Thứ Tư, 17 tháng 9, 2025

Súng, vi trùng và thép 1

Súng, vi trùng và thép 1

Mấy ngàn năm trước Công nguyên (CN), người Bắc Trung Quốc nói ngôn ngữ Hán – Tạng bành trướng xuống Nam Trung Quốc và sau đó thống nhất Trung Hoa (thời Tần Thuỷ Hoàng). Người Nam Trung Quốc hệ Nam đảo di cư đến Đài Loan rồi bành trướng xuống Đông Nam Á từ Myanmar, Lào, Thái, Việt Nam, Campuchia, Phillipines đến Malaysia vượt Indonesia để đến được các đảo New Guinea và Polynesian Thái Bình Dương. Theo tác giả người Đông Nam Á da vàng, tóc thẳng ngày nay “là hậu duệ gần của những người anh em Nam Trung Quốc” (các tộc Bách Việt?). “Sức mạnh áp đảo đó của Trung Quốc khủng khiếp đến nỗi các dân tộc từng có mặt ở Đông Nam Á chẳng còn để lại dấu vết. Chỉ có ba nhóm săn bắn hái lượm còn sót lại – người Semang Neggito ở bán đảo Mã Lai, cư dân đảo Andaman và người Veddoid Neggito ở Sri Lanka da thẫm tóc xoăn như người New Guinea ngày nay”. Tại sao Trung Quốc làm được điều ấy ? Họ có dân số đông hơn, công cụ sản xuất và vũ khí tốt hơn, đóng tàu có khả năng vượt biển với kỹ năng hàng hải ưu việt hơn, và khỏe mạnh hơn khi cơ thể có ít nhiều kháng thể trước các bệnh truyền nhiễm đã trải qua.
Sau khi Columbus tìm ra Châu Mỹ (1492) người Châu Âu (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch) đã vượt biển xâm chiếm Tân Lục địa đánh đuổi thổ dân Indian từ Bắc Mỹ cho tới gây chiến tranh với các đế quốc ở Nam Mỹ Inca (Peru), Aztec (Mexico),… Họ đến tận Châu Đại Dương xa xôi Australia, New Zealand, Hawai, New Guinea,… đánh đuổi thổ dân và xâm chiếm các lãnh thổ này. Tại sao lục địa Á Âu lại có khả năng đi xâm chiếm các lục địa khác mà không phải ngược lại?
Để trả lời câu hỏi này, tác giả đã dẫn chúng ta ngược dòng lịch sử loài người trong khoảng 13.000 năm trở lại đây. Khi đó mọi lục địa đều cùng một xuất phát điểm là săn bắn hái lượm. Xã hội loài người đi từ săn bắn hái lượm bộ tộc sang thuần hoá cây dại, thú hoang dã để bước sang hình thái xã hội phong kiến chăn nuôi, trồng trọt. Tuy nhiên sự tiến hoá này xảy ra không đồng đều trên các châu lục. Trong khi lục địa Á Âu đã sớm bước sang hình thái chăn nuôi – trồng trọt từ nhiều ngàn năm trước, đầu thế kỷ 16 người Châu Âu đi xâm chiếm các lục địa khác phát hiện rằng người bản địa ở đó vẫn còn ở thời kỳ đồ đá, săn bắt hái lượm hoặc bộ lạc chăn nuôi.
Phải chăng người Châu Âu văn minh hơn, thông minh hơn nên đã chinh phục người Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc bản địa? Do họ thích nghi hơn theo thuyết Darwin? Do họ có gen thông minh hơn theo thuyết Di truyền học?
Tác giả lập luận rằng “Diễn trình lịch sử của mỗi dân tộc một khác, đấy là do những khác biệt giữa MÔI TRƯỜNG SỐNG của các dân tộc, chứ không phải do những khác biệt về SINH HỌC giữa bản thân các dân tộc đó”.
Từ nuôi trồng người Á-Âu định cư không phải lang thang (du cư) săn bắn, hái lượm. Định cư giúp con người sinh sôi nảy nở gia tăng dân số. Định cư giúp họ dễ dàng dự trữ lương thực. Với nguồn lương thực dự trữ dồi dào, xã hội chăn nuôi bắt đầu phát triển các tầng lớp không trực tiếp sản xuất: vua, quan, tu sĩ, binh lính, thợ thủ công (luyện kim, rèn súng, kiếm, …). Và hệ quả từ lương thực được sản xuất là vi trùng, chữ viết, công nghệ và chính phủ tập trung hoá.
Tiến trình lịch sử từ săn bắn, hái lượm đến thuần hoá thú hoang, cây trồng là điều kiện tiên quyết dẫn đến mặt tích cực : phát triển công nghệ : kim loại sắt, vũ khí bằng thép (gươm, giáo, dao găm, giáp sắt, súng hoả mai, pháo, …), vận chuyển (ngựa chiến, bò, lừa, sức nước, cối xay gió …), giao thông đường biển (tàu viễn dương, la bàn, kính lục phân, đại bác, …), tạo ra chữ viết, tổ chức hình thái xã hội phong kiến tiên tiến (đế quốc La Mã, Ottoman, Macedonia, Trung Hoa, Mông Cổ, …). Nhưng họ không tránh khỏi mặt tiêu cực của nó là bệnh truyền nhiễm từ virus lây bệnh từ thú hoang sang người.
Để đến được các lục địa khác, người Châu Âu và Á (Nam Đảo) đã nhờ kỹ thuật hàng hải tiên tiến đóng tàu vượt đại dương.
Cuộc đụng độ tại Cajamarca Peru là một ví dụ va chạm điển hình giữa xã hội phong kiến chăn nuôi – trồng trọt – sản xuất tiên tiến và bộ lạc săn bắn – hái lượm thô sơ. Cuộc chiến quá chênh lệch về tương quan lực lượng giữa 80 vạn người Inca Nam Mỹ và vỏn vẹn 168 bộ binh và kỵ binh Tây Ban Nha. Người Tây Ban Nha trang bị súng, áo giáp và gươm bằng thép, ngựa chiến, … trong khi người Inca sử dụng vũ khí thô sơ như dùi cui, gậy, rìu, … bằng đá, đồng hay gỗ. Kết quả là chưa đầy 200 lính Tây Ban Nha đã tung hoành ngang dọc truy sát và diệt 7 vạn người Nam Mỹ bản địa và bắt sống hoàng đế Inca chóng vánh.
Người Châu Âu khi đi chinh phục các châu lục khác đã mang kháng thể của virus đậu mùa, sởi, cúm, sốt phát ban, dịch hạch , … truyền, gây bệnh và giết hại cho các dân tộc khác “trinh nguyên” không có kháng thể từ những căn bệnh truyền nhiễm này. Có thể kể đến các bệnh dịch như trận dịch đậu mùa ở Mexico (1520) giết chết gần nửa dân số Aztec, Peru (1526) giết chết gần hết dân số Inca, trận dịch đậu mùa năm 1713 làm tuyệt chủng dân tộc San ở Nam Phi, người Anh đến Sydney mang đến một trận dịch làm chết hầu hết thổ dân Úc, … Vậy tại sao người Mỹ bản địa không mang hầu hết những mầm bệnh truyền nhiễm đáng sợ như người Châu Âu? Nguyên nhân chính là họ có rất ít thú để thuần hoá nên có rất ít vi trùng. Thứ hai, thời đó họ không sống định cư quần tụ theo làng mạc hay thành thị, môi trường để vi trùng sinh sôi nảy nở và lan truyền nhanh chóng. Do đó họ không có mạng lưới kết nối giao thương, con đường lan truyền hữu hiệu của vi trùng truyền nhiễm.
Người Châu Âu đã chinh phục các nền văn minh khác và truyền bá văn hoá Phương Tây đến khắp các châu lục Mỹ, Á, Phi, châu Đại Dương. Nếu đảo ngược lại số phận người Mỹ bản địa (Indian ở Bắc Mỹ, Aztec và Inca ở Nam Mỹ) hay Australia khi chính họ mới là những dân tộc xuất hiện ở Châu Âu thì chắc chắn họ sẽ nắm vai trò là kẻ chinh phục thế giới. Chính môi trường sống phong phú (dồi dào lương thực, thực phẩm) ở Châu Âu đã mang lại cho con người ở đó những điều kiện cần và đủ để chinh phục những dân tộc khác. Nghiên cứu thú vị này sẽ “giúp” người Phương Tây khiêm tốn hơn và thôi “tự sướng” với những học thuyết “người da trắng thượng đẳng”, “chủng tộc Aryan thượng đẳng” … Và thế giới ngày nay sẽ bình đẳng hơn giữa các dân tộc. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng nhờ người Âu đi chinh phục khắp nơi mà họ đã mang theo nhiều vật nuôi, cây trồng đến các lục địa khác không may mắn hưởng được cái yếu tố “địa lợi” này. Và họ đã phổ biến và “đồng bộ hoá” (synchronization) các giống cây trồng và vật nuôi giữa các châu lục. Nhờ đó ngày nay cà phê (xuất xứ từ Ethiopia), bột mỳ (Châu Âu), gạo (Trung Hoa, Tây Phi), bắp (Trung, Nam Mỹ), mía (New Guinea), heo và bò (Âu-Á và Bắc Phi), trâu (Đông Nam Á), dê & cừu (Tây và Trung Á), ngựa (Nga), … đã có mặt, nhân giống và “địa phương hóa” khắp nơi trên thế giới. Súng, vi trùng và thép là ba yếu tố chính đã định hình nên thế giới ngày nay. Nghiên cứu thú vị của Jared Diamond đã giúp ông đoạt giải Pulitzer năm 1998 cho tác phẩm đồ sộ này.
Phần 1: Từ vườn địa đàng đến Cajamarca
Chương 1 - Trước vạch xuất phát
Một điểm xuất phát thích hợp để từ đó so sánh những diễn tiến lịch sử trên các lục địa khác nhau là khoảng 11.000 năm TCN. [] Thời điểm này đại khái tương ứng với lúc khởi đầu cuộc sống theo làng mạc ở một vài khu vực trên thế giới, sự di dân đầu tiên đến châu Mỹ mà mọi người đều nhất trí, cuối kỷ Pleitoxen và thời kỳ Băng hà sau cùng, và là lúc khởi đầu của cái mà các nhà địa chất gọi là Kỷ Cận đại (Recent Era). Việc thuần hóa cây trồng và vật nuôi đã bắt đầu ít nhất là ở một khu vực của thế giới trong vòng vài ngàn năm kể từ thời điểm này. Vào lúc đó, có phải các dân tộc sống ở một số lục địa đã có lợi thế xuất phát hoặc ưu thế rõ ràng so với các dân tộc sống ở các lục địa khác hay không?
[] Trong sách này, các niên đại trong khoảng 15.000 năm trở lại đây sẽ được trích dẫn như là niên đại cácbon phóng xạ đã điều chỉnh, chứ không phải niên đại cácbon phóng xạ chưa điều chỉnh. Sự khác biệt giữa hai loại niên đại này sẽ được giải thích ở Chương 5. Niên đại điều chỉnh là các niên đại được cho là sát hợp hơn với thời điểm thực tế theo lịch đại. Độc giả nào đã quen với các niên đại chưa điều chỉnh sẽ cần phải ghi nhớ sự khác biệt này mỗi khi cảm thấy hình như tôi đưa ra những niên đại sai, xưa hơn so với những niên đại mà họ đã quen gặp. Chẳng hạn, niên đại của chân trời khảo cổ Clovis ở Bắc Mỹ thường được cho là khoảng 9.000 năm TCN (11.000 năm trước), nhưng thay vào đó tôi lại đưa ra niên đại khoảng 11.000 năm TCN (13.000 năm trước), bởi niên đại thường được trích dẫn lâu nay là niên đại chưa điều chỉnh. – TG.
Nếu vậy thì có lẽ cái lợi thế xuất phát ấy, ngày càng được tăng cường trong vòng 13.000 năm qua, sẽ cung cấp lời đáp cho câu hỏi của Yali. Vì lý do đó, chương này sẽ cho bạn có một cái nhìn chớp nhoáng về lịch sử loài người trên tất cả các lục địa, trong hàng triệu năm, từ khởi thủy của chúng ta với tư cách một loài cho tới 13.000 năm trước. Từng ấy chuyện sẽ được tóm gọn trong không quá 20 trang sách. Đương nhiên, tôi sẽ lướt qua các tiểu tiết và chỉ nhắc tới những gì tôi cho là các xu hướng có liên quan nhiều nhất đến cuốn sách này.
Những họ hàng còn sống gần gũi nhất của chúng ta là ba loài vượn lớn còn sống sót: khỉ đột, tinh tinh thường và tinh tinh nhỏ (còn gọi là bonobo). Việc ba loài này chỉ sống tại châu Phi, cùng với sự hiện diện rất nhiều chứng cứ hóa thạch, cho thấy những giai đoạn sớm nhất của sự tiến hóa loài người cũng đã diễn ra tại châu Phi. Khác với lịch sử các loài vật, lịch sử loài người đã khởi đầu tại đó chừng 7 triệu năm trước (con số ước tính dao động trong khoảng từ 5 đến 9 triệu năm trước). Vào khoảng thời gian đó, một nhóm vượn châu Phi đã tách ra thành nhiều nhóm, trong số đó một nhóm đã tiến hóa thành khỉ đột ngày nay, nhóm thứ hai tiến hóa thành hai nhóm tinh tinh hiện đại, nhóm thứ ba thì tiến hóa thành người. Dòng khỉ đột hình như đã tách ra ít lâu trước khi hai dòng tinh tinh và dòng người tách khỏi nhau.
Hóa thạch cho thấy dòng tiến hóa dẫn đến loài người chúng ta đã đạt đến tư thế chủ yếu đứng thẳng vào khoảng 4 triệu năm trước, sau đó thì bắt đầu tăng dần về kích thước thân thể và kích thước tương đối của não vào khoảng 2,5 triệu năm trước. Những người nguyên thủy này thường được gọi là Australopithecus africanus, Homo habilis và Homo erectus, hình như loài sau đã hình thành từ loài trước trong chuỗi thứ tự trên. Mặc dù Homo erectus, giai đoạn vào khoảng 1,7 triệu năm trước, gần với người hiện đại chúng ta nhất về kích thước cơ thể, song kích thước não của họ thì vẫn chưa bằng phân nửa của chúng ta. Công cụ bằng đá bắt đầu trở nên phổ biến vào khoảng 2,5 triệu năm trước, nhưng chỉ là những mảnh đá tước ra hoặc ghè đẽo rất thô sơ. Đối với tầm quan trọng và sự khác biệt về sinh vật học, Homo erectus tuy có hơn vượn nhưng vẫn còn kém xa so với người hiện đại.
Toàn bộ lịch sử loài người đó, trong khoảng 5 đến 6 triệu năm sau khi con người xuất hiện lần đầu tiên cách đây 7 triệu năm, vẫn chỉ bó hẹp trong phạm vi châu Phi. Tổ tiên đầu tiên của loài người bành trướng ra ngoài châu Phi là Homo erectus, điều này được minh chứng qua các hóa thạch phát hiện được ở đảo Java thuộc vùng Đông Nam Á và thường được gọi một cách quy ước là người Java (Xem Hình 1.1.). Hóa thạch “người” Java cổ nhất – có thể là đàn ông hoặc đàn bà – thường được cho là có tuổi khoảng một triệu năm. Tuy nhiên, gần đây lại có lập luận rằng trên thực tế nó có tuổi đến 1,8 triệu năm. (Nói nghiêm khắc ra thì cái tên Homo erectus là của chính các hóa thạch Java đó, còn hóa thạch châu Phi mà người vẫn xếp loại là Homo erectus có lẽ cần được đặt cho tên khác). Hiện nay, bằng chứng hiển nhiên sớm nhất của loài người ở châu Âu xuất hiện vào khoảng nửa triệu năm trước, nhưng cũng có ý kiến cho rằng còn sớm hơn nữa. Nhất định là người ta có thể giả định rằng việc chiếm cứ châu Á cũng đã cho phép loài người chiếm cứ châu Âu cùng một lúc, bởi Âu-Á là một khối lục địa duy nhất không bị chia cắt bằng những hàng rào tự nhiên đáng kể.
Điều đó minh họa cho một vấn đề sẽ trở đi trở lại nhiều lần trong cuốn sách này. Bất cứ khi nào có một nhà khoa học tuyên bố mình đã phát hiện ra “X cổ nhất” – dù X ở đây là hóa thạch người cổ nhất ở châu Âu, bằng chứng xưa nhất về việc thuần hóa cây ngô ở Mexico hay bất cứ cái gì cổ nhất ở bất cứ nơi đâu – thì y như rằng tuyên bố đó sẽ thách thức những nhà khoa học khác ra sức bác bỏ nó, bằng cách chứng minh mình đã tìm được một cái gì đó còn xưa hơn nữa. Trên thực tế, ắt phải có một cái “X” nào đó thực sự là “X cổ nhất”, trong khi toàn bộ các X khác được cho là cổ hơn đều sai. Tuy nhiên, như ta sẽ thấy, hầu như với bất cứ X nào, mỗi năm người ta lại có những khám phá mới và tuyên bố về một X nào đó được cho là còn xưa hơn nữa, đồng thời bác bỏ một số hay tất cả các tuyên bố về những X gọi là cổ nhất. Các nhà khảo cổ thường phải mất hàng mấy thập kỷ mới có thể đi đến đồng thuận về những vấn đề này.
Hình 1.1: Sự bành trướng của loài người ra khắp thế giới – Nơi phát nguyên: cách đây 7 triệu năm (châu Phi)
Đến khoảng nửa triệu năm về trước, hóa thạch người đã khác với các bộ xương Homo erectus cổ hơn ở chỗ sọ lớn hơn, tròn và ít góc cạnh hơn. Sọ người châu Phi và người châu Âu cách đây nửa triệu năm khá giống sọ người hiện đại chúng ta nên được xếp vào loài Homo sapiens thay vì Homo erectus. Sự phân biệt này là võ đoán, bởi Homo erectus đã tiến hóa thành Homo sapiens. Tuy nhiên, những người Homo sapiens xa xưa đó vẫn còn khác với chúng ta ở các chi tiết xương, sọ nhỏ hơn nhiều so với chúng ta, và khác biệt khá nhiều so với chúng ta ở công cụ chế tác và hành vi. Các dân tộc dùng công cụ bằng đá ở thời hiện đại, chẳng hạn như cụ tổ mấy đời của Yali, hẳn sẽ khinh miệt gọi những công cụ bằng đá cách đây nửa triệu năm đó là quá sức thô sơ. Thứ duy nhất đáng kể khác được bổ sung vào gia sản văn hóa của con người thời đó, mà chúng ta có thể khẳng định chắc chắn, là việc dùng lửa.
Những người Homo sapiens xa xưa đó chẳng hề để lại di sản nghệ thuật lẫn công cụ bằng xương hay bất cứ cái gì khác ngoài di cốt cộng thêm những công cụ bằng đá thô sơ kia. Hãy còn chưa có người ở châu Úc, vì lý do hiển nhiên rằng từ Đông Nam Á muốn sang châu Úc thì phải dùng thuyền. Cũng chưa hề có người ở bất cứ nơi nào tại châu Mỹ bởi muốn vậy thì trước hết con người phải chiếm cứ vùng nào của lục địa Âu-Á gần châu Mỹ nhất (tức Siberia), ngoài ra có lẽ cũng phải có kỹ năng đóng thuyền. (Eo Bering ngày nay chia cắt giữa Siberia và Alaska vốn nông, vào thời đó lúc thì là eo biển, lúc lại là một cầu lục địa nối giữa hai bên đất liền tùy theo mặt biển liên tục lên rồi lại xuống trong suốt Thời kỳ Băng hà). Tuy nhiên, kỹ năng đóng tàu cũng như sinh tồn ở vùng Siberia giá lạnh hãy còn vượt xa ngoài khả năng của những người Homo sapiens đầu tiên.
Sau nửa triệu năm, dân số loài người ở châu Phi và tây lục địa Âu-Á bắt đầu tách biệt khỏi nhau và tách biệt khỏi người Đông Á ở chi tiết xương. Dân cư châu Âu và Tây Á trong khoảng từ 130.000 đến 40.000 năm trước đây được đại diện bởi số di cốt đặc biệt nhiều được gọi là người Neanderthals, đôi khi được xếp thành một loài riêng là Homo neanderthanlensis. Tuy thường bị mô tả trong vô số tranh hoạt hình như những con dã thú giống như vượn sống trong hang động, song thật ra người Neanderthals có não lớn hơn não chúng ta một chút. Họ cũng là những người đầu tiên để lại chứng cứ hùng hồn về nghi thức mai táng người chết và chăm sóc người ốm. Thế nhưng công cụ bằng đá của họ vẫn còn thô sơ so với những chiếc rìu đá tinh xảo của người New Guinea và thường vẫn chưa được chế tác thành những dạng chuẩn, mỗi cái mang một chức năng riêng có thể nhìn thấy rõ.
Một ít mảnh xương châu Phi còn giữ được mà niên đại tương đương với người Neanderthals lại gần gũi với xương của người hiện đại chúng ta hơn là xương của người Neanderthals. Xương ở vùng Đông Á còn giữ được lại càng ít hơn nữa, nhưng hình như chúng lại cũng khác với cả người châu Phi lẫn người Neanderthals. Về lối sống vào thời đó, bằng chứng được lưu giữ tốt nhất là từ các vật dụng bằng đá và xương con mồi thu thập được ở các di chỉ miền nam châu Phi. Mặc dù những người châu Phi cách đây 100.000 năm đó có nhiều bộ xương giống người hiện đại hơn so với người Neanderthals sống cùng thời, nhưng họ cũng chỉ làm ra những công cụ bằng đá thô sơ y như người Neanderthals, nghĩa là vẫn không có hình dạng chuẩn. Họ không để lại di tích về nghệ thuật. Xét theo bằng chứng xương các con mồi mà họ săn, có thể thấy kỹ năng săn bắn của họ còn chưa có gì đặc sắc, chủ yếu nhằm vào các loài vật dễ giết và hoàn toàn không nguy hiểm. Họ vẫn chưa đủ sức giết trâu, lợn và các con mồi nguy hiểm khác. Thậm chí họ còn chưa biết bắt cá: nơi ở của họ ở ngay trên bờ biển nhưng lại không hề có dấu vết xương cá và lưỡi câu. Họ và những người Neanderthals cùng thời vẫn còn chưa đạt đến mức con người đầy đủ.
Lịch sử con người rốt cuộc đã cất cánh vào khoảng 50.000 năm trước, vào thời gian mà tôi từng gọi là Cú Nhảy Lớn Về Phía Trước của chúng ta. Những dấu vết xác định sớm nhất của cú nhảy đó là ở các di chỉ Đông Phi với những công cụ bằng đá được chuẩn hóa và những đồ trang sức đầu tiên còn giữ được (những chuỗi hạt bằng vỏ trứng đà điểu). Chẳng bao lâu sau, những phát triển tương tự cũng xuất hiện ở vùng Cận Đông và Đông Nam châu Âu, kế đó (khoảng 40.000 năm trước) là ở Tây Nam Âu, nơi còn lại nhiều công cụ chế tác bên cạnh xương của những người được mệnh danh là Cro-Magnon hoàn toàn giống người hiện đại. Sau đó, những bãi rác thải còn giữ được ở các di chỉ khảo cổ nhanh chóng trở nên ngày càng thú vị hơn và khiến không còn nghi ngờ gì nữa rằng ở đây ta đang gặp những người hiện đại về cả mặt sinh học lẫn về mặt hành vi.
Những bãi rác thải của người Cro-Magnon bao gồm không chỉ công cụ bằng đá mà cả công cụ bằng xương, được chế tác thành những hình dạng thích hợp (chẳng hạn thành lưỡi câu), điều mà rõ ràng là những người tiền sử cổ hơn không biết tới. Các công cụ được sản xuất với nhiều hình dáng đa dạng và khác biệt, hiện đại đến mức chỉ nhìn là chúng ta ngày nay có thể nhận biết công năng của chúng như kim khâu, dùi, công cụ chạm khắc, v.v. Thay vì những công cụ chỉ gồm một bộ phận chẳng hạn như đồ nạo cầm tay, các công cụ gồm nhiều mảnh đã xuất hiện. Những vũ khí gồm nhiều bộ phận mà chúng ta có thể nhận ra ở các di chỉ Cro-Magnon bao gồm lao móc, dụng cụ ném lao, cuối cùng là cung và tên, tiền thân của súng trường và các vũ khí nhiều bộ phận hiện đại khác. Các phương tiện này cho phép giết thú hữu hiệu ở cự ly an toàn, nhờ vậy con người đã có thể săn các con mồi nguy hiểm như tê giác và voi, trong khi việc phát minh ra dây thừng để bện lưới, dây và bẫy cho phép người ta bổ sung chim và cá vào thực đơn hằng ngày. Di tích nhà cửa và quần áo may chứng minh rằng con người đã có bước tiến lớn về khả năng sinh tồn ở nơi có khí hậu lạnh, còn di tích đồ trang sức và các bộ xương được chôn cất cẩn thận chỉ ra rằng đã có những phát triển mang tính cách mạng về thẩm mỹ và tâm linh.
Trong số các sản phẩm của người Cro-Magnon còn giữ được đến nay, nổi tiếng nhất là các tác phẩm nghệ thuật: những bức tranh kỳ vĩ trong hang động, những bức tượng, và các nhạc cụ mà đến ngày nay chúng ta vẫn xem là nghệ thuật. Bất cứ ai từng trực tiếp trải nghiệm cái sức mạnh choáng ngợp của những bức tranh bò mộng và ngựa to bằng thật ở hang Lascaux miền nam nước Pháp sẽ lập tức hiểu ngay rằng, với tác giả những bức tranh đó, tâm trí họ ắt cũng phải hiện đại như là bộ xương của họ.
Hiển nhiên rằng đã có một thay đổi to lớn nào đó diễn ra trong năng lực của tổ tiên chúng ta trong khoảng từ 100.000 năm đến 50.000 năm trước. Cú Nhảy Lớn Về Phía Trước này đặt ra hai câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp: nguyên nhân nào làm phát sinh cú nhảy đó, và vị trí địa lý của cú nhảy đó. Về nguyên nhân phát sinh Cú Nhảy Lớn, tôi đã lập luận trong cuốn Loài tinh tinh thứ ba rằng đó là sự hoàn thiện thanh quản, do đó là sự hoàn thiện cơ sở giải phẫu học của ngôn ngữ hiện đại, mà khả năng sáng tạo của con người phụ thuộc rất nhiều. Những người khác thì lại cho rằng vào thời gian đó đã có sự thay đổi trong tổ chức của não song kích thước não thì không thay đổi, nhờ vậy mới xuất hiện ngôn ngữ hiện đại.
Về địa điểm của Cú Nhảy Lớn Về Phía Trước, liệu có phải nó đã diễn ra chủ yếu ở một khu vực địa lý duy nhất, trong một nhóm người duy nhất mà sau đó đã có thể bành trướng và thay thế những nhóm người trước đó ở các vùng khác trên thế giới? Hay cú nhảy đó đã diễn ra song song ở nhiều khu vực khác nhau, các cư dân cư ngày nay ở mỗi khu vực đó là hậu duệ của những cư dân sống ở đó từ trước cú nhảy? Những sọ trông có vẻ hiện đại hơn ở châu Phi cách đây khoảng 100.000 năm được cho là hỗ trợ cho giả thuyết đầu, theo đó thì cú nhảy đã diễn ra chủ yếu ở châu Phi. Các nghiên cứu phân tử (của cái gọi là DNA ti thể) ban đầu cũng được diễn dịch theo lối châu Phi là cội nguồn của con người hiện đại, dẫu rằng ý nghĩa của các phát hiện phân tử đó vẫn còn đáng ngờ. Mặt khác, sọ những người sống tại Trung Hoa và Indonesia hàng trăm ngàn năm trước được một số nhà nhân chủng học vật lý cho là mang những đặc điểm chung với người Trung Hoa và người châu Úc bản địa ngày nay. Nếu đúng vậy, phát kiến này sẽ gợi ý rằng đã có sự phát triển song song và có nhiều cái nôi của người hiện đại ở nhiều khu vực, chứ không phải chỉ có một Vườn địa đàng duy nhất. Câu hỏi đến nay vẫn chưa có lời giải đáp cuối cùng.
Bằng chứng về một cái nôi cục bộ của con người hiện đại, theo sau là việc con người bành trướng và thay thế những loại người khác ở một vùng khác, có vẻ là mạnh mẽ nhất ở châu Âu. Cách đây khoảng 40.000 năm, người Cro-Magnon xuất hiện ở châu Âu, với bộ xương hiện đại, vũ khí ưu việt và các nét văn hóa tiên tiến khác. Trong vòng vài ngàn năm đã không còn một người Neanderthals nào nữa, dù chính người Neanderthals đã tiến hóa như là những cư dân duy nhất ở châu Âu trong suốt hàng trăm ngàn năm. Chuỗi sự kiện đó gợi ý mạnh mẽ rằng người Cro-Magnon hiện đại, bằng cách nào đó, đã dùng công nghệ vượt trội của mình, cùng với kỹ năng ngôn ngữ của bộ não, để gây bệnh, giết chết hoặc xua đuổi người Neanderthals, để lại rất ít hoặc không một bằng chứng nào về sự hợp huyết giữa người Neanderthals và người Cro-Magnon.
Cú Nhảy Lớn Về Phía Trước trùng hợp với sự mở rộng địa vực sinh sống của con người lần đầu tiên mà khoa học chứng minh được kể từ khi tổ tiên chúng ta chiếm cứ lục địa Âu-Á. Sự mở rộng đó bao gồm việc xâm chiếm châu Úc và New Guinea mà hồi đó còn nối với nhau thành một lục địa duy nhất. Nhiều di tích phóng xạ chứng minh sự hiện diện của con người ở châu Úc/New Guinea trong khoảng từ 40.000 đến 30.000 năm trước (cộng với một số tuyên bố tìm được chứng cứ cổ hơn song hãy còn gây tranh cãi). Trong một khoảng thời gian ngắn của lần di dân nguyên thủy đó, con người đã bành trướng ra toàn bộ lục địa và thích nghi với môi trường đa dạng của nó, từ những khu rừng mưa nhiệt đới và những ngọn núi cao ở New Guinea cho tới những vùng nội địa khô hạn và chỏm đông nam ẩm ướt của châu Úc.
Trong suốt các Thời kỳ Băng hà, nước đại dương bị giam trong băng nhiều đến nỗi mực nước biển trên toàn thế giới thấp hơn mực nước biển hiện tại đến hàng mấy chục mét. Kết quả là, những nơi mà nay là các biển cạn giữa châu Á và các đảo Sumatra, Borneo, Java và Bali của Indonesia thì ngày xưa là đất cạn. (Các eo biển nông ở nơi khác như eo Bering và biển Manche cũng vậy). Bờ biển Đông Nam Á thời đó nằm cách vị trí ngày nay đến hơn 1.100 km về phía Đông. Tuy nhiên, các đảo trung tâm Indonesia giữa Bali và châu Úc thì vẫn nằm giữa và bị chia cắt bởi các eo biển sâu. Để đến châu Úc/New Guinea từ nội địa châu Á vào thời đó thì vẫn phải vượt qua ít nhất tám eo biển, eo rộng nhất có bề ngang ít nhất 80 km. Hầu hết các eo này chia cắt các hòn đảo với nhau khiến từ đảo này không thể thấy đảo kia, nhưng bản thân châu Úc thì ngay cả từ các đảo Indonesia gần nhất như Timor và Tanimbar vẫn có thể nhìn thấy được. Vậy nên, việc chiếm cứ châu Úc/New Guinea rất quan trọng, ở chỗ nó đòi hỏi phải có tàu biển và cung cấp bằng chứng sớm nhất về việc dùng tàu biển trong lịch sử. Mãi đến khoảng 30.000 năm sau đó (13.000 năm trước đây) mới có bằng chứng mạnh mẽ về việc tàu biển được dùng ở một nơi khác trên thế giới, ấy là ở Địa Trung Hải.
Ban đầu, các nhà khảo cổ cho rằng có khả năng việc chiếm cứ châu Úc/New Guinea chỉ là do một nhúm người làm được một cách tình cờ khi họ bị cuốn ra biển trong khi đang đánh cá trên bè gần một hòn đảo của Indonesia. Ở giả thuyết cực đoan nhất, người ta mô tả những người định cư đầu tiên đó chỉ là một phụ nữ duy nhất đang mang thai một bé trai. Song những người tin ở lý thuyết di dân tình cờ này đã ngạc nhiên trước những khám phá gần đây rằng cả những hòn đảo khác nằm về phía đông New Guinea cũng đã bị chiếm cứ chẳng bao lâu sau bản thân New Guinea, vào khoảng 35.000 năm trước. Đó là các đảo New Britain và New Ireland trong quần đảo Bismarck và đảo Buka ở quần đảo Solomon. Buka nằm khuất tầm nhìn từ hòn đảo gần nhất về phía đông và chỉ có thể đến được bằng cách vượt qua một khoảng cách chừng 160 km bằng đường biển. Như vậy, người châu Úc và New Guinea hẳn đã có khả năng du hành bằng đường biển một cách có chủ định đến các hòn đảo nhìn thấy được, và họ đã sử dụng phương tiện đường biển khá thường xuyên nên cũng hay tình cờ đến được cả các hòn đảo xa không nhìn thấy được.
Việc định cư ở châu Úc/New Guinea hẳn đã gắn liền với một sự kiện lớn đầu tiên khác ngoài việc con người lần đầu tiên sử dụng thuyền vượt biển và sự di cư lớn đầu tiên của loài người từ khi định cư ở lục địa Âu-Á: ấy là sự diệt vong lớn đầu tiên của các loài thú lớn bởi tay con người. Ngày nay chúng ta coi châu Phi chính là lục địa của các loài hữu nhũ lớn. Lục địa Âu-Á ngày nay cũng có nhiều loài hữu nhũ lớn (tuy không dồi dào phong phú như ở đồng bằng Serengeti của châu Phi), như tê giác, voi và hổ châu Á, nai sừng tấm, gấu và sư tử châu Âu (riêng sư tử thì mãi đến thời Hy-La vẫn còn). Châu Úc/New Guinea ngày nay không có loài hữu nhũ nào lớn tương đương như vậy, trên thực tế là không có loài nào lớn hơn con thú có túi nặng xấp xỉ 50 kg. Nhưng châu Úc/New Guinea trước kia từng có những loài hữu nhũ lớn đa dạng của riêng mình, trong đó có thú có túi khổng lồ, những con thú có túi giống như tê giác gọi là diprotodont và có kích thước bằng con bò, và một loài “báo” có túi. Ngày xưa vùng này còn có một loài chim không biết bay giống như đà điểu nặng gần 200 kg, cộng với một số loài bò sát cực lớn trong đó có một loài thằn lằn nặng một tấn, một loài trăn khổng lồ và những loài cá sấu sống trên cạn.
Tất cả các loài thú khổng lồ ở châu Úc/New Guinea đó đều đã biến mất sau khi con người xuất hiện. Tuy người ta vẫn còn tranh cãi về thời điểm chính xác chúng diệt vong, nhưng một số di chỉ khảo cổ tại Úc có niên đại hàng vạn năm, với rất nhiều dấu tích xương người, đã được khai quật cẩn thận, không hề bao gồm dấu vết nào của các loài vật khổng lồ vào 35.000 năm trước mà ngày nay đã tuyệt diệt. Vì vậy, các loài vật khổng lồ hẳn đã bị diệt vong chẳng bao lâu sau khi con người đặt chân đến châu Úc.
Sự biến mất gần như đồng thời của nhiều loài thú lớn như vậy hiển nhiên làm nảy sinh câu hỏi: Cái gì đã gây ra chuyện đó? Có thể có một câu trả lời hiển nhiên, ấy là chúng đã bị giết sạch hoặc bị tiêu diệt một cách gián tiếp bởi những người đầu tiên đến. Hãy nhớ rằng các loài thú châu Úc/New Guinea đã tiến hóa hàng triệu năm mà không hề có mặt những tay thợ săn của loài người. Ta biết rằng các loài chim và thú ở quần đảo Galápagos và Bắc Cực, vốn cũng đã tiến hóa mà không hề có mặt con người và cho mãi đến thời hiện đại vẫn chưa hề biết đến con người, đến ngày nay vẫn cứ hiền khô không chịu nổi. Lẽ ra chúng đã bị tuyệt diệt nếu các nhà bảo vệ môi trường đã không nhanh chóng áp dụng các biện pháp bảo vệ. Trên các hòn đảo mới được phát hiện gần đây nơi các biện pháp bảo vệ không được thực thi nhanh chóng, tình trạng diệt chủng đã thật sự xảy ra: loài dodo ở đảo Mauritius hầu như đã trở thành biểu tượng của sự tuyệt diệt. Ngày nay ta cũng biết rằng, trên bất cứ hòn đảo đại dương nào có con người định cư kể từ thời tiền sử đến nay mà các nhà khoa học đã nghiên cứu kỹ, việc đến định cư của con người đều dẫn đến những cơn diệt chủng mà nạn nhân là chim moa ở New Zealand, loài vượn cáo khổng lồ ở Madagascar và loài ngỗng lớn không biết bay ở Hawaii. Cũng như người hiện đại đã lại gần lũ dodo và hải cẩu vốn không hề biết sợ người để giết chúng, người tiền sử hẳn cũng đã lại gần lũ moa và vượn cáo khổng lồ không hề biết sợ người rồi giết chúng.
Vì vậy có một giả thuyết về việc các con thú khổng lồ của châu Úc và New Guinea diệt chủng, ấy là chúng đã gặp cùng một số phận như nhau vào khoảng 40.000 năm trước. Ngược lại, hầu hết các loài thú lớn của châu Phi và Âu-Á vẫn còn sống sót đến ngày nay bởi chúng đã cùng tiến hóa bên cạnh người nguyên thủy suốt hàng trăm ngàn hay thậm chí hàng triệu năm. Nhờ vậy chúng đã có khối thì giờ để biết sợ người trong khi kỹ năng săn bắn ban đầu còn thô sơ của tổ tiên chúng ta được cải tiến rất chậm chạp. Các loài dodo, moa và có lẽ cả các loài thú khổng lồ của châu Úc/New Guinea đã thật không may khi chúng đột ngột phải đối mặt – mà không hề được chuẩn bị trước về mặt tiến hóa – với những con người hiện đại với kỹ năng săn bắt đã phát triển đầy đủ.
Tuy nhiên, cái “giả thuyết giết sạch” như người ta gọi không phải là không gặp ý kiến phản đối trong trường hợp châu Úc/New Guinea. Những người phê phán thuyết này nhấn mạnh rằng cho đến nay chưa hề có di tích xương nào của các loài thú khổng lồ châu Úc/New Guinea mang bằng chứng rõ ràng rằng chúng đã bị con người giết hay thậm chí rằng chúng từng sống bên cạnh con người. Những người bảo vệ “giả thuyết giết sạch” trả lời: Nếu như việc giết sạch các loài đó đã diễn ra rất nhanh và lại cách đây rất lâu, chẳng hạn chỉ trong vòng vài ngàn năm nhưng lại cách đây đến 40.000 năm, thì cũng khó mà mong tìm được di tích khảo cổ chứng minh cho việc đó. Những người chỉ trích đáp lại bằng một phản giả thuyết: rằng có lẽ các loài thú khổng lồ kia đã không bị giết mà bị chết vì một thay đổi khí hậu, chẳng hạn như hạn hán nghiêm trọng trên lục địa châu Úc vốn đã khô hạn triền miên. Cuộc tranh cãi vẫn còn tiếp diễn.
Riêng tôi, tôi không thể hiểu tại sao các loài thú khổng lồ châu Úc đã sống sót qua không biết bao nhiêu lần hạn hán trong suốt hàng triệu năm lịch sử châu Úc, thế rồi đùng một cái lại cùng nhau chết gần như cùng một lúc (ít nhất là so với chặng thời gian hàng triệu năm) tình cờ đúng vào thời điểm những con người đầu tiên xuất hiện. Những loài khổng lồ đã tuyệt chủng không chỉ ở vùng trung tâm châu Úc khô hạn mà ở cả vùng tây New Guinea và vùng đông nam Úc vốn mưa như trút nước. Chúng cùng tuyệt chủng ở mọi môi trường, không có ngoại lệ, từ vùng sa mạc cho tới rừng mưa lạnh và rừng mưa nhiệt đới. Vì vậy, tôi cảm thấy khả năng lớn nhất là các loài thú khổng lồ đã bị con người tiêu diệt, cả một cách trực tiếp (giết để làm thức ăn) lẫn gián tiếp (do con người dùng lửa và làm thay đổi môi trường). Song dù giả thuyết giết sạch hay giả thuyết khí hậu tỏ ra là đúng, việc tất cả các loài thú lớn ở châu Úc/New Guinea biến mất, như chúng ta sẽ thấy, có những hậu quả nặng nề đối với lịch sử loài người từ đó về sau. Những sự diệt chủng đó đã loại bỏ tất cả các loài thú hoang lớn mà lẽ ra con người đã có thể thuần hóa, khiến người châu Úc và New Guinea bản địa không hề có lấy một con vật nuôi nào của riêng mình.
Vậy là, việc con người chiếm cứ và định cư ở châu Úc/New Guinea chỉ diễn ra vào khoảng thời gian Cú Nhảy Lớn Về Phía Trước. Một cuộc di dân lớn của con người diễn ra không lâu sau đó là đến những vùng lạnh nhất của lục địa Âu-Á. Tuy người Neanderthals sống vào các thời kỳ Băng hà và đã thích nghi với cái lạnh, họ vẫn không đi lên phía Bắc xa quá miền bắc Đức và Kiev. Điều đó không lạ, bởi người Neanderthals rõ ràng là không có kim, không biết may quần áo, không có nhà cửa ấm và không có những công nghệ khác cần thiết để có thể sống còn ở những vùng khí hậu lạnh nhất. Những người hiện đại về mặt giải phẫu mà có các công nghệ đó thì đã bành trướng đến Siberia vào khoảng 20.000 năm trước (một số người đưa ra những thời điểm sớm hơn nhiều, tuy nhiên điều này còn tranh cãi). Sự bành trướng này hẳn là nguyên nhân cho sự tuyệt chủng của loài voi mamút lông dày và tê giác có lông của lục địa Âu-Á.
Với việc định cư ở châu Úc/New Guinea, con người giờ đây đã chiếm cứ ba trong số năm lục địa có thể sinh sống được. (Trong cuốn sách này, tôi xem Âu-Á là một lục địa duy nhất, đồng thời không kể Châu Nam cực bởi lục địa này mãi đến thế kỷ 19 con người mới đặt chân đến và chưa bao giờ có con người sinh sống tự túc). Vậy là chỉ còn lại hai lục địa, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Chắc chắn đó là hai lục địa được con người định cư sau cùng, vì lý do hiển nhiên là để đến được châu Mỹ từ Cựu Thế giới thì hoặc phải dùng thuyền (mà bằng chứng về sự có mặt của thuyền thì ngay cả ở Indonesia mãi đến 40.000 năm trước đây mới có, ở châu Âu thì càng muộn hơn nhiều) để vượt biển, hoặc phải chiếm lĩnh Siberia (mà mãi đến 20.000 năm trước vẫn chưa có người ở) thì mới có thể băng qua dải đất Bering.
Tuy nhiên, con người di cư sang châu Mỹ lần đầu tiên cụ thể vào khi nào trong khoảng từ 14.000 đến 35.000 năm trước thì vẫn còn chưa rõ. Di tích hiển nhiên xưa nhất của con người ở châu Mỹ là tại các di chỉ ở Alaska có niên đại khoảng 12.000 năm TCN, theo sau là một loạt di chỉ ở Hoa Kỳ phía nam biên giới Canada và ở Mexico vào các thế kỷ ngay trước 11.000 năm TCN. Các di chỉ ở Mexico được gọi là di chỉ Clovis, đặt theo tên của di chỉ tiêu biểu gần thị trấn Clovis, bang New Mexico, nơi những mũi lao lớn bằng đá đặc trưng của nó được tìm thấy lần đầu tiên. Đến nay người ta đã biết đến hàng trăm di chỉ Clovis, phủ khắp 48 bang nội địa Hoa Kỳ kéo dài đến tận Mexico. Bằng chứng hiển nhiên về sự hiện diện của con người chẳng bao lâu sau cũng xuất hiện ở Amazonia và Patagonia. Các sự kiện này gợi ý rằng các di chỉ Clovis chứng minh cho việc con người lần đầu tiên di cư sang châu Mỹ, sau đó nhanh chóng nhân lên, bành trướng rộng ra đầy cả hai lục địa.
Thoạt tiên người ta có thể lấy làm lạ rằng các hậu duệ của người Clovis đã có thể đến được Patagonia nằm cách biên giới Hoa Kỳ-Canada những 13.000 km trong vòng chưa tới một ngàn năm. Tuy nhiên, nếu chia khoảng cách ấy cho một ngàn năm thì người tiền sử đã nam tiến trung bình 13 km một năm, đó chỉ là chuyện vặt đối với người săn bắt hái lượm bởi có khi chỉ trong một ngày tìm thức ăn họ cũng đã đi được ngần ấy quãng đường rồi.
Chúng ta thoạt tiên cũng có thể ngạc nhiên rằng cư dân châu Mỹ thời đó đã trở nên đông đúc nhanh đến mức phải nghĩ đến chuyện di cư mãi về phía nam đến tận Patagonia. Song, sự tăng dân số đó cũng chẳng có gì lạ nếu ta xét kỹ những con số cụ thể. Nếu châu Mỹ rốt cuộc đã là nơi cư trú của những người săn bắt hái lượm với mật độ dân số trung bình khoảng dưới một người trên một dặm vuông (khoảng 1,6 km², ND) (một con số cao so với những người săn bắt hái lượm hiện đại), thì toàn bộ diện tích châu Mỹ sẽ có dân số khoảng 10 triệu người săn bắt hái lượm. Nhưng thậm chí nếu những người đến định cư đầu tiên chỉ có khoảng 100 người và dân số của họ chỉ tăng với tốc độ 1,1% một năm thì hậu duệ của họ sẽ đạt ngưỡng 10 triệu người trong vòng một ngàn năm. Một lần nữa, tốc độ tăng dân số 1,1% một năm chẳng có gì là khó: thời hiện đại người ta đã quan sát được tốc độ tăng dân số tới 3,4%/năm khi người ta di cư sang các vùng đất hoang, chẳng hạn như khi những thủy thủ nổi loạn trên con tàu HMS Bounty và các bà vợ người Tahiti của họ di cư sang đảo Pitcairn.
Sự phong phú di chỉ của người săn bắn Clovis trong vài thế kỷ đầu tiên sau khi họ xuất hiện ở châu Mỹ cũng giống như sự phong phú di chỉ đã được chứng minh về mặt khảo cổ sau khi tổ tiên người Maori phát hiện ra New Zealand gần đây nhất. Một sự phong phú di chỉ khác cũng được chứng minh cho việc những người hiện đại về mặt khảo cổ di cư sang châu Âu vào thời kỳ xa xưa hơn nhiều, cũng như việc chiếm lĩnh châu Úc/New Guinea. Nghĩa là, bất cứ cái gì về hiện tượng Clovis và về việc họ bành trướng khắp châu Mỹ đều tương đồng với các khám phá mà khoa học đã chứng minh được về việc con người đến định cư tại các vùng đất hoang khác trong lịch sử.
Việc bùng nổ các di chỉ Clovis trong các thế kỷ ngay trước 11.000 năm TCN, chứ không phải các thế kỷ trước 16.000 hay 21.000 năm TCN, có thể có ý nghĩa gì? Hãy nhớ lại rằng Siberia vốn dĩ bao giờ cũng lạnh, và có một dải băng thường trực trải dài như một ranh giới không thể vượt qua suốt cả chiều ngang của Canada trong hầu hết thời đại Pleitoxen. Ta đã thấy rằng công nghệ cần thiết để chống chọi với cái lạnh cực độ kia đã không hề xuất hiện mãi đến khi những người hiện đại về mặt giải phẫu xâm chiếm châu Âu vào khoảng 40.000 năm trước, và rằng con người mãi đến 20.000 năm sau đó mới di cư sang Siberia. Cuối cùng, những người Siberia đầu tiên đó đã sang Alaska hoặc bằng đường biển qua eo Bering (mà đến ngày nay vẫn chỉ rộng 80 km) hoặc bằng cách đi bộ vào những thời băng hà khi eo Bering là một dải đất liền. Dải đất Bering, trong những lần hiện hữu cách quãng mà cộng lại cũng đến hàng ngàn năm, hẳn đã rộng đến hàng ngàn km, bao phủ toàn lãnh nguyên bằng phẳng, nơi những người đã thích nghi với khí hậu có thể dễ dàng băng qua được. Dải đất này gần đây bị ngập nước và lại trở thành eo biển khi mực nước biển dâng lên vào khoảng 14.000 năm TCN. Dù những người Siberia đầu tiên ấy đi bộ hay chèo thuyền đến Alaska, bằng chứng chắc chắn có sớm nhất về sự hiện diện của loài người ở Alaska có niên đại khoảng 12.000 năm TCN.
Chẳng bao lâu sau đó, một hành lang không có băng theo hướng Bắc-Nam đã mở ra trong mảng băng lớn ở Canada, cho phép những người Alaska đầu tiên băng qua để xuống vùng Đồng bằng Lớn (Great Plains) xung quanh khu vực thành phố Edmonton hiện nay của Canada. Việc này đánh dấu chấm hết cho cái rào cản lớn cuối cùng giữa Alaska và Patagonia đối với người hiện đại. Những người Edmonton tiên phong hẳn đã thấy vùng Đồng bằng Lớn có cơ man nào thú săn. Ắt hẳn là họ đã an cư, ngày một đông lên, và dần dần bành trướng về phía Nam để chiếm lĩnh toàn bộ Tây bán cầu.
Một khía cạnh khác của hiện tượng Clovis đáp ứng mong đợi của chúng ta về sự hiện diện đầu tiên của con người ở phía nam mảng băng lớn Canada. Cũng như châu Úc/New Guinea, thoạt tiên châu Mỹ cũng có đầy rẫy các loài thú lớn. Khoảng 15.000 năm trước, miền Tây châu Mỹ trông rất giống đồng bằng Serengeti của châu Phi ngày nay, với hàng đàn voi và ngựa bị sư tử và báo săn đuổi, lại còn có những loài đặc dị như lạc đà và con lười đất khổng lồ. Cũng như ở châu Úc/New Guinea, tại châu Mỹ hầu hết các loài thú lớn đó đều bị tuyệt chủng. Trong khi những sự tuyệt chủng có lẽ đã diễn ra tại châu Úc từ hơn 30.000 năm trước, thì tại châu Mỹ sự tuyệt chủng chỉ diễn ra trong khoảng 17.000 đến 12.000 năm trở lại đây. Đối với các loài thú lớn châu Mỹ đã tuyệt chủng mà xương vẫn còn vô số và có niên đại đặc biệt chính xác, người ta có thể xác định rằng sự tuyệt chủng đã diễn ra vào khoảng 11.000 năm TCN. Có lẽ hai sự tuyệt chủng được xác định niên đại chính xác nhất là của con lười đất Shasta và loài dê núi Harrington ở vùng Hang Lớn (Grand Canyon), cả hai đều đã biến mất trong vòng một, hai thế kỷ vào khoảng 11.000 năm TCN. Dù có tình cờ trùng hợp hay không, niên đại đó là đồng nhất – trong phạm vi dung sai thí nghiệm – với thời điểm những người săn bắn Clovis đặt chân đến khu vực Grand Canyon.
Việc phát hiện nhiều bộ xương voi mamút mà giữa xương sườn có cắm mũi giáo Clovis cho thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà các niên đại này khớp nhau. Những nhà săn bắn di cư về phía Nam băng qua châu Mỹ, khi gặp các loài thú lớn vốn trước đó chưa hề nhìn thấy con người, có thể đã nhận thấy rằng thú châu Mỹ quá dễ giết và đã tuyệt diệt chúng. Có một thuyết ngược lại cho rằng các loài thú lớn châu Mỹ tuyệt chủng không phải do bị giết mà là do khí hậu thay đổi vào cuối thời kỳ Băng hà cuối cùng vốn cũng đã xảy ra vào khoảng 11.000 năm TCN (điều chỉ khiến các nhà cổ sinh học hiện đại càng bối rối hơn khi họ cố công lý giải).
Về phần mình, tôi cũng gặp cùng một mắc mứu như vậy với lý thuyết cho rằng các loài thú lớn châu Mỹ diệt chủng vì sự thay đổi khí hậu như đã từng gặp với lý thuyết tương tự về châu Úc/New Guinea. Các loài thú lớn của châu Mỹ đã sống sót đến tận cuối 22 thời kỳ Băng hà trước đó. Tại sao hầu hết chúng lại chọn đúng thời kỳ Băng hà thứ 23 để diệt chủng đồng loạt khi có mặt những con người được giả định là vô hại kia? Tại sao chúng biến mất ở mọi môi trường, không chỉ ở những môi trường đã thu hẹp mà cả ở các môi trường đã mở rộng rất nhiều vào cuối Thời kỳ Băng hà sau cùng? Do vậy tôi ngờ rằng chính các thợ săn Clovis đã làm việc đó, nhưng cuộc tranh cãi vẫn chưa có hồi kết thúc. Dù lý thuyết nào được chứng minh là đúng thì hầu hết các loài thú hoang dã lớn lẽ ra đã có thể được người châu Mỹ bản địa thuần hóa cũng vì vậy mà bị xóa sổ.
Một câu hỏi nữa cũng chưa có lời giải đáp, ấy là liệu có thật các thợ săn Clovis là những người châu Mỹ đầu tiên không. Cũng như bất cứ khi nào ai đó tuyên bố tìm được cái gì đó là xưa nhất, người ta thường xuyên tuyên bố đã phát hiện được ở châu Mỹ di chỉ của những người còn xưa hơn người Clovis. Hằng năm, một vài tuyên bố như vậy quả thực có vẻ thuyết phục và hấp dẫn khi lúc đầu được đưa ra. Nhưng rồi lại không tránh khỏi nảy sinh những khó khăn trong cách diễn dịch. Liệu có thật các công cụ được tìm thấy ở các di chỉ đó là do con người làm ra không, hay chúng chỉ là những hình dạng đá tự nhiên? Liệu các niên đại cácbon phóng xạ được người ta tuyên bố kia là đúng chứ không bị loại bỏ bởi một trong rất nhiều khó khăn có thể xảy ra khi xác định niên đại bằng cácbon phóng xạ? Nếu niên đại là đúng thì liệu chúng có thực sự gắn liền với những sản phẩm của con người chứ không phải chỉ là một cục than 15.000 tuổi [tình cờ] nằm cạnh một công cụ bằng đá mà kỳ thực chỉ được làm ra khoảng 9.000 năm trước?
Để minh họa những vấn đề đó, ta hãy xét ví dụ điển hình sau đây về một tuyên bố tìm thấy di chỉ tiền Clovis mà người ta hay trích dẫn. Tại một hang đá ở Brazil tên là Pedra Furada các nhà khảo cổ tìm thấy những bức tranh hang động mà, không nghi ngờ gì nữa, là do con người làm ra. Trong những đống đá dưới chân một vách đá, họ cũng tìm thấy một số hòn đá mà hình dạng cho thấy có khả năng chúng là những công cụ thô sơ. Ngoài ra họ còn bắt gặp cái mà họ cho là những bếp lò trong đó có than đã đốt với niên đại khoảng 35.000 năm trước. Các bài viết về Pedra Furada được cho in trên tờ tạp chí khoa học thế giới đầy uy tín và rất ư kén chọn là Nature.
Nhưng không một hòn đá nào nơi chân vách đá đó hiển nhiên là công cụ do con người làm ra như các mũi lao Clovis và công cụ Cro-Magnon. Nếu đã có hàng trăm ngàn hòn đá từ một vách đá cao rơi xuống trong vòng hàng vạn năm thì nhiều hòn trong đó sẽ bị cắt xẻ và vỡ ra khi chạm đến các tảng đá bên dưới, trong đó một số hòn rốt cuộc sẽ trông như những công cụ thô sơ do con người ghè đẽo. Ở Tây Âu và vài nơi khác tại Amazonia, giới khảo cổ đã xác định niên đại các sắc tố được sử dụng trong các bức họa hang động, nhưng việc đó lại không được tiến hành ở Pedra Furada. Xung quanh đó thường xuyên xảy ra nạn cháy rừng tạo nên than, than này thường được gió và các dòng nước quét vào hang động. Không có bằng chứng nào nối kết những viên than có tuổi 35.000 năm với những bức tranh hang động không thể nghi ngờ ở Pedra Furada. Mặc dù những người khai quật đầu tiên vẫn tin tưởng vào quan điểm của mình, mới đây một nhóm nhà khảo cổ – vốn không tham gia khai quật nhưng cởi mở với các tuyên bố về phát hiện tiền Clovis – đã đến thăm di chỉ này, song khi trở về họ vẫn tỏ ra chưa bị thuyết phục.
Di chỉ Bắc Mỹ mà hiện nay được coi là di chỉ tiền Clovis có bằng chứng mạnh mẽ nhất là hang đá Meadowcroft ở Pennsylvania, cung cấp niên đại cácbon phóng xạ liên quan tới người khoảng 16.000 năm trước. Tại Meadowcroft không nhà khảo cổ nào phủ nhận rằng đã xuất hiện nhiều công cụ chế tác của con người ở nhiều tầng được khai quật cẩn thận. Nhưng niên đại cácbon phóng xạ xưa nhất không có ý nghĩa lắm, bởi các loài cây trồng và vật nuôi gắn liền với những di chỉ này lại là các loài vẫn sống ở Pennsylvania trong thời đại gần đây khi khí hậu ôn hòa, chứ không phải các loài thuộc thời đại băng hà cách đây 16.000 năm như người ta vẫn nghĩ. Vì vậy người ta buộc phải ngờ rằng các mẫu than có niên đại từ những lớp con người định cư xưa nhất bao gồm than sau thời Clovis lẫn với cácbon xưa hơn. Di chỉ được cho là tiền Clovis “nặng ký” nhất ở Nam Mỹ là di chỉ Monte Verde ở miền nam Chile, có niên đại ít nhất 15.000 năm trước. Di chỉ này hiện nay có vẻ cũng thuyết phục được nhiều nhà khảo cổ, song người ta vẫn phải thận trọng bởi đã nhiều lần bị tưởng bở để rồi thất vọng như thế rồi.
Nếu quả thật có những người tiền Clovis ở châu Mỹ thì tại sao việc chứng minh họ có tồn tại lại khó khăn đến như vậy? Các nhà khảo cổ đã khai quật hàng trăm di chỉ tại Mỹ mà tất cả đều có niên đại từ 2.000 đến 11.000 năm TCN, trong đó có hàng tá di chỉ Clovis tại miền tây Bắc Mỹ, các hang đá ở dãy Appalache và các di chỉ ở ven biển California. Dưới các lớp khảo cổ nơi sự hiện diện của con người là không thể nghi ngờ, tại nhiều di chỉ trong chính các di chỉ đó, người ta đã khai quật thêm nhiều lớp sâu hơn, xưa hơn, và tìm thấy nhiều di tích hiển nhiên của các loài thú, nhưng bằng chứng về con người thì không tìm thấy nữa. Bằng chứng về những người tiền Clovis tại châu Mỹ thật yếu ớt, trái ngược với bằng chứng mạnh mẽ ở châu Âu, nơi hàng trăm di chỉ minh chứng cho sự hiện diện của con người từ xưa hơn nhiều trước khi các thợ săn Clovis xuất hiện tại châu Mỹ khoảng 11.000 năm TCN. Còn hùng hồn hơn nữa là bằng chứng tại châu Úc/New Guinea, nơi chỉ có giỏi lắm là một phần mười số nhà khảo cổ so với số nhà khảo cổ chỉ riêng tại Mỹ, nhưng một dúm nhà khảo cổ đó lại đã phát hiện được trên một trăm di chỉ tiền Clovis không thể chối cãi rải rác trên toàn lục địa này.
Những con người cổ xưa chắc chắn là đã không bay bằng trực thăng từ Alaska đến Meadowcroft và Monte Verde, lướt qua tất cả các cảnh quan giữa các nơi đó. Những người biện hộ cho thuyết tiền Clovis gợi ý rằng, trong hàng ngàn hay thậm chí hàng vạn năm, những người tiền Clovis chỉ có mật độ dân số thấp hoặc khó nhận thấy được về mặt khảo cổ, vì những nguyên nhân chưa biết và chưa từng có tiền lệ ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Tôi thấy đề xuất này lại còn kém thuyết phục hơn gấp bội so với đề xuất rằng vấn đề Monte Verde và Meadowcroft rốt cuộc rồi sẽ cũng được diễn giải lại cũng như nhiều di chỉ tiền Clovis khác mà người ta từng tuyên bố. Tôi thì cảm thấy, nếu như quả thật đã có người tiền Clovis định cư ở châu Mỹ, ắt hẳn ngày nay chúng ta đã có thể thấy dấu vết hiển nhiên ở nhiều nơi chứ không phải cãi nhau suốt như vậy. Tuy nhiên, các nhà khảo cổ vẫn đang bất đồng ý kiến về những vấn đề này.
Dù cách diễn giải nào là đúng đi nữa, hệ quả cho sự hiểu biết của chúng ta về tiền sử châu Mỹ gần đây vẫn là một. Hoặc, châu Mỹ đã có người đến định cư đầu tiên vào khoảng 11.000 năm TCN và nhanh chóng đầy người. Hoặc, việc định cư đầu tiên đã diễn ra sớm hơn (hầu hết các giả thuyết về người định cư tiền Clovis cho rằng việc đó diễn ra vào khoảng 15.000 hay 20.000 năm TCN, có thể 30.000 năm trước, một số nghiêm túc cho rằng còn sớm hơn nữa); song những người định cư tiền Clovis đó vẫn còn ít ỏi về số lượng, ít để lại dấu vết hoặc ít có ảnh hưởng cho mãi đến khoảng 11.000 năm TCN. Dẫu trường hợp nào đi nữa thì, trong năm lục địa mà con người có thể cư trú được, Bắc Mỹ và Nam Mỹ là các lục địa có giai đoạn tiền sử loài người ngắn ngủi nhất.
Với việc con người chiếm lĩnh châu Mỹ, hầu hết các khu vực có thể cư trú được của các lục địa và đảo lục địa, kể cả các hải đảo từ Indonesia đến vùng đông New Guinea đều đã có người. Việc định cư ở các hòn đảo còn lại của thế giới mãi đến thời hiện đại mới được hoàn tất: các đảo Địa Trung Hải như Crete, Cyprus, Corsica và Sardinia được định cư từ 8.500 đến 4.000 năm TCN, các đảo Caribê bắt đầu được định cư vào khoảng 4.000 năm TCN, các đảo Polynesia và Micronesia từ khoảng 1.200 đến 1.000 năm TCN, Madagascar khoảng năm 300 CN đến 800, và Iceland vào khoảng thế kỷ thứ IX. Người châu Mỹ bản địa, có lẽ là tổ tiên của người Inuit, đã bành trướng khắp vùng Bắc Cực vào khoảng 2.000 năm TCN. Như vậy, những khu vực duy nhất còn lại chưa có người ở, chờ đợi các nhà thám hiểm châu Âu đặt chân đến trong vòng 700 năm sau đó, là những hòn đảo xa xôi nhất của Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương (như quần đảo Azores và Seychelles) cộng với Nam cực.
Việc các lục địa được con người đến định cư vào những thời điểm khác nhau liệu có ý nghĩa gì đối với lịch sử từ đó về sau? Nếu có, ý nghĩa ấy là gì? Giả định rằng có một cỗ máy thời gian có khả năng đưa các nhà khảo cổ đi ngược thời gian chu du vòng quanh thế giới vào thời điểm 11.000 năm TCN. Xét tình hình thế giới vào thời đó, liệu các nhà khảo cổ có thể tiên đoán xem các xã hội loài người trên những lục địa khác nhau sẽ phát triển súng, vi trùng và thép theo những trình tự nào và từ đó tiên đoán tình trạng của thế giới ngày nay hay không?
Các nhà khảo cổ hẳn sẽ xét đến những lợi thế khả dĩ của nơi có lợi thế xuất phát. Nếu lợi thế xuất phát là đáng kể thì châu Phi hẳn đã có lợi thế lớn lao: ở đó người nguyên thủy đã hiện hữu như một loài riêng biệt sớm hơn ở các lục địa khác ít nhất 5 triệu năm. Ngoài ra, nếu đúng là người hiện đại đã nảy sinh ở châu Phi khoảng 100.000 năm trước rồi mới bành trướng ra các lục địa khác, điều đó hẳn đã triệt tiêu bất kỳ lợi thế nào tích lũy được ở các nơi khác tại thời điểm đó và mang lại cho châu Phi một lợi thế xuất phát mới. Hơn nữa, sự đa dạng gen của người ở châu Phi là cao nhất: một khi con người đã đa dạng hơn thì họ hợp lại ắt sẽ cho ra nhiều phát minh đa dạng hơn.
Song nhà khảo cổ của chúng ta có thể lại phản tỉnh: thực ra thì cái “lợi thế xuất phát” này có ý nghĩa gì cho mục đích của cuốn sách này? Chúng ta không được hiểu cái ẩn dụ cuộc chạy đua [giữa các châu lục] theo nghĩa đen. Nếu bảo “lợi thế xuất phát” nghĩa là quãng thời gian cần thiết để con người chiếm cứ toàn bộ một lục địa sau khi một số người tiên phong đầu tiên đặt chân lên lục địa đó, thì quãng thời gian này tương đối ngắn: không quá 1.000 năm để con người bành trướng ra toàn bộ Tân Thế giới. Còn nếu “lợi thế xuất phát” hàm ý khoảng thời gian cần thiết để thích nghi với môi trường địa phương thì tôi công nhận rằng một số môi trường có tính cực đoan quả thật là đòi hỏi phải mất thời gian để thích nghi. Chẳng hạn, người ta phải mất tới 9.000 năm mới chiếm lĩnh được Bắc Cực sau khi đã chiếm cứ toàn bộ phần còn lại của châu Mỹ. Song người ta hẳn đã khai phá và thích nghi với hầu hết các khu vực một cách nhanh chóng, một khi khả năng phát minh của con người hiện đại đã phát triển. Chẳng hạn, sau khi tổ tiên người Maori đến được New Zealand, hình như họ chỉ mất chưa đầy một thế kỷ để phát hiện ra toàn bộ các nguồn cung cấp đá đáng kể, chỉ thêm vài thế kỷ nữa để tận diệt con moa cuối cùng ở những vùng địa hình hiểm trở nhất thế giới, và chỉ thêm vài thế kỷ để tách ra thành một loạt nhiều xã hội khác nhau, từ những người săn bắt hái lượm vùng duyên hải cho đến các nông dân biết áp dụng những cách lưu trữ lương thực mới.
Vì vậy nhà khảo cổ của chúng ta hẳn sẽ nhìn sang châu Mỹ và kết luận rằng người châu Phi, tuy rõ ràng là những người có lợi thế xuất phát, hẳn đã bị những người châu Mỹ đầu tiên hất cẳng trong vòng nhiều lắm là một ngàn năm. Sau đó, do châu Mỹ rộng hơn (so với châu Phi thì rộng hơn đến 50%) và môi trường đa dạng hơn nhiều nên người châu Mỹ bản địa đã có được lợi thế so với người châu Phi.
Nhà khảo cổ sau đó hẳn sẽ nhìn sang Âu-Á và lập luận như sau: Âu-Á là lục địa lớn nhất thế giới. Nó đã có người sinh sống từ lâu hơn tất cả các lục địa khác ngoại trừ châu Phi. Mặc dù châu Phi đã có người từ sớm hơn Âu-Á một triệu năm nhưng điều đó không đáng kể bởi người nguyên thủy lúc đó vẫn còn ở tình trạng hết sức sơ khai. Nhà khảo cổ của chúng ta có thể nhìn vào sự nở rộ của vùng tây nam châu Âu vào Hậu kỳ Đồ đá cũ cách đây từ 20.000 đến 12.000 năm với tất cả các tác phẩm nghệ thuật và công cụ phức tạp lừng danh đó mà tự hỏi liệu Âu-Á đã có lợi thế xuất phát ngay từ lúc đó chăng, ít nhất là trong phạm vi Âu-Á.
Cuối cùng, nhà khảo cổ sẽ quay sang châu Úc/New Guinea và trước hết sẽ lưu ý rằng đây là một khu vực nhỏ (lục địa nhỏ nhất), phần lớn bao phủ toàn sa mạc chỉ có khả năng nuôi sống một số ít người, nằm ở vị trí cô lập, và có người sinh sống muộn hơn so với châu Phi và Âu-Á. Tất cả những điều đó hẳn sẽ khiến nhà khảo cổ tiên đoán châu Úc/New Guinea sẽ phát triển chậm.
Nhưng hãy nhớ rằng người châu Úc và người New Guinea là những người có kỹ thuật hàng hải sớm nhất trên thế giới. Họ đã tạo ra những bức tranh hang động rõ ràng là muộn nhất thì cũng xưa như người Cro-Magnon ở châu Âu. Jonathan Kingdon và Tim Flannery đã lưu ý rằng việc di cư sang châu Úc/New Guinea từ các đảo ở vùng thềm lục địa châu Á đòi hỏi con người phải thích nghi được với những môi trường mới mà họ gặp trên các hòn đảo miền trung Indonesia – một mê cung những đường bờ biển cung cấp nguồn hải sản, rạn san hô và cây đước phong phú nhất trên thế giới. Khi những người định cư này vượt các eo biển chia cắt mỗi hòn đảo Indonesia với hòn đảo kế cận về phía đông, họ lại thích nghi từ đầu, chiếm lĩnh toàn bộ hòn đảo kế cận đó rồi lại tiếp tục di cư sang hòn đảo kế tiếp. Đó là một thời kỳ hoàng kim của sự bùng nổ dân số loài người mà đến nay chưa có tiền lệ. Có lẽ những chu kỳ đến định cư, thích nghi rồi bùng nổ dân số này là cái đã tạo điều kiện cho Cú Nhảy Lớn Về Phía Trước mà sau đó lan truyền trở lại về phía tây đến Âu-Á và châu Phi. Nếu giả thuyết này là đúng thì châu Úc/New Guinea đã có một lợi thế xuất phát mạnh mà sau đó hẳn đã tiếp diễn hầu thúc đẩy sự phát triển của loài người tại đó mãi một thời gian dài sau Cú Nhảy Lớn Về Phía Trước.
Vậy, một nhà quan sát được đưa ngược thời gian về 11.000 năm TCN không thể tiên đoán xem các xã hội loài người trên châu lục nào sẽ phát triển nhanh nhất, song lại có thể biện luận rằng bất cứ lục địa nào cũng có thể là nơi phát triển nhanh nhất. Dĩ nhiên, ngày nay khi mọi việc đã rồi, ta biết Âu-Á là lục địa phát triển nhanh nhất. Song, những nguyên nhân thật đằng sau sự phát triển nhanh hơn của các xã hội Âu-Á hóa ra lại hoàn toàn không phải là các nguyên nhân mà nhà khảo cổ tưởng tượng của chúng ta vào năm 11.000 TCN có thể hình dung. Phần còn lại của sách này bao hàm cuộc tìm kiếm hầu khám phá những nguyên nhân thật đó.
Phần 1: Từ vườn địa đàng đến Cajamarca
Chương 2 - Thí nghiệm tự nhiên về lịch sử

Trên quần đảo Chatham, cách New Zealand 500 dặm (khoảng 800 km, ND) về phía Đông, dân tộc Moriori từng sống nhiều thế kỷ trong độc lập nhưng rồi lại gặp kết cục tàn khốc vào tháng Mười hai năm 1835. Vào ngày 19 tháng Mười một năm đó, một con tàu chở 500 người Maori mang theo súng ống, gậy gộc và rìu đổ bộ lên quần đảo, sau đó vào ngày 5 tháng Mười hai lại thêm một tàu nữa chở 400 người Maori đến. Những nhóm người Maori bắt đầu đi khắp các làng mạc của người Moriori, tuyên bố rằng từ nay người Moriori là nô lệ của họ, ai phản đối là họ giết. Giá như người Moriori lúc đó tiến hành một cuộc kháng chiến quy mô thì hẳn đã có thể đánh bại người Maori bởi người Moriori đông gấp đôi. Tuy nhiên, người Moriori có truyền thống giải quyết các cuộc tranh chấp bằng cách hòa bình. Tại một cuộc họp cộng đồng, họ quyết định không đánh lại người Maori mà đề xuất hòa bình, hữu nghị và phân chia tài nguyên.
Nhưng người Moriori chưa kịp đưa ra đề xuất đó thì người Maori đã tấn công đại quy mô. Chỉ trong mấy ngày sau họ đã giết hàng trăm người Moriori, đem nhiều xác chết của người Moriori ra nấu nướng rồi ăn thịt, bắt tất cả những người khác làm nô lệ và chỉ vài năm sau đã tùy ý giết chết hầu hết số người đó. Một người Moriori sống sót kể lại: “Người Maori bắt đầu giết chúng tôi như giết cừu… Chúng tôi sợ chết khiếp, trốn trong bờ trong bụi, nấp trong hố dưới đất, bất cứ ở đâu để tránh kẻ thù. Nhưng vô ích; họ tìm ra và giết hết chúng tôi, không phân biệt đàn ông đàn bà, già trẻ lớn bé”. Một người chinh phục Maori giải thích: “Chúng tôi nắm quyền sở hữu theo phong tục của chúng tôi, chúng tôi bắt hết người. Không ai thoát cả. Một vài người bỏ chạy, những kẻ đó chúng tôi giết, những người khác chúng tôi cũng giết – thì đã sao? Đó là theo phong tục của chúng tôi mà”.
Hậu quả tàn khốc của sự đụng độ này giữa người Moriori với người Maori lẽ ra có thể dễ dàng tiên đoán được. Người Moriori là một nhóm người săn bắt hái lượm nhỏ sống cô lập, chỉ có công nghệ và các vũ khí thô sơ nhất, hoàn toàn không có kinh nghiệm chiến tranh, lại thiếu người lãnh đạo hay tổ chức mạnh. Những người Maori xâm lược (từ đảo Bắc New Zealand) đến từ một vùng đông dân cư gồm những người làm nông thường xuyên dính vào những cuộc chiến tranh khốc liệt, có công nghệ và vũ khí tiên tiến hơn, hoạt động dưới quyền một nhóm lãnh đạo mạnh. Dĩ nhiên, khi hai nhóm này rốt cuộc cũng tiếp xúc với nhau thì chính người Maori tàn sát người Moriori chứ không phải là ngược lại.
Bi kịch của người Moriori giống như nhiều tấn bi kịch khác đã diễn ra ở cả thế giới hiện đại lẫn thế giới cổ xưa, khi những dân tộc đông người và được trang bị tốt đối đầu với những dân tộc ít người và trang bị kém. Tuy nhiên, cuộc xung đột giữa người Maori và người Moriori soi sáng cho chúng ta một cách đáng buồn rằng cả hai nhóm này đã tách ra từ một nguồn chung trước đó chưa đầy một ngàn năm. Cả hai đều là dân Polynesia. Người Maori hiện đại là hậu duệ của các nông dân Polynesia từng di cư sang New Zealand vào khoảng năm 1000. Chẳng bao lâu sau đó, một nhóm người Maori này đến lượt mình lại di cư sang quần đảo Chatham và trở thành người Moriori. Trong các thế kỷ sau khi hai nhóm tách nhau ra, họ tiến hóa theo hai hướng trái ngược nhau, người Maori ở Đảo Bắc phát triển công nghệ và tổ chức chính trị phức tạp hơn, người Moriori thì ít phức tạp hơn. Người Moriori trở lại sống bằng săn bắt hái lượm, còn người Maori Đảo Bắc chuyển sang làm nông nghiệp triệt để hơn.
Những lộ trình tiến hóa trái ngược nhau này đã quyết định hệ quả khi hai nhóm này rốt cuộc đối đầu nhau. Nếu ta có thể hiểu những nguyên nhân dẫn tới sự phát triển khác biệt nhau của hai nhóm xã hội hải đảo này, ấy là ta đã có một mẫu hình để thấu hiểu câu hỏi lớn hơn là những hướng phát triển khác nhau trên các lục địa khác nhau.
Lịch sử Moriori và Maori là một thí nghiệm nhanh trên quy mô nhỏ nhằm kiểm chứng xem môi trường có ảnh hưởng thế nào lên xã hội loài người. Trước khi đọc cả một cuốn sách khảo cứu những tác động của môi trường trên quy mô thật lớn – chẳng hạn như tác động lên các xã hội loài người trong vòng 13.000 năm trở lại đây – hẳn bạn cần có sự đảm bảo – từ các thí nghiệm nhỏ hơn – rằng những tác động đó là thực sự quan trọng. Nếu bạn là nhà khoa học phòng thí nghiệm chuyên nghiên cứu chuột, bạn hẳn sẽ tiến hành một thí nghiệm như vậy bằng cách lấy một đàn chuột, chia số chuột tổ tiên này ra thành nhiều chuồng mỗi chuồng có một môi trường khác nhau, đến khi chuột đã sinh sôi được nhiều thế hệ thì bạn quay lại xem điều gì đã xảy ra. Dĩ nhiên, những thí nghiệm có chủ đích này không thể thực hiện đối với các xã hội loài người. Thay vào đó, nhà khoa học phải tìm những “thí nghiệm tự nhiên” mà ở đó một điều gì tương tự cũng đã xảy ra với con người trong quá khứ.
Một thí nghiệm như vậy đã diễn ra trong quá trình con người di cư sang Polynesia. Rải rác khắp Thái Bình Dương bên ngoài New Guinea và Melanesia là hàng ngàn hòn đảo khác nhau rất nhiều về diện tích, mức độ cô lập, độ cao, khí hậu, tính năng sản, tài nguyên địa chất và tài nguyên sinh học (Hình 2.1). Trong hầu hết lịch sử loài người, các hòn đảo này nằm ngoài tầm với của kỹ thuật hàng hải. Vào khoảng 1.200 năm TCN một nhóm người làm nông, đánh cá và đi biển từ quần đảo Bismarck về phía Bắc New Guinea cuối cùng cũng tới được một vài đảo trong số này. Trong vài thế kỷ sau, hậu duệ của họ đã định cư ở hầu như bất cứ rẻo đất nào có thể sống được ở Thái Bình Dương. Quá trình này hầu như hoàn tất vào năm 500, vài ba hòn đảo cuối cùng cũng có người định cư từ sau năm 1000.
Như vậy, chỉ trong một khoảng thời gian không dài, những môi trường hải đảo hết sức đa dạng đã được chiếm lĩnh bởi những người định cư mà tất cả đều phát nguyên từ cùng một nhóm người thủy tổ. Thủy tổ tất cả những người Polynesia ngày nay đều có cùng một nền văn hóa, ngôn ngữ và công nghệ như nhau, cùng một số cây trồng và vật nuôi như nhau. Từ đó, lịch sử Polynesia là một thí nghiệm tự nhiên cho phép ta nghiên cứu sự thích nghi của con người mà không vướng phải những khó khăn thường gặp khiến ta nản lòng khi nghiên cứu những làn sóng di dân khác nhau hòng thấu hiểu sự thích nghi của con người ở các nơi khác trên thế giới.
Trong phạm vi thí nghiệm cỡ trung này, số phận của người Moriori là một thí nghiệm nhỏ hơn. Mô tả cho thấy các môi trường khác nhau ở quần đảo Chatham và New Zealand đã nhào nặn nên những người Moriori và Maori khác nhau đến thế nào là việc không khó. Tuy những người gốc gác Maori đầu tiên di cư sang Chatham có thể vẫn làm nghề nông, song vì các cây trồng nhiệt đới Maori không thể mọc ở khí hậu lạnh của vùng Chatham cho nên những người định cư này chẳng có cách nào khác ngoài trở lại sống bằng săn bắt hái lượm. Bởi là người săn bắt hái lượm nên họ không sản xuất ra lương thực thặng dư đủ để tái phân phối hay dự trữ, họ không thể nuôi ăn những thợ thủ công, quân đội, quan lại và tù trưởng chuyên làm việc của mình mà không săn bắt. Con mồi của họ là hải cẩu, sò ốc, chim biển làm tổ và cá, những loài có thể bắt bằng tay hay bằng gậy và không cần phải có công nghệ tinh xảo. Ngoài ra, Chatham gồm những hòn đảo tương đối nhỏ và cách xa nhau, chỉ có thể nuôi sống một nhóm người săn bắt hái lượm với nhân khẩu không quá hai ngàn. Không còn hòn đảo nào khác để đến định cư, người Moriori đành phải ở lại quần đảo Chatham và học cách sống hòa thuận với nhau. Họ làm được điều đó bằng cách từ bỏ chiến tranh, và họ giảm thiểu những xung đột tiềm tàng do dân số quá đông bằng cách thiến một số bé trai. Kết quả là người Moriori trở thành một nhóm người nhỏ không ưa chiến tranh, có công nghệ và vũ khí thô sơ, không có người lãnh đạo hoặc cơ cấu tổ chức mạnh.
Hình 2.1: Các đảo Polynesia. (Các vùng/đảo có tên trong ngoặc đơn thì không phải là Polynesia).
Ngược lại, phần phía bắc (ấm hơn) của New Zealand, nhóm đảo lớn nhất ở Polynesia, thì thích hợp với nghề nông của người Polynesia. Những người Maori nào ở lại New Zealand thì sinh sôi nảy nở dần cho đến khi đạt tới dân số hơn 100.000 người. Họ phát triển thành những nhóm dân cư đông đúc thường xuyên đánh nhau ác liệt với các nhóm láng giềng. Với chỗ lương thực thặng dư có thể trồng và dự trữ được, họ có thể nuôi ăn các thợ thủ công, tù trưởng và binh lính làm việc bán thời gian. Họ cần có và đã phát triển được nhiều công cụ để thu hoạch mùa màng, chiến đấu và làm nghệ thuật. Họ dựng lên những công trình tế lễ tinh vi và nhiều pháo đài sừng sững.
Như vậy, các xã hội Moriori và Maori đã phát triển từ cùng một xã hội tổ tiên nhưng theo hai hướng rất khác nhau. Hai xã hội phát sinh từ đó không còn biết đến sự tồn tại của nhau và không hề tiếp xúc lại với nhau trong suốt nhiều thế kỷ, có thể tới 500 năm. Cuối cùng, một con tàu săn hải cẩu của Úc ghé thăm quần đảo Chatham trên đường đến New Zealand đã mang về New Zealand thông tin về những hòn đảo nơi “biển ê hề, cơ man nào là cá; ao hồ lèn chặt những lươn là lươn; lại có lắm quả dâu karaka… Dân cư rất đông, nhưng họ không biết đánh nhau, không có vũ khí”. Tin ấy là quá đủ để xui 900 người Maori dong thuyền đến quần đảo Chatham. Hệ quả này cho thấy rõ môi trường có thể ảnh hưởng thế nào đến nền kinh tế, công nghệ, tổ chức chính trị và kỹ năng chiến đấu của con người trong một thời gian ngắn.
Như tôi đã nhắc ở trên, sự đụng độ Maori-Moriori là một thí nghiệm nhỏ bên trong một thí nghiệm cỡ trung. Ta có thể học được gì từ các dân Polynesia về ảnh hưởng của môi trường lên xã hội loài người? Những khác biệt nào giữa các xã hội khác nhau trên những đảo Polynesia khác nhau cần phải được chúng ta lý giải đến nơi đến chốn?
Polynesia, về tổng thể, bao gồm một loạt điều kiện môi trường đa dạng hơn nhiều so với New Zealand và quần đảo Chatham mặc dù Chatham là một thái cực (cực đơn giản) của tổ chức xã hội Polynesia. Về loại hình phương thức tồn tại, người Polynesia bao gồm từ dân săn bắt hái lượm ở quần đảo Chatham, những người trồng trọt chuyên chặt rừng đốt rẫy, cho đến những nông dân sản xuất lương thực thâm canh sống ở một trong những quần thể dân cư dày đặc nhất so với bất cứ xã hội loài người nào khác. Những người sản xuất lương thực Polynesia nuôi thâm canh lợn, chó hoặc gà. Họ tổ chức lực lượng lao động để xây dựng các hệ thống tưới tiêu lớn phục vụ nông nghiệp và xây những hồ lớn để nuôi cá. Cơ sở kinh tế của các xã hội Polynesia bao gồm những hộ gia đình ít nhiều tự cấp tự túc, nhưng ở một số đảo cũng có cả những hội thợ thủ công bán chuyên nghiệp cha truyền con nối. Về tổ chức xã hội, các xã hội Polynesia bao gồm từ những xã hội làng xã tương đối bình đẳng cho đến một số xã hội thuộc loại nhiều đẳng cấp nhất trên thế giới, với nhiều dòng dõi cha truyền con nối theo thứ bậc, có đẳng cấp tù trưởng và lớp thường dân, ai ở giai cấp nào thì chỉ lấy vợ lấy chồng trong giai cấp đó. Về tổ chức chính trị, các đảo Polynesia bao gồm từ các vùng bị chia cắt thành những đơn vị làng hoặc bộ lạc độc lập cho tới những đế quốc sơ khai trải rộng trên nhiều đảo, có quân đội thường trực đi xâm chiếm các hòn đảo khác và tiến hành chiến tranh chinh phạt. Cuối cùng, về văn hóa vật thể, Polynesia bao gồm từ những xã hội chỉ biết sản xuất dụng cụ cá nhân cho đến các xã hội xây dựng được những công trình kỳ vĩ bằng đá. Làm sao lý giải được sự đa dạng đến nhường này?
Góp phần vào những khác biệt đó giữa các xã hội Polynesia là ít nhất sáu tập biến tố môi trường giữa các hòn đảo Polynesia: khí hậu đảo, loại hình địa chất, tài nguyên biển, diện tích, độ cắt xẻ địa hình, mức độ cô lập. Ta hãy xét chuỗi nhân tố này trước khi xét hậu quả cụ thể của chúng đối với các xã hội Polynesia.
Khí hậu Polynesia thay đổi từ khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới ấm áp trên hầu hết các đảo nằm gần xích đạo, cho đến khí hậu ôn hòa ở hầu hết các đảo New Zealand, và khí hậu cận Nam cực lạnh trên quần đảo Chatham và phần phía nam của Đảo Nam thuộc New Zealand. Đảo Lớn của Hawaii, mặc dù nằm ngay trong vùng hạ chí tuyến, có những ngọn núi đủ cao để có môi trường sống cho các loài ở vùng núi, thỉnh thoảng còn có cả tuyết rơi. Lượng mưa thay đổi từ cao nhất thế giới (tại Fjorland thuộc New Zealand và đầm lầy Alakai trên đảo Kauai thuộc Hawaii) cho đến chỉ bằng một phần mười như vậy ở những đảo khô đến mức khó lòng trồng trọt gì được.
Loại hình địa chất của các đảo bao gồm đảo san hô, đảo đá vôi nổi, đảo núi lửa, mảnh lục địa, và hỗn hợp giữa các loại trên. Ở một cực, vô số hòn đảo nhỏ, như các đảo ở quần đảo Tuamotu, là những đảo san hô phẳng, thấp, chỉ cao hơn mực nước biển chút ít. Những đảo san hô khác như Henderson và Rennell thì lại được nâng lên cao hơn mực nước biển rất xa để thành những đảo đá vôi nổi. Cả hai loại đảo san hô này đều khó định cư đối với con người bởi chúng gồm toàn đá vôi chứ không có loại đá nào khác, chỉ có lớp đất cực mỏng và không có nước ngọt thường xuyên. Ở cực đối lập, hòn đảo Polynesia lớn nhất, New Zealand, là một vùng đất cổ, đa dạng về địa chất, một mảnh của lục địa Gondwana, có nhiều tài nguyên khoáng sản trong đó có sắt, than, vàng và ngọc bích có thể khai thác thương mại. Hầu hết các đảo Polynesia lớn khác là những núi lửa trồi lên khỏi mặt biển, chưa bao giờ là một phần lục địa và có thể bao gồm hoặc không bao gồm những khu vực đá vôi. Tuy thiếu sự phong phú về địa chất của New Zealand, các đảo núi lửa đại dương ít nhất cũng khá hơn các đảo san hô (theo quan điểm Polynesia) ở chỗ chúng có nhiều loại đá núi lửa đa dạng trong đó có những loại rất thích hợp để làm công cụ đá.
Bản thân các đảo núi lửa cũng rất khác nhau. Một số nhô cao hơn nên có mưa trên núi vì vậy các đảo này có thời tiết phân biệt rõ rệt, có lớp đất sâu và dòng chảy thường xuyên. Đó là trường hợp các đảo Society, Samoa, Marquesas và đặc biệt Hawaii, quần đảo Polynesia có những ngọn núi cao nhất. Trong số các hòn đảo thấp hơn, Tonga và (ở mức độ thấp hơn) đảo Phục Sinh cũng có lớp đất màu mỡ vì có tro núi lửa rơi xuống nhưng lại thiếu những dòng chảy lớn như ở Hawaii.
Về tài nguyên biển, hầu hết các đảo Polynesia đều được nước nông và đá ngầm bao quanh, nhiều đảo lại vây quanh những đầm phá. Những môi trường này đầy ắp cá tôm, sò ốc. Tuy nhiên, bờ biển lắm đá của đảo Phục Sinh, Pitcairn và quần đảo Marquesas, cũng như đáy biển dốc và xung quanh không có rạn san hô khiến cho các đảo này cung cấp ít hải sản hơn nhiều.
Diện tích cũng là một biến tố hiển nhiên khác. Từ 100 ha như Anuta, hòn đảo Polynesia nhỏ nhất có người thường trú, cho tới 103.000 dặm vuông của tiểu lục địa New Zealand. Địa hình có thể sinh sống được của một số đảo, đặc biệt là Marquesas, bị những dãy núi chia cắt thành các thung lũng dốc, trong khi những đảo khác như Tonga và Phục Sinh lại có địa hình hơi mấp mô không gây trở ngại gì cho việc đi lại và giao tiếp.
Biến tố môi trường cuối cùng cần xét là mức độ cô lập. Đảo Phục Sinh và quần đảo Chatham nhỏ bé và xa các đảo khác đến nỗi khi đã có con người đặt chân tới rồi, các xã hội hình thành từ đó phát triển một cách hoàn toàn cách biệt với phần còn lại của thế giới. New Zealand, Hawaii và Marquesas cũng rất xa, nhưng ít nhất thì Hawaii và Marquesas rõ ràng đã có vài sự giao tiếp với các quần đảo khác sau khi có người đặt chân đến đầu tiên, và cả ba đều bao gồm nhiều đảo đủ gần nhau để những người sống trên các đảo khác nhau của cùng một quần đảo có thể thường xuyên giao tiếp với nhau. Hầu hết các đảo Polynesia khác đều ít nhiều có giao tiếp với các đảo khác. Đặc biệt, quần đảo Tonga nằm gần các quần đảo Fiji, Samoa và Wallis đủ để cho phép người ta đi lại thường xuyên giữa các quần đảo này và rốt cuộc đã cho phép người Tonga tiến hành chinh phục Fiji.
Sau khi lướt qua những môi trường khác nhau của Polynesia, giờ ta hãy xem các biến tố đó ảnh hưởng thế nào đến các xã hội Polynesia. Phương tiện sinh tồn là một khía cạnh thuận lợi để chúng ta khảo sát đầu tiên, bởi đến lượt mình nó ảnh hưởng đến các khía cạnh khác.
Phương tiện sinh tồn của người Polynesia bao gồm nhiều kết hợp khác nhau giữa đánh cá, hái lượm quả dại, bắt tôm cua sò ốc, săn các loài chim sống trên mặt đất và chim biển đang giao phối, và sản xuất lương thực. Hầu hết các đảo Polynesia ban đầu là nơi sinh sống của những loài chim lớn không biết bay từng tiến hóa trong hoàn cảnh không hề bị bất cứ loài nào săn để ăn thịt, mà ví dụ nhiều người biết nhất là loài moa New Zealand và ngỗng không biết bay của Hawaii. Tuy các loài chim này từng là nguồn lương thực quan trọng cho những người đến định cư đầu tiên, nhất là trên Đảo Nam của New Zealand, song hầu hết chẳng bao lâu sau đều tuyệt chủng trên tất cả các đảo vì chúng quá dễ săn. Chim biển giao phối cũng nhanh chóng sụt giảm về số lượng nhưng vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng trên một vài đảo. Tài nguyên biển là quan trọng trên hầu hết các đảo nhưng ở đảo Phục Sinh, Pitcairn và Marquesas thì lại không quan trọng lắm bởi dân cư các đảo này sống bằng lương thực tự sản xuất là chính.
Người Polynesia xa xưa mang theo ba loài vật đã thuần hóa (lợn, gà và chó) đến những nơi định cư mới và không thuần hóa thêm bất cứ loài vật nào khác ở Polynesia. Nhiều đảo vẫn giữ tất cả ba loài đó, song những đảo Polynesia cô lập hơn thì không còn giữ một trong ba loài ấy hay còn nhiều hơn vậy, hoặc vì gia súc chở trên xuồng không sống được đến cuối cuộc hành trình dài trên biển hoặc vì gia súc một khi đã chết thì không thể đưa gia súc từ ngoài vào thay thế được. Chẳng hạn, New Zealand bị cô lập nên rốt cuộc chỉ còn mỗi loài chó; đảo Phục Sinh và Tikopia chỉ còn lại mỗi gà. Vì không thể tiếp cận các rạn san hô hay những vùng nước nông giàu hải sản còn những loài chim sống trên cạn thì nhanh chóng tuyệt chủng, dân đảo Phục Sinh đành chuyển sang xây chuồng gà để thâm canh nuôi gia cầm.
Tuy nhiên, ba loài vật đã thuần hóa đó giỏi lắm cũng chỉ đủ ăn dăm ngày ba bữa. Sản xuất lương thực của người Polynesia phụ thuộc chủ yếu vào cây trồng, nhưng ở các vĩ độ cận Nam cực thì không thể trồng trọt được bởi tất cả các loại cây trồng Polynesia đều là cây vùng nhiệt đới, được thuần hóa ở nơi khác rồi mới được di dân mang đến Polynesia. Vì vậy những người định cư ở Chatham và vùng phía nam giá lạnh của Đảo Nam New Zealand buộc phải từ bỏ di sản trồng trọt của tổ tiên tự hàng ngàn năm trước để lại trở thành dân săn bắt hái lượm.
Dân cư trên các đảo Polynesia còn lại thì có làm nông nghiệp dựa trên các loại cây trồng đất khô (nhất là khoai sọ, khoai mỡ, khoai lang), cây trồng tưới nước (chủ yếu khoai sọ) và cây trồng có thân (như quả sa-kê, chuối và dừa). Năng suất và tầm quan trọng tương đối của các loại cây trồng này thay đổi đáng kể từ đảo này sang đảo khác tùy theo môi trường. Mật độ dân cư của người là thấp nhất trên đảo Henderson, Rennell và các đảo san hô do đất cằn và ít nước ngọt. Mật độ cũng thấp ở New Zealand có khí hậu ôn hòa bởi nơi đây quá lạnh so với một số loại cây trồng Polynesia. Người Polynesia trên các đảo này và một số đảo khác làm nông nghiệp theo lối không thâm canh mà là du canh, đốt rừng làm rẫy.
Những đảo khác có đất màu mỡ nhưng lại không đủ cao để có những dòng chảy lớn thường xuyên, do đó cũng không thể có kênh mương. Cư dân các đảo này làm nông nghiệp thâm canh trên đất khô nên cần phải đầu tư nhiều sức lực để đắp nền, phủ bổi, xoay vòng cây, giảm thiểu hoặc loại trừ hẳn những thời kỳ bỏ hóa đất và chăm sóc các đồn điền. Nông nghiệp đất khô trở nên đặc biệt có năng suất cao ở đảo Phục Sinh, đảo Anuta bé tí và đảo Tonga phẳng, thấp, nơi người Polynesia dành hầu hết diện tích đất để trồng lương thực.
Ngành nông nghiệp có năng suất cao nhất ở Polynesia là trồng khoai sọ ở các cánh đồng có tưới tiêu. Trong số các hòn đảo nhiệt đới đông dân nhất, lựa chọn này bị loại trừ đối với Tonga do đảo này có độ cao thấp nên thiếu sông ngòi. Nông nghiệp tưới tiêu đạt tới đỉnh cao ở các đảo cực tây Hawaii gồm Kauai, Oahu và Molokai vốn đủ rộng và ẩm ướt để có không chỉ những dòng chảy lớn thường xuyên mà cả dân số đông để có thể xây dựng các công trình. Những người lao dịch Hawaii đã xây dựng các hệ thống tưới tiêu tinh vi cho các cánh đồng khoai sọ cho năng suất đến 24 tấn một hécta, năng suất cây trồng cao nhất trên toàn Polynesia. Năng suất này đến lượt mình lại cho phép thâm canh nuôi lợn. Hawaii cũng là nơi duy nhất ở Polynesia sử dụng lao động quy mô lớn cho nghề thủy sản, xây những ao cá lớn để nuôi cá măng và cá đối.
Do hệ quả việc phương tiện sinh tồn có liên quan đến biến tố môi trường, nên mật độ dân cư (đo bằng đơn vị số đầu người trên dặm vuông đất có thể trồng trọt) thay đổi khá nhiều trên toàn Polynesia. Mật độ thấp nhất là những người săn bắt hái lượm ở quần đảo Chatham (chỉ 5 người trên một dặm vuông) và Đảo Nam của New Zealand cũng như những người làm nông trên phần còn lại của New Zealand (28 người trên một dặm vuông). Ngược lại, nhiều hòn đảo có nền nông nghiệp thâm canh đạt mật độ dân số tới 210-250 người trên một dặm vuông, ở Hawaii lên tới 300. Cực cao nhất là 1.100 người trên một dặm vuông ở hòn đảo đất cao Anuta nơi cư dân đã biến hầu như toàn bộ hòn đảo thành đất thâm canh nông nghiệp cho nên chỉ vỏn vẹn một hécta mà lèn chặt tới 160 người, trở thành một trong những quần thể dân cư có mật độ cao nhất thế giới. Mật độ dân cư của Anuta vượt cả mật độ của Hà Lan hiện nay và thậm chí ngang ngửa với Bangladesh.
Quy mô dân số là tích số của mật độ dân cư (số người trên dặm vuông) và diện tích (dặm vuông). Diện tích ở đây không phải là diện tích một hòn đảo mà là diện tích của một đơn vị chính trị, vốn có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn một hòn đảo. Một mặt, những hòn đảo gần nhau có thể được kết hợp thành một đơn vị chính trị duy nhất. Mặt khác, những hòn đảo duy nhất với địa hình cắt xẻ được chia thành nhiều đơn vị chính trị độc lập. Vì vậy, diện tích một đơn vị chính trị thay đổi không chỉ theo diện tích một hòn đảo mà cả theo mức độ chia cắt và tách biệt của hòn đảo đó.
Với những hòn đảo nhỏ tách biệt mà không có những rào cản lớn đối với sự giao tiếp trong nội bộ đảo thì toàn bộ đảo là một đơn vị chính trị duy nhất, như trong trường hợp Anuta với vỏn vẹn 160 người. Nhiều đảo lớn hơn chẳng bao giờ thống nhất được về mặt chính trị, hoặc vì dân cư bao gồm nhiều bộ lạc khác nhau, mỗi bộ lạc chỉ gồm vài chục người săn bắt hái lượm (như quần đảo Chatham và phía nam Đảo Nam của New Zealand) hoặc gồm những người làm nông sống rải rác cách xa nhau (phần còn lại của New Zealand) hoặc những nông dân cư trú với mật độ cao song ở vùng địa hình lởm chởm gây trở ngại cho việc thống nhất về chính trị. Chẳng hạn, dân cư ở những thung lũng sườn dốc kề cận nhau ở Marquesas chỉ giao tiếp với nhau chủ yếu bằng đường biển; mỗi thung lũng là một thực thể chính trị độc lập gồm dăm ngàn cư dân, và hầu hết các đảo lớn của quần đảo Marquesa vẫn chia cắt thành nhiều thực thể như vậy.
Địa hình các đảo Tonga, Samoa, Society và các đảo Hawaii thì lại cho phép thống nhất chính trị trong nội bộ các đảo, cho ra những đơn vị chính trị gồm 10.000 người hay nhiều hơn (trên 30.000 đối với các đảo lớn của Hawaii). Khoảng cách giữa các đảo của quần đảo Tonga cũng như khoảng cách giữa Tonga với các quần đảo láng giềng là đủ gần để rốt cuộc người ta có thể thiết lập một đế quốc đa đảo bao gồm 40.000 người. Vậy là, các đơn vị chính trị ở Polynesia thay đổi về quy mô từ dăm chục người đến bốn vạn người.
Dân số của một đơn vị chính trị tương tác với mật độ dân số có ảnh hưởng đến công nghệ và tổ chức kinh tế, xã hội và chính trị của người Polynesia. Nói chung, dân số càng đông và mật độ càng cao thì công nghệ và tổ chức càng phức tạp và chuyên biệt, vì những nguyên nhân mà chúng ta sẽ xét chi tiết ở các chương sau. Nói ngắn gọn, khi mật độ dân cư cao thì chỉ một phần dân chúng trở thành nông dân, nhưng họ được huy động để dành hết công sức làm nông nghiệp thâm canh, nhờ đó có lương thực thặng dư đặng nuôi sống những người không sản xuất. Những người không trực tiếp sản xuất mà chuyên huy động nông dân là các tù trưởng, tăng lữ, quan lại và binh lính. Các đơn vị chính trị lớn nhất có thể tập hợp lực lượng lao động lớn để xây dựng các hệ thống tưới tiêu và ao cá, những việc này lại càng giúp tăng cường sản xuất lương thực. Những diễn biến này đặc biệt thấy rõ tại Tonga, Samoa và đảo Society, tất cả đều màu mỡ, mật độ dân số cao và diện tích tương đối rộng theo chuẩn của Polynesia. Những xu hướng này đạt tới đỉnh cao trên quần đảo Hawaii bao gồm những hòn đảo Polynesia rộng nhất ở vùng nhiệt đới, nơi mật độ dân số cao và diện tích đất rộng nên các tù trưởng có thể huy động những lực lượng lao động rất lớn khi cần.
Những biến đổi khác nhau trong các xã hội Polynesia gắn liền với sự khác nhau về mật độ dân số và quy mô dân số là như sau: Nền kinh tế đơn giản nhất là nền kinh tế trên những đảo có mật độ dân số thấp (như săn bắt hái lượm trên đảo Chatham), quy mô dân số thấp (các đảo san hô nhỏ) hay cả mật độ thấp lẫn quy mô dân số thấp. Ở các xã hội này mỗi gia đình tự làm lấy những gì mình cần; ít có hoặc không có sự chuyên môn hóa trong kinh tế. Sự chuyên môn hóa tăng lên ở các đảo lớn hơn, dân cư đông hơn, đạt đỉnh cao ở Samoa, các đảo Society, đặc biệt là ở Tonga và Hawaii. Hai hòn đảo vừa nhắc sau cùng này có những thợ thuyền bán chuyên nghiệp cha truyền con nối trong đó có những thợ đóng xuồng, hoa tiêu, thợ xây đá, thợ bắn chim và thợ xăm mình.
Tính phức tạp xã hội cũng thay đổi theo cách tương tự. Lại nữa, quần đảo Chatham và các đảo san hô có những xã hội đơn giản nhất, bình đẳng nhất. Tuy các đảo này vẫn duy trì truyền thống nguyên thủy của người Polynesia là có tù trưởng, song các tù trưởng của họ ít có hoặc không hề có những dấu hiệu phân biệt thấy rõ, sống trong những túp lều giống như của thường dân, và cũng tự trồng trọt hay săn bắt lương thực cho chính mình như mọi người. Sự phân biệt xã hội và quyền lực của tù trưởng tăng lên ở các đảo có mật độ cao và đơn vị chính trị lớn, đặc biệt là ở Tonga và Society.
Tính phức tạp xã hội cũng lại đạt đỉnh cao ở quần đảo Hawaii, nơi những người là hậu duệ của tù trưởng được chia thành tám dòng dõi theo thứ bậc. Thành viên các dòng dõi tù trưởng này không kết hôn với thường dân mà chỉ kết hôn với nhau, đôi khi thậm chí với cả anh chị em ruột, anh chị em cùng mẹ hoặc cùng cha. Thường dân phải cúi rạp mình trước mặt các tù trưởng quyền cao chức trọng. Mọi thành viên của dòng dõi tù trưởng, quan lại và một số thợ thủ công được miễn làm công việc sản xuất lương thực.
Cơ cấu chính trị cũng theo đúng xu hướng đó. Trên quần đảo Chatham và các đảo san hô, tù trưởng chẳng có nhiều quyền để ra lệnh, các quyết định đều đạt được thông qua thảo luận chung, và quyền sở hữu đất đai nằm trong tay cộng đồng với tư cách toàn thể chứ không phải trong tay tù trưởng. Những đơn vị chính trị lớn hơn, mật độ dân số cao hơn thì tập trung nhiều quyền lực hơn vào tay tù trưởng. Tính phức tạp về chính trị là cao nhất ở Tonga và Hawaii nơi quyền lực của tù trưởng cha truyền con nối cũng gần như của vua chúa ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới, đất đai là do tù trưởng cai quản chứ không phải thường dân. Dùng các quan lại được bổ nhiệm làm trung gian, tù trưởng tiến hành trưng thu lương thực của thường dân và trưng dụng họ làm việc ở các công trình xây dựng. Hình thức các công trình này khác nhau tùy đảo: các hệ thống tưới tiêu và ao cá ở Hawaii, các trung tâm nhảy múa và lễ hội ở Marquesas, mộ tù trưởng ở Tonga, đền đài ở Hawaii, đảo Society và đảo Phục Sinh.
Vào thời điểm người châu Âu đặt chân đến Polynesia ở thế kỷ XVIII, tù trưởng quốc hay nhà nước Tonga đã trở thành một đế quốc liên quần đảo. Vì bản thân quần đảo Tonga khá san sát nhau và gồm một số đảo có địa hình không chia cắt, nên mỗi đảo đều được thống nhất dưới quyền một tù trưởng duy nhất; sau đó các tù trưởng cha truyền con nối trên hòn đảo lớn nhất của Tonga (Tongatapu) thống nhất toàn bộ quần đảo, cuối cùng họ chinh phục cả những đảo khác bên ngoài quần đảo mà hòn xa nhất cách những 500 dặm (800 km, ND). Họ thường xuyên buôn bán đường dài với Fiji và Samoa, thiết lập những điểm định cư của người Tonga ở Fiji và bắt đầu tấn công, xâm chiếm từng phần của Fiji. Việc chinh phục và cai quản cái đế quốc hải đảo sơ khai này thực hiện được nhờ những hạm đội gồm các chiếc xuồng lớn mỗi chiếc chứa được tới 150 người.
Cũng như Tonga, Hawaii đã trở thành một thực thể chính trị bao gồm vài hòn đảo đông dân, song là một thực thể chính trị chỉ gói gọn trong một quần đảo duy nhất bởi vị trí cực kỳ cách biệt của nó. Tại thời điểm người châu Âu “phát hiện” ra Hawaii vào năm 1778, sự thống nhất chính trị đã diễn ra trong từng hòn đảo Hawaii và đã manh nha có vài sự hợp nhất chính trị giữa nhiều hòn đảo. Bốn đảo rộng nhất – Đảo Lớn (Hawaii theo nghĩa hẹp), Maui, Oahu và Kauai – vẫn độc lập, nắm quyền kiểm soát (hoặc dùng mánh khóe để tranh nhau quyền kiểm soát) các đảo nhỏ hơn (Lanai, Molokai, Kahoolawe và Niihau). Sau khi người châu Âu đến, Vua Kamehameha Đệ Nhất của Đảo Lớn nhanh chóng tiến hành hợp nhất các đảo lớn bằng cách mua súng và tàu thuyền của người châu Âu để xâm chiếm và chinh phục đầu tiên là Maui, sau đó Oahu. Rồi Kamehameha đã chuẩn bị xâm lăng hòn đảo Hawaii cuối cùng còn độc lập là Kauai, nhưng cuối cùng tù trưởng đảo này đạt được một giải pháp với nhà vua thông qua đàm phán, đến đây cuộc thống nhất quần đảo đã hoàn tất.
Loại biến tố còn lại giữa các xã hội Polynesia mà chúng ta cần xét là các công cụ và những phương diện khác của văn hóa vật thể. Việc mỗi nơi có những loại nguyên liệu thô khác nhau có tác động rõ rệt đến nền văn hóa vật thể. Ở một thái cực là Đảo Henderson, một rạn san hô nổi lên trên mặt biển và không có loại đá nào khác ngoài đá vôi. Cư dân trên đảo chỉ còn biết chế tác ra những chiếc rìu lưỡi vòm bằng vỏ trai. Ở thái cực đối lập là người Maori trên tiểu lục địa New Zealand, có trong tay một loạt nhiều loại nguyên liệu thô và trở nên đặc biệt đáng chú ý ở cách họ sử dụng ngọc bích. Giữa hai thái cực đó là các đảo núi lửa đại dương của Polynesia, vốn thiếu đá granit, đá lửa và các loại đá lục địa khác nhưng ít nhất cũng có đá núi lửa, người Polynesia chế tác đá này thành những chiếc rìu đá được mài hay đánh bóng dùng để phát quang đất làm ruộng.
Về các loại vật dụng chế tác, dân quần đảo Chatham chẳng cần gì lắm ngoài những chiếc dùi cui và gậy cầm tay để giết hải cẩu, chim và tôm hùm. Cư dân hầu hết các đảo khác thì tạo ra rất nhiều vật dụng khác nhau, gồm lưỡi câu, rìu, đồ trang sức và nhiều vật khác nữa. Trên các đảo san hô, cũng như ở Chatham, các vật dụng này nhỏ, tương đối đơn giản, ai làm ra thì của người ấy, còn kiến trúc thì chẳng có gì hơn là những túp lều đơn sơ. Các hòn đảo lớn và đông dân thì có những thợ thủ công chuyên nghiệp làm ra nhiều thứ vật phẩm gây uy thế dành riêng cho tù trưởng, chẳng hạn những áo choàng không tay bằng lông chim dành cho các tù trưởng Hawaii được làm từ hàng ngàn cái lông chim.
Những sản phẩm lớn nhất của Polynesia là các công trình đồ sộ bằng đá trên một số đảo – những bức tượng đá lừng danh trên Đảo Phục Sinh, mộ các tù trưởng Tonga, các đàn tế lễ ở quần đảo Marquesas, các đền đài ở Hawaii và các đảo Society. Nền kiến trúc hoành tráng này của Polynesia rõ ràng là tiến hóa theo cùng một hướng như các kim tự tháp của Ai Cập, Lưỡng Hà, Mexico và Peru. Hiển nhiên, các công trình của Polynesia không có quy mô bằng các kim tự tháp kia, nhưng điều đó chỉ phản ánh thực tế là các pharaông Ai Cập có thể huy động nhân lực từ một dân số đông hơn nhiều so với tù trưởng của bất cứ hòn đảo Polynesia nào. Song, dù có vậy đi nữa, cư dân đảo Phục Sinh vẫn đã xây được những bức tượng nặng tới 30 tấn, đó chẳng phải là việc dễ đối với vỏn vẹn 7.000 con người không có trong tay nguồn lực nào khác ngoài cơ bắp của chính mình.
Như vậy, các xã hội đảo Polynesia khác nhau rất nhiều ở tính chuyên môn hóa trong kinh tế, độ phức tạp xã hội, tổ chức chính trị và sản phẩm vật thể, những điều này có liên quan đến những khác biệt về quy mô và mật độ dân số, rồi đến lượt mình dân số lại liên quan đến diện tích, độ cắt xẻ, độ cô lập của từng đảo, cũng như cơ hội sinh tồn và cơ hội phát triển nền sản xuất lương thực trên từng đảo. Tất cả những khác biệt đó giữa các xã hội Polynesia đã phát triển – chỉ trong một thời gian tương đối ngắn và tại một phần khiêm tốn của bề mặt Trái đất – như những biến thái liên quan đến môi trường trên cùng một xã hội tổ tiên duy nhất. Các chủng loại khác biệt văn hóa này trong phạm vi Polynesia, về bản chất, cũng chính là các chủng loại đã phát sinh ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới.
Dĩ nhiên, dãy biến thái trên toàn thế giới là lớn hơn nhiều so với trong phạm vi Polynesia. Vào cùng thời gian khi cư dân các lục địa chỉ bao gồm những người vẫn dựa vào công cụ đá, Nam Mỹ cũng sinh ra những xã hội chuyên dùng kim loại quý, còn người Âu-Á và người châu Phi thì tiến tới dùng sắt. Những sự phát triển đó không thể xảy ra được ở Polynesia bởi không một đảo Polynesia nào trừ New Zealand có quặng kim loại đáng kể. Tại Âu-Á đã hình thành những đế quốc hẳn hoi từ khi chưa có ai di cư đến Polynesia; Nam Mỹ và Trung Mỹ thì phát triển thành đế quốc muộn hơn, trong khi Polynesia chỉ sinh ra được hai đế quốc sơ khai trong đó có một (Hawaii) chỉ hình thành sau khi người châu Âu đến. Âu-Á và Trung Mỹ đã phát triển chữ viết của riêng mình, còn tại Polynesia thì chữ viết đã không nảy sinh, có lẽ chỉ ngoại trừ Đảo Phục Sinh song ngay cả thứ chữ viết bí ẩn của đảo này cũng chỉ ra đời sau khi dân đảo tiếp xúc với người châu Âu lần đầu tiên.
Vậy nghĩa là, Polynesia cho ta thấy một lát cắt nhỏ – chứ không phải toàn bộ bức tranh – về tính đa dạng của xã hội loài người. Điều này âu chẳng có gì lạ, bởi Polynesia chỉ là một lát cắt nhỏ của tính đa dạng địa lý của thế giới. Ngoài ra, bởi Polynesia chỉ có người đến định cư rất muộn trong lịch sử loài người, nên ngay cả những xã hội Polynesia cổ nhất cũng chỉ có vỏn vẹn 3.200 năm để phát triển, trái ngược với ít nhất 13.000 năm đối với các xã hội ở ngay cả lục địa có người ở muộn nhất (châu Mỹ). Giá như có được thêm vài ngàn năm nữa thì chắc hẳn Tonga và Hawaii đã đạt tới cấp độ những đế quốc phát triển đầy đủ, đánh lẫn nhau để giành quyền kiểm soát Thái Bình Dương, tự sáng tạo ra chữ viết dùng để cai quản các đế quốc đó, trong khi người Maori ở New Zealand hẳn đã có thể bổ sung công cụ bằng đồng và sắt vào danh mục các vật phẩm bằng ngọc bích và những chất liệu khác của mình.
Nói ngắn gọn, Polynesia cho ta một ví dụ đầy thuyết phục về sự đa dạng liên quan đến môi trường của các xã hội loài người đang trong quá trình tiến triển. Nhưng ta cũng chỉ học được rằng chuyện đó có thể xảy ra bởi vì nó đã xảy ra rồi, ở Polynesia. Liệu điều đó có xảy ra trên các lục địa khác không? Nếu có, thì những khác biệt môi trường nào là nguyên nhân cho tính đa dạng trên các lục địa, và những hệ quả của chúng là gì?
Phần 1: Từ vườn địa đàng đến Cajamarca
Chương 3 - Cuộc đụng độ ở Cajamarca

Những sự hoán đổi dân số lớn nhất trong thời cận đại là việc người châu Âu di cư sang Tân Thế giới, và kết quả của nó là hầu hết các nhóm người châu Mỹ bản địa (người Anh-điêng châu Mỹ) bị chinh phục, suy giảm dân số hoặc biến mất hoàn toàn. Như tôi đã giải thích ở Chương 1, Tân Thế giới có người đến định cư đầu tiên vào khoảng 11.000 năm TCN hoặc trước đó theo ngả Alaska, eo Bering và Siberia. Các xã hội phức tạp làm nghề nông đã dần dần nảy sinh ở châu Mỹ xa dần xuống phía Nam dọc theo con đường xâm nhập đó, phát triển trong sự cách ly hoàn toàn với các xã hội phức tạp đang nảy sinh ở Cựu Thế giới. Sau khi con người từ châu Á di cư sang châu Mỹ lần đầu tiên, những tiếp xúc duy nhất có thể chứng minh được giữa Tân Thế giới và châu Á chỉ diễn ra giữa những người săn bắt hái lượm sống hai bên bờ eo Bering, cộng với một chuyến du hành xuyên đại dương mang khoai tây từ Nam Mỹ đến Polynesia mà ta có thể luận ra.
Về những tiếp xúc giữa các dân tộc của Tân Thế giới với châu Âu, những tiếp xúc sớm duy nhất là của người Na Uy khi họ chiếm cứ Greenland với số lượng rất nhỏ từ năm 986 đến khoảng năm 1.500. Song những cuộc viếng thăm của người Na Uy không có tác động thấy rõ nào đến các xã hội châu Mỹ bản địa. Thay vào đó, vì những mục đích thực dụng, cuộc đụng độ giữa các xã hội tiên tiến của Cựu Thế giới với các xã hội Tân Thế giới diễn ra đột ngột vào năm 1492 khi Christopher Columbus “phát hiện” ra các đảo Caribê nơi có đông người châu Mỹ bản địa sinh sống.
Khoảnh khắc kịch tính nhất trong quan hệ giữa người châu Âu và người châu Mỹ bản địa từ đó về sau là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa hoàng đế Atahualpa của đế quốc Inca với nhà chinh phục Francisco Pizarro người Tây Ban Nha trên thành phố cao nguyên Cajamarca ở Peru vào ngày 16 tháng Mười hai năm 1532. Atahualpa là vị chúa tể tuyệt đối của nhà nước lớn nhất và tiên tiến nhất ở Tân Thế giới, trong khi Pizarro là đại diện cho hoàng đế Charles V của đế quốc La Mã Thần thánh (còn được gọi là Vua Charles Đệ nhất của Tây Ban Nha), chúa tể của nhà nước hùng mạnh nhất ở châu Âu. Pizarro, dẫn đầu một toán quân ô hợp gồm 168 binh sĩ Tây Ban Nha, đang ở trên một vùng đất xa lạ, hoàn toàn chẳng biết gì về cư dân bản địa, hoàn toàn không thể liên lạc với những người Tây Ban Nha gần nhất (cách 1.600 km ở phía Bắc Panama) và quá xa đến nỗi khó lòng được kịp thời tiếp viện. Atahualpa đang ở giữa đế quốc của chính mình với hàng triệu thần dân, vây quanh sát nách là đạo quân gồm 80.000 chiến binh vừa ca khúc khải hoàn sau một cuộc chiến với những người Anh-điêng khác. Thế nhưng Pizarro đã bắt sống Atahualpa trong vòng vài phút sau khi hai người nhìn thấy nhau lần đầu tiên. Pizarro tiếp tục giam giữ tù nhân trong tám tháng, đòi một khoản tiền chuộc lớn nhất trong lịch sử để đổi lấy lời hứa trả tự do cho nhà vua. Sau khi nhận được tiền chuộc – một số vàng đủ để chất đầy một căn phòng dài 22 bộ (gần 7 m), rộng 17 bộ (hơn 5 m) và cao trên 8 bộ (khoảng 2,5 m), Pizarro nuốt lời hứa và hành quyết Atahualpa.
Sự kiện bắt sống Atahualpa có ý nghĩa quyết định với việc người châu Âu chinh phục toàn bộ Đế quốc Inca. Mặc dù vũ khí ưu việt của Tây Ban Nha hẳn cũng có thể bảo đảm cho người Tây Ban Nha sớm muộn gì cũng thắng, song việc bắt sống nhà vua khiến cho cuộc chinh phục diễn ra nhanh chóng hơn và hết sức dễ dàng. Atahualpa được người Inca sùng bái như thần mặt trời và có uy quyền tuyệt đối với thần dân, họ tuân theo mệnh lệnh của nhà vua ngay cả khi ngài đang bị giam cầm. Mấy tháng trước khi nhà vua chết là đủ để Pizarro cử những nhóm thám hiểm đến những vùng khác của Đế quốc Inca mà không ai dám cản cũng như cử người đến Panama xin tiếp viện. Đến khi giao tranh giữa người Tây Ban Nha với người Inca rốt cuộc cũng xảy ra sau khi Atahualpa bị hành quyết thì lực lượng của người Tây Ban Nha đã đáng sợ hơn nhiều.
Như vậy, sự kiện bắt giữ Atahualpa đáng chú ý với chúng ta ở chỗ nó đánh dấu thời điểm quyết định trong cuộc đụng độ lớn nhất trong lịch sử hiện đại. Nhưng sự kiện này còn đáng chú ý theo nghĩa khái quát hơn, bởi các nhân tố dẫn đến việc Pizarro bắt giữ Atahualpa, về thực chất, cũng chính là các nhân tố quyết định kết cục của nhiều đụng độ tương tự giữa những kẻ thực dân với các dân tộc bản địa ở bất cứ đâu trong thế giới hiện đại. Do đó, việc bắt giữ Atahualpa cho ta một cửa sổ rộng để nhìn vào lịch sử thế giới.
Những gì diễn ra ngày hôm đó tại Cajamarca được nhiều người biết đến bởi được nhiều người Tây Ban Nha đã trực tiếp tham gia ghi lại. Để có chút cảm nhận về những sự kiện đó, ta hãy cùng sống lại thời điểm ấy bằng cách đan dệt vào nhau trích đoạn tường thuật của những người tai nghe mắt thấy – sáu chiến hữu của Pizarro trong đó có hai người anh em của ông là Hernando và Pedro.
“Sự khôn ngoan, tính can trường, kỷ luật quân đội, lòng cúc cung tận tụy, những chuyến hải hành đầy ắp hiểm nguy, và những trận chiến của người Tây Ban Nha – những bề tôi của Hoàng đế bất khả chiến bại của Đế quốc La Mã thần thánh, Đức Vua và Chúa tể hiển nhiên của chúng ta – sẽ mang niềm vui cho người ngoan đạo và nỗi kinh hoàng cho những phường vô đạo. Vì lý do này, vì vinh quang của Chúa Trời, và để phụng sự Đức Giáo hoàng của chúng ta, thần thật vui sướng được viết bản tường trình này gửi lên Hoàng thượng, sao cho mọi người biết đến những gì liên quan đang diễn ra ở chốn này. Bản tường thuật này là vì vinh quang của Chúa Trời bởi họ đã chinh phục được và mang về cho Tín Ngưỡng Kitô thần thánh của chúng ta cơ man nào là những kẻ ngoại đạo nhờ sự dẫn dắt thiêng liêng của Người. Đó là vì vinh quang của Hoàng đế chúng ta bởi nhờ quyền năng vĩ đại và hồng phúc của Ngài mà những sự kiện như vậy đã diễn ra dưới thời cai trị của chính Ngài. Việc này sẽ mang lại niềm vui cho những người ngoan đạo rằng họ đã chiến thắng những cuộc giao tranh thế kia, đã khám phá và chinh phục được những vùng đất thế kia, đã mang về cho Đức Vua và cho chính mình những bạc vàng châu báu thế kia, đã gieo rắc nỗi khiếp sợ đến ngần ấy ở những quân ngoại đạo và đã khiến toàn nhân loại phải đem lòng bái phục.
Bởi đã có bao giờ, dẫu thời xưa hay ngày nay, một số người ít ỏi đến thế đã thắng được số đông đến thế, vượt qua ngần ấy xứ sở, băng qua ngần ấy biển khơi, ruổi qua ngần ấy quãng đường, đạt được những kỳ tích lớn lao đến thế hầu chinh phục cái ta chưa từng thấy và chưa từng biết? Những người Tây Ban Nha của chúng ta, tuy chỉ là số ít, chưa lúc nào có quá 200 hay 300 người cùng một lúc, đôi khi chỉ có vỏn vẹn 100 người hay còn ít hơn nữa, ngay trong thời đại chúng ta đã chinh phục nhiều lãnh thổ hơn bất cứ thời nào từ trước đến nay hoặc nhiều hơn lãnh thổ mà tất cả các ông hoàng ngoan đạo và ngoại đạo từng sở hữu. Giờ thần sẽ chỉ viết về những gì đã xảy ra trong cuộc chinh phạt, và sẽ không viết nhiều để tránh dông dài.
Thống đốc Pizarro muốn có thông tin tình báo từ một số người Anh-điêng ở Cajamarca đến, thế là ngài ra lệnh tra tấn chúng. Chúng thú nhận rằng nghe nói Atahualpa đang đợi Thống chế ở Cajamarca. Thế là Thống chế hạ lệnh tiến quân. Khi đến cổng thành Cajamarca, chúng tôi thấy trại của Atahualpa cách chừng một lý, nơi chân núi. Trại của người Anh-điêng trông như một thành phố thật đẹp. Họ có nhiều lều đến nỗi tất cả chúng tôi cứ ngẩn ra nhìn. Cho tới lúc đó chúng tôi chưa hề thấy một cái gì như vậy ở vùng Đông Ấn. Nó khiến tất cả người Tây Ban Nha chúng tôi kinh sợ và bối rối. Nhưng chúng tôi không thể để lộ mình đang sợ hãi hoặc quay lưng rút lui, bởi nếu người Anh-điêng nhận thấy dù chỉ một mảy may yếu đuối nào ở chúng tôi thì ngay cả những người Anh-điêng mà chúng tôi mang theo làm người hướng dẫn cũng có thể sẽ giết chúng tôi. Vì thế chúng tôi cố tỏ ra tươi tỉnh phấn chấn, và sau khi cẩn thận quan sát thành phố cùng những chiếc lều, chúng tôi đi xuống thung lũng để vào thành Cajamarca.
Chúng tôi bàn với nhau hồi lâu xem cần phải làm gì. Tất cả chúng tôi đều đầy sợ hãi bởi chúng tôi ít người quá mà lại đã thâm nhập quá sâu vào một vùng đất nơi chúng tôi không hy vọng gì được tiếp viện. Tất cả chúng tôi đến gặp Thống chế để bàn xem sẽ hành động ra sao vào ngày hôm sau. Đêm hôm ấy chẳng mấy ai trong chúng tôi chợp mắt, chúng tôi cứ ngắm mãi quảng trường Cajamarca, nhìn những đống lửa ngoài trời của quân Anh-điêng. Nhìn cảnh tượng ấy mà khiếp sợ. Hầu hết các đống lửa đều ở trên sườn đồi, gần nhau đến nỗi trông như bầu trời chi chít những sao. Đêm hôm đó không hề có sự phân biệt giữa kẻ quyền uy với người hèn mọn hay giữa binh lính chân đất và kỵ sĩ. Tất cả đều làm nghĩa vụ canh gác, vũ khí lăm lăm trong tay. Hernando Pizarro, em trai của Thống chế, dự đoán số binh sĩ Anh-điêng vào khoảng 40.000 người, nhưng ấy là ông nói dối để khích lệ chúng tôi, chứ thật ra có đến hơn 80.000 người Anh-điêng.
Sáng hôm sau một điệp sứ của Atahualpa đến, Thống chế liền bảo y: ‘Về bảo chúa của ngươi hãy đến khi nào và bằng cách nào tùy ngài muốn, và dù ngài đến bằng cách nào đi nữa ta cũng sẽ chào đón ngài như người bạn và người anh em. Ta mong ngài đến sớm bởi ta rất muốn gặp ngài. Ngài sẽ không bị hại gì cũng không phải chịu lời xúc phạm nào đâu’.
Thống chế cho ém quân quanh quảng trường ở Cajamarca, chia kỵ binh thành hai nhóm, một nhóm ngài giao cho em trai Hernando Pizarro chỉ huy, nhóm kia ngài giao cho Hernando de Soto. Cũng vậy ngài chia bộ binh ra, bản thân ngài nắm một nhóm, nhóm kia ngài giao cho em trai là Juan Pizarro. Đồng thời ngài ra lệnh cho Pedro de Candia đem hai, ba lính bộ binh mang kèn lên một pháo đài nhỏ trong quảng trường, chốt tại đó với một ít hỏa lực. Khi tất cả người Anh-điêng có Atahualpa đi cùng đã bước vào quảng trường, Thống chế sẽ ra hiệu cho Candia và người của ông ta, sau đó họ sẽ bắt đầu nổ súng, kèn sẽ vang lên, nghe tiếng kèn, kỵ binh sẽ tràn ra từ khoảnh sân rộng nơi họ đang ẩn nấp sẵn sàng xung trận.
Đến trưa Atahualpa bắt đầu ra lệnh cho người của mình xếp thẳng hàng rồi tiến lại gần. Chẳng mấy chốc chúng tôi thấy toàn bộ đồng bằng đã tràn ngập người Anh-điêng, chốc chốc lại dừng để đợi những người Anh-điêng khác nữa vẫn đang rời trại mà tiến tới đằng sau họ. Họ cứ kéo đến hết tốp này đến tốp khác mãi tới chiều. Những tốp đầu tiên đã tiến sát gần trại chúng tôi mà những toán khác vẫn tiếp tục từ trại của người Anh-điêng túa ra. Đi đằng trước Atahualpa là 2.000 người Anh-điêng vừa đi vừa dẹp đường, theo sau họ là các chiến binh, một nửa đi đều bước trên cánh đồng bên trái ông ta, nửa kia thì bên phải ông ta.
Đi đầu là một phân đội Anh-điêng mặc quần áo nhiều màu giống như bàn cờ. Họ vừa tiến tới vừa nhặt hết các cọng rơm trên mặt đất và quét sạch đường. Sau đó là ba phân đội ăn mặc khác nhau vừa đi vừa múa hát. Rồi đến một số người mặc áo giáp, mang những chiếc đĩa kim loại lớn, đội mũ miện bằng vàng và bạc. Lượng đồ trang sức bằng vàng và bạc họ mang trên người nhiều đến nỗi ánh mặt trời lấp lánh trên đó nhìn thật vô cùng ngoạn mục. Chính giữa họ nổi bật lên hình dáng của Atahualpa trong một chiếc kiệu thật đẹp, đầu các đòn khiêng cáng đều bịt bạc. Tám mươi vị quý tộc khiêng ngài trên vai, tất cả đều mặc sắc phục màu xanh dương sặc sỡ. Bản thân Atahualpa ăn mặc cực kỳ diêm dúa, đầu đội vương miện, cổ đeo vòng gồm những viên ngọc lục bảo lớn. Ông ta ngự trên một chiếc ghế nhỏ, với một chiếc đệm lót đẹp đẽ hình cái yên đặt trên kiệu. Xung quanh kiệu cắm những chiếc lông két nhiều màu sắc, lại trang hoàng những chiếc đĩa bằng vàng và bạc.
Đằng sau Atahualpa là hai kiệu khác và hai chiếc võng trong đó là một vài vị thủ lĩnh cấp cao, sau đó là mấy toán quân Anh-điêng đội mũ miện bằng vàng và bạc. Các toán người Anh-điêng này bắt đầu bước vào quảng trường trong giai điệu những bài hát nghe thật hay, cứ vậy họ chiếm lĩnh từng ngóc ngách quảng trường. Trong khi đó những người Tây Ban Nha chúng tôi thảy đều nấp trong sân chờ đợi sẵn sàng, dạ phập phồng sợ hãi. Nhiều người đái trong quần mà không biết chỉ vì khiếp đảm. Khi đến chính giữa quảng trường, Atahualpa vẫn ngồi trong kiệu trên cao, trong khi binh lính tiếp tục dấn bước đằng sau ông ta.
Thống chế Pizarro lúc này bèn cử Đức cha Vicente De Valverde đến nói chuyện với Atahualpa và yêu cầu Atahualpa, nhân danh Chúa Trời và Đức Vua Tây Ban Nha mà dâng mình cho luật pháp của Chúa Jesus Christ và phụng sự Chúa Thượng, Đức Vua Tây Ban Nha. Một tay cầm thánh giá, tay kia cầm quyển Kinh Thánh, Đức Cha bước giữa những hàng quân Anh-điêng mà tiến về phía Atahualpa rồi nói với ông ta: “Ta là Thầy cả của Chúa trời, ta dạy những người Cơ đốc những điều về Chúa, và cũng bằng cách đó ta đến để dạy ngài. Cái ta dạy là những gì Chúa đã nói trong quyển sách này. Vì vậy, nhân danh Chúa và những người Cơ đốc, ta khẩn cầu ngài hãy là bạn của họ, bởi đó là ý Chúa và việc đó sẽ mang điều tốt lành cho chính ngài”.
Atahualpa yêu cầu được xem cuốn sách, thế là Đức Cha đưa sách lại gần ông ta. Atahualpa không biết cách mở sách ra, nên Đức Cha liền chìa tay ra để mở, nhưng Atahualpa lại nổi cơn thịnh nộ mà đấm vào tay Cha không muốn sách được mở ra. Đoạn tự ông ta mở sách, thế rồi, hoàn toàn không sửng sốt trước những con chữ và trang giấy, ông ta quẳng sách ra xa năm sáu bước chân mà đỏ mặt tía tai.
Đức Cha quay về phía Pizarro mà thét: “Đến đây! Những người Công giáo, hãy đến đây! Hãy đến mà tấn công bọn kẻ thù chó má này, kẻ đã dám cự tuyệt những gì của Chúa! Tên bạo quân này đã ném cuốn sách luật thiêng của ta xuống đất! Các con không thấy chuyện gì vừa xảy ra sao? Tại sao vẫn cứ lịch thiệp và xun xoe quỵ lụy quân chó má kiêu căng quá đỗi này khi các đồng bằng đầy nghẹt người Anh-điêng? Hãy tiến ra trừng trị nó đi, ta sẽ tha tội cho các con”.
Thế là Thống chế ra hiệu cho Candia, ông này liền nổ súng. Đồng thời tiếng kèn vang lên, và những toán quân Tây Ban Nha mang giáp trụ, cả kỵ binh lẫn bộ binh, liền từ chỗ nấp lao ra xông thẳng vào đám người Anh-điêng không vũ khí đang đứng nghẹt quảng trường, miệng thét vang khẩu hiệu chiến đấu của Tây Ban Nha “Santiago!” Chúng tôi đã gắn lục lạc trên ngựa để làm người Anh-điêng khiếp sợ. Tiếng súng nổ đùng đoàng, kèn vang inh ỏi và tiếng lục lạc lanh canh của ngựa khiến cho người Anh-điêng cuống cuồng hoảng loạn. Những người Tây Ban Nha đâm bổ vào chúng, xả chúng thành từng mảnh. Người Anh-điêng khiếp hãi đến mức chúng nháo nhào trèo lên nhau thành đống và đè nhau chết ngạt. Bởi chúng không có vũ khí nên những người Cơ đốc có thể tấn công chúng mà không hề nguy hiểm. Kỵ binh quật chúng xuống, giết và đả thương chúng, truy đuổi chúng. Bộ binh đột kích những kẻ còn lại một cách hoàn hảo đến mức chỉ trong một thời gian ngắn hầu hết bọn chúng đã làm mồi cho lưỡi kiếm.
Đích thân Thống chế cầm kiếm và dao găm cùng những người Tây Ban Nha ở bên ngài xông thẳng vào đám Anh-điêng dày đặc, và bằng sự dũng cảm vô song ngài đến được chỗ kiệu của Atahualpa. Chẳng mảy may sợ hãi, ngài túm lấy tay trái Atahualpa mà thét “Santiago!” nhưng không lôi được Atahualpa ra khỏi kiệu bởi nó được giữ trên cao quá. Mặc dù chúng tôi đã giết chết những người Anh-điêng khiêng kiệu song những người khác lập tức xáp vào thế chỗ mà không ngừng giữ kiệu trên cao, cứ thế chúng tôi phải mất một hồi lâu để trấn áp và giết người Anh-điêng. Cuối cùng, bảy tám kỵ binh Tây Ban Nha thúc ngựa lồng lên húc vào một bên chiếc kiệu; cố hết sức bình sinh cuối cùng họ cũng lật được kiệu sang một bên. Thế là Atahualpa bị bắt, và Thống chế đưa Atahualpa về chỗ trú của ngài. Những người Anh-điêng khiêng kiệu và những người hộ tống nhà vua chẳng lúc nào bỏ rơi ông ta: tất cả đều đã chết quanh ông ta.
Bọn Anh-điêng còn lại trên quảng trường cuống cuồng hoảng loạn, sợ chết khiếp khi nghe súng nổ và nhìn thấy những con ngựa – chúng chưa thấy cái gì như vậy bao giờ – chúng cố tháo chạy khỏi quảng trường bằng cách đạp đổ một khúc tường rồi túa ra chỗ đồng bằng bên ngoài. Kỵ binh của chúng ta nhảy phóc qua bức tường đổ, rầm rập phi ra chỗ đồng bằng, miệng thét: “Đuổi theo những tên ăn mặc diêm dúa kia! Đừng để đứa nào thoát! Xiên giáo vào chúng đi!” Tất cả binh lính Anh-điêng khác mà Atahualpa đã mang đến đang ở cách Cajamarca một dặm sẵn sàng giáp chiến, nhưng không tên nào nhúc nhích, suốt thời gian đó chẳng một tên Anh-điêng nào giương vũ khí lên chống lại người Tây Ban Nha. Khi các toán quân Anh-điêng đang ở trên đồng bằng bên ngoài thành phố trông thấy những đám Anh-điêng khác vừa tháo chạy vừa kêu thét, hầu hết chúng cũng kinh hồn táng đởm mà tháo chạy. Đó là một cảnh tượng kinh khủng, bởi toàn bộ thung lũng rộng từ 15 đến 20 dặm hoàn toàn kín nghịt người Anh-điêng. Đêm đã xuống, kỵ binh chúng tôi vẫn đang xiên giáo vào bọn Anh-điêng trên những cánh đồng thì bỗng nghe tiếng kèn gọi chúng tôi tập kết về trại.
“Giá như đêm chưa xuống thì chắc chẳng còn bao nhiêu tên trong số hơn 40.000 binh lính Anh-điêng còn sống sót. Sáu, bảy ngàn tên Anh-điêng nằm chết, rất nhiều tên khác bị chặt tay hoặc những vết thương khác. Bản thân Atahualpa thừa nhận chúng tôi đã giết 7.000 người của ông ta trong trận chiến đó. Kẻ bị giết trên một trong những chiếc kiệu là ngài Chincha, một mệnh quan của ông ta, người mà ông ta rất sủng ái. Tất cả những người Anh-điêng khênh kiệu của Atahualpa hóa ra đều là những tù trưởng và ủy viên hội đồng cao cấp. Họ đều bị giết sạch, cũng như những người Anh-điêng được khênh trên các kiệu và võng. Vị chúa vùng Cajamarca cũng bị giết cùng nhiều người nữa, nhưng số người bị giết quá lớn không đếm xuể, bởi tất cả những ai tháp tùng Atahualpa đều là những quý tộc và chúa công lớn. Thật kỳ diệu khi thấy một thủ lĩnh hùng mạnh như vậy bị bắt một cách chớp nhoáng đến thế, khi ông ta đi cùng một đội quân hùng hậu nhường kia. Thật ra thì không phải nhờ sức chúng tôi mà làm được điều này bởi chúng tôi quá ít người. Ấy là nhờ ân sủng lớn lao của Đức Chúa Trời.
Áo của Atahualpa bị rách khi người Tây Ban Nha lôi ông ta ra khỏi kiệu. Thống chế ra lệnh mang áo quần đến cho ông ta, và khi Atahualpa đã mặc quần áo rồi, Thống chế ra lệnh Atahualpa ngồi cạnh ngài rồi xoa dịu cơn cuồng nộ và phẫn khích của ông ta khi thấy mình đang từ ngôi vị cao vời rơi phịch xuống nhanh đến vậy. Thống chế bảo Atahualpa: “Ngài có bị đánh bại và bắt làm tù binh thì cũng đừng coi là mình bị xúc phạm, bởi vì với những người Kitô đã đến đây cùng tôi, dù số lượng ít ỏi là vậy nhưng tôi đã chinh phục những vương quốc còn lớn hơn vương quốc của ngài, đánh bại những vì vua chúa còn hùng mạnh hơn ngài rồi đặt lên đó quyền thống trị của vị Hoàng đế mà tôi là một thần dân, ấy là Đức Vua của Tây Ban Nha và của toàn thế giới. Chúng tôi đến đây chinh phạt mảnh đất này là theo lệnh của Đức Vua, sao cho tất cả đều biết đến Chúa Trời và Tín Ngưỡng Kitô Thần thánh của Người; và bởi sứ mệnh tốt lành của chúng tôi, Chúa Trời, Đấng tạo ra trời đất và mọi vật trong trời đất, cho phép việc này xảy ra, để ngài được biết đến Người mà thoát khoải cái cuộc sống thú vật và ác quỷ mà ngài vẫn sống lâu nay. Chính vì lẽ đó mà chúng tôi, dù ít ỏi đến vậy, đã khuất phục được một xứ sở rộng lớn nhường ấy. Khi ngài đã thấy lâu nay mình sống trong lầm lạc thế nào, ngài sẽ hiểu rằng khi đến đất nước ngài theo lệnh của Hoàng Thượng, Vua của Tây Ban Nha, ấy là chúng tôi làm điều tốt lành cho ngài. Hoàng Thượng chúng tôi cho phép rằng lòng kiêu hãnh của ngài sẽ bị hạ thấp và không người Anh-điêng nào có thể xâm phạm đến một người Cơ đốc.”
Giờ chúng ta hãy lần ngược lại chuỗi quan hệ nhân quả trong cuộc đụng độ khác thường này, bắt đầu từ những sự kiện trực tiếp nhất. Khi Pizarro và Atahualpa gặp nhau ở Cajamarca, tại sao Pizarro lại bắt sống Atahualpa và giết nhiều kẻ tùy tùng của Atahualpa đến vậy chứ không phải lực lượng đông hơn gấp bội của Atahualpa bắt sống và giết Pizarro? Xét cho cùng, Pizarro chỉ có vỏn vẹn 62 lính cưỡi ngựa, cùng khoảng 106 lính bộ, trong khi Atahualpa thống lĩnh một đội quân khoảng 80.000 người. Còn về những sự kiện xảy ra trước các sự kiện đó, làm thế nào Atahualpa lại đến Cajamarca kia chứ? Làm thế nào Pizarro lại có mặt ở đó để bắt sống Atahualpa, chứ không phải Atahualpa đến Tây Ban Nha để bắt sống Vua Charles Đệ nhất? Tại sao Atahualpa cứ thế đi thẳng vào cái bẫy của người Tây Ban Nha, cái bẫy mà do chúng ta là kẻ hậu sinh nên chúng ta mới thấy là lộ liễu đến vậy? Liệu có phải các nhân tố đã tác động đến cuộc gặp gỡ giữa Atahualpa với Pizarro cũng đóng một vai trò lớn hơn trong những cuộc gặp gỡ giữa các dân tộc Cựu Thế giới với các dân tộc Tân Thế giới và giữa những dân tộc khác hay không?
Tại sao Pizarro bắt sống được Atahualpa? Ưu thế quân sự của Pizarro nằm ở các lưỡi gươm bằng thép và những vũ khí khác, áo giáp thép, súng ống và ngựa của người Tây Ban Nha. Đối với những vũ khí đó thì quân đội của Atahualpa, vốn không có con vật nào để cưỡi đặng xông vào trận chiến, chỉ có thể đương đầu bằng những chiếc dùi cui, gậy và rìu tay bằng đá, đồng hay gỗ, cộng thêm ná và áo giáp bằng vải chần. Sự bất cân xứng về trang thiết bị đó có tầm quan trọng quyết định trong vô số những cuộc đối đầu khác giữa người châu Âu với người châu Mỹ bản địa và những dân tộc khác.
Những người châu Mỹ bản địa duy nhất đã kháng cự được sự chinh phục của người châu Âu trong suốt nhiều thế kỷ là các bộ lạc đã giảm bớt được sự chênh lệch về quân sự bằng cách xoay xở sao cho có được ngựa và súng rồi học cách làm chủ chúng. Đối với người Mỹ da trắng bình thường, từ “người Anh-điêng” gợi lên hình ảnh một người Anh-điêng vùng đồng bằng cưỡi ngựa khoác súng trường, giống như các chiến binh Sioux từng xóa sổ tiểu đoàn quân đội Mỹ của Tướng George Custer trong trận đánh lừng danh tại Little Big Horn vào năm 1876. Chúng ta dễ dàng quên mất rằng xưa kia người châu Mỹ bản địa vốn không hề biết đến ngựa và súng trường. Hai thứ này được người châu Âu mang tới và đã làm biến đổi xã hội những bộ lạc Anh-điêng nào có được chúng. Nhờ làm chủ được ngựa và súng trường mà những người Anh-điêng vùng đồng bằng (Plains Indians) ở Bắc Mỹ, người Anh-điêng Araucania ở nam Chile và người Anh-điêng vùng Pampas ở Argentina đã có thể kháng cự lại người da trắng xâm lăng trong một thời gian dài hơn bất cứ người châu Mỹ bản địa nào khác, họ chỉ chịu khuất phục khi chính phủ da trắng tiến hành những chiến dịch quân sự quy mô lớn vào các thập niên 1870 và 1880.
Ngày nay chúng ta khó lòng hiểu nổi vì sao dù có sự chênh lệch quá lớn về quân số nhưng rốt cuộc thiết bị quân sự của người Tây Ban Nha vẫn thắng. Tại trận Cajamarca được tường thuật lại trên đây, 168 người Tây Ban Nha đã nghiền nát một đội quân châu Mỹ bản địa đông hơn tới 500 lần, giết hàng ngàn người bản địa trong khi phía Tây Ban Nha không hề mất lấy một người. Rồi lại bao nhiêu lần nữa, các tường thuật về những trận đánh về sau của Pizarro với người Inca, rồi việc Cortés chinh phục người Aztec, cùng những chiến dịch đầu tiên khác của người châu Âu đánh người châu Mỹ bản địa càng minh họa thêm những cuộc đối đầu mà ở đó một dúm vài chục người châu Âu cưỡi ngựa đánh cho tan tác và giết sạch hàng ngàn người Anh-điêng. Trong cuộc hành quân của Pizarro từ Cajamarca đến thành phố Cuzco của nước Inca sau khi Atahualpa chết đã diễn ra bốn trận đánh như vậy: tại Jauja, Vilcashuaman, Vilcaconga và Cuzco. Trong mỗi trận trong bốn trận này, vỏn vẹn 80, 30, 110 và 40 người Tây Ban Nha đã đương đầu với hàng ngàn, hàng vạn người Anh-điêng.
Những chiến thắng đó của người Tây Ban Nha không thể lý giải chỉ là do sự giúp đỡ của các đồng minh châu Mỹ bản địa, do cú sốc tâm lý khi lần đầu tiên nhìn thấy vũ khí và ngựa của người Tây Ban Nha, hay là do (như người ta thường nói) người Inca lầm tưởng những người Tây Ban Nha kia là thần Viracocha của họ trở về. Những chiến thắng đầu tiên của Pizarro và Cortés đúng là có sự tham gia của các đồng minh người bản địa. Tuy nhiên, nhiều người trong số đó hẳn sẽ không trở thành đồng minh nếu họ không “tâm phục khẩu phục” trước việc người Tây Ban Nha đã thắng những trận tưng bừng trước đó mà chẳng cần ai giúp đỡ, nếu họ không hiểu rằng kháng cự là vô ích và tốt nhất nên đứng về phía những kẻ mà trước sau cũng thắng. Ngựa, vũ khí bằng thép và súng ống quả đúng là những thứ mà người Inca ở Cajamarca chưa từng thấy bao giờ, song ở những trận đánh sau trận Cajamarca, người Inca đã kháng cự quyết liệt sau khi họ đã nhìn thấy vũ khí và ngựa của người Tây Ban Nha. Trong vòng sáu năm kể từ cuộc chinh phục đầu tiên, người Inca đã dấy lên hai cuộc khởi nghĩa ác liệt, quy mô lớn và được chuẩn bị kỹ càng hòng chống lại người Tây Ban Nha. Các nỗ lực đó đều thất bại bởi ưu thế vượt trội của vũ khí Tây Ban Nha.
Cho đến năm 1700, súng đã thay gươm làm vũ khí chính khiến người châu Âu có ưu thế so với người châu Mỹ bản địa và các dân tộc bản địa khác. Chẳng hạn, vào năm 1808, một lính thủy Anh tên là Charlie Savage có súng trường và mang mục đích rõ ràng đã đến quần đảo Fiji. Tay Savage (Savage trong tiếng anh nghĩa là tàn ác) này đã hành động hoàn toàn đơn thương độc mã hầu đảo lộn cán cân quyền lực ở Fiji. Trong số nhiều kỳ tích của ông ta, có lần ông ta chèo xuồng ngược sông đến một làng của người Fiji, dừng lại cách hàng rào làng chưa quá một tầm súng lục rồi cứ thế xả súng vào đám dân làng chẳng có gì bảo vệ. Nạn nhân của ông ta nhiều đến nỗi đám dân làng còn sống sót chất những cái xác lên thành đống làm chỗ nấp, dòng sông sau làng thì đỏ ngầu màu máu. Những ví dụ như vậy về sức mạnh của súng ống khi đối đầu với các dân tộc bản địa không có súng có thể nhân lên vô cùng tận.
Tuy nhiên, vào thời điểm người Tây Ban Nha chinh phục người Inca, súng chỉ đóng vai trò thứ yếu. Súng vào thời đó (gọi là súng hỏa mai) khó nạp đạn và khó bắn, mà Pizarro cũng chỉ có hơn mười khẩu mà thôi. Quả là những khi người Tây Ban Nha bắn thì chúng cũng có gây tác động tâm lý lớn. Song có tầm quan trọng hơn nhiều là những lưỡi gươm, mũi giáo và dao găm bằng thép của người Tây Ban Nha, những vũ khí mạnh mẽ sắc nhọn có thể giết chết những người Anh-điêng mặc áo giáp mỏng manh. Ngược lại, những chiếc dùi cui đầu tù của người Anh-điêng tuy có thể đánh và làm người Tây Ban Nha bị thương nhưng lại hiếm khi giết được họ. Áo giáp bằng thép hoặc mảnh kim loại ghép và trên hết là mũ trụ bằng thép của người Tây Ban Nha thường bảo vệ họ một cách hữu hiệu trước những cú đánh bằng dùi cui, trong khi áo giáp bằng vải chần của người Anh-điêng chẳng bảo vệ được gì trước những vũ khí bằng thép.
Tường thuật của những người chứng kiến luôn nhắc tới ưu thế to lớn của người Tây Ban Nha nhờ cưỡi ngựa. Các kỵ sĩ có thể dễ dàng vượt trước đám lính Anh-điêng chạy bộ trước khi đám này kịp báo tin cho những toán quân Anh-điêng đi sau họ, cũng như có thể truy đuổi và giết chết những người Anh-điêng chạy bộ. Cơn sốc khi nhìn thấy những cú phi của lũ ngựa, tính cơ động của chúng, tốc độ tấn công chớp nhoáng nhờ có chúng, lại thêm nhờ cưỡi trên ngựa mà các kỵ sĩ được có thể chiến đấu từ tầm cao an toàn, tất cả những điều đó khiến cho binh sĩ chạy bộ của đối phương gần như vô vọng khi ra ngoài đồng trống. Hiệu quả của ngựa không phải chỉ gói gọn trong nỗi kinh hoàng mà chúng gây ra cho quân đối phương khi mới gặp lần đầu. Đến thời điểm xảy ra cuộc khởi nghĩa lớn của người Inca vào năm 1536, người Inca đã học được cách tự vệ trước kỵ binh Tây Ban Nha, bằng cách phục kích và tiêu diệt kỵ sĩ Tây Ban Nha ở cự ly gần. Nhưng người Inca, cũng như mọi binh sĩ chạy bộ khác, không bao giờ đánh bại nổi kỵ binh khi ra ngoài đồng trống. Khi Quizo Yupanqui, vị tướng giỏi nhất của Manco, hoàng đế Inca, kẻ nối ngôi Atahualpa, bao vây quân Tây Ban Nha ở Lima vào năm 1536 và cố chiếm thành phố, hai toán kỵ binh Tây Ban Nha đã tấn công một lực lượng Inca đông hơn gấp nhiều lần trên đất bằng, giết chết Quizo và tất cả ban tham mưu của ông ta ngay trong cuộc đột kích đầu tiên, sau đó đánh cho quân Anh-điêng tan tác. Một toán kỵ binh tương tự gồm 26 người đã đánh tan những đạo quân tinh nhuệ nhất của bản thân hoàng đế Manco khi ông này đang bao vây người Tây Ban Nha ở Cuzco.
Việc loài ngựa làm thay đổi hình thái của chiến tranh đã khởi đầu từ sự thuần hóa ngựa vào khoảng 4.000 năm TCN ở vùng thảo nguyên phía bắc Biển Đen. Ngựa cho phép những ai sở hữu chúng vượt những khoảng cách xa hơn nhiều so với đi bộ, tấn công bất ngờ, và chạy thoát trước khi tập hợp được lực lượng phòng ngự mạnh. Như vậy, vai trò của chúng ở Cajamarca là tiêu biểu cho một vũ khí quân sự mạnh mẽ và hữu hiệu trong suốt 6.000 năm cho đến tận đầu thế kỷ XX, một vũ khí mà rốt cuộc đã được áp dụng trên mọi châu lục. Mãi đến Thế chiến Thứ nhất, vị thế thống trị của kỵ binh trong chiến tranh cuối cùng mới chấm dứt. Đã xét tới những lợi thế của người Tây Ban Nha có được nhờ ngựa, vũ khí bằng thép và áo giáp khi chống lại những binh lính chạy bộ trong tay không có một tấc kim loại thì chẳng còn lạ gì việc người Tây Ban Nha cứ đều đều thắng hết trận này đến trận khác trước đối phương đông gấp nhiều lần.
Tại sao Atahualpa lại đến Cajamarca? Atahualpa và quân đội ông ta đến Cajamarca bởi họ vừa chiến thắng những trận đánh có ý nghĩa quyết định trong một cuộc nội chiến khiến cho người Inca bị chia rẽ và dễ bị tổn thương. Pizarro nhanh chóng nhận ra được những sự chia rẽ đó và lợi dụng chúng. Nguyên nhân dẫn tới nội chiến là một trận dịch đậu mùa lan tràn khắp cả vương quốc giữa những người Anh-điêng Nam Mỹ sau khi người Tây Ban Nha đến định cư ở Panama và Colombia, giết chết hoàng đế Inca Huayna Capac và hầu hết triều đình của nhà vua vào khoảng năm 1526, sau đó thì lại giết chết luôn người được chỉ định kế vị nhà vua là Ninan Cuyuchi. Những cái chết này dẫn tới một cuộc tranh đoạt ngôi báu giữa Atahualpa và người anh cùng cha là Huascar. Giá như không có trận dịch thì người Tây Ban Nha đã phải đối đầu với một đế quốc thống nhất.

Sự có mặt của Atahualpa ở Cajamarca làm nổi bật một trong những nhân tố chủ chốt trong lịch sử thế giới: những căn bệnh từ các dân tộc đi xâm lược vốn đã mang kháng thể đáng kể lây nhiễm sang các dân tộc không có kháng thể. Bệnh đậu mùa, bệnh sởi, cúm, sốt phát ban, dịch hạch và những căn bệnh truyền nhiễm khác ở châu Âu đã đóng vai trò quyết định trong các cuộc chinh phục của người châu Âu, bằng cách giết hại nhiều dân tộc trên các châu lục khác. Chẳng hạn, một trận dịch đậu mùa đã tàn hại người Aztec sau khi cuộc tấn công đầu tiên của người Tây Ban Nha vào năm 1520 thất bại, giết chết Cuitláhuac, vị hoàng đế Aztec vừa kế ngôi Montezuma. Khắp nơi ở châu Mỹ, các bệnh dịch do người châu Âu mang tới đã lan tràn từ bộ lạc này sang bộ lạc khác từ lâu trước khi bản thân người châu Âu đến, giết chết khoảng 95% dân số người châu Mỹ bản địa tiền Colombo. Những xã hội bản địa đông dân và có tổ chức cao nhất ở châu Mỹ, các tù trưởng quốc vùng Mississippi, đã biến mất theo cách đó trong khoảng từ năm 1492 đến cuối thế kỷ XVII, ngay cả trước khi bản thân người châu Âu đến định cư lần đầu tiên ở lưu vực sông Mississippi. Một trận dịch đậu mùa vào năm 1713 đã là bước duy nhất và lớn nhất để người di cư châu Âu tiêu diệt sạch dân tộc San bản địa ở Nam Phi. Chẳng bao lâu sau khi người Anh định cư ở Sydney vào năm 1788 đã bắt đầu trận dịch đầu tiên làm chết hầu hết người châu Úc bản địa. Một ví dụ có bằng chứng rõ ràng từ các đảo Thái Bình Dương là trận dịch đã quét qua Fiji vào năm 1806 do một vài thủy thủ châu Âu bị đắm tàu Argo mà dạt lên bờ. Những trận dịch tương tự cũng xảy ra trong lịch sử Tonga, Hawaii và các đảo Thái Bình Dương khác.

Tuy nhiên, tôi không có ý nói rằng vai trò của bệnh dịch trong lịch sử chỉ là lót đường cho sự bành trướng của người châu Âu. Sốt rét, sốt hoàng nhiệt và những bệnh khác của châu Phi nhiệt đới, Ấn Độ, Đông Nam Á và New Guinea là những trở ngại quan trọng nhất đối với người châu Âu khi thực dân hóa những vùng nhiệt đới này.
Làm cách nào Pizarro đến được Cajamarca? Tại sao không phải là Atahualpa tìm cách chinh phục Tây Ban Nha? Pizarro đến được Cajamarca là nhờ công nghệ hàng hải của châu Âu, vốn đã chế tạo được những con tàu đưa ông ta vượt Đại Tây Dương từ Tây Ban Nha đến Panama, sau đó từ Panama đến Peru trên Thái Bình Dương. Vì thiếu công nghệ đó, Atahualpa đã không thể vượt biển mà bành trướng được ra ngoài Nam Mỹ.
Ngoài bản thân những con tàu, sự hiện diện của Pizarro còn phụ thuộc vào tổ chức chính trị tập trung hóa vốn đã cho phép Tây Ban Nha có tiền để đầu tư, đóng tàu, thuê nhân công và trang bị cho những con tàu đó. Đế quốc Inca cũng có tổ chức chính trị tập trung hóa, nhưng điều này hóa ra lại gây bất lợi cho họ vì Pizarro đã lợi dụng đúng quy trình lãnh đạo tập trung đó bằng cách bắt sống Atahualpa. Bởi vì bộ máy cai trị của Inca bị đồng hóa mạnh mẽ với vị quân vương tuyệt đối được coi là thần thánh đó, cho nên sau khi Atahualpa chết thì nó cũng tan rã. Công nghệ hàng hải cộng thêm tổ chức chính trị cũng có tầm quan trọng cốt tử đối với việc người châu Âu chinh phục các lục địa khác cũng như việc bành trướng của nhiều dân tộc khác.
Một sự kiện có liên quan đã đưa người Tây Ban Nha đến Peru, ấy là sự hiện diện của chữ viết. Tây Ban Nha có chữ viết còn đế quốc Inca thì không. Nhờ có chữ viết mà thông tin có thể được truyền bá rộng hơn nhiều, chính xác hơn nhiều và chi tiết hơn nhiều so với truyền miệng. Thông tin đó quay trở về Tây Ban Nha sau những chuyến du hành của Colombo và từ cuộc chinh phục Mexico của Cortés, đã khiến người Tây Ban Nha đổ xô sang Tân Thế giới. Các thư từ và sách vở mang lại động cơ cho việc này và đồng thời cho những chỉ dẫn cặn kẽ cần thiết về hàng hải. Bản báo cáo đầu tiên được ấn hành về những kỳ tích của Pizarro, của bạn đồng hành ông ta là Thuyền trưởng Cristóbal de Mena, được in tại Seville vào tháng Tư năm 1534, chỉ sáu tháng sau khi Atahualpa bị hành quyết. Nó trở thành sách bán chạy nhất, được nhanh chóng dịch ra các thứ tiếng châu Âu khác và khiến lại thêm một dòng người di cư Tây Ban Nha nữa đổ sang nhằm củng cố quyền kiểm soát của Pizarro đối với Peru.
Tại sao Atahualpa đi thẳng vào bẫy? Ngày nay nhìn lại, ta thấy thật lạ lùng rằng Atahualpa đã bước thẳng vào cái bẫy rất ư lộ liễu của Pizarro ở Cajamarca. Bản thân những người Tây Ban Nha đã bắt cóc ông ta cũng ngạc nhiên không kém khi thấy mình thành công như vậy. Những hệ quả của chữ viết thật là rõ ràng trong cách lý giải tối hậu.
Cách lý giải trực tiếp nhất là Atahualpa có rất ít thông tin về người Tây Ban Nha, sức mạnh quân sự và ý định của họ. Ông ta có được chút thông tin ít ỏi đó nhờ truyền miệng, chủ yếu từ một đặc sứ đã đến thăm lực lượng của Pizarro trong vòng hai ngày khi lực lượng này đang trên đường từ bờ biển tiến vào nội địa. Viên đặc sứ này đã thấy những người Tây Ban Nha giữa lúc họ đang nhếch nhác lôi thôi nhất, thành thử ông ta bảo Atahualpa rằng họ không phải là những chiến binh, nên chỉ cần 200 người Anh-điêng là có thể trói gô họ lại dễ dàng. Thật dễ hiểu rằng Atahualpa đã không bao giờ nghĩ đến chuyện người Tây Ban Nha rất đáng sợ và họ sẽ tấn công ông ta mà chẳng buồn khiêu khích.
Ở Tân Thế giới, chỉ một số người thuộc lớp tinh hoa ở một số dân tộc tại Mexico ngày nay và những vùng lân cận xa về phía bắc đế quốc Inca mới có khả năng viết. Mặc dù việc người Tây Ban Nha chinh phục Panama – chỉ cách biên giới phía bắc của Inca vỏn vẹn 600 dặm – đã khởi đầu vào năm 1510, nhưng mãi đến khi Pizarro lần đầu tiên đặt chân lên bờ biển Peru vào năm 1527 người Inca vẫn hoàn toàn chẳng biết tí gì ngay cả về chính sự tồn tại của người Tây Ban Nha. Atahualpa hoàn toàn chẳng biết gì về việc người Tây Ban Nha đã chinh phục được những xã hội hùng mạnh và đông dân nhất ở vùng Trung Mỹ.
Đối với chúng ta ngày nay, cũng lạ lùng như cách hành xử của Atahualpa dẫn đến việc ông ta bị bắt cóc là cách hành xử của ông ta sau khi bị bắt. Ông ta đồng ý nộp khoản chuộc lừng danh kia bởi tin tưởng một cách ngây thơ rằng một khi đã được tiền chuộc người Tây Ban Nha sẽ thả ông ta ra rồi bỏ đi. Ông ta chẳng thể nào hiểu nổi rằng người của Pizarro chỉ là mũi nhọn đầu tiên của một lực lượng đang rắp tâm chinh phục lâu dài chứ nào phải là một cuộc tấn công nhỏ lẻ.
Atahualpa không phải là người duy nhất mắc phải những tính toán sai lầm chết người đó. Ngay cả sau khi Pizarro đã bị bắt, em của Francisco Pizarro là Hernando Pizarro đã lừa được vị thống soái của Atahualpa là Chalcuchima, kẻ đang cầm đầu một đạo quân lớn, để ông này tự nộp mình cho người Tây Ban Nha. Tính toán sai lầm của Chalcuchima đánh dấu một bước ngoặt trong sự sụp đổ của cuộc kháng chiến Inca, một sự kiện hầu như cũng hệ trọng như bản thân việc Atahualpa bị bắt. Hoàng đế Aztec Montezuma đã tính nhầm còn tai hại hơn khi xem Cortés là một vị thần tái giáng trần và cho phép Cortés cùng đội quân bé tí của ông ta được vào kinh đô Tenochtitlán của Aztec. Hậu quả là Cortés bắt sống Montezuma, sau đó tiến lên chinh phục Tenochtitlán và toàn bộ đế quốc Aztec.
Ở mức độ thường tình, những tính toán sai lầm của Atahualpa, Chalcuchima, Montezuma và vô số các nhà lãnh đạo châu Mỹ bản địa khác bị người châu Âu lừa phỉnh đều là bởi không một cư dân nào của Tân Thế giới thời đó từng đến Cựu Thế giới nên dĩ nhiên họ không thể có thông tin cụ thể nào về người Tây Ban Nha. Nhưng dù vậy đi nữa, chúng ta vẫn khó lòng tránh khỏi đi đến kết luận rằng “lẽ ra” Atahualpa nên đa nghi hơn, giá như xã hội của ông ta đã trải nghiệm nhiều loại hành vi của con người hơn. Pizarro khi đến Cajamarca cũng hoàn toàn chẳng có thông tin gì về người Inca ngoại trừ những gì ông ta biết được bằng cách tra hỏi những thần dân Inca mà ông ta gặp vào năm 1527 và 1531. Tuy nhiên, dù bản thân Pizarro là kẻ mù chữ, dẫu sao ông ta vẫn thuộc về một xã hội có chữ viết. Từ sách vở, người Tây Ban Nha đã biết về nhiều nền văn minh đương thời cách xa châu Âu và về hàng mấy ngàn năm lịch sử châu Âu. Pizarro rõ ràng đã giăng bẫy bắt Atahualpa theo đúng khuôn mẫu học được từ Cortés.
Nói ngắn gọn, chữ viết đã giúp người Tây Ban Nha được thừa hưởng một nền tri thức rộng lớn về hành vi con người và lịch sử loài người. Ngược lại, Atahualpa không chỉ chẳng có chút khái niệm nào về bản thân người Tây Ban Nha, cũng chưa hề có kinh nghiệm cá nhân về những kẻ xâm lược đến từ bên kia biển, mà thậm chí ông ta còn chưa hề nghe nói (hay đọc được) về những mối đe dọa tương tự đối với bất cứ ai, ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào trước kia trong lịch sử. Cái kinh nghiệm bao la đó đã khích lệ Pizarro giăng bẫy và xui khiến Atahualpa bước vào bẫy đó.
Như vậy, việc Pizarro bắt sống Atahualpa minh họa cho chuỗi nhân tố trực tiếp dẫn đến việc người châu Âu thực dân hóa Tân Thế giới thay vì người châu Mỹ bản địa thực dân hóa châu Âu. Những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thành công của Pizarro là kỹ thuật quân sự dựa trên súng ống, vũ khí bằng thép và ngựa, những bệnh truyền nhiễm xuất xứ từ Âu-Á, kỹ thuật hàng hải của châu Âu, tổ chức chính trị tập trung hóa của các nước châu Âu, và chữ viết. Nhan đề cuốn sách này sẽ đóng vai trò tóm lược các nhân tố trực tiếp này, vốn cũng là những nhân tố cho phép người châu Âu hiện đại chinh phục các dân tộc khác trên những châu lục khác. Từ lâu trước khi có người nghĩ đến chuyện chế ra súng và thép, những nhân tố khác cũng trong nhóm nhân tố này đã dẫn đến sự bành trướng của một số dân tộc không phải châu Âu, như ta sẽ thấy trong các chương sau.
Nhưng chúng ta vẫn đang bỏ ngỏ câu hỏi cơ bản, ấy là tại sao tất cả những ưu thế trực tiếp này đều nằm ở châu Âu chứ không phải ở Tân Thế giới. Tại sao không phải người Inca phát minh ra súng và vũ khí bằng thép, cưỡi những con vật cũng đáng sợ như ngựa, mang những mầm bệnh mà người châu Âu không có kháng thể, đóng những con tàu có khả năng vượt đại dương, có tổ chức chính trị tiên tiến, và có khả năng dựa vào kinh nghiệm của hàng ngàn năm lịch sử thành văn? Đó không còn là những câu hỏi về chuỗi nhân quả trực tiếp mà chương này đề cập đến; các câu hỏi về nguyên nhân tối hậu sẽ chiếm trọn hai phần tiếp theo của cuốn sách này.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thực
Chương 4 - Sức mạnh của nhà nông
Hồi ở tuổi thiếu niên, vào năm 1956, tôi sống suốt mùa hè ở bang Montana, làm việc cho một nông dân luống tuổi tên là Fred Hirschy. Ông sinh ở Thụy Sĩ, đến tuổi thiếu niên thì di cư sang Mỹ, sống ở miền Tây Nam Montana và gầy dựng một trong những nông trại đầu tiên ở vùng này. Hồi ông mới đến, hầu hết người châu Mỹ bản địa chuyên săn bắt hái lượm vẫn còn sống ở đó.
Các bạn tá điền của tôi là những người da trắng thô kệch hễ mở mồm là tuôn ra hàng tràng những lời tục tĩu, làm việc suốt các ngày thường để cuối tuần lại tiêu bằng hết tiền lương ở quán rượu địa phương. Tuy nhiên, trong số các tá điền có một người thuộc bộ lạc Blackfoot của người Anh-điêng tên là Levi cư xử rất khác với đám thợ thuyền lỗ mãng: lịch sự, ân cần, tỉnh táo, ăn nói đàng hoàng. Ông là người Anh-điêng đầu tiên mà tôi dành hầu hết thời gian bên cạnh, và tôi đâm ra khâm phục ông.
Chính vì vậy tôi đã thất vọng ê chề khi một chiều Chủ nhật kia ngay cả Levi cũng say khướt, chân nam đá chân chiêu và văng tục sau một tối chủ nhật say bí tỉ. Trong số những lời chửi của ông có một câu hằn sâu vào ký ức tôi: “Mẹ kiếp nhà anh, Fred Hirschy, mẹ kiếp cái con tàu đã đưa anh từ Thụy Sĩ sang đây!” Lời đó đã khiến tôi đau đớn ngộ ra rằng ở trường người ta vẫn dạy tôi cũng như bọn trẻ khác về cái gọi là công cuộc chinh phục hào hùng miền Viễn Tây nước Mỹ nhưng đối với người Anh-điêng cái công cuộc đó thực chất là gì? Gia đình Fred Hirschy tự hào về ông, một nhà nông tiên phong đã thành công trong những điều kiện khó khăn. Nhưng bộ lạc của Levi gồm các thợ săn và chiến binh lừng danh thì bị các nhà nông da trắng xâm lăng kia cướp đoạt đất đai. Làm cách nào những nhà nông đã chiến thắng các chiến binh lừng danh đó được?
Suốt hầu hết quãng thời gian từ khi tổ tiên người hiện đại tách ra khỏi tổ tiên các loài vượn lớn, cách đây khoảng 7 triệu năm, mọi con người trên Trái đất đều kiếm cái ăn hoàn toàn chỉ bằng cách hái lượm quả dại và săn bắt thú hoang, như bộ lạc Blackfoot vẫn làm vào thế kỷ XIX. Chỉ trong vòng 11.000 năm trở lại đây một số dân tộc mới chuyển sang cái gọi là sản xuất lương thực, nghĩa là thuần hóa thú hoang và cây dại rồi ăn thịt thú nuôi và các cây trồng. Ngày nay, hầu hết các dân tộc trên thế giới tiêu thụ lương thực do chính họ làm ra hoặc do ai đó khác sản xuất cho họ. Với tốc độ thay đổi như hiện nay thì chỉ trong vài thập niên nữa số ít những bộ lạc săn bắt hái lượm còn sót lại sẽ từ bỏ cách sống của mình, sẽ tan rã hoặc diệt vong, qua đó hàng bao triệu năm con người gắn bó với lối sống săn bắt hái lượm rồi sẽ cáo chung.
Mỗi dân tộc trên thế giới đạt tới sản xuất lương thực vào một thời điểm khác nhau vào thời tiền sử. Một số dân tộc, chẳng hạn người châu Úc bản địa, chẳng bao giờ đạt tới sản xuất lương thực cả. Trong số những dân tộc đã đạt tới sản xuất lương thực, một vài dân tộc (như Trung Hoa cổ đại) tự mình phát triển nền sản xuất lương thực mà không phụ thuộc vào ai, trong khi những dân tộc khác (kể cả Ai Cập cổ đại) thì tiếp thu sản xuất lương thực từ các dân tộc láng giềng. Song, như ta sẽ thấy, một cách gián tiếp, sản xuất lương thực là một điều kiện tiên quyết cho việc phát triển súng, vi trùng và thép. Vì vậy, những khác biệt địa lý dẫn đến dân tộc này hay dân tộc khác có chuyển thành nhà nông và nhà chăn nuôi hay không, nếu có thì vào thời gian nào, có thể lý giải một phần lớn tại sao số phận về sau của các dân tộc lại tương phản nhau đến vậy. Trước khi đi sâu vào sáu chương kế tiếp nhằm thấu hiểu xem những khác biệt về địa lý trong sản xuất lương thực đã phát sinh như thế nào, chương này sẽ lần theo những mối liên hệ chủ yếu mà qua đó sản xuất lương thực đã dẫn đến những ưu thế khiến Pizarro có thể bắt sống Atahualpa và dân tộc của Fred Hirschy có thể tước đoạt đất đai từ dân tộc của Levi (Hình 4.1).
Liên kết đầu tiên là liên kết trực tiếp nhất: càng có nhiều phương tiện chứa calori ăn được thì càng có nhiều người hơn. Trong số các loài cây dại và thú hoang, chỉ có một thiểu số nhỏ là con người ăn được hoặc đáng cho họ săn bắt hay hái lượm. Hầu hết các loài đều vô dụng, chúng ta không thể dùng làm thức ăn, vì một hay một số những nguyên nhân sau: không tiêu hóa được (như vỏ cây), độc (như bướm sâu bông tai hay nấm độc), giá trị dinh dưỡng thấp (sứa), chế biến quá nhiêu khê (các loại hạt quá nhỏ), khó săn bắt (ấu trùng của hầu hết côn trùng), hoặc săn bắt rất nguy hiểm (như tê giác). Hầu hết sinh khối (tức vật chất sống) trên mặt đất nằm dưới dạng gỗ và lá mà phần lớn không thể tiêu hóa được đối với con người.
Bằng cách chọn và nuôi trồng các loài cây và thú mà chúng ta ăn được, sao cho chúng bao hàm 95% chứ không phải 0,1% sinh khối trên một hécta đất, chúng ta có lượng calori ăn được lớn hơn nhiều trên mỗi hécta. Kết quả là, nếu chăn nuôi gia súc và làm nông, một hécta có thể nuôi sống nhiều người hơn – tiêu biểu là nhiều hơn từ 10 đến 100 lần – so với săn bắt hái lượm. Sức mạnh của những con số trần trụi này chính là lợi thế quân sự đầu tiên trong nhiều lợi thế quân sự của những bộ lạc sản xuất lương thực so với các bộ lạc săn bắt hái lượm.
Hình 4.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến những mẫu hình chung của lịch sử
Sơ đồ chuỗi nhân quả dẫn tới các nhân tố trực tiếp (như súng, vi trùng và thép) cho phép một số dân tộc đi chinh phục những dân tộc khác, cho đến những nhân tố tối hậu (như hướng trục của các lục địa). Chẳng hạn, các bệnh truyền nhiễm đa dạng của con người đã tiến hóa ở những khu vực nơi có nhiều loài cây và thú hoang dã thích hợp cho sự thuần hóa, một phần bởi các cây trồng và vật nuôi sinh ra từ đó đã giúp nuôi sống những quần thể người đông đúc nơi mà bệnh truyền nhiễm có thể duy trì, một phần bởi các căn bệnh đã tiến hóa từ những vi trùng của bản thân các loài thú đã được thuần hóa.
Ở những xã hội loài người có sở hữu gia súc, các loài gia súc nuôi được nhiều người hơn bằng bốn cách khác nhau: cung cấp thịt, sữa, phân bón, kéo cày. Trước hết và một cách trực tiếp nhất, gia súc trở thành nguồn chính cung cấp protein động vật cho xã hội thay vì thú hoang. Chẳng hạn, ngày nay, người Mỹ có xu hướng nhận nguồn protein động vật chủ yếu từ bò, lợn, cừu và gà, trong khi thịt thú hoang chẳng hạn thịt nai chỉ là món xa xỉ ít khi đụng tới. Ngoài ra, một số loài gia súc lớn được dùng làm nguồn cung cấp sữa và sản phẩm từ sữa như bơ, phó mát, sữa chua. Các loài hữu nhũ cho sữa bao gồm bò, cừu, dê, ngựa, tuần lộc, trâu, bò yak, lạc đà Arập và lạc đà Bactrian. Bằng cách đó, trong suốt cuộc đời mình các loài hữu nhũ này cho ta nhiều calori hơn gấp mấy lần so với nếu ta chỉ giết chúng mà ăn thịt.
Các loài gia súc hữu nhũ lớn cũng tương tác với các loại cây trồng theo hai cách để nâng cao năng suất cây trồng. Trước hết, như bất kỳ người làm vườn hoặc làm nông nào ngày nay vẫn biết qua kinh nghiệm, năng suất cây trồng có thể nâng cao đáng kể nếu được bón phân chuồng. Thậm chí dù ngày nay ta có phân bón tổng hợp do các nhà máy hóa chất sản xuất, nguồn phân bón chính cho cây trồng ở hầu hết các xã hội hiện đại vẫn là phân súc vật, đặc biệt là bò, song ngoài ra còn có bò yak và cừu. Phân súc vật còn có giá trị làm nguồn chất đốt ở các xã hội truyền thống.
Ngoài ra, gia súc hữu nhũ còn tương tác với cây trồng để nâng cao năng suất lương thực bằng cách kéo cày, nhờ đó con người có thể cày cấy những mảnh đất mà trước đây không mang lại hiệu quả cao trong trồng trọt. Các loài vật kéo cày gồm bò, ngựa, trâu, bò Bali và loài lai giữa bò thường với bò yak. Sau đây là một ví dụ về giá trị của chúng: những nhà nông tiền sử đầu tiên ở Trung Âu, cái gọi là nền văn hóa Linearbandkeramik phát sinh khoảng trước 5.000 năm TCN một chút, chỉ bó hẹp ở những vùng đất đủ mềm để có thể cày cấy bằng những cây gậy chọc cầm tay. Chỉ hơn một ngàn năm sau, khi xuất hiện cày do bò kéo, các nông dân đó mới có thể mở rộng canh tác ra những vùng đất rắn rộng hơn nhiều. Tương tự, các nông dân châu Mỹ bản địa ở vùng Đồng bằng Lớn Bắc Mỹ vốn đã trồng trọt ở các thung lũng sông, nhưng canh tác trên đất rắn ở vùng cao thì phải đợi đến khi người châu Âu di cư sang vào thế kỷ XIX đem theo chiếc cày do gia súc kéo.
Trên đây là những cách trực tiếp mà qua đó việc thuần hóa cây trồng và vật nuôi dẫn đến sự gia tăng dân số loài người nhờ cung cấp được nhiều lương thực hơn so với lối sống săn bắt hái lượm. Còn có một cách gián tiếp hơn, ấy là hệ quả của lối sống định cư vốn trở nên cần thiết khi người ta chuyển sang sản xuất lương thực. Trong các xã hội săn bắt hái lượm, người ta thường xuyên di chuyển để tìm lương thực hoang dã, nhưng các nhà nông thì phải thường xuyên sống ở gần ruộng vườn mình. Việc cư trú cố định còn góp phần làm tăng mật độ dân số bằng cách cho phép rút ngắn khoảng cách giữa những lần sinh. Một bà mẹ săn bắt hái lượm đang chuyển trại đi nơi khác thì chỉ có thể mang theo một đứa con bởi còn phải đèo bòng bao nhiêu thứ đồ lỉnh kỉnh khác. Bà ta không thể sinh thêm một đứa nữa chừng nào đứa trước chưa thể đi đủ nhanh để theo kịp bầy đoàn chứ không tụt lại đằng sau. Trên thực tế, các bộ lạc săn bắt hái lượm du cư chủ động sinh con cách bốn năm một đứa bằng các biện pháp như kéo dài thời gian cho con bú nhằm làm mất kinh (lactational amenorrhoea), tiết dục, giết trẻ em và phá thai. Ngược lại, những người định cư, do không bị ràng buộc vì chuyện mang con cái theo trên đường du cư, có thể sinh bao nhiêu con cũng được miễn là đủ sức nuôi ăn. Khoảng cách giữa hai lần sinh đối với nhiều dân tộc làm nông là khoảng hai năm, bằng một nửa so với các dân tộc săn bắt hái lượm. Tỷ suất sinh cao hơn ở những người sản xuất lương thực, cùng với khả năng nuôi được nhiều người hơn trên một hécta, cho phép họ đạt mật độ dân số cao hơn nhiều so với những người săn bắt hái lượm.
Một hệ quả riêng biệt của lối sống định cư là nó cho phép người ta tích trữ lương thực thặng dư, bởi việc tích trữ sẽ là vô nghĩa nếu người ta không cư trú ngay gần đó đặng canh chừng chỗ lương thực dự trữ. Tuy một số dân tộc săn bắt hái lượm du cư thỉnh thoảng cũng có thể để dành lương thực đủ ăn không chỉ trong vài ngày, song một phần thặng dư này chẳng có ích gì lắm đối với họ vì họ không thể bảo vệ nó. Nhưng lương thực dự trữ là rất quan trọng để có thể nuôi những người làm các công việc chuyên môn ngoài sản xuất lương thực, mà số này thì nhất định rất đông. Chính vì vậy mà các xã hội săn bắt hái lượm ít có hoặc hoàn toàn không có các chuyên gia toàn thời gian như vậy; những người này chỉ xuất hiện đầu tiên ở các xã hội định cư.
Hai loại chuyên gia như vậy là vua và quan lại. Các xã hội săn bắt hái lượm có xu hướng tương đối bình đẳng, không có quan lại chuyên nghiệp và tù trưởng cha truyền con nối, có tổ chức chính trị quy mô nhỏ ở cấp độ bầy người hay bộ lạc. Đó là do tất cả những người săn bắt hái lượm đủ sức khỏe đều có nghĩa vụ dành hầu hết thời gian cho việc tìm lương thực. Ngược lại, khi người ta đã có thể tích trữ lương thực thì một nhóm tinh hoa về chính trị có thể nắm quyền kiểm soát chỗ lương thực do người khác sản xuất ra, nắm quyền đánh thuế, không phải tự nuôi sống mình mà dành toàn bộ thời gian cho các hoạt động chính trị. Vì lý do này, các xã hội nông nghiệp quy mô trung bình thường được tổ chức thành tù trưởng quốc, còn vương quốc thì chỉ phát triển ở các xã hội nông nghiệp quy mô lớn mà thôi. So với các bộ lạc săn bắt hái lượm, các đơn vị chính trị phức tạp này có nhiều khả năng hơn trong việc dấy lên những cuộc chiến tranh chinh phục kéo dài. Một số dân săn bắt hái lượm ở những môi trường đặc biệt trù phú, chẳng hạn vùng bờ biển tây bắc Thái Bình Dương của Bắc Mỹ và bờ biển Ecuador cũng phát triển thành xã hội định cư, tích trữ lương thực và có những tù trưởng quốc sơ khai, nhưng họ đã không đi xa hơn trên đường chuyển hóa thành vương quốc.
Lương thực thặng dư tích trữ hình thành nhờ việc đánh thuế có thể nuôi cả những chuyên gia toàn thời gian khác nữa ngoài vua và quan lại. Nó có thể được dùng để nuôi binh lính chuyên nghiệp, điều có liên quan trực tiếp nhất đến các cuộc chiến tranh chinh phục. Đó là nhân tố quyết định trong việc đế quốc Anh rốt cuộc đã đánh bại người bản địa Maori ở New Zealand dù họ có vũ trang đầy đủ. Tuy người Maori cũng giành được vài chiến thắng oanh liệt nhưng đấy chỉ là tạm thời, họ không duy trì nổi một đội quân thường trực trên chiến địa và rốt cuộc cũng bị làm hao mòn bởi 18.000 quân chuyên nghiệp của Anh. Lương thực dự trữ cũng cho phép nuôi sống giới tăng lữ, những người mang lại sự bảo chứng về tôn giáo cho các cuộc chiến tranh chinh phạt; các thợ thủ công chẳng hạn như thợ luyện kim, thợ làm gươm, súng và các kỹ thuật khác; và các thư lại, những người có thể lưu trữ nhiều thông tin hơn gấp bội so với chỉ ghi nhớ trong đầu.
Từ trước đến giờ tôi đã nhấn mạnh những giá trị trực tiếp và gián tiếp của cây trồng và vật nuôi với tư cách là lương thực. Tuy nhiên, chúng còn có những công dụng khác, chẳng hạn như cho ta mặc ấm và cung cấp những chất liệu có giá trị. Cây trồng và vật nuôi cung cấp sợi may quần áo, chăn đệm, lưới và dây. Hầu hết các trung tâm thuần hóa cây trồng lớn đều phát triển không chỉ các cây trồng cho lương thực mà cả cây trồng cho sợi, nhất là bông vải, sợi lanh (cung cấp vải lanh) và gai dầu. Một số vật nuôi cung cấp sợi động vật, đặc biệt là len từ cừu, dê, lạc đà Nam Mỹ, lụa từ tằm. Xương gia súc là nguyên liệu quan trọng làm vật dụng đối với các dân tộc thời Đồ đá trước khi nghề luyện kim xuất hiện. Da bò được dùng làm da thuộc. Một trong các cây trồng đầu tiên ở nhiều vùng tại châu Mỹ được trồng không phải để lấy lương thực, chẳng hạn cây bầu nậm mà quả được dùng làm vật chứa.
Các loài gia súc hữu nhũ lớn còn cách mạng hóa xã hội loài người thêm một bước do chúng trở thành phương tiện giao thông đường bộ chính của chúng ta cho tới khi đường sắt được phát triển vào thế kỷ XIX. Trước khi loài vật được thuần hóa, phương tiện chính để vận chuyển người và hàng hóa trên đất liền là trên lưng người. Các loài hữu nhũ lớn đã thay đổi điều đó: lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, người ta có thể vận chuyển hàng hóa nặng cũng như người với số lượng lớn và qua những khoảng cách lớn trên bộ một cách nhanh chóng. Các gia súc dùng làm vật cưỡi là ngựa, lừa, bò yak, tuần lộc, lạc đà Arập và lạc đà Bactrian. Các con vật thuộc năm loài này, cùng với loài llama, cũng được dùng để mang hành lý. Bò và ngựa được buộc vào xe để kéo, còn tuần lộc và chó thì kéo xe trượt tuyết ở Bắc Cực. Ngựa trở thành phương tiện chủ yếu để vận chuyển đường dài trên hầu hết lục địa Âu-Á. Ba loài lạc đà được thuần hóa (lạc đà Arập, lạc đà Bactrian và llama) đóng vai trò tương tự ở nhiều vùng lần lượt tại Bắc Mỹ và Arập, Trung Á và dãy Andes.
Đóng góp trực tiếp nhất của việc thuần hóa cây trồng và vật nuôi đối với các cuộc chiến tranh chinh phục là từ loài ngựa Âu-Á; vai trò quân sự của chúng cũng tương tự như xe jeep và xe tăng trong chiến tranh thời cổ đại trên lục địa này. Như tôi đã nhắc tới ở Chương 3, chúng đã cho phép Cortés và Pizarro, dù chỉ mang theo một dúm quân mạo hiểm ít ỏi, vẫn lật đổ được các đế quốc Aztec và Inca. Còn sớm hơn thế rất nhiều (khoảng 4.000 năm TCN), khi người ta còn cưỡi ngựa không có yên cương, ngựa có thể đã là nhân tố quân sự trọng yếu khi những người nói các ngôn ngữ Ấn-Âu bành trướng về phía Tây từ [vùng đất nay là] Ukraina. Các ngôn ngữ này rốt cuộc đã thay thế tất cả các ngôn ngữ Tây Âu từng tồn tại trước đó ngoại trừ tiếng Basque. Khi về sau ngựa được thắng vào xe, các trận đánh có xe do ngựa kéo (được phát minh vào khoảng 1.800 năm TCN) đã làm thay đổi triệt để hình thái chiến tranh ở vùng Cận Đông, khu vực Địa Trung Hải và Trung Hoa. Chẳng hạn, vào năm 1674 TCN, ngựa thậm chí còn cho phép một dân tộc ngoại bang, người Hyksos, chinh phục nước Ai Cập mà lúc bấy giờ chưa có ngựa, rồi tạm thời chiếm ngôi hoàng đế Ai Cập.
Về sau, khi người ta đã phát minh ra yên ngựa và bàn đạp, ngựa đã cho phép người Hung nô và làn sóng các dân tộc khác từ vùng thảo nguyên châu Á tràn sang lấn chiếm lãnh thổ đế quốc La Mã và những nước kế thừa đế quốc này, với đỉnh cao là người Mông Cổ chinh phục hầu hết châu Á và nước Nga vào thế kỷ XIII và XIV. Chỉ khi xe tải và xe tăng xuất hiện trong Thế chiến thứ nhất thì cuối cùng ngựa mới bị soán mất ngôi vị là phương tiện tấn công và vận chuyển nhanh chủ yếu trong chiến tranh. Lạc đà Arập và lạc đà Bactrian cũng đóng vai trò tương tự trong khu vực địa lý của mình. Trong tất cả các ví dụ trên, các dân tộc có ngựa (hay lạc đà) thuần hóa, hoặc có những phương tiện cải tiến để sử dụng chúng, đều có ưu thế quân sự to lớn so với các dân tộc không có chúng.
Cũng có tầm quan trọng tương đương trong các cuộc chiến tranh chinh phục là những vi trùng đã tiến hóa ở các xã hội loài người có gia súc. Các bệnh truyền nhiễm như đậu mùa, sởi và cúm đã nảy sinh như những loài vi trùng chỉ riêng có ở người, xuất phát từ sự biến dị của một số vi trùng thủy tổ rất giống như vậy đã từng lây nhiễm ở động vật (Chương 11). Những người đã thuần hóa thú vật là nạn nhân đầu tiên của các vi trùng mới tiến hóa này, nhưng sau đó những người này đã có được kháng thể cần thiết đối với các căn bệnh mới. Khi những người đã được miễn nhiễm một phần này tiếp xúc với các dân tộc khác vốn chưa từng tiếp xúc với các vi trùng đó, bệnh dịch sẽ xảy ra, giết chết có thể tới 99% những người chưa tiếp xúc. Vậy là, các vi trùng mà về sâu xa bắt nguồn từ các loài vật thuần hóa đã đóng vai trò quyết định trong việc người châu Âu chinh phục người châu Mỹ bản địa, người châu Úc, người Nam Phi và cư dân hải đảo Thái Bình Dương.
Nói ngắn gọn, việc thuần hóa cây trồng và vật nuôi có ý nghĩa lớn hơn nhiều chứ không chỉ mang lại nhiều lương thực hơn và cho phép nâng cao dân số. Thặng dư lương thực có được nhờ cây trồng và vật nuôi, cũng như (ở một số khu vực) các phương tiện vận chuyển do súc vật kéo để vận chuyển lương thực thặng dư đó, đã là điều kiện tiên quyết để có những xã hội định cư, tập trung hóa về chính trị, phân chia giai tầng về xã hội, phức tạp về kinh tế và cách tân về công nghệ. Vì vậy, cuối cùng thì việc có cây trồng và vật nuôi thuần hóa đã giải thích vì sao các đế quốc, chữ viết và vũ khí bằng thép đã phát triển sớm nhất ở Âu-Á, phát triển muộn hơn hoặc hoàn toàn không phát triển ở các châu lục khác. Việc sử dụng ngựa và lạc đà trong quân sự, cũng như sức mạnh giết người của các vi trùng phát sinh từ vật nuôi, đã hoàn tất danh mục những mối liên quan chủ chốt giữa sản xuất lương thực với chiến tranh chinh phục, điều mà chúng ta sẽ khảo sát sau đây.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thực
Chương 5 - Kẻ-có và kẻ-không-có trong lịch sử
Lịch sử loài người phần lớn bao hàm những cuộc xung đột không cân sức giữa những kẻ-có và những kẻ-không-có: giữa những dân tộc có sức mạnh của nghề nông và các dân tộc không có nó, hay giữa dân tộc có nghề nông sớm hơn với dân tộc có nghề nông muộn hơn. Chẳng lạ gì rằng sản xuất lương thực không bao giờ phát sinh ở nhiều khu vực lớn trên trái đất, bởi những lý do sinh thái khiến cho ngay cả ngày nay cũng rất khó hay thậm chí không thể làm việc đó. Chẳng hạn, cả trồng trọt lẫn chăn nuôi đều không hề phát triển trong thời tiền sử ở vùng Bắc Cực của châu Mỹ, trong khi yếu tố duy nhất của sản xuất lương thực từng phát sinh ở vùng Bắc Cực của lục địa Âu-Á là chăn nuôi tuần lộc. Sản xuất lương thực cũng không thể nảy sinh tự phát ở các vùng sa mạc xa nguồn nước cần thiết để tưới tiêu, chẳng hạn miền trung Australia và nhiều vùng ở miền tây Hoa Kỳ.
Thay vào đó, cái mà chúng ta cần lý giải là: tại sao sản xuất lương thực mãi đến thời hiện đại mới phát sinh ở một vài khu vực rất thích hợp về sinh thái mà ngày nay nằm trong số những trung tâm trồng trọt và chăn nuôi trù phú nhất trên thế giới. Chiếm hàng đầu trong số các khu vực đầy khúc mắc này, nơi các dân tộc bản địa vẫn đang sống bằng săn bắt hái lượm vào thời điểm các nhà thực dân châu Âu xuất hiện, là California và các bang ven bờ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, đồng bằng pampas ở Argentina, miền tây nam và đông nam Australia và hầu hết vùng Cape của Nam Phi. Giá như chúng ta khảo sát thế giới tại thời điểm 4.000 năm TCN, hàng ngàn năm sau khi sản xuất lương thực đã nảy sinh ở những vùng phát nguyên cổ nhất, hẳn chúng ta cũng sẽ rất ngạc nhiên khi thấy những vùng mà ngày nay là vựa lúa mì trù phú thì hồi đó chưa hề có sản xuất lương thực, bao gồm toàn bộ phần còn lại của Hoa Kỳ, nước Anh và hầu hết nước Pháp, Indonesia và toàn bộ châu Phi hạ xích đạo. Khi ta lần ngược trở lại đến tận lúc khởi nguyên của sản xuất lương thực, những vùng sớm nhất lại cho ta một ngạc nhiên khác. Những vùng sản xuất lương thực cổ xưa nhất còn lâu mới là những vựa lúa ngày nay; ngược lại, ngày nay chúng được xếp vào hàng những khu vực có phần khô hạn hoặc bị thoái hóa về sinh thái: Iraq và Iran, Mexico, vùng Andes, một số vùng của Trung Hoa, vùng Sahel của châu Phi. Tại sao sản xuất lương thực phát triển đầu tiên ở những vùng có vẻ như khá cằn cỗi đó và chỉ về sau mới phát triển ở những vùng trồng trọt và chăn nuôi phì nhiêu nhất ngày nay?
Những khác biệt địa lý liên quan đến việc sản xuất lương thực phát sinh bằng cách nào cũng khó mà lý giải được. Ở một vài nơi, sản xuất lương thực phát triển một cách độc lập, do người dân địa phương tiến hành thuần hóa cây dại và thú hoang. Ở hầu hết các nơi khác, sản xuất lương thực được du nhập vào dưới dạng cây trồng và vật nuôi đã được thuần hóa ở nơi khác. Các vùng phát nguyên sản xuất lương thực không độc lập này vốn dĩ đã thích hợp cho sản xuất lương thực từ trước khi các loài được thuần hóa kia được du nhập đến, vậy thì tại sao các dân tộc sống ở đó đã không tự mình trở thành nhà nông hay người chăn nuôi bằng cách thuần hóa cây dại và thú hoang ở chính khu vực của mình, chứ không phải viện đến sự trợ giúp từ bên ngoài?
Trong số các khu vực nơi sản xuất lương thực đã nảy sinh độc lập, tại sao thời điểm nó xuất hiện lại khác nhau đến thế, chẳng hạn, ở châu Á sớm hơn ở miền đông Hoa Kỳ tới hàng ngàn năm còn ở miền đông Australia thì chẳng bao giờ xuất hiện? Trong số các khu vực nơi sản xuất lương thực đã được du nhập từ nơi khác đến vào thời tiền sử, tại sao thời điểm du nhập cũng khác nhau nhiều đến thế, chẳng hạn ở tây nam châu Âu sớm hơn ở tây nam Hoa Kỳ tới hàng ngàn năm? Lại nữa, trong số các khu vực nơi sản xuất lương thực được du nhập đến, tại sao ở một số khu vực (tỉ như tây nam Hoa Kỳ) các cư dân săn bắt hái lượm bản địa đã tiếp nhận cây trồng và vật nuôi từ những người láng giềng và tiếp tục tồn tại như những người làm nông, trong khi ở các khu vực khác (chẳng hạn Indonesia và hầu hết châu Phi hạ xích đạo) sự du nhập sản xuất lương thực lại khiến những người săn bắt hái lượm bản địa bị những người sản xuất lương thực từ nơi khác đến xâm lấn và chiếm chỗ một cách tàn bạo? Tất cả những câu hỏi đó bao hàm những sự tiến hóa có ý nghĩa quyết định trong việc những dân tộc nào là kẻ-không-có còn những dân tộc nào là kẻ-có trong lịch sử.
Trước khi mong trả lời được các câu hỏi đó, ta cần phải hình dung làm sao xác định được những khu vực nào là nơi đã phát nguyên nền sản xuất lương thực, tại sao nó lại phát sinh ở đó, một loài cây hay thú đã được thuần hóa lần đầu tiên ở đâu và khi nào. Bằng chứng rõ rệt nhất là kết quả nhận diện vết tích cây trồng và vật nuôi ở các di chỉ khảo cổ. Hầu hết các loài cây và loài vật được thuần hóa đều khác biệt về hình thái so với tổ tiên hoang dã của chúng: chẳng hạn, trâu bò và cừu nhà có kích thước nhỏ hơn, gà và táo được thuần hóa có kích thước lớn hơn, vỏ hạt của một số loài đậu trồng mỏng và mịn hơn, dê nhà có sừng xoắn hình ốc vít chứ không phải hình mã tấu. Vì vậy di tích các loài cây trồng và vật nuôi ở một di chỉ khảo cổ đã xác định niên đại có thể được nhận diện và cho bằng chứng mạnh mẽ về nền sản xuất lương thực tại nơi đó và vào thời đó, trong khi một di chỉ mà chỉ có vết tích của các loài hoang dã thì không thể cho bằng chứng về sản xuất lương thực mà chỉ tương ứng với lối sống săn bắt hái lượm. Đương nhiên là những người sản xuất lương thực, nhất là những người chỉ mới chuyển sang, vẫn tiếp tục hái lượm một số loài cây dại và săn bắt một số loài thú hoang, nên vết tích lương thực ở di chỉ của họ bao gồm cả các loài hoang dã lẫn các loài đã thuần hóa.
Các nhà khảo cổ xác định niên đại sản xuất lương thực bằng cách phân tích cácbon phóng xạ tại di chỉ. Phương pháp này dựa trên sự phân rã chậm của cácbon phóng xạ C14, một thành phần rất nhỏ của cácbon, đơn vị cấu thành sự sống ở mọi nơi, thành đồng vị không phóng xạ nitơ 14. Cácbon 14 liên tục được tạo ra trong không khí bởi các tia vũ trụ. Cây cối tiếp nhận cácbon trong không khí, mà trong đó tỷ lệ C14 so với đồng vị C12 chiếm đa số là gần như ổn định (ta biết tỷ lệ này vào khoảng một trên một triệu). Cácbon này của cây cối tiếp tục làm nên cơ thể của các loài vật ăn cỏ đã ăn cây đó, kế đó lại làm nên cơ thể của các loài ăn thịt đã ăn các loài ăn cỏ đó. Tuy nhiên, khi cây hoặc thú chết đi, cứ mỗi 5.700 năm thì phân nửa hàm lượng C14 bên trong chúng lại phân rã thành C12, cho đến sau khoảng 40.000 năm thì hàm lượng C14 còn rất thấp, khó đo được hoặc khó phân biệt được với những lượng C14 nhỏ do nhiễm phải các chất của thời đại ngày nay. Vì vậy, tuổi của vật chất ở một di chỉ khảo cổ có thể tính bằng tỷ lệ C14/C12 trong vật chất đó.
Phương pháp phân tích phóng xạ có thể gặp một số vấn đề kỹ thuật, trong đó hai vấn đề đáng được nhắc tới ở đây. Một là, cho tới thập niên 1980, xác định niên đại bằng phóng xạ cácbon vẫn đòi hỏi phải có một lượng cácbon tương đối lớn (vài gam), nhiều hơn gấp bội so với khối lượng cácbon trong vài hạt đậu hoặc mảnh xương. Vì vậy, các nhà khoa học thường phải xoay sang xác định niên đại các chất liệu tìm thấy ở bên cạnh trong cùng một di chỉ mà họ cho là “gắn liền” với di tích lương thực, nghĩa là chúng ắt đã phải bị con người vứt bỏ cùng một lúc với những lương thực đó. Một chất liệu thường được chọn coi như “gắn liền” với di tích lương thực là than còn lại từ các đống lửa.
Nhưng các di chỉ khảo cổ không phải lúc nào cũng bao gồm những thứ được người xưa vứt bỏ trong cùng một ngày. Các vật chất tích tụ lại ở những thời gian khác nhau có thể bị trộn lẫn vào nhau bởi sâu bọ, các loài gặm nhấm và những nhân tố khác làm đất bị đùn lên. Vì vậy, tàn than từ một đống lửa có thể lại nằm gần di tích một loài cây hoặc thú đã chết và bị ăn thịt trước hoặc sau đó đến hàng ngàn năm. Các nhà khảo cổ ngày càng cố khắc phục khó khăn này bằng cách chỉ xác định niên đại bằng một kỹ thuật mới gọi là phép đo phổ khối gia tốc (accelerator mass spectrometry), tức là đo cácbon phóng xạ dựa trên các mẫu thật nhỏ nhờ vậy cho phép xác định niên đại một hạt đậu, một mẩu xương hay một mảnh lương thực thừa duy nhất. Trong một số trường hợp, người ta đã tìm thấy sự khác biệt lớn giữa các niên đại mới xác định gần đây dựa trên phương pháp trực tiếp mới (vốn cũng có những khó khăn của mình) với những niên đại dựa trên phương pháp gián tiếp trước kia. Trong số những niên đại gây tranh cãi mà chưa có lời giải đáp, có lẽ quan trọng nhất đối với mục đích của cuốn sách này là niên đại khi sản xuất lương thực khởi phát ở châu Mỹ: các phương pháp gián tiếp vào các thập niên 1960 và 1970 cho kết quả rất sớm là 7.000 năm TCN, nhưng niên đại được xác định gần đây dựa trên phương pháp trực tiếp lại không sớm hơn 3.500 năm TCN.
Khó khăn thứ hai khi xác định niên đại bằng phương pháp cácbon phóng xạ, ấy là tỷ lệ C14/C12 trong không khí thật ra không hẳn là không đổi mà có dao động chút ít theo thời gian, nên phép tính niên đại theo cácbon phóng xạ dựa trên giả định rằng tỷ lệ đó không đổi ắt hẳn không tránh khỏi những sai sót nhỏ mang tính hệ thống. Về nguyên tắc, việc sai sót này có lớn hay không đối với mỗi niên đại trong quá khứ có thể xác định được nhờ những loài cây lâu năm mà mỗi năm lại cho một vòng thân mới, bởi ta có thể đếm các vòng này để biết niên đại chính xác trong quá khứ cho mỗi vòng, và một mẫu cácbon của gỗ được xác định niên đại theo cách này có thể được phân tích để tìm tỷ lệ C14/C12. Bằng cách này, ta có thể “điều chỉnh” các niên đại cácbon phóng xạ đo được nhằm tính đến những dao động của tỷ lệ cácbon trong không khí. Hiệu quả của việc điều chỉnh này là, đối với những vật thể có niên đại biểu kiến (nghĩa là chưa được điều chỉnh) trong khoảng từ 1.000 đến 6.000 năm TCN, thì niên đại thật (đã điều chỉnh) sẽ sớm hơn khoảng từ vài thế kỷ đến một ngàn năm. Gần đây một số mẫu có phần xưa hơn đã bắt đầu được điều chỉnh bằng một phương pháp thay thế dựa trên một quá trình phân rã phóng xạ khác và cho kết luận rằng các mẫu mà bề ngoài có niên đại khoảng 9.000 năm TCN thật ra là có niên đại khoảng 11.000 năm TCN.
Các nhà khảo cổ thường phân biệt các niên đại đã điều chỉnh với niên đại chưa điều chỉnh bằng cách viết niên đại đã điều chỉnh bằng chữ hoa còn niên đại chưa điều chỉnh thì bằng chữ thường (chẳng hạn 3.000 B.C. và 3.000 b.c.). Tuy nhiên, văn liệu khảo cổ có thể gây nhầm lẫn ở điểm này, bởi nhiều sách và báo chí vẫn ghi các niên đại chưa điều chỉnh bằng chữ hoa (B.C.) mà không ghi chú rằng các niên đại này thật ra chưa được điều chỉnh. Các niên đại mà tôi đưa ra trong sách này cho các sự kiện trong vòng 15.000 trở lại đây là niên đại đã được điều chỉnh. Ấy là do tính tới những sai biệt mà độc giả có thể nhận thấy giữa các niên đại trong sách này với những niên đại trong một số sách tham khảo chuẩn trước đây về thời kỳ đầu của sản xuất lương thực.
Một khi đã nhận ra và xác định niên đại các di tích cổ của cây trồng và vật nuôi, làm sao ta biết cây hay con vật đó đã thực sự được thuần hóa ở một nơi gần di chỉ đó chứ không phải được thuần hóa ở nơi khác rồi mang đến di chỉ đó? Có một phương pháp là kiểm tra bản đồ phân bố địa lý các cây dại và thú hoang vốn là tổ tiên của cây trồng hay vật nuôi đó và lập luận rằng việc thuần hóa ắt phải diễn ra ở nơi các loài tổ tiên hoang dã đó từng sống. Chẳng hạn, đậu chickpea được trồng rộng rãi bởi các nhà nông truyền thống ở vùng Địa Trung Hải và Ethiopia phía đông Ấn Độ – ngày nay Ấn Độ vẫn chiếm 80% sản lượng chickpea trên thế giới. Thế nên người ta có thể nhầm tưởng rằng chickpea đã được thuần hóa ở Ấn Độ. Nhưng hóa ra loài cây dại tổ tiên của chickpea lại chỉ mọc ở miền đông nam Thổ Nhĩ Kỳ. Lập luận rằng chickpea đã được thuần hóa ở đó được hậu thuẫn bởi sự kiện là, di tích xưa nhất cho thấy chickpea có lẽ được thuần hóa tại các di chỉ khảo cổ thời Đồ đá đều nằm ở miền đông nam Thổ Nhĩ Kỳ và vùng lân cận phía bắc Syria cách đây khoảng 8.000 năm TCN; mãi hơn 5.000 năm sau thì bằng chứng khảo cổ về chickpea mới xuất hiện trên tiểu lục địa Ấn Độ.
Một phương pháp thứ hai để xác định địa điểm thuần hóa cây trồng hay vật nuôi là điền lên bản đồ niên đại khi mỗi loài thuần hóa xuất hiện lần đầu tiên tại từng địa điểm. Vị trí nơi loài đó xuất hiện sớm nhất có thể là nơi loài đó được thuần hóa đầu tiên, nhất là nếu loài hoang dã tổ tiên của nó cũng sinh sống ở đó, và nếu niên đại xuất hiện đầu tiên tại các địa điểm khác đều muộn dần về sau, với khoảng cách ngày càng xa dần khỏi vị trí được cho là nơi thuần hóa đầu tiên, gợi ý rằng loài này đã được truyền bá dần sang các vùng đó. Chẳng hạn, lúa mì emmer được trồng sớm nhất ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu vào khoảng 8.500 năm TCN. Chẳng bao lâu sau, loài cây này tiến dần về phía tây, đến Hy Lạp vào khoảng 6.500 năm TCN và Đức vào khoảng 5.000 năm TCN. Các niên đại này gợi ý rằng lúa mì emmer đã được thuần hóa đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, kết luận này được hậu thuẫn bởi thực tế là loài cây hoang tổ tiên của lúa mì emmer chỉ giới hạn trong khu vực từ Israel đến miền tây Iran và Thổ Nhĩ Kỳ.
Tuy nhiên, như ta sẽ thấy, trong nhiều trường hợp sẽ có nhiều phức tạp nảy sinh, khi cùng một loại cây hay con vật đó được thuần hóa một cách độc lập ở nhiều khu vực khác nhau. Các trường hợp này thường có thể phát hiện khi phân tích những khác biệt về hình thái, di truyền hoặc nhiễm sắc thể nảy sinh từ đó giữa các mẫu của cùng một loài cây trồng hay vật nuôi ở nhiều khu vực khác nhau. Chẳng hạn, nòi bò u Ấn Độ có những chiếc bướu không có ở các loài gia súc ở tây Âu-Á, và phân tích di truyền cho thấy tổ tiên các loài bò Ấn Độ và tây Âu-Á ngày nay đã tách khỏi nhau từ hàng trăm ngàn năm trước, rất lâu trước khi có bất cứ loài nào được thuần hóa ở bất cứ đâu. Nghĩa là, loài bò đã được thuần hóa một cách độc lập ở Ấn Độ và ở tây Âu-Á trong vòng 10.000 năm trở lại đây, bắt đầu từ những phân loài bò hoang Ấn Độ và tây Âu-Á vốn đã tách khỏi nhau từ hàng trăm ngàn năm trước.
Giờ ta hãy trở lại những câu hỏi trước đây về sự phát sinh nền sản xuất lương thực. Ở đâu, khi nào và bằng cách nào sản xuất lương thực đã phát triển ở nhiều vùng khác nhau của trái đất?
Ở một thái cực là những khu vực nơi sản xuất lương thực phát sinh cùng một lúc và độc lập với nhau, với sự thuần hóa nhiều loại cây bản địa (ở một số trường hợp là thú hoang) trước khi du nhập bất cứ loài cây hay con nào từ nơi khác. Chỉ có năm khu vực như vậy, nơi mà ngày nay ta có bằng chứng chi tiết và đáng tin cậy: Tây Nam Á, còn được gọi là Cận Đông hay Lưỡi liềm Phì nhiêu; Trung Hoa; vùng Trung Mỹ (thuật ngữ này dùng để gọi miền trung và nam Mexico cũng như các vùng lân cận của Trung Mỹ); vùng Andes ở Nam Mỹ, có thể cả vùng lòng chảo Amazon; và miền đông Hoa Kỳ (Hình 5.1). Thật ra, một số hay tất cả các trung tâm này có thể bao gồm một số trung tâm kế cận nhau nơi mà sản xuất lương thực đã phát sinh ít nhiều độc lập với nhau, như vùng thung lũng Hoàng Hà của Bắc Trung Hoa và thung lũng Dương Tử của Nam Trung Hoa.
Hình 5.1: Các trung tâm phát nguyên sản xuất lương thực
Dấu chấm hỏi biểu thị rằng người ta vẫn chưa rõ liệu sự phát sinh nền sản xuất lương thực ở trung tâm đó có thật là do chịu ảnh hưởng sự bành trướng sản xuất lương thực từ những trung tâm khác, hoặc (trong trường hợp New Guinea) những cây trồng sớm nhất ở khu vực đó là gì. (Các địa danh, theo chiều kim đồng hồ, lần lượt Tân Thế giới rồi đến Cựu Thế giới)
Ngoài năm khu vực này – nơi sản xuất lương thực chắc chắn đã phát sinh từ đầu – còn có bốn khu vực khác: vùng Sahel của châu Phi, Tây Phi xích đạo, Ethiopia và New Guinea cũng là ứng viên cho cái vinh dự này. Tuy nhiên, trong mỗi trường hợp đều có đôi điều chưa chắc chắn. Mặc dù các loài cây dại bản địa rõ ràng là đã được thuần hóa ở vùng Sahel của châu Phi nằm ngay phía nam sa mạc Sahara, nhưng chăn nuôi gia súc có thể đã phát sinh sớm hơn trồng trọt ở vùng này, và người ta cũng chưa chắc liệu đó là những loài gia súc được thuần hóa một cách độc lập ở Sahel hay là gia súc có nguồn gốc từ vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và sau khi được du nhập vào Sahel chúng đã tạo cú hích để người ta tiến hành thuần hóa cây dại. Cũng tồn nghi như vậy là việc liệu có phải các cây trồng Sahel này sau đó đã kích thích việc thuần hóa các loài cây dại bản địa ở Tây Phi nhiệt đới (việc này thì chúng ta biết chắc) và liệu có phải việc du nhập các loài cây trồng Tây Nam Á là tác nhân kích thích việc thuần hóa các loài cây dại bản địa ở Ethiopia hay không. Còn về phần New Guinea, các nghiên cứu khảo cổ đã cho bằng chứng về việc nghề nông đã xuất hiện sớm hơn sản xuất lương thực ở bất cứ khu vực nào khác lân cận, nhưng các loại cây trồng ở đó thì chưa được nhận diện một cách xác quyết.
Bảng 5.1 tóm lược – cho các khu vực thuần hóa cục bộ này cũng như các khu vực khác – một số loài cây trồng và vật nuôi nổi tiếng nhất cũng như niên đại thuần hóa sớm nhất được biết. Trong chín khu vực [được chọn làm] ứng viên cho [danh hiệu] trung tâm phát nguyên sản xuất lương thực độc lập, Tây Nam Á có niên đại xác định muộn nhất về cả thuần hóa cây trồng (khoảng 8.500 năm TCN) lẫn thuần hóa vật nuôi (khoảng 8.000 năm TCN); nó cũng là nơi có số niên đại cácbon phóng xạ chính xác về sản xuất lương thực thời kỳ đầu nhiều hơn gấp bội so với các khu vực khác. Các niên đại của Trung Hoa cũng sớm gần như vậy, trong khi niên đại ở miền đông Hoa Kỳ thì rõ ràng muộn hơn khoảng 6.000 năm. Đối với sáu khu vực ứng viên khác, các niên đại được xác định sớm nhất không thể bì với các niên đại của Tây Nam Á, nhưng ở sáu vùng đó có quá ít di chỉ sớm đã được xác định niên đại chính xác nên ta cũng chưa thể biết chắc chúng có thật sự muộn hơn so với Tây Nam Á hay không, nếu có thì muộn bao lâu.
Nhóm khu vực kế tiếp bao gồm các khu vực đã có thuần hóa một số loài cây và thú bản địa nhưng sản xuất lương thực ở đó chủ yếu vẫn dựa vào các loài cây và thú đã được thuần hóa ở nơi khác. Các loài thuần hóa được du nhập này có thể coi là các loài cây trồng và vật nuôi “sáng lập” bởi chúng đóng vai trò sáng lập ra nền sản xuất lương thực tại khu vực. Việc du nhập các loài thuần hóa “sáng lập” cho phép dân địa phương chuyển sang sống định cư, nhờ đó nâng cao khả năng xuất hiện những loài cây trồng địa phương từ các loài cây dại mà người ta hái lượm mang về nhà trồng một cách ngẫu nhiên song về sau thì trồng một cách có chủ ý.
Bảng 5.1. Ví dụ về các loài đã được thuần hóa ở từng khu vực

Ở ba hoặc bốn khu vực như vậy, các loài cây và vật nuôi sáng lập được du nhập từ Tây Nam Á. Một trong các khu vực đó là Tây và Trung Âu, nơi sản xuất lương thực phát sinh cùng với sự du nhập các cây trồng và vật nuôi từ Tây Nam Á vào khoảng 6.000 đến 3.500 năm TCN, nhưng ít nhất có một cây (cây anh túc, có thể cả yến mạch và vài cây khác) đã được thuần hóa ở đó một cách độc lập. Cây anh túc hoang chỉ giới hạn ở các vùng ven biển phía tây Địa Trung Hải. Hạt anh túc không có mặt tại các di chỉ khảo cổ của các cộng đồng làm nông sớm nhất ở Đông Âu và Tây Nam Á; chúng xuất hiện đầu tiên ở các di chỉ làm nông sớm ở Tây Âu. Ngược lại, dường như rõ một điều rằng sản xuất lương thực đã không tiến hóa một cách độc lập ở Tây Âu, mà chỉ được kích thích sau khi người ta du nhập các loài đã thuần hóa từ Tây Nam Á. Các xã hội làm nông ở Tây Âu nảy sinh từ đó đã tiến hành thuần hóa cây anh túc mà về sau được truyền bá về phía đông như một loại cây trồng.
Một khu vực khác nơi việc thuần hóa cục bộ dường như chỉ xuất hiện sau khi du nhập các loài cây trồng sáng lập từ Tây Nam Á là vùng thung lũng Ấn hà của tiểu lục địa Ấn Độ. Các cộng đồng làm nông sớm nhất ở vùng này vào thiên niên kỷ thứ bảy trước công nguyên đã dùng lúa mì, lúa mạch và những loài cây trồng khác vốn đã được thuần hóa trước đó ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và rõ ràng đã được truyền bá sang thung lũng Ấn hà qua ngả Iran. Chỉ về sau các loài cây thuần hóa có nguồn gốc từ các loài bản địa của tiểu lục địa Ấn Độ như bò bướu và cây vừng mới xuất hiện ở các cộng đồng làm nông ở thung lũng Ấn hà. Ở Ai Cập cũng vậy, sản xuất lương thực khởi phát vào thiên niên kỷ thứ sáu TCN với sự du nhập các loài cây trồng Tây Nam Á. Người Ai Cập sau đó tiến hành thuần hóa quả sung và một loài rau địa phương gọi là chufa.
Mô hình như vậy có lẽ cũng đúng với Ethiopia, nơi lúa mì, lúa mạch và các loài cây trồng Tây Nam Á khác đã được trồng trong một thời gian dài. Người Ethiopia cũng đã thuần hóa nhiều loài hoang dã ở địa phương để có được các loài cây trồng mà hầu hết đến nay vẫn chỉ bó hẹp trong phạm vi Ethiopia, nhưng một trong số đó (hạt cà phê) thì đã được truyền bá ra khắp thế giới. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa rõ liệu người Ethiopia đã trồng các loài cây địa phương đó từ trước hay chỉ sau khi du nhập các loài cây trồng của Tây Nam Á.
Ở các khu vực này và những khu vực khác nơi sản xuất lương thực tùy thuộc vào việc du nhập các loài cây trồng sáng lập từ nơi khác, liệu có phải những người săn bắt hái lượm địa phương đã tự mình tiếp thu các loài cây trồng sáng lập này từ các dân tộc làm nông láng giềng và từ đó tự chuyển sang làm nông? Hay các cây trồng sáng lập này đã được du nhập cùng với các dân tộc làm nông đến xâm chiếm đất rồi giao phối với những người săn bắt hái lượm bản địa và giết chết, thay thế hoặc áp đảo họ về số lượng?
Ở Ai Cập, dường như khả năng thứ nhất đã diễn ra: những người săn bắt hái lượm bản địa chỉ việc bổ sung các loại cây trồng và vật nuôi cũng như kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi Tây Nam Á vào thực đơn các cây dại và thú hoang của mình, sau đó dần dần giảm bớt tỷ trọng lương thực hoang dã. Nghĩa là, nhân tố kích thích cho sản xuất lương thực ra đời là các loại cây trồng và vật nuôi từ xa đến chứ không phải những dân tộc từ xa đến. Ở vùng bờ biển Đại Tây Dương của châu Âu có lẽ cũng vậy, ở đó những người săn bắt hái lượm bản địa hẳn đã tiếp thu cừu và ngũ cốc từ Tây Nam Á trong vòng nhiều thế kỷ. Ở vùng Cape của Nam Phi, những người săn bắt hái lượm Khoi bản địa đã trở thành người chăn nuôi (nhưng không thành nhà nông) bằng cách tiếp thu cừu và bò từ mãi Bắc Phi (nếu xét đến cùng thì từ Tây Nam Á). Tương tự, những người săn bắt hái lượm bản địa ở vùng tây nam Hoa Kỳ đã dần dần chuyển sang làm nông bằng cách tiếp thu các cây trồng của Mexico. Ở bốn khu vực này, sự khởi phát sản xuất lương thực không (hoặc ít) cho ta bằng chứng về việc thuần hóa các loài cây và thú bản địa, nhưng cũng không (hoặc ít) cho ta bằng chứng về việc dân tộc này thay thế dân tộc khác.
Ở cực đối lập là các khu vực mà ở đó sản xuất lương thực chắc chắn đã khởi đầu với sự xuất hiện đột ngột của những dân tộc từ xa tới mang theo các loại cây trồng và vật nuôi lạ. Lý do tại sao ta có thể biết chắc về việc này là bởi những sự kiện này đều xảy ra trong thời hiện đại và người trong cuộc là dân châu Âu, những kẻ đã ghi lại trong vô số cuốn sách về những gì đã diễn ra. Các khu vực này gồm California, vùng Tây Bắc ven Thái Bình Dương của Bắc Mỹ, đồng bằng pampas ở Argentina, Australia và Siberia. Cho tới những thế kỷ gần đây, các khu vực này vẫn chỉ gồm những người săn bắt hái lượm sinh sống – ở ba trường hợp đầu là người châu Mỹ bản địa, ở hai trường hợp sau là người châu Úc bản địa và người Siberia bản địa. Những người săn bắt hái lượm này bị giết chết, nhiễm bệnh, xua đuổi đi nơi khác, hoặc bị thay thế một phần lớn bởi những người trồng trọt và chăn nuôi châu Âu từ xa đến mang theo những loài của riêng mình, những người này không tiến hành thuần hóa loài hoang dã bản địa nào sau khi họ đến (ngoại trừ hạt macadamia ở Australia). Ở vùng Cape của Nam Phi, những người từ châu Âu đến đã gặp không chỉ những người săn bắt hái lượm Khoi mà cả những người Khoi chăn nuôi đang sở hữu một số loài gia súc nhưng không có loài cây trồng nào. Hệ quả là, một lần nữa, nghề nông lại khởi phát dựa trên những loài cây trồng từ nơi khác đến, không có sự thuần hóa các loài bản địa, và có sự thay thế dân tộc này bằng dân tộc khác trên quy mô lớn ngay ở thời hiện đại.
Cuối cùng, cũng một mô hình đó – sản xuất lương thực khởi đầu một cách đột ngột dựa trên những loài thuần hóa từ nơi khác đến, và có sự thay thế đột ngột quần thể dân cư này bằng quần thể dân cư khác trên quy mô lớn – dường như đã tự lặp lại ở nhiều khu vực trong thời tiền sử. Do thiếu tư liệu thành văn, ta phải tìm bằng chứng cho những cuộc thay thế dân cư thời tiền sử đó trong các báo cáo khảo cổ hoặc suy ra từ bằng chứng ngôn ngữ học. Những trường hợp được chứng minh rõ nhất là trường hợp khi chúng ta không còn nghi vấn gì rằng đã có việc những người sản xuất lương thực từ nơi khác mới đến chiếm chỗ của dân cư bản địa, những người này có bộ xương khác biệt thấy rõ so với những người săn bắt hái lượm bản địa đã bị họ chiếm chỗ, và những người sản xuất lương thực này mang đến không chỉ cây trồng và vật nuôi mà cả đồ gốm. Các chương sau sẽ mô tả hai ví dụ rõ rệt nhất như vậy: sự bành trướng của người Austronesia từ Nam Trung Hoa đến Philippines và Indonesia (Chương 17), và sự bành trướng của người Bantu ra khắp châu Phi hạ xích đạo (Chương 19).
Đông Nam Âu và Trung Âu là một bức tranh tương tự về sự khởi phát đột ngột của sản xuất lương thực (dựa trên các cây trồng và vật nuôi Tây Nam Á) và nghề gốm. Sự đột khởi này có lẽ cũng bao gồm sự thay thế những người Hy Lạp cổ và Đức cổ bằng người Hy Lạp mới và Đức mới, cũng như cái cũ đã nhường chỗ cho cái mới ở Philippines, Indonesia và châu Phi hạ xích đạo. Tuy nhiên, sự khác biệt về xương giữa những người săn bắt hái lượm ban đầu và những người làm nông thay thế họ ở châu Âu thì ít nổi bật hơn là ở Philippines, Indonesia và châu Phi hạ xích đạo. Vì lẽ đó mà riêng với châu Âu khả năng dân tộc này đã thay thế dân tộc khác là ít hơn và kém trực tiếp hơn.
Nói ngắn gọn, chỉ một ít khu vực trên thế giới đã phát triển nền sản xuất lương thực một cách độc lập, và ở những thời điểm rất khác nhau. Từ những khu vực hạt nhân này, những người săn bắt hái lượm ở một số khu vực lân cận đã học được cách sản xuất lương thực, trong khi các dân tộc ở những vùng lân cận khác nữa thì bị những người sản xuất lương thực từ các khu vực hạt nhân này xâm chiếm và thay thế – việc này cũng xảy ra ở những thời điểm rất khác nhau. Cuối cùng, các dân tộc ở một số khu vực mà về sinh thái vốn dĩ thích hợp cho sản xuất lương thực lại hoàn toàn không tự mình phát triển nghề nông cũng chẳng tiếp thu nghề nông vào thời tiền sử; họ vẫn cứ là những người săn bắt hái lượm cho đến khi cuối cùng thế giới hiện đại quét sạch họ. Vì vậy, các dân tộc ở những khu vực có lợi thế ban đầu về sản xuất lương thực cũng đã có được lợi thế ban đầu trên con đường dẫn đến súng, vi trùng và thép. Hệ quả là một chuỗi dài những xung đột giữa những kẻ-có và những kẻ-không-có trong lịch sử.
Giải thích như thế nào những khác biệt theo địa lý như trên về thời điểm và mô hình khởi phát nền sản xuất lương thực? Câu hỏi đó, một trong những vấn đề quan trọng nhất của thời tiền sử, sẽ là chủ đề của năm chương tiếp theo đây.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thực
Chương 6 - Làm nông hay không làm nông
Trước kia, mọi dân tộc trên trái đất đều sống bằng săn bắt hái lượm. Vậy thì bởi lý do gì một số dân tộc đã chuyển sang sản xuất lương thực? Cứ cho là họ có ắt phải vài lý do để làm như vậy, song tại sao họ lại làm vậy vào khoảng 8.500 năm TCN ở các môi trường ven Địa Trung Hải của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, chỉ 3.000 năm sau đó mới làm vậy ở các môi trường tương tự về khí hậu và cấu trúc ở tây nam châu Âu, và chẳng bao giờ làm vậy ở các môi trường tương tự như môi trường Địa Trung Hải ở California, tây nam Australia và vùng Cape ở Nam Phi mà phải đợi tới khi du nhập sản xuất lương thực từ nơi khác? Và thậm chí tại sao dân vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu phải đợi mãi tới 8.500 năm TCN mới chuyển sang sản xuất lương thực chứ không làm vậy vào khoảng 18.500 hay 28.500 năm TCN?
Từ điểm nhìn hiện đại của chúng ta, tất cả các câu hỏi đó thoạt nghe có vẻ xuẩn ngốc, bởi những nhược điểm của lối sống săn bắt hái lượm hình như là quá hiển nhiên. Các nhà khoa học thường dẫn một cụm từ của Thomas Hobbes để mô tả lối sống săn bắt hái lượm là “bẩn thỉu, tàn bạo và ngắn ngủi”. Những người săn bắt hái lượm dường như luôn phải làm quần quật, luôn bị quay cuồng bởi nhu cầu cái ăn hằng ngày, thường xuyên bữa đói bữa no, không có những tiện nghi vật chất sơ đẳng như giường êm, quần áo ấm và thường chết yểu.
Trên thực tế, chỉ đối với những công dân no đủ của Thế giới Thứ nhất ngày nay, những người không phải tự nuôi trồng lương thực cho mình, thì sản xuất lương thực (nhờ kỹ thuật canh tác từ xa) mới có nghĩa là ít phải làm việc tay chân hơn, tiện nghi hơn, không phải lo ăn từng bữa và sống lâu hơn. Còn thì hầu hết các nhà nông và người chăn nuôi hiện đại, vốn chiếm đại đa số những người sản xuất lương thực trên thế giới, vị tất đã có nhiều lợi thế hơn so với những người săn bắt hái lượm. Các nghiên cứu về quỹ thời gian cho thấy, có khi nhà nông và người chăn nuôi phải dành nhiều thời gian hơn trong ngày để làm việc chứ không phải ít hơn so với người săn bắt hái lượm. Các nhà khảo cổ đã chứng minh rằng các nhà nông đầu tiên ở nhiều khu vực vốn dĩ nhỏ con hơn và thiếu ăn hơn, mắc nhiều bệnh nặng hơn và thường chết yểu hơn so với những người săn bắt hái lượm mà họ đã giành chỗ. Giá như những người làm nông đầu tiên ấy có thể tiên đoán các hậu quả của việc chuyển sang sản xuất lương thực thì có khi họ đã chẳng chuyển sang làm gì cho khổ. Thế thì tại sao, dù không thể lường trước kết quả, họ vẫn chọn làm như vậy?
Trên thực tế, có nhiều trường hợp những người săn bắt hái lượm, tuy đã nhìn thấy các dân tộc láng giềng chuyển sang sản xuất lương thực, vẫn từ chối nhận những phúc lợi được cho là sẽ có được nhờ nó và vẫn cứ làm dân săn bắt hái lượm. Chẳng hạn, những người săn bắt hái lượm bản địa ở đông bắc Australia từng buôn bán suốt hàng ngàn năm với các nông dân ở các đảo Eo biển Torres, giữa Australia và New Guinea. Những người săn bắt hái lượm châu Mỹ bản địa từng trao đổi với các nông dân châu Mỹ bản địa ở thung lũng sông Colorado. Ngoài ra, những người chăn nuôi Khoi ở phía tây Sông Cá (Fish River) ở Nam Mỹ vẫn trao đổi với những nông dân Bantu ở phía đông Sông Cá, nhưng bản thân họ vẫn không cần tự chuyển sang làm nông. Tại sao?
Lại có những người săn bắt hái lượm khác nữa do giao tiếp với những người làm nông mà rốt cuộc cũng chuyển sang làm nông, nhưng chỉ sau một khoảng thời gian lần lữa mà đối với chúng ta là kéo dài một cách bất thường. Chẳng hạn, mãi sau 1.300 năm kể từ khi các dân tộc thuộc văn hóa Linearbandkeramik truyền bá sản xuất lương thực đến các miền nội địa Đức chỉ cách đó 125 dặm (khoảng 200 km) về phía nam thì các dân tộc miền duyên hải bắc Đức mới chịu chuyển sang sản xuất lương thực. Tại sao các dân Đức miền duyên hải đó phải đợi lâu đến vậy, và điều gì đã khiến họ rốt cuộc cũng đổi ý?
Trước khi trả lời những câu hỏi đó, ta phải loại trừ vài quan niệm sai lầm về nguồn gốc của sản xuất lương thực, sau đó mới đặt lại câu hỏi. Trên thực tế, không phải người ta khám phá ra sản xuất lương thực, cũng chẳng phải người ta phát minh ra sản xuất lương thực như có thể ban đầu ta nghĩ. Thậm chí người ta thường không lựa chọn một cách có ý thức giữa sản xuất lương thực với săn bắt hái lượm. Đặc biệt, ở từng khu vực trên thế giới, những người đầu tiên chuyển sang sản xuất lương thực rõ ràng là đã không làm việc đó như một lựa chọn có ý thức hoặc cố gắng vươn tới việc trồng trọt như một mục đích có ý thức, bởi họ đã thấy ai làm nông nghiệp bao giờ đâu, nên làm sao họ biết làm nông nghiệp nghĩa là thế nào. Thay vì thế, như ta sẽ thấy, sản xuất lương thực đã tiến hóa như một sản phẩm phụ của những quyết định người ta đưa ra mà không biết đến hậu quả. Vì vậy, câu hỏi mà ta phải đặt ra là, tại sao sản xuất lương thực đã tiến hóa, tại sao nó tiến hóa ở một số vùng này chứ không ở những vùng khác, tại sao nó tiến hóa ở mỗi nơi một lúc khác nhau, và tại sao nó đã không tiến hóa vào một thời điểm muộn hơn hoặc sớm hơn.
Một cách hiểu sai lầm khác là nhất thiết phải có một sự khác biệt rạch ròi giữa những người săn bắt hái lượm du cư và những người sản xuất lương thực định cư. Trên thực tế, mặc dù ta thường suy ra một sự tương phản như vậy, song những người săn bắt hái lượm ở một số vùng năng sản, trong đó có bờ biển tây bắc Thái Bình Dương của Bắc Mỹ và có thể cả vùng đông nam Australia, đã chuyển sang định cư nhưng đã chẳng bao giờ trở thành dân sản xuất lương thực. Những người săn bắt hái lượm khác, ở Palestine, miền duyên hải Peru và Nhật Bản, chuyển sang định cư trước rồi mãi rất lâu sau đó mới tiếp thu sản xuất lương thực. Cách đây 15.000 năm các nhóm định cư có thể đã chiếm tỷ lệ lớn hơn nhiều trong số những người săn bắt hái lượm – khi tất cả các khu vực có thể sinh sống trên thế giới (bao gồm hầu hết các vùng năng sản nhất) đều là nơi do những người săn bắt hái lượm sinh sống, so với ngày nay khi vài nhóm săn bắt hái lượm ít ỏi còn lại chỉ sống ở những vùng không năng sản nơi lối sống du cư là lựa chọn duy nhất.
Ngược lại, có nhiều nhóm sản xuất lương thực nhưng lại du cư. Một số dân du canh hiện đại ở vùng Đồng bằng hồ (Lakes Plains) của New Zealand thường phát quang trong rừng rậm, trồng chuối và đu đủ, sau đó đi chỗ khác trong vài tháng để lại sống bằng săn bắt hái lượm, sau đó quay về kiểm tra xem mùa màng thế nào, nếu thấy cây mình trồng đang mọc thì làm cỏ khu vườn, lại ra đi săn mồi, vài tháng sau lại quay về kiểm tra, định cư một thời gian để thu hoạch rồi ăn chỗ lương thực đó nếu vườn của họ có cho hoa lợi. Người Anh-điêng Apache ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ vào mùa hè định cư ở các vùng cao về phía bắc, đến mùa đông thì chuyển về phía nam và đến các vùng thấp hơn để lang thang tìm thức ăn hoang dã. Nhiều dân tộc chăn nuôi ở châu Phi và châu Á chuyển chỗ ở dọc những con đường quen thuộc theo mùa, tận dụng những thay đổi thời tiết có thể tiên đoán được để cho gia súc ăn cỏ. Như vậy, việc chuyển từ săn bắt hái lượm sang sản xuất lương thực không phải bao giờ cũng trùng hợp với chuyển từ sống du cư sang sống định cư.
Lại nữa, người ta thường cho rằng có một sự khác biệt rạch ròi giữa những người sản xuất lương thực vốn được cho là tích cực khai thác mảnh đất của mình với những người săn bắt hái lượm vốn được cho là chỉ đơn thuần thu nhặt những gì mà cây hoang dại sinh ra. Thật ra, cái ranh giới này thường bị xóa nhòa. Trên thực tế, một số dân tộc săn bắt hái lượm vẫn xử lý đất đai của mình một cách tích cực. Chẳng hạn, các dân tộc New Guinea chưa bao giờ tự mình thuần hóa cây cọ sago hay dứa dại nhưng vẫn nâng cao được năng suất các loại cây dại ăn được này bằng cách chặt bỏ các loại cây cạnh tranh xung quanh, giữ sạch kênh mương trong các đồng lầy có cây sago mọc, và kích thích sức tăng trưởng của các chồi sago mới bằng cách chặt bớt các cây sago trưởng thành. Người châu Úc bản địa vốn chưa bao giờ đạt đến trình độ trồng cây khoai lang và các cây có hạt nhưng cũng đã biết và thực hiện một số yếu tố của nghề nông. Họ xử lý đất bằng cách đốt, nhằm khuyến khích các cây có mầm ăn được đâm chồi sau đám cháy. Khi thu hoạch khoai lang dại, họ cắt lấy hầu hết phần thân củ ăn được song cũng cắt bỏ cuống và ngọn trong đất để thân củ có thể mọc lại. Nhờ họ xới đất để lấy củ mà đất tơi ra, thông khí, tạo điều kiện cho mầm mọc lại. Họ chỉ cần làm thêm mỗi việc mang cuống cùng với phần thân củ còn lại về nhà và cắt theo cách tương tự trong đất ở vườn nhà mình là hoàn toàn trùng khớp với định nghĩa về nhà nông.
Từ những nét sơ khai của sản xuất lương thực mà những người săn bắt hái lượm đã tiến hành, sản xuất lương thực đã phát triển dần từng bước. Không phải tất cả các kỹ thuật cần thiết đều được phát triển trong một thời gian ngắn, cũng không phải mọi cây dại và thú hoang mà cuối cùng được thuần hóa ở một vùng nào đó đều đã được thuần hóa cùng một lúc. Ngay cả trường hợp sản xuất lương thực đã phát triển độc lập từ lối sống săn bắt hái lượm một cách nhanh chóng nhất thì cũng phải mất hàng ngàn năm người ta mới từ chỗ hoàn toàn lệ thuộc vào lương thực hoang dã chuyển sang chế độ ăn uống có rất ít lương thực hoang dã. Ở các giai đoạn sớm của sản xuất lương thực, người ta cùng một lúc vừa thu thập lương thực hoang vừa canh tác cây trồng, và tùy từng thời điểm, những loại hình hái lượm khác nhau ngày càng mất phần quan trọng khi người ta ngày càng lệ thuộc vào cây trồng.
Lý do sâu xa vì sao sự chuyển tiếp này lại diễn ra từng bước nhỏ giọt là bởi các hệ thống sản xuất lương thực đã tiến hóa như hệ quả của sự tích lũy dần nhiều quyết định khác nhau về việc phân bổ thời gian và công sức. Con người, cũng như con vật, khi tìm kiếm thức ăn, chỉ có một lượng thời gian và sức lực có hạn mà họ có thể sử dụng theo nhiều cách. Ta có thể hình dung một nhà nông vào thuở phôi thai buổi sáng thức dậy tự hỏi: Hôm nay mình sẽ làm gì đây: cuốc vườn (có thể đoán trước là sẽ cho nhiều rau củ nhưng phải đợi vài tháng nữa), bắt sò (có thể cho một bữa ăn kha khá trong hôm nay) hay đi săn hươu (có thể cho nhiều thịt ngày hôm nay nhưng cũng có thể chẳng được gì, mà khả năng không có gì lại nhiều hơn)? Khi tìm kiếm thức ăn, cả người lẫn thú – dù chỉ một cách vô thức – đều thường xuyên sắp xếp những việc có thể làm theo thứ tự ưu tiên làm việc gì ít mất sức hơn và dựa vào đó mà quyết định sẽ làm gì. Trước hết họ tập trung vào những loại thức ăn mình thích nhất hoặc những loại thức ăn mà việc tìm kiếm ít mất sức hơn nhưng hiệu quả cao hơn. Chỉ khi nào không có những thứ đó, họ mới chuyển sang những thức ăn khác mà mình ít thích hơn.
Khi ra những quyết định đó, người ta phải cân nhắc nhiều thứ. Người ta tìm thức ăn để thỏa mãn cơn đói và làm đầy bụng. Họ cũng cần những loại thức ăn cụ thể như thức ăn giàu protein, chất béo, muối, quả ngọt và những thức ăn đơn giản là ngon. Nếu mọi thứ khác đều tương đương như nhau, người ta sẽ tìm cách gia tăng đến mức tối đa lượng calori, protein hay những loại thức ăn cụ thể bằng cách tìm kiếm sao cho có được số lượng lớn nhất, một cách chắc ăn nhất mà lại ít tốn thời gian và công sức nhất. Cũng vậy, họ tìm cách nào bảo đảm cho khả năng bị đói là nhỏ nhất: lượng thức ăn vừa phải nhưng ổn định thì vẫn hơn là một lối sống bấp bênh, có thể kiếm được thức ăn nhiều và nhanh nhưng cũng có nhiều khả năng chết đói. Người ta có giả định rằng chức năng của những khu vườn đầu tiên cách đây 11.000 năm là cung cấp nguồn thức ăn dự trữ đáng tin cậy phòng khi không tìm được nguồn lương thực hoang dã.
Ngược lại, các thợ săn nam giới có xu hướng quyết định mình sẽ làm gì xuất phát từ những suy tính về vấn đề uy tín: chẳng hạn, họ thích ngày nào cũng đi săn hươu cao cổ, mỗi tháng hạ được một con hươu cao cổ đem về và do đó được kể vào hàng thợ săn cự phách, chứ không ưng mỗi tháng mang về nhà lượng lương thực gấp đôi trọng lượng một con hươu cao cổ bằng cách hạ mình ngày ngày đi thu hạt. Người ta cũng được dẫn dắt bởi những sở thích văn hóa dường như có tính võ đoán, chẳng hạn có dân tộc xem cá là món cao lương mỹ vị trong khi dân tộc khác coi cá là đồ cấm kỵ. Cuối cùng, việc ưu tiên chọn cách nào còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi những giá trị tương đối mà người ta gán cho những lối sống khác nhau – như ta vẫn thấy ngày nay. Chẳng hạn, ở miền Tây Hoa Kỳ vào thế kỷ XIX, những người chăn bò, chăn cừu và nông dân thảy đều khinh miệt lẫn nhau. Tương tự, trong suốt lịch sử loài người, người làm nông có xu hướng khinh miệt người săn bắt hái lượm, coi họ là man di, trong khi người săn bắt hái lượm khinh miệt người làm nông, coi họ là dốt nát, còn người chăn nuôi thì khinh miệt cả hai. Cả ba nhân tố này đều góp phần ảnh hưởng đến quyết định của con người trong việc làm cách nào để có cái ăn.
Như ta đã nhận thấy, những nhà nông đầu tiên trên mỗi lục địa đã không lựa chọn làm nông nghiệp một cách hữu thức, bởi không hề có nhà nông nào khác ở ngay bên cạnh cho họ quan sát cả. Tuy nhiên, một khi sản xuất lương thực đã phát sinh ở một phần của lục địa, những người săn bắt hái lượm lân cận có thể nhìn thấy kết quả để rồi quyết định mình có chuyển sang sản xuất lương thực hay không một cách hữu thức. Trong một số trường hợp, những người săn bắt hái lượm tiếp thu hệ thống sản xuất lương thực từ dân tộc láng giềng một cách “trọn gói”, trong vài trường hợp khác họ chỉ tiếp thu vài yếu tố của nó, trong vài trường hợp khác nữa họ hoàn toàn khước từ sản xuất lương thực mà vẫn theo lối sống săn bắt hái lượm.
Chẳng hạn, những người săn bắt hái lượm ở một số vùng Đông Nam Âu đã nhanh chóng tiếp thu các cây ngũ cốc, cây cho đậu và gia súc của Tây Nam Á một cách “trọn gói” vào khoảng 6.000 năm TCN. Cả ba nhân tố này cũng nhanh chóng bành trướng qua Trung Âu vào các thế kỷ trước 5.000 năm TCN. Việc tiếp thu sản xuất lương thực đã có thể diễn ra nhanh chóng và trọn gói ở Đông Nam Âu và Trung Âu là bởi lối sống săn bắt hái lượm ở đó không cho năng suất cao bằng nên không có tính cạnh tranh bằng. Ngược lại, sản xuất lương thực chỉ được tiếp thu từng phần một ở Tây Nam Âu (miền Nam Pháp, Tây Ban Nha và Ý), ở đó cừu được du nhập đầu tiên, sau đó đến ngũ cốc. Việc tiếp thu sản xuất lương thực một cách triệt để từ nội địa châu Á cũng diễn ra rất chậm chạp và từng phần ở Nhật Bản, có lẽ vì lối sống săn bắt hái lượm ở đó dựa trên hải sản và các cây trồng địa phương vốn cho năng suất rất cao.
Cũng như lối sống săn bắt hái lượm có thể được đổi từng phần để lấy lối sống sản xuất lương thực, một hệ thống sản xuất lương thực cũng có thể được đổi từng phần để lấy lối sống săn bắt hái lượm. Chẳng hạn, vào khoảng 2.500 năm TCN người Anh-điêng ở miền đông Hoa Kỳ đã thuần hóa các loài cây bản địa nhưng đã có trao đổi với những người Anh-điêng Mexico vốn đã phát triển một hệ thống cây trồng có năng suất cao hơn dựa trên bộ ba gồm ngô, bí và đậu. Người Anh-điêng miền đông Hoa Kỳ đã tiếp thu các cây trồng Mexico, nhiều người trong số họ từ bỏ nhiều loại cây bản địa mà mình đã thuần hóa, một cách từng phần; bí được thuần hóa độc lập, ngô được du nhập từ Mexico vào khoảng năm 200 nhưng vẫn là một cây trồng thứ yếu mãi đến khoảng năm 900, còn đậu được du nhập sau đó chừng một, hai thế kỷ. Thậm chí có trường hợp người ta từ bỏ các hệ thống sản xuất lương thực để chọn lối sống săn bắt hái lượm. Chẳng hạn, vào khoảng 3.000 năm TCN, những người săn bắt hái lượm ở miền Nam Thụy Điển đã tiếp thu nghề nông dựa trên các cây trồng Tây Nam Á, nhưng đến khoảng 2.700 năm TCN lại từ bỏ để quay về lối sống săn bắt hái lượm trong vòng 400 năm trước khi lại chuyển sang nghề nông một lần nữa.
Những gì vừa xét trên đây cho thấy rõ, ta không nên giả định rằng quyết định tiếp thu nghề nông là một quyết định xuất phát từ chỗ chẳng có gì, làm như trước đó người ta chẳng có cách nào để tự nuôi mình cả. Thay vào đó, ta phải xem sản xuất lương thực và săn bắt hái lượm là những sách lược thay thế tranh đua với nhau. Những nền kinh tế hỗn hợp mà trong đó người ta bổ sung một số cây trồng hay vật nuôi vào lối sống săn bắt hái lượm cũng cạnh tranh với cả hai loại hình kinh tế “thuần túy” đó, cũng như với các nền kinh tế hỗn hợp có tỷ trọng sản xuất lương thực cao hơn hoặc thấp hơn. Tuy nhiên, trong 10.000 năm qua, chiếm ưu thế vẫn là xu hướng chuyển từ săn bắt hái lượm sang sản xuất lương thực. Từ đó ta phải đặt câu hỏi: Đâu là những nhân tố khiến cho ưu thế cạnh tranh lệch khỏi săn bắt hái lượm mà nghiêng về sản xuất lương thực?
Câu hỏi đó vẫn đang tiếp tục được các nhà khảo cổ và nhân loại học tranh luận. Một lý do khiến cho nó vẫn chưa có lời giải đáp, ấy là cũng có thể ở mỗi vùng trên thế giới lại có những nhân tố khác nhau đóng vai trò quyết định. Một lý do nữa là cái khó khi phải gỡ rối để xem đâu là nhân đâu là quả trong việc phát sinh nền sản xuất lương thực. Tuy nhiên, ta vẫn có thể xác định năm nhân tố chính góp phần vào việc này; mọi tranh cãi đều chủ yếu xoay quanh tầm quan trọng tương đối của năm nhân tố đó.
Một nhân tố là sự suy giảm nguồn lương thực hoang dã. Lối sống săn bắt hái lượm ngày càng trở nên kém hiệu quả hơn trong 13.000 năm qua bởi những nguồn lương thực mà người săn bắt hái lượm dựa vào (đặc biệt là thú vật) ngày càng ít hơn, thậm chí còn biến mất. Như ta đã thấy trong Chương 1, hầu hết các loài hữu nhũ lớn đã tuyệt chủng ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ vào cuối Kỷ Pleitoxen, một số loài cũng tuyệt chủng ở Âu-Á và châu Phi, hoặc vì khí hậu thay đổi hoặc vì số người săn thú đông dần lên và kỹ năng săn thú của họ được nâng cao dần. Phải chăng việc thú vật tuyệt chủng đã thúc đẩy người châu Mỹ bản địa, người Âu-Á và người châu Phi – dù sau khi lần lữa rất lâu – rốt cuộc cũng chuyển sang sản xuất lương thực, điều đó có thể còn cần tranh cãi, song có những trường hợp hoàn toàn không thể tranh cãi gì thêm đã xảy ra trên các hòn đảo vào những thời gian gần đây. Chỉ sau khi những người di cư Polynesia đầu tiên đã tiêu diệt hết loài moa và giết gần hết hải cẩu ở New Zealand, lại cũng tiêu diệt hay giết gần hết các loài chim biển và chim đất liền trên các hòn đảo Polynesia khác, họ mới bắt đầu đẩy mạnh sản xuất lương thực. Chẳng hạn, mặc dù những người Polynesia đã di cư sang Đảo Phục Sinh vào khoảng năm 500 có mang theo gà, nhưng mãi đến khi các loài chim hoang dã và cá heo không còn sẵn để làm thức ăn nữa thì gà mới trở thành thực phẩm chính. Cũng vậy, người ta cũng cho rằng một nhân tố góp phần vào việc phát sinh sản xuất lương thực ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu là do sự suy giảm số lượng linh dương hoang dã từng là nguồn cung cấp thịt chính cho những người săn bắt hái lượm ở vùng đó.
Một nhân tố thứ hai là, cũng như việc suy giảm thú săn đã khiến cho nghề săn bắt hái lượm trở nên kém hiệu quả, việc gia tăng số loài cây dại có thể thuần hóa đã đặt những bước dẫn đến việc thuần hóa cây trồng ngày càng hiệu quả hơn. Chẳng hạn, sự thay đổi khí hậu vào cuối Kỷ Pleitoxen ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã mở rộng địa giới các môi trường với những loài ngũ cốc hoang mà từ đó người ta có thể gặt hái những mùa bội thu trong một thời gian ngắn. Những vụ thu hoạch ngũ cốc hoang đó là tiền thân cho việc thuần hóa những loài cây trồng sớm nhất, những cây ngũ cốc lúa mì và lúa mạch ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu.
Lại còn một nhân tố khác làm cán cân nghiêng từ săn bắt hái lượm sang sản xuất lương thực, ấy là người ta ngày càng tích lũy được những cải tiến kỹ thuật trong việc thu hoạch, xử lý và lưu trữ lương thực hoang – những kỹ thuật mà rốt cuộc thì sản xuất lương thực cũng phải cần tới. Dẫu có thu hoạch được một tấn hạt lúa mì đi nữa, các nông dân tương lai nào được lợi gì nếu trước hết họ chưa biết cách gặt, đập và lưu trữ chúng? Các phương pháp, dụng cụ và tiện ích cần thiết xuất hiện nhanh chóng ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu sau năm 11.000 TCN đã được phát minh nhằm đáp ứng yêu cầu xử lý và lưu trữ lượng ngũ cốc hoang dã vốn trở nên dồi dào vào thời gian đó.
Các phát minh này bao gồm: liềm có lưỡi bằng đá lửa gắn vào cán bằng gỗ hoặc xương để thu hoạch hạt hoang; giỏ để đựng hạt trẩy từ sườn đồi mang về nhà; chày và cối hoặc thớt để giã hạt bỏ vỏ; kỹ thuật rang hạt sao cho có thể lưu trữ lâu mà hạt không nảy mầm; và các hố lưu trữ ngầm dưới đất, một số được trát vữa để không thấm nước. Bằng chứng về tất cả các kỹ thuật này có rất nhiều tại các di chỉ săn bắt hái lượm ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu vào sau năm 11.000 TCN. Tất cả các kỹ thuật này, dù đã được phát triển nhằm mục đích khai thác ngũ cốc hoang, là điều kiện tiên quyết cho việc trồng ngũ cốc làm cây trồng. Các phát triển lũy tiến này là những bước vô thức đầu tiên trên con đường thuần hóa cây trồng.
Nhân tố thứ tư là mối liên hệ hai chiều giữa sự gia tăng mật độ dân số loài người với việc phát sinh sản xuất lương thực. Ở mọi vùng của thế giới nơi có đủ bằng chứng, các nhà khảo cổ đều tìm thấy bằng chứng cho thấy mật độ dân cư tăng đi liền với sự xuất hiện sản xuất lương thực. Đâu là nhân đâu là quả? Đây là một câu hỏi từng gây tranh cãi lâu nay kiểu như câu hỏi “trứng có trước hay gà có trước”: có phải sự gia tăng mật độ dân số loài người buộc người ta phải chuyển sang sản xuất lương thực, hay nhờ có sản xuất lương thực mà người ta mới có thể gia tăng mật độ dân số?
Về nguyên tắc, người ta có thể cho rằng chuỗi nhân quả vận hành theo cả hai chiều. Như tôi đã bàn trước đây, sản xuất lương thực có xu hướng dẫn tới mật độ dân số tăng bởi nó mang lại lượng calori ăn được trên mỗi hécta đất cao hơn so với săn bắt hái lượm. Mặt khác, mật độ dân số loài người dù gì cũng đã tăng dần dần trong suốt cuối Kỷ Pleitoxen nhờ những cải tiến trong kỹ thuật thu hoạch và xử lý lương thực hoang dã. Do mật độ dân số tăng, sản xuất lương thực ngày càng được chuộng hơn bởi nó mang lại lượng lương thực nhiều hơn đủ để nuôi toàn bộ dân số đó.
Nghĩa là, việc chuyển sang sản xuất lương thực tiêu biểu cho cái là quá trình tự xúc tác (autocatalytic process), nghĩa là một quá trình tự nó làm xúc tác cho chính nó trong một chu trình hoàn lưu tích cực, càng lúc càng nhanh hơn một khi nó đã khởi động. Mật độ dân số tăng dần buộc người ta phải [tìm cách làm sao] kiếm được nhiều lương thực hơn, đền bù cho những ai đã tiến hành những bước vô tình dẫn đến sản xuất lương thực. Khi đã bắt đầu sản xuất lương thực và chuyển sang định cư, người ta có thể rút ngắn khoảng cách giữa hai lần sinh và sinh sản càng nhiều người hơn, thế là lại cần càng nhiều lương thực hơn nữa. Mối liên hệ hai chiều này giữa sản xuất lương thực và mật độ dân số giải thích điều nghịch lý rằng sản xuất lương thực, tuy làm tăng lượng calori ăn được trên mỗi hécta, lại khiến những người sản xuất lương thực bị thiếu ăn hơn so với những người săn bắt hái lượm vốn đã thua họ [trong cuộc cạnh tranh này]. Nghịch lý đó nảy sinh là bởi mật độ dân số loài người tăng nhanh hơn một chút so với số lương thực mà loài người làm ra được.
Bốn nhân tố đó hợp lại giúp ta hiểu được vì sao cuộc chuyển tiếp sang sản xuất lương thực ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã khởi đầu vào khoảng 8.500 năm TCN chứ không phải vào khoảng 18.500 hay 28.500 năm TCN. Vào hai thời điểm sớm hơn này, lối sống săn bắt hái lượm vẫn còn hiệu quả hơn nhiều so với sản xuất lương thực sơ khai bởi các loài hữu nhũ hoang dã vẫn còn dồi dào, ngũ cốc hoang dại hãy còn chưa dồi dào, người ta chưa có được những phát minh cần thiết để thu hoạch, xử lý và lưu trữ ngũ cốc một cách hữu hiệu; và mật độ dân số loài người chưa đủ cao nên cũng chưa cần thiết phải khai thác được nhiều calori hơn trên mỗi hécta.
Nhân tố cuối cùng trong việc chuyển tiếp này có ý nghĩa quyết định tại những vùng giáp ranh về địa lý giữa những người săn bắt hái lượm và những người sản xuất lương thực. Nhờ mật độ dân số cao hơn nhiều nên dù chỉ bằng số lượng áp đảo mà thôi những người sản xuất lương thực cũng có thể xua đuổi hoặc giết chết những người săn bắt hái lượm, ấy là chưa kể đến những lợi thế khác nhờ sản xuất lương thực mà có được (như kỹ thuật, vi trùng và binh lính chuyên nghiệp). Ở những khu vực nơi chỉ có các nhóm săn bắt hái lượm mà thôi, nhóm nào đã chuyển sang sản xuất lương thực sẽ sống sót còn nhóm nào chưa chuyển thì không.
Hệ quả là, ở hầu hết những vùng nào thích hợp cho sản xuất lương thực trên thế giới, những người săn bắt hái lượm gặp một trong hai số phận: hoặc họ bị thay thế bởi những người sản xuất lương thực láng giềng, hoặc sống sót được chỉ nhờ bản thân họ đã tiếp thu sản xuất lương thực. Ở đâu những người săn bắt hái lượm vốn đã đông đúc hoặc điều kiện địa lý ngăn không cho những người sản xuất lương thực di cư đến, những người săn bắt hái lượm bản địa có đủ thì giờ để tiếp thu nghề nông vào thời tiền sử, trở thành nhà nông và nhờ đó mà sống sót. Điều này có thể đã xảy ra ở miền Tây Nam Hoa Kỳ, phía tây Địa Trung Hải, trên bờ Đại Tây Dương của châu Âu và một số vùng của Nhật Bản. Tuy nhiên, ở Indonesia, Đông Nam Á nhiệt đới, hầu hết châu Phi hạ xích đạo và có thể ở một số phần của châu Âu, những người săn bắt hái lượm đã bị thay thế bởi những người làm nông vào thời tiền sử, trong khi một sự thay thế tương tự đã xảy ra vào thời hiện đại ở Australia và hầu hết miền tây Hoa Kỳ.
Chỉ ở nơi nào có những rào cản đặc biệt mạnh mẽ về địa lý hay sinh thái khiến cho việc nhập cư của những người sản xuất lương thực hay việc truyền bá các kỹ thuật sản xuất lương thực có thể áp dụng cho địa phương trở nên rất khó khăn, những người săn bắt hái lượm bản địa mới có thể sống sót đến tận thời hiện đại ở những khu vốn thích hợp cho sản xuất lương thực. Ba ví dụ nổi bật cho việc này là những người săn bắt hái lượm người châu Mỹ bản địa vẫn tồn tại dai dẳng ở California, bị ngăn cách với những nhà nông châu Mỹ bản địa bởi sa mạc; những người săn bắt hái lượm Khoisan ở miền Cape của Nam Phi, ở một vùng có khí hậu Địa Trung Hải vốn không thích hợp với những cây trồng xích đạo của các nhà nông Bantu láng giềng; và những người săn bắt hái lượm sống ở khắp lục địa Australia, bị ngăn cách khỏi những người sản xuất lương thực Indonesia và New Guinea bởi những biển nông. Số ít các dân tộc vẫn theo lối sống săn bắt hái lượm mãi đến thế kỷ XX đã thoát khỏi số phận bị những người sản xuất lương thực giành chỗ chỉ là nhờ họ sống ở những khu vực vốn dĩ không thích hợp cho sản xuất lương thực, đặc biệt là sa mạc và vùng Bắc cực. Trong vòng một thập niên nữa, ngay cả các dân tộc này rồi cũng sẽ bị quyến rũ bởi sự hấp dẫn của văn minh, sẽ buộc phải định cư dưới sức ép của chính quyền hoặc các nhà truyền giáo, hoặc sẽ làm mồi cho vi trùng.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thực
Chương 7 - Làm ra một quả hạnh bằng cách nào?
Nếu bạn đang đi bộ đường dài mà đã quá chán với những lương thực trồng ở trang trại, hãy thử ăn lương thực dại xem, thú vị đấy. Bạn vẫn biết một số loài cây dại như dâu hay việt quất dại ăn vừa ngon lại vừa vô hại. Các loại quả mọng này giống những loại cây trồng quen thuộc đến nỗi bạn có thể dễ dàng nhận ra mặc dù chúng nhỏ hơn nhiều so với quả trồng. Những người đi bộ đường dài có máu phiêu lưu cũng ăn cả nấm tuy rằng phải thận trọng bởi [ai cũng] biết rằng có nhiều loại nấm ăn vào là chết. Thế nhưng ngay những người mê quả hạch nhất cũng không dám ăn những quả hạnh dại bởi chỉ vài tá quả này cũng đã chứa lượng cyanide (loại chất độc mà phát xít Đức đã dùng trong phòng hơi ngạt) đủ để giết người. Rừng đầy rẫy những loại cây khác không ăn được như vậy.
Thế nhưng mọi thứ cây trồng đều xuất phát từ các loài cây dại. Làm thế nào một số loài cây dại đã trở thành cây trồng? Câu hỏi này đặc biệt rắc rối đối với nhiều loại cây trồng (như quả hạnh) mà những loài cây dại tổ tiên của chúng vốn rất độc hoặc chẳng ngon gì, cũng như với những loại cây trồng khác (như ngô) trông chẳng giống chút nào với loài cây dại tổ tiên. Những người sống trong hang động nào đã nảy ra ý tưởng “thuần hóa” một loài cây, và điều đó đã được thực hiện ra sao?
Thuần hóa cây trồng có thể định nghĩa là trồng một loại cây và do đó, một cách hữu thức hoặc vô tình, làm cho nó biến đổi về mặt di truyền so với loài cây tổ tiên theo những cách làm cho nó trở nên hữu ích hơn cho kẻ tiêu thụ nó – con người. Việc phát triển các loại cây trồng ngày nay là một công việc có ý thức, được chuyên môn hóa cao độ, do những nhà khoa học chuyên môn đảm nhiệm. Họ đã biết hàng trăm loài cây trồng hiện có và bắt tay phát triển thêm những loài mới. Nhằm đạt mục đích đó, họ trồng nhiều hạt hay rễ khác nhau, chọn phôi tốt nhất rồi trồng hạt của cây đó, áp dụng kiến thức di truyền học để phát triển những giống tốt có thể sinh sản đúng, thậm chí còn có thể dùng các kỹ thuật di truyền mới nhất để chuyển một số gen có ích cụ thể. Tại trại Davis thuộc Đại học California có cả một khoa (Khoa Cây quả, Department of Pomology) chuyên nghiên cứu các loài táo, lại có một khoa khác (Khoa Trồng nho và Làm rượu nho, Department of Viticulture and Enology) chuyên nghiên cứu về nho và rượu nho.
Nhưng thuần hóa cây trồng đã có lịch sử trên 10.000 năm. Những nông gia đầu tiên chắc chắn đã không dùng các kỹ thuật di truyền phân tử để làm ra kết quả. Họ thậm chí còn chưa có một loại cây trồng nào có sẵn làm mẫu, gây cảm hứng cho họ phát triển những loại cây trồng khác. Vì vậy họ không thể biết rằng mình có đang làm gì đi nữa thì trái quả thu được cũng là quả ngọt.
Thế thì các nhà nông đầu tiên đó đã thuần hóa cây trồng một cách không chủ ý như thế nào? Chẳng hạn, làm cách nào họ đã chuyển những cây hạnh độc thành cây hạnh lành mà chẳng hề biết mình đang làm gì? Họ đã thực sự gây ra những biến đổi nào ở các loài cây dại ngoài việc làm cho một số loài to ra hoặc bớt độc đi? Ngay cả với những loài cây trồng có giá trị, thời điểm thuần hóa cũng thay đổi rất nhiều: chẳng hạn, đậu được thuần hóa vào trước năm 8.000 TCN, ôliu khoảng 4.000 năm TCN, dâu mãi đến thời Trung cổ mới được thuần hóa, cây hồ đào pecan thì mãi tới năm 1846. Nhiều loài cây dại cho những thức ăn mà hàng triệu người coi là của quý, chẳng hạn như cây sồi vốn có quả ăn được mà ở nhiều vùng trên thế giới người ta luôn lùng kiếm, thế nhưng mãi đến ngày nay cây sồi vẫn chưa được thuần hóa. Điều gì khiến một vài loài cây rất dễ thuần hóa hoặc hấp dẫn hơn, khiến người ta muốn thuần hóa hơn so với các loài khác? Tại sao cây ôliu chịu khuất phục những nông dân Thời đại Đồ đá trong khi cây sồi mãi đến ngày nay vẫn đánh bại những nhà nông học thông minh sáng láng nhất của chúng ta?
Ta hãy bắt đầu bằng cách xét việc thuần hóa từ quan điểm của cây. Đối với cây cối thì chúng ta chỉ là một trong hàng ngàn loài thú vật luôn muốn “thuần hóa” cây một cách vô ý thức.
Cũng như mọi loài vật (kể cả con người), cây cối phải phát tán hậu duệ của mình đến những khu vực nơi chúng có thể sinh sôi nảy nở và lưu truyền mãi gen của cha mẹ chúng. Các con vật còn nhỏ phát tán bằng cách đi bộ hoặc bay, nhưng cây cối thì không thể đi hay bay được, thế nên chúng phải đi nhờ bằng cách nào đó. Trong khi một số loài cây có những hạt thích nghi với việc được gió đưa đi hoặc trôi trên mặt nước, nhiều loài cây khác “lừa” một con vật để nó mang hạt giống của cây đi, bằng cách bọc quanh hạt một lớp nạc quả ngon lành và quảng cáo rằng quả đang chín tới bằng màu sắc hay mùi thơm. Con vật đang đói bèn ngoạm lấy và nuốt quả, xong thì bước hoặc bay đi chỗ khác, sau đó nhổ hay đại tiện các hạt ra một nơi cách xa cây bố mẹ. Bằng cách đó hạt có thể được mang đi xa tới hàng ngàn cây số.
Người ta có thể ngạc nhiên khi được biết hạt các loài cây có thể kháng cự lại việc tiêu hóa của ruột và vẫn có thể nảy mầm sau khi ra khỏi phân chúng ta. Nhưng bất cứ độc giả nào thích mạo hiểm và không đến nỗi quá yếu bụng đều có thể tự mình kiểm chứng. Hạt của nhiều loài cây dại quả thật là cần phải đi qua ruột một con thú thì mới có thể nảy mầm. Chẳng hạn, một loài dưa hấu châu Phi thích nghi với việc bị ăn bởi một con vật giống như loài linh cẩu gọi là aardvark đến nỗi hầu hết quả của loài đó mọc trên những nơi phóng uế của loài aardvark.
Để thấy các loài cây “dụ” thú như thế nào đặng dùng chúng làm phương tiện “đi nhờ”, hãy lấy cây dâu dại làm ví dụ. Khi hạt dâu vẫn còn non và chưa sẵn sàng để mọc, phần xung quanh quả còn xanh, chua và cứng. Khi hạt đã chín, quả chuyển sang màu đỏ, ngọt và mềm. Sự thay đổi màu sắc của quả là một dấu hiệu để thu hút các loài chim như chim hét đến để mổ quả rồi bay đi, cuối cùng thì nhè hoặc đại tiện hạt ra.
Lẽ tự nhiên, cây dâu vốn dĩ không có ý định hữu thức rằng mình cần phải thu hút chim chóc khi và chỉ khi hạt đủ chín để phát tán. Lũ chim hét cũng không hề có ý định tiến hành thuần hóa cây dâu. Thay vì vậy, cây dâu đã tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên. Quả dâu non càng xanh càng chua thì càng ít chim đến phá hủy hạt bằng cách ăn quả trước khi hạt kịp chín; quả chín càng ngọt càng đỏ mọng thì càng nhiều chim đến phát tán những hạt chín đó đi xa.
Vô số loài cây khác có quả thích nghi với việc bị một số loài vật nhất định ăn rồi phát tán ra. Cũng như dâu đã quen với chim, quả sồi thì quen với sóc, quả xoài quen với dơi, một số loài cây lách thì quen với kiến. Đó đã là một phần định nghĩa của chúng ta về thuần hóa cây trồng: ấy là sự điều chỉnh di truyền đối với một loài cây tổ tiên sao cho nó hữu ích hơn với kẻ tiêu thụ nó. Nhưng chẳng ai lại đi nghiêm túc mô tả cái quá trình tiến hóa này là sự thuần hóa, bởi vì chim, dơi và các loài thú tiêu thụ khác không thực hiện cái phần còn lại của định nghĩa về thuần hóa cây trồng: chúng không trồng cây một cách hữu thức. Cũng y như vậy, trong những giai đoạn đầu khi cây dại tiến hóa thành cây trồng một cách vô thức, một số loài cây đã phát triển theo hướng thu hút con người đến ăn chúng rồi phát tán quả của chúng ra trong khi con người chưa trồng chúng một cách hữu thức. Những nơi phóng uế của con người, cũng như của loài aardvark, có thể đã là cái nôi cho những người nhân giống cây trồng đầu tiên một cách không chủ ý.
Bãi phóng uế chỉ là một trong nhiều nơi chúng ta tình cờ trồng hạt của những loài cây dại mà chúng ta ăn. Khi ta thu lượm những loài cây dại ăn được rồi mang về nhà, một số rơi vãi dọc đường và ngay trong nhà ta. Một số quả chín nẫu bị hỏng, thế là người ta không ăn mà vứt ngay vào sọt rác, song chúng vẫn đang chứa những hạt hoàn toàn tốt. Là một phần những quả mà chúng ta thực sự cho vào miệng, hạt dâu vốn nhỏ nên không tránh khỏi bị nhai rồi bị đại tiện ra, nhưng các hạt khác thì to nên ta phải nhổ ra. Vậy là, những bãi nhổ và đống rác của ta cũng góp cùng những bãi phóng uế để hình thành những phòng nghiên cứu nông nghiệp đầu tiên.
Dù hạt rơi vào “phòng” nào trong những “phòng thí nghiệm” này đi nữa, chúng có xu hướng chỉ là hạt của một số cá thể cây ăn được nhất định, cụ thể là những loài mà chúng ta thích ăn vì lý do này hoặc lý do khác. Bạn cũng biết rằng mỗi khi đi hái quả, bạn luôn chọn một số cây cụ thể hoặc một số bụi cây cụ thể. Cuối cùng, khi những nhà nông đầu tiên bắt đầu gieo hạt một cách có chủ ý, chắc chắn họ sẽ gieo hạt từ những cây mà họ đã chọn để thu nhặt, mặc dù họ không hiểu cái nguyên lý di truyền rằng quả to thì hạt có xu hướng cũng mọc thành những bụi cho quả to hơn.
Vậy nên, khi ta hì hụi chui vào một bụi cây có lắm gai giữa bầy muỗi vo ve vào một hôm oi nồng ẩm ướt thì đâu phải cứ bụi cây dâu nào ta cũng làm như vậy. Dù một cách vô tình đi nữa, ta vẫn quyết định bụi nào trông hấp dẫn hơn, liệu có đáng cho ta mất công mất sức không. Những tiêu chí lựa chọn của ta – trong vô thức – là gì?
Một tiêu chí dĩ nhiên là kích cỡ. Ta thích những quả to, bởi quả mà bé tí tẹo thì chả mất công giang nắng và phơi mình cho muỗi đốt làm gì. Điều đó lý giải một phần vì sao nhiều loại cây trồng có quả lớn hơn nhiều so với loài cây dại tổ tiên. Ta vẫn rất quen thấy dâu bán trong siêu thị thật sự là khổng lồ so với dâu dại; những khác biệt đó chỉ nảy sinh trong mấy thế kỷ gần đây thôi.
Những khác biệt đó về kích cỡ ở các loài cây khác bắt đầu từ ngay thuở đầu tiên của nông nghiệp, khi những loài đậu đã tiến hóa thông qua chọn lọc của con người trở nên nặng gấp 10 lần đậu dại. Các loài đậu dại nhỏ bé đã được những người săn bắt hái lượm thu nhặt từ hàng ngàn năm, cũng như ngày nay ta đi hái từng quả dâu dại con con, trước khi việc thu hoạch và trồng những loài đậu dại lớn nhất, hấp dẫn nhất – nghĩa là, cái ta gọi là nghề nông – bắt đầu tự động góp phần làm tăng kích cỡ trung bình của đậu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tương tự, táo bán trong siêu thị thường đo được 3 inch (khoảng 7,6 cm – ND) đường kính, trong khi táo dại thì chỉ 1 inch (2,54 cm – ND). Những lõi ngô xưa nhất ít khi dài quá nửa inch, nhưng các nông dân người Anh-điêng Mexico vào khoảng năm 1.500 đã phát triển được những loài ngô có lõi dài tới sáu inch (khoảng 15 cm – ND), một số loài ngô hiện đại còn dài tới 1 bộ rưỡi (khoảng 46 cm – ND).
Một khác biệt hiển nhiên khác giữa những hạt do ta trồng với các tổ tiên hoang dại của chúng là độ đắng. Nhiều hạt dại tiến hóa theo hướng đắng, vị khó nuốt hoặc thật sự là độc, để ngăn không cho loài vật ăn chúng. Vậy, chọn lọc tự nhiên đã hành xử đối với hạt theo hướng ngược lại với quả. Những cây có quả ngon thường được thú vật phát tán hạt, nhưng bản thân hạt nằm bên trong quả thì mùi vị khó nuốt. Nếu không thì con vật sẽ nhai luôn hạt, thế là hạt sẽ không thể nảy mầm.
Hạnh là một ví dụ đặc sắc về những hạt đắng và sự thay đổi của chúng khi được thuần hóa. Hầu hết hạt hạnh dại chứa một hóa chất cực đắng gọi là amygdalin mà (như đã nói ở trên) khi phân hủy thì cho ra chất độc cyanide. Một dúm hạt hạnh có thể giết chết kẻ nào đủ ngu ngốc để phớt lờ lời cảnh báo của cái vị đắng ngắt kia. Trong giai đoạn thuần hóa vô ý thức đầu tiên, người ta thu lượm hạt về ăn, nhưng hạt hạnh đắng thế kia thì làm cách nào đã diễn ra cái giai đoạn đầu tiên ấy của việc thuần hóa nó?
Cách giải thích là thế này: một số cá thể cây hạnh có biến dị ở một gen ngăn chận việc tổng hợp chất amygdalin sinh vị đắng. Những cây này chết trong thiên nhiên mà không để lại phôi nào bởi chim chóc hễ đã phát hiện những hạt không đắng đó là ăn sạch. Song những đứa trẻ đang đói bụng hoặc tò mò, con cái những nhà nông đầu tiên, trong khi gặm nhấm các loài cây dại xung quanh chúng rốt cuộc cũng nếm thử và lưu ý những cây hạnh không đắng đó. (Cũng y như vậy, những con chim trĩ châu Âu ngày nay vẫn còn nhận biết những cây sồi cá biệt mà quả của chúng ngọt chứ không đắng). Những hạt hạnh không đắng này là các hạt duy nhất mà những nông dân cổ đại đem trồng, đầu tiên là một cách vô tình trong các đống rác, về sau thì một cách hữu thức ở trong vườn.
Ngay từ trước năm 8.000 TCN quả hạnh dại đã xuất hiện ở các di chỉ khảo cổ đã khai quật ở Hy Lạp. Đến năm 3.000 TCN chúng đã được thuần hóa ở các vùng đất phía đông Địa Trung Hải. Khi vua Ai Cập Tutankhamen băng hà, vào khoảng năm 1.325 TCN, hạnh là một trong những lương thực được để lại trong phần mộ nổi tiếng của ông để nuôi ông ở thế giới bên kia. Đậu lima, dưa hấu, khoai tây, cà tím và bắp cải nằm trong số nhiều cây trồng quen thuộc khác mà tổ tiên của chúng vốn có vị đắng hoặc chất độc, nhưng có những cá thể ngọt đã ngẫu nhiên nảy mầm quanh các bãi phóng uế của người cổ đại.
Trong khi kích cỡ và mùi vị thơm ngon là những tiêu chí hiển nhiên nhất để những người săn bắt hái lượm cổ đại lựa chọn các loại cây dại, còn những tiêu chí khác như quả nhiều nạc hoặc không có hạt, hạt có dầu, và thớ nạc dài. Bí và bí ngô dại không hề có hoặc có rất ít nạc bao quanh hạt, nhưng các nhà nông cổ đại khi chọn bí và bí ngô thì lại thích nạc phải thật nhiều chứ không phải hạt. Chuối từ lâu đã được trồng theo hướng toàn nạc mà không có hạt, điều đó kích thích các nhà nông học ngày nay ra sức phát triển cả những loài cam, nho và dưa hấu không hạt. Không hạt là một ví dụ tốt cho thấy lựa chọn của con người có thể làm đảo ngược hoàn toàn chức năng tiến hóa ban đầu của một loài quả dại mà vốn trong thiên nhiên là phương tiện để phát tán hạt.
Vào thời cổ đại, nhiều loài cây dại cũng được chọn theo cách tương tự, vì quả hoặc hạt có dầu. Nằm trong số các loại cây trồng được thuần hóa sớm nhất ở thế giới Địa Trung Hải có cây ôliu, được trồng từ khoảng 4.000 năm TCN bởi nó cho dầu. Cây ôliu trồng không chỉ lớn hơn mà còn nhiều dầu hơn cây ôliu dại. Các nhà nông cổ đại cũng đã chọn cây vừng, mù tạc, anh túc và lanh cũng vì hạt có dầu của chúng, trong khi các nhà khoa học về cây trồng ngày nay cũng làm như vậy đối với cây hướng dương, cây rum (safflower) và cây bông.
Trước khi người ta phát triển cây bông để lấy dầu như ngày nay, dĩ nhiên là từ lâu cây bông đã được lựa chọn để lấy bông dệt vải. Sợi bông là lông mọc trên các hạt bông, và các nhà nông ở cả châu Mỹ lẫn Cựu Thế giới đều chọn các loài bông cho sợi dài. Ở cây lanh và cây gai dầu, hai loại cây khác được trồng để cho sợi làm các vật dụng thì sợi lại mọc từ thân, và người ta chọn những loài nào có thân dài, thẳng. Tuy ta vẫn cho rằng hầu hết cây trồng được chọn thuần hóa là để làm thức ăn, nhưng cây lanh là một những cây trồng có từ xưa nhất (được thuần hóa vào khoảng 7.000 năm TCN). Cây này cho vải linen vốn từng là loại vải chủ yếu ở châu Âu trước khi bị thay thế bằng bông và sợi tổng hợp sau cuộc Cách mạng Công nghiệp.
Đến nay, tất cả những thay đổi trong việc cây dại tiến hóa thành cây trồng mà tôi đã đề cập đến đều bao hàm những đặc tính mà các nhà nông đầu tiên có thể nhận ra, như kích cỡ, độ đắng, độ nạc, độ dầu, độ dài thớ sợi. Bằng cách thu hoạch những cá thể cây dại mang các đặc tính mong muốn đó ở mức cao, các dân tộc cổ đại đã vô tình làm phát tán cây và đưa chúng vào con đường thuần hóa.
Tuy vậy, ngoài ra còn có ít nhất bốn loại thay đổi chính nữa không dựa trên những đặc tính nhìn thấy được như khi người hái dâu chọn quả. Trong các trường hợp đó, người hái dâu gây nên sự thay đổi bằng cách thu hoạch những cây có sẵn trong khi những cây khác thì không có sẵn bởi nguyên nhân vô hình nào đó, hoặc bằng cách thay đổi những điều kiện lựa chọn đối với cây.
Sự thay đổi đầu tiên tác động đến cơ chế phát tán hạt vốn có của cây dại. Nhiều loại cây có những cơ chế chuyên biệt để phát tán hạt (khiến con người khó thu hoạch được chúng một cách hữu hiệu). Chỉ những hạt biến dị thiếu những cơ chế đó mới được con người thu hoạch và do đó trở thành tiền thân của cây trồng.
Một ví dụ thấy rõ là đậu, mà hạt của chúng (những hạt đậu mà ta ăn) được bọc trong vỏ. Muốn nảy mầm thì trước hết hạt phải ra khỏi vỏ. Để được kết quả đó, cây đậu đã phát triển một gen làm cho vỏ nứt ra khiến đậu bắn lên mặt đất. Vỏ của một vài cây biến dị thì lại không nứt. Trong thiên nhiên, những vỏ đậu biến dị này sẽ chết, nằm trong nấm mồ vĩnh viễn là cái vỏ treo trên cây bố mẹ kia; chỉ những vỏ nào nứt thì hạt mới có thể lưu truyền gen được. Nhưng, ngược lại, chỉ những vỏ nào không nứt mà còn lại trên cây thì con người mới thu hoạch được. Như vậy, khi con người mang đậu về nhà ăn, ấy là đã có một sự lựa chọn trực tiếp cá thể cây mang gen biến dị đó. Những biến dị không nứt tương tự cũng được lựa chọn ở cây đậu lăng, cây lanh và cây anh túc.
Thay vì bị bọc kín trong một vỏ có thể nứt, hạt lúa mì và lúa mạch dại lại mọc trên ngọn thân cây, thân này sẽ tự vỡ làm hạt rơi xuống đất nơi nó có thể nẩy mầm. Có một biến dị do một gen gây ra ngăn không cho thân bị vỡ. Trong tự nhiên, biến dị này là tai hại chết người đối với cây bởi hạt sẽ vẫn treo trong không khí, không nảy mầm đâm rễ được. Song chính những hạt biến dị này lại là những hạt vẫn còn lại trên thân, thật tiện để con người đến thu hoạch mang về nhà. Khi con người trồng những hạt biến dị đó về sau, bất cứ hạt biến dị nào ở trong phôi lại sẽ còn đó trên thân để con người tiếp tục thu hoạch và trồng, trong khi các hạt khác trong phôi đều rơi xuống đất và không thu hoạch được. Như vậy, các nhà nông của loài người đã đảo ngược hướng chọn lọc tự nhiên đến 180 độ: gen mà trước kia vốn hữu ích nay trở thành có hại, còn gen vốn dĩ có hại lại trở nên hữu ích. Suốt 10.000 năm qua, việc con người chọn lọc một cách vô thức các thân lúa và lúa mạch không vỡ rõ ràng là sự “cải thiện” lớn đầu tiên của con người đối với cây. Thay đổi đó đã đánh dấu sự khởi đầu nền nông nghiệp ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu.
Loại thay đổi thứ hai thậm chí còn khó thấy hơn đối với người cổ đại. Đối với các loài cây sống một năm mọc ở một vùng có khí hậu khó tiên đoán trước, nếu tất cả hạt đều nảy mầm nhanh chóng và cùng một lúc thì thật là tai hại. Nếu chuyện đó xảy ra thật thì tất cả cây con có thể bị chết sạch vì một cơn hạn hán hay sương giá, chẳng còn sót lại hạt nào để lưu truyền nòi giống. Vì vậy nhiều loại cây sống một năm đã tiến hóa một biện pháp “bảo đảm chắc ăn”, ấy là dùng cơ chế ngăn chặn nảy mầm, khiến cho hạt tạm thời ngủ, phải mấy năm sau mới khởi sự phát tán mầm. Bằng cách đó, thậm chí dù hầu hết hạt bị chết vì một đợt thời tiết xấu thì một vài hạt vẫn sẽ còn sót lại để nảy mầm sau.
Một cách “bảo đảm chắc ăn” khác để cây có thể lưu truyền nòi giống, ấy là bọc hạt trong một lớp vỏ dày. Nhiều loài cây dại áp dụng cách thích nghi này, như lúa, lúa mạch, đậu, lanh và hướng dương. Trong khi các hạt nảy mầm muộn kia vẫn còn cơ hội để nảy mầm sau, ta hãy hình dung điều gì ắt phải xảy ra khi con người bắt đầu làm nông. Các nhà nông đầu tiên hẳn đã khám phá bằng phương pháp thử và sai rằng họ có thể đạt năng suất cao hơn nếu tiến hành cày cấy và tưới nước cho đất sau đó thì gieo hạt. Khi điều đó xảy ra, những hạt nào nảy mầm ngay thì sẽ mọc thành cây, hạt của chúng được thu hoạch và lại trồng vào năm sau. Nhưng nhiều loài cây dại mà hạt không nảy mầm ngay thì chẳng mang lại vụ mùa nào cả.
Những cá thể biến dị ngẫu nhiên trong các loài cây dại thì không có lớp vỏ dày bọc quanh hạt hoặc không có những biện pháp ngăn chận nảy mầm khác. Tất cả các biến dị đó đều nhanh chóng nảy mầm và cho vụ mùa gồm các hạt biến dị. Những nông dân đầu tiên hẳn đã không nhận ra sự khác biệt giống như họ đã nhận ra và chủ ý lựa chọn những quả dâu lớn. Nhưng cái chu trình gieo/mọc/thu hoạch/gieo sẽ chọn lọc trực tiếp các biến dị một cách vô thức. Cũng như những thay đổi trong cách phát tán hạt, những thay đổi trong cơ chế ngăn chận nảy mầm là đặc trưng cho lúa mì, lúa mạch, đậu và nhiều loại cây khác so với các loài cây dại tổ tiên.
Loại hình thay đổi chính còn lại mà các nhà nông cổ đại không nhận thấy, đó là sự tái sinh sản của cây. Một vấn đề chung khi người ta phát triển cây trồng, ấy là những cá thể cây biến dị ngẫu nhiên thì lại hữu ích cho con người hơn (chẳng hạn vì hạt to hơn hoặc ít đắng hơn) so với các cá thể bình thường. Nếu những biến dị được mong muốn này lại được phối với những cây bình thường thì biến dị sẽ bị nhạt đi hoặc mất hoàn toàn. Trong những điều kiện nào biến dị vẫn được bảo tồn cho các nhà nông cổ đại?
Đối với những cây tự sinh sản, biến dị sẽ tự động được bảo tồn. Đó là trường hợp những loại cây tái sinh sản theo lối sinh dưỡng (nghĩa là từ thân củ hoặc rễ của cây bố mẹ) hoặc những cây lưỡng tính có khả năng tự thụ tinh. Nhưng đại đa số các loài cây dại không tự sinh sản theo cách đó. Chúng hoặc là những cây lưỡng tính không có khả năng tự thụ phấn nên buộc phải giao phối với những cá thể lưỡng tính khác (bộ phận đực của cây này thụ tinh cho bộ phận cái của cây kia, bộ phận đực của cây kia thụ tinh cho bộ phận cái của cây này), hoặc chia làm cây đực riêng cây cái riêng như mọi loài hữu nhũ bình thường. Trường hợp trước được gọi là lưỡng tính tự tương thích, trường hợp sau là những loài khác gốc. Cả hai đều chẳng hay ho gì đối với các nhà nông cổ đại bởi họ sẽ bị mất ngay tất cả các biến dị đáng giữ mà chẳng biết vì sao.
Giải pháp ở đây bao hàm một loại thay đổi khác mắt người không thấy được. Nhiều biến dị ở cây có ảnh hưởng đến bản thân hệ sinh sản. Một số cá thể biến dị phát triển thành những quả mà thậm chí không cần thụ phấn, kết quả là ngày nay ta có chuối, nho, bưởi, cam và dứa không hạt. Một số loài cây lưỡng tính mất tính tự tương thích mà trở nên có khả năng tự thụ tinh – tiêu biểu cho quá trình này là nhiều loài cây ăn trái như mận, đào, táo, mơ và anh đào. Một số loài nho biến dị vốn thường sinh ra những cá thể đực và cái riêng biệt thì cũng trở thành cây lưỡng tính tự thụ tinh. Bằng tất cả những phương cách đó, các nông dân cổ đại, vốn chẳng biết gì về ngành sinh sản học cây cối, vẫn đã trồng được những cây có ích, sinh sản đúng và đáng được trồng lại, chứ không phải toàn những biến dị thoạt tiên đầy hứa hẹn nhưng lại cho những phôi vô ích nhanh chóng bị lãng quên.
Vậy là, nhà nông đã lựa chọn các cá thể cây không chỉ dựa trên những phẩm chất có thể nhận biết dễ dàng như kích cỡ và mùi vị, mà cả những phẩm chất vô hình như cơ chế phát tán hạt, cơ chế ngăn chận nảy mầm và cơ chế sinh sản. Kết quả là nhiều loại cây đã được chọn dựa trên những đặc tính rất khác nhau, thậm chí tương phản nhau. Một số loài cây (như hướng dương) được chọn vì cho hạt to hơn, trong khi những loài khác (như chuối) thì được chọn vì hạt bé tí hay thậm chí không có hạt. Rau diếp được chọn vì lắm lá sum suê mà không có hạt hay quả; lúa mì và hướng dương thì được chọn vì có lắm hạt mà không có lá; bí thì được chọn vì cho quả mà không có lá. Đặc biệt đáng lưu tâm là trường hợp một loài cây dại duy nhất được chọn theo nhiều cách khác nhau nhằm nhiều mục đích khác nhau và do đó cho ra những loại cây trồng thoạt nhìn rất khác nhau. Củ cải (beet), vốn đã được trồng từ thời đế quốc Babylon để lấy lá (như các loài củ cải đường ngày nay được gọi là chard), sau đó được phát triển theo hướng cho rễ ăn được và cuối cùng (vào thế kỷ XVIII) để lấy đường (củ cải đường). Loài cây tổ tiên của bắp cải ngày nay, ban đầu có thể được trồng để lấy hạt có dầu, về sau còn trải qua sự đa dạng hóa còn lớn hơn, bởi được người ta chọn theo những hướng khác nhau: lấy lá (cây bắp cải và cải xoăn ngày nay), lấy thân (cây kohlrabi), chồi (cây cải brussels), hay nụ hoa (cải hoa và cải broccoli).
Từ trước đến giờ chúng ta chỉ bàn đến những trường hợp cây dại biến đổi thành cây trồng do hệ quả sự chọn lọc dù chủ ý hay vô tình của các nhà nông. Nghĩa là, nhà nông lúc đầu đã lựa chọn hạt của một số cá thể cây dại để mang về nhà, sau đó hằng năm lại chọn một số hạt phôi nhất định để trồng vào khu vườn sang năm. Nhưng hầu hết sự biến đổi này cũng là hệ quả của việc cây cối tự lựa chọn chính mình. Cụm từ “chọn lọc tự nhiên” của Darwin là nói tới một số cá thể nhất định của một loài có khả năng sống còn tốt hơn và/hoặc sinh sản thành công hơn, chứ không phải là việc các cá thể cùng loài cạnh tranh với nhau trong các điều kiện tự nhiên. Trên thực tế, chính quá trình biệt hóa để sống sót (differential survival) và tái sinh sản tự nhiên đã làm công việc chọn lọc. Nếu điều kiện [môi trường] thay đổi, nhiều loại cá thể khác nhau có thể sống sót hay sinh sản tốt hơn và trở thành “được chọn lọc tự nhiên” mà kết quả là toàn bộ quần thể chịu sự thay đổi tiến hóa. Một ví dụ kinh điển là việc phát triển chứng nhiễm hắc tố ở loài bướm đêm tại Anh: các cá thể bướm đêm có màu sẫm trở nên tương đối phổ biến hơn so với các cá thể sáng màu do môi trường trở nên bẩn hơn vào thế kỷ XIX, ấy là bởi bướm đêm màu sẫm khi đậu trên một thân cây bẩn thỉu đen đúa thì sẽ ít tương phản hơn so với bướm đêm màu sáng nên khó bị các loài săn mồi phát hiện hơn.
Cũng như cuộc Cách mạng Công nghiệp đã làm thay đổi môi trường đối với bướm đêm, nghề nông cũng làm thay đổi môi trường đối với cây cối. Một khu vườn được cày cuốc, bón phân, tưới nước, giẫy cỏ mang lại điều kiện sinh trưởng rất khác so với một sườn đồi khô khan, không được bón phân. Nhiều thay đổi ở cây cối sau khi được thuần hóa là hệ quả của những thay đổi như vậy trong điều kiện sinh trưởng và do đó trong những loại cá thể được chuộng hơn. Chẳng hạn, khi một nông dân gieo hạt dày ở trong vườn, sẽ có sự cạnh tranh gay gắt giữa các hạt với nhau. Những hạt lớn hơn nhờ có thể tận dụng điều kiện tốt để mọc nhanh giờ sẽ được lợi thế hơn so với các hạt nhỏ vốn trước kia từng có lợi thế hơn trên các sườn đồi khô, không được bón phân, nơi hạt thường gieo thưa hơn nên cạnh tranh ít gay gắt hơn. Sự tăng cường cạnh tranh đó giữa bản thân các cây là một đóng góp chủ chốt khiến cho kích cỡ hạt tăng lên và dẫn đến nhiều thay đổi khác đã phát triển trong quá trình cây dại biến đổi thành cây trồng cổ đại.
Cái gì đã gây nên sự khác biệt to lớn giữa các loài cây trong việc dễ thuần hóa, chẳng hạn một số loài đã được thuần hóa từ lâu trong khi nhiều loài khác mãi tới thời Trung Cổ mới thuần hóa được, lại có những loài cây dại khác hoàn toàn trơ trơ trước mọi nỗ lực thuần hóa của chúng ta? Ta có thể suy ra nhiều lời đáp bằng cách xét trình tự phát triển – mà khoa học đã thừa nhận – của nhiều loại cây ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu của Tây Nam Á.
Hóa ra là những cây trồng xưa nhất ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu như lúa mì, lúa mạch và đậu được thuần hóa khoảng 10.000 năm trước đều phát xuất từ những cây dại tổ tiên vốn đã có sẵn nhiều lợi thế. Các cây dại này vốn dĩ ăn được đối với người và ngay trong tự nhiên cũng đã cho năng suất cao. Chúng có thể mọc dễ dàng, chỉ cần gieo hạt hoặc trồng xuống đất. Chúng mọc nhanh và chỉ vài tháng sau khi gieo là có thể thu hoạch được, đây là một lợi thế lớn đối với những nhà nông sơ khai vốn vẫn đang ở chỗ lưng chừng giữa thợ săn du cư với thôn dân làm ruộng định cư. Chúng lại có thể dễ dàng bảo quản, không như nhiều loại cây trồng khác xuất hiện muộn hơn như dâu và rau diếp. Hầu hết các cây này đều tự thụ phấn: nghĩa là, các giống khác nhau của những cây này có thể tự thụ phấn và lưu truyền những gen được ưa chuộng một cách nguyên vẹn không thay đổi, chứ không cần phải giao phối với những giống khác kém hữu ích hơn đối với con người. Cuối cùng, các cây dại tổ tiên của những loài này đòi hỏi rất ít thay đổi về di truyền để có thể chuyển thành cây trồng, chẳng hạn như ở lúa mì, chỉ cần có sự biến dị để thân không vỡ và để hạt nẩy mầm nhanh đồng loạt.
Giai đoạn thuần hóa cây kế tiếp là thuần hóa những cây ăn trái và cây quả hạch đầu tiên, vào khoảng 4.000 năm TCN. Đó là các cây ôliu, vả, chà là, lựu và nho. So với ngũ cốc và rau, chúng có cái nhược điểm là trồng xong phải đợi ít nhất ba năm mới bắt đầu cho quả và phải đợi những mười năm mới đạt năng suất đầy đủ. Vì vậy chỉ những ai đã hoàn toàn ổn định với lối sống làng mạc định cư thì mới có thể trồng các cây này. Tuy nhiên, những cây ăn trái và cây quả hạch này vẫn là những cây dễ trồng nhất. Khác những cây được thuần hóa về sau, các cây này chỉ cần được chiết cành, thậm chí chỉ cần gieo hạt là mọc được. Chiết cành có cái lợi là một khi các nông dân cổ đại đã tìm thấy hoặc phát hiện được một cây cho năng suất cao, họ có thể yên tâm rằng tất cả hậu duệ của nó đều giống y như nó.
Giai đoạn thứ ba là thuần hóa các cây ăn quả khó trồng hơn nhiều như táo, lê, mận và anh đào. Những cây này không thể trồng bằng cách chiết cành. Trồng bằng cách gieo hạt cũng chỉ phí công, bởi hậu duệ của ngay cả một cá thể trội nhất của các loài này cũng thay đổi khó lường và hầu hết đều cho những quả vô giá trị. Thay vì thế, các cây này phải trồng bằng kỹ thuật rất khó là ghép cây, vốn chỉ được phát triển tại Trung Hoa mãi lâu sau buổi sơ khai của nền nông nghiệp. Ghép cây không chỉ khó ngay cả khi ta đã biết rõ nguyên lý, mà bản thân nguyên lý đó cũng chỉ có thể được phát hiện sau khi người ta đã tiến hành thử nghiệm một cách có ý thức. Việc phát minh kỹ thuật ghép cây không thể chỉ là chuyện dăm ba người dân du cư “xả bầu tâm sự” ở bãi phóng uế nào đó, sau đó ít lâu trở lại thì ngạc nhiên và thú vị thấy nó đã mọc thành cây trái ngon ngọt sum suê.
Nhiều cây ăn trái thuần hóa vào giai đoạn muộn này lại đặt ra một cái khó nữa là tổ tiên hoang dã của chúng trái ngược hẳn với các loài tự thụ phấn. Chúng cần phải được thụ phấn chéo bởi một cây khác thuộc một giống khác biệt với loài của chúng về mặt di truyền. Vì vậy các nhà nông thuở đầu đã phải tìm những cây biến dị không đòi hỏi thụ phấn chéo, hoặc phải cố tình trồng những giống khác nhau về di truyền, nếu không thì trồng những cá thể đực và cái ở gần trong cùng một vườn. Tất cả những khó khăn ấy đã khiến cho việc thuần hóa táo, lê, mận và anh đào bị chậm trễ mãi đến thời Hy-Lạp cổ đại. Tuy nhiên, cùng khoảng thời gian đó lại đã phát sinh một nhóm cây trồng được thuần hóa muộn khác nhưng mất ít công sức hơn nhiều, bởi những loài cây dại tự mọc như cỏ hoang trên những cánh đồng mà con người đã dùng để trồng cây một cách chủ ý. Các cây trồng mà thoạt kỳ thủy là cỏ dại gồm có lúa mạch đen và yến mạch, củ cải và cải turnip, củ cải đường và tỏi tây, rau diếp.
Mặc dù chuỗi trình tự chi tiết mà tôi vừa mô tả trên đây áp dụng cho vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, song những trình tự phần nào giống như vậy cũng đã xuất hiện ở những nơi khác trên thế giới. Đặc biệt, lúa mì và lúa mạch của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu tiêu biểu cho chủng loại cây trồng được mệnh danh là ngũ cốc hoặc cây cho hạt (thuộc họ cây thân thảo), còn cây đậu Hà Lan và đậu lăng của Lưỡi liềm Phì nhiêu là đặc trưng cho các loài cây họ đậu (thành viên của họ rau vốn bao gồm cây đỗ). Các cây ngũ cốc có đặc tính mọc nhanh, giàu cacbon hydrat, cho sản lượng có thể đến một tấn lương thực trên một hécta đất trồng. Kết quả là ngũ cốc ngày nay chiếm trên một nửa lượng calori mà con người tiêu thụ và chiếm năm trong số 12 loại cây trồng hàng đầu của thế giới hiện đại (lúa mì, ngô, lúa gạo, lúa mạch và lúa miến). Nhiều cây ngũ cốc nghèo protein, nhưng nhược điểm đó được bù đắp bởi các cây họ đậu thường có hàm lượng 25% protein (riêng đậu nành thì đến 38%). Ngũ cốc và đỗ hợp lại cung cấp nhiều thành tố của một chế độ dinh dưỡng cân bằng.
Như tóm tắt ở Bảng 7.1, việc thuần hóa các loài cây ngũ cốc kết hợp với các cây họ đậu bản địa đã làm phát sinh nền sản xuất lương thực ở nhiều khu vực. Những ví dụ nhiều người biết nhất là kết hợp giữa lúa mì và lúa mạch với đậu và đậu lăng ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, kết hợp giữa ngô với một số loài đậu ở Trung Mỹ, và kết hợp giữa lúa gạo và kê với đậu nành và các loài đậu khác ở Trung Hoa. Ít người biết đến hơn là kết hợp giữa lúa miến, lúa tẻ châu Phi và kê ngọc trai (pearl millet) với đậu cowpea và lạc ở châu Phi, cũng như kết hợp giữa hạt quinoa không phải ngũ cốc với một số loài đậu ở vùng Andes.
Bảng 7.1 cũng cho thấy việc thuần hóa cây lanh để lấy sợi từ xa xưa ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu cũng đã diễn ra song song ở nhiều nơi khác. Cây gai dầu, bốn chủng cây bông, cây ngọc giá (yucca) và cây thùa (agave) cũng được trồng để cho sợi bện dây thừng và dệt vải may quần áo ở Trung Hoa, Trung Mỹ, Ấn Độ, Ethiopia, châu Phi hạ Sahara và Nam Mỹ, ở một số vùng nói trên còn được bổ sung thêm bằng len lấy từ các loài gia súc. Trong số các trung tâm sản xuất lương thực sớm nhất, duy chỉ vùng miền đông Hoa Kỳ và New Guinea là không có loại cây trồng nào cho sợi mà thôi.
Bên cạnh những tương đồng này cũng có một số khác biệt cơ bản giữa các hệ thống sản xuất lương thực trên thế giới. Một điểm khác biệt là nông nghiệp ở hầu hết Cựu Thế giới bao gồm gieo hạt đại trà và ruộng độc canh, cuối cùng là cày ải. Nghĩa là, hạt được vãi từng nắm bằng tay, kết quả là toàn bộ cánh đồng chỉ được dành cho một loại cây trồng duy nhất. Khi bò, ngựa và các loài hữu nhũ lớn khác được thuần hóa, người ta buộc chúng vào cày, từ đó ruộng được cày cấy bằng sức loài vật. Tuy nhiên, ở Tân Thế giới chưa hề có loài thú thuần hóa nào có thể buộc vào cày. Ở đó các cánh đồng luôn luôn được cày cấy bằng gậy hay cuốc cầm tay, hạt thì được trồng từng hạt một bằng tay chứ không vãi từng nắm. Vì vậy hầu hết các cánh đồng ở Tân Thế giới là một khu vườn hỗn hợp giữa nhiều loại cây được trồng cùng nhau chứ không phải ruộng độc canh.
Jared Diamond
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nguyễn Trọng Luân và Đi tìm thời gian đã mất… Trong “10 truyện ngắn hay năm 2020” (Phụ bản số Tết Tân Sửu Báo Văn Nghệ) nhà văn Nguyễn T...