Làm cách nào Pizarro đến được Cajamarca? Tại sao không phải
là Atahualpa tìm cách chinh phục Tây Ban Nha? Pizarro đến được Cajamarca là nhờ
công nghệ hàng hải của châu Âu, vốn đã chế tạo được những con tàu đưa ông ta vượt
Đại Tây Dương từ Tây Ban Nha đến Panama, sau đó từ Panama đến Peru trên Thái
Bình Dương. Vì thiếu công nghệ đó, Atahualpa đã không thể vượt biển mà bành trướng
được ra ngoài Nam Mỹ.
Ngoài bản thân những con tàu, sự hiện diện của Pizarro còn phụ
thuộc vào tổ chức chính trị tập trung hóa vốn đã cho phép Tây Ban Nha có tiền để
đầu tư, đóng tàu, thuê nhân công và trang bị cho những con tàu đó. Đế quốc Inca
cũng có tổ chức chính trị tập trung hóa, nhưng điều này hóa ra lại gây bất lợi
cho họ vì Pizarro đã lợi dụng đúng quy trình lãnh đạo tập trung đó bằng cách bắt
sống Atahualpa. Bởi vì bộ máy cai trị của Inca bị đồng hóa mạnh mẽ với vị quân
vương tuyệt đối được coi là thần thánh đó, cho nên sau khi Atahualpa chết thì
nó cũng tan rã. Công nghệ hàng hải cộng thêm tổ chức chính trị cũng có tầm quan
trọng cốt tử đối với việc người châu Âu chinh phục các lục địa khác cũng như việc
bành trướng của nhiều dân tộc khác.
Một sự kiện có liên quan đã đưa người Tây Ban Nha đến Peru, ấy
là sự hiện diện của chữ viết. Tây Ban Nha có chữ viết còn đế quốc Inca thì
không. Nhờ có chữ viết mà thông tin có thể được truyền bá rộng hơn nhiều, chính
xác hơn nhiều và chi tiết hơn nhiều so với truyền miệng. Thông tin đó quay trở
về Tây Ban Nha sau những chuyến du hành của Colombo và từ cuộc chinh phục
Mexico của Cortés, đã khiến người Tây Ban Nha đổ xô sang Tân Thế giới. Các thư
từ và sách vở mang lại động cơ cho việc này và đồng thời cho những chỉ dẫn cặn
kẽ cần thiết về hàng hải. Bản báo cáo đầu tiên được ấn hành về những kỳ tích của
Pizarro, của bạn đồng hành ông ta là Thuyền trưởng Cristóbal de Mena, được in tại
Seville vào tháng Tư năm 1534, chỉ sáu tháng sau khi Atahualpa bị hành quyết.
Nó trở thành sách bán chạy nhất, được nhanh chóng dịch ra các thứ tiếng châu Âu
khác và khiến lại thêm một dòng người di cư Tây Ban Nha nữa đổ sang nhằm củng cố
quyền kiểm soát của Pizarro đối với Peru.
Tại sao Atahualpa đi thẳng vào bẫy? Ngày nay nhìn lại, ta thấy
thật lạ lùng rằng Atahualpa đã bước thẳng vào cái bẫy rất ư lộ liễu của Pizarro
ở Cajamarca. Bản thân những người Tây Ban Nha đã bắt cóc ông ta cũng ngạc nhiên
không kém khi thấy mình thành công như vậy. Những hệ quả của chữ viết thật là
rõ ràng trong cách lý giải tối hậu.
Cách lý giải trực tiếp nhất là Atahualpa có rất ít thông tin
về người Tây Ban Nha, sức mạnh quân sự và ý định của họ. Ông ta có được chút
thông tin ít ỏi đó nhờ truyền miệng, chủ yếu từ một đặc sứ đã đến thăm lực lượng
của Pizarro trong vòng hai ngày khi lực lượng này đang trên đường từ bờ biển tiến
vào nội địa. Viên đặc sứ này đã thấy những người Tây Ban Nha giữa lúc họ đang
nhếch nhác lôi thôi nhất, thành thử ông ta bảo Atahualpa rằng họ không phải là
những chiến binh, nên chỉ cần 200 người Anh-điêng là có thể trói gô họ lại dễ
dàng. Thật dễ hiểu rằng Atahualpa đã không bao giờ nghĩ đến chuyện người Tây
Ban Nha rất đáng sợ và họ sẽ tấn công ông ta mà chẳng buồn khiêu khích.
Ở Tân Thế giới, chỉ một số người thuộc lớp tinh hoa ở một số
dân tộc tại Mexico ngày nay và những vùng lân cận xa về phía bắc đế quốc Inca mới
có khả năng viết. Mặc dù việc người Tây Ban Nha chinh phục Panama – chỉ cách
biên giới phía bắc của Inca vỏn vẹn 600 dặm – đã khởi đầu vào năm 1510, nhưng
mãi đến khi Pizarro lần đầu tiên đặt chân lên bờ biển Peru vào năm 1527 người
Inca vẫn hoàn toàn chẳng biết tí gì ngay cả về chính sự tồn tại của người Tây
Ban Nha. Atahualpa hoàn toàn chẳng biết gì về việc người Tây Ban Nha đã chinh
phục được những xã hội hùng mạnh và đông dân nhất ở vùng Trung Mỹ.
Đối với chúng ta ngày nay, cũng lạ lùng như cách hành xử của
Atahualpa dẫn đến việc ông ta bị bắt cóc là cách hành xử của ông ta sau khi bị
bắt. Ông ta đồng ý nộp khoản chuộc lừng danh kia bởi tin tưởng một cách ngây
thơ rằng một khi đã được tiền chuộc người Tây Ban Nha sẽ thả ông ta ra rồi bỏ
đi. Ông ta chẳng thể nào hiểu nổi rằng người của Pizarro chỉ là mũi nhọn đầu
tiên của một lực lượng đang rắp tâm chinh phục lâu dài chứ nào phải là một cuộc
tấn công nhỏ lẻ.
Atahualpa không phải là người duy nhất mắc phải những tính
toán sai lầm chết người đó. Ngay cả sau khi Pizarro đã bị bắt, em của Francisco
Pizarro là Hernando Pizarro đã lừa được vị thống soái của Atahualpa là
Chalcuchima, kẻ đang cầm đầu một đạo quân lớn, để ông này tự nộp mình cho người
Tây Ban Nha. Tính toán sai lầm của Chalcuchima đánh dấu một bước ngoặt trong sự
sụp đổ của cuộc kháng chiến Inca, một sự kiện hầu như cũng hệ trọng như bản
thân việc Atahualpa bị bắt. Hoàng đế Aztec Montezuma đã tính nhầm còn tai hại
hơn khi xem Cortés là một vị thần tái giáng trần và cho phép Cortés cùng đội
quân bé tí của ông ta được vào kinh đô Tenochtitlán của Aztec. Hậu quả là
Cortés bắt sống Montezuma, sau đó tiến lên chinh phục Tenochtitlán và toàn bộ đế
quốc Aztec.
Ở mức độ thường tình, những tính toán sai lầm của Atahualpa,
Chalcuchima, Montezuma và vô số các nhà lãnh đạo châu Mỹ bản địa khác bị người
châu Âu lừa phỉnh đều là bởi không một cư dân nào của Tân Thế giới thời đó từng
đến Cựu Thế giới nên dĩ nhiên họ không thể có thông tin cụ thể nào về người Tây
Ban Nha. Nhưng dù vậy đi nữa, chúng ta vẫn khó lòng tránh khỏi đi đến kết luận
rằng “lẽ ra” Atahualpa nên đa nghi hơn, giá như xã hội của ông ta đã trải nghiệm
nhiều loại hành vi của con người hơn. Pizarro khi đến Cajamarca cũng hoàn toàn
chẳng có thông tin gì về người Inca ngoại trừ những gì ông ta biết được bằng
cách tra hỏi những thần dân Inca mà ông ta gặp vào năm 1527 và 1531. Tuy nhiên,
dù bản thân Pizarro là kẻ mù chữ, dẫu sao ông ta vẫn thuộc về một xã hội có chữ
viết. Từ sách vở, người Tây Ban Nha đã biết về nhiều nền văn minh đương thời
cách xa châu Âu và về hàng mấy ngàn năm lịch sử châu Âu. Pizarro rõ ràng đã
giăng bẫy bắt Atahualpa theo đúng khuôn mẫu học được từ Cortés.
Nói ngắn gọn, chữ viết đã giúp người Tây Ban Nha được thừa hưởng
một nền tri thức rộng lớn về hành vi con người và lịch sử loài người. Ngược lại,
Atahualpa không chỉ chẳng có chút khái niệm nào về bản thân người Tây Ban Nha,
cũng chưa hề có kinh nghiệm cá nhân về những kẻ xâm lược đến từ bên kia biển,
mà thậm chí ông ta còn chưa hề nghe nói (hay đọc được) về những mối đe dọa
tương tự đối với bất cứ ai, ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào trước kia trong lịch
sử. Cái kinh nghiệm bao la đó đã khích lệ Pizarro giăng bẫy và xui khiến
Atahualpa bước vào bẫy đó.
Như vậy, việc Pizarro bắt sống Atahualpa minh họa cho chuỗi
nhân tố trực tiếp dẫn đến việc người châu Âu thực dân hóa Tân Thế giới thay vì
người châu Mỹ bản địa thực dân hóa châu Âu. Những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
thành công của Pizarro là kỹ thuật quân sự dựa trên súng ống, vũ khí bằng thép
và ngựa, những bệnh truyền nhiễm xuất xứ từ Âu-Á, kỹ thuật hàng hải của châu
Âu, tổ chức chính trị tập trung hóa của các nước châu Âu, và chữ viết. Nhan đề
cuốn sách này sẽ đóng vai trò tóm lược các nhân tố trực tiếp này, vốn cũng là
những nhân tố cho phép người châu Âu hiện đại chinh phục các dân tộc khác trên
những châu lục khác. Từ lâu trước khi có người nghĩ đến chuyện chế ra súng và
thép, những nhân tố khác cũng trong nhóm nhân tố này đã dẫn đến sự bành trướng
của một số dân tộc không phải châu Âu, như ta sẽ thấy trong các chương sau.
Nhưng chúng ta vẫn đang bỏ ngỏ câu hỏi cơ bản, ấy là tại sao
tất cả những ưu thế trực tiếp này đều nằm ở châu Âu chứ không phải ở Tân Thế giới.
Tại sao không phải người Inca phát minh ra súng và vũ khí bằng thép, cưỡi những
con vật cũng đáng sợ như ngựa, mang những mầm bệnh mà người châu Âu không có
kháng thể, đóng những con tàu có khả năng vượt đại dương, có tổ chức chính trị
tiên tiến, và có khả năng dựa vào kinh nghiệm của hàng ngàn năm lịch sử thành
văn? Đó không còn là những câu hỏi về chuỗi nhân quả trực tiếp mà chương này đề
cập đến; các câu hỏi về nguyên nhân tối hậu sẽ chiếm trọn hai phần tiếp theo của
cuốn sách này.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thực
Chương 4 - Sức mạnh của nhà nông
Hồi ở tuổi thiếu niên, vào năm 1956, tôi sống suốt mùa hè ở
bang Montana, làm việc cho một nông dân luống tuổi tên là Fred Hirschy. Ông
sinh ở Thụy Sĩ, đến tuổi thiếu niên thì di cư sang Mỹ, sống ở miền Tây Nam
Montana và gầy dựng một trong những nông trại đầu tiên ở vùng này. Hồi ông mới
đến, hầu hết người châu Mỹ bản địa chuyên săn bắt hái lượm vẫn còn sống ở đó.
Các bạn tá điền của tôi là những người da trắng thô kệch hễ mở
mồm là tuôn ra hàng tràng những lời tục tĩu, làm việc suốt các ngày thường để
cuối tuần lại tiêu bằng hết tiền lương ở quán rượu địa phương. Tuy nhiên, trong
số các tá điền có một người thuộc bộ lạc Blackfoot của người Anh-điêng tên là
Levi cư xử rất khác với đám thợ thuyền lỗ mãng: lịch sự, ân cần, tỉnh táo, ăn
nói đàng hoàng. Ông là người Anh-điêng đầu tiên mà tôi dành hầu hết thời gian
bên cạnh, và tôi đâm ra khâm phục ông.
Chính vì vậy tôi đã thất vọng ê chề khi một chiều Chủ nhật
kia ngay cả Levi cũng say khướt, chân nam đá chân chiêu và văng tục sau một tối
chủ nhật say bí tỉ. Trong số những lời chửi của ông có một câu hằn sâu vào ký ức
tôi: “Mẹ kiếp nhà anh, Fred Hirschy, mẹ kiếp cái con tàu đã đưa anh từ Thụy Sĩ
sang đây!” Lời đó đã khiến tôi đau đớn ngộ ra rằng ở trường người ta vẫn dạy
tôi cũng như bọn trẻ khác về cái gọi là công cuộc chinh phục hào hùng miền Viễn
Tây nước Mỹ nhưng đối với người Anh-điêng cái công cuộc đó thực chất là gì? Gia
đình Fred Hirschy tự hào về ông, một nhà nông tiên phong đã thành công trong những
điều kiện khó khăn. Nhưng bộ lạc của Levi gồm các thợ săn và chiến binh lừng
danh thì bị các nhà nông da trắng xâm lăng kia cướp đoạt đất đai. Làm cách nào
những nhà nông đã chiến thắng các chiến binh lừng danh đó được?
Suốt hầu hết quãng thời gian từ khi tổ tiên người hiện đại
tách ra khỏi tổ tiên các loài vượn lớn, cách đây khoảng 7 triệu năm, mọi con
người trên Trái đất đều kiếm cái ăn hoàn toàn chỉ bằng cách hái lượm quả dại và
săn bắt thú hoang, như bộ lạc Blackfoot vẫn làm vào thế kỷ XIX. Chỉ trong vòng
11.000 năm trở lại đây một số dân tộc mới chuyển sang cái gọi là sản xuất lương
thực, nghĩa là thuần hóa thú hoang và cây dại rồi ăn thịt thú nuôi và các cây
trồng. Ngày nay, hầu hết các dân tộc trên thế giới tiêu thụ lương thực do chính
họ làm ra hoặc do ai đó khác sản xuất cho họ. Với tốc độ thay đổi như hiện nay
thì chỉ trong vài thập niên nữa số ít những bộ lạc săn bắt hái lượm còn sót lại
sẽ từ bỏ cách sống của mình, sẽ tan rã hoặc diệt vong, qua đó hàng bao triệu
năm con người gắn bó với lối sống săn bắt hái lượm rồi sẽ cáo chung.
Mỗi dân tộc trên thế giới đạt tới sản xuất lương thực vào một
thời điểm khác nhau vào thời tiền sử. Một số dân tộc, chẳng hạn người châu Úc bản
địa, chẳng bao giờ đạt tới sản xuất lương thực cả. Trong số những dân tộc đã đạt
tới sản xuất lương thực, một vài dân tộc (như Trung Hoa cổ đại) tự mình phát
triển nền sản xuất lương thực mà không phụ thuộc vào ai, trong khi những dân tộc
khác (kể cả Ai Cập cổ đại) thì tiếp thu sản xuất lương thực từ các dân tộc láng
giềng. Song, như ta sẽ thấy, một cách gián tiếp, sản xuất lương thực là một điều
kiện tiên quyết cho việc phát triển súng, vi trùng và thép. Vì vậy, những khác
biệt địa lý dẫn đến dân tộc này hay dân tộc khác có chuyển thành nhà nông và
nhà chăn nuôi hay không, nếu có thì vào thời gian nào, có thể lý giải một phần
lớn tại sao số phận về sau của các dân tộc lại tương phản nhau đến vậy. Trước
khi đi sâu vào sáu chương kế tiếp nhằm thấu hiểu xem những khác biệt về địa lý
trong sản xuất lương thực đã phát sinh như thế nào, chương này sẽ lần theo những
mối liên hệ chủ yếu mà qua đó sản xuất lương thực đã dẫn đến những ưu thế khiến
Pizarro có thể bắt sống Atahualpa và dân tộc của Fred Hirschy có thể tước đoạt
đất đai từ dân tộc của Levi (Hình 4.1).
Liên kết đầu tiên là liên kết trực tiếp nhất: càng có nhiều
phương tiện chứa calori ăn được thì càng có nhiều người hơn. Trong số các loài
cây dại và thú hoang, chỉ có một thiểu số nhỏ là con người ăn được hoặc đáng
cho họ săn bắt hay hái lượm. Hầu hết các loài đều vô dụng, chúng ta không thể
dùng làm thức ăn, vì một hay một số những nguyên nhân sau: không tiêu hóa được
(như vỏ cây), độc (như bướm sâu bông tai hay nấm độc), giá trị dinh dưỡng thấp
(sứa), chế biến quá nhiêu khê (các loại hạt quá nhỏ), khó săn bắt (ấu trùng của
hầu hết côn trùng), hoặc săn bắt rất nguy hiểm (như tê giác). Hầu hết sinh khối
(tức vật chất sống) trên mặt đất nằm dưới dạng gỗ và lá mà phần lớn không thể
tiêu hóa được đối với con người.
Bằng cách chọn và nuôi trồng các loài cây và thú mà chúng ta
ăn được, sao cho chúng bao hàm 95% chứ không phải 0,1% sinh khối trên một hécta
đất, chúng ta có lượng calori ăn được lớn hơn nhiều trên mỗi hécta. Kết quả là,
nếu chăn nuôi gia súc và làm nông, một hécta có thể nuôi sống nhiều người hơn –
tiêu biểu là nhiều hơn từ 10 đến 100 lần – so với săn bắt hái lượm. Sức mạnh của
những con số trần trụi này chính là lợi thế quân sự đầu tiên trong nhiều lợi thế
quân sự của những bộ lạc sản xuất lương thực so với các bộ lạc săn bắt hái lượm.
Hình 4.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến những mẫu hình chung của
lịch sử
Sơ đồ chuỗi nhân quả dẫn tới các nhân tố trực tiếp (như súng,
vi trùng và thép) cho phép một số dân tộc đi chinh phục những dân tộc khác, cho
đến những nhân tố tối hậu (như hướng trục của các lục địa). Chẳng hạn, các bệnh
truyền nhiễm đa dạng của con người đã tiến hóa ở những khu vực nơi có nhiều
loài cây và thú hoang dã thích hợp cho sự thuần hóa, một phần bởi các cây trồng
và vật nuôi sinh ra từ đó đã giúp nuôi sống những quần thể người đông đúc nơi
mà bệnh truyền nhiễm có thể duy trì, một phần bởi các căn bệnh đã tiến hóa từ
những vi trùng của bản thân các loài thú đã được thuần hóa.
Ở những xã hội loài người có sở hữu gia súc, các loài gia súc
nuôi được nhiều người hơn bằng bốn cách khác nhau: cung cấp thịt, sữa, phân
bón, kéo cày. Trước hết và một cách trực tiếp nhất, gia súc trở thành nguồn
chính cung cấp protein động vật cho xã hội thay vì thú hoang. Chẳng hạn, ngày
nay, người Mỹ có xu hướng nhận nguồn protein động vật chủ yếu từ bò, lợn, cừu
và gà, trong khi thịt thú hoang chẳng hạn thịt nai chỉ là món xa xỉ ít khi đụng
tới. Ngoài ra, một số loài gia súc lớn được dùng làm nguồn cung cấp sữa và sản
phẩm từ sữa như bơ, phó mát, sữa chua. Các loài hữu nhũ cho sữa bao gồm bò, cừu,
dê, ngựa, tuần lộc, trâu, bò yak, lạc đà Arập và lạc đà Bactrian. Bằng cách đó,
trong suốt cuộc đời mình các loài hữu nhũ này cho ta nhiều calori hơn gấp mấy lần
so với nếu ta chỉ giết chúng mà ăn thịt.
Các loài gia súc hữu nhũ lớn cũng tương tác với các loại cây
trồng theo hai cách để nâng cao năng suất cây trồng. Trước hết, như bất kỳ người
làm vườn hoặc làm nông nào ngày nay vẫn biết qua kinh nghiệm, năng suất cây trồng
có thể nâng cao đáng kể nếu được bón phân chuồng. Thậm chí dù ngày nay ta có
phân bón tổng hợp do các nhà máy hóa chất sản xuất, nguồn phân bón chính cho
cây trồng ở hầu hết các xã hội hiện đại vẫn là phân súc vật, đặc biệt là bò,
song ngoài ra còn có bò yak và cừu. Phân súc vật còn có giá trị làm nguồn chất
đốt ở các xã hội truyền thống.
Ngoài ra, gia súc hữu nhũ còn tương tác với cây trồng để nâng
cao năng suất lương thực bằng cách kéo cày, nhờ đó con người có thể cày cấy những
mảnh đất mà trước đây không mang lại hiệu quả cao trong trồng trọt. Các loài vật
kéo cày gồm bò, ngựa, trâu, bò Bali và loài lai giữa bò thường với bò yak. Sau
đây là một ví dụ về giá trị của chúng: những nhà nông tiền sử đầu tiên ở Trung
Âu, cái gọi là nền văn hóa Linearbandkeramik phát sinh khoảng trước 5.000 năm
TCN một chút, chỉ bó hẹp ở những vùng đất đủ mềm để có thể cày cấy bằng những
cây gậy chọc cầm tay. Chỉ hơn một ngàn năm sau, khi xuất hiện cày do bò kéo,
các nông dân đó mới có thể mở rộng canh tác ra những vùng đất rắn rộng hơn nhiều.
Tương tự, các nông dân châu Mỹ bản địa ở vùng Đồng bằng Lớn Bắc Mỹ vốn đã trồng
trọt ở các thung lũng sông, nhưng canh tác trên đất rắn ở vùng cao thì phải đợi
đến khi người châu Âu di cư sang vào thế kỷ XIX đem theo chiếc cày do gia súc
kéo.
Trên đây là những cách trực tiếp mà qua đó việc thuần hóa cây
trồng và vật nuôi dẫn đến sự gia tăng dân số loài người nhờ cung cấp được nhiều
lương thực hơn so với lối sống săn bắt hái lượm. Còn có một cách gián tiếp hơn,
ấy là hệ quả của lối sống định cư vốn trở nên cần thiết khi người ta chuyển
sang sản xuất lương thực. Trong các xã hội săn bắt hái lượm, người ta thường
xuyên di chuyển để tìm lương thực hoang dã, nhưng các nhà nông thì phải thường
xuyên sống ở gần ruộng vườn mình. Việc cư trú cố định còn góp phần làm tăng mật
độ dân số bằng cách cho phép rút ngắn khoảng cách giữa những lần sinh. Một bà mẹ
săn bắt hái lượm đang chuyển trại đi nơi khác thì chỉ có thể mang theo một đứa
con bởi còn phải đèo bòng bao nhiêu thứ đồ lỉnh kỉnh khác. Bà ta không thể sinh
thêm một đứa nữa chừng nào đứa trước chưa thể đi đủ nhanh để theo kịp bầy đoàn
chứ không tụt lại đằng sau. Trên thực tế, các bộ lạc săn bắt hái lượm du cư chủ
động sinh con cách bốn năm một đứa bằng các biện pháp như kéo dài thời gian cho
con bú nhằm làm mất kinh (lactational amenorrhoea), tiết dục, giết trẻ em và
phá thai. Ngược lại, những người định cư, do không bị ràng buộc vì chuyện mang
con cái theo trên đường du cư, có thể sinh bao nhiêu con cũng được miễn là đủ sức
nuôi ăn. Khoảng cách giữa hai lần sinh đối với nhiều dân tộc làm nông là khoảng
hai năm, bằng một nửa so với các dân tộc săn bắt hái lượm. Tỷ suất sinh cao hơn
ở những người sản xuất lương thực, cùng với khả năng nuôi được nhiều người hơn
trên một hécta, cho phép họ đạt mật độ dân số cao hơn nhiều so với những người
săn bắt hái lượm.
Một hệ quả riêng biệt của lối sống định cư là nó cho phép người
ta tích trữ lương thực thặng dư, bởi việc tích trữ sẽ là vô nghĩa nếu người ta
không cư trú ngay gần đó đặng canh chừng chỗ lương thực dự trữ. Tuy một số dân
tộc săn bắt hái lượm du cư thỉnh thoảng cũng có thể để dành lương thực đủ ăn
không chỉ trong vài ngày, song một phần thặng dư này chẳng có ích gì lắm đối với
họ vì họ không thể bảo vệ nó. Nhưng lương thực dự trữ là rất quan trọng để có
thể nuôi những người làm các công việc chuyên môn ngoài sản xuất lương thực, mà
số này thì nhất định rất đông. Chính vì vậy mà các xã hội săn bắt hái lượm ít
có hoặc hoàn toàn không có các chuyên gia toàn thời gian như vậy; những người
này chỉ xuất hiện đầu tiên ở các xã hội định cư.
Hai loại chuyên gia như vậy là vua và quan lại. Các xã hội
săn bắt hái lượm có xu hướng tương đối bình đẳng, không có quan lại chuyên nghiệp
và tù trưởng cha truyền con nối, có tổ chức chính trị quy mô nhỏ ở cấp độ bầy
người hay bộ lạc. Đó là do tất cả những người săn bắt hái lượm đủ sức khỏe đều
có nghĩa vụ dành hầu hết thời gian cho việc tìm lương thực. Ngược lại, khi người
ta đã có thể tích trữ lương thực thì một nhóm tinh hoa về chính trị có thể nắm
quyền kiểm soát chỗ lương thực do người khác sản xuất ra, nắm quyền đánh thuế,
không phải tự nuôi sống mình mà dành toàn bộ thời gian cho các hoạt động chính
trị. Vì lý do này, các xã hội nông nghiệp quy mô trung bình thường được tổ chức
thành tù trưởng quốc, còn vương quốc thì chỉ phát triển ở các xã hội nông nghiệp
quy mô lớn mà thôi. So với các bộ lạc săn bắt hái lượm, các đơn vị chính trị phức
tạp này có nhiều khả năng hơn trong việc dấy lên những cuộc chiến tranh chinh
phục kéo dài. Một số dân săn bắt hái lượm ở những môi trường đặc biệt trù phú,
chẳng hạn vùng bờ biển tây bắc Thái Bình Dương của Bắc Mỹ và bờ biển Ecuador
cũng phát triển thành xã hội định cư, tích trữ lương thực và có những tù trưởng
quốc sơ khai, nhưng họ đã không đi xa hơn trên đường chuyển hóa thành vương quốc.
Lương thực thặng dư tích trữ hình thành nhờ việc đánh thuế có
thể nuôi cả những chuyên gia toàn thời gian khác nữa ngoài vua và quan lại. Nó
có thể được dùng để nuôi binh lính chuyên nghiệp, điều có liên quan trực tiếp
nhất đến các cuộc chiến tranh chinh phục. Đó là nhân tố quyết định trong việc đế
quốc Anh rốt cuộc đã đánh bại người bản địa Maori ở New Zealand dù họ có vũ
trang đầy đủ. Tuy người Maori cũng giành được vài chiến thắng oanh liệt nhưng đấy
chỉ là tạm thời, họ không duy trì nổi một đội quân thường trực trên chiến địa
và rốt cuộc cũng bị làm hao mòn bởi 18.000 quân chuyên nghiệp của Anh. Lương thực
dự trữ cũng cho phép nuôi sống giới tăng lữ, những người mang lại sự bảo chứng
về tôn giáo cho các cuộc chiến tranh chinh phạt; các thợ thủ công chẳng hạn như
thợ luyện kim, thợ làm gươm, súng và các kỹ thuật khác; và các thư lại, những
người có thể lưu trữ nhiều thông tin hơn gấp bội so với chỉ ghi nhớ trong đầu.
Từ trước đến giờ tôi đã nhấn mạnh những giá trị trực tiếp và
gián tiếp của cây trồng và vật nuôi với tư cách là lương thực. Tuy nhiên, chúng
còn có những công dụng khác, chẳng hạn như cho ta mặc ấm và cung cấp những chất
liệu có giá trị. Cây trồng và vật nuôi cung cấp sợi may quần áo, chăn đệm, lưới
và dây. Hầu hết các trung tâm thuần hóa cây trồng lớn đều phát triển không chỉ
các cây trồng cho lương thực mà cả cây trồng cho sợi, nhất là bông vải, sợi
lanh (cung cấp vải lanh) và gai dầu. Một số vật nuôi cung cấp sợi động vật, đặc
biệt là len từ cừu, dê, lạc đà Nam Mỹ, lụa từ tằm. Xương gia súc là nguyên liệu
quan trọng làm vật dụng đối với các dân tộc thời Đồ đá trước khi nghề luyện kim
xuất hiện. Da bò được dùng làm da thuộc. Một trong các cây trồng đầu tiên ở nhiều
vùng tại châu Mỹ được trồng không phải để lấy lương thực, chẳng hạn cây bầu nậm
mà quả được dùng làm vật chứa.
Các loài gia súc hữu nhũ lớn còn cách mạng hóa xã hội loài
người thêm một bước do chúng trở thành phương tiện giao thông đường bộ chính của
chúng ta cho tới khi đường sắt được phát triển vào thế kỷ XIX. Trước khi loài vật
được thuần hóa, phương tiện chính để vận chuyển người và hàng hóa trên đất liền
là trên lưng người. Các loài hữu nhũ lớn đã thay đổi điều đó: lần đầu tiên
trong lịch sử nhân loại, người ta có thể vận chuyển hàng hóa nặng cũng như người
với số lượng lớn và qua những khoảng cách lớn trên bộ một cách nhanh chóng. Các
gia súc dùng làm vật cưỡi là ngựa, lừa, bò yak, tuần lộc, lạc đà Arập và lạc đà
Bactrian. Các con vật thuộc năm loài này, cùng với loài llama, cũng được dùng để
mang hành lý. Bò và ngựa được buộc vào xe để kéo, còn tuần lộc và chó thì kéo
xe trượt tuyết ở Bắc Cực. Ngựa trở thành phương tiện chủ yếu để vận chuyển đường
dài trên hầu hết lục địa Âu-Á. Ba loài lạc đà được thuần hóa (lạc đà Arập, lạc
đà Bactrian và llama) đóng vai trò tương tự ở nhiều vùng lần lượt tại Bắc Mỹ và
Arập, Trung Á và dãy Andes.
Đóng góp trực tiếp nhất của việc thuần hóa cây trồng và vật
nuôi đối với các cuộc chiến tranh chinh phục là từ loài ngựa Âu-Á; vai trò quân
sự của chúng cũng tương tự như xe jeep và xe tăng trong chiến tranh thời cổ đại
trên lục địa này. Như tôi đã nhắc tới ở Chương 3, chúng đã cho phép Cortés và
Pizarro, dù chỉ mang theo một dúm quân mạo hiểm ít ỏi, vẫn lật đổ được các đế
quốc Aztec và Inca. Còn sớm hơn thế rất nhiều (khoảng 4.000 năm TCN), khi người
ta còn cưỡi ngựa không có yên cương, ngựa có thể đã là nhân tố quân sự trọng yếu
khi những người nói các ngôn ngữ Ấn-Âu bành trướng về phía Tây từ [vùng đất nay
là] Ukraina. Các ngôn ngữ này rốt cuộc đã thay thế tất cả các ngôn ngữ Tây Âu từng
tồn tại trước đó ngoại trừ tiếng Basque. Khi về sau ngựa được thắng vào xe, các
trận đánh có xe do ngựa kéo (được phát minh vào khoảng 1.800 năm TCN) đã làm
thay đổi triệt để hình thái chiến tranh ở vùng Cận Đông, khu vực Địa Trung Hải
và Trung Hoa. Chẳng hạn, vào năm 1674 TCN, ngựa thậm chí còn cho phép một dân tộc
ngoại bang, người Hyksos, chinh phục nước Ai Cập mà lúc bấy giờ chưa có ngựa, rồi
tạm thời chiếm ngôi hoàng đế Ai Cập.
Về sau, khi người ta đã phát minh ra yên ngựa và bàn đạp, ngựa
đã cho phép người Hung nô và làn sóng các dân tộc khác từ vùng thảo nguyên châu
Á tràn sang lấn chiếm lãnh thổ đế quốc La Mã và những nước kế thừa đế quốc này,
với đỉnh cao là người Mông Cổ chinh phục hầu hết châu Á và nước Nga vào thế kỷ
XIII và XIV. Chỉ khi xe tải và xe tăng xuất hiện trong Thế chiến thứ nhất thì
cuối cùng ngựa mới bị soán mất ngôi vị là phương tiện tấn công và vận chuyển
nhanh chủ yếu trong chiến tranh. Lạc đà Arập và lạc đà Bactrian cũng đóng vai
trò tương tự trong khu vực địa lý của mình. Trong tất cả các ví dụ trên, các
dân tộc có ngựa (hay lạc đà) thuần hóa, hoặc có những phương tiện cải tiến để sử
dụng chúng, đều có ưu thế quân sự to lớn so với các dân tộc không có chúng.
Cũng có tầm quan trọng tương đương trong các cuộc chiến tranh
chinh phục là những vi trùng đã tiến hóa ở các xã hội loài người có gia súc.
Các bệnh truyền nhiễm như đậu mùa, sởi và cúm đã nảy sinh như những loài vi
trùng chỉ riêng có ở người, xuất phát từ sự biến dị của một số vi trùng thủy tổ
rất giống như vậy đã từng lây nhiễm ở động vật (Chương 11). Những người đã thuần
hóa thú vật là nạn nhân đầu tiên của các vi trùng mới tiến hóa này, nhưng sau
đó những người này đã có được kháng thể cần thiết đối với các căn bệnh mới. Khi
những người đã được miễn nhiễm một phần này tiếp xúc với các dân tộc khác vốn
chưa từng tiếp xúc với các vi trùng đó, bệnh dịch sẽ xảy ra, giết chết có thể tới
99% những người chưa tiếp xúc. Vậy là, các vi trùng mà về sâu xa bắt nguồn từ
các loài vật thuần hóa đã đóng vai trò quyết định trong việc người châu Âu
chinh phục người châu Mỹ bản địa, người châu Úc, người Nam Phi và cư dân hải đảo
Thái Bình Dương.
Nói ngắn gọn, việc thuần hóa cây trồng và vật nuôi có ý nghĩa
lớn hơn nhiều chứ không chỉ mang lại nhiều lương thực hơn và cho phép nâng cao
dân số. Thặng dư lương thực có được nhờ cây trồng và vật nuôi, cũng như (ở một
số khu vực) các phương tiện vận chuyển do súc vật kéo để vận chuyển lương thực
thặng dư đó, đã là điều kiện tiên quyết để có những xã hội định cư, tập trung
hóa về chính trị, phân chia giai tầng về xã hội, phức tạp về kinh tế và cách
tân về công nghệ. Vì vậy, cuối cùng thì việc có cây trồng và vật nuôi thuần hóa
đã giải thích vì sao các đế quốc, chữ viết và vũ khí bằng thép đã phát triển sớm
nhất ở Âu-Á, phát triển muộn hơn hoặc hoàn toàn không phát triển ở các châu lục
khác. Việc sử dụng ngựa và lạc đà trong quân sự, cũng như sức mạnh giết người của
các vi trùng phát sinh từ vật nuôi, đã hoàn tất danh mục những mối liên quan chủ
chốt giữa sản xuất lương thực với chiến tranh chinh phục, điều mà chúng ta sẽ
khảo sát sau đây.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thực
Chương 5 - Kẻ-có
và kẻ-không-có trong lịch sử
Lịch sử loài người phần lớn bao hàm những cuộc xung đột không
cân sức giữa những kẻ-có và những kẻ-không-có: giữa những dân tộc có sức mạnh của
nghề nông và các dân tộc không có nó, hay giữa dân tộc có nghề nông sớm hơn với
dân tộc có nghề nông muộn hơn. Chẳng lạ gì rằng sản xuất lương thực không bao
giờ phát sinh ở nhiều khu vực lớn trên trái đất, bởi những lý do sinh thái khiến
cho ngay cả ngày nay cũng rất khó hay thậm chí không thể làm việc đó. Chẳng hạn,
cả trồng trọt lẫn chăn nuôi đều không hề phát triển trong thời tiền sử ở vùng Bắc
Cực của châu Mỹ, trong khi yếu tố duy nhất của sản xuất lương thực từng phát
sinh ở vùng Bắc Cực của lục địa Âu-Á là chăn nuôi tuần lộc. Sản xuất lương thực
cũng không thể nảy sinh tự phát ở các vùng sa mạc xa nguồn nước cần thiết để tưới
tiêu, chẳng hạn miền trung Australia và nhiều vùng ở miền tây Hoa Kỳ.
Thay vào đó, cái mà chúng ta cần lý giải là: tại sao sản xuất
lương thực mãi đến thời hiện đại mới phát sinh ở một vài khu vực rất thích hợp
về sinh thái mà ngày nay nằm trong số những trung tâm trồng trọt và chăn nuôi
trù phú nhất trên thế giới. Chiếm hàng đầu trong số các khu vực đầy khúc mắc
này, nơi các dân tộc bản địa vẫn đang sống bằng săn bắt hái lượm vào thời điểm
các nhà thực dân châu Âu xuất hiện, là California và các bang ven bờ Thái Bình
Dương của Hoa Kỳ, đồng bằng pampas ở Argentina, miền tây nam và đông nam
Australia và hầu hết vùng Cape của Nam Phi. Giá như chúng ta khảo sát thế giới
tại thời điểm 4.000 năm TCN, hàng ngàn năm sau khi sản xuất lương thực đã nảy
sinh ở những vùng phát nguyên cổ nhất, hẳn chúng ta cũng sẽ rất ngạc nhiên khi
thấy những vùng mà ngày nay là vựa lúa mì trù phú thì hồi đó chưa hề có sản xuất
lương thực, bao gồm toàn bộ phần còn lại của Hoa Kỳ, nước Anh và hầu hết nước
Pháp, Indonesia và toàn bộ châu Phi hạ xích đạo. Khi ta lần ngược trở lại đến tận
lúc khởi nguyên của sản xuất lương thực, những vùng sớm nhất lại cho ta một ngạc
nhiên khác. Những vùng sản xuất lương thực cổ xưa nhất còn lâu mới là những vựa
lúa ngày nay; ngược lại, ngày nay chúng được xếp vào hàng những khu vực có phần
khô hạn hoặc bị thoái hóa về sinh thái: Iraq và Iran, Mexico, vùng Andes, một số
vùng của Trung Hoa, vùng Sahel của châu Phi. Tại sao sản xuất lương thực phát
triển đầu tiên ở những vùng có vẻ như khá cằn cỗi đó và chỉ về sau mới phát triển
ở những vùng trồng trọt và chăn nuôi phì nhiêu nhất ngày nay?
Những khác biệt địa lý liên quan đến việc sản xuất lương thực
phát sinh bằng cách nào cũng khó mà lý giải được. Ở một vài nơi, sản xuất lương
thực phát triển một cách độc lập, do người dân địa phương tiến hành thuần hóa
cây dại và thú hoang. Ở hầu hết các nơi khác, sản xuất lương thực được du nhập
vào dưới dạng cây trồng và vật nuôi đã được thuần hóa ở nơi khác. Các vùng phát
nguyên sản xuất lương thực không độc lập này vốn dĩ đã thích hợp cho sản xuất
lương thực từ trước khi các loài được thuần hóa kia được du nhập đến, vậy thì tại
sao các dân tộc sống ở đó đã không tự mình trở thành nhà nông hay người chăn
nuôi bằng cách thuần hóa cây dại và thú hoang ở chính khu vực của mình, chứ
không phải viện đến sự trợ giúp từ bên ngoài?
Trong số các khu vực nơi sản xuất lương thực đã nảy sinh độc
lập, tại sao thời điểm nó xuất hiện lại khác nhau đến thế, chẳng hạn, ở châu Á
sớm hơn ở miền đông Hoa Kỳ tới hàng ngàn năm còn ở miền đông Australia thì chẳng
bao giờ xuất hiện? Trong số các khu vực nơi sản xuất lương thực đã được du nhập
từ nơi khác đến vào thời tiền sử, tại sao thời điểm du nhập cũng khác nhau nhiều
đến thế, chẳng hạn ở tây nam châu Âu sớm hơn ở tây nam Hoa Kỳ tới hàng ngàn
năm? Lại nữa, trong số các khu vực nơi sản xuất lương thực được du nhập đến, tại
sao ở một số khu vực (tỉ như tây nam Hoa Kỳ) các cư dân săn bắt hái lượm bản địa
đã tiếp nhận cây trồng và vật nuôi từ những người láng giềng và tiếp tục tồn tại
như những người làm nông, trong khi ở các khu vực khác (chẳng hạn Indonesia và
hầu hết châu Phi hạ xích đạo) sự du nhập sản xuất lương thực lại khiến những
người săn bắt hái lượm bản địa bị những người sản xuất lương thực từ nơi khác đến
xâm lấn và chiếm chỗ một cách tàn bạo? Tất cả những câu hỏi đó bao hàm những sự
tiến hóa có ý nghĩa quyết định trong việc những dân tộc nào là kẻ-không-có còn
những dân tộc nào là kẻ-có trong lịch sử.
Trước khi mong trả lời được các câu hỏi đó, ta cần phải hình
dung làm sao xác định được những khu vực nào là nơi đã phát nguyên nền sản xuất
lương thực, tại sao nó lại phát sinh ở đó, một loài cây hay thú đã được thuần
hóa lần đầu tiên ở đâu và khi nào. Bằng chứng rõ rệt nhất là kết quả nhận diện
vết tích cây trồng và vật nuôi ở các di chỉ khảo cổ. Hầu hết các loài cây và
loài vật được thuần hóa đều khác biệt về hình thái so với tổ tiên hoang dã của
chúng: chẳng hạn, trâu bò và cừu nhà có kích thước nhỏ hơn, gà và táo được thuần
hóa có kích thước lớn hơn, vỏ hạt của một số loài đậu trồng mỏng và mịn hơn, dê
nhà có sừng xoắn hình ốc vít chứ không phải hình mã tấu. Vì vậy di tích các
loài cây trồng và vật nuôi ở một di chỉ khảo cổ đã xác định niên đại có thể được
nhận diện và cho bằng chứng mạnh mẽ về nền sản xuất lương thực tại nơi đó và
vào thời đó, trong khi một di chỉ mà chỉ có vết tích của các loài hoang dã thì
không thể cho bằng chứng về sản xuất lương thực mà chỉ tương ứng với lối sống
săn bắt hái lượm. Đương nhiên là những người sản xuất lương thực, nhất là những
người chỉ mới chuyển sang, vẫn tiếp tục hái lượm một số loài cây dại và săn bắt
một số loài thú hoang, nên vết tích lương thực ở di chỉ của họ bao gồm cả các
loài hoang dã lẫn các loài đã thuần hóa.
Các nhà khảo cổ xác định niên đại sản xuất lương thực bằng
cách phân tích cácbon phóng xạ tại di chỉ. Phương pháp này dựa trên sự phân rã
chậm của cácbon phóng xạ C14, một thành phần rất nhỏ của cácbon, đơn vị cấu
thành sự sống ở mọi nơi, thành đồng vị không phóng xạ nitơ 14. Cácbon 14 liên tục
được tạo ra trong không khí bởi các tia vũ trụ. Cây cối tiếp nhận cácbon trong
không khí, mà trong đó tỷ lệ C14 so với đồng vị C12 chiếm đa số là gần như ổn định
(ta biết tỷ lệ này vào khoảng một trên một triệu). Cácbon này của cây cối tiếp
tục làm nên cơ thể của các loài vật ăn cỏ đã ăn cây đó, kế đó lại làm nên cơ thể
của các loài ăn thịt đã ăn các loài ăn cỏ đó. Tuy nhiên, khi cây hoặc thú chết
đi, cứ mỗi 5.700 năm thì phân nửa hàm lượng C14 bên trong chúng lại phân rã
thành C12, cho đến sau khoảng 40.000 năm thì hàm lượng C14 còn rất thấp, khó đo
được hoặc khó phân biệt được với những lượng C14 nhỏ do nhiễm phải các chất của
thời đại ngày nay. Vì vậy, tuổi của vật chất ở một di chỉ khảo cổ có thể tính bằng
tỷ lệ C14/C12 trong vật chất đó.
Phương pháp phân tích phóng xạ có thể gặp một số vấn đề kỹ
thuật, trong đó hai vấn đề đáng được nhắc tới ở đây. Một là, cho tới thập niên
1980, xác định niên đại bằng phóng xạ cácbon vẫn đòi hỏi phải có một lượng
cácbon tương đối lớn (vài gam), nhiều hơn gấp bội so với khối lượng cácbon
trong vài hạt đậu hoặc mảnh xương. Vì vậy, các nhà khoa học thường phải xoay
sang xác định niên đại các chất liệu tìm thấy ở bên cạnh trong cùng một di chỉ
mà họ cho là “gắn liền” với di tích lương thực, nghĩa là chúng ắt đã phải bị
con người vứt bỏ cùng một lúc với những lương thực đó. Một chất liệu thường được
chọn coi như “gắn liền” với di tích lương thực là than còn lại từ các đống lửa.
Nhưng các di chỉ khảo cổ không phải lúc nào cũng bao gồm những
thứ được người xưa vứt bỏ trong cùng một ngày. Các vật chất tích tụ lại ở những
thời gian khác nhau có thể bị trộn lẫn vào nhau bởi sâu bọ, các loài gặm nhấm
và những nhân tố khác làm đất bị đùn lên. Vì vậy, tàn than từ một đống lửa có
thể lại nằm gần di tích một loài cây hoặc thú đã chết và bị ăn thịt trước hoặc
sau đó đến hàng ngàn năm. Các nhà khảo cổ ngày càng cố khắc phục khó khăn này bằng
cách chỉ xác định niên đại bằng một kỹ thuật mới gọi là phép đo phổ khối gia tốc
(accelerator mass spectrometry), tức là đo cácbon phóng xạ dựa trên các mẫu thật
nhỏ nhờ vậy cho phép xác định niên đại một hạt đậu, một mẩu xương hay một mảnh
lương thực thừa duy nhất. Trong một số trường hợp, người ta đã tìm thấy sự khác
biệt lớn giữa các niên đại mới xác định gần đây dựa trên phương pháp trực tiếp
mới (vốn cũng có những khó khăn của mình) với những niên đại dựa trên phương
pháp gián tiếp trước kia. Trong số những niên đại gây tranh cãi mà chưa có lời
giải đáp, có lẽ quan trọng nhất đối với mục đích của cuốn sách này là niên đại
khi sản xuất lương thực khởi phát ở châu Mỹ: các phương pháp gián tiếp vào các
thập niên 1960 và 1970 cho kết quả rất sớm là 7.000 năm TCN, nhưng niên đại được
xác định gần đây dựa trên phương pháp trực tiếp lại không sớm hơn 3.500 năm
TCN.
Khó khăn thứ hai khi xác định niên đại bằng phương pháp
cácbon phóng xạ, ấy là tỷ lệ C14/C12 trong không khí thật ra không hẳn là không
đổi mà có dao động chút ít theo thời gian, nên phép tính niên đại theo cácbon
phóng xạ dựa trên giả định rằng tỷ lệ đó không đổi ắt hẳn không tránh khỏi những
sai sót nhỏ mang tính hệ thống. Về nguyên tắc, việc sai sót này có lớn hay
không đối với mỗi niên đại trong quá khứ có thể xác định được nhờ những loài
cây lâu năm mà mỗi năm lại cho một vòng thân mới, bởi ta có thể đếm các vòng
này để biết niên đại chính xác trong quá khứ cho mỗi vòng, và một mẫu cácbon của
gỗ được xác định niên đại theo cách này có thể được phân tích để tìm tỷ lệ
C14/C12. Bằng cách này, ta có thể “điều chỉnh” các niên đại cácbon phóng xạ đo
được nhằm tính đến những dao động của tỷ lệ cácbon trong không khí. Hiệu quả của
việc điều chỉnh này là, đối với những vật thể có niên đại biểu kiến (nghĩa là
chưa được điều chỉnh) trong khoảng từ 1.000 đến 6.000 năm TCN, thì niên đại thật
(đã điều chỉnh) sẽ sớm hơn khoảng từ vài thế kỷ đến một ngàn năm. Gần đây một số
mẫu có phần xưa hơn đã bắt đầu được điều chỉnh bằng một phương pháp thay thế dựa
trên một quá trình phân rã phóng xạ khác và cho kết luận rằng các mẫu mà bề
ngoài có niên đại khoảng 9.000 năm TCN thật ra là có niên đại khoảng 11.000 năm
TCN.
Các nhà khảo cổ thường phân biệt các niên đại đã điều chỉnh với
niên đại chưa điều chỉnh bằng cách viết niên đại đã điều chỉnh bằng chữ hoa còn
niên đại chưa điều chỉnh thì bằng chữ thường (chẳng hạn 3.000 B.C. và 3.000
b.c.). Tuy nhiên, văn liệu khảo cổ có thể gây nhầm lẫn ở điểm này, bởi nhiều
sách và báo chí vẫn ghi các niên đại chưa điều chỉnh bằng chữ hoa (B.C.) mà
không ghi chú rằng các niên đại này thật ra chưa được điều chỉnh. Các niên đại
mà tôi đưa ra trong sách này cho các sự kiện trong vòng 15.000 trở lại đây là
niên đại đã được điều chỉnh. Ấy là do tính tới những sai biệt mà độc giả có thể
nhận thấy giữa các niên đại trong sách này với những niên đại trong một số sách
tham khảo chuẩn trước đây về thời kỳ đầu của sản xuất lương thực.
Một khi đã nhận ra và xác định niên đại các di tích cổ của
cây trồng và vật nuôi, làm sao ta biết cây hay con vật đó đã thực sự được thuần
hóa ở một nơi gần di chỉ đó chứ không phải được thuần hóa ở nơi khác rồi mang đến
di chỉ đó? Có một phương pháp là kiểm tra bản đồ phân bố địa lý các cây dại và
thú hoang vốn là tổ tiên của cây trồng hay vật nuôi đó và lập luận rằng việc
thuần hóa ắt phải diễn ra ở nơi các loài tổ tiên hoang dã đó từng sống. Chẳng hạn,
đậu chickpea được trồng rộng rãi bởi các nhà nông truyền thống ở vùng Địa Trung
Hải và Ethiopia phía đông Ấn Độ – ngày nay Ấn Độ vẫn chiếm 80% sản lượng
chickpea trên thế giới. Thế nên người ta có thể nhầm tưởng rằng chickpea đã được
thuần hóa ở Ấn Độ. Nhưng hóa ra loài cây dại tổ tiên của chickpea lại chỉ mọc ở
miền đông nam Thổ Nhĩ Kỳ. Lập luận rằng chickpea đã được thuần hóa ở đó được hậu
thuẫn bởi sự kiện là, di tích xưa nhất cho thấy chickpea có lẽ được thuần hóa tại
các di chỉ khảo cổ thời Đồ đá đều nằm ở miền đông nam Thổ Nhĩ Kỳ và vùng lân cận
phía bắc Syria cách đây khoảng 8.000 năm TCN; mãi hơn 5.000 năm sau thì bằng chứng
khảo cổ về chickpea mới xuất hiện trên tiểu lục địa Ấn Độ.
Một phương pháp thứ hai để xác định địa điểm thuần hóa cây trồng
hay vật nuôi là điền lên bản đồ niên đại khi mỗi loài thuần hóa xuất hiện lần đầu
tiên tại từng địa điểm. Vị trí nơi loài đó xuất hiện sớm nhất có thể là nơi
loài đó được thuần hóa đầu tiên, nhất là nếu loài hoang dã tổ tiên của nó cũng
sinh sống ở đó, và nếu niên đại xuất hiện đầu tiên tại các địa điểm khác đều muộn
dần về sau, với khoảng cách ngày càng xa dần khỏi vị trí được cho là nơi thuần
hóa đầu tiên, gợi ý rằng loài này đã được truyền bá dần sang các vùng đó. Chẳng
hạn, lúa mì emmer được trồng sớm nhất ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu vào khoảng
8.500 năm TCN. Chẳng bao lâu sau, loài cây này tiến dần về phía tây, đến Hy Lạp
vào khoảng 6.500 năm TCN và Đức vào khoảng 5.000 năm TCN. Các niên đại này gợi
ý rằng lúa mì emmer đã được thuần hóa đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, kết
luận này được hậu thuẫn bởi thực tế là loài cây hoang tổ tiên của lúa mì emmer
chỉ giới hạn trong khu vực từ Israel đến miền tây Iran và Thổ Nhĩ Kỳ.
Tuy nhiên, như ta sẽ thấy, trong nhiều trường hợp sẽ có nhiều
phức tạp nảy sinh, khi cùng một loại cây hay con vật đó được thuần hóa một cách
độc lập ở nhiều khu vực khác nhau. Các trường hợp này thường có thể phát hiện
khi phân tích những khác biệt về hình thái, di truyền hoặc nhiễm sắc thể nảy
sinh từ đó giữa các mẫu của cùng một loài cây trồng hay vật nuôi ở nhiều khu vực
khác nhau. Chẳng hạn, nòi bò u Ấn Độ có những chiếc bướu không có ở các loài
gia súc ở tây Âu-Á, và phân tích di truyền cho thấy tổ tiên các loài bò Ấn Độ
và tây Âu-Á ngày nay đã tách khỏi nhau từ hàng trăm ngàn năm trước, rất lâu trước
khi có bất cứ loài nào được thuần hóa ở bất cứ đâu. Nghĩa là, loài bò đã được
thuần hóa một cách độc lập ở Ấn Độ và ở tây Âu-Á trong vòng 10.000 năm trở lại
đây, bắt đầu từ những phân loài bò hoang Ấn Độ và tây Âu-Á vốn đã tách khỏi
nhau từ hàng trăm ngàn năm trước.
Giờ ta hãy trở lại những câu hỏi trước đây về sự phát sinh nền
sản xuất lương thực. Ở đâu, khi nào và bằng cách nào sản xuất lương thực đã
phát triển ở nhiều vùng khác nhau của trái đất?
Ở một thái cực là những khu vực nơi sản xuất lương thực phát
sinh cùng một lúc và độc lập với nhau, với sự thuần hóa nhiều loại cây bản địa
(ở một số trường hợp là thú hoang) trước khi du nhập bất cứ loài cây hay con
nào từ nơi khác. Chỉ có năm khu vực như vậy, nơi mà ngày nay ta có bằng chứng
chi tiết và đáng tin cậy: Tây Nam Á, còn được gọi là Cận Đông hay Lưỡi liềm Phì
nhiêu; Trung Hoa; vùng Trung Mỹ (thuật ngữ này dùng để gọi miền trung và nam
Mexico cũng như các vùng lân cận của Trung Mỹ); vùng Andes ở Nam Mỹ, có thể cả
vùng lòng chảo Amazon; và miền đông Hoa Kỳ (Hình 5.1). Thật ra, một số hay tất
cả các trung tâm này có thể bao gồm một số trung tâm kế cận nhau nơi mà sản xuất
lương thực đã phát sinh ít nhiều độc lập với nhau, như vùng thung lũng Hoàng Hà
của Bắc Trung Hoa và thung lũng Dương Tử của Nam Trung Hoa.
Hình 5.1: Các trung tâm phát nguyên sản xuất lương thực
Dấu chấm hỏi biểu thị rằng người ta vẫn chưa rõ liệu sự phát
sinh nền sản xuất lương thực ở trung tâm đó có thật là do chịu ảnh hưởng sự
bành trướng sản xuất lương thực từ những trung tâm khác, hoặc (trong trường hợp
New Guinea) những cây trồng sớm nhất ở khu vực đó là gì. (Các địa danh, theo
chiều kim đồng hồ, lần lượt Tân Thế giới rồi đến Cựu Thế giới)
Ngoài năm khu vực này – nơi sản xuất lương thực chắc chắn đã
phát sinh từ đầu – còn có bốn khu vực khác: vùng Sahel của châu Phi, Tây Phi
xích đạo, Ethiopia và New Guinea cũng là ứng viên cho cái vinh dự này. Tuy
nhiên, trong mỗi trường hợp đều có đôi điều chưa chắc chắn. Mặc dù các loài cây
dại bản địa rõ ràng là đã được thuần hóa ở vùng Sahel của châu Phi nằm ngay
phía nam sa mạc Sahara, nhưng chăn nuôi gia súc có thể đã phát sinh sớm hơn trồng
trọt ở vùng này, và người ta cũng chưa chắc liệu đó là những loài gia súc được
thuần hóa một cách độc lập ở Sahel hay là gia súc có nguồn gốc từ vùng Lưỡi liềm
Phì nhiêu và sau khi được du nhập vào Sahel chúng đã tạo cú hích để người ta tiến
hành thuần hóa cây dại. Cũng tồn nghi như vậy là việc liệu có phải các cây trồng
Sahel này sau đó đã kích thích việc thuần hóa các loài cây dại bản địa ở Tây
Phi nhiệt đới (việc này thì chúng ta biết chắc) và liệu có phải việc du nhập
các loài cây trồng Tây Nam Á là tác nhân kích thích việc thuần hóa các loài cây
dại bản địa ở Ethiopia hay không. Còn về phần New Guinea, các nghiên cứu khảo cổ
đã cho bằng chứng về việc nghề nông đã xuất hiện sớm hơn sản xuất lương thực ở
bất cứ khu vực nào khác lân cận, nhưng các loại cây trồng ở đó thì chưa được nhận
diện một cách xác quyết.
Bảng 5.1 tóm lược – cho các khu vực thuần hóa cục bộ này cũng
như các khu vực khác – một số loài cây trồng và vật nuôi nổi tiếng nhất cũng
như niên đại thuần hóa sớm nhất được biết. Trong chín khu vực [được chọn làm] ứng
viên cho [danh hiệu] trung tâm phát nguyên sản xuất lương thực độc lập, Tây Nam
Á có niên đại xác định muộn nhất về cả thuần hóa cây trồng (khoảng 8.500 năm
TCN) lẫn thuần hóa vật nuôi (khoảng 8.000 năm TCN); nó cũng là nơi có số niên đại
cácbon phóng xạ chính xác về sản xuất lương thực thời kỳ đầu nhiều hơn gấp bội
so với các khu vực khác. Các niên đại của Trung Hoa cũng sớm gần như vậy, trong
khi niên đại ở miền đông Hoa Kỳ thì rõ ràng muộn hơn khoảng 6.000 năm. Đối với
sáu khu vực ứng viên khác, các niên đại được xác định sớm nhất không thể bì với
các niên đại của Tây Nam Á, nhưng ở sáu vùng đó có quá ít di chỉ sớm đã được
xác định niên đại chính xác nên ta cũng chưa thể biết chắc chúng có thật sự muộn
hơn so với Tây Nam Á hay không, nếu có thì muộn bao lâu.
Nhóm khu vực kế tiếp bao gồm các khu vực đã có thuần hóa một
số loài cây và thú bản địa nhưng sản xuất lương thực ở đó chủ yếu vẫn dựa vào
các loài cây và thú đã được thuần hóa ở nơi khác. Các loài thuần hóa được du nhập
này có thể coi là các loài cây trồng và vật nuôi “sáng lập” bởi chúng đóng vai
trò sáng lập ra nền sản xuất lương thực tại khu vực. Việc du nhập các loài thuần
hóa “sáng lập” cho phép dân địa phương chuyển sang sống định cư, nhờ đó nâng
cao khả năng xuất hiện những loài cây trồng địa phương từ các loài cây dại mà
người ta hái lượm mang về nhà trồng một cách ngẫu nhiên song về sau thì trồng một
cách có chủ ý.
Bảng 5.1. Ví dụ về các loài đã được thuần hóa ở từng khu vực
Ở ba hoặc bốn khu vực như vậy, các loài cây và vật nuôi sáng
lập được du nhập từ Tây Nam Á. Một trong các khu vực đó là Tây và Trung Âu, nơi
sản xuất lương thực phát sinh cùng với sự du nhập các cây trồng và vật nuôi từ
Tây Nam Á vào khoảng 6.000 đến 3.500 năm TCN, nhưng ít nhất có một cây (cây anh
túc, có thể cả yến mạch và vài cây khác) đã được thuần hóa ở đó một cách độc lập.
Cây anh túc hoang chỉ giới hạn ở các vùng ven biển phía tây Địa Trung Hải. Hạt
anh túc không có mặt tại các di chỉ khảo cổ của các cộng đồng làm nông sớm nhất
ở Đông Âu và Tây Nam Á; chúng xuất hiện đầu tiên ở các di chỉ làm nông sớm ở
Tây Âu. Ngược lại, dường như rõ một điều rằng sản xuất lương thực đã không tiến
hóa một cách độc lập ở Tây Âu, mà chỉ được kích thích sau khi người ta du nhập
các loài đã thuần hóa từ Tây Nam Á. Các xã hội làm nông ở Tây Âu nảy sinh từ đó
đã tiến hành thuần hóa cây anh túc mà về sau được truyền bá về phía đông như một
loại cây trồng.
Một khu vực khác nơi việc thuần hóa cục bộ dường như chỉ xuất
hiện sau khi du nhập các loài cây trồng sáng lập từ Tây Nam Á là vùng thung
lũng Ấn hà của tiểu lục địa Ấn Độ. Các cộng đồng làm nông sớm nhất ở vùng này
vào thiên niên kỷ thứ bảy trước công nguyên đã dùng lúa mì, lúa mạch và những
loài cây trồng khác vốn đã được thuần hóa trước đó ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu
và rõ ràng đã được truyền bá sang thung lũng Ấn hà qua ngả Iran. Chỉ về sau các
loài cây thuần hóa có nguồn gốc từ các loài bản địa của tiểu lục địa Ấn Độ như
bò bướu và cây vừng mới xuất hiện ở các cộng đồng làm nông ở thung lũng Ấn hà. Ở
Ai Cập cũng vậy, sản xuất lương thực khởi phát vào thiên niên kỷ thứ sáu TCN với
sự du nhập các loài cây trồng Tây Nam Á. Người Ai Cập sau đó tiến hành thuần
hóa quả sung và một loài rau địa phương gọi là chufa.
Mô hình như vậy có lẽ cũng đúng với Ethiopia, nơi lúa mì, lúa
mạch và các loài cây trồng Tây Nam Á khác đã được trồng trong một thời gian
dài. Người Ethiopia cũng đã thuần hóa nhiều loài hoang dã ở địa phương để có được
các loài cây trồng mà hầu hết đến nay vẫn chỉ bó hẹp trong phạm vi Ethiopia,
nhưng một trong số đó (hạt cà phê) thì đã được truyền bá ra khắp thế giới. Tuy
nhiên, người ta vẫn chưa rõ liệu người Ethiopia đã trồng các loài cây địa
phương đó từ trước hay chỉ sau khi du nhập các loài cây trồng của Tây Nam Á.
Ở các khu vực này và những khu vực khác nơi sản xuất lương thực
tùy thuộc vào việc du nhập các loài cây trồng sáng lập từ nơi khác, liệu có phải
những người săn bắt hái lượm địa phương đã tự mình tiếp thu các loài cây trồng
sáng lập này từ các dân tộc làm nông láng giềng và từ đó tự chuyển sang làm
nông? Hay các cây trồng sáng lập này đã được du nhập cùng với các dân tộc làm
nông đến xâm chiếm đất rồi giao phối với những người săn bắt hái lượm bản địa
và giết chết, thay thế hoặc áp đảo họ về số lượng?
Ở Ai Cập, dường như khả năng thứ nhất đã diễn ra: những người
săn bắt hái lượm bản địa chỉ việc bổ sung các loại cây trồng và vật nuôi cũng
như kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi Tây Nam Á vào thực đơn các cây dại và thú
hoang của mình, sau đó dần dần giảm bớt tỷ trọng lương thực hoang dã. Nghĩa là,
nhân tố kích thích cho sản xuất lương thực ra đời là các loại cây trồng và vật
nuôi từ xa đến chứ không phải những dân tộc từ xa đến. Ở vùng bờ biển Đại Tây
Dương của châu Âu có lẽ cũng vậy, ở đó những người săn bắt hái lượm bản địa hẳn
đã tiếp thu cừu và ngũ cốc từ Tây Nam Á trong vòng nhiều thế kỷ. Ở vùng Cape của
Nam Phi, những người săn bắt hái lượm Khoi bản địa đã trở thành người chăn nuôi
(nhưng không thành nhà nông) bằng cách tiếp thu cừu và bò từ mãi Bắc Phi (nếu
xét đến cùng thì từ Tây Nam Á). Tương tự, những người săn bắt hái lượm bản địa ở
vùng tây nam Hoa Kỳ đã dần dần chuyển sang làm nông bằng cách tiếp thu các cây
trồng của Mexico. Ở bốn khu vực này, sự khởi phát sản xuất lương thực không (hoặc
ít) cho ta bằng chứng về việc thuần hóa các loài cây và thú bản địa, nhưng cũng
không (hoặc ít) cho ta bằng chứng về việc dân tộc này thay thế dân tộc khác.
Ở cực đối lập là các khu vực mà ở đó sản xuất lương thực chắc
chắn đã khởi đầu với sự xuất hiện đột ngột của những dân tộc từ xa tới mang
theo các loại cây trồng và vật nuôi lạ. Lý do tại sao ta có thể biết chắc về việc
này là bởi những sự kiện này đều xảy ra trong thời hiện đại và người trong cuộc
là dân châu Âu, những kẻ đã ghi lại trong vô số cuốn sách về những gì đã diễn
ra. Các khu vực này gồm California, vùng Tây Bắc ven Thái Bình Dương của Bắc Mỹ,
đồng bằng pampas ở Argentina, Australia và Siberia. Cho tới những thế kỷ gần
đây, các khu vực này vẫn chỉ gồm những người săn bắt hái lượm sinh sống – ở ba
trường hợp đầu là người châu Mỹ bản địa, ở hai trường hợp sau là người châu Úc
bản địa và người Siberia bản địa. Những người săn bắt hái lượm này bị giết chết,
nhiễm bệnh, xua đuổi đi nơi khác, hoặc bị thay thế một phần lớn bởi những người
trồng trọt và chăn nuôi châu Âu từ xa đến mang theo những loài của riêng mình,
những người này không tiến hành thuần hóa loài hoang dã bản địa nào sau khi họ
đến (ngoại trừ hạt macadamia ở Australia). Ở vùng Cape của Nam Phi, những người
từ châu Âu đến đã gặp không chỉ những người săn bắt hái lượm Khoi mà cả những
người Khoi chăn nuôi đang sở hữu một số loài gia súc nhưng không có loài cây trồng
nào. Hệ quả là, một lần nữa, nghề nông lại khởi phát dựa trên những loài cây trồng
từ nơi khác đến, không có sự thuần hóa các loài bản địa, và có sự thay thế dân
tộc này bằng dân tộc khác trên quy mô lớn ngay ở thời hiện đại.
Cuối cùng, cũng một mô hình đó – sản xuất lương thực khởi đầu
một cách đột ngột dựa trên những loài thuần hóa từ nơi khác đến, và có sự thay
thế đột ngột quần thể dân cư này bằng quần thể dân cư khác trên quy mô lớn – dường
như đã tự lặp lại ở nhiều khu vực trong thời tiền sử. Do thiếu tư liệu thành
văn, ta phải tìm bằng chứng cho những cuộc thay thế dân cư thời tiền sử đó
trong các báo cáo khảo cổ hoặc suy ra từ bằng chứng ngôn ngữ học. Những trường
hợp được chứng minh rõ nhất là trường hợp khi chúng ta không còn nghi vấn gì rằng
đã có việc những người sản xuất lương thực từ nơi khác mới đến chiếm chỗ của
dân cư bản địa, những người này có bộ xương khác biệt thấy rõ so với những người
săn bắt hái lượm bản địa đã bị họ chiếm chỗ, và những người sản xuất lương thực
này mang đến không chỉ cây trồng và vật nuôi mà cả đồ gốm. Các chương sau sẽ mô
tả hai ví dụ rõ rệt nhất như vậy: sự bành trướng của người Austronesia từ Nam
Trung Hoa đến Philippines và Indonesia (Chương 17), và sự bành trướng của người
Bantu ra khắp châu Phi hạ xích đạo (Chương 19).
Đông Nam Âu và Trung Âu là một bức tranh tương tự về sự khởi
phát đột ngột của sản xuất lương thực (dựa trên các cây trồng và vật nuôi Tây
Nam Á) và nghề gốm. Sự đột khởi này có lẽ cũng bao gồm sự thay thế những người
Hy Lạp cổ và Đức cổ bằng người Hy Lạp mới và Đức mới, cũng như cái cũ đã nhường
chỗ cho cái mới ở Philippines, Indonesia và châu Phi hạ xích đạo. Tuy nhiên, sự
khác biệt về xương giữa những người săn bắt hái lượm ban đầu và những người làm
nông thay thế họ ở châu Âu thì ít nổi bật hơn là ở Philippines, Indonesia và
châu Phi hạ xích đạo. Vì lẽ đó mà riêng với châu Âu khả năng dân tộc này đã
thay thế dân tộc khác là ít hơn và kém trực tiếp hơn.
Nói ngắn gọn, chỉ một ít khu vực trên thế giới đã phát triển
nền sản xuất lương thực một cách độc lập, và ở những thời điểm rất khác nhau. Từ
những khu vực hạt nhân này, những người săn bắt hái lượm ở một số khu vực lân cận
đã học được cách sản xuất lương thực, trong khi các dân tộc ở những vùng lân cận
khác nữa thì bị những người sản xuất lương thực từ các khu vực hạt nhân này xâm
chiếm và thay thế – việc này cũng xảy ra ở những thời điểm rất khác nhau. Cuối
cùng, các dân tộc ở một số khu vực mà về sinh thái vốn dĩ thích hợp cho sản xuất
lương thực lại hoàn toàn không tự mình phát triển nghề nông cũng chẳng tiếp thu
nghề nông vào thời tiền sử; họ vẫn cứ là những người săn bắt hái lượm cho đến
khi cuối cùng thế giới hiện đại quét sạch họ. Vì vậy, các dân tộc ở những khu vực
có lợi thế ban đầu về sản xuất lương thực cũng đã có được lợi thế ban đầu trên
con đường dẫn đến súng, vi trùng và thép. Hệ quả là một chuỗi dài những xung đột
giữa những kẻ-có và những kẻ-không-có trong lịch sử.
Giải thích như thế nào những khác biệt theo địa lý như trên về
thời điểm và mô hình khởi phát nền sản xuất lương thực? Câu hỏi đó, một trong
những vấn đề quan trọng nhất của thời tiền sử, sẽ là chủ đề của năm chương tiếp
theo đây.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thực
Chương 6 - Làm nông hay không làm nông
Trước kia, mọi dân tộc trên trái đất đều sống bằng săn bắt
hái lượm. Vậy thì bởi lý do gì một số dân tộc đã chuyển sang sản xuất lương thực?
Cứ cho là họ có ắt phải vài lý do để làm như vậy, song tại sao họ lại làm vậy
vào khoảng 8.500 năm TCN ở các môi trường ven Địa Trung Hải của vùng Lưỡi liềm
Phì nhiêu, chỉ 3.000 năm sau đó mới làm vậy ở các môi trường tương tự về khí hậu
và cấu trúc ở tây nam châu Âu, và chẳng bao giờ làm vậy ở các môi trường tương
tự như môi trường Địa Trung Hải ở California, tây nam Australia và vùng Cape ở
Nam Phi mà phải đợi tới khi du nhập sản xuất lương thực từ nơi khác? Và thậm
chí tại sao dân vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu phải đợi mãi tới 8.500 năm TCN mới
chuyển sang sản xuất lương thực chứ không làm vậy vào khoảng 18.500 hay 28.500
năm TCN?
Từ điểm nhìn hiện đại của chúng ta, tất cả các câu hỏi đó thoạt
nghe có vẻ xuẩn ngốc, bởi những nhược điểm của lối sống săn bắt hái lượm hình
như là quá hiển nhiên. Các nhà khoa học thường dẫn một cụm từ của Thomas Hobbes
để mô tả lối sống săn bắt hái lượm là “bẩn thỉu, tàn bạo và ngắn ngủi”. Những
người săn bắt hái lượm dường như luôn phải làm quần quật, luôn bị quay cuồng bởi
nhu cầu cái ăn hằng ngày, thường xuyên bữa đói bữa no, không có những tiện nghi
vật chất sơ đẳng như giường êm, quần áo ấm và thường chết yểu.
Trên thực tế, chỉ đối với những công dân no đủ của Thế giới
Thứ nhất ngày nay, những người không phải tự nuôi trồng lương thực cho mình,
thì sản xuất lương thực (nhờ kỹ thuật canh tác từ xa) mới có nghĩa là ít phải
làm việc tay chân hơn, tiện nghi hơn, không phải lo ăn từng bữa và sống lâu
hơn. Còn thì hầu hết các nhà nông và người chăn nuôi hiện đại, vốn chiếm đại đa
số những người sản xuất lương thực trên thế giới, vị tất đã có nhiều lợi thế
hơn so với những người săn bắt hái lượm. Các nghiên cứu về quỹ thời gian cho thấy,
có khi nhà nông và người chăn nuôi phải dành nhiều thời gian hơn trong ngày để
làm việc chứ không phải ít hơn so với người săn bắt hái lượm. Các nhà khảo cổ
đã chứng minh rằng các nhà nông đầu tiên ở nhiều khu vực vốn dĩ nhỏ con hơn và
thiếu ăn hơn, mắc nhiều bệnh nặng hơn và thường chết yểu hơn so với những người
săn bắt hái lượm mà họ đã giành chỗ. Giá như những người làm nông đầu tiên ấy
có thể tiên đoán các hậu quả của việc chuyển sang sản xuất lương thực thì có
khi họ đã chẳng chuyển sang làm gì cho khổ. Thế thì tại sao, dù không thể lường
trước kết quả, họ vẫn chọn làm như vậy?
Trên thực tế, có nhiều trường hợp những người săn bắt hái lượm,
tuy đã nhìn thấy các dân tộc láng giềng chuyển sang sản xuất lương thực, vẫn từ
chối nhận những phúc lợi được cho là sẽ có được nhờ nó và vẫn cứ làm dân săn bắt
hái lượm. Chẳng hạn, những người săn bắt hái lượm bản địa ở đông bắc Australia
từng buôn bán suốt hàng ngàn năm với các nông dân ở các đảo Eo biển Torres, giữa
Australia và New Guinea. Những người săn bắt hái lượm châu Mỹ bản địa từng trao
đổi với các nông dân châu Mỹ bản địa ở thung lũng sông Colorado. Ngoài ra, những
người chăn nuôi Khoi ở phía tây Sông Cá (Fish River) ở Nam Mỹ vẫn trao đổi với
những nông dân Bantu ở phía đông Sông Cá, nhưng bản thân họ vẫn không cần tự
chuyển sang làm nông. Tại sao?
Lại có những người săn bắt hái lượm khác nữa do giao tiếp với
những người làm nông mà rốt cuộc cũng chuyển sang làm nông, nhưng chỉ sau một
khoảng thời gian lần lữa mà đối với chúng ta là kéo dài một cách bất thường. Chẳng
hạn, mãi sau 1.300 năm kể từ khi các dân tộc thuộc văn hóa Linearbandkeramik
truyền bá sản xuất lương thực đến các miền nội địa Đức chỉ cách đó 125 dặm (khoảng
200 km) về phía nam thì các dân tộc miền duyên hải bắc Đức mới chịu chuyển sang
sản xuất lương thực. Tại sao các dân Đức miền duyên hải đó phải đợi lâu đến vậy,
và điều gì đã khiến họ rốt cuộc cũng đổi ý?
Trước khi trả lời những câu hỏi đó, ta phải loại trừ vài quan
niệm sai lầm về nguồn gốc của sản xuất lương thực, sau đó mới đặt lại câu hỏi.
Trên thực tế, không phải người ta khám phá ra sản xuất lương thực, cũng chẳng
phải người ta phát minh ra sản xuất lương thực như có thể ban đầu ta nghĩ. Thậm
chí người ta thường không lựa chọn một cách có ý thức giữa sản xuất lương thực
với săn bắt hái lượm. Đặc biệt, ở từng khu vực trên thế giới, những người đầu
tiên chuyển sang sản xuất lương thực rõ ràng là đã không làm việc đó như một lựa
chọn có ý thức hoặc cố gắng vươn tới việc trồng trọt như một mục đích có ý thức,
bởi họ đã thấy ai làm nông nghiệp bao giờ đâu, nên làm sao họ biết làm nông
nghiệp nghĩa là thế nào. Thay vì thế, như ta sẽ thấy, sản xuất lương thực đã tiến
hóa như một sản phẩm phụ của những quyết định người ta đưa ra mà không biết đến
hậu quả. Vì vậy, câu hỏi mà ta phải đặt ra là, tại sao sản xuất lương thực đã
tiến hóa, tại sao nó tiến hóa ở một số vùng này chứ không ở những vùng khác, tại
sao nó tiến hóa ở mỗi nơi một lúc khác nhau, và tại sao nó đã không tiến hóa
vào một thời điểm muộn hơn hoặc sớm hơn.
Một cách hiểu sai lầm khác là nhất thiết phải có một sự khác
biệt rạch ròi giữa những người săn bắt hái lượm du cư và những người sản xuất
lương thực định cư. Trên thực tế, mặc dù ta thường suy ra một sự tương phản như
vậy, song những người săn bắt hái lượm ở một số vùng năng sản, trong đó có bờ
biển tây bắc Thái Bình Dương của Bắc Mỹ và có thể cả vùng đông nam Australia,
đã chuyển sang định cư nhưng đã chẳng bao giờ trở thành dân sản xuất lương thực.
Những người săn bắt hái lượm khác, ở Palestine, miền duyên hải Peru và Nhật Bản,
chuyển sang định cư trước rồi mãi rất lâu sau đó mới tiếp thu sản xuất lương thực.
Cách đây 15.000 năm các nhóm định cư có thể đã chiếm tỷ lệ lớn hơn nhiều trong
số những người săn bắt hái lượm – khi tất cả các khu vực có thể sinh sống trên
thế giới (bao gồm hầu hết các vùng năng sản nhất) đều là nơi do những người săn
bắt hái lượm sinh sống, so với ngày nay khi vài nhóm săn bắt hái lượm ít ỏi còn
lại chỉ sống ở những vùng không năng sản nơi lối sống du cư là lựa chọn duy nhất.
Ngược lại, có nhiều nhóm sản xuất lương thực nhưng lại du cư.
Một số dân du canh hiện đại ở vùng Đồng bằng hồ (Lakes Plains) của New Zealand
thường phát quang trong rừng rậm, trồng chuối và đu đủ, sau đó đi chỗ khác
trong vài tháng để lại sống bằng săn bắt hái lượm, sau đó quay về kiểm tra xem
mùa màng thế nào, nếu thấy cây mình trồng đang mọc thì làm cỏ khu vườn, lại ra
đi săn mồi, vài tháng sau lại quay về kiểm tra, định cư một thời gian để thu hoạch
rồi ăn chỗ lương thực đó nếu vườn của họ có cho hoa lợi. Người Anh-điêng Apache
ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ vào mùa hè định cư ở các vùng cao về phía bắc, đến mùa
đông thì chuyển về phía nam và đến các vùng thấp hơn để lang thang tìm thức ăn
hoang dã. Nhiều dân tộc chăn nuôi ở châu Phi và châu Á chuyển chỗ ở dọc những
con đường quen thuộc theo mùa, tận dụng những thay đổi thời tiết có thể tiên
đoán được để cho gia súc ăn cỏ. Như vậy, việc chuyển từ săn bắt hái lượm sang sản
xuất lương thực không phải bao giờ cũng trùng hợp với chuyển từ sống du cư sang
sống định cư.
Lại nữa, người ta thường cho rằng có một sự khác biệt rạch
ròi giữa những người sản xuất lương thực vốn được cho là tích cực khai thác mảnh
đất của mình với những người săn bắt hái lượm vốn được cho là chỉ đơn thuần thu
nhặt những gì mà cây hoang dại sinh ra. Thật ra, cái ranh giới này thường bị
xóa nhòa. Trên thực tế, một số dân tộc săn bắt hái lượm vẫn xử lý đất đai của
mình một cách tích cực. Chẳng hạn, các dân tộc New Guinea chưa bao giờ tự mình
thuần hóa cây cọ sago hay dứa dại nhưng vẫn nâng cao được năng suất các loại
cây dại ăn được này bằng cách chặt bỏ các loại cây cạnh tranh xung quanh, giữ sạch
kênh mương trong các đồng lầy có cây sago mọc, và kích thích sức tăng trưởng của
các chồi sago mới bằng cách chặt bớt các cây sago trưởng thành. Người châu Úc bản
địa vốn chưa bao giờ đạt đến trình độ trồng cây khoai lang và các cây có hạt
nhưng cũng đã biết và thực hiện một số yếu tố của nghề nông. Họ xử lý đất bằng
cách đốt, nhằm khuyến khích các cây có mầm ăn được đâm chồi sau đám cháy. Khi
thu hoạch khoai lang dại, họ cắt lấy hầu hết phần thân củ ăn được song cũng cắt
bỏ cuống và ngọn trong đất để thân củ có thể mọc lại. Nhờ họ xới đất để lấy củ
mà đất tơi ra, thông khí, tạo điều kiện cho mầm mọc lại. Họ chỉ cần làm thêm mỗi
việc mang cuống cùng với phần thân củ còn lại về nhà và cắt theo cách tương tự
trong đất ở vườn nhà mình là hoàn toàn trùng khớp với định nghĩa về nhà nông.
Từ những nét sơ khai của sản xuất lương thực mà những người
săn bắt hái lượm đã tiến hành, sản xuất lương thực đã phát triển dần từng bước.
Không phải tất cả các kỹ thuật cần thiết đều được phát triển trong một thời
gian ngắn, cũng không phải mọi cây dại và thú hoang mà cuối cùng được thuần hóa
ở một vùng nào đó đều đã được thuần hóa cùng một lúc. Ngay cả trường hợp sản xuất
lương thực đã phát triển độc lập từ lối sống săn bắt hái lượm một cách nhanh
chóng nhất thì cũng phải mất hàng ngàn năm người ta mới từ chỗ hoàn toàn lệ thuộc
vào lương thực hoang dã chuyển sang chế độ ăn uống có rất ít lương thực hoang
dã. Ở các giai đoạn sớm của sản xuất lương thực, người ta cùng một lúc vừa thu
thập lương thực hoang vừa canh tác cây trồng, và tùy từng thời điểm, những loại
hình hái lượm khác nhau ngày càng mất phần quan trọng khi người ta ngày càng lệ
thuộc vào cây trồng.
Lý do sâu xa vì sao sự chuyển tiếp này lại diễn ra từng bước
nhỏ giọt là bởi các hệ thống sản xuất lương thực đã tiến hóa như hệ quả của sự
tích lũy dần nhiều quyết định khác nhau về việc phân bổ thời gian và công sức.
Con người, cũng như con vật, khi tìm kiếm thức ăn, chỉ có một lượng thời gian
và sức lực có hạn mà họ có thể sử dụng theo nhiều cách. Ta có thể hình dung một
nhà nông vào thuở phôi thai buổi sáng thức dậy tự hỏi: Hôm nay mình sẽ làm gì
đây: cuốc vườn (có thể đoán trước là sẽ cho nhiều rau củ nhưng phải đợi vài
tháng nữa), bắt sò (có thể cho một bữa ăn kha khá trong hôm nay) hay đi săn
hươu (có thể cho nhiều thịt ngày hôm nay nhưng cũng có thể chẳng được gì, mà khả
năng không có gì lại nhiều hơn)? Khi tìm kiếm thức ăn, cả người lẫn thú – dù chỉ
một cách vô thức – đều thường xuyên sắp xếp những việc có thể làm theo thứ tự
ưu tiên làm việc gì ít mất sức hơn và dựa vào đó mà quyết định sẽ làm gì. Trước
hết họ tập trung vào những loại thức ăn mình thích nhất hoặc những loại thức ăn
mà việc tìm kiếm ít mất sức hơn nhưng hiệu quả cao hơn. Chỉ khi nào không có những
thứ đó, họ mới chuyển sang những thức ăn khác mà mình ít thích hơn.
Khi ra những quyết định đó, người ta phải cân nhắc nhiều thứ.
Người ta tìm thức ăn để thỏa mãn cơn đói và làm đầy bụng. Họ cũng cần những loại
thức ăn cụ thể như thức ăn giàu protein, chất béo, muối, quả ngọt và những thức
ăn đơn giản là ngon. Nếu mọi thứ khác đều tương đương như nhau, người ta sẽ tìm
cách gia tăng đến mức tối đa lượng calori, protein hay những loại thức ăn cụ thể
bằng cách tìm kiếm sao cho có được số lượng lớn nhất, một cách chắc ăn nhất mà
lại ít tốn thời gian và công sức nhất. Cũng vậy, họ tìm cách nào bảo đảm cho khả
năng bị đói là nhỏ nhất: lượng thức ăn vừa phải nhưng ổn định thì vẫn hơn là một
lối sống bấp bênh, có thể kiếm được thức ăn nhiều và nhanh nhưng cũng có nhiều
khả năng chết đói. Người ta có giả định rằng chức năng của những khu vườn đầu
tiên cách đây 11.000 năm là cung cấp nguồn thức ăn dự trữ đáng tin cậy phòng
khi không tìm được nguồn lương thực hoang dã.
Ngược lại, các thợ săn nam giới có xu hướng quyết định mình sẽ
làm gì xuất phát từ những suy tính về vấn đề uy tín: chẳng hạn, họ thích ngày
nào cũng đi săn hươu cao cổ, mỗi tháng hạ được một con hươu cao cổ đem về và do
đó được kể vào hàng thợ săn cự phách, chứ không ưng mỗi tháng mang về nhà lượng
lương thực gấp đôi trọng lượng một con hươu cao cổ bằng cách hạ mình ngày ngày
đi thu hạt. Người ta cũng được dẫn dắt bởi những sở thích văn hóa dường như có
tính võ đoán, chẳng hạn có dân tộc xem cá là món cao lương mỹ vị trong khi dân
tộc khác coi cá là đồ cấm kỵ. Cuối cùng, việc ưu tiên chọn cách nào còn bị ảnh
hưởng nặng nề bởi những giá trị tương đối mà người ta gán cho những lối sống
khác nhau – như ta vẫn thấy ngày nay. Chẳng hạn, ở miền Tây Hoa Kỳ vào thế kỷ
XIX, những người chăn bò, chăn cừu và nông dân thảy đều khinh miệt lẫn nhau.
Tương tự, trong suốt lịch sử loài người, người làm nông có xu hướng khinh miệt
người săn bắt hái lượm, coi họ là man di, trong khi người săn bắt hái lượm
khinh miệt người làm nông, coi họ là dốt nát, còn người chăn nuôi thì khinh miệt
cả hai. Cả ba nhân tố này đều góp phần ảnh hưởng đến quyết định của con người
trong việc làm cách nào để có cái ăn.
Như ta đã nhận thấy, những nhà nông đầu tiên trên mỗi lục địa
đã không lựa chọn làm nông nghiệp một cách hữu thức, bởi không hề có nhà nông
nào khác ở ngay bên cạnh cho họ quan sát cả. Tuy nhiên, một khi sản xuất lương
thực đã phát sinh ở một phần của lục địa, những người săn bắt hái lượm lân cận
có thể nhìn thấy kết quả để rồi quyết định mình có chuyển sang sản xuất lương
thực hay không một cách hữu thức. Trong một số trường hợp, những người săn bắt
hái lượm tiếp thu hệ thống sản xuất lương thực từ dân tộc láng giềng một cách
“trọn gói”, trong vài trường hợp khác họ chỉ tiếp thu vài yếu tố của nó, trong
vài trường hợp khác nữa họ hoàn toàn khước từ sản xuất lương thực mà vẫn theo lối
sống săn bắt hái lượm.
Chẳng hạn, những người săn bắt hái lượm ở một số vùng Đông
Nam Âu đã nhanh chóng tiếp thu các cây ngũ cốc, cây cho đậu và gia súc của Tây
Nam Á một cách “trọn gói” vào khoảng 6.000 năm TCN. Cả ba nhân tố này cũng
nhanh chóng bành trướng qua Trung Âu vào các thế kỷ trước 5.000 năm TCN. Việc
tiếp thu sản xuất lương thực đã có thể diễn ra nhanh chóng và trọn gói ở Đông
Nam Âu và Trung Âu là bởi lối sống săn bắt hái lượm ở đó không cho năng suất
cao bằng nên không có tính cạnh tranh bằng. Ngược lại, sản xuất lương thực chỉ
được tiếp thu từng phần một ở Tây Nam Âu (miền Nam Pháp, Tây Ban Nha và Ý), ở
đó cừu được du nhập đầu tiên, sau đó đến ngũ cốc. Việc tiếp thu sản xuất lương
thực một cách triệt để từ nội địa châu Á cũng diễn ra rất chậm chạp và từng phần
ở Nhật Bản, có lẽ vì lối sống săn bắt hái lượm ở đó dựa trên hải sản và các cây
trồng địa phương vốn cho năng suất rất cao.
Cũng như lối sống săn bắt hái lượm có thể được đổi từng phần
để lấy lối sống sản xuất lương thực, một hệ thống sản xuất lương thực cũng có
thể được đổi từng phần để lấy lối sống săn bắt hái lượm. Chẳng hạn, vào khoảng
2.500 năm TCN người Anh-điêng ở miền đông Hoa Kỳ đã thuần hóa các loài cây bản
địa nhưng đã có trao đổi với những người Anh-điêng Mexico vốn đã phát triển một
hệ thống cây trồng có năng suất cao hơn dựa trên bộ ba gồm ngô, bí và đậu. Người
Anh-điêng miền đông Hoa Kỳ đã tiếp thu các cây trồng Mexico, nhiều người trong
số họ từ bỏ nhiều loại cây bản địa mà mình đã thuần hóa, một cách từng phần; bí
được thuần hóa độc lập, ngô được du nhập từ Mexico vào khoảng năm 200 nhưng vẫn
là một cây trồng thứ yếu mãi đến khoảng năm 900, còn đậu được du nhập sau đó chừng
một, hai thế kỷ. Thậm chí có trường hợp người ta từ bỏ các hệ thống sản xuất
lương thực để chọn lối sống săn bắt hái lượm. Chẳng hạn, vào khoảng 3.000 năm
TCN, những người săn bắt hái lượm ở miền Nam Thụy Điển đã tiếp thu nghề nông dựa
trên các cây trồng Tây Nam Á, nhưng đến khoảng 2.700 năm TCN lại từ bỏ để quay
về lối sống săn bắt hái lượm trong vòng 400 năm trước khi lại chuyển sang nghề
nông một lần nữa.
Những gì vừa xét trên đây cho thấy rõ, ta không nên giả định
rằng quyết định tiếp thu nghề nông là một quyết định xuất phát từ chỗ chẳng có
gì, làm như trước đó người ta chẳng có cách nào để tự nuôi mình cả. Thay vào
đó, ta phải xem sản xuất lương thực và săn bắt hái lượm là những sách lược thay
thế tranh đua với nhau. Những nền kinh tế hỗn hợp mà trong đó người ta bổ sung
một số cây trồng hay vật nuôi vào lối sống săn bắt hái lượm cũng cạnh tranh với
cả hai loại hình kinh tế “thuần túy” đó, cũng như với các nền kinh tế hỗn hợp
có tỷ trọng sản xuất lương thực cao hơn hoặc thấp hơn. Tuy nhiên, trong 10.000
năm qua, chiếm ưu thế vẫn là xu hướng chuyển từ săn bắt hái lượm sang sản xuất
lương thực. Từ đó ta phải đặt câu hỏi: Đâu là những nhân tố khiến cho ưu thế cạnh
tranh lệch khỏi săn bắt hái lượm mà nghiêng về sản xuất lương thực?
Câu hỏi đó vẫn đang tiếp tục được các nhà khảo cổ và nhân loại
học tranh luận. Một lý do khiến cho nó vẫn chưa có lời giải đáp, ấy là cũng có
thể ở mỗi vùng trên thế giới lại có những nhân tố khác nhau đóng vai trò quyết
định. Một lý do nữa là cái khó khi phải gỡ rối để xem đâu là nhân đâu là quả
trong việc phát sinh nền sản xuất lương thực. Tuy nhiên, ta vẫn có thể xác định
năm nhân tố chính góp phần vào việc này; mọi tranh cãi đều chủ yếu xoay quanh tầm
quan trọng tương đối của năm nhân tố đó.
Một nhân tố là sự suy giảm nguồn lương thực hoang dã. Lối sống
săn bắt hái lượm ngày càng trở nên kém hiệu quả hơn trong 13.000 năm qua bởi những
nguồn lương thực mà người săn bắt hái lượm dựa vào (đặc biệt là thú vật) ngày
càng ít hơn, thậm chí còn biến mất. Như ta đã thấy trong Chương 1, hầu hết các
loài hữu nhũ lớn đã tuyệt chủng ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ vào cuối Kỷ Pleitoxen, một số
loài cũng tuyệt chủng ở Âu-Á và châu Phi, hoặc vì khí hậu thay đổi hoặc vì số
người săn thú đông dần lên và kỹ năng săn thú của họ được nâng cao dần. Phải
chăng việc thú vật tuyệt chủng đã thúc đẩy người châu Mỹ bản địa, người Âu-Á và
người châu Phi – dù sau khi lần lữa rất lâu – rốt cuộc cũng chuyển sang sản xuất
lương thực, điều đó có thể còn cần tranh cãi, song có những trường hợp hoàn
toàn không thể tranh cãi gì thêm đã xảy ra trên các hòn đảo vào những thời gian
gần đây. Chỉ sau khi những người di cư Polynesia đầu tiên đã tiêu diệt hết loài
moa và giết gần hết hải cẩu ở New Zealand, lại cũng tiêu diệt hay giết gần hết
các loài chim biển và chim đất liền trên các hòn đảo Polynesia khác, họ mới bắt
đầu đẩy mạnh sản xuất lương thực. Chẳng hạn, mặc dù những người Polynesia đã di
cư sang Đảo Phục Sinh vào khoảng năm 500 có mang theo gà, nhưng mãi đến khi các
loài chim hoang dã và cá heo không còn sẵn để làm thức ăn nữa thì gà mới trở
thành thực phẩm chính. Cũng vậy, người ta cũng cho rằng một nhân tố góp phần
vào việc phát sinh sản xuất lương thực ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu là do sự suy
giảm số lượng linh dương hoang dã từng là nguồn cung cấp thịt chính cho những
người săn bắt hái lượm ở vùng đó.
Một nhân tố thứ hai là, cũng như việc suy giảm thú săn đã khiến
cho nghề săn bắt hái lượm trở nên kém hiệu quả, việc gia tăng số loài cây dại
có thể thuần hóa đã đặt những bước dẫn đến việc thuần hóa cây trồng ngày càng
hiệu quả hơn. Chẳng hạn, sự thay đổi khí hậu vào cuối Kỷ Pleitoxen ở vùng Lưỡi
liềm Phì nhiêu đã mở rộng địa giới các môi trường với những loài ngũ cốc hoang
mà từ đó người ta có thể gặt hái những mùa bội thu trong một thời gian ngắn. Những
vụ thu hoạch ngũ cốc hoang đó là tiền thân cho việc thuần hóa những loài cây trồng
sớm nhất, những cây ngũ cốc lúa mì và lúa mạch ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu.
Lại còn một nhân tố khác làm cán cân nghiêng từ săn bắt hái
lượm sang sản xuất lương thực, ấy là người ta ngày càng tích lũy được những cải
tiến kỹ thuật trong việc thu hoạch, xử lý và lưu trữ lương thực hoang – những kỹ
thuật mà rốt cuộc thì sản xuất lương thực cũng phải cần tới. Dẫu có thu hoạch
được một tấn hạt lúa mì đi nữa, các nông dân tương lai nào được lợi gì nếu trước
hết họ chưa biết cách gặt, đập và lưu trữ chúng? Các phương pháp, dụng cụ và tiện
ích cần thiết xuất hiện nhanh chóng ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu sau năm 11.000
TCN đã được phát minh nhằm đáp ứng yêu cầu xử lý và lưu trữ lượng ngũ cốc hoang
dã vốn trở nên dồi dào vào thời gian đó.
Các phát minh này bao gồm: liềm có lưỡi bằng đá lửa gắn vào
cán bằng gỗ hoặc xương để thu hoạch hạt hoang; giỏ để đựng hạt trẩy từ sườn đồi
mang về nhà; chày và cối hoặc thớt để giã hạt bỏ vỏ; kỹ thuật rang hạt sao cho
có thể lưu trữ lâu mà hạt không nảy mầm; và các hố lưu trữ ngầm dưới đất, một số
được trát vữa để không thấm nước. Bằng chứng về tất cả các kỹ thuật này có rất
nhiều tại các di chỉ săn bắt hái lượm ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu vào sau năm
11.000 TCN. Tất cả các kỹ thuật này, dù đã được phát triển nhằm mục đích khai
thác ngũ cốc hoang, là điều kiện tiên quyết cho việc trồng ngũ cốc làm cây trồng.
Các phát triển lũy tiến này là những bước vô thức đầu tiên trên con đường thuần
hóa cây trồng.
Nhân tố thứ tư là mối liên hệ hai chiều giữa sự gia tăng mật
độ dân số loài người với việc phát sinh sản xuất lương thực. Ở mọi vùng của thế
giới nơi có đủ bằng chứng, các nhà khảo cổ đều tìm thấy bằng chứng cho thấy mật
độ dân cư tăng đi liền với sự xuất hiện sản xuất lương thực. Đâu là nhân đâu là
quả? Đây là một câu hỏi từng gây tranh cãi lâu nay kiểu như câu hỏi “trứng có
trước hay gà có trước”: có phải sự gia tăng mật độ dân số loài người buộc người
ta phải chuyển sang sản xuất lương thực, hay nhờ có sản xuất lương thực mà người
ta mới có thể gia tăng mật độ dân số?
Về nguyên tắc, người ta có thể cho rằng chuỗi nhân quả vận
hành theo cả hai chiều. Như tôi đã bàn trước đây, sản xuất lương thực có xu hướng
dẫn tới mật độ dân số tăng bởi nó mang lại lượng calori ăn được trên mỗi hécta
đất cao hơn so với săn bắt hái lượm. Mặt khác, mật độ dân số loài người dù gì
cũng đã tăng dần dần trong suốt cuối Kỷ Pleitoxen nhờ những cải tiến trong kỹ
thuật thu hoạch và xử lý lương thực hoang dã. Do mật độ dân số tăng, sản xuất
lương thực ngày càng được chuộng hơn bởi nó mang lại lượng lương thực nhiều hơn
đủ để nuôi toàn bộ dân số đó.
Nghĩa là, việc chuyển sang sản xuất lương thực tiêu biểu cho
cái là quá trình tự xúc tác (autocatalytic process), nghĩa là một quá trình tự
nó làm xúc tác cho chính nó trong một chu trình hoàn lưu tích cực, càng lúc
càng nhanh hơn một khi nó đã khởi động. Mật độ dân số tăng dần buộc người ta phải
[tìm cách làm sao] kiếm được nhiều lương thực hơn, đền bù cho những ai đã tiến
hành những bước vô tình dẫn đến sản xuất lương thực. Khi đã bắt đầu sản xuất
lương thực và chuyển sang định cư, người ta có thể rút ngắn khoảng cách giữa
hai lần sinh và sinh sản càng nhiều người hơn, thế là lại cần càng nhiều lương
thực hơn nữa. Mối liên hệ hai chiều này giữa sản xuất lương thực và mật độ dân
số giải thích điều nghịch lý rằng sản xuất lương thực, tuy làm tăng lượng
calori ăn được trên mỗi hécta, lại khiến những người sản xuất lương thực bị thiếu
ăn hơn so với những người săn bắt hái lượm vốn đã thua họ [trong cuộc cạnh
tranh này]. Nghịch lý đó nảy sinh là bởi mật độ dân số loài người tăng nhanh
hơn một chút so với số lương thực mà loài người làm ra được.
Bốn nhân tố đó hợp lại giúp ta hiểu được vì sao cuộc chuyển
tiếp sang sản xuất lương thực ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã khởi đầu vào khoảng
8.500 năm TCN chứ không phải vào khoảng 18.500 hay 28.500 năm TCN. Vào hai thời
điểm sớm hơn này, lối sống săn bắt hái lượm vẫn còn hiệu quả hơn nhiều so với sản
xuất lương thực sơ khai bởi các loài hữu nhũ hoang dã vẫn còn dồi dào, ngũ cốc
hoang dại hãy còn chưa dồi dào, người ta chưa có được những phát minh cần thiết
để thu hoạch, xử lý và lưu trữ ngũ cốc một cách hữu hiệu; và mật độ dân số loài
người chưa đủ cao nên cũng chưa cần thiết phải khai thác được nhiều calori hơn
trên mỗi hécta.
Nhân tố cuối cùng trong việc chuyển tiếp này có ý nghĩa quyết
định tại những vùng giáp ranh về địa lý giữa những người săn bắt hái lượm và những
người sản xuất lương thực. Nhờ mật độ dân số cao hơn nhiều nên dù chỉ bằng số
lượng áp đảo mà thôi những người sản xuất lương thực cũng có thể xua đuổi hoặc
giết chết những người săn bắt hái lượm, ấy là chưa kể đến những lợi thế khác nhờ
sản xuất lương thực mà có được (như kỹ thuật, vi trùng và binh lính chuyên nghiệp).
Ở những khu vực nơi chỉ có các nhóm săn bắt hái lượm mà thôi, nhóm nào đã chuyển
sang sản xuất lương thực sẽ sống sót còn nhóm nào chưa chuyển thì không.
Hệ quả là, ở hầu hết những vùng nào thích hợp cho sản xuất
lương thực trên thế giới, những người săn bắt hái lượm gặp một trong hai số phận:
hoặc họ bị thay thế bởi những người sản xuất lương thực láng giềng, hoặc sống
sót được chỉ nhờ bản thân họ đã tiếp thu sản xuất lương thực. Ở đâu những người
săn bắt hái lượm vốn đã đông đúc hoặc điều kiện địa lý ngăn không cho những người
sản xuất lương thực di cư đến, những người săn bắt hái lượm bản địa có đủ thì
giờ để tiếp thu nghề nông vào thời tiền sử, trở thành nhà nông và nhờ đó mà sống
sót. Điều này có thể đã xảy ra ở miền Tây Nam Hoa Kỳ, phía tây Địa Trung Hải,
trên bờ Đại Tây Dương của châu Âu và một số vùng của Nhật Bản. Tuy nhiên, ở
Indonesia, Đông Nam Á nhiệt đới, hầu hết châu Phi hạ xích đạo và có thể ở một số
phần của châu Âu, những người săn bắt hái lượm đã bị thay thế bởi những người
làm nông vào thời tiền sử, trong khi một sự thay thế tương tự đã xảy ra vào thời
hiện đại ở Australia và hầu hết miền tây Hoa Kỳ.
Chỉ ở nơi nào có những rào cản đặc biệt mạnh mẽ về địa lý hay
sinh thái khiến cho việc nhập cư của những người sản xuất lương thực hay việc
truyền bá các kỹ thuật sản xuất lương thực có thể áp dụng cho địa phương trở
nên rất khó khăn, những người săn bắt hái lượm bản địa mới có thể sống sót đến
tận thời hiện đại ở những khu vốn thích hợp cho sản xuất lương thực. Ba ví dụ nổi
bật cho việc này là những người săn bắt hái lượm người châu Mỹ bản địa vẫn tồn
tại dai dẳng ở California, bị ngăn cách với những nhà nông châu Mỹ bản địa bởi
sa mạc; những người săn bắt hái lượm Khoisan ở miền Cape của Nam Phi, ở một
vùng có khí hậu Địa Trung Hải vốn không thích hợp với những cây trồng xích đạo
của các nhà nông Bantu láng giềng; và những người săn bắt hái lượm sống ở khắp
lục địa Australia, bị ngăn cách khỏi những người sản xuất lương thực Indonesia
và New Guinea bởi những biển nông. Số ít các dân tộc vẫn theo lối sống săn bắt
hái lượm mãi đến thế kỷ XX đã thoát khỏi số phận bị những người sản xuất lương
thực giành chỗ chỉ là nhờ họ sống ở những khu vực vốn dĩ không thích hợp cho sản
xuất lương thực, đặc biệt là sa mạc và vùng Bắc cực. Trong vòng một thập niên nữa,
ngay cả các dân tộc này rồi cũng sẽ bị quyến rũ bởi sự hấp dẫn của văn minh, sẽ
buộc phải định cư dưới sức ép của chính quyền hoặc các nhà truyền giáo, hoặc sẽ
làm mồi cho vi trùng.
Phần 2: Sự phát sinh và bành trướng của nền sản xuất lương thực
Chương 7 - Làm ra một quả hạnh bằng cách nào?
Nếu bạn đang đi bộ đường dài mà đã quá chán với những lương
thực trồng ở trang trại, hãy thử ăn lương thực dại xem, thú vị đấy. Bạn vẫn biết
một số loài cây dại như dâu hay việt quất dại ăn vừa ngon lại vừa vô hại. Các
loại quả mọng này giống những loại cây trồng quen thuộc đến nỗi bạn có thể dễ
dàng nhận ra mặc dù chúng nhỏ hơn nhiều so với quả trồng. Những người đi bộ đường
dài có máu phiêu lưu cũng ăn cả nấm tuy rằng phải thận trọng bởi [ai cũng] biết
rằng có nhiều loại nấm ăn vào là chết. Thế nhưng ngay những người mê quả hạch
nhất cũng không dám ăn những quả hạnh dại bởi chỉ vài tá quả này cũng đã chứa
lượng cyanide (loại chất độc mà phát xít Đức đã dùng trong phòng hơi ngạt) đủ để
giết người. Rừng đầy rẫy những loại cây khác không ăn được như vậy.
Thế nhưng mọi thứ cây trồng đều xuất phát từ các loài cây dại.
Làm thế nào một số loài cây dại đã trở thành cây trồng? Câu hỏi này đặc biệt rắc
rối đối với nhiều loại cây trồng (như quả hạnh) mà những loài cây dại tổ tiên của
chúng vốn rất độc hoặc chẳng ngon gì, cũng như với những loại cây trồng khác
(như ngô) trông chẳng giống chút nào với loài cây dại tổ tiên. Những người sống
trong hang động nào đã nảy ra ý tưởng “thuần hóa” một loài cây, và điều đó đã
được thực hiện ra sao?
Thuần hóa cây trồng có thể định nghĩa là trồng một loại cây
và do đó, một cách hữu thức hoặc vô tình, làm cho nó biến đổi về mặt di truyền
so với loài cây tổ tiên theo những cách làm cho nó trở nên hữu ích hơn cho kẻ
tiêu thụ nó – con người. Việc phát triển các loại cây trồng ngày nay là một
công việc có ý thức, được chuyên môn hóa cao độ, do những nhà khoa học chuyên
môn đảm nhiệm. Họ đã biết hàng trăm loài cây trồng hiện có và bắt tay phát triển
thêm những loài mới. Nhằm đạt mục đích đó, họ trồng nhiều hạt hay rễ khác nhau,
chọn phôi tốt nhất rồi trồng hạt của cây đó, áp dụng kiến thức di truyền học để
phát triển những giống tốt có thể sinh sản đúng, thậm chí còn có thể dùng các kỹ
thuật di truyền mới nhất để chuyển một số gen có ích cụ thể. Tại trại Davis thuộc
Đại học California có cả một khoa (Khoa Cây quả, Department of Pomology) chuyên
nghiên cứu các loài táo, lại có một khoa khác (Khoa Trồng nho và Làm rượu nho,
Department of Viticulture and Enology) chuyên nghiên cứu về nho và rượu nho.
Nhưng thuần hóa cây trồng đã có lịch sử trên 10.000 năm. Những
nông gia đầu tiên chắc chắn đã không dùng các kỹ thuật di truyền phân tử để làm
ra kết quả. Họ thậm chí còn chưa có một loại cây trồng nào có sẵn làm mẫu, gây
cảm hứng cho họ phát triển những loại cây trồng khác. Vì vậy họ không thể biết
rằng mình có đang làm gì đi nữa thì trái quả thu được cũng là quả ngọt.
Thế thì các nhà nông đầu tiên đó đã thuần hóa cây trồng một
cách không chủ ý như thế nào? Chẳng hạn, làm cách nào họ đã chuyển những cây hạnh
độc thành cây hạnh lành mà chẳng hề biết mình đang làm gì? Họ đã thực sự gây ra
những biến đổi nào ở các loài cây dại ngoài việc làm cho một số loài to ra hoặc
bớt độc đi? Ngay cả với những loài cây trồng có giá trị, thời điểm thuần hóa
cũng thay đổi rất nhiều: chẳng hạn, đậu được thuần hóa vào trước năm 8.000 TCN,
ôliu khoảng 4.000 năm TCN, dâu mãi đến thời Trung cổ mới được thuần hóa, cây hồ
đào pecan thì mãi tới năm 1846. Nhiều loài cây dại cho những thức ăn mà hàng
triệu người coi là của quý, chẳng hạn như cây sồi vốn có quả ăn được mà ở nhiều
vùng trên thế giới người ta luôn lùng kiếm, thế nhưng mãi đến ngày nay cây sồi
vẫn chưa được thuần hóa. Điều gì khiến một vài loài cây rất dễ thuần hóa hoặc hấp
dẫn hơn, khiến người ta muốn thuần hóa hơn so với các loài khác? Tại sao cây
ôliu chịu khuất phục những nông dân Thời đại Đồ đá trong khi cây sồi mãi đến
ngày nay vẫn đánh bại những nhà nông học thông minh sáng láng nhất của chúng
ta?
Ta hãy bắt đầu bằng cách xét việc thuần hóa từ quan điểm của
cây. Đối với cây cối thì chúng ta chỉ là một trong hàng ngàn loài thú vật luôn
muốn “thuần hóa” cây một cách vô ý thức.
Cũng như mọi loài vật (kể cả con người), cây cối phải phát
tán hậu duệ của mình đến những khu vực nơi chúng có thể sinh sôi nảy nở và lưu
truyền mãi gen của cha mẹ chúng. Các con vật còn nhỏ phát tán bằng cách đi bộ
hoặc bay, nhưng cây cối thì không thể đi hay bay được, thế nên chúng phải đi nhờ
bằng cách nào đó. Trong khi một số loài cây có những hạt thích nghi với việc được
gió đưa đi hoặc trôi trên mặt nước, nhiều loài cây khác “lừa” một con vật để nó
mang hạt giống của cây đi, bằng cách bọc quanh hạt một lớp nạc quả ngon lành và
quảng cáo rằng quả đang chín tới bằng màu sắc hay mùi thơm. Con vật đang đói
bèn ngoạm lấy và nuốt quả, xong thì bước hoặc bay đi chỗ khác, sau đó nhổ hay đại
tiện các hạt ra một nơi cách xa cây bố mẹ. Bằng cách đó hạt có thể được mang đi
xa tới hàng ngàn cây số.
Người ta có thể ngạc nhiên khi được biết hạt các loài cây có
thể kháng cự lại việc tiêu hóa của ruột và vẫn có thể nảy mầm sau khi ra khỏi
phân chúng ta. Nhưng bất cứ độc giả nào thích mạo hiểm và không đến nỗi quá yếu
bụng đều có thể tự mình kiểm chứng. Hạt của nhiều loài cây dại quả thật là cần
phải đi qua ruột một con thú thì mới có thể nảy mầm. Chẳng hạn, một loài dưa hấu
châu Phi thích nghi với việc bị ăn bởi một con vật giống như loài linh cẩu gọi
là aardvark đến nỗi hầu hết quả của loài đó mọc trên những nơi phóng uế của
loài aardvark.
Để thấy các loài cây “dụ” thú như thế nào đặng dùng chúng làm
phương tiện “đi nhờ”, hãy lấy cây dâu dại làm ví dụ. Khi hạt dâu vẫn còn non và
chưa sẵn sàng để mọc, phần xung quanh quả còn xanh, chua và cứng. Khi hạt đã
chín, quả chuyển sang màu đỏ, ngọt và mềm. Sự thay đổi màu sắc của quả là một dấu
hiệu để thu hút các loài chim như chim hét đến để mổ quả rồi bay đi, cuối cùng
thì nhè hoặc đại tiện hạt ra.
Lẽ tự nhiên, cây dâu vốn dĩ không có ý định hữu thức rằng
mình cần phải thu hút chim chóc khi và chỉ khi hạt đủ chín để phát tán. Lũ chim
hét cũng không hề có ý định tiến hành thuần hóa cây dâu. Thay vì vậy, cây dâu
đã tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên. Quả dâu non càng xanh càng chua thì
càng ít chim đến phá hủy hạt bằng cách ăn quả trước khi hạt kịp chín; quả chín
càng ngọt càng đỏ mọng thì càng nhiều chim đến phát tán những hạt chín đó đi
xa.
Vô số loài cây khác có quả thích nghi với việc bị một số loài
vật nhất định ăn rồi phát tán ra. Cũng như dâu đã quen với chim, quả sồi thì
quen với sóc, quả xoài quen với dơi, một số loài cây lách thì quen với kiến. Đó
đã là một phần định nghĩa của chúng ta về thuần hóa cây trồng: ấy là sự điều chỉnh
di truyền đối với một loài cây tổ tiên sao cho nó hữu ích hơn với kẻ tiêu thụ
nó. Nhưng chẳng ai lại đi nghiêm túc mô tả cái quá trình tiến hóa này là sự thuần
hóa, bởi vì chim, dơi và các loài thú tiêu thụ khác không thực hiện cái phần
còn lại của định nghĩa về thuần hóa cây trồng: chúng không trồng cây một cách hữu
thức. Cũng y như vậy, trong những giai đoạn đầu khi cây dại tiến hóa thành cây
trồng một cách vô thức, một số loài cây đã phát triển theo hướng thu hút con
người đến ăn chúng rồi phát tán quả của chúng ra trong khi con người chưa trồng
chúng một cách hữu thức. Những nơi phóng uế của con người, cũng như của loài
aardvark, có thể đã là cái nôi cho những người nhân giống cây trồng đầu tiên một
cách không chủ ý.
Bãi phóng uế chỉ là một trong nhiều nơi chúng ta tình cờ trồng
hạt của những loài cây dại mà chúng ta ăn. Khi ta thu lượm những loài cây dại
ăn được rồi mang về nhà, một số rơi vãi dọc đường và ngay trong nhà ta. Một số
quả chín nẫu bị hỏng, thế là người ta không ăn mà vứt ngay vào sọt rác, song
chúng vẫn đang chứa những hạt hoàn toàn tốt. Là một phần những quả mà chúng ta
thực sự cho vào miệng, hạt dâu vốn nhỏ nên không tránh khỏi bị nhai rồi bị đại
tiện ra, nhưng các hạt khác thì to nên ta phải nhổ ra. Vậy là, những bãi nhổ và
đống rác của ta cũng góp cùng những bãi phóng uế để hình thành những phòng
nghiên cứu nông nghiệp đầu tiên.
Dù hạt rơi vào “phòng” nào trong những “phòng thí nghiệm” này
đi nữa, chúng có xu hướng chỉ là hạt của một số cá thể cây ăn được nhất định, cụ
thể là những loài mà chúng ta thích ăn vì lý do này hoặc lý do khác. Bạn cũng
biết rằng mỗi khi đi hái quả, bạn luôn chọn một số cây cụ thể hoặc một số bụi
cây cụ thể. Cuối cùng, khi những nhà nông đầu tiên bắt đầu gieo hạt một cách có
chủ ý, chắc chắn họ sẽ gieo hạt từ những cây mà họ đã chọn để thu nhặt, mặc dù
họ không hiểu cái nguyên lý di truyền rằng quả to thì hạt có xu hướng cũng mọc
thành những bụi cho quả to hơn.
Vậy nên, khi ta hì hụi chui vào một bụi cây có lắm gai giữa bầy
muỗi vo ve vào một hôm oi nồng ẩm ướt thì đâu phải cứ bụi cây dâu nào ta cũng
làm như vậy. Dù một cách vô tình đi nữa, ta vẫn quyết định bụi nào trông hấp dẫn
hơn, liệu có đáng cho ta mất công mất sức không. Những tiêu chí lựa chọn của ta
– trong vô thức – là gì?
Một tiêu chí dĩ nhiên là kích cỡ. Ta thích những quả to, bởi
quả mà bé tí tẹo thì chả mất công giang nắng và phơi mình cho muỗi đốt làm gì.
Điều đó lý giải một phần vì sao nhiều loại cây trồng có quả lớn hơn nhiều so với
loài cây dại tổ tiên. Ta vẫn rất quen thấy dâu bán trong siêu thị thật sự là khổng
lồ so với dâu dại; những khác biệt đó chỉ nảy sinh trong mấy thế kỷ gần đây
thôi.
Những khác biệt đó về kích cỡ ở các loài cây khác bắt đầu từ
ngay thuở đầu tiên của nông nghiệp, khi những loài đậu đã tiến hóa thông qua chọn
lọc của con người trở nên nặng gấp 10 lần đậu dại. Các loài đậu dại nhỏ bé đã
được những người săn bắt hái lượm thu nhặt từ hàng ngàn năm, cũng như ngày nay
ta đi hái từng quả dâu dại con con, trước khi việc thu hoạch và trồng những
loài đậu dại lớn nhất, hấp dẫn nhất – nghĩa là, cái ta gọi là nghề nông – bắt đầu
tự động góp phần làm tăng kích cỡ trung bình của đậu từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Tương tự, táo bán trong siêu thị thường đo được 3 inch (khoảng 7,6 cm –
ND) đường kính, trong khi táo dại thì chỉ 1 inch (2,54 cm – ND). Những lõi ngô
xưa nhất ít khi dài quá nửa inch, nhưng các nông dân người Anh-điêng Mexico vào
khoảng năm 1.500 đã phát triển được những loài ngô có lõi dài tới sáu inch (khoảng
15 cm – ND), một số loài ngô hiện đại còn dài tới 1 bộ rưỡi (khoảng 46 cm –
ND).
Một khác biệt hiển nhiên khác giữa những hạt do ta trồng với
các tổ tiên hoang dại của chúng là độ đắng. Nhiều hạt dại tiến hóa theo hướng đắng,
vị khó nuốt hoặc thật sự là độc, để ngăn không cho loài vật ăn chúng. Vậy, chọn
lọc tự nhiên đã hành xử đối với hạt theo hướng ngược lại với quả. Những cây có
quả ngon thường được thú vật phát tán hạt, nhưng bản thân hạt nằm bên trong quả
thì mùi vị khó nuốt. Nếu không thì con vật sẽ nhai luôn hạt, thế là hạt sẽ
không thể nảy mầm.
Hạnh là một ví dụ đặc sắc về những hạt đắng và sự thay đổi của
chúng khi được thuần hóa. Hầu hết hạt hạnh dại chứa một hóa chất cực đắng gọi
là amygdalin mà (như đã nói ở trên) khi phân hủy thì cho ra chất độc cyanide. Một
dúm hạt hạnh có thể giết chết kẻ nào đủ ngu ngốc để phớt lờ lời cảnh báo của
cái vị đắng ngắt kia. Trong giai đoạn thuần hóa vô ý thức đầu tiên, người ta
thu lượm hạt về ăn, nhưng hạt hạnh đắng thế kia thì làm cách nào đã diễn ra cái
giai đoạn đầu tiên ấy của việc thuần hóa nó?
Cách giải thích là thế này: một số cá thể cây hạnh có biến dị
ở một gen ngăn chận việc tổng hợp chất amygdalin sinh vị đắng. Những cây này chết
trong thiên nhiên mà không để lại phôi nào bởi chim chóc hễ đã phát hiện những
hạt không đắng đó là ăn sạch. Song những đứa trẻ đang đói bụng hoặc tò mò, con
cái những nhà nông đầu tiên, trong khi gặm nhấm các loài cây dại xung quanh
chúng rốt cuộc cũng nếm thử và lưu ý những cây hạnh không đắng đó. (Cũng y như
vậy, những con chim trĩ châu Âu ngày nay vẫn còn nhận biết những cây sồi cá biệt
mà quả của chúng ngọt chứ không đắng). Những hạt hạnh không đắng này là các hạt
duy nhất mà những nông dân cổ đại đem trồng, đầu tiên là một cách vô tình trong
các đống rác, về sau thì một cách hữu thức ở trong vườn.
Ngay từ trước năm 8.000 TCN quả hạnh dại đã xuất hiện ở các
di chỉ khảo cổ đã khai quật ở Hy Lạp. Đến năm 3.000 TCN chúng đã được thuần hóa
ở các vùng đất phía đông Địa Trung Hải. Khi vua Ai Cập Tutankhamen băng hà, vào
khoảng năm 1.325 TCN, hạnh là một trong những lương thực được để lại trong phần
mộ nổi tiếng của ông để nuôi ông ở thế giới bên kia. Đậu lima, dưa hấu, khoai
tây, cà tím và bắp cải nằm trong số nhiều cây trồng quen thuộc khác mà tổ tiên
của chúng vốn có vị đắng hoặc chất độc, nhưng có những cá thể ngọt đã ngẫu
nhiên nảy mầm quanh các bãi phóng uế của người cổ đại.
Trong khi kích cỡ và mùi vị thơm ngon là những tiêu chí hiển
nhiên nhất để những người săn bắt hái lượm cổ đại lựa chọn các loại cây dại,
còn những tiêu chí khác như quả nhiều nạc hoặc không có hạt, hạt có dầu, và thớ
nạc dài. Bí và bí ngô dại không hề có hoặc có rất ít nạc bao quanh hạt, nhưng
các nhà nông cổ đại khi chọn bí và bí ngô thì lại thích nạc phải thật nhiều chứ
không phải hạt. Chuối từ lâu đã được trồng theo hướng toàn nạc mà không có hạt,
điều đó kích thích các nhà nông học ngày nay ra sức phát triển cả những loài
cam, nho và dưa hấu không hạt. Không hạt là một ví dụ tốt cho thấy lựa chọn của
con người có thể làm đảo ngược hoàn toàn chức năng tiến hóa ban đầu của một
loài quả dại mà vốn trong thiên nhiên là phương tiện để phát tán hạt.
Vào thời cổ đại, nhiều loài cây dại cũng được chọn theo cách
tương tự, vì quả hoặc hạt có dầu. Nằm trong số các loại cây trồng được thuần
hóa sớm nhất ở thế giới Địa Trung Hải có cây ôliu, được trồng từ khoảng 4.000
năm TCN bởi nó cho dầu. Cây ôliu trồng không chỉ lớn hơn mà còn nhiều dầu hơn
cây ôliu dại. Các nhà nông cổ đại cũng đã chọn cây vừng, mù tạc, anh túc và
lanh cũng vì hạt có dầu của chúng, trong khi các nhà khoa học về cây trồng ngày
nay cũng làm như vậy đối với cây hướng dương, cây rum (safflower) và cây bông.
Trước khi người ta phát triển cây bông để lấy dầu như ngày
nay, dĩ nhiên là từ lâu cây bông đã được lựa chọn để lấy bông dệt vải. Sợi bông
là lông mọc trên các hạt bông, và các nhà nông ở cả châu Mỹ lẫn Cựu Thế giới đều
chọn các loài bông cho sợi dài. Ở cây lanh và cây gai dầu, hai loại cây khác được
trồng để cho sợi làm các vật dụng thì sợi lại mọc từ thân, và người ta chọn những
loài nào có thân dài, thẳng. Tuy ta vẫn cho rằng hầu hết cây trồng được chọn
thuần hóa là để làm thức ăn, nhưng cây lanh là một những cây trồng có từ xưa nhất
(được thuần hóa vào khoảng 7.000 năm TCN). Cây này cho vải linen vốn từng là loại
vải chủ yếu ở châu Âu trước khi bị thay thế bằng bông và sợi tổng hợp sau cuộc
Cách mạng Công nghiệp.
Đến nay, tất cả những thay đổi trong việc cây dại tiến hóa
thành cây trồng mà tôi đã đề cập đến đều bao hàm những đặc tính mà các nhà nông
đầu tiên có thể nhận ra, như kích cỡ, độ đắng, độ nạc, độ dầu, độ dài thớ sợi.
Bằng cách thu hoạch những cá thể cây dại mang các đặc tính mong muốn đó ở mức
cao, các dân tộc cổ đại đã vô tình làm phát tán cây và đưa chúng vào con đường
thuần hóa.
Tuy vậy, ngoài ra còn có ít nhất bốn loại thay đổi chính nữa
không dựa trên những đặc tính nhìn thấy được như khi người hái dâu chọn quả.
Trong các trường hợp đó, người hái dâu gây nên sự thay đổi bằng cách thu hoạch
những cây có sẵn trong khi những cây khác thì không có sẵn bởi nguyên nhân vô
hình nào đó, hoặc bằng cách thay đổi những điều kiện lựa chọn đối với cây.
Sự thay đổi đầu tiên tác động đến cơ chế phát tán hạt vốn có
của cây dại. Nhiều loại cây có những cơ chế chuyên biệt để phát tán hạt (khiến
con người khó thu hoạch được chúng một cách hữu hiệu). Chỉ những hạt biến dị
thiếu những cơ chế đó mới được con người thu hoạch và do đó trở thành tiền thân
của cây trồng.
Một ví dụ thấy rõ là đậu, mà hạt của chúng (những hạt đậu mà
ta ăn) được bọc trong vỏ. Muốn nảy mầm thì trước hết hạt phải ra khỏi vỏ. Để được
kết quả đó, cây đậu đã phát triển một gen làm cho vỏ nứt ra khiến đậu bắn lên mặt
đất. Vỏ của một vài cây biến dị thì lại không nứt. Trong thiên nhiên, những vỏ
đậu biến dị này sẽ chết, nằm trong nấm mồ vĩnh viễn là cái vỏ treo trên cây bố
mẹ kia; chỉ những vỏ nào nứt thì hạt mới có thể lưu truyền gen được. Nhưng, ngược
lại, chỉ những vỏ nào không nứt mà còn lại trên cây thì con người mới thu hoạch
được. Như vậy, khi con người mang đậu về nhà ăn, ấy là đã có một sự lựa chọn trực
tiếp cá thể cây mang gen biến dị đó. Những biến dị không nứt tương tự cũng được
lựa chọn ở cây đậu lăng, cây lanh và cây anh túc.
Thay vì bị bọc kín trong một vỏ có thể nứt, hạt lúa mì và lúa
mạch dại lại mọc trên ngọn thân cây, thân này sẽ tự vỡ làm hạt rơi xuống đất
nơi nó có thể nẩy mầm. Có một biến dị do một gen gây ra ngăn không cho thân bị
vỡ. Trong tự nhiên, biến dị này là tai hại chết người đối với cây bởi hạt sẽ vẫn
treo trong không khí, không nảy mầm đâm rễ được. Song chính những hạt biến dị
này lại là những hạt vẫn còn lại trên thân, thật tiện để con người đến thu hoạch
mang về nhà. Khi con người trồng những hạt biến dị đó về sau, bất cứ hạt biến dị
nào ở trong phôi lại sẽ còn đó trên thân để con người tiếp tục thu hoạch và trồng,
trong khi các hạt khác trong phôi đều rơi xuống đất và không thu hoạch được.
Như vậy, các nhà nông của loài người đã đảo ngược hướng chọn lọc tự nhiên đến
180 độ: gen mà trước kia vốn hữu ích nay trở thành có hại, còn gen vốn dĩ có hại
lại trở nên hữu ích. Suốt 10.000 năm qua, việc con người chọn lọc một cách vô
thức các thân lúa và lúa mạch không vỡ rõ ràng là sự “cải thiện” lớn đầu tiên của
con người đối với cây. Thay đổi đó đã đánh dấu sự khởi đầu nền nông nghiệp ở
vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu.
Loại thay đổi thứ hai thậm chí còn khó thấy hơn đối với người
cổ đại. Đối với các loài cây sống một năm mọc ở một vùng có khí hậu khó tiên
đoán trước, nếu tất cả hạt đều nảy mầm nhanh chóng và cùng một lúc thì thật là
tai hại. Nếu chuyện đó xảy ra thật thì tất cả cây con có thể bị chết sạch vì một
cơn hạn hán hay sương giá, chẳng còn sót lại hạt nào để lưu truyền nòi giống.
Vì vậy nhiều loại cây sống một năm đã tiến hóa một biện pháp “bảo đảm chắc ăn”,
ấy là dùng cơ chế ngăn chặn nảy mầm, khiến cho hạt tạm thời ngủ, phải mấy năm
sau mới khởi sự phát tán mầm. Bằng cách đó, thậm chí dù hầu hết hạt bị chết vì
một đợt thời tiết xấu thì một vài hạt vẫn sẽ còn sót lại để nảy mầm sau.
Một cách “bảo đảm chắc ăn” khác để cây có thể lưu truyền nòi
giống, ấy là bọc hạt trong một lớp vỏ dày. Nhiều loài cây dại áp dụng cách
thích nghi này, như lúa, lúa mạch, đậu, lanh và hướng dương. Trong khi các hạt
nảy mầm muộn kia vẫn còn cơ hội để nảy mầm sau, ta hãy hình dung điều gì ắt phải
xảy ra khi con người bắt đầu làm nông. Các nhà nông đầu tiên hẳn đã khám phá bằng
phương pháp thử và sai rằng họ có thể đạt năng suất cao hơn nếu tiến hành cày cấy
và tưới nước cho đất sau đó thì gieo hạt. Khi điều đó xảy ra, những hạt nào nảy
mầm ngay thì sẽ mọc thành cây, hạt của chúng được thu hoạch và lại trồng vào
năm sau. Nhưng nhiều loài cây dại mà hạt không nảy mầm ngay thì chẳng mang lại
vụ mùa nào cả.
Những cá thể biến dị ngẫu nhiên trong các loài cây dại thì
không có lớp vỏ dày bọc quanh hạt hoặc không có những biện pháp ngăn chận nảy mầm
khác. Tất cả các biến dị đó đều nhanh chóng nảy mầm và cho vụ mùa gồm các hạt
biến dị. Những nông dân đầu tiên hẳn đã không nhận ra sự khác biệt giống như họ
đã nhận ra và chủ ý lựa chọn những quả dâu lớn. Nhưng cái chu trình gieo/mọc/thu
hoạch/gieo sẽ chọn lọc trực tiếp các biến dị một cách vô thức. Cũng như những
thay đổi trong cách phát tán hạt, những thay đổi trong cơ chế ngăn chận nảy mầm
là đặc trưng cho lúa mì, lúa mạch, đậu và nhiều loại cây khác so với các loài
cây dại tổ tiên.
Loại hình thay đổi chính còn lại mà các nhà nông cổ đại không
nhận thấy, đó là sự tái sinh sản của cây. Một vấn đề chung khi người ta phát
triển cây trồng, ấy là những cá thể cây biến dị ngẫu nhiên thì lại hữu ích cho
con người hơn (chẳng hạn vì hạt to hơn hoặc ít đắng hơn) so với các cá thể bình
thường. Nếu những biến dị được mong muốn này lại được phối với những cây bình
thường thì biến dị sẽ bị nhạt đi hoặc mất hoàn toàn. Trong những điều kiện nào
biến dị vẫn được bảo tồn cho các nhà nông cổ đại?
Đối với những cây tự sinh sản, biến dị sẽ tự động được bảo tồn.
Đó là trường hợp những loại cây tái sinh sản theo lối sinh dưỡng (nghĩa là từ
thân củ hoặc rễ của cây bố mẹ) hoặc những cây lưỡng tính có khả năng tự thụ
tinh. Nhưng đại đa số các loài cây dại không tự sinh sản theo cách đó. Chúng hoặc
là những cây lưỡng tính không có khả năng tự thụ phấn nên buộc phải giao phối với
những cá thể lưỡng tính khác (bộ phận đực của cây này thụ tinh cho bộ phận cái
của cây kia, bộ phận đực của cây kia thụ tinh cho bộ phận cái của cây này), hoặc
chia làm cây đực riêng cây cái riêng như mọi loài hữu nhũ bình thường. Trường hợp
trước được gọi là lưỡng tính tự tương thích, trường hợp sau là những loài khác
gốc. Cả hai đều chẳng hay ho gì đối với các nhà nông cổ đại bởi họ sẽ bị mất
ngay tất cả các biến dị đáng giữ mà chẳng biết vì sao.
Giải pháp ở đây bao hàm một loại thay đổi khác mắt người
không thấy được. Nhiều biến dị ở cây có ảnh hưởng đến bản thân hệ sinh sản. Một
số cá thể biến dị phát triển thành những quả mà thậm chí không cần thụ phấn, kết
quả là ngày nay ta có chuối, nho, bưởi, cam và dứa không hạt. Một số loài cây
lưỡng tính mất tính tự tương thích mà trở nên có khả năng tự thụ tinh – tiêu biểu
cho quá trình này là nhiều loài cây ăn trái như mận, đào, táo, mơ và anh đào. Một
số loài nho biến dị vốn thường sinh ra những cá thể đực và cái riêng biệt thì
cũng trở thành cây lưỡng tính tự thụ tinh. Bằng tất cả những phương cách đó,
các nông dân cổ đại, vốn chẳng biết gì về ngành sinh sản học cây cối, vẫn đã trồng
được những cây có ích, sinh sản đúng và đáng được trồng lại, chứ không phải
toàn những biến dị thoạt tiên đầy hứa hẹn nhưng lại cho những phôi vô ích nhanh
chóng bị lãng quên.
Vậy là, nhà nông đã lựa chọn các cá thể cây không chỉ dựa
trên những phẩm chất có thể nhận biết dễ dàng như kích cỡ và mùi vị, mà cả những
phẩm chất vô hình như cơ chế phát tán hạt, cơ chế ngăn chận nảy mầm và cơ chế
sinh sản. Kết quả là nhiều loại cây đã được chọn dựa trên những đặc tính rất
khác nhau, thậm chí tương phản nhau. Một số loài cây (như hướng dương) được chọn
vì cho hạt to hơn, trong khi những loài khác (như chuối) thì được chọn vì hạt
bé tí hay thậm chí không có hạt. Rau diếp được chọn vì lắm lá sum suê mà không
có hạt hay quả; lúa mì và hướng dương thì được chọn vì có lắm hạt mà không có
lá; bí thì được chọn vì cho quả mà không có lá. Đặc biệt đáng lưu tâm là trường
hợp một loài cây dại duy nhất được chọn theo nhiều cách khác nhau nhằm nhiều mục
đích khác nhau và do đó cho ra những loại cây trồng thoạt nhìn rất khác nhau. Củ
cải (beet), vốn đã được trồng từ thời đế quốc Babylon để lấy lá (như các loài củ
cải đường ngày nay được gọi là chard), sau đó được phát triển theo hướng cho rễ
ăn được và cuối cùng (vào thế kỷ XVIII) để lấy đường (củ cải đường). Loài cây tổ
tiên của bắp cải ngày nay, ban đầu có thể được trồng để lấy hạt có dầu, về sau
còn trải qua sự đa dạng hóa còn lớn hơn, bởi được người ta chọn theo những hướng
khác nhau: lấy lá (cây bắp cải và cải xoăn ngày nay), lấy thân (cây kohlrabi),
chồi (cây cải brussels), hay nụ hoa (cải hoa và cải broccoli).
Từ trước đến giờ chúng ta chỉ bàn đến những trường hợp cây dại
biến đổi thành cây trồng do hệ quả sự chọn lọc dù chủ ý hay vô tình của các nhà
nông. Nghĩa là, nhà nông lúc đầu đã lựa chọn hạt của một số cá thể cây dại để
mang về nhà, sau đó hằng năm lại chọn một số hạt phôi nhất định để trồng vào
khu vườn sang năm. Nhưng hầu hết sự biến đổi này cũng là hệ quả của việc cây cối
tự lựa chọn chính mình. Cụm từ “chọn lọc tự nhiên” của Darwin là nói tới một số
cá thể nhất định của một loài có khả năng sống còn tốt hơn và/hoặc sinh sản
thành công hơn, chứ không phải là việc các cá thể cùng loài cạnh tranh với nhau
trong các điều kiện tự nhiên. Trên thực tế, chính quá trình biệt hóa để sống
sót (differential survival) và tái sinh sản tự nhiên đã làm công việc chọn lọc.
Nếu điều kiện [môi trường] thay đổi, nhiều loại cá thể khác nhau có thể sống
sót hay sinh sản tốt hơn và trở thành “được chọn lọc tự nhiên” mà kết quả là
toàn bộ quần thể chịu sự thay đổi tiến hóa. Một ví dụ kinh điển là việc phát
triển chứng nhiễm hắc tố ở loài bướm đêm tại Anh: các cá thể bướm đêm có màu sẫm
trở nên tương đối phổ biến hơn so với các cá thể sáng màu do môi trường trở nên
bẩn hơn vào thế kỷ XIX, ấy là bởi bướm đêm màu sẫm khi đậu trên một thân cây bẩn
thỉu đen đúa thì sẽ ít tương phản hơn so với bướm đêm màu sáng nên khó bị các
loài săn mồi phát hiện hơn.
Cũng như cuộc Cách mạng Công nghiệp đã làm thay đổi môi trường
đối với bướm đêm, nghề nông cũng làm thay đổi môi trường đối với cây cối. Một
khu vườn được cày cuốc, bón phân, tưới nước, giẫy cỏ mang lại điều kiện sinh
trưởng rất khác so với một sườn đồi khô khan, không được bón phân. Nhiều thay đổi
ở cây cối sau khi được thuần hóa là hệ quả của những thay đổi như vậy trong điều
kiện sinh trưởng và do đó trong những loại cá thể được chuộng hơn. Chẳng hạn,
khi một nông dân gieo hạt dày ở trong vườn, sẽ có sự cạnh tranh gay gắt giữa
các hạt với nhau. Những hạt lớn hơn nhờ có thể tận dụng điều kiện tốt để mọc
nhanh giờ sẽ được lợi thế hơn so với các hạt nhỏ vốn trước kia từng có lợi thế
hơn trên các sườn đồi khô, không được bón phân, nơi hạt thường gieo thưa hơn
nên cạnh tranh ít gay gắt hơn. Sự tăng cường cạnh tranh đó giữa bản thân các
cây là một đóng góp chủ chốt khiến cho kích cỡ hạt tăng lên và dẫn đến nhiều
thay đổi khác đã phát triển trong quá trình cây dại biến đổi thành cây trồng cổ
đại.
Cái gì đã gây nên sự khác biệt to lớn giữa các loài cây trong
việc dễ thuần hóa, chẳng hạn một số loài đã được thuần hóa từ lâu trong khi nhiều
loài khác mãi tới thời Trung Cổ mới thuần hóa được, lại có những loài cây dại
khác hoàn toàn trơ trơ trước mọi nỗ lực thuần hóa của chúng ta? Ta có thể suy
ra nhiều lời đáp bằng cách xét trình tự phát triển – mà khoa học đã thừa nhận –
của nhiều loại cây ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu của Tây Nam Á.
Hóa ra là những cây trồng xưa nhất ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu
như lúa mì, lúa mạch và đậu được thuần hóa khoảng 10.000 năm trước đều phát xuất
từ những cây dại tổ tiên vốn đã có sẵn nhiều lợi thế. Các cây dại này vốn dĩ ăn
được đối với người và ngay trong tự nhiên cũng đã cho năng suất cao. Chúng có
thể mọc dễ dàng, chỉ cần gieo hạt hoặc trồng xuống đất. Chúng mọc nhanh và chỉ
vài tháng sau khi gieo là có thể thu hoạch được, đây là một lợi thế lớn đối với
những nhà nông sơ khai vốn vẫn đang ở chỗ lưng chừng giữa thợ săn du cư với
thôn dân làm ruộng định cư. Chúng lại có thể dễ dàng bảo quản, không như nhiều
loại cây trồng khác xuất hiện muộn hơn như dâu và rau diếp. Hầu hết các cây này
đều tự thụ phấn: nghĩa là, các giống khác nhau của những cây này có thể tự thụ
phấn và lưu truyền những gen được ưa chuộng một cách nguyên vẹn không thay đổi,
chứ không cần phải giao phối với những giống khác kém hữu ích hơn đối với con
người. Cuối cùng, các cây dại tổ tiên của những loài này đòi hỏi rất ít thay đổi
về di truyền để có thể chuyển thành cây trồng, chẳng hạn như ở lúa mì, chỉ cần
có sự biến dị để thân không vỡ và để hạt nẩy mầm nhanh đồng loạt.
Giai đoạn thuần hóa cây kế tiếp là thuần hóa những cây ăn
trái và cây quả hạch đầu tiên, vào khoảng 4.000 năm TCN. Đó là các cây ôliu, vả,
chà là, lựu và nho. So với ngũ cốc và rau, chúng có cái nhược điểm là trồng
xong phải đợi ít nhất ba năm mới bắt đầu cho quả và phải đợi những mười năm mới
đạt năng suất đầy đủ. Vì vậy chỉ những ai đã hoàn toàn ổn định với lối sống
làng mạc định cư thì mới có thể trồng các cây này. Tuy nhiên, những cây ăn trái
và cây quả hạch này vẫn là những cây dễ trồng nhất. Khác những cây được thuần
hóa về sau, các cây này chỉ cần được chiết cành, thậm chí chỉ cần gieo hạt là mọc
được. Chiết cành có cái lợi là một khi các nông dân cổ đại đã tìm thấy hoặc
phát hiện được một cây cho năng suất cao, họ có thể yên tâm rằng tất cả hậu duệ
của nó đều giống y như nó.
Giai đoạn thứ ba là thuần hóa các cây ăn quả khó trồng hơn
nhiều như táo, lê, mận và anh đào. Những cây này không thể trồng bằng cách chiết
cành. Trồng bằng cách gieo hạt cũng chỉ phí công, bởi hậu duệ của ngay cả một
cá thể trội nhất của các loài này cũng thay đổi khó lường và hầu hết đều cho những
quả vô giá trị. Thay vì thế, các cây này phải trồng bằng kỹ thuật rất khó là
ghép cây, vốn chỉ được phát triển tại Trung Hoa mãi lâu sau buổi sơ khai của nền
nông nghiệp. Ghép cây không chỉ khó ngay cả khi ta đã biết rõ nguyên lý, mà bản
thân nguyên lý đó cũng chỉ có thể được phát hiện sau khi người ta đã tiến hành
thử nghiệm một cách có ý thức. Việc phát minh kỹ thuật ghép cây không thể chỉ
là chuyện dăm ba người dân du cư “xả bầu tâm sự” ở bãi phóng uế nào đó, sau đó
ít lâu trở lại thì ngạc nhiên và thú vị thấy nó đã mọc thành cây trái ngon ngọt
sum suê.
Nhiều cây ăn trái thuần hóa vào giai đoạn muộn này lại đặt ra
một cái khó nữa là tổ tiên hoang dã của chúng trái ngược hẳn với các loài tự thụ
phấn. Chúng cần phải được thụ phấn chéo bởi một cây khác thuộc một giống khác
biệt với loài của chúng về mặt di truyền. Vì vậy các nhà nông thuở đầu đã phải
tìm những cây biến dị không đòi hỏi thụ phấn chéo, hoặc phải cố tình trồng những
giống khác nhau về di truyền, nếu không thì trồng những cá thể đực và cái ở gần
trong cùng một vườn. Tất cả những khó khăn ấy đã khiến cho việc thuần hóa táo,
lê, mận và anh đào bị chậm trễ mãi đến thời Hy-Lạp cổ đại. Tuy nhiên, cùng khoảng
thời gian đó lại đã phát sinh một nhóm cây trồng được thuần hóa muộn khác nhưng
mất ít công sức hơn nhiều, bởi những loài cây dại tự mọc như cỏ hoang trên những
cánh đồng mà con người đã dùng để trồng cây một cách chủ ý. Các cây trồng mà
thoạt kỳ thủy là cỏ dại gồm có lúa mạch đen và yến mạch, củ cải và cải turnip,
củ cải đường và tỏi tây, rau diếp.
Mặc dù chuỗi trình tự chi tiết mà tôi vừa mô tả trên đây áp dụng
cho vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, song những trình tự phần nào giống như vậy cũng
đã xuất hiện ở những nơi khác trên thế giới. Đặc biệt, lúa mì và lúa mạch của
vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu tiêu biểu cho chủng loại cây trồng được mệnh danh là
ngũ cốc hoặc cây cho hạt (thuộc họ cây thân thảo), còn cây đậu Hà Lan và đậu
lăng của Lưỡi liềm Phì nhiêu là đặc trưng cho các loài cây họ đậu (thành viên của
họ rau vốn bao gồm cây đỗ). Các cây ngũ cốc có đặc tính mọc nhanh, giàu cacbon
hydrat, cho sản lượng có thể đến một tấn lương thực trên một hécta đất trồng. Kết
quả là ngũ cốc ngày nay chiếm trên một nửa lượng calori mà con người tiêu thụ
và chiếm năm trong số 12 loại cây trồng hàng đầu của thế giới hiện đại (lúa mì,
ngô, lúa gạo, lúa mạch và lúa miến). Nhiều cây ngũ cốc nghèo protein, nhưng nhược
điểm đó được bù đắp bởi các cây họ đậu thường có hàm lượng 25% protein (riêng đậu
nành thì đến 38%). Ngũ cốc và đỗ hợp lại cung cấp nhiều thành tố của một chế độ
dinh dưỡng cân bằng.
Như tóm tắt ở Bảng 7.1, việc thuần hóa các loài cây ngũ cốc kết
hợp với các cây họ đậu bản địa đã làm phát sinh nền sản xuất lương thực ở nhiều
khu vực. Những ví dụ nhiều người biết nhất là kết hợp giữa lúa mì và lúa mạch với
đậu và đậu lăng ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, kết hợp giữa ngô với một số loài đậu
ở Trung Mỹ, và kết hợp giữa lúa gạo và kê với đậu nành và các loài đậu khác ở
Trung Hoa. Ít người biết đến hơn là kết hợp giữa lúa miến, lúa tẻ châu Phi và
kê ngọc trai (pearl millet) với đậu cowpea và lạc ở châu Phi, cũng như kết hợp
giữa hạt quinoa không phải ngũ cốc với một số loài đậu ở vùng Andes.
Bảng 7.1 cũng cho thấy việc thuần hóa cây lanh để lấy sợi từ
xa xưa ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu cũng đã diễn ra song song ở nhiều nơi khác.
Cây gai dầu, bốn chủng cây bông, cây ngọc giá (yucca) và cây thùa (agave) cũng
được trồng để cho sợi bện dây thừng và dệt vải may quần áo ở Trung Hoa, Trung Mỹ,
Ấn Độ, Ethiopia, châu Phi hạ Sahara và Nam Mỹ, ở một số vùng nói trên còn được
bổ sung thêm bằng len lấy từ các loài gia súc. Trong số các trung tâm sản xuất
lương thực sớm nhất, duy chỉ vùng miền đông Hoa Kỳ và New Guinea là không có loại
cây trồng nào cho sợi mà thôi.
Bên cạnh những tương đồng này cũng có một số khác biệt cơ bản
giữa các hệ thống sản xuất lương thực trên thế giới. Một điểm khác biệt là nông
nghiệp ở hầu hết Cựu Thế giới bao gồm gieo hạt đại trà và ruộng độc canh, cuối
cùng là cày ải. Nghĩa là, hạt được vãi từng nắm bằng tay, kết quả là toàn bộ
cánh đồng chỉ được dành cho một loại cây trồng duy nhất. Khi bò, ngựa và các
loài hữu nhũ lớn khác được thuần hóa, người ta buộc chúng vào cày, từ đó ruộng
được cày cấy bằng sức loài vật. Tuy nhiên, ở Tân Thế giới chưa hề có loài thú
thuần hóa nào có thể buộc vào cày. Ở đó các cánh đồng luôn luôn được cày cấy bằng
gậy hay cuốc cầm tay, hạt thì được trồng từng hạt một bằng tay chứ không vãi từng
nắm. Vì vậy hầu hết các cánh đồng ở Tân Thế giới là một khu vườn hỗn hợp giữa
nhiều loại cây được trồng cùng nhau chứ không phải ruộng độc canh.
Jared Diamond
Theo https://thuvienonline.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét