Thứ Hai, 15 tháng 9, 2025

21 bài học cho thế kỷ 21 - Phần 2

21 bài học cho thế kỷ 21 - Phần 2

Phần 3 - Tuyệt vọng và hy vọng
Dù các thách thức là chưa từng có và các bất đồng là rất căng thẳng, nhân loại vẫn có thể vươn lên nếu chúng ta biết kiềm chế nỗi sợ của mình và tỏ ra khiêm tốn hơn về các quan điểm của mình.
Bài học 10 - Chủ nghĩa khủng bố
ĐỪNG HOẢNG
Bọn khủng bố là bậc thầy về điều khiển tâm trí. Chúng sát hại rất ít người nhưng vẫn khiến hàng tỷ người khiếp sợ và làm lung lay các cấu trúc chính trị khổng lồ như Liên minh châu Âu hay Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Từ ngày 11 tháng Chín năm 2001, mỗi năm, bọn khủng bố giết khoảng 50 người ở châu Âu, khoảng 10 người ở Mỹ, khoảng 7 người ở Trung Quốc và khoảng 25.000 người trên toàn thế giới (chủ yếu là ở Iraq, Afghanistan, Pakistan, Nigeria và Syria). Trong khi đó, mỗi năm, số người thiệt mạng do tai nạn giao thông là 80.000 người ở châu Âu, 40.000 người ở Mỹ, 270.000 người ở Trung Quốc và tổng số 1,25 triệu người trên thế giới. Mỗi năm, tiểu đường và đường huyết cao gây tử vong tới 3,5 triệu người, còn ô nhiễm không khí gây tử vong khoảng 7 triệu người. Thế thì tại sao chúng ta lại sợ khủng bố hơn sợ đường và tại sao các chính phủ vẫn thất bại trong các cuộc bầu cử vì các cuộc tấn công khủng bố đâu đó mà không phải vì ô nhiễm không khí kinh niên?
Theo đúng nghĩa đen của từ này, chủ nghĩa khủng bố là một chiến lược quân sự hòng thay đổi tình thế chính trị bằng cách gieo rắc sự sợ hãi hơn là gây ra các tổn thất về vật chất. Chiến lược này gần như lúc nào cũng được các bên rất yếu, không thể giáng nhiều tổn thất vật chất vào kẻ thù của mình, áp dụng. Dĩ nhiên, mọi hành động quân sự đều gieo rắc sợ hãi. Nhưng trong chiến tranh thông thường, sợ hãi chỉ là một “phụ phẩm” của các tổn thất vật chất và thường tỷ lệ thuận với lực lượng gây tổn thất. Trong khủng bố, sợ hãi là câu chuyện chính và có một sự bất cân xứng đáng kinh ngạc giữa sức mạnh thực sự của những kẻ khủng bố và nỗi sợ hãi chúng có thể được khơi dậy.
Không phải lúc nào cũng dễ thay đổi tình thế chính trị qua bạo lực. Vào ngày đầu của trận Somme, ngày 1 tháng Bảy năm 1916, 19.000 lính Anh đã tử trận và 40.000 lính khác bị thương. Đến khi trận chiến kết thúc vào tháng Mười một, cả hai phe có tổng cộng hơn một triệu người thương vong, trong đó 300.000 người thiệt mạng. Thế nhưng cuộc chiến khủng khiếp này gần như không thay đổi cán cân quyền lực ở châu Âu. Phải mất hai năm và hàng triệu thương vong nữa mới khép lại một điều gì đó.
So với trận Somme, chủ nghĩa khủng bố chỉ là muỗi. Các cuộc tấn công ở Paris tháng Mười một năm 2015 giết chết 130 người, các cuộc đánh bom ở Brussels tháng Ba năm 2016 giết chết 32 người, cuộc đánh bom ở sân vận động Manchester tháng Năm năm 2017 giết chết 22 người. Vào năm 2002, ở đỉnh điểm chiến dịch khủng bố của Palestine nhằm vào Israel, khi các xe buýt và nhà hàng bị đánh bom hằng ngày, tổng số người chết là 451 người Israel. Cùng năm đó, 542 người Israel chết vì tai nạn xe hơi. Một vài cuộc tấn công khủng bố, như cuộc đánh bom chuyến bay 103 của hãng Pan Am bay qua Lockerbie năm 1988, khiến vài trăm người thiệt mạng. Các cuộc tấn công ngày 11 tháng Chín lập một kỷ lục mới, giết chết gần 3.000 người. Thế nhưng, ngay cả sự kiện đó cũng là vô cùng nhỏ bé so với chiến tranh thông thường. Nếu bạn cộng tất cả số người bị giết và bị thương ở châu Âu do các cuộc tấn công khủng bố từ năm 1945, bao gồm cả các nạn nhân của các nhóm chủ nghĩa quốc gia, tôn giáo, cánh tả và cánh hữu, con số tổng cộng sẽ vẫn thua xa thương vong của bất kỳ trận chiến. mờ nhạt nào trong Thế chiến thứ nhất, như trận Aisne thứ ba (250.000 người) hay trằn Isonzo thứ mười (225.000 người).
Thế thì làm thế nào bọn khủng bố có thể hy vọng đạt được gì nhiều nhặn? Sau một hành động khủng bố, kẻ thù tiếp tục có lượng lính tráng, xe tăng và tàu chiến y như trước. Mạng lưới thông tin, đường bộ và đường sắt gần như không bị tổn hại. Các nhà máy, bến cảng và căn cứ gần như không bị đụng tới. Thế nhưng, bọn khủng bố hy vọng rằng dù gần như không làm kẻ thù sứt mẻ chút nào về vật chất, nỗi sợ hãi và sự bối xối sẽ khiến kẻ thù lạm dụng sức mạnh chưa hề suy suyển của mình và phản ứng thái quá. Bọn khủng bố tính toán rằng khi kẻ thù bị chọc tức sử dụng sức mạnh khổng lồ của mình chống lại chúng, kẻ thù sẽ khuấy động một cơn bão quân sự và chính trị dữ dội hơn rất nhiều những gì bản thân những kẻ khủng bố có thể tạo ra. Trong mỗi cơn bão, nhiều điều không lường trước sẽ xảy ra. Người ta sẽ mắc lỗi, hành động tàn bạo, dư luận ngả nghiêng, những người trung lập thay đổi lập trường và cán cân quyền lục dịch chuyển.
Do đó, bọn khủng bố giống một con ruồi cố phá hủy một tiệm đồ sứ. Con ruồi yếu đến nỗi không thể dịch chuyển dù chỉ một tách trà. Thế thì làm thế nào nó phá hủy dược tiệm đồ sứ đây? Nó kiếm một con bò mộng, chui vào tai bò và bắt dầu bay vo ve. Con bò phát rồ vì sợ hãi và tức giận, rồi phá tan tiệm dồ sứ. Đây chính là điều đã xảy ra sau vụ 11 tháng Chín, khi những kẻ Hồi giáo chính tông kích động con bò mộng Hoa Kỳ phá hủy tiệm đồ sứ Trung Đông. Giờ thì chúng “nở rộ” từ trong đống đổ nát. Và thế giới này không thiếu gì những con bò nóng tính.
XÁO LẠI BÀI
Chủ nghĩa khủng bố là một chiến lược tấn công bạo lực cực kỳ thiếu hấp dẫn vì nó trao toàn bộ các quyết định quan trọng vào tay kẻ thù. Tất cả lựa chọn mà kẻ thù đã có trước một cuộc tấn công khủng bố vẫn nằm trong tay hắn ngay sau đó nên hắn. hoàn toàn tự do lựa chọn. Các đội quân thường cố tránh một tình huống như vậy bằng mọi giá. Khi tấn công, họ không muốn dàn dựng một cảnh tượng hãi hùng làm kẻ thù tức giận và khiêu khích chúng đáp trả. Thay vào đó, họ tìm cách tạo ra tổn thất đáng kể về mặt vật chất cho kẻ thù và làm giảm khả năng đáp trả của chúng. Đặc biệt, họ tìm cách loại bỏ các vũ khí và lựa chọn nguy hiểm nhất của kẻ thù.
Đấy chính là điều mà quân Nhật đã làm vào tháng Mười hai năm 1941 khi họ phát động cuộc tấn công bất ngờ nhằm vào quân đội Mỹ và đánh đắm phần lớn hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ ở Trân Châu Cảng. Đây không phải là khủng bố. Đây là chiến tranh. Người Nhật không thể biết chắc người Mỹ sẽ phản ứng như thế nào sau cuộc tấn công; họ chỉ biết chắc một điều: dù quyết định làm gì đi nữa, người Mỹ cũng sẽ không thể gửi hạm đội đến Philippines hay Hồng Kông vào năm 1942.
Việc khiêu khích kẻ thù hành động mà không loại bỏ được bất cứ vũ khí hay lựa chọn nào của chúng là một hành vi tuyệt vọng, chỉ được tiến hành khi không còn lựa chọn nào khác. Bất cứ lúc nào có thể gây tổn thất vật chất nghiêm trọng, không ai từ bỏ điều đó mà chọn khủng bố đơn thuần cả. Nếu vào tháng Mười hai năm 1941, người Nhật đánh đắm một tàu chở khách dân sự hòng khiêu khích người Mỹ, trong khi để yên cho hạm đội Thái Bình Dương ở Trân Châu Cảng, thì đó sẽ là điên rồ.
Nhưng những kẻ khủng bố có rất ít lựa chọn. Chúng quá yếu để có thể gây chiến. Thế nến chúng chọn cách tạo ra một sân khấu kịch mà chúng hy vọng có thể khiêu khích kẻ thù và khiến kẻ thù phản ứng thái quá. Bọn khủng bố dựng lên một sân khấu bạo lực đáng sợ, thu hút trí tưởng tượng của chúng ta và dùng nó chống lại chúng ta. Bằng cách giết một nhúm người, bọn khủng bố khiến hàng triệu người lo sợ cho mạng sống của mình. Để làm dịu những nỗi sợ này, các chính phủ phản ứng với màn kịch khủng bố bằng một chương trình an ninh, dàn dựng các cuộc phô diễn lực lượng khổng lồ cũng như trừng phạt toàn bộ các cộng đồng dân cư hay tiến hành xâm lược các quốc gia khác. Trong phần lớn các trường hợp, phản ứng thái quá này đối với chủ nghĩa khủng bố đặt ra một mối đe dọa đối với an ninh của chúng ta lớn hơn rất nhiều so với bản thân bọn khủng bố.
Bọn khủng bố không suy nghĩ như các tướng lĩnh quân sự. Thay vào đó, chúng suy nghĩ như các nhà dựng sân khấu. Ký ức của mọi người về các vụ tấn công 11 tháng Chín xác nhận rằng, bằng trực giác mọi người hiểu được điều này. Nếu bạn hỏi mọi người điều gì đã xảy ra vào ngày 11 tháng Chín, họ sẽ nói rằng al-Qaeda đã đánh sập tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới. Thế nhưng vụ tấn công không chỉ hên quan đến hai tòa tháp mà còn hai hành động khác nữa, đặc biệt là một cuộc tấn công thành công vào Lầu Năm Góc. Tại sao ít người nhớ chuyện đó hơn?
Nếu vụ 11 tháng Chín là một chiến dịch quân sự thông thường thì cuộc tấn công vào Lầu Năm Góc hẳn sẽ nhận được nhiều sự chú ý nhất. Trong cuộc tấn công này, al-Qaeda đã tiêu diệt được một phần căn cứ đầu não của kẻ thù, giết hại và làm bị thương các sĩ quan và nhà phân tích cao cấp. Thế thì tại sao trí nhớ của mọi người lại gán tầm quan trọng lớn hơn nhiều cho việc phá hủy hai tòa nhà dân sự và giết các nhân viên môi giới chứng khoán, kế toán và thư ký?
Đấy là vì Lầu Năm Góc là một tòa nhà tương đối thấp và không nổi bật, trong khi Trung tâm Thương mại Thế giới là một “tô-tem” thẳng đứng, cao chót vót mà khi sụp đổ sẽ gây ra một hiệu ứng nghe nhìn khủng khiếp. Không ai nhìn thấy hình ảnh sụp đổ của chúng mà có thể quên được. Bởi chúng ta hiểu một cách trực giác rằng chủ nghĩa khủng bố là một sân khấu và chúng ta đánh giá nó bằng hiệu ứng cảm xúc hơn là hiệu ứng vật chất.
Giống như những kẻ khủng bố, những người chống khủng bố cũng nên nghĩ giống các nhà dựng sân khấu hơn và bớt giống các tướng lĩnh quân đội đi. Trên hết, nếu muốn chống khủng bố hiệu quả, chúng ta phải nhận ra không gì bọn khủng bố làm là có thể đánh bại chúng ta. Chúng ta là những người duy nhất có thể đánh bại chúng ta nếu chúng ta phản ứng thái quá một cách lệch lạc trước những màn khiêu khích của bọn khủng bố.
Bọn khủng bố tiến hành một nhiệm vụ bất khả thi: thay đổi cán cân quyền lực chính trị thông qua bạo lực, dù không có quân đội. Để đạt mục tiêu này, những kẻ khủng bố đặt ra cho nhà nước một thử thách bất khả thi của chính họ: phải chứng minh rằng nhà nước có thể bảo vệ tất cả công dân của mình khỏi bạo lực chính trị tại bất cứ đâu, bất kỳ lúc nào. Bọn khủng bố hy vọng rằng khi nhà nước cố thực hiện nhiệm vụ bất khả thi này, các quân bài chính trị sẽ được xáo lại và đưa cho chúng những quân át không lường trước.
Đúng, khi nhà nước nhận thách thức, nó thường thành công trong việc nghiền nát bọn khủng bố. Hàng trăm tổ chức khủng bố đã bị nhiều nhà nước khác nhau xóa sổ trong vài thập kỷ trở lại đây. Trong giai đoạn 2002-2004, Israel đã chứng minh rằng ngay cả các chiến dịch khủng bố dữ dội nhất cũng có thể bị đàn áp bằng sức mạnh thô bạo. Những tay khủng bố biết rất rõ rằng vận may trong các cuộc đụng độ như vậy đang chống lại chúng. Nhưng vì chúng rất yếu và không có lựa chọn nào khác, chúng không có gì để mất và có rất nhiều thứ để đạt được. Thỉnh thoảng một cơn bão chính trị do các chiến lược chống khủng bố tạo ra quả thật có lợi cho bọn khủng bố. Một kẻ khủng bố như một kẻ đánh bạc bị chia phải một tay bài cực xấu và đang cố thuyết phục đối thủ xáo lại bài. Hắn không thể mất gì nữa và có thể thắng mọi thứ.
ĐỒNG XU NHỎ TRONG LỌ RỖNG TO
Tại sao nhà nước nên đồng ý xáo lại bài? Khi thiệt hại vật chất do chủ nghĩa khủng bố gây ra là không đáng kể, về lý thuyết, nhà nước có thể chẳng cần làm gì cả hoặc dùng những biện pháp mạnh nhưng kín đáo, “khuất xa máy quay và micro”. Đúng là các nhà nước thường làm chính xác như thế. Nhưng thi thoảng, các nhà nước mất bình tĩnh và phản ứng quá bạo lực và quá công khai, để rồi làm theo đúng bài bọn khủng bố muốn. Thế tại sao nhà nước lại nhạy cảm với các khiêu khích của khủng bố như vậy?
Các nhà nước thấy khó mà chịu đựng được các khiêu khích này vì tính chính danh của nhà nước hiện đại được dựa trên lời hứa giữ cho bạo lực chính trị nằm ngoài không gian công cộng. Một thể chế có thể chịu đựng các thảm họa khủng khiếp, thậm chí phớt lờ chúng, miễn là tính chính danh của nó không dựa trên việc ngăn ngừa các thảm họa đó. Mặt khác, một thể chế có thể sụp đổ vì một vấn đề nhỏ nếu vấn đề đó được xem là làm suy yếu tính chính danh của nó. Vào thế kỷ 14, Cái chết Đen đã giết khoảng một phần tư đến một nửa dân số châu Âu, nhưng không ông vua nào mất ngôi vì điều đó và cũng không ông vua nào nỗ lực ghê gớm lắm để vượt qua bệnh dịch. Hồi đó không ai nghĩ ngăn ngừa bệnh dịch là một phần công việc của nhà vua. Mặt khác, những kẻ trị vì cho phép dị giáo lan tràn trong lãnh thổ của mình có nguy cơ mất ngôi, thậm chí mất đầu.
Ngày nay, một chính phủ có thể chọn cách tiếp cận bạo lực gia đình và bạo lực tình dục mềm mỏng hơn so với chủ nghĩa khủng bố vì mặc cho ảnh hưởng của các phong trào như #MeToo, hiếp dâm không làm giảm tính chính danh của chính phủ. Ở Pháp chẳng hạn, hơn 10.000 vụ cưỡng hiếp được báo cáo cho nhà cầm quyền mỗi năm và khoảng vài chục ngàn vụ không được báo cáo khác. Những kẻ hiếp dâm và những ông chồng vũ phu, tuy thế, không được xem là một mối đe dọa sống còn đối với nhà nước Pháp vì theo lịch sử mà nói, nhà nước Pháp không xây dựng dựa trên lời hứa tiêu trừ bạo lực tình dục. Trái lại, những ca khủng bố hiếm hơn rất nhiều lại được xem như một mối đe dọa chết người với Cộng hòa Pháp vì trong vài thế kỷ vừa qua, các nhà nước hiện đại phương Tây đã dần thiết lập tính chính danh của mình dựa trên lời hứa rõ ràng là không chấp nhận bạo lực chính trị trong lãnh thổ của mình.
Trở về thời Trung cổ, không gian công cộng tràn ngập bạo lực chính trị. Sự thật là khả năng sử dụng bạo lực chính là vé vào cửa của trò chơi chính trị; bất cứ ai thiếu khả năng này đều không có tiếng nói chính trị. Vô số gia đình quyền quý có quân lính giống như các thị trấn, phường hội, nhà thờ và tu viện. Khi một tu viện trưởng qua đời và tranh cãi về quyền kế nhiệm nảy sinh, các bè phái đối lập, bao gồm các thầy tu, giới chức địa phương và láng giềng có liên quan, thường sử dụng vũ lực để quyết định vấn đề.
Chủ nghĩa khủng bố không có chỗ trong một thế giới như vậy. Bất cứ kẻ nào không đủ mạnh để gây tổn thất vật chất đáng kể thì cũng không đáng nói tới. Nếu vào năm 1150, một vài tay cuồng tín Hồi giáo ám sát một nhúm thường dân ở Jerusalem và yêu cầu quân Thập tự rời khỏi Đất Thánh, phản ứng sẽ là giễu cợt chứ không phải là kinh sợ. Nếu muốn được xem trọng, ít nhất anh phải kiểm soát một hoặc hai tòa lâu đài kiên cố. Chủ nghĩa khủng bố không quấy nhiễu tổ tiên Trung cổ của chúng ta vì họ có những vấn đề phải xử lý lớn hơn nhiều.
Trong thời hiện đại, các nhà nước tập quyền dần giảm mức độ bạo lực chính trị trong lãnh thổ của mình và trong vài thập kỷ trở lại đây, các nước phương Tây đã nhổ rễ bạo lực gần như hoàn toàn. Các công dân Pháp, Anh hay Hoa Kỳ có thể tranh đấu giành quyền kiểm soát các thị trấn, tập đoàn, tổ chức, thậm chí là cả chính phủ, mà không cần đến một lực lượng quân bị. Quyền kiểm soát hàng tỷ tỷ đô la, hàng triệu binh lính và hàng ngàn tàu biển, máy bay và tên lửa hạt nhân chuyển từ nhóm chính trị gia này sang nhóm chính trị gia khác mà không cần nổ một phát súng. Con người nhanh chóng quen với việc này và giờ xem đó là quyền tự nhiên của mình. Do đó, các hành động bạo lực chính trị lẻ tẻ giết vài chục người cũng bị xem là mối đe dọa chết người đối với tính chính danh và thậm chí là sự sống còn của nhà nước. Một đồng xu nhỏ trong một lọ rỗng to thì rất ồn ào.
Đây là điều khiến sân khấu khủng bố thành công đến thế. Nhà nước đã tạo ra một khoảng không khổng lồ trống vắng bạo lực chính trị, thứ giờ biến thành một dàn loa khuếch âm, phóng đại hiệu ứng của bất cứ cuộc tấn công có vũ trang nào, dù nhỏ đến đâu. Bạo lực chính trị tại một quốc gia nhất định càng ít thì cú sốc của quần chúng trước một hành động khủng bố lại càng lớn. Giết một vài người ở Bỉ thu hút chú ý hơn giết hàng trăm người ở Nigeria hay Iraq rất nhiều. Nghịch lý ở chỗ, chính thành công của các nhà nước hiện đại trong việc phòng ngừa bạo lực chính trị lại khiến chúng đặc biệt dễ bị tổn thương trước chủ nghĩa khủng bố.
Nhà nước đã nhấn mạnh nhiều lần rằng nó sẽ không dung túng bạo lực chính trị trong biên giới của mình. Đến phần mình, các công dân quen dần với mức bạo lực chính trị bằng không. Do đó, sân khấu khủng bố tạo nên những nỗi sợ hãi thâm căn về tình trạng vộ chính phủ, làm người ta cảm thấy như thể trật tự xã hội chuẩn bị sụp đổ. Sau nhiều thế kỷ tranh đấu đẫm máu, chúng ta đã bò ra khỏi hố đen bạo lực, nhưng chúng ta có cảm giác như hố đen vẫn còn đó, kiên nhẫn chờ nuốt chửng chúng ta một lần nữa. Một vài tội ác kinh hoàng xảy ra và ta tưởng như mình đang rơi trở lại vào hố thẳm.
Để xoa dịu những nỗi sợ này, nhà nước buộc phải đáp trả sân khấu khủng bố bằng sân khấu an ninh của chính mình. Câu trả lời hiệu quả nhất đối với chủ nghĩa khủng bố có thể là tình báo và các hoạt động bí mật tin cậy để chống lại các mạng lưới tài chính nuôi dưỡng khủng bố. Nhưng đây không phải điều mà các công dân có thể xem trên truyền hình. Các công dân đã chứng kiến màn kịch khủng bố khi Trung tâm Thương mại Thế giới sụp đổ. Nhà nước thấy mình buộc phải dàn dựng một vở đối-kịch hoành tráng không kém, thậm chí còn nhiều khói lửa hơn. Thế nên thay vì hành động lặng lẽ và hiệu quả, nhà nước tung ra một cơn bão mạnh, thường xuyên đáp ứng những mơ ước thầm kín nhất của bọn khủng bố.
Thế thì nhà nước phải đối phó với khủng bố như thế nào? Một cuộc đấu tranh chống khủng bố thành công nên được thực hiện trên ba mặt trận. Đầu tiên, các chính phủ phải tập trung vào các hành động bí mật chống các mạng lưới khủng bố. Thứ hai, giới truyền thông nên giữ mọi thứ trong đúng bối cảnh và tránh làm loạn lên. Nhà hát khủng bố không thể thành công nếu không được quảng bá. Không may là báo chí lại quá thường xuyên quảng bá không công cho chúng. Báo chí đưa tin một cách ám ảnh về các cuộc tấn công khủng bố và thổi phồng sự nguy hiểm của chúng lên đáng kể vì các báo cáo về khủng bố giúp bán được nhiều báo hơn các báo cáo về tiểu đường hay ô nhiễm không khí.
Mặt trận thứ ba là trí tưởng tượng của mỗi người chúng ta. Bọn khủng bố nắm giữ trí tưởng tượng của chúng ta và dùng nó để chống lại chúng ta. Hết lần này đến lần khác, chúng ta tua lại cuộc tấn công khủng bố trong đầu mình, nhớ lại vụ 11 tháng Chín hay các cuộc đánh bom liều chết mới nhất. Bọn khủng bố giết một trăm người và khiến 100 triệu người tưởng tượng là có một tên khủng bố nấp sau mỗi gốc cây. Trách nhiệm của mỗi công dân là tự giải phóng trí tưởng tượng của mình khỏi bọn khủng bố và nhắc cho mình nhớ về mức độ thực sự của mối đe dọa này. Chính nỗi sợ hãi của chúng ta đã khiến truyền thông bị ám ảnh về chủ nghĩa khủng bố và chính phủ phản ứng thái quá.
Do đó, thành công hay thất bại của chủ nghĩa khủng bố phụ thuộc vào chúng ta. Nếu ta để cho bọn khủng bố nắm giữ trí tưởng tượng của mình rồi phản ứng thái quá với chính những nỗi sợ của mình, chủ nghĩa khủng bố sẽ thành công. Nếu chúng ta giải phóng trí tưởng tượng của mình khỏi bọn khủng bố và phản ứng một cách cân bằng và bình tĩnh, chủ nghĩa khủng bố sẽ thất bại.
CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ TIẾN LÊN HẠT NHÂN
Phân tích trên đúng với chủ nghĩa khủng bố mà ta đã biết trong hai thế kỷ trở lại đây và như nó đang hiện hình trên các đường phố của New York, London, Paris và Tel Aviv. Tuy nhiên, nếu bọn khủng bố chiếm được vũ khí hủy diệt hàng loạt thì bản chất của không chỉ chủ nghĩa khủng bố mà của cả nhà nước và chính trị toàn cầu sẽ thay đổi chóng mặt. Nếu các tổ chức nhỏ xíu đại diện cho một nhúm những tay cuồng tín có thể phá hủy toàn bộ các thành phố và giết hàng triệu người, không còn không gian công cộng nào có thể thoát khỏi bạo lực chính trị.
Do đó, trong khi chủ nghĩa khủng bố ngày nay chủ yếu là sân khấu thì chủ nghĩa khủng bố hạt nhân, khủng bố mạng hay khủng bố sinh học trong tương lai có thể biến thành một mối đe dọa nghiêm trọng hơn rất nhiều và sẽ đòi hỏi các phản ứng mạnh mẽ hơn nhiều từ các chính phủ. Chính vì lẽ đó, chúng ta phải hết sức cẩn thận, không nhầm lẫn các hoạt cảnh tương lai mang tính giả thuyết như thế với các cuộc tấn công khủng bố thật mà ta chứng kiến cho đến nay. Nỗi sợ bọn khủng bố một ngày kia có thể chạm tay vào một quả bom hạt nhân và phá hủy New York hay London không thể biện minh cho phản ứng thái quá cuồng loạn dành cho một tên khủng bố giết một tá người đi đường bằng một khẩu súng tự động hay một chiếc xe điên. Các nhà nước thậm chí còn phải thận trọng hơn, không được khởi sự trừng phạt tất cả các nhóm bất đồng vì có thể một ngày nào đó họ sẽ cố chiếm lấy vũ khí hạt nhân hay “bẻ khóa” những chiếc xe tự hành và biến chúng thành một đội quân robot giết người.
Tương tự, mặc dù các chính phủ đương nhiên phải giám, sát các nhóm cấp tiến và hành động ngăn ngừa họ kiểm soát được các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, họ cũng cần cân bằng nỗi sợ chủ nghĩa khủng bố hạt nhân với các kịch bản đầy đe dọa khác. Trong hai thập kỷ trở lại đây, nước Mỹ đã phung phí hàng nghìn tỷ đô la và rất nhiều “nguồn vốn” chính trị cho cuộc chiến chống khủng bố George W. Bush, Tony Blair, Barack Obama và chính quyền của họ có thể lý luận rằng bằng cách săn đuổi bọn khủng bố, họ buộc chúng phải nghĩ nhiều về sự sống còn hơn là có được bom hạt nhân. Do đó, họ có thể đã cứu được thế giới khỏi một vụ 11 tháng Chín hạt nhân. Đây là một tuyên bố phản-chứng – “nếu chúng ta không phát động cuộc chiến chống khủng bố, al-Qaeda hẳn đã kiếm được vũ khí hạt nhân” – nên ta khó lòng xác định nó là đúng hay sai.
Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn một điều rằng khi theo đuổi cuộc chiến chống khủng bố, người Mỹ và đồng minh của họ không chỉ đã gây ra vô số sự phá hủy trên khắp địa cầu mà còn tạo ra cái mà các nhà kinh tế học gọi là “chi phí cơ hội”. Tiền bạc, thời gian và vốn chính trị đầu tư vào chống khủng bố đã không được đầu tư cho việc chống lại sự nóng lên toàn cầu, AIDS và đói nghèo, cho việc mang lại hòa bình và thịnh vượng cho châu Phi vùng hạ-Sahara, cho việc tạo ra mối quan hệ tốt hơn với Nga và Trung Quốc. Nếu New York hay London chìm xuống đáy Đại Tây Dương hay các căng thẳng với Nga bùng nổ thành một cuộc chiến tranh-nhỏ, người ta hoàn toàn có thể buộc tội Bush, Blair và Obama vì đã tập trung sai mặt trận.
Việc đặt ưu tiên trong thời gian thực là rất khó khăn, trong khi việc đã rồi, nhìn lại mà đoán lại quá dễ dàng. Chúng ta trách các lãnh đạo đã thất bại trong việc ngăn ngừa các thảm họa đã xảy ra, trong khi hoàn toàn vô tư không biết đến những thảm họa không bao giờ thành hình. Ví dụ, người ta nhìn lại chính quyền Clinton vào những năm 1990 và đổ cho nó tội bỏ qua mối đe dọa al-Qaeda. Nhưng vào những năm 1990, rất ít người hình dung nổi những tay khủng bố Hồi giáo có thể châm ngòi một mâu thuẫn toàn cầu bằng cách lao máy bay chở khách vào những tòa nhà chọc trời ở New York. Trái lại, nhiều người sợ rằng Nga có thể sụp đổ hoàn toàn và mất kiểm soát không chỉ với lãnh thổ mênh mông mà với cả hàng ngàn quả bom hạt nhân và bom sinh học của nó nữa. Một mối lo nữa là những cuộc chiến tranh đẫm máu ở Nam Tư cũ có thể lan sang các phần khác của Đông Âu, biến thành các mâu thuẫn giữa Hungary và Romania, giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Bulgaria hay giữa Ba Lan và Ukraine.
Nhiều người thậm chí còn hồi hộp hơn về sự tái hợp của nước Đức. Chỉ bốn thập kỷ rưỡi sau sự sụp đổ của Đế chế thứ Ba, nhiều người vẫn ấp ủ nỗi sợ tâm can về quyền lực Đức. Thoát khỏi “ảnh hưởng” của Liên Xô, liệu nước Đức có trở thành một siêu cường thống trị lục địa châu Âu? Còn Trung Quốc thì sao? Bị sự tan rã của khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu đánh động, Trung Quốc có thể từ bỏ các cải cách, trở về với những chính sách nặng tay trước đây và có thể một phiên bản giống Bắc Hàn xuất hiện.
Ngày nay, chúng ta có thể chế nhạo những kịch bản đáng sợ đó vì ta biết chúng đã không thành hiện thực. Tình thế ở Nga đã ổn định, phần lớn Đông Âu đã gia nhập EU trong hòa bình, nước Đức thống nhất ngày nay được “tung hô” là lãnh đạo của thế giới tự do và Trung Quốc đã trở thành đầu tàu kinh tế toàn cầu. Tất cả những điều này đạt được, ít nhất là một phần, nhờ các chính sách mang tính xây dựng của Mỹ và EU. Liệu có phải là khôn ngoan hơn nếu Hoa Kỳ và EU vào những năm 1990 tập trung vào các thành phần cực đoan Hồi giáo hơn là tình hình ở khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu hay ở Trung Quốc?
Chúng ta không thể chuẩn bị cho mọi tình huống. Do đó, tong khi ta chắc chắn phải phòng chống khủng bố hạt nhân, điều này không thể là mục số một trên lịch trình của loài người. Và đương nhiên, chúng ta không nên sử dụng mối đe dọa khủng bố hạt nhân trên lý thuyết như một cách biện hộ cho việc phản ứng thái quá trước chủ nghĩa khủng bố thông thường. Đấy là các vấn đề khác nhau đòi hỏi các giải pháp khác nhau.
Nếu mặc cho các nỗ lực của chúng ta, các nhóm khủng bố cuối cùng vẫn chạm được tay vào vũ khí hủy diệt hàng loạt thì ta khó lòng biết được các cuộc đấu tranh chính trị sẽ được tiến hành như thế nào, nhưng chúng sẽ rất khác với các chiến dịch khủng bố và chống khủng bố đầu thế kỷ 21. Nếu vào năm 2050, thế giới đầy rẫy bọn khủng bố hạt nhân và khủng bố sinh học, các nạn nhân của chúng sẽ nhìn lại thế giới năm 2018 với sự thèm khát nhuốm màu hoài nghi: làm sao những người từng sống an toàn như vậy lại có thể cảm thấy bị đe dọa đến thế?
Dĩ nhiên, cảm giác hiện tại của chúng ta về sự nguy hiểm không chỉ bắt nguồn từ chủ nghĩa khủng bố. Nhiều nhà phân tích và người dân sợ rằng Thế chiến thứ ba đã kề cận và thế giới năm 2018 là sự gợi nhớ kỳ quái về thế giới năm 1914. Nay cũng như xưa, các căng thẳng gia tăng giữa các siêu cường cộng với các vấn đề toàn cầu khó đối phó có vẻ như đang lôi chúng ta đến một cuộc chiến toàn cầu. Liệu mối lo này có dễ biện minh hơn nỗi sợ khủng bố bị thổi phồng của chúng ta?
Bài học 11 - Chiến tranh
ĐỪNG BAO GIỜ ĐÁNH GIÁ THẤP SỰ NGU XUẨN CỦA LOÀI NGƯỜI
Các thập kỷ gần đây là kỷ nguyên hòa bình nhất trong lịch sử loài người. Ở các xã hội nông nghiệp thời kỳ đầu, tới 15% số người chết là do bạo lực; trong thế kỷ 20, con số này là 5% thì ngày nay, bạo lực chỉ chịu trách nhiệm cho 1%. Thế nhưng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tình hình thế giới đang ngày càng xấu đi: việc gây chiến đã trở lại thành xu thế và chi tiêu cho quốc phòng đang phình to. Cả người bình thường và các chuyên gia đều e ngại rằng cũng như cuộc ám sát thái tử Áo-Hung vào năm 1914 đã khơi mào Thế chiến thứ nhất, một sự việc ở sa mạc Syria hay một động thái thiếu khôn ngoan ở bán đảo Triều Tiên năm 2018 có thể châm ngòi cho một mâu thuẫn toàn cầu.
Với những căng thẳng đang gia tăng trên thế giới và cá tính của các lãnh đạo tại Washington, Bình Nhưỡng và một số nơi khác, chắc chắn chúng ta có lý do để lo lắng. Thế nhưng có một số điểm khác biệt then chốt giữa năm 2018 và năm 1914. Cụ thể, vào năm 1914, chiến tranh có sức lôi cuốn lớn với giới tinh hoa khắp địa cầu vì họ có rất nhiều ví dụ rõ ràng về việc các cuộc chiến thành công bồi đắp cho thịnh vượng kinh tế và quyền lực chính trị như thế nào. Trái lại, vào năm 2018, các cuộc chiến thành công có vẻ như đã trở thành một loài sinh vật sắp tuyệt chủng.
Từ thời của người Assyria và nhà Tần, các đế chế vĩ đại thường được xây dựng qua các cuộc chinh phạt. Cả vào năm 1914 nữa, tất cả các cường quốc lớn đều có được vị thế của mình nhờ chiến tranh. Chẳng hạn, đế quốc Nhật Bản trở thành một cường quốc trong khu vực nhờ các chiến thắng trước Trung Quốc và Nga; Đức trở thành thống trị châu Âu sau các chiến thắng trước Áo-Hung và Pháp. Anh tạo dựng được đế chế lớn nhất và phồn thịnh nhất thế giới thông qua một loạt các cuộc chiến nhỏ rực rỡ khắp toàn cầu; vào năm 1882, khi xâm lược và chiếm được Ai Cập, nước Anh chỉ mất có 57 lính trong trận Tel el-Kebir quyết định. Trong khi ngày nay, việc chiếm đóng một nước Hồi giáo là ác mộng của phương Tây thì sau trận Tel el-Kebir, người Anh chỉ đối mặt với rất ít phản kháng có vũ trang, và trong hơn sáu thập kỷ, họ kiểm soát thung lũng sông Nile và kênh đào Suez trọng yếu. Các cường quốc châu Âu khác bắt chước người Anh, và bất cứ khi nào các chính phủ ở Paris, Rome hay Brussels cân nhắc việc đặt chân xuống mảnh đất Việt Nam, Libya hay Congo, nỗi sợ duy nhất của họ là ai đó có thể đến đó trước.
Ngay cả Hoa Kỳ cũng có được vị thế siêu cường của mình nhờ các hành động quân sự hơn là chỉ riêng kinh tế. Vào năm 1846, nó xâm lược Mexico và chinh phục California, Nevada, Utah, Arizona, New Mexico và các phần của Colorado, Kansas, Wyoming và Oklahoma. Hiệp ước hòa bình cũng xác nhận sáp nhập Texas vào Hoa Kỳ. Khoảng 13.000 lính Mỹ chết trong chiến tranh đã thêm vào 2,3 triệu kilomet vuông đất đai (hơn cả diện tích của Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha và Ý cộng lại) cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Quả là một cuộc đổi chác thiên niên kỷ.
Vào năm 1914, giới tinh hoa ở Washington, London và Berlin biết chính xác một cuộc chiến thành công thì sẽ như thế nào và có thể kiếm được những gì từ đó. Trái lại, vào năm 2018, giới tinh hoa toàn cầu có lý do chính đáng để tin rằng kiểu chiến tranh như thế đã “tuyệt chủng”. Mặc dù một số kẻ độc tài ở thế giới thứ ba và các thành phần phi-nhà nước vẫn tìm cách trở nên thịnh vượng nhờ chiến tranh, có vẻ như các cường quốc lớn không còn biết cách làm vậy nữa.
“Chiến thắng” vĩ đại nhất trong ký ức gần đây, Hoa Kỳ trước Liên bang Xô-viết, đã đạt được mà không có bất kỳ đụng độ quân sự lớn nào. Hoa Kỳ sau đó nếm chút mùi vị thoảng qua của chiến thắng quân sự kiểu cũ trong chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, nhưng điều này chỉ dụ dỗ nó tiêu tốn hàng ngàn tỷ đô vào các thảm họa quân sự nhục nhã ở Iraq và Afghanistan. Trung Quốc, cường quốc đang lên đầu thế kỷ 21, đã thận trọng né mọi xung đột vũ trang từ sau thất bại trong cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979 và sự đi lên của nó hoàn toàn nhờ vào các yếu tố kinh tế. Trong khía cạnh này, nó không bắt chước các đế quốc Nhật, Đức và Ý của thời tiền 1941 mà noi theo những phát triển kinh tế thần kỳ của Nhật, Đức và Ý thời hậu 1945. Trong tất cả các trường hợp này, thịnh vượng kinh tế và vị thế địa chính trị đã đạt được mà không phải nổ một phát súng.
Ngay cả ở Trung Đông, võ đài đánh đấm của thế giới, các quyền lực xưng bá trong khu vực cũng không biết làm thế nào để tiến hành những cuộc chiến thành công. Iraq chẳng đạt được gì từ cuộc tắm máu kéo dài trong chiến tranh Iran-Iraq, từ đó đã tránh né mọi xung đột quân sự trực tiếp. Người Iran tài trợ và trang bị vũ khí cho các phong trào địa phương từ Iraq đến Yemen, từng cử các vệ binh cách mạng của mình đi giúp các đồng minh ở Syria và Lebanon, nhưng đến nay vẫn thận trọng không xâm lược nước nào. Iran gần đây đã trở thành bá chủ cả vùng không phải nhờ hào quang chiến tranh oanh liệt nào nơi chiến trường mà vì không có đối thủ. Hai kẻ thù chính của nó, Hoa Kỳ và Iraq, đã bị lôi kéo vào một cuộc chiến hủy diệt cả Iraq lẫn hứng thú của Hoa Kỳ đối với các bãi lầy ở Trung Đông, từ đó để lại Iran một mình tận hưởng chiến lợi phẩm.
Trường hợp của Israel cũng tương tự. Cuộc chiến thành công cuối cùng do Israel tiến hành diễn ra năm 1967. Từ đó đến nay, Israel thịnh vượng dù có nhiều chiến tranh, chứ không phải nhờ chiến tranh. Hầu hết các lãnh thổ chiếm được của Israel khiến đất nước này ì ạch bởi các gánh nặng kinh tế và các nghĩa vụ chính trị oằn vai. Cũng như Iran, Israel gần đây đã cải thiện vị thế địa chính trị của mình không phải nhờ thực hiện các cuộc chiến thành công mà nhờ né tránh các phi vụ quân sự. Trong khi chiến tranh tàn phá các kẻ thù trước đấy của Israel ở Iraq, Syria và Libya, Israel vẫn tính táo. Có thể nói không bị hút vào cuộc nội chiến Syria chính là thành tựu chính trị vĩ đại nhất của Thủ tướng Benjamin Netanyahu (cho đến tháng Ba năm 2018). Nếu muốn, lực lượng tự vệ Israel (gọi tắt là IDF) có thể chiếm Damascus chỉ trong một tuần, nhưng Israel sẽ được lợi lộc gì từ chuyện đó? Với IDF, chinh phục dải Gaza và lật đổ chính quyền Hamas thậm chí còn dễ hơn, nhưng Israel đã liên tục tránh làm việc đó. Với tất cả khả nâng quân sự của mình và lối nói năng hiếu chiến của các chính trị gia, Israel biết chiến tranh chẳng mang lại gì nhiều. Cũng như Mỹ, Trung Quốc, Đức, Nhật Bản và Iran, Israel có vẻ đã hiểu rằng trong thế kỷ 21, chiến thuật thành công nhất là “tọa sơn quan hổ đấu”.
BỐI CẢNH NHÌN TỪ KREMLIN
Cho đến nay, cuộc chiến thành công duy nhất do một cường quốc chính trong thế kỷ 21 thực hiện là việc Nga chiếm Crimea. Vào tháng Hai nầm 2014, quân đội Nga chiếm bán đảo Crimea tấn công nước láng giềng Ukraine, sau đó sáp nhập vào Nga. Chẳng phải đánh đấm gì mấy, Nga đã giành được một lãnh thổ quan trọng về mặt chiến lược, gieo nỗi e ngại vào các láng giềng của mình và tái thiết lập vị thế như một cường quốc thế giới. Tuy nhiên, cuộc cưỡng chiếm thành công là nhờ một loạt tình huống lạ thường. Cả quân đội Ukraine lẫn dân cư địa phương đều không kháng cự mấy quân Nga, trong khi các cường quốc khác cố tránh can thiệp trực tiếp vào cuộc khủnghoảng. Các tình huống này khó có thể tái hiện ở nơi nào khác trên thế giới. Nếu điều kiện cần của một cuộc chiến thành công là sự vắng hóng các kẻ thù sẵn sàng chống cự bên gây chiến thì nó hạn chế đáng kể các cơ hội sẵn có.
Quả thực, khi Nga tìm cách tái hiện thành công crimea ở phần khác của Ukraine, nó đã vấp phải những kháng cự cứng rắn hơn đáng kể và cuộc chiến ở miền Đông Ukraine sa vào một trạng thái bế tắc không có lợi lộc gì. Tệ hơn (từ góc nhìn của Moscow), xung đột đã nhen nhóm lên các cảm giác “bài Nga” trong Ukraine, và biến đất nước này từ một đồng minh thành kẻ thù không đội trời chung. Cũng như thành công trong chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất đã kéo Mỹ với dài tay sang Iraq, thành công ở Crimea có thể đã nhử Nga cố gắng vượt sức ở Ukraine.
Tóm lại, các cuộc chiến của Nga ở Kavkaz và Ukraine vào đầu thế kỷ 21 khó có thể được mô tả là rất thành công. Dù đã nâng cao uy thế của Nga như một cường quốc, chúng cũng dã gia tăng sự thiếu tin tưởng và đối địch với nước Nga; nói theo thuật ngữ kinh tế thì chúng là những doanh nghiệp thất bát. Các khu nghỉ dưỡng ở Crimea và các nhà máy xuống cấp từ thời Liên Xô ở Luhansk và Donetsk khó có thể cân được cái giá của việc trang trải cho chiến tranh; chúng chắc chắn không thể bù lại chì phí thoái vốn và trừng phạt quốc tế. Để nhận thức dược hạn chế của chính sách Nga, ta chỉ cần so sánh tiến bộ kinh tế vượt bậc của Trung Hoa hòa bình trong hai mươi năm trở lại đây với sự ì trệ về kinh tế của nước Nga trong cùng thời điểm.
Mặc dù mạnh miệng phát biểu từ Moscow, bản thân giới tinh hoa Nga có lẽ cũng ý thức rõ các chi phí và lợi ích thật sự của các chuyến phiêu lưu quân sự của mình; đấy là lý do vì sao họ đã rất cẩn trọng không leo thang chiến tranh. Nga trước giờ vẫn đi theo nguyên tắc “ép” ở sân chơi: chọn kẻ yếu nhất và đừng có để nó bầm giập quá, kẻo cô giáo can thiệp. Nếu Putin tiến hành các cuộc chiến theo tinh thần của Stalin, Peter Đại đế hay Thành Cát Tư Hãn thì xe tăng Nga từ lâu đã lao về Tbilisi hay Kiev rồi, nếu không phải là Warsaw và Berlin. Nhưng Putin không phải Thành Cát Tư Hãn, cũng chẩng phải Stalin. Ông có vẻ biết rõ hơn ai hết rằng quyền lực quân sự không thể đi xa trong thế kỷ 21 và tiến hành một cuộc chiến thành công có nghĩa là tiến hành một cuộc chiến có giới hạn. Ngay cả ở Syria, mặc cho các cuộc không kích dữ dội của Nga, Putin vẫn cẩn trọng hạn chế tối thiểu dấu vết của Nga, để những lực lượng khác thực hiện toàn bộ những màn đánh đấm quan trọng và ngăn chiến tranh không lan sang các nước láng giềng.
Quả thật, từ góc nhìn của Nga, tất cả các nước đi có vẻ bạo liệt của nó trong những năm gần đây không phải là những nước đi mở đầu cho một cuộc chiến toàn cầu mới mà là một nỗ lực để chống đỡ những phòng tuyến bị “hở sườn”. Người Nga có lý khi chỉ ra rằng, sau các cuộc tháo lui trong hòa bình của họ vào cuối thập niên 1980 và đầu 1990, họ đã bị đối xử như một kẻ thua trận. Hoa Kỳ và NATO lợi dụng sự suy yếu của Nga, và dù hứa hẹn ngược lại, đã mở rộng NATO đến Đông Âu và thậm chí đến một số nước cộng hòa cũ thuộc Liên bang Xô-viết. Phương Tây tiếp tục phớt lờ các lợi ích của Nga ở Trung Đông, xâm lược Serbia và Iraq dưới những cái cớ mù mờ, nói chung đã thể hiện rõ với Nga là nó chỉ có thể trông chờ vào sức mạnh quân sự của riêng mình để bảo vệ tầm ảnh hưởng của nó khỏi những đòn tấn công từ phương Tây. Từ góc nhìn này, các nước đi quân sự gần đây của Nga có thể đổ tại Bill Clinton và George W. Bush cũng nhiều ngang với Vladimir Putin vậy.
Dĩ nhiên, các hành động quân sự của Nga ở Georgia, Ukraine và Syria có thể trở thành loạt đạn mở màn cho một động cơ táo bạo hơn nhiều. Ngay cả khi đến giờ Putin chưa suy xét các kế hoạch nghiêm túc để chinh phục địa cầu, thành công vẫn có thể thổi bùng tham vọng của ông. Tuy nhiên, cũng nên nhớ rằng nước Nga của Putin yếu hơn nhiều so với Liên bang Xô-viết; trừ phi Nga được các nước khác cùng tham gia như Trung Quốc, nó không thể chống lưng cho một cuộc Chiến tranh Lạnh mới, nói gì đến một cuộc thế chiến toàn diện. Nga có dân số 150 triệu người và GDP 4 nghìn tỷ đô la. về cả dân số và sản xuất, nó bị cả Hoa Kỳ (325 triệu người và 19 nghìn tỷ đô la) và Liên minh châu Âu (500 triệu người và 21 nghìn tỷ đô la) lấn át. Cộng lại, Hoa Kỳ và EU có số dân gấp năm và số đô la gấp mười lần Nga.
Các tiến bộ công nghệ gần đây đã khiến khoảng cách này thậm chí còn lớn hơn. Liên Xô đạt đỉnh vào giữa thế kỷ 20, khi công nghiệp nặng là đầu tàu của nền kinh tế toàn cầu và hệ thống tập trung hóa của Xô-viết vượt trội trong sản xuất hàng loạt máy cày, xe tải, xe tăng và tên lửa xuyên lục địa. Ngày nay, công nghệ thông tin và công nghệ sinh học quan trọng hơn công nghiệp nặng, nhưng nước Nga chưa vượt trội trong cả hai mặt. Mặc dù có năng lực chiến tranh mạng ấn tượng, nó vẫn thiếu một khu vực IT dân sự và nền kinh tế của nó phụ thuộc quá nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt. Điều này có thể đủ để làm giàu cho một vài nhà tài phiệt và giữ Putin ở vị thế quyền lực, nhưng không đủ để chiến thắng một cuộc chạy đua vũ trang số hay công nghệ sinh học.
Quan trọng hơn, nước Nga của Putin thiếu một ý thức hệ toàn cầu. Trong Chiến tranh Lạnh, Liên Xô từng dựa vào sức hút toàn cầu của chủ nghĩa xã hội cũng nhiều như sức vươn toàn cầu của hồng quân. Tư tưởng của Putin, trái lại, không có gì nhiều để mang đến cho người Cuba, những trí thức người Việt hay Pháp. Chủ nghĩa quốc gia toàn trị quả thực có thể đang rộng; nhưng bởi chính bản chất của mình, nó không có tác dụng hình thành các khối quốc tế gắn kết. Trong khi chủ nghĩa toàn trị ở Ba Lan và ở Nga đều cam kết, ít nhất là trên lý thuyết, vì lợi ích toàn cầu của công nhân quốc tế, thì chủ nghĩa dân tộc Nga và chủ nghĩa dân tộc Ba Lan, về định nghĩa, đã cam kết vì các lợi ích đối kháng nhau. Khi sự trỗi dậy của Putin nhen nhóm sự trào dâng của chủ nghĩa dân tộc Ba Lan, điều này chỉ khiến Ba Lan quay lưng với lại Nga hơn bao giờ hết.
Mặc dù đã bắt đầu một chiến dịch thông tin và “lật đổ” toàn cầu với mục tiêu nhằm vào NATO và EU, có vẻ như khó có khả năng Nga chuẩn bị mở màn một chiến dịch chinh phục thế giới thực. Ta có thể hy vọng, với một vài lý do chính đáng, rằng việc chiếm Crimea và các cuộc tấn công vào Georgia và Đông Ukraine sẽ vẫn là các ví dụ rời rạc, hơn là những báo hiệu của một kỷ nguyên chiến tranh mới.
CÁC CUỘC CHIẾN THẮNG LỢI, MÔN NGHỆ THUẬT ĐÃ MẤT
Tại sao các cường quốc lớn lại khó thực hiện các cuộc chiến thành công trong thế kỷ 21? Một lý do là sự thay đổi trong bản chất của nền kinh tế. Trong quá khứ, các tài sản kinh tế chủ yếu mang tính vật chất, vậy nên việc tự làm giàu bằng cách đi chinh phục khá là rõ ràng. Nếu anh đánh bại kẻ thù trên chiến trường, anh có thể lấy lại vốn bằng cách cướp bóc các thành phố của chúng, bán thường dân của chúng trong các chợ nô lệ và chiếm các ruộng lúa mì, các mỏ vàng quý giá. Người La Mã giàu lên nhờ bán những người Hy Lạp và Gaul bị bắt; người Mỹ thế kỷ 19 phát đạt nhờ chiếm các mỏ vàng ở California và các trại gia súc ở Texas.
Thế nhưng vào thế kỷ 21, chỉ những thứ lợi lộc bèo bọt mới được kiếm bằng cách đó. Ngày nay, các tài sản kinh tế chủ yếu bao gồm kiến thức kỹ thuật và tổ chức hơn là các cánh đồng lúa mì, các mỏ vàng hay thậm chí các giếng dầu; và anh đơn giản là không thể chinh phục kiến thức bằng chiến tranh. Một tổ chức như Nhà nước Hồi giáo có thể vẫn phát triển nhờ cướp bóc các thành phố và các giếng dầu ở Trung Đông: chúng cướp được hơn 500 triệu đô la từ các nhà băng ở Iraq, và vào năm 2015 kiếm thêm 500 triệu nữa nhờ bán dầu; nhưng với một cường quốc như Trung Quốc hay Hoa Kỳ, đấy chỉ là những con số “quá muỗi”. Với GDP hằng năm hơn 20 nghìn tỷ đô la, Trung Quốc hẳn không muốn bắt đầu một cuộc chiến chỉ vì một tỷ đô bọ. Còn chuyện chi hàng nghìn tỷ cho một cuộc chiến chống lại Mỹ, làm sao Trung Quốc trả nổi các chi phí đó và cân bằng được những thiệt hại do chiến tranh và các cơ hội giao thương mất đi gây ra? Liệu giải phóng quân thắng lợi có cướp được của cải của Thung lũng Silicon? Đúng, các tập đoàn như Apple, Facebook và Google có giá hàng trám tỷ đô la, nhưng anh không thể chiếm gia tài của họ bằng vũ trang. Chẳng có mỏ silicon nào ở Thung lũng Silicon cả.
Một cuộc chiến thành công về lý thuyết vẫn có thể mang lại lợi nhuận khổng lồ bằng cách cho phép người chiến thắng tái sắp xếp hệ thống thương mại thế giới theo hướng có lợi cho mình, như Anh đã làm sau chiến thắng trước Napoleon và như Mỹ đã làm sau chiến thắng trước Hitler. Tuy nhiên, các thay đổi trong công nghệ quân sự khiến việc lặp lại chiến thắng này trở nên khó khăn trong thế kỷ 21. Bom nguyên tử đã biến thắng lợi trong một cuộc thế chiến thành tự sát tập thể. Chẳng phải trùng hợp mà từ sau vụ Hiroshima, các siêu cường không bao giờ đánh nhau trực diện mà chỉ tham gia vào những thứ (với họ) là các xung đột nguy cơ thấp, trong đó sức cám dỗ phải sử dụng vũ khí hạt nhân để tránh thất bại là nhỏ. Quả thật, ngay cả việc tấn công một sức mạnh hạt nhân loại hai như Bắc Hàn đã là một đề xuất cực kỳ kém hấp dẫn rồi. Thật đáng sợ khi nghĩ đến điều mà họ có thể sẽ làm nếu đối diện với thất bại quân sự.
Chiến tranh mạng khiến mọi thứ còn tệ hơn đối với các đế quốc tiềm năng. Vào thời Nữ hoàng Victoria và súng Maxim, quân đội Anh có thể tàn sát những thổ dân trong một sa mạc xa xôi nào đó mà không đe dọa gì đến hòa bình của Manchester và Birmingham. Ngay trong những ngày của George W. Bush, nước Mỹ có thể tàn phá Baghdad và Fallujah trong khi người Iraq không có cách nào để trả đũa San Francisco hay Chicago. Nhưng nếu ngày nay, Mỹ tấn công một nước sở hữu dù chỉ năng lực chiến tranh mạng trung bình, cuộc chiến có thể bị đưa đến California hay Illinois chỉ trong vài phút. Các mã độc và bom logic có thể dừng không lưu ở Dallas, khiến tàu hỏa đâm vào nhau ở Philadelphia và đánh sập mạng lưới điện ở Michigan.
Vào thời kỳ vĩ đại của các nhà chinh phục, chiến tranh là một phi vụ ít thiệt hại, nhiều lợi lộc. Trong trận Hastings năm 1066, William Kẻ Chinh Phục chiếm được cả nước Anh chỉ trong một ngày với cái giá là vài ngàn người chết. Vũ khí hạt nhân và chiến tranh mạng, trái lại, là các công nghệ thiệt hại cao, lợi nhuận thấp. Bạn có thể sử dụng các công cụ như vậy để phá hủy hoàn toàn nhiều đất nước chứ không phải để xây nên các đế chế phồn thịnh.
Trong một thế giới đang dần vang lên những tiếng gươm khua và đầy năng lượng xấu, có lẽ sự đảm bảo hòa bình tốt nhất của chúng ta là các cường quốc chính yếu không nhìn thấy những ví dụ gần đây về các cuộc chiến thành công. Trong khi Thành Cát Tư Hãn hay Julius Caesar xâm lược một nước khác gần như ngay lập tức thì các lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa thời hiện đại như Erdogan, Modi và Netanyahu mạnh mồm nhưng lại rất thận trọng trong việc thực sự mở màn chiến tranh. Dĩ nhiên, nếu ai đó thật sự tìm được một công thức tiến hành các cuộc chiến thành công trong các điều kiện của thế kỷ 21, những cánh cửa địa ngục có thể mở đánh rầm. Đây là điều khiến thành công của Nga ở Crimea trở thành một điềm báo đáng quan tâm. Hãy hy vọng nó tiếp tục là một ngoại lệ.
CUỘC DIỄU HÀNH NGU XUẨN
Lạy trời, ngay cả nếu chiến tranh vẫn là một hoạt động không lợi lộc gì trong thế kỷ 21, điều đó vẫn không thể cho chúng ta một đảm bảo tuyệt đối về hòa bình. Chúng ta không bao giờ được đánh giá thấp sự xuẩn ngốc của loài người. Cả trên bình diện cá nhân và tập thể, con người có khuynh hướng tham gia vào các hoạt động tự hủy diệt.
Vào năm 1939, chiến tranh có lẽ là một động thái phản tác dụng đối với các quốc gia phe Trục12, thế nhưng điều đó cũng không cứu thế giới tránh khỏi xung đột. Một trong những điều đáng kinh ngạc về Thế chiến thứ hai là sau khi kết thúc, các nước thua cuộc lại thịnh vượng hơn bao giờ hết. Hai mươi năm sau sự hủy diệt hoàn toàn của quân đội và sự sụp đổ hoàn toàn của các đế chế của mình, người Đức, người Ý và người Nhật đã tận hưởng những mức độ thịnh vượng chưa từng có. Thế thì tại sao họ lại đi đánh nhau ngay từ đầu? Tại sao họ lại mang đến cái chết và sự hủy diệt không cần thiết cho vô số triệu người? Tất cả chỉ là một sự tính toán sai lầm ngu xuẩn. Vào những năm 1930, các tướng lĩnh, đô đốc, nhà kinh tế và nhà báo Nhật đồng ý với nhau rằng nếu không kiểm soát được Triều Tiên, Mãn Châu và vùng bờ biển Trung Hoa, Nhật Bản sẽ phải chịu cảnh ì trệ kinh tế. Tất cả bọn họ đã sai. Trên thực tế, phép mầu kinh tế nổi tiếng mang tên Nhật Bản chỉ bắt đầu sau khi Nhật thất bại trong mọi cuộc chinh phục lục địa của mình.
Sự xuẩn ngốc của con người là một trong những động lực quan trọng nhất trong lịch sử, thế nhưng chúng ta thường có xu hướng không tính đến nó. Các chính trị gia, tướng lĩnh và học giả đối xử với thế giới như một ván cờ vĩ đại, nơi mỗi nước đi đều theo các tính toán lý tính cẩn trọng. Điều này là đúng cho đến một điểm nào đó. Rất ít nhà lãnh đạo trong lịch sử bị điên theo nghĩa đen, di chuyển các quân tốt và quân mã một cách tùy tiện. Tướng Tojo, Saddam Hussein có các lý do hợp lý cho mọi nước cờ họ đi. Vấn đề là thế giới phức tạp hơn nhiều so với một bàn cờ, và lý tính của con người không đủ khả năng thực sự hiểu được nó. Do đó, ngay cả các lãnh đạo lý tính cũng thường xuyên làm những việc rất thiếu khôn ngoan.
Thế thì chúng ta nên sợ một cuộc thế chiến đến mức nào? Một mặt, chiến tranh chắc chắn là tránh được. Sự kết thúc hòa bình của Chiến tranh Lạnh chứng minh rằng khi con người đưa ra những quyết định đúng, ngay cả các xung đột siêu cường cũng có thể được giải quyết một cách hòa bình. Hơn nữa, cho rằng một cuộc thế chiến mới là không thể tránh khỏi là quá nguy hiểm. Nó sẽ là một lời tiên tri tự biến thành hiện thực. Một khi các quốc gia cho rằng chiến tranh là không tránh khỏi, họ sẽ tăng cường quân sự, khởi động các cuộc chạy đua vũ trang leo thang, từ chối thỏa hiệp trong bất cứ xung đột nào và nghi ngờ các hành động thiện chí chỉ là những cái bẫy. Điều đó đảm bảo sự bùng nổ chiến tranh.
Mặt khác, sẽ là ngây thơ nếu cho rằng chiến tranh là bất khả. Ngay cả nếu chiến tranh có là thảm họa cho tất cả mọi người, không vị thần và không luật lệ tự nhiên nào bảo vệ chúng ta khỏi sự xuẩn ngốc của loài người.
Liều thuốc khả dĩ cho sự xuẩn ngốc đó là khiêm tốn. Các căng thẳng dân tộc, tôn giáo và văn hóa trở nên tệ hại hơn vì cảm giác phô trương cho rằng dân tộc tôi, tôn giáo tôi và văn hóa tôi là quan trọng nhất trên thế giới, do đó các lợi ích của tôi phải đứng trước lợi ích của bất kỳ ai khác hay của cả nhân loại. Làm sao ta khiến các dân tộc, các tôn giáo và các nền văn hóa trở nên thực tế và khiêm tốn hơn một chút về vị trí thực của chúng trên thế giới?
Bài học 12 - Khiêm nhường
BẠN KHÔNG PHẢI LÀ TRUNG TÂM CỦA THẾ GIỚI
Hầu hết mọi người có xu hướng tin rằng họ là trung tâm của thế giới và văn hóa của họ là chốt chặn của lịch sử nhân loại. Nhiều người Hy Lạp tin rằng lịch sử bắt đầu với Homer, Sophocles và Plato, mọi ý tưởng và phát minh quan trọng đều được sinh ra ở Athens, Sparta, Alexandria hay Constantinople. Những nhà dân tộc chủ nghĩa Trung Hoa bác lại rằng lịch sử thật sự bắt đầu từ Tần Thủy Hoàng và các triều đại nhà Hạ, nhà Thương; bất cứ thứ gì người phương Tây, người Hồi hay người Ấn Độ đạt được chỉ là một bản sao mờ nhạt của các phát kiến bắt nguồn từ Trung Hoa.
Người Hindu theo chủ nghĩa bản địa bài ngoại gạt đi những lời huênh hoang này của người Trung Hoa và cho rằng ngay cả máy bay và bom hạt nhân cũng đã được các nhà hiền triết cổ xưa phát minh ra tại tiểu lục địa Ấn Độ rất lâu trước Khổng Tử hay Plato, chứ đừng nói đến Einstein và anh em nhà Wright. Ví dụ, bạn có biết Maharishi Bhardwaj đã phát minh ra tên lửa và máy bay, Vishwamitra không chỉ phát minh mà còn sử dụng tên lửa, Acharya Kanad là cha đẻ của lý thuyết hạt nhân và Mahabharata đã mô tả một cách chính xác vũ khí hạt nhân?
Những người Hồi sùng đạo xem toàn bộ lịch sử trước thời tiên tri Muhammad là gần như không thích đáng; họ coi toàn bộ lịch sử sau khi kinh Quran được mặc khải là xoay quanh cộng đồng Hồi giáo. Các ngoại lệ chính là những nhà dân tộc chủ nghĩa người Thổ, Iran và Ai Cập; họ cho rằng ngay cả trước thời Muhammad, quốc gia cụ thể của họ đã là suối nguồn của mọi điều tốt đẹp về loài người và ngay cả sau khi kinh Quran được mặc khải, chủ yếu vẫn là dân tộc họ đã gìn giữ sự trong sạch của đạo Hồi và lan tỏa hào quang của nó.
Không cần nói cũng biết người Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nga, Nhật và nhiều các nhóm khác cũng tin tưởng tương tự rằng nhân loại hẳn sẽ sống trong “mông muội”, “hoang dã” và “vô đạo” nếu không có những thành tựu rực rỡ của quốc gia họ. Một số người trong lịch sử còn đi xa đến mức tưởng tượng rằng các thể chế chính trị và thực hành tôn giáo của mình là tối quan trọng đối với các quy luật vật lý. Do đó, người Aztec tin tưởng chắc chắn rằng nếu không có những hiến tế mà mình thực hiện mỗi năm, mặt trời sẽ không mọc và toàn thể vũ trụ sẽ tan rã.
Những tuyên bố này là không chính xác. Chứng kết hợp một sự phớt lờ cố ý về lịch sử với hơi nhiều phân biệt chủng tộc. Không một tôn giáo hay dân tộc nào ngày nay từng tồn tại khi loài người bắt đầu định cư trên thế giới, thuần hóa cây cối và súc vật, xây những thành phố đầu tiên hay phát minh ra chữ viết và tiền tệ. Đạo đức, nghệ thuật, tinh thần và sáng tạo là các khả năng phổ quát của con người đã ăn sâu vào ADN của chúng ta. Khỏi nguyên của chúng nằm ở châu Phi thời Đồ Đá. Do đó, việc gán chúng với một thời điểm và nơi chốn cận đại chỉ là thói tự đại thô thiển, dù là Trung Hoa thời Tam Hoàng Ngũ Đế, Hy Lạp thời Plato hay Ả Rập thời Muhammad.
Về cá nhân mà nói, tôi đã quá quen với loại tự cao thô thiển như vậy vì người Do Thái dân tộc tôi cũng nghĩ mình quan trọng nhất thế giới. Hãy kể tên bất cứ thành tựu hay phát minh nào của nhân loại, họ sẽ nhanh chóng tranh công. Biết họ đến chân tơ kẽ tóc, tôi cũng biết họ thật sự tin tưởng vào những tuyên bố đó. Tôi từng học một giáo viên yoga ở Israel, người mà ngay trong buổi giới thiệu đầu tiên đã giải thích một cách hết sức nghiêm túc rằng yoga là do Abraham sáng tạo ra và tất cả các tư thế yoga cơ bản đều bắt nguồn từ hình dạng của những chữ cái trong bảng chữ cái Do Thái (Do đó, tư thế tam giác mở rộng trikonasana bắt chước dáng chữ aleph, tư thế thăng bằng hình chữ T tuladandasana bắt chước chữ daled . . .). Abraham đã dạy các tư thế này cho con trai của một trong các bà vợ của mình; người này đến Ấn Độ và dạy yoga cho người Ấn. Khi tôi hỏi chứng cứ, ông thầy dẫn ngay một đoạn thánh kinh: “Và tới các con trai của những người vợ của mình, Abraham ban quà và khi vẫn còn sống, ông cử họ rời xa con trai Isaac của ông, về phương Đông đến đất nước ở phía Đông” (Sách Sáng thế 25:6). Những món quà này có thể là gì khác đây? Đấy, bạn thấy chưa, ngay cả yoga cũng do người Do Thái sáng tạo ra!
Xem Abraham là ông tổ của yoga chỉ là một ví dụ nhỏ. Thế nhưng Do Thái giáo dòng chính nghiêm túc cho rằng toàn thể vũ trụ tồn tại chỉ để các thầy tu Do Thái có thể nghiên cứu các bản thánh kinh của mình; nếu người Do Thái ngừng tu tập, vũ trụ sẽ kết thúc. Trung Quốc, Ấn Độ, Úc và thậm chí các thiên hà xa xôi sẽ bị tiêu diệt hết thảy nếu các thầy tu ở Jerusalem và Brooklyn ngừng tranh luận về kinh Talmud. Đây là một bản kinh trung tâm của người Do Thái chính thống và bất cứ ai dám nghi ngờ nó bị xem là một thằng ngốc không biết gì. Những người Do Thái thế tục có thể có một chút nghi ngờ về tuyên bố to tát này, nhưng họ cũng tin người Do Thái là các anh hùng trung tâm của lịch sử và là cội nguồn tối thượng của đạo đức, tinh thần và học vấn loài người.
Những gì dân tộc tôi thiếu về số lượng và ảnh hưởng thật sự được họ bù đắp thừa mứa bằng tinh thần Do Thái. Vì phê phán dân tộc mình thì lịch sự hơn là phê phán người nước ngoài, tôi sẽ sử dụng ví dụ về Do Thái giáo để minh họa mức độ lố của các tuyên bố tự cao tự đại như vậy; và tôi sẽ dành việc đâm thủng quả bóng bay do chính dân tộc mình thổi phồng lên cho các độc giả.
MẸ CỦA FREUD
Cuốn sách Sapiens: Lược sử loài người của tôi được viết nguyên bản bằng tiếng Do Thái cho công chúng Israel. Sau khi ấn bản tiếng Do Thái được xuất bản năm 2011, câu hỏi phổ biến nhất mà tôi nhận được từ các độc giả Israel là tại sao tôi gần như không nói đến Do Thái giáo trong lịch sử loài người. Tại sao tôi viết nhiều về Cơ Đốc giáo, Hồi giáo và Phật giáo nhưng chỉ dành vài lời cho Do Thái giáo và dân tộc Do Thái? Có phải tôi đang cố tình phớt lờ đóng góp to lớn của họ đối với lịch sử loài người? Hay là tôi bị một động cơ chính trị thâm hiểm nào đó xúi giục?
Những câu hỏi như vậy đến với người Do Thái ở Israel một cách tự nhiên; họ được giáo dục từ mẫu giáo để nghĩ rằng Do Thái giáo là “siêu sao” của lịch sử loài người. Trẻ em Israel thường kết thúc mười hai năm học mà không nhận được bất cứ bức tranh rõ ràng nào về các tiến trình lịch sử toàn cầu. Chúng gần như không được dạy gì về Trung Quốc, Ấn Độ hay châu Phi; mặc dù chúng có học về Đế chế La Mã, Cách mạng Pháp và Thế chiến thứ hai, các mảnh ghép rời rạc này không gộp được thành một câu chuyện mang tính kết nối. Thay vào đó, thứ lịch sử mạch lạc duy nhất mà hệ thống giáo dục Israel đem lại bắt nguồn từ kinh Cựu Ước tiếng Do Thái, tiếp đến thời kỳ Thánh điện Đệ nhị, bỏ qua một số cộng đồng Do Thái khác nhau trong thời Lưu vong và kết thúc với sự trỗi dậy của Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái, cuộc diệt chủng Do Thái và sự thành lập nhà nước Israel. Hầu hết học sinh rời ghế nhà trường mà tin rằng đây phải là cốt truyện chính của toàn bộ lịch sử loài người. Ngay cả khi học sinh nghe nói đến Đế chế La Mã hay Cách mạng Pháp, cuộc bàn luận trong lớp học cũng tập trung vào cách Đế chế La Mã đối xử với người Do Thái hay về vị thế pháp lý và chính trị của người Do Thái trong Cộng hòa Pháp. Những người được nhồi nhét một chế độ lịch sử như vậy rất khó “tiêu hóa” được ý tưởng Do Thái giáo có tương đối ít ảnh hưởng lên thế giới nói chung.
Thế nhưng sự thật là Do Thái giáo chỉ đóng một vai trò khiêm tốn trong biên niên sử của giống loài chúng ta. Không như các tôn giáo toàn cầu khác như Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Phật giáo, Do Thái giáo luôn là một tín ngưỡng bộ lạc. Nó tập trung vào số phận của một quốc gia nhỏ và một vùng đất bé xíu, và có rất ít hứng thú với số phận của tất cả những người khác và các quốc gia khác. Chẳng hạn, nó chẳng mấy quan tâm đến các sự kiện ở Nhật Bản hay cư dân vùng tiểu lục địa Ấn Độ. Do đó, chẳng trách mà vai trò lịch sử của nó là hạn chế.
Chắc chắn đúng là Do Thái giáo là khỏi nguồn của Cơ Đốc giáo và tạo ảnh hưởng đến sự ra đời của Hồi giáo, hai trong số các tôn giáo quan trọng nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, công trạng của các thành tựu toàn cầu của Cơ Đốc giáo và Hồi giáo, cũng như nỗi hổ thẹn đối với rất nhiều lỗi lầm của chúng, thuộc về bản thân người Cơ Đốc và người Hồi hơn là người Do Thái. Cũng như sẽ là bất công khi đổ lỗi cho Do Thái giáo về những cuộc tàn sát trong những cuộc Thập tự chinh (Cơ Đốc giáo chịu trách nhiệm 100%), đồng thời không có lý do gì ghi nhận công lao của Do Thái giáo với ý tưởng Cơ Đốc quan trọng rằng tất cả mọi người đều bình đẳng trước Chúa (một ý tưởng đối lập trực tiếp với Do Thái giáo chính thống, đến nay vẫn cho rằng, về bản chất thì người Do Thái vốn ưu việt hơn tất cả các giống người khác).
Vai trò của Do Thái giáo trong lịch sử nhân loại hơi giống như vai trò của mẹ Freud trong lịch sử phương Tây hiện đại. Dù tốt dù xấu, Sigmund Freud cũng có ảnh hưởng to lớn đến khoa học, văn hóa, nghệ thuật và trí tuệ dân gian của phương Tây hiện đại. Cũng đúng là nếu không có mẹ Freud, chúng ta sẽ chẳng có Freud; và cá tính, tham, vọng cũng như ý tưởng của Freud chắc hẳn đã được định hình đáng kể nhờ mối quan hệ với mẹ ông, ông hẳn sẽ là người đầu tiên thừa nhận điều ấy. Nhưng khi viết sử phương Tây hiện đại, không ai nghĩ là sẽ tìm thấy nguyên một chương nói về mẹ của Freud cả. Tương tự, không có Do Thái giáo, ta sẽ không có Cơ Đốc giáo; nhưng điều đó không có nghĩa là ta cần gán cho Do Thái giáo một tầm quan trọng quá lớn khi viết lịch sử thế giới. Vấn đề cốt yếu là Cơ Đốc giáo đã làm gì với di sản của người mẹ Do Thái của nó.
Không cần nói cũng biết người Do Thái là một dân tộc độc đáo với một lịch sử đáng kinh ngạc (dù điều này cũng đúng với hầu hết các dân tộc). Tương tự, không cần nói cũng biết truyền thống Do Thái đầy những suy tưởng thâm sâu và các giá trị cao quý (dù cũng có đầy các ý tưởng đáng đặt câu hỏi và các thái độ phân biệt chủng tộc, ghét phụ nữ, kỳ thị người đồng tính). Ngoài ra cũng đúng là so với số lượng của mình, người Do Thái có một ảnh hưởng cực lớn với lịch sử 2.000 năm gần đây. Nhưng khi nhìn vào bức tranh lớn của lịch sử chúng ta với tư cách một giống loài từ sự xuất hiện của Homo sapiens hơn 100.000 năm trước, rõ ràng, đóng góp của người Do Thái với lịch sử là rất hạn chế. Con người đã định cư trên cả hành tinh, thực hành nông nghiệp, xây những thành phố đầu tiên và phát minh ra chữ viết cùng tiền tệ hàng ngàn năm trước sự xuất hiện của Do Thái giáo.
Ngay cả trong hai thiên niên kỷ vừa qua, nếu bạn nhìn lịch sử từ góc độ của một người Trung Quốc hay của người Anh-điêng châu Mỹ, thật khó mà thấy được bất cứ đóng góp lớn nào của người Do Thái, trừ phi nhìn qua lăng kính của người Cơ Đốc hay người Hồi. Do đó, kinh Cựu Ước Do Thái cuối cùng đã trở thành một hòn đá tảng của văn hóa con người toàn cầu vì nó đã được Cơ Đốc giáo nồng nhiệt đón chào và hợp nhất vào Kinh Thánh của họ. Trái lại, kinh Talmud, bản kinh có tầm quan trọng đối với văn hóa Do Thái lớn hơn nhiều so với kinh Cựu Ước, lại bị Cơ Đốc giáo khước từ, do đó tiếp tục là một văn bản bí truyền chẳng được người Ả Rập, người Ba Lan hay người Hà Lan, chưa kể người Nhật và người Maya, biết đến là mấy (Đây quả là một điều đáng tiếc vì kinh Talmud là một cuốn sách thấu suốt và giàu lòng trắc ẩn hơn kinh Cựu Ước rất nhiều).
Bạn có thể kể tên một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại lấy cảm hứng từ kinh Cựu Ước không? ồ, dễ quá: tượng David của Michelangelo, vở opera Nabucco của Verdi, bộ phim Mười điều răn của Cecil B. DeMille. Bạn có biết tác phẩm nổi tiếng nào lấy cảm hứng từ kinh Tân Ước không? Dễ như ăn kẹo: bức tranh Bữa tối cuối cùng của Leonardo, Khổ hình của Thánh Matthew của Bach, bộ phim Cuộc đời của Brian của Monty Python. Giờ thì đến bài kiểm tra thực sự: bạn có thể liệt kê một vài kiệt tác được kinh Talmud gọi cảm hứng không?
Dù các cộng đồng Do Thái nghiên cứu kinh Talmud nằm rải rác ở nhiều vùng rộng lớn trên thế giới, họ không đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng các đế chế Trung Hoa, trong những chuyến thám hiểm của châu Âu, trong việc thiết lập hệ thống dân chủ hay trong Cách mạng Công nghiệp. Tiền xu, trường đại học, nghị viện, ngân hàng, la bàn, máy in và động cơ hơi nước đều được phát minh bởi những người ngoại đạo.
ĐẠO ĐỨC TRƯỚC KHI CÓ KINH THÁNH
Người Israel thường dùng thuật ngữ “ba tôn giáo vĩ đại” với suy nghĩ các tôn giáo này là Cơ Đốc giáo (2,3 tỷ tín đồ), Hồi giáo (1,8 tỷ) và Do Thái giáo (15 triệu). Trong khi Hindu giáo (1 tỷ tín đồ), Phật giáo (500 triệu tín đồ), chưa kể Shinto (50 triệu) và Sikh giáo (25 triệu), không có cửa trong thuật ngữ đó. Quan niệm méo mó về “ba tôn giáo vĩ đại” này thường ám chỉ trong tâm trí người Israel rằng tất cả các truyền thống tôn giáo và đạo đức chính đều khởi nguồn từ bào thai của Do Thái giáo, tức tôn giáo đầu tiên rao giảng các quy tắc đạo đức phổ quát. Như thể loài người trước thời của Abraham và Moses đã sống trong một trạng thái tự nhiên mông muội không có chuẩn mực đạo đức nào và tất cả đạo đức ngày nay đều bắt nguồn từ Mười Điều Răn. Đây là một ý tưởng vô căn cứ và xấc xược, phớt lờ rất nhiều truyền thống đạo đức quan trọng nhất thế giới.
Các bộ tộc săn bắt-hái lượm thời Đồ Đá có đã các quy tắc đạo đức từ hàng chục nghìn năm trước thời của Abraham. Khi những tay thực dân châu Âu đầu tiên đến Úc vào cuối thế kỷ 18, họ đã gặp các bộ lạc thổ dân có một thế giới quan đạo đức rất phát triển mặc dù hoàn toàn không biết đến Moses, Jesus và Muhammad. Rất khó nói những tay thực dân mang đạo Cơ Đốc đã đánh đuổi người bản địa một cách thô bạo đã thể hiện các chuẩn mực đạo đức ưu việt hơn.
Các nhà khoa học ngày nay đã chỉ ra rằng đạo đức thực chất có gốc rễ tiến hóa sâu xa từ trước sự xuất hiện của loài người hàng triệu năm. Tất cả các loài thú có tính xã hội, như chó sói, cá heo và khỉ, đều có các quy tắc đạo đức, thích nghi với tiến hóa để tăng cường hợp tác nhóm. Chẳng hạn, khi những con sói con chơi với nhau, chúng có các quy tắc “chơi công bằng”. Nếu một con sói cắn quá mạnh hay tiếp tục cắn đối thủ đã nằm ngửa ra và đầu hàng, những con khác sẽ không chơi với nó nữa.
Trong các bầy tinh tinh, những con có ưu thế được trông chờ phải tôn trọng quyền sở hữu của các con yếu hơn. Nếu một con tinh tinh cái yếu thế hơn tìm thấy một quả chuối, ngay cả con đực đầu đàn thường sẽ tránh ăn trộm quả chuối đó cho riêng mình. Nếu phá vỡ quy tắc này, nó rất có thể sẽ mất vị thế. Loài linh trưởng không chỉ tránh lợi dụng các thành viên yếu hơn mà thỉnh thoảng chủ động giúp chúng. Một con tinh tinh pygmy đực tên Kidogo, sống trong sở thú hạt Milwaukee, mắc một loại bệnh tim nghiêm trọng khiến nó yếu ớt và lơ ngơ. Lần đầu tiên nó được chuyển đến sở thú, nó không thể định vị bản thân hay hiểu các chỉ dẫn của những người chăm sóc. Khi các con khác hiểu được tình trạng của nó, chúng bèn can thiệp. Chúng thường cầm tay Kidogo và dẫn nó đi bất cứ chỗ nào nó cần đi. Nếu Kidogo bị lạc, nó sẽ phát ra những tiếng báo nguy rất to và một số con trong đàn sẽ lao đến giúp.
Một trong những con tinh tinh hay giúp đỡ Kidogo nhất là con đực đầu đàn tên Lody; con này không chỉ hướng dẫn Kidogo mà còn bảo vệ nó. Trong khi hầu hết các thành viên khác đối xử tử tế với Kidogo, một con đực choai choai tên là Murph thường đùa ác. Khi Lody nhân thấy hành vi đó, nó thường đuổi kẻ bắt nạt đi hoặc choàng tay bảo vệ Kidogo.
Một trường hợp còn cảm động hơn đã xảy ra trong các khu rừng già ở Bờ Biển Ngà. Sau khi một con tinh tinh nhỏ có tên Oscar mất mẹ, nó vật vã tự mình sinh tồn. Không con cái nào muốn nhận nuôi và chăm sóc nó vì chúng còn bận với đám con nhỏ của mình. Oscar sụt cân, dần yếu đi và cạn sức sống. Nhưng khi mọi điểm tựa dường như đã mất, Oscar được con đực đầu đàn Freddy “nhận nuôi”. Con đầu đàn này đảm bảo Oscar được ăn uống tử tế và thậm chí cõng nó đi vòng quanh. Các xét nghiệm di truyền cho thấy Freddy không có họ hàng với Oscar. Chúng ta chỉ có thể phán đoán điều gì đã khiến con đầu đàn cộc cằn, già dặn lại đi chăm sóc bé tinh tinh mồ côi, nhưng rõ ràng các con linh trưởng đầu đàn đã phát triển xu hướng giúp những con vật khốn khó, thiếu thốn và mất mẹ từ hàng triệu năm trước khi Kinh Thánh răn dạy người Israel cổ đại là họ không được “đối xử tệ với bất kỳ bà góa hay đứa trẻ không cha nào” (Xuất hành 22:21), trước khi nhà tiên tri Amos phàn nàn về giới tinh hoa trong xã hội “đàn áp người nghèo và giẫm bẹp người khó” (Amos 4:1).
Ngay cả với những Homo sapiens sống ở Trung Đông cổ đại, các lời tiên tri kiểu thánh kinh cũng khó có thể là quan điểm đạo đức nguyên bản của họ. “Ngươi không được giết” và “Ngươi không được trộm cắp” đã được nói rõ trong các quy tắc pháp luật và đạo đức của các thành bang Sumer, ở Ai Cập thời pharaoh và Đế chế Babylon. Những ngày nghỉ định kỳ có trước lễ Sabbath của Do Thái từ rất lâu. Một ngàn năm trước khi nhà tiên tri Amos quở trách giới tinh hoa Do Thái vì hành vi đàn áp của họ, vua Hammurabi của Babylon đã giải thích rằng các vị thần vĩ đại hướng dẫn ông “thực hành công đạo trong vùng đất, tiêu diệt những gì xấu xa và độc ác, và ngăn kẻ mạnh lợi dụng kẻ yếu”.
Trong khi đó ở Ai Cập, nhiều thế kỷ trước khi Moses ra đời, những người chép thuê đã ghi lại “câu chuyện về người nông dân hùng biện” kể về một người nông dân nghèo bị một tay chủ đất tham lam cướp hết tài sản. Người nông dân đến kêu vời đám quan lại tham những và khi họ không bảo vệ được ông, ông bắt đầu giải thích cho họ biết tại sao họ phải mang lại công lý và đặc biệt là bảo vệ người nghèo trước người giàu. Trong một đoạn phúng dụ đầy màu sắc, người nông dân Ai Cập này giải thích rằng những của cải nhỏ mọn của người nghèo như chính hơi thở của họ vậy và sự những nhiễu của quan lại khiến họ ngạt thở bằng cách bịt mũi họ lại.
Nhiều luật thánh kinh sao chép lại các luật lệ đã được chấp nhận ở Lưỡng Hà, Ai Cập và Canaan từ nhiều thế kỷ, thậm chí là nhiều thiên niên kỷ, trước khi các vương quốc Judah và Israel được thành lập. Nếu thánh kinh của Do Thái giáo mang lại cho các luật lệ này bất cứ biến đổi độc đáo nào thì đó là biến chúng từ các quy luật phổ quát, áp dụng được cho toàn thể nhân loại thành các phép tắc bộ tộc, nhắm chủ yếu đến người Do Thái. Đạo đức Do Thái ban đầu được định hình như một vấn đề riêng biệt, mang tính bộ tộc và vẫn tiếp tục như vậy ở một mức độ nào đó cho đến ngày nay. Kinh Cựu Ước, kinh Talmud và nhiều (dù không phải tất cả) giáo sĩ Do Thái đồng thuận rằng mạng người Do Thái đáng giá hơn mạng kẻ ngoại đạo; đấy là lý do vì sao người Do Thái được phép vi phạm lễ Sabbath để cứu một người Do Thái thoát chết, nhưng bị cấm không được làm thế chỉ để cứu một kẻ ngoại đạo chẳng hạn (kinh Talmud Babylon, Yoma 84:2).
Một số nhà hiền triết Do Thái cho rằng ngay cả điều răn nổi tiếng “Yêu láng giềng của ngươi như thể chính mình” cũng chỉ nói đến người Do Thái và hoàn toàn không có điều răn nào dạy yêu người ngoại đạo. Thật vậy, văn bản gốc từ cuốn Leviticus nói: “Đừng kiếm cách trả thù hay ôm mối hận với bất cứ ai trong số những người của các ngươi, nhưng hãy yêu láng giềng của ngươi như thể chính mình” (Leviticus 19:18) làm nảy sinh mối nghi ngờ rằng “láng giềng của ngươi” chỉ ám chỉ các thành viên trong “những người của các ngươi”. Mối nghi ngờ này được củng cố đáng kể bởi sự thật là Kinh Thánh ra lệnh cho người Do Thái truy bức một số tộc người nhất định như người Amalek và người Canaan. “Đừng để bất kỳ ai sống sót”, cuốn sách thánh phán. “Hãy hủy diệt chúng hoàn toàn – bọn Hittite, bọn Amorite, bọn Canaan, bọn Perizzite, bọn Hivite và bọn Jebusite – như Chúa của các ngươi đã ra lệnh cho các ngươi” (Đệ Nhị luật 20:16-17). Đây là một trong những ví dụ đầu tiên được ghi lại trong lịch sử loài người khi việc chinh phục các tộc người khác được đưa ra như một nghĩa vụ tôn giáo bắt buộc.
Chỉ có người Cơ Đốc đã lựa chọn một vài mẩu trong quy tắc đạo đức Do Thái, biến chúng thành các điều răn phổ quát và lan tỏa chúng khắp thế giới. Thực ra, Cơ Đốc giáo đã tách khỏi Do Thái giáo chính xác vì thế. Trong khi rất nhiều người Do Thái đến ngày nay vẫn tin cái gọi là “dân tộc được chọn lựa” gần Chúa hơn cạc dân tộc khác thì người sáng lập ra Cơ Đốc giáo, Thánh Paul Tông đồ, đã nối trong Thư gửi các tín đồ Galatia nổi tiếng của mình rằng “không có Do Thái hay ngoại dân, không có nô lệ hay tự do, không có đàn ông hay đàn bà, vì tất cả các người đều là một trong mắt Chúa Jesus” (Galatians 3:28).
Và chúng ta phải một lần nữa nhấn mạnh rằng dù tầm ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo là to lớn, đây chắc chắn không phải lần đầu tiên một người đi rao giảng một quy luật đạo đức phổ quát. Kinh Thánh còn xa mới là căn nguyên duy nhất của đạo đức nhân loại (và cũng may là như thế, vì nó chứa đựng thái độ phân biệt chủng tộc, coi thường phụ nữ và ghét bỏ người đồng tính). Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật và Mahavira đã thiết lập các quy tắc đạo đức phổ quát từ rất lâu trước Paul và Jesus mà không biết bất cứ điều gì về vùng đất Canaan hay các nhà tiên tri của Israel. Khổng Tử dạy rằng mỗi người phải yêu thương người khác như thể yêu chính mình khoảng 500 năm trước khi giáo sĩ Hillel Trưởng Lão nói đây là bản chất của kinh Torah. Và vào cái thời Do Thái giáo vẫn bắt buộc hiến sinh động vật và tiêu diệt có hệ thống những cộng đồng người khác, Đức Phật và Mahavira đã dạy các tín đồ của mình phải tránh gây hại không chỉ mọi người mà tất cả mọi loài có cảm xúc, bao gồm cả côn trùng. Do đó khó mà có bất cứ lý do gì để ghi công cho Do Thái giáo và các hậu duệ Cơ Đốc và Hồi giáo của nó việc sáng tạo nên đạo đức nhân loại cả.
NGUỒN CƠN CỦA CUỒNG TÍN
Thế tôn giáo độc thần thì sao? Chẳng phải Do Thái giáo ít nhất cũng đáng được ngợi ca đặc biệt vì tiên phong trong niềm tin vào duy nhất một Đức Chúa Trời, thứ chưa từng có ở đâu khác trên thế giới hay sao (mặc dù sau này, niềm tin ấy được truyền đến khắp cùng trời cuối đất nhờ những người Cơ Đốc và người Hồi hơn là người Do Thái)? Thậm chí chuyện đó chúng ta cũng có thể lật lại được vì bằng chứng rõ ràng đầu tiên về độc thần giáo đến từ cuộc cách mạng tôn giáo của pharaoh Akhenaten khoảng năm 1350 trước Công nguyên và các tài liệu như tấm bia Mesha (do vua Mesha xứ Moab dựng lên) chỉ ra rằng tôn giáo Israel thánh kinh cũng không khác tôn giáo của các vương quốc láng giềng như Moab là bao. Bia Mesha mô tả vị thần vĩ đại Chemosh của mình cũng gần giống như cách kinh Cựu Ước mô tả Yahweh. Nhưng vấn đề thực sự với ý tưởng Do Thái giáo đóng góp độc thần giáo cho thế giới đó là nó chẳng phải là điều gì đáng phải tự hào. Từ góc độ đạo đức, độc thần giáo, có thể nói, là một trong những ý tưởng chán nhất trong lịch sử nhân loại.
Độc thần giáo không làm được gì nhiều để nâng cao các chuẩn mực đạo đức của con người. Bạn có thực sự nghĩ người Hồi vốn đã đạo đức hơn người Hindu chỉ vì người Hồi tin vào một vị Chúa duy nhất trong khi người Hindu tin vào nhiều vị thần không? Liệu những người Tây Ban Nha theo Cơ Đốc giáo đi xâm chiếm châu Mỹ có đạo đức hơn những bộ lạc thổ dân châu Mỹ? Không nghi ngờ gì nữa, độc thần giáo đã khiến nhiều người trở nên thiếu khoan dung hơn bao giờ hết, do đó góp phần lan truyền những cuộc thanh tẩy tôn giáo và thánh chiến. Những người đa thần thấy việc những người khác nhau sẽ tôn thờ các vị thần khác nhau và thực hiện các nghi thức và lễ nghi tôn giáo đa dạng là hoàn toàn chấp nhận được. Họ hiếm khi, nếu có, đánh, trừng phạt hay sát hại người chỉ vì niềm tin tôn giáo của người khác. Trái lại, những người độc thần tin rằng Chúa của họ là chúa duy nhất và Người đòi hỏi phục tùng của vạn vật.
Ví dụ, hãy thử so sánh thái độ của hoàng đế Ashoka của Ấn Độ vào thế kỷ 3 trước Công nguyên với thái độ của các hoàng đế của Đế chế La Mã cổ đại. Hoàng đế Ashoka trị vì một vương quốc với vô số các tôn giáo, bè phái và các guru. Ông tự chó mình các tước hiệu chính thức là “Người được các Thần yêu mến” và “đức vua yêu thương tất cả mọi người”. Đâu đó khoảng năm 250 trước Công nguyên, ông đã ban một sắc lệnh hoàng gia tuyên bố:
Người được các Thần yêu mến, đức vua yêu thương tất cả mọi người, tôn vinh cả những nhà tu khổ hạnh lẫn những người đi theo mọi tôn giáo… và coi trọng việc cần có sự phát triển trong bản chất của mọi tôn giáo. Phát triển trong bản chất có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, nhưng tất cả đều có gốc rễ ở chỗ giới hạn lời nói, đấy là, không ngợi ca tôn giáo của riêng mình hay chê bai tôn giáo của người khác mà không có cơ sở chính đáng… Bất kỳ ai ca ngợi tôn giáo của riêng mình, vì tin tưởng thái quá, và chê bai các tôn giáo khác với suy nghĩ “Hãy để ta vinh danh tôn giáo của riêng ta”, chỉ làm hại tôn giáo của mình. Do đó, giao lưu giữa các tôn giáo là tốt. Ta nên lắng nghe và tôn trọng các giáo lý mà những kẻ khác phát nguyện. Người được các Thần yêu mến, đức vua yêu thương tất cả mọi người, mong rằng người người đều thấm nhuần các giáo lý tốt của các tôn giáo khác.
Năm trăm năm sau, thời kỳ cuối Đế chế La Mã cũng đa dạng như Ấn Độ của Ashoka; nhưng khi Cơ Đốc giáo thống lĩnh, các hoàng đế đi theo một cách tiếp cận rất khác đối với tôn giáo. Bắt đầu từ Constantine Đại đế và con trai ông là Constantius Đệ Nhị, các hoàng đế đóng cửa mọi đền thờ phi Cơ Đốc và cấm các nghi thức gọi là “tà giáo” với cái giá phải trả có thể là mạng sống. Sự trừng phạt đạt đỉnh điểm khi hoàng đế Theodosius, cái tên có nghĩa là “được Chúa ban”, vào năm 391 ban hành Chiếu chỉ Theodosius, về căn bản biến tất cả các tôn giáo, trừ Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo, trở thành trái luật (cả Do Thái giáo cũng bị trừng phạt theo vô số cách, nhưng thực hành nó vẫn là hợp pháp). Theo các luật mới, người ta có thể bị hành hình thậm chí vì thờ Jupiter hay Mithras ở nhà riêng. Như một phần của chiến dịch thanh tẩy đế chế khỏi các di sản vô đạo, các hoàng đế Cơ Đốc cấm cả thế vận hội. Vốn được tôn vinh suốt hơn một ngàn năm, thế vận hội cổ đại cuối cùng được tổ chức đâu đó vào cuối thế kỷ thứ 4 hoặc đầu thế kỷ thứ 5.
Dĩ nhiên, không phải kẻ trị vì theo tư tưởng độc thần nào cũng hẹp hòi như Theodosius, và vô số đấng trị vì đã khước từ độc thần giáo mà không áp dụng các chính sách cởi mở của Ashoka. Tuy nhiên, bằng việc khăng khăng rằng “không có chúa nào ngoài Chúa của chúng ta”, tư tưởng độc thần có thể dẫn đến xu hướng khuyến khích sự cuồng tín. Người Do Thái bởi vậy hẳn sẽ nói bớt phần mình trong việc lan truyền trào lưu nguy hại này.
VẬT LÝ DO THÁI, SINH HỌC CƠ ĐỐC
Chỉ đến thế kỷ 19 và 20, chúng ta mới nhìn thấy người Do Thái có những đóng góp phi thường cho nhân loại nói chung thông qua vai trò to lớn của họ trong khoa học hiện đại. Ngoài các tên tuổi nổi tiếng như Einstein và Freud, khoảng 20% những người đoạt giải Nobel khoa học là người Do Thái, mặc dù người Do Thái chỉ chiếm chưa đầy 0,2% dân số thế giới. Nhưng cần nhấn mạnh rằng đây là một đóng góp của các cá nhân Do Thái hơn là của Do Thái giáo với tư cách một tôn giáo hay một văn hóa. Hầu hết các nhà khoa học Do Thái quan trọng nhất trong 200 năm trở lại đây hoạt động bên ngoài vòng ảnh hưỏng của tôn giáo Do Thái. Thực tế thì người Do Thái bắt đầu có các đóng góp đáng kể cho khoa học chỉ khi họ đã từ bỏ các chủng viện Do Thái để đi vào các phòng thí nghiệm.
Trước năm 1800, ảnh hưởng Do Thái lên khoa học rất hạn chế. Một cách tự nhiên, người Do Thái không đóng vai trò đáng kể gì trong tiến bộ khoa học ở Trung Quốc, Ấn Độ hay trong nền văn minh Maya. Ở châu Âu và Trung Đông, một số triết giạ người Do Thái như Maimonides có ảnh hưởng đáng kể lên các đồng sự ngoại đạo, nhưng ảnh hưởng Do Thái nói chung chỉ xứng tầm với sức nặng nhân khẩu của họ. Trong thế kỷ 16, 17 và 18, Do Thái giáo không có tiếng nói gì trong sự bùng nổ của Cách mạng Khoa học. Trừ Spinoza (người bị rút phép thông công vì những phiền hà ông ta gây ra cho cộng đồng Do Thái), bạn khó có thể kể tên một người Do Thái nào có vai trò quyết định đối với sự ra đời của vật lý, hóa học, sinh học hay các khoa học xã hội hiện đại. Chúng ta không biết các tổ tiên của Einstein đang làm gì vào thời của Galileo và Newton, nhưng nhiều khả năng là họ hứng thú nghiên cứu kinh Talmud hơn các tính chất ánh sáng rất nhiều.
Thay đổi vĩ đại xuất hiện chỉ vào thế kỷ 19 và 20, khi chủ nghĩa thế tục và phong trào Khai sáng Do Thái khiến nhiều người Do Thái áp dụng thế giới quan và lối sống của các láng giềng ngoại đạo. Người Do Thái từ đó bắt đầu tham gia vào các trường đại học và trung tâm nghiên cứu của các nước như Đức, Pháp và Hoa Kỳ. Các học giả Do Thái mang đến các di sản văn hóa quan trọng từ những khu dân cư và tỉnh lỵ Do Thái. Giá trị giáo dục trung tâm trong văn hóa Do Thái là một trong những lý do chính cho thành công phi thường của các nhà khoa học Do Thái. Các yếu tố khác bao gồm khao khát chứng tỏ khả năng của mình của một thiểu số bị ngược đãi và các rào cản đã ngăn những người Do Thái tài năng thăng tiến trong các bối cảnh bài Do Thái hơn như quân đội và chính quyền.
Thế nhưng trong khi các nhà khoa học Do Thái mang theo mình kỷ luật mạnh mẽ và một niềm tin sâu sắc vào giá trị của tri thức từ các chủng viện, họ lại không mang chút hành trang có ích nào gồm những ý tưởng và hiểu biết thấu suốt. Einstein là người Do Thái, nhưng thuyết tương đối không phải là “vật lý Do Thái”. Niềm tin vào sự thiêng liêng của kinh Torah thì có liên quan gì đến việc hiểu được rằng năng lượng bằng khối lượng nhân tốc độ ánh sáng bình phương? Để tiện so sánh, Darwin theo Cơ Đốc giáo và thậm chí còn bắt đầu những nghiên cứu của mình tại Cambridge với mục tiêu trở thành một mục sư theo Anh giáo. Phải chăng điều đó hàm ý rằng thuyết tiến hóa là một lý thuyết Cơ Đốc? Sẽ là lố bịch nếu liệt kê thuyết tương đối như một đóng góp Do Thái đối với nhân loại, cũng như sẽ là lố bịch nếu ghi công Cơ Đốc giáo cho thuyết tiến hóa.
Tương tự, khó mà thấy được điều gì đặc biệt Do Thái trong phát minh ra quá trình tổng hợp ammonia của Fritz Haber (giải Nobel Hóa học năm 1918), trong việc khám phá ra kháng sinh streptomycin của Selman Waksman (giải Nobel Y học năm 1952) hay trong sự phát hiện các giả tinh thể của Dan Shechtman (giải Nobel Hóa học năm 2011). Trong trường hợp các học giả đến từ các ngành khoa học xã hội và nhân văn như Freud chẳng hạn, di sản Do Thái của họ có lẽ có ảnh hưởng sâu sắc hơn đến nhận thức của họ. Thế nhưng ngay cả trong các trường hợp đó, sự đứt gãy kết nối còn rõ ràng hơn là những liên kết còn sót lại. Các quan điểm của Freud về tâm lý con người rất khác với các quan điểm của thầy tu Joseph Caro hay thầy tu Yochanan ben Zakkai; và ông không phát hiện ra phức cảm Oedipus bằng cách nghiền ngẫm kỹ lưỡng luật Shulhan Arukh (luật Do Thái).
Tóm lại, mặc dù việc chú trọng đến học hành của người Do Thái có lẽ đã có đóng góp quan trọng cho thành công bất thường của các nhà khoa học Do Thái, chính những triết gia ngoại đạo mới là những người đặt nền móng cho các thành tựu của Einstein, Haber và Freud. Cách mạng Khoa học không phải là một dự án Do Thái và người Do Thái tìm được chỗ đứng của mình chỉ khi họ rời khỏi các chủng viện đến các trường đại học. Quả thực, thói quen tìm kiếm các câu trả lời cho mọi câu hỏi bằng cách đọc các bản văn cổ là một trở ngại lớn đối với sự hòa nhập của người Do Thái vào thế giới khoa học hiện đại, nơi mà các câu trả lời đến từ quan sát và thí nghiệm. Nếu có bất cứ điều gì về bản thân tôn giáo Do Thái là cần thiết để dẫn đến các đột phá khoa học thì tại sao từ năm 1905 đến năm 1933 có tới mười người Do Thái Đức thế tục đoạt giải Nobel hóa học, y học và vật lý, nhưng không một người Do Thái siêu chính thống hay một người Do Thái Bulgaria và Yemen nào giành được bất kỳ giải Nobel nào?
Phòng khi tôi bị nghi ngờ là một tay Do Thái tự ghét bản thân hay một người bài Do Thái, tôi muốn nhấn mạnh rằng tôi không nói Do Thái giáo là một tôn giáo đặc biệt độc ác hay tăm tối. Tất cả những gì tôi muốn nói là nó không đặc biệt quan trọng trong lịch sử của nhân loại. Trong nhiều thế kỷ, Do Thái giáo là một tôn giáo khiêm nhường của một thiểu số bị ngược đãi, thích đọc và ngẫm ngợi hơn là chinh phục các đất nước xa xôi và thiêu bọn ngoại đạo trên cọc gỗ.
Những kẻ bài Do Thái thường nghĩ người Do Thái là rất quan trọng. Những kẻ bài Do Thái tưởng tượng rằng người Do Thái kiểm soát thế giới hay hệ thống ngân hàng, hay chí ít là truyền thông, và đổ mọi tội lỗi cho họ, từ sự nóng lên toàn cầu cho tới các cuộc tấn công ngày 11 tháng Chín. Những dạng bài Do Thái cuồng loạn như vậy lố bịch y hệt chứng hoang tưởng tự đại Do Thái. Người Do Thái có thể là một dân tộc rất thú vị, nhưng khi nhìn vào bức tranh tổng thể, ta phải nhận ra họ đã có rất ít ảnh hưởng lên thế giới.
Trong suốt lịch sử, con người đã tạo ra hàng trăm tôn giáo và giáo phái khác nhau. Một nhóm trong số đó, gồm Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Hindu giáo, Khổng giáo và Phật giáo, đã ảnh hưởng lên hàng tỷ người (không phải lúc nào cũng tốt). Tuyệt đại đa số các giáo phái, như Bon giáo, Yoruba giáo và Do Thái giáo, có ảnh hưởng nhỏ hơn rất nhiều. Cá nhân tôi thích ý tưởng mình không phải hậu duệ của các nhà chinh phục thế giới cường biệt, mà từ một dân tộc không quan trọng lắm, ít khi chĩa mũi vào việc của người khác. Nhiều tôn giáo ca tụng giá trị của sự khiêm nhường nhưng lại nghĩ mình là thứ quan trọng nhất trong vũ trụ. Họ lẫn lộn các lời kêu gọi cá nhân phải khiêm tốn với sự tự đại tập thể hơi lố. Con người thuộc mọi tín ngưỡng nên coi trọng sự khiêm nhường hơn.
Và trong tất cả các dạng khiêm nhường, có lẽ dạng quan trọng nhất là có sự khiêm nhường trước Chúa. Bất cứ lúc nào nói về Chúa, con người có xu hướng thường xuyên nhận mình nhỏ bé một cách yếu đuối, nhưng rồi lại nhân danh Chúa để chèn ép anh chị em mình.
Bài học 13 - Chúa
ĐỪNG NHÂN DANH CHÚA VÔ TỘI VẠ
Chúa có tồn tại không? Điều đó phụ thuộc vào việc bạn đang nghĩ đến Chúa nào: một bí ẩn vũ trụ hay người đề ra luật lệ thế tục? Đôi khi, khi nói về Chúa, chúng ta nói về một bí ẩn vĩ đại và phi thường mà chúng ta không biết gì về nó hết. Chúng ta mang vị Chúa bí ẩn này ra để giải thích những câu đố sâu xa nhất của vũ trụ. Tại sao lại có một cái gì đó thay vì không có gì hết? Điều gì định hình các quy luật cơ bản của vật lý? Ý thức là gì và nó đến từ đâu? Chúng ta không biết câu trả lời cho những câu hỏi đó và gán cho sự ngu dốt của mình cái tên vĩ đại là Chúa. Đặc điểm cơ bản nhất của vị Chúa bí ẩn này là chúng ta không thể nói được gì cụ thể về Ngài. Đây là vị Chúa của các nhà triết học, vị Chúa mà chúng ta nói đến khi ngồi quanh một đám lửa trại lúc đêm khuya và tự hỏi cuộc sống thật sự có ý nghĩa gì.
Trong các dịp khác, người ta xem Chúa như một người đề ra luật lệ nghiêm khắc và thế tục, một đấng mà ta biết quá nhiều. Chúng ta biết chính xác điều Ngài nghĩ về thời trang, thức ăn, tình dục và chính trị; chúng ta lôi người đàn ông giận dữ trên cao xanh này ra để biện hộ cho một triệu quy định, sắc lệnh và mâu thuẫn. Ngài bực mình khi phụ nữ mặc áo cộc tay, khi hai người đàn ông làm tình với nhau hay khi bọn thiếu niên thủ dâm. Một số người nói Ngài không thích chúng ta uống chút rượu nào trong khi số khác cho rằng Ngài chắc chắn yêu cầu chúng ta uống rượu vang mỗi tối thứ Sáu hoặc mỗi sáng Chủ nhật. Hàng thư viện sách đã được viết ra để giải thích một cách chi tiết nhất chính xác những gì Ngài muốn và những gì Ngài không thích. Đặc điểm cơ bản nhất của người đề ra luật lệ thế tục này là chúng ta có thể nói những điều cực kỳ cụ thể về Ngài. Đây là vị Chúa của những kẻ Thập tự chinh và thánh chiến, của những quan tòa dị giáo, những người coi thường phụ nữ và ghét người đồng tính. Đây là vị Chúa chúng ta nói đến khi đứng quanh một giàn hỏa thiêu, ném đá và những lời thóa mạ về phía kẻ dị giáo.
Khi được hỏi liệu Chúa thực sự có tồn tại không, những người có đức tin thường mở đầu bằng việc nói về những bí ẩn khó nắm bắt của vũ trụ và những hạn chế của hiểu biết con người. “Khoa học không thể giải thích Vụ Nổ Lớn,” họ thốt lên, “vậy đấy phải là Chúa đã làm.” Thế nhưng như một nhà ảo thuật đánh lừa khán giả bằng cách tráo lá bài này bằng lá khác mà không ai nhìn thấy, người có đạo nhanh chóng đánh tráo bí ẩn vũ trụ với người lập pháp thế tục. Sau khi gán tên Chúa cho các bí ẩn của vũ trụ, họ dùng Chúa để bằng cách nào đó kết tội những bộ bikini và vụ ly dị. “Chúng ta không thể hiểu được vì sao có Vụ Nổ Lớn, do đó cô phải che tóc khi ở ngoài đường và bỏ phiếu chống hôn nhân đồng tính.” Không chỉ không có chút liên hệ logic gì giữa hai việc mà chúng thật ra còn trái ngược nhau. Các bí ẩn của vũ trụ càng sâu sắc thì càng có ít khả năng thứ chịu trách nhiệm cho chúng quan tâm đến cách ăn mặc của phụ nữ hay hành vi tính dục của con người.
Mắt xích bị thiếu giữa bí ẩn vũ trụ và người làm ra luật trần thế thường được một cuốn sách thánh nào đó cung cấp. Cuốn sách đầy những quy định tản mạn nhất nhưng vẫn được gán cho bí ẩn của vũ trụ. Đấng tạo tác ra không gian và thời gian được cho là đã viết ra cuốn sách, nhưng Ngài vẫn bỏ công khai sáng chúng ta chủ yếu về một số nghi lễ đền đài huyền bí và các món ăn cần kiêng kỵ nào đó. Trên thực tế, chúng ta không có bất cứ bằng chúng nào cho thấy các cuốn sách thánh là do một thế lực đã quyết định rằng năng lượng bằng khối lượng nhân tốc độ ánh sáng bình phương và các proton thì nặng gấp 1,837 lần các electron. Bằng tất cả tri thức khoa học của chúng ta mà nói, tất cả các bản văn thiêng này được các Homo sapiens giàu trí tuệ chấp bút. Chúng là những câu chuyện được tổ tiên chúng ta sáng tạo nên để hợp thức hóa các quy tắc xã hội.
Cá nhân tôi chưa bao giờ ngừng băn khoăn về bí ẩn của sự tồn tại. Nhưng tôi chưa bao giờ hiểu điều đó thì liên quan gì đến những luật lệ chi tiết của Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo hay Hindu giáo. Các luật lệ này chắc chắn rất có ích trong việc thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội trong hàng ngàn năm. Nhưng nói đến việc đó thì về cơ bản, chúng không có gì khác biệt với các luật lệ của các nhà nước và tổ chức thế tục.
Điều thứ ba của Mười Điều Răn trong Kinh Thánh hướng dẫn con người không bao giờ được sử dụng danh Chúa một cách sai trái. Nhiều người hiểu điều này một cách rất trẻ con, như là cấm không được nói thẳng ra tên Chúa (như cảnh “Nếu bạn nói Jehovah…” của nhóm Monty Python nổi tiếng). Có lẽ ý nghĩa sâu xa hơn của điều răn này là chúng ta không bao giờ được sử dụng danh Chúa để biện minh cho các lợi ích chính trị, tham vọng kinh tế hay sự thù ghét cá nhân của mình. Người ta ghét một ai đó và nói: “Chúa ghét anh ta”; người ta thèm khát một mảnh đất và nói: “Chúa muốn có nó”. Thế giới sẽ là một nơi tốt đẹp hơn nhiều nếu chúng ta làm theo điều răn thứ ba nhiệt thành hơn. Bạn muốn gây chiến với láng giềng và cướp đất đai của họ ư? Hãy để Chúa đứng ngoài vụ việc ấy và tự tìm một cái cớ khác đi.
Xét cho cùng, vấn đề nằm ở ngữ nghĩa học. Khi dùng từ “Chúa”, tôi nghĩ đến Chúa của Nhà nước Hồi giáo IS, của các hiệp sĩ Thập tự chinh, của tòa án dị giáo và của các biểu ngữ “Chúa ghét bọn đồng tính”. Khi nghĩ về bí ẩn của sự tồn tại, tôi thích dùng các từ khác để tránh nhầm lẫn. Và không như Chúa của Nhà nước Hồi giáo và thánh chiến, người rất quan tâm đến danh xưng và trên tất cả là danh xưng thần thánh nhất của Ngài, bí ẩn của sự tồn tại không quan tâm một tẹo nào đến những cái tên mà bọn “vượn người” chúng ta gọi nó.
ĐẠO ĐỨC "VÔ CHÚA"
Dĩ nhiên, bí ẩn vũ trụ không giúp được gì cho chúng ta trong việc duy trì trật tự xã hội. Con người thường tranh luận rằng ta phải tin vào một Đức Chúa mang lại cho con người một số luật lệ rất cụ thể; nếu không, đạo đức sẽ biến mất và xã hội sẽ suy sụp vào hỗn mang tiền sử.
Đúng là niềm tin vào các vị thần là thiết yếu đối với các trật tự xã hội khác nhau và niềm tin đó thi thoảng đưa đến các kết quả khả quan. Quả thực, chính các tôn giáo có thể khơi gợi thù hằn và cuồng tín ở một số người, lại truyền cảm hứng cho tình yêu và lòng trắc ẩn ở một số người khác. Ví dụ, vào đầu những năm 1960, đức cha Ted Mcllvenna hội Giám lý dần ý thức được cảnh khốn khổ của những người LGBT trong cộng đồng của ông. Ông bắt đầu tìm hiểu tình cảnh của những người đồng tính nam và đồng tính nữ trong xã hội nói chung; vào tháng Năm năm 1964, ông tổ chức một cuộc đối thoại kéo dài ba ngày giữa các mục sư và những nhà hoạt động vì quyền của người đồng tính tại Trại tế bần White Memorial ở California. Những người tham dự sau đó đã lập ra “Hội đồng về Tôn giáo và người đồng tính” (CRH), trong đó ngoài những nhà hoạt động còn gồm các mục sư Giám lý, Tân giáo, Lutheran và Hội thánh của Đức Christ. Đây là tổ chức đầu tiên ở Hoa Kỳ dám sử dụng từ “đồng tính” trong danh xưng chính thức của mình.
Trong các năm tiếp theo, hoạt động của CRH trải dài từ tổ chức các buổi tiệc hóa trang cho đến các hành động pháp lý chống phân biệt đối xử và ngược đãi bất công. CRH trở thành hạt giống cho phong trào vì quyền của người đồng tính ở California. Đức cha Mcllvenna và những người phụng sự Chúa khác tham gia cùng ông hoàn toàn ý thức được các huấn thị chống đồng tính trong thánh kinh. Nhưng họ nghĩ rằng việc theo đúng tinh thần trắc ẩn của Jesus có ý nghĩa quan trọng hơn là nghe theo những lời nghiêm khắc của Kinh Thánh.
Thế nhưng dù các vị thần có thể tạo cảm hứng cho chúng ta hành động đầy trắc ẩn, đức tin tôn giáo không phải là điều kiện cần cho các hành vi đạo đức. Ý tưởng cho rằng ta cần một thế lực siêu nhiên để khiến ta hành động một cách đạo đức mặc định rằng đạo đức là một cái gì đó không tự nhiên. Nhưng tại sao? Đạo đức ở một số dạng là tự nhiên. Mọi loài thú có tính xã hội từ tinh tinh đến chuột đều có các quy tắc đạo đức hạn chế những hành vi như ăn trộm hay giết nhau. Ớ loài người, đạo đức hiện hữu ở mọi xã hội, dù không phải tất cả các xã hội đó đều tin vào cùng một vị thần hay không. Người Cơ Đốc hành xử thiện lành dù không tin vào đền đài của đạo Hindu, người Hồi coi trọng sự thành thực dù chối bỏ sự linh thiêng của Jesus, và các nước thế tục như Đan Mạch và Cộng hòa Séc không bạo lực hơn các nước mộ đạo như Iran và Pakistan.
Đạo đức không có nghĩa là “nghe theo các mệnh lệnh thần thánh”. Nó có nghĩa là “làm giảm khổ đau”. Do đó, để hành động một cách có đạo đức, bạn không cần tin vào bất cứ truyền thuyết hay câu chuyện nào. Bạn chỉ cần phát triển một sự thấu hiểu sâu sắc về khổ đau. Nếu thật sự hiểu một hành động có thể gây ra những khổ đau không cần thiết cho mình và người khác như thế nào, tự nhiên bạn sẽ không làm điều đó nữa. Con người vẫn giết chóc, hãm hiếp và trộm cắp vì họ chỉ hiểu hời hợt về sự đau khổ mà những việc đó gây ra. Họ chăm chăm thỏa mãn dục vọng hay lòng tham tức thời của mình mà không quan tâm đến tác động đối với người khác hay thậm chí là hậu quả lâu dài lên chính họ. Ngay cả các quan tòa dị giáo cố tình gây nhiều đau khổ nhất lên nạn nhân của mình cũng thường sử dụng các kỹ thuật làm mất cảm giác và mất nhân tính để tạo khoảng cách giữa mình và những gì họ đang làm.
Bạn có thể phản đối rằng theo lẽ tự nhiên, mọi người đều tìm cách tránh đau khổ, nhưng tại sao con người lại quan tâm đến khổ đau của người khác, trừ phi một vị Chúa nào đó yêu cầu? Một câu trả lời hiển nhiên là con người là động vật xã hội, do đó hạnh phúc của họ phụ thuộc một phần rất lớn vào các mối quan hệ với những người khác. Không có tình yêu, tình bạn và cộng đồng, ai hạnh phúc cho được? Nếu bạn sống một cuộc đời cô độc lấy mình là trung tâm, bạn gần như chắc chắn sẽ đau khổ. Thế nên ít nhất, để hạnh phúc, bạn cần quan tâm đến gia đình, bạn bè và các thành viên trong cộng đồng.
Vậy những người hoàn toàn xa lạ thì sao? Tại sao không giết bọn xa lạ và lấy tài sản của họ để làm giàu bản thân và bộ tộc của mình? Nhiều nhà tư tưởng đã xây dựng các lý thuyết xã hội phức tạp, giải thích tại sao về lâu dài, hành vi đó là phản tác dụng. Bạn không muốn sống trong một xã hội mà những người xa lạ thường xuyên bị cướp và giết hại. Chẳng những bạn sẽ thường xuyên gặp nguy hiểm mà còn mất đi lợi ích của những thứ như thương mại, điều phụ thuộc vào niềm tin giữa những người xa lạ. Các nhà buôn thường không lui tới các sào huyệt của bọn trộm cướp. Đấy là cách các lý thuyết gia thế tục từ Trung Hoa cổ đại đến châu Âu hiện đại đã biện minh cho quy tắc vàng “đừng làm với người những gì ta không muốn người làm với mình”.
Thế nhưng chúng ta đâu thật sự cần những lý thuyết dài hơi, phức tạp như thế để tìm một nền tảng tự nhiên cho lòng trắc ẩn phổ quát. Hãy quên đi thương mại trong chốc lát. Trên một bình diện gần gũi hơn rất nhiều, làm người khác đau cũng luôn làm bản thân mình tổn thương. Mỗi hành vi bạo lực trên thế giới bắt nguồn từ một mong ước bạo lực trong đầu ai đó, thứ làm nhiễu loạn sự an bình và hạnh phúc của chính người đó trước khi nó ảnh hưởng đến an bình và hạnh phúc của bất cứ ai khác. Do đó, người ta hiếm khi trộm cắp trừ phi ban đầu họ đã có trong đầu rất nhiều lòng tham và đố kỵ. Con người thường không giết chóc trừ phi họ bộc lộ đủ tức giận và thù ghét. Các cảm xúc như lòng tham, sự ghen tị, tức giận và thù ghét là cực kỳ khó chịu. Bạn không thể trải nghiệm niềm vui và sự hài hòa khi bạn đang bừng bừng tức giận hay ghen tị. Do đó, từ rất lâu trước khi bạn giết một ai đó, cơn giận của bạn đã giết chết sự bình an trong tâm trí bạn rồi.
Quả thực, bạn có thể sôi sục giận dữ suốt nhiều năm mà không thật sự giết đối tượng của cơn giận. Trong trường hợp đó, bạn chẳng làm đau ai nhưng đã làm tổn thương bản thân. Do đó, chính lợi ích cá nhân tự nhiên của bạn, chứ không phải yêu cầu của một vị Chúa nào đó, sẽ khiến bạn làm một cái gì đó với cơn giận của mình. Nếu hoàn toàn không giận dữ, bạn sẽ thấy khá hơn rất nhiều khi giết được một kẻ thù hiểm độc.
Với một số người, một niềm tin mãnh liệt vào một vị Chúa nhân từ khuyên chúng ta chìa má bên kia ra có thể có ích trong việc kiềm chế cơn giận. Đây đã là một đóng góp to lớn của niềm tin tôn giáo với hòa bình và hòa hợp của thế giới. Thật không may, với một số người khác, niềm tin tôn giáo thực sự có tác dụng khơi gọi và biện minh cho cơn giận của họ, đặc biệt là nếu ai đó dám nhục mạ Chúa của họ hay phớt lò mong ước của Ngài. Thế nên, xét cho cùng, giá trị của vị Chúa đặt ra luật lệ phụ thuộc vào hành vi của những người tin theo ông ta. Nếu họ hành xử tốt, họ có thể tin vào bất cứ thứ gì họ thích. Tương tự, giá trị của các nghi thức tôn giáo và các nơi chốn thiêng liêng phụ thuộc vào các loại cảm xúc và hành vi mà chúng khơi gợi. Nếu đi thăm một ngôi đền khiến con người ta cảm thấy bình an và hòa hợp, điều đó thật tuyệt. Nhưng nếu một ngôi đền cụ thể gây bạo lực và mâu thuẫn thì ta cần nó làm gì? Rõ ràng nó là một ngôi đền bị “rối loạn chức năng”. Giống như việc đánh nhau vì một cái cây bệnh chỉ sinh gai mà không ra quả là vô nghĩa, việc đấu tranh vì một ngôi đền “khiếm khuyết” tạo ra thù hằn thay vì hòa hợp cũng không mang lại lợi lộc gì.
Không ghé thăm đền chùa miếu mạo và không tin vào bất cứ vị Chúa nào cũng là một lựa chọn khả dĩ. Như vài thế kỷ gần đây đã chứng minh, chúng ta không cần viện đến danh Chúa để sống một cuộc đời đạo đức. Chủ nghĩa thế tục có thể mang đến cho chúng ta mọi giá trị ta cần.
Bài học 14 - Chủ nghĩa thế tục
THỪA NHẬN CÁI BÓNG CỦA MÌNH
Thế tục nghĩa là gì? Chủ nghĩa thế tục đôi khi được định nghĩa như là sự thiếu vắng tôn giáo và những người thế tục do đó được định nghĩa theo những gì họ không tin và không làm. Theo định nghĩa này, người thế tục không tin vào bất kỳ vị Chúa hay thiên thần nào, không đi nhà thờ và đền chùa, không thực hiện các nghi thức hay nghi lễ. Như vậy, thế giới thế tục có vẻ như trống rỗng, hư vô và vô đạo, một chiếc hộp rỗng chờ được một cái gì đó lấp đầy.
Rất ít người sẽ chấp nhận một danh từ tiêu cực đến thế. Những người tự xưng thế tục nhìn nhận chủ nghĩa thế tục theo một cách rất khác. Với họ, chủ nghĩa thế tục là một thế giới quan rất lạc quan và chủ động, được định nghĩa bởi một bộ quy tắc giá trị mạch lạc hơn là đối chọi với tôn giáo này hay tôn giáo nọ. Thực ra, nhiều giá trị thế tục là điểm chung của các truyền thống tôn giáo khác nhau. Không như một số tôn giáo khăng khăng rằng mình độc quyền đối với mọi sự thông thái và tốt đẹp, một trong những đặc điểm quan trọng của những người thế tục là họ không tự vơ về mình thứ độc quyền nào như thế cả. Họ không nghĩ đạo đức và trí khôn từ trên trời rơi xuống một nơi chốn và vào một thời điểm nhất định. Thay vào đó, đạo đức và trí khôn là di sản tự nhiên của mọi con người. Thế nên, người ta chỉ nên hy vọng rằng ít nhất một vài giá trị nào đó sẽ nảy sinh trong các xã hội loài người ở khắp thế giới và là điểm chung giữa người Hồi, người Cơ Đốc, người Hindu và người vô thần.
Các lãnh đạo tôn giáo thường đưa cho các môn đệ của mình một lựa chọn cứng nhắc: hoặc thế này hoặc thế kia, hoặc anh là người Hồi, hoặc không. Và nếu anh là người Hồi, anh nên chối bỏ mọi giáo lý khác. Trái lại, người thế tục cảm thấy thoải mái với nhiều “bản sắc lai tạp” khác nhau. Theo chủ nghĩa thế tục thì anh có thể tiếp tục gọi mình là một người Hồi và tiếp tục cầu nguyện Thánh Allah, ăn thức ăn halal và hành hương đến Mecca nhưng vẫn là một thành viên tốt của xã hội thế tục, miễn là anh tuân thủ quy tắc đạo đức thế tục. Quy tắc đạo đức này, vốn được hàng triệu người Hồi giáo, Cơ Đốc giáo và Hindu giáo cũng như những người vô thần thừa nhận, tôn thờ giá trị của sự thật, lòng trắc ẩn, bình đẳng, tự do, lòng dũng cảm và tình thần trách nhiệm. Nó cấu thành nền tảng của các thể chế khoa học và dân chủ hiện đại.
Như mọi quy tắc đạo đức khác, quy tắc thế tục là một lý tưởng để hướng tới hơn là một thực tế xã hội. Cũng như các xã hội và thể chế Cơ Đốc thường đi chệch khỏi lý tưởng Cơ Đốc, các xã hội và thể chế thế tục thường không đạt được đến lý tưởng thế tục. Nước Pháp Trung cổ tự xưng là một vương quốc Cơ Đốc nhưng lại nhúng tay vào đủ loại hoạt động không Cơ Đốc cho lắm (cứ hỏi tầng lớp nông dân bị chà đạp thì rõ). Nước Pháp hiện đại tự xưng là một nhà nước thế tục, nhưng từ thời của Robespierre trở đi, nó đã tùy tiện đến đáng ngại với chính định nghĩa về tự do (cứ hỏi phụ nữ thì biết). Điều đó không có nghĩa là những người thế tục, ở Pháp cũng như ở các nơi khác, thiếu kim chỉ nam đạo đức hay cam kết đạo đức. Điều đó chỉ có nghĩa là không dễ gì để sống đạt đến lý tưởng.
LÝ TƯỞNG THẾ TỤC
Thế thì lý tưởng thế tục là gì? Cam kết thế tục quan trọng nhất là sự thật, thứ dựa trên quan sát và kiểm chứng hơn là đức tin thuần túy. Những người thế tục cố không nhầm lẫn sự thật với niềm tin. Nếu bạn có một niềm tin rất mạnh mẽ vào một câu chuyện nào đó, điều đó có thể nói lên rất nhiều điều thú vị về tâm lý, tuổi thơ và cấu trúc não bộ của bạn; nhưng nó không chứng minh được câu chuyện đó là đúng (Thường thường, người ta cần các niềm tin mạnh mẽ chính là khi câu chuyện không phải là sự thật).
Thêm nữa, những người thế tục không thần thánh hóa bất cứ điều gì như thể nó và chỉ mình nó nắm giữ độc quyền sự thật. Thay vào đó, những người thế tục tôn vinh sự thật bất cứ khi nào nó tự hiển lộ: trong những khúc xương hóa thạch cổ xưa, trong các hình ảnh của những thiên hà xa xôi, trong các bảng biểu thống kê hay trong các ghi chép về những truyền thống khác nhau. Sự cam kết dành cho sự thật này là nền tảng cho khoa học hiện đại, điều đã cho phép con người phân đôi nguyên tử, giải mã bản đồ gen, lần theo sự tiến hóa của sự sống và hiểu được lịch sử của bản thân loài người.
Một cam kết chính khác của những người thế tục là dành cho lòng trắc ẩn. Đạo đức thế tục không dựa trên việc tuân thủ các chỉ dụ của thần này hay Chúa nọ mà dựa vào sự thấu hiểu sâu xa về khổ đau. Chẳng hạn, người thế tục kiêng giết chóc không phải vì một cuốn sách cổ xưa nào đó cấm, mà vì giết chóc gây đau khổ cùng cực cho các sinh vật có cảm giác. Những người tránh giết chóc chỉ vì “Chúa nói thế” có điều gì đó đặc biệt đáng ngại và nguy hiểm. Những người đó có động lực là sự tuân phục hơn là lòng trắc ẩn; họ sẽ làm gì nếu họ đi đến chỗ tin rằng Chúa của họ ra lệnh cho họ giết chết bọn dị giáo, phù thủy, ngoại tình hay người nước ngoài?
Dĩ nhiên, khi thiếu vắng các điều răn thiêng liêng tuyệt đối thì đạo đức thế tục thường xuyên đối mặt với các lựa chọn giữa ngã ba đường khó khăn. Điều gì xảy ra khi cùng một hành động làm tổn thương người này nhưng lại giúp đỡ người khác? Liệu có đạo đức không khi áp thuế cao lên người giàu để giúp đỡ người nghèo? Khi phát động một cuộc chiến đẫm máu để loại bỏ một tên độc tài tàn bạo? Khi cho phép lượng người tị nạn không giới hạn vào đất nước mình? Khi người thế tục gặp phải các nan đề như vậy, họ không hỏi “Chúa ra lệnh gì?”. Thay vào đó, họ cẩn trọng cân đo cảm xúc của tất cả các bên liên quan, xem xét một loạt quan sát và khả năng, tìm một con đường trung lập đem lại ít tác hại nhất có thể.
Chẳng hạn, hãy xem xét các thái độ đối với bản năng giới tính. Những người thế tục quyết định ủng hộ hay phản đối hãm hiếp, đồng tính, tình dục giữa người và thú và loạn luân như thế nào? Bằng cách nghiên cứu các cảm xúc. Hãm hiếp rõ ràng là vô đạo đức, không phải vì nó vi phạm một điều răn thiêng liêng nào đó mà vì nó làm người ta bị tổn thương. Trái lại, một mối quan hệ yêu đương giữa hai người đàn ông chẳng làm hại ai cả, do đó chẳng có lý do gì để ngăn cấm.
Thế thì tình dục giữa người và thú thì sao? Tôi đã tham gia vô số cuộc tranh luận cả riêng tư lẫn công cộng về hôn nhân đồng tính và thường xuyên có một tay thông thái nào đó sẽ hỏi: “Nếu hôn nhân giữa hai người đàn ông là ổn thì tại sao không cho phép hôn nhân giữa một người đàn ông và một con dê đi?” Từ góc nhìn thế tục, câu trả lời là quá rõ ràng. Những mối quan hệ lành mạnh đòi hỏi chiều sâu về cảm xúc, trí tuệ và thậm chí là tinh thần. Một cuộc hôn nhân thiếu độ sâu đó sẽ làm bạn bực bội, cô đơn và chai lì về tâm lý. Trong khi hai người đàn ông rõ ràng có thể thỏa mãn các nhu cầu về tình cảm, trí tuệ và tinh thản của nhau, mối quan hệ với một con dê thì không. Do đó, nếu anh nhìn hôn nhân như một truyền thống nhằm nâng cao hạnh phúc của con người, như cách nhìn của những người thế tục, anh sẽ không bao giờ mơ đến chuyện đưa ra một câu hỏi kỳ quặc như vậy. Chỉ những người nhìn hôn nhân như một nghi thức kỳ diệu nào đó mới làm thế.
Thế còn mối quan hệ giữa cha và con gái thì sao? Cả hai đều là người, thế thì có gì sai? À, vô số nghiên cứu tâm lý học đã chỉ ra rằng những quan hệ kiểu này mang lại các tác hại vô cùng lớn và thường là không thể chữa lành đối với đứa con. Thêm nữa, chúng phản ánh và táng cường các khuynh hướng phá hoại ở người cha. Tiến hóa đã định hình tâm lý của Homo sapiens theo một kiểu mà các mối dây yêu đương không trộn lẫn được với các mối ràng buộc cha con. Do đó, bạn không cần Chúa hay Kinh Thánh để phản đối loạn luân; bạn chỉ cần đọc các nghiên cứu tâm lý học xác đáng.
Có một lý do sâu xa khiến những người thế tục tôn vinh sự thật khoa học: không phải để thỏa mãn sự tò mò của họ, mà để biết cách tốt nhất làm giảm khổ đau trên thế giới. Không có chỉ dẫn của các nghiên cứu khoa học, lòng trắc ẩn của chúng ta thường là mù quáng.
Cam kết song hành dành cho sự thật và lòng trắc ẩn cũng dẫn đến cam kết dành cho sự bình đẳng. Mặc dù có những ý kiến khác nhau khi đụng đến bình đẳng kinh tế và chính trị, những người thế tục về cơ bản nghi ngờ mọi trật tự xã hội có sẵn. Đau khổ là đau khổ, bất kể ai phải trải qua điều ấy; và kiến thức là kiến thức, bất kể ai phát hiện ra. Thiên vị trải nghiệm hay phát kiến của một dân tộc, tầng lớp hay giới tính nhất định sẽ khiến chúng ta vừa nhẫn tâm, vừa ngu xuẩn. Những người thế tục chắc chắn có tự hào về tính độc đáo của dân tộc, quốc gia và văn hóa của họ; nhưng họ không nhầm độc đáo với thượng đẳng. Do đó, mặc dù công nhận nghĩa vụ đặc biệt của mình đối với dân tộc và đất nước mình, người thế tục không nghĩ nghĩa vụ của họ là độc nhất, đồng thời thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với nhân loại nói chung.
Chúng ta không thể tìm kiếm sự thật và cách thoát khỏi khổ đau khi không được tự do ngẫm ngợi, điều tra và thử nghiệm. Vì lý do đó, những người thế tục tôn trọng tự do và hạn chế trao quyền lực tối thượng cho bất cứ văn bản, thể chế hay lãnh đạo với tư cách quan tòa tối cao phán xét cái gì là thật, là đúng. Con người luôn phải giữ quyền tự do nghi ngờ, kiểm tra lại, lắng nghe một ý kiến khác, thử một con đường khác. Những người thế tục ngưỡng mộ Galileo Galilei, người dám đặt câu hỏi liệu có đúng là Trái đất nằm bất động ở trung tâm vũ trụ; họ ngưỡng mộ đám đông thường dân đã tràn vào ngục Bastille năm 1789 và lật đổ thể chế bạo ngược của Louis XVI; họ ngưỡng mộ Rosa Parks, người đã can đảm ngồi xuống một chiếc ghế xe buýt chỉ dành riêng cho hành khách da trắng.
Cần rất nhiều can đảm để đấu tranh chống lại các định kiến và các thể chế áp bức, nhưng cần nhiều can đảm hơn nữa để thừa nhận sự ngu dốt và dấn thân vào vùng chưa được biết đến. Giáo dục thế tục dạy chúng ta rằng, nếu ta không biết một điều gì đó, ta không nên sợ thừa nhận sự thiếu hiểu biết của mình và đi tìm bằng chứng mới. Ngay cả khi ta nghĩ mình biết một cái gì đó, ta cũng không nên sợ việc nghi ngờ những ý kiến ấy và tự kiểm tra lại. Nhiều người sợ điều chưa biết và muốn những câu trả lời rõ ràng cho mọi vấn đề. Sợ hãi điều chưa biết có thể làm ta tê liệt hơn bất cứ tên độc tài nào. Con người xuyên suốt lịch sử đã lo ngại rằng nếu chúng ta không đặt toàn bộ niềm tin vào một bộ các câu trả lời tuyệt đối, xã hội con người sẽ sụp đổ. Trên thực tế, lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng, một xã hội gồm những con người dũng cảm, sẵn sàng thừa nhận ngu dốt và đặt những câu hỏi khó, thường không chỉ thịnh vượng hơn mà còn hòa bình hơn so với các xã hội trong đó con người phải tuân thủ một câu trả lời duy nhất không được bàn cãi. Những người sợ mất đi chân lý có xu hướng bạo lực hơn những người quen nhìn thế giới từ vài góc độ khác nhau. Các câu hỏi bạn không thể trả lời, thường có ích với bạn hơn là những câu bạn không thể hỏi.
Cuối cùng, những người thế tục tôn trọng trách nhiệm. Họ không tin vào bất cứ quyền năng cao vời nào sẽ chăm sóc thế giới, trừng phạt bọn độc ác, tưởng thưởng sự công bằng và bảo vệ chúng ta khỏi nạn đói, dịch bệnh hay chiến tranh. Do đó, những kẻ hữu tử bằng xương bằng thịt chúng ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về bất cứ thứ gì chúng ta làm hoặc không làm. Nếu thế giới tràn ngập đau khổ thì bổn phận của chúng ta là phải tìm giải pháp. Người thế tục tự hào về các thành tựu to lớn của xã hội hiện đại như chữa các bệnh dịch, cho người đói thức ăn và mang hòa bình đến những phần rộng lớn của thế giới. Chúng ta không cần ghi nhận những thành tựu này cho bất cứ đấng bảo vệ thần thánh nào; chúng là kết quả của những con người đã gây dựng tri thức và lòng trắc ẩn của riêng mình. Nhưng chính vì lý do đó, chúng ta cần chịu hoàn toàn trách nhiệm về những tội ác và thất bại của đời sống hiện đại, từ các cuộc diệt chủng cho đến suy thoái sinh thái. Thay vì cầu xin những điều kỳ diệu, chúng ta cần hỏi mình có thể làm gì để giúp.
Đây là những giá trị chính của thế giới thế tục. Như đã nói từ trước, không có giá trị nào trong số này là của riêng chủ nghĩa thế tục. Người Do Thái cũng đề cao sự thật, người Cơ Đốc tôn vinh lòng trắc ẩn, người Hồi coi trọng sự công bằng, người Hindu tôn trọng trách nhiệm,... Các xã hội và thể chế thế tục vui vẻ công nhận những mối quan hệ này và mở rộng vòng tay với những người Do Thái, Cơ Đốc, Hồi giáo và Hindu, miễn là khi quy tắc thế tục va chạm với học thuyết tôn giáo, tôn giáo phải nhường bước. Chẳng hạn, để được chấp nhận vào xã hội thế tục, người Do Thái Chính thống cần phải đối xử với người phi-Do Thái như những người bình đẳng với họ, người Cơ Đốc nên tránh thiêu bọn ngoại đạo trên giàn lửa, người Hồi phải tôn trọng tự do biểu đạt, và người Hindu phải từ bỏ phân biệt đối xử dựa trên đẳng cấp.
Trái lại, không ai bắt người theo đạo phải chối bỏ Chúa hay từ bỏ các nghi thức và nghi lễ truyền thống của mình. Thế giới thế tục đánh giá con người dựa trên hành vi của họ hơn là quần áo và lễ nghi họ yêu thích. Một người có thể theo những kiểu ăn mặc giáo phái quái đản nhất và thực hành các nghi lễ tôn giáo kỳ lạ nhất, nhưng vẫn hành xử theo một cam kết sâu thẳm đối với các giá trị thế tục cốt lõi. Có rất nhiều nhà khoa học Do Thái, nhà môi trường Cơ Đốc, nhà vận động nữ quyền Hồi giáo và các nhà hoạt động vì quyền con người Hindu giáo. Nếu họ trung thành với sự thật khoa học, với lòng trắc ẩn, với sự bình đẳng và voi tự do, họ là những thành viên đầy đủ tư cách của thế giới thế tục; không có bất cứ lý do gì để yêu cầu họ bỏ mũ yarmulke, thập tự, khăn trùm đầu hay chấm đỏ trên trán cả.
Vì những lý do tương tự, giáo dục thế tục không phải là một cuộc truyền giáo phủ định dạy trẻ em không tin vào Chúa và không tham gia vào bất cứ nghi thức tôn giáo nào. Thay vào đó, giáo dục thế tục dạy trẻ phân biệt sự thật với niềm tin, gây dựng lòng trắc ẩn với vạn vật đang chịu đau khổ, tôn trọng trí khôn và trải nghiệm với mọi cư dân Trái đất, suy nghĩ một cách tự do mà không sợ những điều chưa biết và chịu trách nhiệm với các hành động của mình cũng như của cho toàn thể thế giới.
THẾ TỤC VÀ KHÔNG THẾ TỤC
Stalin có thế tục không?
Do đó, sẽ là vô cân cứ khi chỉ trích chủ nghĩa thế tục vì thiếu cam kết đạo đức hay trách nhiệm xã hội. Trên thực tế, vấn đề cơ bản của chủ nghĩa thế tục chính là điều ngược lại. Có lẽ nó đã đặt mục tiêu đạo đức quá cao. Hầu hết mọi người đơn giản là không thể sống theo một quy tắc đòi hỏi cao như thế, và người ta không thể vận hành các xã hội lớn dựa trên một cuộc kiếm tìm chân lý và lòng trắc ẩn bỏ ngỏ như vậy. Đặc biệt là trong những thời kỳ khẩn trương như chiến tranh hay khủng hoảng kinh tế, xã hội phải hành động mau chóng và mạnh mẽ, ngay cả khi chúng không chắc điều gì là sự thật và điều trắc ẩn nhất phải làm là gì. Chúng cần các chỉ dẫn rõ ràng, những khẩu hiệu bùi tai và những tiếng trống trận bừng bừng khí thế. Khó mà điều binh lính ra trận hay áp đặt những cải cách kinh tế gốc rễ dưới danh nghĩa những suy đoán mơ hồ nên các phong trào thế tục hết lần này đến lần khác vụt biến thành các tín điều võ đoán.
Chẳng hạn, Karl Marx khởi đầu bằng cách tuyên bố mọi tôn giáo đều có những “cách thức” và khuyên khích các môn đệ của mình tự nghiên cứu bản chất thật sự của trật tự toàn cầu. Trong các thập kỷ kế tiếp, áp lực của cách mạng và chiến tranh làm việc áp dụng chủ nghĩa Marx trở nên “cứng”, và đến thời Stalin thì phương châm chính thức của Liên Xô nói rằng trật tự toàn cầu là quá phức tạp để những người bình thường có thể hiểu được. Nhìn thì có vẻ khác lạ nhưng như những nhà lý luận của họ vẫn luôn giải thích rằng cách mạng không phải là một cuộc dạo chơi.
Do đó, việc ta có nên xem Stalin là một lãnh đạo thế tục hay không phụ thuộc vào việc ta định nghĩa chủ nghĩa thế tục như thế nào. Nếu ta dùng định nghĩa phủ nhận đơn giản nhất, tức “người thế tục không tin vào Chúa”, thì Stalin rõ ràng là thế tục. Nếu ta sử dụng định nghĩa tích cực hơn, tức “người thế tục chối bỏ mọi giáo điều phi khoa học và cam kết bảo vệ sự thật, lòng trắc ẩn và tự do”, thì Marx là một danh nhân thế tục, còn Stalin là phi thế tục. Ông là nhà tiên tri của tôn giáo vô thần nhưng cực kỳ giáo điều của chủ nghĩa Stalin.
Chủ nghĩa Stalin không phải là một ví dụ duy nhất. Ở đầu bên kia của phổ chính trị, chủ nghĩa tư bản cũng khởi đầu như một lý thuyết khoa học rất cởi mở nhưng dần cứng rắn thành một giáo điều. Nhiều nhà tư bản tiếp tục tụng lại câu chú “thị trường tự do vạ phát triển kinh tế” bất chấp các hiện thực trên mặt đất. Dù các hậu quả kinh khủng nào xuất phát từ hiện đại hóa, công nghiệp hóa hay tư nhân hóa, những tín đồ trung thành của chủ nghĩa tư bản vẫn gạt bỏ chúng như những “cơn sốt vở da” thuần túy và hứa hẹn rằng mọi thứ sẽ được giải quyết êm xuôi bằng một chút tăng trưởng nữa thôi.
Các nhà dân chủ tự do đứng giữa thì trung thành với cuộc mưu cầu sự thật và lòng trắc ẩn thế tục hơn, nhưng ngay cả họ cũng thi thoảng từ bỏ nó để đi theo các tín điều xuôi tai. Do đó, khi đối mặt với mớ hỗn độn của các thể chế độc tài và các nhà nước thất bại, những người tự do thường đặt niềm tin mơ hồ vào nghi thức tuyệt vời như là các cuộc tổng tuyển cử. Họ gây chiến và tiêu tốn nhiều tỷ đô la vào những nơi như Iraq, Afghanistan và Congo trong niềm tin sắt đá rằng tổ chức các cuộc tổng tuyển cử sẽ biến những nơi này thành các phiên bản nhiều nắng hơn của Đan Mạch một cách diệu kỳ. Điều này ngó lơ các thất bại lặp đi lặp lại, và sự thật là ngay cả ở những nơi có truyền thống tổng tuyển cử vững vàng, các nghi thức ấy đôi khi đưa những nhà dân túy độc tài lên nắm quyền và kết quả không gì khác là một nền độc tài số đông. Nếu thử đặt câu hỏi về cái gọi là sự sáng suốt của các cuộc tổng tuyển cử kêu như trên; bạn sẽ không bị “sờ gáy” đâu, nhưng rất có thể bạn sẽ phải chịu một cuộc tổng xỉ vả giáo điều lạnh lẽo.
Dĩ nhiên, không phải mọi giáo điều đều có hại như nhau. Cũng như rất nhiều niềm tin tôn giáo đã làm lợi cho nhân loại, một số giáo điều thế tục cũng vậy. Điều này đặc biệt đúng khi nói về học thuyết nhân quyền. Nơi duy nhất tồn tại các quyền là những câu chuyện mà con người sáng tạo ra và kể cho nhau. Các câu chuyện này được thờ phụng như các giáo điều hiển nhiên trong cuộc chiến chống lại lòng tin tôn giáo mù quáng và các chính quyền độc đoán. Dù việc con người có quyền tự nhiên là được sống hay tự do là không đúng, niềm tin vào câu chuyện này kìm hãm quyền lực của các thể chế độc tài, bảo vệ những cộng đồng thiểu số và che chở cho hàng tỷ người khỏi những hậu quả tồi tệ nhất của nghèo đói và bạo lực. Do đó, nó đóng góp cho hạnh phúc và phúc lợi của nhân loại có lẽ còn nhiều hơn bất cứ tín điều nào trong lịch sử.
Thế nhưng, nó vẫn là một tín điều. Như Điều 19 trong Tuyên bố về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc nói rằng “Mọi người đều có quyền tự do suy nghĩ và biểu đạt.” Nếu chúng ta hiểu đây là một đòi hỏi chính trị (“ai cũng nên có quyền tự do suy nghĩ”) thì điều này hoàn toàn hợp lý. Nhưng nếu chúng ta tin rằng mỗi một người từ khi sinh ra đã có “quyền tự do suy nghĩ”, do vậy việc kiểm soát xâm phạm một luật lệ tự nhiên nào đó, chúng ta đã bỏ qua sự thật về nhân loại. Một khi bạn định nghĩa mình là “một cá nhân sở hữu các quyền tự nhiên không thể xâm phạm”, bạn sẽ không biết mình thật sự là ai và không hiểu các lực lượng lịch sử đã định hình xã hội cũng như đầu óc của bạn (bao gồm cả niềm tin của bạn vào “các quyền tự nhiên”).
Kiểu ngây ngô đó có lẽ không quan trọng lắm trong thế kỷ 20, khi người ta đang bị cuốn vào chiến tranh. Nhưng nó có thể trở nên chết người trong thế kỷ 21 bởi công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo giờ đang tìm cách thay đổi chính ý nghĩa của nhân loại. Nếu chúng ta cam kết bảo vệ quyền được sống, điều đó có nghĩa là ta nên dùng công nghệ sinh học để vượt qua cái chết ư? Nếu chúng ta cam kết bảo vệ quyền tự do, liệu ta có nên trao quyền cho các thuật toán giải mã và thực hiện các khao khát tiềm ẩn của chúng ta? Nếu mọi con người đều có nhân quyền ngang nhau thì siêu nhân có được hưởng siêu quyền không? Những người thế tục sẽ thấy khó tham gia vào những câu hỏi như vậy một khi họ vẫn gắn mình vào một niềm tin cứng nhắc về “quyền con người”.
Tín điều về nhân quyền được định hình trong các thế kỷ trước như một thứ vũ khí chống lại tòa án dị giáo, các chế độ quân chủ-quý tộc, phát xít và giáo phái Ku Klux Klan. Tín điều đó khó lòng đối phó với các siêu nhân, người-máy và các máy tính siêu thông minh. Trong khi phong trào nhân quyền đã phát triển một kho vũ khí rất ấn tượng gồm các lập luận và phản biện chống lại các thiên kiến tôn giáo và những nhà độc tài, kho vũ khí này khó bảo vệ chúng ta khỏi việc tiêu dùng quá mức và các xã hội công nghiệp không tưởng.
THỪA NHẬN BÓNG TỐI
Ta không nên đánh đồng chủ nghĩa thế tục với giáo điều hay những quả đắng của chủ nghĩa thực dân và công nghiệp hóa chụp giật phương Tây. Thế nhưng nó cũng không thể chối bỏ mọi trách nhiệm đối với chúng. Các phong trào thế tục và các tổ chức khoa học đã thôi miên hàng tỷ người bằng những hứa hẹn hoàn thiện nhân loại và sử dựng những của cải của hành tinh Trái đất cho lợi ích của loài người. Những hứa hẹn đó không chỉ đưa đến việc vượt qua các nạn đói và bệnh dịch mà còn xây lên các nhà tù và những chỏm băng tan chảy. Bạn hoàn toàn có thể tranh luận rằng toàn bộ là lỗi của những người hiểu sai và bóp méo các lý tưởng thế tục cốt lõi và các sự thật khoa học đúng đắn. Và bạn hoàn toàn đúng. Nhưng đấy là một vấn đề chung của tất cả các phong trào có ảnh hưởng.
Chẳng hạn, Cơ Đốc giáo cũng chịu trách nhiệm cho các tội lỗi ghê gớm như tòa án dị giáo, các cuộc Thập tự chinh, sự đàn áp các văn hóa bản địa trên khắp thế giới và việc tước đi quyền phụ nữ. Một người Cơ Đốc có thể không bằng lòng với điều này và phản bác rằng tất cả các tội lỗi ấy đến từ sự hiểu sai hoàn toàn Cơ Đốc giáo. Jesus chỉ rao giảng tình yêu và tòa án dị giáo dựa trên một sự hiểu biết bóp méo kinh khủng những lời rao giảng của Ngài. Chúng ta có thể đồng cảm với tuyên bố này, nhưng sẽ là không đúng nêu cho phép Cơ Đốc giáo biện minh dễ dàng như thế. Những người Cơ Đốc bị tòa án dị giáo và Thập tự chinh làm cho thất kinh không thể cứ thế phủi tay khỏi các lỗi lầm này; họ nên tự hỏi mình vài câu hỏi cực kỳ hóc búa. Chính xác là làm thế nào mà “tôn giáo tình yêu” của họ tự cho phép mình bị bóp méo đến mức đó, không chỉ một mà nhiều lần? Những người Tin Lành đang cố đổ hết lỗi cho chủ nghĩa Cơ Đốc cuồng tín được khuyên đọc một cuốn sách về hành vi của những kẻ thực dân theo đạo Tin Lành ở Ireland hay Bắc Mỹ. Tương tự, các nhà khoa học nên xem xét vì sao dự án khoa học của mình lại dễ dàng hợp với việc làm mất cân bằng hệ sinh thái toàn cầu đến thế và các nhà di truyền học cần đặc biệt cảnh giác trước các cách diễn dịch học thuyết Darwin theo kiểu của bọn phát xít.
Tôn giáo, tư tưởng và tín điều đều có mặt kia của nó; dù đi theo tín điều nào, bạn cũng phải công nhận mặt kia của mình và tránh kiểu đoán chắc ngây thơ là “điều đó không thể xảy đến với chúng ta”. Khoa học thế tục có ít nhất một lợi thế so với hầu hết các tôn giáo truyền thống khác: đó là nó vốn dĩ không khiếp sợ cái bóng của chính mình, và về nguyên tắc, nó sẵn sàng thừa nhận sai lầm cũng như điểm mù của nó. Nếu bạn tin vào một sự thật tuyệt đối do một thế lực siêu việt nào đó mặc khải, bạn không thể cho phép mình thừa nhận một sai lầm nào vì điều đó sẽ vô hiệu hóa toàn bộ câu chuyện của bạn. Nhưng nếu bạn tin vào một cuộc kiếm tìm chân lý của những con người có thể phạm sai lầm thì chấp nhận sai lầm là một phần của cuộc chơi.
Đấy cũng là lý do tại sao các phong trào thế tục phi giáo điều có xu hướng đưa ra các hứa hẹn khá khiêm tốn. Ý thức được sự không hoàn hảo của mình, họ hy vọng đem lại các thay đổi nhỏ, dần dà, tăng lương tối thiểu vài đô la hay giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh vài phần trăm. Các tư tưởng giáo điều có một dấu hiệu nhận biết là chúng thường xuyên thề thốt những điều bất khả vì sự tự tin thái quá của mình. Các thủ lĩnh của họ tự do nói về “vĩnh hằng”, “thuần khiết” và “cứu rỗi” như thể bằng cách đưa ra một bộ luật, xây một ngôi đền hay chinh phục một lãnh thổ nào đó, họ có thể đánh đổi tất cả để cứu vớt cả thế giới.
Khi đến lúc đưa ra cắc quyết định quan trọng nhất trong lịch sử sự sống, cá nhân, tôi sẽ đặt niềm tin vào những người thừa nhận sự ngu dốt hơn là những người tự cho là bất khả bại. Nếu bạn muốn tôn giáo, lý tưởng hay thế giới quan của mình dẫn dắt thế giới, câu hỏi đầu tiên của tôi là: “Đâu là sai lầm lớn nhất mà tôn giáo, lý tưởng hay thế giới quan của bạn đã phạm phải? Nó đã sai lầm ở đâu?”. Nếu bạn không thể nghĩ ra một điều gì nghiêm trọng, cá nhân tôi sẽ không tin bạn.
Phần 4 - Sự thật
Nếu trạng huống toàn cầu khiến bạn choáng ngợp và hoang mang, bạn đang đi đúng đường rồi đó. Các quá trình toàn cầu đã trở nên quá sức phức tạp để bất cứ cá nhân riêng lẻ nào có thể hiểu được. Thế thì làm sao bạn có thể biết được sự thật về thế giới và tránh trở thành nạn nhân của tuyên truyền và thông tin sai lệch?
Bài học 15 - Ngu dốt
BẠN BIẾT ÍT HƠN BẠN TƯỞNG
Các chương tiếp theo nghiên cứu một số vấn đề và diễn biến quan trọng nhất trong kỷ nguyên hiện tại, từ nguy cơ khủng bố bị thổi phồng đến nguy cơ đứt gãy do công nghệ bị đánh giá thấp. Nếu bạn cảm thấy lấn cấn rằng như thế là quá nhiều, rằng mình không thể xử lý hết, thì bạn hoàn toàn đúng rồi đấy. Không ai có thể cả.
Trong vài thế kỷ vừa qua, tư tưởng tự do đã phát triển một niềm tin bao la vào cá nhân có lý trí. Nó mô tả những cá thể người như các tác nhân có lý trí độc lập và biến những sinh vật huyền bí này thành nền tảng của xã hội hiện đại. Dân chủ được xây dựng dựa trên ý tưởng rằng cử tri là người biết rõ nhất, chủ nghĩa tư bản thị trường tự do tin rằng khách hàng luôn đúng và giáo dục tự do dạy sinh viên tự nghĩ cho bản thân.
Tuy nhiên, việc đặt quá nhiều niềm tin vào cá nhân lý trí là sai lầm. Các nhà tư tưởng hậu thuộc địa và nữ quyền đã chỉ ra rằng thứ “cá nhân lý trí” này hoàn toàn có thể chỉ là một ảo tưởng phương Tây có tính sô-vanh, vinh danh sự tự trị và sức mạnh của những gã đàn ông da trắng thuộc tầng lớp trên. Như đã nói hước đó, các nhà kinh tế học hành vi và các nhà tâm lý học tiến hóa đã chỉ ra rằng hầu hết các quyết định của con người dựa trên các phản ứng của cảm xúc và các lối tắt tự nghiệm hơn là phân tích lý trí, và trong khi cảm xúc và kiểu tự mày mò của chúng ta có thể phù hợp để đối phó với cuộc sống thời Đồ Đá, chúng lại thiếu thỏa đáng một cách đáng thương trong Thời đại Silicon.
Không chỉ lý tính mà cá nhân tính cũng là một huyền thoại. Con người hiếm khi tự mình suy nghĩ. Thay vào đó, chúng ta nghĩ theo nhóm. Như việc cả bộ lạc nuôi lớn một đứa trẻ, con người cũng cần cả bộ lạc mới phát minh được một công cụ, giải quyết một mâu thuẫn hay chữa một căn bệnh. Không cá thể nào biết tất cả mọi thứ cần thiết để tạo nên một nhà thờ, một quả bom nguyên tử hay một chiếc phi cơ. Điều khiến Homo sapiens có lợi thế hơn mọi loài vật khác và biến chúng ta thành chủ nhân của hành tinh này không phải là lý tính cá nhân mà là khả năng chưa từng có là nghĩ cùng nhau theo các nhóm lớn của chúng ta.
Từng cá thể người biết về thế giới ít đến đáng xấu hổ, và khi lịch sử tiến triển, họ càng ngày càng biết ít hơn. Một người săn bắt-hái lượm vào thời Đồ Đá biết cách tự làm quần áo của mình, biết cách nhóm lửa, săn thỏ và thoát khỏi sư tử. Chúng ta nghĩ ngày nay chúng ta biết nhiều hơn, nhưng xét cá nhân, thật ra chúng ta biết ít hơn nhiều. Chúng ta dựa vào chuyên môn của những người khác để thỏa mãn gần như mọi nhu cầu của mình. Trong một thí nghiệm “hạ bệ” con người, người ta được yêu cầu đánh giá xem mình hiểu cơ chế hoạt động của một cái khóa kéo thông thường đến mức nào. Hầu hết tự tin trả lời rằng họ rất hiểu khóa kéo; xét cho cùng, họ dùng chúng suốt còn gì. Sau đó, họ được yêu cầu mô tả càng chi tiết càng tốt mọi bước liên quan đến hoạt động của khóa kéo. Hầu hết chả biết chút gì. Đây là thứ mà Steven Sloman và Philip Fembach đặt tên là “ảo tưởng kiến thức”. Chúng ta nghĩ chúng ta biết rất nhiều, thậm chí dù mỗi cá nhân biết rất ít, bởi chúng ta xem kiến thức trong đầu những người khác như của chính mình.
Điều này không hẳn đã dở. Sự phụ thuộc của chúng ta vào suy nghĩ nhóm đã biến chúng ta thành chủ nhân thế giới và ảo tưởng kiến thức giúp ta đi qua cuộc đời mà không mác kẹt trong một nỗ lực tuyệt vọng phải tự mình tìm hiểu mọi thứ. Từ khía cạnh tiến hóa, việc tin vào kiến thức của người khác là cực kỳ hiệu quả đới với Homo sapiens.
Thế nhưng, như nhiều đặc điểm khác của con người từng hợp lý trong các thời đại trước nhưng lại gây rắc rối trong thời hiện đại, ảo tưởng kiến thức có mặt xấu của nó. Thế giới đang trở nên ngày một phức tạp và con người không nhận ra mình ngờ nghệch như thế nào đối với những việc đang xảy ra. Do đó, một người gần như không biết chút gì về khí tượng học hay sinh học vẫn đề xuất các chính sách về biến đổi khí hậu và cây trồng biến đổi gen, trong khi những người khác lại có các quan điểm rất mạnh bạo về những gì cần làm ở Iraq hay Ukraine mà không thể định vị các quốc gia này trên bản đồ. Con người hiếm khi nhận thức được sự ngu dốt của mình bởi họ nhốt mình trong một căn phòng phản âm có những người bạn mang suy nghĩ giống mình và những dòng tin tự xác thực, nơi niềm tin của họ liên tục được củng cố và ít khi bị thử thách.
Mang lại cho con người ngày càng nhiều thông tin và thông tin ngày càng tốt hơn không chắc đã cải thiện vấn đề. Các nhà khoa học hy vọng đập tan các quan điểm sai trái bằng việc giáo dục khoa học tốt hơn và các nhà bình luận hy vọng lay chuyển ý kiến của công chúng về các vấn đề như Obamacare hay nóng lên toàn cầu bằng cách đưa ra cho công chúng các dữ kiện và báo cáo chuyên môn chính xác. Những hy vọng đó dẫn tới một sự hiểu nhầm về cách con người thực sự suy nghĩ. Hầu hết quan điểm của chúng ta do suy nghĩ nhóm cộng đồng định hình, chứ không phải lý trí cá nhân; và chúng ta bám lấy các quan điểm đó do sự trung thành nhóm. Dội cho người ta hàng đống dữ kiện và phơi bày sự ngờ nghệch cá nhân của họ nhiều khả năng sẽ phản tác dụng. Hầu hết mọi người không thích quá nhiều dữ kiện, và chắc chắn họ không thích cảm thấy mình đần. Đừng quá chắc là bạn có thể thuyết phục những người, ủng hộ Phong trào tiệc trà nhìn ra sự thật về nóng lên toàn cầu bằng cách đưa cho họ mấy tờ dữ liệu thống kê.
Sức mạnh của suy nghĩ nhóm sâu sắc đến nỗi khó mà phá vỡ gọng kìm của nó ngay cả khi các quan điểm của nó có vẻ khá mơ hồ. Do đó ở Mỹ, những người bảo thủ cánh hữu có xu hướng ít quan tâm đến các thứ như ô nhiễm hay các loài bị đe dọa nguy cấp hơn là những người cấp tiến cánh tả rất nhiều; đấy là lý do vì sao Louisiana có các quy định về môi trường không chặt chẽ hơn nhiều so với Massachusetts. Chúng ta đã quen với tình huống này nên xem đó là đương nhiên, nhưng thật ra điều này khá là đáng ngạc nhiên. Người ta tưởng rằng những người bảo thủ sẽ quan tâm đến việc bảo tồn trật tự sinh thái cũ và bảo vệ đất đai, rừng cây và sông ngòi của tổ tiên hơn. Trái lại, người ta trông đợi những người cấp tiên tỏ ra cởi mở hơn nhiều đối với các thay đổi triệt để với đồng quê, đặc biệt nếu mục đích là để đẩy nhanh tiến bộ và gia tăng mức sống của con người. Tuy nhiên, một khi đường lối của đảng đã nhắm đến các vấn đề này do đôi ba sự kiện lịch sử ngẫu nhiên nào đó, việc bỏ qua các quan ngại về những dòng sông bị ô nhiễm và những loài chim đang biến mất trở nên hết sức tự nhiên, trong khi các đảng viên cấp tiến cánh tả lại có khuynh hướng e sợ bất cứ đứt gãy nào xảy ra với trật tự sinh thái cũ.
Ngay cả các nhà khoa học cũng không miễn nhiễm với sức mạnh của suy nghĩ nhóm. Thực tế, chính các nhà khoa học tin rằng dữ kiện có thể thay đổi ý kiến quần chúng cũng có thể trở thành nạn nhân của suy nghĩ nhóm trong khoa học. Cộng đồng khoa học tin vào hiệu lực của dữ kiện và những người trung thành với cộng đồng đó tiếp tục tin rằng họ có thể thắng trong các cuộc tranh luận công khai bằng cách ném ra xung quanh các dữ kiện đúng, dù có rất nhiều bằng chứng thực tiễn chứng minh điều ngược lại.
Tương tự, tự thân niềm tin tự do vào lý tính cá nhân có thể là sản phẩm của suy nghĩ nhóm tự do. Trong một khoảnh khắc cao trào trong bộ phim Cuộc đời của Brian của nhóm Monty Python, một đám đông khổng lồ các tín đồ mơ mộng nhầm Brian với Đấng Cứu thế. Brian nói với các đồ đệ của mình rằng: “Các người không cần đi theo tôi, các người không cần đi theo ai hết! Các người phải tự nghĩ cho mình! Các người đều là những cá nhân! Các người đều khác biệt!” Đám đông cuồng nhiệt sau đó đồng thanh hô: “Đúng! Chúng ta đều là các cá nhân! Đúng, chúng ta đều khác biệt!” Nhóm Monty Python đang nhại theo tính chính thống của phong trào phản văn hóa những năm 1960, nhưng điều này có thể đúng với niềm tin vào chủ nghĩa cá nhân lý trí nói chung. Các nền dân chủ hiện đại đầy rẫy những đám đông cùng đồng thanh hô hào: “Đúng, cử tri biết rõ nhất! Đúng, khách hàng luôn đúng!”
LỖ ĐEN QUYỀN LỰC
Vấn đề của suy nghĩ nhóm và ngu dốt cá nhân ảnh hưởng không chỉ các cử tri và người tiêu dùng bình thường mà cả các tổng thống và các giám đốc điều hành. Họ có thể có bên mình nhiều cố vấn và các cơ quan tình báo khổng lồ, nhưng điều đó không nhất thiết khiến mọi thứ tốt hơn. Cực kỳ khó khám phá ra sự thật khi bạn đang thống trị thế giới. Đơn giản là bạn quá bận. Hầu hết các thủ lĩnh chính trị và ông trùm kinh doanh lúc nào cũng bận tối mắt tối mũi. Thế nhưng, nếu bạn muốn đi sâu vào bất cứ chủ đề nào, bạn cần rất nhiều thời gian, đặc biệt là bạn cần cái đặc quyền được phung phí thời gian. Bạn cần thử nghiệm với những con đường không đích đến, khám phá các ngõ cụt, chừa chỗ cho sự nghi ngờ và sự nhàm chán, cho phép những hạt mầm thấu tỏ chậm rãi lớn lên và nở hoa. Nếu bạn không được phép phung phí thời gian, bạn sẽ không bao giờ tìm được sự thật.
Tệ hơn nữa, quyền lực lớn không tránh khỏi việc làm méo mó sự thật. Quyền lực chính là thay đổi hiện thực thay vì nhìn hiện thực như nó vốn dĩ. Khi bạn có một cái búa trong tay, mọi thứ trông đều giống một cái đinh; khi bạn có quyền lực lớn ở trong tay, mọi thứ trông như một lời mời gọi bạn nhúng mũi vào. Ngay cả khi bằng cách nào đó bạn vượt qua được thôi thúc ấy, những người xung quanh bạn sẽ không bao giờ quên cái búa khổng lồ bạn đang cầm trong tay. Bất cứ ai nói chuyện với bạn, vô tình hay hữu ý, đều có ý đồ riêng, do đó bạn không bao giờ có thể tin hoàn toàn những gì họ nói. Không vị đế vương nào có thể tin rằng triều thần và thuộc hạ sẽ nói với mình sự thật cả.
Do vậy, quyền lực lớn có tác dụng như một lỗ đen bóp méo chính không gian xung quanh nó. Bạn càng lại gần nó, mọi thứ càng méo mó. Mỗi lời nói ra trở nên nặng nề hơn khi đi vào quỹ đạo của bạn và mỗi người bạn gặp lại cố nịnh nọt, xoa dịu hay kiếm được một cái gì đó từ bạn. Họ biết bạn không thể cho họ nhiều hơn một hay hai phút, họ sợ nói một cái gì đó không phù hợp hay bị líu lưỡi; cuối cùng, họ chỉ thốt ra những khẩu hiệu trống rỗng hoặc những câu sến súa nhất trần đời.
Vài năm trước, tôi được mời dùng bữa tối với thủ tướng Israel, Benjamin Netanyahu. Bạn bè khuyến cáo tôi đừng có đi, nhưng tôi không cưỡng được cám dỗ. Tôi nghĩ cuối cùng, tôi có thể sẽ nghe được một vài bí mật to tát nào đó chỉ được tiết lộ cho những đôi tai quan trọng đằng sau những cánh cửa đóng kín. Thật là một thất vọng tràn trề! Có khoảng ba chục người ở đó và ai cũng cố thu hút sự chú ý của “người vĩ đại”, gây ấn tượng với ông bằng trí tuệ của mình, định kiếm cho mình một thứ gì đó từ ông. Nếu bất cứ ai ở đó biết điều gì bí mật thì họ đã xuất sắc giữ kín được chúng. Đây chắc chắn không phải lỗi của Netanyahu hay lỗi từ bất kỳ ai. Đấy là lỗi của lực hấp dẫn của quyền lực.
Nếu bạn thật sự muốn sự thật, bạn cần thoát khỏi lỗ đen quyền lực và cho phép mình lãng phí rất nhiều thời gian lang thang đây đó ở rìa ngoài. Những tri thức mang tính đột phá hiếm khi vào được trung tâm vì trung tâm được xây dựng trên các tri thức đã có sẵn. Những người “canh gác” trật tự cũ thường quyết định ai đến được trung tâm quyền lực và có xu hướng lọc đi những người mang đến các ý tưởng trái với thông lệ, gây xáo động. Dĩ nhiên, họ cũng lọc ra một lượng “rác rưởi” cực lớn. Không được mời đến Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos không phải là một chỉ dấu đảm bảo cho trí tuệ. Đấy là lý do bạn cần lãng phí rất nhiều thời gian ở rìa ngoài: nơi đó có thể chứa đựng một số ý tưởng cách mạng sáng chói xuất chúng, nhưng hầu hết là những suy đoán thiếu căn cứ, những mô hình đã lỗi thời, các tín điều và các thuyết âm mưu lạ thường.
Các lãnh đạo do đó bị mắc kẹt trong một ràng buộc kép. Nếu còn ngồi ở trung tâm quyền lực, họ sẽ có một cái nhìn không chính xác về thế giới. Nếu mạo hiểm ra bên lề, họ sẽ phung phí quá nhiều thời gian vàng bạc của mình. Và vấn đề sẽ chỉ ngày càng tệ thêm. Trong các thập kỷ tới, thế giới thậm chí sẽ trở nên phức tạp hơn ngày nay. Do đó, những con người cá thể, dù là quân tốt hay quân vương, sẽ biết ngày càng ít về các món đồ công nghệ, các dòng kinh tế và các động lực chính trị định hình thế giới. Như Socrates đã quan sát thấy từ hơn 2.000 năm trước, điều tốt nhất ta có thể làm trong các điều kiện như vậy là thừa nhận sự “ngu dốt” của cá nhân ta.
Nhưng còn đạo đức và công bằng thì sao? Nếu ta không thể hiểu thế giới, làm sao ta hy vọng nhìn thấy sự khác biệt giữa đúng và sai, giữa công lý và bất công?
Bài học 16 - Công lý
Ý THỨC VỀ CÔNG LÝ CỦA CHÚNG TA CÓ THỂ ĐÃ LỖI THỜI
Như mọi ý thức khác của chúng ta, ý thức công lý của chúng ta cũng có gốc rễ tiến hóa cổ xưa. Đạo đức con người được định hình trong hàng triệu năm tiến hóa để ứng phó với các tình thế lưỡng nan mang tính xã hội và đạo đức nảy sinh trong cuộc sống của các nhóm săn bắt-hái lượm nhỏ. Nếu tôi đi săn với anh và tôi giết được một con hươu trong khi anh chẳng bắt được gì, tôi có nên chia chiến lợi phẩm với anh? Nếu anh đi tìm nấm và trở về với một giỏ đầy, liệu việc tôi khỏe hơn anh có cho phép tôi giật tất cả chỗ nấm đó cho riêng mình? Và nếu tôi biết anh bày mưu giết tôi thì việc tôi “tiên hạ thủ vi cường” mà cắt cổ anh trong đêm có ổn không?
Xét bề ngoài thì có vẻ chưa có nhiều điều thay đổi từ lúc chúng ta rời đồng cỏ châu Phi để đến với rừng rậm thành thị. Người ta có thể cho rằng những câu hỏi chúng ta đối mặt ngày hôm nay, cuộc nội chiến Syria, bất công toàn cầu, nóng lên toàn cầu, cũng chỉ là những câu hỏi cũ “phình to ra”13. Nhưng đấy là một ảo tưởng. “Kích cỡ là quan trọng” và từ góc nhìn của công lý, cũng như nhiều góc nhìn khác, chúng ta chưa hề thích ứng với thế giới mình đang sống.
Vấn đề không nằm ở các giá trị. Dù vô thân hay mộ đạo, các công dân thế kỷ 21 có rất nhiều giá trị. Vấn đề nằm ở việc thực hành các giá trị này trong một thế giới toàn cầu phức tạp. Lỗi hoàn toàn nằm ở các con số. Cảm thức công lý của những kẻ săn bắt được cấu tạo để ứng phó với các thế lưỡng nan liên quan đến đời sống của vài chục người trong một vùng rộng vài chục kilomet vuông. Khi ta cố hiểu các mối tương quan giữa hàng triệu người khắp các lục địa, cảm thức luân lý của ta bị choáng ngợp.
Công lý không chỉ đòi hỏi một tập hợp các giá trị trừu tượng mà còn yêu cầu một sự hiểu biết về các mối quan hệ nhân-quả rõ ràng. Nếu anh hái một giỏ nấm để con anh ăn và giờ tôi dùng vũ lực cướp giỏ nấm của anh, nghĩa là mọi nỗ lực của anh thành công cốc và con cái anh phải ôm bụng đói đi ngủ, thì đó là bất công. Điều này dễ hiểu vì rất dễ thấy quan hệ nhân-quả. Thật không may, một đặc điểm cố hữu của thế giới toàn cầu hóa hiện đại của chúng ta là các quan hệ nhân-quả cực kỳ phân nhánh và phức tạp. Tôi có thể sống an bình ở nhà, không bao giờ nhấc một ngón tay lên hại ai; nhưng theo các nhà hoạt động cánh tả, tôi là một thành viên chính thức nhúng tay vào những sai trái mà binh lính và di dân Israel gây ra ở Bờ Tây. Theo các nhà xã hội chủ nghĩa, đời sống dễ chịu của tôi là dựa trên lao động trẻ em ở các công xưởng bóc lột tối tăm ở thế giới thứ ba. Các nhà hoạt động vì phúc lợi của động vật nhắc tôi nhớ rằng cuộc đời tôi gắn chặt với một trong những tội ác dã man nhất trong lịch sử: việc nhốt hàng tỷ con vật nuôi trong các chuồng trại theo một chế độ “bóc lột” tàn bạo.
Có thật là tôi đáng bị đổ tội cho tất cả những điều trên? Thật khó nói. Vì sự tồn tại của tôi phụ thuộc vào một hệ thống các quan hệ kinh tế và chính trị đáng kinh ngạc, và vì các liên kết nhân-quả toàn cầu quá nhằng nhịt, tôi thấy khó mà trả lồi ngay cả những câu hỏi đơn giản nhất, như bữa trưa của tôi đến từ đâu, ai làm ra đôi giày tôi đang đi và quỹ hưu của tôi đang làm gì với tiền của tôi.
ĐÁNH CẮP NHỮNG DÒNG SÔNG
Một người săn bắt-hái lượm tiền sử biết rất rõ bữa trưa của cô ta đến từ đâu (cô ta tự tìm lấy), ai làm ra đôi giày da của mình (gã nằm ngủ cách đó mười mét) và quỹ hưu của mình đang làm gì (đang chơi trong vũng bùn; hồi đó, con người chỉ có một quỹ hưu duy nhất, gọi là “con cái”). Tôi ngu dốt hơn người săn bắt-hái lượm đó rất nhiều. Nhiều người nghiên cứu có thể phơi bày một sự thật rằng chính quyền nhận được phiếu bầu của tôi đã bí mật bán vũ khí cho một nhà độc tài ám muội cách nửa vòng Trái đất. Nhưng trong khoảng thời gian cần thiết để phát hiện ra chuyện đó, tôi có thể sẽ bỏ lỡ nhiều phát hiện quan trọng hơn nhiều, ví dụ như số phận của những con gà mà tôi đã lấy trứng ăn cho bữa tối.
Hệ thống được cấu tạo theo một cách mà những người không nỗ lực tìm hiểu gì vẫn có thể “ngu si hưởng thái bình” và những người nỗ lực sẽ thấy rất khó phát hiện ra sự thật. Làm thế nào để tránh trộm cắp khi hệ thống kinh tế toàn cầu không ngừng nhân danh tôi “trộm cắp” mà tôi không hay biết? Chuyện bạn đánh giá hành động theo hậu quả của nó (trộm cắp là sai vì nó khiến các nạn nhân trở nên khốn khổ) hay tin rằng các bổn phận rõ ràng phải được tuân theo bất chấp hậu quả (trộm cắp là sai vì Chúa bảo thế) đều không quan trọng. Vấn đề là việc hiểu được ta đang thực sự làm gì đã trở nên cực kỳ phức tạp.
Điều răn không được ăn cắp được hình thành từ những ngày mà trộm cắp có nghĩa là lấy một cái gì đó không thuộc về mình bằng chính bàn tay mình. Thế nhưng ngày nay, các lập luận thực sự quan trọng về trộm cắp lại có những kịch bản hoàn toàn khác. Giả sử tôi đầu tư 10.000 đô la vào cổ phần của một tập đoàn xăng dầu lớn và thu về lợi nhuận là 5% một năm. Tập đoàn này cực lãi vì nó không phải trả các khoản ngoại ứng. Nó xả chất thải độc hại vào một con sông gần đó mà không thèm quan tâm đến sự hủy hoại mà nó gây ra cho nguồn nước trong vùng, sức khỏe cộng đồng hay động thực vật hoang dã ở địa phương. Nó sử dụng của cải của mình để thuê một quân đoàn luật sư nhằm bảo vệ nó khỏi bất cứ yêu cầu đền bù nào. Nó cũng kiểm soát những tay vận động hành lang để ngăn trở mọi nỗ lực đưa ra các quy định môi trường mạnh tay hơn.
Liệu ta có thể buộc tội tập đoàn này “ăn cắp một dòng sông” không? Và về cá nhân tôi thì sao? Tôi chẳng bao giờ đột nhập nhà ai hay giật những tờ đô la khỏi ví người khác. Tôi không biết tập đoàn cụ thể này sinh lợi nhuận theo cách nào. Tôi thậm chí còn không nhớ nổi một phần danh mục đầu tư của tôi là nằm ở đó. Thế thì tôi có phạm tội ăn cắp không? Làm sao ta hành xử có đạo đức khi ta không có cách nào biết được đủ mọi dữ liệu liên quan?
Người ta có thể né tránh vấn đề bằng cách thực hiện một kiểu “ý hướng luân lý”. Quan trọng là thứ tôi dự định, chứ không phải là thứ tôi thực sự làm hay hậu quả của thứ tôi làm. Tuy nhiên, trong một thế giới mà mọi thứ đều gắn kết với nhau, nhu cầu đạo đức tối thượng trở thành điều cấp thiết cần phải biết. Những tội ác khủng khiếp nhất trong lịch sử hiện đại không chỉ đến từ sự thù hằn và lòng tham mà từ sự ngu dốt và bàng quan nhiều hơn. Các quý cô người Anh duyên dáng rót tiền cho việc buôn bán nô lệ Thái Bình Dương bằng cách mua cổ phiếu và trái phiếu trong thị trường chứng khoán London mà không bao giờ đặt chân đến châu Phi hay Caribe. Rồi họ làm ngọt món trà bốn giờ chiều của mình bằng những viên đường trăng như tuyết được sản xuất trong các đồn điền như địa ngục mà họ chẳng biết chút gì.
Ở Đức cuối những năm 1930, giám đốc bưu điện địa phương có thể là một công dân gương mẫu lo lắng cho phúc lợi của nhân viên và cá nhân thì giúp đỡ những người đang mệt mỏi tìm kiếm, các bưu kiện thất lạc. Ông luôn là người đầu tiên đến chỗ làm và người cuối cùng về nhà; ngay cả trong những cơn bão tuyết, ông cũng đảm bảo bưu phẩm đến đúng giờ. Lạy Trời, chính cái bưu điện hiệu quả và mến khách của ông là một tế bào cốt yếu trong hệ thần kinh của nhà nước Quốc xã. Nó đẩy nhanh những tuyên truyền phân biệt chủng tộc, các lệnh tuyển quân đến Wehrmacht và các mệnh lệnh nghiêm ngặt đến chi nhánh SS địa phương. Có cái gì đó rất sai trái với ý hướng của những người không chân thành nỗ lực để biết.
Nhưng như thế nào thì mới tính là “một nỗ lực chân thành để biết”? Những người quản lý thư tín ở mọi đất nước nên mở thư mình đang phát rồi từ chức hoặc phản đối nếu họ phát hiện ra công cụ tuyên truyền của chính quyền ư? Giờ nhìn lại nước Đức Quốc xã những năm 1930 với một sự chắc chắn tuyệt đối về luân lý thì thật dễ dàng vì chúng ta biết chuỗi nguyên nhân-hậu quả dẫn đến đâu. Nhưng nếu không có sự thấu tỏ khi việc đã rồi ấy, sự chắc chắn về luân lý có thể vượt ngoài tầm với của chúng ta. Sự thật cay đắng là thế giới đơn giản đã trở nên quá sức phức tạp đối với những bộ óc săn bắt-hái lượm của chúng ta.
Hầu hết những bất công trong thế giới ngày nay bắt nguồn từ các thiên lệch quy mô lớn mang tính cấu trúc hơn là từ những thiên kiến cá nhân, và đầu óc săn bắt-hái lượm của chúng ta không tiến hóa để nhận ra được các thiên kiến mang tính cấu trúc. Chúng ta đều dự phần trong ít nhất một vài thiên kiến như vậy, và chúng ta đơn giản là không có thời gian cũng như năng lượng để phát hiện hết. Việc viết cuốn sách này dạy cho tôi bài học ở một mức độ cá nhân. Khi bàn về các vấn đề toàn cầu, tôi luôn có nguy cơ thiên vị quan điểm của giới tinh hoa toàn cầu hơn các nhóm thiệt thời khác. Giới tinh hoa toàn cầu điều khiển cuộc đối thoại, thế nên không thể bỏ qua quan điểm của họ được. Trái lại, các nhóm thấp cổ bé họng liên tục bị bịt miệng, do vậy ta dễ dàng quên họ, không phải vì ác tâm chủ động mà đơn giản là vì không biết.
Chẳng hạn, tôi không biết gì về quan điểm và vấn đề riêng biệt của những người Tasmania bản địa. Thực sự là tôi biết ít đến nỗi trong một cuốn sách trước, tôi đã cho rằng người Tasmania bản địa không còn tồn tại nữa vì họ đã bị những di dân châu Âu xóa sổ hoàn toàn. Thực tế, có hàng ngàn người còn sống đến ngày nay có gốc gác tổ tiên từ người Tasmania bản địa và họ đấu tranh với rất nhiều vấn đề riêng; một trong số đó là sự tồn tại của họ thường xuyên bị chối bỏ bởi chính cả những học giả uyên bác.
Ngay cả khi bản thân bạn thuộc về một nhóm yếu thế, do đó có một hiểu biết trực tiếp sâu sắc về quan điểm của nhóm, cũng không có nghĩa là bạn hiểu quan điểm của tất cả các nhóm như thế. Vì mỗi nhóm và phân nhóm lại đối mặt với một mê cung các giới hạn vô hình, các tiêu chuẩn kép, các xúc phạm ngầm và các phân biệt mang tính hệ thống khác nhau. Một người đàn ông Mỹ gốc Phi 30 tuổi có 30 năm kinh nghiệm làm một người đàn ông Mỹ gốc Phi. Nhưng anh ta không có chút kinh nghiệm nào về việc làm một người đàn bà Mỹ gốc Phi, một người Roma gốc Bulgaria, một người Nga mù hay một người đồng tính nữ Trung Quốc.
Trong quá trình trưởng thành, người đàn ông Mỹ gốc Phi này liên tục bị cảnh sát chặn lại và lục soát không vì lý do gì rõ ràng cả, một điều mà người đồng tính nữ Trung Quốc không bao giờ phải trải qua. Trái lại, sinh ra trong một gia đình Mỹ gốc Phi tại một khu dân cư toàn người Mỹ gốc Phi có nghĩa là vây quanh anh ta là những người như anh ta, họ dạy anh ta những gì anh ta cần biết để sinh tồn và phát triển với tư cách một người đàn ông Mỹ gốc Phi. Người, đồng tính nữ Trung Quốc không được sinh ra trong một gia đình đồng tính nữ trong một khu dân cư đồng tính nữ và có lẽ cô ta chẳng có ai trên đời để chỉ dạy những bài học quan trọng. Do đó, lớn lên là người da đen ở Baltimore không hề khiến việc hiểu được cuộc đấu tranh khi lớn lên là một người đồng tính nữ ở Hàng Châu dễ dàng hơn.
Trong những thời kỳ trước, việc này ít quan trọng hơn vì bạn chẳng phải chịu trách nhiệm cho số phận của những người cách mình nửa vòng Trái đất. Thường thì bạn chỉ cần cố gắng thông cảm với những người láng giềng kém may mắn hơn mình đã là đủ. Nhưng ngày nay các cuộc tranh luận lớn toàn cầu về những thứ như biến đổi khí hậu và trí tuệ nhân tạo có tác động lên tất cả mọi người, dù ở Tasmania, Hàng Châu hay Baltimore; thế nên chúng ta cần xem xét mọi quan điểm. Nhưng làm sao có ai làm được chuyện đó? Làm sao có ai hiểu được mạng lưới quan hệ giữa hàng ngàn nhóm chằng chịt khắp thế giới?
GIẢM NHẸ HAY CHỐI BỎ?
Ngay cả khi thật sự muốn, hầu hết chúng ta đều không còn khả năng hiểu được những vấn đề đạo đức lớn trên thế giới nữa. Con người có thể hiểu được mối quan hệ giữa hai người hái lượm, giữa hai mươi người hái lượm hay giữa hai bộ lạc láng giềng. Nhưng khả năng hiểu mối quan hệ giữa vài triệu người Syria, giữa 500 triệu người châu Âu hay giữa tất cả các nhóm và phân nhóm chằng chéo nhau trên hành tinh là cực kém.
Trong cố gắng hiểu và đánh giá các vấn đề đạo đức lưỡng nan ở quy mô này, con người thường tìm đến một trong bốn phương pháp. Đầu tiên là thu nhỏ vấn đề. Để hiểu cuộc nội chiến Syria như thể nó đang diễn ra giữa hai người hái lượm chẳng hạn, hình dung thể chế của Assad là một người cô độc với quân nổi loạn là một người khác; một trong số đó là xấu và phía còn lại là tốt. Sự phức tạp mang tính lịch sử của mâu thuẫn được thay bằng một cốt truyện đơn giản, rõ ràng.
Cách thứ hai là tập trung vào một câu chuyện cảm động về con người, có vẻ như tượng trưng cho toàn bộ mâu thuẫn. Khi bạn cố giải thích với người khác sự phức tạp thực sự của mâu thuẫn bằng thống kê và dữ liệu chính xác, họ sẽ không thèm lắng nghe; nhưng một câu chuyện cá nhân về số phận của một đứa trẻ sẽ kích hoạt các tuyến lệ, làm máu sôi lên và tạo ra sự chắc chắn đạo đức giả tạo. Đây là điều mà rất nhiều tổ chức từ thiện đã hiểu ra từ rất lâu rồi. Trong một thí nghiệm đáng lưu ý, người ta được yêu cầu quyên tiền để giúp một bé gái bảy tuổi đến từ Mali tên là Rokia. Nhiều người cảm động vì câu chuyện của cô bé và mở cả trái tim lẫn hầu bao. Tuy nhiên, khi các nhà nghiên cứu thêm vào câu chuyện cá nhân của Rokia số liệu về vấn đề rộng hơn là nghèo đói ở châu Phi, những người tham gia lập tức trở nên ít sẵn lòng hẳn. Trong một nghiên cứu khác, các học giả mở các cuộc quyên góp để giúp đỡ một đứa bé bị bệnh hoặc tám đứa bé bị bệnh. Mọi người cho một đứa bé nhiều tiền hơn cho nhóm tám đứa bé.
Phương pháp thứ ba để đương đầu với các vấn đề đạo đức lưỡng nan quy mô lớn là thêu dệt các thuyết âm mưu. Nền kinh tế toàn cầu hoạt động như thế nào và nó là tốt hay xấu? Câu hỏi quá phức tạp để có thể nắm bắt. Sẽ dễ hơn nhiều khi tưởng tượng 20 tay đại tỷ phú đang giật dây sau sân khấu, kiểm soát truyền thông và khích bác gây chiến tranh hòng làm giàu cho bản thân. Điều này hầu như luôn là một ảo tưởng vô căn cứ. Thế giới ngày nay là quá phức tạp, không chỉ đối với cảm quan công lý mà với cả khả năng quản lý của chúng ta nữa. Không ai, kể cả những đại tỷ phú, CIA, Hội Tam Điểm và Hội trưởng lão Do Thái, thực sự hiểu điều gì đang diễn ra trên thế giới. Thế nên không ai có khả năng giật dây hiệu quả cả.
Ba phương pháp này cố tìm cách chối bỏ sự phức tạp thực sự của thế giới. Phương pháp thứ tư, và cuối cùng, là tạo ra một giáo lý, đặt niềm tin của chúng ta vào một lý thuyết, tổ chức hay lãnh đạo được coi là toàn tri nào đó và đi theo nó dù nó dẫn ta đến đâu. Các giáo lý tôn giáo và ý thức hệ vẫn cực kỳ hấp dẫn trong thời đại khoa học chính vì chúng mang đến cho ta một bến đỗ an toàn khỏi sự phức tạp nản lòng của hiện thực. Như đã nói lúc trước, các phong trào thế tục không được miễn trừ khỏi mối nguy hiểm này. Ngay cả khi bạn bắt đầu bằng cách chối bỏ mọi giáo lý tôn giáo và một cam kết sắt đá vào sự thật khoa học, chẳng mấy chốc sự phức tạp của hiện thực cũng sẽ làm bạn bực mình đến nỗi bạn sẽ bị lôi kéo đến chỗ rập khuôn một học thuyết mà không ai có thể nghi ngờ. Trong khi các học thuyết như vậy mang lại cho con người sự an ủi về trí tuệ và sự chắc chắn về đạo đức, chuyện nó có mang lại công lý hay không thì vẫn phải bàn.
Thế thì ta phải làm sao đây? Liệu ta có nên tiếp nhận giáo lý tự do và tin tưởng vào khối tập hợp của các cử tri và khách hàng riêng lẻ? Hay ta nên chối bỏ cách tiếp cận cá nhân hóa và, như nhiều nền văn hóa trước đây trong lịch sử, trao quyền cho các cộng đồng để cùng nhau hiểu thế giới? Tuy nhiên, một giải pháp như thế chỉ giúp ta tránh vỏ dưa của sự ngờ nghệch cá nhân mà gặp phải vỏ dừa là suy nghĩ nhóm đầy thiên kiến mà thôi. Các nhóm săn bắt-hái lượm, các cộng đồng làng xã và cả các khu dân cư thành thị đã từng có thể cùng nhau nghĩ về các vấn đề chung mà họ đối mặt. Nhưng giờ chúng ta đang phải gánh chịu các vấn đề toàn cầu mà không có một cộng đồng toàn cầu, facebook, chủ nghĩa dân tộc hay tôn giáo đều chưa đạt đến việc tạo ra một cộng đồng như thế. Tất cả các nhóm người đang tồn tại đều đang mải mê xúc tiến các lợi ích riêng của mình hơn là hiểu được sự thật toàn cầu. Cả người Mỹ, người Trung Quốc, người Hồi hay người Hindu dều không cấu thành “cộng dồng toàn cầu”; thế nên mọi phiên bản diễn dịch hiện thực của họ dều có thể khó chính xác.
Thế thì liệu chăng ta nên từ bỏ và tuyên bố là cuộc kiếm tìm để hiểu được sự thật và tìm ra công lý của loài người đã thất bại? Liệu ta dã chính thức bước vào kỷ nguyên “Hậu-sự thật”?
Bài học 17 - "Hậu - sự thật"
MỘT SỐ TIN GIẢ TỒN TẠI MÃI MÃI
Những ngày này chúng ta liên tục được nhắc nhở rằng mình đang sống trong một thời đại mới và đáng e ngại có tên là “Hậu-sự thật”, rằng những hư cấu hiện diện quanh ta. Chẳng khó tìm ví dụ. Vào cuối tháng Hai năm 2014, các đội đặc nhiệm Nga chiếm đóng một số vùng quan trọng ở Crimea. Người ta phủ nhận đó là quân đội Nga, thay vào đó mô tả họ là các “nhóm tự vệ” tự phát có thể đã kiếm được quân phục trông như của Nga từ các cửa hàng địa phương. Khi họ lên tiếng về tuyên bố khá phi lý này, Putin và các trợ lý của ông biết rất rõ rằng họ đang nói dối.
Những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga có thể bào chữa cho lời nói dối này bằng cách lập luận rằng nó phục vụ một sự thật cao hơn. Nga đã tham gia vào một cuộc chiến chính nghĩa, và nếu giết được vì một lý do chính đáng, chắc chắn cũng không sao khi nói dối? Mục tiêu cao hơn được cho là biện minh được việc tiến vào Crimea là bảo vệ tổ quốc Nga thiêng liêng. Theo các truyền thuyết dân tộc Nga thì nước Nga là một thực thể thiêng liêng đã tồn tại suốt hàng ngàn năm qua, bất kể những nỗ lực hết lần này tới lần khác của các kẻ thù xấu xa nhằm xâm lược và chia năm xẻ bảy đất nước. Theo sau người Mông Cổ, người Ba Lan, người Thụy Điển, đại quân của Napoleon và quân đội Quốc xã của Hitler, vào năm 1990, chính NATO, Mỹ và EU cố tiêu diệt nước Nga bằng cách chia rẽ từng phần của đất nước và biến chúng thành các quốc gia “giả” như là Ukraine. Đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga, ý nghĩ Ukraine là một nước độc lập tách khỏi nước Nga là “lời nói dối” lớn hơn rất nhiều so với bất cứ lời nào được thốt ra trong nhiệm vụ thiêng liêng nhằm tái hợp nhất tổ quốc Nga.
Các công dân Ukraine, những quan sát viên bên ngoài và các sử gia chuyên nghiệp có thể dễ dàng nổi giận với lối giải thích trên và xem nó như một “hư cấu bom nguyên tử”. Việc tuyên bố Ukraine không tồn tại với tư cách một dân tộc và một đất nước độc lập là bỏ qua một danh sách dài các sự thật lịch sử; chẳng hạn, trong hàng ngàn năm được cho là thống nhất của Nga, Kiev và Moscow chỉ là các phần của cùng một nước trong khoảng 300 năm. Quan trọng hơn cả, nó không tính đến điều mà hàng triệu người Ukraine nghĩ về mình. Chẳng lẽ họ không có tiếng nói trong việc tuyên bố mình là ai hay sao?
Các nhà dân tộc chủ nghĩa Ukraine chắc chắn sẽ đồng ý với các nhà dân tộc chủ nghĩa Nga rằng, đúng là có một số nước “giả” ở quanh đây. Nhưng Ukraine không phải là một trong số đó. Thay vào đó, những quốc gia giả mạo này là ‘Cộng hòa Dân tộc Luhansk’ và ‘Cộng hòa Donetsk’ mà Nga đã thiết lập để che giấu cuộc xâm lược chưa được tiến hành của mình đối với Ukraine.
Dù bạn ủng hộ phe nào thì có vẻ như quả thật, chúng ta đang sống trong một thời kỳ Hậu-sự-thật đáng e ngại. Nhưng nếu đây là kỷ nguyên Hậu-sự-thật thì chính xác lúc nào là thời kỳ Sự thật yên ả? Vào những năm 1980 ư? Hay những năm 1950? Hay những năm 1930? Và điều gì khơi mào cho sự chuyển tiếp của chúng ta sang kỷ nguyên Hậu-sự thật? Mạng Intemet? Truyền thông xã hội? Sự nổi lên của Putin và Trump?
Một cái nhìn lướt qua lịch sử cho thấy tuyên truyền và gây nhiễu thông tin chẳng phải cái gì mới, ngay cả thói quen phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại cả một quốc gia và tạo ra các quốc gia giả cũng có nguồn gốc lâu đời. Vào năm 1931, quân đội Nhật dàn dựng các cuộc tấn công giả vào chính mình để biện minh cho hành vi xâm lược Trung Quốc, rồi tạo một nước giả là Mãn Châu quốc để hợp thức hóa các cuộc chinh phạt của mình. Việc người Anh định cư ở Úc được biện minh bằng học thuyết pháp lý terra nullius (tiếng Latin, tức “vùng đất không người”), kết quả là xóa sổ 50.000 năm lịch sử của người bản địa Úc.
Vào đầu thế kỷ 20, một khẩu hiệu Do Thái được ưa thích nói đến sự trở lại của “một dân tộc không đất đai (người Do Thái) về một vùng đất không dân tộc (Palestine)”. Sự tồn tại của cộng đồng người Ả Rập bản địa bị phớt lờ “nhẹ như không”. Vào năm 1969, thủ tướng Israel Golda Meir có một phát biểu nổi tiếng rằng không có và cũng chưa từng có người Palestine. Những quan điểm như vậy vẫn rất phổ biến ở Israel thậm chí ngay cả ngày nay, dẫu qua nhiều thập kỷ xung đột vũ trang với một thứ không tồn tại. Chẳng hạn, vào tháng Hai năm 2016, bà Anat Berko có một bài phát biểu trước những người đồng nhiệm của mình ở Nghị viện Israel, trong đó bà nghi ngờ tính xác thực của dân tộc Palestine. Bằng chứng của bà ư? Chữ cái p thậm chí còn không tồn tại trong tiếng Ả Rập, thế thì làm sao có dân tộc Palestine được (trong tiếng Ả Rập, chữ f thay cho chữ p trong các ngôn ngữ khác và tên tiếng Ả Rập của Palestine là Falastin)?
LOÀI HẬU - SỰ THẬT
Trên thực tế, con người vốn luôn sống trong thời kỳ Hậu-sự thật. Homo sapiens là một loài Hậu-sự thật, sức mạnh của nó phụ thuộc vào việc tạo ra và tin vào các câu chuyện hư cấu. Từ thời Đồ Đá, các truyền thuyết tự gia cường đã giúp đoàn kết các cộng đồng người. Thực sự, Homo sapiens chinh phục hành tinh này trên hết là nhờ khả năng độc đáo là sáng tạo và lan truyền những câu chuyện hư cấu. Chúng ta là loài có vú duy nhất có thể hợp tác với vô số người xa lạ vì chỉ chúng ta mới có thể phát minh ra các câu chuyện hư cấu, lan truyền chúng và thuyết phục hàng triệu người khác tin vào chúng. Miễn là mọi người đều tin vào những câu chuyện giống nhau thì chúng ta sẽ đều tuân thủ các điều luật giống nhau và từ đó có thể hợp tác hiệu quả.
Thế nên nếu bạn đổ lỗi cho Facebook hay Trump đã mang đến một kỷ nguyên mới và đáng sợ là kỷ nguyên Hậu-sự thật, hãy nhắc cho mình nhớ là nhiều thế kỷ trước, hàng triệu người Cơ Đốc đã nhốt mình vào một cái bong bóng-huyền thoại-tự gia cường, không bao giờ dám đặt câu hỏi về tính xác thực của Kinh Thánh, trong khi hàng triệu người Hồi giáo đã đặt niềm tin không lay chuyển vào kinh Quran. Trong hàng ngàn năm, rất nhiều thứ được cho là “tin tức” và “dữ kiện” trong các mạng lưới xã hội loài người là những câu chuyện về những điều kỳ diệu, thiên thần, ác quỷ và phù thủy, với các phóng viên xông xáo tường thuật trực tiếp từ những hố sâu nhất của thế giới ngầm. Chúng ta không có bằng chứng khoa học về việc Eve bị con rắn cám dỗ, linh hồn của tất cả những kẻ ngoại đạo bị thiêu dưới địa ngục sau khi chết hay đấng tạo ra vũ trụ không thích việc một người Bà-la-môn cưới một kẻ tiện dân (tầng lớp Dalit); thế nhưng biết bao người đã tin vào những câu chuyện này trong hàng ngàn năm. Một số tin hư cấu còn tồn tại mãi.
Tôi biết nhiều người có thể sẽ không hài lòng khi tôi đánh đồng tôn giáo với hư cấu, nhưng chính xác đấy là ý của tôi. Khi một ngàn người tin vào một câu chuyện được dựng ra trong một tháng, thì đấy là hư cấu. Khi một tỷ người tin chuyện đó trong một ngàn năm, đấy là tôn giáo; và chúng ta được khuyên là không được gọi nó là “hư cấu” để không làm tổn thương cảm xúc của những người có đạo (hay làm họ nổi cơn giận). Tuy nhiên, hãy nhớ là tôi không phủ nhận tính hiệu lực hay sự rộng lượng tiềm tàng của tôn giáo. Ngược lại là khác. Dù tốt hay xấu, chuyện hư cấu nằm trong số những công cụ hiệu quả nhất trong bộ công cụ của loài người. Bằng cách kết nối mọi người lại với nhau, các tôn giáo khiến việc hợp tác trên quy mô lớn giữa con người trở nên khả dĩ. Chúng truyền cảm hứng cho người ta xây bệnh viện, trường học và cầu đường ngoài quân đội và nhà tù. Adam và Eve chưa bao giờ tồn tại, nhưng Nhà thờ lớn Chartres vẫn tuyệt đẹp. Kinh Thánh có thể có chi tiết hư cấu, nhưng nó vẫn có thể mang đến niềm vui cho hàng tỷ người và vẫn có thể khuyên khích con người trở nên bác ái, dũng cảm và sáng tạo như các tác phẩm hư cấu vĩ đại khác, như Don Quixote, Chiến tranh và hòa bình và bộ truyện về Harry Potter.
Một lần nữa, một vài người có thể thấy bị xúc phạm vì tôi so sánh Kinh Thánh với truyện Harry Potter. Nếu bạn là một người Cơ Đốc có đầu óc khoa học, bạn có thể giải thích được tất cả các truyền thuyết và mâu thuẫn trong Kinh Thánh bằng cách phản biện rằng, sách thiêng không bao giờ được viết ra để đọc lấy dữ kiện thực mà để dùng như một câu chuyện mang tính ẩn dụ, hàm chứa trí tuệ sâu xa. Nhưng chẳng phải truyện Harry Potter cũng thế hay sao?
Nếu bạn là một người Cơ Đốc chính thống, chắc bạn sẽ khăng khăng cho rằng mọi lời của Kinh Thánh đều là sự thật theo nghĩa đen. Giả dụ là bạn đúng, rằng Kinh Thánh quả thực là lời không thể sai khác của một vị Chúa đích thực duy nhất. Thế thì bạn coi kinh Quran, kinh Talmud, kinh Mormon, kinh Vệ Đà, kinh Avesta, Sinh tử Kỳ thư của Ai Cập là gì? Chẳng phải bạn muốn nói tất cả những văn bản này đều là (những câu chuyện hư cấu) tạo ra hay sao? Rồi bạn nhìn nhận sự thiêng liêng của các vị vua La Mã như Augustus và Claudius như thế nào? Thượng viện La Mã tự cho mình có quyền năng biến người thường thành thần linh, rồi yêu cầu con dân của đế chế phải thờ phụng các vị thần này. Chẳng phải đó là một sự hư cấu sao? Thực tế, chúng ta có ít nhất một ví dụ trong lịch sử về một vị thần giả đã thừa nhận sự hư cấu đó bằng chính miệng mình. Như đã nói từ trước, chế độ quân sự Nhật Bản vào những nâm 1930 và đầu 1940 dựa vào một niềm tin cuồng tín về sự thiêng liêng của Nhật hoàng Hirohito. Sau thất bại của Nhật Bản, Hirohito tuyên bố công khai rằng điều đó không đúng, rằng ông không phải là một vị thần.
Thế nên ngay cả khi tin rằng Kinh Thánh đích thực là lời Chúa, điều đó vẫn để lại chúng ta với hàng tỷ người Hindu, Hồi giáo, Do Thái, Ai Cập, La Mã và Nhật Bản sùng đạo đặt niềm tin vào những câu chuyện được truyền tụng suốt hàng ngàn năm nay. Một lần nữa, điều đó không có nghĩa các câu chuyện này là không có giá trị hay có hại. Chúng vẫn đẹp tuyệt và gợi cảm hứng.
Dĩ nhiên, không phải mọi truyền thuyết tôn giáo đều có lợi như nhau. Vào ngày 29 tháng Tám năm 1255, xác một cậu bé người Anh chín tuổi tên là Hugh được tìm thấy trong một cái giếng ở thị trấn Lincoln. Ngay cả khi không có Facebook và Twitter, tin đồn vẫn nhanh chóng lan đi rằng Hugh bị những người Do Thái địa phương sát hại theo nghi thức hiến tế. Câu chuyện ngày càng được thêm thắt và một trong những người kể chuyện nổi tiếng nhất nước Anh lúc bấy giờ, Matthew Paris, đã cung cấp một mô tả chi tiết và ghê rợn về cách những người Do Thái danh tiếng ở khắp nước Anh tụ tập ở Lincoln để nuôi béo, tra tấn và cuối cùng là đóng đinh đứa trẻ bị bắt cóc. Mười chín người Do Thái đã bị xét xử và tử hình vì tội giết người. Nhiều vụ vu vạ hiến tế tương tự trở nên phổ biến ở các thị trấn khác ở Anh, dẫn đến một loạt các cuộc tàn sát trong đó nhiều cộng đồng bị xóa sổ. Cuối cùng, vào năm 1290, toàn bộ dân số Do Thái ở Anh bị trục xuất.
Câu chuyện không dừng ở đó. Một thế kỷ sau sự trục xuất của người Do Thái khỏi Anh quốc, Geoffrey Chaucer, cha đẻ của văn học Anh, đã đưa một câu chuyện vu vạ hiến tế dựa trên câu chuyện của Hugh vùng Lincoln vào Những chuyện kể Canterbury (“Chuyện bà tu viện trưởng”). Câu chuyện kết thúc bằng việc treo cổ người Do Thái. Những câu chuyện hiến tế tương tự sau đó đã trở thành một phần không thể thiếu của mọi phong trào bài-Do Thái từ Tây Ban Nha cuối thời Trung cổ đến một vài nước hiện tại. Ta có thể nghe thấy tiếng vọng xa xăm của nó trong câu chuyện “tin giả” năm 2016 rằng Hillary Clinton đứng đầu một đường dây buôn bán trẻ em đã giam giữ trẻ con để làm nô lệ tình dục trong tầng hầm một tiệm pizza nổi tiếng. Có đủ người Mỹ tin vào câu chuyện đó để ảnh hưởng xấu đến cuộc tranh cử của Clinton; thậm chí, một người đã mang súng đến tiệm pizza nói trên và yêu cầu cho xem tầng hầm (hóa ra tiệm pizza đó khống có tầng hầm).
Còn về Hugh vùng Lincoln, chẳng ai biết vì sao cậu bé chết, nhưng cậu được an táng trong Nhà thờ lớn Lincoln và được phong thánh. Nghe đồn cậu thi triển được nhiều phép mầu và mộ cậu vẫn tiếp tục thu hút khách hành hương ngay cả nhiều thế kỷ sau việc trục xuất toàn bộ người Do Thái khỏi Anh. Chỉ đến năm 1955, mười năm sau cuộc diệt chủng Holocaust, Nhà thờ lớn Lincoln mới bác bỏ câu chuyện vu vạ hiến tế, đặt một tấm biển gần mộ Hugh ghi rằng:
Những câu chuyện thổi phồng về các cuộc “sát hại theo nghi thức” của cộng đồng Do Thái đối với các cậu bé Cơ Đốc từng phổ biến khắp châu Âu thời Trung cổ và thậm chí mãi về sau. Những chuyện hư cấu này đã cướp đi mạng sống của nhiều người Do Thái vô tội. Lincoln có câu chuyện riêng của mình và người được cho là nạn nhân đã được an nghỉ trong Nhà thờ lớn vào năm 1255. Những câu chuyện như vậy không ảnh hưởng đến tiếng tăm của Cơ Đốc giáo.
Đấy, một số tin giả chỉ tồn tại có 700 năm.
MỘT LẦN THÌ LÀ NÓI DỐI, LẶP LẠI MÃI THÌ LÀ SỰ THẬT
Các tôn giáo cổ xưa không phải là nơi duy nhất sử dụng hư cấu để củng cố hợp tác. Trong các thời kỳ gần đây, truyền thuyết dân tộc cũng được tạo dựng ở một số nơi cho riêng mình, trong khi các phong trào như chủ nghĩa phát xít hay chủ nghĩa tự do đều nhào nặn ra các cương lĩnh tự-gia cường rất chi tiết. Joseph Goebbels, người đứng đầu bộ máy tuyên truyền của Quốc xã và có lẽ là “phù thủy truyền thông” thời hiện đại, nghe đồn đã giải thích cách làm của mình một cách cô đọng rằng: “Một lời nói dối nói ra một lần mãi là lời nói dối, nhưng một lời nói dối nói đi nói lại một ngàn lần sẽ trở thành sự thật.” Trong cuốn sách Mein Kampf (tạm dịch: Cuộc đấu tranh của tôi), Hitler viết: “Kỹ năng tuyên truyền xuất sắc nhất sẽ không có tác dụng gì trừ phi ghi nhớ liên tục trong đầu một nguyên tắc cơ bản: nó phải tự giới hạn mình chỉ trong vài điểm và lặp lại những điểm đó liên tục.” Có kẻ rêu rao tin giả hiện đại nào nói được điều gì hay hơn không?
Bộ máy tuyên truyền của Liên Xô cũng nhanh nhẹn không kém với sự thật, viết lại lịch sử của tất cả mọi thứ, từ toàn bộ cuộc chiến tranh cho đến những bức ảnh riêng lẻ. Vào ngày 29 tháng 6 năm 1936, tờ báo chính thức Pravda (tên có nghĩa là ‘sự thật) mang trên trang nhất một bức ảnh của Joseph Stalin đang mỉm cười ôm lấy Gelya Markizova, một cô bé bảy tuổi. Hình ảnh đã trở thành một biểu tượng của Stalin, coi Stalin là Cha của Quốc gia và lý tưởng hóa ’Hạnh phúc thời thơ ấu của Liên Xô. Các nhà in và nhà máy in ấn trên khắp đất nước bắt đầu tung ra hàng triệu áp phích, tác phẩm điêu khắc và tranh khảm của cảnh, được trưng bày trong các tổ chức công cộng từ đầu này đến đầu kia của Liên Xô. Cũng như không có nhà thờ Chính thống Nga nào hoàn chỉnh mà không có biểu tượng Đức Trinh Nữ Maria đang bế bé Jesus, nên không trường phái Liên Xô nào có thể làm được nếu không có biểu tượng Papa Stalin bế bé Gelya.
Than ôi, trong sự nổi tiếng của đế chế Stalin, thường là một lời mời đến thảm họa. Trong vòng một năm, cha Gelya đã bị bắt với cáo buộc không có thật rằng ông là gián điệp Nhật Bản và là một tên khủng bố Trotskyite. Năm 1938, ông bị xử tử, một trong hàng triệu nạn nhân của vụ khủng bố Stalin. Gelya và mẹ cô bị đày đến Kazakhstan, nơi người mẹ sớm qua đời trong hoàn cảnh bí ẩn. Phải làm gì bây giờ với vô số biểu tượng mô tả Cha của dân tộc với một cô con gái của một kẻ thù bị kết án là ‘kẻ thù của người dân’? Không vấn đề gì. Từ lúc đó trở đi, Gelya Markizova biến mất và ‘Đứa trẻ Xô Viết hạnh phúc’ trong hình ảnh có mặt khắp nơi được xác định là Mamlakat Nakhangova – một cô gái Tajik mười ba tuổi, người đã kiếm được Huân chương Lenin bằng cách chăm chỉ hái nhiều bông trên cánh đồng (nếu bất cứ ai nghĩ rằng cô gái trong bức tranh trông không giống một đứa trẻ mười ba tuổi, thì họ được xem là những kẻ dị giáo phản cách mạng).
Bộ máy tuyên truyền của Liên Xô rất hiệu quả, đến nỗi nó có thể che giấu sự tàn bạo ghê gớm ở trong nước, trong khi phóng ra một khung cảnh không tưởng ở nước ngoài. Ngày nay, người dân Ukraine phàn nàn rằng Putin đã lừa dối thành công nhiều cơ quan truyền thông phương Tây về các hành động của Nga tại Crimea và Donbas. Tuy nhiên, trong nghệ thuật lừa dối, ông khó có thể giữ một ngọn nến cho Stalin. Đầu những năm 1930, các nhà báo và trí thức cánh tả phương Tây đã ca ngợi Liên Xô là một xã hội lý tưởng vào thời điểm người Ukraine và các công dân Liên Xô khác đang chết trong hàng triệu người từ nạn đói do con người tạo ra mà Stalin đã dàn xếp. Tuy nhiên, vào thời đại của Facebook và Twitter, việc quyết định tin vào phiên bản nào của sự việc đôi khi là khó khăn, ít nhất là không thể có chế độ giết hàng triệu người mà cả thế giới không biết về nó.
Nhiều công ty thương mại cũng dựa vào hư cấu. Quảng cáo nhãn hàng thường bao gồm việc kể đi kể lại cùng một câu chuyện hư cấu cho đến khi người ta tin rằng đấy là sự thật. Khi nghĩ về Coca-Cola thì trí óc bạn hiện ra hình ảnh gì? Bạn có nghĩ về những người trẻ trung khỏe mạnh tham gia các hoạt động thể thao và vui vẻ với nhau không? Hay bạn nghĩ về các bệnh nhân tiểu đường quá cân nằm trên giường bệnh? Uống nhiều Coca-Cola không làm bạn trẻ, không làm bạn khỏe và không làm bạn ưa vận động hơn; thay vào đó, nó tăng khả năng mắc tiểu đường và béo phì. Thế nhưng suốt nhiều thập kỷ, Coca-Cola đã đầu tư hàng tỷ đô la để kết nối nó với tuổi trẻ, sức khỏe và thể thao; và hàng tỷ người tin vào sự kết nối này trong tiềm thức.
Sự thật là sự thật chưa bao giờ giữ ưu tiên cao trong lịch trình của Homo sapiens. Nhiều người cho rằng nếu ai đó xuyên tạc hiện thực thì sớm muộn gì người ta cũng sẽ phát hiện ra vì họ không thể cạnh tranh với các đối thủ có quan điểm rõ ràng hơn. À, đấy chỉ là một truyền thuyết mang tính an ủi khác. Trên thực tế, năng lực hợp tác của con người phụ thuộc vào một sự cân bằng mong manh giữa sự thật và hư cấu.
Nếu sự thật bị phản ánh sai quá mức, nó quả thực sẽ làm bạn yếu đi bằng cách khiến bạn hành xử theo những cách thiếu thực tế. Chẳng hạn, vào năm 1905, một ông đồng người Đông Phi có tên là Kinjikitile Ngwale tuyên bố mình được Thần Rắn Hongo nhập. Nhà tiên tri mới có một thông điệp mang tính cách mạng gửi đến người dân của thuộc địa Đông Phi thuộc Đức: hãy đoàn kết và đánh đuổi bọn Đức. Để làm cho thông điệp trở nên hấp dẫn hơn, Ngwale đã cấp cho các tín đồ của mình một thứ thuốc thần nghe nói sẽ biến đạn của người Đức thành nước (maji theo tiếng Swahili). Thế là Cuộc nổi dậy Maji Maji bắt đầu. Nó thất bại. Vì trên chiến trường, đạn Đức không biến thành nước. Thay vào đó, chúng xuyên thủng những kẻ nổi dậy ít vũ trang một cách không thương tiếc. Hai ngàn năm trước đó, cuộc nổi dậy vĩ đại của người Do Thái chống người La Mã cũng bắt nguồn theo cách tương tự từ một niềm tin mãnh liệt rằng, Chúa sẽ chiến đấu vì người Do Thái và giúp họ đánh bại Đế chế La Mã dường như bất khả chiến bại. Cuộc nổi dậy đó cũng thất bại, dẫn đến sự tàn phá thành Jerusalem và sự lưu vong của người Do Thái.
Mặt khác, bạn không thể tổ chức số lượng người đông đảo một cách hiệu quả nếu không dựa vào một truyền thuyết nào đó. Nếu bạn bám chặt lấy hiện thực không sơn trét, rất ít người sẽ đi theo. Không có các truyền thuyết, việc tổ chức không chỉ là các cuộc nổi dậy Maji và Do Thái thất bại nói trên mà cả các cuộc nổi dậy thành công hơn rất nhiều của người Mahdi và người Maccabee cũng đều là bất khả.
Ở Liên Xô trước đây, thời Stalin cũng có những tuyên truyền nhất định và linh hoạt, khiến cho một số thứ trở nên phù hợp. Ngày 29 tháng Sáu năm 1936, báo chính thống đăng hình Joseph Stalin tươi cười ôm hôn Gelya Markizova, một cô bé 7 tuổi. Hình ảnh này được nhân ra và treo tại các công sở, trường học để nói về một tuổi thơ Xô Viết hạnh phúc.
Tuy nhiên việc này khiến người ta khó nhìn ra được mặt kia khi phóng chiếu một hình ảnh thiên đường ra bên ngoài. Vào đầu những năm 1930, khi các phóng viên và giới trí thức cánh tả phương Tây vẫn đang coi Liên Xô là một xã hội kiểu mẫu thì nó cũng đã ít nhiều bộc lộ tình trạng bất cập. Trong khi vào thời đại của Facebook và Twitter, việc quyết định tin vào phiên bản nào của sự việc đôi khi là khó khăn nhưng ít nhất không phải sự thật nào cũng bị làm mờ đi.
Trên thực tế, các câu chuyện “sai lệch” có một lợi thế nội tại so với sự thật khi cần đoàn kết con người. Nếu bạn muốn đo lòng trung thành nhóm, đòi hỏi người ta tin vào một điều kỳ quặc sẽ là một bài kiểm tra hữu hiệu hơn nhiều so với yêu cầu họ tin vào sự thật. Nếu một nhà lãnh đạo nói “mặt trời mọc ở phía Đông và lặn ở phía Tây”, người ta không cần lòng trung thành với ông ta để khen ngợi. Nhưng nếu nhà lãnh đạo nói “mặt trời mọc đằng Tây và lặn đằng Đông” thì chỉ những người trung thành thực sự mới vỗ tay. Tương tự, nếu tất cả láng giềng của bạn đều tin vào cùng một câu chuyện quái đản, bạn có thể tin rằng, đến lúc khủng hoảng họ sẽ sát cánh bên nhau. Nếu họ sẵn sàng tin vào chỉ những sự thật đã được kiểm chứng thì điều đó có chứng minh được gì đâu.
Bạn có thể lý luận rằng ít nhất trong một số trường hợp, việc tổ chức con người một cách hiệu quả qua đồng thuận hơn là hư cấu và truyền thuyết vẫn là khả thi chứ. Ví dụ, trong địa hạt kinh tế, tiền bạc và các tập đoàn gắn kết con người với nhau hiệu quả hơn bất kỳ thần thánh hay sách thiêng nào, ngay cả khi ai cũng biết chúng chỉ là một thỏa thuận của con người thôi. Trong trường hợp của một cuốn sách thiêng, một tín đồ chân chính sẽ nói: “Tôi tin cuốn sách này là thiêng liêng”; trong khi với đồng đô la, tín đồ chân chính ấy sẽ chỉ nói: “Tôi tin những người khác tin đồng đô la có giá trị.” Rõ ràng đồng đô la chỉ là một phát minh của con người, nhưng mọi người trên khắp thế giới tôn trọng nó. Nếu thế, tại sao con người không thể từ bỏ mọi truyền thuyết và hư cấu, sau đó tổ chức trên cơ sở các đồng thuận như là đồng đô la?
Tuy nhiên, các thỏa thuận như vậy không tách biệt rạch rời khỏi hư cấu. Ví dụ, sự khác biệt giữa các cuốn sách thiêng và tiền bạc nhỏ hơn nhiều so với nhìn nhận ban đầu. Khi hầu hết mọi người nhìn thấy một tờ đô la, họ quên mất đó chỉ là một quy ước của con người. Khi họ nhìn thấy tờ giấy xanh in hình một người đàn ông da trắng đã khuất, họ nhìn nhận nó như một cái gì đó giá trị ở chính bản thân nó. Họ ít khi tự nhủ: “Thực ra, đây là một mẩu giấy vô dụng, nhưng vì những người khác xem nó là giá trị nên ta có thể sử dụng nó.” Nếu quan sát một bộ não người trong máy quét cộng hưởng từ chức năng (fMRI), bạn sẽ thấy khi ai đó được đưa cho xem một vali đầy các tờ 100 đô la, các phần của não bộ bắt đầu rung lên đầy hứng khỏi không phải là các phần nghi ngờ (“Những người khác tin rằng cái này là có giá trị”) mà là các phần tham lam (“Trời ạ! Mình muốn cái đó!”). Trái lại, trong vô số các trường hợp, người ta bắt đầu thần thánh hóa Kinh Thánh hay kinh sách chỉ sau thời gian tiếp xúc dài và liên tục với những người xem nó là linh thiêng. Chúng ta học cách tôn trọng kinh sách giống hệt cách học cách tôn trọng các tờ tiền.
Dọ đó, trên thực tế, không có sự phân chia rõ ràng giữa “biết thứ gì đó chỉ lạ một quy ước giữa người với người” và “tin rằng thứ gì đó thực sự có giá trị”. Trong nhiều trường hợp, con người mù mờ hoặc quên mất sự phân chia này. Một ví dụ khác, trong một cuộc thảo luận triết học sâu sắc về sự phân chia nói trên, hầu hết mọi người đều đồng ý rằng các tập đoàn chỉ là các câu chuyện hư cấu do con người dựng nên. Microsoft không phải là những tòa nhà mà nó sở hữu, những con người mà nó thuê hay những cổ đông mà nó phụng sự; trên thực tế, nó là một sự hư cấu tinh vi hợp pháp được những nhà làm luật và các luật sư dệt nên. Thế nhưng trong 99% thời gian, chúng ta không tham gia vào các cuộc thảo luận triết học sâu sắc và chúng ta đối xử với các tập đoàn như thể chúng là các thực thể có thật trên đời, như hổ hay người vậy.
Xóa nhòa lằn ranh giữa hư cấu và thực tế có thể dừng vào nhiều mục đích, từ chỗ “cho vui” cho đến “sinh tồn”. Ta không thể chơi trò chơi hay đọc tiểu thuyết trừ phi tạm ngừng sự “không tin” ít nhất là trong một thời gian. Để thực sự tận hưởng môn bóng đá, bạn phải chấp nhận các luật chơi và quên đi trong ít nhất 90 phút rằng chúng chỉ là những phát minh của con người. Nếu không, bạn sẽ thấy chuyện 22 người chạy đuổi theo một quả bóng thật hết sức kỳ cục. Bóng đá có thể bắt đầu chỉ cho vui, nhưng nó có thể trở thành những thứ nghiêm trọng hơn rất nhiều, như bất kỳ tay hooligan Anh hay tay dân tộc chủ nghĩa Argentina nào có thể chúng thực. Bóng đá có thể giúp hình thành bản sắc con người, gắn kết các cộng đồng lớn, thậm chí mang lại lý do cho bạo lực nữa.
Con người có một khả năng đặc biệt là cùng lúc vừa biết, vừa không biết. Hay nói đúng hơn, họ có thể biết một cái gì đó khi họ thực sự nghĩ về nó; nhưng phần lớn thời gian, họ không nghĩ về nó, thế nên họ không biết. Nếu thực sự tập trung, bạn nhận ra tiền là hư cấu. Nhưng thường bạn không nghĩ về điều ấy. Nếu được hỏi, bạn biết bóng đá là một sáng tạo của con người. Nhưng giữa sức nóng của trận đấu, chẳng ai hỏi về chuyện đó cả. Nếu dành trọn thời gian và năng lượng, bạn có thể nhận ra các quốc gia chỉ là những câu chuyện tạo dựng tinh vi. Nhưng giữa một cuộc chiến, bạn không cố thời gian và năng lượng. Nếu bạn yêu cầu tận cùng sự thật, bạn nhận ra câu chuyện Adam và Eve chỉ là truyền thuyết. Nhưng có mấy khi bạn đi đến tận cùng sự thật?
Sự thật và quyền lực chỉ có thể đi cùng nhau đến thế. Chẳng mấy chốc, chúng sẽ đường ai nấy đi. Nếu bạn muốn quyền lực, ở một thời điểm nào đó bạn sẽ phải lan truyền hư cấu. Nếu bạn muốn sự thật về thế giới, ở một thời điểm nào đó, bạn sẽ phải chối bỏ quyền lực. Bạn sẽ phải thừa nhận một số thứ, chẳng hạn nguồn gốc quyền lực của bạn, thứ sẽ chọc tức các đồng minh của bạn, làm mất lòng những người tin theo bạn hoặc làm suy yếu hòa hợp xã hội. Các học giả ở mọi thời đều đối mặt với thế lưỡng nan này. Họ nên hướng tới đoàn kết mọi người bằng cách đảm bảo rằng mọi người tin vào cùng một câu chuyện hay để họ biết sự thật dù cái giá phải trả là sự chia rẽ? Các thiết chế học thuật quyền lực nhất, dù là các giáo sĩ Cơ Đốc, các quan lại Khổng giáo, đều đặt đoàn kết lên trên hết. Đấy là lý do vì sao họ lại quyền lực đến vậy.
Với tư cách một loài, con người thích quyền lực hơn sự thật. Chúng ta dành thời gian và công sức cố gắng điều khiển thế giới nhiều hơn là hiểu nó; ngay cả khi cố gắng để hiểu, ta cũng thường làm vậy với hy vọng rằng hiểu được thế giới sẽ khiến việc kiểm soát nó trở nên dễ dàng hơn. Do đó, nếu bạn mơ về một xã hội trong đó sự thật ngự trị ở đỉnh cao và các truyền thuyết bị phớt lờ, bạn nên trông chờ rất ít ở Homo sapiens. Đi thử vận may với mấy con đười ươi còn tốt hơn.
THOÁT KHỎI CỖ MÁY THANH LỌC
Tất cả những điều này không có nghĩa là hư cấu không phải là một vấn đề nghiêm trọng, hay các chính trị gia và thầy tu được cấp môn bài miễn tử, tha hồ hư cấu. Cũng sẽ hoàn toàn sai lầm khi kết luận rằng mọi thứ chỉ là hư cấu, rằng mọi nỗ lực khám phá sự thật nhất định thất bại, rằng không có bất cứ sự khác biệt nào giữa đưa tin nghiêm túc và tuyên truyền. Tin giả có thể đi kèm các dữ kiện thật và khổ đau thật. Sự đau khổ của con người thường do niềm tin vào hư cấu gây ra, nhưng bản thân sự đau khổ vẫn rất thật. Ví dụ, ở Ukraine, những người lính Nga đang thực sự chiến đấu, hàng ngàn người đã thực sự chết và hàng trăm ngàn người đã thực sự mất nhà cửa. Sự đau khổ của con người thường được gây ra bởi niềm tin vào tiểu thuyết, nhưng bản thân sự đau khổ vẫn là có thật.
Do đó, thay vì chấp nhận hư cấu là đương nhiên, ta nên nhận ra nó là một vấn đề khó khăn hơn nhiều so với hình dung của mình và nên cố gắng nhiều hơn nữa để phân biệt giữa thực tế và hư cấu. Đừng trông chờ sự hoàn hảo. Một trong những hư cấu lớn nhất là phủ nhận sự phức tạp của thế giới và nghĩ theo chiều hướng tuyệt đối: sự trong sáng thuần khiết đối chọi với sự độc ác quỷ dữ. Chính trị gia không phải khi nào cũng nói toàn bộ sự thật, nhưng một số chính trị gia vẫn tốt hơn những người khác rất nhiều. Nếu được lựa chọn, tôi vẫn sẽ tin Churchill hơn nhiều nhà lãnh đạo khác, mặc dù vị thủ tướng Anh không phải là không bao giờ nói tránh sự thật khi ông thấy phù hợp. Tương tự, không tờ báo nào hoàn toàn thoát khỏi thiên kiến và ngộ nhận, nhưng một số tờ báo chân thành nỗ lực tìm kiếm sự thật trong khi những tờ báo khác chỉ là những cỗ máy tẩy não. Nếu tôi sống vào những năm 1930, tôi hy vọng mình có đủ minh mẫn để tin vào tờ New York Times và Der Sturmer.
Trách nhiệm của tất cả chúng ta là đầu tư thời gian và công sức vào việc phát hiện các thiên kiến và kiểm chứng các nguồn thông tin của mình. Như đã nói ở các chương trước, chúng ta không thể tự mình điều tra mọi thứ. Nhưng chính vì thế, ít nhất ta cần điều tra cẩn thận các nguồn thông tin ưa thích của mình, dù đó là một tờ báo, một trang web, một mạng lưới truyền hình hay một người nào đó. Ở chương 20, chúng ta sẽ khám phá sâu hơn cách để tránh bị “tẩy não” và làm thế nào để phân biệt hiện thực và hư cấu. Ở đây, tôi muốn đưa ra hai quy luật đơn giản.
Đầu tiên, nếu bạn muốn các thông tin đáng tin cậy, hãy trả một số tiền xứng đáng cho nó. Nếu bạn lấy tin miễn phí, chính bạn có thể là sản phẩm. Giả sử một tay tỷ phú ám muội cho bạn một thỏa thuận sau: “Tôi sẽ trả cho bạn 30 đô la một tháng; đổi lại, bạn sẽ cho tôi tẩy não bạn một tiếng đồng hồ một ngày, cài đặt vào não bạn bất cứ định kiến chính trị và thương mại nào tôi muốn.” Bạn có đồng ý không? Rất ít người đầu óc lành mạnh sẽ đồng ý. Thế nên tay tỷ phú ám muội đưa ra một thỏa thuận hơi khác một chút: “Bạn cho tôi tẩy não bạn một giờ mỗi ngày; đổi lại, tôi không bắt bạn trả đồng nào cho dịch vụ này”. Giờ thì thỏa thuận đột nhiên trở nên hấp dẫn với hàng triệu người. Đừng theo gương họ.
Quy luật thứ hai là nếu một vấn đề gì đó có vẻ đặc biệt quan trọng đối với bạn, hãy bỏ công đọc các tài liệu nghiên cứu khoa học có liên quan. Và khi nói tài liệu khoa học, ý tôi là các bài báo đã được bình duyệt, những cuốn sách do các nhà xuất bản tiếng tăm xuất bản và các bài viết của các giáo sư từ các tổ chức uy tín. Khoa học rõ ràng có giới hạn của nó và đã sai nhiều lần trong quá khứ. Tuy nhiên, cộng đồng khoa học đã là nguồn kiến thức đáng tin cậy nhất của chúng ta trong nhiều thế kỷ qua. Nếu bạn nghĩ cộng đồng khoa học sai về một chuyện gì đó, điều ấy rõ ràng là có khả năng, nhưng ít nhất hãy biết các lý thuyết khoa học mà mình đang bác bỏ và đưa ra một số bằng chứng thực tiễn để bảo vệ cho tuyên bố của mình.
Về phần mình, các nhà khoa học cần tham gia vào các cuộc thảo luận đang diễn ra trong công chúng nhiều hơn. Họ không nên sợ tiếng nói của mình được người khác lắng nghe khi cuộc thảo luận lan man sang lĩnh vực chuyên môn của họ, dù là y dược hay lịch sử. Dĩ nhiên, tiếp tục nghiên cứu và xuất bản các kết quả trên các chuyên trang khoa học mà chỉ một vài chuyên gia đọc là cực kỳ quan trọng. Nhưng trao đổi các lý thuyết khoa học mới nhất với công chúng phổ thông qua những cuốn sách khoa học thường thức, thậm chí qua việc vận dụng khéo léo nghệ thuật và hư cấu, cũng quan trọng chẳng kém.
Phải chăng điều đó có nghĩa là các nhà khoa học nên bắt đầu viết tiểu thuyết khoa học giả tưởng? Điều đó thực ra không phải là một ý tồi. Nghệ thuật đóng một vai trò quyết định trong việc định hình thế giới quan của con người; trong thế kỷ 21, khoa học viễn tưởng có thể nói là thể loại sách quan trọng nhất vì nó định hình cách hầu hết mọi người hiểu về những thứ như AI, công nghệ sinh học và biến đổi khí hậu. Chúng ta chắc chắn cần khoa học thực thụ; nhưng từ quan điểm chính trị, một bộ phim khoa học viễn tưởng hay đáng giá hơn một bài báo trong tạp chí Science hay Nature rất nhiều.
Bài học 18 - Khoa học viễn tưởng
TƯƠNG LAI KHÔNG PHẢI THỨ BẠN THẤY TRÊN PHIM
Con người kiểm soát thế giới vì chúng ta có thể hợp tác tốt hơn bất cứ loài động vật nào khác; và chúng ta có thể hợp tác tốt đến thế vì ta tin vào các câu chuyện hư cấu. Do đó, các nhà thơ, họa sĩ và biên kịch ít nhất là quan trọng ngang với binh linh và kỹ sư. Người ta ra trận và xây nhà thờ bởi vì họ tin vào Chúa Trời; và họ tin vào Chúa Trời vì họ đã đọc những bài thơ về Chúa Trời, vì họ đã thấy những bức tranh vẽ Chúa và vì họ bị những vở kịch sân khấu về Chúa Trời hấp dẫn. Tương tự, niềm tin của chúng ta vào huyền thoại hiện đại của chủ nghĩa tư bản được chống đỡ nhờ các sáng tạo nghệ thuật của Hollywood và công nghiệp giải trí. Chúng ta tin rằng mua nhiều thứ hơn sẽ khiến ta hạnh phúc vì ta đã tận mắt nhìn thấy thiên đường tư bản chủ nghĩa trên truyền hình.
Vào đầu thế kỷ 21, có lẽ thể loại nghệ thuật quan trọng nhất là khoa học viễn tưởng. Rất ít người đọc các bài báo mới nhất trong lĩnh vực học máy hay công nghệ di truyền. Thay vào đó, các bộ phim như The Matrix và Her và các bộ phim truyền hình dài tập như Westworld và Black Mirror định hình cách mọi người hiểu về các phát triển công nghệ, xã hội và kinh tế quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Điều này cũng có nghĩa là khoa học viễn tưởng cần phải có trách nhiệm hơn nữa với cách nó miêu tả các hiện thực khoa học; nếu không, nó sẽ gieo vào đầu người ta những ý tưởng sai lệch hoặc đặt sự chú ý của họ vào nhầm vấn đề.
Như đã nói ở chương trước, có lẽ tội ác tồi tệ nhất của khoa học viễn tưởng hiện đại là nó có xu hướng nhầm lẫn trí tuệ với ý thức. Kết quả là nó quan tâm quá mức đến cuộc chiến giữa robot và con người, trong khi trên thực tế, chúng ta cần e sợ một cuộc xung đột giữa một nhóm nhỏ gồm các tinh hoa siêu nhân được các thuật toán gia tăng sức mạnh và một tầng lớp dưới khổng lồ gồm những Homo sapiens bị tước đi sức mạnh. Khi nghĩ về tương lai của AI, Karl Marx vẫn là một chỉ dẫn tốt hơn Steven Spielberg.
Quả thực, nhiều bộ phim về trí tuệ nhân tạo cách xa hiện thực khoa học đến nỗi người ta nghi chúng chỉ là các phúng dụ về những mối quan ngại hoàn toàn khác. Ví dụ, bộ phim Ex Machina năm 2015 có vẻ như nói về một chuyên gia AI phải lòng một người máy nữ chỉ để bị cô ta lừa đảo và lợi dụng. Nhưng trên thực tế, đây không phải là một bộ phim về nỗi sợ các robot thông minh của con người. Đây là bộ phim nói về nỗi sợ của đàn ông đối với phụ nữ thông minh, đặc biệt là nỗi sợ rằng giải phóng phụ nữ có thể dẫn đến sự thống trị của phụ nữ. Mỗi khi bạn xem một bộ phim về AI, trong đó AI là nữ và nhà khoa học là nam, thì có lẽ đó là bộ phim về nữ quyền hơn là công nghệ người máy. Vì cớ làm sao mà một AI cần phải có nhận dạng giới tính hay xu hướng tình dục cơ chứ? Tính dục là một đặc điểm của các loài sinh vật hữu cơ đa bào. Nó có thể mang ý nghĩa gì với một tạo vật cơ khí vô cơ chứ?
SỐNG TRONG MỘT CHIẾC HỘP
Một chủ đề đã được khoa học viễn tưởng khám phá sâu sắc hơn rất nhiều liên quan đến mối nguy khi công nghệ được sử dụng để thao túng và kiểm soát con người. The Matrix mô tả một thế giới trong đó hầu hết con người bị cầm tù trong không gian mạng và mọi thứ họ trải nghiệm là do một thuật toán chủ định hình. The Truman Show tập trung vào một cá nhân duy nhất là ngôi sao bất đắc dĩ của một chương trình truyền hình thực tế. Anh không hề biết tất cả bạn bè và người thân của mình, bao gồm mẹ, vợ và bạn thân nhất, đều là diễn viên; mọi thứ xảy ra với anh đều đi theo một kịch bản được dàn dựng kỹ lưỡng và mọi thứ mà anh nói và làm đều được các máy quay giấu kín ghi lại và được hàng triệu người hâm mộ theo dõi.
Tuy nhiên, dù rất xuất sắc, cả hai phim cuối cùng vẫn tránh né các ngụ ý hoàn chỉnh của kịch bản. Chúng đều cho rằng những người mắc kẹt trong ma trận có một bản thể độc đáo mà các thao túng công nghệ không thể chạm tới, rằng chờ đợi bên ngoài ma trận là một hiện thực độc đáo mà các nhân vật chính có thể tiếp cận được nếu họ cố gắng đủ. Ma trận chỉ là một rào cản nhân tạo ngăn cách cái tôi độc đáo bên trong với thế giới độc đáo bên ngoài. Sau rất nhiều thử thách và gian khổ, cả hai nhân vật chính, Neo trong The Matrix và Truman trong The Truman Show, đã vượt qua và thoát khỏi mạng lưới của các thao túng, phát hiện bản thể độc đáo của mình và tìm đến được vùng đất hứa thực thụ.
Đáng tò mò ở chỗ, vùng đất hứa thực thụ này giống hệt ma trận giả về mọi khía cạnh quan trọng. Khi Truman thoát khỏi trường quay truyền hình, anh tìm cách tái hợp với người bạn gái thời trung học mà đạo diễn đã loại bỏ khỏi chương trình. Thế nhưng nếu Truman thực hiện được mơ ước lãng mạn đó, cuộc đời anh sẽ giống hệt giấc mơ Hollywood hoàn hảo mà The Truman Show đã bán cho hàng triệu người xem khắp toàn cầu, cộng với vài kỳ nghỉ ở Fiji nữa. Bộ phim thậm chí không mang đến cho chúng ta bất cứ gọi ý nào về kiểu cuộc đời khác mà Truman có thể tìm thấy trong thế giới thật.
Tương tự, khi Neo thoát khỏi ma trận bằng cách nuốt viên thuốc màu đỏ nổi tiếng, anh phát hiện ra thế giới bên ngoài chẳng khác gì thế giới bên trong. Cả trong và ngoài đều có những mâu thuẫn bạo lực và những con người bị sợ hãi, đam mê, tình yêu và đố kỵ điều khiển. Bộ phim đáng lẽ nên kết thúc lúc Neo được bảo cho biết hiện thực mà anh vừa “truy cập” vào chỉ là một ma trận lớn hơn; và nếu anh muốn thoát vào “thế giới thực thực sự”, một lần nữa anh phải lựa chọn giữa viên thuốc xanh và viên thuốc đỏ.
Cuộc cách mạng công nghệ và khoa học hiện tại không ngụ ý rằng các cá nhân đích thực và các hiện thực đích thực có thể bị các thuật toán và máy quay truyền hình thao túng, mà chính sự đích thực là một điều hoang đường. Con người sợ bị mắc kẹt trong một cái hộp, nhưng họ không nhận ra họ vốn đã kẹt trong một cái hộp, bộ não của họ, thứ bị mắc kẹt trong một cái hộp lớn hơn là xã hội loài người với vô số hư cấu của nó. Khi nông dân và công nhân nổi dậy chống lại Sa hoàng năm 1917, họ đã kết thúc với Stalin. Khi bạn thoát khỏi ma trận, thứ duy nhất bạn phát hiện là một ma trận lớn hơn. Khi bạn bắt đầu khám phá vô số cách mà thế giới đang thao túng bạn, cuối cùng bạn nhận ra nhân dạng cốt lõi của mình là một ảo tưởng phức tạp mà các mạng lưới thần kinh tạo ra.
Con người sợ rằng khi bị mắc kẹt trong một cái hộp, họ sẽ bỏ lỡ tất cả những điều kỳ diệu của thế giới. Neo còn bị mắc kẹt trong ma trận và Truman còn bị kẹt trong trường quay thì họ sẽ không bao giờ đến thăm Fiji hay Paris hay Machu Picchu được. Nhưng trên thực tế, mọi thứ bạn sẽ trải nghiệm trên đời nằm bên trong cơ thể và tâm trí của chính bạn. Thoát khỏi ma trận hay du lịch đến Fiji sẽ không tạo bất cứ sự khác biệt nào. Không phải là đâu đó trong tâm trí bạn có một rương sắt với một tấm bảng cảnh báo lớn màu đỏ ghi rằng “CHỈ MỞ Ở FIJI!”, và cuối cùng, khi bạn đến Nam Thái Bình Dương, bạn được mở hộp ra và từ đó ùa ra đủ loại cảm xúc đặc biệt mà bạn chỉ có thể có ở Fiji. Và nếu bạn không bao giờ đến Fiji trong đời, bạn sẽ bỏ lỡ tất cả các cảm xúc đặc biệt đó mãi mãi. Không, bất cứ điều gì bạn có thể cảm thấy ở Fiji, bạn cũng có thể cảm nhận ở bất cứ đâu trên thế giới, ngay cả trong ma trận.
Có lẽ tất cả chúng ta đang sống trong một mô phỏng máy tính khổng lồ, kiểu The Matrix. Điều đó sẽ phủ nhận mọi câu chuyện về dân tộc, tôn giáo và ý thức hệ của chúng ta. Nhưng những trải nghiệm tính thần của chúng ta vẫn sẽ là thật. Nếu hóa ra lịch sử loài người là một mô phỏng tinh vi được các nhà khoa học chuột từ hành tinh Zircon chạy trên một siêu máy tính thì các nhà tư tưởng và Nhà nước Hồi giáo sẽ thấy khá là “xấu hổ”. Nhưng mấy con chuột đấy vẫn sẽ phải biện minh cho cuộc diệt chủng Armenia và cho Auschwitz. Làm sao chúng đưa các kế hoạch đó vượt qua hội đồng đạo đức của Đại học Zircon vậy? Ngay cả khi những phòng khí ngạt chỉ là các tín hiệu điện trong các con chip silicon, các trải nghiệm đau đớn, sợ hãi và tuyệt vọng vẫn không bớt tàn khốc đi dù chỉ một ly.
Đau đớn là đau đớn, sợ hãi là sợ hãi và tình yêu là tình yêu, ngay cả trong ma trận. Nỗi sợ mà bạn cảm thấy được khơi nguồn từ một tập hợp nguyên tử ở thế giới bên ngoài hay các tín hiệu điện do một máy tính tạo ra đều không quan trọng. Nỗi sợ vẫn là thật. Thế nên nếu bạn muốn khám phá hiện thực của tâm trí mình, bạn có thể làm thế bên trong cũng như bên ngoài ma trận.
Hầu hết các bộ phim khoa học giả tưởng thực ra đang kể một câu chuyện rất cũ: chiến thắng của tâm trí trước vật chất. Ba mươi ngàn năm trước, câu chuyện kể rằng: “Tâm trí tưởng tượng ra một con dao bằng đá; bàn tay tạo ra con dao; con người giết voi ma-mút.” Nhưng sự thật là con người giành được sự kiểm soát thế giới nhờ tạo ra dao và giết voi ma-mút ít hơn nhờ thao túng tâm trí con người. Tâm trí không phải là một chủ thể tự do định hình các hành động lịch sử và hiện thực sinh học; tâm trí là một đối tượng do lịch sử và sinh học định hình mà nên. Ngay cả những lý tưởng được chúng ta tôn thờ nhất, như tự do, tình yêu, sáng tạo, cũng giống như một con dao đá mà ai đó khác đã định hình nhằm giết voi ma-mút. Theo các lý thuyết khoa học xuất sắc nhất và các công cụ kỹ thuật tiến bộ nhất, tâm trí không bao giờ không có sự thao túng. Không một bản thể đích thực nào chờ được giải phóng khỏi cái kén kiểm soát cả.
Bạn có biết mình đã “tiêu thụ” bao nhiêu bộ phim, tiểu thuyết và bài thơ suốt bao năm tháng qua và những tác phẩm ấy đã chạm khắc và mài giũa ý tưởng của bạn về tình yêu như thế nào? Các bộ phim hài lãng mạn đối với tình yêu giống như phim khiêu dâm đối với tình dục và Rambo đối với chiến tranh. Nếu bạn nghĩ mình có thể bấm một nút xóa và phủi sạch mọi dấu vết của Hollywood ra khỏi tâm thức và hệ viền của mình thì bạn đang đánh lừa bản thân đấy.
Chúng ta thích ý tưởng mài giũa những con dao bằng đá, nhưng chúng ta không thích ý tưởng chính mình là những con dao đá. Thế nên phiên bản ma trận của câu chuyện voi ma-mút cũ thành ra như thế này: “Tâm trí tưởng tượng ra một con robot; bàn tay tạo ra một con robot; robot giết bọn khủng bố nhưng cũng cố tìm cách kiểm soát tâm trí; tâm trí giết robot.” Thế nhưng câu chuyện trên là sai. Vấn đề không phải là tâm trí sẽ không có khả năng giết được robot. Vấn đề là chính cái tâm trí tưởng tượng ra con robot ngay từ đầu đà là sản phẩm của rất nhiều các thao túng từ trước đó. Do đó, việc giết con robot sẽ không giải phóng được chúng ta.
DISNEY MẤT LÒNG TIN VÀO Ý CHÍ TỰ DO
Vào năm 2015, Pixar Studios và Walt Disney Pictures đà cho ra mắt một bộ phim hoạt hình vô cùng thực tế và đáng quan ngại về tinh trạng của con người; bộ phim mau chóng trở thành một hiện tượng phòng vé đối với cả người lớn lẫn trẻ em. Inside Out kể câu chuyện về một cô bé 11 tuổi tên Riley Andersen cùng bố mẹ chuyển từ Minnesota đến sống ở San Francisco. Nhớ bạn bè và quê nhà, cô bé gặp khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống mới và cố bỏ trốn trở lại Minnesota. Thế nhưng Riley không biết là có một vở kịch lớn hơn nhiều đang diễn ra. Riley không phải là một ngôi sao bất đắc dĩ của một chương trình truyền hình thực tế và cô bé cũng không bị mắc kẹt trong ma trận. Thực ra, bản thân Riley chính là ma trận và có một cái gì đó mắc kẹt trong cô bé.
Disney đã xây dựng “đế chế” của mình bằng cách kể đi kể lại một câu chuyện tưởng tượng. Trong vô số bộ phim của Disney, các nhân vật chính gặp khó khăn và nguy hiểm nhưng cuối cùng đã chiến thắng bằng cách tìm ra bản ngã thực thụ và đi theo các lựa chọn tự do của mình. Inside Out phá vỡ câu chuyện này một cách tàn nhẫn. Nó áp dụng quan điểm thần kinh học mới nhất về con người và đưa người xem vào một hành trình vào não bộ của Riley chỉ để phát hiện ra rằng cô bé không có một bản thể thực thụ nào và không bao giờ đưa ra một lựa chọn tự do nào. Trên thực tế, Riley là một con robot khổng lồ được quản lý bởi một tập hợp các cơ chế sinh hóa mâu thuẫn nhau mà bộ phim đã nhân cách hóa thành các nhân vật hoạt hình đáng yêu: cô bé Vui Vẻ màu vàng và vui vẻ, cô bé Buồn Bã xanh lè và ảm đạm, anh chàng Tức Giận màu đỏ nóng nảy,... Bằng cách điều khiển một loạt nút bấm và cần gạt trong Cơ quan Đầu não, đồng thời theo dõi mọi cử động của Riley trên một màn hình TV to đùng, các nhân vật này kiểm soát tâm trạng, quyết định và hành động của Riley.
Thất bại của Riley trong việc thích ứng với cuộc sống mới ở San Francisco là kết quả của một lần hỗn loạn trong Cơ quan Đầu não làm não bộ của Riley mất cân bằng. Để chỉnh sửa mọi thứ, Vui Vẻ và Buồn Bã đã thực hiện một hành trình qua não bộ của Riley, nhảy lên con tàu tư tưởng, khám phá nhà tù tiềm thức và ghé thăm phim trường nội tâm, nơi một nhóm các nơron nghệ sĩ đang bận rộn sản xuất các giấc mơ. Khi theo chân các cơ chế sinh hóa được nhân cách hóa này vào tận sâu trong não bộ của Riley, chúng ta không bao giờ bắt gặp một linh hồn, một bản thể thực thụ hay một ý chí tự do nào hết. Chính ra, khoảnh khắc hé lộ của toàn bộ cốt truyện xảy ra không phải khi Riley phát hiện ra bản thể thực thụ duy nhất của mình mà là khi mọi chuyện trở nên sáng tỏ rằng không thể định nghĩa Riley bằng bất cứ một giá trị cốt lõi đơn lẻ nào, và rằng hạnh phúc của cô bé phụ thuộc vào sự tương tác của nhiều cơ chế khác nhau.
Ban đầu, người xem bị dẫn dắt để đánh đồng Riley với nhân vật chính, cô bé Vui vẻ màu vàng hớn hở. Nhưng cuối cùng, hóa ra chính sự định danh đó là sai lầm quan trọng đã đe dọa phá hỏng cuộc đời của Riley. Bằng việc nghĩ rằng chỉ có mình là bản chất thực thụ của Riley, Vui vẻ đe dọa tất cả các nhân vật bên trong khác, từ đó phá vỡ sự cân bằng mong manh của não bộ Riley. Sự giải tỏa đã đến khi Vui vẻ nhận ra sai lầm của mình và cô bé cùng người xem nhận ra Riley không phải là Vui vẻ hay Buồn bã hay bất cứ nhân vật nào khác. Riley là một câu chuyện phức tạp được tạo ra từ các mâu thuẫn và hợp tác của tất cả các nhân vật sinh hóa với nhau.
Điều thực sự đáng kinh ngạc không phải nằm ở chỗ Disney dám đưa ra thị trường một bộ phim mang một thông điệp cấp tiến đến vậy mà chính ở việc bộ phim đã trở thành một hiện tượng toàn cầu. Có lẽ Inside Out thành công đến thế vì nó là một bộ phim hài có cái kết có hậu và hầu hết người xem đã dễ dàng bỏ qua cả ý nghĩa thần kinh học và các ám chỉ ghê gớm của nó.
Không thể nói điều tương tự về cuốn sách khoa học giả tưởng có tính tiên tri nhất của thế kỷ 20. Bạn không thể bỏ lỡ bản chất ghê gớm của nó. Được viết từ gần một thế kỷ trước, vào năm 1931, nhưng cứ mỗi năm trôi qua, nó lại ngày càng xác đáng. Khi Aldous Huxley viết Brave New World (tạm dịch: Thế giới mới tươi đẹp),, chủ nghĩa phát xít đang cố thủ ở Ý, chủ nghĩa Quốc xã đang lên ở Đức, Nhật Bản quân phiệt đang bắt đầu cuộc chiến xâm lược ở Trung Quốc và cả thế giới bị con Đại Khủng hoảng bóp nghẹt. Thế nhưng Huxley đã xoay xở nhìn xuyên qua tất cả những đám mây u ám đó và mường tượng một xã hội tương lai không có chiến tranh, nạn đói và dịch bệnh, tận hưởng thái bình, thịnh vượng và sức khỏe vĩnh hằng. Đó là một thế giới theo “chủ nghĩa tiêu dùng”, buông thả hoàn toàn trước tình dục, ma túy và rock’n roll, một nơi mà giá trị tối thượng là hạnh phúc. Hàm ý cơ bản của cuốn sách là con người là các thuật toán sinh hóa, khoa học có thể giải mã thuật toán con người, sau đó công nghệ có thể được sử dụng để thao túng thuật toán ấy.
Trong thế giới mới tươi đẹp này, Chính quyền Thế giới sử dụng công nghệ sinh học và kỹ thuật xã hội tiên tiến để đảm bảo rằng tất cả mọi người luôn luôn hài lòng và không ai có bất cứ lý do gì để chống đối cả. Như thể Vui vẻ, Buồn bã và tất cả các nhân vật khác trong não bộ của Riley đã bị biến thành dạng khác vậy. Quả thực, thiên tài của Huxley nằm ở chỗ chỉ ra rằng bạn có thể kiểm soát con người qua tình yêu và khoái lạc một cách chắc chắn hơn nhiều so với sợ hãi và bạo lực.
Trong cuốn 1984, rõ ràng Orwell đang mô tả một thế giới đáng e ngại và câu hỏi duy nhất để ngỏ là “Chúng ta làm thế nào để tránh sa vào một số phận nghiệt ngã như thế?” Đọc Thế giới mới tươi đẹp là một trải nghiệm đầy thách thức và bối rối, phần nhiều là vì bạn thấy khó “chỉ mặt đặt tên” chính xác điều khiến nó trở nên lạc lõng. Thế giới thật thanh bình và giàu có, mọi người lúc nào cũng cực kỳ hài lòng. Cái gì có thể sai ở đây được?
Huxley trả lời câu hỏi này một cách trực tiếp trong khoảnh khắc đỉnh điểm của cuốn tiểu thuyết: cuộc trò chuyện giữa Mustapha Mond, Nhà điều khiển Thế giới tại khu vực Tây Âu, và John Kẻ Hoang dã, người đã sống trọn đời trong một khu bảo tồn bản địa ở New Mexico, người duy nhất ở London vẫn còn biết chút gì đó về Shakespeare hay Chúa Trời.
Khi John Kẻ Hoang dã cố kích động người dân London nổi dậy chống lại hệ thống đang kiểm soát họ, họ phản ứng với lời kêu gọi của ông bằng sự lãnh đạm tuyệt đối, nhưng cảnh sát đã bắt ông và giải anh đến trước Mustapha Mond. Nhà điều khiển Thế giới có một cuộc nói chuyện dễ chịu với John, giải thích rằng nếu ông cương quyết tránh né xã hội, ông chỉ cần rời đến một nơi biệt lập nào đó và sống đời ẩn sĩ. Sau đó, John đặt câu hỏi về những quan điểm đằng sau trật tự toàn cầu và cáo buộc Chính quyền Thế giới đã loại trừ không chỉ sự thật và cái đẹp mà tất cả những gì cao thượng và dũng cảm trong cuộc đời trong hành trình mưu cầu hạnh phúc. Nó đã loại bỏ không chỉ sự thật và vẻ đẹp, mà tất cả những gì cao quý và anh hùng trong cuộc sống.
‘Người bạn trẻ thân yêu của tôi,’ ông Mustapha Mond nói, ‘văn minh tuyệt đối không cần đến cao thượng và chủ nghĩa anh hùng. Những thứ đó là các triệu chứng của sự kém hiệu quả chính trị. Trong một xã hội được tổ chức đàng hoàng như của chúng ta, không ai có bất cứ cơ hội nào để tỏ ra cao thượng hay dũng cảm. Các điều kiện phải trở nên thiếu ổn định hoàn toàn thì cơ hội mới nảy sinh. Ở đâu có chiến tranh, ở đó có những mối quan hệ chia rẽ, nơi đó có những cám dỗ để chống lại, những đối tượng của tình yêu, được chiến đấu hoặc bảo vệ – Ở đó, rõ ràng, cao thượng và chủ nghĩa anh hùng có một số ý nghĩa. Nhưng không có bất kỳ cuộc chiến tranh nào hôm nay. Sự quan tâm chu đáo được thực hiện để ngăn bạn yêu ai quá nhiều. Ở đó, không hề có sự chia rẽ; điều kiện đầy đủ khiến bạn không biết những gì là nên làm. Và bạn phải làm gì khi tất cả đã hoàn hảo chứ, mọi thứ tự nhiên đã sẵn có, thực sự không có bất kỳ cám dỗ nào để chống lại. Và nếu có bất cứ điều gì khó chịu, một sự kém may mắn xảy ra, thì chỉ cần một viên soma để làm dịu cơn giận của bạn, để hòa giải bạn với kẻ thù của bạn, để làm cho bạn kiên nhẫn và chấm dứt đau khổ lâu dài. Trong quá khứ bạn chỉ có thể hoàn thành những điều này bằng cách nỗ lực rất nhiều và sau nhiều năm rèn luyện đạo đức chăm chỉ. Bây giờ, bạn nuốt hai hoặc ba viên thuốc nửa gram. Bất cứ ai cũng có thể có đạo đức bây giờ. Bạn có thể mang ít nhất một nửa đạo đức của bạn trong một cái chai. Kitô giáo không có nước mắt – đã có những viên soma.’
Nhưng nước mắt là cần thiết. Bạn có nhớ những gì Othello nói không? “Nếu sau mỗi cơn gió nhẹ, bão có thể đến đánh thức cái chết.” Một câu chuyện mà một trong những người Ấn Độ cũ thường nói với chúng ta, về Cô gái của Mátsaki. Những chàng trai trẻ muốn cưới cô phải làm trọn buổi sáng cuốc đất trong vườn của cô. Nó có vẻ dễ dàng; nhưng có ruồi và muỗi, ma thuật. Hầu hết các chàng trai trẻ đều không thể chịu đựng được sự cắn rứt. Nhưng người nào có thể – anh ta sẽ có được cô gái.
‘Rất quyến rũ! Nhưng ở các nước văn minh,’ Chính quyền nói, ‘bạn có thể có những cô gái mà không phải cuốc đất cho họ; và không có bất kỳ ruồi hay muỗi để chích bạn. Chúng ta đã thoát khỏi chúng từ nhiều thế kỷ trước.
Savage gật đầu, cau mày. ‘Bạn đã thoát khỏi họ. Vâng, cũng giống như bạn. Loại bỏ mọi thứ khó chịu thay vì học cách chịu đựng nó. Dù là người cao quý nhất trong tâm trí phải chịu đựng sự bám víu và mũi tên của vận mệnh tàn nhẫn, hay cầm vũ khí chống lại một biển rắc rối và những kẻ chống lại họ. . . Nhưng bạn cũng không nên làm điều đó. Không đau khổ cũng không phản đối. Bạn chỉ cần cởi bỏ sự giằng xé và mũi tên. Đó là quá dễ dàng … Những gì bạn cần,’ Savage tiếp tục, ‘là một cái gì đó với nước mắt cho một sự thay đổi… Chẳng phải có điều gì đó hay ho khi sống trong hiểm nguy ư?’
‘Có rất nhiều trong nó,’ Controller trả lời. ‘Đàn ông và phụ nữ thỉnh thoảng phải kích thích tuyến thượng thận của họ. Nó là một trong những điều kiện của sức khỏe hoàn hảo. Đấy là lý do vì sao Chính quyền Thế giới ra phán quyết yêu cầu mỗi công dân phải trải qua một liệu trình V.P.S.’
‘V.P.S.?’
‘Thay thế cảm xúc bạo lực mỗi tháng. Chúng tôi làm tràn ngập toàn bộ hệ thống với adrenalin. Nó đầy đủ tương đương sinh lý của nỗi sợ hãi và cơn thịnh nộ. Tất cả để anh ta có thể chịu tác động của việc giết chết Desdemona và bị sát hại bởi Othello, mà không có bất kỳ sự bất tiện nào.’
“Nhưng tôi thích những thứ bất tiện”, Kẻ Hoang dã tuyên bố.
“Chúng tôi thì không”, Nhà điều khiển nói. “Chúng tôi thích làm mọi thứ một cách dễ chịu”.
“Nhưng tôi không muốn dễ chịu. Tôi muốn Chúa Trời, tôi muốn thi ca, tôi muốn hiểm nguy thực Sự, tôi muốn tự do, tôi muốn lòng tốt. Tôi muốn tội lỗi”.
“Thực tế”, Mustapha Mond đáp, “anh đang đòi quyền bất hạnh”.
“Cũng được”, Kẻ Hoang dã nói, “tôi đang đòi quyền bất hạnh đấy”.
“Chưa kể quyền được già đi và xấu đi và bất lực; quyền bị giang mai và ung thư; quyền có quá ít thức ăn; quyền được tồi tệ; quyền sống liên tục trong sợ hãi điều có thể xảy ra ngày mai; quyền mắc thương hàn; quyền bị tra tấn bởi đủ mọi loại đau đớn không thể nói thành lời”.
Một sự im lặng kéo dài.
“Tôi đòi tất cả các quyền đó”, cuối cùng Kẻ Hoang dã lên tiếng.
Mustapha Mond nhún vai. “Thế thì tùy anh”, ông ta nói.
John Kẻ Hoang dã trở về với thiên nhiên không người và ở đó sống như một ẩn sĩ. Nhiều năm sống trong một khư bảo tồn Anh-điêng và bị Shakespeare cũng như tôn giáo tẩy não đã khiến ông ta chối bỏ mọi ơn phước của đời sống hiện đại. Nhưng tin đồn về một kẻ bất thường và thú vị như vậy sớm lan truyền, mọi người đổ xô đến để nhìn ông ta và ghi lại mọi thứ ông ta làm; chẳng mấy chốc ông ta trở thành một người nổi tiếng. Phát bệnh bởi tất cả sự chú ý không mong muốn đó, Kẻ Hoang dã thoát khỏi ma trận văn minh, không phải bằng cách nuốt một viên thuốc đỏ, mà bằng cách tự treo cổ.
Không như những nhà sáng tạo của The Matrix và The Truman Show, Huxley nghi ngờ khả năng trốn thoát bởi ông tự hỏi liệu ai có thể trốn thoát nổi. Não bộ và “bản thể” của bạn đã là một phần của ma trận nên để thoát khỏi ma trận, bạn phải thoát khỏi bản thể của mình. Điều đó, tuy nhiên, là một khả năng đáng để khám phá. Thoát khỏi định nghĩa hẹp về bản thể có thể trở thành một kỹ nâng sinh tồn cần thiết trong thế kỷ 21.
Phần 5 - Bền bỉ
Ta sống ra sao trong một thời đại của sự hoang mang, khi các câu chuyện cũ đă sụp đổ và chưa có câu chuyện mới nào xuất hiện để thay thể chúng?
Bài học 19 - Giáo dục
THAY ĐỔI LÀ HẰNG SỐ DUY NHẤT
Loài người đang đối mặt các cuộc cách mạng chưa từng có tiền lệ, tất cả các câu chuyện cũ của chúng ta đang vụn vỡ, và đến giờ chưa có câu chuyện mới nào xuất hiện để thay thế chúng. Làm sao ta có thể chuẩn bị cho bản thân và con cái trước một thế giới đầy những biến chuyển chưa từng có và các bất định đến tận gốc rễ như vậy? Một đứa trẻ sinh ra ngày hôm nay sẽ chừng ba mấy tuổi vào năm 2050. Nếu mọi thứ suôn sẻ, đứa trẻ đó sẽ vẫn còn ở đây vào năm 2100 và thậm chí có thể vẫn là một công dân tích cực của thế kỷ 22. Ta nên dạy đứa trẻ đó điều gì để giúp nó tồn tại và phát triển trong thế giới năm 2050 hay thế kỷ 22? Nó sẽ cần loại kỹ năng gì để kiếm được việc làm, để hiểu được những gì đang xảy ra xung quanh nó và tìm hướng đi trong mê cung cuộc đời?
Thật không may, chẳng ai biết thế giới sẽ ra làm sao vào năm 2050 chứ đừng nói đến năm 2100 nên chúng ta không có câu trả lời cho những câu hỏi trên. Dĩ nhiên, con người không bao giờ có thể dự đoán tương lai một cách chính xác. Nhưng ngày nay, việc ấy lại càng khó hơn bao giờ hết bởi một khi công nghệ cho phép chúng ta điều chỉnh cơ thể, não bộ và tâm trí, chúng ta không còn có thể chắc chắn về bất cứ thứ gì nữa, bao gồm cả những thứ trước giờ có vẻ như cố định và vĩnh hằng.
Một ngàn năm trước, vào năm 1018, có rất nhiều thứ con người không biết về tương lai, nhưng họ vẫn tin rằng các tính chất cơ bản của xã hội loài người sẽ không thay đổi. Nếu bạn sống ở Trung Quốc vào năm 1018, bạn biết rằng đến năm 1050, nhà Tống có thể sụp đổ, dân Khiết Đan có thể xâm lược từ phương Bắc và bệnh dịch có thể giết hàng triệu người. Tuy nhiên, rõ ràng là đến năm 1050, hầu hết mọi người vẫn sẽ là nông dân và thợ dệt, các nhà thống trị vẫn phải phụ thuộc vào con người để lấy nhân lực cho quân đội và chính quyền, đàn ông vẫn tiếp tục thống trị đàn bà, tuổi thọ vẫn cỡ bốn mươi và cơ thể người sẽ vẫn y hệt như thế. Do đó vào năm 1018, cha mẹ nghèo người Trung Quốc sẽ dạy con cách trồng lúa hay dệt vải; cha mẹ giàu hơn sẽ dạy con trai đọc các sách kinh điển Khổng giáo, viết thư pháp hay chiến đấu trên lưng ngựa và dạy con gái trở thành những bà nội trợ khiêm cung và phục tùng. Rõ ràng, các kỹ năng trên vẫn cần thiết năm 1050.
Trái lại, ngày nay chúng ta chẳng biết Trung Quốc hay phần còn lại của thế giới sẽ ra sao vào năm 2050. Chúng ta không biết người ta sẽ làm gì để kiếm sống, chúng ta không biết quân đội và chính quyền sẽ hoạt động như thế nào, chúng ta không biết các quan hệ giới tính sẽ ra sao. Một số người có thể sẽ sống lâu hơn nhiều so với ngày nay và bản thân cơ thể người có thể trải qua một cuộc cách mạng chưa từng có nhờ công nghệ sinh học và kết nối trực tiếp não bộ-máy tính. Nhiều thứ trẻ con học được ngày nay có khả năng sẽ trở nên vô dụng vào nầm 2050.
Hiện tại, quá nhiều trường học vẫn tập trung vào việc nhồi nhét thông tin vào não trẻ. Trong quá khứ, điều này là hợp lý vì thông tin là hiếm hoi và ngay cả nguồn thông tin nhỏ giọt hiện hữu lúc đó cũng liên tục bị kiểm duyệt chặn lại. Chẳng hạn nếu bạn sống trong một thị trấn tính lẻ ở Mexico vào năm 1800, bạn khó lòng biết nhiều về thế giới rộng lớn hơn. Không có phát thanh, truyền hình, nhật báo hay thư viện công cộng. Ngay cả nếu bạn biết chữ và được đến một thư viện tư, cũng chẳng có nhiều thứ để đọc ngoài tiểu thuyết và các bài luận tôn giáo. Đế chế Tây Ban Nha kiểm duyệt mạnh tay tất cả các văn bản được in trong nước và chỉ cho phép một nhúm nhỏ các nhà xuất bản có chọn lọc kỹ được nhập các văn bản bên ngoài vào. Tương tự, nếu bạn sống trong một thị trấn tình lẻ nào đó ở Nga, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ hay Trung Quốc. Khi các trường học hiện đại xuất hiện, dạy cho mọi đứa trẻ biết đọc biết viết và phổ biến các kiến thức căn bản về địa lý, lịch sử và sinh học, đấy là một sự tiến bộ vượt bậc.
Trái lại, vào thế kỷ 21, chúng ta bị ngập trong một lượng thông tin khổng lồ và ngay cả các nhà kiểm duyệt cũng không cố chặn điều ấy. Ta có thể nhận được thông tin sai sự thật và bị phân thân bằng thông tin không có liên quan. Nếu bạn sống trong một thị trấn tình lẻ nào đó ở Mexico và có một cái điện thoại thông minh, bạn có thể mất mấy đời chỉ để đọc Wikipedia, xem các bài nói chuyện TED và học các khóa học trực tuyến miễn phí. Khó có chính phủ nào có thể hy vọng che đậy tất cả thông tin mà nó không thích. Mặt khác, việc “bơm” cho công chúng các báo cáo trái ngược và các vấn đề không liên quan để đánh lạc hướng lại dễ dàng một cách đáng báo động. Mọi người ở khắp nơi trên thế giới chỉ cần một cú nhấp chuột là đến các thông tin mới nhất về vụ giội bom Aleppo hay các chỏm băng đang tan ở vùng Cực, nhưng các báo cáo trái ngược nhau nhiều đến nỗi họ chẳng biết nên tin vào đâu. Thêm nữa, vô số những thứ khác cũng chỉ cách một cái nhấp chuột khiến ta khó mà tập trung; khi chính trị hay khoa học trông có vẻ quá phức tạp thì rất dễ dụ người ta chuyển sang một vài video buồn cười về mèo, các vụ ngồi lê đôi mách về các sao hay nội dung khiêu dâm.
Trong một thế giới như thế, điều cuối cùng một người thầy càn đưa cho học sính của mình là thêm thông tin. Chúng đã có quá nhiều thông tín rồi. Thay vào đó, người ta cần khả năng hiểu được thông tin, biết được sự khác biệt giữa cái quan trọng và cái không quan trọng; trên tất cả là khả năng tổng hợp nhiều mẩu thông tin thành một bức tranh lớn về thế giới.
Trên thực tế, đây vẫn là lý tưởng của nền giáo dục tự do phương Tây nhiều thế kỷ nay; nhưng đến tận bây giờ, nhiều trường học phương Tây vẫn còn thực hiện việc đó một cách lỏng lẻo. Các thầy cô giáo cho phép mình tập trung vào việc nhồi nhét dữ liệu trong khi khuyến khích học sinh “tự nghĩ cho mình”. Các trường tự do có một nỗi sợ hãi đặc biệt đối với các câu chuyện to tát. Họ cho rằng miễn là cho học sinh thật nhiều dữ kiện và một chút tự do, học sinh sẽ tự tạo nên bức tranh về thế giới của riêng mình; ngay cả nếu thế hệ này thất bại trong việc tổng hợp tất cả dữ liệu thành một câu chuyện liền mạch và có nghĩa về thế giới, sẽ vẫn còn rất nhiều thời gian để xây dựng một tổng hợp tốt hơn trong tương lai. Giờ thì chúng ta đã hết thời gian. Các quyết định chúng ta đưa ra trong vài thập kỷ tới sẽ định hình chính tương lai của sự sống và chúng ta chỉ có thể đưa ra các quyết định này dựa vào thế giới quan hiện tại của chúng ta. Nếu thế hệ này thiếu một quan điểm toàn diện về vũ trụ, tương lai sự sống sẽ được quyết định một cách bừa bãi.
NHIỆT ĐÃ LÊN
Ngoài thông tin, hầu hết các trường học cũng tập trung quá nhiều vào việc cung cấp cho học sinh một bộ kỹ năng định sẵn như giải các phương trình vi phân, viết code máy tính bằng ngôn ngữ C++, nhận dạng các chất hóa học trong ống nghiệm hay giao tiếp bằng tiếng Trung. Thế nhưng chúng ta mù tịt về thế giới và thị trường lao động sẽ ra sao vào nầm 2050 nên chúng ta không thật sự biết người ta sẽ cần những kỹ năng cụ thể nào. Chúng ta có thể đầu tứ nhiều nỗ lực dạy trẻ con lập trình bằng ngôn ngữ C++ hay nói tiếng Trung, chỉ để phát hiện ra vào năm 2050, AI có thể viết code phần mềm tốt hơn con người rất nhiều và một ứng dụng Google Translate mới sẽ cho phép bạn thực hiện một cuộc hội thoại bằng tiếng Quảng Đông, tiếng phổ thông hay tiếng Khách gần như hoàn hảo, mặc dù bạn chỉ biết nói “Ni hao”.
Thế thì ta nên dạy gì? Nhiều chuyên gia sư phạm cho rằng trường học nên chuyển sang việc dạy “bốn chữ C”, tức tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo (critical thinking, communication, collaboration, creativity). Nói rộng hơn, họ tin là trường học nên giảm bớt các kỹ năng kỹ thuật và nhấn mạnh vào các kỹ năng sống đa mục đích. Quan trọng hơn cả sẽ là khả năng đối phó với thay đổi, học điều mới và duy trì cân bằng tâm lý trong các tình huống xa lạ. Để theo kịp thế giới năm 2050, bạn sẽ không chỉ cần sáng tạo các ý tưởng và sản phẩm mới mà trên hết, bạn sẽ cần tự đổi mới mình hết lần này đến lần khác.
Bởi khi tốc độ thay đổi tăng lên, không chỉ nền kinh tế mà bản thân ý nghĩa của việc “làm người” cũng sẽ biến đổi. Từ năm 1848, Tuyên ngôn Cộng sản đã tuyên bố “tất cả những gì rắn đều tan chảy thành khí”. Tuy nhiên, lúc đó Marx và Engels chủ yếu đang nghĩ đến các cấu trúc xã hội và kinh tế. Đến năm 2048, các cấu trúc thể xác và nhận thức cũng có khả năng sẽ tan chảy thành không khí hay hòa vào một đám mây dữ liệu.
Vào năm 1848, hàng triệu người mất việc làm ở các nông trại nông thôn và đổ về các thành phố lớn để làm việc trong các nhà máy. Nhưng khi đến thành phố lớn, họ cũng không có khả năng thay đổi giới tính hay bổ sung thêm giác quan thứ sáu. Và nếu tìm được một công việc trong một nhà máy dệt nào đó, họ có thể hy vọng tiếp tục công việc đó đến hết cuộc đời làm việc.
Đến năm 2048, con người có thể sẽ phải đương đầu với việc di cư lên không gian mạng, với các dạng giới tính linh hoạt và các trải nghiệm cảm giác mới được tạo ra từ cấy ghép máy tính. Nếu họ tìm thấy công việc cũng như ý nghĩa sống trong việc thiết kế thời trang cập nhật từng phút cho một trò chơi thực tế ảo 3-D thì trong vòng một thập kỷ, không chỉ ngành nghề cụ thể đó mà tất cả các công việc đòi hỏi mức độ sáng tạo nghệ thuật như vậy có thể bị AI chiếm hết. Thế nên vào năm 25 tuổi, bạn có thể tự giới thiệu trên một trang hẹn hò là “một phụ nữ dị tính 25 tuổi sống ở London và làm việc trong một cửa hàng thời trang”. Đến năm 35 tuổi, bạn nói mình là “một người giới tính không xác định đang điều chỉnh tuổi, các hoạt động tân vỏ não diễn ra chủ yếu ở thế giới ảo NewCosmos, mục tiêu cuộc đời là đi đến nơi không một nhà thiết kế thời trang nào từng đến.” Đến năm 45 tuổi, cả hẹn hò và tự định nghĩa bản thân đã trở nên quá lỗi thời. Bạn chỉ việc ngồi đợi một thuật toán tìm (hoặc tạo) cho bạn một đối tượng phù hợp nhất. Còn việc tìm ý nghĩa sống từ nghệ thuật thiết kế thời trang, các thuật toán đã vượt mặt bạn đến mức không thể đảo ngược và việc nhìn lại những thành tựu đỉnh cao nhất từ thập kỷ trước chỉ khiến bạn tràn ngập xấu hổ chứ không có chút gì tự hào. Và ở tuổi 45, bạn vẫn còn vài thập kỷ của những thay đổi gốc rễ ở phía trước.
Làm ơn đừng hiểu kịch bản này theo nghĩa đen. Chẳng ai có thể nói trước những thay đổi cụ thể mà chúng ta sẽ chứng kiến. Bất cứ một kịch bản cụ thể nào cũng rất có thể khác xa sự thật. Nếu ai đó mô tả cho bạn thế giới giữa thế kỷ 21 nghe như khoa học viễn tưởng thì mô tả đó có thể sai. Nhưng nếu ai đó mô tả cho bạn thế giới giữa thế kỷ 21 mà nghe không giống khoa học viễn tưởng thì mô tả đó chắc chắn sai. Chúng ta không thể nói chắc về các chi tiết; nhưng bản thân thay đổi là điều chắc chắn duy nhất.
Những thay đổi sâu sắc như vậy có thể biến đổi cấu trúc căn bản của cuộc sống, khiến sự gián đoạn trở thành đặc trưng nổi bật nhất của nó. Từ xa lắc xa lơ, cuộc sống vốn đã được phân chia thành hai phần bổ sung cho nhau: một giai đoạn học tập, tiếp theo là một giai đoạn làm việc. Trong nửa đầu của cuộc đời, bạn tích lũy thông tin, phát triển kỹ năng, hình thành thế giới quan và xây dựng một bản sắc bền vững. Ngay cả nếu đến tuổi 15, bạn dành phần lớn thời gian làm lụng trên thửa ruộng gia đình (thay vì học ở trường), điều quan trọng nhất bạn đang làm là học: làm thế nào để trồng lúa, làm sao để thương lượng với những tay thương lái tham lam đến từ thành phố và làm thế nào giải quyết tranh chấp đất đai và nguồn nước với dân làng bên. Đến nửa sau của cuộc đời, bạn dựa vào các kỹ năng đã tích lũy được để định hướng trong thế giới, kiếm sống và đóng góp cho xã hội. Dĩ nhiên ngay cả khi 50 tuổi, bạn vẫn tiếp tục học những điều mới về lúa, về các tay thương lái và về các tranh chấp, nhưng chúng chỉ là điều chỉnh nhỏ trong các kỹ năng đã được mài giũa lâu dài.
Đến giữa thế kỷ 21, các thay đổi ngày càng nhanh cộng với tuổi thọ ngày càng dài sẽ biến mô hình truyền thống này trở nên lỗi thời. Cuộc sống sẽ rời ra ở những mối nối và ngày càng có ít sự liền mạch giữa những giai đoạn sống khác nhau. “Tôi là ai?” sẽ là một câu hỏi bức thiết và phức tạp hơn bao giờ hết.
Điều này nhiều khả năng sẽ bao gồm các mức độ căng thẳng cực cao. Vì thay đổi gần như luôn gây căng thẳng và sau một độ tuổi nhất định, hầu hết mọi người đơn giản là không thích thay đổi. Khi bạn 15 tuổi, cả cuộc đời bạn là thay đổi. Cơ thể bạn đang lớn lên, tâm trí bạn đang phát triển, các mối quan hệ của bạn đang đi vào chiều sâu. Mọi thứ đang thay đổi liên tục và mọi thứ đều mới mẻ. Bạn bận rộn sáng tạo ra bản thân. Hầu hết thanh thiếu niên thấy việc này là đáng sợ nhưng đồng thời hết sức thú vị. Các triển vọng mới đang mở ra trước mắt bạn và bạn có cả thế giới để chinh phục.
Đến năm 50 tuổi, bạn không muốn thay đổi và hầu hết mọi người đã từ bỏ việc chinh phục thế giới. Đã trải nghiệm điều này, điều kia và có dấu ấn. Bạn thích sự ổn định hơn. Bạn đã đầu tư quá nhiều vào các kỹ năng, sự nghiệp, bản dạng và thế giới quan của mình đến nỗi bạn không muốn bắt đầu lại từ đầu. Càng vất vả xây dựng một thứ gì đó, bạn càng thấy khó từ bỏ nó và nhường chỗ cho một cái gì mới. Bạn vẫn có thể nâng niu các trải nghiệm mới và các điều chỉnh nhỏ, nhưng hầu hết mọi người đến tuổi 50 không sẵn sàng xem xét lại toàn bộ các cấu trúc sâu xa trong bản dạng và tính cách của mình.
Có những lý do thần kinh học cho chuyện này. Mặc dù não người trưởng thành linh hoạt và dễ thay đổi hơn những gì người ta thường nghĩ, nó vẫn không dễ uốn bằng não của thanh thiếu niên. Tái kết nối các nơron và mắc lại đường dẫn cho các khớp thần kinh là việc rất vất vả. Nhưng vào thế kỷ 21, bạn gần như không thể trả nổi cái giá của sự ổn định. Nếu bạn cố giữ lấy một bản dạng, công việc hay thế giới quan cố định nào đó, bạn có nguy cơ bị bỏ lại phía sau trong khi thế giới lướt qua đánh vèo. Với tuổi thọ chắc chắn sẽ tăng, bạn có thể sẽ phải sống vài thập kỷ như một hóa thạch ngờ nghệch. Để tiếp tục có giá trị, không chỉ về mặt kinh tế, mà hơn hết là về xã hội, bạn sẽ cần khả năng liên tục học tập và làm mới mình, chắc chắn độ tuổi trẻ trung như 50 càng cần phải thế.
Khi sự lạ lùng trở thành điều bình thường mới, các trải nghiệm quá khứ của bạn cũng như của cả nhân loại sẽ trở thành những chỉ dẫn ngày càng kém tin cậy. Con người với tư cách cá nhân cũng như toàn thể nhân loại sẽ ngày càng phải đối mặt với những thứ chưa ai từng gặp phải, như các máy móc siêu thông minh, các cơ thể được thiết kế, các thuật toán có thể điều khiển cảm xúc của bạn với một sự chính xác đáng sợ, các biến động khí hậu nhân tạo nhanh chóng mặt và sự cần thiết phải thay đổi nghề nghiệp sau mỗi thập kỷ. Đâu là việc cần làm khi đối mặt với một tình huống hoàn toàn chưa hề có tiền lệ? Bạn nên hành động ra sao khi bị ngập lụt trong một con lũ thông tin khổng lồ mà bạn không có cách nào tiếp thu cũng như phân tích hết? Làm thế nào để sống trong một thế giới mà sự khôn lường sâu sắc không phải là một lỗi mà là một đặc trưng?
Để tồn tại và phát triển trong một thế giới như thế, bạn sẽ cần hết sức linh hoạt về tinh thần và có những nguồn dự trữ cân bằng cảm xúc lớn. Bạn sẽ phải liên tục từ bỏ một số điều bạn biết rõ nhất và học làm quen với những điều chưa biết. Thật không may, dạy trẻ con nắm bắt những điều chưa biết trong khi vẫn duy trì cân bằng tâm lý thì khó hơn việc dạy cho chúng một phương trình vật lý hay nguyên nhân của Thế chiến thứ nhất rất nhiều. Bạn không thể học được sự kiên cường bằng cách đọc một quyển sách hay nghe một bài giảng. Bản thân giáo viên cũng thường thiếu sự linh hoạt về tâm lý mà thế kỷ 21 đòi hỏi vì bản thân họ là sản phẩm của hệ thống giáo dục cũ.
Cách mạng Công nghiệp đã truyền lại cho chúng ta lý thuyết giáo dục kiểu dây chuyền sản xuất. Ở giữa thị trấn có một tòa nhà bê tông lớn chia thành nhiều phòng giống hệt nhau, mỗi phòng có các dãy bàn và ghế. Chuông reo, ta đi vào một trong các phòng này cùng ba chục đứa trẻ khác sinh cùng năm với ta. Mỗi giờ lại có một người lớn khác nhau đi vào và bắt đầu nói. Họ được chính phủ trả tiền để làm việc đó. Một người trong số họ nói cho ta biết hình dạng Trái đất, một người khác nói về quá khứ của con người và người thứ ba nói về cơ thể người. Thật dễ để cười vào mũi mô hình này, và hầu hết mọi người đều đồng ý rằng dù thành tựu quá khứ của nó có như thế nào, giờ nó đã phá sản. Nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa tạo được mô hình thay thế khả thi nào. Chắc chắn không phải là một phương án thay thế có thể nhân rộng áp dụng được cả ở nông thôn Mexico chứ không chỉ ngoại ô California giàu có.
GIẢI MÃ CON NGƯỜI
Thế nên lời khuyên tốt nhất tôi có thể đưa cho một thiếu niên 15 tuổi đang mắc kẹt trong một trường học lỗi thời đâu đó tại Mexico, Ấn Độ hay Alabama là: đừng dựa quá nhiều vào người lớn. Hầu hết họ có ý tốt, nhưng họ đơn giản là không hiểu thế giới. Trong quá khứ, nghe theo người lớn là một lựa chọn tương đối an toàn vì họ biết về thế giới khá rõ và thế giới thay đổi chậm chạp. Nhưng thế kỷ 21 sẽ khác. Tốc độ thay đổi ngày càng tăng nên bạn không bao giờ dám chắc liệu những gì người lớn đang nói với mình là nhừng lời khôn ngoan muôn thuở hay chỉ là các thiên kiến đã lỗi thời.
Thay vào đó, bạn có thể dựa vào cái gì đây? Có lẽ vào công nghệ? Canh bạc đó thậm chí còn rủi ro hơn. Công nghệ có thể giúp bạn rất nhiều, nhưng nếu công nghệ chiếm được quá nhiều quyền lực đối với cuộc đời bạn, bạn có thể trở thành con tin cho lịch trình của nó. Hàng ngàn năm trước, con người phát minh ra nông nghiệp; nhưng công nghệ đó chỉ làm giàu cho một nhóm tinh hoa cực ít ỏi trong khi biến phần lớn con người thành nô lệ. Hầu hết mọi người thấy mình làm lụng từ lúc bình minh đến lúc hoàng hôn, nhổ cỏ, gánh nước và thu hoạch ngô dưới mặt trời đổ lửa. Điều đó có thể cũng sẽ xảy đến với bạn.
Công nghệ không xấu. Nếu bạn biết mình muốn gì ở đời, công nghệ có thể giúp bạn có được nó. Nhưng nếu bạn không biết mình muốn gì trong đời, công nghệ sẽ rất dễ dàng định hình các mục tiêu của bạn giúp cho bạn và kiểm soát cuộc đời bạn. Đặc biệt là khi công nghệ ngày càng giỏi thấu hiểu con người, bạn có thể thấy mình ngày càng phục vụ cho nó, thay vì nó phục vụ cho bạn. Bạn đã thấy những cái xác sống lượn lờ trên phố trong khi dán mặt vào màn hình chưa? Bạn nghĩ họ kiểm soát công nghệ hay công nghệ kiểm soát họ?
Vậy bạn nên dựa vào chính mình à? Điều đó nghe thì có vẻ hay trên loạt chương trình Sesame Street hoặc trong một bộ phim Disney kiểu cũ; nhưng trong đời thực thì nó không hiệu quả đâu. Ngay cả Disney cũng đang nhận ra điều đó. Giống Riley Anderson, hầu hết chúng ta không hiểu được chính mình; và khi cố “lắng nghe bản thân”, ta dễ dàng thành con mồi cho các thao túng từ bên ngoài. Giọng nói ta nghe trong đầu không bao giờ đáng tin cậy vì nó luôn phản ánh các tuyên truyền của nhà nước, tẩy não mang tính ý thức hệ và quảng cáo thương mại, chưa kể những “con bọ” sinh hóa.
Khi công nghệ sinh học và học máy cải tiến, việc thao túng các cảm xúc và khao khát sâu kín nhất của con người sẽ ngày càng dễ dàng và cứ đi theo trái tim sẽ càng nguy hiểm hơn bao giờ hết. Khi Coca-Cola, Amazon, Baidu hay chính phủ biết cách giật dây trái tim và bấm nút trí não bạn, liệu bạn còn có thể nhận ra sự khác biệt giữa bản thể của mình và các chuyên gia marketing của họ không?
Để thành công với một nhiệm vụ khó khăn như thế, bạn sẽ cần bỏ công tìm hiểu cơ chế hoạt động của mình rõ hơn. Để hiểu mình là gì và mình muốn gì từ cuộc đời. Điều này, hiển nhiên, chính là lời khuyên cổ xưa nhất trong sách vở: biết mình. Trong vài ngàn năm, các triết gia và nhà tiên tri đã thúc giục mọi người phải biết mình. Nhưng lời khuyên này chưa bao giờ cấp thiết như trong thế kỷ 21 vì không như thời của Lão Tử hay Socrates, giờ ta đang có một cuộc cạnh tranh nghiêm túc. Coca-Cola, Amazon, Baidu và chính phủ đang chạy đua để giải mã bạn. Không phải điện thoại thông minh, máy tính và tài khoản ngân hàng của bạn; họ đang chạy đua để giải mã bạn và hệ thống vận hành hữu cơ của bạn. Bạn có lẽ đã nghe nói rằng chúng ta đang sống trong thời đại giải mã máy tính, nhưng đấy thậm chí không phải là một nửa sự thật. Trên thực tế, chúng ta đang sống trong thời đại mở khóa con người.
Các thuật toán ngay lúc này đang theo dõi bạn. Chúng đang theo dõi nơi bạn đi, cái bạn mua, người bạn gặp. Chẳng mấy chốc, chúng sẽ giám sát mọi bước đi, hơi thở và nhịp tim của bạn. Chúng đang dựa vào Big Data và học máy để hiểu bạn ngày càng rõ. Và một khi các thuật toán này hiểu bạn hơn bạn hiểu bản thân, chúng có thể kiểm soát và thao túng bạn, bạn sẽ chẳng làm được gì mấy. Bạn sẽ sống trong ma trận, hay trong Show truyền hình Truman. Cuối cùng, đây chỉ là một vấn đề thống kê đơn giản: nếu các thuật toán thực sự hiểu điều đang xảy ra bên trong bạn rõ hơn chính bạn, thì thẩm quyền sẽ chuyển dịch về phía chúng.
Dĩ nhiên, có thể bạn sẽ hoàn toàn hạnh phúc khi trao toàn bộ thẩm quyền cho các thuật toán và tin tưởng để chúng quyết định mọi thứ cho bạn cũng như cho phần còn lại của thế giới. Nếu thế, hãy cứ thư dãn và tận hưởng cuộc dạo chơi. Bạn chẳng cần làm gì đâu. Các thuật toán sẽ chăm lo hết. Tuy nhiên, nếu muốn giữ lại phần nào quyền kiểm soát sự tồn tại cá nhân và tương lai của cuộc sống, bạn sẽ phải chạy nhanh hơn thuật toán, nhanh hơn Amazon và chính phủ, và tự biết mình trước khi chúng làm được điều đó. Để chạy nhanh, đừng mang theo nhiều hành lý. Hãy để tất cả ảo tưởng của bạn lại phía sau. Chúng nặng lắm đấy.
Bài học 20 - Ý nghĩa
CUỘC ĐỜI KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CÂU CHUYỆN
Tôi là ai? Tôi nên làm gì trong đời? Ý nghĩa cuộc sống là gì? Con người đã đặt ra những câu hỏi này từ lúc nào không ai nhớ nổi nữa. Mỗi thế hệ lại cần một câu trả lời mới vì điều ta biết và không biết liên tục thay đổi. Với tất cả những gì ta biết và không biết về khoa học, về Chúa Trời, về chính trị và về tôn giáo, câu trả lời tốt nhất mà ta có thể đưa ra hôm nay là gì?
Người ta trông đợi kiểu câu trả lời gì? Trong hầu hết mọi trường hợp, khi hỏi về ý nghĩa cuộc sống, họ trông chờ được kể cho nghe một câu chuyện. Homo sapiens là một động vật kể chuyện, nghĩ theo các câu chuyện thay vì theo số liệu hay biểu đồ và tin rằng bản thân vũ trụ vận hành như một câu chuyện, đầy rẫy người hùng và kẻ xấu, mâu thuẫn và giải pháp, cao trào và những cái kết có hậu. Khi tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời, ta muốn một câu chuyện sẽ giải thích hiện thực là để làm gì và vai trò cụ thể của ta trong tấn kịch vũ trụ là gì. Vai trò này khiến ta trở thành một phần của một thứ gì đó lớn hơn bản thân và mang lại ý nghĩa cho mọi trải nghiệm và lựa chọn của ta.
Một câu chuyện được ưa chuộng, được kể đi kể lại hàng ngàn năm cho hàng tỷ con người háo hức, giải thích rằng chúng ta là một phần của một vòng xoay vĩnh hằng bao trùm và kết nối vạn vật. Mỗi cá thể có một chức năng riêng biệt cần hoàn thành trong vòng xoay đó. Hiểu được ý nghĩa của cuộc đời tức là hiểu chức năng độc đáo của mình, và sống một cuộc đời tốt tức là hoàn thành chức năng đó.
Sử thi Bhagavad Gita của Hindu kể rằng hoàng tử chiến binh vĩ đại Arjuna thấy lòng đầy hoang mang giữa một cuộc nội chiến thảm khốc như thế nào. Nhìn thấy bạn bè và người thân mình ở bên kia chiến tuyến, ngài chùn tay không muốn đánh, giết họ. Ngài bắt đầu tự hỏi cái gì là tốt và xấu, ai quyết định điều đó và đâu là mục đích của đời người. Thần Krishna sau đó giải thích cho Arjuna rằng trong vòng xoay vũ trụ vĩ đại, mỗi sinh linh sở hữu một “dharma” độc đáo, con đường mà người đó phải đi và các nghĩa vụ mà người đó phải hoàn thành. Nếu bạn nhận ra được dharma của mình thì dù con đường có chông gai đến đâu, bạn vẫn thấy bình an trong tâm trí và thoát khỏi mọi ngờ vực. Nếu bạn từ chối đi theo dharma của mình và cố đi theo con đường của ai đó khác, hoặc lang thang không đường hướng, bạn sẽ phá vỡ cân bằng vũ trụ và sẽ không bao giờ tìm được bình an hay niềm vui. Không quan trọng đường của bạn là gì, miễn là bạn đi theo nó. Một người thợ giặt tận tụy đi theo con đường của người thợ giặt vẫn tốt hơn nhiều so với một hoàng tử lạc lối khỏi con đường của hoàng tử. Hiểu được ý nghĩa cuộc sống, Arjuna nghiêm túc đi theo dharma của mình là một chiến binh, đưa quân đội mình đến thắng lợi và trở thành một trong những người hùng được tôn sùng và yêu mến nhất trong thế giới Hindu.
Bộ phim giàu chất sử thi của Disney là Vua sư tử năm 1994 đã gói lại câu chuyện cổ này cho các khán giả hiện đại, với chàng sư tử trẻ Simba là hình ảnh của Arjuna. Khi Simba muốn biết ý nghĩa của sự tồn tại, cha cậu, vua sư tử Mufasa, đã kể cho cậu nghe về Vòng Đòi vĩ đại. Mufasa giải thích rằng những con linh dương ăn cỏ, sư tử ăn linh dương và khi sư tử chết, thân xác rã ra và lại nuôi sống cỏ. Đây là cách sự sống truyền từ đời này sang đời khác, miễn là mỗi con vật đóng vai trò của nó trong vở kịch. Mọi thứ được kết nối và mọi người phụ thuộc vào mọi người khác; vậy nên nếu chỉ một cọng cỏ không làm tròn trách nhiệm của mình, cả Vòng Đời có thể sẽ tan rã. Mufasa nói bổn phận của Simba là trị vì vương quốc sư tử sau khi Mufasa chết và giữ gìn trật tự của những loài vật khác.
Tuy nhiên, khi Mufasa sớm bị anh trai Scar độc ác của mình ám sát, Simba nhỏ tuổi đã tự trách mình vì thảm họa ấy. Lòng đầy mặc cảm tội lỗi, cậu rời vương quốc sư tử, từ bỏ số mệnh vương giả của mình và lang thang vào nơi hoang dã. Nơi đó, cậu gặp hai kẻ bên lề khác là một con chồn đất và một con lợn lòi; cùng nhau, chúng trải qua vài năm vô tư lự xa rời thế giới đông đúc. Triết lý né tránh xã hội của chúng có nghĩa là chúng đáp lại mọi vấn đề bằng cách ca tụng “Hakuta matata”, tức “chẳng có gì phải lo lắng”.
Nhưng Simba không thể thoát khỏi dharma của mình. Khi trưởng thành, cậu càng bị giày vò, không biết mình là ai và mình nên làm gì trong đời. Ở khoảnh khắc cao trào của bộ phim, linh hồn Mufasa hiện lên với Simba trong một ảo ảnh và nhắc cho Simba nhớ về Vòng Đời và số mệnh hoàng gia của mình. Simba cũng biết được rằng khi cậu vắng mặt, Scar độc ác đã chiếm ngai vàng và trị vì vương quốc một cách sai lầm, dẫn đến mất đoàn kết và nạn đói. Simba cuối cùng hiểu ra mình là ai và mình phải làm gì. Cậu trở về vương quốc sư tử, trừng phạt ông chú, trở thành vua, tái thiết sự hòa hợp và phồn thịnh. Bộ phim kết thúc bằng cảnh một Simba tự hào ra mắt kẻ kế vị vừa mới chào đời trước muôn loài, đảm bảo sự tiếp nối của Vòng Đời vĩ đại.
Vòng Đời biến vở kịch vũ trụ thành một câu chuyện có tính tuần hoàn. Với tất cả những gì Simba và Arjuna biết, sư tử ăn linh dương và các chiến binh đánh trận hết đời này sang đời khác và vẫn sẽ tiếp tục làm vậy mãi mãi. Vòng quay vĩnh hằng mang lại cho câu chuyện sức mạnh, ám chỉ rằng đây là tiến trình tự nhiên của vạn vật; nếu Arjuna chối bỏ chiến trận hay Simba từ chối trở thành vua, họ sẽ chống lại chính các quy luật của tự nhiên.
Nếu tôi tin vào một phiên bản nào đó của câu chuyện Vòng Đời, điều đó nghĩa là tôi có một bản dạng cố định và chân thực, thứ quyết định phận sự của tôi trong cuộc đời. Suốt nhiều nầm, tôi có thể nghi ngờ hoặc không ý thức được bản dạng đó; nhưng một ngày kia, trong một khoảnh khắc cao trào tuyệt diệu nào đó, nó sẽ được hé lộ và tôi sẽ hiểu được vai trò của mình trong tấn kịch vũ trụ. Dù sau đó tôi có thể gặp phải nhiều thử thách và đau khổ, tôi sẽ không còn nghi ngờ hay tuyệt vọng nữa.
Các tôn giáo và ý thức hệ khác cũng tin vào một tấn kịch vũ trụ hữu tuyến như vậy, với phần đầu rõ ràng, phần giữa không quá dài, và một cái kết vĩnh cửu. Chẳng hạn, câu chuyện Hồi giáo kể rằng ban đầu Đấng Allah tạo ra toàn thể vũ trụ và đặt ra các quy luật của nó. Sau đó, Ngài hé lộ các quy luật này cho loài người trong kinh Quran. Không may là những con người u mê và ma quỷ đã nổi loạn chống lại Allah và cố phá vỡ hoặc che giấu các quy luật ấy; việc giữ gìn các luật này và lan truyền tri thức về chúng phải nhờ vào những người Hồi đạo đức và trung thành. Cuối cùng, vào Ngày phán xét, Allah sẽ đưa ra phán quyết về hành xử của mỗi một cá nhân. Ngài sẽ ban thưởng cho những người đường hoàng bằng hạnh phúc vĩnh hằng trên Thiên đường và thảy đám độc ác vào lò lửa địa ngục.
Câu chuyện hoành tráng này ám chỉ rằng vai trò nhỏ bé nhưng quan trọng của tôi trong cuộc đời là đi theo các mệnh lệnh của Allah, lan tỏa tri thức về các luật của Ngài và đảm bảo các ước muốn của Ngài được phục tùng. Nếu tôi tin vào câu chuyện Hồi giáo, tôi tìm thấy ý nghĩa sống trong việc cầu nguyện năm lần một ngày, cúng tiền để xây một thánh đường mới và đấu tranh chống lại những kẻ bỏ đạo và ngoại đạo. Ngay cả các hoạt động tầm thường nhất như rửa tay, uống rượu, làm tình cũng thấm đẫm ý nghĩa vũ trụ.
Chủ nghĩa dân tộc cũng lưu giữ một câu chuyện, theo tuyến tính. Câu chuyện Phục quốc Do Thái bắt đầu với các cuộc phiếu lưu và thành tựu thánh kinh của dân tộc Do Thái, kể lại chi tiết 2.000 năm lưu vong và ngược đãi, đạt đến đỉnh điểm với cuộc thảm sát Holocaust và việc thành lập nhà nước Israel, và mong chờ đến ngày Israel hưởng hòa bình, thịnh vượng và trở thành một điểm sáng về đạo đức cũng như tinh thần cho thế giới. Nếu tôi tin vào câu chuyện Phục quốc, tôi sẽ kết luận rằng nhiệm vụ của cuộc đời của mình là thúc đẩy lợi ích của quốc gia Do Thái bằng cách bảo vệ sự trong sáng của ngôn ngữ Do Thái, chiến đấu giành lại các phần lãnh thổ Do Thái đã mất hay có lẽ bằng cách sinh ra và nuôi lớn một thế hệ những đứa trẻ Do Thái trung thành mới.
Cả trong trường hợp này, các việc nhỏ nhặt cũng căng tràn ý nghĩa. Vào Ngày Độc lập, trẻ em Israel thường hát cùng nhau một bài hát Do Thái phổ biến ca ngợi bất cứ hành vi nào được làm vì đất mẹ. Một đứa trẻ hát: “Tôi đã xây một căn nhà trên đất Israel”, một đứa khác hát tiếp: “Tôi đã trồng một cái cây trên đất Israel”, đứa thứ ba hòa giọng: “Tôi đã viết một bài thơ trên đất Israel” và cứ thế, cho đến khi tất cả cùng đồng thanh đoạn điệp khúc “Thế là ta đã có một căn nhà, một cái cây và một bài thơ [và bất cứ thứ gì khác bạn muốn thêm vào] trên đất Israel”.
Chủ nghĩa cộng sản kể một câu chuyện tương tự, nhưng tập trung vào giai cấp hơn là sắc tộc. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản mở đầu bằng cách tuyên bố rằng:
Lịch sử của tất cả các xã hội hiện tại là lịch sử của các cuộc đấu tranh giai cấp. Tự do và nô lệ, thương nhân và tiện dân, chúa tể và nông nô, chủ nhân và người làm thuê, trong một từ, kẻ áp bức và bị áp bức, đứng đối lập với nhau, tiếp tục chiến đấu liên tục. Hiện trạng này đang mất dần, mỗi một cuộc chiến đến hồi kết thúc, thì đều trong một sự phục hồi mang tính cách mạng của xã hội, hoặc trong sự hủy hoại chung của các giai cấp đấu tranh.
Bản tuyên ngôn tiếp tục giải thích rằng trong thời hiện đại, ‘Xã hội nói chung ngày càng tách ra thành hai phe thù địch lớn, thành hai giai cấp lớn đối đầu trực tiếp với nhau: Tư sản và Vô sản.’ Cuộc đấu tranh của họ sẽ kết thúc bằng chiến thắng của giai cấp vô sản, sẽ báo hiệu sự kết thúc của lịch sử và sự thành lập thiên đường cộng sản trên trái đất, trong đó không ai sẽ sở hữu bất cứ thứ gì, và mọi người sẽ hoàn toàn tự do và hạnh phúc.
Nếu tin vào câu chuyện này, tôi sẽ kết luận rằng sứ mệnh đời tôi là đẩy nhanh cách mạng toàn cầu bằng cách viết ra các tờ rơi hùng hồn để khơi dậy ý thức giai cấp, tổ chức các cuộc biểu tình và bãi công. Câu chuyện này mang lại ý nghĩa cho cả các hành động nhỏ nhất, như tẩy chay một nhãn hàng bóc lột công nhân dệt may ở Bangladesh hay cãi nhau với ông bố vợ tư bản “lợn” của tôi trên bàn tiệc Giáng sinh.
Khi nhìn lại toàn bộ các câu chuyện tìm cách định nghĩa bản dạng thực sự và mang lại ý nghĩa cho các hành động của tôi, thật đáng kinh ngạc khi nhận ra quy mô gần như không quan trọng. Một số câu chuyện, như câu chuyện Vòng đời của Simba, có vẻ kéo dài vĩnh viễn: chỉ khi đặt mình trên bối cảnh toàn vũ trụ, tôi mới có thể biết mình là ai. Các câu chuyện khác, như phần lớn các câu chuyện theo khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc và bộ tộc, so ra đều hết sức nhỏ bé. Câu chuyện Phục quốc Do Thái lấy cuộc phiêu lưu của khoảng 0,2% nhân loại trên 0,005% bề mặt Trái đất trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi làm linh thiêng. Câu chuyện đó không thể mang lại bất cứ ý nghĩa nào cho các đế chế Trung Hoa, các bộ lạc ở New Guinea và thiên hà Andromeda, cũng như vô vàn kỷ nguyên đã trôi qua trước sự tồn tại của Moses, Abraham và sự tiến hóa của loài vượn.
Một cách nhìn thiển cận như vậy có thể có các hậu quả rất nghiêm trọng. Chẳng hạn, một trong những trở ngại chính cho bất kỳ hiệp ước hòa bình nào giữa người Israel và người Palestine là người Israel không sẵn sàng chia đôi thành phố Jerusalem. Họ lý luận rằng thành phố này là “thủ đô vĩnh hằng của người Do Thái” và chắc chắn là cái gì vĩnh hằng thì không thể thỏa hiệp được. Vài người chết thì có là gì so với vĩnh hằng cơ chứ? Điều này dĩ nhiên là hoàn toàn nhảm nhí. Vĩnh hằng ít nhất là 13,8 tỷ năm, tuổi hiện tại của vũ trụ. Hành tinh Trái đất hình thành khoảng 4,5 tỷ năm trước và con người thì tồn tại được ít nhất 2 triệu năm. Trái lại, thành phố Jerusalem được thành lập chỉ 5.000 năm trước và người Do Thái thì khoảng 3.000 năm tuổi. Điều đó khó có thể gọi là vĩnh hằng.
Còn về tương lai, vật lý cho ta biết hành tinh Trái đất sẽ bị một mặt trời đang nở ra nuốt trọn khoảng 7,5 tỷ năm nữa tính từ bây giờ và vũ trụ của chúng ta sẽ tiếp tục tồn tại ít nhất 13 tỷ năm nữa. Có ai nghiêm túc tin rằng người Do Thái, hay nhà nước Israel, hay thành phố Jerusalem, sẽ vẫn tồn tại sau 13.000 năm, chưa nói đến 13 tỷ năm? Nhìn về tương lai, chủ nghĩa Phục quốc Do Thái có đường chân trời không quá vài thế kỷ, nhưng như vậy đã đủ để làm cạn kiệt trí tưởng tượng của hầu hết người Israel và đủ để được cho là “vĩnh hằng”. Và con người sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của “thành phố vĩnh hằng”, trong khi người ta có lẽ sẽ từ chối hy sinh cho một tập hợp phù vân gồm một số ngôi nhà.
Khi còn là một thiếu niên sống ở Israel, ban đầu tôi cũng bị lời hứa dân tộc chủ nghĩa hấp dẫn để trở thành một phần của một cái gì đó lớn hơn bản thân. Tôi muốn tin rằng nếu tôi hiến dâng đời mình cho dân tộc thì tôi sẽ “bất tử”. Cụm từ đó nghe rất sâu sắc, nhưng nó thực sự có nghĩa gì? Tôi nhớ một buổi lễ mừng Ngày Độc lập nọ, khi tôi khoảng 13 hay 14 tuổi. Trong khi ở Mỹ, Ngày Độc lập chủ yếu được đánh dấu bằng các cuộc giảm giá bán hàng thì ở Israel, đó là một sự kiện cực kỳ nghiêm túc và quan trọng. Vào ngày này, các trường tổ chức các buổi lễ để tưởng nhớ các chiến sĩ đã ngã xuống trong nhiều cuộc chiến của Israel. Bọn trẻ mặc đồ trắng, đọc thơ, ca hát, đặt hoa tưởng niệm và vẫy cờ. Thế là tôi cũng ở đó, trong buổi lễ tưởng niệm của trường và mặc đồ màu trắng; giữa lúc vẫy cờ với đọc thơ, tôi tự nhiên nghĩ rằng khi nào lớn lên, tôi cũng muốn trở thành một người lính đã ngã xuống. Xét cho cùng, nếu tôi là một người lính chết trận oai hùng đã hiến dâng đời mình cho Israel, thì tất cả lũ trẻ này sẽ đọc thơ và vẫy cờ để vinh danh tôi.
Nhưng rồi tôi nghĩ: “Gượm đã. Nếu tôi chết rồi, làm sao tôi biết bọn trẻ này thật sự đang đọc thơ để vinh danh mình?” Thế nên tôi cố hình dung mình đã chết. Và tôi hình dung mình nằm dưới một tấm bia trắng nào đó trong một nghĩa trang quân sự quy củ, lắng nghe những bài thơ đến từ mặt đất trên kia. Nhưng rồi tôi nghĩ: “Nếu mình chết rồi thì mình đâu có nghe được thơ nữa, vì mình đâu có tai và đâu có não và chẳng thể nghe hay cảm nhận được gì. Thế thì làm vậy để làm gì?”
Tệ hơn, đến năm 13 tuổi, tôi đã biết vũ trụ đã vài tỷ năm tuổi và có lẽ sẽ tiếp tục tồn tại thêm vài tỷ năm nữa. Liệu tôi có thể trông chờ một cách thực tế là Israel sẽ tồn tại lâu đến thế? Liệu mấy đứa trẻ Homo sapiens mặc đồ trắng có tiếp tục đọc thơ vinh danh tôi sau 200 triệu năm nữa? Có một cái gì đó lắt léo trong vụ này.
Nếu bạn là người Palestine, đừng quá lên mặt. Hai trăm triệu năm nữa chắc cũng chả còn người Palestine nào tồn tại nữa đâu. Trong mọi khả năng có thể xảy ra thì đến lúc đó sẽ chẳng còn loài có vú nào tồn tại nữa cả. Tất cả các phong trào dân tộc chủ nghĩa khác cũng như vậy. Chủ nghĩa dân tộc Serbia chẳng mấy quan tâm đến các sự kiện ở kỷ Jura, trong khi một số nhà dân tộc chủ nghĩa Bắc Hàn tin rằng một bán đảo nhỏ ở bờ Đông Á là phần của vũ trụ thực sự quan trọng hơn hết trong kế hoạch vĩ đại của vạn vật.
Dĩ nhiên, ngay cả Simba, với tất cả sự cống hiến của cậu cho Vòng đời bất tận, cũng chưa bao giờ nghĩ đến sự thật là cả sư tử, linh dương và cỏ cũng không thật sự vĩnh hằng. Simba không nghĩ được vũ trụ vốn như thế nào trước khi có sự tiến hóa của các loài có vú, cũng như số phận đồng cỏ châu Phi yêu mến của cậu là gì một khi con người giết hết sư tử và phủ lên đồng cỏ bê tông và nhựa đường. Điều này có khiến cuộc đời của Simba trở nên hoàn toàn vô nghĩa không?
Mọi câu chuyện đều không hoàn chỉnh. Thế nhưng để xây dựng một bản dạng khả dĩ cho bản thân và mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của mình, tôi không thực sự cần một câu chuyện hoàn chỉnh không hề có lỗ hổng và mâu thuẫn nội tại nào. Để cuộc sống của mình có ý nghĩa, một câu chuyện chỉ cần thỏa mãn hai điều kiện. Đầu tiên, nó phải cho tôi một vai gì đó. Một thổ dân New Guinea khó lòng tin vào chủ nghĩa phục quốc Do Thái hay chủ nghĩa dân tộc Serbia bởi những câu chuyện này hoàn toàn không quan tâm đến New Guinea và người dân ở đó. Cũng như các ngôi sao điện ảnh, con người chỉ thích những kịch bản để dành cho họ một vai quan trọng.
Thứ hai, một câu chuyện hay không cần phải kéo dài đến vô cực nhưng nó phải kéo dài vượt ngoài tầm mắt của tôi. Câu chuyện phải cho tôi một bản dạng và mang lại ý nghĩa cho cuộc đời tôi bằng cách đặt tôi trong một cái gì đó lớn hơn bản thân mình. Nhưng lúc nào cũng có nguy cơ là tôi sẽ bắt đầu tự hỏi điều gì mang lại ý nghĩa cho “cái gì đó lớn hơn” ấy. Nếu ý nghĩa cuộc đời tôi là giúp đỡ giai cấp bần lao hay dân tộc Ba Lan thì chính xác là điều gì mang lại ý nghĩa cho giai cấp bần lao hay dân tộc Ba Lan? Có một câu chuyện kể về một người đàn ông tuyên bố rằng thế giới được giữ ở đúng vị trí của nó bằng cách nằm trên lưng một con voi khổng lồ. Khi được hỏi thế con voi đứng lên cái gì, ông ta trả lời rằng nó đứng trên lưng một con rùa lớn. Còn con rùa? Trên lưng một con rùa còn lớn hơn. Và con rùa lớn hơn đó? Người đàn ông phát cáu và đáp: “Đừng bận tâm nữa. Từ đó về sau chỉ có rùa là rùa thôi”.
Hầu hết những câu chuyện thành công thường để ngỏ. Chúng không bao giờ cần phải giải thích ý nghĩa tối thượng đến từ đâu vì chúng quá giỏi nắm bắt sự chú ý của người khác và giữ sự chú ý đó bên trong vùng an toàn. Do đó, khi giải thích rằng thế giới nằm trên lưng một con voi khổng lồ, bạn nên đón lõng mọi câu hỏi khó bằng cách mô tả thật chi tiết rằng đôi tai vĩ đại của con voi vẫy vẫy thì tạo dông tố ra sao và khi con voi rùng mình tức giận thì động đất sẽ làm rung chuyển bề mặt Trái đất như thế nào. Nếu bạn thêu dệt một câu chuyện đủ hay, không ai nghĩ đến chuyện hỏi xem con voi đứng trên cái gì. Tương tự, chủ nghĩa dân tộc hút hồn chúng ta bằng các câu chuyện về chủ nghĩa anh hùng, làm ta cảm động phát khóc bằng cách kể lại những thảm họa trong quá khứ và khiến ta đùng đùng nổi giận bằng cách xoáy vào những điều bất công mà dân tộc ta đã gánh chịu. Chúng ta được bản anh hùng ca dân tộc này cuốn hút đến múc bắt đầu đánh giá mọi thứ xảy ra trên thế giới bằng ảnh hưởng của nó đến dân tộc mình và gần như chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện tự hỏi điều gì khiến dân tộc của chúng ta lại quan trọng đến thế ngay từ đầu.
Khi bạn tin vào một câu chuyện nhất định, nó sẽ làm bạn cực kỳ hứng thú với những tiểu tiết nhỏ nhất của nó, trong khi khiến bạn không nhìn ra bất cứ thứ gì nằm ngoài phạm vi ấy. Những người làm cách mạng nhiệt thành có thể dành vô số giờ đồng hồ tranh luận xem liệu có được phép liên minh với các nhà dân chủ xã hội ở các giai đoạn đầu của cách mạng không, nhưng họ hiếm khi dừng lại để ngẫm ngợi về vị trí của người lao động trong cuộc tiến hóa sự sống của loài có vú trên hành tinh Trái đất hay sự lan truyền của sự sống hữu cơ trong vũ trụ. Những câu chuyện vu vơ như thế bị xem là một sự phí hơi phản cách mạng.
Một số câu chuyện cũng mất công rào đón toàn bộ không gian và thời gian, nhưng khả năng kiểm soát sự chú ý giúp nhiều câu chuyện thành công khác giữ được sự khiêm nhường về phạm vi kể chuyện. Một quy luật quan trọng của kể chuyện là một khi câu chuyện bằng cách nào đó đã vượt được ra khỏi tầm nhìn của khán giả, thì phạm vi cuối cùng của nó không mấy quan trọng nữa. Người ta có thể cuồng nhiệt vì lợi ích của một dân tộc ngàn năm tuổi, cũng như một vị thần một tỷ năm tuổi. Con người đơn giản là cứ đến số to thì mù mờ. Phần lớn các trường hợp chỉ cần những con số nhỏ bé đến ngạc nhiên đã khiến trí tưởng tượng của ta kiệt sức.
Với tất cả những gì ta biết về vũ trụ, việc một người tình táo tin rằng sự thật chung cuộc về vũ trụ và sự tồn tại của loài người là câu chuyện về chủ nghĩa dân tộc Israel, Đức hay Nga hay thậm chí ở đâu đó, có vẻ hoàn toàn bất khả. Một câu chuyện phớt lờ gần như toàn bộ thời gian, toàn bộ không gian, Vụ Nổ Lớn, vật lý lượng tử và tiến hóa sự sống thì nhiều lắm cũng chỉ là một phần nhỏ xíu của sự thật. Thế nhưng bằng cách nào đó người ta vẫn không sao nhìn vượt ra khỏi câu chuyện như vậy.
Thực vậy, hàng tỷ người xuyên suốt lịch sử đã tin rằng để cuộc đời mình có ý nghĩa, họ thậm chí không cần phải cuốn vào một dân tộc hay một phong trào, hệ tư tưởng lớn lao nào cả. Chỉ cần họ “để lại một cái gì đó”, từ đó đảm bảo rằng câu chuyện cá nhân của họ sẽ tiếp tục sau khi họ chết, là đủ. Cái “gì đó” mà tôi để lại phía sau lý tưởng nhất là linh hồn hoặc tinh hoa cá nhân. Nếu tôi được tái sinh vào một thân xác mới sau cái chết của thân xác hiện tại thì chết không phải là hết. Nó chỉ là khoảng cách giữa hai chương và cốt truyện bắt đầu ở chương này sẽ tiếp diễn ở chương sau. Nhiều người ít nhất có một niềm tin mơ hồ vào một lý thuyết như thế, ngay cả khi họ không dựa vào một tư tưởng hệ cụ thể nào. Họ không cần một giáo lý phức tạp, họ chỉ cần cảm giác an ủi rằng câu chuyện của họ sẽ tiếp nối vượt qua chân trời của cái chết.
Lý thuyết về sự sống như một bản hùng ca không bao giờ kết này đặc biệt hấp dẫn và thông dụng, nhưng nó gặp hai vấn đề chính. Thứ nhất, bằng cách kéo dài câu chuyện của cá nhân mình, tôi không thật sự khiến nó trở nên ý nghĩa hơn. Tôi chỉ khiến nó trở nên dài hơn. Quả thật, hai tôn giáo lớn đi theo ý tưởng về một vòng sinh tử luân hồi bất diệt là Hindu giáo và Phật giáo có chung nỗi sợ đối với sự vô thường của mọi thứ. Hàng triệu triệu lần tôi tập đi, tôi lớn lên, tôi cãi vã với mẹ vợ, tôi ốm, tôi chết, rồi tôi lại làm lại tất cả mọi thứ đó. Thế thì nghĩa lý gì? Nếu tôi gom tất cả những giọt nước mắt mình đã khóc trong muôn kiếp trước, chúng hẳn sẽ đổ đầy Thái Bình Dương; nếu tôi gom tất cả răng và tóc mình đã rụng, chúng sẽ cao hơn dãy Himalaya. Và với tất cả những thứ đó, tôi có gì để mà khoe đây? Chẳng trách mà các nhà hiền triết Hindu và Phật giáo đều tập trung phần lớn sức lực vào việc làm sao để thoát khỏi vòng xoay này thay vì duy trì nó mãi mãi.
Vấn đề thứ hai với lý thuyết này là sự khan hiếm các bằng chứng hỗ trợ. Tôi có bằng chứng gì để chứng minh một kiếp trước của tôi là một nông dân thời Trung cổ, một người Neanderthal săn bắt, một con khủng long bạo chúa hay một con a-míp (Nếu tôi thực sự Sống hàng triệu cuộc đời, chắc chắn tôi từng là một con khủng long hoặc một con a-míp ở một giai đoạn nào đó vì con người mới tồn tại 2,5 triệu năm nay thôi)? Và trong tương lai tôi sẽ được tái sinh trong hình hài một người-robot, một nhà thám hiểm xuyên thiên hà hay thậm chí là một con ếch? Đặt cuộc đời mình dựa trên lời hứa đó hơi giống bán nhà để đổi lấy một tờ séc đã quá hạn và rút tiền ở một ngân hàng đặt trên mây.
Do đó, những người nghi ngờ việc có một dạng linh hồn hay tinh thần nào đó thực sự tồn tại sau khi chết cố để lại một cái gì đó hữu hình hơn. Cái “gì đó hữu hình” đó có thể tồn tại dưới một trong hai dạng: văn hóa hay sinh học. Tôi có thể để lại một bài thơ hoặc một ít gen di truyền quý giá chẳng hạn. Đời tôi có nghĩa vì người ta sẽ vẫn đọc thơ tôi sau này một trăm năm, hoặc vì con cháu tôi vẫn sẽ còn đây. Thế ý nghĩa cuộc đời con cháu tôi là gì? À, đấy là vấn đề của chúng nó, không phải của tôi. Ý nghĩa cuộc đời do vậy giống như đùa với một quả lựu đạn cầm tay. Bạn chuyền được nó sang tay một người khác là bạn an toàn.
Lạy trời, hy vọng nhỏ nhơi “để lại cái gì đó” này cũng hiếm khi thành hiện thực. Hầu hết các sinh vật từng tồn tại đã tuyệt chủng mà không để lại chút “di sản” di truyền nào. Gần như tất cả khủng long chẳng hạn. Hoặc một gia đình Neanderthal đã tuyệt chủng khi Homo sapiens chiếm ưu thế. Hay gia tộc bên ngoại người Ba Lan của tôi. Vào năm 1934, bà ngoại tôi, Fanny, di cư sang Jerusalem cùng bố mẹ và hai chị em gái, nhưng hầu hết họ hàng của bà ở lại trong các thị trấn Chmielnik và Czestochowa của Ba Lan. Vài năm sau, bọn Quốc xã tràn tới và giết sạch đến đứa trẻ cuối cùng.
Các nỗ lực để lại phía sau một thứ di sản văn hóa gì đó cũng hiếm khi thành công hơn. Chẳng có gì còn sót lại từ gia tộc Ba Lan của bà ngoại tôi ngoại trừ một vài khuôn mặt ố vàng trọng album ảnh gia đình; và ở tuổi 96, ngay cả bà ngoại tôi cũng không thể nhớ được tên của những người trong ảnh nữa. Theo hiểu biết tốt nhất của tôi thì họ chưa để lại bất kỳ tạo phẩm văn hóa nào: không một bài thơ, một cuốn nhật ký, thậm chí một danh sách đồ đi chợ cũng không. Bạn có thể phản bác rằng họ có phần trong di sản chung của dân tộc Do Thái hay phong trào Phục quốc Do Thái, nhưng điều đó gần như không đem lại ý nghĩa gì cho cuộc đời của từng người trong số họ. Hơn nữa, làm sao bạn biết tất cả bọn họ thực sự trân trọng bản dạng Do Thái của mình hay đồng tình với phong trào Phục quốc? Có lẽ một trong số họ là nhà cộng sản nhiệt thành đã hy sinh khi làm việc cho người Xô-viết? Có thể một người khác không mong muốn gì hơn hòa nhập vào xã hội Ba Lan, phục vụ như một sĩ quan trong quân đội Ba Lan và bị những người có tư tưởng cực đoan giết hại trong vụ Katyn? Có thể một người thứ ba là một nhà nữ quyền cấp tiến, chối bỏ mọi bản dạng tôn giáo và dân tộc truyền thống. Vì họ chẳng để lại gì nên việc “gán cho” họ vào mục đích này hay đại nghiệp khác sau khi họ chết là quá dễ dàng, và họ thậm chí còn không thể phản đối.
Nếu không thể để lại cái gì hữu hình, như một bộ gen hay một bài thơ, có lẽ ta chỉ cần làm thế giới hơi tốt đẹp hơn một chút là đủ? Bạn có thể giúp đỡ một ai đó và người này sau đó có thể giúp một người khác; do đó bạn đã đóng góp vào tiến bộ chung của thế giới và góp một mắt xích nhỏ vào chuỗi lòng tốt vĩ đại. Có thể bạn là người chỉ dẫn cho một đứa trẻ khó bảo nhưng thông minh xuất chúng, người sau đó trở thành bác sĩ cứu sống hàng trăm người. Có thể bạn giúp một bà cụ đi qua đường và làm một giờ đồng hồ trong đời bà tươi sáng hơn. Mặc dù cũng có tác dụng của nó, chuỗi lòng tốt vĩ đại cũng hơi giống chuỗi rùa: chẳng rõ ý nghĩa đến từ đâu. Một ông già thông thái được hỏi ông đã học được gì về ý nghĩa cuộc sống. “À”, ông trả lời, “tôi học được rằng tôi ở đây, trên Trái đất, để giúp đỡ người khác. Điều tôi vẫn chưa hiểu ra là tại sao mấy người kia lại ở đây”.
Với những người không tin vào các chuỗi vĩ đại, di sản tương lai hay sử thi tập thể, có lẽ câu chuyện an toàn nhất và tiết kiệm nhất họ có thể quay về là lãng mạn. Nó không tìm cách vượt khỏi cái ở đây và bây giờ. Như vô số bài thơ tình đã chứng minh, khi yêu, toàn bộ vũ trụ thu nhỏ vè vành tai, mi mắt hay núm vú người mình yêu. Khi ngước nhìn Juliet chống cằm, Romeo thốt lên: “Ôi, giá ta là chiếc găng trên bàn tay ấy. Giá ta có thể chạm vào gò má ấy!”. Bằng cách kết nối với một người duy nhất ở ngay đây và bây giờ, bạn cảm thấy được kết nối với cả vũ trụ.
Trên thực tế, người bạn yêu cũng chỉ là một con người nữa, không khác mấy so với vô số người, bạn phớt lờ mỗi ngày trên tàu điện và trong siêu thị. Nhưng với bạn, người ấy dường như vô hạn và bạn hạnh phúc khi được lạc lối trong sự vô hạn ấy. Các nhà thơ thần bí ở mọi tôn giáo truyền thống vẫn thường đánh đồng tình yêu lãng mạn với hợp thể vũ trụ, viết về Chúa như thể đó là một người tình. Các nhà thơ lãng mạn đáp lại lời ca tụng bằng cách viết về người tình như thể viết về Chúa. Nếu bạn thực sự yêu ai đó, bạn không bao giờ lo lắng về ý nghĩa cuộc đời.
Thế nếu bạn không yêu ai thì sao? À, nếu bạn tin vào câu chuyện lãng mạn nhưng không yêu ai, ít nhất bạn cũng biết mục tiêu của cuộc đời là gì: tìm được tình yêu chân chính. Bạn đã thấy điều đó trong vô số bộ phim và đọc về nó trong vô số cuốn sách. Bạn biết một ngày nào đó mình sẽ gặp người đặc biệt đó, bạn sẽ thấy sự vô hạn trong đôi mắt lấp lánh, cả cuộc đời bạn sẽ đột nhiên có ý nghĩa và mọi câu hỏi bạn từng đặt ra sẽ được trả lời bằng cách lặp đi lặp lại một cái tên, cũng như Tony trong West Side Story hay Romeo khi thấy Juliet từ trên ban công nhìn xuống mình.
SỨC NẶNG CỦA MÁI NHÀ
Một câu chuyện hay cần cho tôi một vai diễn, cần vượt quá tầm hiểu biết của tôi, nhưng nó không cần phải có thật. Một câu chuyện có thể hoàn toàn hư cấu nhưng vẫn cho tôi một bản dạng và làm tôi cảm thấy đời mình có ý nghĩa. Quả thật, theo hiểu biết khoa học tốt nhất của chúng ta, có hàng ngàn câu chuyện mà các nền văn hóa, tôn giáo và bộ lạc khác nhau đã sáng tác ra xuyên suốt lịch sử. Chúng chỉ là các sáng tạo của con người. Nếu bạn hỏi ý nghĩa thực sự của cuộc đời và có câu trả lời. là một câu chuyện thì hãy biết đấy là câu trả lời sai. Các chi tiết cụ thể không thực sự quan trọng. Bất cứ câu chuyện nào cũng sai, đơn giản nó là một câu chuyện. Vũ trụ không vận hành như một câu chuyện.
Thế thì tại sao người ta lại tin vào những câu chuyện hư cấu này? Một lý do là bản dạng cá nhân của họ được xây dựng dựa trên câu chuyện đó. Người ta được dạy phải tin vào câu chuyện đó từ thời thơ ấu. Họ nghe câu chuyện từ cha mẹ, thầy cô, láng giềng và nền văn hóa nói chung từ rất lâu trước khi họ phát triển sự độc lập về tri thức và cảm xúc cần thiết để đặt câu hỏi và xác minh những câu chuyện đó. Đến khi hiểu biết của họ chín muồi, họ đã gắn kết với câu chuyện sâu nặng đến mức rất có khả năng họ sẽ dùng chính tri thức của mình để hợp lý hóa câu chuyện đó hơn là nghi ngờ nó. Hầu hết những người trên hành trình tìm kiếm bản dạng của mình giống như những đứa trẻ đi tìm kho báu: họ chỉ tìm thấy những gì bố mẹ đã giấu từ trước.
Thứ hai, không chỉ bản dạng cá nhân của chúng ta mà cả các thiết chế chung của chúng ta cũng được xây dựng trên câu chuyên đó. Do vậy, việc nghi ngờ câu chuyện sẽ cực kỳ đáng sợ. Trong nhiều xã hội, bất cứ ai thử làm điều đó đều bị tẩy chay hoặc trừng phạt. Ngay cả khi không làm như vậy, họ cũng cần thần kinh thép để nghi ngờ chính kết cấu của xã hội. Bởi nếu quả thực câu chuyện là giả dối thì cả thế giới như ta biết sẽ không có nghĩa lý gì hết. Các luật lệ của nhà nước, các chuẩn mực xã hội, các thiết chế kinh tế, chúng có thể sụp đổ hết thảy.
Hầu hết các câu chuyện được giữ chặt với nhau nhờ vào sức nặng của mái nhà hơn là độ bền của móng. Thử nghĩ về câu chuyện Cơ Đốc mà xem. Nó có nền móng không vững chắc cho lắm. Chúng ta có chứng cứ gì cho thấy con trai của đấng sáng tạo ra toàn thể vũ trụ được sinh ra ở dạng sống gốc carbon đâu đó trong dải Ngân hà khoảng 2.000 năm trước? Ta có bằng chứng gì cho thấy điều đó xảy ra trong khu vực Galilee và mẹ Ngài là một trinh nữ? Thế nhưng, nhiều thiết chế toàn cầu lớn lao đã được xây dựng trên câu chuyện đó và sức nặng của chúng ép xuống với một uy lực bao trùm đến mức chúng làm cho câu chuyện giữ được vị thế. Có khi người ta đã khơi mào cuộc chiến tranh chỉ để thay đổi một từ trong câu chuyện đó. Mối bất hòa ngàn năm giữa người Cơ Đốc phía Tây và người Chính thống giáo phía Đông, gần đây hiển lộ bằng thảm kịch giữa người Croat và người Serb, bắt nguồn từ một từ duy nhất là filioque (tiếng Latin có nghĩa là “và từ đứa con trai”). Người Cơ Đốc phía Tây muốn đặt từ này vào công bố tín ngưỡng Cơ Đốc, trong khi người Chính thống giáo phía Đông phản đối kịch liệt (Các ám chỉ ý thức hệ của việc thêm từ này bí hiểm đến nỗi không thể giải thích nổi theo bất cứ cách nào có ý nghĩa ở đây. Nếu bạn tò mò, hãy hỏi Google).
Một khi bản dạng cá nhân và toàn bộ hệ thống xã hội được xây dựng dựa trên một câu chuyện, việc nghi ngờ nó trở thành một điều không thể tưởng tượng nổi, không phải vì các bằng chứng chống đỡ nó mà vì nếu nó sụp đổ thì nó sẽ kéo theo một cơn chấn động cả ở mức độ cá nhân lẫn xã hội. Trong lịch sử, mái nhà đôi khi quan trọng hơn nền móng.
ÚM BA LA VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP NIỀM TIN
Những câu chuyện mang lại cho chúng ta ý nghĩa và bản dạng đều là tạo dựng, nhưng con người cần phải tin vào chúng. Vì sao người ta muốn tin vào câu chuyện thì đã rõ, nhưng họ thực sự tin như thế nào? Chúng ta làm cho câu chuyện cảm giác thật bằng cách nào? Từ hàng ngàn năm trước, các linh mục và pháp sư đã khám phá ra câu trả lời: các nghi lễ. Nghi lễ khiến cái trừu tượng trở nên vững chắc và cái hư cấu trở nên rất thật. Bản chất của nghi lễ là câu thần chú “úm ba la, X là Y!”.
Làm thế nào để các tín đồ Cơ Đốc hình dung ra Jesus thật? Trong Thánh lễ, linh mục cầm một mẩu bánh mì, một ly rượu vang đỏ và tuyên bố rằng bánh mì là thịt của Chúa, rượu là máu Chúa và khi ăn, uống chúng thì các tín đồ đạt được sự hợp nhất với Jesus. Điều gì có thể thật hơn việc thật sự nếm được Chúa trong miệng mình? Theo truyền thống, linh mục đưa ra những lời tuyên bố chắc nịch này bằng tiếng Latin, ngôn ngữ cổ xưa của tôn giáo, luật pháp và các bí mật của cuộc sống. Trước những đôi mắt kinh ngạc của các nông dân đang tụ tập, linh mục giơ cao một mẩu bánh mì và hô lên: “Hoc est corpusl” – “Đây là thân xác!”; và mẩu bánh mì lập tức trở thành thịt của Chúa. Trong tâm trí những nông dân mù chữ, không nói tiếng Latin, “Hoc est corpusl” vô tình biến thành “Hocus pocus!” (tức “úm ba la!”). Thế là sinh ra lời nguyền mầu nhiệm có thể biến một con ếch thành một hoàng tử và một trái bí ngô thành cỗ xe ngựa.
Một ngàn năm trước khi Cơ Đốc giáo ra đời, người Hindu cổ đại đã dùng thủ pháp tương tự. Kinh Brihadaranyaka Upanishad diễn giải nghi thức hiến tế một con ngựa như là sự nhận thức toàn bộ câu chuyện về vũ trụ. Bản kinh cũng theo cấu trúc “úm ba la, X là Y!”: “Đầu con ngựa tế là bình minh, mắt nó là mặt trời, sức mạnh của nó là không khí, miệng nó khạc ra ngọn lửa gọi là Vaisvanara và thân mình của con ngựa tế là các năm… các bộ phận của nó là các mùa, các khớp của nó là các tháng và nửa tuần trăng, chân nó là ngày và đêm, xương nó là các vì sao và thịt nó là những đám mây… nó ngáp là chóp, nó lắc người là sấm, nó tè là mưa và nó hí là thanh âm”.
Gần như mọi thứ đều có thể biến thành một nghi lễ bằng cách làm cho các động tác thông thường như thắp nến, rung chuông hay lần tràng hạt thấm đẫm ý nghĩa tôn giáo sâu xa. Các động tác cơ thể như cúi đầu, phủ phục toàn thân hay chắp hai tay yào nhau cũng vậy. Các dạng khăn choàng, mũ đội khác nhau từ khăn turban của người Sikh đến khăn trùm đầu hijab của người Hồi, đều mang nhiều ý nghĩa đến nỗi chúng đã làm dấy lên những cuộc đấu đá chính trị dữ dội và thậm chí đổ máu.
Cả thức ăn cũng có thể mang các ý nghĩa tâm linh vượt quá giá trị dinh dưỡng của chúng rất nhiều, dù là trứng Phục sinh tượng trưng cho sự sống mới và sự tái sinh của Chúa Jesus hay các loại thảo mộc đắng và món bánh mì không men nở mà người Do Thái ăn trong lễ Quá Hải để nhớ về kiếp nô lệ ở Ai Cập và cuộc trốn thoát thần kỳ của họ. Gần như không có món ăn nào trên thế giới chưa từng được diễn dịch ra để tượng trưng cho một cái gì đó. Do đó, vào ngày lễ Năm Mới, người Do Thái ăn mật ong để năm tới được ngọt ngào, họ ăn đầu cá để sinh đẻ nhiều như cá và để tiến về phía trước hơn là lùi về sau, họ ăn quả lựu để những điều tốt lành sẽ nhân lên gấp bội như hạt lựu.
Các nghi thức tương tự cũng được sử dụng cho mục đích khác. Trong hàng nghìn năm, các vương miện, ngai và quyền trượng đã đại diện cho các vương quốc và cả đế chế; hàng triệu người đã chết trong các cuộc chiến đẫm máu giành quyền sở hữu “ngai vàng” hay “vương miện”. Các triều đình phong kiến duy trì các nghi thức chi tiết đến mức chúng sánh ngang với các nghi lễ tôn giáo phức tạp nhất. Trong quân đội, kỷ luật và nghi thức là không thể tách rời; quân lính từ Rome cổ đại cho đến ngày nay vẫn dành vô số giờ để diễu binh, chào cấp trên và đánh bóng giày. Napoleon đã nói một câu nổi tiếng rằng ông có thể khiến người ta hy sinh mạng sống vì một cái ruy-băng màu sắc.
Có lẽ không ai hiểu tầm quan trọng chính trị của các nghi lễ hơn Khổng Tử, người xem việc tuân thủ nghiêm ngặt các nghi thức (lễ) là chìa khóa của hòa hợp xã hội và ổn định chính trị. Các pho sách kinh điển của Khổng Tử như Kinh Lễ, Chu lễ và Nghi lễ mô tả chi tiết nghi thức nào nên được tiến hành vào dịp nạo, đến tận số lượng chén bát cần dùng trong mỗi nghi lễ; loại nhạc cụ cần chơi và màu sắc của áo xống cần mặc. Bất cứ lúc nào Trung Quốc gặp một con khủng hoảng, các học giả Khổng giáo lại nhanh chóng đổ lỗi cho việc lơ là nghi lễ, như một thượng sĩ đổ lỗi cho quân lính lơ là không đánh bóng giày mà để thua trận vậy.
Ở phương Tây hiện đại, sự ám ảnh kiểu Khổng Tử với các nghi lễ thường được xem như dấu hiệu của sự nông cạn và xưa cũ. Trên thực tế, có lẽ nó minh chứng cho sự thấu hiểu bản chất con người sâu sắc và vượt thời gian của Khổng Tử. Có lẽ không phải trùng hợp khi các nền văn hóa Khổng giáo, đầu tiên và trên hết là Trung Quốc cùng các nước láng giềng như Hàn Quốc, hay Nhật Bản, đã sản sinh ra các cấu trúc xã hội và chính trị cực kỳ bền vững. Nếu bạn muốn biết sự thật tối thượng của cuộc sống, lễ nghi là một rào cản lớn. Nhưng nếu bạn hứng thú với sự ổn định và hòa hợp xã hội như Khổng Tử thì sự thật lại thường là một gánh nặng, trong khi lễ nghi nằm trong những “đồng minh” tốt nhất của bạn.
Nguyên tắc này vẫn thỏa đáng vào giữa thế kỷ 21 giống như ở Trung Hoa cổ. Sức mạnh của biểu tượng vẫn sống tốt giữa thế giới công nghiệp hiện đại của chúng ta. Với rất nhiều người đang sống năm 2018, hai thanh gỗ đóng vào nhau chính là tượng trưng cho Chúa, một tấm áp-phích rực rỡ trên tường chính là cách mạng, và một mảnh vải bay trong gió chính là quốc gia. Bạn không thể nhìn hay nghe thấy nước Pháp vì nó chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của bạn; nhưng bạn chắc chắn có thể nhìn thấy lá cờ ba màu và nghe thấy bài quốc ca Pháp, “La Marseillaise”. Bằng cách vẫy một lá cờ và hát một bài quốc ca, bạn đã biến quốc gia từ một câu chuyện trừu tượng thành một thực thể hữu hình.
Hàng ngàn năm trước, các tín đồ Hindu sùng kính đã hiến tế những con ngựa quý; ngày nay, họ đầu tư vào việc sản xuất những lá cờ đắt tiền. Lá quốc kỳ của Ấn Độ được biết đến với tên gọi tiranga (nghĩa đen là “ba màu”) vì nó gồm ba sọc màu saffron, trắng và xanh lá. Quy tắc quốc kỳ Ấn Độ năm 2002 tuyên bố lá cờ “tượng trưng cho hy vọng và khát khao của người dân Ấn Độ. Nó là biểu tượng lòng tự hào dân tộc của chúng ta. Trong năm thập kỷ vừa qua, một vài người, bao gồm thành viên của các lực lượng vũ trang, đã không ngần ngại hiến dâng mạng sống của mình để giữ cho lá cờ ba màu bay pháp phới trong vinh quang.” Sau đó, quy định về quốc kỳ trích lời giải thích của ông Sarvepalli Radhakrishnan, tổng thống thứ hai của Ấn Độ:
Màu saffron diễn tả sự hy sinh quên mình hoặc sự không vụ lợi. Các lãnh đạo của chúng ta phải thờ ơ trước các lợi lộc vật chất và hiến mình cho công việc. Màu trắng ở giữa là ánh sáng, là con đường của sự thật dẫn lối ta đi. Màu xanh lá thể hiện mối quan hệ của chúng ta với đất đai, với đời sống cây cối ở đây, thứ mà mọi sự sống khác đều lệ thuộc. Bánh xe Ashoka ở giữa màu trắng là bánh xe của quy luật dharma. Sự thật hay Satya, dharma hay đạo đức phải là các nguyên tắc chi phối mọi người làm việc dưới lá cờ này.
Vào năm 2017, chính quyền dân tộc Ấn Độ thượng một trong những lá cờ lớn nhất thế giới tại Attari thuộc biên giới Ấn Độ-Pakistan, trong một động thái được tính toán không phải để khơi gợi sự quên mình hay không vụ lợi mà là để người Pakistan phải “ghen tị”. Lá cờ tiranga đó dài 36 mét, rộng 24 mét và được thượng lên một cột cờ cao 110 mét (Freud sẽ nói gì về chuyện này nhỉ?). Người ta có thể nhìn thấy lá cờ từ tận thủ phủ Lahore của Pakistan. Thật không may, gió mạnh liên tục làm rách cờ và lòng tự hào dân tộc đòi hỏi lá cờ phải được vá lại hết lần này đến lần khác, một chi phí khổng lồ mà những người dân đóng thuế Ấn Độ phải trả. Tại sao chính phủ Ấn Độ lại đầu tư các nguồn lực khan hiếm để may những lá cờ khổng lồ thay vì xây hệ thống thoát nước ở các khu ổ chuột tại Delhi? Bởi lá cờ khiến Ấn Độ trở nên thật theo cái cách mà các hệ thống thoát nước không thể làm được.
Quả thực, chính chi phí làm ra lá cờ khiến nghi lễ đó càng hiệu quả. Trong tất cả các nghi lễ, hiến tế là có uy lực nhất vì trong mọi thứ trên thế giới, đau khổ là thật nhất. Bạn không bao giờ có thể phớt lờ nó hay nghi ngờ nó. Nếu bạn muốn làm người ta thật sự tin vào một điều hư cấu nào đó, hãy bắt họ phải hy sinh vì nó. Một khi bạn chịu khổ cho một câu chuyện, việc đó thường đã đủ để bạn tin câu chuyện có thật. Nếu bạn nhịn ăn vì Chúa Trời yêu cầu bạn làm thế, cảm giác hữu hình của cái đói khiến Chúa Trời hiện hữu hơn bất cứ tượng đài hay biểu tượng nào. Nếu bạn mất đôi chân trong một cuộc chiến yêu nước, những mẩu cụt và chiếc xe lăn khiến đất nước thật hơn bất cứ bài thơ hay bài quốc ca nào. Ở một mức độ ít hoành tráng hơn, bằng cách chọn mua món mì kém chất lượng ở địa phương thay vì mì Ý chất lượng cao nhập khẩu, bạn đã có một hy sinh nho nhỏ thường nhật khiến đất nước trở nên sống động ngay cả trong siêu thị.
Đây dĩ nhiên là một ngụy biện logic. Nếu bạn chịu khổ bởi niềm tin của bạn vào Chúa Trời, điều đó không chứng minh niềm tin của bạn là đúng. Có thể bạn chỉ đang thể hiện sự ngờ nghệch của mình. Tuy nhiên, hầu hết mọi người không thích thừa nhận mình là đồ ngốc. Do đó, họ càng hy sinh nhiều cho một niềm tin nhất định, niềm tin đó càng trở nên mạnh mẽ. Đây là thuật giả kim bí hiểm của sự hy sinh. Để thu phục chúng ta dưới sức mạnh của mình, vị linh mục đang tế lễ kia không cần cho ta cái gì cả: không mưa, không tiền, không thắng lợi nơi chiến trận. Thay vào đó, ông ta cần lấy đi một cái gì đó. Một khi ông ta đã thuyết phục được chúng ta hy sinh thế là ông đã thành công.
Trong thế giới thương mại, điều đó cũng có tác dụng. Nếu bạn mua một cái xe Fiat cũ với giá 2.000 đô la, có khả năng bạn sẽ phàn nàn về nó với bất cứ ai sẵn sàng nghe. Nhưng nếu bạn mua một chiếc Ferrari mới cứng với giá 200.000 đô la, bạn sẽ hát lời ngợi ca nó khắp nơi nơi, không phải vì nó là một chiêc xe tốt mà vì bạn đã trả nhiều tiền cho nó đến nỗi bạn phải tin rằng nó là thứ tuyệt diệu nhất trên đời. Ngay cả trong tình yêu, bất cứ Romeo hay Werther khao khát nào cũng biết rằng không có hy sinh, không có tình yêu thật sự. Sự hy sinh không chỉ là cách chứng tỏ cho người tình biết rằng bạn nghiêm túc; nó cũng là cách bạn thuyết phục bản thân rằng bạn thực sự đang yêu. Bạn nghĩ tại sao phụ nữ đòi người tình trao cho mình nhẫn kim cương? Một khi người tình chịu hy sinh tài chính lớn lao đến thế, anh ta phải thuyết phục mình rằng đấy là vì một mục đích xứng đáng.
Tự hy sinh cũng cực kỳ thuyết phục không chỉ với bản thân những kẻ tử vì đạo mà còn với cả những người đứng ngoài nữa. Thần linh, quốc gia hay cuộc cách mạng khó có thể thành công nếu không có những “thánh tử vì đạo”. Nếu bạn định nghi ngờ điều này, ngay lập tức bạn sẽ bị mắng vì những nghi ngờ sự hy sinh đó: “Những vị tử đạo may mắn đã chết vì điều này! Mà bạn dám nói rằng họ chết không về điều gì? Bạn coi những anh hùng này là những kẻ ngốc?”
Với người Hồi Shiite, vở kịch vũ trụ đạt đỉnh điểm vào ngày Ashura, tức ngày thứ mười của tháng Muharram, sáu mốt năm sau Hijrah (ngày 10 tháng Mười năm 680 theo lịch Cơ Đốc). Vào ngày đó, tại vùng Karbala của Iraq, quân lính của tên phản loạn độc ác Yazid đã thảm sát Husayn ibn Ali, cháu trai của nhà tiên tri Muhammad, cùng một nhóm nhỏ các tín đồ. Với người Shiite, việc tử vì đạo của Husayn đã trở thành biểu tượng cho cuộc đấu tranh vĩnh hằng của cái thiện chống lại cái ác và của tầng lớp bị áp bức chống lại sự bất công. Giống như người Cơ Đốc liên tục dựng lại màn đóng đinh trên thánh giá và bắt chước khổ hình của Chúa, người Shiite cũng nhắc lại thảm kịch Ashura và bắt chước khổ hình của Husayn. Hằng năm, hàng triệu người Shiite đổ về thánh đường ở Karbala, được lập tại nơi Husayn tử vì đạo; vào ngày Ashura, người Shiite khấp thế giới dàn dựng các nghi lễ thương khóc, một số trường hợp còn tự dùng xích quật vào người và lấy dao cắt vào cơ thể.
Thế nhưng, tầm quan trọng của Ashura không chỉ giới hạn tại một nơi chốn hay một ngày. Ayatollah Ruhollah Khomeini và vô số lãnh đạo người Shiite khác đã liên tục nhắc nhở các tín đồ rằng “mỗi ngày đều là Ashura và mọi nơi đều là Karbala”. Sự tử đạo của Husayn ở Karbala do đó mang lại ý nghĩa cho mọi sự kiện, bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào; ngay cả các quyết định thông thường nhất cũng được xem là có ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh vĩ đại trong vũ trụ giữa cái thiện và cái ác. Nếu bạn dám nghi ngờ câu chuyện này, bạn sẽ ngay lập tức được nhắc nhớ đến Karbala và nghi ngờ hay dè bỉu sự tử vì đạo của Husayn đơn giản là sự xúc phạm tồi tệ nhất bạn có thể phạm phải.
Trong trường hợp, nếu các thánh tử vì đạo là hiếm hoi và người ta không sẵn sàng hy sinh thân mình thì các linh mục hiến tế sẽ có thể khiến họ đưa ra một ai đó khác để thế chỗ. Bạn có thể hiến tế một con người cho thần Ba’al báo thù, thiêu một tay ngoại đạo trên cọc gỗ vì vinh quang vĩ đại, giết những người phụ nữ ngoại tình vì Thượng đế bảo thế hoặc đẩy các kẻ thù vào nhà tù. Một khi bạn làm vậy, một “thuật giả kim” hy sinh hơi khác một chút bắt đầu phát huy ma thuật đối với bạn. Khi bạn tự làm mình đau khổ vì danh nghĩa một câu chuyện nào đó, nó cho bạn một lựa chọn: “Hoặc câu chuyện là đúng, hoặc mình là một thằng ngốc dễ dụ”. Khi bạn gây đau khổ cho người khác, bạn cũng được cho một lựa chọn: “Hoặc câu chuyện là đúng, hoặc mình là một kẻ xấu xa, tàn ác”. Và cũng như ta không muốn tự nhận mình là ngốc, ta cũng không muốn tự nhận mình là ác. Ta thích tin rằng câu chuyện có thật hơn.
Vào tháng Ba năm 1839, ở thành phố Mashhad của Iran, một phụ nữ Do Thái mắc bệnh da liễu được một tay lang băm địa phương bảo cho rằng nếu bà ta giết một con chó và rửa tay bằng máu của nó, bà ta sẽ được chữa lành. Mashhad là một thành phố thánh của người Shiite và tình cờ sao người phụ nữ thực hiện bài thuốc gớm ghiếc đó đúng vào ngày thiêng Ashura. Một vài người Shiite trông thấy bà ta và họ tin, hoặc tuyên bố rằng họ tin, người phụ nữ giết con chó để mỉa mai sự tử đạo của Karbala. Tin đồn về sự báng bổ không thể chấp nhận này nhanh chóng lan truyền trên đường phố Mashhad. Được thầy tế địa phương cổ xúy, một đám đông tức giận đã tràn vào khu của người Do Thái, đốt giáo đường và sát hại 36 người Do Thái. Tất cả những người Do Thái còn sống sót ở Mashhad sau đó được cho một lựa chọn u ám: ngay lập tức chuyển sang đạo Hồi hoặc bị sát hại. Chương đen tối này không hề ảnh hưởng đến danh tiếng của Mashhad như là “thủ phủ tinh thần của Iran”.
Khi nghĩ về việc hiến tế, người ta thường hình dung trong đầu các nghi lễ ghê rợn trong các đền thờ ở Canaan hay Aztec và người ta thường lý luận rằng, chủ nghĩa độc thần đã chấm dứt hủ tục khủng khiếp này. Trên thực tế, những người độc thần có thể thực hành hiến tế người trên một quy mô lớn hơn so với hầu hết các giáo phái đa thần. Trong quá khứ Cơ Đốc giáo và Hồi giáo sát hại người nhân danh Chúa Trời nhiều hơn các tín đồ của Ba’al hay Huitzilopochtli. Vào cái thời mà các nhà truyền giáo Tây Ban Nha đặt dấu chấm hết cho các cuộc hiến tế người lên các thần linh của Aztec hay Inca, tại quê nhà Tây Ban Nha, tòa án dị giáo thiêu dân ngoại đạo với số lượng phải tính bằng xe ngựa.
Hy sinh có thể có muôn hình vạn trạng và quy mô. Không phải lúc nào chúng cũng có các thầy tế tay lăm lầm con dao hay những kẻ tàn sát bạo liệt. Đạo Do Thái chẳng hạn, cấm người ta làm việc hay đi xa vào ngày lễ thánh Sabbath (nghĩa đen của từ “sabbath” là “đứng yên” hoặc “nghỉ ngơi”). Lễ Sabbath bắt đầu từ lúc mặt trời lặn vào thứ Sáu và kéo dài đến hoàng hôn thứ Bảy; trong khoảng thời gian đó, người Do Thái Chính thống hạn chế gần như mọi kiểu công việc, bao gồm cả xé giấy toilet từ cuộn giấy trong nhà vệ sinh (Đã có một số cuộc thảo luận về vấn đề này giữa các linh mục thông thái nhất và họ kết luận rằng xé giấy vệ sinh sẽ phạm vào điều kiêng kỵ trong ngày Sabbath; do đó, những người Do Thái sùng tín muốn đi vệ sinh vào lễ Sabbath thì phải chuẩn bị một chồng giấy toilet đã xé sẵn).
Ở Israel, người theo Do Thái giáo thường cố buộc những người Do Thái và cả những người hoàn toàn không theo đạo phải tuân theo các cấm kỵ này. Vì các đảng Chính thống thường giữ cán cân quyền lực trong nền chính trị Israel, qua năm tháng, họ đã thành công trong việc thông qua nhiều luật cấm đủ mọi loại hoạt động vào ngày Sabbath. Mặc dù họ không thể cấm việc sử dụng các phương tiện cá nhân vào ngày đó, họ đã cấm được các phương tiện giao thông công cộng. Sự hy sinh tôn giáo trên phạm vi toàn quốc này chủ yếu ảnh hưởng đến các thành phần yếu thế nhất xã hội, đặc biệt bời thứ Bảy là ngày duy nhất trong tuần mà người lao động được tự do đi chơi và thăm họ hàng, bạn bè và các điểm du lịch ở xa. Một người bà giàu có không gặp vấn đề gì khi lái xe đi thăm các cháu ở một thành phố khác, nhưng người bà nghèo, không có xe hơi thì không thể làm thế vì không có xe buýt hay tàu vào ngày Sabbath.
Bằng cách buộc hàng trăm ngàn công dân phải chịu những khó khăn như thế, các đảng phái tôn giáo khẳng định và củng cố niềm tin bất biến của mình vào Do Thái giáo. Dù máu không đổ, hạnh phúc của nhiều người vẫn bị đem ra hy sinh. Nếu Do Thái giáo chỉ là một câu chuyện hư cấu thì việc ngăn bà đến thăm các cháu hay ngăn một sinh viên nghèo đi chơi ngoài bãi biển là nhẫn tâm. Tuy nhiên, bằng cách làm điều đó, các đảng phái tôn giáo nói với thế giới và với bản thân mình rằng họ thực sự tin vào câu chuyện Do Thái. Sao, bộ mấy người nghĩ họ thích làm hại người khác chẳng vì lý do chính đáng gì cả à?
Hy sinh không chỉ củng cố lòng tin của bạn vào câu chuyện mà còn thường xuyên thay thế cho các nghĩa vụ khác của bạn đối với câu chuyện đó. Gần như tất cả các câu chuyện vĩ đại nhất của loài người đã đặt ra những lý tưởng mà đa số không thể hoàn thành. Có bao nhiêu người Cơ Đốc thật sự làm theo Mười Điều Răn đến từng chữ, không bao giờ nói dối hay thèm khát? Có bao nhiêu Phật tử đạt đến cảnh giới vô ngã?
Không thể sống đạt đến lý tưởng, một số người quay sang chọn hy sinh làm giải pháp. Một người Hindu có thể dính dáng đến trốn thuế, thỉnh thoảng đi chơi gái và đối xử tệ bạc với bố mẹ già của mình, nhưng vẫn tự thuyết phục mình là một người rất cao đạo vì anh ta ủng hộ việc phá hủy giáo đường Babri ở Ayodhya, thậm chí còn quyên tiền để xây một đền thờ Hindu thay vào đó. Cũng như vào thời cổ, đến thế kỷ 21, hành trình tìm ý nghĩa của con người vẫn hay kết thúc bằng một loạt các hy sinh.
DANH MỤC BẢN DẠNG
Người Ai Cập, Canaan và Hy Lạp cổ đại dàn trải các hy sinh của mình ra. Họ có rất nhiều vị thần và nếu một vị thất bại, họ hy vọng một vị khác sẽ vẫn thành công. Thế nên họ hiến tế cho thần Mặt trời vào buổi sáng, thần Trái đất vào buổi trưa và một loạt các tiên, các quỷ vào buổi tối. Cả điều đó nữa cũng không thay đổi nhiều. Tất cả các câu chuyện và các vị thần mà người ta tin vào ngày nay, dù là Yahweh, Mammon, đều không hoàn chỉnh, đầy lỗ hổng và đây đó là các mâu thuẫn. Do đó, người ta hiếm khi đặt toàn bộ niềm tin vào một câu chuyện duy nhất. Thay vào đó, họ có một danh mục vài câu chuyện và vài bản dạng, thay đổi từ cái nọ sang cái kia khi cần thiết. Những sự bất đồng nhận thức như vậy là rất phổ biến trong phần lớn các xã hội và các phong trào.
Thử hình dung một người ủng hộ Phong trào tiệc trà tiêu biểu thế nào đó vẫn đặt niềm tin sắt đá vào Jesus Christ, đồng thời phản đối nghiêm khắc các chính sách an sinh của chính quyền và ủng hộ trung thành Hiệp hội Súng trường Quốc gia. Chẳng phải thông điệp của Jesus tập trung vào việc giúp đỡ người nghèo hơn là trang bị súng ống đến tận răng hay sao? Các quan điểm có vẻ không đi đôi được với nhau, nhưng não bộ con người có rất nhiều ngăn và hộc, một số nơron đơn giản là không “giao tiếp” với nhau. Tương tự, bạn có thể thấy nhiều người ủng hộ Bernie Sanders có một niềm tin mơ hồ vào một cuộc cách mạng tương lai trong khi vẫn tin vào tầm quan trọng của việc đầu tư tiền một cách khôn ngoan. Họ có thể dễ dàng chuyển từ bàn luận sự phân phối của cải không công bằng trên thế giới sang nói chuyện về hiệu quả của danh mục đầu tư của mình ở Wall Street.
Hầu như không ai chỉ có một bản dạng. Không ai chỉ là một người Hồi, hay chỉ là một người Ý, hay chỉ là một nhà tư bản. Nhưng thỉnh thoảng, một tín điều cực đoan lại nổi lên và đòi hỏi người ta chỉ tin vào một câu chuyện duy nhất và có một bản dạng duy nhất. Trong các thế hệ gần đây, tín điều điên cuồng nhất trong số đó là chủ nghĩa phát xít. Chủ nghĩa phát xít khăng khăng rằng người ta không được tin vào bất cứ câu chuyện nào ngoài câu chuyện về chủ nghĩa dân tộc và không nên có bất cứ bản dạng nào khác ngoài bản dạng quốc gia.
Không phải nhà dân tộc chủ nghĩa nào cũng phát xít. Hầu hết các nhà dân tộc chủ nghĩa có niềm tin lớn lao vào câu chuyện về quốc gia của họ và nhấn mạnh các đức tính độc đáo của quốc gia cũng như các nghĩa vụ độc đáo mà họ có đối với quốc gia ấy; nhưng họ vẫn công nhận thế giới còn nhiều thứ khác ngoài quốc gia của mình. Tôi có thể là một người Ý trung thành với các bổn phận đặc biệt đối với dân tộc Ý mà vẫn có các bản dạng khác. Tôi cũng có thể là một nhà xã hội chủ nghĩa, một người Cơ Đốc, một người chồng, một người cha, một nhà khoa học và một người ăn chay; mỗi bản dạng này đều có các bổn phận đi kèm. Đôi khi, một số bản dạng của tôi kéo tôi về các hướng khác nhau và một số bổn phận đó lại mâu thuẫn với nhau. Nhưng ai bảo đời là dễ dàng nào?
Chủ nghĩa phát xít là thứ xảy ra khi chủ nghĩa dân tộc muốn mọi việc trở nên quá dễ dàng cho mình bằng cách khước từ mọi bổn phận và bản dạng khác. Gần đây, có rất nhiều nhầm lẫn về ý nghĩa thực sự của chủ nghĩa phát xít. Mọi người gọi hầu như bất cứ ai mà họ không thích là “đồ phát xít”. Thuật ngữ này có nguy cơ trở thành một cụm từ xúc phạm cho mọi mục đích. Thế thì nó thực sự có nghĩa gì? Nói ngắn gọn thì trong khi chủ nghĩa dân tộc dạy tôi rằng dân tộc tôi là độc nhất và tôi có các bổn phận đặc biệt dành cho nó, chủ nghĩa phát xít dạy tôi rằng dân tộc tôi là thượng đẳng và tôi nợ nó các bổn phận độc quyền. Tôi không bao giờ được đặt lợi ích của bất cứ nhóm hay cá nhân nào lên trên lợi ích dân tộc trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Ngay cả nếu dân tộc tôi có cơ hội kiếm một khoản lợi nhỏ mọn từ việc gây ra đau khổ cho hàng triệu người xa lạ ở một vùng đất xa xôi, tôi cũng không được chần chừ trong việc ủng hộ dân tộc mình. Nếu không, tôi là một kẻ phản bội đáng khinh. Nếu dân tộc tôi đòi hỏi tôi phải sát hại hàng triệu người, tôi phải làm theo. Nếu dân tộc tôi đòi tôi phản bội sự thật và cái đẹp, tôi cũng phải làm theo.
Làm thế nào để một kẻ phát xít đánh giá nghệ thuật? Làm thế nào để một kẻ phát xít bí quyết cho dù một bộ phim là một bộ phim hay? Rất đơn giản. Chỉ có một thước đo. Nếu bộ phim phục vụ lợi ích quốc gia, thì đó là một bộ phim hay. Nếu bộ phim không phục vụ lợi ích quốc gia, thì đó là một bộ phim tồi. Và làm thế nào để một kẻ phát xít quyết định dạy gì cho trẻ em ở trường? Anh ta sử dụng thước đo tương tự. Dạy cho trẻ em bất cứ điều gì phục vụ lợi ích của quốc gia; sự thật không quan trọng.
Sự tôn sùng dân tộc kiểu này là cực kỳ hấp dẫn, không chỉ vì nó đơn giản hóa nhiều lựa chọn khó khăn mà còn vì nó khiến người ta nghĩ rằng họ thuộc về thứ quan trọng nhất và đẹp nhất trên đời, dân tộc của họ. Những điều kinh khủng của Thế chiến thứ hai và cuộc diệt chủng. Do Thái Holocaust cho thấy những hậu quả khủng khiếp từ cách nghĩ này. Thật không may, khi nói về những điều xấu xa của chủ nghĩa phát xít, người ta thường làm khá tệ vì họ có khuynh hướng mô tả chủ nghĩa phát xít như một con quái vật xấu xí trong khi không giải thích được điều gì khiến nó trở nên “quyến rũ” đến thế. Đấy là lý do vì sao ngày nay, người ta thi thoảng vẫn làm theo một số ý tưởng phát xít mà không nhận ra. Người ta nghĩ: “Mình được dạy rằng chủ nghĩa phát xít là xấu xa và khi nhìn vào gương, mình thấy một cái gì đó cũng đẹp, thế nên mình không thể là phát xít được”.
Điều này hơi giống với sai lầm mà các phim Hollywood mắc phải khi mô tả các nhân vật phản diện, như Voldemort, chúa tể Sauron và Darth Vader, là vừa xấu người vừa xấu nết. Chúng thường là độc ác và xấu xa ngay cả với những kẻ ủng hộ trung thành nhất. Điều tôi không thể hiểu nổi khi xem những phim như thế là tại sao lại có người muốn đi theo một thằng cha gớm ghiếc như là Voldemort?
Vấn đề với cái ác là trong đời thực, nó không nhất thiết trông xấu xí. Nó có thể trông rất đẹp. Cơ Đốc giáo biết điều này rõ hơn Hollywood, đấy là lý do vì sao nghệ thuật Cơ Đốc truyền thống có khuynh hướng mô tả Satan như một tay cao to vạm vỡ tuyệt đẹp. Đấy là lý do vì sao ta rất khó cưỡng lại các cám dỗ của Satan. Đấy cũng là lý do vì sao khó đối xử với chủ nghĩa phát xít. Khi bạn nhìn vào tấm gương phát xít, cái bạn thấy không hề xấu xí. Khi người Đức nhìn vào tấm gương phát xít những năm 1930, nhiều người Đức thấy như là thứ đẹp đẽ nhất thế giới. Nếu ngày nay người Nga nhìn vào gương phát xít, họ sẽ thấy Nga là điều đẹp nhất trên thế giới. Và nếu người Israel nhìn vào gương phát xít, họ sẽ thấy Israel là điều đẹp nhất trên thế giới. Rồi họ muốn mình lạc trôi vào trong cái tập thể đẹp đẽ đó.
Từ “phát xít” bắt nguồn từ từ fascis trong tiếng Latin, nghĩa là “một bó que”. Nghe có vẻ là một biểu tượng hơi kém hoành tráng dành cho một trong những ý thức hệ dữ dội và chết chóc nhất trong lịch sử thế giới; nhưng nó có một ý nghĩa sâu xa và ghê gớm. Một cái que riêng lẻ thì rất yếu và bạn có thể dễ dàng bẻ nó làm đôi. Tuy nhiên, nếu bạn bó nhiều cái que lại với nhau thành một fascis, thì bạn gần như không thể bẻ được chúng. Điều này ám chỉ rằng cá nhân là một thứ không có gì quan trọng, nhưng miễn là tập thể kết dính với nhau thì họ sẽ cực kỳ uy lực. Do đó, những kẻ phát xít tin vào việc ưu tiên lợi ích tập thể lên trên lợi ích bất kỳ cá nhân nào và đòi hỏi không một que đơn lẻ nào dám phá vỡ sự đoàn kết của cả bó.
Dĩ nhiên, ta không bao giờ rõ “một bó que” người kết thúc ở đâu và một bó khác bắt đầu ở chỗ nào. Tại sao tôi phải xem Ý như một bó que mà tôi thuộc về đó? Tại sao không phải gia đình tôi, hay thành phố Horence, hay tinh Tuscany, hay lục địa châu Âu, hay toàn thể nhân loại? Các dạng dân tộc chủ nghĩa ôn hòa hơn sẽ nói với tôi rằng quả thực, tôi có thể có các bổn phận đối với gia đình mình, Florence, châu Âu và toàn thể nhân loại, cũng như các bổn phận đặc biệt đối với nước Ý. Trái lại, những kẻ phát xít Ý sẽ đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối của tôi với riêng nước Ý.
Mặc cho các nỗ lực mạnh mẽ nhất của Mussolini và đảng phát xít của ông ta, hầu hết người Ý vẫn khá lạnh nhạt với ý tưởng đặt nước Ý trước gia đình mình. Ở Đức, bộ máy tuyên truyền Quốc xã làm việc này thấu đáo hơn nhiều, nhưng ngay cả Hitler cũng không khiến được người ta quên hết các câu chuyện khác. Ngay trong những ngày đen tối nhất của kỷ nguyên Quốc xã, người ta vẫn luôn giữ một số câu chuyện dự phòng bên cạnh câu chuyện chính thức. Điều này trở nên rõ như ban ngày vào năm 1945. Bạn hẳn đã tưởng rằng sau mười hai năm tẩy não của Quốc xã, nhiều người Đức sẽ hoàn toàn không có khả năng hiểu được đời sống hậu chiến của mình nữa. Họ đã đặt mọi niềm tin vào một câu chuyện vĩ đại; họ phải làm gì khi câu chuyện đó nổ tung? Thế nhưng hầu hết người Đức hồi phục với một tốc độ đáng kinh ngạc. Đâu đó trong tâm trí, họ vẫn giữ lại một vài câu chuyện khác về thế giới; ngay khi Hitler bắn một viên đạn xuyên não mình thì người dân ở Berlin, Hamburg và Munich đã khoác lên mình các bản dạng khác và tìm được ý nghĩa mới trong cuộc đời mình.
Đúng, khoảng 20% các lãnh đạo đảng tại các vùng, miền và khoảng 10% tướng lĩnh Quốc xã đã tự sát. Nhưng điều đó có nghĩa là 80% lãnh đạo đảng cấp vùng và 90% tướng lĩnh vẫn khá vui vẻ sống tiếp. Đại đa số những tay Quốc xã cầm đầu cũng như lính tráng thuộc đội cận vệ không phát điên hay tự sát. Họ tiếp tục trở thành các nông dân, giáo viên, bác sĩ và nhân viên bán bảo hiểm hữu ích.
Thế nhưng, ngay cả tự sát cũng không chứng minh được sự cam kết tuyệt đối với một câu chuyện duy nhất. Vào ngày 13 tháng Mười một năm 2015, Nhà nước Hồi giáo tổ chức vài vụ đánh bom tự sát ở Paris giết chết 130 người. Nhóm cực đoan giải thích rằng chúng làm vậy để trả thù cho các cuộc ném bom của không lực Pháp nhằm vào các nhà hoạt động của Nhà nước Hồi giáo ở Syria và Iraq, với hy vọng rằng Pháp sẽ thoái chí mà không thực hiện các vụ oanh tạc như thế trong tương lai. Cùng lúc đó, Nhà nước Hồi giáo cũng tuyên bố rằng tất cả những người Hồi thiệt mạng do không lực Pháp đều là các thánh tử vì đạo, giờ đang hưởng hạnh phúc vĩnh hằng trên Thiên đường.
Có cái gì đó không hợp lý ở đây. Nếu quả thực những vị thánh tử vì đạo bị không quân Pháp sát hại giờ đang ở Thiên đường, tại sao lại có người phải đi trả thù vì chuyện đó? Chính xác thì trả thù cho cái gì mới được chứ? Vì đưa người lên Thiên đường à? Nếu bạn vừa hay tin người anh trai yêu quý của mình vừa trúng xổ số một triệu đô la, bạn có bắt đầu đặt bom các trạm bán vé số để thổi bay chúng đi mà trả thù không? Thế thì tại sao lại đi phá Paris chỉ vì không lực Pháp cho vài người anh em của bạn một tấm vé một chiều lên Thiên đường? Sẽ còn tệ hơn nếu bạn thực sự khiến người Pháp nhụt chí không đánh bom ở Syria nữa vì trong trường hợp đó, sẽ có ít người Hồi được lên Thiên đường hơn.
Chúng ta có thể mau mắn kết luận rằng các nhà hoạt động của Nhà nước Hồi giáo không thực sự tin rằng các thánh tử vì đạo được lên Thiên đường. Đấy là lý do họ tức giận khi bị đánh bom và bị giết. Nhưng nếu vậy, tại sao một số người lại buộc đai thuốc nổ vào người và sẵn sàng cho mình nổ tung thành nghìn mảnh? Nhiều khả năng câu trả lời là họ bấu víu lấy hai câu chuyện trái ngược nhau mà không nghĩ quá nhiều về sự bất tương đồng giữa chúng. Như đã nói ở trên, một số nơron thần kinh đơn giản là không nói chuyện giống nhau.
Tám thế kỷ trước thời điểm mà không lực Pháp ném bom các thành trì của Nhà nước Hồi giáo ở Syria và Iraq, một đội quân khác của Pháp đã xâm chiếm Trung Đông trong một thứ được hậu thế biết đến với tên gọi “Cuộc Thập tự chinh thứ Bảy”. Được vua Louis IX thần thánh dẫn dắt, các lính Thập tự hy vọng sẽ chinh phục thung lũng sông Nile và biến Ai Cập thành một thành trì Cơ Đốc. Tuy nhiên, họ bị đánh bại ở trận Mansoura và hầu hết lính Thập tự bị bắt làm tù binh. Một vị hiệp sĩ Thập tự chinh, Jean de Joinville, sau đó có viết trong hồi ký của mình rằng khi trận chiến thất bại và họ quyết định đầu hàng, một người nói rằng: “Tôi không thể đồng ý với quyết định này. Điều tôi khuyên là chúng ta nên tự để mình bị giết, vì như thế ta đều sẽ được lên Thiên đường”. Joinville bình luận khô khan rằng: “Không ai trong chúng tôi nghe theo lời khuyên của anh ta.”
Joinville không giải thích vì sao họ đã từ chối. Xét cho cùng, đây là những người đàn ông đã rời bỏ lâu đài dễ chịu của mình ở Pháp để đi một chặng đường dài và hiểm nguy đến Trung Đông chủ yếu vì họ tin vào lời hứa về sự cứu rỗi vĩnh hằng. Thế thì tại sao, khi chỉ còn cách Thiên đường vĩnh cửu có một khoảnh khắc thì họ lại chọn để người Hồi cầm tù? Rõ ràng, mặc dù các chiến binh Thập tự nhiệt thành tin vào cứu rỗi và Thiên đường, đến thời điểm quyết định, họ vẫn chọn cách rải tiền cược ra nhiều cửa.
SIÊU THỊ Ở ELSINORE
Xuyên suốt lịch sử, hầu hết mọi người đều tin vào vài câu chuyện cùng một lúc và không bao giờ tuyệt đối tin vào sự đúng đắn của bất cứ câu chuyện nào trong số đó. Sự không chắc chắn này làm lung lay mọi tôn giáo, do đó tôn giáo coi đức tin là một đạo đức tối thượng và sự nghi ngờ là một trong những lỗi lầm tồi tệ nhất. Như thế có cái gì đó tự thân đã là tốt đẹp trong chuyện tin vào những thứ không có bằng chứng vậy. Tuy nhiên, với sự trỗi dậy của văn hóa hiện đại, gió đã đổi chiều. Đức tin ngày càng giống nô lệ tinh thần, còn sự nghi ngờ được nhìn nhận như một tiền đề của tự do.
Đâu đó trọng khoảng từ năm 1599 đến năm 1602, William Shakespeare đã viết phiên bản Vua sư tử của riêng mình, được biết đến nhiều hơn với cái tên Hamlet. Nhưng không như Simba, Hamlet không hoàn tất Vòng đời. Chàng tiếp tục nghi ngờ và mơ hồ cho đến tận phút cuối, không bao giờ tìm ra được ý nghĩa cuộc đời và không bao giờ quyết định được liệu sống hay chết thì tốt hơn. Trong chuyện này, Hamlet chính là người hùng hiện đại kiểu mẫu. Tính hiện đại không chối bỏ hàng loạt các câu chuyện mà nó thừa hưởng từ quá khứ. Thay vào đó, nó mở cho chúng một cái siêu thị. Con người hiện đại thoải mái thử, chọn và kết hợp bất cứ thứ gì hợp gu của mình.
Một số người không thể chịu nổi quá nhiều tự do và bất định như vậy. Các phong trào toàn trị hiện đại như chủ nghĩa phát xít phản ứng quyết liệt với cái siêu thị đầy những ý tưởng đáng ngờ ấy và thậm chí vượt mặt các tôn giáo truyền thống trong việc đòi hỏi niềm tin tuyệt đối vào một câu chuyện duy nhất. Tuy nhiên, phần lớn người hiện đại vẫn thích cái siêu thị. Bạn phải làm gì khi bạn không biết cuộc đời tròn hay méo và tin vào câu chuyện nào? Bạn thánh hóa chính khả năng lựa chọn. Bạn đứng giữa các kệ hàng trong siêu thị, với quyền lực và tự do lựa chọn bất cứ thứ gì bạn thích, săm soi các sản phẩm đang trải ra trước mắt và… dừng khung hình, cắt, HẾT. Chạy danh sách những người tham gia vào bộ phim.
Theo truyền thuyết tự do, nếu bạn đứng đủ lâu trong cái siêu thị lớn đó, chẳng chóng thì chầy bạn cũng sẽ trải nghiệm sự hiển lộ tự do và nhận ra ý nghĩa thực sự của cuộc sống: mọi câu chuyện trên kệ siêu thị là giả. Ý nghĩa cuộc đời không phải là một sản phẩm làm sẵn. Không có kịch bản thiêng không thứ gì bên ngoài tôi có thể mang lại ý nghĩa cho cuộc đời tôi. Chính tôi là người mang lại ý nghĩa cho mọi thứ thông qua sự lựa chọn tự do và cảm xúc riêng của mình.
Trong bộ phim giả tưởng có tên Willow, một truyện cổ tích khá thường của George Lucas, nhân vật chính cùng tên là một chú lùn bình thường mơ ước trở thành một phù thủy vĩ đại nắm được những bí mật của sự sống. Một ngày nọ, một phù thủy như thế đi qua làng của người lùn để tìm đệ tử. Willow cùng hai người lùn khác háo hức ra trình diện và vị phù thủy ra cho các chàng trai đầy hy vọng một bài kiểm tra đơn giản. Ông đưa tay phải của mình ra, xòe các ngón tay và hỏi bằng một giọng rất là Yoda: “Sức mạnh kiểm soát thế giới nằm trong ngón tay nào?”. Mỗi người lùn chọn một ngón, nhưng họ đều chọn sai. Tuy nhiên, vị phù thủy nhận ra một điều gì đó ở Willow và sau đó hỏi anh: “Khi ta xòe tay ra, điều đầu tiên con nghĩ đến là gì?”. “À, thật là ngốc”, Willow xấu hổ nói, “khi tự chọn ngón tay của mình”. Vị phù thủy kêu lên đắc thắng: “A ha! Đấy là câu trả lời đúng! Con thiếu niềm tin ở bản thân”. Truyền thuyết tự do lặp lại bài học này không biết chán.
Con người đã viết ra Kinh Thánh, kinh Quran và kinh Vệ Đà; chính tâm trí chúng ta đã đem lại quyền năng cho những câu chuyện ấy. Không nghi ngờ gì nữa, chúng là những câu chuyện đẹp, nhưng vẻ đẹp của chúng nằm trọn trong mắt người nhìn. Jerusalem, Mecca, Varanasi và Bodh Gaya đều là những nơi thiêng, nhưng chỉ do cảm xúc mà mọi người cảm nhận được khi đến đó. Tự thân vũ trụ chỉ là một đám hỗn loạn vô nghĩa của các nguyên tử. Chẳng có gì tự thân đã đẹp, thiêng hay hấp dẫn; cảm xúc con người làm cho nó thành ra như vậy. Chỉ cảm xúc con người mới khiến một quả táo đỏ trở thành quyến rũ và một cục phân trở thành ghê tởm. Tách cảm xúc con người ra và cái còn lại chỉ là một đám phân tử.
Chúng ta hy vọng tìm được ý nghĩa bằng cách đặt mình vào những câu chuyện ăn sẵn về vũ trụ; nhưng theo cách diễn giải tự do cửa thế giới, sự thật là hoàn toàn trái ngược. Vũ trụ không cho tôi ý nghĩa. Tôi mang lại ý nghĩa cho vũ trụ. Đấy là nhiệm vụ vũ trụ của tôi. Tôi không có số phận hay dharma (pháp) nào cố định. Nếu tội tìm thấy mình trong vị trí của Simba hay Arjuna, tôi có thể chọn đấu tranh cho ngai vàng của một vương quốc, nhưng tôi không phải làm thế. Tôi cũng có thể gia nhập một gánh xiếc rong, đến Broadway hát trong một vở nhạc kịch hay chuyển đến Thung lũng Silicon để khởi nghiệp. Tôi tự do tạo ra nghiệp của riêng mình.
Như mọi câu chuyện vũ trụ khác, câu chuyện tự do cũng bắt đầu bằng một lời kể mang tính sáng thế. Nó nói rằng sáng thế xuất hiện trong từng khoảnh khắc và tôi là đấng sáng tạo. Thế thì mục đích của cuộc đời tôi là gì? Là tạo ra ý nghĩa bằng cảm nhận, bằng suy nghĩ, bằng khao khát và bằng sáng tạo. Bất cứ thứ gì giới hạn tự do cảm nhận, suy nghĩ, khao khát và sáng tạo của con người cũng giới hạn ý nghĩa của vũ trụ. Do đó, thoát khỏi những giới hạn như vậy là lý tưởng tối thượng.
Về thực tế mà nói, những người tin vào câu chuyện tự do sống nhờ ánh sáng của hai điều răn: sáng tạo và đấu tranh vì tự do. Sáng tạo có thể hiển lộ bằng cách viết một bài thơ, khám phá tính dục của bản thân, phát minh ra một ứng dụng máy tính mới hay tìm ra một hóa chất chưa ai biết đến. Đấu tranh cho tự do bao gồm bất cứ thứ gì giải phóng con người khỏi các kìm nén mang tính xã hội, sinh học và vật lý, dù là biểu tình chống lại những kẻ độc tài tàn bạo, dạy các cô gái biết đọc, tìm thuốc chữa ung thư hay tạo ra một con tàu vũ trụ. Đền thờ của chủ nghĩa tự do có cả Rosa Parks và Pablo Picasso cùng Louis Pasteur và anh em nhà Wright.
Điều này nghe có vẻ cực kỳ hấp dẫn và sâu sắc trên lý thuyết. Thật không may, tự do và sáng tạo của con người không phải là thứ mà câu chuyện tự do tưởng tượng ra. Với hiểu biết khoa học tốt nhất của chúng ta, không có ma thuật nào đằng sau các lựa chọn và sáng tạo của ta cả. Chứng là sản phẩm của hàng tỷ nơron thần kinh trao đổi tín hiệu sinh hóa; thậm chí nếu bạn giải phóng con người khỏi vòng kiềm tỏa của Giáo hội và Liên Xô, các lựa chọn của họ vẫn sẽ bị quyết định bởi các thuật toán sinh hóa tàn nhẫn như Toà án dị giáo và KGB.
Câu chuyện tự do dạy tôi phải tìm kiếm tự do biểu đạt và nhận thức bản thân. Nhưng cả “bản thể” và tự do đều là những con quái vật trong truyền thuyết được vay mượn từ những câu chuyện cổ tích thời xa xưa. Chủ nghĩa tự do có một ý niệm đặc biệt rối rắm về “ý chí tự do”. Con người rõ ràng là có một ý chí, họ có những khao khát và thỉnh thoảng được tự do thỏa mãn chúng. Nếu nói “ý chí tự do” theo nghĩa tự do làm bất cứ thứ gì bạn mong muốn thì đúng, con người có ý chí tự do. Nhưng nếu nói “ý chí tự do” theo nghĩa tự do chọn lựa cái để khao khát thì không, con người không có ý chí tự do.
Nếu tôi thấy đàn ông là hấp dẫn về tình dục, có thể tôi được tự do thỏa mãn dục vọng của mình, nhưng tôi không được tự do cảm thấy phụ nữ hấp dẫn thay vì đàn ông. Trong một vài trường hợp, tôi có thể quyết định kìm hãm thôi thúc tình dục của mình hoặc thậm chí thử một liệu trình “chuyển đổi tính dục”; nhưng chính cái mong ước thay đổi khuynh hướng tính dục của tôi cũng là một cái gì đó mà các nơron thần kinh áp đặt lên tôi, có thể do các định kiến văn hóa và tôn giáo thôi thúc. Tại sao người này cảm thấy xấu hổ về tính dục của mình và cố gắng thay đổi nó trong khi người kia vui vẻ tận hưởng các khao khát tính dục đó mà không mảy may thấy tội lỗi? Bạn có thể nói người thứ nhất có lẽ có cảm xúc tôn giáo mạnh hơn người thứ hai. Nhưng liệu con người có tự do lựa chọn việc có cảm xúc tôn giáo mạnh hay yếu không? Một lần nữa, con người có thể chọn đi nhà thờ mỗi sáng Chủ nhật trong một nỗ lực có ý thức nhằm củng cố các cảm xúc tôn giáo yếu ớt của mình; nhưng tại sao người này lại muốn mình tin vào thánh thần hơn, trong khi người kia thì lại hoàn toàn vui vẻ làm một người phi đạo? Điều này có thể bắt nguồn từ bất cứ khuynh hướng văn hóa và di truyền nào, nhưng nó không bao giờ là kết quả của “ý chí tự do”.
Điều gì đúng với dục vọng thì cũng đúng với mọi khao khát khác, thực ra với tất cả cảm xúc và suy nghĩ. Hãy nghĩ về suy nghĩ tiếp theo sẽ nảy sinh trong đầu bạn mà xem. Nó đến từ đâu? Bạn có tự do chọn suy nghĩ đó và chỉ khi chọn xong thì mới nghĩ không? Chắc chắn không. Quá trình tự khám phá bắt đầu với những thứ đơn giản và trở nên ngày càng khó khăn. Lúc đầu, ta nhận ra ta không kiểm soát thế giới bên ngoài cơ thể. Ta không quyết định khi nào trời mưa. Rồi ta nhận ra ta không kiểm soát được những gì xảy ra bên trong cơ thể. Ta đâu kiểm soát được huyết áp của mình. Tiếp theo, ta hiểu ra ta thậm chí không chi phối được bộ não của chính mình. Ta không bảo được các nơron khi nào cần truyền tín hiệu. Điều đó khó hơn nhiều. Cuối cùng, ta cũng nên nhận ra ta không kiểm soát được các ham muốn hay cả các phản ứng của ta đối với những ham muốn đó.
Nhận ra điều này có thể giúp chúng ta trở nên ít ám ảnh với ý kiến, cảm xúc và ao ước của mình hơn. Chúng ta không có ý chí tự do nhưng chúng ta cũng có thể thoải mái hơn một chút trong khuôn khổ của ý chí. Con người thường đặt vào các khao khát của mình nhiều sự quan trọng đến nỗi chúng ta cố kiểm soát và định hình cả thế giới theo các khao khát đó. Để theo đuổi các khao khát của mình, con người bay lên Mặt trăng, gây ra các cuộc thế chiến và gây bất ổn toàn bộ hệ sinh thái. Nếu ta hiểu rằng những khao khát của chúng ta không phải là những hiển lộ thần kỳ của lựa chọn tự do mà chỉ là sản phẩm của các quá trình sinh hóa (chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa cũng nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta), ta có thể sẽ bớt bị chúng ám ảnh hơn. Tốt hơn là hiểu được mình, tâm trí mình và những khao khát của mình, hơn là cố thực hiện bất cứ ảo mộng nào xuất hiện trong đầu.
Và một bước tối quan trọng để hiểu được mình là thừa nhận rằng “bản thể” là một câu chuyện hư cấu mà các cơ chế phức tạp trong tâm trí ta liên tục sản xuất, cập nhật và viết lại. Có một người kể chuyện trong tâm trí ta giải thích ta là ai, ta đến từ đâu, ta đang đến đâu và điều gì đang xảy ra với ta ngay lúc này. Giống như những phát ngôn viên chính phủ giải thích các cuộc chính biến mới nhất, người kể chuyện nội tại này cũng liên tục nói sai nhưng hiếm khi, nếu có, thừa nhận mình sai. Và cũng như chính phủ xây dựng một truyền thuyết dân tộc bằng cờ xí, biểu tượng và các cuộc duyệt binh, “bộ máy tuyên truyền nội tại” của tôi cũng xây dựng một truyền thuyết cá nhân với các ký ức được nâng niu và các sang chấn được vỗ về thường có rất ít điểm tương đồng với sự thật.
Vào thời đại Facebook và Instagram, bạn có thể quan sát thấy quá trình tạo truyền thuyết này rõ ràng hơn bao giờ hết vì vài phần trong đó đã được chuyển từ tâm trí ra ngoài cho máy tính làm. Chứng kiến người ta dành vô số thời gian xây đắp và đánh bóng một bản thể hoàn hảo trên mạng, rồi bị chính sáng tạo của mình hấp dẫn và đánh đồng nó với sự thật về bản thân quả thật vừa thú vị, vừa kinh hoàng. Đấy là cách một kỳ nghỉ gia đình đầy tắc đường, cãi vã vặt và những khoảng im lặng căng thẳng trở thành một bộ sưu tập các bức ảnh panorama đẹp đẽ, những bữa tối hoàn hảo và những khuôn mặt tươi cười; 99% những gì chúng ta trải qua không bao giờ trở thành một phần của câu chuyện về bản thể.
Điều đặc biệt đáng chú ý là bản thể tưởng tượng của chúng ta có xu hướng mang tính thị giác rất cao, trong khi các trải nghiệm thực sự của chúng ta lại mang tính tổng thể. Trong tưởng tượng, bạn nhìn thấy một cảnh tượng qua con mắt của tâm trí hay trên màn hình máy tính. Bạn thấy mình đứng trên một bãi biển nhiệt đới, biển xanh phía sau, nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt, một tay nâng ly cốc tai, tay kia quàng quanh eo người tình. Thiên đường. Cái mà bức ảnh không phô ra là con ruồi khó chịu cắn chân bạn, cảm giác đau quặn trong bụng vì ăn món cá hơi thiu, cơ hàm căng ra vì nụ cười giả tạo và trận cãi vã xấu xí của cặp đôi hạnh phức trước đó có năm phút. Giá mà ta có thể cảm nhận được những gì những người trong ảnh cảm thấy khi chụp ảnh!
Do đó, nếu thực sự muốn hiểu mình, bạn không nên đánh đồng mình với tài khoản Facebook của mình hay câu chuyện bên trong của chính mình về bản thể. Thay vào đó, bạn nên quan sát dòng chảy thực sự của thân thể và tâm trí. Bạn sẽ thấy những suy nghĩ, cảm xúc và khao khát xuất hiện và biến mất mà chẳng có mấy lý do và mệnh lệnh của bạn, cũng như những con gió vô tình thổi từ hướng này hay hướng khác đến làm tóc bạn rối tung. Và vì bạn không phải là một con gió nên bạn cũng không phải là mớ rối rắm những suy nghĩ, cảm xúc và mong ước mà bạn trải nghiệm; chắc chắn bạn không phải là câu chuyện sạch sẽ mà chính bạn kể về chúng sau khi nhìn lại. Bạn trải qua tất cả, nhưng bạn không kiểm soát chúng, bạn không sở hữu chúng và bạn không phải là chúng. Mọi người hỏi: “Tôi là ai?” và hy vọng được kể cho nghe một câu chuyện. Điều đầu tiên bạn cần phải biết về mình, đó là bạn không phải là một câu chuyện.
KHÔNG CÓ CÂU CHUYỆN NÀO CẢ
Chủ nghĩa tự do đã đi một bước triệt để trong việc chối bỏ mọi màn kịch vũ trụ, nhưng lại tái tạo nên màn kịch bên trong mỗi con người: vũ trụ không có cốt truyện, vì thế con người chúng ta phải tạo ra cốt truyện và đây là nhiệm vụ và ý nghĩa của cuộc đời chúng ta. Hàng ngàn năm trước kỷ nguyên tự do này, đạo Phật cổ đã đi xa hơn bằng cách phủ nhận không chỉ mọi mần kịch vũ trụ mà chính màn kịch bên trong do con người tạo nên nữa. Đạo Phật nói rằng vũ trụ không có ý nghĩa và cảm xúc của con người cũng không mang ý nghĩa nào cả. Chúng chỉ là các rung động thoáng qua, xuất hiện và biến mất chẳng vì mục đích gì cụ thể. Đấy là sự thật. Hãy chấp nhận đi.
Như đã nói ở trước, kinh Brihadaranyaka Upanishad nói với chúng ta rằng: “Dầu của con ngựa tế là bình minh, mắt nó là mặt trời… các chi của nó là các mùa, các khớp và các tháng và nửa tuần trăng, chân nó là ngày và đêm, xương nó là các vì sao và thịt nó là những đám mây”. Trái lại, kinh Mahasatipatthana Sutta, một văn bản Phật giáo quan trọng, giải thích rằng khi một người thiền, người đó cẩn thận quan sát cơ thể, nhận ra rằng: “Trong cơ thể này, có tóc trên đầu, lông trên da, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim… nước bọt, đờm, dịch khớp và nước tiểu. Thế là anh ta trú ngụ, quan sát cơ thể… Giờ thì sự hiểu biết của anh ta đã được xác lập: ‘Đây là cơ thể!’.” Lông tóc, xương hay nước tiểu không đại diện cho bất cứ cái gì khác. Chúng chỉ là chúng thôi.
Hết đoạn này đến đoạn khác sau đó, văn bản tiếp tục giải thích rằng dù người thiền có quan sát được gì trong cơ thể và tâm trí thì người đó chỉ cần hiểu nó như nó vốn vậy. Khi người thiền hít thở, “hít vào một hơi dài, anh ta hiểu rõ ‘mình đang hít vào một hơi dài’. Hít vào một hơi ngắn, anh ta hiểu rõ ‘mình đang hít vào một hơi ngắn’.” Hơi thở dài không tượng trưng cho các mùa và hơi thở ngắn không tượng trưng cho các ngày. Chúng chỉ là những rung động trong cơ thể.
Phật dạy rằng ba hiện thực cơ bản của vũ trụ là mọi thứ liên tục thay đổi, không gì có bản chất trường tồn, và không có gì khiến ta hài lòng hoàn toàn cả. Anh có thể đi thám hiểm nơi xa xôi nhất của thiên hà, của cơ thể mình hay của tâm trí mình; nhưng anh sẽ không bao giờ bắt gặp một cái gì đó không thay đổi, có bản chất vĩnh hằng và khiến anh thỏa mãn hoàn toàn.
Khổ đau xuất hiện vì con người không nhận ra điều này. Họ tin rằng có một thực tại vĩnh hằng ở đâu đó; chỉ cần tìm thấy nó và kết nối với nó, họ sẽ được thỏa mãn hoàn toàn. Cái thực tại vĩnh hằng này đôi khi được gọi là Chúa, đôi khi là dân tộc, đôi khi là linh hồn, đôi khi là bản thể đích thực, và đôi khi là tình yêu chân chính; và con người càng gắn bó với nó, họ càng thất vọng và đau khổ vì không tìm thấy nó. Tệ hơn nữa, càng gắn bó, họ càng ghét bất cứ người, nhóm người hay tổ chức nào có vẻ đang đứng giữa họ và mục tiêu yêu dấu của họ.
Thế nên, theo Phật, cuộc đời là vô nghĩa và con người không cần phải tạo ra bất cứ ý nghĩa nào. Họ chỉ cần nhận ra rằng không có ý nghĩa nào cả và từ đó được giải phóng khỏi những khổ đau do quá ràng buộc và gắn mình với những hiện tượng trống rỗng. “Tôi nên làm gì?” người ta hỏi và Phật khuyên: “Không làm gì. Tuyệt đối không gì cả”. Toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ chúng ta liên tục làm một cái gì đó. Không nhất thiết ở phương diện vật lý, chúng ta có thể ngồi bất động hàng giờ với đôi mắt nhắm nghiền, nhưng ở phương diện tâm lý, chúng ta vẫn đang cực kỳ bận rộn sáng tác ra những câu chuyện và bản ngã, chiến đấu và chiến thắng. Để thực sự không làm gì có nghĩa là cả tâm trí cũng phải không làm gì và không tạo ra cái gì.
Thật không may, điều này cũng rất dễ trở thành một thiên anh hùng ca. Ngay cả khi ngồi đó nhắm mắt và cảm nhận hơi thở đi vào đi ra qua hai lỗ mũi, bạn vẫn có thể bắt đầu thêu dệt các câu chuyện về nó. “Hơi thở của mình hơi gượng và nếu mình hít thở bình tĩnh hơn, mình sẽ khỏe hơn” hay “Chỉ cần mình tiếp tục cảm nhận hơi thở và không làm gì cả, mình sẽ giác ngộ và trở thành người thông thái nhất và hạnh phúc nhất quả đất.” Thế rồi bản anh hùng ca bắt đầu mở rộng và con người dấn thân vào một cuộc hành trình không chỉ để giải phóng bản thân khỏi những ràng buộc riêng mà còn để thuyết phục người khác làm việc đó nữa. Sau khi thừa nhận cuộc đời không có nghĩa, tôi tìm thấy ý nghĩa trong việc giải thích sự thật này cho người khác, cãi nhau với những kẻ không tin, giảng giải cho những kẻ hoài nghi, quyên tiền để xây tu viện,... “Không có câu chuyện nào cả” rất dễ dàng lại trở thành một câu chuyện nữa.
Lịch sử đạo Phật cho ta nhiều ví dụ về những người tin vào sự vô thường và trống rỗng của mọi hiện tượng, vào tầm quan trọng của việc buông bỏ, có thể vẫn cãi vã và đấu tranh vì việc cai trị một đất nước, sở hữu một tòa nhà hay thậm chí là ý nghĩa của một từ như thế nào. Xung đột với những người khác vì bạn tin vào sự vinh quang của một vị Chúa vĩnh hằng là điều không may nhưng còn hiểu được; xung đột với người khác vì bạn tin vào sự trống rỗng của mọi hiện tượng thì quả là kỳ quặc và cũng rất người.
Vào thế kỷ 18, các vương triều ở cả Miến Điện và nước Xiêm La láng giềng đều tự hào về lòng thành tâm hướng Phật và đạt tính chính danh nhờ bảo vệ đức tin Phật giáo. Các vị vua cúng dường cho các tu viện, xây chùa và hằng ngày lắng nghe các nhà sư uyên bác thuyết pháp trơn tru về ngũ giới (năm điều răn đạo đức cơ bản) của mỗi con người: tránh xa giết chóc, trộm cắp, hãm hiếp, lừa dối và rượu chè. Tuy nhiên, hai vương quốc thì xung đột liên miên. Vào ngày 7 tháng Tư năm 1767, quân đội của vua Miến Hsinbyushin càn quét kinh đô Xiêm sau một cuộc vây hãm kéo dài. Đoàn quân chiến thắng sát hại, cướp bóc và có lẽ cũng uống say mèm ở đâu đó nữa. Sau đó, họ đốt trụi gần hết thành phố với các cung điện, tu viện và chùa chiền, mang về nước hàng ngàn nô lệ và xe chở đầy vàng bạc châu báu.
Không phải vua Hsinbyushin xem nhẹ Phật giáo của nước mình đâu. Bảy năm sau chiến thắng vĩ đại của mình, nhà vua dẫn đầu một đoàn triều thần và hoàng gia xuôi theo sông Irrawaddy vĩ đại, lễ bái tại các chùa lớn dọc đường và cầu xin Phật Trời phù hộ quân đội mình có nhiều thắng lợi hơn nữa. Khi Hsinbyushin đến Rangoon, ngài cho xây lại và mở rộng kiến trúc thiêng nhất trên toàn đất Miến Điện, chùa Shwedagon. Sau đó, ngài cho dát vàng bảo tháp đã được mở rộng bằng đúng khối lượng của mình và dựng một chóp vàng trên đỉnh chùa, nạm vào đó toàn là đá quý (có lẽ cướp được từ Xiêm La). Ngài cũng nhân dịp này xử tội vua xứ Pego cùng em trai và con trai của nhà vua lúc đó đang bị bắt làm tù binh.
Ở Nhật Bản những năm 1930, người ta thậm chí còn tìm ra những cách rất sáng tạo để kết hợp các giáo lý Phật giáo với chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa phát xít. Các nhà tư tưởng Phật giáo cấp tiến như Nissho Inoue, Ikki Kita và Tanaka Chigakư cho rằng để xóa bỏ các ràng buộc vị kỷ của mình, người ta phải hoàn toàn dâng hiến bản thân cho Thiên hoàng, từ bỏ mọi suy nghĩ cá nhân và đạt đến. sự trung thành tuyệt đối với tổ quốc. Nhiều tổ chức quốc gia cực đoan khác nhau đã được các ý tưởng này truyền cảm hứng, bao gồm một nhóm chính trị cuồng tín tìm cách lật đổ hệ thống chính trị bảo thủ của Nhật Bản bằng một chiến dịch ám sát. Chúng ám sát cựu bộ trưởng Tài chính, tổng giám đốc tập đoàn Mitsui và cuối cùng là Thủ tướng Inukai Tsuyoshi. Từ đó, chúng đã đẩy nhanh việc biến Nhật Bản thành một nền độc tài quân sự. Khi quân đội khỏi chiến, nhiều sư sãi theo Phật giáo tiểu thừa và thiền sư theo Thiền tông rao giảng sự tuân phục quên mình đối với quyền lực của nhà nước và khuyến khích hy sinh cho chiến tranh. Trái lại, các lời giảng của Phật về lòng trắc ẩn và bất bạo động bằng cách nào đó đã bị quên lãng, chẳng có ảnh hưởng gì đáng kể đến hành vi của quân đội Nhật ở Nam Kinh, Manila hay Seoul cả.
Thời hiện đại, hồ sơ nhân quyền của Myanmar thuộc vào loại khá “đen” và nhà sư Ashin Wirathu lãnh đạo phong trào bài trừ Hồi giáo trong nước. Ông tuyên bố mình chỉ muốn bảo vệ Myanmar và Phật giáo khỏi các âm mưu thánh chiến Hồi giáo; nhưng các bài giảng và bài viết của ông mang tính kích động đến nỗi vào tháng Hai năm 2018, Facebook đã xóa trang của ông vì lý do chống các kêu gọi kích động thù hận. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2017 với tờ Guardian, nhà sư này rao giảng lòng trắc ẩn với một con muỗi bay ngang qua; nhưng khi bị đưa ra các cáo buộc rằng phụ nữ Hồi giáo đã bị quân đội Myanmar hãm hiếp, ông ta cười và nói: “Không thể nào. Cơ thể bọn đó quá gớm ghiếc.”
Có rất ít khả năng hòa bình và hòa hợp toàn cầu sẽ đạt được khi hơn bảy tỷ người bắt đầu thiền thường xuyên. Tuân theo sự thật về bản thân thì thật quá khó khăn! Ngay cả khi làm thế nào đó bạn khiến hầu hết mọi người thử thiền, thì có người trong số chúng ta sẽ nhanh chóng bóp méo sự thật mà mình nhìn thấy thành một câu chuyện nào đó với anh hùng, kẻ ác và kẻ thù, và tìm ra những lý do rất chính đáng để khơi mào cho xung đột từ câu chuyện ấy.
BÀI KIỂM TRA HIỆN THỰC
MẶC DÙ tất cả các câu chuyện lớn này đều chỉ là hư cấu và do tâm trí chính chúng ta tạo ra, ta cũng không có lý do gì để tuyệt vọng cả. Hiện thực vẫn còn đó. Bạn không thể sắm một vai trong bất kỳ vở kịch giả vờ nào, nhưng tại sao bạn lại muốn làm việc đó ngay từ đầu kia chứ? Câu hỏi lớn mà con người đối mặt không phải “ý nghĩa cuộc đời là gì?” mà là “làm thế nào chúng ta chấm dứt khổ đau?”. Khi từ bỏ mọi câu chuyện hư cấu, bạn có thể quan sát hiện thực một cách sáng tỏ hơn trước rất nhiều; và nếu bạn thực sự biết sự thật về bản thân và về thế giới, không gì có thể làm bạn đau khổ. Nhưng điều đó dĩ nhiên là nói dễ hơn làm.
Con người chúng ta đã chinh phục thế giới nhờ khả năng sáng tạo và tin vào các câu chuyện hư cấu. Do đó chúng ta đặc biệt kém trong việc phân biệt đâu là hư cấu, đâu là hiện thực. Bỏ qua sự khác biệt này vốn là vấn đề sống còn đối với chúng ta. Tuy nhiên, nếu bạn vẫn muốn biết sự khác nhau giữa chúng, bạn phải bắt đầu vối đau khổ. Bởi như đã nói từ trước, thứ thật nhất trên thế giới này là khổ đau.
Khi bạn đối mặt với một câu chuyện vĩ đại nào đó và muốn biết liệu nó là thật hay tưởng tượng, một trong những câu hỏi cốt lõi cần đặt ra là liệu nhân vật chính trung tâm của câu chuyện có phải chịu đau khổ không. Chẳng hạn, nếu ai đó kể cho bạn nghe câu chuyện về dân tộc Ba Lan, hãy dừng lại một chút để nghĩ lại xem liệu Ba Lan có thể chịu đau không. Adam Mickiewicz, nhà thơ trữ tình vĩ đại và là cha đẻ của chủ nghĩa dân tộc Ba Lan hiện đại, đã gọi Ba Lan là “Chúa Jesus của các quốc gia”. Viết vào năm 1832, nhiều thập kỷ sau khi Ba Lan đã bị chia nhỏ cho Nga, Phổ và Áo, không lâu sau khi cuộc nổi dậy năm 1830 của Ba Lan bị nước Nga Sa hoàng đàn áp bạo liệt, Mickiewicz giải thích rằng những đau khổ khủng khiếp mà Ba Lan phải chịu là một sự hy sinh thay mặt cho toàn thể nhân loại, có thể sánh với sự hy sinh của Chúa Jesus, rằng cũng như Jesus, Ba Lan sẽ trỗi dậy từ cái chết.
Trong một đoạn văn nổi tiếng, Mickiewicz viết:
Ba Lan nói (với người dân châu Âu): “Bất cứ ai đến với ta sẽ được tự do và bình đẳng bởi ta chính là Tự Do”. Nhưng các vị vua, khi nghe thấy, đã sợ hãi tận tâm can và đóng đanh Ba Lan trên thập giá, đặt Ba Lan vào mộ, rồi kêu lên: “Chúng ta đã giết và chôn Tự Do”. Nhưng họ kêu lên một cách ngu ngốc… vì Dân tộc Ba Lan không chết… Vào ngày thứ ba, Linh hồn sẽ trở về với Thể xác; Dân tộc sẽ trỗi dậy và giải phóng mọi dân tộc châu Âu khỏi vòng Nô lệ.
Liệu một dân tộc có thực sự chịu đau? Dân tộc có mắt, tay, giác quan, tình cảm và dam mê không? Nếu bạn đâm nó, nó có chảy máu không? Dĩ nhiên là không. Nếu nó thua trong một cuộc chiến, mất đi một tỉnh, thậm chí bị tước đi quyền độc lập, nó vẫn không thể cảm nhận được nỗi đau, buồn hay bất cứ dạng khổ sở nào khác, vì nó không có cơ thể, tâm trí và không có chút cảm giác nào cả. Trên thực tế, nó chỉ là một ẩn dụ. Chỉ trong trí tưởng tượng của một số người nhất định thì Ba Lan mới là một thực thể thực có khả nâng chịu khổ đau. Ba Lan tồn tại vì những người này cho nó vay mượn thân xác, không chỉ bằng cách chiến đấu trong quân đội Ba Lan, mà còn bằng cách hiện thân cho niềm vui và nỗi buồn của dân tộc. Vào tháng Năm năm 1831, tin tức quân Ba Lan thua trận Ostroleka lan đến Warsaw, bụng người quặn lại vì đau đớn, ngực người phập phồng vì đau, mắt người tràn lệ.
Tất cả những điều này dĩ nhiên không biện minh cho hành động của Nga, cũng như không hạ thấp quyền được thiết lập một đất nước độc lập, quyết định luật lệ và phong tục của người Ba Lan. Thế nhưng xét cho cùng, nó có nghĩa là hiện thực không thể là câu chuyện của dân tộc Ba Lan vì chính sự tồn tại của Ba Lan phụ thuộc vào các hình ảnh trong tâm trí con người.
Trái lại, hãy hình dung số phận của một người phụ nữ Warsaw bị lính Nga cướp và hãm hiếp. Không giống sự khổ đau ẩn dụ của dân tộc Ba Lan, khổ đau của người phụ nữ đó rất thật. Nó cũng có thể là kết quả của các niềm tin của con người vào các hư cấu khác nhau, như là chủ nghĩa dân tộc Nga, Cơ Đốc chính thống, chủ nghĩa anh hùng đại trượng phu, tất cả những điều đã truyền cảm hứng cho nhiều quan chức và binh lính Nga. Tuy nhiên, khổ đau nó gây ra vẫn là thật một trăm phần trăm.
Khi chính trị gia bắt đầu nói bằng các thuật ngữ bí hiểm, hãy dè chừng. Có thể họ đang che đi và bào chữa cho khổ đau thực bằng cách bọc gói chúng trong những ngôn từ đao to búa lớn không thể hiểu nổi. Đặc biệt cẩn trọng khi nghe bốn từ sau: hy sinh, vĩnh hằng, thuần khiết, cứu chuộc. Nếu bạn nghe thấy bất cứ từ nào trong số này, bật chuông báo động lên. Và nếu bạn tình cờ sống ở một nơi mà người lãnh đạo thường xuyên nói những thứ như “Sự hy sinh của họ sẽ cứu chuộc sự thuần khiết của dân tộc vĩnh hằng của chúng ta” thì hãy biết là bạn đang gặp rắc rối to rồi đấy. Để cứu vớt sự tỉnh táo của bản thân, hãy luôn luôn cố gắng “phiên dịch” những thứ lờ mờ đó thành ngôn từ thực tế: một người lính kêu gào trong đau đớn, một người phụ nữ bị đánh đập tàn bạo, một đứa trẻ run rẩy trong sợ hãi.
THẾ NÊN nếu bạn muốn biết sự thật về vũ trụ, về ý nghĩa cuộc sống và về bản thân mình, vị trí khỏi đầu tốt nhất là quan sát sự đau khổ và khám phá xem nó là gì.
Câu trả lời không phải là một câu chuyện đâu.
Bài học 21 - Thiền
CHỈ QUAN SÁT THÔI
Sau khi đã chỉ trích rất nhiều câu chuyện, liên quan đến tôn giáo và hệ tư tưởng, để cho công bằng, giờ đến lượt tôi đặt mình vào tầm ngắm và giải thích làm thế nào mà một người đa nghi đến thế vẫn có thể vui vẻ thức dậy mỗi sáng. Tôi chần chừ làm việc này phần là vì nỗi sợ nuông chiều bản thân, phần là vì tôi không muốn mọi người có ấn tượng sai lầm rằng cái gì có tác dụng với tôi cũng sẽ có tác dụng với tất cả mọi người. Tôi ý thức rất rõ rằng, không phải ai cũng giống mình về những lắt léo trong vật liệu di truyền, noron thần kinh, quá trình sống và dharma cá nhân. Nhưng có lẽ độc giả nên biết cặp kính mà tôi dùng để nhìn thế giới, từ đó bóp méo tầm nhìn cũng như những viết lách của tôi, có màu gì.
Ở tuổi teen, tôi hoang mang và không thể ngồi yên một chỗ. Thế giới chẳng có ý nghĩa gì với tôi và tôi không có câu trả lời nào cho những câu hỏi lớn về cuộc đời. Đặc biệt, tôi không hiểu tại sao có quá nhiều khổ đau trên thế giới và trong chính cuộc đời mình đến vậy, có thể làm điều gì với chúng đây. Tất cả những gì tôi có được từ mọi người xung quanh và những cuốn sách tôi đọc là các câu chuyện hư cấu công phu: các truyền thuyết tôn giáo về các vị thần và Thiên đường, các truyền thuyết dân tộc về đất mẹ và sứ mệnh lịch sử của nó, các truyền thuyết lãng mạn về tinh yêu và phiêu lưu, hay các truyền thuyết tư bản về phát triển kinh tế và việc mua và tiêu dùng các thứ sẽ khiến tôi hạnh phúc như thế nào. Tôi có đủ nhận thức để hiểu rằng có lẽ chúng là hư cấu, nhưng tôi mù tịt cách tìm ra sự thật.
Khi bắt đầu đi học đại học, tôi nghĩ đấy sẽ là nơi lý tưởng để tìm thấy các câu trả lời. Nhưng tôi đã thất vọng. Thế giới học thuật cung cấp cho tôi những công cụ mạnh để phá hủy toàn bộ những hư cấu mà con người từng tạo ra, nhưng nó không đưa ra những câu trả lời thỏa đáng nào cho những câu hỏi lớn của cuộc đời. Trái lại, nó khuyến khích tôi tập trung vào những câu hỏi ngày càng hẹp. Cuối cùng, tôi thấy mình viết luận án tiến sĩ ở Đại học Oxford về các văn bản tự truyện của các chiến binh thời Trung cổ. Như một sở thích bên lề, tôi tiếp tục đọc nhiều sách triết và có nhiều cuộc tranh luận triết học; nhưng dù việc này mang tính giải trí tri thức bất tận, nó hầu như không mang lại những thấu tỏ thật sự. Tôi cảm thấy cực kỳ bức bối.
Cuối cùng, người bạn tốt của tôi, Ron Merom, đã gợi ý tôi thử đặt tất cả sách vở cũng như các cuộc tranh luận tri thức của mình sang một bên trong vài ngày và theo một khóa thiền Vipassana (“Vipassana” nghĩa là “nội quan” trong ngôn ngữ Pali của Ấn Độ cổ). Tôi nghĩ nó là một thứ vớ vẩn được sùng bái thời Kỷ Nguyên Mới nào đó và vì không có hứng thú lắng nghe thêm một câu chuyện huyền thoại nào nữa, tôi không chịu đi. Nhưng sau một năm kiên nhẫn thúc giục, vào tháng Tư năm 2000, bạn tôi đã thuyết phục được tôi đi một khóa thiền Vipassana mười ngày.
Trước thời điểm ấy, tôi biết rất ít về thiền và nghĩ chắc nó bao gồm đủ loại lý thuyết bí hiểm phức tạp. Thế nên tôi kinh ngạc khi thấy hóa ra bài giảng lại thiết thực đến thế. Thầy S. N. Goenka tại khóa tu đã hướng dẫn học viên ngồi khoanh chân, nhắm mắt và tập trung tất cả sự chú ý của mình vào hơi thở đi vào và đi ra hai lỗ mũi. “Đừng làm gì cả”, thầy nói đi nói lại. “Đừng cố kiểm soát hơi thở hay thở theo bất cứ cách đặc biệt nào. Chỉ cảm nhận thực tế của khoảnh khắc hiện tại, dù nó là gì. Khi hơi thở đi vào, anh chỉ cần biết: giờ thì mình đang hít vào. Khi hơi thở đi ra, anh chỉ cần biết: giờ mình đang thở ra. Khi anh mất tập trung và tâm trí bắt đầu lang thang tìm về các ký ức và mộng tưởng, anh chỉ cần biết: giờ thì tâm trí mình đã đi ra khỏi hơi thở”. Đấy là điều quan trọng nhất mà bất cứ ai từng nói với tôi.
Khi người ta đặt ra những câu hỏi lớn của cuộc đời, họ thường không có chút hứng thú gì với việc biết khi nào hơi thở của họ đang đi vào lỗ mũi và khi nào thì nó đang đi ra. Thay vào đó, họ muốn biết những thứ như điều gì xảy ra sau khi bạn chết. Thế nhưng điều bí ẩn thực sự của cuộc đời không phải là cái gì xảy ra sau khi bạn chết mà là cái gì xảy ra trước khi bạn chết. Nếu bạn muốn hiểu cái chết, bạn cần hiểu sự sống.
Người ta hỏi: “Khi tôi chết, tôi sẽ biến mất hoàn toàn ư? Liệu tôi có được lên thiên đường? Liệu tôi có được tái sinh vào một thân xác mới?”. Những câu hỏi này dựa vào giả định rằng có một ‘tôi’ tồn tại từ lúc sinh đến lúc chết và câu hỏi “Điều gì sẽ xảy ra với cái ‘tôi’ này khi chết?”. Nhưng có cái gì tồn tại bất biến từ lúc sinh đến lúc chết? Thân thể thay đổi theo từng khoảnh khắc, não bộ thay đổi từng khoảnh khắc, tâm trí thay đổi từng khoảnh khắc. Anh càng quan sát bản thân kỹ lưỡng thì anh càng thấy rõ là không có cái gì bất biến thậm chí từ giây này sang giây sau. Thế thì cái gì gắn kết cả một cuộc đời? Nếu anh không có câu trả lời cho điều đó, anh không hiểu sự sống và chắc chắn không có cơ may hiểu được cái chết. Nếu và chỉ khi anh phát hiện ra cái gì gắn kết sự sống lại với nhau, câu trả lời cho câu hỏi lớn về cái chết cũng sẽ trở nên rõ ràng.
Người ta nói: “Linh hồn là bất biến từ lúc sinh ra cho đến lúc chết và do đó là thứ gắn kết sự sống lại với nhau”; nhưng đó chi là một câu chuyện. Bạn đã bao giờ quan sát thấy một linh hồn chưa? Bạn có thể tìm hiểu nó bất cứ lúc nào, không chỉ vào khoảnh khắc lìa đời. Nếu bạn có thể hiểu điều xảy ra với bạn khi khoảnh khắc này kết thúc và khoảnh khắc kia khỏi đầu, bạn cũng sẽ hiểu điều gì sẽ xảy ra với mình vào lúc sự sống kết thúc. Nếu bạn có thể thực sự quan sát bản thân trong khoảng thời gian của một hơi thở, bạn sẽ hiểu được mọi thứ về khoảnh khắc ấy.
Điều đầu tiên tôi học được nhờ dõi theo hơi thở của mình là với tất cả những cuốn sách tôi đã đọc và tất cả các lớp tôi đã tham gia ở trường đại học, tôi gần như không biết gì về tâm trí mình và sự kiểm soát mà tôi có với nó là rất ít ỏi. Dù nỗ lực bao nhiêu, tôi cũng không thể dõi theo được hơi thở của mình đi ra đi vào hai lỗ mũi quá mười giây trước khi trí óc lảng đi chỗ khác. Suốt nhiều năm ròng, tôi đã sống với ấn tượng rằng mình là ông chủ của cuộc đời mình, là CEO của thương hiệu cá nhân mình. Nhưng vài giờ thiền là đủ để cho tôi thấy mình gần như không có chút kiểm soát nào với bản thân. Tôi không phải là CEO; tôi thậm chí không được là người gác cửa. Tôi được yêu cầu đứng canh lối vào cơ thể, tức hai lỗ mũi, và chỉ cần dõi theo cái gì đi vào và đi ra; nhưng chỉ vài giây sau, tôi đã mất tập trung và bỏ gác. Đấy là một trải nghiệm sáng mắt sáng lòng.
Khi khóa học tiếp diễn, các học viên được dạy dõi theo không chỉ hơi thở mà cả các cảm giác trên khắp cơ thể. Không phải là các cảm giác hạnh phúc và xuất thần, mà chỉ là những cảm giác tầm thường nhất: nóng lạnh, áp suất, cơn đau, . . . Phương pháp thiền Vipassana dựa trên sự thấu hiểu rằng dòng chảy tâm trí có gắn bó mật thiết với các cảm giác của cơ thể. Giữa tôi và thế giới luôn luôn có các cảm giác của cơ thể. Tôi không bao giờ phản ứng với các sự kiện của thế giới bên ngoài; tôi luôn phản ứng với các cảm giác trong chính cơ thể mình. Khi cảm giác là khó chịu, tôi phản ứng tiêu cực. Khi cảm giác là dễ chịu, tôi phản ứng bằng khao khát được thêm nữa. Ngay cả khi chúng ta nghĩ mình phản ứng với việc một người khác đã làm, với dòng tweet mới nhất của Tổng thống Trump chẳng hạn, hay một ký ức thơ ấu xa lắc, sự thật là chúng ta luôn phản ứng với các cảm giác cơ thể tức thời của mình. Nếu bạn tức giận khi ai đó xúc phạm dân tộc hay thần linh của mình, điều khiến sự xúc phạm không thể chịu nổi là cảm giác bỏng rát trong bụng và cơn đau đớn đang bóp nghẹt trái tim. Dân tộc của chúng ta chẳng cảm thấy gì hết, nhưng cơ thể chúng ta thì đau thật sự.
Bạn muốn biết tức giận là gì ư? Vậy thì hãy dõi theo những cảm giác xuất hiện và biến mất trong cơ thể bạn khi bạn tức giận. Lúc đi khóa thiền này, tôi 24 tuổi và đã trải qua tức giận có lẽ 10.000 lần trước đó rồi; nhưng tôi chưa bao giờ cất công dõi theo cơn tức giận thực sự có cảm giác ra sao. Mỗi khi tức giận, tôi chỉ tập trung vào đối tượng của cơn tức, một cái gì đó mà ai đó đã nói hay làm, hơn là hiện thực giác quan của cơn giận.
Tôi nghĩ mình học về bản thân và con người nói chung bằng cách dõi theo các cảm giác của mình trong mười ngày đó nhiều hơn những gì mình đã học cả đời, tính đến thời điểm đó. Và để làm như vậy, tôi không cần phải chấp nhận bất cứ câu chuyện, lý thuyết hay huyền thoại nào. Tôi chỉ phải quan sát thực tế như nó vốn thế. Điều quan trọng nhất mà tôi đã nhận ra là nguồn con sâu xa nhất của đau khổ của mình nằm trong các mô hình của chính tâm trí mình. Khi tôi muốn cái gì đó và nó không xảy ra, tâm trí tôi phản ứng bằng cách tạo ra đau khổ. Đau khổ không phải là một điều kiện khách quan của thế giới bên ngoài. Nó là một phản ứng tâm lý do tâm trí của tôi sinh ra. Học được điều này là bước đầu tiên để đi đến việc ngừng tạo thêm đau khổ.
Từ khóa học đầu tiên năm 2000 đó, tôi bắt đầu thiền hai tiếng mỗi ngày và mỗi năm tham gia các khóa tu thiền dài ngày khoảng một hay hai tháng. Đấy không phải là chạy trốn hiện thực. Đấy là tiếp cận hiện thực. ít nhất hai giờ mỗi ngày, tôi thực sự quan sát hiện thực như nó vốn thế; trong khi hai mươi hai giờ còn lại, tôi bị ngập đầu trong email và các dòng tweet và các video chó con đáng yêu. Nếu không có sự tập trung và sáng tỏ mà thực hành này mang lại, tôi đã không thể viết được Sapiens hay Homo Deus. Ít nhất với bản thân tôi, thiền không bao giờ mâu thuẫn với nghiên cứu khoa học. Trái lại, nó là một công cụ quý giá nữa trong bộ công cụ khoa học, đặc biệt khi ta cố tìm hiểu tâm trí con người.
ĐÀO TỪ CẢ HAI ĐẦU
Khoa học thấy khó giải mã các bí ẩn của tâm trí phần nhiều vì chúng ta thiếu các công cụ hiệu quả. Nhiều người, bao gồm nhiều nhà khoa học, có xu hướng nhầm lẫn tâm trí với não bộ, nhưng chúng thực ra là hai thứ rất khác nhau. Não bộ là một mạng lưới vật chất gồm các nơron, khớp thần kinh và hóa chất sinh học. Tâm trí là một dòng chảy các trải nghiệm chủ quan như đau đớn, khoái cảm, tức giận và yêu thương. Các nhà sinh học cho rằng não bộ bằng cách nào đó sản sinh ra tâm trí và các phản ứng sinh hóa trong hàng tỷ nơron bằng cách nào đó sản sinh ra các trải nghiệm như đau khổ và yêu đương. Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta không có bất kỳ giải thích nào cho việc làm sao tâm trí lại nảy sinh từ não bộ. Làm sao mà khi hàng tỷ nơron thần kinh bắn ra các tín hiệu điện theo một mô hình nhất định thì tôi cảm thấy đau và khi chúng bắn ra theo một mô hình khác thì tôi lại thấy yêu? Chúng ta mù tịt. Do đó, ngay cả nếu tâm trí thực sự nảy sinh từ não bộ thì ít nhất cho đến giờ, nghiên cứu tâm trí vẫn là một nhiệm vụ khác với nghiên cứu não bộ.
Nghiên cứu não bộ đang tiến triển thần tốc nhờ sự hỗ trợ của kính hiển vi, máy quét não và các máy tính mạnh. Nhưng chúng ta không thể nhìn thấy tâm trí qua một kính hiển vi hay một máy quét não. Các dụng cụ này cho phép chúng ta phát hiện các hoạt động sinh hóa và điện trong não, nhưng không cho chúng ta tiếp cận bất cứ trải nghiệm chủ quan kèm theo các hoạt động này. Cho đến năm 2018, tâm trí duy nhất mà tôi có thể tiếp cận trực tiếp là tâm trí của chính tôi. Nếu muốn biết các loài có cảm giác khác đang trải qua những gì, tôi chỉ có thể làm vậy dựa trên các tường thuật gián tiếp, thứ thường chịu vô số bóp méo và giới hạn.
Chúng ta hoàn toàn có thể thu thập nhiều tường thuật gián tiếp và sử dụng xác suất thống kê để xác định các quy luật lặp lại. Các phương pháp đó đã giúp các nhà tâm lý học và các nhà khoa học về não bộ không chỉ hiểu rõ hơn về tâm trí, mà còn cải thiện và thậm chí cứu mạng hàng triệu người. Tuy nhiên, rất khó để vượt quá một điểm nhất định nếu chỉ sử dụng các tường thuật gián tiếp. Trong khoa học, khi bạn nghiên cứu một hiện tượng nhất định, tốt nhất là quan sát nó một cách trực tiếp. Các nhà nhân loại học chẳng hạn, họ sử dụng các nguồn thứ cấp một cách rộng rãi; nhưng nếu anh thực sự muốn hiểu văn hóa Samoa thì sớm muộn gì anh cũng phải xách ba lô lên và đến Samoa.
Dĩ nhiên đến thăm thôi là không đủ. Một blog do một người du lịch bụi đi khắp Samoa không thể được xem là một nghiên cứu nhân loại học có giá trị khoa học vì hầu hết những người du lịch bụi thiếu các công cụ và kỹ năng cần thiết. Các quan sát của họ quá ngẫu hứng và đầy thành kiến. Để trở thành những nhà nhân loại học đáng tin cậy, chúng ta phải học cách quan sát các nền văn hóa con người một cách có phương pháp và khách quan, thoát khỏi các định kiến và thành kiến. Đấy là thứ bạn học được ở khoa nhân loại học và là thứ cho phép các nhà nhân loại học giữ được vai trò quan trọng đến thế trong việc bắc cầu nối giữa các nền văn hóa khác nhau.
Nghiên cứu tâm trí một cách khoa học hiếm khi đi theo mô hình nhân loại học này. Trong khi các nhà nhân loại học thường thuật lại các chuyến đi của mình đến các hòn đảo xa xôi và những đất nước bí ẩn, các học giả nghiên cứu nhận thức hiếm khi trải qua các cuộc hành trình riêng tư như vậy đến các địa hạt của tâm trí. Bởi tâm trí duy nhất mà tôi có thể quan sát trực tiếp là của chính tôi, và dù quan sát văn hóa Samoa một cách không thành kiến là khó khăn đến đâu, quan sát chính tâm trí của mình một cách chủ quan còn khó hơn nhiều. Sau hơn một thế kỷ làm việc cật lực, các nhà nhân loại học ngày nay đã có trong tay những quy trình mạnh để quan sát một cách khách quan. Trái lại, trong khi các học giả về tâm trí đã phát triển rất nhiều công cụ để tập hợp và phân tích các tường thuật thứ cấp thì đến khi quan sát chính tâm trí của mình, chúng ta còn chưa bóc được lớp bề mặt.
Khi thiếu vắng các phương pháp hiện đại để quan sát trực tiếp tâm trí, chúng ta có thể thử một vài công cụ do các nền văn hóa tiền hiện đại phát triển. Một số nền văn hóa cổ xưa đã dành rất nhiều sự chú ý cho việc nghiên cứu tâm trí, và họ không dựa vào các tường thuật gián tiếp mà dựa vào việc luyện cho người khác quan sát tâm trí của chính mình một cách có hệ thống. Các phương pháp họ đã phát triển được gộp lại với nhau dưới một tên gọi chung là “thiền”. Ngày nay, tên gọi này thường được liên tưởng với tôn giáo và thần đạo, nhưng về nguyên tắc thì thiền là bất cứ phương pháp quan sát trực tiếp tâm trí của bản thân nào. Dù nhiều tôn giáo sử dụng nhiều phương pháp thiền khác nhau trên diện rộng, điều đó không có nghĩa là thiền nhất thiết liên quan đến tôn giáo. Nhiều tôn giáo cũng dùng sách vở một cách rộng rãi, nhưng điều đó đâu có nghĩa sử dụng sách vở là một thực hành tôn giáo.
Qua nhiều thiên niên kỷ, con người đã phát triển hàng trăm phương pháp thiền, khác nhau về nguyên tắc cũng như hiệu quả. Tôi chỉ có trải nghiệm cá nhân với duy nhất một phương pháp Vipassana, thế nên đó là phương pháp duy nhất mà tôi có thể nói đến với một chút căn cứ. Như một số phương pháp thiền khác, người ta nói rằng Vipassana được chính Đức Phật phát hiện ra ở Ấn Độ thời cổ. Qua nhiều thế kỷ, vô số giáo lý và câu chuyện đã được gắn với Đức Phật, thường không có bằng chứng bổ trợ gì. Nhưng bạn không cần tin bất cứ câu chuyện nào trong số đó để có thể thiền. Người dạy tôi học thiền Vipassana là Goenka, một người hướng dẫn rất thực tế. Thầy liên tục hướng dẫn học viên rằng khi dõi theo tâm trí, họ phải bỏ sang một bên mọi mô tả thứ cấp, mọi tín điều tôn giáo và mọi phỏng đoán triết học; thay vào đó, hãy tập trung vào chính trải nghiệm của mình và bất cứ hiện thực nào mình thực sự gặp phải. Mỗi ngày, vô số học viên vào phòng anh để tìm chỉ dẫn và đặt câu hỏi. Một tấm biển ở lối vào phòng có ghi: “Làm ơn tránh các cuộc thảo luận về lý thuyết và triết học, hãy tập trung các câu hỏi của bạn vào các vấn đề liên quan đến thực hành thực sự của bạn”.
Thực hành thực sự có nghĩa là dõi theo các cảm giác của cơ thể và các phản ứng của tâm trí đối với các cảm giác đó một cách có phương pháp, liên tục và khách quan, từ đó khơi mở các quy luật cơ bản của tâm trí. Con người ta đôi lúc biến thiền thành một cuộc truy lùng các trải nghiệm đặc biệt của hạnh phúc và xuất thần. Thế nhưng trên thực tế, ý thức là bí ẩn lớn nhất trong vũ trụ và các cảm giác tầm thường như nóng lạnh và ngứa ngáy cũng bí ẩn chẳng kém các cảm giác về hoan lạc hay hợp nhất vũ trụ. Những người thiền theo Vipassana được khuyến cáo không bao giờ lao vào tìm kiếm các trải nghiệm đặc biệt; thay vào đó, họ được khuyến khích tập trung để hiểu hiện thực của tâm trí mình, dù hiện thực đó là gì.
Trong những năm gần đây, các học giả cả về tâm trí lẫn não bộ tỏ ra ngày càng hứng thú với các phương pháp thiền như thế, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu này chỉ mới sử dụng công cụ này một cách gián tiếp. Một nhà khoa học điển hình thật ra không tự mình thiền. Thay vào đó, người ta mời những người thiền có kinh nghiệm đến phòng thí nghiệm, lắp các điện cực lên đầu họ, yêu cầu họ thiền và quan sát các hoạt động não bộ theo sau. Việc đó có thể dạy cho chúng ta nhiều điều thú vị về não bộ, nhưng nếu mục tiêu là để hiểu tâm trí thì chúng ta đang bỏ lỡ một số hiểu biết quan trọng nhất. Như thể ai đó cố gắng hiểu cấu trúc của vật chất bằng cách quan sát một hòn đá qua kính lúp. Bạn đưa cho người này một cái kính hiển vi và nói: “Thử cái này đi. Anh sẽ nhìn rõ hơn nhiều”. Anh ta nhận cái kính hiển vi, cầm cái kính lúp đáng tin cậy lên và cẩn thận dùng nó quan sát vật chất của cái kính hiển vi… Thiền là một phương pháp để quan sát trực tiếp tâm trí. Bạn bỏ lỡ gần hết các tiềm năng của nó nếu thay vì tự mình thiền, bạn lại quan sát các hoạt động điện não của một người thiền khác.
Tôi dĩ nhiên không gọi ý mọi người từ bỏ các công cụ và lối thực hành nghiên cứu não bộ hiện có. Thiền không thay thế mà có thể bổ trợ cho chúng. Nó hơi giống khi các kỹ sư đào đường hầm qua một ngọn núi lớn. Tại sao chỉ đào từ một phía? Tốt hơn là đào cùng lúc từ hai phía. Nếu não bộ và tâm trí thực sự là chung và duy nhất, cả hai đường hầm chắc chắn phải gặp nhau. Và nếu não bộ và tâm trí không phải là một? Thì việc đào sâu vào tâm trí chứ không chỉ não bộ càng quan trọng hơn.
Một số trường đại học và phòng thí nghiệm quả thực đã bắt đầu sử dụng thiền như một công cụ nghiên cứu hơn là một đối tượng thuần túy của các nghiên cứu về não bộ. Thế nhưng quy trình này vẫn còn trong giai đoạn sơ khai, một phần vì nó đòi hỏi một sự đầu tư phi thường từ phía những người nghiên cứu. Thiền nghiêm túc đòi hỏi mức độ kỷ luật rất cao. Nếu bạn cố dõi theo các cảm giác của mình một cách khách quan thì điều đầu tiên bạn nhận thấy sẽ là tâm trí mình hỗn loạn và thiếu kiên nhẫn đến mức nào và việc tập trung vào dõi theo tâm trí khó khăn ra sao, thậm chí với một cảm giác tương đối đặc thù như hơi thở.
Khi hình ảnh nhìn qua kính hiển vi bị mờ, ta chỉ cần xoay tay cầm một chút. Nếu tay cầm bị hỏng, ta có thể gọi thợ để sửa. Nhưng khi tâm trí mất tập trung, ta không thể sửa chữa nó dễ dàng như vậy. Thường thì ta cần rất nhiều rèn luyện để tâm trí bình tình lại và khiến nó tập trung sao cho nó có thể bắt đầu dõi theo bản thân một cách có phương pháp và khách quan. Có lẽ, trong tương lai, chúng ta có thể “bắn” một viên thuốc và đạt được sự tập trung tức thì. Thế nhưng thiền có mục đích là khám phá tâm trí hơn là chỉ tập trung tâm trí, nên con đường tắt ấy có thể phản tác dụng. Viên thuốc có thể khiến chúng ta rất tỉnh táo và tập trung, đồng thời có thể ngăn ta khám phá toàn bộ phổ tâm trí. Xét cho cùng, ngày nay, ta có thể dễ dàng tập trung tâm trí bằng cách xem một bộ phim ly kỳ hấp dẫn trên TV; nhưng tâm trí lúc đó lại quá tập trung đến mức không thể quan sát các thay đổi của chính mình.
Thế nhưng ngay cả khi không thể dựa vào những công cụ kỹ thuật như vậy, ta vẫn không nên bỏ cuộc. Chúng ta có thể lấy cảm hứng từ các nhà nhân loại học, động vật học và các phi hành gia. Những nhà nhân loại học và động vật học dành nhiều năm ở các hòn đảo xa xôi, kề cận với vô số bệnh tật và nguy hiểm. Các phi hành gia dành nhiều năm cho các chương trình luyện tập khó khăn, chuẩn bị cho các chuyến du hành nguy hiểm ra ngoài không gian. Nếu ta sẵn sàng nỗ lực đến thế để hiểu về các nền văn hóa xa lạ, các loài động vật chưa được biết tới và các hành tinh xa xôi, thì cũng đáng nỗ lực như vậy để hiểu chính tâm trí mình chứ. Và ta nên hiểu tâm trí của mình trước khi các thuật toán quyết định giùm ta.
Tự quan sát chưa bao giờ là dễ dàng, nhưng nó có thể còn khó hơn theo thời gian. Như lịch sử đã chỉ ra, con người tạo ra những câu chuyện ngày càng phức tạp về bản thân nên việc hiểu chúng ta thật sự là ai lại càng khó khăn gấp bội. Những câu chuyện này là nhằm đoàn kết những lượng người đông đảo, tích lũy quyền lực và gìn giữ sự hòa hợp xã hội. Những điều này là cực kỳ quan trọng đối với việc nuôi sống hàng tỷ người nghèo đói và đảm bảo cho những người đó không hãm hại nhau. Khi người ta cố gắng quan sát bản thân, họ thường khám phá ra những câu chuyện sẵn có này. Một cuộc khám phá với cái kết mở cũng rất nguy hiểm. Nó đe dọa làm suy yếu trật tự xã hội.
Khi công nghệ được cải tiến, hai điều xảy ra. Thứ nhất, như các lưỡi dao đá dần dần phát triển thành tên lửa hạt nhân, việc bất ổn hóa trật tự xã hội trở nên nguy hiểm hơn. Thứ hai, như các bức vẽ hang động dần phát triển thành phát thanh truyền hình, việc lừa dối con người trở nên dễ dàng hơn. Trong tương lai gần, các thuật toán có thể đưa quá trình này đến chỗ hoàn tất, khiến việc quan sát sự thật về chính bản thân của con người trở nên gần như bất khả. Chính các thuật toán sẽ quyết định chúng ta là ai và chúng ta nên biết gì về bản thân.
Trong vài năm hoặc vài thập kỷ tới, ta vẫn có một lựa chọn. Nếu nỗ lực, ta vẫn có thể nghiên cứu xem chúng ta thật sự là ai. Nhưng nếu muốn tận dụng cơ hội ấy, ta cần việc đó ngay bây giờ.
Yuval Noah Harari
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...