng của nó để mài sắc tâm trí con người và nhờ công không nhỏ của quả bom nguyên tử, điều bất khả đã xảy ra và “ông thần” dân tộc chủ nghĩa đã được nhét ít nhất là phân nửa vào lại cái “đèn”. Cũng như những dân làng xưa thuộc châu thổ sông Nile từng chuyển một phần sự trung thành của mình từ các bộ lạc địa phương sang một vương quốc lớn hơn rất nhiều có khả năng chế ngự dòng sông dữ, trong thời đại hạt nhân, một cộng đồng toàn cầu dần phất triển vượt lên trên các quốc gia riêng biệt vì chỉ một cộng đồng như vậy mới có thể chế ngự con quái vật hạt nhân.
Trong chiến dịch tranh củ tổng thống Mỹ năm 1964, Lyndon B.Johnson cho phát sóng mẩu quảng cáo Hoa Cúc nổi tiếng một trong những màn tuyên truyền thành công nhất trong lịch sử truyền hình. Mẩu quảng cáo mở đầu bằng một cô bé vừa bứt từng cánh hoa cúc vừa đếm, nhưng khi cô bé đếm đến mười, một giọng nam giới nghe như tiếng kim loại cắt ngang, đếm ngược từ mười về không như trong một cuộc đếm phóng tên lửa. Khi đếm đến không, ánh sáng chói lòa của một vụ nổ hạt nhân tràn ngập màn hình và ứng viên Johnson nói với người dân Mỹ như sau: “Đây là tiền cược. Hoặc kiến tạo một thế giới trong đó mọi con dân của Chúa có thể sống, hoặc chìm vào bóng tối. Chúng ta hoặc phải yêu thương nhau, hoặc phải chết.” Chúng ta thường gắn câu khẩu hiệu “làm tình, đừng gây chiến” với phong trào phản-văn hóa cuối thập niên 1960 nhưng trên thực tế, từ năm 1964, nó đã là một tư tưởng được thừa nhận ngay cả trong giới chính trị gia sừng sỏ như Johnson.
Do đó, trong cuộc Chiến tranh Lạnh, chủ nghĩa dân tộc nhường ghế đầu cho một cách tiếp cận chính trị quốc tế toàn cầu hơn, và khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, chủ nghĩa toàn cầu hóa có vẻ là làn sóng không thể cưỡng lại của tương lai. Người ta mong đợi nhân loại sẽ hoàn toàn để lại chủ nghĩa dân tộc ở phía sau, như một di tích của những thời kỳ nguyên thủy hơn có thể hấp dẫn cùng lắm là các cư dân kém hiểu biết của một vài quốc gia kém phát triển mà thôi. Tuy nhiên, các sự kiện trong những năm gần đây chứng tỏ rằng chủ nghĩa dân tộc vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngay cả các công dân của châu Âu và Hoa Kỳ, chưa kể đến Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Bị các lực lượng khách quan của chủ nghĩa tư bản toàn cầu làm cho lạc lõng và mang nỗi lo sợ về số phận của các hệ thống sức khỏe, giáo dục và phúc lợi quốc gia, con người ở khắp nơi trên thế giới đang tìm sự an ủi và ý nghĩa trong vòng tay của đất nước.
Thế nhưng câu hỏi được Johnson đưa ra trong mẩu quảng cáo Hoa Cúc ngày hôm nay thậm chí còn thích đáng hơn năm 1964. Liệu chúng ta sẽ xây dựng một thế giới trong đó mọi người có thể sống với nhau hay chúng ta sẽ cùng đi vào bóng tối? Donald Trump, Theresa May, Vladimir Putin, Narendra Modi và các cộng sự của họ có cứu được thế giới bằng cách thổi bùng lên các xúc cảm dân tộc chủ nghĩa của chúng ta hay cơn lũ dân tộc chủ nghĩa hiện nay là một dạng trốn chạy khỏi các vấn đề toàn cầu khó xử lý mà chúng ta đang đối mặt?
THỬ THÁCH HẠT NHÂN
Hãy bắt đầu với sự báo ứng quen thuộc của nhân loại: chiến tranh hạt nhân. Khi quảng cáo Hoa Cúc phát sóng vào năm 1964, hai năm sau cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, hủy diệt hạt nhân đã là một hiểm họa rõ ràng. Các nhà bình luận cũng như dân thường đều lo sợ rằng loài người không đủ khôn ngoan để tránh hủy diệt, chỉ là vấn đề thời gian trước khi Chiến tranh Lạnh chuyển sang cực kỳ đáng báo động. Trên thực tế, nhân loại đã đương đầu thành công với thử thách hạt nhân. Người Mỹ, người Xô-viết, người châu Âu và người Trung Quốc đã thay đổi cách mà địa chính trị được dẫn dắt trong nghìn năm, vậy nên Chiến tranh Lạnh đã kết thúc mà không có nhiều máu đổ, và một trật tự thế giới quốc tế mới đã nuôi dưỡng một kỷ nguyên hòa bình chưa từng có. Không chỉ tránh được chiến tranh hạt nhân, đủ loại chiến tranh cũng giảm. Từ năm 1945, số đường biên giới được vẽ lại thông qua các xung đột công khai lại ít đến đáng ngạc nhiên và hầu hết các quốc gia đã thôi sử dụng chiến tranh như một công cụ chính trị tiêu chuẩn. Vào năm 2016, dù có chiến tranh ở Syria, Ukraine và vài điểm nóng khác, số người chết vì bạo lực ít hơn vì béo phì, tai nạn xe hơi hay tự tử. Điều này có thể là thành tựu chính trị và đạo đức lớn nhất của thời đại chúng ta.
Thật không may, đến giờ chúng ta đã quá quen với thành tựu này đến nỗi chúng ta xem nó là đương nhiên. Đây là một phần lý do vì sao con người ta cho phép mình đùa với lửa. Nga và Hoa Kỳ gần đây đã bắt đầu một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân mới, phát triển các cỗ máy hủy diệt mới đe dọa phá vỡ những cam kết phải vất vả lắm mới có được trong vài thập kỷ trước và đưa chúng ta trở lại bên bờ vực của hủy diệt hạt nhân. Trong khi đó, thường dân đã học được cách ngừng lo lắng và yêu mến quả bom (như bộ phim Tiến sĩ Strangelove đã gợi ý), hoặc đơn giản là quên luôn sự tồn tại của nó.
Do đó, cuộc tranh luận Brexit ở Anh, một cường quốc hạt nhân lớn, chủ yếu xoay quanh câu hỏi về kinh tế và nhập cư trong khi phần lớn đóng góp tối quan trọng của Liên minh châu Âu với nền hòa bình châu Âu và toàn cầu đã bị phớt lờ. Sau nhiều thế kỷ đổ máu khủng khiếp, người Pháp, người Đức, người Ý và người Anh cuối cùng đã xây dựng được một cơ chế đảm bảo hòa hợp toàn lục địa chỉ để dân thường tại Anh thọc gậy vào bánh xe cỗ máy kỳ diệu ấy.
Cực kỳ khó xây dựng một thể chế quốc tế ngăn ngừa chiến tranh hạt nhân và bảo vệ hòa bình thế giới. Không nghi ngờ gì nữa, chúng ta cần phải sửa đổi thể chế này cho phù hợp với các điều kiện đang đổi thay của thế giới, chẳng hạn bớt dựa dẫm vào Hoa Kỳ và trao cho các cường quốc phi-phương Tây như Trung Quốc và Ấn Độ một vai trò lớn hơn. Nhưng từ bỏ hoàn toàn thể chế này và chuyển sang một nền chính trị cường quốc dân tộc chủ nghĩa sẽ là một canh bạc vô trách nhiệm. Đúng, trong thế kỷ 19, các nước đã chơi trò dân tộc chủ nghĩa mà không phá hoại nền văn minh con người. Nhưng đó là thời tiền-Hiroshima. Từ đó đến nay, số tiền đổ vào vũ khí hạt nhân đã táng và thay đổi bản chất nền tảng của chiến tranh và chính trị. Từ khi con người biết cách làm giàu uranium và plutonium, tồn vong của họ phụ thuộc vào việc ưu tiên phòng ngừa chiến tranh hạt nhân trên lợi ích của bất kỳ quốc gia cụ thể nào. Những người theo chủ nghĩa dân tộc nhiệt thành đang gào thét: “Nước chúng ta trước nhất!” nên tự hỏi liệu tự đất nước của họ, nếu không có một hệ thống hợp tác quốc tế lành mạnh, có thể bảo vệ thế giới, hay thậm chí là chính nó, khỏi hủy diệt hạt nhân không.
THỬ THÁCH SINH THÁI
Ngoài chiến tranh hạt nhân, trong các thập kỷ tới, nhân loại sẽ đối mặt với một hiểm, họa sống còn mới chưa hề có trên các ra-đa chính trị năm 1964: sụp đổ sinh thái. Con người đang làm mất cân bằng sinh quyển toàn cầu trong nhiều lĩnh vực. Chúng ta đang lấy đi ngày càng nhiều tài nguyên từ môi trường trong khi thải vào đó những lượng rác và chất độc khổng lồ, theo đó thay đổi thành phần đất, nước và khí quyển.
Chúng ta thậm chí còn không nhận thấy vô số cách ta phá vỡ sự cân bằng sinh thái mong manh đã được định hình qua hàng triệu năm. Thử lấy ví dụ việc sử dụng phốt-pho làm phân bón. Với lượng nhỏ, nó là một dưỡng chất thiết yếu cho sự phát triển của cây trồng. Nhưng với lượng lớn, nó trở thành độc tố. Trồng trọt quy mô công nghiệp hiện đại dựa vào việc bón phân nhân tạo cho đồng ruộng rất nhiều phốt-pho, nhưng lượng phốt-pho chảy ra từ các nông trại sau đó có thể “đầu độc” sông, hồ và đại dương, đồng thời có tác động hủy diệt sự sống biển. Như vậy, một nông dân trồng ngô ở Iowa có thể vô ý giết chết cá ở vịnh Mexico.
Kết quả của các hoạt động như vậy là các môi trường sống bị xuống cấp, động thực vật dần tuyệt chủng và các hệ sinh thái như rạn san hô Great Barrier tại úc và rừng mưa Amazon có thể bị phá hủy. Suốt hàng nghìn năm, Homo sapiens hành xử như một tên sát thủ hàng loạt của hệ sinh thái; giờ chúng đang biến hình thành một tên hủy diệt sinh thái. Nếu tiếp tục đi trên con đường hiện tại, chúng ta sẽ không chỉ hủy diệt một phần lớn mọi dạng sống mà còn có thể làm sụp đổ nền móng của văn minh con người.
Đáng sợ hơn cả là viễn cảnh biến đổi khí hậu. Con người đã ở đây vài trăm ngàn năm và đã tồn tại qua vô số kỷ băng hà cũng như các đợt nóng lên. Tuy nhiên, nông nghiệp, thành thị và các xã hội phức tạp chỉ mới tồn tại chưa đến 10.000 năm. Trong giai đoạn này, được gọi là thế Holocene, khí hậu Trái đất khá Ổn định. Bất cứ sai lệch nào so với các chuẩn của Holocene sẽ mang đến cho các xã hội loài người những thách thức khổng lồ mà họ chưa bao giờ gặp phải. Việc này sẽ như tiến hành một thí nghiệm ngỏ trên hàng triệu con chuột lang-người. Ngay cả khi văn minh loài người cuối cùng cũng thích ứng được với các điều kiện mới, ai biết bao nhiêu nạn nhân sẽ bỏ mạng trong quá trình thích nghi.
Thí nghiệm khủng khiếp này đã bắt đầu. Không như chiến tranh hạt nhân, một khả năng trong tương lai, biến đổi khí hậu là một thực tế trong hiện tại. Giới khoa học đồng thuận rằng các hoạt động của con người, đặc biệt là sự phát thải các khí nhà kính như carbon dioxide, đang khiến khí hậu Trái đất thay đổi với một tốc độ đáng sợ. Không ai biết chính xác ta có thể tiếp tục bơm vào không khí bao nhiêu carbon dioxide mà không gây ra một cơn đại hồng thủy không thể đảo ngược. Nhưng càc dự đoán khoa học tốt nhất của chúng ta cho thấy nếu không cắt giảm mạnh lượng phát thải khí nhà kính trong hai chục năm tới, nhiệt độ toàn cầu trung bình sẽ tăng hơn 2°C, dẫn đến các sa mạc ngày càng mở rộng, các mỏm băng biến mất, các đại dương dâng cao và các hiện tượng thời tiết cực đoan như siêu bão và lốc xoáy xảy ra ngày một thường xuyên. Sau đó, các biến đổi này sẽ phá vỡ sản xuất nông nghiệp, gây ngập lụt các thành phố, khiến phần lớn thế giới trở nên không thể sinh sống được và đẩy hàng trăm triệu người tị nạn vào cuộc kiếm tìm nơi ở mới.
Hơn nữa, chúng ta đang nhanh chóng tiến đến một số điểm tới hạn, vượt qua chúng thì ngay cả sự tụt giảm đáng kể phát thải khí nhà kính cũng sẽ không đủ đảo ngược xu hướng và tránh một bi kịch toàn cầu. Chẳng hạn, khi nóng lên toàn cầu làm tan các tảng băng ở hai cực, ánh sáng mặt trời phản xạ từ Trái đất ra ngoài không gian sẽ ít đi. Điều này có nghĩa là hành tinh sẽ hấp thụ nhiều nhiệt hơn, nhiệt độ thậm chí còn tăng cao hơn và băng lại tan nhanh hơn. Một khi vòng lặp này vượt một ngưỡng nhất định, nó sẽ đạt tới cái đà không thể cưỡng nổi và tất cả băng ở các vùng cực sẽ tan hết, dù con người có dừng đốt than, khí và dầu. Do đó, nhận thức được mối hiểm họa chúng ta đang đối mặt là không đủ. Quan trọng là chúng ta thực sự làm một cái gì đó đối với vấn đề ấy ngay bây giờ.
Thật không may, đến năm 2018, thay vì giảm phát thải khí nhà kính, tốc độ phát thải toàn cầu vẫn đang tăng. Loài người còn rất ít thời gian để tự “cai” các nhiên liệu hóa thạch. Chúng ta cần vào trại cai nghiện ngay hôm nay. Không phải năm tới hay tháng tới, mà là hôm nay. “Xin chào, tôi là Homo sapiens và tôi là một con nghiện nhiên liệu hóa thạch”.
Chủ nghĩa dân tộc thì vừa chỗ nào trong bức tranh đáng báo động này? Liệu có câu trả lời dân tộc chủ nghĩa nào cho hiểm họa sinh thái không? Liệu có bất kỳ quốc gia nào, dù hùng mạnh đến đâu, có thể một mình chấm dứt sự nóng lên toàn cầu? Các quốc gia riêng lẻ hẳn nhiên có thể áp dụng một loạt các chính sách xanh, nhiều chính sách trong số đó có hợp lý về mặt kinh tế cũng như môi trường. Các chính phủ có thể đánh thuế phát thải carbon, thêm chi phí môi trường vào giá xăng và dầu, áp dụng các quy định môi trường cứng rắn hơn, cắt giảm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp gây ô nhiễm và khuyến khích chuyển sang năng lượng tái tạo. Họ cũng có thể đầu tư thêm tiền cho nghiên cứu và phát triển các công nghệ mang tính cách mạng thân thiện với môi trường, trong một dạng Dự án Manhattan11 về sinh thái. Ta phải cảm ơn động cơ đốt trong về rất nhiều tiên bộ của 150 năm trở lại đây, nhưng nếu chúng ta muốn duy trì một môi trường vật chất và kinh tế ổn định thì bây giờ nó phải được “nghỉ hưu” và thay thế bằng các công nghệ mới không sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Các đột phá công nghệ có thể giúp ích trong nhiều lĩnh vực khác, ngoài năng lượng. Thử xem xét khả năng phát triển “thịt sạch” mà xem. Hiện tại, ngành công nghiệp thịt không chỉ mang đến vô vàn khổ đau cho hàng tỷ sinh vật có cảm xúc mà còn là một trong những nguyên nhân chính của nóng lên toàn cầu, một trong những ngành tiêu thụ kháng sinh và chất độc chủ chốt, và một trong những ngành “tiên phong” trong việc gây ô nhiễm không khí, đất và nước. Theo một báo cáo năm 2013 của Viện Kỹ thuật Cơ khí, con người mất gần 15.000 lít nước sạch để sản xuất một kilogam thịt bò, so với 287 lít nước cần để sản xuất một kilogam khoai tây.
Áp lực lên môi trường nhiều khả năng sẽ ngày càng tồi tệ khi sự phồn thịnh ngày càng tăng ở các nước như Trung Quốc và Brazil cho phép hàng trăm triệu người nữa có thể chuyển từ ăn khoai tây sang ăn thịt bò một cách thường xuyên. Sẽ khó mà thuyết phục người Trung Quốc và người Brazil, chưa kể đến người Mỹ và người Đức, ngừng ăn bít-tết, hamburger và xúc xích. Nhưng nếu các kỹ sư có thể tìm cách “nuôi” thịt từ các tế bào thì sao? Nếu muốn ăn một cái hamburger, bạn chỉ cần “nuôi” một cái hamburger, thay vì nuôi và giết thịt cả một con bò (và vận chuyển cái xác hàng ngàn kilomet).
Điều này nghe có vẻ khoa học giả tưởng, nhưng chiếc hamburger sạch đầu tiên trên thế giới được nuôi trồng từ tế bào, rồi ăn, vào năm 2013. Nó có giá 330.000 đô la. Bốn năm nghiên cứu và phát triển đẩy giá xuống còn 11 đô la một chiếc và trong khoảng một thập kỷ nữa, thịt sạch sản xuất quy mô công nghiệp được dự đoán sẽ rẻ hơn thịt giết mổ. Sự phát triển công nghệ này có thể cứu hàng tỷ con vật khỏi sự “cùng cực khốn khổ”, có thể giúp nuối sống hàng tỷ người suy dinh dưỡng và có thể cùng lúc giúp ngăn chặn sụp đổ sinh thái.
Cố rất nhiều việc mà các chính phủ, tập đoàn và cá nhân có thể làm để tránh biến đổi khí hậu. Nhưng để hiệu quả, chúng phải được thực hiện trên quy mô toàn cầu. Khi nói đến khí hậu các quốc gia đơn giản là không có chủ quyền. Họ đều chịu ảnh hưởng của những hành động mà những người cách nửa vòng Trái đất thực hiện. Cộng hòa Kiribati, một quốc đảo ở Thái Bình Dương, có thể giảm khí thải nhà kính xuống mức không nhưng vẫn bị nhấn chìm dưới các con sóng đang dâng lên nếu các quốc gia khác không làm theo. Chad có thể lắp các tấm pin năng lượng mặt trời lên mọi mái nhà khắp cả nước nhưng vẫn bị biến thành một sa mạc khô cằn vì các chính sách năng lượng vô trách nhiệm của những người nước ngoài xa xôi. Ngay cả các quốc gia hùng cường như Trung Quốc hay Nhật Bản cũng không “có chủ quyền” về sinh thái. Để bảo vệ Thượng Hải, Hồng Kông và Tokyo khỏi các trận lũ lụt và siêu bão tàn phá, người Nhật và người Trung Quốc sẽ phải thuyết phục chính phủ Nga và Mỹ từ bỏ cách tiếp cận “mũ ni che tai” của họ.
Chủ nghĩa cô lập dân tộc có lẽ còn nguy hiểm hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu so với chiến tranh hạt nhân. Một cuộc chiến hạt nhân toàn diện đe dọa phá hủy mọi quốc gia, thế nên mọi quốc gia đều có trách nhiệm phòng ngừa nó như nhau. Trái lại, nóng lên toàn cầu có lẽ sẽ tác động khác nhau lên các quốc gia khác nhau. Một số nước, đáng kể nhất là Nga, có thể còn được lợi từ nó. Nga có tương đối ít tài sản ven biển, do đó nó sẽ phải lo lắng về nước biển dâng ít hơn Trung Quốc hay Kiribati rất nhiều. Và trong khi nhiệt độ cao hơn rất có thể biến Chad thành sa mạc thì nó có thể dần biến Siberia thành vựa bánh mì của thế giới. Thêm nữa, khi băng tan ở vùng cực Bắc, các đường biển Bắc do Nga làm bá chủ có thể trở thành mạch máu giao thương của thế giới và Kamchatka có thể thay thế Singapore trở thành giao lộ thế giới.
Tương tự, thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng các nguồn năng lượng tái tạo nhiều khả năng hấp dẫn với một số nước hơn các nước khác. Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc phụ thuộc vào việc nhập khẩu lượng dầu mỏ và khí đốt khổng lồ. Họ sẽ rất vui mừng nếu thoát được gánh nặng dó. Nga, Iran và Ả Rập Saudi phụ thuộc vào xuất khẩu hai mặt hàng trên. Nến kinh tế của họ sẽ sụp đổ nếu dầu mỏ và khí đốt đột ngột nhường chỗ cho mặt trời và gió.
Do đó, trong khi một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản và Kiribati chắc chắn sẽ thúc đẩy mạnh mẽ để giảm phát thải khí nhà kính càng sớm càng tốt, các nước như Nga và Iran sẽ kém nhiệt tình hơn nhiều. Ngay tại các nước có thể thua thiệt nhiều do nóng lên toàn cầu, như Hoa Kỳ, các nhà dân tộc chủ nghía cùng có thể quá thiển cận và ích kỷ dể hiểu dược mối nguy hiểm. Một ví dụ nhỏ nhưng rất đáng kể xảy ra vào tháng Một năm 2018, khi Hoa Kỳ áp mức thuế 30% lên các tấm pin và thiết bị năng lượng mặt trời sản xuất tại nước ngoài nhằm bảo vệ các nhà sản xuất năng lượng mặt trời Mỹ cho dù cái giá phải trả là làm chậm lại quá trình chuyển sang năng lượng tái tạo.
Một quả bom nguyên tử là một mối de dọa rõ ràng và thúc bách đến nỗi không ai có thể phớt lờ. Trải lại, nóng lên toàn cầu là một hiểm họa mơ hồ và kéo dài hơn nhiều. Do dó, mỗi khi các suy xét môi trường dài hạn đòi hỏi chút hy sinh ngắn hạn đau đớn, các nhà dân tộc chủ nghĩa có thể bị cám dỗ mà đạt lợi ích dân tộc tức thời lên đầu rồi tự trấn an mình rằng họ có thể lo cho môi trường sau, hoặc cứ để chuyện dó cho những người ở chồ khác lo. Hoặc giả, họ có thể đơn giản phủ nhận vấn đề. Không phải là tình cờ mà những nghi ngờ về biến dổi khí hậu thường là “của riêng” của cánh hữu dân tộc chủ nghĩa. Bạn hiếm, khi thấy các nhà xã hội cánh tả tweet rằng “biến đổi khí hặu là trò lừa của Trung Quốc”. Không có câu trả lời ở cấp quốc gia nào cho vấn đề nóng lên toàn cầu nên một số chính trị gia dân tộc chủ nghĩa thà tin rằng vấn đề không tồn tại.
THỬ THÁCH CÔNG NGHỆ
Vẫn những động lực đó nhiều khả năng sẽ phá hủy bất cứ liều thuốc giải dân tộc chủ nghĩa nào dành cho hiểm họa có tính sống còn thứ ba của thế kỷ 21: đứt gãy do công nghệ. Như chúng ta đã thấy trong các chương trước, sự hợp nhất của công nghệ thông tin và công nghệ sinh học mở cánh cửa đến một loạt viễn cảnh tận thế, từ các nền độc tài số cho đến sự ra đời của một tầng lớp VÔ DỤNG toàn cầu.
Câu trả lời của chủ nghĩa dân tộc cho những hiểm họa này là gì?
Không có câu trả lời chủ nghĩa dân tộc nào cả. Như trong trường hợp biến đổi khí hậu, đứt gãy do công nghệ cũng vậy; tầm quốc gia đơn giản không phải là khuôn khổ hợp lý để đánh giá vấn đề. Vì nghiên cứu và phát triển không phải là độc quyền của bất cứ quốc gia nào, ngay cả một cường quốc như Mỹ cũng không thể tự mình kiểm soát chúng. Việc chính phủ Mỹ cấm các phôi người bị điều chỉnh về mặt di truyền cũng không ngăn được các nhà khoa học Trung Quốc làm chuyện đó. Và nếu các phát triển tiếp theo mang lại cho Trung Quốc một lợi thế kinh tế hay quân sự thiết yếu, nước Mỹ sẽ bị cám dỗ phá vỡ lệnh cám của chính mình. Đặc biệt trong một thế giới bài ngoại và bất chấp thủ đoạn, ngay cả khi một quốc gia duy nhất chọn đi theo con đường công nghệ nguy cơ cao lợi ích lớn, các nước khác sẽ bị buộc phải làm theo vì không ai có thể trả nổi cái giá bị bỏ lại phía sau. Để tránh một cuộc đua bằng mọi giá như thế, loài người có lẽ sẽ cần một thứ bản sắc và lòng trung thành toàn cầu nào đó.
Hơn nữa, trong khi chiến tranh hạt nhân và biến đổi khí hậu đe dọa chỉ sự tồn tại về thể xác của con người, sự đứt gãy do các công nghệ gây ra có thể thay đổi chính bản chất của nhân loại và do đó vướng vào những niềm tin đạo đức và tôn giáo sấu sắc nhất của con người. Trong khi mọi người đều đồng ý là ta nên tránh chiến tranh hạt nhân và sụp đổ sinh thái, chúng ta lại có các ý kiến rất khác nhau về việc sử dụng công nghệ sinh học và AI để nâng cấp con người và tạo các dạng sống mới. Nếu loài người thất bại trong việc phát triển và áp dụng các chỉ dẫn đạo đức được công nhận trên toàn cầu, thì đó sẽ là cơ hội rộng mở cho tiến sĩ Frankenstein.
Khi nói đến việc đưa ra các chỉ dẫn đạo đức như vậy, chủ nghĩa dân tộc kém cởi hơn hết thảy ở chỗ thiếu trí tưởng tượng. Các nhà dân tộc chủ nghĩa nghĩ theo hướng các mâu thuẫn lãnh thổ kéo dài vài thế kỷ, trong khi các cuộc cách mạng công nghệ của thế kỷ 21 thật ra nên được hiểu theo tầm vũ trụ. Sau bốn tỷ năm sự sống hữu cơ tiến hóa theo chọn lọc tự nhiên, khoa học đang hướng vào một kỷ nguyên của sự sống vô cơ được thiết kế thông minh định hình.
Trong quá trình đó, chính Homo sapiens rất có thể sẽ biến mất. Ngày nay, chúng ta vẫn là những con linh trưởng thuộc họ Hominidae. Chúng ta vẫn có chung phần lớn cấu trúc cơ thể, năng lực thể chất và năng lực tinh thần với Neanderthal và tinh tinh. Không chỉ tay, mắt và não chúng ta đặc sệt Hominidae mà cả đam mê, tình yêu, sự tức giận và các liên kết xã hội của ta cũng thế. Chỉ trong một hoặc hai thế kỷ nữa, sự hợp nhất của công nghệ sinh học và AI có thể đem lại những đặc tính về thể chất và tinh thần hoàn toàn thoát khỏi cái khuôn Hominidae. Một số người tin rằng ý thức thậm chí sẽ bị cắt đứt khỏi bất cứ cấu trúc hữu cơ nào và có thể lướt trong không gian ảo độc lập mà không có bất kỳ rào cản sinh học và vật lý nào. Mặt khác, chúng ta có thể chứng kiến sự tách đôi hoàn toàn của trí tuệ và ý thức, và sự phát triển của AI có thể đưa đến một thế giới bị các thực thể siêu thông minh nhưng hoàn toàn không có ý thức thống trị.
Chủ nghĩa dân tộc Israel, Nga hay Pháp có gì để nói về chuyện này? Để đưa ra các lựa chọn thông minh cho tương lai của sự sống, chúng ta cần phải vượt rất xa tầm nhìn của chủ nghĩa dân tộc và nhìn mọi thứ từ một góc độ toàn cầu, thậm chí là vũ trụ.
CON TÀU VŨ TRỤ MANG TÊN TRÁI ĐẤT
Chỉ một trong ba vấn đề này, chiến tranh hạt nhân, sụp đổ sinh thái và đứt gãy do công nghệ, đã đủ đe dọa tương lai của nền văn minh nhân loại. Nhưng cùng nhau, chúng cấu thành một khủng hoảng mang tính sống còn chưa từng có, đặc biệt là vì chúng rất có thể sẽ “trợ lực” và hợp nhất với nhau.
Chẳng hạn, mặc dù cuộc khủng hoảng sinh thái đe dọa sự tồn vong của nền văn minh nhân loại như ta đã biết, rất ít khả năng nó sẽ chặn đứng sự phát triển của AI và công nghệ sinh học. Nếu trông chờ các đại dương đang dâng cao, nguồn cung thực phẩm bị thu hẹp và các cuộc di cư khổng lồ sẽ làm phân tán sự tập trung của chúng ta khỏi các thuật toán và gien, chúng ta nên nghĩ lại. Khi cuộc khủng hoảng sinh thái nghiêm trọng hơn, sự phát triển các công nghệ nguy cơ cao, lợi ích lớn có thể sẽ tăng tốc.
Thực ra, biến đổi khí hậu có thể sẽ có tắc dụng giống như hai cuộc thế chiến. Từ năm 1914 đến năm 1918 và một lần nữa từ năm 1939 đến năm 1945, tốc độ phát triển kỹ thuật đã tăng đột biến bởi các nước tham gia cuộc chiến tranh toàn diện đã bỏ qua mọi lời cảnh báo lẫn cơ cấu nền kinh tế mà đầu tư những nguồn lực cực kỳ lớn vào đủ loại dự án táo bạo và hoang đường. Nhiều dự án đã thất bại nhưng một số đã sản xuất ra xe tăng, ra-đa, khí độc, máy bay siêu thanh, tên lửa xuyên lục địa và bom nguyên tử. Tương tự, các quốc gia đang đối mặt với biến đổi khí hậu có thể bị cám dỗ mà đầu tư hy vọng của mình vào các canh bạc kỹ thuật đầy tuyệt vọng. Loài người có rất nhiều quan ngại chính đáng về AI và công nghệ sinh học, nhưng trong thời khủng hoảng, người ta làm những chuyện liều mạng. Mỗi khi bạn nghĩ về việc kiểm soát công nghệ đột phá, hãy tự hỏi liệu các quy định này có khả năng đứng vững nếu biến đổi khí hậu dẫn đến thiếu hụt lương thực toàn cầu, ngập lụt các thành phố trên khắp thế giới và đẩy hàng trăm triệu người phải vượt biên.
Đến lượt mình, sự đứt gãy do công nghệ gây ra cũng có thể gia tăng nguy cơ chiến tranh hủy diệt, không chỉ thông qua gia tăng căng thẳng toàn cầu mà còn do mất ổn định cán cân sức mạnh hạt nhân. Từ những năm 1950, các cường quốc tránh xung đột với nhau vì họ đều biết chiến tranh nghĩa là cầm chắc hủy diệt lẫn nhau. Nhưng khi các dạng vũ khí tấn công và phòng vệ mới xuất hiện, một cường quốc công nghệ đang lên có thể kết luận rằng mình có thể hủy diệt kẻ thù mà không hề bị thiệt hại. Trái lại, một cường quốc đang đi xuống có thể sợ rằng các vũ khí hạt nhân hiện có của mình sẽ sớm trở nên vô dụng, thế thì thà dùng chúng trước khi mất hết còn hơn. Theo truyền thống, các cuộc đối đầu hạt nhân giống một ván cờ siêu lý trí. Điều gì sẽ xảy ra khi các kỳ thủ có thể sử dụng các cuộc tấn công mạng để giành quyền kiểm soát các quân cờ của đối thủ, trong khi các bên thứ ba nặc danh có thể di chuyển một con tốt mà không ai biết kẻ đang điều quân, hay khi AlphaZero tốt nghiệp từ cờ vua lên cờ hạt nhân?
Cũng như cách các thách thức khác nhau nhiều khả năng sẽ kết hợp với nhau, những thiện chí cần thiết để đối đầu với một thách thức có thể bị các vấn đề trên một mặt trận khác dập tắt. Các quốc gia mắc kẹt trong một cuộc chạy đua vũ trang rất khó đồng thuận trong việc hạn chế phát triển AI, và các quốc gia đang nỗ lực bỏ xa các thành tựu công nghệ của đối thủ sẽ thấy khó đồng tình với một kế hoạch chung hòng ngăn chặn biến đổi khí hậu. Hễ thế giới còn phân chia thành các quốc gia đối đầu, sẽ rất khó để cùng lúc vượt qua cả ba thách thức trên, mà thất bại chỉ trong một mặt trận thôi đã có thể là thảm họa.
Kết lại, làn sóng chủ nghĩa dân tộc đang quét qua thế giới không thể quay thế giới ngược về năm 1939 hay 1914. Công nghệ đã thay đổi mọi thứ bằng việc tạo ra một tập hợp các mối đe dọa sống còn trên phạm vì toàn cầu mà không một quốc gia nào có thể tự giải quyết. Một kẻ thù chung là chất xúc tác tốt nhất để rèn nên một bản sắc chung và loài người bây giờ đang có ít nhất ba kẻ thù như vậy: chiến tranh hạt nhân, biến đổi khí hậu và sự đứt gãy do cồng nghệ. Dù có các mối đe dọa chung như vậy mà loài ugười vẫn chọn ưu tiên lòng trung thành với quốc gia của mình lên trên tất cả các thứ khác, kết quả có thể sẽ còn tệ hơn năm 1914 và 1939 rất nhiều.
Một con đường tốt đẹp hơn nhiều đã được vạch ra trong Hiến chương của Liên minh châu Âu, nói rằng “trong khi tiếp tục tự hào về bản sắc và lịch sử quốc gia mình, các dân tộc châu Âu quyết tâm vượt qua những chia rẽ trước đây, sát lại gần nhau hơn nữa để cùng tạo nên một số phận chung”. Điều này không có nghĩa là từ bỏ mọi bản sắc quốc gia, mọi truyền thống địa phương và biến nhân loại thành một khối “bầy nhầy xám xịt” đồng nhất. Nó cũng không có nghĩa là phỉ báng mọi biểu hiện của lòng ái quốc. Thực sự, bằng cách cung cấp một vỏ bọc bảo vệ quân sự và kinh tế xuyên lục địa, ta có thể nói là Liên minh châu Âu đang nuôi dưỡng lòng ái quốc bản địa ở các nơi như Handers, Lombardy, Catalan và Scotland. Ý tưởng xây dựng một Scotland hay Catalan độc lập trở nên hấp dẫn hơn khi bạn không còn phải sợ một cuộc xâm lược của người Đức và khi bạn có thể dựa vào một mặt trận châu Âu chung để đối phó với sự nóng lên toàn cầu và các tập đoàn đa quốc gia.
Các nhà dân tộc chủ nghĩa châu Âu do vậy đang rất bình tĩnh. Dù lải nhải rất nhiều về sự trở lại của quốc gia, rất ít người châu Âu thực sự dám giết và bị giết vì điều đó. Khi người Scotland tìm cách thoát khỏi gọng kìm của London vào thời William Wallace và Robert Bruce, họ phải xây dựng cả một đội quân để làm việc đó. Trái lại, không một người nào bị thiệt mạng trong cuộc trưng cầu Scotland năm 2014 và nếu lần tới người Scot bỏ phiếu giành độc lập, rất ít khả năng họ sẽ phải “diễn lại” trận Bannockbum. Nỗ lực của xứ Catalan hòng thoát khỏi Tây Ban Nha bạo lực hơn đáng kể, nhưng nó cũng kém xa cuộc tắm máu mà Barcelona phải gánh chịu vào năm 1939 hay năm 1714.
Phần còn lại của thế giới có thể học hỏi tấm gương châu Âu. Ngay cả một hành tinh thống nhất cũng vẫn có vô số chỗ trống cho kiểu yêu nước vốn ca tụng tính độc đáo của dân tộc mình và nhấn mạnh bổn phận đặc biệt của mình dành cho nó. Nhưng nếu chúng ta muốn tồn tại và phát triển, nhân loại không có nhiều lựa chọn mà phải bổ sung vào lòng trung thành mang tính cục bộ đó những bổn phận lớn lao dành cho một cộng đồng quốc tế. Một người có thể và nên trung thành với gia đình, láng giềng, công việc và tổ quốc của mình; thế thì sao ta không thêm cả nhân loại và hành tinh Trái đất vào danh sách đó? Đúng, khi ta có nhiều lòng trung thành, mâu thuẫn đôi khi là không tránh khỏi. Nhưng ai bảo cuộc sống là đơn giản nào? Hãy tự xử lý đi.
Trong các thế kỷ trước, bản sắc dân tộc được tạo ra vì con người phải đối mặt với các vấn đề và cơ hội vượt quá tầm vóc của các bộ lạc địa phương và chỉ có hợp tác toàn quốc mới mong giải quyết được. Trong thế kỷ 21, các quốc gia thấy mình ở hoàn cảnh giống hệt các bộ lạc: họ không còn là khung khuôn khổ hợp lý để giải quyết các thử thách quan trọng nhất của thời đại nữa. Chúng ta cần một bản sắc toàn cầu mới bởi vì các thể chế quốc gia không có khả năng giải quyết một loạt các vấn đề toàn cầu chưa từng có tiền lệ. Giờ chúng ta có một hệ sinh thái toàn cầu, một nền kinh tế toàn cầu và một nền khoa học toàn cầu; nhưng chúng ta vẫn còn mắc kẹt với các nền chính trị quốc gia. Sự bất xứng này ngăn không cho hệ thống chính trị giải quyết các vấn đề chính của chúng ta một cách hiệu quả. Để có một nền chính trị hữu hiệu, hoặc chúng ta phải phi toàn cầu hóa hệ sinh thái, nền kinh tế và cuộc “hành quân” của khoa học, hoặc chúng ta phải toàn cầu hóa nền chính trị của chúng ta. Vì phi toàn cầu hóa hệ sinh thái và khoa học là bất khả, đồng thời cái giá phải phi toàn cầu hóa nền kinh tế có lẽ là quá cao, giải pháp thực sự duy nhất là toàn cầu hóa nền chính trị. Điều này không có nghĩa là thiết lập một “chính phủ toàn cầu”, một viễn cảnh mơ hồ và thiếu thực tế. Thay vào đó, toàn cầu hóa nền chính trị có nghĩa là động cơ chính trị trong mỗi quốc gia, thậm chí là mỗi thành phố, cần phải đặt nặng hơn nữa các vấn đề và lợi ích toàn cầu.
Các cảm tính kiểu dân tộc chủ nghĩa hẳn không giúp gì nhiều cho việc đó. Thế thì có lẽ ta nên dựa vào các truyền thống tôn giáo phổ quát của nhân loại để giúp hợp nhất thế giới? Hàng trăm năm trước, các tôn giáo như Cơ Đốc và đạo Hồi đã nghĩ theo xu hướng toàn cầu thay vì địa phương và luôn rất hứng thú với các câu hỏi lớn của sự sống chứ không phải những tranh đấu chính trị của quốc gia này kia. Nhưng liệu các tôn giáo truyền thống có còn xác đáng? Chúng có còn giữ được sức mạnh định hình thế giới hay chỉ là những cổ vật vô hồn từ quá khứ, bị quyền lực tối cao của các nhà nước, các nền kinh tế và công nghệ hiện đại vung vãi mỗi nơi một chút?
Bài học 8 - Tôn giáo
CHÚA GIỜ PHỤNG SỰ QUỐC GIA
Cho đến giờ, các ý thức hệ hiện đại, các chuyên gia khoa học và các chính phủ quốc gia vẫn chưa thể tạo ra một tầm nhìn khả dĩ cho tương lai của nhân loại. Liệu một tầm nhìn như vậy có thể được rút ra từ những ngọn nguồn sâu thẳm của truyền thống tôn giáo? Có thể câu trả lời đã đợi ta bấy lâu nay giữa các trang Kinh Thánh, kinh Quran hay kinh Vệ Đà.
Những người vô thần hẳn sẽ phản ứng trước ý tưởng này bằng sự chế nhạo hay e sợ. Các văn bản thánh kinh có thể có lý vào thời Trung cổ, nhưng làm sao chúng có thể dẫn dắt chúng ta trong một kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, nóng lên toàn cầu và chiến tranh mạng? Thế nhưng người vô thần lại thuộc thiểu số. Hàng tỷ người vẫn đặt niềm tin lớn lao vào kinh Quran và Kinh Thánh hơn là thuyết tiến hóa; các phong trào tôn giáo định hình chính trị của các nước đa dạng như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ; và hận thù tôn giáo thổi bùng các mâu thuẫn từ Nigeria sang tới Philippines.
Thế thì các tôn giáo như Cơ Đốc giáo, Hồi giáo và Hindu giáo xác đáng đến mức nào? Liệu chúng có thể giúp chúng ta giải quyết các vấn đề chính mà ta đang gặp phải? Để hiểu vai trò của các tôn giáo truyền thống trong thế giới của thế kỷ 21, ta cần phân biệt ba dạng vấn đề:
Các vấn đề kỹ thuật. Chẳng hạn, các nông dân ở những đất nước khô hạn đối mặt với hạn hán nghiêm trọng do sự nóng lên toàn cầu gây ra như thế nào?
Các vấn đề chính sách. Chẳng hạn, chính quyền nên thực hiện các quyết sách gì để ngăn chặn nóng lên toàn cầu ngay từ đầu?
Các vấn đề bản sắc. Chẳng hạn, tôi có nên quan tâm các vấn đề của những nông dân ở phía bên kia thế giới hay chỉ cần quan tâm đến các vấn đề của những người thuộc bộ tộc và đất nước của tôi thôi?
Như chúng ta sẽ thấy trong các trang tiếp theo, các tôn giáo truyền thống phần lớn là không liên quan đến các vấn đề kỹ thuật hay chính sách. Trái lại, chúng lại cực kỳ liên quan đến các vấn đề về bản sắc; nhưng trong hầu hết các trường hợp, chúng góp một phần lớn vào vấn đề hơn là một giải pháp tiềm năng.
CÁC VẤN ĐỀ KỸ THUẬT: NỀN NÔNG NGHIỆP CƠ ĐỐC
Vào thời tiền hiện đại, các tôn giáo chịu trách nhiệm giải quyết một loạt các vấn đề kỹ thuật trong những lĩnh vực tầm thường như nông nghiệp. Các lịch thánh quyết định lúc nào gieo trồng và lúc nào thu hoạch, còn các nghi lễ đền đài thì đảm bảo lượng mưa và bảo vệ mùa màng khỏi dịch bệnh. Khi một cuộc khủng hoảng nông nghiệp kéo tới do hạn hán hay nạn châu chấu, người nông dân quay sang các thầy tu để cầu khấn với các vị thần. Cả thuốc thang cũng rơi vào địa hạt tôn giáo. Gần như mọi nhà tiên tri, guru hay thầy cúng đều là thầy thuốc. Chẳng hạn như Chúa Jesus dành nhiều thời gian chữa lành người bệnh, giúp người mù sáng mắt, người câm biết nói và người điên tỉnh trí. Dù là bạn sống ở Ai Cập cổ đại hay châu Âu trung cổ, nếu bị ốm, chắc chắn bạn sẽ đến gặp thầy thuốc-phù thủy thay vì bác sĩ, và hành hương đến một ngôi đền nổi tiếng thay vì đến bệnh viện.
Đến thời cận đại, các nhà sinh học và các bác sĩ phẫu thuật đã giành mất công việc của các thầy tế và thầy cúng hô phong hoán vũ. Nếu lúc này Ai Cập bị nạn châu chấu tấn công, người Ai Cập có thể vẫn cầu Đấng Allah cứu giúp – tại sao không? – nhưng họ sẽ không quên gọi các nhà hóa học, nhà nghiên cứu sâu bọ và nhà di truyền để phát triển các loại thuốc trừ sâu mạnh hơn và các giống lúa mì kháng côn trùng. Nếu con của tín đồ sùng đạo Hindu bị sỏi nặng, người cha sẽ đọc một lời cầu khấn hướng đến thần Dhanvantari và dâng hương hoa tại ngôi đền trong làng; nhưng đó là chỉ sau khi ông đã khẩn trương đưa đứa trẻ đến bệnh viện gần nhất và tin tưởng gửi con mình cho các bác sĩ ở đó chăm sóc. Ngay cả các bệnh thần kinh, địa hạt cuối cùng của các thầy thuốc-tôn giáo, cũng đang dần được sang tay cho các nhà khoa học, khi khoa thần kinh học thay thế quỷ học và thuốc Prozac chiếm chỗ phép trừ tà.
Chiến thắng của khoa học toàn vẹn đến nỗi chính ý niệm của chúng ta về tôn giáo cũng đã thay đổi. Chúng ta không còn liên hệ tôn giáo với nông nghiệp và y khoa nữa. Ngay cả nhiều người mộ đạo giờ cũng “mắc chứng mất trí nhớ tập thể” và chọn cách quên đi việc các tôn giáo truyền thống từng giành quyền quyết định trong các địa hạt này. “Nếu chúng ta quay sang các kỹ sư và bác sĩ thì sao?” những người sùng đạo nói. “Điều đấy chẳng chứng minh được gì hết. Tôn giáo ngay từ đầu liên quan gì đến nông nghiệp và y khoa chứ?”
Tôn giáo truyền thống đã để mất đi quá nhiều lãnh địa vì nói trắng ra, tôn giáo không lấy gì làm giỏi giang trong nông nghiệp hay y tế. Chuyên môn thực sự của các thầy tu và guru, thật ra, chưa bao giờ là làm mưa, chữa bệnh, tiên tri hay pháp thuật. Thật ra, chuyên môn của họ luôn là diễn dịch. Thầy tu không phải là người biết cách nhảy điệu cầu mua và kết thúc hạn hán. Thầy tu là người biết cách biện minh cho việc điệu nhảy cầu mưa của mình thất bại và tại sao chúng ta phải tiếp tục tin vào vị thần của mình ngay cả khi ông ta có vẻ như mắt mù tai điếc trước những cầu nguyên của chúng ta.
Nhưng chính sự thiên tài trong diễn dịch khiến các thủ lĩnh tôn giáo mất lợi thế khi cạnh tranh với các nhà khoa học. Các nhà khoa học cũng rất biết cách đi tắt và bẻ cong bằng chứng, nhưng xét cho cùng, điểm sáng của khoa học là sẵn sàng thừa nhận thất bại và thử một cách khác. Đấy là lý do vì sao các nhà khoa học dần học được cách trồng trọt tốt hơn và làm ra các loại thuốc hiệu quả hơn, trong khi các thầy tu và guru chỉ học được cách kiếm cớ giỏi hơn. Qua nhiều thế kỷ, ngay cả những tín đồ thực thụ cũng đã thấy được sự khác biệt; đấy là lý do quyền hạn tôn giáo đã và đang thu hẹp trong ngày càng nhiều lĩnh vực mang tính kỹ thuật. Đấy là lý do toàn thế giới đang ngày càng trở thành một nền văn minh duy nhất. Khi thứ gì đó thật sự hữu hiệu, con người ta sẽ chấp nhận chúng.
CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH: NỀN KINH TẾ HỒI GIÁO
Tong khi khoa học cho chúng ta những câu trả lời rành mạch về các vấn đề kỹ thuật như là làm sao để chữa bệnh sỏi, vẫn còn khá nhiều bất đồng giữa các nhà khoa học trong các câu hỏi về chính sách. Gần như mọi nhà khoa học đều đồng ý rằng nóng lên toàn cầu là sự thật, nhưng không có sự đồng thuận về phản ứng kinh tế tốt nhất đối với mối nguy này. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các tôn giáo truyền thống có thể giúp chúng ta giải quyết vấn đề. Các bản kinh cổ đơn giản không phải là những chỉ dẫn tốt cho nền kinh tế hiện đại và những lằn ranh chính, chẳng hạn giữa các nhà tư bản và nhà xã hội, không trùng với sự phân chia giữa các tôn giáo truyền thống.
Đúng, trong các quốc gia như Israel và Iran, các giáo sĩ và lãnh tụ tối cao có tiếng nói trực tiếp trong sách lược kinh tế của chính phủ; thậm chí trong các quốc gia thế tục hơn như Hoa Kỳ và Brazil, các lãnh đạo tôn giáo cũng có ảnh hưởng đến ý kiến của công luận trong các vấn đề từ thuế khóa cho đến các quy định về môi trường. Thế nhưng nhìn kỹ hơn, ta sẽ thấy trong phần lớn những trường hợp này, các tôn giáo truyền thống thực ra chỉ chơi bè phụ so với các lý thuyết khoa học hiện đại. Khi lãnh tụ tối cao Khamenei cần đưa ra một quyết định tối quan trọng về nền kinh tế Iran, ngài sẽ không tìm thấy câu trả lời cần thiết trong kinh Quran vì những người Ả Rập thế kỷ thứ 7 biết rất ít về các vấn đề và cơ hội của những nền kinh tế công nghiệp hiện đại và các thị trường tài chính toàn cầu. Thế nên ngài, hay các cộng sự của ngài, phải quay sang Karl Marx, Milton Friedman, Friedrich Hayek và kinh tế học hiện đại để tìm câu trả lời. Sau khi đã quyết định tăng lãi suất, giảm thuế, tư nhân hóa các ngành độc quyền của chính phủ hay ký một thỏa thuận thuế quan quốc tế, Khamenei sau đó có thể sử dụng các kiến thức và quyền hạn tôn giáo của mình để gói câu trả lời khoa học của mình trong lớp vải của câu này hay câu kia trong kinh Quran và trưng nó ra trước công chúng như thể đó là ý nguyện của bề trên. Nhưng vải bọc chẳng mấy quan trọng. Khi bạn so sánh các chính sách kinh tế của Iran thuộc dòng Shiite, Ả Rập Saudi thuộc dòng Sunni, Israel Do Thái, Ấn Độ Hindu và Mỹ Cơ Đốc, đơn giản là bạn không thấy có quá nhiều khác biệt.
Trong thế kỷ 19 và 20, các triết gia Hồi giáo, Do Thái giáo, Hindu giáo và Cơ Đốc giáo phê phán chủ nghĩa vật chất hiện đại, chủ nghĩa tư bản vô hồn và sự thừa thãi của nhà nước quan liêu. Họ hứa hẹn rằng chỉ cần cho họ một cơ hội, họ sẽ giải quyết mọi căn bệnh của thời hiện đại và thiết lập một hệ thống kinh tế-xã hội hoàn toàn khác biệt dựa trên các giá trị tinh thần trường tồn trong tín ngưỡng của họ. À thì họ đã được trao cho khá nhiều Cơ hội, và thay đổi đáng kể duy nhất họ tạo ra với công trình của các nền kinh tế hiện đại là sơn lại lớp vỏ ngoài và treo hình trăng lưỡi liềm, chữ thập, ngôi sao David hay ký hiệu Om (hay Aum) to tổ chảng lên mái nhà.
Giống trong trường hợp làm mưa, cũng vậy khi nói về kinh tế: chính chuyên môn được mài giũa lâu dài của các học giả tôn giáo trong việc tái diễn giải các văn tự đã khiến tôn giáo trở nên không còn xác đáng. Dù Khamenei có chọn chính sách kinh tế gì, ngài luôn có thể điều chỉnh nó cho hợp với kinh Quran. Do đó kinh Quran đã được hạ cấp từ một nguồn tri thức thực sự xuống thành một nguồn thẩm quyền đơn thuần. Khi bạn đối mặt với một thế kinh tế lưỡng nan, bạn đọc kỹ Marx và Hayek và họ sẽ giúp bạn hiểu hệ thống kinh tế rõ hơn, nhìn mọi thứ từ một góc độ khác và nghĩ về các giải pháp tiềm năng. Sau khi đã định hình được một câu trả lời, bạn quay sang kinh Quran, đọc thật kỹ để tìm một dòng kinh mà nếu được diễn giải đủ sáng tạo, có thể biện minh cho giải pháp mà bạn có được từ Hayek hay Marx. Dù giải pháp bạn tìm thấy là gì, nếu bạn là một học giả Quran giỏi, bạn sẽ luôn có thể biện minh cho nó.
Điều tương tự cũng đúng với đạo Cơ Đốc. Tín đồ Cơ Đốc có thể là một nhà tư bản dễ dàng chẳng kém gì việc là một người xã hội; và mặc dù một số thứ Jesus nói mang màu sắc chủ nghĩa cộng sản rõ rệt, trong Chiến tranh Lạnh, các nhà tư bản Mỹ vẫn tiếp tục đọc “Bài giảng trên núi” mà không lấy gì làm phiền. Không có cái gì gọi là “nền kinh tế Cơ Đốc”, “nền kinh tế Hồi giáo” hay “nền kinh tế Hindu”.
Không phải là không có các ý tưởng kinh tế trong Kinh Thánh, kinh Quran hay kinh Vệ Đà; chỉ có điều các ý tưởng đó đã không hợp thời. Đọc kinh Vệ Đà khiến Mahatma Gandhi hình dung ra nước Ấn Độ độc lập như một tập hợp các cộng đồng nông nghiệp tự cung tự cấp, mỗi cộng đồng tự dệt lấy vải khadi, xuất khẩu ít và nhập khẩu còn ít hơn. Bức ảnh nổi tiếng nhất của ông chụp ông đang quay sợi bằng chính đôi tay mình và ông đã biến vòng quay sọi giản dị thành biểu tượng của phong trào đấu tranh giành độc lập của Ấn Độ. Thế nhưng viễn cảnh điền viên này đơn giản là không tương thích với thực tế của kinh tế học hiện đại; do đó, chẳng sót lại gì nhiều ngoại trừ hình ảnh rạng rỡ của Gandhi trên hàng tỷ tờ rupee.
Các lý thuyết kinh tế hiện đại xác đáng hơn các giáo lý truyền thống đến nỗi việc diễn giải ngay cả các mâu thuẫn tưởng là nặng tính tôn giáo theo thuật ngữ kinh tế đã trở nên phổ biến, trong khi chẳng ai nghĩ đến chuyện làm điều ngược lại. Chẳng hạn, một số cho rằng các vấn đề ở Bắc Ireland giữa người Cơ Đốc và người Tin Lành phần lớn là do các mâu thuẫn giai cấp thổi bùng lên. Vì nhiều sự ngẫu nhiên khác nhau trong lịch sử mà ở Bắc Ireland, tầng lớp trên chủ yếu là người theo đạo Tin Lành và các tầng lớp dưới chủ yếu theo Cơ Đốc. Do đó, thứ mà ban đầu có vẻ là một mâu thuẫn mang tính chất ý thức hệ về bản chất Chúa Jesus thực tế lại là một cuộc vật lộn điển hình giữa những người có của và những kẻ bần cùng. Trái lại, rất ít người dám tuyên bố các mâu thuẫn giữa quân du kích và giới địa chủ tư bản ở Nam Mỹ vào những năm 1970 thực chất chỉ là vỏ bọc cho một sự bất đồng sâu xa hơn nhiều về ý thức hệ Cơ Đốc giáo.
Thế thì tôn giáo sẽ tạo nên sự khác biệt nào khi đối mặt với các câu hỏi lớn của thế kỷ 21? Thử xem xét câu hỏi về việc có nên cho AI quyền hạn đưa ra các quyết định về đời sống con người: chọn thứ bạn nên học, nơi bạn nên làm và người bạn nên cưới. Lập trường Hồi giáo đối với câu hỏi này là gì? Lập trường Do Thái giáo là gì? Chẳng có lập trường “Hồi giáo” hay “Do Thái giáo” gì ở đây hết. Con người chắc chắn sẽ phân thành hai phe chính: những người đồng ý cho AI quyền đáng kể và những người phản đối. Có khả năng ta sẽ tìm thấy người Do Thái và người Hồi giáo ở cả hai phe và họ sẽ biện, minh cho bất cứ vị trí nào mà họ chọn bằng các diễn giải hết sức sáng tạo từ kinh Quran và kinh Talmud.
Dĩ nhiên, các nhóm tôn giáo có thể khiến các quan điểm của mình trở nên cứng nhắc trong một số vấn đề nhất định và biến chúng thành các giáo điều có vẻ là thiêng liêng hoặc vĩnh hằng. Vào những năm 1970, các nhà luân lý học ở châu Mỹ Latin đưa ra thuyết Tự do, khiến Jesus trông hơi giống Che Guevara. Tương tự, người ta có thể dễ dàng đưa Jesus vào cuộc tranh luận về nóng lên toàn cầu và khiến các lập trường chính trị hiện tại có vẻ như đã là những nguyên tắc tôn giáo bất di từ ngàn đời.
Điều này đã bắt đầu xảy ra. Việc phản đối các quy định về môi trường được đưa vào những bài giảng về Địa ngục của một số mục sư theo phái Phúc Âm của Mỹ, trong khi Giáo hoàng Francis đang dẫn đầu cuộc chiến đối phó sự nóng lên toàn cầu dưới danh Chúa (như lời chứng trong bài thông tri thứ hai của ngài, “Laudato si”). Thế nên có lẽ đến năm 2070, về vấn đề môi trường, việc bạn là người theo phái Phúc Âm hay Cơ Đốc sẽ là hoàn toàn khác biệt. Không cần nói cũng biết là những người theo phái Phúc Âm sẽ phản đối bất cứ sự hạn chế phát thải carbon nào, trong khi người Cơ Đốc sẽ tin rằng Chúa Jesus đã dạy họ phải bảo vệ môi trường.
Chúng ta sẽ thấy sự khác biệt ngay cả trong những chiếc xe của họ. Người Phúc Âm sẽ lái những chiếc SUV ngốn xăng nhu nước lã to đùng, trong khi người Cơ Đốc sẽ đi lại trong những chiếc xe điện gọn nhẹ với miếng dán trên cái giảm xóc ghi “Thiêu đốt hành tình này, chết cháy trong Địa ngục!” Tuy nhiên, mặc dù họ có thể trích dẫn những đoạn khác nhau trong Kinh Thánh để bảo vệ lập trường của mình, nguồn gốc đích thực của sự khác biệt vẫn sẽ nằm ở các lý thuyết khoa học và phong trào chính trị hiện đại chứ không phải trong Kinh Thánh. Từ góc nhìn này, tôn giáo không thực sự có nhiều điều để đóng góp cho các cuộc tranh luận chính sách lớn của thời đại chúng ta. Như Karl Marx đã nói, nó chỉ là một lớp véc-ni thôi.
CÁC VẤN ĐỀ BẢN SẮC: NHỮNG DÒNG CHỮ TRÊN CÁT
Marx đã nói quá đi khi ông xem tôn giáo chỉ là một cấu trúc thượng tầng đơn thuần đang che phủ các lực lượng kỹ thuật và kinh tế hùng mạnh. Ngay cả nếu Hồi giáo, Hindu giáo hay Cơ Đốc giáo chỉ là những hình trang trí sặc sỡ trên một cấu trúc kinh tế hiện đại, thì con người vẫn thường đồng cảm với sự trang trí đó và bản sắc của con người là một lực lượng lịch sử tối quan trọng. Quyền lực của con người phụ thuộc vào hợp tác quy mô lớn và hợp tác quy mô lớn phụ thuộc vào việc tạo ra các bản sắc tập thể; mọi bản sắc tập thể đều dựa trên những câu chuyện tạo dựng, không phải là các sự thật khoa học hay thậm chí là sự cần thiết về kinh tế. Trong thế kỷ 21, việc phân chia con người thành người theo Do Thái giáo và theo Hồi giáo hay thành Nga và Ba Lan vẫn phụ thuộc các truyền thuyết tôn giáo. Các nỗ lực của phát xít và toàn trị hòng xác định một cách khoa học bản sắc của con người dựa trên chủng tộc và giai cấp hóa ra chỉ là ngụy khoa học nguy hiểm; từ đó đến nay, các nhà khoa học cực kỳ miễn cưỡng khi giúp định dạng bất cứ bản sắc “tự nhiên” nào cho con người.
Thế nên trong thế kỷ 21, tôn giáo không cầu được mưa, không chữa được bệnh, không làm ra bom; nhưng tôn giáo vẫn được quyết “chúng ta” là ai và ai là “họ”, ta cần chữa trị cho ai và nên công kích ai. Như đã nói lúc trước, về thực tế mà nói thì sự khác biệt giữa Iran dòng Shiite, Ả Rập Saudi dòng Sunni và Israel Do Thái là ít đến đáng ngạc nhiên. Tất cả đều là các quốc gia hành chính, tất cả đều theo đuổi các chính sách ít nhiều là tư bản chủ nghĩa, tất cả đều tiêm vắc-xin phòng sởi cho trẻ em và dựa vào các nhà hóa học và vật lý học để tạo ra bom. Không có cái gọi là nền hành chính Shiite, nền tư bản Sunni hay vật lý Do Thái. Thế thì làm thế nào chúng ta khiến con người cảm thấy trung thành với một tộc người này và thù ghét tộc người khác?
Để vạch ra những đường biên rõ ràng trên những trảng cát biến động không ngừng của nhân loại, các tôn giáo sử dụng những nghi thức, trình tự hành lễ và nghi lễ. Người Shiite, Sunni và Do Thái chính thống mặc quần áo khác nhau, tụng những câu kinh khác nhau và tuân thủ những cấm kỵ khác nhau. Các truyền thống tôn giáo khác biệt này thường khiến cuộc sống mỗi ngày đầy những sự đẹp đẽ và khuyến khích con người đối xử tử tế và rộng lượng hơn. Năm lần một ngày, giọng nói ngân lên của các thầy tu báo giờ vút lên trên những ồn ào của các khu chợ, văn phòng và nhà máy, gọi người Hồi tạm nghỉ ngơi khỏi những ồn ã của cuộc mưu sinh tầm thường và cố gắn kết với một chân lý vĩnh cửu. Những người hàng xóm theo Hindu giáo của họ có thể vươn đến mục đích tương tự với sự giúp đỡ của các buổi cầu nguyện và tụng kinh mỗi ngày. Hằng tuần, vào tối thứ Sáu, các gia đình Do Thái ngồi ăn một bữa ăn đặc biệt của niềm vui, sự tạ ơn và hòa hợp. Hai ngày sau, vào sáng Chủ nhật, các dàn đồng ca phúc âm Cơ Đốc mang hy vọng đến cho cuộc sống của hàng triệu người, giúp tạo dựng mối gắn kết cộng đồng của niềm tin và sự tương ái.
Một số tục lệ tôn giáo khác lại mang đến thế giới điều xấu xa và khiến con người hành xử nhẫn tâm. Chẳng hạn, có rất ít điều hay ho để ủng hộ cho thói coi thường phụ nữ hay phân biệt đẳng cấp được tôn giáo cổ xúy. Nhưng dù đẹp hay xấu, tất cả các truyền thống tôn giáo như vậy đều đoàn kết được những người nhất định và khiến họ khác biệt với hàng xóm láng giềng. Nhìn từ bên ngoài, các truyền thống tôn giáo chia cắt con người thường có vẻ rất nhỏ mọn và Freud đã chế giễu nỗi ám ảnh của con người về các vấn đề đó như “cơn ái kỷ của những khác biệt nhỏ mọn”. Nhưng trong lịch sử và chính trị, những khác biệt nhỏ có thể mang ý nghĩa sống còn. Do đó, nếu là người đồng tính, việc bạn sống ở Israel, Iran hay Ả Rập Saudi là chuyện sống chết theo nghĩa đen. Ở Israel, cộng đồng LGBT được luật pháp bảo vệ, thậm chí một số giáo sĩ còn chúc phúc cho lễ cưới của hai phụ nữ. Ở Iran, người đồng tính bị khủng bố một cách có hệ thống và thậm chí bị xử tử. Ở Ả Rập Saudi, mãi đến năm 2018 thì người đồng tính nữ mới được lái ô tô, chỉ vì đó là một phụ nữ, chứ chưa nói đến là người đồng tính nữ.
Có lẽ ví dụ tốt nhất về quyền lực và tầm quan trọng tiếp diễn của các tôn giáo truyền thống trong thế giới hiện đại đến từ Nhật Bản. Vào năm 1853, một hạm đội Mỹ đã buộc Nhật Bản mở cửa với thế giới hiện đại. Để đáp trả, nhà nước Nhật bắt đầu một quá trình hiện đại hóa nhanh chóng và cực kỳ thành công. Chỉ trong vài thập kỷ, nó trở thành một quốc gia công quyền hùng mạnh dựa vào khoa học, chủ nghĩa tư bản và các công nghệ quân sự mới nhất để đánh bại Trung Quốc và Nga, chiếm đóng Đài Loan và Hàn Quốc, cuối cùng là đánh chìm phần lớn hạm đội Mỹ tại Trân Châu Cảng và tiêu diệt các đế chế châu Âu ở Viễn Đông. Thế nhưng Nhật Bản đã không mù quáng sao chép phương Tây. Nó cực kỳ quyết tâm bảo vệ bản sắc độc đáo của mình và đảm bảo rằng người Nhật hiện đại sẽ trung thành với Nhật Bản thay vì với khoa học, tính hiện đại hay một cộng đồng toàn cầu mờ mịt nào đó.
Để đạt được mục đích đó, Nhật Bản nêu cao tôn giáo truyền thống của mình là Thần đạo (Shinto) như hòn đá tảng của bản sắc Nhật. Trên thực tế, nhà nước Nhật Bản đã làm mới Thần đạo. Thần đạo truyền thống là một tập hợp tạp loại gồm những đức tin duy linh vào vô số những vị thần, linh hồn và ma quỷ; mỗi ngôi làng và đền thờ đều có các linh hồn và truyền thống địa phương ưa thích của mình. Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nhà nước Nhật đã tạo ra một phiên bản chính thức của Thần đạo trong khi cấm nhiều truyền thống địa phương. Thứ “Thần đạo nhà nước” này được trộn lẫn với các ý tưởng hết sức hiện đại về dân tộc và chủng tộc mà giới tinh hoa Nhật Bản tuyển lựa từ những đế quốc châu Âu. Bất cứ yếu tố nào trong Phật giáo, Khổng giáo và phong kiến võ sĩ đạo có thể giúp củng cố sự trung thành với nhà nước đều được thêm vào hỗn hợp. Và sau cùng, “Thần đạo nhà nước” trân trọng cất giữ một nguyên tắc tối cao là thờ phụng Nhật hoàng, người được xem là hậu duệ trực tiếp của thần mặt trời Amaterasu và bản thân ngài chính là một vị thần sống.
Thoáng nhìn thì sự kết hợp kỳ dị cả cũ và mới này có vẻ là một lựa chọn cực kỳ bất hợp lý đối với một nhà nước đang dấn thân trên con đường tắt dẫn đến hiện đại hóa. Một vị thần sống ư? Các linh hồn thần vật ư? Tinh túy phong kiến ư? Nghe giống một hệ thống tộc trưởng thời Đồ Đá mới hơn là một cường quốc công nghiệp hiện đại.
Nhưng nó lại hiệu quả như một phép mầu. Người Nhật hiện đại hóa với một tốc độ vũ bão trong khi cùng lúc phát triển một niềm trung thành cuồng tín với nhà nước của mình. Dấu hiệu thành công nổi tiếng nhất của “Thần đạo nhà nước” là việc Nhật Bản là cường quốc đầu tiên phát triển và sử dụng tên lửa dẫn đường chính xác. Nhiều thập kỷ trước khi Hoa Kỳ đưa ra chiến trường loại bom thông minh, và tại thời điểm nước Đức phát xít chỉ mới bắt đầu sử dụng mấy quả tên lửa V-2 ngu ngốc, Nhật đã đánh chìm hàng chục tàu Đồng Minh bằng các “tên lửa” dẫn đường chính xác, được biết đến với tên gọi kamikaze (tức Thần phong). Trong khi các vũ khí dẫn đường chính xác hiện đại sử dụng máy tính chỉ dẫn thì kamikaze là những máy bay thông thường chất đầy chất nổ và do các phi công sẵn sàng nhận các nhiệm vụ “một đi không trở lại” điều khiển. Sự tự nguyện này là sản phẩm của tinh thần hy sinh bất chấp cái chết được Thần đạo nhà nước nuôi dưỡng. Kamikaze do đó dựa vào sự kết hợp “công nghệ đỉnh cao” với truyền bá tôn giáo đỉnh cao.
Dù biết hay không thì nhiều chính phủ ngày nay đang đi theo tấm gương của Nhật. Họ sử dụng các công cụ và cấu trúc toàn cầu trong khi dựa vào các tôn giáo truyền thống để bảo tồn một bản sắc dân tộc độc đáo. Vai trò của Thần đạo nhà nước ở Nhật Bản được hoàn thành đến một mức độ nào đó nhờ Chính thống giáo ở Nga, Thiên Chúa giáo ở Ba Lan, đạo Hồi dòng Shiite ở Iran, chủ nghĩa Wahhabi ở Ả Rập Saudi và Do Thái giáo ở Israel. Dù có vẻ cổ xưa đến đâu, chỉ cần một chút tưởng tượng và tái diễn dịch, tôn giáo gần như luôn có thể kết đôi với các món đồ công nghệ mới nhất và các thể chế hiện đại phức tạp nhất.
Trong một số trường hợp, các nhà nước tạo ra một hệ tư tưởng hoàn toàn mới để nuôi dưỡng bản sắc độc đáo của mình. Ngày nay, các ví dụ “thái quá” có thể thấy ở thuộc địa cũ của Nhật Bản là Bắc Hàn. Bắc Hàn truyền bá cho dân chúng của mình một hệ tư tưởng nhà nước có tên gọi là Juche (tức Chủ thể). Nó là một sự pha trộn giữa chủ nghĩa Marx-Lenin, một vài truyền thống cổ xưa của Triều Tiên, một niềm tin tuyệt đối về sự thuần khiết của chủng tộc Triều Tiên và sự thần thánh hóa dòng dõi gia đình lãnh đạo. Có lẽ nhận thức được đế chế Nhật Bản đã bị đánh bại như thế nào nên “Juche-giáo” Bắc Hàn đã từ lâu kiên quyết thêm vũ khí hạt nhân vào hỗn hợp trên, miêu tả sự phát triển của mình như một bổn phận thiêng liêng xứng đáng với những hy sinh tối thượng.
NGƯỜI NỮ TỲ CỦA CHỦ NGHĨA DÂN TỘC
Dù công nghệ có phát triển như thế nào, chúng ta vẫn có thể hy vọng là các tranh luận về bản sắc và nghi lễ tôn giáo vẫn sẽ tiếp tực ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ mới và rất có thể vẫn giữ được sức mạnh thổi bùng thế giới. Các đầu đạn hạt nhân và bom “ảo” tối tân nhất có thể vẫn sẽ được sử dụng để dàn xếp một tranh luận mang tính học thuyết về các văn bản cổ xưa. Tôn giáo, nghi lễ và nghi thức sẽ vẫn quan trọng miễn là quyền lực của loài người vẫn còn phụ thuộc vào hợp tác quy mô lớn, và miễn là hợp tác quy mô lớn vẫn phụ thuộc vào niềm tin với các câu chuyện hoang đường chung.
Thật không may, tất cả những điều này khiến các tôn giáo truyền thống trở thành một phần của các vấn đề nhân loại, chứ không phải một phần giải pháp. Tôn giáo vẫn có rất nhiều sức mạnh chính trị vì nó có thể củng cố các bản sắc dân tộc và thậm chí có thể còn khơi mào cho Thế chiến thứ ba. Nhưng khi xét đến việc giải quyết thay vì đổ thêm dầu vào lửa cho các vấn đề toàn cầu của thế kỷ 21 thì có vẻ như nó chả mang lại gì nhiều. Mặc dù nhiều tôn giáo truyền thống tôn vinh các giá trị toàn cầu và tuyên bố mình có giá trị vũ trụ, hiện tại chúng vẫn được sử dụng chủ yếu với tư cách người “nữ tỳ” của chủ nghĩa dân tộc hiện đại, dù là ở Bắc Hàn, Nga, Iran hay Israel. Do đó, chúng khiến việc vượt qua các khác biệt dân tộc và tìm một giải pháp toàn cầu cho các nguy cơ về chiến tranh hạt nhân, sụp đổ sinh thái và đứt gãy do công nghệ thậm chí còn khó khăn hơn nữa.
Ví dụ như khi đối mặt với nóng lên toàn cầu hay leo thang hạt nhân, các giáo sĩ dòng Shiite có thể khuyến khích người Iran nhìn nhận các vấn đề này từ một góc nhìn kiểu Iran hạn hẹp, các giáo sĩ Do Thái khuyến khích người Israel quan tâm chủ yếu đến những gì tốt cho Israel và các thầy tu Chính thống giáo thúc giục người Nga nghĩ trước tiên và trên hết đến quyền lợi của nước Nga. Dĩ nhiên, có những nhà hiền triết tôn giáo phủ nhận những sự thái quá của chủ nghĩa dân tộc và đi theo những tầm nhìn toàn cầu hơn nhiều. Thật không may, những vị hiền triết như vậy ngày nay không có nhiều quyền lực chính trị.
Thế thì, chúng ta đã bị mắc kẹt, tiến thoái lưỡng nan. Nhân loại giờ đây cấu thành một nền văn minh duy nhất và các vấn đề như chiến tranh hạt nhân, sụp đổ sinh thái và đứt gãy do công nghệ chỉ có thể được giải quyết trên quy mô toàn cầu. Mặt khác, chủ nghĩa dân tộc và tôn giáo vẫn chia cắt nền văn minh con người thành các phe phái khác nhau và thường là thù nghịch với nhau. Sự xung đột giữa các vấn đề toàn cầu và các bản sắc địa phương tự bộc lộ trong một cuộc khủng hoảng giờ đang bao vây thử nghiệm đa văn hóa vĩ đại nhất thế giới, Liên minh châu Âu. Được xây dựng trên lời hứa hẹn về các giá trị tự do phổ quát, EU hiện đang bên bờ vực tan rã do những khó khăn về hòa nhập và nhập cư.
Bài học 9 - Nhập cư
MỘT SỐ NỀN VĂN HÓA CÓ THỂ TỐT HƠN NHỮNG NỀN VĂN HÓA KHÁC
Mặc dù toàn cầu hóa đã làm giảm đi đáng kể các khác biệt văn hóa trên khắp hành tinh, nó đồng thời khiến việc chạm mặt những người xa lạ và cảm giác khó chịu với sự khác biệt của họ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Sự khác biệt giữa nước Anh Anglo-Saxon và Đế chế Pala Ấn Độ lớn hơn sự khác biệt giữa nước Anh hiện đại và Ấn Độ hiện đại rất nhiều; nhưng British Airways không có đường bay thẳng từ Delhi sang London vào thời vua Alfred Đại đế.
Khi ngày càng có nhiều người vượt qua ngày càng nhiều biên giới để tìm kiếm việc làm, sự an toàn và một tương lai tốt đẹp hơn, sự cần thiết phải đối đầu, hòa nhập hay loại bỏ những người xa lạ khiến các hệ thống chính trị và các bản sắc tập thể, vốn định hình trong những thời đại ít linh động hơn, trở nên cực kỳ căng thẳng. Không ở đâu mà vấn đề đó nhức nhối hơn ở châu Âu. Liên minh châu Âu được xây dựng trên lời hứa vượt qua các khác biệt văn hóa giữa người Pháp, người Đức, người Tây Ban Nha và người Hy Lạp. Nó có thể sẽ sụp đổ do không thể chứa đựng nổi sự khác biệt giữa người châu Âu và những người nhập cư từ châu Phi và Trung Đông. Mỉa mai thay, chính thành công của châu Âu trong việc xây dựng một hệ thống đa văn hóa phồn vinh đã thu hút nhiều người, nhập cư đến vậy ngay từ đầu. Người Syria muốn nhập cư vào Đức hơn là vào Ả Rập Saudi, Iran, Nga hay Nhật không phải vì Đức gần hơn hay giàu có hơn các địa điểm tiềm năng kia; đó là vì Đức có một lịch sử đón chào và thu nhận người, nhập cư tốt hơn nhiều.
Làn sóng người tị nạn và người nhập cư ngày càng lớn đưa đến các phản ứng khác nhau giữa những người châu Âu và làm nảy sinh những tranh luận gay gắt về bản sắc và tương lai của châu Âu. Một số người châu Âu. đòi hỏi châu Âu phải đóng sập cửa lại: họ đang phản bội các lý tưởng đa văn hóa và khoan hòa của châu Âu hay chỉ đang đi những bước đi hợp lẽ để ngăn ngừa thảm họa? Những người khác kêu gọi mở cửa rộng hơn nữa: họ đang trung thành với các giá trị cốt lõi của châu Âu hay đang mắc lỗi làm ì trệ dự án châu Âu bằng những kỳ vọng bất khả? Cuộc tranh luận về nhập cư này thường biến dạng thành một cuộc chiến gào thét chẳng ai nghe ai. Để làm rõ hơn vấn đề, có lẽ ta nên xem nhập cư như một thỏa thuận với ba điều khoản cơ bản:
ĐIỀU KHOẢN 1: Nước chủ nhà cho phép người nhập cư vào.
ĐIỀU KHOẢN 2: Đổi lại, người nhập cư phải tiếp nhận ít nhất là các quy tắc và giá trị cốt lõi của nước chủ nhà, ngay cả nếu điều đó có nghĩa là từ bỏ một số quy tắc và giá trị truyền thống của họ.
ĐIỀU KHOẢN 3: Nếu người nhập cư hòa nhập đến một mức độ thỏa đáng, qua thời gian, họ trở thành các thành viên ngang hàng và đầy đủ tư cách của nước chủ nhà. “Họ” trở thành “chúng ta”.
Ba điều khoản này đưa đến ba cuộc tranh luận khác biệt về ý nghĩa chính xác của từng điều khoản. Cuộc tranh luận thứ tư nữa hên quan đến việc thực hiện ba điều khoản. Khi tranh cãi về nhập cư, người ta thường lẫn lộn bốn cuộc tranh luận với nhau, thế nên không ai hiểu thực chất tranh cãi là về cái gì. Do đó tốt nhất ta nên xem xét từng cuộc tranh luận một cách riêng rẽ.
TRANH LUẬN 1: Điều khoản đầu tiên của thỏa thuận nhập cư đơn giản nói rằng nước chủ nhà cho phép người nhập cư vào. Nhưng điều này nên được hiểu là một bổn phận hay một sự ban ơn? Liệu nước chủ nhà có buộc phải mở cửa cho tất cả mọi người hay nó có quyền lựa chọn, thậm chí là ngừng cho nhập cư? Những người ủng hộ nhập cư hình như nghĩ rằng các nước có một bổn phận đạo đức phải đón nhận không chỉ những người tị nạn mà cả những người đến từ các vùng đất đói nghèo để tìm việc làm và một tương lai tốt đẹp hơn. Đặc biệt là trong một thế giới toàn cầu hóa, mọi người đều có bổn phận đạo đức đối với tất cả những người khác, và những ai phủ nhận các bổn phận đó đều là những người ích kỷ, thậm chí là phân biệt chủng tộc.
Thêm nữa, những người ủng hộ nhập cư nhấn mạnh rằng không thể hoàn toàn ngăn nhập cư; dù ta có xây lên bao nhiêu bức tường, dựng lên bao nhiêu hàng rào, những con người khốn cùng vẫn luôn tìm được cách vượt qua. Thế nên thà hợp thức hóa nhập cư và giải quyết một cách minh bạch còn hơn tạo ra một thế giới ngầm rộng lớn của nạn buôn người, lao động trái phép và những đứa trẻ không có giấy tờ nhập cư hợp pháp.
Những người phản đối nhập cư đáp trả rằng nếu áp dụng các biện pháp đủ mạnh, bạn có thể hoàn toàn ngăn chặn nhập cư và có lẽ ngoại trừ trường hợp những người tị nạn chạy trốn các truy hại tàn bạo ở một nước láng giềng, bạn không bao giờ có nghĩa vụ mở cửa cả. Thổ Nhĩ Kỳ có thể có bổn phận đạo đức phải cho phép những người Syria tuyệt vọng vượt qua biên giới của mình; nhưng nếu những người tị nạn này sau đó cố đi tiếp sang Thụy Điển, người Thụy Điển không cần phải chấp nhận họ. Với những người nhập cư tìm kiếm việc làm và phúc lợi thì hoàn toàn tùy thuộc vào nước chủ nhà xem có cần họ không và với điều kiện nào.
Những người chống nhập cư nhấn mạnh rằng một trong những quyền cơ bản nhất của mỗi cộng đồng người là bảo vệ mình khỏi sự xâm lược, dù là dưới hình thức các đạo quân hay những người nhập cư. Người Thụy Điển đã làm việc cật lực và chịu vô số hy sinh để xây dựng một nền dân chủ tự do phồn thịnh; nếu người Syria thất bại khi làm việc tương tự thì đấy không phải là lỗi của người Thụy Điển. Nếu cử tri Thụy Điển không muốn có thêm người nhập cư Syria nữa, dù là vì lý do gì, thì từ chối nhập cư là quyền của họ. Và nếu họ có chấp nhận một số người nhập cư thì phải nói rất rõ rằng đấy là một ơn huệ mà Thụy Điển ban ra, chứ không phải là một bổn phận mà họ cần thực thi. Điều đó có nghĩa là những người nhập cư được cho vào Thụy Điển nên thấy cực kỳ biết ơn với bất cứ thứ gì mình nhận được, chứ không phải đến nơi cùng một danh sách các yêu cầu như thể đấy là nhà của họ.
Thêm nữa, những người chống nhập cư nói rằng một đất nước có thể đưa ra bất cứ chính sách nhập cư nào nó muốn. Nó có thể rà soát người nhập cư không chỉ để tìm lý lịch phạm tội hay khả năng nghề nghiệp, mà cả những thứ như tôn giáo. Nếu một nước như Israel chỉ muốn cho người Do Thái vào và một nước như Ba Lan chỉ đồng ý cho người tị nạn Trung Đông với điều kiện họ theo Cơ Đốc giáo nhập cư, thì đồng ý là nó có vẻ không hay nhưng đấy hoàn toàn nằm trong quyền của cử tri Israel hay Ba Lan.
Thứ khiến vấn đề trở nên phức tạp là trong nhiều trường hợp, người ta lại muốn có tất cả mọi thứ cơ. Vô số quốc gia ngó lơ trước nạn nhập cư trái phép hay thậm chí chấp nhận lao động thời vụ người nước ngoài vì họ muốn hưởng lợi từ năng lượng, tài năng và lao động giá rẻ của nước ngoài. Tuy nhiên, các quốc gia đó lại từ chối hợp thức hóa địa vị của những người này, nói rằng họ đâu có muốn dân nhập cư. về lâu dài, điều này có thể tạo ra các xã hội phân chia thứ bậc, trong đó tầng lớp trên gồm các công dân hợp thức bóc lột tầng lớp dưới là những người nước ngoài bất lực, như đang xảy ra ngày nay ở Qatar và một số nước Vùng Vịnh khác.
Một khi cuộc tranh luận này chưa ngã ngũ, việc trả lời các câu hồi tiếp theo về nhập cư là cực khó. Những người ủng hộ nhập cư nghĩ rằng ai cũng có quyền nhập cư vào một nước khác nếu họ muốn thế và các nước chủ nhà có nghĩa vụ đón nhận những người này nên họ phản ứng bằng một cơn giận dữ mang tính đạo đức khi quyền nhập cư của con người bị xâm phạm và khi các quốc gia thất bại trong việc thực hiện nghĩa vụ đón nhận đó. Các quan điểm như vậy khiến những người phản đối nhập cư kinh ngạc. Họ xem nhập cư là một ơn huệ và thu nhận là thiện ý. Tại sao lại buộc người khác tội phân biệt chủng tộc hay phát xít chỉ vì họ từ chối cho người khác nhập cảnh vào chính quốc gia của họ?
Dĩ nhiên, ngay cả nếu cho phép người nhập cư vào là ơn huệ hơn là nghĩa vụ, một khi người nhập cư đã an cư thì nước chủ nhà dần dà cũng sẽ nảy sinh vô số nghĩa vụ đối với họ và con cháu họ. Do đó, bạn không thể biện minh cho làn sóng bài Do Thái ở Mỹ ngày nay bằng cách lập luận rằng “chúng ta đã ban một cái ơn rất lớn cho bà cố nội các người bằng cách cho bả vào nước này hồi năm 1910, thế nên giờ chúng ta muốn đối xử với các người thế nào là tùy thích”.
TRANH LUẬN 2: Điều khoản thứ hai của thỏa thuận nhập cư nói rằng nếu được cho vào, người nhập cư có nghĩa vụ hòa nhập vào nền văn hóa địa phương. Nhưng sự hòa nhập đó đến đâu thì đủ? Nếu người nhập cư chuyển từ một xã hội gia trưởng đến một xã hội tự do, họ có phải đấu tranh cho nữ quyền? Nếu họ đến từ một xã hội vô cùng sùng đạo, họ có cần áp dụng một thế giới quan thế tục? Họ có nên từ bỏ các trang phục truyền thống và các thực phẩm cấm kỵ? Những người phản đối nhập cư có xu hướng đặt tiêu chuẩn cao trong khi những người ủng hộ đặt chuẩn thấp hơn nhiều.
Những người ủng hộ nhập cư tranh luận rằng bản thân châu Âu vốn cực kỳ đa dạng và cư dân bản địa của nó có phổ ý kiến, thói quen và giá trị cực rộng. Đây chính xác là điều khiến châu Âu trở nên sống động và mạnh mẽ. Tại sao người nhập cư buộc phải gắn mình với một bản sắc châu Âu tưởng tượng nào đó mà ít người châu Âu thực sự đạt đến? Bạn muốn ép người nhập cư Hồi giáo vào Vương quốc Anh trở thành người Cơ Đốc trong khi nhiều công dân Anh hiếm khi đi nhà thờ ư? Bạn muốn yêu cầu người nhập cư từ vùng Punjab Ấn Độ từ bỏ cà-ri và masala để ăn khoai chiên cá rán và bánh pudding vùng Yorkshire chăng? Nếu châu Âu có bất cứ giá trị lõi thực sự nào thì đấy là các giá trị của khoan dung và tự do, nghĩa là người châu Âu nên thể hiện sự khoan dung đối với cả người nhập cư nữa và cho họ càng nhiều tự do càng tốt để đi theo truyền thống của riêng họ, miễn là các truyền thống đó không làm hại đến tự do và quyền của những người khác.
Những người phản đối nhập cư đồng ý rằng khoan dung và tự do là các giá trị châu Âu quan trọng nhất và cáo buộc các nhóm nhập cư, đặc biệt các nhóm đến từ các quốc gia Hồi giáo, là thiếu khoan dung, coi thường phụ nữ, thù ghét người đồng tính và bài Do Thái. Chính xác vì châu Âu tôn trọng sự khoan dung nên nó không thể cho phép quá nhiều người không khoan dung vào châu Âu. Trong khi một xã hội khoan dung có thể đối phó được với các nhóm thiểu số phi tự do thì nếu con số những kẻ cực đoan như vậy vượt một ngưỡng nhất định, toàn bộ bản chất của xã hội sẽ thay đổi. Nếu châu Âu cho phép quá nhiều người nhập cư từ Trung Đông vào, cuối cùng nó sẽ giống như Trung Đông.
Những người phản đối nhập cư khác còn đi xa hơn. Họ chỉ ra rằng một cộng đồng ở cấp quốc gia không chỉ là một nhóm người chịu đựng lẫn nhau. Do đó, việc những người nhập cư chấp nhận các tiêu chuẩn của châu Âu về khoan dung là không đủ. Họ cũng phải theo nhiều giá trị độc đáo của văn hóa Anh, Đức hay Thụy Điển, dù các giá trị đó là gì. Khi cho họ nhập cư, văn hóa bản địa cũng gánh trên mình một nguy cơ to và một hao tổn lớn. Không có lý do gì mà nó nên tự hủy hoại mình nữa. Rốt cuộc, nó sẽ mang tới một sự bình đẳng hoàn toàn nên nó cũng yêu cầu một sự hòa nhập trọn vẹn. Nếu người nhập cư có vấn đề với một số thói tật của văn hóa Anh, Đức hay Thụy Điển, xin mời họ đi chỗ khác.
Hai vấn đề chính của cuộc tranh luận này là bất đồng về tính thiếu khoan dung của người nhập cư và bất đồng về bản sắc châu Âu. Nếu quả thực người nhập cư mắc lỗi thiếu khoan dung không thể sửa được, nhiều người châu Âu theo chủ nghĩa tự do hiện đang ủng hộ nhập cư chẳng chóng thì chầy sẽ quay ra phản đối nhập cư một cách cay đắng. Trái lại, nếu phần lớn người nhập cư chứng tỏ mình cũng tự do và cởi mở trong thái độ đối với tôn giáo, giới tính và chính trị, điều này sẽ đánh bật một số lập luận hiệu quả nhất chống lại sự nhập cư.
Tuy nhiên, câu hỏi về các bản sắc dân tộc độc đáo của châu Âu vẫn sẽ để ngỏ. Khoan dung là một giá trị phổ quát. Vậy có quy tắc và giá trị Pháp độc đáo nào mà người nhập cư đến Pháp cần phải chấp nhận, và có quy tắc và giá trị Đan Mạch độc đáo nào mà người nhập cư đến Đan Mạch phải đón nhận không? Một khi châu Âu vẫn chia rẽ sâu sắc về câu hỏi này, họ khó mà có một chính sách rõ ràng về nhập cư. Trái lại, một khi người châu Âu biết mình là ai, 500 triệu người dân nơi đây sẽ không gặp khó khăn gì khi thu nhận, hoặc cấm nhập cư, 1 triệu người tị nạn.
TRANH LUẬN 3: Điều khoản thứ ba của thỏa thuận nhập cư nói rằng nếu người nhập cư thật sự chân thành nỗ lực hòa nhập, và cụ thể là chấp nhận giá trị bao dung, nước chủ nhà có nghĩa vụ buộc đối xử với họ như các công dân hạng một. Nhưng chính xác thì cần bao nhiêu thời gian để người nhập cư trở thành những thành viên chính thức của xã hội? Những người nhập cư từ Algeria có nên cảm thấy đau khổ khi mình vẫn chưa được xem là công dân chính thức của Pháp sau hai mươi năm ở đó? Những người nhập cư thế hệ thứ ba có ông bà đến Pháp từ những năm 1970 thì sao?
Những người ủng hộ nhập cư có xu hướng đòi hỏi một sự chấp nhận nhanh chóng, trong khi những người phản đối muốn thời gian thử thách dài hơn nhiều. Với những người ủng hộ, nếu người nhập cư thế hệ thứ ba không được xem và đối xử như các công dân ngang hàng, điều đó nghĩa là nước chủ nhà không hoàn thành nghĩa vụ; nếu điều này dẫn đến căng thẳng, thù địch và thậm chí bạo lực thì nước chủ nhà không thể đổ lỗi cho ai khác ngoài sự mù quáng của chính mình. Đối với những người phản đối nhập cư, những kỳ vọng bị thổi phồng này là một phần lớn của vấn đề. Người nhập cư phải kiên nhẫn. Nếu ông bà anh đến đây mới có bốn chục năm trước và giờ anh làm loạn ở ngoài đường vì cho rằng mình không được đối xử như một người bản địa, thì anh đã trượt bài kiểm tra.
Vấn đề gốc rễ của cuộc tranh luận này hên quan đến cách biệt giữa thang thời gian cá nhân và thang thời gian tập thể. Từ góc nhìn của các cộng đồng người, bốn mươi năm là một thời gian ngắn. Khó có thể trông chờ xã hội hoàn toàn chấp nhận các nhóm người xa lạ chỉ trong vài thập kỷ. Các nền văn minh quá khứ đồng hóa người nước ngoài và biến họ thành các công dân ngang hàng, như Đế chế La Mã, Đế chế Hồi giáo, các vương triều Trung Hoa và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, đều mất nhiều thế kỷ hơn là vài thập kỷ để hoàn tất cuộc chuyển hóa.
Tuy nhiên, từ góc nhìn cá nhân, bốn chục năm có thể là thiên thu. Với một cô gái sinh ra ở Pháp hai chục năm sau khi ông bà cô nhập cư, hành trình từ Algiers đến Marseille là lịch sử cổ xưa. Cô được sinh ra ở đây, tất cả bạn bè cô đều sinh ra ở đây, cô nói tiếng Pháp chứ không phải tiếng Ả Rập và cô chưa bao giờ đến Algeria. Pháp là ngôi nhà duy nhất cô từng biết. Và giờ người ta nói với cô rằng đấy không phải là nhà cô và cô nên “quay lại” noi cô chưa bao giờ đặt chân đến ư?
Điều này giống như bạn lấy hạt một cây bạch đàn từ Úc và trồng nó ở Pháp. Từ góc độ sinh thái, bạch đàn là một loài ngoại lai và phải mất nhiều thế hệ thì các nhà thực vật học mới tái phân loại chúng thành một cây bản địa châu Âu. Thế nhưng từ góc độ một cái cây đơn lẻ, nó là một cái cây Pháp. Nếu bạn không tưới nó bằng nước của Pháp, nó sẽ héo. Nếu bạn cố nhổ rễ nó lên, bạn sẽ phát hiện ra nó đã bám rễ sâu trong đất Pháp cũng như những cây sồi và thông bản địa.
TRANH LUẬN 4: Trên tất cả những bất đồng về định nghĩa chính xác của thỏa thuận nhập cư này, câu hỏi sau rốt là liệu thỏa thuận này có thực sự hiệu quả. Liệu cả hai bên có hoàn thành những nghĩa vụ của mình?
Những người phản đối nhập cư có xu hướng cho rằng những người nhập cư đang không hoàn thành điều khoản số 2. Họ không chân thành nỗ lực hòa nhập và quá nhiều người trong số họ vẫn bám lấy những quan niệm sống thiếu khoan dung và ấu trĩ. Do đó, nước chủ nhà không có lý do gì phải hoàn thành điều khoản số 3 (đối xử với họ như những công dân hạng một) và có mọi lý do để tái cân nhắc điều khoản số 1 (cho họ nhập cư). Nếu những người đến từ một nền văn hóa nhất định đã liên tục chứng minh mình không sẵn sàng thực hiện thỏa thuận nhập cư, thì tại sao lại nhận thêm họ vào và tạo ra một vấn đề thậm chí còn lớn hơn?
Những người ủng hộ đáp trả rằng chính nước chủ nhà mới thất bại trong việc thực hiện thỏa thuận thuộc phần mình. Mặc cho những nỗ lực chân thành để hòa nhập của tuyệt đại đa số người nhập cư, các vị chủ nhà đang biến việc đó trở thành khó khăn; tệ hơn, những người nhập cư đã hòa nhập thành công vẫn bị đối xử như các công dân hạng hai ngay cả trong thế hệ thứ hai và thứ ba. Dĩ nhiên, có khả năng cả hai bên đều không hoàn thành cam kết của mình, do đó càng thêm dầu vào lửa cho những nghi ngại và uất ức trong một vòng xoáy khắc nghiệt ngày càng dâng cao.
Cuộc tranh luận số 4 này không thể giải quyết trước khi làm rõ định nghĩa chính xác của cả 3 điều khoản trên. Một khi chúng ta không biết liệu thu nhận là nghĩa vụ hay ơn huệ, mức độ hòa nhập nào là cần thiết từ phía người nhập cư và sau bao lâu thì các nước chủ nhà phải đối xử với họ như những công dân ngang hàng, ta không thể đánh giá liệu hai bên đã hoàn thành nghĩa vụ của mình hay chưa. Một vấn đề nữa liên quan đến việc tính toán. Khi đánh giá thỏa thuận nhập cư, cả hai bên đặt sức nặng lên những vi phạm nhiều hơn sự tuân thủ rất nhiều. Nếu một triệu người nhập cư là các công dân tôn trọng pháp luật nhưng một trăm người gia nhập các nhóm khủng bố và tấn công nước chủ nhà thì nhìn chung, người nhập cư tuân thủ hay vi phạm điều khoản thỏa thuận? Nếu một người nhập cư thế hệ thứ ba đi bộ trên đường một nghìn lần mà không bị quấy rối, nhưng nếu có một kẻ phân biệt chủng tộc nào đó hét vào mặt cô ta một câu lăng mạ, điều đó có nghĩa là cư dân địa phương đang chấp nhận hay từ chối người nhập cư?
Thế nhưng, bên dưới tất cả những cuộc tranh luận này lẩn khuất một câu hỏi còn căn bản hơn nhiều, liên quan đến hiểu biết của chúng ta về văn hóa con người. Chúng ta bước vào cuộc tranh luận nhập cư với giả định rằng tự thân mọi nền văn hóa đều là bình đẳng hay ta nghĩ một số nền văn hóa có thể thực sự ưu việt hơn các nền văn hóa khác? Khi người Đức cãi nhau về việc thu nhận một triệu người tị nạn Syria, họ có thể là chính đáng khi nghĩ rằng nền văn hóa Đức theo một cách nào đó ưu việt hơn nền văn hóa Syria không?
TỪ CHỦ NGHĨA PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC ĐẾN CHỦ NGHĨA PHÂN BIỆT VĂN HÓA
Một thế kỷ trước, người châu Âu mặc định là một số chủng tộc đáng chú ý nhất là chủng tộc da trắng, tự thân đã ưu việt hơn các chủng tộc khác. Sau năm 1945, những quan điểm như vậy ngày càng trở nên cấm kỵ. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc không chỉ bị xem là khốn cùng về mặt đạo đức mà còn phá sản về mặt khoa học. Các nhà khoa học sự sống, và cụ thể là các nhà di truyền học, đã đưa ra các bằng chứng khoa học rất vững chắc chỉ ra rằng sự khác biệt sinh học giữa người châu Âu, châu Phi, Trung Quốc và người da đỏ châu Mỹ là hoàn toàn không đáng kể.
Tuy nhiên, cùng lúc đó, các nhà nhân loại học, xã hội học, sử học, kinh tế học hành vi và thậm chí là các nhà khoa học não bộ đã tích lũy ngày một nhiều lượng dữ liệu dồi dào chứng minh sự tồn tại của các khác biệt đáng kể giữa các nền văn hóa con người. Xét cho cùng, nếu tất cả các nền văn hóa con người về cơ bản đều giống nhau, thì tại sao chúng ta còn cần đến các nhà nhân loại học và sử học làm gì? Tại sao phải đầu tư nguồn lực vào nghiên cứu những khác biệt tin hin? ít nhất, chúng ta nên ngừng tài trợ cho các cuộc du khảo tốn kém đến Nam Thái Bình Dương và sa mạc Kalahari, đồng thời hài lòng với việc nghiên cứu con người ở Oxford hay Boston. Nếu các khác biệt văn hóa là không đáng kể, bất cứ thứ gì chúng ta phát hiện về các sinh viên Harvard cũng phải đúng với những người săn bắt-hái lượm ở Kalahari.
Khi ngẫm lại, hầu hết mọi người thừa nhận sự tồn tại của ít nhất một số khác biệt đáng kể giữa các nền văn hóa con người, trong những khía cạnh từ tập tục tình dục đến thói quen chính trị. Thế thì ta phải đối xử với những khác biệt này như thế nào? Những người theo chủ nghĩa tương đối về văn hóa cho rằng khác biệt không có nghĩa là có thứ bậc và chúng ta không bao giờ được coi trọng nền văn hóa này hơn một nền văn hóa khác. Con người có thể nghĩ và hành xử theo những cách khác nhau, nhưng chúng ta nên tôn vinh sự đa dạng này và ban cho mọi niềm tin và tập quán các giá trị ngang bằng nhau. Thật không may, các thái độ cởi mở như vậy không thể qua nổi bài sát hạch của thực tế. Sự đa dạng của con người có thể rất tuyệt khi nói đến ẩm thực hay thơ ca, nhưng rất ít người xem việc thiêu phù thủy, giết trẻ sơ sinh hay nô lệ là các đặc trưng quyến rũ của con người nên được bảo vệ khỏi sự xâm phạm của chủ nghĩa tư bản toàn cầu và chủ nghĩa thực dân tiêu dùng.
Hoặc nghĩ về cách các nền văn hóa khác nhau đối xử với người xa lạ, người nhập cư và người tị nạn mà xem. Không phải mọi nền văn hóa đều có mức độ chấp nhận giống hệt nhau. Văn hóa Đức đầu thế kỷ 21 chấp nhận người lạ và chào đón người nhập cư hơn văn hóa Ả Rập Saudi. Một người Hồi giáo nhập cư vào Đức dễ dàng hơn một người Cơ Đốc giáo di cư sang Ả Rập Saudi rất nhiều. Thật sự là, ngay cả với một người tị nạn Hồi giáo đến từ Syria, việc di cư sang Đức vẫn dễ hơn sang Ả Rập Saudi; từ năm 2011, Đức đã nhận người tị nạn Syria nhiều hơn Ả Rập Saudi rất nhiều. Tương tự, rất nhiều dẫn chứng cho thấy văn hóa California đầu thế kỷ 21 thân thiện với người nhập cư hơn văn hóa Nhật Bản. Do đó, nếu bạn nghĩ chấp nhận người lạ và chào đón người nhập cư là tốt thì chẳng phải bạn nên nghĩ rằng ít nhất ở khía cạnh này, văn hóa Đức đã ưu việt hơn văn hóa Ả Rập Saudi và văn hóa California thì tốt hơn văn hóa Nhật Bản hay sao?
Hơn nữa, ngay cả khi hai quy tắc văn hóa là có hiệu lực ngang nhau trên lý thuyết thì trong bối cảnh thực tế của nhập cư, vẫn có thể biện minh rằng văn hóa của nước chủ nhà là tốt hơn. Các quy tắc và giá trị thỏa đáng ở nước này đơn giản là không hiệu quả đến thế dưới các hoàn cảnh khác. Hãy thử nhìn vào một ví dụ rõ ràng. Để tránh sa vào bẫy của những thành kiến, ta thử hình dung hai đất nước giả tưởng là Xứ Lạnh và Xứ Nóng. Hai nước có rất nhiều khác biệt văn hóa, trong đó có thái độ đối với quan hệ người với người và mâu thuẫn giữa các cá nhân. Người Xứ Lạnh được giáo dục từ khi tấm bé là nếu gặp mâu thuẫn với ai đó ở trường, ở chỗ làm, hay thậm chí ở trong gia đình, tốt nhất là nên kìm nén lại. Anh nên tránh la hét, thể hiện sự giận dữ hay đối đầu với người kia; những con bùng phát nóng giận chỉ làm mọi thứ tồi tệ hơn. Tốt hơn là tự xử lý các cảm giác của mình trong khi để cho mọi thứ dịu xuống. Trong khi đó, hạn chế tiếp xúc với người kia, và nếu tiếp xúc là không tránh khỏi, nói gãy gọn nhưng vẫn lịch sự và tránh các vấn đề nhạy cảm.
Người Xứ Nóng, trái lại, được dạy từ thuở còn thơ là phải bộc lộ các mâu thuẫn ra ngoài. Nếu thấy mình có mâu thuẫn, họ tin là không nên để nó âm ỉ trong người và đùng kìm nén cái gì cả. Hãy tận dụng cơ hội đầu tiên để xả van cảm xúc của mình. Nổi giận, la hét, và nói cho người kia biết chính xác mình cảm thấy như thế nào là hoàn toàn ổn. Đây là cách duy nhất để cùng nhau giải quyết mọi thứ một cách thành thật và trực tiếp. Một ngày la hét có thể giải quyết một mâu thuẫn hẳn có thể âm ỉ trong nhiều năm ròng; dù đối mặt trực diện không bao giờ là thoải mái, sau đó bạn sẽ thấy khỏe hơn rất nhiều.
Cả hai phương pháp này đều có điểm mạnh và điểm yếu; khó có thể nói cách này luôn tốt hơn cách kia. Tuy nhiên, điều gì có thể xảy ra khi một người Xứ Nóng di cư đến Xứ Lạnh và xin được việc làm trong một công ty Xứ Lạnh?
Mỗi khi một mâu thuẫn nảy sinh với một đồng nghiệp, người Xứ Nóng đập bàn và gào thét khản cả giọng, hy vọng rằng điều này sẽ tập trung sự chú ý vào vấn đề và giúp giải quyết nó một cách nhanh chóng. Vài năm sau, một vị trí cấp cao để trống. Dù người Xứ Nóng có đủ các năng lục cần thiết, sếp vẫn thích đề bạt một nhân viên Xứ Lạnh hơn. Khi được hỏi về chuyện đó, người sếp giải thích: “Đúng, người Xứ Nóng có rất nhiều tài năng, nhưng anh ta cũng có một vấn đề nghiêm trọng với việc quan hệ với người khác. Anh ta nóng tính, tạo căng thẳng không đáng có xung quanh mình và làm xáo trộn văn hóa công ty của chúng tôi.” Số phận tương tự cũng giáng vào đầu những người Xứ Nóng khác nhập cư vào Xứ Lạnh. Họ phần lớn kẹt lại ở các vị trí thấp hoặc hoàn toàn không tìm được việc vì những người quản lý đoán trước rằng là người Xứ Nóng, họ có thể sẽ trở thành những nhân viên nóng tính và nhiễu sự. Vì người Xứ Nóng không bao giờ lên được các vị trí cấp cao, họ khó mà thay đổi được văn hóa doanh nghiệp Xứ Lạnh.
Điều tương tự cũng xảy đến với những người Xứ Lạnh di cư sang Xứ Nóng. Một người Xứ Lạnh bắt đầu làm trong một công ty Xứ Nóng nhanh chóng mang tiếng là kênh kiệu hay lạnh lùng và có rất ít bạn bè. Người ta nghĩ anh ta kém thành thật hay thiếu các kỹ năng trong các mối quan hệ con người cơ bản. Anh ta không bao giờ thăng tiến lên các vị trí cao, do đó không bao giờ có cơ hội thay đổi văn hóa doanh nghiệp. Các quản lý Xứ Nóng kết luận rằng hầu hết người Xứ Lạnh đều kém thân thiện hay rụt rè, không tuyển họ vào các vị trí yêu cầu tiếp xúc với khách hàng hay hợp tác chặt chẽ với các đồng nghiệp khác.
Cả hai trường hợp này có vẻ sặc mùi phân biệt chủng tộc. Nhưng trên thực tế, chúng không phải là phân biệt chủng tộc. Chúng là “phân biệt văn hóa”. Con người tiếp tục tiến hành một cuộc chiến quả cảm chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc truyền thống mà không nhận ra rằng mặt trận đã đổi. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc truyền thống đang suy yếu, nhưng thế giới giờ đang đầy rẫy những kẻ “phân biệt văn hóa”.
Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc truyền thống bắt rễ sâu trong các lý thuyết sinh học. Vào những năm 1890 hay 1930, ở các nước Anh, Úc và Hoa Kỳ, nhiều người tin rằng một phẩm chất sinh học di truyền nào đó khiến những người châu Phi và người Trung Hoa bẩm sinh đã kém thông minh, kém mạnh dạn và kém đạo đức hơn người châu Âu. Vấn đề nằm trong máu của họ. Những quan điểm như vậy có sức nặng chính trị cũng như được hậu thuẫn rộng rãi về mặt khoa học. Ngày nay, trái lại, trong khi rất nhiều cá nhân vẫn còn đưa ra những nhận định phân biệt chủng tộc như vậy, chúng đã mất mọi hậu thuẫn khoa học và phần lớn sức nặng chính trị, trừ phi chúng được diễn đạt lại bằng các thuật ngữ văn hóa. Nói rằng người da đen có khuynh hướng phạm tội vì họ có các gen dưới chuẩn thì không được; nói rằng họ có khuynh hướng phạm tội vì họ đến từ các nhóm văn hóa “rối loạn chức năng” thì được chấp nhận!
Ở Mỹ chẳng hạn, một số đảng và lãnh đạo chính trị công khai ủng hộ các chính sách có tính phân biệt và thường đưa ra các nhận xét bôi nhọ người Mỹ gốc Phi, người gốc Latin và người Hồi; nhưng họ sẽ rất hiếm khi nếu không muốn nói là không bao giờ nói rằng ADN của những người này có gì đó sai lệch. Vấn đề được cho là nằm trong văn hóa của họ. Do đó, khi Tổng thống Trump mô tả Haiti, El Salvador và một số khu vực khác của châu Phi là “các nước hạ đẳng”, rõ ràng ông ta đang đưa ra cho công chúng một cảm tưởng của mình về văn hóa của các nơi này chứ không phải là bản chất di truyền của chúng. Vào một dịp khác, Trump nói về những người nhập cư Mexico vào Mỹ là “khi Mexico đưa người của mình sang, họ đâu có đưa những người giỏi nhất. Họ đưa những người có rất nhiều vấn đề và họ mang theo các vấn đề đó. Họ mang theo ma túy, họ mang theo tội phạm. Bọn họ là những kẻ hiếp dâm và một số, tôi đoán vậy, cũng là người tốt”. Đây là một luận điệu cực kỳ xúc phạm, nhưng là xúc phạm về xã hội chứ không phải về sinh học. Trump không có ý nói dòng máu Mexico cản trở lòng tốt; chỉ là những người Mexico tốt có khuynh hướng ở phía Nam dòng Rio Grande.
Cơ thể con người – cơ thể Latin, cơ thể châu Phi, cơ thể Trung Hoa – vẫn nằm ở trung tâm cuộc tranh luận. Màu da vẫn có ý nghĩa rất lớn. Đi bộ dọc một con phố ở New York với nhiều sắc tố melanin trong da nghĩa là dù bạn đang đi đến đâu, cảnh sát có thể soi bạn kỹ hơn. Nhưng những người như Tổng thống Trump hay Tổng thống Obama sẽ giải thích tầm quan trọng của màu da bằng các thuật ngữ văn hóa và lịch sử. Cảnh sát nhìn màu da của bạn một cách ngờ vực không phải vì lý do sinh học, mà vì lịch sử. Có vẻ như phe Obama sẽ giải thích rằng thiên kiến của cảnh sát là một di sản không may của các tội ác lịch sử như chế độ nô lệ, trong khi phe Trump sẽ giải thích rằng việc người da đen phạm tội là một di sản không may của các lỗi lầm lịch sử từ cả phe tự do da trắng lẫn các cộng đồng da đen. Dù sao đi nữa, ngay cả nếu bạn thực ra chỉ là một du khách đến từ Delhi chẳng biết gì về lịch sử Mỹ, bạn sẽ vẫn phải đối mặt với hậu quả của lịch sử đó.
Sự dịch chuyển từ sinh học sang văn hóa không chỉ là một thay đổi vô nghĩa về thuật ngữ. Đấy là một sự dịch chuyển sâu sắc với các hậu quả thực tế sâu rộng, có cái tốt, có cái xấu. Đầu tiên phải nói là văn hóa thì dễ biến đổi hơn sinh học. Một mặt, điều này có nghĩa là những kẻ phân biệt văn hóa ngày nay có thể khoan dung hơn những kẻ phân biệt chủng tộc truyền thống: chỉ cần “hội kia” chấp nhận văn hóa của chúng ta, chúng ta sẽ chấp nhận họ như những kẻ ngang hàng với mình. Mặt khác, nó có thể đưa đến các áp lực lớn hơn rất nhiều lên “hội kia”, buộc họ phải hòa nhập và dẫn tới các phê bình nặng nề hơn rất nhiều nếu họ hòa nhập thất bại.
Bạn khó có thể đổ lỗi cho một người da màu vì không làm trắng da, nhưng người ta có thể và quả thực buộc tội người gốc Phi hay người Hồi vì không áp dụng thành công các quy tắc và giá trị của văn hóa phương Tây. Điều đó không có nghĩa là các cáo buộc như vậy nhất thiết đúng. Trong nhiều trường hợp, có rất ít lý do tuân theo nền văn hóa thống trị, và trong nhiều trường hợp khác, đơn giản đó là một nhiệm vụ bất khả thi. Những người Mỹ gốc Phi đến từ một khu ổ chuột nghèo khó, thật lòng cố gắng hòa nhập vào nền văn hóa làm chủ của Mỹ, đầu tiên có thể thấy bế tắc bởi sự phân biệt đối xử từ các tổ chức, để rồi lại bị đổ lỗi vì không đủ nỗ lực, và vì thế chẳng thể đổ các vấn đề của mình cho ai khác ngoài bản thân.
Một khác biệt quan trọng thứ hai giữa việc nói về sinh học và nói về văn hóa là không như sự ấu trĩ mang tính phân biệt chủng tộc truyền thống, các tranh luận về phân biệt văn hóa đôi khi lại nghe khá có lý, như trong trường hợp của Xứ Nóng và Xứ Lạnh. Người Xứ Nóng và người Xứ Lạnh đều có văn hóa khác nhau, thể hiện qua các kiểu quan hệ người với người khác nhau. Vì quan hệ con người là tối quan trọng trong nhiều công việc, liệu việc một công ty Xứ Nóng trừng phạt người Xứ Lạnh vì cư xử theo di sản văn hóa của mình có trái đạo đức hay không?
Các nhà nhân loại học, xã hội học và sử học cảm thấy cực kỳ không thoải mái về vấn đề này. Một mặt, mọi thứ nghe có vẻ giống phân biệt chủng tộc một cách nguy hiểm. Mặt khác, phân biệt văn hóa lại có nền tảng khoa học vững chãi hơn nhiều so vời phân biệt chủng tộc; đặc biệt là các học giả trong ngành khoa học xã hội và nhân văn không thể phủ nhận sự tồn tại và tầm quan trọng của các khác biệt văn hóa.
Dĩ nhiên, ngay cả khi thừa nhận sự hợp lý của một số tuyên bố phân biệt văn hóa, chúng ta vẫn không phải thừa nhận tất cả các tuyên bố đó. Nhiều tuyên bố phân biệt văn hóa mắc ba lỗi thông thường. Thứ nhất, những người phân biệt văn hóa thường nhầm lẫn sự ưu việt địa phương với sự ưu việt khách quan. Do đó, trong bối cảnh địa phương của Xứ Nóng, phương pháp giải quyết mâu thuẫn của Xứ Nóng có thể ưu việt hơn phương pháp của Xứ Lạnh; trong trường hợp đó, một công ty Xứ Nóng hoạt động ở Xứ Nóng có lý do chính đáng để phân biệt đối xử với những nhân viên hướng nội (dẫn đến trừng phạt những người nhập cư từ Xứ Lạnh). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là phương pháp của Xứ Nóng là ưu việt một cách khách quan. Người Xứ Nóng có lẽ có thể học đôi điều từ người Xứ Lạnh, và nếu hoàn cảnh thay đổi – chẳng hạn công ty Xứ Nóng toàn cầu hóa và mở trụ sở ở nhiều quốc gia khác nhau – sự đa dạng có thể đột nhiên trở thành một tài sản.
Thứ hai, khi bạn định nghĩa rõ ràng một thước đo, một thời điểm và một nơi chốn, các tuyên bố văn hóa có thể có lý về mặt kinh nghiệm. Nhưng rất thường xảy ra trường hợp người ta áp dụng các tuyên bố phân biệt văn hóa rất chung chung, chẳng có nghĩa lý gì mấy. Ví dụ, nói rằng “văn hóa Xứ Lạnh kém khoan dung với những cơn giận dữ bộc phát ở nơi công cộng hơn văn hóa Xứ Nóng” là thỏa đáng, nhưng nói rằng “văn hóa Hồi giáo rất kém khoan dung” thì kém thỏa đáng hơn nhiều. Tuyên bố sau đơn giản là quá mù mờ. Anh nói “kém khoan dung” là ý gì? Kém khoan dung với ai hay với cái gì? Một nền văn hóa có thể kém khoan dung với các tôn giáo thiểu số và các quan điểm chính trị bất thường, đồng thời rất rộng lượng với người béo phì hay người già. Và anh nói “văn hóa Hồi giáo” là ý gì? Có phải chúng ta đang nói về bán đảo Ả Rập ở thế kỷ thứ 7? Đế chế Ottoman ở thế kỷ 16? Pakistan đầu thế kỷ 21? Cuối cùng, đâu là thang đo? Nếu chúng ta quan tâm đến sự khoan dung với các tôn giáo thiểu số và so sánh Đế chế Ottoman vào thế kỷ 16 với châu Âu phương Tây tại cùng thời điểm thì ta sẽ kết luận văn hóa Hồi giáo là cực kỳ khoan dung. Nếu chúng ta so sánh Afghanistan dưới thời Taliban với Đan Mạch ngày nay, ta sẽ có một kết luận rất khác.
Thế nhưng vấn đề tệ nhất với các tuyên bố phân biệt văn hóa là dù bản chất mang tính thống kê, chúng được sử dụng quá thường xuyên để xét đoán vội vàng các cá nhân. Khi một người Xứ Nóng bản địa và một người nhập cư Xứ Lạnh cùng xin một công việc ở một công ty Xứ Nóng, người quản lý có thể sẽ thích thuê người Xứ Nóng hơn vì “bọn Xứ Lạnh rất lạnh lùng và kém giao tiếp”. Ngay cả khi điều này đúng về mặt thống kê, có thể người Xứ Lạnh này thực sự là nồng hậu và cởi mở hơn người Xứ Nóng đó. Văn hóa là quan trọng, nhưng gen và những trải nghiệm độc đáo của mỗi người cũng định hình nên con người họ. Các cá nhân thường xuyên thách thức các hình mẫu rập khuôn mang tính thống kê. Một công ty thích các nhân viên quảng giao hơn nhân viên lạnh như tiền thì có lý, nhưng thích người Xứ Nóng hơn người Xứ Lạnh thì vô lý.
Tuy nhiên, tất cả những điều này sửa đổi các tuyên bố phân biệt văn hóa nhất định mà không làm mất uy tín toàn bộ chủ nghĩa phân biệt văn hóa. Không như chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vốn là một thiên kiến phi khoa học, các luận cứ văn hóa đôi khi có thể khá hợp lý. Nếu ta nhìn các con số thống kê và phát hiện ra các công ty Xứ Nóng có ít người Xứ Lạnh ở các vị trí cấp cao, điều này có thể không đến từ phân biệt chủng tộc mà từ suy xét đúng đắn. Liệu những người nhập cư Xứ Lạnh có nên thấy căm phẫn vì tình cảnh này và cho rằng Xứ Nóng đang rút khỏi thỏa thuận nhập cư? Liệu ta có nên buộc các công ty Xứ Nóng tuyển thêm các vị trí quản lý Xứ Lạnh qua các luật “đặc cách” nhằm nâng đỡ người nhập cư với hy vọng “hạ nhiệt” văn hóa doanh nghiệp nóng nảy của Xứ Nóng? Hay lỗi nằm ở những người nhập cư Xứ Lạnh hòa nhập vào văn hóa bản địa bất thành, do đó ta phải nỗ lực hơn và mạnh dạn ghi khắc vào tâm trí trẻ con Xứ Lạnh các quy tắc và giá trị của người Xứ Nóng hơn?
Từ địa hạt hư cấu quay lại địa hạt thực tế, ta thấy rằng cuộc tranh luận ở châu Âu về nhập cư không hề là một trận chiến rõ ràng giữa tốt và xấu. Sẽ là sai lầm khi bôi đen tất cả những người chống nhập cư là “phát xít”, cũng như sẽ sai lầm khi mô tả tất cả những người ủng hộ nhập cư là “tự sát về văn hóa”. Do đó, cuộc tranh luận về nhập cư không nên được tiến hành như một cuộc đấu tranh không thỏa hiệp về một quy tắc đạo đức bất khả thương lượng nào đó. Nó là một cuộc tranh luận giữa hai vị thế chính trị hợp pháp với lựa chọn sau rốt phải được quyết định qua các quy trình dân chủ tiêu chuẩn.
Ở thời điểm hiện tại, hoàn toàn chưa rõ liệu châu Âu có thể tìm được một lối đi trung lập sẽ cho phép mở cửa với những người xa lạ mà không bị những kẻ không có cùng các giá trị với nó làm cho bất ổn. Nếu châu Âu tìm ra một con đường như vậy thành công, có lẽ mô hình của nó có thể được nhân rộng ở phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, nếu dự án EU thất bại, điều đó sẽ chứng tỏ niềm tin vào các giá trị cánh tả về tự do và khoan dung là không đủ để giải quyết các mâu thuẫn văn hóa của thế giới và đoàn kết con người đối mặt với chiến tranh hạt nhân, sụp đổ sinh thái và đứt gãy do công nghệ. Nếu người Hy Lạp và người Đức không thể đồng lòng về một số phận chung, và nếu 500 triệu người châu Âu giàu có không thể thu nhận vài triệu người tị nạn nghèo khó, loài người có cửa gì để vượt qua những mâu thuẫn còn sâu sắc hơn đang kìm hãm nền văn minh toàn cầu của chúng ta?
Một điều có thể giúp châu Âu và toàn thể thế giới hòa nhập tốt hơn và mở rộng cánh cửa cũng như tâm trí mình hơn đó là “hạ nhiệt” cơn cuồng loạn liên quan đến chủ nghĩa khủng bố. Sẽ là cực kỳ đáng tiếc nếu cuộc thí nghiệm châu Âu về tự do và khoan dung tan rã vì một nỗi sợ khủng bố bị thổi phồng. Điều này không chỉ hiện thực hóa mục tiêu của chính bọn khủng bố mà còn cho nhóm những kẻ cuồng tín này quá nhiều tiếng nói về tương lai của loài người. Chủ nghĩa khủng bố là vũ khí của một nhóm bên lề và yếu ớt của loài người. Làm thế nào nó lại thống trị chính trị toàn cầu như vậy?.
Yuval Noah Harari
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...