Thứ Tư, 17 tháng 9, 2025

Súng, vi trùng và thép 2

Súng, vi trùng và thép 2

Bảng 7.1: Ví dụ về các loại cây trồng chính xưa nhất trong thế giới cổ đại

Khu vực

Ngũ cốc, các loài thân thảo khác

Đậu

Cây lấy sợi

Cây lấy thân, củ

Dưa

Lưỡi liềm Phì nhiêu

lúa mì emmer, lúa mì einkorn, lúa mạch

đậu Hà Lan, đậu lăng, đậu chickpea

cây lanh

dưa xạ

Trung Hoa

kê đuôi chồn, kê đậu chổi, lúa gạo

đậu tương, đậu đỏ, đậu xanh

cây gai dầu

[dưa xạ]

Trung Mỹ

ngô

đậu nói chung, đậu tepary, đậu lửa (scarlet runner bean)

bông (G. hirsutum), cây ngọc giá (yucca), cây thùa (agave)

cây jicama

bí (C. pepo, v.v.)

Andes, Amazonia

quinoa, [ngô]

đậu lima, đậu thường, lạc

bông (G. barbadense)

khoai mì, khoai lang, khoai tây, cây oca

bí (C. maxima, v.v.)

Tây Phi và Sahel

lúa miến, kê ngọc trai, gạo châu Phi

đậu cowpea, lạc

bông (G. herbaceum)

khoai lang châu Phi

dưa hấu, bầu

Ấn Độ

[lúa mì, lúa mạch, lúa gạo, lúa miến, kê]

đậu hyacinth, đậu đen, đậu xanh

bông (G. arboreum), cây lanh

dưa chuột

Ethiopia

cây teff, kê ngón tay (finger millet), [lúa mì, lúa mạch]

[đậu Hà Lan, đậu lăng]

[cây lanh]

Đông Hoa Kỳ

maygrass, lúa mạch nhỏ, knotweed, goosefoot

áctisô Jerusalem

bí (C. pepo)

New Guinea

mía

khoai lang, khoai sọ

Bảng này trình bày năm loài cây trồng chính, thuộc năm nhóm cây trồng khác nhau, từ những khu vực nông nghiệp đầu tiên tại nhiều vùng khác nhau trên thế giới. Cặp ngoặc vuông biểu thị những loài cây trồng được thuần hóa đầu tiên từ nơi khác; những cái tên không đóng ngoặc là những loài được thuần hóa tại địa phương. Những loài không được nhắc tới ở đây là những loài chỉ được du nhập từ nơi khác hoặc về sau này mới trở nên quan trọng, như cây chuối ở châu Phi, ngô và đậu ở miền đông Hoa Kỳ và khoai lang ở New Guinea. Cây bông vải gồm bốn loài thuộc giống Gossypium, mỗi loài là một cây bản địa mọc ở một vùng riêng biệt trên thế giới; bí gồm năm loài thuộc giống Cucurbita. Lưu ý rằng các cây ngũ cốc, đậu và cây lấy sợi đã kích thích sự phát sinh nông nghiệp ở hầu hết các khu vực, nhưng các loài cây lấy thân và củ cũng như các loài dưa thì chỉ quan trọng ở thời kỳ đầu tại một số khu vực mà thôi.
Như vậy, cho đến thời La Mã, hầu như tất cả các cây trồng hàng đầu hiện nay đều đã được trồng ở đâu đó trên thế giới. Cũng như với các loài vật được thuần hóa (như ta sẽ thấy ở Chương 9), những người săn bắt hái lượm cổ đại đã khá hiểu rõ các loài cây dại bản địa, và các nhà nông cổ đại rõ ràng đã phát hiện và thuần hóa hầu như tất cả những loài đáng cho họ thuần hóa. Dĩ nhiên, các thầy tu thời trung cổ quả thật đã bắt tay trồng dâu và quả mâm xôi, còn các chuyên gia tạo giống cây trồng ngày nay vẫn đang tìm cách cải thiện các cây trồng cổ đại và đã bổ sung thêm những loài cây trồng phụ, đáng chú ý là một số loài cây quả mọng (như việt quất (blueberry), nam việt quất (cranberry) và quả kiwi) và cây họ đậu (hạt macadamia, hồ đào pecan và hạt điều). Nhưng số ít những loài mới đó, được bổ sung vào thời đại ngày nay, vẫn chỉ có tầm quan trọng khiêm tốn so với những cây trồng từ thời cổ đại như lúa mì, ngô và lúa gạo.
Dẫu vậy, danh mục chiến tích của con người vẫn còn thiếu tên nhiều loài cây dại mà, tuy có giá trị thực phẩm cao, vẫn chưa bao giờ thuần hóa được. Trong những thất bại đó của chúng ta, đáng chú ý là thất bại trước cây sồi, loài cây mà quả từng là lương thực chính cho người châu Mỹ bản địa ở miền đông Hoa Kỳ cũng như lương thực tạm cho nông dân châu Âu trong những thời kỳ đói kém bởi mùa màng thất bát. Quả sồi có giá trị dinh dưỡng cao, giàu chất bột và dầu. Cũng như nhiều loại lương thực hoang khác mà lẽ ra có thể ăn được, hầu hết quả sồi có chứa chất tanin đắng, song những người thích quả sồi đã học được cách xử lý chất tanin như họ đã làm với những chất đắng trong quả hạnh và những loài cây dại khác: bằng cách nghiền và tẩy quả sồi để lọc hết chất tanin đi, hoặc thu hoạch quả từ những cá thể cây sồi bị biến dị nên hàm lượng tanin thấp.
Tại sao chúng ta không thể thuần hóa được một nguồn lương thực quý giá như quả sồi? Tại sao chúng ta phải mất nhiều thời gian đến thế mới thuần hóa được dâu và mâm xôi? Những loài cây đó có cái gì khiến cho việc thuần hóa chúng nằm ngoài tầm tay ngay cả những nhà nông cổ đại vốn từng nắm vững được những kỹ thuật khó như ghép cây?
Thì ra cây sồi có ba cái khó đối với những nông dân cổ đại. Thứ nhất, chúng mọc rất chậm, khiến cho hầu hết nông dân không có đủ kiên nhẫn để chờ. Một số loại lúa mì chỉ trồng dăm tháng là thu hoạch được; cây hạnh trồng xong phải ba, bốn năm mới cho hạt; nhưng cây sồi thì phải đợi chục năm hay hơn nữa mới cho quả. Thứ hai, cây sồi vốn đã tiến hóa để sinh ra những quả có kích thước và mùi vị hợp với loài sóc, chúng ta chẳng vẫn thường xuyên thấy sóc đào lỗ chôn quả sồi xuống, sau đó lại đào lên ăn đấy sao. Cây sồi mọc từ những quả sồi mà con sóc nào đó quên đào lên. Sóc có tới hàng triệu con, mỗi con phát tán hàng trăm quả sồi ra hầu như bất cứ chỗ nào cây sồi có thể mọc, thành thử con người chẳng còn cơ hội nào chọn được những cây sồi cho đúng những quả mà họ muốn. Cũng vì thời gian sinh trưởng chậm và do lũ sóc nhanh chân kia mà tại sao cây beech và cây mại châu (hickory), những loài cây dại từng được người châu Âu và người châu Mỹ bản địa ráo riết khai thác làm lương thực, cũng chưa bao giờ được thuần hóa cả.
Cuối cùng, có lẽ khác biệt lớn nhất giữa cây hạnh và cây sồi là ở chỗ, với cây hạnh độ đắng được kiểm soát bởi một gen trội duy nhất, nhưng ở cây sồi thì độ đắng lại được kiểm soát bởi nhiều gen. Nếu các nông dân cổ đại trồng cây hạnh hay cây sồi từ những cá thể biến dị ngẫu nhiên không đắng, luật di truyền quy định rằng trong trường hợp cây hạnh, phân nửa số hạt sinh ra từ cây đó khi lớn lên cũng sẽ cho quả không đắng, nhưng trong trường hợp cây sồi thì hầu như tất cả hạt vẫn sẽ đắng. Chỉ nội điều này cũng đủ làm tiêu tan hết nhiệt tình của bất cứ nhà nông nào quyết tâm trồng bằng được cây sồi dù họ đã thắng được lũ sóc và đã đủ kiên nhẫn chờ cho cây ra quả.
Về dâu và mâm xôi, chúng ta cũng gặp những vấn đề tương tự, ấy là phải cạnh tranh với chim hét và các loài chim thích quả mọng khác. Phải, người La Mã đã từng chăm sóc những cây dâu dại mọc trong vườn họ. Thế nhưng chừng nào cây dâu vẫn sinh sản nhờ hàng triệu con chim hét đại tiện hạt dâu ra bất cứ nơi nào có thể (kể cả những khu vườn của người La Mã) thì quả dâu vẫn cứ là những quả dại nhỏ xíu mà loài chim hét thích, chứ không phải những quả dâu to mà con người thích. Chỉ nhờ có những lưới bảo vệ và nhà kính mà ngày nay rốt cuộc chúng ta mới có thể thắng được lũ chim hét, điều chỉnh loài dâu và mâm xôi sao cho phù hợp với yêu cầu của chúng ta.
Vậy ta đã thấy, sự khác biệt to lớn giữa những quả dâu khổng lồ bán trong siêu thị với những quả dâu dại bé tí chỉ là một ví dụ cho nhiều đặc tính phân biệt cây trồng với các loài cây dại tổ tiên của chúng. Những khác biệt đó ban đầu nảy sinh từ sự khác biệt giữa bản thân các loài cây dại. Một số khác biệt đó, chẳng hạn khác biệt ở kích cỡ của quả hay độ đắng của hạt, hẳn đã được các nhà nông cổ đại nhận ra dễ dàng. Những khác biệt khác, chẳng hạn như cơ chế phát tán hạt hay thời gian ngủ của hạt thì con người sẽ bỏ qua không nhận biết được mãi đến khi khoa thực vật học hiện đại ra đời. Nhưng dù việc lựa chọn các loài cây dại ăn được do người cổ đại tiến hành đã dựa trên những tiêu chí hữu thức hay vô thức, sự tiến hóa của cây dại từ đó thành cây trồng đầu tiên vẫn là một quá trình vô thức. Chắc chắn là sự tiến hóa đó đã nối bước theo sự lựa chọn của chúng ta giữa các cá thể cây dại, và từ sự cạnh tranh giữa các cá thể cây trong những khu vườn nơi mà cá thể nào vốn gặp bất lợi trong tự nhiên thì ở đây lại có ưu thế.
Chính vì vậy mà Darwin, trong cuốn Nguồn gốc các loài đã không bắt đầu bằng cách trình bày về chọn lọc tự nhiên. Thay vào đó, chương đầu tiên là một bản tường trình dài về việc các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa đã nảy sinh thông qua chọn lọc tự nhiên bởi con người như thế nào. Thay vì đề cập đến các loài chim ở đảo Galapagos như chúng ta thường gán cho ông, Darwin mở đầu bằng cách bàn đến việc các nhà nông đã phát triển nhiều giống quả lý gai như thế nào! Ông viết: “Tôi đã thấy các công trình viết về nghề làm vườn tỏ ra hết sức ngạc nhiên trước kỹ năng tuyệt vời của người làm vườn; từ những vật liệu nghèo nàn đến thế họ đã đạt được những thành quả diệu kỳ; nhưng kỹ thuật đó vẫn còn đơn giản, còn nếu nói về kết quả sau cùng, người ta vẫn chỉ làm theo kỹ thuật đó một cách hầu như vô thức. Kỹ thuật đó trước sau luôn là thế: trồng giống cây mình biết rõ nhất, gieo hạt, rồi khi có một giống tốt hơn một chút tình cờ xuất hiện thì chọn lấy, cứ thế mà tiếp tục”. Những nguyên lý đó về sự phát triển cây trồng thông qua chọn lọc nhân tạo đến nay vẫn là mô hình dễ hiểu nhất về nguồn gốc các loài thông qua chọn lọc tự nhiên.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thực
Chương 8 - Táo hay người anh-điêng? 
Chúng ta vừa thấy các dân tộc ở một số khu vực đã bắt đầu trồng các loài cây dại, một bước đi có những hệ quả to lớn không ngờ đối với lối sống của họ và vị trí của hậu duệ họ trong lịch sử. Giờ ta hãy quay lại những câu hỏi của chúng ta: Tại sao nông nghiệp đã không hề phát sinh độc lập ở một số khu vực màu mỡ và thích hợp nhất cho việc đó như California, châu Âu, Australia ôn đới và châu Phi hạ xích đạo? Trong các khu vực nơi mà nông nghiệp đã phát sinh độc lập, tại sao ở một số khu vực nó đã phát triển sớm hơn nhiều so với ở những khu vực khác?
Có hai cách giải thích trái ngược nhau: hoặc vấn đề nằm ở bản thân các dân tộc bản địa, hoặc vấn đề nằm ở các loài cây dại có ở khu vực đó. Một mặt, có lẽ hầu như bất cứ khu vực nào trên thế giới mang khí hậu ôn đới hay nhiệt đới và có nước tưới đầy đủ thì đều có đủ những loài cây dại thích hợp cho việc thuần hóa. Trong trường hợp đó, nguyên nhân khiến cho nông nghiệp đã không phát triển ở một vài khu vực trong số này ắt phải nằm ở đặc tính văn hóa của các dân tộc sinh sống ở đó. Mặt khác, có thể ít nhất là một số người ở các khu vực lớn trên thế giới vốn mang đầu óc cởi mở nên đã sẵn sàng thử nghiệm, nhờ vậy mà dẫn đến việc thuần hóa. Nếu quả đúng vậy thì chỉ vì thiếu những loài cây dại thích hợp mà nền sản xuất lương thực đã không tiến hóa ở một vài khu vực.
Như ta sẽ thấy ở chương sau, câu hỏi tương tự đối với việc thuần hóa các loài hữu nhũ lớn tỏ ra dễ lý giải hơn, bởi số loài hữu nhũ lớn ít hơn nhiều so với số loài cây. Thế giới chỉ có chừng 148 loài hữu nhũ lớn sống trên đất liền ăn cỏ hoặc ăn tạp, những loài hữu nhũ đủ lớn để có thể coi là ứng viên cho việc thuần hóa. Chỉ có một vài nhân tố quyết định liệu một loài hữu nhũ có thích hợp để thuần hóa hay không. Vì vậy, không khó để khảo sát các loài hữu nhũ hiện hữu ở một vùng và kiểm chứng xem có phải ở một vài khu vực người ta đã không thuần hóa các loài hữu nhũ lớn là do thiếu những loài hoang dã thích hợp hay là bởi những vấn đề nằm ở chính con người.
Cách làm đó sẽ khó áp dụng hơn nhiều đối với cây trồng, đơn giản vì có quá nhiều – những 200.000 – loài cây dại có hoa, những loài cây thống trị toàn bộ cây cỏ trên đất liền và cung cấp hầu như mọi thứ cây trồng của chúng ta. Chúng ta không thể mong đủ sức khảo sát toàn bộ các loài cây dại dù chỉ ở một vùng khu biệt như California đặng đánh giá xem bao nhiêu loài trong số đó có thể thuần hóa được. Nhưng ta sẽ xem làm cách nào giải quyết được vấn đề đó.
Khi nghe nói có quá nhiều loài cây nở hoa đến vậy, phản ứng đầu tiên của người ta ắt sẽ là: hẳn rồi, với ngần ấy loài cây dại trên Trái đất thì bất cứ khu vực nào mà khí hậu đủ ôn hòa thì ắt phải thừa đủ những loài có thể thuần hóa thành cây trồng chứ.
Nhưng ta hãy nhớ lại rằng đại đa số các loài cây dại là không thích hợp, vì những lý do hiển nhiên: chúng có nhiều gỗ, chúng cho ra quả không ăn được, lá và rễ của chúng cũng không ăn được. Trong số 200.000 loài cây dại, chỉ có vài ngàn là con người có thể ăn được, trong số đó chỉ vài trăm loài đã được ít nhiều thuần hóa. Thậm chí trong số vài trăm loài đó, hầu hết chỉ cung cấp những phần bổ sung nhỏ nhoi vào thực đơn của chúng ta và bản thân chúng hẳn không đủ để hỗ trợ cho việc phát sinh các nền văn minh. Chỉ có vỏn vẹn một tá loài chiếm tới trên 80% sản lượng hàng năm của toàn bộ cây trồng trên thế giới hiện nay. Một tá loài “chủ lực” đó là các cây ngũ cốc lúa mì, ngô, lúa gạo, lúa mạch và lúa miến; cây đậu nành; thân hoặc rễ của cây khoai tây, sắn và khoai lang; cây mía và củ cải đường cung cấp nguyên liệu làm đường; và quả chuối. Riêng các cây ngũ cốc đã chiếm hơn một nửa lượng calori mà dân số toàn thế giới tiêu thụ. Với quá ít loài cây trồng chính trên thế giới như vậy, tất cả đều đã được thuần hóa cách đây hàng ngàn năm, chẳng có gì lạ rằng nhiều khu vực trên thế giới không có loài cây dại bản địa nào có tiềm năng đặc sắc. Trong thời hiện đại chúng ta đã không thể nào thuần hóa thêm dù chỉ một loại cây lương thực chính mới, điều đó cho thấy các dân tộc cổ đại có lẽ đã thử nghiệm hầu hết các loài cây dại có ích và những loại nào đáng được thuần hóa thì họ đã thuần hóa cả rồi.
Thế nhưng vẫn khó lòng giải thích được một số trường hợp thuần hóa thất bại các loài cây dại trên thế giới. Trường hợp hiển nhiên nhất là những loài cây được thuần hóa ở khu vực này nhưng ở khu vực khác thì không. Ta có thể biết chắc rằng quả thực người ta có thể phát triển loài cây dại đó thành cây trồng có ích, nên phải đặt câu hỏi tại sao các loài cây dại đó đã không được thuần hóa ở một số khu vực khác.
Một ví dụ tiêu biểu làm ta bối rối là ở châu Phi. Cây ngũ cốc quan trọng là lúa miến đã được thuần hóa ở vùng Sahel của châu Phi, ngay phía nam Sahara. Đầu tiên nó là một cây dại mãi ở Nam Phi, thế nhưng ở Nam Phi người ta đã chẳng trồng cả cây này lẫn bất cứ cây nào khác cho mãi tới khi các nông dân Bantu từ bắc xích đạo châu Phi tràn xuống mang theo toàn bộ cây trồng của họ cách đây 2.000 năm. Tại sao các dân tộc bản địa Nam Phi đã không tự mình thuần hóa cây lúa miến?
Cũng khó hiểu không kém là việc người ta đã không thuần hóa được cây lanh ở ngay cội nguồn hoang dã của chúng tại châu Âu và Bắc Phi, hoặc lúa mì einkorn đã không được thuần hóa ở ngay quê hương nó là phía nam bán đảo Balkans. Bởi hai loài cây này nằm trong số tám loài cây trồng đầu tiên của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, nên ắt hẳn chúng đã nằm trong số những cây dễ thuần hóa nhất trong tất cả các loài cây dại. Người ta đã tiếp thu và trồng các loài cây đó ở chính các khu vực vốn là quê hương hoang dã của chúng ngoài Lưỡi liềm Phì nhiêu ngay sau khi chúng được mang từ Lưỡi liềm Phì nhiêu tới cùng kỹ thuật sản xuất lương thực và mọi loài cây trồng khác. Tại sao các dân tộc ở những vùng xa xôi đó đã không tự mình trồng các loài cây đó trước đi?
Tương tự, bốn loài cây ăn trái được thuần hóa sớm nhất ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đều có nguồn gốc ở mãi xa ngoài vùng bờ đông Địa Trung Hải nơi chắc hẳn chúng đã được thuần hóa lần đầu tiên: cây ôliu, nho và vả xuất hiện ở phía tây Italia, Tây Ban Nha và Tây Bắc Phi, trong khi chà là trải dài ra toàn bộ Bắc Phi và Arập. Bốn loài này chắc chắn là những loài dễ thuần hóa nhất trong tất cả các loài cây ăn trái hoang dã. Tại sao các dân tộc bên ngoài vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu [vốn là nơi phát nguyên của chúng, ND] đã không thể tự thuần hóa chúng mà chỉ bắt đầu trồng sau khi chúng đã được thuần hóa ở vùng đông Địa Trung Hải rồi thì được du nhập như một loại cây trồng?
Những ví dụ nổi bật khác là các loài cây dại đã không được thuần hóa ở các khu vực nơi sản xuất lương thực đã không bao giờ xuất hiện một cách tự phát, cho dù các loài cây dại đó có những họ hàng gần gũi đã được thuần hóa ở nơi khác. Chẳng hạn, cây ôliu Olea europea đã được thuần hóa ở miền đông Địa Trung Hải. Có khoảng 40 loài ôliu khác ở châu Phi nhiệt đới và Nam Phi, Nam Á và Đông Australia, một số trong đó có liên quan gần gũi với Olea europea, nhưng chẳng một loài nào trong đó từng được thuần hóa. Tương tự, trong khi một loài táo dại và một loài nho dại đã được thuần hóa ở Âu-Á, còn có nhiều loài táo dại và nho dại khác ở Bắc Mỹ, một số trong đó vào thời hiện đại đã được lai ghép với các cây trồng phát sinh từ các loài cây dại Âu-Á có họ hàng với chúng nhằm cải thiện các giống này. Nếu vậy thì tại sao người châu Mỹ bản địa đã không tự mình thuần hóa những loài táo và nho dại rõ ràng là có ích kia?
Ta có thể tìm ra thêm nhiều ví dụ như vậy nữa. Nhưng có một khuyết điểm chết người trong cách lập luận này: thuần hóa cây trồng không đơn giản là chuyện những người săn bắt hái lượm thuần hóa một loài cây duy nhất rồi vẫn tiếp tục lối sống du cư của mình mà không thay đổi. Cứ giả thiết rằng táo dại Bắc Mỹ thực sự đã tiến hóa thành một loại cây trồng tuyệt diệu nếu như những người săn bắt hái lượm Anh-điêng đã chuyển sang định cư mà trồng nó. Thế nhưng, những người săn bắt hái lượm du cư sẽ chẳng vứt bỏ lối sống truyền thống, định cư thành làng mạc và bắt đầu chăm sóc vườn táo trừ phi còn có nhiều loại cây dại và thú hoang có thể thuần hóa khác đủ để khiến cho lối sống sản xuất lương thực định cư trở nên đáng chọn hơn lối sống săn bắt hái lượm.
Nói ngắn gọn, làm cách nào lượng giá được tiềm năng thuần hóa của toàn bộ hệ thực vật ở một khu vực? Đối với những người châu Mỹ bản địa đã không thuần hóa được cây táo dại Bắc Mỹ, vấn đề nằm ở bản thân những người Anh-điêng hay nằm ở loài táo nọ?
Để trả lời câu hỏi này, giờ ta sẽ so sánh ba khu vực nằm ở hai cực đối lập trong số các trung tâm thuần hóa độc lập. Như ta đã thấy, một trong các khu vực này, vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, có lẽ là trung tâm sản xuất lương thực sớm nhất trên thế giới, là nơi phát nguyên một số loại cây trồng chính và hầu như tất cả các loài vật thuần hóa chính của thế giới ngày nay. Hai khu vực khác, New Guinea và phía đông Hoa Kỳ, cũng đã thuần hóa các loại cây bản địa, nhưng các cây trồng này quá ít về chủng loại, chỉ một trong số đó đạt được tầm quan trọng ở quy mô thế giới, và lượng lương thực do các loại cây này cung cấp đã không thể hỗ trợ cho công nghệ và tổ chức chính trị của loài người có thể phát triển rộng hơn như ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Dưới ánh sáng của phép so sánh này, ta sẽ hỏi: Phải chăng hệ thực vật và môi trường của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu có lợi thế rõ ràng so với của New Guinea và miền đông Hoa Kỳ?
Một trong các sự kiện trung tâm trong lịch sử loài người là tầm quan trọng từ xa xưa của khu vực Tây Nam Á, được gọi là Lưỡi liềm Phì nhiêu (do các vùng cao của nó có hình dáng như lưỡi liềm, xem Hình 8.1). Vùng này hình như là nơi đã diễn ra sớm nhất một loạt những phát triển bao gồm các thành phố, chữ viết, đế quốc, và cái mà ta gọi là nền văn minh (dù tốt dù xấu đi chăng nữa). Đến lượt mình những tiến triển này nảy sinh từ mật độ dân số cao, thặng dư lương thực và khả năng nuôi sống các chuyên gia không làm nông nghiệp nhờ có nền sản xuất lương thực dưới dạng canh tác cây trồng và chăn nuôi gia súc. Sản xuất lương thực là cách tân đầu tiên trong những cách tân quan trọng đã xuất hiện ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Vì thế, mọi nỗ lực hòng thấu hiểu cội nguồn của thế giới hiện đại đều phải gắn liền với câu hỏi: Tại sao các cây trồng và vật nuôi của Lưỡi liềm Phì nhiêu lại cho vùng này có một lợi thế ban đầu mạnh mẽ đến vậy.
May thay, trong các khu vực trên thế giới, Lưỡi liềm Phì nhiêu là khu vực được người ta nghiên cứu sâu rộng nhất và hiểu rõ nhất về sự phát sinh nông nghiệp. Đối với hầu hết các loại cây trồng đã được thuần hóa tại Lưỡi liềm Phì nhiêu hay gần đó, người ta đã xác định được loài cây dại tổ tiên; quan hệ gần gũi của nó với loại cây trồng đó đã được chứng minh bằng các nghiên cứu di truyền và nhiễm sắc thể; khu vực địa lý nơi nó mọc hoang người ta cũng đã biết; những biến đổi của nó trong quá trình thuần hóa đã được người ta xác định và hiểu rõ đến cấp độ từng gen một; những thay đổi đó có thể quan sát trong những tầng kế tiếp nhau tại các di chỉ khảo cổ; vị trí và thời điểm gần đúng của việc thuần hóa người ta cũng biết. Tôi không phủ nhận rằng các khu vực khác, đặc biệt là Trung Hoa, cũng có lợi thế để được xem là một khu vực thuần hóa sớm, nhưng đối với vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu các lợi thế ấy cùng những tiến triển của cây trồng từ đó mà ra có thể được xác định một cách chi tiết hơn nhiều.
Hình 8.1: Vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, bao gồm các địa điểm sản xuất lương thực từ trước 7.000 năm TCN
Một lợi thế của Lưỡi liềm Phì nhiêu là nó nằm giữa một vùng có khí hậu gọi là khí hậu Địa Trung Hải với đặc trưng là mùa đông dịu, ẩm, mùa hè dài, nóng và khô. Khí hậu ấy hợp với những loài cây có khả năng sống qua mùa khô kéo dài và mọc nhanh trở lại khi mùa mưa đến. Nhiều loài cây của Lưỡi liềm Phì nhiêu, nhất là các loài ngũ cốc và đậu, đã thích nghi theo cách khiến cho chúng hữu ích đối với con người: chúng là cây sống một năm, nghĩa là bản thân cây khô đi rồi chết vào mùa khô.
Trong cuộc đời dài vỏn vẹn một năm đó, các loài cây một năm không tránh khỏi chỉ là những loài cỏ nhỏ. Bù lại, nhiều loài dồn hầu hết năng lượng vào việc tạo ra những hạt to, các hạt này ngủ yên suốt mùa khô, đến khi mưa trở lại thì chúng đã sẵn sàng để nảy mầm. Vì vậy các loài cây một năm chẳng cần phí nhiều năng lượng để tạo ra lớp gỗ hay thân sợi không ăn được như các loài cây thân mộc và cây bụi. Nhưng nhiều loại hạt lớn kia, đặc biệt là các loại hạt ngũ cốc và hạt đậu sống một năm, con người lại ăn được. Chúng bao gồm 6 trong số 12 loại ngũ cốc chính của thế giới hiện đại. Ngược lại, nếu bạn sống gần rừng và nhìn ra cửa sổ, thì những loài cây mà bạn thấy thường là cây thân mộc và cây bụi, thân của hầu hết các cây trong số đó bạn không ăn được, và hầu hết các cây này dành rất ít năng lượng cho việc tạo ra hạt ăn được. Dĩ nhiên một số cây rừng tại các khu vực có khí hậu ẩm ướt cũng cho những hạt to ăn được, song các hạt này lại không được thích nghi để sống nổi qua mùa khô kéo dài nên con người cũng không thể lưu trữ chúng lâu dài.
Lợi thế thứ hai của hệ thực vật Lưỡi liềm Phì nhiêu là các loài cây dại tổ tiên của nhiều cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu vốn đã dồi dào và có năng suất cao, lại mọc sum suê thành từng cụm khiến những người săn bắt hái lượm không thể nào không nhận ra giá trị của chúng. Các nghiên cứu thực nghiệm mà trong đó các nhà thực vật học thu hoạch hạt từ những cụm cây ngũ cốc mọc hoang đó – cũng như những người săn bắt hái lượm hẳn đã làm cách đây hơn 10.000 năm – cho thấy vào thời đó người ta đã có thể thu hoạch vụ mùa hằng năm lên tới gần một tấn hạt trên một hécta, cung cấp tới 50 Kcal năng lượng lương thực cho mỗi kilocalo đã tiêu thụ vào lao động. Bằng cách thu hoạch với số lượng lớn hạt ngũ cốc mọc hoang trong một thời gian ngắn khi hạt chín rồi đem về lưu trữ làm lương thực cho thời gian còn lại trong năm, một số dân tộc săn bắt hái lượm của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã có thể sống định cư thành làng mạc ngay cả khi họ chưa bắt đầu trồng trọt.
Do các cây ngũ cốc Lưỡi liềm Phì nhiêu vốn đã có năng suất cao từ khi mọc hoang, nên người ta chỉ phải tiến hành thêm một ít thay đổi ở chúng khi đem trồng. Như ta đã đề cập trong chương trước, những thay đổi chủ yếu – sự phá vỡ cơ chế phát tán hạt tự nhiên và cơ chế kìm hãm việc nảy mầm – đã tiến hóa một cách tự động và nhanh chóng ngay khi con người bắt đầu gieo hạt ngoài đồng. Tổ tiên hoang dã của lúa mì và lúa mạch ngày nay trông giống bản thân các loại cây trồng này đến nỗi người ta chưa bao giờ phải hoài nghi về chuyện cây nào là tổ tiên đích thực. Nhờ dễ thuần hóa nên các loài cây sống một năm có hạt to là những loài cây trồng đầu tiên – hoặc nằm trong số những cây trồng đầu tiên – được phát triển không chỉ ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu mà cả ở Trung Hoa và vùng Sahel.
Ta hãy so sánh sự tiến hóa nhanh chóng này của lúa mì và lúa mạch với lịch sử cây ngô, cây ngũ cốc hàng đầu của Tân Thế giới. Tổ tiên của ngô có thể là một loài cây dại gọi là teosinte, trông khác với ngô về hạt và cấu trúc hoa đến nỗi có thật nó là tổ tiên của ngô hay không cũng đã là đề tài tranh cãi gay gắt giữa các nhà thực vật học suốt một thời gian dài. Những người săn bắt hái lượm hẳn đã không có ấn tượng gì về giá trị thực phẩm của teosinte: khi mọc hoang nó có năng suất thấp hơn tổ tiên cây lúa mì, nó cho ít hạt hơn nhiều so với cây ngô mà từ nó phát triển thành, hạt của nó lại còn bọc trong hàng lớp vỏ cứng không ăn được. Để trở thành một cây trồng có ích, teosinte đã phải trải qua những thay đổi triệt để về cơ chế sinh sản, nhằm nâng cao phần đầu tư vào hạt [để cho nhiều hạt hơn – ND] và loại bỏ lớp vỏ cứng như đá bọc ngoài hạt đi. Các nhà khảo cổ vẫn đang tranh luận sôi nổi xem tại sao người ta đã phải mất tới nhiều thế kỷ hay thậm chí nhiều thiên niên kỷ phát triển cây trồng ở châu Mỹ để những lõi ngô cổ đại có thể tiến hóa từ kích thước nhỏ xíu thành bằng ngón tay cái của người, nhưng dường như có một điều khá rõ: phải mất thêm vài ngàn năm nữa chúng mới đạt tới kích thước như hiện nay. Sự tương phản đó giữa những phẩm chất nhìn thấy được của lúa mì và lúa mạch với những khó khăn do cây teosinte gây ra có thể đã là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự phát triển khác nhau đến vậy giữa các xã hội loài người ở Tân Thế giới và ở Âu-Á.
Một lợi thế thứ ba của hệ thực vật vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu là nó bao gồm một bột phận lớn những loài “bán lưỡng tính” (tạm dịch từ “hermaphroditic selfer” – ND), nghĩa là những loài cây thường tự mình thụ phấn nhưng thỉnh thoảng cũng thụ phấn chéo. Hãy nhớ lại rằng hầu hết cây dại đều hoặc là những loài lưỡng tính thụ phấn chéo, hoặc bao gồm cá thể đực và cá thể cái và hai cá thể này luôn luôn phải cần đến nhau mới có thể thụ phấn. Những cơ chế sinh sản này đã khiến những nhà nông cổ đại ngán ngẩm bởi vì ngay khi họ xác định được một cây biến dị có thể cho năng suất cao thì con của nó có thể lại giao phối chéo với những cá thể cây khác và đánh mất lợi thế di truyền của mình. Hệ quả là, hầu hết cây trồng đều thuộc số ít những loài cây dại hoặc vốn là cây lưỡng tính tự thụ phấn hoặc sinh sản phi giới tính bằng cách sinh dưỡng (chẳng hạn bằng rễ, vốn là bản sao di truyền của cây bố mẹ). Như vậy, đa số các cây bán lưỡng tính trong hệ thực vật Lưỡi liềm Phì nhiêu đã hỗ trợ những nhà nông đầu tiên, bởi điều đó có nghĩa là một tỷ lệ lớn các loài thực vật hoang đã có sẵn cơ chế sinh sản thuận lợi cho con người.
Cây bán lưỡng tính cũng thuận lợi cho các nhà nông cổ đại ở chỗ đôi khi chúng lại trở thành thụ phấn chéo, tạo ra những giống mới mà người ta có thể chọn lựa. Sự thụ phấn chéo này xảy ra không chỉ giữa các cá thể cùng loài mà cả giữa các loài có họ hàng với nhau để cho ra những cá thể lai giữa các loài. Một giống lai như vậy trong số các cây bán lưỡng tính của Lưỡi liềm Phì nhiêu, cây lúa mì, đã trở thành loại cây trồng có giá trị nhất trên thế giới ngày nay.
Trong số tám loại cây trồng quan trọng đầu tiên đã được thuần hóa ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, tất cả là cây bán lưỡng tính. Trong ba loài ngũ cốc bán lưỡng tính trong số đó – lúa mì einkorn, lúa mì emmer và lúa mạch – các cây lúa mì còn có một lợi thế nữa là hàm lượng protein cao, tới 8-14%. Ngược lại, các cây ngũ cốc quan trọng nhất ở Đông Á và Tân Thế giới – lần lượt là lúa gạo và ngô – có hàm lượng protein thấp hơn, từ đó nảy sinh những vấn đề quan trọng về dinh dưỡng.
Đó là một số lợi thế mà hệ thực vật của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu cung hiến cho các nhà nông đầu tiên: nó bao gồm một tỷ lệ cao bất thường những loài cây dại thích hợp cho thuần hóa. Tuy nhiên, vùng khí hậu Địa Trung Hải của Lưỡi liềm Phì nhiêu trải rộng về phía tây qua phần lớn Nam Âu và Tây Bắc Phi. Cũng có cả những vùng với khí hậu tương tự như Địa Trung Hải ở những phần khác trên thế giới: California, Chile, tây nam Australia và Nam Phi (Hình 8.2). Thế nhưng, những vùng khí hậu Địa Trung Hải khác không những không cạnh tranh nổi với Lưỡi liềm Phì nhiêu trong việc trở thành nơi phát nguyên đầu tiên của sản xuất lương thực, các vùng đó thậm chí còn chẳng bao giờ sinh ra nổi một nền nông nghiệp bản địa. Cái vùng khí hậu Địa Trung Hải ở miền tây lục địa Âu-Á đó đã có lợi thế đặc biệt nào vậy?
Thì ra là vùng ấy, đặc biệt là ở chính khu vực Lưỡi liềm Phì nhiêu kia, có ít nhất năm lợi thế so với các vùng có khí hậu Địa Trung Hải khác. Trước hết, phía tây Âu-Á có vùng khí hậu Địa Trung Hải rộng lớn nhất so với mọi vùng khác trên thế giới. Hệ quả là nó có độ đa dạng cao nhất về các loài cây và động vật hoang dã, cao hơn so với các vùng khí hậu Địa Trung Hải tương đối nhỏ như tây nam Australia và Chile. Thứ hai, trong số các vùng khí hậu Địa Trung Hải, miền tây Âu-Á có sự biến động khí hậu lớn nhất từ mùa này qua mùa khác, từ năm này qua năm khác. Sự biến động này khiến cho, trong hệ thực vật của vùng, những loài cây sống một năm chiếm tỷ lệ đặc biệt cao. Sự kết hợp giữa hai nhân tố này – sự đa dạng loài và tỷ lệ cao các loài cây sống một năm – khiến cho vùng khí hậu Địa Trung Hải phía tây Âu-Á là vùng có sự đa dạng cao nhất về các loài cây một năm.
Hình 8.2: Các vùng khí hậu Địa Trung Hải trên thế giới
Tầm quan trọng của sự phong phú về thực vật đó đối với con người được minh họa bởi các nghiên cứu của Mark Blumler về sự phân bố các loài cỏ dại. Trong số hàng ngàn loài cỏ dại trên thế giới, Blumler đã phân loại 56 loài có hạt to nhất, “tinh hoa” của các loài cây trong thiên nhiên: ấy là các loài cỏ có hạt nặng hơn ít nhất 10 lần so với các loài cỏ trung bình (xem Bảng 8.1). Hầu như tất cả các loài này đều là cây bản địa ở các vùng khí hậu Địa Trung Hải hoặc các môi trường khô ráo theo mùa khác. Hơn nữa, chúng tập trung hầu hết ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu hoặc các bộ phận khác của vùng khí hậu Địa Trung Hải ở phía tây Âu-Á, khiến cho các nhà nông sơ khai có thể tha hồ lựa chọn: khoảng 32 trong số 56 loài cỏ dại có giá trị trên thế giới! Đặc biệt, lúa mạch và lúa mì emmer, hai loại cây trồng quan trọng đầu tiên của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, đứng thứ 3 và thứ 13 về kích thước hạt trong số 56 loài hàng đầu này. Ngược lại, vùng khí hậu Địa Trung Hải ở Chile chỉ đóng góp hai trong số các loài trên, California và Nam Phi mỗi vùng chỉ có một còn tây nam Australia thì chẳng có loài nào. Nội một điều đó cũng đã lý giải được khá nhiều điều về tiến trình của lịch sử loài người.
Lợi thế thứ ba của vùng khí hậu Địa Trung Hải thuộc Lưỡi liềm Phì nhiêu là nó có nhiều độ cao và địa hình khác nhau trong một cự ly ngắn. Nhờ có nhiều độ cao khác nhau, từ điểm thấp nhất trên Trái đất (Biển Chết) đến các ngọn núi cao 18.000 bộ (khoảng 5.500 m – ND) gần Teheran nên vùng này cũng có nhiều môi trường khác nhau tương ứng, từ đó có sự đa dạng cao về các loài cây dại có khả năng làm tổ tiên cho cây trồng. Những ngọn núi này nằm gần những vùng đất thấp thoai thoải có sông, những bình nguyên ngập nước và các sa mạc thích hợp cho nông nghiệp tưới tiêu. Ngược lại, các vùng Địa Trung Hải ở tây nam Australia và, ở mức độ thấp hơn là Nam Phi và Tây Âu, có sự đa dạng thấp hơn về độ cao, địa hình và môi trường sống.
Bảng 8.1. Sự phân bố các loài thân thảo có hạt lớn trên thế giới
Bảng 12.1 trong luận văn tiến sĩ của Mark Blumler, “Trọng lượng hạt và môi trường trong các vùng đất mọc cây thân thảo thuộc loại hình Địa Trung Hải ở California và Israel” (Đại học California, Berkeley, 1992) liệt kê 56 loài cây thân thảo có hạt nặng nhất (ngoại trừ tre) mà người ta hiện có dữ liệu. Trọng lượng hạt ở các loài này thay đổi từ 10 mg đến trên 40 mg, lớn hơn khoảng 10 lần so với trị số trung bình của tất cả các loài thân thảo trên thế giới. 56 loài này gộp lại chưa bằng 1% tổng số các loài thân thảo trên thế giới. Bảng này cho thấy các loài thân thảo quý giá này đại đa số tập trung ở vùng Địa Trung Hải thuộc phía tây lục địa Âu-Á.
Sự đa dạng về độ cao của Lưỡi liềm Phì nhiêu khiến cho mùa thu hoạch không đồng nhất: cây trồng ở nơi cao hơn cho hạt muộn hơn một chút so với cây trồng ở nơi thấp hơn. Hệ quả là, những người săn bắt hái lượm có thể leo lên triền núi để thu hoạch hạt khi hạt chín chứ không bị “ngợp” do vụ mùa cần thu hoạch tập trung vào cùng một thời điểm ở cùng một độ cao bởi toàn bộ hạt chín cùng một lúc. Khi người ta bắt đầu biết trồng trọt, các nông dân đầu tiên chỉ việc đem hạt các cây ngũ cốc hoang – vốn mọc trên các sườn đồi và phụ thuộc vào mưa khi có khi không – trồng vào các thung lũng ẩm ướt để hạt có thể cầm chắc mọc được mà không quá lệ thuộc vào mưa.
Sự đa dạng sinh học của Lưỡi liềm Phì nhiêu trong những cự ly nhỏ còn mang lại một lợi thế thứ tư, ấy là sự phong phú không chỉ của các loài cây có giá trị mà cả các loài thú lớn được thuần hóa. Như ta sẽ thấy, ở các vùng khí hậu Địa Trung Hải tại California, Chile, tây nam Australia và Nam Phi chỉ có ít hoặc không hề có loài hữu nhũ lớn nào thích hợp cho thuần hóa. Ngược lại, bốn loài hữu nhũ lớn – dê, cừu, lợn và bò – đã được thuần hóa từ rất sớm ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, có thể là sớm hơn bất cứ loài vật nào khác trừ chó vốn đã được thuần hóa ở những nơi khác trên thế giới. Các loài này đến nay vẫn là bốn trong số năm loài hữu nhũ được thuần hóa quan trọng nhất của thế giới (Chương 9). Nhưng tổ tiên hoang dã của chúng từng phổ biến nhất ở những vùng khác nhau chút ít của Lưỡi liềm Phì nhiêu, hệ quả là bốn loài này được thuần hóa ở bốn nơi khác nhau: cừu có lẽ được thuần hóa ở vùng trung tâm, dê hoặc ở phần phía đông nơi cao độ lớn hơn (vùng núi Zagros của Iran) hoặc phần tây nam (vùng Levant), lợn ở phần bắc-trung, còn bò thì ở phần phía tây kể cả Anatolia. Tuy nhiên, mặc dù những khu vực nơi có nhiều bốn loài hoang dã này là khác nhau như vậy, nhưng cả bốn đều sống khá gần nhau đủ để có thể được chuyển từ phần này của Lưỡi liềm Phì nhiêu sang phần nọ sau khi chúng được thuần hóa, hệ quả là toàn bộ Lưỡi liềm Phì nhiêu rốt cuộc đều có cả bốn loài.
Nền nông nghiệp được khởi đầu ở Lưỡi liềm Phì nhiêu từ việc thuần hóa từ sớm tám loài cây trồng được mệnh danh là “cây trồng sáng lập” (bởi chúng đã sáng lập nền nông nghiệp trong khu vực này và có thể cả trên toàn thế giới). Tám loài sáng lập này là các cây ngũ cốc gồm lúa mì emmer, lúa mì einkorn và lúa mạch; các loài họ đậu gồm đậu lăng, đậu Hà Lan, đậu chickpea và đậu tằm, và cây cho sợi là cây lanh. Trong tám loài này, chỉ hai loài là cây lanh và lúa mạch có mọc trong tự nhiên ở nhiều khu vực ngoài Lưỡi liềm Phì nhiêu và Anatolia. Hai trong các loài sáng lập này có phạm vi mọc rất hạn chế trong tự nhiên, như chickpea chỉ mọc ở tây nam Thổ Nhĩ Kỳ còn lúa mì emmer chỉ bó hẹp ở chính vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Như vậy, nông nghiệp có thể phát sinh ở Lưỡi liềm Phì nhiêu từ việc thuần hóa các loài cây dại có sẵn trong khu vực chứ không phải đợi đến khi du nhập các loại cây trồng xuất thân từ những loài cây dại ở nơi khác. Ngược lại, hai trong số các loài sáng lập này không thể được thuần hóa ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới ngoại trừ Lưỡi liềm Phì nhiêu bởi ngay trong tự nhiên chúng cũng chẳng mọc ở nơi nào khác.
Nhờ có sẵn các loài cây dại và thú hoang thích hợp, các dân tộc cổ xưa của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã có thể nhanh chóng có được một hành trang sinh học mạnh mẽ và cân đối để có thể tiến hành sản xuất lương thực thâm canh. Tập hợp này bao gồm ba loài ngũ cốc làm nguồn chính cung cấp cácbon hydrat, bốn loài đậu chứa 20-25% protein và bốn loài gia súc làm nguồn cung cấp protein chính, ngoài ra còn có hàm lượng protein dồi dào của lúa mì, và cây lanh làm nguồn cung cấp sợi và dầu (được gọi là dầu hạt lanh; hạt lanh chứa khoảng 40% dầu). Rốt cuộc, hàng ngàn năm sau khi con người bắt đầu thuần hóa thú vật và tiến hành sản xuất lương thực, các loài vật cũng bắt đầu được sử dụng để lấy sữa, len, làm vật kéo cày và vận chuyển. Như vậy, các cây trồng và vật nuôi của các nông dân đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã đáp ứng được các nhu cầu kinh tế cơ bản của con người: cácbon hydrat, protein, chất béo, quần áo, sức kéo và vận chuyển.
Lợi thế cuối cùng để sản xuất lương thực ra đời sớm ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, ấy là tại vùng này sản xuất lương thực ít phải cạnh tranh hơn với lối sống săn bắt hái lượm so với ở một số vùng khác kể cả phía tây Địa Trung Hải. Tây Nam Á ít có sông lớn và chỉ có một bờ biển ngắn nên tài nguyên biển tương đối nghèo nàn (dưới dạng cá và sò ốc sông và ven biển). Một trong các loài hữu nhũ quan trọng bị săn để lấy thịt, loài linh dương, ban đầu từng sống thành từng đàn rất lớn nhưng vì bị loài người ngày càng đông săn bắn quá mức nên chỉ còn lại rất ít ỏi. Vì vậy lối sống sản xuất lương thực đã nhanh chóng trở nên ưu việt so với lối sống săn bắt hái lượm. Các làng mạc định cư dựa trên ngũ cốc đã hiện diện từ trước khi nền sản xuất lương thực phát sinh, khiến những người săn bắt hái lượm đó cũng chuyển sang trồng trọt và chăn nuôi. Ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, việc chuyển tiếp từ săn bắt hái lượm sang sản xuất lương thực diễn ra tương đối nhanh: đến mãi 9.000 năm TCN người ta vẫn chưa có loại cây trồng hay vật nuôi nào mà vẫn lệ thuộc hoàn toàn vào lương thực hoang dã, nhưng đến 6.000 năm TCN một số xã hội ở đây đã hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào cây trồng và vật nuôi.
Tình hình ở Trung Mỹ tương phản mạnh mẽ với Lưỡi liềm Phì nhiêu: khu vực này chỉ cung cấp hai loài vật có thể thuần hóa (gà tây và chó), thịt hai loài này có hàm lượng dinh dưỡng thấp hơn nhiều so với bò, cừu, dê và lợn; còn ngô, loài cây cho hạt chính của Trung Mỹ, thì như tôi đã nói, khó thuần hóa và hẳn cũng phát triển chậm. Hệ quả là việc thuần hóa hẳn chỉ bắt đầu ở Trung Mỹ không sớm hơn khoảng 3.500 năm TCN (niên đại này vẫn chưa có gì chắc chắn); những phát triển đầu tiên đó đã được tiến hành bởi những người vốn vẫn đang là dân săn bắt hái lượm du cư; và mãi đến khoảng 1.500 TCN làng mạc định cư mới xuất hiện ở vùng này.
Trong phần bàn đến các lợi thế của Lưỡi liềm Phì nhiêu để sản xuất lương thực có thể sớm phát sinh, ta chưa nhắc đến những lợi thế mà người ta cho rằng nằm ở bản thân các dân tộc Lưỡi liềm Phì nhiêu. Sự thực là, tôi không biết có ai lại nghiêm túc đề xuất ý tưởng rằng những dân tộc sống ở khu vực này có những đặc tính sinh học khác biệt [và chính các đặc tính này đã] góp phần vào việc họ có hành trang sản xuất lương thực [] hùng hậu đến thế. Thay vì vậy, chúng ta đã thấy rằng những đặc tính khác biệt của khí hậu, môi trường, cây dại và thú hoang dã ở Lưỡi liềm Phì nhiêu chính là lời giải thích đầy thuyết phục cho điều đó.
Nền sản xuất lương thực phát sinh độc lập ở New Guinea và miền đông Hoa Kỳ kém tiềm năng hơn rất nhiều (chỉ có một ít loài cây trồng và vật nuôi kém giá trị, ND), vậy thì có phải nguyên nhân nằm ở bản thân các dân tộc sống tại các vùng đó không? Tuy nhiên, trước khi quay lại các khu vực đó, ta cần phải xét hai câu hỏi liên quan nảy sinh đối với bất cứ khu vực nào trên thế giới nơi sản xuất lương thực đã không bao giờ phát triển hoặc nếu có thì cũng với một hành trang yếu kém hơn nhiều. Trước hết, liệu những người săn bắt hái lượm và nông dân sơ khai có thực sự biết rõ tất cả các loài cây dại có sẵn nơi mình sống và công dụng của chúng không, hay liệu họ đã không biết mà bỏ qua một số loài vốn có thể là tổ tiên của những loại cây trồng có giá trị? Thứ hai, nếu họ biết rõ các loài cây dại và thú hoang bản địa, liệu họ có tận dụng cái tri thức đó để thuần hóa những loài hữu ích nhất sẵn có không, hay những nhân tố văn hóa đã khiến họ không làm vậy?
Về vấn đề thứ nhất, có cả một ngành khoa học gọi là sinh-dân tộc học (ethnobiology) chuyên nghiên cứu tri thức của các dân tộc về các loài cây dại và thú hoang trong môi trường của mình. Các nghiên cứu này đặc biệt tập trung vào một số ít các dân tộc vẫn còn theo lối sống săn bắt hái lượm trên thế giới, cũng như các dân tộc tuy làm nông nhưng vẫn còn phụ thuộc nặng nề vào lương thực hoang dã và các sản phẩm tự nhiên. Nhìn chung, các nghiên cứu này thường chỉ ra rằng những người này là những cuốn bách khoa từ điển sống về lịch sử tự nhiên, họ có từ riêng (trong ngôn ngữ bản địa của mình) để gọi từng loài một trong số hàng ngàn hay hơn nữa các loài cây và thú, họ hiểu biết chi li tường tận về đặc tính sinh học, sự phân bố và công dụng tiềm tàng của các loài đó. Do các dân tộc ngày càng lệ thuộc vào cây trồng và vật nuôi thuần hóa, nên cái tri thức truyền thống này dần dần mất đi giá trị và bị mai một, cho đến khi người ta biến thành một kẻ hiện đại chỉ biết mua hàng siêu thị mà ngay chuyện cây lúa dại khác cây đậu dại thế nào cũng không phân biệt nổi.
Sau đây là một ví dụ điển hình. Trong 33 năm qua, khi tiến hành nghiên cứu sinh học ở New Guinea, tôi vẫn thường dành thời gian nghiên cứu thực địa cùng những người bạn đồng hành New Guinea vốn vẫn còn sử dụng rộng rãi các loài cây dại và thú hoang. Một hôm nọ, khi tôi cùng các bạn đồng hành thuộc bộ lạc Foré đang bị đói trong rừng rậm bởi một bộ lạc khác đang phong tỏa đường trở về căn cứ tiếp tế của chúng tôi, một người Foré trở về trại mang theo một ba lô ních đầy nấm mà anh ta đã tìm được rồi bắt tay nướng nấm. Rốt cuộc cũng được ăn tối! Nhưng khi đó tôi lại đâm lo ngay ngáy: nhỡ ra nấm độc thì sao?
Tôi kiên nhẫn giải thích với các bạn đồng hành người Foré của tôi, rằng tôi đã đọc trong sách rằng có một số loài nấm độc, rằng tôi nghe nói thậm chí cả một nhà sưu tập nấm người Mỹ đã chết vì rất khó phân biệt nấm lành với nấm độc, và rằng mặc dù chúng ta đang đói thì cũng không đáng liều mạng như vậy. Nghe đến đó các bạn tôi liền nổi xung, bảo tôi im đi mà lắng nghe họ giải thích đôi điều cho tôi thủng ra. Sau khi đã quay họ suốt cả năm trời về tên của hàng trăm loài cây cối cùng chim chóc, tại sao tôi còn dám xúc phạm họ khi cho rằng họ không biết đặt tên riêng cho từng loài nấm một? Chỉ có người Mỹ mới ngu dại đến mức lẫn lộn nấm độc với nấm lành mà thôi. Họ cứ thế giảng cho tôi nghe về 29 loài nấm ăn được, tên của mỗi loài trong ngôn ngữ Foré, và có thể tìm ra từng loài ở đâu trong rừng. Loài này tên là tánti, mọc trên cây, rất ngon và hoàn toàn ăn được.
Bất cứ lúc nào tôi mang những người New Guinea cùng tôi đến những vùng khác trên hòn đảo, họ thường xuyên nói về những loài cây và thú địa phương với những người New Guinea khác mà họ gặp, và họ thu nhặt những loài cây có thể có ích đặng mang về nhà trồng thử. Kinh nghiệm của tôi với người New Guinea cũng tương đương với kinh nghiệm của các nhà sinh-dân tộc học khi nghiên cứu các dân tộc truyền thống khác ở những nơi khác. Tuy nhiên, tất cả các dân tộc đó ít nhất cũng phần nào có sản xuất lương thực, hoặc là tàn dư của những xã hội săn bắt hái lượm trước kia mà nay đã một phần chuyển qua nông nghiệp. Tri thức về các loài hoang dã [ở loài người] thậm chí hẳn đã từng chi tiết hơn nhiều trước khi phát sinh nền sản xuất lương thực, khi tất cả mọi người trên Trái đất vẫn còn phải dựa hoàn toàn vào các loài hoang dã để có cái ăn. Những nhà nông đầu tiên là kẻ thừa kế tri thức đó, cái tri thức tích lũy qua hàng vạn năm quan sát tự nhiên bởi những con người tuy hiện đại về mặt sinh học nhưng sống một cách phụ thuộc mật thiết vào thế giới tự nhiên. Vì vậy thật khó mà có chuyện có một loài hoang dã mang giá trị tiềm tàng nào mà các nhà nông đầu tiên lại đã bỏ qua.
Câu hỏi liên quan khác là liệu những người săn bắt hái lượm và nông dân cổ đại có cùng vận dụng tri thức sinh-dân tộc học của mình một cách như nhau trong việc chọn các loài cây hoang để thu hoạch và cuối cùng là để trồng? Có một thử nghiệm ở di chỉ khảo cổ tại triền Thung lũng Euphrates ở Syria, gọi là Tell Abu Hureyra. Trong khoảng từ 10.000 năm đến 9.000 năm TCN, những người sống ở đó có thể đã định cư quanh năm thành làng mạc, nhưng họ vẫn là những người săn bắt hái lượm; phải đến thiên niên kỷ sau đó họ mới bắt đầu trồng trọt. Các nhà khảo cổ Gordon Hillman, Susan Colledge và David Harris đã khai quật được số lượng lớn các loài cây bị đốt thành than ở di chỉ này, hẳn là rác còn lại của những loài cây dại được cư dân từng sống ở di chỉ này thu thập từ nơi khác mang về. Các nhà khoa học đã phân tích trên 700 mẫu vật, mỗi mẫu chứa trung bình trên 500 hạt giống có thể nhận diện được thuộc trên 70 loài cây. Thì ra các dân làng xưa kia vẫn thường thu hoạch rất nhiều (157 loài!) cây khác nhau mà ta có thể nhận diện qua các hạt bị đốt thành than, ấy là chưa kể những loài cây khác mà ngày nay không thể nhận diện được.
Có phải những dân làng ngây thơ đó đã mang bất cứ loài cây có hạt nào tìm được về nhà, tự đầu độc mình bằng hầu hết các loài trong số đó và chỉ một ít loài trong số đó là ăn được? Không, họ không ngu đến thế. Thoạt nghe 157 loài thì ngỡ như họ đã bạ gì nhặt nấy không phân biệt, nhưng thật ra nhiều loài khác mọc hoang trong tự nhiên đã không có mặt trong các tàn tích bị đốt thành than kia. 157 loài được chọn có thể chia làm ba loại. Nhiều loại có hạt không độc và có thể ăn ngay. Những loài khác như cây đậu và thành viên của họ mù tạc thì hạt có chất độc, nhưng loại bỏ chất độc này ra cũng dễ, hạt còn lại vẫn ăn được. Một số hạt thuộc các loài thường được dùng để lấy chất nhuộm hay làm thuốc. Nhiều loài cây dại không có mặt trong 157 loài được chọn này là những loài hoặc không có ích gì hoặc có hại cho người, trong đó có tất cả các loài có hạt độc nhất trong môi trường.
Như vậy, những người săn bắt hái lượm ở Tell Abu Hureyra đã không phí thì giờ và không tự làm hại mình bằng cách thu thập đủ thứ cây dại mà không hề phân biệt. Thay vì vậy, rõ ràng họ biết rõ các loài cây dại chẳng kém gì những người New Guinea hiện đại, và họ đã dùng tri thức đó để chọn đem về nhà chỉ những loài cây có hạt hữu ích nhất mà thôi. Nhưng các hạt được thu thập này hẳn đã là chất liệu cho những bước vô thức đầu tiên đi đến chỗ thuần hóa các loài cây.
Một ví dụ khác của tôi về việc các dân tộc cổ đại ắt đã dùng tri thức sinh-dân tộc học của mình một cách có hiệu quả, ấy là Thung lũng Jordan vào thiên niên kỷ thứ chín TCN, thời kỳ các loại cây trồng sớm nhất được canh tác ở đó. Các loài ngũ cốc được thuần hóa sớm nhất của khu vực này là lúa mạch và lúa mì emmer mà đến ngày nay vẫn nằm trong số những cây trồng có năng suất cao nhất trên thế giới. Nhưng, cũng như ở Tell Abu Hureyra, hàng trăm loài cây dại có hạt ắt cũng đã mọc ở đó, và một trăm loài hoặc hơn hẳn là ăn được và từng được con người thu hoạch từ trước khi việc thuần hóa cây trồng bắt đầu. Vậy lúa mạch và lúa mì emmer có gì đặc biệt để trở thành những loài cây đầu tiên được thuần hóa? Có phải những nhà nông đầu tiên ở Thung lũng Jordan là những tay ngu dốt không hề biết mình đang làm gì? Hay lúa mạch và lúa mì emmer quả thật là những cây ngũ cốc dại tốt nhất mọc trong vùng mà họ có thể chọn được?
Hai nhà khoa học Israel, Ofer Bar-Yosef và Mordechai Kislev, đã giải quyết vấn đề này bằng cách khảo sát những loài cỏ dại vẫn còn mọc hoang ở thung lũng đó ngày nay. Bỏ qua một bên các loài có hạt quá nhỏ hoặc không ăn được, họ chọn ra 23 loài cỏ dại có hạt lớn nhất và ăn được nhất. Chẳng có gì lạ rằng lúa mạch và lúa mì emmer có tên trong danh sách 23 loài đó.
Nhưng bảo rằng 21 loài còn lại hẳn cũng có ích như vậy thì không đúng. Trong 23 loài, lúa mạch và lúa mì emmer tỏ ra là tốt nhất theo nhiều tiêu chí. Lúa mì emmer có hạt to nhất, lúa mạch có hạt to nhì. Ngoài hoang dã, lúa mạch là một trong bốn loài mọc dồi dào nhất trong 23 loài, lúa mì emmer thì có độ dồi dào trung bình. Lúa mạch có thêm lợi thế nữa là hệ di truyền và hình thái của nó cho phép nhanh chóng phát triển những biến đổi có ích cho con người ở cơ chế phát tán hạt và cơ chế ngăn chặn nảy mầm mà ta đã bàn ở chương trước. Bù lại, lúa mì emmer lại có những phẩm chất khác: loài này có thể thu hoạch hữu hiệu hơn lúa mạch, nó lại chẳng giống loài ngũ cốc nào khác ở chỗ hạt không dính vào vỏ. Còn về 21 loài kia, nhược điểm của chúng là hạt nhỏ, trong nhiều trường hợp là ít ỏi hơn, trong một số trường hợp do chúng là cây nhiều năm chứ không phải cây một năm, hậu quả là nếu được thuần hóa chúng sẽ biến đổi rất chậm.
Vậy là, những nhà nông đầu tiên ở Thung lũng Jordan đã chọn chính 2 loài tốt nhất trong số 23 loài cỏ dại có sẵn trong vùng. Dĩ nhiên, các thay đổi tiến hóa (do được trồng) ở cơ chế phát tán hạt và ngăn chặn nảy mầm hẳn là những hệ quả không thể tiên liệu được của những gì các nhà nông đầu tiên đó đã làm. Nhưng việc họ ngay từ đầu đã chọn thu hoạch lúa mạch và lúa mì emmer chứ không phải loài ngũ cốc nào khác mang về nhà trồng cho thấy rằng hẳn là họ làm vậy một cách có ý thức, dựa trên những tiêu chí dễ dàng nhận thấy là kích thước hạt, ăn được và năng suất cao.
Ví dụ này về thung lũng Jordan, giống như ví dụ về Tell Abu Hureyra, cho thấy các nhà nông đầu tiên đã dùng tri thức chi tiết về các loài bản địa sao cho có lợi cho mình. Biết rõ các loài cây bản địa hơn hầu hết các nhà thực vật học chuyên nghiệp hiện đại, chắc hẳn họ hầu như đã chẳng hề bỏ sót không trồng bất cứ loài cây dại có ích nào tương đối thích hợp cho việc thuần hóa.
Giờ ta có thể khảo sát xem các nông dân bản địa, ở hai phần của thế giới (New Guinea và miền đông Hoa Kỳ), vốn đã có những hệ thống sản xuất lương thực nảy sinh tự phát nhưng rõ ràng còn khiếm khuyết so với hệ tương tự của Lưỡi liềm Phì nhiêu, đã làm gì khi có các loại cây trồng năng sản hơn du nhập từ nơi khác đến. Nếu những loại cây trồng đó không được họ tiếp thu vì những lý do văn hóa hay lý do gì khác, chúng ta vẫn sẽ còn đó một tồn nghi lớn. Mặc cho tất cả những lập luận của chúng ta từ trước đến giờ, ta vẫn cứ phải đặt nghi vấn rằng hệ thực vật hoang dã bản địa vẫn có một loại cây dại lẽ ra có thể là tổ tiên cho một cây trồng có giá trị, nhưng các nông dân bản địa đã không khai thác được nó vì những nhân tố văn hóa tương tự. Hai ví dụ này cũng sẽ minh họa chi tiết một sự kiện trọng yếu trong lịch sử: rằng những loại cây từ những phần khác nhau trên thế giới không hẳn là đều năng sản như nhau.
New Guinea, hòn đảo lớn nhất thế giới sau Greenland, nằm ngay ở phía bắc Australia và gần xích đạo. Bởi vị trí ở vùng nhiệt đới và sự đa dạng cao về địa hình và môi trường sống, New Guinea phong phú cả các loài cây cỏ lẫn động vật, tuy không phong phú bằng các khu vực nhiệt đới ở lục địa bởi đây là một hòn đảo. Người ta đã sinh sống ở New Guinea ít nhất là 40.000 năm nay, lâu hơn nhiều so với ở châu Mỹ và cũng lâu hơn chút ít so với những người hiện đại theo nghĩa giải phẫu học từng sống ở Tây Âu. Như vậy người New Guinea đã có khối cơ hội để hiểu biết tường tận hệ thực vật và động vật ở nơi mình sống. Liệu họ có cảm thấy cần áp dụng tri thức đó vào việc phát triển nền sản xuất lương thực hay không?
Tôi đã nhắc rằng để người ta tiếp thu sản xuất lương thực, [trước hết phải] diễn ra sự cạnh tranh giữa lối sống sản xuất lương thực với lối sống săn bắt hái lượm. Lối sống săn bắt hái lượm ở New Guinea không hữu hiệu đến mức khiến người ta mất đi động lực phát triển nền sản xuất lương thực. Đặc biệt, những thợ săn New Guinea hiện đại còn phải chịu một bất lợi lớn là sự khan hiếm thú săn: không có con thú đất liền bản địa nào lớn hơn loài chim không biết bay nặng 100 cân Anh. [] (con cassowary) và con kanguru nặng 50 cân Anh [] Những người New Guinea sống ở vùng đất thấp ven biển có thể kiếm được nhiều cá và sò ốc, một số người dân vùng đất thấp trong nội địa đến nay vẫn còn săn bắt hái lượm, sống được chủ yếu nhờ cây cọ sago mọc hoang. Nhưng không một dân tộc nào còn sống theo lối săn bắt hái lượm trên vùng cao ở New Guinea; thay vì vậy tất cả người dân vùng cao New Guinea ngày nay đều làm nông, chỉ dùng lương thực hoang dã để bổ sung thêm vào thực đơn hằng ngày. Khi dân vùng cao vào rừng để đi săn, họ vẫn mang theo rau trồng ở nhà để ăn. Nếu chẳng may hết cái ăn dự trữ đó thì ngay cả họ cũng sẽ chết đói dù họ biết rõ từng li từng tí các lương thực hoang dã có trong vùng. Bởi lối sống săn bắt hái lượm không còn đứng vững được ở phần lớn New Guinea hiện nay, nên chẳng có gì lạ rằng tất cả dân vùng cao và hầu hết dân vùng thấp New Guinea ngày nay là những nhà nông định cư có những hệ thống sản xuất lương thực tinh vi. Những khu đất rộng trước kia là rừng trên vùng cao đã được các nông dân New Guinea truyền thống chuyển thành những hệ thống đồng ruộng có hàng rào, được tưới tiêu, thâm canh hầu nuôi sống những cộng đồng dân cư đông đúc.
Bằng chứng khảo cổ cho thấy nguồn gốc của nền nông nghiệp New Guinea là rất cổ, niên đại khoảng 7.000 năm TCN. Vào các niên đại sớm đó, toàn bộ đất liền quanh New Guinea hãy còn do những người săn bắt hái lượm sinh sống, cho nên nền nông nghiệp cổ này ắt đã được phát triển một cách độc lập ở New Guinea. Tuy người ta chưa phục hồi được di tích chắc chắn về cây trồng ở các cánh đồng cổ đại đó, nhưng ắt hẳn các loài cây đó bao gồm cũng một số loại cây trồng vẫn được trồng ở New Guinea vào thời điểm người châu Âu đến chiếm làm thuộc địa và ngày nay ta biết là đã được thuần hóa tại New Guinea từ các loài cây hoang bản địa. Đứng hàng đầu trong số các cây trồng được thuần hóa tại New Guinea là loại cây trồng hàng đầu thế giới ngày nay, cây mía, mà sản lượng hằng năm hiện nay gần như tương đương sản lượng của cây trồng thứ hai (lúa mì) và thứ ba (ngô) cộng lại. Những cây trồng khác rõ ràng có nguồn gốc New Guinea là một nhóm cây chuối gọi là chuối Australimusa, cây phỉ Canarium indicum và cây khoai sọ đầm lầy khổng lồ cũng như nhiều loại thân, rễ cỏ ăn được và rau xanh. Cây bánh mì và khoai lang cũng như khoai sọ (thường) cũng có thể đã được thuần hóa ở New Guinea, mặc dù kết luận này chưa chắc chắn vì các loài cây dại tổ tiên của chúng không chỉ mọc ở New Guinea mà phân bố từ New Guinea đến Đông Nam Á. Hiện ta thiếu bằng chứng khả dĩ giải đáp câu hỏi liệu chúng có được thuần hóa ở Đông Nam Á như người ta vẫn nghĩ không, hay chúng cũng được thuần hóa một cách độc lập ở New Guinea, thậm chí chỉ ở New Guinea mà thôi.
Tuy nhiên, hóa ra rằng vùng sinh vật của New Guinea cũng có ba hạn chế nghiêm trọng. Thứ nhất, không một loài ngũ cốc nào đã được thuần hóa ở New Guinea, trong khi một số loài ngũ cốc vô cùng trọng yếu đã được thuần hóa ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, vùng Sahel và Trung Hoa. New Guinea, bằng việc chỉ tập trung vào các cây cho rễ và thân, lại đẩy tới mức cực đoan một xu hướng thường gặp nơi các hệ thống nông nghiệp ở các vùng nhiệt đới ẩm khác (vùng Amazon, Tây Phi nhiệt đới và Đông Nam Á), nơi mà nông dân cũng nặng về các loại cây trồng cho rễ nhưng đồng thời cũng cố trồng được ít nhất hai loại ngũ cốc (lúa gạo châu Á và một cây ngũ cốc có hạt khổng lồ ở châu Á gọi là “nước mắt của Job”). Một lý do khả dĩ khiến tại sao New Guinea không trồng ngũ cốc là sự thiếu hụt thấy rõ các loài cây hoang khả dĩ làm vật liệu: trong số 56 loài cây dại thân thảo có hạt lớn nhất trên thế giới, không một loài nào mọc ở New Guinea cả.
Thứ hai, hệ động vật ở New Guinea không có loài thú lớn nào có thể thuần hóa được. Những loài gia súc duy nhất ở New Guinea, lợn và chó, đến từ Đông Nam Á qua ngả Indonesia trong vòng mấy ngàn năm trở lại đây. Hệ quả là, trong khi dân vùng thấp ở New Guinea lấy protein từ cá mà họ bắt được, thì dân vùng cao New Guinea lại thiếu protein trầm trọng bởi các cây trồng cung cấp hầu hết calori cho họ (khoai sọ và khoai lang) vốn nghèo protein. Khoai sọ chẳng hạn, chỉ có 1% protein, ít hơn nhiều thậm chí so với gạo trắng, và thấp hơn nhiều so với lúa mì và đậu của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu (lần lượt là 8-14% và 20-25% protein).
Trẻ em trên các vùng cao New Guinea bị bụng ỏng, nét đặc trưng cho chế độ ăn uống nhiều về số lượng nhưng thiếu protein. Người già người trẻ ở New Guinea thường xuyên ăn chuột, nhện, ếch và các con vật nhỏ khác, những thứ mà những dân tộc ở các vùng khác có khả năng nuôi gia súc lớn hoặc săn được con mồi lớn chẳng bao giờ động đến. Thiếu protein có lẽ cũng là lý do tối hậu khiến tại sao tục ăn thịt người lại phổ biến ở các xã hội vùng cao truyền thống tại New Guinea.
Cuối cùng, ở các thời trước, những cây trồng lấy rễ có sẵn ở New Guinea vốn cũng hạn chế về hàm lượng calori như protein bởi chúng không mọc tốt lắm ở những vùng cao nơi nhiều người New Guinea sinh sống ngày nay. Tuy nhiên, nhiều thế kỷ trước đây, cây khoai lang, một cây trồng lấy rễ có nguồn gốc tận Nam Mỹ, đã đến New Guinea có lẽ theo ngả Philippines nơi người Tây Ban Nha đã mang nó đến. So với khoai sọ và các loại cây trồng lấy rễ có lẽ xưa hơn của New Guinea, khoai lang có thể trồng ở nơi cao hơn, mọc nhanh hơn, năng suất cao hơn tính trên mỗi hécta canh tác và giờ công. Hệ quả của việc du nhập cây khoai lang là dân số vùng cao tăng vọt. Nghĩa là, thậm chí dù người ta đã làm nông nghiệp ở vùng cao New Guinea từ nhiều ngàn năm trước khi cây khoai lang được du nhập, song các loại cây trồng địa phương đã khiến mật độ dân số và độ cao sinh sống của họ bị hạn chế.
Nói ngắn gọn, New Guinea là một trường hợp trái ngược với Lưỡi liềm Phì nhiêu và có thể chỉ ra nhiều điều cho chúng ta. Cũng như những người săn bắt hái lượm ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, những người săn bắt hái lượm ở New Guinea đã phát triển sản xuất lương thực một cách độc lập. Tuy nhiên, sản xuất lương thực bản địa của họ bị hạn chế vì khu vực của họ không có những loài ngũ cốc, cây họ đậu và loài thú có thể thuần hóa, vì tình trạng thiếu protein ở vùng cao, và bởi không có nhiều những loài cây bản địa trồng lấy rễ ở vùng thấp. Thế nhưng bản thân người New Guinea biết rõ về các loài cây dại và thú hoang ở nơi mình sống chẳng kém bất cứ dân tộc nào khác trên Trái đất ngày nay. Họ hẳn đã có thể đã phát hiện và thử nghiệm bất cứ loài cây dại nào đáng được thuần hóa. Họ hoàn toàn có khả năng nhận biết đâu là những giống cây hữu ích có thể bổ sung vào danh mục cây trồng của mình, như ta đã thấy qua việc họ hồ hởi tiếp thu cây khoai lang khi nó được du nhập từ nơi khác đến. Cũng một bài học đó vẫn đúng ở New Guinea tận ngày nay, bởi vì những bộ lạc nào có lợi thế tiếp xúc với các cây trồng và vật nuôi mới được du nhập (hoặc do những nhân tố văn hóa mà sẵn sàng tiếp thu chúng) thì đang phát triển, trong khi những bộ lạc nào không có lợi thế đó hay sự sẵn sàng tiếp thu đó thì mai một. Như vậy, sự hạn chế của nền sản xuất lương thực bản địa tại New Guinea chẳng có gì liên quan tới bản thân các dân tộc New Guinea, mà hoàn toàn là do vùng sinh vật và môi trường của New Guinea.
Một ví dụ khác về việc nền nông nghiệp bản địa có thể bị hạn chế bởi bản thân hệ thực vật bản địa, ấy là vùng phía tây Hoa Kỳ. Cũng như New Guinea, vùng này thuận lợi để người ta có thể thuần hóa một cách độc lập các loài cây dại bản địa. Tuy nhiên, về những phát triển đầu tiên của sản xuất lương thực tại miền đông Hoa Kỳ, chúng ta biết rõ hơn nhiều so với ở New Guinea: người ta đã xác định được các giống cây mà những nông dân đầu tiên ở khu vực này đã trồng, niên đại và trình tự thuần hóa các loài cây này người ta cũng đã biết. Từ lâu trước khi các loại cây trồng bắt đầu từ nơi khác đến, người châu Mỹ bản địa đã định cư ở các thung lũng sông tại miền tây Hoa Kỳ và phát triển nền sản xuất lương thực thâm canh dựa trên các loài cây bản địa. Từ đó họ có khả năng tận dụng các loài cây dại hứa hẹn nhất. Họ đã thực sự canh tác những loại cây nào, và hành trang cây trồng bản địa của họ rốt cuộc là thế nào nếu so sánh với hành trang của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu gồm những loại cây trồng sáng lập?
Hóa ra các loại cây trồng sáng lập của miền đông Hoa Kỳ là bốn loại cây trồng được thuần hóa vào khoảng 2.500-1.500 năm TCN, muộn hơn hẳn 6.000 năm sau khi lúa mì và lúa mạch được thuần hóa ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Một loài bí bản địa cho quả nhỏ cũng như hạt ăn được. Ba loài sáng lập khác được trồng chỉ vì cho hạt ăn được (hướng dương, một loài cây có họ hàng với hoa cúc gọi là sumpweed, và một cây có họ xa với rau bina gọi là goosefoot).
Nhưng bốn loại cây trồng cho hạt và một cây cho quả thì còn xa mới là đủ để có một hành trang sản xuất lương thực toàn diện. Trong suốt 2.000 năm, bốn loại cây trồng sáng lập đó chỉ cung cấp một phần bổ sung nhỏ nhoi vào khẩu phần ăn của con người bên cạnh lương thực hoang dã đặc biệt là các loài thú hữu nhũ và chim nước lớn, cá, sò ốc và quả hạch. Nghề nông vẫn không cung cấp một phần quan trọng cho thực đơn của họ cho mãi tới giai đoạn 500-200 TCN, sau khi ba loài cây cho hạt khác (knotweed, maygrass và lúa mạch nhỏ) được đưa vào trồng.
Một nhà dinh dưỡng hiện đại hẳn sẽ hoan nghênh bảy loài cây trồng đó của miền đông Hoa Kỳ. Tất cả đều có hàm lượng protein cao – 17 đến 32% so với 8-14% của lúa mì, 9% của ngô, và thậm chí còn thấp hơn đối với lúa mạch và gạo trắng. Hai loài trong số đó, hướng dương và sumpweed, còn chứa nhiều dầu (45-47%). Đặc biệt, sumpweed hẳn có thể là loài cây trong mơ của nhà dinh dưỡng, với hàm lượng protein lên tới 32% và dầu 45%. Thế tại sao đến ngày nay chúng ta không còn ăn những thứ lương thực trong mơ ấy nữa?
Than ôi, tuy về giá trị dinh dưỡng thì chúng có ưu thế vượt trội là vậy, song hầu hết các loài cây trồng miền đông Hoa Kỳ đó lại có những bất lợi nghiêm trọng ở những khía cạnh khác. Goosefoot, knotweed, lúa mạch nhỏ và maygrass đều có hạt nhỏ xíu, khối lượng chỉ bằng một phần mười so với hạt lúa mì và lúa mạch. Còn tệ hơn thế, sumpweed là một loài chuyên thụ phấn bằng gió có họ hàng với cỏ ambrosi (ragweed), loài cây vốn khét tiếng là nguyên nhân gây ra bệnh sốt mùa hè. Cũng như cỏ ambrosi, hạt phấn của sumpweed có thể gây bệnh sốt mùa hè nếu cây mọc thành những cụm lớn sum suê. Nếu điều ấy chưa đủ làm bạn nguội đi nhiệt huyết muốn trở thành nhà nông chuyên trồng cây sumpweed thì hãy coi chừng: nó có mùi rất gắt mà một số người không chịu nổi, khi thu hoạch và xử lý nó thì lại còn có thể bị kích thích da.
Các cây trồng Mexico rốt cuộc cũng bắt đầu đến được miền đông Hoa Kỳ theo những con đường mậu dịch sau năm 1. Ngô đến miền này vào khoảng năm 200, nhưng trong suốt nhiều thế kỷ vai trò của nó vẫn rất thứ yếu. Cuối cùng, khoảng năm 900 xuất hiện một giống ngô khác thích hợp với mùa hè ngắn của Bắc Mỹ, đến khi đậu được du nhập vào khoảng năm 1.100 thì đã hình thành đầy đủ bộ ba cây trồng Mexico gồm ngô, đậu và bí. Nghề nông ở miền đông Hoa Kỳ bắt đầu được thâm canh mạnh, và những tù trưởng quốc đông dân bắt đầu phát triển dọc theo sông Mississippi và các phụ lưu của nó. Ở một số khu vực, các loài cây trồng bản địa có từ trước vẫn tiếp tục tồn tại bên cạnh bộ ba cây trồng Mexico năng sản hơn nhiều, nhưng ở các khu vực khác thì chúng bị bộ ba này chiếm chỗ hoàn toàn. Không một người châu Âu nào từng thấy sumpweed mọc trong vườn tược của người Anh-điêng bởi đến khi người châu Âu bắt đầu chiếm châu Mỹ làm thuộc địa vào năm 1492 thì nó đã biến mất với tư cách cây trồng. Trong tất cả các loài cây trồng cổ đại đặc sản của miền đông Hoa Kỳ, chỉ có hai loài (hướng dương và bí miền đông) là cạnh tranh nổi với các cây trồng được thuần hóa ở nơi khác và vẫn được trồng đến ngày nay. Những quả bí sồi và bí mùa hè (summer squash) đều ra đời từ những quả bí châu Mỹ đã được thuần hóa từ hàng ngàn năm trước.
Như vậy, cũng như trường hợp New Guinea, trường hợp miền đông Hoa Kỳ có thể nói cho ta nhiều điều. Cứ theo suy diễn thì vùng này ắt phải là một vùng thích hợp để có thể có một nền nông nghiệp bản địa năng suất cao. Vùng này có đất đai màu mỡ, lượng mưa vừa phải đều đặn và khí hậu thích hợp giúp duy trì một nền nông nghiệp trù phú như ngày nay. Hệ thực vật vùng này rất phong phú các loài, trong đó có những loài cây dại có quả hạch (cây sồi và cây mại châu). Người châu Mỹ bản địa đã phát triển được một nền nông nghiệp dựa trên các cây trồng bản địa, nhờ vậy đã có thể sinh sống thành làng, thậm chí còn phát triển được một nền văn hóa phồn thịnh (văn hóa Hopewell từng tập trung ở khu vực ngày nay là Ohio) vào khoảng 200 năm TCN đến năm 400. Vì vậy suốt nhiều ngàn năm họ đã có khả năng khai thác những loài cây dại hữu ích nhất làm cây trồng tiềm năng dù các loài đó là gì đi nữa.
Tuy nhiên, thời kỳ hưng thịnh Hopewell chỉ nổi lên gần 9.000 năm sau khi các làng mạc đã xuất hiện ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Lại nữa, mãi đến sau năm 900 thì sự hình thành bộ ba cây trồng Mexico mới kích thích một sự bùng nổ dân số, cái gọi là thời hưng thịnh Mississippi vốn đã làm phát sinh những đô thị lớn nhất và xã hội phức tạp nhất mà người châu Mỹ bản địa phía bắc Mexico từng đạt tới. Nhưng sự bùng nổ đó xuất hiện quá muộn, khiến người châu Mỹ bản địa ở Hoa Kỳ ngày nay không kịp chuẩn bị đối phó với thảm họa thực dân hóa khi người châu Âu xuất hiện. Nền sản xuất lương thực chỉ dựa trên các cây trồng miền đông Hoa Kỳ đã không đủ để kích thích sự bùng nổ đó, vì những lý do không khó chỉ ra. Những cây ngũ cốc có sẵn ở khu vực này còn xa mới hữu ích như lúa mì và lúa mạch. Người châu Mỹ bản địa miền đông Hoa Kỳ đã không thuần hóa được loài cây họ đậu, cây lấy sợi, cây ăn trái hay cây quả hạch nào. Họ không có loài thú thuần hóa nào ngoại trừ chó mà ngay cả loài này hẳn cũng đã được thuần hóa tại nơi khác ở châu Mỹ.
Cũng rõ một điều rằng người châu Mỹ bản địa ở miền đông Hoa Kỳ đã không bỏ qua những loài cây trồng có tiềm năng trong số các loài cây dại ở quanh họ. Ngay cả các nhà nhân giống ở thế kỷ XX, được trang bị bao nhiêu là sức mạnh khoa học hiện đại, vẫn chẳng thành công bao lăm trong việc khai thác các loài cây dại Bắc Mỹ. Phải, chúng ta đã thuần hóa được đậu pecan, một loài quả hạch, và việt quất, một loài cây ăn trái, ta cũng đã cải thiện được vài cây ăn trái của lục địa Âu-Á (táo, mận, nho, mâm xôi, mâm xôi đen và dâu) bằng cách lai ghép với các loài cây dại Bắc Mỹ có họ hàng với chúng. Tuy nhiên, dăm thành công nhỏ nhoi đó chẳng làm thay đổi thói quen thực phẩm của chúng ta là bao so với ngô đã làm thay đổi thói quen thực phẩm của người châu Mỹ bản địa miền đông Hoa Kỳ từ sau năm 900.
Các nhà nông hiểu biết nhất về các loài cây trồng bản địa miền đông Hoa Kỳ, tức là bản thân những người châu Mỹ bản địa sống ở vùng đó, đã tính sổ các loài đó bằng cách loại bỏ hoặc đâm coi nhẹ chúng từ khi bộ ba cây trồng Mexico xuất hiện. Hệ quả đó cũng cho thấy rằng người châu Mỹ bản địa không hề bị trói buộc bởi tính bảo thủ văn hóa, mà hoàn toàn có khả năng đánh giá đúng một loại cây trồng tốt khi họ gặp. Vậy là, cũng như ở New Guinea, những hạn chế đối với nền sản xuất lương thực bản địa ở miền đông Hoa Kỳ không phải là vì bản thân các dân tộc châu Mỹ bản địa, mà tùy thuộc hoàn toàn vào vùng sinh vật và môi trường của châu Mỹ.
Đến nay ta đã xét các ví dụ về ba khu vực tương phản nhau, ở tất cả các khu vực đó sản xuất lương thực đã phát sinh một cách độc lập. Ở một cực là Lưỡi liềm Phì nhiêu; ở cực đối lập là New Guinea và miền đông Hoa Kỳ. Các dân tộc ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu thuần hóa các loài cây bản địa sớm hơn nhiều. Họ thuần hóa được nhiều loài hơn gấp bội, thuần hóa được những loài năng sản hơn gấp bội hoặc có giá trị hơn gấp bội, thuần hóa một loạt cây trồng đa dạng hơn gấp bội, phát triển sản xuất lương thực thâm canh và dân số tăng nhanh chóng, hệ quả là họ tiến vào thế giới hiện đại với một nền công nghệ tiên tiến hơn, tổ chức chính trị phức tạp hơn, và những căn bệnh có tính truyền nhiễm hơn có thể lây lan cho các dân tộc khác.
Ta thấy rằng những khác biệt đó giữa vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, New Guinea và miền đông Hoa Kỳ phát sinh trực tiếp từ những khác biệt giữa số loài cây và loài thú hoang dã có thể thuần hóa được ở mỗi nơi, chứ không phải từ những hạn chế của bản thân các dân tộc. Khi có những loài cây trồng năng sản hơn được du nhập từ nơi khác tới (khoai lang ở New Guinea, bộ ba cây trồng Mexico ở miền đông Hoa Kỳ), người dân địa phương đã nhanh chóng tận dụng chúng ngay, qua đó tăng cường sản xuất lương thực và gia tăng dân số. Xa hơn thế, tôi cho rằng các khu vực trên thế giới nơi mà sản xuất lương thực hoàn toàn chưa hề phát sinh độc lập – California, Australia, đồng bằng pampas ở Argentina, Đông Âu, v.v. – hẳn còn có ít loài cây và thú có thể thuần hóa hơn cả New Guinea và miền đông Hoa Kỳ, những nơi mà chí ít cũng đã phát sinh một nền sản xuất lương thực dù hạn chế. Thật ra, công trình nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu của Mark Blumler về các loài cỏ dại bản địa có hạt lớn đã được nhắc tới trong chương này, cùng với nghiên cứu toàn cầu về các loài hữu nhũ lớn bản địa (sẽ được trình bày ở chương sau), đều nhất trí chỉ ra rằng tất cả các khu vực nơi không hề có sản xuất lương thực bản địa hoặc chỉ có sản xuất lương thực ở mức hạn chế đều là những nơi thiếu các loài hoang dã có thể thuần hóa thành cây trồng ngũ cốc và vật nuôi.
Hãy nhớ lại rằng sản xuất lương thực phát sinh từ chỗ cạnh tranh giữa lối sống sản xuất lương thực với lối sống săn bắt hái lượm. Vì vậy, người ta có thể tự hỏi liệu có phải tất cả các trường hợp sản xuất lương thực phát sinh muộn hoặc không hề phát sinh hẳn đều là do nguồn lương thực hoang dã có thể săn bắt và hái lượm ở các vùng đó là cực kỳ phong phú, chứ không phải vì ở đó có lắm loài thích hợp để thuần hóa. Trên thực tế, hầu hết các vùng nơi sản xuất lương thực bản địa phát sinh muộn hoặc không hề phát sinh thì đều có nguồn lương thực hoang dã hết sức nghèo nàn chứ không phải là phong phú cho những người săn bắt hái lượm, bởi hầu hết các loài hữu nhũ lớn của Australia và châu Mỹ (nhưng không phải của lục địa Âu-Á và châu Phi) đã bị tuyệt chủng vào cuối thời kỳ Băng hà. Ở các khu vực đó, lối sống sản xuất lương thực hẳn đã ít phải cạnh tranh với lối sống săn bắt hái lượm hơn là ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Vì vậy, chúng ta không thể quy việc các vùng đó không có nền sản xuất lương thực hoặc chỉ có ở mức hạn chế là do ở đó dồi dào thực phẩm săn bắt hái lượm.
Để tránh hiểu sai những kết luận trên, chúng ta nên kết thúc chương này bằng những lời cảnh báo đối với hai quan điểm cường điệu: một quan điểm cho rằng người ta luôn luôn sẵn sàng đón nhận các loài cây trồng và vật nuôi tốt hơn, quan điểm thứ hai cho rằng tùy theo một khu vực có sẵn những loài cây dại và thú hoang nào mà sản xuất lương thực ở khu vực đó có bị hạn chế hay không. Cả hai quan điểm đó đều không hoàn toàn đúng.

Chúng ta đã đề cập nhiều ví dụ về việc người dân địa phương đón nhận những cây trồng năng sản hơn vốn đã được thuần hóa ở nơi khác. Kết luận chung của chúng ta là: các dân tộc vốn dĩ có khả năng nhận biết những loài cây nào có ích, đã vậy thì ắt họ phải nhận biết được còn giỏi hơn thế những loài cây bản địa nào thích hợp để thuần hóa nếu như có các loài cây ấy [ở địa bàn sinh sống của họ], và họ không bị ngăn cản làm vậy bởi tính bảo thủ văn hóa hoặc những điều cấm kỵ. Nhưng ta cần phải thêm một cụm từ hạn định quan trọng vào câu này: “về lâu dài và ở những khu vực rộng lớn”. Bất cứ ai hiểu biết về các xã hội loài người đều có thể kể ra vô số thí dụ về các xã hội từng khước từ những loài cây trồng, gia súc và những cách tân khác dù chúng có năng suất cao đi nữa.

Lẽ tự nhiên, tôi không tán thành ý kiến rõ ràng là sai lầm rằng xã hội nào cũng sẽ mau mắn chộp lấy bất kỳ sự cách tân nào khả dĩ có ích cho nó. Sự thật là, ở mức độ toàn bộ các châu lục và các khu vực rộng lớn nơi có hàng trăm xã hội cạnh tranh với nhau, một số xã hội sẽ cởi mở hơn với cách tân, một số xã hội khác thì bảo thủ hơn. Những xã hội nào chịu tiếp nhận các cây trồng, vật nuôi hay công nghệ mới thì có thể sẽ nhờ đó mà tự nuôi mình tốt hơn, sinh sôi nảy nở, chiếm chỗ, chinh phục hoặc tiêu diệt những xã hội khước từ đổi mới. Đó là một hiện tượng quan trọng; và các biểu hiện của nó không chỉ bó hẹp ở việc tiếp thu những cây trồng mới mà còn xa hơn nhiều, ta sẽ quay lại vấn đề này ở Chương 13.
Cảnh báo thứ hai của tôi liên quan đến quan điểm rằng sự phát sinh sản xuất lương thực có thể bị hạn chế bởi số loài hoang dã có sẵn trong từng khu vực. Tôi không nói rằng sản xuất lương thực sẽ không bao giờ có thể phát sinh, dù trong bao lâu đi nữa, ở tất cả các khu vực nào mà sản xuất lương thực quả thật đã không phát sinh độc lập cho đến thời hiện đại. Những người châu Âu ngày nay, khi nhận thấy người châu Úc bản địa bước vào thế giới hiện đại như những người săn bắt hái lượm thời đồ đá, vẫn cho rằng [nếu không có thế giới hiện đại thì] người châu Úc bản địa sẽ đời đời kiếp kiếp như thế mãi.
Để thấy rõ ý tưởng này sai lầm đến đâu, hãy hình dung một vị khách từ hành tinh khác đáp xuống Trái đất vào năm 3.000 TCN. Nhà thám hiểm không gian sẽ quan sát thấy không hề có sản xuất lương thực ở miền đông Hoa Kỳ, bởi sản xuất lương thực mãi đến khoảng 2.500 năm TCN mới bắt đầu phát sinh ở đó. Giá như vị khách vũ trụ từ năm 3.000 TCN rút ra kết luận rằng vì thiếu các loài cây dại và thú hoang thích hợp để thuần hóa ở miền đông Hoa Kỳ nên sản xuất lương thực sẽ mãi mãi không bao giờ xuất hiện ở vùng đó được, thì các sự kiện ở thiên niên kỷ sau đó sẽ chứng minh rằng vị khách đó sai. Ngay cả một vị khách đến thăm vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu vào năm 9.500 TCN chứ không phải 8.500 TCN cũng sẽ lầm tưởng rằng Lưỡi liềm Phì nhiêu sẽ vĩnh viễn không thích hợp cho sản xuất lương thực.
Như vậy có nghĩa: luận điểm của tôi không phải là California, Australia, Tây Âu và tất cả các khu vực khác sở dĩ không có nền sản xuất lương thực bản địa là do thiếu những loài có thể thuần hóa và ở đó sẽ mãi mãi chỉ những người săn bắt hái lượm mới sinh sống được nếu như không có những loài thuần hóa từ nơi khác được du nhập vào hoặc không có những dân tộc phương xa di cư tới. Thay vì vậy, tôi lưu ý rằng các khu vực trên thế giới khác xa nhau ở [chủng loại] các loài có thể thuần hóa được, rằng, tương ứng với điều đó, các khu vực cũng khác nhau ở niên đại phát sinh sản xuất lương thực, và sản xuất lương thực ở một số vùng trù phú đã không phát sinh độc lập cho mãi tới thời hiện đại.
Australia, vốn được coi là châu lục “lạc hậu” nhất, minh họa rõ điểm này. Ở đông nam Australia, phần có nhiều sông và thích hợp nhất cho sản xuất lương thực, các xã hội châu Úc bản địa hình như đã tiến hóa theo một quỹ đạo mà cuối cùng sẽ dẫn đến nền sản xuất lương thực bản địa. Họ đã xây dựng những làng mạc mùa đông. Họ đã bắt đầu xử lý môi trường một cách sâu sắc nhằm sản xuất cá bằng cách bện bẫy cá, lưới đánh cá, thậm chí xây cả những con kênh dài. Giá như người châu Âu không thuộc địa hóa Australia vào năm 1788 và làm thui chột cái quỹ đạo tiến hóa đó thì trong vòng vài ngàn năm nữa người châu Úc bản địa hẳn đã trở thành những người sản xuất lương thực, nuôi cá đã thuần hóa ở trong ao, trồng khoai lang và các loài cỏ bản địa có hạt nhỏ đã được thuần hóa.
Dưới ánh sáng đó, giờ đây ta có thể trả lời câu hỏi hàm ẩn trong nhan đề của chương này. Tôi đã hỏi liệu nguyên nhân khiến người Anh-điêng Bắc Mỹ không thuần hóa được loài táo dại Bắc Mỹ là do bản thân những người Anh-điêng hay là do loài táo.
Khi hỏi vậy, tôi không hàm ý rằng táo chẳng bao giờ có thể thuần hóa ở Bắc Mỹ được. Hãy nhớ lại rằng, trong lịch sử, táo nằm trong số những loài cây ăn trái khó trồng nhất và là một trong những loài cây chính được thuần hóa muộn nhất ở Âu-Á, bởi để nhân giống nó thì phải có kỹ thuật ghép. Chẳng có bằng chứng nào cho thấy táo đã được trồng trên quy mô lớn ngay cả ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, châu Âu thì cho mãi tới thời Hy Lạp cổ, [nghĩa là] 8.000 năm sau khi sản xuất lương thực đã khởi đầu ở lục địa Âu-Á. Giá như người châu Mỹ bản địa đã tiến triển với cùng tốc độ [như lục địa Âu-Á] trong việc phát minh hoặc tiếp thu kỹ thuật ghép cây thì ngay cả họ rốt cuộc cũng sẽ thuần hóa được cây táo vào khoảng năm 5.500, [nghĩa là] chừng 8.000 năm sau khi sản xuất lương thực bắt đầu ở Bắc Mỹ vào khoảng 2.500 năm TCN.
Như vậy, nguyên nhân khiến người châu Mỹ bản địa không thuần hóa được táo Bắc Mỹ vào thời điểm người châu Âu đến châu Mỹ không phải là ở bản thân con người cũng chẳng phải ở loài táo. Về những điều kiện tiên quyết về sinh học để có thể thuần hóa loài táo, các nông dân Anh-điêng Bắc Mỹ cũng giống như các nông dân Âu-Á, còn táo dại Bắc Mỹ cũng chẳng khác gì táo dại Âu-Á. Quả thực, một số giống táo bán ngoài siêu thị ngày nay mà bạn hẳn đang vừa gặm vừa đọc chương này chỉ được phát triển gần đây bằng cách giao phối chéo táo Âu-Á với táo Bắc Mỹ. Thay vì vậy, nguyên nhân khiến người Anh-điêng Bắc Mỹ không thuần hóa được táo là nằm ở toàn bộ danh mục các loài cây dại và thú hoang có sẵn cho người châu Mỹ bản địa. Chính vì trong danh mục đó số lượng các loài có thể thuần hóa được là ít ỏi cho nên sản xuất lương thực mới phát sinh ở Bắc Mỹ một cách muộn màng.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thực
Chương 9 - Ngựa vằn, những cuộc hôn nhân bất hạnh, và nguyên lý Anna Karenina
Nếu bạn cảm thấy mình đã đọc câu gì đó giông giống thế này ở đâu rồi thì bạn đúng đấy. Chỉ cần thay đổi chút ít thôi, thế là ta đã có câu đầu nổi tiếng trong cuốn tiểu thuyết vĩ đại Anna Karenina của Tolstoy. “Các gia đình hạnh phúc đều giống nhau; mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo một cách riêng”. Bằng câu đó Tolstoy muốn nói rằng, để được hạnh phúc, một cuộc hôn nhân phải thành công ở nhiều phương diện: sự hấp dẫn tính dục, thỏa thuận về tiền nong, giáo dục con cái, tôn giáo, cha mẹ hai bên và các vấn đề đạo đức cốt yếu. Chỉ cần một trong các phương diện hệ trọng đó mà trục trặc là hôn nhân sẽ có nguy cơ tan vỡ dù nó có tất cả các thành tố cần thiết khác để có hạnh phúc.
Nguyên lý này có thể mở rộng nhằm thấu hiểu rất nhiều điều khác nữa về cuộc sống chứ không chỉ hôn nhân. Chúng ta hay tìm những lập luận dễ dàng, chỉ dựa trên một nhân tố để lý giải sự thành công. Tuy nhiên, đối với hầu hết những điều hệ trọng, thành công thực tế phụ thuộc vào việc tránh được những nguyên nhân riêng biệt có thể khiến ta thất bại. Nguyên lý Anna Karenina lý giải một đặc tính của việc thuần hóa loài vật vốn có những hệ quả nặng nề đối với lịch sử loài người. Cụ thể là, có quá nhiều loài hữu nhũ lớn thoạt trông có vẻ như thuần hóa được, như ngựa vằn và lợn cỏ peccary, lại chưa bao giờ được thuần hóa, và hầu như tất cả các loài vật được thuần hóa thành công đều là ở lục địa Âu-Á. Đã đề cập ở hai chương trước về việc tại sao nhiều loài cây dại có vẻ thích hợp để thuần hóa lại chẳng bao giờ được thuần hóa, giờ chúng ta sẽ giải quyết câu hỏi tương tự đối với các loài gia súc hữu nhũ. Câu hỏi trước đây của chúng ta về táo và người Anh-điêng trở thành câu hỏi về ngựa vằn và người châu Phi.
Ở chương 4 chúng ta đã nhớ lại rằng các loài gia súc hữu nhũ lớn, bằng nhiều cách, đã có tầm quan trọng cốt tử đối với các xã hội loài người có sở hữu chúng. Đáng chú ý nhất là, chúng cung cấp thịt, sản phẩm từ sữa, phân bón, phương tiện vận chuyển trên bộ, da thuộc, kéo xe tấn công trong quân sự, kéo cày, cho len, cũng như mang những vi trùng có khả năng giết chết những ai chưa từng gặp các vi trùng đó.
Ngoài ra, dĩ nhiên, các loài gia súc hữu nhũ nhỏ, gia cầm và côn trùng thuần hóa cũng có ích cho con người. Nhiều loài chim được thuần hóa để cho thịt, trứng và lông; gà ở Trung Hoa, nhiều giống vịt và ngỗng ở nhiều phần của Âu-Á, gà tây ở Trung Mỹ, gà guinea ở châu Phi và vịt Muscovy ở Nam Mỹ. Sói được thuần hóa ở Âu-Á và Bắc Mỹ để trở thành chó nhà làm bạn đi săn, lính gác, thú cưng và – ở một số xã hội – thức ăn của chúng ta. Các loài gặm nhấm và nhiều loài hữu nhũ nhỏ khác được thuần hóa để làm thức ăn gồm có thỏ ở châu Âu, chuột Ghinê ở vùng Andes, một loài chuột khổng lồ ở Tây Phi, và có thể một loài gặm nhấm gọi là hutia ở các đảo Caribê. Chồn sương được thuần hóa ở châu Âu để săn thỏ, mèo thì được thuần hóa ở Bắc Phi và Tây Nam Á để săn các loài gặm nhấm nhỏ có hại. Các loài hữu nhũ nhỏ được thuần hóa gần đây, vào thế kỷ XIX và XX, gồm có chồn, chồn vizon và sóc sinsin để lấy lông và chuột đồng làm thú cưng. Thậm chí một số loài côn trùng cũng được thuần hóa, đáng chú ý là ong cho mật ở Âu-Á và tằm cho lụa ở Trung Hoa.
Nhiều loài vật nhỏ đó cho con người thức ăn, quần áo hoặc hơi ấm. Nhưng không một loài nào trong đó kéo cày hoặc kéo xe, không một loài nào làm phương tiện cho người cưỡi – không một loài nào ngoại trừ chó kéo xe trượt tuyết – hoặc trở thành phương tiện chiến tranh, và không một loài nào trong số đó có tầm quan trọng ngang với các loài hữu nhũ lớn về phương diện cung cấp thực phẩm. Vì vậy phần còn lại của chương này sẽ chỉ nói về các loài hữu nhũ lớn.
Tầm quan trọng của các loài hữu nhũ được thuần hóa chỉ gói gọn trong một vài loài ăn cỏ lớn sống trên đất liền, số lượng các loài này ít ỏi đến kỳ lạ. (Chỉ những loài ăn cỏ trên mặt đất mới được thuần hóa mà thôi, vì lý do hiển nhiên rằng nếu là loài hữu nhũ sống dưới nước thì sẽ khó nuôi và khó phối giống chừng nào chưa có những cơ sở hiện đại kiểu Thế giới Biển). Nếu định nghĩa “lớn” là “nặng trên 45 kilôgam” thì chỉ có 14 loài như vậy đã được thuần hóa trước thế kỷ 20 (xem danh sách ở Bảng 9.1). Trong Mười Bốn Loài Tiên Tổ đó, 9 loài (“Chín Loài Tiên Tổ Thứ Yếu” ở Bảng 9.1) chỉ trở thành gia súc quan trọng ở một số khu vực hạn chế trên thế giới: lạc đà Arập, lạc đà châu Á, lạc đà châu Mỹ (llama và alpaca, vốn là hai giống khác nhau của cùng một loài tổ tiên), lừa, tuần lộc, trâu, bò yak, bò banteng và con minh. Chỉ có 5 loài đã trở nên phổ biến và quan trọng trên khắp thế giới. Năm Loài Tiên Tổ Chính được thuần hóa đó là bò, cừu, dê, lợn và ngựa.
Thoạt nhìn thì danh sách này dường như đã bỏ sót nhiều cái tên đáng kể. Thế còn những con voi châu Phi mà quân đội của Hannibal đã dùng để vượt dãy Alpes thì sao? Thế còn những con voi châu Á mà ngày nay vẫn được dùng trong công việc ở Đông Nam Á? Không, tôi không quên chúng đâu, nhưng ở đây có một khác biệt quan trọng. Người ta thuần dưỡng được voi, nhưng chưa bao giờ thuần hóa chúng thành gia súc được. Những con voi của Hannibal từng là, và voi châu Á hiện nay vẫn là, những con voi rừng bị bắt và thuần dưỡng; nhưng chúng không giao phối sau khi đã bị bắt. Ngược lại, “gia súc” được định nghĩa là một con vật được phối giống có chọn lọc sau khi đã bị con người bắt và do đó đã có sự điều chỉnh [về di truyền – ND] so với tổ tiên hoang dã của nó, để sử dụng bởi con người, kẻ kiểm soát sự sinh sản của con vật và cung cấp thức ăn cho nó.
Thế nghĩa là, sự thuần hóa bao gồm việc biến một con vật hoang dã thành một loài có ích hơn cho con người. Những loài thực sự được thuần hóa khác với các tổ tiên hoang dã ở nhiều phương diện. Những khác biệt này nảy sinh từ hai quá trình: con người lựa chọn những cá thể có ích cho con người hơn so với các cá thể khác cùng loài ấy, và phản xạ tiến hóa tự động ở loài vật trước lực của chọn lọc tự nhiên trong môi trường con người mà vốn dĩ khác với chọn lọc tự nhiên trong môi trường hoang dã. Ta đã thấy ở Chương 7 rằng các điều vừa nói trên cũng đúng với sự thuần hóa các loài cây.
Các loài thú thuần hóa đã tách khỏi tổ tiên hoang dã của chúng theo những cách sau đây. Nhiều loài thay đổi về kích thước: bò, lợn và cừu trở nên nhỏ hơn khi được thuần hóa, trong khi chuột ghinê thì lại to ra. Cừu và lạc đà alpaca được chọn để cho len nên lông ít đi hoặc mất hẳn lông, trong khi bò được chọn vì cho nhiều sữa. Một số loài thú thuần hóa có não nhỏ hơn và các cơ quan cảm thụ ít phát triển hơn so với tổ tiên hoang dã, bởi chúng không còn cần não to hơn và cơ quan cảm thụ phát triển hơn mà tổ tiên chúng cần để có thể trốn thoát những thú săn mồi hoang dã.
Để nhận thức đầy đủ những sự thay đổi đã phát triển [ở các loài vật này] do sự thuần hóa, ta chỉ cần xét loài sói, tổ tiên hoang dã của chó nhà, với nhiều giống chó khác nhau. Một số loài chó to hơn nhiều so với sói (Great Danes), trong khi các loài khác lại nhỏ hơn nhiều (chó Bắc Kinh). Một số loài thon thả hơn, được gây giống để đua (chó đua), trong khi những loài khác chân ngắn hơn và để chạy đua thì vô dụng (giống chó chồn – dachshund). Chúng khác nhau rất nhiều về hình dáng lông và màu lông, một số loài thậm chí không có lông. Người Polynesia và người Aztec đã phát triển được những nòi chó đặc biệt chỉ dùng để ăn thịt. Cứ thử so sánh chó chồn với sói, nếu không biết trước thì ta chẳng thể nào ngờ rằng chó chồn đã xuất thân từ sói.
Bảng 9.1. Mười Bốn Loài Tiên Tổ của các loài gia súc hữu nhũ ăn cỏ

Năm Loài Chính

1. Cừu. Tổ tiên hoang dã: loài cừu mouflon châu Âu ở Tây Á và Trung Á. Hiện phổ biến khắp thế giới.

2. Dê. Tổ tiên hoang dã: loài dê bezoar ở Tây Á. Hiện phổ biến khắp thế giới.

3. Bò. Tổ tiên hoang dã: loài bò cổ đại aurochs nay đã tuyệt chủng, trước đây phân bố khắp lục địa Âu-Á và Bắc Phi. Hiện phổ biến khắp thế giới.

4. Lợn. Tổ tiên hoang dã: loài lợn rừng, phân bố khắp lục địa Âu-Á và Bắc Phi. Hiện phổ biến khắp thế giới. Thực ra là loài ăn tạp (thường ăn cả thức ăn động vật lẫn thức ăn thực vật), trong khi 13 loài còn lại trong Mười Bốn Loài Tiên Tổ đều chỉ ăn cỏ.

5. Ngựa. Tổ tiên hoang dã: loài ngựa hoang ở miền nam nước Nga nay đã tuyệt chủng; một phân loài khác của loài này vẫn còn sống sót ngoài hoang dã đến tận thời hiện đại, đó là ngựa Przewalski ở Mông Cổ. Hiện phổ biến khắp thế giới.

Chín Loài Thứ Yếu

1. Lạc đà Arập (một bướu). Tổ tiên hoang dã: nay đã tuyệt chủng, trước kia sống ở Arập và các khu vực lân cận. Chủ yếu vẫn giới hạn ở Arập và Bắc Phi, tuy có sống trong hoang dã ở Australia.

2. Lạc đà Bactrian (hai bướu). Tổ tiên hoang dã: nay đã tuyệt chủng, trước kia sống ở Trung Á. Chủ yếu vẫn giới hạn ở Trung Á.

3. Lạc đà châu Mỹ (llama và alpaca). Hình như đây là hai giống khác nhau thấy rõ của cùng một loài chứ không phải hai loài riêng biệt. Tổ tiên hoang dã: loài guanaco ở vùng Andes. Chủ yếu vẫn giới hạn ở vùng Trung Mỹ, mặc dù một số được phối giống làm vật chuyên chở ở Bắc Mỹ.

4. Lừa. Tổ tiên hoang dã: loài lừa hoang châu Phi ở Bắc Phi, có lẽ trước kia còn sinh sống cả ở vùng Tây Nam Á lân cận. Trước kia được nuôi làm gia súc chỉ ở Bắc Phi và phía tây lục địa Âu-Á, nay cũng được sử dụng ở các nơi khác.

5. Tuần lộc. Tổ tiên hoang dã: loài tuần lộc bắc Âu-Á. Chủ yếu vẫn chỉ được nuôi làm gia súc ở khu vực đó, tuy hiện nay một số cũng được sử dụng ở Alaska.

6. Trâu. Tổ tiên hoang dã sinh sống ở Đông Nam Á. Vẫn được dùng làm gia súc chủ yếu chỉ ở khu vực đó, mặc dù hiện nay cũng được sử dụng nhiều ở Brazil và nhiều con khác đã thoát ra ngoài hoang dã ở Australia và những nơi khác.

7. Bò yak. Tổ tiên hoang dã: bò yak hoang ở vùng Himalaya và cao nguyên Tây Tạng. Chủ yếu vẫn chỉ giới hạn ở khu vực đó.

8. Bò Bali. Tổ tiên hoang dã: bò banteng (một loài họ hàng với aurochs) ở Đông Nam Á. Chủ yếu vẫn chỉ giới hạn ở khu vực đó.

9. Bò mithan. Tổ tiên hoang dã: con minh (gaur, một loài bò rừng khác có họ hàng với aurochs) ở Ấn Độ và Miến Điện. Chủ yếu vẫn chỉ giới hạn ở khu vực đó.

Tổ tiên hoang dã của Mười Bốn Loài Tiên Tổ được phân bố không đồng đều trên trái đất. Nam Mỹ chỉ có một trong mười bốn vị tổ này, từ đó sinh ra hai giống lạc đà châu Mỹ (llama và alpaca). Bắc Mỹ, Australia và châu Phi hạ Sahara không có một loài nào. Thật đáng ngạc nhiên rằng châu Phi hạ Sahara không có loài hữu nhũ bản địa nào là tổ tiên của gia súc ngày nay, bởi một lý do chính để ngày nay khách du lịch đến thăm châu Phi là để nhìn thấy những loài hữu nhũ hoang dã phong phú đa dạng ở đó. Ngược lại, tổ tiên hoang dã của 13 trong số Mười Bốn Loài Tiên Tổ (kể cả toàn bộ Năm Loài Tiên Tổ Chính) đều chỉ ở lục địa Âu-Á. (Như đã đề cập ở một chỗ khác trong sách này, trong một số trường hợp, tôi dùng thuật ngữ “Âu-Á” để chỉ cả Bắc Phi, vốn về mặt địa sinh học và trên nhiều khía cạnh của văn hóa nhân loại là gần gũi với Âu-Á hơn là châu Phi hạ Sahara).
Dĩ nhiên không phải tất cả 13 loài tổ tiên hoang dã này đều có mặt cùng một lúc ở toàn bộ lục địa Âu-Á. Không một khu vực nào có toàn bộ 13 loài, một số trong các loài này chỉ có ở riêng một vùng chẳng hạn như bò yak, chỉ sống ngoài hoang dã tại Tây Tạng và các vùng cao nguyên lân cận. Tuy nhiên, nhiều phần của Âu-Á quả thật từng có một vài loài trong 13 loài đó cùng một lúc, chẳng hạn, bảy trong các loài tổ tiên hoang dã này đã cùng có mặt ở Tây Nam Á.
Sự phân bố rất không đồng đều các loài tổ tiên hoang dã này giữa các châu lục đã trở thành một nguyên nhân quan trọng khiến tại sao người Âu-Á chứ không phải người của các châu lục khác đã là những người có súng, vi trùng và thép. Làm sao lý giải được sự tập trung của Mười Bốn Loài Tiên Tổ ở lục địa Âu-Á đây?
Có một nguyên nhân khá đơn giản. Âu-Á có nhiều loài hữu nhũ hoang dã trên đất liền nhất, dù đấy có là tổ tiên của một loài gia súc hay không. Ta hãy định nghĩa “ứng viên để thuần hóa” là bất cứ loài hữu nhũ nào sống trên đất liền, ăn cỏ hoặc ăn tạp (nhưng không phải ăn thịt là chính), cân nặng trung bình trên 100 cân Anh (45 kg). Bảng 9.2 cho thấy Âu-Á có nhiều ứng viên nhất, 73 loài, cũng như có số lượng loài nhiều nhất trong nhiều nhóm cây cối và động vật khác. Đó là do Âu-Á là lục địa lớn nhất trên thế giới, cũng lại rất đa dạng về sinh thái, với những môi trường sống khác nhau từ rừng nhiệt đới nhiều mưa cho tới rừng ôn đới, sa mạc, đầm lầy cho tới lãnh nguyên mênh mông. Châu Phi hạ Sahara có ít ứng viên hơn, 51 loài, cũng như có số lượng loài ít hơn trong hầu hết các nhóm cây cối và động vật khác, bởi vì nó nhỏ hơn và kém đa dạng về sinh thái hơn so với Âu-Á. Châu Phi ít có các khu vực rừng mưa nhiệt đới hơn Đông Nam Á, và hoàn toàn không có hệ môi trường ôn đới nào ngoài vĩ tuyến 37. Như tôi đã đề cập ở Chương 1, châu Mỹ trước kia hẳn đã có số lượng ứng viên tương đương châu Phi, song hầu hết các loài hữu nhũ hoang dã lớn ở châu Mỹ (kể cả ngựa châu Mỹ, hầu hết loài lạc đà và các loài khác lẽ ra đã có thể được thuần hóa nếu chúng còn sống sót) đã bị tuyệt chủng từ khoảng 13.000 năm trước. Australia, lục địa nhỏ nhất và tách biệt nhất, luôn luôn có số loài hữu nhũ hoang dã lớn ít hơn nhiều so với Âu-Á, châu Phi hay châu Mỹ. Cũng như châu Mỹ, tại Australia hầu hết số loài ứng viên ít ỏi ngoại trừ kanguru đỏ đã tuyệt chủng vào khoảng thời gian khi con người di cư sang lục địa này lần đầu tiên.
Bảng 9.2. Các loài hữu nhũ ứng viên cho việc thuần hóa
“Ứng viên” được định nghĩa là một loài hữu nhũ hoang dã sống trên đất liền, ăn cỏ hoặc ăn tạp, nặng trung bình trên 100 cân Anh (khoảng 45 kg).
Như vậy, việc tại sao Âu-Á đã là nơi chủ yếu có các loài hữu nhũ lớn được thuần hóa có thể lý giải một phần như sau: trước tiên, đó là châu lục nơi có hầu hết các loài hữu nhũ hoang dã lớn [đủ tiêu chuẩn là] ứng viên, và châu lục này có số loài bị tuyệt chủng ít nhất trong 40.000 năm qua. Song những con số ở Bảng 9.2 cảnh báo chúng ta rằng lý giải như vậy vẫn chưa đủ. Quả đúng là tỷ lệ ứng viên đã thực sự được thuần hóa cũng cao nhất ở Âu-Á (18%) và đặc biệt thấp ở châu Phi hạ Sahara (trong số 51 ứng viên không một loài nào được thuần hóa cả!). Đặc biệt đáng ngạc nhiên là số loài hữu nhũ chưa bao giờ được thuần hóa ở châu Phi và châu Mỹ rất cao mặc dù chúng có những họ hàng gần gũi hoặc loài tương đồng ở Âu-Á mà các loài đó thì đã được thuần hóa. Tại sao ngựa Âu-Á thì được thuần hóa nhưng ngựa vằn châu Phi lại không? Tại sao lợn Âu-Á được thuần hóa chứ không phải lợn cỏ pecari châu Mỹ hay ba loài lợn rừng thứ thiệt của châu Phi? Tại sao chính năm loài có guốc hoang dã của Âu-Á (bò hoang auroch, trâu, bò yak, con minh và bò banteng) [là tổ tiên của gia súc có guốc ngày nay] chứ không phải trâu châu Phi hay bò bison châu Mỹ? Tại sao chính cừu mouflon [là tổ tiên của cừu nuôi ngày nay] chứ không phải cừu sừng lớn của Bắc Mỹ?
Có phải tất cả các dân tộc ở châu Phi, châu Mỹ và Australia, mặc dù khác biệt nhau là vậy, vẫn có chung một số trở ngại về văn hóa khiến họ không thuần hóa được các loài trong khi các dân tộc ở Âu-Á thì không có những trở ngại đó? Chẳng hạn, có phải vì châu Phi có lắm loài hữu nhũ lớn hoang dã có thể săn bắn được nên người châu Phi chẳng cần mất công thuần hóa gia súc làm gì cho mệt?
Lời đáp cho câu hỏi đó rất rõ ràng dứt khoát: Không! Cách lập luận trên bị bác bỏ bởi năm loại bằng chứng: các dân tộc ở ngoài Âu-Á đã nhanh chóng tiếp thu các loài thú đã thuần hóa của Âu-Á; con người ở bất cứ đâu trên thế giới cũng có xu hướng thích nuôi thú trong nhà; Mười Bốn Loài Tiên Tổ đã được thuần hóa nhanh chóng; một vài loài trong số đó về sau cũng được thuần hóa một cách độc lập ở những khu vực khác; và ngày nay, dù đã rất nỗ lực, người ta vẫn chẳng thành công được là bao trong việc thuần hóa thêm những loài mới.
Trước hết, khi Năm Loài Gia Súc Tổ Tiên Chính của Âu-Á được du nhập đến châu Phi hạ Sahara, chúng đã được tiếp thu bởi những dân tộc châu Phi khác nhau nhất bất cứ khi nào điều kiện cho phép. Nhờ vậy những người chăn nuôi châu Phi đó đã có được một lợi thế to lớn so với những người săn bắt hái lượm châu Phi khác và nhanh chóng giành chỗ những người này. Đặc biệt, các nông dân Bantu sau khi tiếp thu bò và cừu đã bành trướng ra khỏi quê cha đất tổ của mình ở Tây Phi, trong một thời gian ngắn đã giành chỗ của những người săn bắt hái lượm ở hầu hết phần còn lại của châu Phi hạ Sahara. Ngay cả dù không tiếp thu cây trồng, những người Khoisan vốn tiếp thu bò và cừu khoảng 2.000 năm trước cũng đã giành chỗ những người săn bắt hái lượm Khoisan trên hầu hết phía nam châu Phi. Việc du nhập ngựa nuôi ở Tây Phi đã làm thay đổi hình thái chiến tranh ở đó, biến khu vực này thành một loạt các vương quốc chuyên sử dụng kỵ binh. Nhân tố duy nhất khiến ngựa đã không thể bành trướng ra ngoài Tây Phi là căn bệnh trùng mũi khoan do ruồi tsetse làm lây nhiễm.
Cũng một mẫu hình như vậy lặp đi lặp lại ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới, mỗi khi những người vốn thiếu những loài hữu nhũ bản địa thích hợp để thuần hóa rốt cuộc cũng có cơ hội tiếp thu các loài gia súc của Âu-Á. Ngựa châu Âu đã được người châu Mỹ bản địa hồ hởi đón nhận ở cả Bắc Mỹ lẫn Nam Mỹ chỉ trong vòng một thế kỷ sau khi ngựa [xổng chuồng] thoát khỏi nơi định cư của người châu Âu. Chẳng hạn, đến thế kỷ XIX những người Anh-điêng vùng Đồng bằng Lớn ở Bắc Mỹ đã lừng danh là những chiến binh cưỡi ngựa kỳ tài và những tay săn bò bison thiện nghệ, nhưng kỳ thực mãi đến cuối thế kỷ XVII họ mới tiếp thu loài ngựa. Tương tự, cừu được tiếp thu từ người Tây Ban Nha đã làm biến đổi các xã hội của người Anh-điêng Navajo và dẫn đến, bên cạnh nhiều điều khác, việc người Navajo trở nên lừng tiếng với những tấm thảm len đan đẹp đẽ. Chỉ trong vòng một thập niên sau khi người châu Âu di cư đến Tasmania mang theo chó, những người Tasmania bản địa, vốn trước đó chưa hề nhìn thấy chó, đã bắt đầu nuôi chó với số lượng lớn để dùng làm chó săn. Như vậy, trong số hàng ngàn dân tộc bản địa rất đa dạng về văn hóa của Australia, châu Mỹ và châu Phi, không hề có một thứ cấm kỵ văn hóa phổ quát nào ngăn không cho người ta tiếp thu các loài thú đã thuần hóa.
Không nghi ngờ gì nữa, nếu như một số loài hữu nhũ hoang dã của các châu lục đó có thể thuần hóa được thì một số dân tộc Australia, châu Mỹ và châu Phi hẳn đã thuần hóa chúng và gặt hái được nhiều lợi thế từ chúng cũng như họ đã hưởng lợi từ các loài gia súc Âu-Á mà ngay sau khi gặp được là họ lập tức tiếp thu. Chẳng hạn, ta hãy xét tất cả các dân tộc ở châu Phi hạ Sahara trong khu vực có ngựa vằn hoang và trâu rừng sinh sống. Tại sao ít nhất một trong các bộ lạc săn bắt hái lượm châu Phi đó đã không thuần hóa những con ngựa vằn và trâu rừng kia đặng nhờ đó thống trị được các dân tộc châu Phi khác chứ không phải đợi đến khi ngựa và gia súc móng guốc từ Âu-Á đến? Tất cả các nhân tố này cho thấy, nguyên nhân khiến các châu lục khác đã không thuần hóa được các loài thú hữu nhũ lớn bản địa như Âu-Á là vì ở các khu vực đó thiếu bản thân các loài hữu nhũ hoang dã thích hợp, chứ không phải vì [những lực cản nào đấy ở] bản thân các dân tộc bản địa.
Loại bằng chứng thứ hai để bác bỏ cùng một luận điểm này liên quan đến [tập quán] nuôi thú nhà. Nuôi những con vật hoang làm thú nhà và dạy dỗ chúng là một giai đoạn sơ khởi của việc thuần hóa thú. Song người ta ghi nhận được rằng thú nuôi đã tồn tại ở hầu hết các xã hội loài người trên mọi châu lục. Sự đa dạng của các loài vật được thuần dưỡng bằng cách này lớn hơn nhiều so với sự đa dạng của các loài rốt cuộc đã thực sự được thuần hóa, trong đó có đôi loài mà chẳng mấy khi ta có thể hình dung lại trở thành thú nuôi trong nhà được.
Chẳng hạn, ở các làng tại New Guinea nơi tôi làm việc, tôi thường gặp người ta nuôi những con như chuột túi (kanguru), thú có túi (possum) và các loài chim từ chim bắt ruồi cho tới chim ưng biển. Hầu hết những con vật đó cuối cùng đều bị họ ăn thịt, nhưng một vài con vẫn được nuôi làm thú cưng trong nhà. Thậm chí người New Guinea còn thường xuyên bắt con non của loài đà điểu đầu mèo (cassowary, một loài chim không biết bay to như đà điểu) đem về nuôi cho lớn để ăn thịt như một món cao lương mỹ vị, mặc dù những con đà điểu đầu mèo trưởng thành cực kỳ nguy hiểm, thỉnh thoảng vẫn mổ lòi ruột dân làng. Một số dân tộc châu Á nuôi chim ưng để dùng trong nghề săn bắn, mặc dù người ta vẫn biết đôi khi những con thú nhà mạnh mẽ này giết chết người điều khiển chúng. Người Ai Cập và người Assyria cổ đại cũng như người Ấn Độ ngày nay thuần dưỡng báo dùng để đi săn. Những bức tranh của người Ai Cập cổ đại vẽ cho thấy họ còn thuần hóa cả (cũng chẳng lấy gì làm lạ lắm) những loài thú hữu nhũ có móng như linh dương và linh dương sừng cong, những loài chim như sếu, nhưng đáng ngạc nhiên hơn, họ còn thuần dưỡng cả hươu cao cổ (vốn có thể nguy hiểm) và kỳ lạ nhất là cả loài linh cẩu. Voi châu Phi được thuần dưỡng từ thời La Mã cổ đại dù rõ ràng là nguy hiểm, còn voi châu Á thì vẫn được thuần dưỡng đến ngày nay. Có lẽ loài thú nuôi khó ngờ nhất là gấu nâu châu Âu (cùng loài với gấu xám châu Mỹ) mà người Ainu ở Nhật Bản thường xuyên bắt từ khi còn nhỏ, thuần dưỡng và nuôi để giết ăn thịt trong một nghi thức tế lễ.
Như vậy, nhiều loài thú hoang dã đã đạt tới giai đoạn đầu tiên trong chuỗi quan hệ giữa thú và người dẫn đến sự thuần hóa, nhưng chỉ một ít loài đi được đến cuối chuỗi quan hệ đó để trở thành thú nuôi thực sự. Hơn một thế kỷ trước, nhà khoa học người Anh Francis Galton đã tóm lược sự khác biệt này một cách súc tích như sau: “Có vẻ như mọi loài thú hoang dã đều từng có cơ hội được thuần hóa, rằng chỉ một ít… đã được thuần hóa từ lâu, nhưng phần lớn còn lại, vốn đôi khi bị khiếm khuyết chỉ ở một chi tiết nhỏ, đành cam phận là thú hoang mãi mãi.”
Niên đại thuần hóa cho ta một bằng chứng thứ ba xác nhận quan điểm của Galton rằng các dân tộc chăn nuôi đầu tiên đã nhanh chóng thuần hóa tất cả các loài hữu nhũ lớn thích hợp để thuần hóa. Tất cả các loài mà niên đại thuần hóa được xác minh bởi bằng chứng khảo cổ đều được thuần hóa trong vòng mấy ngàn năm đầu tiên của các xã hội trồng trọt-chăn nuôi định cư xuất hiện sau khi Thời kỳ Băng hà cuối cùng kết thúc. Như được tóm tắt trong Bảng 9.3, kỷ nguyên thuần hóa các loài hữu nhũ lớn khởi đầu với cừu, dê, lợn và kết thúc bằng lạc đà. Từ năm 2.500 TCN. không có thêm loài quan trọng nào được thuần hóa nữa.
Dĩ nhiên, đúng là một số loài hữu nhũ nhỏ đã được thuần hóa lần đầu tiên muộn hơn nhiều so với 2.500 năm TCN. Chẳng hạn, thỏ mãi đến thời Trung Cổ mới được thuần hóa để lấy thịt, chuột để phục vụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thì mãi đến thế kỷ XX mới được thuần hóa, còn chuột đồng thì mãi đến thập niên 1930 mới được thuần hóa làm thú cảnh. Việc người ta không ngừng phát triển công cuộc thuần hóa các loài hữu nhũ nhỏ cũng chẳng có gì lạ bởi có tới hàng ngàn loài hoang dã làm ứng viên, và bởi chúng có quá ít giá trị đối với các xã hội xưa kia nên người ta chẳng bõ công nuôi. Nhưng việc thuần hóa các loài hữu nhũ lớn hầu như đã chấm dứt từ 4.500 năm trước. Đến khi đó, ắt hẳn tất cả các loài trong số 148 loài hữu nhũ lớn có thể làm ứng viên thuần hóa đều đã được thử nghiệm không biết bao nhiêu lần, rốt cuộc chỉ một số ít loài qua được thử nghiệm, và chẳng còn sót lại loài nào có thể thuần hóa mà lại chưa được thuần hóa.
Lại còn một loại bằng chứng thứ tư chứng minh tại sao một số loài hữu nhũ thích hợp cho việc thuần hóa hơn nhiều so với các loài khác, ấy là việc nhiều khu vực khác nhau đã thuần hóa cùng một loài tại những thời điểm khác nhau và độc lập với nhau. Gần đây, bằng chứng di truyền dựa trên các phân đoạn của vật chất di truyền – được gọi là DNA ti thể – đã xác nhận rằng, đúng như người ta chờ đợi bấy lâu nay, bò có bướu ở Ấn Độ và bò không bướu châu Âu đều xuất phát từ hai quần thể riêng biệt của một loài bò tổ tiên hoang dã vốn tách khỏi nhau từ hàng ngàn năm trước. Nghĩa là, người Ấn Độ đã thuần hóa phân loài bò hoang tại Ấn Độ, người Tây Nam Á đã thuần hóa một cách độc lập các phân loài bò hoang riêng ở khu vực mình, và người Bắc Phi hẳn cũng đã thuần hóa một cách độc lập các phân loài bò hoang Bắc Phi.
Tương tự, sói cũng đã được thuần hóa một cách độc lập để thành chó ở châu Mỹ và có thể ở một số khu vực khác nhau của lục địa Âu-Á trong đó có Trung Hoa và Tây Nam Á. Lợn ngày nay có nguồn gốc từ việc thuần hóa độc lập ở Trung Hoa, miền tây Âu-Á và có thể ở cả một số khu vực khác. Các ví dụ này một lần nữa nhấn mạnh rằng, cũng một số loài ít ỏi đó, những loài thích hợp cho việc thuần hóa, đã thu hút sự chú ý của nhiều xã hội loài người khác nhau.
Bảng 9.3: Niên đại gần đúng của bằng chứng sớm nhất đã xác minh được về sự thuần hóa các loài hữu nhũ lớn

Loài

Niên đại (TCN)

Địa điểm

Chó

10.000

Tây Nam Á, Trung Hoa, Bắc Mỹ

Cừu

8.000

Tây Nam Á

8.000

Tây Nam Á

Lợn

8.000

Trung Hoa, Tây Nam Á

6.000

Tây Nam Á, Ấn Độ, (?) Bắc Phi

Ngựa

4.000

Ukraina

Lừa

4.000

Ai Cập

Trâu

4.000

Trung Hoa?

Llama/alpaca

3.500

Andes

Lạc đà Bactrian

2.500

Trung Á

Lạc đà Arập

2.500

Arập

Đối với bốn loài hữu nhũ lớn được thuần hóa khác – tuần lộc, bò yak, con minh và bò banteng – thì hãy còn ít bằng chứng về niên đại thuần hóa. Niên đại và địa điểm thuần hóa trình bày trên đây chỉ là những niên đại và địa điểm sớm nhất đã được xác minh cho đến nay; việc thuần hóa có thể đã bắt đầu sớm hơn và ở một nơi khác.
Việc những nỗ lực thuần hóa ngày nay không đưa lại kết quả cho ta thêm một loại bằng chứng cuối cùng để thấy rằng, sở dĩ ngày xưa người ta không thuần hóa được số lớn loài hoang dã còn lại là do những khiếm khuyết ở bản thân các loài đó, chứ không phải do khiếm khuyết ở những con người cổ đại. Người châu Âu ngày nay là kẻ thừa kế một trong những truyền thống thuần hóa loài vật lâu đời nhất trên Trái đất, truyền thống từng khởi đầu ở Tây Nam Á khoảng 10.000 năm trước. Từ thế kỷ mười lăm, người châu Âu đã bành trướng ra toàn thế giới và tiếp xúc với những loài hữu nhũ vốn không có ở châu Âu. Những người châu Âu di cư, như những người tôi đã gặp có nuôi chuột túi và thú có túi làm cảnh ở New Guinea, đã thuần dưỡng hay nuôi làm cảnh nhiều loài hữu nhũ bản địa như dân bản địa từng làm. Những người chăn nuôi và trồng trọt di cư từ châu Âu sang các lục địa khác cũng đã có những nỗ lực nghiêm túc hòng thuần hóa một số loài thú bản địa.
Vào thế kỷ XIX và XX, ít nhất sáu loài hữu nhũ lớn – linh dương châu Phi (eland), nai sừng tấm (elk), nai sừng tấm Bắc Mỹ (moose), hươu xạ (musk ox), ngựa vằn và bò bison châu Mỹ – đã là đối tượng cho những dự án được tổ chức đặc biệt tốt nhằm thuần hóa chúng, được thực hiện bởi các chuyên gia nhân giống động vật theo phương pháp khoa học hiện đại và các nhà di truyền học. Chẳng hạn, eland, loài lớn nhất trong số các loài linh dương châu Phi, đã được lựa chọn về chất lượng thịt và số lượng sữa tại Vườn thú Askaniya-Nova ở Ukraina cũng như tại Anh, Kenya, Zimbabuê và Nam Phi; một nông trường thử nghiệm dành cho nai sừng tấm được điều hành bởi Viện Nghiên cứu Rowett ở Aberdeen, Scotland; và một nông trường thử nghiệm dành cho nai sừng tấm Bắc Mỹ đã hoạt động tại Công viên Quốc gia Pechero-Ilych ở Nga. Song, những nỗ lực đó đến nay chỉ đạt được thành tựu rất hạn chế. Tuy thịt bò bison đôi khi cũng xuất hiện trong một số siêu thị ở Mỹ, và tuy nai sừng tấm Bắc Mỹ đã được dùng để cưỡi, lấy sữa và kéo xe trượt tuyết ở Thụy Điển và Nga, nhưng không một thử nghiệm nào như vậy mang lại được thành quả đủ giá trị kinh tế đặng thu hút nhiều nhà chăn nuôi. Đặc biệt đáng quan tâm là trường hợp loài linh dương châu Phi eland, ngay cả khi được thuần hóa thử nghiệm ở chính châu Phi, nơi mà kháng thể chống bệnh và khả năng chịu đựng khí hậu lẽ ra có thể giúp việc thuần hóa thuận lợi hơn nhiều so với các loài thú hoang dã Âu-Á vốn dễ dàng mắc các căn bệnh châu Phi, thì kết quả vẫn không như ý muốn.
Như vậy, cả những người chăn nuôi bản địa vốn đã có cơ hội thử nghiệm các loài ứng viên trong suốt hàng ngàn năm lẫn các nhà di truyền học hiện đại đều chẳng thành công trong việc thuần hóa thêm những loài hữu nhũ lớn khác ngoài Mười Bốn Loài Tiên Tổ vốn đã được thuần hóa cách đây ít nhất 4.500 năm. Song, các nhà khoa học ngày nay, nếu muốn, hoàn toàn có thể thực hiện một phần của định nghĩa về thuần hóa đối với nhiều loài, ấy là kiểm soát việc sinh sản của chúng và cung cấp thức ăn cho chúng. Chẳng hạn, các vườn thú ở San Diego và Los Angeles hiện nay đang tiến hành kiểm soát việc sinh sản của những con kền kền khoang cổ cuối cùng còn sống sót ở California một cách gắt gao hơn bất cứ loài thuần hóa nào khác. Mỗi cá thể kền kền khoang cổ đều được nhận diện bằng di truyền, một chương trình máy tính xác định con trống nào sẽ giao phối với con mái nào nhằm đạt được mục đích của loài người (trong trường hợp này là để nâng cao tối đa tính đa dạng sinh học qua đó bảo vệ loài chim đang có nguy cơ tuyệt chủng này). Các vườn thú đang tiến hành những chương trình sinh sản tương tự cho nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng khác như khỉ gorilla và tê giác. Nhưng sự chọn lọc sinh sản ngặt nghèo đối với kền kền khoang cổ California không cho thấy chút triển vọng nào sẽ cho ra một sản phẩm có lợi về kinh tế. Những nỗ lực của vườn thú đối với tê giác cũng vậy, mặc dù tê giác sống có thể cho tới hơn ba tấn thịt. Như ta sẽ thấy sau đây, để được thuần hóa, tê giác (và hầu hết các loài hữu nhũ lớn khác) có những trở ngại không thể vượt qua.
Trong toàn bộ 148 loài hữu nhũ hoang dã lớn, ăn cỏ và sống trên đất liền của cả thế giới – những ứng viên để thuần hóa – chỉ 14 loài qua được cuộc sát hạch. Tại sao 134 loài còn lại không vượt qua được? Khi Francis Galton nói về những loài khác “đành cam phận mãi mãi là loài hoang dã”, ấy là ông nói về những hoàn cảnh nào vậy?
Câu trả lời suy ra từ nguyên lý Anna Karenina. Để được thuần hóa, một loài hoang dã ứng viên phải sở hữu nhiều đặc tính khác nhau. Chỉ cần thiếu bất kỳ một trong các đặc tính cần thiết này là nó sẽ khó lòng thuần hóa được, cũng như chỉ cần thiếu một thành tố là khó lòng xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Thử đóng vai mai mối cho cặp ngựa vằn/người và những đôi đũa lệch khác, chúng ta có thể xác định ít nhất sáu nhóm nguyên nhân khiến việc thuần hóa loài nào đó bị thất bại.
Thực đơn ăn uống. Mỗi khi một con vật ăn một loài cây hay một loài vật khác, sự chuyển đổi sinh khối thức ăn thành sinh khối của kẻ tiêu thụ thức ăn có tỷ lệ hữu hiệu thấp hơn 100% rất nhiều, thường chỉ khoảng 10%. Nghĩa là, phải mất 10.000 kg ngô mới cho ra 1.000 kg bò. Nếu muốn có 1.000 kg thú ăn thịt, ta phải nuôi nó bằng 10.000 kg thú ăn cỏ, thú ăn cỏ đến lượt mình lại phải nuôi bằng 100.000 kg ngô. Ngay cả trong số các loài ăn cỏ và ăn tạp, có nhiều loài, chẳng hạn gấu koala, quá khảnh ăn đến nỗi khó lòng trở thành thú nuôi trong nông trại được.
Chính vì sự không hiệu quả có tính cơ bản này mà chưa hề có loài hữu nhũ ăn thịt nào được thuần hóa làm thức ăn. (Không, chẳng phải vì thịt chúng dai hoặc không ngon: các loài cá hoang dã chuyên ăn thịt, chúng ta vẫn ăn suốt đấy thôi, và cá nhân tôi có thể làm chứng cho hương vị thơm ngon của bánh xăng-uých nhân thịt sư tử). Loài gần như ngoại lệ là chó, vốn ban đầu được thuần hóa để giữ nhà và giúp người đi săn, nhưng có những nòi chó được phát triển và nuôi làm thức ăn ở vương quốc Aztec, Polynesia và Trung Hoa cổ đại. Tuy nhiên, việc thường xuyên ăn thịt chó đã từng là giải pháp cuối cùng của những xã hội loài người bị khan hiếm thịt: những người Aztec không có loài hữu nhũ thuần hóa nào khác, người Polynesia và người Trung Hoa cổ thì chỉ có lợn và chó. Những xã hội loài người nào được may mắn có nhiều loài hữu nhũ ăn cỏ thuần hóa thì chẳng thèm ăn thịt chó ngoại trừ như một món cao lương mỹ vị đặc biệt (như ở một số vùng tại Đông Nam Á ngày nay). Ngoài ra, chó không hẳn là loài ăn thịt mà là ăn tạp: nếu bạn ngây thơ đến mức cho rằng con chó cưng của bạn quả thật là loài ăn thịt thì chỉ cần đọc kỹ danh sách thành phần cấu tạo trên những túi thức ăn cho chó. Những con chó mà người Aztec và người Polynesia từng nuôi làm thức ăn đã được vỗ béo ngon lành chỉ bằng rau và rác thải.
Tốc độ tăng trưởng. Để đáng được loài người nuôi, các loài thuần hóa còn phải tăng trưởng nhanh. Điều đó loại trừ khỉ gorilla và voi mặc dù chúng là những loài ăn cỏ vốn dễ tính trong chuyện ăn uống và lại có rất nhiều thịt. Có nhà nông nào đợi nổi 15 năm cho lũ gorilla và voi mình nuôi lớn lên đến tuổi trưởng thành? Muốn nuôi voi để chúng làm việc cho mình, những người châu Á ngày nay cứ việc bắt voi hoang dã mà thuần dưỡng, như thế rẻ hơn nhiều.
Những khó khăn khi sinh sản trong điều kiện bị giam nhốt. Loài người chúng ta không thích làm tình dưới con mắt soi mói của kẻ khác; một số loài vật hứa hẹn nhiều giá trị cũng thế. Chính vì vậy mà con người thất bại khi muốn thuần hóa báo gấm, loài chạy nhanh nhất trong tất cả các loài trên mặt đất, mặc dù chúng ta có động cơ mạnh mẽ để làm như vậy trong hàng mấy ngàn năm.
Như tôi đã nhắc, báo gấm thuần dưỡng được người Ai Cập và người Assyria cổ đại cũng như người Ấn Độ hiện đại coi là của quý, một loài đi săn ưu việt hơn chó gấp bội lần. Một hoàng đế triều đại Mogul của Ấn Độ có một cái chuồng nuôi những một ngàn con báo gấm. Nhưng mặc dù nhiều ông hoàng giàu có đã đầu tư hàng bao nhiêu tiền của, tất cả báo gấm của họ đều là những con bị bắt ngoài hoang dã mang về thuần dưỡng. Nỗ lực của các ông hoàng nhằm làm báo gấm sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt đều thất bại, ngay cả các nhà sinh vật học ở các vườn thú hiện đại cũng mãi đến năm 1960 mới có được ca báo gấm sinh con thành công đầu tiên. Ngoài hoang dã, mấy anh em báo gấm cùng săn đuổi một nàng báo gấm cái suốt mấy ngày, hình như cần phải có cuộc tán tỉnh dữ dội trên khắp không gian rộng lớn này thì con cái mới có thể rụng trứng hoặc sẵn sàng giao phối được. Báo gấm thường từ chối tiến hành cái nghi thức tán tỉnh nhiêu khê đó nếu ở trong chuồng.
Một khó khăn tương tự cũng khiến những dự án phối giống loài vicuña rơi vào thất bại. Vicuña là một loài lạc đà hoang ở vùng Andes Nam Mỹ, len của chúng rất quý, được coi là loại len đẹp nhất, nhẹ nhất so với len của mọi loài vật. Những người Inca cổ đại lấy len vicuña bằng cách dụ những con vicuña hoang vào bãi quây sẵn, xén lông chúng rồi thả cho chúng đi. Ngày nay những thương gia nào muốn có thứ len xa xỉ này thì hoặc phải làm theo cùng một phương pháp đó hoặc chỉ còn cách giết vicuña hoang dã. Mặc dù nếu nuôi được loài này thì sẽ có khối tiền lại được cả uy tín, nhưng mọi nỗ lực hòng nuôi vicuña trong chuồng để sản xuất len đều thất bại, vì nhiều lý do: trước khi giao phối, vicuña phải tiến hành một nghi thức tán tỉnh kéo dài rất ư rắc rối, điều này không thể thực hiện trong điều kiện nuôi nhốt; những con vicuña đực không thể nào chịu nổi nhau; và loài vicuña đòi hỏi vừa phải có lãnh thổ riêng cho chúng ăn cỏ quanh năm lại vừa phải có một lãnh thổ riêng khác quanh năm cho chúng ngủ.
Tính khí dữ tợn. Lẽ tự nhiên, hầu như bất cứ loài hữu nhũ nào đủ lớn đều có khả năng giết chết người. Đã nhiều người bị giết bởi lợn, ngựa, lạc đà và bò. Dẫu vậy, một số loài thú lớn có tính khí dữ tợn hơn và nguy hiểm hơn – đến độ hết thuốc chữa – so với các loài khác. Xu hướng thích giết người đã loại bỏ nhiều loài lẽ ra đã có thể là ứng viên lý tưởng cho việc thuần hóa.

Một ví dụ hiển nhiên là gấu xám Bắc Mỹ (grizzly). Thịt gấu là một món cao lương mỹ vị đắt tiền, gấu xám có thể nặng tới 765 kg, chúng chủ yếu ăn cỏ (mặc dù chúng cũng là những tay săn đáng sợ), thực đơn rau cỏ của chúng rất phong phú, chúng chỉ cần ăn rác thải của người là lớn khỏe như vâm (vì vậy mà gây bao rắc rối tại các công viên quốc gia Yellowstone và Glacier) và sinh trưởng khá nhanh. Giá như gấu xám biết cư xử cho đúng mực khi bị nuôi nhốt thì hẳn chúng đã trở thành một loài thú cho thịt tuyệt vời. Dân Ainu ở Nhật từng thử nghiệm nuôi gấu xám con như một phần của một nghi lễ. Tuy nhiên, vì những lý do dễ hiểu, người Ainu cho rằng giết và ăn thịt gấu xám con khi chúng lên một tuổi là việc khôn ngoan. Nuôi gấu xám đến quá tuổi đó có thể sẽ vô cùng nguy hiểm; tôi chưa hề biết có trường hợp nào gấu xám trưởng thành mà lại được thuần dưỡng không.
Một loài thú khác lẽ ra có thể thích hợp để thuần hóa nhưng cũng bị loại vì những lý do hiển nhiên không kém là trâu rừng châu Phi. Nó lớn tương đối nhanh, trọng lượng có thể tới một tấn và sống trong những đàn có cơ cấu theo tôn ti trật tự rất phát triển, một đặc tính với những ưu điểm mà ta sẽ đề cập tới dưới đây. Nhưng trâu rừng châu Phi được coi là loài hữu nhũ nguy hiểm nhất và khó lường nhất ở châu Phi. Bất cứ ai đủ điên rồ để thử thuần hóa nó đều hoặc sẽ mất mạng trong khi làm vậy hoặc sẽ buộc phải giết con vật trước khi nó trở nên quá lớn và quá dữ. Tương tự, hà mã, một loài ăn cỏ nặng tới bốn tấn, lẽ ra có thể là những gia súc nuôi lý tưởng nếu như chúng không nguy hiểm đến vậy. Mỗi năm chúng giết một số người tương đương với bất cứ loài hữu nhũ châu Phi nào kể cả sư tử.
Chẳng mấy ai ngạc nhiên khi những loài ứng viên khét tiếng dữ dằn đó bị loại bỏ trong quá trình thuần hóa. Song còn những ứng viên khác mà sự nguy hiểm của chúng thì ít ai biết. Chẳng hạn, tám loài ngựa hoang (ngựa và các loài tương cận) khác nhau rất nhiều về tính khí, dẫu cho về di truyền tám loài này giống nhau đến nỗi có thể giao phối với nhau để sinh ra những hậu duệ hoàn toàn khỏe mạnh (tuy thường vô sinh). Hai loài trong số đó, ngựa và lừa Bắc Phi (tổ tiên của lừa ngày nay) đã được thuần hóa tương đối thành công. Có liên hệ gần gũi với lừa Bắc Phi là lừa hoang châu Á còn được gọi là onager. Do quê hương của loài này ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, cái nôi của nền văn minh phương Tây và sự thuần hóa loài vật, nên các dân tộc cổ đại ắt hẳn đã thử nghiệm rất nhiều với lừa hoang châu Á. Từ các văn bản Sumer và muộn hơn, ta biết rằng thời đó người ta thường xuyên săn onager, bắt chúng về cho giao phối với lừa và ngựa. Một số văn bản cổ mô tả những con vật giống như ngựa được dùng để cưỡi hoặc kéo xe, đó rất có thể là lừa hoang châu Á. Tuy nhiên, tất cả các tác giả từng viết về nó từ thời La Mã cho đến tận những người trông vườn thú ngày nay thảy đều kêu trời về tính khí nóng nảy và thói quen khó chịu của chúng là hay cắn người. Hệ quả là, mặc dù về nhiều phương diện khác chúng giống như lừa cổ đại, song lừa hoang châu Á chưa bao giờ được thuần hóa cả.
Bốn loài ngựa vằn châu Phi còn tệ hơn thế. Người ta từng thử thuần hóa chúng, thậm chí từng đi xa đến mức buộc chúng vào xe: người ta từng thử cho chúng kéo xe ở Nam Phi vào thế kỷ XIX, và nhà tỷ phú lập dị Lord Walter Rothschild từng diễu qua phố phường London trong một cỗ xe do ngựa vằn kéo. Than ôi, càng lớn ngựa vằn càng trở nên nguy hiểm không chịu nổi. (Nói thế không có nghĩa là loài ngựa chẳng có con nào tính khí dữ dằn, nhưng với ngựa vằn và lừa hoang châu Á thì hầu như con nào cũng dữ như nhau). Ngựa vằn có cái thói quen khó chịu là hay cắn người rồi cứ thế không chịu buông. Vì vậy hằng năm chúng làm bị thương những người trông vườn thú ở Mỹ nhiều hơn cả cọp! Ngựa vằn cũng hầu như không thể tóm được bằng thòng lọng – ngay cả những tay cao bồi đoạt giải quán quân về bắt ngựa bằng thòng lọng cũng phải chịu thua – bởi chúng có khả năng phán đoán vị trí thòng lọng quăng vào chúng không sai chạy mảy may để kịp né đầu tránh.
Vì vậy rất hiếm khi (thậm chí chưa bao giờ) người ta thắng yên hoặc cưỡi lên được ngựa vằn, nên nhiệt tình của người Nam Phi muốn thuần hóa chúng cứ nguội dần. Hành vi hung hãn khó lường của một loài hữu nhũ lớn có khả năng gây nguy hiểm cũng là một phần nguyên nhân tại sao những thử nghiệm ban đầu tỏ ra rất hứa hẹn trong việc thuần hóa linh dương châu Phi (eland) và nai sừng tấm (elk) rốt cuộc lại chẳng lấy gì làm thành công.
Xu hướng hay hoảng loạn. Các loài hữu nhũ ăn cỏ lớn thường phản ứng lại nguy cơ từ các loài thú săn hoặc con người theo những cách khác nhau. Một số loài hay hoảng sợ hơn, nhanh nhẹn, được lập trình để hễ nhận ra một mối nguy là biến ngay lập tức. Những loài khác chậm chạp hơn, ít khi hoảng sợ hơn, tìm sự bảo vệ ở bầy đàn, cùng đứng lên khi bị đe dọa, và chỉ khi nào cần thiết mới bỏ chạy. Hầu hết các loài hươu và linh dương (trừ ngoại lệ nhãn tiền là loài tuần lộc) thuộc loại trước, còn cừu và dê thuộc loại sau.
Lẽ tự nhiên, những loài hay hoảng sợ hơn thì khó nuôi nhốt hơn. Nếu bị nhốt vào một khu đất quây kín, chúng sẽ dễ bị hoảng loạn và hoặc sẽ chết vì bị sốc hoặc sẽ húc mình vào hàng rào hòng thoát thân kỳ đến khi chết. Điều đó đúng với loài linh dương chẳng hạn, vốn là loài từng được người ta săn bắn nhiều nhất trong suốt hàng ngàn năm ở một số vùng thuộc Lưỡi liềm Phì nhiêu. Chẳng có loài hữu nhũ nào mà các dân tộc đầu tiên định cư ở khu vực đó có nhiều cơ hội thuần hóa hơn linh dương. Song chưa một loài linh dương nào từng được thuần hóa cả. Hãy thử hình dung bạn đang cố nuôi nhốt một con vật cứ không ngừng chạy tới chạy lui, mù quáng quật mình túi bụi vào thành chuồng, có thể nhảy cao gần 9 m và chạy với tốc độ 50 dặm một giờ!
Cơ cấu xã hội. Hầu như tất cả các loài hữu nhũ lớn đã thuần hóa đều là những loài mà tổ tiên hoang dã có chung ba đặc tính xã hội sau: sống thành bầy; duy trì một hệ thống cai trị theo tôn ti trật tự rất phát triển giữa các thành viên trong bầy; và các bầy thường chiếm lĩnh những lãnh thổ đan cài vào nhau chứ không phải những lãnh thổ phân ranh với nhau một cách rạch ròi. Chẳng hạn, các bầy ngựa hoang bao gồm một con đực, tối đa sáu con cái và bầy con. Con cái A có vai vế cao hơn các con cái B, C, D và E; con cái B có vai vế dưới con A nhưng cao hơn con C, D và E; C có vai vế dưới con B và A nhưng cao hơn con D và E; vân vân. Khi bầy di chuyển, các thành viên của chúng duy trì một thứ tự bất di bất dịch: đi sau cùng là con đực; đi đầu là con cái có vai vế cao nhất, theo sau nó là đàn con của nó theo thứ tự tuổi, con nhỏ nhất đi đầu; theo sau con này là các con cái khác theo thứ tự vai vế, theo sau mỗi con là đàn con của nó theo thứ tự tuổi. Bằng cách đó, nhiều con trưởng thành có thể cùng tồn tại trong một bầy mà không thường xuyên đánh nhau, mỗi con đều biết vị trí của mình.
Cấu trúc xã hội đó là lý tưởng cho việc thuần hóa, bởi trên thực tế con người đã chiếm lĩnh cái hệ thống thứ bậc kia. Khi đi theo đàn, ngựa nhà theo sau kẻ dẫn đầu là con người cũng như chúng thường theo sau con cái có thứ bậc cao nhất. Các bầy cừu, dê, bò và chó cổ đại (sói) cũng có hệ thứ bậc tương tự. Khi những con thú nhỏ lớn lên trong một bầy như vậy, chúng ghi nhớ vào óc những con vật mà chúng thường thấy bên cạnh mình. Trong điều kiện hoang dã thì đó là các thành viên cùng loài với chúng, song những con thú nhỏ trong các bầy gia súc thì cũng nhìn thấy con người bên cạnh mình nên cũng ghi nhớ cả con người vào óc.
Những con vật sống theo bầy đó thích hợp với việc chăn nuôi. Bởi chúng có thể chịu đựng lẫn nhau nên ta có thể nuôi chúng thành bầy. Bởi theo bản năng chúng thường tuân theo một kẻ dẫn đầu và sẽ ghi nhớ vào đầu rằng con người là kẻ dẫn đầu đó, nên chúng có thể dễ dàng được điều khiển bởi người chăn cừu hoặc chó chăn cừu. Các loài sống thành bầy có thể sống được khi bị quây kín và chen chúc vào một chỗ bởi chúng đã quen sống thành quần thể đông đúc khi ở ngoài hoang dã.
Ngược lại, thành viên của hầu hết các loài quen sống trên lãnh thổ riêng biệt thì không thể nuôi thành bầy. Chúng không chịu đựng nổi nhau, chúng không ghi nhớ con người, chúng không có bản năng phục tùng. Có ai từng thấy mèo (vốn chỉ sống cô độc, mỗi con một cõi riêng khi ở ngoài hoang dã) nối đuôi thành hàng theo sau một con người và cho phép con người nuôi chúng thành bầy chưa? Bất cứ ai yêu mèo đều biết mèo không phục tùng con người như loài chó vốn tự bản năng là phục tùng con người. Mèo và chồn sương là những loài hữu nhũ sống riêng lẻ duy nhất mà con người từng thuần hóa, bởi chúng ta làm vậy không phải để nuôi chúng thành đàn lớn đặng lấy thịt mà để làm thú săn hoặc thú nuôi đơn độc trong nhà.
Tuy hầu hết các loài sống riêng lẻ không hề được thuần hóa, song không phải ngược lại là hầu hết các loài sống theo bầy đều có thể thuần hóa được. Hầu hết là không thể, vì một trong mấy nguyên nhân nữa sau đây:
Thứ nhất, ở nhiều loài, các bầy chiếm lĩnh những lãnh thổ có phân ranh giới rạch ròi chứ không chồng lấn vào nhau. Nếu với những loài sống đơn độc ta không thể nhốt chung hai con đực như thế nào thì với những loài này cũng không thể nhốt chung hai bầy vào một chỗ như thế ấy.
Thứ hai, nhiều loài sống theo bầy trong một phần của năm lại chuyển sang sống cô độc khi đến mùa sinh sản, khi đó chúng đánh nhau và không chịu nổi sự có mặt của nhau. Điều này đúng đối với hầu hết các loài hươu và linh dương (một lần nữa tuần lộc lại là ngoại lệ), và đó là một trong những nhân tố chính khiến tất cả các loài linh dương sống theo bầy vốn làm châu Phi thành nổi tiếng đã bị loại khỏi danh mục thuần hóa. Tuy câu đầu lưỡi khi người ta nói đến linh dương châu Phi là “những bầy đàn mênh mông dày đặc trải dài đến tận chân trời” song trên thực tế các con đực trong những bầy này mỗi con chiếm một lãnh thổ riêng và đánh nhau dữ dội khi đến mùa sinh sản. Vì vậy những loài linh dương này không thể được nuôi nhốt trong những bãi quây kín như cừu, dê hay bò. Tập tính sống theo lãnh thổ riêng kết hợp với tính khí hung dữ và tốc độ tăng trưởng chậm đã khiến tê giác không thể nhập bọn vào các loài gia súc.
Cuối cùng, nhiều loài sống theo bầy, một lần nữa lại bao gồm hầu hết các loài hươu và linh dương, không có hệ thống tôn ti trật tự rõ ràng và không có sẵn bản năng sẵn sàng ghi nhớ vào óc một kẻ lãnh đạo có vai trò thống trị (và qua đó ghi nhớ con người như là kẻ lãnh đạo thống trị chúng). Hệ quả là, mặc dù nhiều loài hươu và linh dương đã được thuần dưỡng (ta cứ hãy nhớ lại những câu chuyện Bambi có thật), song người ta chưa bao giờ thấy những con hươu và linh dương đó được chăn thành đàn như cừu. Cái khó đó cũng làm thất bại nỗ lực thuần hóa loài cừu hai sừng ở Bắc Mỹ, vốn thuộc cùng nòi với cừu mouflon châu Á, tổ tiên của cừu nhà ngày nay. Cừu hai sừng thích hợp với chúng ta và tương tự cừu mouflon ở hầu hết phương diện ngoại trừ một phương diện cốt yếu: chúng không có cái tập tính hành động rập khuôn của cừu mouflon – một số cá thể sẽ phục tùng những cá thể nào mà chúng thừa nhận là có vị thế lãnh đạo chúng.
Giờ ta hãy quay lại vấn đề tôi đã đặt ra ở đầu chương này. Khởi thủy, một trong những khía cạnh khó hiểu nhất ở việc thuần hóa loài vật là chẳng hiểu vì lý do gì một số loài có thể thuần hóa được trong khi những loài có họ hàng gần gũi chúng thì không. Hóa ra ngoại trừ một số ít loài, còn lại hầu hết các ứng viên cho việc thuần hóa đều đã bị loại trừ theo nguyên lý Anna Karenina. Con người và hầu hết các loài vật làm thành những “cặp hôn nhân không hạnh phúc”, có thể vì một hay nhiều nguyên nhân: thực đơn ăn uống, tốc độ tăng trưởng, tập tính giao phối, tính khí, xu hướng hay hoảng sợ và một số đặc điểm trong tổ chức xã hội của con vật. Chỉ một tỷ lệ phần trăm nhỏ các loài hữu nhũ lớn hoang dã là có thể “kết đôi hạnh phúc” với con người nhờ tương thích với tất cả các khía cạnh riêng rẽ đó.
Các dân tộc Âu-Á đã ngẫu nhiên thừa hưởng được số loài hữu nhũ ăn cỏ lớn có thể thuần hóa nhiều hơn gấp bội so với các dân tộc trên những châu lục khác. Hệ quả đó, cùng tất cả những lợi thế lớn lao cho các xã hội Âu-Á, bắt nguồn từ ba nhân tố cơ bản là địa lý, lịch sử và đặc tính sinh học của các loài hữu nhũ. Trước hết, Âu-Á nhờ diện tích rộng và đa dạng về sinh thái nên có nhiều ứng viên hơn cả. Thứ hai, Australia và châu Mỹ, chứ không phải Âu-Á hay châu Phi, đã mất hầu hết các ứng viên trong làn sóng những cuộc tuyệt chủng đại quy mô vào cuối kỷ Pleitôxen – có thể vì các loài hữu nhũ của Australia và châu Mỹ, thật chẳng may, là những loài đầu tiên gặp phải con người một cách bất ngờ vào một giai đoạn muộn trong lịch sử tiến hóa của loài người, khi kỹ năng săn bắn của chúng ta đã phát triển cao độ. Cuối cùng, ở Âu-Á, tỷ lệ các loài ứng viên còn sống sót tỏ ra thích hợp để thuần hóa là cao hơn so với ở các lục địa khác. Một cuộc khảo sát các loài ứng viên chưa bao giờ được thuần hóa, tỉ như các loài hữu nhũ lớn sống theo bầy ở châu Phi, cho thấy có nhiều lý do cụ thể khiến từng loài một bị loại trừ. Như vậy, Tolstoy hẳn sẽ chấp thuận cái ý tứ sâu xa được đưa ra trong một văn cảnh khác bởi một tác giả xưa hơn ông là Thánh Matthew: “Nhiều người được gọi nhưng chỉ ít người được chọn”.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thục
Chương 10 - Trời rộng và trục nghiêng

Trên bản đồ thế giới (Hình 10.1), hãy so sánh hình dạng và hướng của các lục địa. Bạn sẽ thấy ngay sự khác biệt rành rành. Châu Mỹ trải dài trên khoảng cách theo hướng Bắc-Nam lớn hơn nhiều (9.000 dặm, hay 14.400 km) so với hướng Đông-Tây: chỗ rộng nhất cũng chỉ 3.000 dặm (4.800 km), còn chỗ hẹp nhất vỏn vẹn 40 dặm (64 km) ở Isthmus của Panama. Nghĩa là, trục cơ bản của châu Mỹ là Nam-Bắc. Điều đó cũng đúng với châu Phi, tuy ở mức độ thấp hơn. Ngược lại, trục cơ bản của Âu-Á là Đông-Tây. Những sự khác biệt về hướng trục đó của các lục địa liệu có tác động gì không đến lịch sử loài người? Nếu có, những tác động đó là gì?
Chương này sẽ đề cập đến cái mà tôi cho là những hệ quả lớn lao, đôi khi là bi thảm của những sự khác biệt đó. Hướng trục ảnh hưởng đến tốc độ bành trướng của các loài cây trồng và vật nuôi, và có thể cả chữ viết, bánh xe và các phát minh khác. Vì vậy, đặc tính cơ bản đó của địa lý đã góp phần quan trọng vào những diễn biến rất khác nhau mà người châu Mỹ bản địa, người châu Phi và người Âu-Á trải qua trong 500 năm trở lại đây.
Sự bành trướng của sản xuất lương thực là yếu tố quan trọng – không hề kém quan trọng so với nguồn gốc của nó mà ta đã xét trong những chương trước – trong việc giúp ta thấu hiểu những khác biệt về địa lý trong sự phát sinh súng, vi trùng và thép. Đó là bởi, như ta đã thấy ở Chương 5, có không quá chín khu vực trên trái đất – có khi chỉ có năm khu vực – là nơi sản xuất lương thực đã phát sinh độc lập. Thế nhưng, ngay từ thời tiền sử, sản xuất lương thực đã hình thành ở nhiều khu vực khác ngoài số ít vùng phát nguyên đó. Tất cả các khu vực khác kia đã chuyển sang sản xuất lương thực do hệ quả sự bành trướng cây trồng-vật nuôi cùng với tri thức về cách nuôi trồng chúng và, trong một số trường hợp, do hệ quả sự di cư của bản thân những người trồng trọt và chăn nuôi.
Hình 10.1: Trục chính của các lục địa
Những sự bành trướng chủ chốt của sản xuất lương thực là từ Tây Nam Á sang châu Âu, Ai Cập và Bắc Phi, Ethiopia, Trung Á và thung lũng Ấn hà; từ vùng Sahel và Tây Phi sang Đông Phi và Nam Phi; từ Trung Hoa đến Đông Nam Á nhiệt đới, quần đảo Philippines, Indonesia, Triều Tiên và Nhật Bản; và từ Trung Mỹ đến Bắc Mỹ. Ngoài ra, ở ngay các khu vực phát nguyên, sản xuất lương thực cũng được làm phong phú thêm nhờ những cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật du nhập được từ những khu vực phát nguyên khác.
Cũng như một số khu vực tỏ ra thích hợp cho sản xuất lương thực hơn nhiều so với những khu vực khác, việc sản xuất lương thực có thể bành trướng dễ dàng hay không cũng rất khác nhau tùy từng khu vực. Một số khu vực mà về sinh thái rất thích hợp cho sản xuất lương thực lại chẳng bao giờ đạt tới sản xuất lương thực vào thời tiền sử mặc dù có những khu vực sản xuất lương thực tiền sử nằm ngay bên cạnh. Ví dụ rành rành nhất cho việc này là trường hợp cả trồng trọt lẫn chăn nuôi đều không thể từ vùng Tây Nam Hoa Kỳ thâm nhập được tới California của người châu Mỹ bản địa, hoặc từ New Guinea và Indonesia không thâm nhập được tới Australia, hoặc trồng trọt từ tỉnh Natal của Nam Phi đã không thâm nhập được tới vùng Cape của Nam Phi. Ngay cả giữa các khu vực nơi sản xuất lương thực đã bành trướng vào thời tiền sử, tốc độ và niên đại bành trướng cũng khác nhau đáng kể. Ở một thái cực là sự bành trướng nhanh chóng theo trục Đông-Tây: từ Tây Nam Á về cả hướng tây đến châu Âu và Ai Cập lẫn hướng đông đến thung lũng Ấn hà (với tốc độ trung bình khoảng 1,1 km mỗi năm); và từ Philippines về phía đông đến Polynesia (tốc độ 5,12 km một năm). Ở cực đối lập là sự bành trướng chậm chạp theo các trục Bắc-Nam: chưa tới 0,8 km một năm từ Mexico về phía bắc đến vùng Tây Nam Hoa Kỳ; dưới 0,48 km một năm để ngô và đậu bành trướng từ Mexico lên phía bắc để trở thành loài cây năng sản tại miền đông Hoa Kỳ vào khoảng năm 900; và 0,32 km một năm để lạc đà châu Mỹ bành trướng từ Peru lên hướng bắc tới Ecuador. Những khác biệt đó có thể còn lớn hơn nữa nếu ngô không được thuần hóa ở Mexico khá muộn – khoảng 3.500 năm TCN như tôi đã dè dặt cho là vậy đối với những tính toán này và như một số nhà khảo cổ hiện vẫn cho là vậy – mà được thuần hóa sớm hơn nhiều như hầu hết các nhà khảo cổ từng nghĩ (và hiện nay nhiều người vẫn nghĩ).
Cũng có những khác biệt lớn trong việc những cây trồng và vật nuôi [từ một khu vực phát nguyên] có bành trướng [sang một khu vực khác] một cách “trọn gói” hay không, qua đó ta có thể thấy những rào cản đối với việc bành trướng này là mạnh hay yếu. Chẳng hạn, trong khi hầu hết các cây trồng và vật nuôi sáng lập của Tây Nam Á có thể bành trướng về phía tây đến châu Âu và về phía đông đến thung lũng Ấn hà, thì không một loài gia súc hữu nhũ nào của vùng Andes (lạc đà châu Mỹ – llama và alpaca – và chuột ghinê) thâm nhập được đến Trung Mỹ vào thời tiền Colombo. Cớ sao lại không thâm nhập được? Cần phải có lời giải thích. Nói gì thì nói, Trung Mỹ đã phát triển được những quần thể dân cư làm nông và những xã hội phức tạp, nên chẳng thể nghi ngờ gì rằng các gia súc vùng Andes (giá như có) hẳn sẽ rất có giá trị vì chúng cung cấp thức ăn, sức vận chuyển và len. Ngoại trừ chó, Trung Mỹ rõ ràng thiếu những loài hữu nhũ bản địa khả dĩ đáp ứng các nhu cầu đó. Tuy nhiên một số cây trồng Nam Mỹ cũng đã thâm nhập được vùng Trung Mỹ như sắn, khoai tây và lạc. Những rào cản chọn lọc nào đã cho phép những cây trồng đó qua nhưng lại ngăn không cho lạc đà và chuột ghinê qua?
Có một cách diễn đạt tinh tế hơn về sự bành trướng dễ hay không tùy theo địa lý này, ấy là hiện tượng được gọi là “thuần hóa sẵn trước” (preemptive domestication). Hầu hết các loài cây dại, thủy tổ của cây trồng ngày nay đều thay đổi rất nhiều về di truyền từ khu vực này sang khu vực khác, bởi những đột biến khác nhau đã diễn ra trong các quần thể hoang dã tổ tiên ở từng khu vực khác nhau. Tương tự, về nguyên tắc, những thay đổi cần thiết để cây dại chuyển hóa thành cây trồng có thể thực hiện bằng những đột biến mới khác hay những quy trình chọn lọc khác để cho kết quả tương đương. Dưới ánh sáng này, ta có thể khảo sát một loài cây trồng phổ biến từ thời tiền sử để xem liệu có phải mọi giống của nó đều cho thấy cùng một thể đột biến hoang dã hay cùng một đột biến chuyển hóa (transforming mutation) hay không. Mục đích khảo sát là để hình dung liệu cây trồng đó đã được phát triển chỉ tại một khu vực hay được phát triển độc lập ở nhiều khu vực.
Nếu ta tiến hành phân tích di truyền như vậy đối với nhiều loài cây trồng cổ đại của Tân Thế giới, nhiều loài trong số đó sẽ cho thấy có hai thể đột biến hoang dã hoặc nhiều hơn, hay hai đột biến chuyển hóa hoặc nhiều hơn. Điều đó gợi ý rằng loài cây trồng đó đã được thuần hóa độc lập tại ít nhất hai khu vực khác nhau, và một số giống của cùng loài cây trồng đó thừa hưởng thể đột biến của một khu vực trong khi những giống khác cũng của cây trồng đó thừa hưởng thể đột biến của một khu vực khác. Trên cơ sở này, các nhà thực vật học kết luận rằng đậu lima (Phaseolus lunatus), đậu thường (Phaseolus vulgaris) và ớt thuộc nhóm Capsicum annuum/chinense đều đã được thuần hóa ít nhất hai lần riêng biệt, một lần ở Trung Mỹ, một lần ở Nam Mỹ; và cây bí (Cucurbita pepo) và cây goosefoot cho hạt cũng đã được thuần hóa độc lập ít nhất hai lần, một lần ở Trung Mỹ, một lần ở miền đông Hoa Kỳ. Ngược lại, hầu hết cây trồng cổ đại Trung Mỹ chỉ gồm một trong các giống hoang dã hoặc một thể đột biến chuyển hóa, điều này gợi ý rằng tất cả các giống hiện đại của loại cây trồng đó đều xuất phát từ một lần thuần hóa duy nhất mà thôi.
Nếu cùng một loài cây đã được thuần hóa nhiều lần một cách độc lập ở nhiều khu vực khác nhau trên khắp vùng phân bố của nó ngoài hoang dã, chứ không chỉ thuần hóa một lần và chỉ ở một khu vực, việc đó hàm ẩn điều gì? Ta đã thấy, việc thuần hóa cây trồng bao gồm sự điều chỉnh các loài cây dại sao cho chúng trở nên có ích hơn cho con người nhờ hạt to hơn, vị bớt đắng hơn hoặc những phẩm chất khác. Vì lý do đó, nếu một loài cây trồng năng sản đã có sẵn rồi, chắc chắn các nhà nông sơ khai sẽ cứ vậy mà trồng nó chứ chẳng tội gì đi nhặt nhạnh những loài hoang dã tương tự nó song không hữu ích bằng rồi đem thuần hóa thêm lần nữa. Bằng chứng cho những trường hợp thuần hóa một lần duy nhất cho thấy rằng, khi một loài cây dại đã được thuần hóa, cây trồng đó sẽ bành trướng nhanh đến khác khu vực khác trên suốt vùng phân bố của nó ngoài hoang dã, nên các khu vực khác coi như đã có một cây trồng được “thuần hóa sẵn trước” và không cần phải thuần hóa lại loài cây đó một lần nữa. Tuy nhiên, khi tìm thấy bằng chứng rằng cùng một tổ tiên hoang dã được thuần hóa một cách độc lập ở nhiều khu vực, ta có thể suy ra rằng loài cây trồng đó bành trướng quá chậm nên không thể ngăn cản việc các khu vực khác thuần hóa nó thêm lần nữa. Do vậy, bằng chứng về việc các cây trồng Tây Nam Á hầu hết chỉ được thuần hóa một lần duy nhất song ở châu Mỹ thì lại được thuần hóa nhiều lần cũng có thể làm chứng cho một điều khó thấy hơn, đó là các cây trồng có thể bành trướng ra khỏi Tây Nam Á dễ dàng hơn so với ra khỏi Nam Mỹ hay Bắc Mỹ.
Sự bành trướng nhanh chóng của một cây trồng có thể ngăn chặn trước việc thuần hóa không chỉ tổ tiên hoang dã của cùng loài cây đó ở các nơi khác mà cả những loài cây dại có liên quan. Nếu ta đã trồng được những cây đậu tốt thì dĩ nhiên chẳng có lý do gì để lại thuần hóa từ đầu loài cây dại vốn là thủy tổ cũng của loài đậu đó thêm lần nữa, nhưng ngay cả với những loài đậu dại có họ hàng gần gũi mà các nhà nông thấy gần như tương đương với loài đậu đã thuần hóa thì việc thuần hóa chúng cũng vô ích nốt. Tất cả các cây trồng sáng lập của Tây Nam Á đã ngăn trước sự thuần hóa bất cứ loài cây nào có họ hàng gần gũi chúng trên toàn bộ phần phía tây lục địa Âu-Á. Ngược lại, Tân Thế giới lại có nhiều trường hợp những loài cây tương đương và có họ hàng gần nhưng dẫu sao vẫn khác nhau đã được thuần hóa ở cả Trung Mỹ lẫn Nam Mỹ. Chẳng hạn, 95% cây bông vải trồng trên thế giới ngày nay thuộc về loài bông Gossypium hirsutum vốn đã được thuần hóa vào thời tiền sử ở Trung Mỹ. Tuy nhiên, thay vì loài đó, các nhà nông Nam Mỹ thời tiền sử lại trồng loài bông Gossypium barbadense có họ hàng gần. Rõ ràng là, trên đường xâm nhập Nam Mỹ vào thời tiền sử, cây bông Trung Mỹ đã gặp nhiều khó khăn đến nỗi không kịp chặn trước việc thuần hóa một loài bông khác ở đây (và ngược lại). Ớt, bí, rau dền và cây chenopod là những cây trồng khác mà những loài khác chúng song có họ hàng với chúng đã được thuần hóa ở cả Trung Mỹ lẫn Nam Mỹ bởi không một loài nào có khả năng bành trướng đủ nhanh để chặn trước sự thuần hóa các loài kia.
Như vậy chúng ta có nhiều hiện tượng đồng quy về cùng một kết luận: rằng sản xuất lương thực đã bành trướng ra khỏi Tây Nam Á dễ dàng hơn là ra khỏi một trong hai vùng châu Mỹ, và có thể cũng dễ hơn so với ở châu Phi hạ Sahara. Các hiện tượng này bao gồm: sản xuất lương thực hoàn toàn không đến được những khu vực thích hợp về sinh thái; sản xuất lương thực bành trướng nhanh hay chậm và gồm những loài cây nào; và liệu những cây trồng được thuần hóa sớm nhất có bành trướng đủ nhanh để chặn trước sự thuần hóa lại cũng một loài đó hoặc những loài có họ gần ở các khu vực khác không. Châu Mỹ và châu Phi có cái gì để khiến sự bành trướng sản xuất lương thực đâm ra khó khăn hơn so với ở Âu-Á vậy?
Để giải đáp câu hỏi này, ta hãy bắt đầu bằng việc khảo sát sự bành trướng nhanh chóng của sản xuất lương thực ra khỏi vùng Tây Nam Á (Lưỡi liềm Phì nhiêu). Chẳng bao lâu sau khi sản xuất lương thực phát sinh ở đó, vào khoảng 8.000 năm TCN, một làn sóng ly tâm của nó xuất hiện ở những phần khác của lục địa Âu-Á và Bắc Phi ngày một xa hơn khỏi Lưỡi liềm Phì nhiêu, về phía tây và phía đông. Trên trang này tôi đã vẽ lại tấm bản đồ đáng chú ý (Hình 10.2) được lập bởi nhà di truyền học Daniel Zohary và nhà thực vật học Maria Hopf trong đó họ minh họa làn sóng đó đã đến Hy Lạp và đảo Síp cũng như tiểu lục địa Ấn Độ vào khoảng 6.500 năm TCN, Ai Cập không lâu sau 6.000 năm TCN, Trung Âu vào 5.400 năm TCN, miền nam Tây Ban Nha vào 5.200 năm TCN và đảo Anh vào khoảng 3.500 năm TCN. Trong mỗi khu vực đó, sản xuất lương thực được khởi đầu bằng một số loài trong số cũng những loài cây trồng và vật nuôi đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Ngoài ra, các cây trồng và vật nuôi của Lưỡi liềm Phì nhiêu cũng đã thâm nhập châu Phi về phía nam đến Ethiopia vào một niên đại hiện chưa xác định được. Tuy nhiên, châu Phi cũng đã phát triển được nhiều loài cây trồng bản địa, và chúng ta vẫn chưa biết có phải chính những cây trồng đó hay những cây trồng du nhập từ Lưỡi liềm Phì nhiêu đã khởi đầu nền sản xuất lương thực ở Ethiopia.
Dĩ nhiên, không phải tất cả các loài cây trồng và vật nuôi nguyên thủy của Lưỡi liềm Phì nhiêu đều bành trướng đến tất cả các khu vực bên ngoài đó. Chẳng hạn, Ai Cập quá ấm nên không thể trồng lúa mì einkorn được. Ở một số khu vực bên ngoài đó, một số loài đến sớm hơn, một số loài đến muộn hơn; chẳng hạn, ở vùng tây nam châu Âu, cừu từ Lưỡi liềm Phì nhiêu đến trước, sau mới tới ngũ cốc. Một số khu vực ngoài này tiếp tục tiến hành thuần hóa một ít loài cây trồng bản địa, như cây anh túc ở Tây Âu và dưa hấu có lẽ ở Ai Cập. Song hầu hết sản xuất lương thực ở các khu vực ngoài thoạt tiên đều tùy thuộc vào các loài thuần hóa của Lưỡi liềm Phì nhiêu. Việc bành trướng các loài này chẳng bao lâu sau đó được nối tiếp bằng sự bành trướng những phát minh khác khởi sinh tại Lưỡi liềm Phì nhiêu hay gần đó như bánh xe, chữ viết, kỹ thuật gia công kim loại, nghề vắt sữa, trồng cây ăn quả, sản xuất bia và rượu.
Sự bành trướng các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu ra khắp phần phía tây lục địa Âu-Á
Hình 10.2: Các biểu tượng trên bản đồ trình bày những di chỉ sớm đã được xác định niên đại bằng cácbon phóng xạ nơi người ta tìm thấy di tích các cây trồng của Lưỡi liềm Phì nhiêu. – biểu thị bản thân vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu (các di chỉ trước 7.000 năm TCN). Lưu ý rằng các niên đại càng đi xa khỏi Lưỡi liềm Phì nhiêu thì càng muộn hơn. Bản đồ này dựa trên Bản đồ 20 trong cuốn Sự thuần hóa các loài cây ở Cựu Thế giới của Zohary và Hopf nhưng thay các niên đại chưa điều chỉnh bằng niên đại đã điều chỉnh.
Tại sao cùng một hành trang cây trồng đó đã làm sản xuất lương thực nảy sinh ở suốt miền tây lục địa Âu-Á? Có phải ấy là do cùng một bộ cây trồng đó đều mọc trong tự nhiên ở nhiều khu vực, người dân các khu vực đó cũng nhận thấy chúng có ích như người ta đã nhận thấy thế ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, nên đã thuần hóa chúng một cách độc lập? Không, lý do không phải ở đó. Trước hết, nhiều loài trong số các cây trồng sáng lập của Lưỡi liềm Phì nhiêu thậm chí không hề mọc hoang ở ngoài vùng Tây Nam Á. Chẳng hạn, không một loài nào trong tám loài sáng lập là có mọc hoang ở Ai Cập, có chăng là trừ lúa mạch. Thung lũng sông Nile của Ai Cập có môi trường tương tự như các thung lũng Tigris và Euphrates của Lưỡi liềm Phì nhiêu. Vì vậy, những cây trồng nào đã mọc tốt ở hai thung lũng Lưỡi liềm Phì nhiêu thì cũng mọc tốt ở thung lũng sông Nile đủ để kích thích sự trỗi dậy ngoạn mục của nền văn minh Ai Cập bản địa. Nhưng các lương thực đã hỗ trợ cho sự trỗi dậy ngoạn mục đó vốn dĩ không hiện diện ở Ai Cập ngay từ đầu. Nhân sư và các kim tự tháp đã được xây dựng bởi những người được nuôi sống bằng các loại cây trồng có gốc gác từ Lưỡi liềm Phì nhiêu chứ không phải ở Ai Cập.
Thứ hai, với những loài cây trồng mà tổ tiên không mọc hoang ở đâu khác ngoài Tây Nam Á, ta có thể tự tin mà nói rằng các cây trồng của châu Âu và Ấn Độ hầu hết đều du nhập từ Tây Nam Á chứ không phải là những loài bản địa được thuần hóa. Chẳng hạn như cây lanh hoang, cây này về phía tây mọc đến đảo Anh và Algeria, về phía đông thì mọc đến biển Caspi, trong khi lúa mạch mọc xa về phía đông đến tận Tây Tạng. Tuy nhiên, với hầu hết các cây trồng sáng lập của Lưỡi liềm Phì nhiêu, tất cả các giống được trồng trên thế giới ngày nay chỉ có chung một cách bố trí nhiễm sắc thể trong nhiều cách bố trí khác mà người ta thấy ở tổ tiên hoang dã, nếu không thì cũng chỉ có chung một đột biến duy nhất (trong số nhiều đột biến khả dĩ) đã khiến các giống được trồng trở nên khác với tổ tiên hoang dã theo hướng có lợi cho con người. Chẳng hạn, mọi loài đậu trồng ngày nay đều có chung một gen lặn ngăn không cho các quả đậu chín bung cùng một lúc làm rơi vãi đậu ra ngoài như ở đậu hoang.
Rõ ràng là, hầu hết các cây trồng phát xuất từ Lưỡi liềm Phì nhiêu đều không hề được thuần hóa lại ở nơi nào khác sau khi chúng được thuần hóa lần đầu tiên ở Lưỡi liềm Phì nhiêu. Giá như chúng đã được thuần hóa một cách độc lập ở nơi nào khác nữa thì sự có nhiều nguồn gốc đó hẳn đã thể hiện dưới dạng nhiều cách bố trí nhiễm sắc thể khác nhau hay nhiều đột biến khác nhau. Vì vậy, đây là ví dụ tiêu biểu cho hiện tượng thuần hóa sẵn trước mà ta đã đề cập trên đây. Việc các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu bành trướng nhanh chóng đã chặn trước mọi nỗ lực khác nhằm thuần hóa cũng những loài tổ tiên hoang dã đó, dù ngay ở Lưỡi liềm Phì nhiêu hay ở nơi nào khác. Một khi đã có cây trồng rồi thì người ta chẳng cần phải thu nhặt chúng ngoài hoang dã và qua đó đưa chúng vào đường thuần hóa thêm lần nữa.
Tổ tiên của hầu hết các cây trồng sáng lập đều có những loài họ hàng trong hoang dã, ở Lưỡi liềm Phì nhiêu cũng như ở các nơi khác, vốn lẽ ra cũng thích hợp để thuần hóa. Chẳng hạn, đậu thuộc giống Pisum vốn bao gồm hai loài hoang dã: Pisum sativum, loài đã được thuần hóa để thành đậu mà ta trồng ngày nay, và Pisum fulvum, loài chưa bao giờ được thuần hóa. Thế nhưng hạt của loài Pisum fulvun lại có vị ngon dù để tươi hay khô và rất phổ biến ngoài hoang dã. Tương tự, lúa mì, lúa mạch, đậu lăng, đậu chickpea, đậu (bean) và cây lanh đều có nhiều họ hàng hoang dã ngoài các loài đã được thuần hóa. Một số loài đậu và lúa mạch họ hàng đó trên thực tế cũng đã được thuần hóa độc lập ở châu Mỹ hay Trung Hoa, rất xa khu vực thuần hóa đầu tiên là Lưỡi liềm Phì nhiêu. Nhưng ở Âu-Á chỉ có một trong vài loài hoang dã khả dĩ có ích là được thuần hóa mà thôi – có lẽ vì loài đó bành trướng quá nhanh đến nỗi chẳng mấy chốc người ta thôi không thu nhặt các loài họ hàng hoang dã kia nữa mà chỉ ăn loại cây trồng đó. Một lần nữa, như ta đã bàn tới ở trên, tốc độ bành trướng nhanh của một cây trồng đã có tác dụng “chặn trước” – người dân ở các khu vực khác thôi không thử thuần hóa các loài họ hàng với loài cây đó hoặc không cần phải thuần hóa tổ tiên hoang dã của loài đó thêm lần nữa.
Tại sao tốc độ bành trướng các cây trồng từ Lưỡi liềm Phì nhiêu lại nhanh đến thế? Câu trả lời một phần nằm ở trục Đông-Tây của lục địa Âu-Á mà tôi đã nhắc đến ở đầu chương này. Các địa điểm được phân bố theo hướng đông và hướng tây trên cùng một vĩ độ thì đều có chung một độ dài ngày đêm và những biến thiên về mùa giống hệt nhau. Ở mức độ thấp hơn, chúng còn có xu hướng có cùng một số căn bệnh, cơ chế nhiệt độ và độ mưa như nhau, môi trường sống hoặc thảm thực vật như nhau. Chẳng hạn, Bồ Đào Nha, Bắc Iran và Nhật Bản, tất cả nằm gần như trên cùng một vĩ độ nhưng cách nhau trên 4.000 dặm (6.400 km – ND) về phía tây hoặc phía đông, thì vẫn tương tự nhau hơn về khí hậu so với một vị trí cách dù chỉ 1.000 dặm (1.600 km – ND) nhưng về phía nam. Trên tất cả các lục địa, loại môi trường sống gọi là rừng mưa nhiệt đới chỉ bó hẹp trong khoảng 10 vĩ độ cách xích đạo, trong khi môi trường sống cây bụi Địa Trung Hải (như vùng chaparral của California và vùng rừng cây bụi của châu Âu) nằm ở khoảng giữa vĩ độ 30 và vĩ độ 40.
Nhưng sự nảy mầm, tăng trưởng và khả năng kháng bệnh của các loài cây được thích nghi với chính những đặc tính đó của khí hậu. Những thay đổi theo mùa về độ dài của ngày, nhiệt độ và lượng mưa là những dấu hiệu kích thích cho hạt nảy mầm, mầm mọc thành cây và cây trưởng thành đơm hoa, nảy hạt và đơm quả. Mỗi quần thể cây trở nên được lập trình về di truyền, thông qua chọn lọc tự nhiên, ngõ hầu đáp ứng với các dấu hiệu của chế độ mùa mà trong đó nó đã tiến hóa. Các chế độ mùa này thay đổi rất nhiều theo vĩ độ. Chẳng hạn, ở xích đạo thì quanh năm ngày dài như nhau, nhưng ở các vĩ độ ôn đới thì ngày càng lúc càng dài ra từ đông chí đến hạ chí, sau đó lại ngắn dần trong nửa năm còn lại. Mùa sinh trưởng – nghĩa là các tháng mà nhiệt độ và độ dài ngày là thích hợp cho cây cối sinh trưởng – là ngắn nhất ở các vĩ độ cao và dài nhất ở gần xích đạo. Cây cối cũng thích nghi với các chứng bệnh phổ biến ở vĩ độ của chúng.
Bất hạnh cho loài cây nào mà chương trình di truyền của nó “trật khớp” với vĩ độ của cánh đồng nơi nó được trồng! Hãy hình dung một nhà nông Canada ngốc nghếch đi trồng một giống ngô vốn đã được thích nghi để trồng ở Mexico mãi rất xa về phía nam. Cây ngô xui xẻo đó sẽ theo đúng chương trình di truyền đã thích nghi với hoàn cảnh Mexico mà chuẩn bị nảy mầm vào tháng ba để rồi vẫn bị vùi sâu dưới ba thước tuyết. Cứ cho là cây đó được tái lập trình về di truyền để nảy mầm vào một thời điểm thích hợp hơn với Canada – cuối tháng sáu chẳng hạn – nó vẫn sẽ gặp khó khăn vào những mùa khác. Các gen của nó sẽ vẫn ra lệnh cho nó tăng trưởng với tốc độ thong dong, đủ cho nó lớn lên đến mức trưởng thành trong vòng năm tháng. Đó là giải pháp an toàn tuyệt đối nếu ở khí hậu ôn hòa của Mexico, thế nhưng ở Canada chính giải pháp đó sẽ là thảm họa bởi cây sẽ bị sương giá mùa thu giết chết trước khi nó kịp nảy những bắp ngô trưởng thành. Cái cây đó cũng sẽ thiếu những gen kháng các bệnh của khí hậu phương bắc, trong khi vẫn mang những gen kháng các bệnh của khí hậu phương nam mà giờ đây đã hóa thành vô ích. Tất cả các đặc tính đó khiến cho những cây trồng thuộc vĩ độ thấp khó lòng thích nghi với điều kiện ở vĩ độ cao và ngược lại. Hậu quả là hầu hết cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu mọc tốt ở Pháp và Nhật nhưng mọc kém ở vùng xích đạo.
Thú vật cũng thích nghi với các đặc tính của khí hậu có liên quan đến vĩ độ. Về phương diện đó chúng ta là những con vật tiêu biểu bởi chúng ta chỉ cần tự xét mình là đủ hiểu. Một số người trong chúng ta không chịu được mùa đông rét mướt của phương bắc, ngày thì ngắn ngủi lại có những vi trùng đặc thù của nó, trong khi những người khác lại không kham nổi khí hậu nóng miền nhiệt đới với những căn bệnh đặc thù của nó. Trong mấy thế kỷ gần đây, những người thực dân từ Bắc Âu mát mẻ thường thích di cư sang những miền có khí hậu mát mẻ tương tự ở Bắc Mỹ, Australia và Nam Phi, và định cư tại những vùng cao nguyên mát mẻ ở Kenya hay New Guinea xích đạo. Những người Bắc Âu được cử tới những miền đất thấp nóng bức vùng nhiệt đới thường chết vì những bệnh như sốt rét, căn bệnh mà các dân tộc nhiệt đới ít nhiều đã có kháng thể di truyền.
Đó là một phần nguyên nhân vì sao các loài thuần hóa của Lưỡi liềm Phì nhiêu đã bành trướng về phía đông và phía tây nhanh đến vậy: chúng đã sẵn thích nghi tốt với khí hậu các khu vực mà chúng đang bành trướng tới. Chẳng hạn, khi nghề trồng trọt đã băng qua các đồng bằng Hungary để đến Trung Âu vào khoảng 5.400 năm TCN, nó bành trướng nhanh đến nỗi những nhà nông đầu tiên trong khu vực rộng lớn từ Ba Lan đến Hà Lan về phía tây (đáng chú ý bởi những đồ gốm có hoa văn hình tuyến đặc thù) đã xuất hiện gần như cùng một lúc. Đến thời Jesus Christ, các loài ngũ cốc có nguồn gốc Lưỡi liềm Phì nhiêu đã mọc suốt trên gần 8.000 dặm (12.800 km – ND) từ bờ Đại Tây Dương của Ireland đến bờ Thái Bình Dương của Nhật Bản. Hướng Tây-Đông đó của lục địa Âu-Á là khoảng cách trên đất liền lớn nhất trên Trái đất.

Như vậy, trục tây-đông đã cho phép các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu nhanh chóng khởi động cho nền nông nghiệp xuất hiện trên suốt dải vĩ độ ôn đới từ Ireland đến thung lũng Ấn hà và làm phong phú thêm nền nông nghiệp vốn đã phát sinh độc lập ở Đông Á. Ngược lại, các cây trồng Âu-Á mà được thuần hóa đầu tiên ở xa bên ngoài Lưỡi liềm Phì nhiêu song trên cùng vĩ độ cũng có thể được phát tán ngược trở lại về Lưỡi liềm Phì nhiêu. Ngày nay, khi hạt giống được vận chuyển trên toàn thế giới bằng tàu thủy và máy bay, chúng ta thấy như là đương nhiên việc bữa ăn của mình là một món hổ lốn về địa lý. Một bữa ăn tiêu biểu trong nhà hàng ăn nhanh của Mỹ sẽ gồm có thịt gà (được thuần hóa đầu tiên ở Trung Hoa) và khoai tây (từ vùng Andes) hoặc ngô (từ Mexico), được nêm nếm bằng tiêu (từ Ấn Độ) và chiêu cho xuôi bữa bằng một tách cà phê (gốc gác từ Ethiopia). Thế nhưng, ngay từ 2.000 năm trước, người La Mã đã nuôi sống mình bằng món hổ lốn gồm những thứ lương thực có gốc gác từ nơi khác. Trong các cây trồng La Mã, chỉ có yến mạch và anh túc là có tổ tiên ở Ý. Cây trồng chính của La Mã là các cây trồng sáng lập của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, được bổ sung bằng cây mộc qua (nguồn gốc ở vùng Caucasus), kê và thìa là (được thuần hóa ở Trung Á), dưa chuột, vừng và cây cam quýt (từ Ấn Độ), và gà, gạo, mơ, đào và kê đuôi chồn (gốc gác từ Trung Hoa). Ngay cả táo của người La Mã ít nhất cũng có nguồn gốc từ miền tây Âu-Á, chúng được trồng bằng kỹ thuật ghép vốn đã được phát triển tại Trung Hoa và bành trướng từ đó về phía tây.

Trong khi Âu-Á là dải dất liền rộng nhất trên cùng một vĩ độ trên thế giới, do đó là ví dụ hùng hồn nhất cho sự bành trướng nhanh chóng các loài thuần hóa, vẫn có cả những ví dụ khác. Chẳng kém về tốc độ bành trướng như các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu là sự bành trướng về phía đông của các loài thuần hóa cận nhiệt đới vốn hình thành đầu tiên ở Nam Trung Hoa sau đó được bổ sung thêm khi phát tán đến Đông Nam Á, Philippines, Indonesia và New Guinea cận nhiệt đới. Trong vòng 1.600 năm, hành trang đó – gồm cây trồng (chuối, khoai sọ và khoai lang) và vật nuôi (gà, lợn và chó) – đã bành trướng đến hơn 5.000 dặm (8.000 km – ND) về phía đông ra Thái Bình Dương nhiệt đới, đến tận các đảo Polynesia. Một ví dụ tương tự nữa là sự bành trướng từ đông sang tây của cây trồng trong phạm vi vùng Sahel rộng lớn của châu Phi, nhưng các nhà cổ thực vật học hãy còn chưa truy tầm được thông tin chi tiết.

Trái ngược với sự phát tán dễ dàng từ đông sang tây tại lục địa Âu-Á là sự phát tán đầy khó nhọc theo hướng bắc-nam của châu Phi. Hầu hết các cây trồng sáng lập của Lưỡi liềm Phì nhiêu đều đến Ai Cập rất nhanh, sau đó bành trướng về phía nam đến vùng cao nguyên mát mẻ của Ethiopia, đến đó thì dừng lại không bành trướng thêm nữa. Khí hậu Địa Trung Hải của Nam Phi lẽ ra là lý tưởng cho các cây trồng đó, nhưng điều kiện nhiệt đới trải dài 2.000 dặm (3.200 km, ND) giữa Ethiopia và Nam Phi là một rào ngăn không thể vượt qua. Thay vì vậy, nông nghiệp châu Phi về phía nam Sahara đã khởi đầu bằng việc thuần hóa các loài cây dại (như lúa miến và khoai lang châu Phi) vốn là loài bản địa ở vùng Sahel và Tây Phi nhiệt đới, thích nghi với nhiệt độ ấm, mùa hè nhiều mưa và độ dài ngày tương đối ổn định ở các vĩ độ thấp này.
Tương tự, việc bành trướng về phía nam của các loài gia súc Lưỡi liềm Phì nhiêu ngang qua châu Phi đã bị ngăn trở hoặc kìm hãm bởi khí hậu và bệnh tật, nhất là bệnh trùng mũi khoan do ruồi tsetse truyền nhiễm. Loài ngựa chẳng bao giờ đứng chân được xa hơn về phía nam ngoài các quốc gia Tây Phi ở phía bắc xích đạo. Bước tiến của bò, cừu và dê bị khựng lại suốt 2.000 năm ở rìa phía bắc đồng bằng Serengeti, trong khi những loại hình kinh tế mới của loài người và những nòi gia súc mới đang được phát triển. Mãi tới năm 100-200, nghĩa là 8.000 năm sau khi gia súc được thuần hóa ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, bò, cừu và dê cuối cùng mới tới được Nam Phi. Các cây trồng châu Phi nhiệt đới cũng gặp khó khăn khi bành trướng về phía nam ở châu Phi, chỉ đến được Nam Phi cùng với các nhà nông người Phi đen (người Bantu) ngay sau khi các loài gia súc Lưỡi liềm Phì nhiêu đã đến. Tuy nhiên, các cây trồng châu Phi nhiệt đới đó chẳng bao giờ vượt qua được dòng Sông Cá (Fish River) của Nam Phi, chúng đến đó là dừng bước vì phía bên kia sông là vùng khí hậu Địa Trung Hải mà chúng không được thích nghi.
Hệ quả là chiều hướng phát triển trong hai ngàn năm trở lại đây của lịch sử Nam Phi mà ai cũng biết. Một số dân tộc bản địa Khoisan của Nam Phi (còn gọi là người Hottentots và người Bushmen) đã biết nuôi gia súc nhưng vẫn không trồng trọt. Dân số họ đâm ra ít ỏi, và về phía đông bắc dòng Sông Cá họ bị giành chỗ bởi các nhà nông người châu Phi đen, những kẻ mà bước tiến về phương nam bị dòng sông đó chặn lại. Chỉ khi những người di cư từ châu Âu đến vào năm 1652 bằng đường biển mang theo các cây trồng và gia súc có nguồn gốc từ Lưỡi liềm Phì nhiêu, nông nghiệp mới trở nên thịnh vượng ở vùng khí hậu Địa Trung Hải của Nam Phi. Sự xung đột giữa tất cả các dân tộc đó làm nên tấn bi kịch của Nam Phi hiện đại: sự suy tàn nhanh chóng của người Khoisan do vi trùng và súng của châu Âu; một thế kỷ chiến tranh giữa người châu Âu và người da đen; lại thêm một thế kỷ áp bức chủng tộc; và giờ đây là nỗ lực chung của người châu Âu với người da đen nhằm tìm kiếm một mô thức cùng tồn tại trên những vùng đất xưa kia thuộc người Khoisan.
Cũng trái ngược với sự phát tán dễ dàng ở Âu-Á là sự phát tán đầy khó nhọc dọc theo trục Bắc-Nam của châu Mỹ. Khoảng cách giữa Trung Mỹ và Nam Mỹ – tỉ như giữa vùng cao nguyên Mexico với vùng cao nguyên Ecuador – chỉ là 1.200 dặm (1.920 km – ND), đại khái bằng khoảng cách giữa vùng Balkans với vùng Lưỡng Hà ở lục địa Âu-Á. Vùng Balkans có những điều kiện nuôi trồng lý tưởng cho hầu hết các cây trồng và vật nuôi của Lưỡng Hà, và đã tiếp nhận các loài trên một cách trọn gói trong vòng 2.000 năm các loài này hình thành ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Sự bành trướng nhanh chóng đó đã chặn trước cơ hội thuần hóa cũng các loài đó và những loài tương cận ở vùng Balkans. Tương tự, cao nguyên Mexico và vùng Andes lẽ ra cũng đã thích hợp cho nhiều loài cây trồng và vật nuôi của nhau. Một ít cây trồng, đặc biệt là ngô Mexico, quả thật đã bành trướng được đến vùng kia vào thời tiền Colombus.
Nhưng các cây trồng và vật nuôi khác thì đã không bành trướng được từ Trung Mỹ đến Nam Mỹ hay ngược lại. Miền cao nguyên mát mẻ của Mexico lẽ ra có sẵn điều kiện lý tưởng để nuôi lạc đà llama, chuột ghinê và trồng khoai tây, tất cả các loài này đã được thuần hóa ở vùng cao nguyên mát mẻ của dãy Andes Nam Mỹ. Thế nhưng, sự bành trướng về phương bắc của các loài đặc sản Andes đó hoàn toàn bị chặn đứng bởi vùng đất thấp nóng nực chen vào ở Trung Mỹ. Năm ngàn năm sau khi lạc đà llama được thuần hóa ở vùng Andes, người Olmecs, người Maya, người Aztecs và tất cả các xã hội bản địa khác ở Mexico vẫn không có một loài vật nào để thồ hàng, cũng chẳng có loài thú hữu nhũ nào nuôi để ăn thịt ngoại trừ chó.
Ngược lại, loài gà tây nuôi của Mexico và cây hướng dương trồng của miền đông Hoa Kỳ lẽ ra đã có thể sinh sôi nảy nở ở vùng Andes, nhưng sự bành trướng về phương nam của chúng bị chặn lại bởi vùng khí hậu nhiệt đới chen vào giữa. Cái khoảng cách bắc-nam vỏn vẹn 700 dặm (1.120 km – ND) đó đã ngăn không cho ngô, bí và đậu của Mexico đến được vùng Tây Nam Hoa Kỳ suốt hàng ngàn năm sau khi chúng được thuần hóa ở Mexico, còn ớt và cây chenopod của Mexico thậm chí chẳng bao giờ đến được đó vào thời tiền sử. Suốt hàng ngàn năm sau khi ngô đã được thuần hóa ở Mexico, nó vẫn không bành trướng được lên phía bắc vào vùng phía đông Hoa Kỳ bởi khí hậu ở đó mát hơn và mùa sinh trưởng ngắn hơn. Vào một thời điểm nào đó giữa năm 1 và năm 200, rốt cuộc ngô cũng xuất hiện ở phía đông Hoa Kỳ song chỉ như một loài cây trồng rất thứ yếu. Mãi đến năm 900, sau khi người ta đã phát triển được những giống ngô chịu được rét thích nghi với khí hậu phương bắc thì nền nông nghiệp dựa trên căn bản cây ngô mới có thể góp phần vào sự hưng thịnh của xã hội phức tạp nhất của người Anh-điêng bản địa, nền văn hóa Mississippi, một sự hưng thịnh ngắn ngủi đã chấm dứt sau khi những vi trùng của người châu Âu đến cùng với Columbus và sau đó.
Ta hãy nhớ lại rằng hầu hết cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu, qua nghiên cứu về di truyền, đều cho thấy chúng xuất phát chỉ từ một quá trình thuần hóa duy nhất, quá trình này tạo ra một loài cây trồng bành trướng nhanh đến nỗi nó chặn trước mọi sự thuần hóa sơ khai cũng loài đó hoặc các loài tương cận ở các khu vực khác. Ngược lại, nhiều cây trồng có vẻ phổ biến rộng khắp của châu Mỹ bản địa lại tỏ ra là gồm những loài có họ hàng hay thậm chí của những giống khác nhau về di truyền của cùng một loài vốn đã được thuần hóa độc lập ở Trung Mỹ, Nam Mỹ và miền đông Hoa Kỳ. Các loài họ hàng gần có thể thay thế nhau về mặt địa lý là giữa rau dền, đỗ, chenopod, ớt, bông vải, bí và thuốc lá. Những giống khác nhau của cùng một loài có thể thay thế nhau là giữa đậu tây, đậu lima, cây ớt Capsicum annuum/chinense và cây bí Cucurbita pepo. Việc cùng một loài cây được thuần hóa độc lập nhiều lần ở nhiều nơi có thể chứng minh thêm cho sự phát tán chậm chạp của các cây trồng dọc theo trục bắc-nam của châu Mỹ.
Như vậy, châu Phi và châu Mỹ là hai lục địa lớn nhất có trục chủ yếu là bắc-nam và do đó là tốc độ phát tán chậm của các loài. Ở một số khu vực khác của thế giới, sự phát tán chậm theo hướng bắc-nam cũng có vai trò quan trọng tuy ở quy mô nhỏ hơn. Chẳng hạn, cây trồng đã được trao đổi với tốc độ chậm như rùa giữa thung lũng Ấn hà của Pakistan với miền nam Ấn Độ, sản xuất lương thực từ Nam Trung Hoa đã bành trướng một cách chậm chạp vào bán đảo Malaysia, và sản xuất lương thực của Indonesia và New Guinea nhiệt đới trong thời tiền sử đã không thể nào đến được những vùng canh tác màu mỡ ngày nay tại Tây Nam và Đông Nam Australia. Hai góc này của Australia giờ đây là những vựa lúa mì của lục địa Úc, nhưng chúng nằm cách xích đạo những 2.000 dặm (3.200 km – ND) về phía nam. Phải chờ đến khi những cây trồng từ châu Âu xa xôi – vốn đã thích nghi với khí hậu ôn hòa và mùa sinh trưởng ngắn của châu Âu – đến được đó trên những con tàu của châu Âu thì nghề nông ở đó mới bắt đầu xuất hiện.
Tôi đã dừng lại lâu ở vấn đề vĩ độ, vốn chỉ cần liếc bản đồ là có ngay minh chứng rõ ràng, bởi đó là một yếu tố quyết định chủ chốt cho khí hậu, điều kiện sinh trưởng và việc bành trướng dễ dàng của sản xuất lương thực. Tuy vậy, vĩ độ dĩ nhiên không phải là yếu tố quyết định duy nhất trong việc này, và không phải bất cứ lúc nào những địa điểm kề cận nhau trên cùng một vĩ độ đều có chung khí hậu như nhau (mặc dù nhất định là có độ dài ngày như nhau). Những rào chắn về địa hình và sinh thái trên một số lục địa này rõ rệt hơn so với một số lục địa khác và là trở ngại quan trọng cho sự phát tán các loài trong phạm vi lục địa đó.
Chẳng hạn, sự phát tán cây ngô giữa vùng tây nam Hoa Kỳ và đông nam Hoa Kỳ rất chậm và kén chọn mặc dù hai vùng đó nằm trên cùng vĩ độ. Đó là do hầu hết vùng Texas và miền nam Đồng bằng Lớn chen giữa hai vùng đó đều khô ráo và không thích hợp cho trồng trọt. Một ví dụ tương ứng ở lục địa Âu-Á là vùng biên phía đông của các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu, vốn đã bành trướng nhanh chóng về phía tây đến Đại Tây Dương và về phía đông đến thung lũng Ấn hà mà không gặp rào cản nào đáng kể. Tuy nhiên, xa hơn về phía đông Ấn Độ thì khí hậu lại chuyển từ mưa chủ yếu vào mùa mưa sang mưa chủ yếu vào mùa hè, điều này góp phần kìm hãm sự bành trướng của nghề nông, bao gồm nhiều loại cây trồng và kỹ thuật canh tác khác nhau vào vùng đồng bằng sông Hằng phía đông bắc Ấn Độ. Xa hơn nữa về phía đông, các vùng ôn đới của Trung Hoa bị cách ly khỏi các vùng phía tây Âu-Á có khí hậu tương tự bởi [hàng rào thiên nhiên gồm] sa mạc Trung Á, cao nguyên Tây Tạng và dãy Himalaya hợp lại. Vì vậy, sự phát triển sơ khởi của sản xuất lương thực tại Trung Hoa là độc lập với sự phát triển sản xuất lương thực tại Lưỡi liềm Phì nhiêu trên cùng vĩ độ và dẫn đến sự ra đời những cây trồng hoàn toàn khác. Tuy nhiên, ngay cả những rào cản đó giữa Trung Hoa với phía tây lục địa Âu-Á ít nhất cũng đã phần nào bị vượt qua trong thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên, khi cây lúa mì, lúa mạch và loài ngựa từ Tây Á đã đến được Trung Hoa.
Vì thế cho nên, cùng là khoảng cách 2.000 dặm (3.200 km) theo hướng bắc-nam nhưng khoảng cách ấy có là rào cản hay không thì còn tùy điều kiện từng nơi. Nền sản xuất lương thực của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã vượt qua một khoảng cách như vậy để bành trướng về phía nam đến Ethiopia, và nền sản xuất lương thực Bantu đã bành trướng nhanh chóng từ vùng Hồ Lớn của châu Phi về phía nam đến Natal của Nam Phi bởi trong cả hai trường hợp những khu vực chen giữa hai đầu cũng đều có chế độ mưa tương tự và đều thích hợp cho nông nghiệp. Ngược lại, sự phát tán cây trồng từ Indonesia về phía nam đến miền tây nam Australia lại hoàn toàn không thể, và sự phát tán qua một khoảng cách ngắn hơn nhiều giữa Mexico đến miền tây nam và đông nam Hoa Kỳ thì chậm chạp bởi những vùng chen giữa lại là sa mạc hoàn toàn không trồng trọt được gì. Việc thiếu một cao nguyên có độ cao lớn ở Trung Mỹ về phía nam Guatemala, cùng với đoạn thắt quá hẹp của Trung Mỹ về phía nam Mexico đặc biệt là ở Panama, ít nhất cũng có vai trò quan trọng như khoảng cách về vĩ độ trong việc kìm hãm sự trao đổi cây trồng và vật nuôi giữa cao nguyên Mexico với vùng Andes.
Những khác biệt về hướng trục có ảnh hưởng đến không chỉ sự phát tán của sản xuất lương thực mà của cả các công nghệ và phát minh khác. Chẳng hạn, vào khoảng 3.000 năm TCN phát minh bánh xe ở vùng Tây Nam Á hoặc gần đó đã bành trướng nhanh chóng về phía tây và phía đông qua hầu hết lục địa Âu-Á chỉ trong vòng vài thế kỷ, trong khi bánh xe được phát minh độc lập ở Mexico thời tiền sử chưa bao giờ bành trướng được về phía nam đến vùng núi Andes. Tương tự, nguyên lý viết theo ký tự chữ cái, vốn được phát triển ở phần phía tây của Lưỡi liềm Phì nhiêu khoảng 1.500 năm TCN, đã bành trướng về phía tây đến Carthage và về phía đông đến tiểu lục địa Ấn Độ chỉ trong khoảng một ngàn năm, nhưng các hệ chữ viết Trung Mỹ vốn từng hưng thịnh vào thời tiền sử trong ít nhất 2.000 năm đã không bao giờ đến được vùng Andes.
Lẽ tự nhiên, bánh xe và chữ viết không có liên hệ trực tiếp đến vĩ độ và độ dài ngày như các loài cây trồng. Tuy nhiên, mối liên hệ đó là gián tiếp, đặc biệt là thông qua các hệ thống sản xuất lương thực và hệ quả của chúng. Những bánh xe xưa nhất là một phần của những chiếc xe do bò kéo dùng để vận chuyển sản phẩm nông nghiệp. Chữ viết thời kỳ đầu vốn chỉ dành cho giới đặc tuyển được nuôi sống bởi các nông dân sản xuất lương thực, và chỉ để phục vụ những mục đích của các xã hội sản xuất lương thực vốn phức tạp về kinh tế và xã hội (chẳng hạn như ban truyền lệnh của nhà vua, kiểm kê hàng hóa, ghi chép sổ sách đối với quan lại). Nói chung, những xã hội có tham gia vào sự trao đổi tích cực các loài cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật có liên quan đến sản xuất lương thực thì cũng có nhiều khả năng tham gia vào những sự trao đổi khác.
Bài hát America Beautiful (Nước Mỹ đẹp) mang tinh thần ái quốc của người Mỹ khơi dậy trước mắt chúng ta (người Mỹ – ND) những bầu trời bao la bát ngát, những làn sóng lúa màu hổ phách, trải dài tít tắp từ biển này đến tận biển kia. Thật ra, bài hát đó đã nói ngược lại thực tế về địa lý. Cũng như tại châu Phi, việc phát tán các loài cây trồng và vật nuôi bản địa ở châu Mỹ đã bị chậm lại bởi những bầu trời nhỏ hẹp và các rào cản môi trường. Không có làn sóng lúa bản địa nào từng trải dài tít tắp từ bờ Đại Tây Dương đến bờ Thái Bình Dương của Bắc Mỹ, từ Canada đến Patagonia hay từ Ai Cập đến Nam Phi, trong khi những làn sóng lúa mì và lúa mạch màu hổ phách quả thật đã trải dài tít tắp từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương ngang qua những bầu trời bao la của lục địa Âu-Á. Sự bành trướng nhanh chóng đó của nông nghiệp Âu-Á, so với sự bành trướng ì ạch của nông nghiệp châu Mỹ bản địa và nông nghiệp châu Phi hạ Sahara, đã đóng một vai trò (như phần sau của sách này sẽ cho thấy) trong sự phát tán nhanh hơn của chữ viết, ngành luyện kim, công nghệ và các đế quốc tại lục địa Âu-Á.
Nêu ra hết những khác biệt đó không phải là để nói rằng cây trồng nào được phân bố rộng rãi hơn thì ưu việt hơn hoặc chứng minh rằng các nông dân đầu tiên ở lục địa Âu-Á khéo léo hơn, tài trí hơn. Thay vì vậy, điều này chỉ phản ánh hướng trục của lục địa Âu-Á so sánh với hướng trục của châu Mỹ hay châu Phi. Vận mệnh lịch sử xoay quanh chính các trục này.
Phần 3: Từ lương thực đến súng, vi trùng và thép 
Chương 11 - Tặng phẩm chết người của gia súc
Đến nay ta đã lần ngược về lịch sử để xem sản xuất lương thực đã nảy sinh như thế nào ở một ít trung tâm và từ đó đã bành trướng nhanh chậm khác nhau đến thế nào sang các khu vực khác. Những khác biệt địa lý đó chính là lời đáp hệ trọng và tối hậu cho câu hỏi của Yali về việc tại sao dân tộc này lại khác dân tộc khác đến vậy về sức mạnh và sự dồi dào sung túc. Tuy nhiên, bản thân sản xuất lương thực không phải là nguyên nhân trực tiếp. Khi đánh nhau một đối một, một nông dân trần trụi chẳng có ưu thế nào trước một người săn bắt hái lượm trần trụi cả.
Thay vì vậy, tại sao nhà nông lại có sức mạnh vượt trội một phần là bởi sản xuất lương thực có thể nuôi sống những quần thể dân cư đông đúc hơn nhiều: khi đánh nhau, mười nông dân trần trụi cầm chắc là có ưu thế so với một người săn bắt hái lượm trần trụi. Mặt khác, trên thực tế, chẳng nhà nông lẫn người săn bắt hái lượm nào là trần trụi cả, ít nhất là không trần trụi theo nghĩa ẩn dụ. Các nông dân có xu hướng thở ra nhiều vi trùng độc hại hơn, có vũ khí và áo giáp tốt hơn, nói chung là sở hữu những kỹ thuật mạnh mẽ hơn, và sống dưới sự cai quản của những chính phủ tập trung hóa với những giới tinh hoa biết chữ có khả năng tiến hành tốt hơn những cuộc chiến tranh chinh phục. Từ đó, bốn chương kế tiếp sẽ khảo sát xem làm cách nào cái nguyên nhân tối hậu là sản xuất lương thực đã dẫn đến những nguyên nhân trực tiếp là vi trùng, chữ viết, công nghệ và chính phủ tập trung hóa.
Về những mối liên hệ giữa gia súc và cây trồng với vi trùng, tôi có một ví dụ minh họa không thể nào quên, ấy là một trường hợp xảy ra trong bệnh viện mà tôi được biết thông qua người bạn làm bác sĩ. Hồi bạn tôi hãy còn là một bác sĩ mới chập chững vào nghề, có lần người ta gọi anh ấy đến một phòng bệnh để khám cho một cặp vợ chồng đang căng thẳng vì một căn bệnh bí hiểm. Đã vậy, hai vợ chồng còn gặp khó khăn trong việc nói cho nhau hiểu và cho anh bạn của tôi hiểu. Người chồng là một ông nhỏ nhắn, rụt rè, bị lao do một loại vi trùng chưa thể xác định gây ra, lại chỉ biết võ vẽ chút tiếng Anh. Đóng vai thông dịch là cô vợ xinh đẹp của ông ta, chị ta cứ lo sốt vó về tình trạng của chồng và sợ chết khiếp trước khung cảnh bệnh viện, thấy gì cũng lạ. Bạn tôi cũng đang rất căng thẳng vì phải bù đầu với công việc ở bệnh viện suốt cả tuần, lại phải căng óc cố hình dung xem những nhân tố rủi ro không bình thường nào đã dẫn tới căn bệnh lạ lùng nọ. Nỗi căng thẳng khiến bạn tôi quên béng rằng ở trường người ta luôn dạy phải biết tôn trọng quyền riêng tư của bệnh nhân: anh đã phạm sai lầm chết người khi yêu cầu người phụ nữ hỏi chồng xem liệu ông ta đã có hành vi tính dục nào có thể khiến bị lây nhiễm không.
Dưới con mắt quan sát của ông bác sĩ, người chồng đỏ lên như gấc, co rúm người lại khiến trông anh ta càng nhỏ con hơn nữa, cố sao cho biến mất dưới tấm chăn, cứ ấp úng từng lời bằng giọng hầu như không nghe được. Cô vợ bất thần thét lên đầy phẫn nộ, tiến lại gần, chồm xuống, cao lừng lững phía trên anh ta. Bác sĩ chưa kịp ngăn thì cô ta đã vớ lấy một cái chai nặng bằng kim loại, vận hết sức bình sinh giáng lên đầu chồng rồi sầm sầm ra khỏi phòng. Phải mất một hồi lâu bác sĩ mới cứu sống được anh chồng và còn phải mất thời gian hơn thế mới luận ra nổi từ những câu tiếng Anh cọc cạch của anh ta rằng anh ta đã nói gì để khiến vợ nổi cơn tam bành như vậy. Lời giải đáp dần dần lộ ra: anh ta thú nhận đã nhiều lần có quan hệ tính giao với cừu trong chuyến về thăm nông trại của gia đình gần đây; có lẽ đó là nguyên nhân khiến anh ta đã nhiễm giống vi trùng kỳ bí đó.
Chuyện này thoạt nghe có vẻ chỉ là ngoại lệ hiếm có và không thể có ý nghĩa gì lớn. Song trên thực tế nó minh họa cho một vấn đề có tầm quan trọng to lớn: ấy là những căn bệnh ở người có nguồn gốc từ động vật. Rất ít ai trong chúng ta yêu loài cừu theo nghĩa tính dục như ông bệnh nhân này. Nhưng hầu hết chúng ta yêu các loài thú cưng như chó hay mèo theo nghĩa tinh thần. Với tư cách xã hội, chắc chắn là chúng ta có một lòng yêu thích thái quá đối với cừu và các loài gia súc khác, xét từ việc chúng ta nuôi chúng với số lượng quá ư đông đảo. Chẳng hạn, tại thời điểm thống kê gần đây, cả nước Úc chỉ có 17.085.400 người nhưng lại nuôi đến 161.600.000 con cừu, đủ thấy người Úc yêu loài cừu đến mức nào.
Một số người lớn chúng ta, trẻ con thì lại càng nhiều hơn, bị lây bệnh truyền nhiễm từ thú nuôi. Thường thì chúng chỉ gây chút bực mình nho nhỏ, song một vài căn bệnh đã tiến hóa thành những thứ nghiêm trọng hơn nhiều. Nguyên nhân tử vong của con người trong suốt lịch sử gần đây – đậu mùa, cúm, lao, sốt rét, dịch hạch, sởi và dịch tả – đều là những bệnh truyền nhiễm đã tiến hóa từ các căn bệnh ở loài vật, mặc dù thật nghịch lý rằng hầu hết các vi trùng gây bệnh truyền nhiễm ở người ngày nay đều chỉ gây bệnh cho người mà thôi. Bởi các căn bệnh từng là tác nhân giết người lớn nhất, cho nên chúng cũng đồng thời là những tác nhân có vai trò quyết định hình thành nên lịch sử. Cho đến Thế chiến Thứ hai, số người chết vì các vi trùng nảy sinh trong điều kiện chiến tranh cao hơn số người chết vì bị thương trong chiến đấu. Các sách sử nhà binh, vốn chuyên tán dương các vị tướng, rõ ràng là đã quá đơn giản hóa cái sự thật nhãn tiền này: kẻ thắng các cuộc chiến trong quá khứ không phải bao giờ cũng là các đạo quân có những vị tướng tài ba nhất và vũ khí hùng hậu nhất, mà chẳng qua chỉ là những đạo quân mang những thứ vi trùng độc hại nhất để lây nhiễm cho kẻ địch mà thôi.
Ví dụ tàn nhẫn nhất cho vai trò của vi trùng trong lịch sử là các cuộc chinh phục của người châu Âu đối với châu Mỹ, mà khởi đầu là chuyến hải hành của Columbus vào năm 1492. Dẫu số người châu Mỹ bản địa chết bởi tay các nhà chinh phục Tây Ban Nha tàn bạo là nhiều đến đâu đi nữa, con số đó chẳng thấm vào đâu so với số người chết bởi các loài vi trùng giết người có xuất xứ từ Tây Ban Nha. Tại sao sự trao đổi các giống vi trùng tàn hại giữa châu Mỹ và châu Âu lại bất cân bằng đến vậy? Tại sao các căn bệnh của người châu Mỹ bản địa đã không giết chết hầu hết quân xâm lược Tây Ban Nha, bành trướng ngược sang châu Âu và quét sạch 95% dân số châu Âu? Những câu hỏi tương tự cũng nảy sinh đối với trường hợp nhiều dân tộc bản địa khác đã bị giết gần hết bởi các loài vi trùng của lục địa Âu-Á, cũng như trường hợp những người châu Âu lẽ ra đã có thể chinh phục vùng nhiệt đới châu Phi và châu Á nhưng đã chết gần hết [trước khi kịp làm việc đó].
Như vậy, việc nhiều căn bệnh của con người có nguồn gốc từ động vật là nguyên nhân ẩn đằng sau những mẫu hình lớn của lịch sử loài người, cũng như đằng sau một số vấn đề quan trọng nhất về sức khỏe loài người ngày nay (Ta hãy nhớ lại AIDS, một căn bệnh đã bành trướng với tốc độ bùng nổ ở loài người mà hình như đã tiến hóa từ một virus cư trú ở loài khỉ hoang dã châu Phi). Chương này sẽ bắt đầu bằng việc xét xem “bệnh” là gì, và tại sao một số vi trùng đã tiến hóa sao cho “làm chính chúng ta, [con người] bị bệnh”, trong khi hầu hết các loài sinh vật khác không làm cho con người bệnh. Ta sẽ xét xem tại sao nhiều căn bệnh truyền nhiễm quen thuộc nhất với chúng ta lại lây lan thành dịch, chẳng hạn như đại dịch AIDS hiện nay và Cái chết Đen (dịch hạch) từng diễn ra vào thời Trung Cổ. Sau đó ta sẽ xét xem làm cách nào tổ tiên các loài vi trùng mà ngày nay chỉ gây bệnh cho người đã tự chuyển từ các vật chủ ban đầu là loài vật sang người. Cuối cùng, ta sẽ xem nếu chúng ta thấu hiểu rằng nhiều bệnh truyền nhiễm ở người có nguồn gốc từ loài vật, điều đó sẽ giúp ta ra sao trong việc giải thích về sự trao đổi vi trùng vốn đã diễn ra chớp nhoáng và hầu như một chiều giữa người châu Âu và người châu Mỹ bản địa.
Lẽ tự nhiên, chúng ta có xu hướng suy nghĩ về các căn bệnh từ quan điểm của chính mình: ta có thể làm gì để tự cứu mình và giết vi trùng? Hãy quét sạch những quân vô lại và đừng bao giờ thèm quan tâm xem động cơ của chúng là gì! Tuy nhiên, trong cuộc sống nói chung, có hiểu rõ kẻ thù thì mới hạ được kẻ thù, điều này đặc biệt đúng với ngành y.
Vì vậy ta hãy bắt đầu bằng cách tạm gác những thiên kiến của con người qua một bên mà hãy xét các căn bệnh từ quan điểm của vi trùng. Nói gì thì nói, vi trùng cũng là một sản phẩm của chọn lọc tự nhiên như chúng ta thôi. Khi gây bệnh cho chúng ta bằng những cách kỳ khôi, chẳng hạn như làm cơ quan sinh dục của chúng ta đau hoặc làm ta tiêu chảy, vi trùng được lợi lộc gì về phương diện tiến hóa? Và tại sao vi trùng cứ phải tiến hóa để có thể giết chết chúng ta? Câu hỏi sau này dường như đặc biệt khó hiểu và mâu thuẫn, bởi khi vi trùng giết chết vật chủ thì đồng thời nó cũng tự giết mình.
Về cơ bản, vi trùng tiến hóa cũng như mọi loài khác. Quá trình tiến hóa là để lựa chọn những cá thể nào có hiệu năng cao nhất trong việc sinh con đẻ cái và giúp con cái phát tán đến những nơi thích hợp nhất để sống. Đối với vi trùng, việc phát tán này có thể định nghĩa theo cách toán học là số lượng nạn nhân bị lây nhiễm mới từ mỗi bệnh nhân ban đầu. Con số này tùy ở chỗ mỗi nạn nhân có khả năng lây nhiễm cho các nạn nhân mới trong thời gian bao lâu, và vi trùng có thể chuyển từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác một cách hữu hiệu đến đâu.
Vi trùng đã sáng tạo ra nhiều cách đa dạng để phát tán từ người này sang người khác và từ loài vật sang người. Vi trùng nào phát tán giỏi hơn thì sinh con đẻ cái nhiều hơn và rốt cuộc là loài có ưu thế trong quá trình chọn lọc tự nhiên. Nhiều “triệu chứng” bệnh của chúng ta trên thực tế chỉ phản ánh việc một loài vi trùng chết dẫm khôn ngoan nào đó đang tiến hành điều chỉnh cơ thể hoặc hành vi của chúng ta sao cho chúng ta trở thành phương tiện phát tán vi trùng.
Cách nhẹ nhàng nhất để vi trùng có thể phát tán là cứ đợi đến khi được chuyển một cách thụ động sang nạn nhân kế tiếp. Đó là chiến lược được áp dụng bởi các vi trùng chuyên đợi cho vật chủ này bị vật chủ kế tiếp ăn thịt; chẳng hạn, khuẩn salmonella mà ta thường lây khi ăn trứng hay thịt đã bị nhiễm, loài giun gây bệnh giun xoắn thường lây từ lợn sang người bằng cách đợi đến khi con người giết lợn để ăn thịt mà không nấu kỹ; và loài sán gây bệnh sán tròn mà những người thích ăn món sushi của Nhật đôi khi mắc phải do ăn cá sống. Các loài ký sinh này chuyển từ một con vật bị ăn thịt sang người, nhưng loài virus gây bệnh cười (kuru) ở vùng cao New Guinea thì lại thường chuyển từ người sang người do tục ăn thịt người. Bệnh lây nhiễm khi trẻ con vùng này phạm sai lầm chí tử là liếm ngón tay mình sau khi nghịch mớ óc tươi mà mẹ chúng vừa cắt bỏ từ xác những người chết vì bệnh kuru đang chờ được nấu.
Một số vi trùng không đợi đến khi vật chủ cũ chết và bị ăn thịt, mà “quá giang” theo nước dãi của một con côn trùng vừa cắn vật chủ cũ xong thì bay đi tìm vật chủ mới. Cuộc quá giang không mất tiền này diễn ra nhờ phương tiện là muỗi, bọ chét, chấy rận hay ruồi tsetse, làm phát tán bệnh sốt rét, dịch hạch, sốt ban đỏ hay bệnh ngủ. Trong số những cách phát tán qua trung gian thụ động này, cách bẩn thỉu nhất là của những vi trùng chuyên xâm nhập vào bào thai của người đàn bà và lây nhiễm cho đứa trẻ ngay từ khi mới ra đời. Nhờ áp dụng trò láu cá này, các vi trùng gây bệnh giang mai, bệnh sởi Đức (rubella) và nay là bệnh AIDS đang gây ra những vấn đề nan giải về đạo đức mà những ai tin vào một vũ trụ dựa trên nền tảng sự công bằng đều đang phải vật lộn một cách tuyệt vọng hầu giải quyết nó.
Những vi trùng khác thì, nói một cách hình tượng, “tự tay” giải quyết vấn đề. Chúng làm thay đổi cấu trúc giải phẫu hoặc hành vi của vật chủ, sao cho có thể đẩy nhanh việc giúp chúng chuyển đổi vật chủ. Xét theo quan điểm của chúng ta, những cơn đau ở bộ phận sinh dục do các bệnh đường sinh dục như giang mai gây nên là một sự sỉ nhục đầy ghê tởm. Tuy nhiên, xét theo quan điểm của vi trùng, đó chẳng qua là một phương sách hữu ích nhằm buộc một vật chủ này giúp cấy vi trùng vào một lỗ mở trên cơ thể một vật chủ khác. Những tổn thương da do bệnh đậu mùa gây nên cũng làm phát tán vi trùng theo cách tương tự qua tiếp xúc cơ thể một cách gián tiếp hay trực tiếp (đôi lúc rất gián tiếp, chẳng hạn như khi người Mỹ da trắng, với quyết tâm quét sạch những người châu Mỹ bản địa “thù địch”, gửi làm quà cho đám người châu Mỹ kia những chiếc chăn từng được bệnh nhân đậu mùa sử dụng).
Còn dữ dội hơn thế là giải pháp được sử dụng bởi vi trùng bệnh cúm, bệnh cảm lạnh thường và bệnh ho gà, chúng buộc bệnh nhân ho hoặc hắt hơi, qua đó tung ra hàng đám vi trùng về phía những người có khả năng trở thành vật chủ mới. Tương tự, vi trùng dịch tả làm cho bệnh nhân tiêu chảy ồ ạt, qua đó phát tán vi trùng vào nguồn nước mà những người có thể trở thành vật chủ mới đang sử dụng, trong khi vi trùng gây bệnh sốt xuất huyết Triều Tiên thì tự phát tán theo đường nước tiểu chuột. Về khả năng làm biến đổi hành vi của vật chủ thì không gì địch nổi với vi trùng bệnh dại: loài này không chỉ chui vào nước dãi của chó bị nhiễm, mà còn buộc con chó đó lên cơn điên cắn lung tung và qua đó làm nhiều nạn nhân mới nhiễm bệnh theo. Song về khoản chịu khó vận động “tay chân” thì giải quán quân phải trao cho những loài như giun móc và sán máng, ấu trùng của loài này theo phân của vật chủ ra ngoài và sống trong trong nước hoặc dưới đất một thời gian, sau đó thì đào xuyên qua da mà xâm nhập vào vật chủ mới.
Như vậy, xét từ quan điểm của chúng ta thì đau cơ quan sinh dục, tiêu chảy và ho là những “triệu chứng bệnh”. Còn xét theo quan điểm của vi trùng, đó là những sách lược tiến hóa thông minh để chúng có thể phát tán. Chính vì vậy vi trùng mới quan tâm đến việc “làm cho con người phải bệnh”. Nhưng tại sao vi trùng lại tạo ra một chiến lược rõ ràng là tự hủy diệt chính mình khi nó giết chết vật chủ?
Từ quan điểm của vi trùng, chuyện đó chẳng qua chỉ là một sản phẩm phụ ngoài dự kiến (an ủi làm sao cho chúng ta!) của các triệu chứng ở vật chủ nhằm phát tán vi trùng sao cho hiệu quả. Phải, một bệnh nhân dịch tả nếu như không được chữa trị thì cuối cùng có thể sẽ chết vì tiêu chảy ồ ạt với tốc độ vài lít một ngày. Tuy nhiên, ít nhất là trong một thời gian ngắn khi bệnh nhân đó còn sống, vi trùng tả đã được hưởng lợi bởi chúng tha hồ phát tán vào nguồn nước của các bệnh nhân mới. Giả sử mỗi bệnh nhân lây nhiễm cho bình quân ít nhất một nạn nhân mới thì vi trùng vẫn phát tán được cho dù vật chủ đầu tiên chết đi chăng nữa.
Chúng ta khảo sát những mối quan tâm của vi trùng một cách khách quan không thiên kiến vậy là đủ rồi. Giờ chúng ta hãy quay lại những mối quan tâm vị kỷ của mình: sao cho ta luôn sống và khoẻ mạnh, bằng cách giết những con vi trùng chết dẫm. Một cách phản ứng thông thường của chúng ta khi bị lây nhiễm là lên cơn sốt. Một lần nữa, ta đã quá quen coi cơn sốt là “triệu chứng bệnh”, cứ như nó sinh ra vì đương nhiên phải có mà không nhằm phục vụ mục đích gì. Song sự điều tiết nhiệt độ cơ thể ta được kiểm soát bằng hệ di truyền chứ đâu có xảy ra một cách tình cờ. Vài loại vi trùng vốn nhạy cảm với cái nóng hơn so với cơ thể ta. Bằng cách nâng cao nhiệt độ cơ thể, thực ra chúng ta đang cố nung nóng cho chết lũ vi trùng kia trước khi chính mình bị nung đến chết.
Một cách phản ứng thông thường khác của chúng ta là huy động hệ miễn dịch. Bạch huyết cầu và các tế bào khác của chúng ta tích cực truy tìm và giết các vi trùng lạ. Các kháng thể cụ thể mà chúng ta dần dần tạo ra để chống lại một loại vi trùng cụ thể đang nhiễm vào ta sẽ giúp ta ít có khả năng bị nhiễm lại căn bệnh đó một khi đã được chữa lành. Tất cả chúng ta đều biết qua kinh nghiệm rằng có vài loại bệnh chẳng hạn như cúm và cảm lạnh thông thường, với chúng sự đề kháng của ta chỉ là tạm thời; ta có thể mắc lại các bệnh đó dễ dàng. Tuy nhiên, với các bệnh khác – như sởi, quai bị, rubella, bệnh ho gà và bệnh đậu mùa mà ngày nay ta đã đánh bại được – thì một khi đã bị nhiễm một lần và cơ thể đã tạo kháng thể, ta sẽ được miễn dịch suốt đời với bệnh đó. Ấy là nguyên lý của việc tiêm phòng: để kích thích cơ thể tạo kháng thể mà không phải thực sự nhiễm bệnh, người ta cấy vào bên trong ta một số vi trùng đã chết hoặc đã bị làm suy yếu.
Than ôi, một số vi trùng tinh khôn không chịu khuất phục cơ chế phòng thủ miễn dịch của chúng ta. Một số biết lừa chúng ta bằng cách biến đổi các mẩu phân tử của mình (cái gọi là kháng nguyên của chúng) mà kháng thể của chúng ta có thể nhận diện. Việc các dòng vi trùng cúm mới với những kháng nguyên khác nhau không ngừng tiến hóa hoặc xoay vòng chính là nguyên nhân tại sao dù bạn đã mắc bệnh cúm cách đây hai năm nhưng năm nay vẫn có thể lại mắc cũng bệnh đó với một dòng vi trùng khác. Sốt rét và bệnh ngủ là những thứ vi trùng còn ranh ma hơn trong khả năng nhanh chóng thay đổi kháng nguyên của mình. Láu cá nhất trong mọi thứ vi trùng là vi trùng bệnh AIDS, biết tạo ra những kháng nguyên mới ngay trong khi nó đang cư trú bên trong một bệnh nhân duy nhất nên rốt cuộc lấn át cả hệ miễn dịch của người đó.
Phản ứng phòng vệ chậm chạp nhất của chúng ta là thông qua chọn lọc tự nhiên, quá trình này làm thay đổi tần số kiểu gen của chúng ta từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đối với hầu hết các căn bệnh, một số người có khuynh hướng đề kháng tốt hơn nhờ di truyền so với những người khác. Khi xảy ra dịch, những người có gen đề kháng được với đúng loại vi trùng đó sẽ có khả năng sống sót cao hơn so với những người không có gen đó. Hệ quả là, trong quá trình lịch sử, những quần thể người thường xuyên phải tiếp xúc với một tác nhân gây bệnh nhất định rốt cuộc đều đi đến chỗ có một tỷ lệ cao những cá thể mang gen đề kháng với bệnh đó, đơn giản vì những cá thể nào chẳng may không có gen đó thì khó lòng sống sót đặng lưu truyền gen của mình cho con cái.
Nói thế chỉ là để an ủi phần nào thôi, chắc bạn lại nghĩ vậy. Cái phản ứng tiến hóa này chẳng hề mang lại điều tốt lành nào cho những cá thể phải chết vì dễ mắc bệnh do di truyền kia. Tuy nhiên, chính nhờ vậy mà một quần thể người với tư cách tổng thể sẽ trở nên đề kháng tốt hơn với tác nhân gây bệnh nọ. Có nhiều ví dụ về cơ chế phòng thủ mang tính di truyền này (dĩ nhiên là với một cái giá phải trả), ấy là gen tế bào lưỡi liềm mà nhờ nó người da đen châu Phi có thể đề kháng với bệnh sốt rét, gen Tay-Sachs giúp người Do Thái Ashkenazi [] chống lại bệnh lao, và gen xơ nang giúp người Bắc Âu đề kháng với bệnh tiêu chảy do vi trùng.
Nói ngắn gọn, sự tương tác của chúng ta với hầu hết các loài, chẳng hạn với loài chim ruồi, không hề khiến hoặc chúng ta hoặc chim ruồi bị “bệnh”. Cả chúng ta lẫn chim ruồi đều không phải tạo ra cơ chế phòng thủ đặng đối phó với nhau. Mối quan hệ hòa bình đó giữa chúng ta với chim ruồi sở dĩ tồn tại lâu dài được là nhờ chim ruồi không cần nhờ đến chúng ta để phát tán con cái chúng, hoặc không phải dùng cơ thể chúng ta làm thức ăn. Thay vì vậy chim ruồi đã tiến hóa theo hướng sống bằng mật hoa và sâu bọ, những thứ này chúng có thể tìm được bằng cách dùng đôi cánh của mình.
Nhưng vi trùng thì lại tiến hóa theo lối sống bằng dưỡng chất bên trong cơ thể chúng ta, chúng lại chẳng có cánh để có thể đến được cơ thể của một nạn nhân mới một khi nạn nhân ban đầu đã chết hoặc đề kháng được. Vì vậy, nhiều vi trùng đã phải chế ra nhiều mánh lới để có thể phát tán giữa những người có thể trở thành nạn nhân, và nhiều mánh lới trong số đó là những gì mà chúng ta cảm nhận như là “triệu chứng bệnh”. Chúng ta đã tạo ra những mánh lới của riêng mình để đối phó, rồi đến lượt mình vi trùng lại chế ra những mánh lới mới để chống lại các mánh lới của chúng ta. Chúng ta và các tác nhân gây bệnh của chúng ta giờ đây bị khóa chặt vào một cuộc ganh đua tiến hóa ngày một tăng cấp mà trong đó kẻ nào thua thì giá phải trả là cái chết, còn chọn lọc tự nhiên thì đóng vai trọng tài. Giờ ta hãy xét xem cuộc ganh đua này diễn ra dưới dạng nào: chiến tranh chớp nhoáng hay chiến tranh du kích?
Giả sử ta tính số trường hợp một căn bệnh truyền nhiễm cụ thể xảy ra ở một khu vực địa lý nhất định, rồi quan sát xem con số đó thay đổi thế nào qua thời gian. Chúng ta sẽ thấy mẫu hình thay đổi này khác nhau rất nhiều tùy từng căn bệnh. Đối với một số bệnh chẳng hạn như sốt rét hay giun kim thì tháng nào và năm nào cũng xuất hiện thêm những ca mới trong cùng một khu vực bị nhiễm. Tuy nhiên, những căn bệnh được gọi là truyền nhiễm thì không gây ra một ca nào trong suốt một thời gian dài, sau đó thì gây ra ồ ạt hàng loạt ca, sau đó lại không một ca nào trong suốt một thời gian.
Trong số các bệnh truyền nhiễm này, cúm là căn bệnh đặc biệt quen thuộc với hầu hết người Mỹ, từng có một số năm là những năm đặc biệt tồi tệ đối với người Mỹ (nhưng lại là những năm tuyệt vời đối với vi trùng cúm). Bệnh dịch tả thì xảy ra cách quãng dài hơn, trong đó trận dịch năm 1991 ở Peru là trận đầu tiên xảy ra ở Tân Thế giới trong suốt thế kỷ XX. Mặc dù các trận dịch cúm và dịch tả ngày nay đều là sự kiện được báo chí đăng lên trang nhất, song ngày xưa, khi y học hiện đại chưa xuất hiện thì các bệnh truyền nhiễm từng đáng sợ hơn thế rất nhiều. Trận dịch lớn nhất trong lịch sử loài người là trận dịch cúm đã giết chết 21 triệu người vào cuối Thế chiến Thứ nhất. Cái chết Đen (dịch đậu mùa) đã giết chết một phần tư dân số châu Âu từ năm 1342 đến năm 1352, ở một số thành phố tỷ lệ người chết lên đến 70%. Hồi tuyến đường sắt Thái Bình Dương của Canada đang được xây dựng ngang qua vùng Saskatchewan vào đầu thập niên 1880, những người châu Mỹ bản địa sống ở vùng đó, vốn trước kia chưa từng gặp người da trắng và các vi trùng của họ, đã chết như rạ vì bệnh lao với tỷ lệ không tin nổi là 9% một năm.
Các bệnh truyền nhiễm xảy ra với con người dưới dạng đại dịch chứ không phải đều đặn từng ít một thường đều có một số đặc tính chung. Trước hết, chúng phát tán nhanh chóng và hữu hiệu từ một người bị nhiễm sang những người khoẻ mạnh xung quanh, hậu quả là toàn bộ quần thể đều bị nhiễm trong một thời gian ngắn. Thứ hai, chúng là những bệnh “cấp tính”, nghĩa là, trong một thời gian ngắn, bệnh nhân hoặc chết hoặc bình phục hoàn toàn. Thứ ba, những ai may mắn trong chúng ta hồi phục được thì sẽ có kháng thể giúp miễn dịch với bệnh đó trong một thời gian dài, có thể là trong suốt phần đời còn lại của ta. Cuối cùng, các bệnh này có xu hướng chỉ xảy ra cho người; các vi trùng gây những bệnh này có xu hướng không sống trong đất hoặc trong các con vật khác. Cả bốn đặc tính này đều đúng với những căn bệnh truyền nhiễm quen thuộc thời thơ ấu đối với người Mỹ như sởi, rubella, quai bị, ho gà và đậu mùa.
Cũng dễ hiểu tại sao bốn đặc tính này hợp lại làm cho một căn bệnh nào đó có xu hướng xảy ra thành dịch. Vi trùng phát tán nhanh và triệu chứng diễn ra nhanh khiến cho tất cả mọi người trong một quần thể người cục bộ nhanh chóng bị lây nhiễm và chẳng bao lâu sau hoặc sẽ chết hoặc sẽ phục hồi và trở nên miễn dịch. Chẳng ai còn sống sót mà lại có thể bị tái nhiễm cả. Nhưng bởi vi trùng không thể sống ở đâu khác ngoài cơ thể những người sống cho nên căn bệnh biến đi, cho đến khi một lứa con cái mới của loài người đạt tới độ tuổi có thể nhiễm bệnh và cho đến khi một người bị lây nhiễm đến từ bên ngoài mang theo mầm bệnh để khởi đầu một trận dịch mới.
Một ví dụ minh họa kinh điển cho những căn bệnh xảy ra thành dịch là lịch sử bệnh sởi trên các đảo biệt lập ở Đại Tây Dương gọi là quần đảo Faeroes. Một trận dịch sởi nghiêm trọng đã lan sang quần đảo Faeroes vào năm 1781 rồi biến mất dần, sau đó quần đảo này không bị dịch sởi lại lần nào nữa cho đến khi một tay thợ làm thảm bị nhiễm bệnh trên một con tàu từ Đan Mạch đặt chân lên quần đảo vào năm 1846. Chỉ trong vòng ba tháng, hầu như toàn bộ cư dân Faeroes (7.782 người) đã mắc bệnh sởi, người thì chết kẻ thì hồi phục, sau đó vi trùng sởi lại biến mất cho đến khi trận dịch kế tiếp bùng ra. Nghiên cứu cho thấy sởi có xu hướng biến mất dần ở bất cứ quần thể người nào có dân số dưới nửa triệu người. Chỉ trong một quần thể đông hơn, bệnh mới có thể chuyển từ khu vực này sang khu vực khác nhờ vậy mà tồn tại dai dẳng cho đến khi có đủ trẻ con ra đời ở khu vực bị nhiễm đầu tiên để bệnh có thể lại quay về khu vực đó.
Những gì đúng đối với bệnh sởi ở Faeroes thì cũng đúng với bất cứ căn bệnh truyền nhiễm cấp tính quen thuộc nào ở bất cứ đâu trên thế giới. Để có thể tồn tại được, chúng cần một quần thể người đủ đông và mật độ đủ cao để ngay tại thời điểm lẽ ra bệnh đã bắt đầu suy yếu thì đã có sẵn một lứa trẻ em dễ lây nhiễm mới. Vì vậy, bệnh sởi và các bệnh tương tự còn được gọi là những căn bệnh của đám đông.
Hiển nhiên, các bệnh của đám đông không thể tự mình tồn tại ở những bộ lạc săn bắt hái lượm và những quần thể làm nông theo lốt đốt rừng làm rẫy. Như những chuyện bi thảm từng xảy ra với người Anh-điêng vùng Amazonia và dân đảo Thái Bình Dương ngay ở thời nay xác nhận, hầu như toàn bộ một bộ lạc có thể bị quét sạch vì một trận dịch do một người lạ từ bên ngoài đến, bởi không ai trong bộ lạc đó có sẵn kháng thể chống lại vi trùng kia. Chẳng hạn, vào mùa đông năm 1902, một trận dịch kiết lỵ do một thủy thủ trên con tàu đánh cá Active mang lại đã giết chết 51 trong số 56 người Eskimo Sadlermiut, một bộ tộc người sống rất biệt lập trên đảo Southampton ở vùng Bắc cực của Canada. Ngoài ra, sởi và một số “bệnh của đám đông” khác có xu hướng giết chết những người lớn nhiễm bệnh hơn là trẻ em, thế mà tất cả người lớn trong bộ tộc đó đều nhiễm bệnh. (Ngược lại, người châu Mỹ hiện đại hiếm khi nhiễm bệnh sởi nếu là người lớn bởi hầu hết hoặc đã từng mắc bệnh sởi hoặc đã được tiêm vắc-xin sởi khi còn nhỏ). Sau khi giết chết hầu hết người dân trong bộ lạc, trận dịch biến mất. Dân số ít ỏi của các bộ lạc không chỉ là nguyên nhân tại sao [các quần thể người ấy] không thể duy trì các trận dịch từ bên ngoài đến trong một thời gian dài, mà còn là nguyên nhân tại sao họ không bao giờ có khả năng tự tạo ra những căn bệnh truyền nhiễm của chính mình đặng lây nhiễm trở lại cho những kẻ từ xa đến.
Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là những quần thể ít người chẳng bao giờ mắc bất cứ bệnh truyền nhiễm nào. Họ cũng bị lây nhiễm, song chỉ nhiễm một số căn bệnh nhất định. Một số được gây ra bởi những vi trùng có khả năng sống trong các loài vật hoặc trong đất, hệ quả là bệnh không biến mất mà vẫn thường xuyên có khả năng nhiễm cho người. Chẳng hạn, virus bệnh sốt hoàng nhiệt được mang trong mình các con khỉ hoang châu Phi, chính vì vậy nó luôn luôn có thể lây cho các quần thể người sống ở nông thôn tại châu Phi, từ đó chúng được mang theo những con tàu buôn nô lệ xuyên đại dương mà lây nhiễm cho khỉ và người ở Tân Thế giới.
Lại có những căn bệnh truyền nhiễm khác lây cho các cộng đồng ít người, ấy là những bệnh kinh niên như bệnh phong và bệnh ghẻ cóc. Do bệnh phải mất thời gian rất lâu mới giết chết người bệnh nên người bệnh vẫn sống như một kho chứa vi trùng mà lây nhiễm cho các thành viên khác trong bộ lạc. Chẳng hạn, vùng Karimui Basim ở vùng cao nguyên New Guinea nơi tôi làm việc vào thập niên 1960 có một cộng đồng dân cư biệt lập chỉ có mấy ngàn người sinh sống, nhóm người này có tỷ lệ mắc bệnh phong cao nhất thế giới – khoảng 40%! Cuối cùng, các cộng đồng ít người cũng dễ mắc những bệnh truyền nhiễm không gây chết người mà chúng ta chưa được miễn dịch, hậu quả là cùng một người có thể bị nhiễm lại sau khi đã phục hồi. Đó là trường hợp bệnh giun chỉ và nhiều bệnh ký sinh khác.
Tất cả các căn bệnh đó, đặc trưng cho các quần thể nhỏ sống biệt lập, ắt phải là những căn bệnh lâu đời nhất của loài người. Đó là những căn bệnh mà chúng ta đã có thể tạo ra và duy trì trong suốt những triệu năm đầu tiên trong lịch sử tiến hóa của chúng ta, khi toàn bộ dân số loài người hãy còn ít ỏi và sống manh mún. Những căn bệnh đó cũng đồng thời là hoặc tương tự với những căn bệnh của họ hàng gần gũi nhất của chúng ta là loài đười ươi lớn châu Phi. Ngược lại, các căn bệnh của đám đông, mà chúng ta đã nói tới trên đây, chỉ có thể phát sinh cùng với sự hình thành những quần thể người đông đúc, dày đặc. Sự hình thành đó khởi đầu cùng với sự xuất hiện nền nông nghiệp vào khoảng 10.000 năm trước, sau đó thì tăng tốc cùng với sự ra đời các thành thị vào mấy ngàn năm trước. Trên thực tế, niên đại sớm nhất được kiểm chứng của nhiều căn bệnh truyền nhiễm quen thuộc đều gần ngày nay đến độ đáng kinh ngạc: khoảng 1.600 năm TCN với bệnh đậu mùa (suy ra từ những vết sẹo trên da một xác ướp Ai Cập), 400 năm TCN với bệnh quai bị, 200 năm TCN với bệnh phong, năm 1840 với bệnh bại liệt và năm 1959 đối với AIDS.
Tại sao việc phát sinh nền nông nghiệp lại kích thích sự hình thành các bệnh truyền nhiễm lây lan trong đám đông ở loài người? Một nguyên nhân vừa được kể trên đây, đó là nhờ có nông nghiệp cho nên mới có những quần thể người đông đúc với mật độ cao hơn nhiều so với thời săn bắt hái lượm – bình quân cao hơn từ 10 đến 100 lần. Ngoài ra, những người săn bắt hái lượm thường xuyên di chuyển, để lại sau lưng mình những đống phân tích tụ đầy vi trùng và ấu trùng giun sán. Nhưng các nhà nông thì định cư và sống ngay giữa rác thải của chính mình, do vậy vi trùng chỉ cần di chuyển một quãng ngắn là có thể đi từ cơ thể người này sang nước uống của người kia.
Một số quần thể làm nông nghiệp còn [vô tình] giúp cho vi trùng và giun sán của chính mình dễ dàng phát tán sang các nạn nhân khác hơn nữa bởi thói quen dùng phân và nước tiểu làm phân bón, rải đầy lên các cánh đồng nơi mọi người làm việc. Nền nông nghiệp tưới tiêu và nghề nuôi cá mang lại điều kiện sinh sống lý tưởng cho những con ốc mang mầm bệnh sán máng và những con sán lá gan chuyên đào xuyên qua da chân con người khi họ lội qua vũng nước chứa đầy phân. Các nhà nông định cư dần dà không chỉ sống giữa phân của chính mình mà còn giữa các loài gặm nhấm mang mầm bệnh vốn nghe mùi lương thực dự trữ mà mò đến. Những chỗ phát quang rừng của các nhà nông châu Phi cũng là môi trường sinh sản lý tưởng cho loài muỗi mang mầm bệnh sốt rét.
Nếu việc ra đời nghề nông đã là cơ hội tốt cho các vi trùng của chúng ta, thì việc ra đời các thành thị lại càng là cơ hội tốt hơn gấp bội, bởi lại có thể những quần thể người sống ken dày hơn nữa và dung dưỡng những điều kiện vệ sinh còn tồi hơn nữa. Mãi đến đầu thế kỷ 20 dân cư đô thị châu Âu rốt cuộc mới trở nên tự ổn định, còn trước đó những dòng di cư liên tục của các nông dân khỏe mạnh từ thôn quê lên thành thị là cần thiết để bù cho việc cư dân thành phố thường xuyên chết vì các căn bệnh của đám đông. Một cơ hội tốt nữa cho vi trùng là sự xuất hiện những con đường thương mại quốc tế mà vào thời đế quốc La Mã đã nối liền một cách hữu hiệu các quần thể dân cư của châu Âu, châu Á và Bắc Phi làm hình thành một cơ sở sinh sản khổng lồ cho các loại vi trùng. Đó chính là lúc bệnh đậu mùa rốt cuộc cũng bén đến La Mã, cái gọi là Trận dịch Antoninus từng giết chết hàng triệu công dân La Mã trong khoảng từ năm 165 đến năm 180.
Tương tự, bệnh dịch hạch xuất hiện đầu tiên ở châu Âu với tên gọi Trận dịch Justinian (542-543). Song mãi đến đại dịch Cái chết Đen năm 1346 thì dịch hạch mới ập xuống châu Âu với toàn bộ sức mạnh, khi một con đường thương mại mới trên đường bộ với Trung Hoa cho phép những bộ lông thú chứa đầy rận nhiễm bệnh từ các vùng bị dịch hoành hành ở Trung Á đi dọc theo trục đông-tây của Âu-Á mà đến châu Âu. Ngày nay, nhờ máy bay phản lực mà thậm chí những chuyến bay xuyên lục địa dài nhất cũng hóa ra ngắn hơn thời gian tồn tại của bất cứ căn bệnh truyền nhiễm nào ở loài người. Chính vì vậy mà một chiếc máy bay của hãng Aerolineas Argentina, khi dừng cánh ở Lima (thủ đô Peru) vào năm 1991 đã cho phép hàng chục người nhiễm bệnh tả cũng trong ngày hôm đó bay sang tận thành phố Los Angeles nơi tôi ở, cách Lima những 3.000 km. Sự bùng nổ việc người Mỹ du lịch khắp thế giới, cùng với sự bùng nổ các dòng người di cư đến Mỹ, đang khiến nước Mỹ biến thành một chốn tụ cư mới, lần này [không phải của các chủng người khác nhau mà] là của các loại vi trùng mà trước đây người Mỹ vẫn cho rằng chỉ gây ra những căn bệnh lạ lẫm tận những xứ xa xôi nào đó.
Như vậy, khi dân số loài người trở nên đủ đông và đủ tập trung, chúng ta đạt đến một giai đoạn trong lịch sử khi mà rốt cuộc chúng ta có thể làm hình thành và duy trì những căn bệnh của đám đông vốn chỉ giới hạn trong loài của chúng ta. Song kết luận đó lại đưa đến một nghịch lý: trước đó thì những căn bệnh kia chưa hề tồn tại! Chúng đã phải phát sinh như những căn bệnh hoàn toàn mới. Vậy thì những căn bệnh mới kia từ đâu ra mới được?
Gần đây người ta dần dần tìm ra bằng chứng nhờ tiến hành nghiên cứu phân tử về bản thân các vi trùng gây bệnh. Đối với nhiều loại vi trùng gây những căn bệnh đặc thù ở chúng ta, các nhà sinh học phân tử giờ đây có thể xác định những họ hàng gần gũi nhất của con vi trùng. Các họ hàng đó cũng được chứng minh là tác nhân gây các bệnh truyền nhiễm của đám đông, song là những bệnh chỉ giới hạn ở một số loài gia súc và thú nuôi của chúng ta! Cả ở loài vật cũng vậy, các bệnh truyền nhiễm đòi hỏi phải có những quần thể lớn, mật độ dày đặc, và không phải bất cứ con nào cũng bị: các bệnh này xảy ra chủ yếu ở các loài sống theo bầy nên có những quần thể đủ lớn. Vì vậy, khi chúng ta đã thuần hóa những loài vật sống theo bầy như bò và lợn thì chúng đã nhiễm sẵn những căn bệnh truyền nhiễm chỉ chờ cơ hội để lây sang người.
Chẳng hạn, virus sởi có họ hàng gần nhất với virus gây bệnh rinderpest. Căn bệnh truyền nhiễm tệ hại này tấn công bò và nhiều loài hữu nhũ nhai lại khác nhưng không tấn công người. Đến lượt mình, sởi lại không tấn công bò. Sự tương cận giữa virus sởi với virus gây bệnh rinderpest gợi ý rằng loài sau đã chuyển từ bò sang người, sau đó thì tiến hóa thành virus sởi bằng cách thay đổi các thuộc tính của nó để thích nghi với chúng ta. Sự chuyển vị đó hoàn toàn chẳng có gì lạ nếu ta nhớ lại rằng nhiều nông dân sống và ngủ ngay bên cạnh bò và phân, nước tiểu, hơi thở, những chỗ đau và máu của chúng. Sự thân thiết của chúng ta với loài bò đã kéo dài suốt 9.000 năm từ khi chúng ta thuần hóa chúng – quá đủ thời gian để virus gây bệnh rinderpest phát hiện ra con người ở ngay bên cạnh chúng. Như minh họa ở Bảng 11.1, các bệnh truyền nhiễm quen thuộc khác của loài người cũng có thể truy nguyên nguồn gốc về những căn bệnh ở các loài vật gần gũi với chúng ta.
Cứ xét theo chỗ chúng ta gần gụi thế nào với những loài vật chúng ta yêu thì ắt hẳn chúng ta thường xuyên bị giội bom bởi các loại vi trùng của chúng. Những kẻ xâm lược đó được sàng lọc dần qua chọn lọc tự nhiên, chỉ một số ít trong đó thành công trong việc tự biến mình thành mầm gây bệnh ở người. Một sự khảo sát nhanh các căn bệnh hiện nay sẽ cho phép ta lần theo bốn giai đoạn tiến hóa để một căn bệnh ở loài vật trở thành một căn bệnh chỉ có ở người.
Giai đoạn thứ nhất được minh họa bởi hàng tá căn bệnh mà thỉnh thoảng ta vẫn lây trực tiếp từ các loài gia súc và thú nuôi trong nhà. Đó là các bệnh sốt do mèo cào lây từ mèo, bệnh trùng xoắn móc câu (leptospirosis) lây từ chó, bệnh virus vẹt (psittacosis) lây từ gà và vẹt, bệnh brucellosis lây từ bò. Tương tự, chúng ta cũng có thể lây bệnh từ các loài thú hoang như bệnh sốt thỏ (tularemia) mà các thợ săn có thể bị nhiễm khi lột da thỏ hoang. Tất cả các vi trùng đó hãy còn ở giai đoạn đầu của sự tiến hóa thành tác nhân chỉ gây bệnh ở người. Chúng hãy còn chưa phát tán trực tiếp từ người này sang người khác, và thậm chí việc lây từ thú sang người cũng còn chưa phổ biến.
Bảng 11.1: Những tặng phẩm chết người từ các loài vật bạn của chúng ta

Bệnh ở người

Con vật mang tác nhân gây bệnh gần gũi nhất

Sởi

bò (bệnh rinderpest)

Lao

Đậu mùa

bò (bệnh đậu mùa ở loài vật) hoặc loài gia súc khác mang virus đậu mùa có liên quan

Cúm

lợn và vịt

Ho gà

lợn, chó

Sốt rét

chim (gà và vịt?)

Ở giai đoạn thứ hai, một tác nhân gây bệnh vốn chỉ ở loài vật đã tiến hóa đến mức có thể lây trực tiếp từ người sang người và gây ra dịch. Tuy nhiên, dịch này biến mất dần vì một trong nhiều nguyên nhân, như là bệnh bị chữa khỏi bởi các loại thuốc hiện đại hoặc khi tất cả mọi người xung quanh đã bị nhiễm rồi cho nên hoặc đã trở nên miễn dịch hoặc đã chết. Chẳng hạn, một chứng bệnh sốt mà trước kia người ta chưa biết có tên gọi là O’nyong-nyong đã xuất hiện ở Tây Phi vào năm 1959 và lây cho hàng mấy triệu người châu Phi. Bệnh này có lẽ phát sinh từ một loài virus ở khỉ và lây sang người qua muỗi. Việc các bệnh nhân nhanh chóng khỏi bệnh và trở nên miễn dịch khiến cho căn bệnh mới nhanh chóng biến mất. Gần gũi hơn với người Mỹ là chứng “sốt Fort Bragg”, cái tên được đặt cho một căn bệnh trùng xoắn móc câu mới bùng phát ở Hoa Kỳ vào mùa hè năm 1942 và nhanh chóng biến mất.
Một căn bệnh chết người biến mất vì nguyên nhân khác là bệnh cười ở New Guinea, lây nhiễm vì tục ăn thịt người và do một loài virus hoạt động chậm gây ra, bệnh này chưa có ai khỏi được. Kuru (tên bệnh này) đang trên đường tiêu diệt hoàn toàn bộ lạc Foré gồm 20.000 người ở New Guinea cho tới khi chính phủ Úc thiết lập quyền kiểm soát vùng này vào khoảng năm 1959 khiến cho tục ăn thịt người chấm dứt và do đó việc lan truyền bệnh kuru cũng chấm dứt theo. Y văn thế giới đầy rẫy những tường trình về các căn bệnh thoạt nghe chẳng giống gì với những căn bệnh quen thuộc ngày nay nhưng đã từng có lúc gây ra những trận dịch khủng khiếp rồi biến mất cũng một cách bí ẩn như khi xuất hiện. “Bệnh vã mồ hôi Anh quốc”, vốn từng quét qua châu Âu từ năm 1485 đến năm 1552 làm cả châu lục này khiếp đảm, và bệnh “mồ hôi Picardie” ở Pháp vào thế kỷ XVIII và XIX chỉ là hai trong nhiều căn bệnh truyền nhiễm đã biến mất từ lâu trước khi y học phát minh ra được các phương pháp xác định vi trùng gây bệnh.
Tiêu biểu cho giai đoạn thứ ba trong sự tiến hóa của các căn bệnh chính ở người là các tác nhân gây bệnh vốn chỉ giới hạn ở loài vật nhưng nay đã trở thành bệnh chỉ có ở người, không (hoặc chưa?) biến mất, và vẫn còn có thể trở thành tác nhân chính gây tử vong ở người song cũng có thể không. Tương lai vẫn còn rất chưa rõ ràng đối với bệnh sốt Lassa gây ra bởi một virus có lẽ phát sinh từ các loài gặm nhấm. Sốt Lassa được phát hiện lần đầu vào năm 1969 ở Nigeria, nơi nó gây ra một căn bệnh chết người có sức lây lan đáng sợ đến nỗi dù chỉ một ca duy nhất xuất hiện cũng đủ để các bệnh viện ở Nigeria phải đóng cửa. Tiến hóa xa hơn thế là bệnh Lyme gây ra bởi một loài xoắn khuẩn mà chúng ta nhiễm phải khi bị cắn bởi những con ve sống trên mình chuột và hươu. Mặc dù những ca đầu tiên được biết đến ở người tại Hoa Kỳ chỉ mới xuất hiện vào năm 1962 song bệnh Lume đã đạt tới quy mô dịch ở nhiều vùng của đất nước này. Tương lai của bệnh AIDS vốn có nguồn gốc từ virus ở khỉ và được ghi nhận lần đầu tiên ở người vào khoảng năm 1959 lại còn vững chắc hơn thế nữa (nhìn từ góc độ con virus).
Tiêu biểu cho giai đoạn cuối cùng trong sự tiến hóa này là những căn bệnh truyền nhiễm chính mà từ lâu đã định hình là chỉ xảy ra ở người. Những căn bệnh này ắt hẳn là những kẻ cuối cùng sống sót sau cuộc tiến hóa từ chỗ tác nhân gây bệnh của loài vật sang người, trong khi hầu hết các ứng viên khác đều đã thất bại.
Những gì thực sự diễn ra trong các giai đoạn đó, khi một căn bệnh chỉ xảy ra ở loài vật tự chuyển hóa thành một căn bệnh chỉ xảy ra ở người? Một trong những sự chuyển hóa đó là thay đổi vật chủ trung gian trực tiếp: khi một vi trùng đã thích nghi với việc phát tán nhờ vật chủ trung gian là một loài động vật chân đốt thì, lúc chuyển sang vật chủ mới, nó có thể cũng buộc phải tìm một vật chủ trung gian mới. Chẳng hạn, bệnh sốt phát ban thoạt tiên chỉ lây nhiễm giữa những con chuột qua trung gian là bọ chét sống trên mình chuột, thế rồi chính con bọ chét này cũng đủ để phát tán bệnh từ chuột sang người trong một thời gian. Cuối cùng, virus bệnh sốt phát ban khám phá ra rằng con rận sống trên cơ thể người là một phương pháp hữu hiệu hơn nhiều để chúng có thể di chuyển trực tiếp từ người này sang người khác. Ngày nay khi hầu hết người Mỹ không còn rận trên người nữa, bệnh sốt phát ban lại tìm ra một con đường mới để xâm nhập chúng ta: chúng nhiễm vào những con sóc bay ở miền đông Bắc Mỹ, sau đó thì nhiễm vào những người mà gác xép nhà họ là nơi ở cho loài sóc bay.
Nói ngắn gọn, những căn bệnh tiêu biểu cho một quá trình tiến hóa đang diễn tiến, và vi trùng thích nghi qua chọn lọc tự nhiên với các vật chủ và vật chủ trung gian mới. Nhưng, so sánh với cơ thể bò, cơ thể chúng ta có những hệ phòng thủ miễn dịch khác, những loài rận khác, phân và thành phần hóa học cũng khác. Trong môi trường mới đó vi trùng phải tạo ra những cách mới để sống còn và tự phát tán. Trong một số trường hợp tiêu biểu, các bác sĩ hay bác sĩ thú y đã thực sự có cơ hội quan sát vi trùng tạo ra những cách mới này.
Những ca được nghiên cứu kỹ nhất là khi bệnh u nhầy (myxomatosis) nhiễm vào loài thỏ châu Úc. Người ta đã quan sát được con virus gây bệnh này, vốn cư trú ở một giống thỏ hoang tại Braxin, gây một trận dịch tàn hại ở loài thỏ nhà tại châu Âu vốn là một loài khác hẳn. Thế là con virus này được cố tình đưa sang Úc vào năm 1950 với hy vọng sẽ tiệt trừ được loài thỏ châu Âu mà người ta đã trót dại mang đến Úc vào thế kỷ XIX và giờ đây đã sinh sôi nảy nở tràn lan ở lục địa này. Trong năm đầu tiên bệnh u nhầy đã giết chết 99,8% số thỏ bị nhiễm, làm hài lòng các bác nông dân Úc. Nhưng thật chẳng may cho các nông dân, sang năm thứ hai thì tử suất ở thỏ tụt xuống còn 90% và cuối cùng còn vỏn vẹn 25%, khiến người ta chẳng còn hy vọng gì diệt sạch được giống thỏ này ra khỏi Úc. Vấn đề ở chỗ con virus gây bệnh này đã tiến hóa theo hướng đáp ứng quyền lợi của chính nó, mà quyền lợi đó khác với quyền lợi của chúng ta cũng như của loài thỏ. Con virus đã thay đổi theo hướng giết chết ít thỏ hơn và cho phép những con thỏ bị nhiễm sống được lâu hơn trước khi chết. Kết quả là, nhờ ít gây chết chóc hơn, virus có thể phát tán ra nhiều con thỏ hơn so với căn bệnh nguyên thủy vốn độc hại hơn, gây chết nhiều hơn.
Muốn xem một ví dụ tương tự ở người, chúng ta chỉ cần xét sự tiến hóa đáng ngạc nhiên của bệnh giang mai. Ngày nay, hai căn bệnh có liên quan trực tiếp với giang mai là đau cơ quan sinh dục (genital sores) và một căn bệnh tiến triển rất chậm, nhiều bệnh nhân bị mắc bệnh nếu không được chữa trị cũng phải sau nhiều năm mới chết. Tuy nhiên, khi giang mai được ghi nhận chắc chắn lần đầu tiên tại châu Âu vào năm 1495, các mụn mủ của bệnh thường phủ kín người nạn nhân từ đầu xuống tận gối, làm thịt rơi khỏi mặt nạn nhân và dẫn đến cái chết trong vòng vài tháng. Đến năm 1546, giang mai đã tiến hóa thành căn bệnh với những triệu chứng mà tất cả chúng ta đều biết ngày nay. Rõ ràng là, cũng như với bệnh u nhầy, vi khuẩn giang mai nhờ tiến hóa theo hướng giữ cho nạn nhân lâu chết hơn nên có thể phát tán con cái mình sang nhiều nạn nhân khác hơn.
Tầm quan trọng của các vi trùng gây chết người trong lịch sử nhân loại được minh họa rõ ràng qua việc người châu Âu chinh phục và làm chết hầu hết cư dân ở Tân Thế giới. Số người châu Mỹ bản địa chết trên giường vì các vi trùng của Âu-Á cao hơn rất nhiều so với số người chết trên chiến trường vì súng và gươm của người Âu. Các vi trùng này đã xói mòn sức kháng cự của người Anh-điêng bằng cách giết chết gần hết người Anh-điêng cùng các lãnh tụ của họ và khiến những người sống sót nhụt hết nhuệ khí. Chẳng hạn, vào năm 1519 Cortés đổ bộ lên bờ biển Mexico cùng 600 người Tây Ban Nha để chinh phục đế quốc Aztec với dân số nhiều triệu người và một đội quân hùng mạnh. Việc Cortés đến được thủ đô Tenochtitlán của đế quốc Aztec, sau đó thoát được mà “chỉ” mất hai phần ba lực lượng của mình và lại mở được đường máu quay về bờ biển minh họa cho cả ưu thế quân sự của người Tây Ban Nha lẫn sự ngây thơ ban đầu của người Aztec. Nhưng khi Cortés tấn công ác liệt lần thứ hai, người Aztec không còn ngây thơ nữa mà chiến đấu hết sức ngoan cường để giữ từ con phố này sang con phố khác. Cái giúp cho người Tây Ban Nha có ưu thế quyết định chính là bệnh đậu mùa vốn đã đổ bộ sang Mexico vào năm 1520 cùng với một nô lệ bị nhiễm bệnh đến từ Cuba thuộc Tây Ban Nha. Trận dịch từ đó sinh ra đã giết chết gần một nửa dân số Aztec trong đó có cả Hoàng đế Cuitláhuac. Những người Aztec sống sót thì mất hết tinh thần trước căn bệnh bí hiểm đã giết chết bao nhiêu người Aztec nhưng lại không đụng đến người Tây Ban Nha, cứ như là quảng bá cho sự bách chiến bách thắng của người Tây Ban Nha vậy. Dân số Mexico ban đầu là 20 triệu, đến năm 1618 đã tụt hẳn xuống còn vỏn vẹn 1,6 triệu người.
Tương tự, Pizarro cũng đã gặp may khi đổ bộ lên bờ biển Peru vào năm 1531 với 168 thuộc hạ để chinh phục đế quốc Inca đông tới hàng triệu người. May cho Pizarro và thật không may cho người Inca, bệnh đậu mùa đã lan đến xứ này bằng đường bộ từ khoảng năm 1526, giết chết hầu hết dân số Inca kể cả Hoàng đế Huayna Capac và người được chỉ định kế vị ông ta. Như ta đã thấy ở Chương 3, việc ngai vàng bị bỏ trống đã đưa tới hậu quả là Atahualpa và Huascar, hai con trai khác của Huayna Capac, gây cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn và Pizarro chỉ việc lợi dụng để chinh phục xứ Inca vốn đã bị chia rẽ.
Nói đến những xã hội đông dân nhất ở Tân Thế giới vào năm 1492, chúng ta có xu hướng chỉ nghĩ đến người Aztec và người Inca. Chúng ta quên rằng Bắc Mỹ cũng từng là nơi có những xã hội Anh-điêng đông đúc ở chính nơi hợp lý nhất là thung lũng sông Missisippi, một trong những vùng nông nghiệp trù phú nhất của Hoa Kỳ ngày nay. Tuy nhiên, trong trường hợp Bắc Mỹ, các nhà chinh phục người châu Âu đã không hề góp phần trực tiếp vào việc hủy diệt các xã hội đó, mà chính các vi trùng Âu-Á – vốn bành trướng đến đó trước con người – đã làm tất cả. Khi Hernando de Soto trở thành nhà chinh phục người châu Âu đầu tiên hành quân ngang qua vùng đông nam Hoa Kỳ vào năm 1540, ông đã đi qua những thành thị của người Anh-điêng bị bỏ hoang từ hai năm trước đó bởi dân cư đã chết sạch vì bệnh dịch. Những trận dịch đó đã lây lan từ những người Anh-điêng vùng duyên hải bị nhiễm bệnh bởi những người Tây Ban Nha đặt chân lên bờ biển. Các vi trùng của người Tây Ban Nha phát tán vào nội địa nhanh hơn bản thân người Tây Ban Nha.
De Soto vẫn có cơ hội nhìn thấy một số thành thị Anh-điêng có dân cư đông đúc dọc theo vùng hạ lưu Missisippi. Sau khi cuộc hành quân của ông kết thúc, phải mất một thời gian dài sau đó người châu Âu mới lại đặt chân đến thung lũng Missisippi, nhưng các vi trùng Âu-Á giờ đã chắc chân ở Bắc Mỹ và tiếp tục phát tán. Đến khi người châu Âu tái xuất hiện ở vùng hạ lưu Missisippi, ấy là khi người Pháp đến định cư vào cuối thập niên 1600, hầu như tất cả các thành thị lớn của người Anh-điêng đã biến mất. Vết tích còn lại của chúng là các di chỉ gò đống lớn ở thung lũng Missisippi. Chỉ gần đây người ta mới vỡ lẽ rằng nhiều xã hội trong số các xã hội từng xây các gò đống đó nói chung vẫn còn nguyên vẹn khi Columbus đặt chân đến Tân Thế giới, và các xã hội đó đã sụp đổ (có lẽ vì bệnh tật) trong khoảng từ năm 1492 đến khi người châu Âu khai phá vùng Missisippi một cách có hệ thống.
Hồi tôi còn trẻ, người ta vẫn dạy trẻ con Mỹ rằng ngày xưa Bắc Mỹ vốn chỉ có chừng một triệu người Anh-điêng sinh sống. Con số nhỏ nhoi này có ích trong việc biện minh rằng hồi xưa khi người da trắng chinh phục châu Mỹ thì thật ra vùng này chỉ coi như một lục địa không người ở mà thôi. Tuy nhiên, các khai quật khảo cổ, cùng với các nghiên cứu kỹ lưỡng những mô tả của chính các nhà thám hiểm châu Âu đầu tiên đặt chân lên bờ biển Hoa Kỳ đã cho ta thấy, thật ra Bắc Mỹ vốn từng có đến khoảng 20 triệu người Anh-điêng. Nếu tính chung toàn bộ Tân Thế giới thì trong vòng một, hai thế kỷ sau khi Columbus đặt chân đến đây, dân số người Anh-điêng đã sụt giảm những 95%.
Tác nhân giết người chính là các vi trùng của Cựu Thế giới mà người Anh-điêng chưa bao giờ tiếp xúc nên chưa hề được miễn dịch cũng không hề có kháng thể di truyền. Đậu mùa, sởi, cúm và sốt phát ban tranh nhau vị trí đầu bảng trong những tác nhân giết người này. Thế mà, như thể ngần ấy vẫn chưa đủ, theo bén gót lại còn những bệnh bạch hầu, sốt rét, quai bị, ho, dịch hạch, lao và sốt hoàng nhiệt. Trong không biết bao nhiêu trường hợp, người da trắng đã thực sự có mặt đặng chứng kiến sự hủy diệt xảy ra khi các vi trùng đến. Chẳng hạn, vào năm 1837, bộ lạc Manda của người Anh-điêng, với một trong những nền văn hóa tinh vi nhất của vùng Đồng bằng Lớn Bắc Mỹ, đã nhiễm bệnh đậu mùa từ một con tàu hơi nước chu du từ St. Louis ngược dòng Missouri. Chỉ trong dăm tuần lễ, dân số của một làng Manda đã tụt thảm hại từ 2.000 người xuống còn chưa đầy 40 người.
Trong khi có đến hơn một tá bệnh truyền nhiễm chính có nguồn gốc Cựu Thế giới đã xâm nhập vào Tân Thế giới và chắc chân thì có lẽ không một tác nhân gây bệnh chết người nào từ châu Mỹ lan sang được châu Âu. Ngoại lệ duy nhất có lẽ là giang mai, song bệnh này có nguồn gốc từ khu vực nào hãy còn là đề tài tranh cãi. Sự chênh lệch một chiều này trong sự trao đổi vi trùng giữa hai lục địa còn gây ấn tượng mạnh hơn nếu ta nhớ lại rằng dân số đông với mật độ cao là điều kiện tiên quyết để những căn bệnh truyền nhiễm dựa trên số đông có thể phát sinh. Nếu như sự ước định lại dân số Tân Thế giới thời tiền Columbus là đúng thì dân số Tân Thế giới nào có thua kém bao nhiêu do với dân số Âu-Á cùng thời đâu. Một số thành thị ở Tân Thế giới thậm chí nằm trong số những thành thị đông dân nhất thế giới vào thời đó. Thế thì tại sao Tenochtitlán lại không có sẵn những giống vi trùng đáng sợ của riêng mình để đợi người Tây Ban Nha?
Một nhân tố có thể góp phần vào việc đó, ấy là những quần thể dân cư đông đúc đã ra đời ở Tân Thế giới muộn hơn một chút so với ở Cựu Thế giới. Một nhân tố khác là, ba trung tâm dân cư dày đặc nhất ở châu Mỹ – vùng Andes, Trung Mỹ và thung lũng Missisippi – chưa bao giờ được nối kết với nhau bởi những con đường thương mại nhanh chóng và thường xuyên để trở thành một cơ sở sinh sản khổng lồ cho các loại vi trùng kiểu như châu Âu, Bắc Phi, Ấn Độ và Trung Hoa đã được nối liền với nhau vào thời La Mã. Tuy nhiên, những nhân tố đó vẫn chưa lý giải được tại sao Tân Thế giới hầu như không hề tạo ra một bệnh truyền nhiễm của đám đông nào. (Người ta có tường trình việc phát hiện ra DNA bệnh lao trong xác ướp của một người Anh-điêng tại Peru chết cách đây 1.000 năm, song quá trình nhận diện vẫn chưa phân biệt được đó là bệnh lao ở người hay là một tác nhân gây bệnh có họ hàng gần (Mycobacterium bovis) vốn phổ biến ở các loài vật hoang dã).
Thay vì vậy, đâu là lý do chính để các bệnh truyền nhiễm chết người không nảy sinh ở châu Mỹ, điều đó sẽ trở nên rõ ràng nếu ta dừng lại để đặt một câu hỏi đơn giản. Vi trùng có thể tiến hóa từ cái gì? Ta đã thấy rằng các căn bệnh của đám đông ở Âu-Á đã tiến hóa từ các loài thú nuôi đã được thuần hóa của Âu-Á. Trong khi có nhiều loài như vậy ở Âu-Á thì chỉ có năm loài được thuần hóa ở châu Mỹ: gà tây ở Mexico và tây nam Hoa Kỳ, lạc đà llama/alpaca và chuột ghinê ở Andes, vịt Muscovy ở Nam Mỹ xích đạo và chó trên toàn bộ châu Mỹ.
Kế đó ta cũng thấy, tình trạng cực kỳ khan hiếm các loài gia súc ở Tân Thế giới phản ánh sự nghèo nàn của nguồn động vật hoang dã ở đây. Khoảng 80% các loài hữu nhũ hoang dã lớn của châu Mỹ đã tuyệt chủng vào cuối Kỷ băng hà cuối cùng khoảng 13.000 năm trước. Dăm ba loài thuần hóa còn sót lại cho người châu Mỹ bản địa ít có khả năng là nguồn sinh ra những căn bệnh của đám đông so với bò và lợn. Vịt Muscovy và gà tây không sống thành bầy lớn, chúng cũng không phải những loài dễ thương (như lũ cừu non) mà chúng ta tiếp xúc trực tiếp nhiều. Chuột ghinê có thể đóng góp một chứng trùng mũi khoan giống như bệnh Chagas hay Leishmaniasis vào danh mục các tai ương của chúng ta, nhưng điều đó cũng chưa chắc chắn. Thoạt nhìn, đáng ngạc nhiên nhất là việc các loài lạc đà châu Mỹ (llama hay alpaca) không hề làm phát sinh một căn bệnh nào ở người cả, bởi người ta có xu hướng coi loài này cũng tương đương với các loài gia súc của Âu-Á. Tuy nhiên, có bốn nguyên nhân khiến llama khó lòng là một nguồn tác nhân gây bệnh cho người: chúng được nuôi thành từng bầy nhỏ hơn nhiều so với cừu, dê và lợn; số lượng của chúng còn xa mới bằng số gia súc ở Âu-Á bởi llama chưa bao giờ bành trướng ra ngoài vùng Andes cả; người ta không uống (nên không thể nhiễm bệnh từ) sữa llama; và người ta không nuôi llama trong nhà gần gũi với con người. Ngược lại, những bà mẹ vùng cao nguyên New Guinea thường nuôi lợn con như nuôi trẻ, và lợn cũng như bò được nuôi ngay trong lều của nông dân.
Tầm quan trọng lịch sử của các bệnh có nguồn gốc từ loài vật còn đi xa hơn nhiều chứ không chỉ bó hẹp trong sự xung đột giữa Cựu Thế giới với Tân Thế giới. Các vi trùng Âu-Á đóng một vai trò then chốt trong việc giết chết gần hết các dân tộc bản địa ở nhiều vùng khác trên thế giới trong đó có các dân hải đảo Thái Bình Dương, người châu Úc bản địa và các dân tộc Khoisan (Hottentot và Bushmen) ở phía nam châu Phi. Tử suất của các dân tộc chưa từng tiếp xúc với vi trùng Âu-Á đó xê dịch từ 50% đến 100%. Chẳng hạn, dân số người Anh-điêng ở Hispaniola đã giảm từ khoảng 8 triệu người khi Columbus đặt chân đến vào năm 1492 xuống còn 0 người vào năm 1535. Bệnh sởi đổ bộ đến Fiji theo một tù trưởng vừa đến thăm Australia trở về vào năm 1875 và cứ thế giết chết khoảng một phần tư những người Fiji còn sống vào lúc đó (sau khi nhiều người khác đã chết vì những trận dịch khởi đầu từ khi người châu Âu đến lần đầu tiên vào năm 1791). Bệnh lậu, lao và cúm đi theo thuyền trưởng Cook đến Hawaii vào năm 1779, theo sau là một trận dịch sốt phát ban vào năm 1804 và nhiều trận dịch “nhỏ” khác, đã khiến dân số quần đảo từ khoảng nửa triệu người vào năm 1779 xuống còn 84.000 người vào năm 1853, năm mà bệnh đậu mùa rốt cuộc cũng đặt chân đến Hawaii và giết chết 10.000 người trong số những người sống sót. Những ví dụ kiểu này có thể nhân lên đến gần như vô hạn.
Tuy nhiên, vi trùng không chỉ hành động toàn có lợi cho người châu Âu. Trong khi Tân Thế giới và Australia không nuôi sẵn căn bệnh truyền nhiễm bản địa nào để đợi người châu Âu thì châu Á nhiệt đới, châu Phi nhiệt đới, Indonesia và New Guinea lại có. Bệnh sốt rét trên khắp vùng nhiệt đới của Cựu Thế giới, bệnh dịch tả ở Đông Nam Á nhiệt đới và bệnh hoàng nhiệt ở châu Phi nhiệt đới đã từng (và nay vẫn đang) là những tác nhân giết người khét tiếng nhất của vùng nhiệt đới. Chúng là trở ngại nghiêm trọng nhất cho người châu Âu trong việc thực dân hóa vùng nhiệt đới, chúng cũng là lý do khiến việc phân chia thuộc địa của người châu Âu đối với New Guinea và hầu hết châu Phi chỉ hoàn tất gần 400 năm sau khi việc phân chia thuộc địa ở Tân Thế giới bắt đầu. Còn hơn thế, một khi sốt rét và sốt hoàng nhiệt đã bắt đầu lan tràn sang châu Mỹ theo những con tàu buôn châu Âu, chúng lại trở thành chướng ngại vật chính cho việc thực dân hóa vùng nhiệt đới của Tân Thế giới. Một ví dụ quen thuộc cho vai trò của hai căn bệnh này là người Pháp đã từ bỏ ý định xây kênh đào Panama còn người Mỹ suýt nữa cũng từ bỏ ý định này dù sau đó họ đã xây dựng thành công con kênh đào.
Ghi nhớ trong đầu tất cả các sự kiện đó rồi, chúng ta hãy cố phục hồi cái nhìn toàn diện về vai trò của vi trùng khi trả lời câu hỏi của Yali. Chẳng nghi ngờ gì nữa, người châu Âu đã tạo ra được ưu thế lớn về vũ khí, công nghệ và tổ chức chính trị so với hầu hết các dân tộc không phải châu Âu mà họ đi chinh phục. Nhưng chỉ ưu thế đó không thôi thì không lý giải được đầy đủ tại sao ngay từ đầu một dúm di dân châu Âu ít ỏi lại có thể hất cẳng cư dân bản địa ở châu Mỹ và một số vùng khác trên thế giới vốn đông hơn họ gấp bội. Điều đó ắt đã không xảy ra nếu không có cái tặng phẩm tai hại mà châu Âu mang lại cho các châu lục khác – những giống vi trùng tiến hóa được nhờ lục địa Âu-Á đã từ lâu thân thiết với các loài gia súc.

Jared Diamond
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nguyễn Trọng Luân và Đi tìm thời gian đã mất… Trong “10 truyện ngắn hay năm 2020” (Phụ bản số Tết Tân Sửu Báo Văn Nghệ) nhà văn Nguyễn T...