Thứ Tư, 17 tháng 9, 2025

Biến động 1

Biến động 1

Biến động là một phần không thể thiếu trong lịch sử của một dân tộc. Trong cuốn sách này tác giả đã đưa chúng ta đến nhiều quốc gia trên thế giới để xem cách họ vượt qua biến động như thế nào ? Ở mức độ ảnh hưởng quốc gia hay toàn cầu thì sự ứng phó hiệu quả nhất có phải là thay đổi có chọn lọc.
1. Đầu tiên chúng ta đến với đất nước Phần Lan, một đất nước nhỏ bé với trên 6 triệu dân. Tiếp giáp với nước Nga ở phía đông. Phần Lan trước đây là thuộc Nga, nghèo đói, lạc hậu, chiến tranh liên miên, luôn bị nước Nga dòm ngó. Nhưng ngày nay họ đã trở thành một quốc gia độc lập và có sự tự chủ. Đâu là nguyên nhân? Họ đã trải qua những biến động gì và xử lý biến động ra sao? Giải quyết vấn đề nước Nga như thế nào để có được kết quả này?
Muốn hiểu được vấn đề ta hãy ngược thời gian đến đầu thế kỷ XX khi Phần Lan xảy ra cuộc nội chiến đẫm máu. Số người chết trong cuộc chiến này nếu tính theo phần trăm dân số thì nó ở mức độ cao nhất trong các cuộc nội chiến. Chính những gì trải qua trong cuộc chiến đã làm cho Phần Lan có đường lối ngoại giao đúng đắn giúp cho đất nước tránh được tổn thất ở mức thấp nhất, bên cạnh đó không thể không kể đến những tướng lĩnh xuất sắc đã lãnh đạo binh sĩ của mình chiến đấu chống lại một đội quân hùng mạnh đông hơn rất nhiều lần để bảo vệ thành công đất nước. Nhưng sau chiến tranh người Phần Lan vẫn có một chính sách đối với nước Nga. Điều này thể hiện rõ ràng trong sự giải thích của tổng thống Kekkonen “nhiệm vụ cơ bản của chính sách đối ngoại Phần Lan và hòa hợp sự tồn tại của dân tộc với những mối quan tâm thống trị môi trường địa chính trị của Phần Lan là ngoại giao ngăn ngừa nhiệm vụ của nền ngoại giao này là cảm nhận được mối nguy cơ đang đến trước khi nó quá gần và đưa ra những giải pháp để tránh được mỗi khi tên này tốt hơn là theo cách thức càng ít vào trước rằng nó đã được thực hiện tốt”.
2. Nhật Bản thời Minh Trị: Là một nước nghèo nàn, lạc hậu Nhật Bản đã chống chọi như thế nào với làn sóng phương Tây và xử lý biến động này ra sao.
Rút kinh nghiệm từ Trung Hoa đã xử lý không tốt và đã phải nhận lấy những hậu quả không mong muốn. Nhật Bản ban đầu phản ứng dữ dội với làn sóng phương tây nhưng sau đó họ đã nhìn nhận ra vấn đề. Nước Nhật có những người lãnh đạo xuất chúng vào đúng thời điểm cần thiết. Minh Trị và những người của ông đã có những phương thức xuất sắc, cải cách sâu rộng đến hầu hết mọi phương diện của đời sống một cách có chọn lọc.
Đơn cử như về Quân đội những người lãnh đạo chọn Lục Quân theo mẫu người Đức , Hải quân theo khuôn hải quân Anh; chấm dứt chế độ phong kiến, xây dựng một nhà nước pháp quyền theo đường đối phương Tây. Cùng với đó là sự mạnh mẽ về nội tâm của người Nhật Bản sẵn sàng hi sinh mạng sống chống lại những thế lực vượt trội ngoài.
3. Chi Lê: Là một nước có truyền thống dân chủ ôn hòa song Chile đã phải trải qua một giai đoạn biến động đẫm máu trong lịch sử bởi cai trị của một kẻ tàn nhẫn, độc ác.
Trước ảnh hưởng của chủ nghĩa mác-xít với người lãnh đạo là Alleda lên nắm quyền như một biến động thứ nhất dẫn đến cuộc đảo chính của Pinoche (biến động thứ hai ) biến động này như một cơn sóng thần nhấn chìm Chilê vào sự không ổn định. Tội ác của chính quyền quân sự lên đến đỉnh điểm với những bắt bớ giết hại người của đảng đối lập và thường dân lên đến con số khủng khiếp. Biến động hay này đã được xử lý bằng biện pháp phản kháng Hòa Bình. Pinoche đã bị hạ bệ bởi những người biểu tình ôn hòa nhưng sự bất ổn vẫn còn ở quốc gia này một thời gian dài
4. Đức: Nói về mức độ biến động Đức là một quốc gia có sự biến động dữ dội nhất. Quân đội Đức từng thống trị cả châu Âu rồi thất bại thảm hại ở cả chiến tranh thế giới 1 và Chiến tranh thế giới thứ 2. Điều này đã dẫn đến 1 hậu quả kinh khủng là dân thường bị trả thù bởi quân Đồng minh và người Nga vì sự tàn bạo của quân đội Đức ở Châu Âu.
Sau khi kinh tế đã khởi sắc , chính trị ổn định một lần nữa nước Đức lại rúng động vào năm 1968 . Cứ khoảng 20 năm gặp một biến động và phản ứng bùng phát dữ dội từ biến động đã khiến cho người Đức có kinh nghiệm xử lý khá thành công biến động.
Với Biến Động, Jared Diamon kỳ vọng làm cuộc khảo sát hình mẫu các quốc gia vượt qua biến động và bài học được rút ra. Tuy rằng từng nước có những vấn đề riêng, không thể có mẫu số chung cho tất cả nhưng có những động thái chung của các quốc gia đối phó với biến cố một cách thành công
– Thừa nhận biến cố chấp nhận sự thay đổi, không đổ lỗi cho quốc gia khác
– Xác định tập trung cần được thay đổi
– Xác định các quốc gia có thể giúp đỡ
– Xác định một mô hình mà quốc gia khác đã từng xử lý
Với một thế giới đầy biến động như ngày nay, cuốn sách này thật bổ ích, nó giúp cho mọi người nhìn nhận bản chất của biến động qua các ví dụ về biến động của các quốc gia đã trải qua với mức độ ảnh hưởng từ quốc gia đến toàn cầu và một số phương cách xử lý biến động được coi là thành công.
Phần 1: Cá nhân
Dẫn nhập - Những tàn dư của vụ hỏa hoạn ở hộp đêm Cocoanut Grove 
Hai câu chuyện – Biến cố là gì? – Biến cố cá nhân và biến cố quốc gia – Cuốn sách này viết về gì và không viết về gì – Mục tiêu của cuốn sách
Ở một hay những thời điểm nào đó trong đời mình, hầu hết chúng ta đều phải trải qua một biến động hay biến cố riêng tư mà có khi xử lý được, có khi không, nhưng lại làm thay đổi cả cuộc đời. Diễn rộng ra, các quốc gia cũng đều kinh qua những biến cố như vậy, và cũng có khi xử lý được, có khi không, nhưng lại làm thay đổi cả đất nước. Đã có nhiều nghiên cứu và thông tin mang tính giai thoại, do các nhà tâm lý trị liệu đưa ra, về phương cách xử lý những biến cố cá nhân. Vậy những đúc kết đó có giúp chúng ta hiểu được phương cách xử lý những biến cố quốc gia hay không?
Để minh họa cho những biến cố cá nhân hay quốc gia, tôi sẽ bắt đầu với hai câu chuyện của chính bản thân mình. Người ta thường cho rằng những ký ức lâu bền của trẻ em được lưu giữ sớm nhất là ở khoảng độ tuổi lên bốn, dù trẻ nhỏ vẫn lưu giữ những ký ức mờ nhạt về các sự kiện trước đó. Tình trạng chung đó có thể rơi vào trường hợp của tôi, vì ký ức sớm nhất tôi lưu giữ được là vụ hỏa hoạn ở hộp đêm Cocoanut Grove ở Boston, xảy ra ngay sau sinh nhật lần thứ năm của tôi. Mặc dù (may thay) không có mặt trong vụ hỏa hoạn đó, nhưng tôi được nghe gián tiếp từ những lời kể đầy kinh hoàng của ông bố làm bác sĩ.
Vào ngày 28 tháng 11 năm 1942, một đám cháy bùng phát và lan nhanh tại một hộp đêm chật kín người ở Boston tên là Cocoanut Grove (người chủ hộp đêm đặt như vậy) vốn chỉ có duy nhất một lối thoát hiểm nhưng đã bị chặn. Tổng cộng có 492 người chết cùng hàng trăm người khác bị thương, do ngạt thở, hít phải khói, bị dẫm đạp hay bị bỏng (Ảnh 0.1). Đội ngũ bác sĩ và bệnh viện ở Boston đều quá tải – không chỉ do những nạn nhân bị thương hay sắp chết do vụ hỏa hoạn mà còn do những nạn nhân về mặt tâm lý: những thân nhân quẫn trí vì vợ, chồng, con cái, anh chị em của mình tử vong một cách khủng khiếp; và cả những người sống sót sau vụ cháy bị sang chấn tâm lý vì mặc cảm tội lỗi khi được sống trong khi hàng trăm vị khách phải chết. Cho đến 10:15 tối, cuộc sống của họ vẫn bình thường, chỉ tập trung vào dịp nghỉ cuối tuần đúng lễ Tạ ơn, một trận bóng bầu dục và ngày nghỉ phép của lính tráng thời chiến. Nhưng đến 11:00 tối, hầu hết các nạn nhân đều đã chết, và cuộc sống của những người thân cũng như người còn sống rơi vào khủng hoảng. Con đường đời của họ đã bị trật bánh. Họ cảm thấy hổ thẹn do mình còn sống trong khi người thân yêu lại chết đi. Thân quyến những người chết đã mất đi trụ cột của mình. Vụ hỏa hoạn này làm lay chuyển niềm tin vào một thế giới công bình cho không chỉ những người sống sót mà cả người dân Boston ở xa đám cháy (kể cả tôi, lúc đó mới năm tuổi). Những người bị trừng phạt không phải là kẻ hư hỏng hay xấu xa: họ chỉ là những con người bình thường, bị chết không phải do lỗi lầm của họ.
Một số người sống sót và những người thân vẫn còn bị sang chấn tinh thần trong phần đời còn lại. Một số tự vẫn. Nhưng hầu hết, sau một vài tuần dằn vặt dữ dội do chưa thể chấp nhận nỗi mất mát của mình, đã bắt đầu bớt đau buồn, xem xét lại bản thân, tạo dựng lại cuộc đời và thấy rằng không phải mọi thứ trong thế giới này đều đã bị hủy hoại. Nhiều người bị mất vợ hoặc chồng trong vụ này đã tái hôn. Dù vậy, ngay cả ở những trường hợp tốt nhất, mãi nhiều thập niên sau họ vẫn là những mảnh ghép giữa căn tính mới hình thành sau vụ hỏa hoạn Cocoanut Grove và căn tính cũ trước khi đám cháy xảy ra. Trong suốt cuốn sách này, chúng ta sẽ thường xuyên có cơ hội áp dụng phép ẩn dụ về “mảnh ghép” đối với những cá nhân và quốc gia mà các yếu tố khác hẳn nhau cùng tồn tại một cách khó chịu.
Vụ hỏa hoạn Cocoanut Grove cung cấp một ví dụ khắc nghiệt về biến cố cá nhân. Nhưng sự khắc nghiệt này chỉ xảy ra với một số lượng lớn nạn nhân cùng lúc – trên thực tế, có quá nhiều nạn nhân bị kích động bởi đám cháy đòi hỏi phải có những liệu pháp mới trong lĩnh vực tâm lý trị liệu, như chúng ta sẽ thấy ở Chương 1. Nhiều người trong chúng ta từng trực tiếp trải nghiệm bi kịch cá nhân trong đời sống riêng, hay gián tiếp qua người thân hoặc bạn bè. Tuy nhiên, những thảm kịch như vậy không chỉ nhằm vào một nạn nhân và gây đau đớn cho họ, mà còn cho cả bạn bè của người đó, như trường hợp vụ hỏa hoạn Cocoanut Grove đối với những người thân quen của 492 nạn nhân.
Bây giờ, để so sánh, đây là một ví dụ về tầm biến cố quốc gia. Tôi sống ở Anh vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, đúng vào thời điểm đất nước này đang trải qua một biến cố quốc gia tiệm tiến, mặc dù cả tôi và những người bạn Anh đều không thấy rõ điều đó. Nước Anh vốn dĩ đứng đầu thế giới về khoa học, được ban tặng một lịch sử văn hóa phong phú, đậm chất Anh đầy tự hào và độc đáo, đồng thời vẫn còn lưu giữ những hồi ức về việc từng sở hữu hạm đội lớn nhất thế giới, sự thịnh vượng và đế chế trải rộng nhất trong lịch sử. Thật không may, đến thập niên 1950 thì Liên hiệp Anh lại bị chảy máu kinh tế, mất đi đế chế và quyền lực, gặp xung đột về vai trò của mình ở châu Âu, và phải đấu tranh với những khác biệt giai tầng lâu đời và làn sóng nhập cư gần đây. Trong giai đoạn 1956-1961, mọi thứ lên đến đỉnh điểm khi Anh thải hồi mọi tàu chiến còn lại của mình, vướng vào các cuộc bạo loạn sắc tộc đầu tiên, phải trao trả độc lập cho các thuộc địa ở châu Phi, đồng thời chứng kiến Khủng hoảng Suez làm phơi bày thất bại nhục nhã về khả năng hành động độc lập của một cường quốc thế giới. Những người bạn Anh của tôi phải gắng hiểu về những sự kiện đó để giải thích chúng cho một người khách Mỹ như tôi. Chúng làm thổi bùng những tranh luận sôi nổi trong dân chúng và các chính trị Anh về bản sắc và vai trò của nước này.
Đến nay, sau 60 năm, nước Anh vẫn là một mảnh ghép giữa bản sắc mới và bản sắc cũ của nó. Nước Anh đã rũ bỏ đế chế của mình để trở thành một xã hội đa sắc tộc, chấp nhận một nhà nước phúc lợi và trường học chất lượng cao do chính phủ điều hành để giảm trừ sự khác biệt giai cấp. Nước này giờ đây không còn giành lại được sự thống trị về hải quân và kinh tế trên thế giới và hiển nhiên vẫn còn tồn tại mâu thuẫn (như vụ Brexit) về vai trò của họ ở châu Âu. Nhưng Anh vẫn nằm trong số sáu quốc gia giàu nhất thế giới, vẫn có một nền dân chủ nghị viện theo thể chế quân chủ lập hiến, vẫn là một đất nước hàng đầu về khoa học và công nghệ và vẫn sử dụng đồng bảng Anh chứ không phải đồng euro.
Hai câu chuyện trên minh họa cho chủ đề của cuốn sách này. Biến cố, và những áp lực phải thay đổi, đe dọa đến những cá nhân và nhóm người ở đủ cấp độ, từ những con người đơn lẻ, đến các nhóm, doanh nghiệp, quốc gia, và trên toàn thế giới. Biến cố có thể phát sinh từ những áp lực bên ngoài, chẳng hạn như một người bị bạn đời bỏ rơi hoặc trở thành góa bụa, hay một quốc gia bị đe dọa hoặc tấn công bởi một quốc gia khác. Ngoài ra, biến cố có thể phát sinh từ những áp lực bên trong, chẳng hạn như một người bị bệnh hoặc một quốc gia gánh chịu bất ổn xã hội. Đối phó thành công với áp lực bên ngoài hoặc bên trong đòi hỏi sự thay đổi có chọn lọc. Điều này đúng cho cả quốc gia cũng như cá nhân.
Từ khóa ở đây là “chọn lọc.” Việc thay đổi hoàn toàn và loại bỏ mọi thứ về căn tính trước đó là điều bất khả và bất cầu đối với những cá nhân hoặc quốc gia. Thách thức đối với các quốc gia cũng như cá nhân đang gặp biến cố là tìm ra được phần nào trong căn tính của họ đã vận hành tốt không cần thay đổi và phần nào không còn vận hành cần phải thay đổi. Cá nhân hay quốc gia nào đang chịu áp lực thì phải đánh giá một cách trung thực về khả năng và giá trị của mình. Họ phải quyết định những gì của chính mình vẫn vận hành và vẫn phù hợp với ngay cả dưới các hoàn cảnh đã thay đổi để lưu giữ lại. Ngược lại, họ cần đủ dũng khí để nhận ra những gì phải thay đổi để đối phó với tình huống mới. Điều đó đòi hỏi các cá nhân hoặc quốc gia phải tìm giải pháp mới phù hợp với khả năng và với phần còn lại của chính họ. Đồng thời, họ phải phân định ranh giới và khoanh rõ những yếu tố nào là quan trọng đối với căn tính của mình đến mức khước từ việc thay đổi chúng.
Những điều đã nêu nằm trong những tương đồng giữa cá nhân và quốc gia liên quan đến biến cố. Nhưng cũng có những khác biệt rõ ràng mà chúng ta phải thừa nhận.
Một điểm khởi đầu thuận tiện là từ biến cố trong tiếng Anh “crisis” bắt nguồn từ danh từ tiếng Hy Lạp “krisis” và động từ “krino,” có những nét nghĩa sau: “tách rời,” “quyết định,” “vạch ra sự khác biệt” và “bước ngoặt.” Do đó, người ta có thể nghĩ biến cố là một thời điểm sự thật: một bước ngoặt khi hoàn cảnh trước và sau “thời điểm” đó khác biệt “nhiều hơn” so với trước và sau “hầu hết” các thời điểm khác. Tôi đặt các từ “thời điểm,” “nhiều hơn” và “hầu hết” trong ngoặc kép vì đó là một vấn đề thực tiễn để xác định thời điểm này ngắn ngủi đến thế nào, những điều kiện thay đổi khác nhau ra sao và mức độ hiếm hoi hơn của nó so với hầu hết các thời điểm khác để trở thành một bước ngoặt mà chúng ta có thể gắn cho nó cái nhãn “biến cố” thay vì chỉ là một sự kiện nhỏ nhặt hay một tiến trình thay đổi tự nhiên tiệm tiến.
Bước ngoặt thể hiện một thách thức. Nó tạo áp lực để đưa ra những phương pháp xử lý mới, khi các phương pháp trước đây chứng tỏ không phù hợp để giải quyết thách thức. Nếu một cá nhân hoặc quốc gia quả thực nghĩ ra các phương pháp đối phó mới và tốt hơn, thì chúng ta cho rằng biến cố đã được giải quyết thành công. Nhưng như sẽ thấy ở Chương 1, sự khác biệt giữa thành công và thất bại trong việc giải quyết biến cố thường không rõ rệt – thành công có thể chỉ một phần nào, có thể không kéo dài mãi mãi, và vấn nạn tương tự có thể lặp lại. (Hãy nghĩ về việc Liên hiệp Anh “giải quyết” vai trò thế giới của họ bằng cách gia nhập Liên minh Châu Âu vào năm 1973 rồi sau đó, vào năm 2017, lại bỏ phiếu cho việc rời khỏi Liên minh Châu Âu.)
Bây giờ chúng ta minh họa cho vấn đề thực tiễn đó như sau: một bước ngoặt phải ngắn ngủi, quan trọng và hiếm hoi đến mức nào mới chứng thực cho việc sử dụng thuật ngữ “biến cố”? Trong một đời người hay một thiên niên kỷ lịch sử khu vực, việc gán cho những gì xảy ra là một “biến cố” có thường được sử dụng? Những câu hỏi trên đều có nhiều đáp án để lựa chọn; những đáp án khác nhau lại chứng tỏ sự hữu ích cho các mục đích khác nhau.
Một câu trả lời giới hạn thuật ngữ “biến cố” trong những khoảng thời gian rất dài và những biến động rất hiếm gặp và kịch tính: chẳng hạn, chỉ một vài lần trong đời đối với một cá nhân, và chỉ vài thế kỷ cho một quốc gia. Chẳng hạn, một nhà sử học thời La Mã cổ đại chỉ có thể áp dụng từ “biến cố” cho ba sự kiện sau khi nền Cộng hòa La Mã thành lập vào khoảng năm 509 trước Công nguyên (TCN): hai cuộc chiến tranh đầu tiên với Carthage (264-241 và 218-201 TCN), việc đế chế thay thế chính phủ cộng hòa (khoảng năm 23 TCN), và những cuộc xâm lăng man rợ dẫn đến sự sụp đổ của Đế chế La Mã phương Tây (khoảng năm 476). Tất nhiên, một nhà sử học La Mã không xem mọi sự kiện khác trong lịch sử La Mã giữa năm 509 TCN và năm 476 là không xứng đáng được đề cập, nhưng ông ta chỉ dành thuật ngữ “biến cố” cho ba sự kiện đặc biệt đó.
Ở cực ngược lại, đồng nghiệp của tôi ở Đại học California, Los Angeles là David Rigby cùng các cộng sự Pierre-Alexandre Balland và Ron Boschma đã công bố một nghiên cứu xuất sắc về “các biến cố công nghệ” ở các thành phố Mỹ, mà họ định nghĩa về mặt vận hành là những thời kỳ suy thoái liên tục trong các ứng dụng bằng sáng chế, với thuật ngữ “duy trì liên tục” được định nghĩa về mặt toán học. Theo những định nghĩa đó, họ thấy rằng trung bình cứ mỗi 12 năm một thành phố Mỹ đều trải qua một biến cố công nghệ, mà biến cố như thế trung bình kéo dài trong bốn năm, và một thành phố trung bình của Mỹ lại rơi vào tình trạng biến cố công nghệ khoảng ba năm trong mỗi thập niên. Họ thấy rằng định nghĩa này hiệu quả để hiểu một câu hỏi đem lại nhiều lợi ích thực tiễn: điều gì cho phép một số chứ không phải các thành phố khác của Mỹ tránh được biến cố công nghệ theo định nghĩa đó? Nhưng một nhà sử học La Mã sẽ gạt bỏ các sự kiện do David và các đồng nghiệp của ông nghiên cứu và cho rằng chúng chỉ là những sự cố nhỏ nhặt ngắn ngủi, trong khi David và các đồng nghiệp của ông sẽ phản bác rằng nhà sử học La Mã chỉ đề cập đến ba sự kiện trong khi lại bỏ qua mọi thứ xảy ra trong suốt 985 năm lịch sử của Đế quốc La Mã.
Quan điểm của tôi là người ta có thể định nghĩa “biến cố” theo những cách khác nhau theo những tần suất, thời lượng và quy mô tác động khác nhau. Người ta có thể nghiên cứu một cách ích dụng cho cả những biến cố lớn hiếm hoi hoặc những biến cố nhỏ thường xuyên. Trong cuốn sách này, thang thời gian mà tôi áp dụng dao động từ vài thập niên đến một thế kỷ. Tất cả các quốc gia được đề cập đều đã trải qua cái mà tôi coi là một “biến cố lớn” trong suốt cuộc đời mình. Điều đó không phải để phủ nhận rằng tất cả những biến cố này cũng kinh qua nhiều bước ngoặt nhỏ hơn.
Đối với các biến cố cá nhân và biến cố quốc gia, chúng ta thường tập trung vào một khoảnh khắc đơn giản của sự thật: chẳng hạn, ngày mà một người vợ nói với chồng mình rằng cô ấy đang đệ đơn ly hôn; hay (đối với lịch sử Chile) ngày 11 tháng 9 năm 1973, khi quân đội Chile lật đổ chính phủ dân chủ Chile khiến tổng thống nước này phải tự sát. Một vài biến cố thực sự xảy ra không báo trước, chẳng hạn như trận sóng thần ở Sumatra vào ngày 26 tháng 12 năm 2004 bất ngờ giết chết 200.000 người, hay cái chết của người anh em họ tôi khi còn ở độ tuổi thanh xuân khi xe hơi của anh bị một chiếc xe lửa nghiền nát ở giao lộ, để lại vợ góa và bốn đứa con côi. Nhưng hầu hết các biến cố cá nhân cũng như biến cố quốc gia đều là đỉnh điểm của những thay đổi dai dẳng kéo dài trong nhiều năm: chẳng hạn, một cặp vợ chồng ly hôn sau khi vấp phải những khó khăn kéo dài trong hôn nhân, hay những khó khăn chính trị và kinh tế của đất nước Chile. “Biến cố” là một biểu hiện bất ngờ, hay một hành động diễn ra đột ngột, của những áp lực đã hình thành trong một thời gian dài. Chân lý này đã được Thủ tướng Úc Gough Whitlam, người (như chúng ta sẽ thấy trong Chương 7) đưa ra một chương trình khẩn cấp bao gồm những thay đổi dường như thiết yếu trong 19 ngày vào tháng 12 năm 1972, nhưng ông lại cố tình giảm nhẹ những cải cách của mình, cho đây chỉ là một “sự ghi nhận về những gì đã xảy ra.”
Những quốc gia không hẳn giống với những cá nhân: chúng khác với cá nhân theo nhiều cách. Tuy nhiên, tại sao những biến cố quốc gia lại được soi rọi thông qua lăng kính biến cố cá nhân? Và những ưu thế của phương pháp tiếp cận này là gì?
Một ưu thế mà tôi thường gặp khi thảo luận về các biến cố quốc gia với bạn bè và sinh viên chính là những biến cố cá nhân quen thuộc và dễ hiểu hơn đối với những người không phải là chuyên gia sử học. Do đó, góc nhìn về biến cố cá nhân giúp người đọc không chuyên dễ dàng hơn khi “tiếp cận” các biến cố quốc gia và để hiểu được sự phức tạp của chúng.
Một ưu thế khác là nghiên cứu về các biến cố cá nhân tạo ra một lộ trình gồm hàng tá yếu tố giúp chúng ta hiểu được các kết quả khác nhau. Những yếu tố này cung cấp một khởi điểm hữu ích để đưa ra một bản đồ các yếu tố tương ứng nhằm hiểu được kết quả khác nhau của các biến cố quốc gia. Chúng ta sẽ thấy rằng một số yếu tố có thể chuyển đổi thẳng từ biến cố cá nhân sang biến cố quốc gia. Chẳng hạn, những cá nhân gặp biến cố thường nhận được sự giúp đỡ từ bạn bè, giống như các quốc gia đang gặp biến cố có thể tìm kiếm sự giúp đỡ từ các quốc gia đồng minh. Cá nhân gặp biến cố có thể rập khuôn các giải pháp theo cách mà họ thấy các cá nhân khác giải quyết các biến cố tương tự; các quốc gia gặp biến cố cũng có thể vay mượn và mô phỏng các giải pháp mà những quốc gia khác, phải đối mặt với các vấn nạn tương tự, đã đưa ra. Cá nhân gặp biến cố có thể tìm được sự tự tin khi vượt qua biến cố trước đó; các quốc gia cũng thế.
Đó là một trong những mối tương đồng đơn giản. Nhưng chúng ta cũng thấy rằng một số yếu tố làm sáng tỏ kết quả của các biến cố cá nhân, trong khi không thể chuyển đổi thẳng sang các biến cố quốc gia, vẫn đóng vai trò là phép ẩn dụ hữu ích cho thấy các yếu tố liên quan đến biến cố quốc gia. Chẳng hạn, các nhà trị liệu thấy thiết thực khi định nghĩa một phẩm chất cá nhân bằng thuật ngữ “sức mạnh bản ngã,” trong khi đó, quốc gia không có sức mạnh bản ngã về mặt tâm lý, nhưng khái niệm trên lại gợi ra một khái niệm tương tự quan trọng đối với quốc gia, gọi là “căn tính quốc gia.” Tương tự như thế, cá nhân thường cảm thấy tự do chọn lựa phương cách giải quyết biến cố với giới hạn trong phạm vi những ràng buộc thực tế, chẳng hạn như trách nhiệm chăm sóc con trẻ hay nhu cầu nghề nghiệp. Tất nhiên các quốc gia không bị giới hạn bởi trách nhiệm chăm sóc con trẻ hay nhu cầu nghề nghiệp, nhưng chúng ta sẽ thấy các quốc gia cũng phải chịu những giới hạn về tự do chọn lựa vì những lý do khác, chẳng hạn như những ràng buộc về mặt địa chính trị và sự thịnh vượng của đất nước.
Việc đối chiếu với biến cố cá nhân cũng giúp nêu bật những đặc trưng rõ nét hơn của các biến cố quốc gia còn thiếu những dữ liệu tương tự với biến cố cá nhân. Một trong số những đặc trưng khác biệt này chính là việc quốc gia thì có nhà lãnh đạo, nhưng cá nhân lại không có; do đó, những câu hỏi về vai trò lãnh đạo đối với biến cố quốc gia thường được đặt ra, nhưng với biến cố cá nhân thì không. Từ trước đến nay, những tranh biện dai dẳng không ngớt trong giới sử học về việc có thật là những lãnh đạo xuất chúng có thể thay đổi tiến trình lịch sử (dưới góc nhìn lịch sử là những “Nhân vật vĩ đại”), hay liệu kết quả lịch sử có giữ nguyên không nếu thay người lãnh đạo. (Ví dụ như Thế chiến II có nổ ra hay không nếu như vụ tai nạn xe hơi vào năm 1930 giết chết Hitler, thay vì chỉ suýt gây ra cái chết của ông ta?) Các quốc gia đều có thể chế chính trị và kinh tế riêng, nhưng với cá nhân thì không. Việc giải quyết biến cố quốc gia luôn liên quan đến những tương tác nhóm và đưa ra quyết định trong phạm vi quốc gia, trong khi cá nhân thường tự đưa ra quyết định. Biến cố quốc gia có thể xử lý bằng cách mạng bạo lực (như trường hợp Chile năm 1973) hoặc
bằng tiến trình hòa bình (như trường hợp Úc sau Thế chiến II); nhưng những cá nhân đơn lẻ không thể theo đuổi cách mạng bạo lực.
Những sự giống nhau, ẩn dụ và khác biệt là lý do tôi thấy những đối sánh về biến cố quốc gia và biến cố cá nhân hữu ích trong việc giúp sinh viên của tôi ở Đại học California, Los Angeles hiểu về những biến cố quốc gia.
Hình 1. Bản đồ thế giới
Khi đọc một cuốn sách, độc giả và các nhà phê bình dần dần phát hiện ra thông tin và cách tiếp cận không như họ mong đợi. Vậy thông tin và cách tiếp cận của cuốn sách này là gì, đồng thời tôi không đưa vào những thông tin và cách tiếp cận nào?
Cuốn sách này là một nghiên cứu so sánh, trần thuật, khảo sát những biến cố và thay đổi có chọn lọc vận hành trên nhiều thập niên ở bảy quốc gia tiên tiến mà tôi có nhiều trải nghiệm cá nhân và được xem xét từ quan điểm thay đổi có chọn lọc theo biến cố cá nhân. Những quốc gia này là Phần Lan, Nhật Bản, Chile, Indonesia, Đức, Úc và Mỹ.
Chúng ta cùng lần lượt xem xét ý nghĩa của mỗi câu chữ.
Đây là một cuốn sách so sánh. Những trang sách này không chỉ bàn luận về một quốc gia. Thay vào đó, chúng được chia đều cho bảy quốc gia để so sánh. Một mặt, các tác giả phi hư cấu phải chọn trình bày những nghiên cứu trường hợp đơn lẻ, mặt khác, phải so sánh nhiều trường hợp khác nhau. Mỗi cách tiếp cận đều có những ưu thế và hạn chế khác nhau. Trong phạm vi độ dày nhất định của cuốn sách, dĩ nhiên những nghiên cứu trường hợp đơn lẻ có thể cung cấp nhiều chi tiết hơn hẳn về trường hợp đó, nhưng các nghiên cứu so sánh lại có thể đưa ra những quan điểm và phát hiện những vấn đề mà nếu chỉ nghiên cứu một trường hợp đơn lẻ thì sẽ không nêu bật được.
Những đối chiếu lịch sử buộc một người phải đặt ra những câu hỏi có lẽ không xuất hiện từ một nghiên cứu trường hợp đơn lẻ: tại sao một loại sự kiện nào đó lại sản sinh kết quả R1 ở quốc gia này trong khi lại cho ra kết quả R2 khác biệt ở quốc gia khác? Chẳng hạn cuốn sách lịch sử một tập về Nội chiến Mỹ mà tôi thích đọc có thể dành sáu trang để viết về ngày thứ hai của trận Gettysburg, nhưng không giống như những cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha hay Phần Lan, chúng lại không khảo sát tỉ mỉ lý do tại sao Nội chiến Mỹ kết thúc mà bên chiến thắng không giết một ai ở bên thua cuộc. Các tác giả nghiên cứu trường hợp đơn lẻ thường hạ thấp giá trị những nghiên cứu so sánh, cho rằng chúng quá giản đơn và nông cạn, trong khi đó, các tác giả nghiên cứu so sánh cũng đánh giá thấp những nghiên cứu trường hợp đơn lẻ, cho rằng chúng không thể đưa ra những câu hỏi rộng hơn. Quan điểm sau được biểu đạt bằng câu nhận xét đầy châm biếm “Những kẻ chỉ nghiên cứu từng quốc gia sẽ có kết cục là không hiểu bất kỳ quốc gia nào cả.” Cuốn sách này là một nghiên cứu so sánh, nên cũng có những mặt ưu thế và hạn chế theo sau.
Do những trang sách trong cuốn này phải trải đều cho bảy quốc gia, nên tôi nhận thấy một cách khó khăn rằng việc trình bày thông tin về mỗi quốc gia phải thật ngắn gọn. Khi ngồi trên bàn làm việc, quay đầu nhìn lại, tôi thấy đằng sau mình trên nền phòng là hàng chồng sách và tư liệu, mỗi chồng cao đến hàng mét, và cứ một chồng là tư liệu dành cho một chương sách. Tôi phải khổ sở tính toán làm sao để cô đọng đống tư liệu dày đến mét rưỡi về nước Đức thời hậu chiến trong một chương chỉ 11.000 từ. Đúng là phải lọc bỏ quá nhiều! Nhưng sự ngắn gọn cũng được bù đắp: nó giúp độc giả đối chiếu những vấn đề chính yếu giữa nước Đức thời hậu chiến với các quốc gia khác mà không bị rối rắm và choán ngợp bởi những chi tiết, trường hợp ngoại lệ, những “giả dụ” hay “giá như” đầy thú vị. Đối với những độc giả muốn tiếp tục tìm hiểu các chi tiết thú vị hơn, thì đã có thư mục sách tham khảo và các bài viết về các nghiên cứu trường hợp đơn lẻ kèm theo.
Văn phong trình bày trong cuốn sách này thuộc thể loại trần thuật: đó là văn phong truyền thống của các sử gia, luôn dựa trên nền tảng lịch sử như một nguyên tắc đã có từ thời các sử gia Hy Lạp Herodotus và Thucydides cách đây 2.400 năm. “Văn phong trần thuật” nghĩa là mọi tranh biện đều được triển khai bằng luận giải, không dùng phương trình, bảng biểu, đồ thị hay số liệu thống kê, và chỉ với một số ít các nghiên cứu trường hợp. Văn phong này có thể trái ngược với phương pháp định lượng mới có thế mạnh trong nghiên cứu khoa học xã hội hiện đại với việc áp dụng phương trình, giả thuyết có thể được kiểm chứng rõ ràng, bảng biểu dữ liệu, biểu đồ và kích thước mẫu rộng lớn (như nghiên cứu nhiều trường hợp) cho phép kiểm định ý nghĩa thống kê.
Tôi cũng từng học và đánh giá cao thế mạnh của các phương pháp định lượng hiện đại, và cũng đã áp dụng chúng trong một nghiên cứu thống kê về nạn phá rừng trên 73 hòn đảo thuộc quần đảo Polynesia1 để đi đến kết luận rằng không bao giờ có thể rút ra được điều gì thuyết phục từ một thông tin tường thuật về nạn phá rừng ở một vài hòn đảo. Tôi cũng từng cùng biên tập một cuốn sách2 mà một số đồng tác giả với tôi khéo léo sử dụng phương pháp định lượng để giải đáp những vấn đề trước đây từng gây tranh cãi bất tận và các sử gia trần thuật cũng không giải quyết được: chẳng hạn như những cuộc chinh phục của quân đội của Napoleon và biến cố chính trị xảy ra là tốt hay xấu đối với sự phát triển kinh tế châu Âu sau đó.
Ban đầu, tôi hi vọng đưa vào các phương pháp định lượng hiện đại trong cuốn sách này, dành nhiều tháng trời cho việc này, nhưng rồi chỉ đi đến kết luận rằng phải dành nó cho một kế hoạch riêng trong tương lai. Điều này là do cuốn sách này chỉ nhằm mục đích xác định, bằng nghiên cứu trần thuật, các giả thuyết và biến số cho một nghiên cứu định lượng kế tiếp để kiểm chứng. Mẫu nghiên cứu của tôi, với chỉ bảy quốc gia, còn quá ít để rút ra những kết luận có ý nghĩa thống kê. Sẽ cần thêm nhiều nghiên cứu để “chứng minh” các khái niệm định tính qua trần thuật của tôi, như “giải quyết hiệu quả biến cố” và “đánh giá trung thực”: chẳng hạn, để chuyển đổi các khái niệm suông này thành những sự việc có thể cân đong đo đếm bằng con số. Do đó, cuốn sách này là một khảo chứng trần thuật, mà từ đó tôi hi vọng sẽ kích phát việc kiểm chứng bằng định lượng.
Trong một thế giới có hơn 210 quốc gia, cuốn sách này chỉ luận bàn bảy quốc gia vốn dĩ đã quen thuộc với tôi. Tôi từng lui tới bảy quốc gia này nhiều lần, và sống ở sáu nước trong nhiều thời kỳ dài, từ cách đây 70 năm. Tôi yêu thích và ngưỡng mộ họ, thăm lại tất cả trong hai năm trở lại đây và quan tâm một cách nghiêm túc những chuyển biến thường xuyên của hai trong số những nước này. Kết quả là tôi có thể viết về các quốc gia này bằng sự cảm thông và hiểu biết dựa trên những trải nghiệm tự thân và của những người bạn cố cựu sống ở đó. Những kinh nghiệm của tôi và bạn bè bao gồm một thời gian đủ dài để chứng kiến những đổi thay quan trọng. Trong số bảy quốc gia này, Nhật Bản là một trong số các nước mà trải nghiệm của tôi còn vấp phải giới hạn do không nói được ngôn ngữ nước này và mới chỉ đến đây từ 21 năm trước. Dù vậy, để bù lại, đối với Nhật Bản tôi có thể dựa vào những kinh nghiệm cả đời của những thân nhân gốc Nhật qua hôn nhân và của bạn bè cũng như sinh viên người Nhật.
Tất nhiên, bảy quốc gia mà tôi chọn đều dựa vào những kinh nghiệm cá nhân không phải là mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên từ các nước trên thế giới. Năm quốc gia là những nước công nghiệp hóa giàu có, một nước tương đối giàu có và chỉ một nước là quốc gia kém phát triển. Không có nước nào ở châu Phi, hai ở châu Âu, hai ở châu Á, ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ mỗi nơi có một nước, và Úc. Vẫn còn dư địa cho các tác giả khác kiểm tra những kết luận của tôi, được rút ra từ mẫu không-ngẫu-nhiên các quốc gia này, có thể áp dụng cho các nước khác ở mức độ nào. Tôi chấp nhận giới hạn đó và chỉ chọn bảy quốc gia do có vẻ đó là ưu thế nổi trội của tôi khi chỉ bàn luận về các nước mà tôi hiểu rõ dựa trên kinh nghiệm cá nhân, tình bạn, và (trong sáu trường hợp) tính tương đồng ngôn ngữ.
Cuốn sách này hầu như hoàn toàn đề cập đến các biến cố quốc gia hiện đại, diễn ra trong thời của tôi, cho phép tôi viết từ góc nhìn trải nghiệm hiện thời của mình. Phần tách riêng mà tôi đề cập đến những thay đổi trước thời kỳ của mình, vẫn liên quan đến nước Nhật, có đến hai chương. Một chương nói về Nhật Bản ngày nay, còn chương kia về Nhật Bản thời Minh Trị (1868-1912). Tôi để riêng một chương về Nhật Bản thời Minh Trị vì nó là một điển hình nổi bật về sự thay đổi có chọn lọc có ý thức, vì nó vẫn còn là một quá khứ mới gần đây, và vì những hồi ức và vấn đề của Nhật Bản thời Minh Trị vẫn còn nổi trội.
Tất nhiên những biến cố và thay đổi tầm quốc gia cũng xảy đến trong quá khứ và đều đặt ra những câu hỏi tương tự. Dù vậy, tôi không thể đặt ra những câu hỏi về quá khứ từ kinh nghiệm bản thân vì những biến cố trong quá khứ như thế lại là chủ đề cho một tác phẩm rộng lớn hơn. Những điển hình nổi tiếng bao gồm sự suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã phương Tây vào thế kỷ 4 và 5; sự trỗi dậy và sụp đổ của vương quốc Zulu ở châu Phi vào thế kỷ 19; Cách mạng Pháp năm 1789 và sự tái cấu trúc tiếp đó của nước Pháp, và thất bại thảm hại của nước Phổ trong trận chiến ở sông Jena năm 1806, bị Napoleon chinh phục và những cải cách về mặt xã hội, hành chính và quân đội sau đó của nước này. Vài năm sau khi bắt đầu viết cuốn sách này, và đã nghĩ ra nhan đề cho nó, thì tôi phát hiện ra một tác phẩm có nhan đề tương tự (Crisis, Choice, and Change [Biến cố, lựa chọn, và thay đổi]) đã được nhà xuất bản Mỹ chuyên in sách của tôi ấn hành (Little, Brown) vào năm 1973.3 Tác phẩm đó khác với cuốn của tôi khi chỉ đề cập đến một số nghiên cứu trường hợp trong quá khứ, cũng như ở một số phương diện cơ bản. (Đó là một bộ sách được biên tập bởi nhiều tác giả, áp dụng một bộ khung gọi là “lý thuyết chức năng hệ thống.”)
Bài viết của các sử gia chuyên nghiệp thường cường điệu những nghiên cứu tư liệu, đó là phân tích tư liệu gốc viết tay được lưu trữ. Mỗi cuốn sách lịch sử mới đều chứng tỏ nó qua việc khai thác các nguồn lưu trữ không hoặc ít khả dụng, hay lặp lại những nguồn lưu trữ qua các sử gia khác. Không như hầu hết sách trích dẫn trong thư mục tham khảo của tôi, cuốn sách này không dựa vào những nghiên cứu tư liệu, thay vào đó, đóng góp của nó dựa trên một bộ khung mới lấy từ các biến cố cá nhân, một phương pháp tiếp cận đối sánh rõ ràng và một góc nhìn rút ra từ những trải nghiệm đời sống của riêng tôi và bạn bè.
Đây không phải là một bài đăng trên tạp chí về những vấn đề đương thời, chỉ đọc trong vài tuần sau khi công bố, rồi sau đó trở thành lỗi thời. Thay vào đó, đây là một cuốn sách dự kiến đến nhiều thập niên sau vẫn còn in được. Tôi nêu ra điều hiển nhiên này chỉ để giải thích lý do tại sao bạn có thể ngạc nhiên khi không thấy cuốn sách này nhắc gì về các chính sách hiện hành của chính quyền Tổng thống Trump trên đất Mỹ, về sự lãnh đạo của Donald Trump, hay về những thương thảo Brexit hiện thời ở Anh. Những gì tôi viết ra hôm nay về các vấn đề đang phát triển nhanh chóng đều có thể bị thay thế vào thời điểm cuốn sách này được in ra và sẽ trở nên vô dụng sau đây một vài thập niên. Bạn đọc quan tâm đến Tổng thống Trump, chính sách của ông ta và vấn đề Brexit sẽ tìm thấy nhiều bài viết về chúng được ấn hành ở nhiều nơi. Nhưng ở Chương 9 và Chương 10 lại có nhiều điều để nói về các vấn đề chính yếu của nước Mỹ đang vận hành trong hai thập niên gần đây, mà giờ đang gây sự quan tâm nhiều hơn dưới chính quyền đương thời và có khả năng tiếp tục vận hành chí ít cũng đến thập niên sau.
Sau đây là lộ trình dành cho cuốn sách của tôi. Ở chương đầu, tôi sẽ nói về những biến cố cá nhân trước khi dành phần còn lại cho các biến cố quốc gia. Tất cả chúng ta đều thấy rằng, khi trải qua biến cố riêng tư và chứng kiến biến cố của người thân và bạn bè, có rất nhiều dạng hệ quả do biến cố gây ra. Trong những trường hợp tốt nhất, người ta thành công trong việc tìm thấy những phương cách thích ứng mới và tốt hơn, và họ sẽ trỗi dậy mạnh mẽ. Ở những trường hợp đáng buồn nhất, họ bị choáng váng rồi trở lại với lối mòn cũ xưa hoặc áp dụng những phương cách thích ứng mới nhưng tồi tệ hơn. Một số người gặp biến cố thậm chí còn tự sát. Các nhà trị liệu đã xác định nhiều nhân tố như vậy và tôi sẽ bàn về khoảng một tá nhân tố trong Chương 1, tác động đến khả năng xử lý thành công một biến cố cá nhân. Từ những yếu tố đó, tôi sẽ tìm tòi những nhân tố tương đương tác động đến các hệ quả của biến cố quốc gia.
Đối với những người than phiền, “Một tá nhân tố thì nhiều quá, không nhớ hết. Tại sao không giảm xuống chỉ còn một ít thôi?” – Tôi xin trả lời rằng: quả là phi lý khi nghĩ rằng những hệ quả của sinh mạng con người hay lịch sử quốc gia lại có thể tóm gọn chỉ còn một vài dòng. Nếu không may mà bạn vớ phải một cuốn sách tuyên bố như vậy, hãy quẳng nó đi đừng đọc làm gì nữa. Ngược lại, nếu không may mà bạn vớ phải một cuốn sách luận bàn tất cả 76 nhân tố tác động lên giải pháp xử lý biến cố, thì cũng nên quẳng nó đi: đó là công việc của tác giả cuốn sách, chứ không phải của người đọc, để lĩnh hội và dành ưu tiên cho việc biến tính phức tạp vô hạn của cuộc sống thành một bộ khung hữu ích. Tôi thấy rằng việc đưa ra 12 yếu tố là một sự thỏa hiệp có thể chấp nhận được giữa hai thái cực trên: đủ chi tiết để giải thích khá rõ về thực tế, cũng không chi tiết quá như việc lập một danh sách để theo dõi việc vặt chứ không phải để hiểu biết thế giới.
Sau chương giới thiệu là ba cặp chương, mỗi cặp chương nói về một loại biến cố quốc gia khác nhau. Cặp đầu tiên đề cập các biến cố ở hai quốc gia (Phần Lan và Nhật Bản) bùng phát thành một biến động bất ngờ, từ cú sốc do các quốc gia khác gây ra. Cặp thứ hai cũng đề cập các biến cố bùng phát bất ngờ, nhưng do những bùng nổ nội tại (ở Chile và Indonesia). Cặp cuối mô tả những biến cố không bùng phát đột ngột, thay vào đó chúng dần lộ diện (ở Đức và Úc), đặc biệt do những áp lực gây ra từ Thế chiến II.
Biến cố ở Phần Lan (Chương 2) bùng phát từ cuộc xung đột của Liên Xô với Phần Lan ngày 30 tháng 11 năm 1939. Từ hệ quả của Cuộc chiến Mùa đông, Phần Lan bị tất cả đồng minh tiềm năng bỏ rơi và phải gánh chịu mất mát lớn lao, tuy vậy lại thành công khi giữ được nền độc lập. Hai mươi năm sau, tôi đến ở Phần Lan trong suốt mùa hè, sống cùng với các cựu binh, cô nhi quả phụ của Cuộc chiến Mùa đông. Di sản của cuộc chiến rõ ràng là một sự thay đổi có chọn lọc, biến Phần Lan thành một mảnh ghép chưa từng thấy, một hòa trộn của các yếu tố đối lập: một nền dân chủ tự do tương đối nhỏ bé theo đuổi chính sách đối ngoại làm mọi điều có thể để lấy được lòng tin của chế độ Xô Viết đối kháng rộng lớn nhưng nghèo đói. Chính sách đó bị xem là ô nhục và bị nhiều người không phải gốc Phần Lan vốn không hiểu biết về những căn nguyên lịch sử đối với chính sách này lên án là đường lối “Phần Lan hóa.” Một trong những thời khắc lên đến cao trào vào mùa hè đó ở Phần Lan, khi tôi ngớ ngẩn bày tỏ quan điểm tương tự với một cựu binh trong Cuộc chiến Mùa đông, ông ta nhã nhặn đáp lại, giải thích cho tôi những bài học cay đắng mà người Phần Lan tiếp thu được khi bị các quốc gia khác chối từ giúp đỡ.
Biến cố còn lại của cặp quốc gia thứ nhất được khơi dậy bởi một cú sốc bên ngoài dính dáng đến Nhật Bản, vốn dĩ theo đuổi chính sách cô lập lâu dài (bế quan tỏa cảng) với thế giới bên ngoài, chính sách này chấm dứt ngày 8 tháng 7 năm 1853 khi một đội tàu chiến Mỹ tiến vào Vịnh Tokyo đòi ký một hiệp ước và quyền lợi cho tàu bè và thủy thủ Mỹ (Chương 3). Kết quả cuối cùng là sự đoạn tuyệt với hệ thống chính quyền trước đó của nước Nhật, theo đó là một chương trình cải cách có ý thức nhằm tạo ra thay đổi rộng lớn và mạnh mẽ, cùng một chương trình gìn giữ những bản sắc truyền thống đã giúp nước Nhật ngày nay trở thành một quốc gia công nghiệp hóa giàu mạnh nổi trội nhất. Sự chuyển hóa của nước Nhật trong suốt những thập niên sau sự cố tiếp xúc với hạm đội Mỹ, gọi là thời Minh Trị, là minh họa nổi bật về nhiều nhân tố tác động đến các biến cố quốc gia. Những tiến trình đưa ra quyết định và thành quả về mặt quân sự tiếp đó của Nhật Bản thời Minh Trị mặt khác lại giúp chúng ta hiểu được lý do tại sao Nhật Bản lại đưa ra những quyết định khác nhau vào thập niên 1930, dẫn đến thất bại nhục nhã về mặt quân sự trong Thế chiến II.
Chương 4 nói về Chile, nước đầu tiên trong hai nước mà biến cố là những bùng phát nội bộ nổ ra từ sự thất bại của một thỏa hiệp giữa những công dân trong nước. Vào ngày 11 tháng 9 năm 1973, sau nhiều năm bế tắc về mặt chính trị, chính phủ dân chủ được bầu lên ở Chile do Tổng thống Allende lãnh đạo bị lật đổ bởi một vụ đảo chính của quân đội và nhân vật chủ xướng, tướng Pinochet, lên nắm quyền lực trong suốt gần 17 năm. Những người bạn Chile của tôi không dự liệu được vụ đảo chính cũng như về các vụ tra tấn tàn nhẫn, khốc liệt do chính phủ Pinochet gây ra khi tôi còn ở Chile một vài năm trước cuộc đảo chính. Trên thực tế, họ còn giải thích với tôi một cách tự hào về những truyền thống dân chủ lâu đời của đất nước Chile, vốn khác biệt với các quốc gia Nam Mỹ khác. Ngày nay, Chile lại một lần nữa trở thành một đất nước dân chủ ngoại lệ ở Nam Mỹ, nhưng được thay đổi có chọn lọc, kết hợp một số mô hình của Allende và Pinochet. Đối với những người bạn Mỹ, họ nhận xét về bản thảo cuốn sách của tôi rằng chương về Chile là chương khủng khiếp nhất do tốc độ và sự tính chất trọn vẹn khi một thể chế dân chủ trở thành một nền độc tài tàn bạo.
Đi cặp với chương về Chile là Chương 5 viết về Indonesia mà sự thất bại của thỏa hiệp chính trị trong nhân dân cũng gây ra bùng phát nội bộ thành một vụ đảo chính xảy ra vào ngày 1 tháng 10 năm 1965. Hậu quả của vụ này trái ngược với cuộc đảo chính ở Chile: một cuộc phản đảo chính dẫn đến việc thảm sát phe nhóm được cho là ủng hộ vụ đảo chính. Indonesia đứng ở vị thế ngược hẳn so với những nước được đề cập trong cuốn sách này: đây là đất nước nghèo đói, ít công nghiệp hóa và Tây phương hóa nhất trong số bảy nước tôi chọn ra; đồng thời lại có căn tính quốc gia non trẻ nhất, chỉ mới gắn kết trong thời gian 40 năm tôi làm việc ở đó.
Hai chương kế tiếp (Chương 6 và Chương 7) bàn về các biến cố quốc gia của Đức và Úc, có vẻ như chúng dần lộ diện chứ không bất ngờ bùng nổ. Một số độc giả có thể ngần ngừ về việc áp dụng thuật ngữ “biến cố” hay “biến động” về những tình huống phát triển từ từ. Nhưng ngay cả khi có người thích dùng một thuật ngữ khác, tôi vẫn thấy việc quán xét chúng trong phạm vi cùng một bộ khung được áp dụng để thảo luận về những chuyển đổi đột ngột là thiết thực, vì chúng đều nhắm đến những câu hỏi về sự thay đổi có chọn lọc và đều minh họa cho cùng những nhân tố tác động tới hệ quả. Thêm vào đó, sự khác biệt giữa “biến cố bùng phát” và “thay đổi dần dần” là không rõ ràng: chúng hòa lẫn với nhau. Ngay cả trong các trường hợp chuyển đổi có vẻ đột ngột như vụ đảo chính ở Chile, thì nhiều thập niên gia tăng căng thẳng dần dần đã dẫn đến vụ đảo chính, rồi đến những thập niên tiếp nối là những thay đổi dần dần. Tôi mô tả các biến cố ở Chương 6 và Chương 7 “có vẻ” chỉ dần lộ diện, vì rõ ràng biến cố của nước Đức thời hậu chiến bắt đầu bằng việc gánh chịu sự tàn phá gây tổn thương sâu sắc mà bất kỳ quốc gia nào được thảo luận trong cuốn sách này cũng phải trải qua: tình trạng bị hủy hoại của nước Đức ở thời điểm đầu hàng trong Thế chiến II, ngày 8 tháng 5 năm 1945. Tương tự như thế, trong khi biến cố của Úc thời hậu chiến cũng diễn ra từ từ, bắt đầu bằng ba thất bại quân sự gây sốc chỉ trong khoảng thời gian chưa đến ba tháng.
Quốc gia đầu tiên trong hai nước minh họa cho các biến cố không bùng nổ là nước Đức hậu Thế chiến II (Chương 6) đối mặt đồng thời với những vấn đề di sản của thời kỳ Phát xít, với những bất đồng về tổ chức trật tự xã hội và tổn thương về việc phân chia thể chế chính trị giữa Tây Đức và Đông Đức. Trong phạm vi khung đối chiếu của tôi, những đặc trưng nổi bật về xử lý biến cố ở nước Đức thời hậu chiến bao gồm những xung đột bạo lực khác thường giữa các thế hệ, những ràng buộc mạnh mẽ về địa chính trị, và tiến trình hòa giải với các nước từng là nạn nhân của những hành động tàn bạo thời chiến của nước Đức.
Một ví dụ khác về những biến cố không bùng phát là nước Úc (Chương 7), đất nước đã tái định hình căn tính quốc gia trong suốt 55 năm tôi thường đến. Khi lần đầu tôi đến đó vào năm 1964, Úc trông giống một tiền đồn xa xôi của nước Anh trên Thái Bình Dương, vẫn hướng về nước Anh để xác định căn tính của mình, đồng thời vẫn thực hiện chính sách một nước Úc Trắng, hạn chế hay loại trừ những người nhập cư không phải gốc châu Âu. Nhưng nước Úc lại phải đối mặt với một biến cố về căn tính, do căn tính da trắng và căn tính Anh ngày càng mâu thuẫn với vị trí địa lý của Úc, các nhu cầu về chính sách đối ngoại, chiến lược quốc phòng, kinh tế và cấu tạo dân số. Ngày nay, thương mại và chính trị Úc đều hướng đến châu Á, đường phố và khuôn viên đại học đầy người châu Á, và những cử tri Úc chỉ bị thua sít sao trong cuộc trưng cầu dân ý nhằm không công nhận Nữ hoàng Anh là người đứng đầu quốc gia Úc. Tuy nhiên, cũng như ở Nhật Bản thời Minh Trị và Phần Lan, những thay đổi đó đều có chọn lọc: Úc vẫn theo thể chế dân chủ nghị viện, ngôn ngữ quốc gia vẫn là tiếng Anh, và đa số người Úc vẫn có tổ tiên là người Anh.
Đến nay, tất cả những biến cố quốc gia được thảo luận này đều được nhìn nhận đúng, và đã được giải quyết (hay ít nhất thì các phương sách cũng đã được thực hiện trong một thời gian dài) với những thành tựu mà chúng ta có thể đánh giá được. Bốn chương cuối mô tả những biến cố trong hiện tại và tương lai mà những kết quả vẫn còn là một ẩn số. Tôi bắt đầu phần này với nước Nhật (Chương 8), vốn đã là chủ đề ở Chương 3. Nước Nhật ngày nay đang đối mặt với nhiều vấn đề cơ bản, một số đã được người dân và chính quyền Nhật nhận biết rộng rãi, nhưng số khác thì người Nhật chưa nhận thấy hoặc thậm chí còn phủ nhận. Hiện tại, rõ ràng vẫn chưa có hướng xử lý cho những vấn đề này; tương lai của nước Nhật thật ra vẫn còn ở phía trước và vẫn do người dân định đoạt. Liệu những ký ức về một Nhật Bản thời Minh Trị dũng cảm và thành công vượt qua biến cố có đưa nước Nhật hiện đại vươn đến thành tựu?
Hai chương tiếp đó (Chương 9 và Chương 10) liên quan đến Mỹ, đất nước của tôi. Tôi xác định ra bốn biến cố đang ngày càng gia tăng có khả năng xói mòn nền dân chủ và sức mạnh Mỹ chỉ trong thập niên tới, như từng xảy ra ở Chile. Dĩ nhiên, chúng không phải là những phát hiện của tôi: có một thảo luận mở về bốn biến cố này giữa nhiều người Mỹ, và hiện nay đã có một cảm nhận về biến cố lan truyền trong nước. Đối với tôi, dường như vẫn chưa có giải pháp cho cả bốn vấn đề này, mà mọi việc còn trở nên tồi tệ hơn. Cũng như Nhật Bản thời Minh Trị, Mỹ vẫn còn lưu giữ những ký ức về khả năng vượt qua các biến cố, đáng chú ý nhất là cuộc Nội chiến dai dẳng tang thương, và việc Mỹ đột nhiên bị kéo ra khỏi chính sách tách biệt với thế giới về mặt chính trị để dấn thân vào Thế chiến II. Liệu những ký ức đó giờ đây có thể giúp nước Mỹ thành công?
Cuối cùng là phạm vi toàn thế giới (Chương 11). Trong khi người ta có thể tập hợp một danh sách dài vô tận về những vấn nạn mà thế giới phải đối mặt, thì tôi chỉ tập trung vào bốn vấn đề với tôi dường như có khuynh hướng đã diễn ra, mà nếu chúng tiếp diễn sẽ hủy hoại mức sống trên toàn cầu trong vòng vài thập niên tới. Không như Nhật Bản và Mỹ, cả hai nước này đều có lịch sử lâu dài về căn tính quốc gia, chính phủ tự trị và những ký ức về hành động tập thể thành công, cả thế giới thiếu một lịch sử như thế. Liệu thế giới có đạt được thành quả tốt đẹp nếu không có những ký ức đó để truyền cảm hứng cho chúng ta khi mà giờ đây lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta phải đối mặt với những vấn nạn có khả năng gây tai ương cho toàn thế giới?
Cuốn sách này kết lại với phần lời bạt xem xét những nghiên cứu của chúng tôi về bảy quốc gia và cả thế giới dưới ánh sáng của 12 yếu tố mà tôi đưa ra. Tôi đặt câu hỏi xem liệu những quốc gia có cần đến biến cố để tái sinh đất nước thông qua những cơ hội lớn lao. Một cú sốc của vụ hỏa hoạn Cocoanut Grove là cần thiết để chuyển đổi nền tâm lý trị liệu ngắn hạn: các quốc gia có thể quyết định tự chuyển hóa mà không cần đến một cú sốc như vậy hay không? Tôi xem xét việc liệu các nhà lãnh đạo có những quyết định làm thay đổi lịch sử hay không; tôi đề xuất phương hướng cho những nghiên cứu trong tương lai, và đưa ra các kiểu bài học mang tính thực tiễn từ việc khảo sát lịch sử. Nếu người dân, hoặc ngay cả những nhà lãnh đạo của họ, chọn hồi nhớ về các biến cố trong quá khứ, họ sẽ hiểu được quá khứ có thể giúp chúng ta xử lý các biến cố ở hiện tại cũng như trong tương lai.
Phần 2: Quốc gia - Biến cố đã lộ diện
Chương 2: - Cuộc chiến ở Phần Lan
Đi thăm Phần Lan – Ngôn ngữ – Phần Lan trước năm 1939 – Cuộc chiến Mùa đông – Cuộc chiến Mùa đông chấm dứt – Cuộc chiến Tiếp diễn – Sau năm 1945 – Đu dây – Phần Lan hóa – Khung biến cố
Phần Lan là một xứ sở có dân số 6 triệu người, thuộc bán đảo Scandinavia (Bắc Âu), giáp Thụy Điển ở phía tây và Nga ở phía đông. Ở thế kỷ trước Thế chiến I, đây là một phần lãnh thổ tự trị thuộc Nga chứ không phải là một quốc gia độc lập. Đất nước này nghèo khổ và không mấy ai quan tâm trong phạm vi châu Âu, và hầu như vô danh đối với bên ngoài châu Âu. Vào lúc khởi đầu Thế chiến II, Phần Lan đã là một nước độc lập nhưng vẫn còn nghèo đói, có một nền kinh tế chỉ tập trung vào nông nghiệp và lâm sản. Ngày nay, Phần Lan nổi tiếng trên khắp thế giới về công nghiệp, kỹ nghệ và trở thành một trong những nước giàu có nhất trên thế giới với thu nhập bình quân đầu người ngang với nước Đức và Thụy Điển. Sự yên ổn của nước này rõ ràng dựa trên một nghịch lý: đây là một thể chế dân chủ xã hội tự do mà trong nhiều thập niên vẫn duy trì một mối quan hệ tuyệt hảo và tin cậy với Liên bang Xô Viết trước đây và nước Nga hiện thời. Sự kết hợp các đặc trưng này tạo thành một ví dụ điển hình nổi bật cho việc thay đổi có chọn lọc.
Nếu bạn mới đến thăm Phần Lan lần đầu và muốn hiểu biết con người và lịch sử đất nước này, thì một nơi tốt đẹp để bắt đầu chính là Nghĩa trang Hietaniemi, nghĩa trang lớn nhất nằm ở thủ đô Helsinki. Không như Mỹ, chôn cất những người lính ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington bên ngoài thủ đô Washington và ở các nghĩa trang cựu chiến binh rải rác khắp đất nước, Phần Lan không có những nghĩa trang quân đội như vậy; thay vào đó, những binh lính đã ngã xuống đều được đem về quê nhà chôn cất trong các nghĩa trang thường ở các thành phố hay trong giáo xứ. Một phần lớn của Nghĩa trang Hietaniemi dành cho binh lính tử trận ở Helsinki. Họ dựng một địa điểm vinh danh ở đó, nằm trên một con dốc cạnh phần mộ của các đời tổng thống và lãnh đạo chính trị của Phần Lan, và gần ngôi mộ của Thống chế Carl Gustaf Mannerheim (1867-1951).
Khi đến gần Nghĩa trang Hietaniemi, điều đầu tiên bạn để ý là mình không hiểu chút nào những biển giao thông và bảng thông báo (Ảnh 2.1). Ở hầu hết mọi nước châu Âu khác, ngay cả khi không biết ngôn ngữ nước đó, bạn cũng có thể nhận ra một số chữ, do hầu hết các ngôn ngữ châu Âu đều thuộc ngữ hệ Ấn-Âu, bao gồm tiếng Anh và mọi ngôn ngữ Ấn-Âu cùng chung nhiều ngữ căn. Ngay ở Lithuania, Ba Lan và Iceland bạn cũng có thể nhận biết một số từ trên biển giao thông hay bảng thông báo. Nhưng bạn hầu như không thể nhận biết được một chữ Phần Lan nào, vì tiếng Phần Lan là một trong những ngôn ngữ hiếm hoi ở châu Âu hoàn toàn không dính dáng gì đến ngữ hệ Ấn-Âu.
Điều kế tiếp gây ấn tượng cho bạn ở Nghĩa trang Hietaniemi là tính đơn giản và vẻ đẹp trong thiết kế. Phần Lan vốn nổi tiếng với nhiều kiến trúc sư và nhà trang trí giỏi, những người biết cách tạo hiệu ứng đẹp theo những cách đơn giản. Tôi còn nhớ trong chuyến viếng thăm Phần Lan đầu tiên, khi được mời vào phòng khách của một trong những ngôi nhà của chủ nhân, tôi lập tức nghĩ rằng: “Đây là căn phòng đẹp nhất mình từng thấy.” Rồi suy nghĩ kỹ, tôi hiểu lý do tại sao nó lại đẹp đẽ đến thế, vì đó chỉ là một căn phòng nhỏ hầu như trống không, chỉ có một ít đồ đạc bằng gỗ. Nhưng vật liệu và hình dạng căn phòng cùng số đồ gỗ là kiểu Phần Lan đặc trưng với vẻ đơn giản và duyên dáng.
Rồi bạn có thể sẽ ngạc nhiên bởi số lượng binh lính được chôn cất hay tưởng nhớ ở Hietaniemi. Tôi đếm có khoảng 3.000 bia mộ có tên những người lính được tìm thấy xác, sắp xếp từng hàng theo hình vòng cung. Bên ngoài phần nghĩa trang với những bia mộ có tên, người ta xây một bức tường cao khoảng hơn một mét, dài hơn trăm mét và chia thành 55 tấm bảng ghi tên các binh lính tử trận – tôi đếm được 715 tên – được đưa vào danh sách “mất tích,” vì không tìm thấy xác để đem về. Vẫn còn một tượng đài tập thể vô danh khác, không có cái tên nào khắc trên đó, để tưởng nhớ mọi binh lính chết trong tù. Nhưng tất cả những tử sĩ ở Hietaniemi đều chỉ xuất thân ở Helsinki; còn những nghĩa trang tương tự như thế dành cho tử sĩ nằm ở mọi thành phố và giáo phận ở Phần Lan. Bạn mới bắt đầu nhận ra được vô số binh lính Phần Lan đã ngã xuống trong chiến tranh.
Nếu đi dọc các mộ chí ở Hietaniemi, bạn sẽ lại ấn tượng với những dòng chữ khắc trên đó vì đa phần không đọc được chúng viết gì, vì chúng lại là tiếng Phần Lan. Nhưng hầu hết mộ chí ở mọi nơi, dù được viết bằng ngôn ngữ nào, đều ghi tên người chết, ngày sinh và nơi sinh, ngày chết và nơi chết. Hình mẫu này thì dễ nhận ra, ngay cả ở nghĩa trang Phần Lan đó. Bạn sẽ nhận thấy rằng mọi ngày chết đều từ năm 1939 đến năm 1944, trong giai đoạn Thế chiến II. Đa số binh lính tử trận đều sinh trong khoảng các thập niên 1920 và 1910, có nghĩa rằng hầu hết đều chết trong độ tuổi 20, cũng là điều dễ hiểu. Nhưng bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy cũng có nhiều người lính chết ở độ tuổi 50 hoặc khi mới là thiếu niên. Chẳng hạn, bia mộ của Viktor Pahlsten ghi rằng ông ta sinh ngày 4 tháng 8 năm 1885 và chết ngày 15 tháng 8 năm 1941, 19 ngày sau lần sinh nhật thứ 56. Klara Lappalainen sinh ngày 30 tháng 7 năm 1888 và chết ngày 19 tháng 10 năm 1943 ở tuổi 55. Ở cực ngược lại, cậu học sinh Lauri Martti Hamalainen sinh ngày 22 tháng 7 năm 1929, tình nguyện ra trận và bị giết ngày 15 tháng 6 năm 1943, ở độ tuổi 13, còn thiếu năm tuần nữa thì đến sinh nhật lần thứ 14. Tại sao ngoài những người lính ở độ tuổi 20, đất nước Phần Lan lại trưng tập cả đàn ông và phụ nữ ở độ tuổi 50 và thiếu niên (Ảnh 2.2)?
Khi đọc ngày và nơi chết trên các mộ chí, bạn sẽ thấy những người lính này đều chết tập trung vào một vài khoảng thời gian và địa điểm. Số lượng người chết lớn nhất xảy ra từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 3 năm 1940, rồi vào tháng 8 năm 1941, và lập lại vào tháng 6 và tháng 8 năm 1944. Nhiều địa danh ghi ở nơi chết như Viipuri hay một số địa điểm mà chỉ một người Phần Lan mới có thể xác định cho bạn, chẳng hạn, Syvari, Kannas, Ihantola. Điều này khiến bạn thắc mắc: điều gì khiến địa danh Viipuri quan trọng và đặc biệt, tại sao có quá nhiều người lính hi sinh ở đó chỉ trong một khoảng thời gian ngắn đến thế?
Lời giải thích: Viipuri trước đây từng là thành phố lớn thứ nhì ở Phần Lan cho đến khi được nhượng lại cho Liên Xô, cùng với 1/10 tổng diện tích đất đai Phần Lan, sau một cuộc chiến tranh tàn khốc vào mùa xuân 1939-1940, cộng thêm một cuộc chiến nữa giai đoạn 1941-1944. Vào tháng 10 năm 1939, Liên Xô yêu sách đất đai trên lãnh thổ bốn nước vùng Baltic: Phần Lan, Estonia, Latvia và Lithuania. Phần Lan là nước duy nhất từ chối yêu sách dù Liên Xô có một đội quân hùng hậu và dân số lại gấp 50 lần Phần Lan. Tuy vậy, người Phần Lan quyết tâm tiến hành một cuộc kháng chiến dữ dội để rồi vẫn giữ được độc lập, dù sự tồn sinh của đất nước họ vẫn đặt ra mối nghi ngờ trầm trọng do một chuỗi biến cố kéo dài một thập niên. Tổn thất nặng nề nhất họ phải gánh chịu nằm trong ba giai đoạn đỉnh điểm mà các bia mộ ghi lại, khi quân đội Xô Viết tiếp cận Viipuri từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1940, rồi tiếp đó người Phần Lan chiếm lại Viipuri vào tháng 8 năm 1941, và cuối cùng là khi quân đội Liên Xô tiến chiếm lại Viipuri vào mùa hè năm 1944 (Ảnh 2.3 và 2.4).
Tổn thất của Phần Lan trong chiến tranh với Liên Xô là gần 100.000 nhân mạng, hầu hết là nam giới. Với người Mỹ, người Nhật và các nước châu Âu ngoại trừ Phần Lan, những người còn nhớ tổn thất gần như tức thì là 100.000 nhân mạng ở mỗi vụ dội bom xuống một thành phố (Hiroshima, Hamburg và Tokyo), Liên Xô và Trung Hoa mỗi nước gánh tổn thất khoảng 20 triệu nhân mạng trong Thế chiến II, thì 100.000 nhân mạng Phần Lan trong khoảng thời gian năm năm có vẻ khiêm tốn. Nhưng nó lại đại diện cho 2,5% tổng dân số Phần Lan 3.700.000 người thời đó và 5% nam giới. Tỉ lệ đó tính ra tương đương với 9.000.000 người Mỹ bị chết trong một cuộc chiến ngày nay: gần gấp 10 lần toàn bộ số người Mỹ chết trong tất cả các cuộc chiến tranh trong lịch sử 240 năm của nước này. Chuyến thăm gần nhất của tôi đến Nghĩa trang Hietaniemy là vào Chủ nhật, ngày 14 tháng 5 năm 2017. Tuy binh sĩ tử trận cuối cùng được tưởng niệm ở phần đất quân đội của nghĩa trang Hietaniemi đã từ hơn 70 năm trước (năm 1944), tôi vẫn thấy hoa tươi được đặt trên nhiều ngôi mộ và các gia đình đi lại quanh chúng. Tôi dừng lại bắt chuyện với một gia đình bốn người, người lớn tuổi nhất là một người đàn ông ở độ tuổi 40. Điều này có nghĩa rằng người lính đã ngã xuống nằm ở ngôi mộ mà gia đình đang thăm viếng không thể là bố mẹ mà chỉ có thể là ông bà của họ. Khi tôi bình luận với người đàn ông về những cuộc thăm viếng vẫn tiếp tục, sự tưởng nhớ và những bó hoa tươi, ông ta giải thích: “Mọi gia đình Phần Lan hồi đó đều có người thân bị mất nằm đây.”
Chuyến thăm Phần Lan lần đầu tiên của tôi là vào mùa hè năm 1959, chỉ mới 15 năm sau chiến tranh Phần Lan-Liên Xô, và cũng chỉ 4 năm sau ngày Liên Xô rút khỏi các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Phần Lan nằm ở vùng ngoại thành Helsinki. Những chủ nhà của tôi đều là cựu binh, quả phụ hoặc thiếu niên trong giai đoạn chiến tranh này, ngoài ra còn có một người lính đang tại ngũ. Họ kể lại cho tôi những mẩu chuyện đời riêng và lịch sử gần đây của đất nước mình một cách chi tiết. Tôi học thứ tiếng Phần Lan tuyệt vời đủ để thoải mái đi đây đi đó ở xứ sở này, để cảm tạ ngôn ngữ này đã góp phần cho ý thức độc đáo của xứ sở Phần Lan và để thúc đẩy biến cố riêng của tôi, được mô tả ở chương trước. Với những độc giả chưa có dịp đến Phần Lan, một số đặc trưng của khung biến cố và thay đổi trong cuốn sách này để lưu giữ trong tâm trí khi các bạn đọc những thông tin dưới đây, gồm: sức mạnh và cội nguồn của căn tính quốc gia Phần Lan; đánh giá hiện thực chính xác của người Phần Lan về tình trạng địa chính trị của đất nước họ; sự kết hợp những thay đổi có chọn lọc tạo thay đổi nghịch lý mà tôi đã đề cập ở đoạn mở đầu; và việc Phần Lan thiếu tự do chọn lựa, thiếu sự giúp đỡ từ đồng minh ở những thời điểm quyết định, và thiếu những hình mẫu hiệu quả để áp dụng.
Phần Lan đồng nhất với bán đảo Scandinavia và được xem là một phần của bán đảo này. Nhiều người Phần Lan đều có tóc vàng mắt xanh cũng như người Thụy Điển và Na Uy. Về mặt di truyền học, người Phần Lan thực ra có đến 75% gốc Bắc Âu như người Thụy Điển và Na Uy, và chỉ 25% có nguồn gốc từ phía đông. Nhưng chính địa lý, ngôn ngữ và văn hóa lại khiến người Phần Lan khác biệt với những chủng tộc Bắc Âu khác, và họ lấy làm tự hào về những khác biệt đó. Về mặt địa lý, người Phần Lan mô tả đất nước này bằng những câu được nhắc đi nhắc lại: “Chúng tôi là một đất nước nhỏ bé,” và “Địa lý của đất nước chúng tôi sẽ không bao giờ thay đổi.” Ở câu sau, người Phần Lan có ý nói rằng biên giới giữa Phần Lan và Nga (hay với Liên Xô, tiền thân của nước Nga) hiện hữu còn lâu hơn biên giới của nó với bất kỳ quốc gia châu Âu nào khác. Quả thực Phần Lan là vùng đệm giữa Nga và phần còn lại của bán đảo Scandinavia.
Ngoài gần 100 ngôn ngữ bản địa ở châu Âu đều mang những thành tố liên hệ với ngữ hệ Ấn-Âu, có một ngôn ngữ riêng biệt ở vùng Basque và bốn ngôn ngữ khác. Bốn ngôn ngữ đó là tiếng Phần Lan, thứ tiếng quan hệ gần gũi với tiếng Estonia, cùng tiếng Hungary và ngôn ngữ Lapp (Saami)5 có quan hệ xa xôi, tất cả đều thuộc ngữ hệ Finno- Ugric. Tiếng Phần Lan là một ngôn ngữ đẹp đẽ và là điểm nhấn của niềm tự hào và căn tính của nước này. Trường ca Kalevala của Phần Lan thậm chí còn giữ một vị trí quan trọng đối với ý thức dân tộc hơn cả những vở kịch của Shakespare đối với những dân tộc nói tiếng Anh. Với người ngoài, tiếng Phần Lan không chỉ là một ngôn ngữ tuyệt mỹ với chất giọng như hát, mà còn là thứ ngôn ngữ rất khó học. Một điều gây khó khăn cho việc học ngôn ngữ này là từ vựng của nó, vì chữ Phần Lan không có ngữ căn Ấn-Âu tương tự, mà hầu hết từ vựng của nó phải học thuộc lòng từng từ một.
Những điều khác làm tiếng Phần Lan khó học là thanh điệu và ngữ pháp. Mẫu tự k rất phổ biến: trong 200 trang từ điển Phần Lan – Anh của tôi, có đến 31 trang dành cho các từ mở đầu bằng mẫu tự k. (Hãy thử thưởng thức những dòng thơ trong Kalevala: “Kullervo, Kalervon poika, sinisukka äijön lapsi, hivus keltainen, korea, kengän kauto kaunokainen”). Tôi không phiền hà gì với dạng sở hữu k’s, nhưng hỡi ơi, Tiếng Phần Lan, khác với tiếng Anh, lại có phụ âm đôi (như kk) phát âm khác với những phụ âm đơn (như k). Chính đặc trưng đó của việc phát âm tiếng Phần Lan khiến các chủ nhà của tôi ở đất nước này khó tiếp nhận khi tôi nói những câu ngắn bằng tiếng Phần Lan. Hậu quả của việc không phân biệt được phát âm của các phụ âm đơn và đôi có thể rất nghiêm trọng. Chẳng hạn, động từ tiếng Phần Lan “gặp” là “tapaa” với một phụ âm p, trong khi đó “giết” là “tappaa” với hai phụ âm p. Do vậy, nếu bạn đề nghị một người Phần Lan gặp mình nhưng lại nhầm lẫn dùng hai phụ âm p, bạn có thể kết thúc bằng cái chết.
Tiếng Phần Lan cũng có hình thái nguyên âm ngắn và nguyên âm dài. Chẳng hạn, từ “biên giới” tiếng Phần Lan là “raja” với một a trước ngắn, nhưng từ để chỉ chân hay tay lại là “raaja” với một a trước dài, và điều này khiến tôi bị hiểu nhầm khi đang gần ranh giới của một công viên quốc gia Phần Lan và nói lộn khi kéo dài mẫu tự a trước để cố nói về từ biên giới. Những nguyên âm Phần Lan này, a và o và u, xuất hiện ở hai hình thái, phát âm hoặc ở sau hoặc ở trước miệng, và viết lần lượt a và ä, o và ö, u và y. Trong phạm vi một từ đơn lẻ, cả ba nguyên âm đó phải là nguyên âm sau hoặc nguyên âm trước; đó là sự hòa hợp nguyên âm được quy định. Chẳng hạn, từ Phần Lan có nghĩa là “đêm” mà tôi thường dùng khi chúc ngủ ngon chỉ có các nguyên âm trước (“yötä”), trong khi từ có nghĩa “lòng sông” chỉ có những nguyên âm sau (“uoma”).
Nếu bạn thấy mơ hồ với bốn cách (case) của tiếng Đức hay sáu cách của tiếng Latin, bạn sẽ còn kinh hoàng hơn khi biết rằng tiếng Phần Lan có đến 15 cách, nhiều cách trong đó thay thế các giới từ trong tiếng Anh. Một trong những giờ khắc thú vị nhất trong lần thăm Phần Lan đầu tiên là khi tôi tiếp xúc với một người lính, không nói được tiếng Anh và chỉ nói chuyện với tôi bằng tiếng mẹ đẻ, đã dạy tôi sáu cách vị trí, tiếng Anh là locative case (thay thế các giới từ on, off, onto, in out of, into) bằng cách chỉ vào một cái bảng (“pöytä”) trên đó (“pöydällä”: hòa hợp nguyên âm) là một chiếc tách và trong đó (“pöydässä”) là một cái đinh, và bằng cách chuyển chiếc tách lên trên (“pöydälle”) và khỏi (“pöydältä”) cái bàn, rồi đóng cái đinh vào (“pöytään”) và ra khỏi (“pöydästä”) cái bàn.
Ở các cách khác, có hai cách làm người nước ngoài mơ hồ nhất là đối cách (accusative case) và định lượng cách (partitive case). Trong ngôn ngữ Latin và Đức, vốn thiếu định lượng cách, mọi tân ngữ trực tiếp đều được biểu đạt bằng đối cách: “I hit the ball” (Tôi đánh quả bóng) trong tiếng Anh là “ich schlage den Ball” ở tiếng Đức. Nhưng trong tiếng Phần Lan, bất cứ khi nào bạn dùng một tân ngữ trực tiếp, bạn phải cân nhắc xem động từ của bạn đang làm điều gì với toàn bộ tân ngữ (đòi hỏi một đối cách) hay chỉ một phần của tân ngữ (đòi hỏi một định lượng cách). Có thể việc bạn quyết định mình sẽ đánh toàn bộ trái bóng hay chỉ một phần trái bóng thì dễ dàng, nhưng sẽ khó quyết định hơn với việc nên dùng đối cách hay định lượng cách trong tiếng Phần Lan khi bạn sử dụng một danh từ trừu tượng. Chẳng hạn, nếu bạn có một ý tưởng, tiếng Phần Lan đòi hỏi bạn phải quyết định xem mình có toàn bộ hay chỉ một phần ý tưởng, vì điều đó mới xác định dùng đối cách hay định lượng cách là chính xác. Một trong những chủ nhà của tôi vào năm 1959 là một người Phần Lan gốc Thụy Điển, ngôn ngữ quê hương của ông là tiếng Thụy Điển, nhưng ông lại nói tiếng Phần Lan lưu loát. Tuy vậy, ông ta không thể kiếm được việc làm ở bất kỳ cơ quan chính quyền nào ở Phần Lan vì mọi việc làm trong chính quyền Phần Lan yêu cầu phải đỗ các kỳ thi tiếng Phần Lan và Thụy Điển. Người bạn của tôi nói rằng vào thập niên 1950, nếu bạn chỉ vướng một lỗi nhỏ khi lựa chọn giữa đối cách và định lượng cách, bạn sẽ bị đánh hỏng và không thể tìm được việc trong nhà nước.
Tất cả những đặc điểm đó góp phần làm tiếng Phần Lan khác biệt, tuyệt mỹ, trở thành một nguồn tự hào dân tộc, và hầu như chỉ người Phần Lan mới nói được. Tiếng Phần Lan đã tạo nên cốt lõi cho căn tính quốc gia của nước này, mà vì nó quá nhiều người Phần Lan sẵn sàng hi sinh trong cuộc chiến với Liên Xô.
Những điểm trọng yếu khác của căn tính quốc gia Phần Lan là các nhà soạn nhạc, kiến trúc sư, nhà thiết kế, và cả những vận động viên chạy đường dài. Nhà soạn nhạc Phần Lan Jean Sibelius được xem là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất ở thế kỷ 20. Những kiến trúc sư và nhà thiết kế nội thất Phần Lan thì nổi tiếng khắp thế giới. (Các độc giả Mỹ sẽ nghĩ đến Gateway Arch ở Saint Louis, sân bay Dulles bên ngoài thủ đô Washington, Nhà ga sân bay TWA ở phi trường Kennedy, New York, tất cả đều được kiến trúc sư Eero Saarinen người gốc Phần Lan thiết kế). Sau Thế chiến I, khi nhiều quốc gia mới (kể cả Phần Lan) được khai sinh từ chiến thắng của phe Đồng minh, Phần Lan nổi bật lên vì Siberius và Paavo Nurmi, biệt danh Người Phần Lan Bay, vận động viên chạy đường dài lập kỷ lục nổi tiếng nhất. Ở Thế vận hội 1924, ông chiến thắng và lập kỷ lục Olympic ở cự ly 1.500 mét, rồi 5.000 mét chỉ sau đó một giờ; rồi tiếp tục chiến thắng ở cuộc đua băng đồng cự ly 10.000 mét sau đó hai ngày; tiếp đó ông lại giành vô địch ở cự ly 3.000 mét ngay ngày hôm sau. Ông giữ kỷ lục thế giới ở môn chạy cự ly trung bình (1.600 mét) trong 8 năm. Điều đó làm dấy lên câu nói rằng Nurmi và những vận động viên chạy bộ khác của Phần Lan “đã đưa Phần Lan vào bản đồ thế giới.” Tất cả những thành quả đó cũng đóng góp vào nhận thức của người Phần Lan về tính khác biệt, căn tính quốc gia và sự tự nguyện chiến đấu với Liên Xô bất chấp điều kiện chênh lệch rõ rệt.
Những người nói tiếng Phần Lan nguyên thủy đến đất nước này vào thời tiền sử, cách đây vài ngàn năm. Ở thời kỳ hữu sử, đó là sau khi những văn bản viết chi tiết về Phần Lan bắt đầu được ghi chép, khoảng năm 1100, thì Phần Lan là vùng đất bị Thụy Điển và Nga tranh giành. Phần Lan hầu như vẫn do Thụy Điển kiểm soát cho đến khi bị Nga thôn tính vào năm 1809. Trong gần suốt thế kỷ 19, các Sa hoàng nước Nga vẫn cho Phần Lan tự trị đa phần, nó vẫn có Quốc hội và nền hành chính riêng, đồng tiền riêng và không buộc phải sử dụng tiếng Nga. Nhưng sau khi Nicholas II trở thành Sa hoàng năm 1894 và cử một nhân vật xấu xa tên Bobrikov (bị một người Phần Lan ám sát năm 1904) làm thống đốc vùng đất này, thì sự thống trị của Nga mới trở nên hà khắc. Do đó, đến gần cuối Thế chiến I, khi cuộc cách mạng của những người Bolshevik nổ ra ở Nga cuối năm 1917, Phần Lan tuyên bố độc lập.
Kết quả này gây ra một cuộc Nội chiến Phần Lan đầy cay đắng, những người Phần Lan bảo thủ thuộc phe Trắng hay “Bạch vệ” gồm các đội quân được huấn luyện ở Đức và được hỗ trợ bởi những đội quân Đức đổ bộ vào Phần Lan, đánh lại những người Phần Lan cộng sản phe Đỏ hay “Hồng quân” và cả quân đội Nga đồn trú ở xứ sở này. Khi phe Trắng giành chiến thắng vào tháng 5 năm 1918, họ xử bắn khoảng 8.000 người phe Đỏ, và thêm khoảng 20.000 binh lính phe Đỏ chết vì đói khát và bệnh tật trong các trại tập trung. Nếu đem so sánh tỉ lệ phần trăm dân số quốc gia bị giết mỗi tháng, thì cuộc Nội chiến Phần Lan vẫn là cuộc nội chiến chết người nhiều nhất trên thế giới cho đến khi xảy ra cuộc diệt chủng ở Rwanda năm 1994. Điều này đúng ra có thể hủy hoại và làm phân rã một quốc gia mới mẻ – trừ việc đã có một cuộc hòa giải nhanh chóng, những người cánh tả nhận được đầy đủ các quyền lợi chính trị, và vào năm 1926, một nhân vật cánh tả đã trở thành thủ tướng Phần Lan. Nhưng những hồi ức về cuộc nội chiến đã khiến đất nước này thấm thía nỗi e ngại đối với nước Nga – với kết quả là thái độ sau đó của Phần Lan đối với Liên Xô.
Trong suốt hai thập niên 1920 và 1930, Phần Lan vẫn tiếp tục e ngại Nga, lúc đó được tái lập dưới tên Liên Xô. Về mặt ý thức hệ, hai quốc gia này trái ngược nhau: Phần Lan là một nước theo chế độ dân chủ tư bản tự do, còn Liên Xô là nước theo con đường cộng sản. Người Phần Lan vẫn còn nhớ sự áp bức dưới thời Sa hoàng cuối cùng. Họ sợ rằng Liên Xô sẽ tìm cách giành lại Phần Lan, chẳng hạn như hỗ trợ cho những người cộng sản Phần Lan lật đổ chính quyền. Họ quan tâm theo dõi sự cai trị của Stalin vào thập niên 1930. Mối quan tâm lớn nhất của Phần Lan chính là việc người Nga xây dựng những sân bay và tuyến đường sắt ở những khu vực dân cư thưa thớt nằm ở đường biên giới phía đông Phần Lan. Những tuyến đường sắt bao gồm các tuyến hướng về Phần Lan, chấm dứt ở giữa khu rừng chỉ cách biên giới một khoảng ngắn, không phục vụ cho mục đích cụ thể nào ngoại trừ tạo ưu thế cho việc xâm chiếm Phần Lan.
Vào thập niên 1930, Phần Lan bắt đầu gia tăng sức mạnh quân đội và quốc phòng dưới quyền của tướng Mannerheim, người đã dẫn dắt đội quân phe Trắng chiến thắng trong suốt cuộc nội chiến. Nhiều người Phần Lan tình nguyện làm việc suốt mùa hè năm 1939 để gia cố phòng tuyến chính của Phần Lan, gọi là Phòng tuyến Mannerheim, chạy ngang Eo đất Karelia, chia tách phần đông nam Phần Lan với Leningrad, thành phố gần Phần Lan nhất và lớn thứ nhì Liên Xô. Khi nước Đức tái vũ trang dưới thời Hitler và ngày càng gia tăng đối kháng vời Liên Xô, Phần Lan cố duy trì một chính sách đối ngoại dựa trên lập trường trung lập, phớt lờ Liên Xô và hi vọng rằng sẽ không có mối đe dọa nào cụ thể hóa theo hướng đó. Đến lượt Liên Xô vẫn nghi ngờ về nước láng giềng tư sản của mình vốn từng đánh bại phe cộng sản trong Nội chiến Phần Lan với sự trợ giúp của quân đội Đức.
Khi Phần Lan có những lý do mạnh mẽ về địa lý và chính trị để lưu tâm đến Liên Xô, thì Liên Xô cũng có lý do mạnh mẽ về địa lý và chính trị để lưu tâm đến Phần Lan. Trước Thế chiến II, biên giới giữa Phần Lan và Liên Xô chỉ trải dài 30 dặm phía bắc Leningrad (Hình 2). Quân đội Đức từng chiến đấu với cộng sản ở Phần Lan vào năm 1918; quân đội Anh và Pháp cũng từng tiến vào Vịnh Phần Lan để phong tỏa hay tấn công Leningrad (giờ là St. Petersburg) trong cuộc Chiến tranh Crimea ở thập niên 1850; và Pháp đã xây dựng một pháo đài lớn ở cảng Helsinki vào thập niên 1700 để sửa soạn cho một cuộc tấn công vào St. Petersburg. Vào cuối thập niên 1930, nỗi sợ hãi của Stalin đối với nước Đức thời Hitler ngày càng lớn dần với lý do hoàn toàn xác đáng. Những người Cộng sản và Quốc xã đều đưa ra những tuyên truyền độc hại về nhau. Hitler đã viết trong cuốn tự truyện Mein Kampf (Cuộc đấu tranh của tôi) về tầm nhìn hướng đông của nước Đức, có nghĩa là tiến nhập Liên Xô. Stalin quan sát nước Đức của Hitler sáp nhập nước Áo vào tháng 3 năm 1938, chiếm Tiệp Khắc vào tháng 3 năm 1939, và bắt đầu đe dọa Ba Lan. Pháp, Anh và Ba Lan phản bác các đề xuất hợp tác của Stalin trong việc phòng vệ Ba Lan đối phó với mối đe dọa ngày càng lớn của Đức.
Vào tháng 8 năm 1939, Phần Lan và phần còn lại của thế giới choáng váng khi biết rằng Hitler và Stalin đột nhiên ngưng cuộc chiến tranh tuyên truyền và ký Hiệp ước Bất tương xâm Đức-Nga, còn gọi là Hiệp ước Molotov-Ribbentrop. Người Phần Lan ngờ rằng hiệp ước này chính xác gồm cả những thỏa thuận bí mật phân chia phạm vi ảnh hưởng của hai nước này, với việc nước Đức thừa nhận Phần Lan thuộc về Liên Xô. Việc ký kết hiệp ước vừa xong thì xảy ra cuộc xâm lăng chớp nhoáng (blitzkrieg) của Đức vào Ba Lan, rồi sau đó chỉ trong vài tuần, quân đội Nga tiến đánh phần phía đông Ba Lan. Stalin hiểu rằng phải đẩy biên giới Liên Xô càng xa về phía tây càng tốt để chặn trước mối đe dọa ngày càng hiện rõ của Đức.
Vào tháng 10 năm 1939, Liên Xô vẫn còn sợ một cuộc tấn công bất ngờ nên vẫn muốn đẩy biên giới phía tây của mình càng xa hơn nữa về phía tây càng tốt. Với sự bảo đảm tạm thời của Hiệp ước Molotov- Ribbentrop, Liên Xô đưa ra tối hậu thư cho bốn nước láng giềng vùng Baltic: gọi là các nước cộng hòa Baltic gồm Lithuania, Latvia và Estonia, thêm Phần Lan. Liên Xô yêu sách đặt các căn cứ quân sự của nước này trên lãnh thổ các nước cộng hòa Baltic, thêm quyền được chuyển vận quân đội Liên Xô đến các căn cứ này. Mặc dù việc đóng quân của Liên Xô hiển nhiên khiến các nước cộng hòa này vô phương tự vệ, nhưng do các nước này quá nhỏ bé nên thấy rõ việc kháng cự là vô vọng đành chấp nhận các yêu sách của Liên Xô và không tránh được việc bị sáp nhập vào Liên Xô vào tháng 6 năm 1940. Được khuyến khích bởi thành quả này, vào đầu tháng 10 năm 1939 Liên Xô đưa ra hai yêu sách với Phần Lan. Yêu sách thứ nhất là biên giới Liên Xô-Phần Lan ở Eo đất Karelia phải lùi lại xa Leningrad để thành phố này không thể bị dội bom hay đánh chiếm nhanh chóng (chẳng hạn bởi quân Đức đồn trú ở Phần Lan như họ từng làm vào năm 1918). Trong khi không có nguy cơ Phần Lan tấn công Liên Xô, thì thực tế nước này vẫn sợ một cường quốc châu Âu tấn công Liên Xô qua cửa ngõ Phần Lan. Yêu sách thứ nhì là Phần Lan phải để Liên Xô thiết lập một căn cứ hải quân trên bờ biển phía nam Phần Lan gần thủ đô Helsinki, và nhượng lại một số đảo nhỏ trong Vịnh Phần Lan.
Các cuộc thương thảo giữa Phần Lan và Liên Xô tiếp diễn suốt hai tháng 11 và 12 năm 1939. Người Phần Lan muốn nhượng bộ một phần, nhưng hầu như không nhiều như những gì người Xô Viết muốn, ngay cả khi tướng Mannerheim của Phần Lan thuyết phục chính phủ nước mình nhượng bộ thêm vì ông biết sự yếu kém của quân đội Phần Lan và (trước đó từng là trung tướng trong quân đội Nga thời Sa hoàng) hiểu rõ những nguyên nhân địa lý đối với những yêu sách của Liên Xô theo quan điểm của họ. Nhưng người Phần Lan ở mọi thành phần phe phái chính trị – cánh tả và cánh hữu, phe Đỏ hay phe Trắng trong cuộc nội chiến – đều đồng lòng khước từ thỏa hiệp hơn nữa. Mọi đảng phái chính trị Phần Lan đều đồng ý với sự từ chối yêu sách của chính quyền, trong khi đó ở Anh vào tháng 7 năm 1940 đã có những chính trị gia hàng đầu muốn thỏa hiệp với Hitler để đổi lấy hòa bình.
Một nguyên nhân cho sự đồng lòng của người Phần Lan là nỗi e sợ rằng mục đích thực sự của bên kia là muốn chiếm toàn bộ đất nước. Họ sợ rằng việc đáp ứng những yêu sách cứ cho là còn khiêm tốn lúc đó có thể khiến họ không thể từ chối những yêu sách lớn hơn trong tương lai. Nếu Phần Lan từ bỏ vùng đất phòng thủ ở Eo đất Karelia thì Liên Xô sẽ dễ dàng xâm chiếm Phần Lan bằng đường bộ, đồng thời một căn cứ hải quân Liên Xô gần Helsinki thì lại dễ dàng dội bom thủ đô Phần Lan bằng đường bộ cũng như đường biển. Người Phần Lan đã rút được bài học từ số phận của Tiệp Khắc, năm 1938 chịu áp lực phải nhượng cho Đức phần đất biên giới Sudeten gồm cả tuyến phòng thủ mạnh nhất, để rồi không thể ngăn chặn cuộc chiến tranh tổng lực của Đức vào tháng 3 năm 1939. Lý do thứ hai cho sự không thỏa hiệp là tính toán sai lầm khi cho rằng Stalin chỉ mạnh miệng và có thể dàn xếp ít hơn những gì ông ta đòi hỏi. Tương tự như thế, Stalin cũng đánh giá sai và nghĩ rằng người Phần Lan cũng chỉ mạnh miệng. Stalin không thể hình dung một quốc gia nhỏ bé lại có thể điên khùng đến mức muốn chống lại một đất nước có dân số gấp gần 50 lần. Những kế hoạch chiến tranh của Liên Xô dự kiến sẽ chiếm Helsinki trong vòng chưa đầy hai tuần. Lý do thứ ba cho sự từ chối nhượng bộ thêm của người Phần Lan là họ tính toán sai lầm khi cho rằng các nước hữu nghị truyền thống với Phần Lan sẽ giúp bảo vệ đất nước này. Cuối cùng, một số nhà lãnh đạo chính trị đánh giá rằng quân đội Phần Lan có thể kháng cự lại một cuộc xâm lược của Liên Xô ít nhất cũng được sáu tháng dù Mannerheim đã cảnh báo rằng điều đó là bất khả thi.
Ngày 30 tháng 11 năm 1939, Liên Xô tấn công Phần Lan, tuyên bố rằng đạn pháo Phần Lan rơi trên phần đất của Liên Xô làm chết một số binh sĩ (sau này Khrushchev thừa nhận rằng những viên đạn pháo này là do đại bác của Liên Xô bắn theo lệnh một viên tướng muốn kích động chiến tranh). Trận chiến này sau đó được gọi là Cuộc chiến Mùa đông. Quân đội Liên Xô tấn công dọc theo toàn biên giới Phần Lan/ Liên Xô, trong khi máy bay thả bom xuống Helsinki và những thành phố khác. Thương vong của thường dân Phần Lan vào đêm đầu tiên bị dội bom ước tính khoảng 10% tổng số thương vong trong cuộc nội chiến trong suốt năm năm dài của Thế chiến II. Khi các đạo quân Liên Xô tràn sang biên giới Phần Lan và chiếm giữ ngôi làng gần nhất, Stalin lập tức công nhận một lãnh tụ cộng sản Phần Lan tên Kuusinen là người đứng đầu của cái gọi là chính quyền “dân chủ” Phần Lan để bào chữa rằng cuộc tấn công này không phải nhằm xâm lược Phần Lan mà chỉ nhằm bảo vệ “cái” chính quyền Phần Lan này. Việc dựng lên một chính quyền bù nhìn nhằm giúp thuyết phục những người Phần Lan còn nghi ngờ việc Stalin thật sự muốn thâu tóm đất nước của họ.
Vào thời điểm cuộc chiến nổ ra ngày 30 tháng 11 năm 1939, các chi tiết về mặt quân sự không tương xứng một cách phi lý như sau: Liên Xô có dân số 170 triệu so với 3.700.000 người Phần Lan. Liên Xô tấn công Phần Lan với “chỉ” bốn tập đoàn quân, tổng cộng 500.000 quân, và còn giữ nhiều tập đoàn quân khác làm dự phòng cho các mục đích quân sự khác. Trong khi đó, toàn bộ quân đội phòng thủ của Phần Lan chỉ có chín sư đoàn, tổng cộng 120.000 lính. Lực lượng hỗ trợ cho bộ binh Liên Xô gồm hàng ngàn xe tăng, máy bay chiến đấu và pháo binh tối tân; trong khi Phần Lan hầu như không có xe tăng, máy bay chiến đấu và pháo binh tối tân cũng như súng chống tăng và cao xạ. Điều tệ nhất là mặc dù quân đội Phần Lan có súng cá nhân và súng máy loại tốt nhưng số lượng đạn dược rất hạn chế, nên những người lính được lệnh phải tiết kiệm đạn dược, chỉ bắn khi quân Liên Xô tiến đến gần.
Tất cả những yếu tố chênh lệch đó khiến cơ hội đánh bại Liên Xô bằng không nếu Stalin quyết tâm chiến thắng. Thế giới đã chứng kiến Ba Lan, với dân số gấp 10 lần Phần Lan cùng khí tài quân sự tối tân hơn nhiều, đã bị đánh bại nhanh chóng như thế nào chỉ trong vòng vài tuần bởi những đạo quân Đức với quân số chỉ bằng một nửa các đạo quân Liên Xô. Vì thế, người Phần Lan không điên gì để hình dung ra việc họ có thể đạt được một chiến thắng về mặt quân sự. Thay vào đó, như một người bạn Phần Lan kể lại với tôi: “Mục đích của chúng tôi là làm cho chiến thắng của Nga càng chậm đến và gánh chịu tổn thất với giá đắt chừng nào càng tốt chừng đó.” Đặc biệt, mục đích của Phần Lan là kháng cự đủ lâu để chính quyền Phần Lan có thời gian cầu viện các nước đồng minh và để Stalin phải mệt mỏi vì tổn phí quân sự mà Liên Xô gánh chịu.
Liên Xô và phần còn lại của thế giới đã gặp phải bất ngờ lớn khi Phần Lan vẫn đứng vững. Kế hoạch quân sự của Liên Xô là tấn công Phần Lan suốt dọc chiều dài biên giới hai nước, kể cả tấn công thẳng vào Phòng tuyến Mannerheim bắc ngang Eo đất Karelia cùng nỗ lực “cắt ngang thắt lưng Phần Lan” bằng cách dồn sức mạnh vào khu vực nằm giữa Phần Lan ở điểm hẹp nhất của nước này. Để chống xe tăng Liên Xô tấn công Phòng tuyến Mannerheim, người Phần Lan bù đắp việc thiếu súng chống tăng bằng cách chế ra thứ vũ khí gọi là “cốc-tai Molotov,” đó là loại chai đổ vào hợp chất gồm xăng và các loại hóa chất khác để gây nổ, có tác dụng vô hiệu hóa xe tăng đối phương. Các chiến binh Phần Lan khác thì nằm trong hầm cá nhân chờ xe tăng chạy ngang qua rồi nhét một khúc gỗ vào bánh xích xe để bắt nó ngừng lại, trong khi những người lính gan dạ khác tiếp cận xe tăng bị bất động, đưa súng vào họng đại bác và lỗ quan sát, rồi bắn lính tăng Liên Xô ở bên trong. Bình thường thì tỉ lệ thương vong của những đội chống tăng này lên đến 70%.
Điều nhận được sự thán phục hơn cả của các quan sát viên thế giới về những người lính phòng thủ của Phần Lan là thành quả của họ trong việc tiêu diệt hai sư đoàn Liên Xô tấn công vào thắt lưng của Phần Lan. Quân Xô Viết hành tiến bằng cơ giới và xe tăng dọc theo một số con đường dẫn từ Liên Xô vào Phần Lan. Những nhóm nhỏ các chiến binh Phần Lan sử dụng ván trượt tuyết và khoác quân phục trắng để ngụy trang trên tuyết, di chuyển qua những cánh rừng không lối mòn, chia cắt đội hình quân địch thành từng đoạn rồi dứt điểm hết đoạn này sang đoạn khác (Ảnh 2.5). Một cựu binh đã kể lại cho tôi vào năm 1959 về các chiến thuật mà ông ta cùng đồng đội của mình áp dụng ở những trận đánh vào mùa đông đó. Vào ban đêm, lính Xô Viết dừng xe cơ giới thành một hàng dài dọc theo đường rừng hẹp chỉ chạy được một chiều rồi xúm quanh những đống lửa lớn để sưởi ấm (trong khi lính Phần Lan giữ ấm bằng bếp lò nhỏ trong lều vào ban đêm để bên ngoài khỏi nhìn thấy). Ông bạn của tôi cùng trung đội dùng ván trượt xuyên rừng, ngụy trang quân phục trắng, tiến đến phạm vi đúng tầm khai hỏa vào đội hình đoàn xe (Ảnh 2.6) rồi mang súng leo lên cây gần đó, chờ đến khi phát hiện các sĩ quan Xô Viết dưới ánh lửa, bắn chết các sĩ quan này rồi trượt tuyết đi, chỉ còn lại những binh sĩ Xô Viết kinh hoàng, mất tinh thần vì không còn người chỉ huy.
Tại sao quân đội Phần Lan lại chiếm ưu thế lâu dài trong việc bảo vệ đất nước chống lại quân đội Xô Viết với những ưu thế vượt trội về cả quân số lẫn khí tài? Một lý do chính là động cơ thúc đẩy: Binh sĩ Phần Lan hiểu rằng họ đang chiến đấu cho gia đình, đất nước và nền độc lập, và họ khát khao hi sinh cho các mục đích đó. Chẳng hạn, khi lực lượng quân đội Xô Viết đang hành tiến qua Vịnh Phần Lan băng giá chỉ được những nhóm nhỏ binh lính trên các hòn đảo trong vịnh bảo vệ, những người lính bảo vệ Phần Lan được báo rằng không còn phương tiện giải cứu: họ phải trụ lại trên các hòn đảo đó và cố giết càng nhiều lính Xô Viết càng tốt trước khi bị giết; và quả họ đã làm thế thật. Thứ hai, lính Phần Lan đã quen sống và trượt tuyết trong những khu rừng Phần Lan vào mùa đông, và họ cũng quen thuộc với địa hình nơi họ chiến đấu. Thứ ba, binh sĩ Phần Lan được trang bị binh phục, giày vớ, lều trại và súng ống phù hợp với cái lạnh mùa đông ở Phần Lan, nhưng binh lính Xô Viết thì không. Cuối cùng, quân đội Phần Lan, cũng giống như quân đội Do Thái ngày nay, rất hiệu quả trong việc xử lý và ứng biến nhanh chóng, do không theo nghi thức thông thường mà nhấn mạnh đến sự chủ động và đưa ra quyết định riêng của người lính thay vì tuân lệnh một cách mù quáng.
Nhưng những thành quả tạm thời và bền gan của quân đội Phần Lan chỉ để mua thêm thời gian. Khi băng tan vào mùa xuân, Liên Xô cuối cùng cũng tận dụng được sự vượt trội về quân số và khí tài để vượt qua Eo đất Karelia và Vịnh Phần Lan. Những hi vọng của Phần Lan bây giờ dựa vào việc tiếp nhận sự trợ giúp quân tình nguyện, quân dụng và các đơn vị quân đội từ các nước khác. Vậy điều gì đang diễn ra trên mặt trận ngoại giao này?
Việc cảm thông cho đất nước Phần Lan nhỏ bé dũng cảm chiến đấu chống quân Xô Viết đông đảo đã khiến 12.000 quân tình nguyện nước ngoài, hầu hết từ Thụy Điển, đến Phần Lan tham gia chiến đấu. Nhưng hầu hết những người tình nguyện này vẫn chưa hoàn tất huấn luyện quân sự vào thời điểm chiến tranh kết thúc. Một số quốc gia gửi khí tài quân sự đủ loại hạng. Chẳng hạn, một cựu binh Phần Lan kể cho tôi về những khẩu pháo cũ kỹ từ thời Thế chiến I được gửi đến từ Ý. Khi người pháo thủ bắn đi một viên đạn từ khẩu pháo, thì khẩu pháo giật hậu, do đó phải đặt nó trên một bệ đỡ vững chắc để bảo đảm an toàn. Mỗi khẩu pháo không những cần một pháo thủ ở ngay đó, mà còn có một người chỉ điểm ở một khoảng cách phía trước khẩu pháo để quan sát xem đạn rơi xuống ở đâu để điều chỉnh xạ trường cho phát bắn kế tiếp. Nhưng theo lời người bạn cựu binh của tôi, những khẩu pháo Ý cũ kỹ này được thiết kế giảm độ giật rất dở nên mỗi khẩu phải có đến hai người chỉ điểm: một là người chỉ điểm như lệ thường đứng trước khẩu pháo để điều chỉnh tầm pháo; thêm một người đằng sau khẩu pháo để xem nó rơi xuống đâu.
Trên thực tế, số ít các quốc gia mà Phần Lan có hi vọng nhận được sự giúp đỡ về quân đội và/hoặc được cung cấp trang bị là Thụy Điển, Đức, Anh, Pháp và Mỹ. Nhưng nước láng giềng Thụy Điển, dù gắn bó gần gũi với Phần Lan qua lịch sử và văn hóa đã chia sẻ lâu dài, lại từ chối gửi quân chi viện do sợ bị lôi kéo vào chiến tranh với Liên Xô. Trong khi nước đức tuy từng gửi quân hỗ trợ cho nền độc lập của Phần Lan và có những quan hệ về văn hóa và hữu nghị lâu dài với Phần Lan, nhưng Hitler lại không muốn phá vỡ Hiệp ước Molotov- Ribbentrop do giúp đỡ Phần Lan. Nước Mỹ thì lại quá xa, và Tổng thống Roosevelt vẫn bị trói buộc bởi những quy tắc trung lập, hậu quả từ những thập niên theo đuổi chính sách biệt lập của Mỹ.
Điều đó khiến chỉ còn Anh và Pháp là các nguồn trợ giúp hiện thực. Anh và Pháp cuối cùng cũng chấp nhận gửi quân. Nhưng cả hai đang có chiến tranh với Đức, và điều này là mối bận tâm hàng đầu của hai chính phủ Anh và Pháp, nên không thể để vấn đề nào can thiệp vào mục tiêu đó. Đức đang nhập nguồn quặng sắt từ nước Thụy Điển trung lập. Hầu hết quặng sắt được xuất từ Thụy Điển vận chuyển xuyên qua Na Uy bằng đường sắt đến cảng Narvik không bao giờ đóng băng của Na Uy, và từ đó được chở tới Đức. Điều cả Anh và Pháp thực sự mong muốn là giành quyền kiểm soát những mỏ sắt ở Thụy Điển và cắt đứt đường thủy từ Narvik. Họ đề nghị gửi quân ngang qua nước Na Uy và Thụy Điển trung lập để giúp Phần Lan chỉ là một cái cớ để đạt được những mục đích thực sự đó.
Vì thế, khi chính phủ Anh và Pháp đề nghị giúp Phần Lan với hàng chục ngàn quân viện, thì hóa ra hầu hết đội quân này sẽ đồn trú ở Narvik và dọc theo tuyến đường sắt Narvik, kể cả ở những mỏ sắt ở Thụy Điển. Chỉ một bộ phận nhỏ của đoàn quân này đến Phần Lan. Dĩ nhiên, ngay sự đồn trú đó cũng sẽ đòi hỏi phải có sự cho phép của chính phủ Na Uy và Thụy Điển, vốn vẫn còn là các nước trung lập, và họ đã không cho phép.
Vào tháng 1 năm 1940, cuối cùng Liên Xô cũng bắt đầu thấm thía những bài học về những tổn thất nhân mạng và thất bại quân sự khủng khiếp trong tháng 12. Stalin chối bỏ chính phủ bù nhìn Phần Lan mà ông ta đã dựng lên dưới sự dẫn dắt của lãnh tụ cộng sản Kuusinen. Điều đó có nghĩa rằng Stalin không còn khước từ thừa nhận chính phủ Phần Lan thực sự, vốn đã gửi người thăm dò việc thương thảo hòa bình. Quân đội Xô Viết ngừng những cố gắng lãng phí nhằm chia cắt Phần Lan ở thắt lưng, thay vào đó, họ dồn một đội quân lớn cùng tăng pháo ngay trên Eo đất Karelia, nơi địa hình trống trải thuận lợi cho họ. Binh sĩ Phần Lan đã liên tục chiến đấu ở các mặt trận trong suốt hai tháng và bắt đầu kiệt sức, trong khi đó Liên Xô lại có thể ném thêm vô số lực lượng dự phòng còn mới toanh vào mặt trận. Sau cùng, vào đầu tháng 2, Liên Xô mở cuộc tấn công trên toàn Phòng tuyến Mannerheim, buộc quân đội Phần Lan phải rút về phòng tuyến yếu ớt phía sau. Mặc dù các tướng lĩnh dưới quyền Mannerheim đề nghị ông triệt thoái xa hơn đến vị trí phòng thủ vững chắc khác, nhưng Mannerheim có quyết tâm sắt đá: dù quân đội bị thương vong nặng nề, ông vẫn từ chối rút lui sâu hơn vì biết rằng Phần Lan cần thiết phải giữ vững phần lãnh thổ của mình càng nhiều càng tốt vào thời điểm những cuộc thương thảo hòa bình vẫn đang diễn ra.
Vào cuối tháng 2 năm 1940, khi đội quân kiệt quệ của Phần Lan đang chuẩn bị đón chờ hòa bình, thì cả Anh và Pháp vẫn thuyết phục người Phần Lan tiếp tục chống đỡ. Thủ tướng Pháp Daladier khẩn cấp gọi điện báo rằng ông ta sẽ gửi cho Phần Lan 50.000 quân chi viện vào cuối tháng 3, cùng với 100 máy bay ném bom sẵn sàng cất cánh, và ông ta cam kết sẽ “thu xếp” chuyển quân theo đường bộ đi qua Na Uy và Thụy Điển. Điều này là nguyên nhân khiến người Phần Lan tiếp tục chiến đấu thêm một tuần nữa để có thêm vài ngàn binh lính tử trận.
Nhưng sau đó người Anh thừa nhận rằng đề nghị của Daladier chỉ là một trò lừa phỉnh dối trá, chẳng có những đội quân và máy bay nào sẵn sàng cả, và Na Uy cùng Thụy Điển vẫn khước từ mở đường cho đội quân đã hứa hẹn, và đề xuất của Pháp đưa ra chỉ để khai triển những mục đích riêng của phe Đồng minh và giữ thể diện cho Daladier. Sau đó, thủ tướng Phần Lan dẫn một phái đoàn đến Moscow để đàm phán hòa bình. Cùng lúc, Liên Xô vẫn duy trì áp lực quân sự lên Phần Lan bằng việc tiến quân đến Viipuri, thành phố lớn thứ nhì Phần Lan và cũng là thủ phủ của tỉnh Karelia. Trận chiến đó giải thích cho những bia mộ liệt sĩ có ghi “Viipuri, tháng 2 hay tháng 3 năm 1940” mà các bạn nhìn thấy trong nghĩa trang Hietaniemi.
Những điều kiện mà Liên Xô đòi hỏi vào tháng 3 năm 1940 còn khắc nghiệt hơn những điều kiện mà người Phần Lan từ chối vào tháng 10 năm 1939. Bây giờ họ yêu sách toàn bộ tỉnh Karelia cùng vùng đất xa hơn về phía bắc chạy dọc theo biên giới Phần Lan/Liên Xô, và cảng Hanko gần Helsinki làm căn cứ hải quân. Thay vì ở lại quê nhà dưới sự thống trị của Liên Xô, toàn bộ người dân ở Karelia, lên đến 10% dân số Phần Lan, đã chọn rời bỏ Karelia lùi về phần đất còn lại của Phần Lan. Ở đó, họ phải sống chen chúc trong những căn hộ chung cư hay ở nhờ nhà những người Phần Lan khác cho đến khi hầu hết được cấp nhà riêng vào năm 1945. Đây là một điều độc đáo so với những quốc gia châu Âu khác khi có sự dịch chuyển dân cư trong nước lớn lao đến vậy, Phần Lan không bao giờ sắp xếp cho những công dân phải di dời vào những trại tị nạn. Mười chín năm sau, những người chủ nhà nơi tôi lưu trú trong suốt chuyến viếng thăm Phần Lan vẫn còn nhớ sự căng thẳng lớn đến chừng nào trong việc tìm chỗ ở và hỗ trợ cho những người nhập cư từ Karelia.
Tại sao vào tháng 3 năm 1940, Stalin lại không ra lệnh cho quân đội Xô Viết tiếp tục tấn công và chiếm lấy toàn bộ Phần Lan? Một lý do là sức đề kháng dữ dội của người Phần Lan đã cho thấy một cuộc tiến công xa hơn cũng sẽ tiếp tục chậm chạp, gây tổn thất và tổn phí cho Liên Xô, mà giờ đây họ còn phải đối mặt với nhiều vấn đề lớn hơn – cụ thể là những vấn đề tái cơ cấu và tái trang bị quân đội để chuẩn bị cho một cuộc tấn công của quân Đức. Sự thể hiện nghèo nàn của quân đội Xô Viết to lớn khi gặp phải đội quân nhỏ bé của Phần Lan đã gây bối rối cho Liên Xô: cứ khoảng tám người lính Xô Viết bị giết thì chỉ có một lính Phần Lan tử trận. Cuộc chiến với Phần Lan tiếp diễn càng lâu dài thì nguy cơ can thiệp của Anh và Pháp càng cao, có thể lôi kéo Liên Xô vào một cuộc chiến tranh với các nước này và mời gọi người Anh và người Pháp tấn công vào những giếng dầu ở vùng Caucasus. Một số tác giả kết luận các điều khoản hòa bình vào tháng 3 năm 1940 khắc nghiệt đó chỉ ra rằng người Phần Lan đáng ra nên chấp nhận những điều khoản dễ chịu hơn do Stalin yêu sách vào tháng 10 năm 1939. Nhưng những hồ sơ lưu trữ của Nga được giải mật vào thập niên 1990 đã khẳng định sự nghi ngờ của người Phần Lan thời chiến tranh là đúng: Liên Xô sẽ tận dụng cơ hội của việc giành được đất đai một cách êm thấm và hậu quả của việc phòng tuyến của Phần Lan bị chọc thủng vào tháng 10 năm 1939 để đạt mục đích thâu tóm toàn bộ Phần Lan, như đã làm với ba nước Cộng hòa vùng Baltic năm 1940. Chính cuộc kháng cự quyết liệt và quyết tâm hi sinh của người Phần Lan cùng với sự chậm chạp và tổn phí chiến tranh khiến Liên Xô không cố chinh phục tất cả đất nước này vào tháng 3 năm 1940.
Sau cuộc đình chiến vào tháng 3 năm 1940, Liên Xô tái cơ cấu quân đội và thôn tính ba nước Cộng hòa vùng Baltic. Đức chiếm đóng Na Uy và Đan Mạch vào tháng 4 năm 1940 rồi đánh bại Pháp vào tháng 6 cùng năm, nên Phần Lan lúc đó bị cắt đứt mọi sự giúp đỡ có thể từ bên ngoài – ngoại trừ từ nước Đức. Phần Lan tái xây dựng quân đội của mình, đặc biệt với trang bị của Đức.
Hitler quyết định tấn công Liên Xô vào năm sau đó (1941). Không sớm thì muộn, các nhà hoạch định quân sự của Đức cũng sẽ bàn thảo với đồng sự Phần Lan về những chiến dịch hợp tác chống Liên Xô “theo giả thuyết.” Nhưng do Phần Lan lại không ưa gì Hitler và chủ nghĩa Quốc xã, nên họ hiểu một sự thật tàn nhẫn là họ không thể tránh được việc chọn phe cũng như không thể giữ được sự trung lập trong cuộc chiến giữa Đức và Liên Xô: nếu không, một trong hai nước sẽ tìm cách chiếm đóng Phần Lan. Kinh nghiệm cay đắng về việc phải đơn độc chiến đấu với Liên Xô trong Cuộc chiến Mùa đông khiến viễn cảnh lập lại kinh nghiệm đó còn tồi tệ hơn việc lựa chọn một đồng minh thủ đoạn như Đức Quốc xã – câu “ít kinh khủng hơn trong số những phương án tồi tệ” được trích dẫn từ cuốn tiểu sử về Mannerheim của tác giả Steven Zaloga. Sự thể hiện nghèo nàn của quân đội Xô Viết trong Cuộc chiến Mùa đông đã thuyết phục mọi giới quan sát – không chỉ ở Phần Lan mà còn ở Đức, Anh và Mỹ – rằng một cuộc chiến nổ ra giữa Đức và Liên Xô sẽ kết thúc bằng chiến thắng của Đức. Và cũng là điều bình thường khi người Phần Lan muốn lấy lại tỉnh Karelia đã mất. Quả nhiên, vào ngày 21 tháng 6 năm 1941, Đức tấn công Liên Xô. Phần Lan tuyên bố rằng họ đứng trung lập, nhưng ngày 25 tháng 6 phi cơ Liên Xô dội bom xuống các thành phố Phần Lan, tạo cớ cho chính phủ Phần Lan một lần nữa tuyên bố chiến tranh với Liên Xô vào ngay đêm đó.
Cuộc chiến tranh thứ hai chống Liên Xô, sau Cuộc chiến Mùa đông đầu tiên, được gọi là Cuộc chiến Tiếp diễn. Lần này, Phần Lan động viên một phần sáu dân số tham gia hoặc làm việc trực tiếp cho quân đội: một tỉ lệ lớn nhất so với bất kỳ nước nào trong Thế chiến II. Điều đó như thể nước Mỹ ngày nay sửa đổi luật động viên để xây dựng một đội quân trên 50 triệu người. Số phục vụ trực tiếp trong quân đội là nam giới tuổi từ 16 đến đầu 50, cộng thêm số phụ nữ phục vụ gần tiền tuyến. Tất cả người Phần Lan không phục vụ trong quân đội, nam lẫn nữ và ở độ tuổi từ 15 đến 64, phải làm việc trong các bộ phận công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp phục vụ chiến tranh hoặc ở các bộ phận cần thiết khác trong quốc phòng. Thiếu niên thì làm việc trên đồng ruộng, trong xưởng cưa hay tham gia các đội phòng không.
Do sợ quân đội Xô Viết chiếm trước để ngăn chặn cuộc tấn công của Đức, Phần Lan nhanh chóng chiếm giữ phần đất Karelia thuộc Phần Lan và còn (gây nhiều tranh cãi hơn) vượt qua biên giới trước đó để tiến vào vùng đất Karelia thuộc Liên Xô. Nhưng các mục tiêu của Phần Lan trong cuộc chiến này vẫn giữ giới hạn, và người Phần Lan không coi mình là “đồng minh” mà chỉ là “bên cùng tham chiến” với Đức Quốc xã. Đặc biệt, Phần Lan cứng rắn từ chối những yêu cầu của Đức cho hai việc: gom người Do Thái ở Phần Lan (dù Phần Lan có giao một số nhỏ người Do Thái không có quốc tịch Phần Lan cho Gestapo); và tấn công Leningrad từ mặt bắc trong khi Đức tấn công thành phố này ở mặt nam. Sự từ chối sau đã cứu Leningrad, giúp thành phố này đứng vững trong cuộc phong tỏa kéo dài của Đức, và đóng góp vào quyết định sau này của Stalin là không cần thiết để xâm lấn Phần Lan quá vùng Karelia (xem phần dưới).
Tuy nhiên, điều hiển nhiên là Phần Lan vẫn sát cánh với Đức Quốc xã. Đối với những người ngoài cuộc không hiểu tình trạng của Phần Lan thì họ không phân biệt hai từ “đồng minh” và “các bên cùng tham chiến” và xem chúng như nhau. Khi lớn lên ở nước Mỹ trong giai đoạn Thế chiến II, tôi chỉ nghĩ Phần Lan là nước thứ tư trong phe Trục, cùng với Đức, Ý và Nhật. Dưới áp lực của Stalin, Anh tuyên chiến với Phần Lan. Nhưng hành động duy nhất của Anh là cho máy bay dội bom xuống thành phố Turku của Phần Lan một lần duy nhất, nhưng các phi công Anh cố tình thả bom ở ngoài khơi thay vì vào mục tiêu đã định.
Sau đầu tháng 12 năm 1941, quân đội Phần Lan ngừng tiến quân, và Cuộc chiến Tiếp diễn giữa Liên Xô và Phần Lan không xảy ra biến động quân sự gì trong gần ba năm. Một mặt, Phần Lan không có mục đích nào khác ngoài việc chiếm lại vùng Karelia. Mặt khác, quân đội Xô Viết quá bận đối phó với binh lực của Đức nên không thể chia quân đánh Phần Lan. Cuối cùng, sau khi Liên Xô đạt được tiến triển khi đẩy lùi các binh đoàn Đức ra khỏi đất nước mới cảm thấy có thể chuyển hướng sự chú ý sang Phần Lan, vào tháng 6 năm 1944, họ tung ra một cuộc tổng tấn công vào Eo đất Karelia. Các đạo quân Xô Viết nhanh chóng phá vỡ Phòng tuyến Mannerheim, nhưng (cũng như vào tháng 2 năm 1941) người Phần Lan thành công trong việc củng cố mặt trận. Đà tiến của quân đội Liên Xô chững lại, một phần vì Stalin đặt ưu tiên cao hơn cho quân đội của mình từ phía đông phải tiến vào Berlin trước quân Mỹ và quân Anh đang tiến đến từ phía tây; và một phần cũng do những tình huống tiến thoái lưỡng nan mà Liên Xô từng phải đối mặt trong Cuộc chiến Mùa đông: để chiến thắng cuộc kháng chiến của Phần Lan với cuộc chiến du kích trong rừng một lần nữa, tổn thất dự kiến phải cao, và còn phải tính toán xem phải làm gì với Phần Lan nếu Liên Xô có chinh phục thắng lợi đi nữa. Vì vậy, năm 1944 cũng như ở năm 1941, cuộc kháng chiến của Phần Lan đã đạt được mục tiêu hiện thực như người bạn Phần Lan của tôi bày tỏ: dù không đánh bại được Liên Xô, nhưng làm cho những chiến thắng của quân đội Xô Viết phải trả giá quá cao, đến một cách chậm chạp và chịu nhiều tổn thất. Kết quả là Phần Lan trở thành quốc gia châu Âu đại lục duy nhất chiến đấu trong Thế chiến II tránh được sự chiếm đóng của kẻ thù.
Vào tháng 7 năm 1944, khi mặt trận được tái củng cố, các nhà lãnh đạo Phần Lan lại bay đến Moscow để tìm kiếm hòa bình và ký một hiệp định mới. Lần này, những yêu sách về đất đai của Liên Xô hầu như cũng chẳng khác gì những yêu sách vào năm 1941. Liên Xô vốn đã chiếm lại phần đất tỉnh Karelia thuộc Phần Lan và một căn cứ hải quân ở bờ biển phía nam Phần Lan. Phần lãnh thổ được thêm chỉ là sáp nhập cảng và các mỏ nickel ở Bắc Băng Dương. Phần Lan đồng ý buộc 200.000 quân Đức trú đóng ở phía bắc nước này phải rời đi để tránh phải để quân đội Xô Viết tiến vào Phần Lan làm việc đó. Việc “mời” quân Đức ra khỏi đất nước phải mất nhiều tháng, và trong quá trình quân Đức triệt thoái, họ đã tàn phá hầu như mọi thứ có giá trị trên toàn tỉnh Lapland của Phần Lan. Khi tôi đến Phần Lan năm 1959, những người chủ nhà vẫn còn cay cú về việc người bạn đồng minh Đức một thời đã dựa dẫm Phần Lan nhưng rồi lại tàn phá Lapland.
Tổng thiệt hại của Phần Lan từ việc đối đầu với Liên Xô và người Đức trong hai cuộc chiến, Cuộc chiến Mùa Đông và Cuộc chiến Tiếp diễn, vào khoảng 100.000 nhân mạng. Nếu tính trên tỉ lệ dân số Phần Lan hồi đó, thì tổn thất này ngang bằng 9.000.000 người lính Mỹ bị giết trong một trận chiến ngày nay. Khoảng 94.000 người Phần Lan bị què quặt, 30.000 phụ nữ trở thành góa phụ, 55.000 trẻ em bị mồ côi, và 615.000 người bị mất quê hương nhà cửa. Điều này so ra thì bằng một cuộc chiến giả định khiến 8 triệu người Mỹ bị tàn phế, 2,5 triệu phụ nữ Mỹ trở thành góa phụ, nửa triệu trẻ em Mỹ bị mồ côi và 50 triệu người mất nhà cửa. Thêm vào đó, ở một trong những cuộc sơ tán lớn nhất trong lịch sử, 80.000 trẻ em Phần Lan phải sơ tán (chủ yếu đến Thụy Điển), với những hậu quả bị sang chấn tâm lý dai dẳng, kéo dài đến tận thế hệ sau (Ảnh 2.7). Ngày nay, con gái của những người mẹ từng phải sơ tán khi còn nhỏ có khả năng nhập viện để điều trị bệnh tâm lý có số lượng gấp đôi những người chị em họ có mẹ không phải đi sơ tán. Tổn thất chiến tranh của Liên Xô còn nặng nề hơn, chết khoảng nửa triệu lính và 1/4 triệu bị thương. Số lượng bị chết này bao gồm 5.000 binh sĩ Xô Viết bị bắt làm tù binh và được hồi hương sau khi đình chiến, rồi bị xử bắn ngay vì tội đầu hàng.
Hiệp ước đình chiến yêu cầu Phần Lan “phải cộng tác với các nước Đồng minh trong việc bắt giữ những kẻ bị kết án gây tội ác chiến tranh.” Phe Đồng minh diễn giải “tội phạm chiến tranh người Phần Lan” là: giới lãnh đạo chính quyền Phần Lan trong cuộc chiến tranh Phần Lan chống lại Liên Xô. Nếu Phần Lan không truy tố những người này, thì Liên Xô sẽ làm và áp đặt những bản án nặng nề, thậm chí là án tử hình. Vì thế, Phần Lan buộc phải làm một điều bị coi là nhục nhã: nước này thông qua một đạo luật có hiệu lực hồi tố, tuyên bố các lãnh đạo chính quyền là bất hợp pháp khi bảo vệ Phần Lan bằng việc theo đuổi những chính sách hợp pháp và được ủng hộ rộng rãi theo luật Phần Lan vào thời điểm các chính sách đó được áp dụng. Tòa án Phần Lan kết án tù các lãnh đạo chính quyền thời chiến, gồm Tổng thống Ryti, hai Thủ tướng Rangell và Linkomies, bộ trưởng ngoại giao và bốn bộ trưởng khác, thêm đại sứ Phần Lan ở Berlin. Sau khi chịu án tù ở các nhà tù Phần Lan đặc biệt đầy đủ tiện nghi, hầu hết những người này đều được bầu và bổ nhiệm lại vào những chức vụ cao.
Hiệp ước hòa bình yêu cầu Phần Lan phải trả một khoản bồi thường chiến phí cao cho Liên Xô: 300 triệu đô la, trả trong 6 năm. Ngay cả sau khi Liên Xô nới thời hạn thành 8 năm và giảm khoản bồi thường xuống còn 226 triệu đô la, thì đó vẫn là một gánh nặng cho nền kinh tế nhỏ lẻ và chưa công nghiệp hóa của Phần Lan. Dù vậy, điều ngược đời là chính khoản bồi thường chiến phí này lại trở thành một động lực kinh tế để buộc Phần Lan phát triển các nền công nghiệp nặng, như đóng tàu và thành lập các nhà máy dành cho hàng xuất khẩu. (Những sự bồi thường này là minh họa cho từ nguyên chữ Hán “wei-ji,” nghĩa là “nguy cơ” gồm hai ký tự “nguy” trong “hiểm nguy” và “cơ” trong “cơ hội.”) Việc công nghiệp hóa đóng góp vào sự phát triển của Phần Lan thời hậu chiến, đến mức đây đã trở thành một nước công nghiệp hiện đại (và bây giờ là một nước công nghệ cao) thay vì (như trước đây) là một nước nông nghiệp nghèo nàn.
Cộng thêm với việc bồi thường chiến phí, Phần Lan còn phải chấp nhận tăng cường mậu dịch với Liên Xô, lên đến 20% toàn bộ giao thương của Phần Lan. Đặc biệt, Phần Lan nhập khẩu dầu từ Liên Xô. Điều này là một ưu thế vì Phần Lan không bị lệ thuộc vào nguồn cung cấp dầu ở Trung Đông như những nước phương Tây còn lại. Nhưng đó là một phần của thỏa thuận, Phần Lan cũng phải nhập khẩu những mặt hàng sản xuất của Liên Xô, như đầu máy xe lửa, nhà máy điện hạt nhân và xe hơi, vốn có thể mua từ phương Tây với giá rẻ hơn và chất lượng cao hơn. Người Phần Lan đối mặt với nỗi thất vọng của mình bằng những mẩu chuyện bi hài như đã làm với những khẩu pháo cổ lỗ của Ý mà tôi đã đề cập trước đó. Chẳng hạn, lúc tôi đến đó năm 1959, nhiều người Phần Lan sử dụng kiểu xe hơi Moskvich của Liên Xô, vốn thường hay hỏng hóc. Hồi đó, nhiều loại xe hơi châu Âu và Mỹ đều có cửa trời: những ô cửa trượt dùng để mở trần xe cho ánh nắng rọi vào khi thời tiết tốt. Trong một chuyện đùa phổ biến ở Phần Lan, những mẫu xe Moskvich chẳng những sắp có cửa trời mà còn một sàn trời nữa: một ô cửa trượt khác, sẽ nằm trong sàn xe. Câu hỏi đặt ra: Vậy ưu thế của việc có một sàn trời không thể cho ánh nắng rọi vào là gì? Trả lời: bất cứ khi nào chiếc Moskvich của bạn chết máy, mà điều này lại thường xảy ra, bạn có thể đưa chân xuống phần mở ra của sàn trời, đứng trên mặt đất bên trong chiếc Moskvich, rồi đẩy nó đi!
Người Phần Lan xem giai đoạn 1945-1948 là “những năm hiểm nguy.” Hồi tưởng lại, chúng ta biết rằng Phần Lan đã sống sót, nhưng suốt những năm đó cái kết hạnh phúc có vẻ vẫn chưa chắc chắn. Vấn đề trước mắt chính là sự nắm quyền của phe được Liên Xô hỗ trợ. Đảng Cộng sản Phần Lan và liên minh chiếm 1/4 số ghế ở Quốc hội trong các cuộc bầu cử tự do vào tháng 3 năm 1945, và họ nỗ lực giành lấy lực lượng cảnh sát. Liên Xô đã tiếp quản Đông Đức, đang trong tiến trình thiết kế việc tiếp quản bốn nước Đông Âu (Ba Lan, Hungary, Bulgaria và Romania). Liệu Phần Lan có phải là quốc gia kế tiếp? Phí tổn bồi thường chiến tranh cho Liên Xô vẫn là một gánh nặng oằn vai đối với nền kinh tế phần lớn phụ thuộc vào nông nghiệp, chưa công nghiệp hóa của đất nước Phần Lan. Chiến tranh đã phá hủy cơ cấu hạ tầng đất nước này: nông trại bỏ hoang, cơ xưởng sản xuất rơi vào tình trạng cũ nát, 2/3 đội thương thuyền Phần Lan bị phá hủy, xe vận tải thì bệ rạc không có phụ tùng thay thế, và giảm việc đốt gỗ làm than thay bằng nguồn dầu. Hàng trăm ngàn người dân vùng Karelia phải di dời, những người Phần Lan què cụt, trẻ mồ côi, góa phụ cần nhà cửa, tiền bạc và trợ giúp tinh thần từ những gia đình còn nguyên vẹn và khỏe mạnh. Hàng chục nghìn trẻ em đi sơ tán ở Thụy Điển trở về, mang theo hội chứng sang chấn tâm lý, quên tiếng mẹ đẻ, và hầu như quên luôn cả cha mẹ trong thời gian biệt xứ.
Vào những năm hiểm nguy đó, Phần Lan đã vạch ra một chính sách hậu chiến mới để ngăn chặn sự tiếp quản của Liên Xô. Chính sách đó được biết dưới tên gọi đường lối Paasikivi-Kekkonen, theo tên của hai tổng thống Phần Lan đã đặt ra, diễn đạt và thực thi nghiêm túc đường lối này trong suốt 35 năm (Juho Paasikivi 1946-1956; Urho Kekkonen 1956-1981). Đường lối Paasikivi-Kekkonen ngược lại với chính sách đầy thảm họa của Phần Lan ở thập niên 1930 khi lờ đi nước Nga. Paasikivi và Kekkonen đã biết học hỏi từ những sai lầm này. Với họ, những sự thật đau thương thiết yếu của Phần Lan là đất nước này nhỏ bé và yếu ớt; họ không thể kỳ vọng sự giúp đỡ nào từ đồng minh phương Tây; họ phải hiểu điều đó và luôn luôn ghi khắc quan điểm của Liên Xô; họ phải đối thoại thường xuyên với các quan chức chính phủ nước này ở mọi cấp, từ cao xuống thấp; và họ phải chiếm được và duy trì lòng tin của Liên Xô bằng cách chứng minh Phần Lan sẽ giữ lời và hoàn thành các thỏa thuận. Việc duy trì được sự tin tưởng của Liên Xô đòi hỏi phải hạ mình bằng cách hi sinh một số độc lập về kinh tế và một số tự do biểu đạt mà các chế độ dân chủ được bảo vệ mạnh mẽ xem là những quyền bất khả xâm phạm.
Cả Paasikivi và Kekkonen đều biết rõ Liên Xô và người dân ở đất nước này – Paasikivi thì từ những thương thảo với Liên Xô vào tháng 10 năm 1939, tháng 3 năm 1940 và tháng 9 năm 1944, đồng thời là đại sứ Phần Lan ở Moscow. Ông kết luận rằng động cơ thúc đẩy Stalin về mối quan hệ của ông ta đối với Phần Lan không phải là ý thức hệ mà chỉ là chiến lược và địa chính trị: đó là vấn đề quân sự trong việc bảo vệ thành phố lớn thứ hai Liên Xô (Leningrad/St. Petersburg) ngăn chặn những cuộc tấn công xa hơn qua ngả Phần Lan hay Vịnh Phần Lan từng xảy ra trong quá khứ. Và Phần Lan sẽ không bao giờ được an toàn nếu Liên Xô cảm thấy không an toàn. Rõ ràng hơn, mâu thuẫn ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng đều khiến Liên Xô khó chịu và dễ gây hấn với Phần Lan, do đó Phần Lan phải năng động trong việc gìn giữ hòa bình thế giới. Paasikivi, rồi đến Kekkonen, đều rất thành công trong việc phát triển một mối quan hệ tin cậy với Stalin, rồi với Khrushchev và Brezhnev đến nỗi khi Stalin có lần được hỏi tại sao ông ta lại không thử đưa đảng Cộng sản lên nắm quyền lực ở Phần Lan như đã làm ở các nước Đông Âu khác, ông ta trả lời: “Khi tôi đã có Paasikivi thì có còn cần đến đảng Cộng sản Phần Lan nữa không?”
Dưới đây là giải thích của Tổng thống Kekkonen về chính sách của ông và của Paasikivi trong cuốn tự truyện về sự nghiệp chính trị của mình: “Nhiệm vụ cơ bản của chính sách đối ngoại Phần Lan là hòa hợp sự tồn tại của dân tộc với những mối quan tâm thống trị môi trường địa chính trị của Phần Lan… [chính sách đối ngoại của Phần Lan là] ngoại giao ngăn ngừa. Nhiệm vụ của nền ngoại giao này là cảm nhận được mối nguy đang đến trước khi nó quá gần và đưa ra những giải pháp để tránh được mối nguy này – tốt hơn là theo cách thức càng ít báo trước rằng nó đã được thực hiện càng tốt… Đặc biệt đối với một nước nhỏ không nuôi dưỡng những ảo tưởng rằng lập trường mà họ chọn lựa có thể làm thay đổi cục diện theo hướng này hay hướng khác, để có thể chọn được đúng thời điểm hình thành một khái niệm chính xác về sức mạnh của những yếu tố mà thành phần quân sự và chính trị dựa vào… Một quốc gia chỉ nên dựa vào chính bản thân mình. Những năm chiến tranh đã dạy chúng ta một bài học đắt giá trong lĩnh vực này… Kinh nghiệm cũng dạy chúng ta rằng một quốc gia nhỏ bé hoàn toàn và đơn giản không thể nuôi dưỡng những cảm xúc – dù là thiện cảm hay ác cảm – lấn át trong các giải pháp về chính sách đối ngoại. Một chính sách đối ngoại thực tiễn phải dựa vào nhận thức những yếu tố thiết yếu trong trường chính trị quốc tế, đó là những lợi ích quốc gia và sức mạnh của những mối quan hệ giữa các nước.”
Những kết quả cụ thể của việc trung thành với đường lối Paasikivi- Kekkonen bao gồm những gì Liên Xô (và nước Nga ngày nay) đã và chưa từng làm đối với Phần Lan trong suốt 70 năm qua. Họ không xâm chiếm Phần Lan cũng như đạo diễn một cuộc lật đổ chính quyền của đất nước này thông qua đảng Cộng sản Phần Lan khi đảng này còn tồn tại. Họ cũng giảm khoản tổn phí và tăng niên hạn thanh toán đền bù chiến phí mà Phần Lan mắc nợ và phải thanh toán cho Liên Xô. Năm 1955, Liên Xô còn rút khỏi căn cứ hải quân ở Phần Lan và triệt thoái lực lượng pháo binh ở Porkkala nằm trên bờ biển Phần Lan, cách thủ đô Helsinki chỉ 10 dặm, đồng thời chấp nhận để Phần Lan gia tăng giao thương với phương Tây đồng thời giảm mậu dịch với Liên Xô, để nước này liên kết với khối Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và gia nhập Khối Thương mại Tự do châu Âu (EFTA), trong khi Liên Xô hoàn toàn có đầy đủ sức mạnh để buộc nước này phải làm gì hay cấm đoán hầu hết mọi điều trên. Liên Xô sẽ không bao giờ ứng xử như thế nếu họ không tin tưởng và cảm thấy an toàn với Phần Lan và với các nhà lãnh đạo nước này.
Trong quan hệ đối ngoại, Phần Lan liên tục đi trên dây giữa việc phát triển mối quan hệ với phương Tây đồng thời duy trì sự tin cậy của Liên Xô. Để thiết lập sự tin cậy này ngay sau Cuộc chiến Tiếp diễn năm 1944, Phần Lan đáp ứng đúng lúc mọi điều kiện trong hiệp ước đình chiến và hiệp định hòa bình tiếp đó với Liên Xô. Điều này có nghĩa là thúc đẩy quân đội Đức rời khỏi Phần Lan, lập phiên tòa riêng về tội ác chiến tranh để xử những nhà lãnh đạo thời chiến, hợp thức hóa đảng Cộng sản Phần Lan và đưa những người cộng sản vào chính quyền đồng thời ngăn ngừa việc đảng này nắm quyền kiểm soát đất nước, và thanh toán khoản bồi thường chiến phí cho Liên Xô đúng hạn ngay cả việc phải nhờ đến sự đóng góp nữ trang và cả nhẫn cưới bằng vàng của người dân.
Trong việc mở rộng mối quan hệ với phương Tây, Phần Lan cũng phải cố gắng giảm trừ sự nghi ngờ kinh niên của Liên Xô về việc họ có thể hợp nhất vào phương Tây về mặt kinh tế. Chẳng hạn, Phần Lan khôn ngoan từ chối sự giúp đỡ của Mỹ dù rất cần Kế hoạch viện trợ Marshall. Trong khi đạt đến những thỏa thuận hay gia nhập các Hiệp hội Tây Âu (EEC và EFTA), Phần Lan đồng thời cũng ký kết những thỏa ước với các nước cộng sản Đông Âu, đảm bảo tình trạng tối huệ quốc dành cho Liên Xô và hứa hẹn với nước này về các nhượng bộ kinh tế như với các đối tác trong EEC.
Cùng lúc với việc các nước phương Tây là đối tác thương mại chính yếu của Phần Lan, đất nước này cũng trở thành đối tác mậu dịch phương Tây đứng thứ nhì của Liên Xô (sau Tây Đức). Vận tải container bằng đường biển qua ngả Phần Lan là tuyến đường chính để hàng hóa phương Tây nhập vào Liên Xô. Riêng Phần Lan xuất khẩu sang Liên Xô tàu thuyền, tàu phá băng, hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng cho toàn bộ bệnh viện, khách sạn và cả thành phố công nghiệp. Đối với Liên Xô, Phần Lan là nguồn cung cấp công nghệ chính yếu và là cửa ngõ chính vào phương Tây. Kết quả là Phần Lan có quá nhiều giá trị đối với Liên Xô khi được độc lập và kết đồng minh với phương Tây so với việc bị chinh phục hay trở thành một quốc gia cộng sản.
Do các nhà lãnh đạo Xô Viết tin tưởng cả hai Tổng thống Paasikivi và Kekkonen, nên Phần Lan không chọn thay đổi các đời tổng thống như trong một chế độ dân chủ bình thường mà vẫn giữ họ ở lại chức vụ trong tổng cộng 35 năm. Paasikivi phục vụ ở cương vị tổng thống trong 10 năm đến tận trước khi ông qua đời ở tuổi 86, trong khi người thay thế ông, Kekkonen phục vụ 25 năm đến khi sức khỏe sa sút buộc ông phải từ chức ở tuổi 81. Khi Kekkonen đến thăm Brezhnev vào năm 1973 ở thời điểm đang diễn ra những thương thảo giữa Phần Lan với EEC, Kekkonen tìm cách xoa dịu những mối bận tâm của Brezhnev khi hứa riêng với ông ta rằng quan hệ của Phần Lan với EEC không ảnh hưởng gì đến mối quan hệ giữa nước này với Nga. Sau đó, Quốc hội Phần Lan chấp thuận cho Kekkonen thực hiện lời hứa đó bằng cách thông qua một đạo luật khẩn cấp để gia hạn nhiệm kỳ tổng thống của ông thêm 4 năm nữa, do đó cuộc bầu cử thổng thống dự trù vào năm 1974 được hoãn lại.
Chính phủ và giới báo chí Phần Lan cũng tránh phê phán Liên Xô và thực hiện việc tự kiểm duyệt vốn không bình thường trong các chế độ dân chủ. Chẳng hạn, khi các nước khác lên án những cuộc đàn áp ở Hungary và Tiệp Khắc cùng cuộc chiến tranh ở Afghanistan của Liên Xô, thì chính phủ và báo chí Phần Lan vẫn giữ im lặng. Một nhà xuất bản Phần Lan cũng hủy bỏ kế hoạch xuất bản cuốn tiểu thuyết Gulag Archipelago (Quần đảo Gulag) của Solzhenitsyn vì sợ đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm của Liên Xô. Khi một tờ báo Phần Lan vào năm 1971 đụng chạm đến Liên Xô bằng việc phát ngôn (đúng sự thực) rằng các nước Cộng hòa vùng Baltic bị Liên Xô chiếm đóng vào năm 1939, thì một tờ báo Liên Xô lập tức lên án rằng phát ngôn đó là một nỗ lực của giới tư sản nhằm phá vỡ mối quan hệ láng giềng giữa Phần Lan và Liên Xô, và bộ trưởng ngoại giao Liên Xô cảnh báo Phần Lan rằng nước này mong muốn chính phủ Phần Lan ngăn chặn những sự cố như thế trong tương lai. Chính phủ Phần Lan buộc phải yêu cầu báo chí nên thể hiện “trách nhiệm” hơn nữa, đó là tự kiểm duyệt những tuyên bố tiềm tàng tính đối kháng.
Hành động đu dây của Phần Lan nhằm gìn giữ sự độc lập với Liên Xô kết hợp cùng sự phát triển kinh tế. Cũng trên bình diện này, Phần Lan, với thân phận một nước nhỏ, phải đối mặt với những thực tế: sáu triệu người Phần Lan hiện nay sẽ không bao giờ phát triển những ưu thế kinh tế ở quy mô mà 90 triệu người Đức và 320 triệu người Mỹ thụ hưởng. Phần Lan cũng sẽ không bao giờ thành công ở những ngành kinh tế dựa dẫm vào mức sống thấp và khả năng trả lương công nhân thấp vẫn tràn lan rộng khắp bên ngoài châu Âu và Bắc Mỹ. Theo tiêu chuẩn thế giới, Phần Lan sẽ luôn có ít công nhân, và họ luôn mong đợi có được tiền công cao. Do đó, đất nước này phải tận dụng hết mức lực lượng lao động của mình và phát triển những nền công nghiệp có lợi nhuận cao.
Để tận dụng sức sản xuất của toàn bộ dân cư, hệ thống trường học Phần Lan nhắm đến giáo dục tốt mọi con người, không giống như hệ thống trường học ở Mỹ, giờ đây chỉ giáo dục tốt một số người nhưng với nhiều người thì còn thụ hưởng một nền giáo dục nghèo nàn. Phần Lan có các trường công lập chất lượng cao theo chủ nghĩa bình quân và chỉ một ít trường tư. Điều gây ngạc nhiên cho những người Mỹ giàu có là ngay những trường tư ít ỏi này cũng nhận được mức độ tài trợ từ chính phủ ngang với các trường công lập và không được phép gây quỹ thêm bằng cách thu tiền học, thu phí hay nhận quyên góp! Trong khi giáo viên ở Mỹ có mức sống xã hội thấp và được tuyển dụng chủ yếu từ những sinh viên đại học ra trường có thứ hạng thấp, thì giáo viên Phần Lan phải qua một quá trình chọn lọc cực kỳ ganh đua, tuyển chọn từ sinh viên học sinh ở các trường trung học và đại học sáng danh nhất, có mức sống cao (còn cao hơn giáo sư đại học), được trả lương hậu hĩnh, tất cả đều có bằng cấp nâng cao và có nhiều quyền tự quyết trong phương cách giảng dạy. Kết quả là học sinh Phần Lan đạt điểm ở hoặc gần tốp đầu trong bảng xếp hạng quốc gia trên thế giới về kỹ năng đọc viết, môn toán và các kỹ năng giải quyết vấn đề. Phần Lan cũng khuyến khích phụ nữ bộc lộ hết khả năng của mình cũng như nam giới: đất nước này là quốc gia thứ hai trên thế giới (sau New Zealand) mở rộng quyền bầu cử và ứng cử cho nữ giới, và ở thời điểm trong một cuộc viếng thăm của tôi tại đất nước này thì tình cờ tổng thống Phần Lan lúc đó là một phụ nữ. Phần Lan cũng khuyến khích giới cảnh sát: lại một điều ngạc nhiên cho người Mỹ, cảnh sát Phần Lan phải có một bằng cử nhân đại học, được 96% người Phần Lan tín nhiệm và hầu như không bao giờ sử dụng súng. Năm ngoái, cảnh sát Phần Lan chỉ nổ sáu phát súng khi đang thực thi nhiệm vụ, năm phát chỉ để cảnh báo: nó còn ít hơn số phát súng của cảnh sát trong bình quân một tuần ở thành phố Los Angeles của tôi.
Việc tập trung mạnh mẽ vào lĩnh vực giáo dục tạo ra một lực lượng lao động hiệu quả. Phần Lan có tỉ lệ kỹ sư tính trên đầu người cao nhất thế giới và là một nước dẫn đầu về công nghệ. Xuất khẩu chiếm gần một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP), và xuất khẩu chính hiện tại là sản phẩm công nghệ cao – máy móc cơ giới và các mặt hàng chế tạo – thay vì gỗ và các sản phẩm lâm nghiệp truyền thống như trong thời kỳ trước Thế chiến II. Phần Lan đã và đang trở thành một nước dẫn đầu thế giới trong phát triển các sản phẩm công nghệ cao mới từ rừng, như sản xuất điện năng, phân bón, sợi vải để thay thế cho sợi len và đồng, và cả đàn guitar. Đầu tư kết hợp giữa chính phủ và tư nhân trong nghiên cứu và phát triển bằng 3,5% GDP của Phần Lan, gần gấp đôi so với các nước trong Liên minh Châu Âu, và (cùng với tỉ lệ phần trăm GDP chi tiêu giáo dục) gần như cao nhất thế giới. Kết quả của hệ thống giáo dục tuyệt hảo và đầu tư cao trong nghiên cứu và phát triển là chỉ trong nửa thế kỷ, Phần Lan từ một nước nghèo đã trở thành một trong những quốc gia giàu nhất trên thế giới. Thu nhập bình quân đầu người giờ đây ngang bằng với Pháp, Đức và Anh, trong khi các nước này có dân số gấp 10 lần và vốn đã giàu có từ rất lâu về trước.
Khi đến Phần Lan năm 1959, tôi hầu như không biết gì về lịch sử hai cuộc chiến tranh giữa nước này với Liên Xô nên đã hỏi những người chủ nhà tại sao Phần Lan lại phải chiều lòng Liên Xô ở nhiều mặt như vậy, nhập cảng xe hơi Moskvich chẳng hạn, và quá sợ khả năng về một cuộc tấn công của Liên Xô vào Phần Lan. Tôi còn bảo những người này rằng chắc chắn Mỹ sẽ bảo vệ đất nước này nếu quả Liên Xô tấn công thật. Giờ hồi tưởng lại, tôi thấy những gì mình nói với một người Phần Lan như thế là quá tàn nhẫn, khờ khạo và sống sượng. Phần Lan đã có những hồi ức cay đắng khi bị Liên Xô tấn công vào năm 1939, các nước Mỹ, Thụy Điển, Đức, Anh hay Pháp đều không dang tay giúp đỡ. Đất nước này phải học từ lịch sử rằng sự tồn vong và nền độc lập chỉ dựa vào chính mình, và Phần Lan chỉ được an toàn một khi Liên Xô cũng cảm thấy an toàn và tin tưởng họ.
Thái độ ngây thơ của tôi cũng được chia sẻ bởi nhiều người không phải người dân Phần Lan đáng ra phải hiểu biết nhiều hơn, nhưng thay vào đó lại gán cho chính sách của Phần Lan một thuật ngữ đầy xúc phạm “Phần Lan hóa.” Theo một định nghĩa của thuật ngữ này trong tờ New York Times năm 1979: “Một tình trạng tồi tệ mà một một nước láng giềng nhỏ yếu, do nể phục sức mạnh và sự tàn bạo của một siêu cường toàn trị mà đưa ra những nhượng bộ đáng hổ thẹn và ngượng ngùng đối với những tự do về chủ quyền.” Những người đánh giá thấp giá trị của từ Phần Lan hóa xem chính sách của nước này là hèn nhát.
Nhiều hành động của nước này đúng là cũng khiến các nhà quan sát Tây Âu và Mỹ phải sửng sốt. Chưa bao giờ ở Mỹ hay ở Đức lại có chuyện hoãn một kỳ bầu cử tổng thống, một ứng viên tổng thống lại rút khỏi danh sách, một nhà xuất bản đình bản một ấn phẩm, hay báo chí lại tự kiểm duyệt chỉ để tránh kích động những vấn đề nhạy cảm của Liên Xô. Những hành động như thế có vẻ xâm phạm thô bạo quyền tự do hoạt động của một nền dân chủ.
Nhưng những vấn đề nhạy cảm của nước khác cũng là vấn đề của mọi quốc gia. Xin trích lại lời Tổng thống Kekkonen một lần nữa, “Nền độc lập của một nước thường không phải tuyệt đối… không một quốc gia đơn lẻ nào còn tồn tại mà không phải chịu khuất phục trước những điều bất khả kháng trong lịch sử.” Có những lý do hiển nhiên tại sao Phần Lan phải chịu nhiều điều bất khả kháng trong lịch sử hơn so với Mỹ hay Đức: Phần Lan là một đất nước nhỏ bé nằm sát sườn Nga, trong khi Mỹ và Đức thì không. Những nhà phê phán chuyên miệt thị sự Phần Lan hóa nghĩ rằng Phần Lan nên làm gì đây? – mạo hiểm chờ đến khi xảy ra một cuộc xâm chiếm khác của Liên Xô bằng cách không lưu tâm đến những phản ứng của họ hay sao?
Một phần của nỗi sợ đằng sau những phản ứng của các nhà phê phán không-phải-người-Phần-Lan đối với việc Phần Lan hóa bắt nguồn từ nỗi e ngại rằng nước Liên Xô cộng sản có thể đang biến đất nước của họ trở thành chiều theo Liên Xô. Nhưng các nước Tây Âu khác và Mỹ tồn tại ở một tình huống địa chính trị hoàn toàn khác và không phải đối mặt với những vấn đề địa chính trị như Phần Lan. Việc Kekkonen bảo vệ cho chính sách của Phần Lan gói gọn trong mệnh đề “Thuật ngữ Phần Lan hóa không phải để xuất khẩu.”
Thực vậy, chính sách đối ngoại của Phần Lan với Liên Xô nhất thiết không đáng phải làm cho phức tạp theo kiểu như đế chế Byzantine. Kết cục là, trong 70 năm sau khi kết thúc Thế chiến II, Phần Lan vẫn không trở thành đàn em của Liên Xô hay nước Nga (hiện giờ). Thay vào đó, nước này đã thành công trong việc ngày càng gia tăng mối ràng buộc bền vững với phương Tây trong khi vẫn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nước Nga. Đồng thời, người Phần Lan biết rằng cuộc đời vốn dĩ bất định, do đó chính sách nghĩa vụ quân sự ở Phần Lan vẫn áp dụng bắt buộc cho nam giới và tình nguyện cho nữ giới. Việc huấn luyện kéo dài lên đến một năm và rất khắt khe, vì đất nước này kỳ vọng những binh sĩ của họ phải giỏi chiến đấu thực sự. Sau một năm huấn luyện, cứ mỗi vài năm người Phần Lan lại được trưng tập cho nhiệm vụ trừ bị cho đến tuổi 30-35 hay hơn nữa. Lực lượng quân đội trừ bị chiếm khoảng 15% dân số Phần Lan – tương đương với việc nước Mỹ duy trì một lực lượng trừ bị 50 triệu người.
Dưới sự soi rọi lịch sử gần đây của Phần Lan, giờ chúng ta hãy đánh giá 12 nhân tố mặc nhiên được công nhận là gắn liền với giải pháp xử lý các biến cố quốc gia (Bảng 1.2), bằng việc so sánh với các nhân tố tương quan của biến cố cá nhân (Bảng 1.1). Trong số các nhân tố này, có bảy là ưu thế, một gây trở ngại bước đầu và sau đó được ưa chuộng và thiếu ba nhân tố gây trở ngại cho giải pháp xử lý vấn đề cơ bản: mối đe dọa từ đất nước láng giềng hùng mạnh.
Bảy nhân tố gắn kết với giải pháp xử lý biến cố mà Phần Lan thể hiện rõ nhất là việc thừa nhận trách nhiệm (nhân tố số 2), dựng một hàng rào (nhân tố số 3), căn tính quốc gia mạnh mẽ (nhân tố số 6), đánh giá trung thực (nhân tố số 7), ứng phó với thất bại (nhân tố số 9), tính linh hoạt (nhân tố số 10) và giá trị cốt lõi quốc gia (nhân tố số 11). Đầu tiên, trong số các quốc gia được đưa ra thảo luận trong cuốn sách này, Phần Lan là một điển hình nổi bật về việc thừa nhận trách nhiệm và tự đánh giá cực kỳ thực tế và trung thực. Việc đánh giá lại đặc biệt chua xót vì chiến tranh đã giết chóc, biến phụ nữ thành quả phụ, trẻ thơ bị mồ côi và một bộ phận lớn người dân Phần Lan thành vô gia cư. Phần Lan phải tránh rơi vào cái bẫy để cho sự tự thương thân và oán giận làm tê liệt những mối quan hệ của họ với Liên Xô. Nhưng cuối cùng họ đã nhận ra những thực tế: rằng Phần Lan chỉ là một nước nhỏ; rằng đất nước cùng chung một biên giới dài với Liên Xô; rằng đất nước không thể trong cậy vào sự hỗ trợ hiệu quả của các nước đồng minh; rằng trách nhiệm cho sự sống còn của đất nước nằm toàn bộ trong tay mình; và rằng đất nước này đủ mạnh để chiến đấu với Liên Xô chỉ trong một thời gian ngắn, và khiến cuộc xâm lược phải chậm lại, trả giá đắt và chịu nhiều đau thương về phía Liên Xô, nhưng họ không thể chống cự mãi mãi được. Người Phần Lan đã học được từ những sai lầm trong chính sách đối ngoại thời trước chiến tranh. Cuối cùng, họ đối mặt với thực tế rằng phương cách duy nhất để họ có thể giữ được sự độc lập về mặt chính trị là chiếm được lòng tin của Liên Xô, và hi sinh một số độc lập về mặt kinh tế và tự do biểu đạt.
Phần Lan là một minh họa rõ ràng cho chủ đề của chúng ta về thay đổi có chọn lọc và dựng lên một hàng rào (nhân tố số 3). Trong đáp trả cuối cùng của Phần Lan (sau tháng 9 năm 1944) với cuộc tấn công của Liên Xô, đất nước này đã đảo ngược chính sách lâu dài trước đây là cố lờ đi và không giao thiệp với Liên Xô. Họ áp dụng một chính sách mới là quan hệ về kinh tế và thường xuyên thương thảo về mặt chính trị với Liên Xô. Nhưng các thay đổi đó có tính chọn lọc cao vì Phần Lan vẫn không bị chiếm đóng, tự quản trị đất nước về mặt chính trị và là một chế độ dân chủ tự do chung cho xã hội. Sự cộng sinh của hai căn tính có vẻ đối nghịch nhau, một thay đổi và một không thay đổi đã làm nhiều người không-phải-người-Phần-Lan bối rối và giận dữ, họ đặt ra thuật ngữ đầy miệt thị “Phần Lan hóa” và hàm ý rằng Phần Lan có thể và đáng ra phải làm khác đi.
Phần Lan cũng biểu lộ căn tính quốc gia mạnh mẽ nổi bật (nhân tố số 6) – nhiều hơn những gì mà những người không quen thuộc với nó mong đợi ở một đất nước nhỏ bé đến thế lại khác với người Bắc Âu điển hình. Căn tính quốc gia và đức tin vào tính độc đáo của Phần Lan đặc biệt nảy sinh từ ngôn ngữ đẹp đẽ nhưng độc đáo và khó học của đất nước này, vốn chỉ có một ít người ngoài cố gắng để học; từ tập sử thi truyền khẩu gắn kết với ngôn ngữ này (trường ca Kalevala); và từ lịch sử dài hàng thế kỷ tự trị dưới sự cai trị của chế độ Sa hoàng nước Nga, khi Phần Lan đã có nền hành chính, đồng tiền và Quốc hội riêng. Đóng góp thêm vào căn tính quốc gia của Phần Lan là sự công nhận trên toàn thế giới đối với những nhạc sĩ, vận động viên điền kinh, kiến trúc sư và nhà thiết kế của đất nước này trên toàn thế giới. Ngày nay, căn tính quốc gia của Phần Lan còn nằm trong sự tự hào về thành quả quân sự của mình trong suốt Cuộc chiến Mùa đông. Người Phần Lan nhìn lại Thế chiến II với một niềm kiêu hãnh, nhiều hơn những công dân ở bất kỳ quốc gia nào ngoại trừ nước Anh. Những ngày lễ kỷ niệm 100 năm ngày độc lập của Phần Lan vào năm 2017 tập trung vào những thành quả của nước này trong Thế chiến II ít nhất cũng bằng với thành quả giành độc lập năm 1917: điều này cũng như lễ kỷ niệm Ngày Độc lập của nước Mỹ (ngày 4 tháng 7) lại tập trung vào chiến thắng trong Thế chiến II thay vì vào ngày ra đời của Tuyên ngôn Độc lập năm 1776.
Phần Lan còn minh họa cho sự bằng lòng chịu đựng thất bại ban đầu và kiên trì thử nghiệm những giải pháp đối với một biến cố cho đến khi tìm ra một giải pháp hữu hiệu (nhân tố số 9). Khi Liên Xô đưa ra những yêu sách cho Phần Lan vào tháng 10 năm 1939, Phần Lan không đáp lại bằng đề xuất mối quan hệ kinh tế và chính trị mà nó cuối cùng cũng đáp ứng. Dẫu khi đó Phần Lan có đưa ra đề xuất thì có thể Stalin vẫn khước từ; Phần Lan cần một cuộc kháng cự khốc liệt ở Cuộc chiến Mùa đông mới thuyết phục được Stalin để cho đất nước này được độc lập. Nhưng thay vào đó, từ năm 1944 trở đi, khi Phần Lan đã nhận ra sự thất bại của chính sách phớt lờ Liên Xô thời trước chiến tranh và chính sách tìm kiếm một giải pháp quân sự thời chiến, Phần Lan đã trải qua một thời kỳ thử nghiệm lâu dài và hầu như không ngưng nghỉ để thấy rằng họ có thể giữ độc lập về kinh tế và chính trị được bao nhiêu, và đổi lại họ phải làm gì để làm hài lòng Liên Xô.
Phần Lan là minh họa cho tính linh hoạt nảy sinh từ nhu cầu sống còn (nhân tố số 10). Để đáp lại những nỗi sợ và các vấn đề nhạy cảm của Liên Xô, Phần Lan đã làm những điều mà ở chế độ dân chủ không nghĩ ra được: nước này đưa ra tòa và bỏ tù những lãnh đạo thời chiến của mình theo luật hồi tố có hiệu lực; Quốc hội thì thông qua một nghị định khẩn cấp để đình hoãn một cuộc bầu cử tổng thống theo lịch trình; một ứng viên tổng thống hàng đầu được xui khiến rút lui, không tranh cử; và giới báo chí tự kiểm duyệt những phát ngôn có khả năng xúc phạm đến Liên Xô. Những chế độ dân chủ khác hẳn nhiên sẽ xem những hành động đó là đáng hổ thẹn. Nhưng ở Phần Lan, những hành động đó lại phản ánh tính linh hoạt: hi sinh các nguyên tắc dân chủ thiêng liêng để giữ được độc lập về mặt chính trị, nguyên tắc này giữ vị trí thiêng liêng nhất. Lại trích dẫn từ cuốn tiểu sử về Thống chế Mannerheim của Zaloga, người Phần Lan nổi trội trong việc thương thảo “kết quả ít kinh khủng nhất giữa một vài phương án chọn lựa rất tồi tệ.”
Lịch sử Phần Lan minh họa niềm tin vào một giá trị cốt lõi không bàn cãi (nhân tố số 11): nền độc lập, và không để thế lực nào chiếm đóng. Người Phần Lan sẵn sàng chiến đấu cho giá trị cốt lõi đó ngay cả khi chịu rủi ro về tổn thất nhân mạng ở quy mô lớn. May mắn cho người Phần Lan, họ đã sống sót và vẫn giữ được nền độc lập. Không có câu trả lời chính xác và phổ quát nào cho tình thế khó xử đầy đau đớn đó. Người Ba Lan vào năm 1939, người Nam Tư vào năm 1941 và người Hungary năm 1956 cũng lần lượt khước từ người Đức, những yêu sách của Đức và Liên Xô để chiến đấu cho nền độc lập, nhưng không có được kết cục may mắn như Phần Lan: cả ba quốc gia này đều thất trận, đã hay đang còn bị chiếm đóng, và phải gánh chịu sự chiếm đóng hà khắc. Ngược lại, Tiệp Khắc năm 1938, Estonia và Latvia rồi Lithuania năm 1939 và Nhật Bản năm 1945 lần lượt chấp thuận tối hậu thư của Đức, Liên Xô hay Mỹ, vì các nước này nhận định được tình trạng vô vọng về mặt quân sự. Hồi tưởng lại, tình trạng của Tiệp Khắc và Estonia có thể chưa chắc đã vô vọng: nhưng chúng ta sẽ không bao giờ biết được.
Nhân tố gây trở ngại bước đầu và sau đó tạo thuận lợi để xử lý biến cố của Phần Lan là sự thiếu đồng thuận quốc gia, rồi đạt thành quả đồng thuận (nhân tố số 1). Trong suốt thập niên 1930 Phần Lan hầu như lờ đi biến cố sắp xảy ra với Liên Xô, và rồi năm 1939 lại tính toán sai rằng những yêu sách của Stalin phần nào chỉ là bịp bợm. Từ 1944 trở về sau, thay vào đó là một sự đồng thuận, thể hiện rõ ràng qua học thuyết Paasikivi-Kekkonen, cho rằng chính phủ Phần Lan phải đối thoại thường xuyên với các lãnh tụ chính trị Liên Xô và học cách nhìn theo quan điểm của nước này
Ba nhân tố thuận lợi để xử lý biến cố mà Phần Lan rõ ràng bị thiếu, và do đó phải bù đắp bằng những phương thức khác, là sự hỗ trợ của đồng minh (nhân tố 4), những hình mẫu thích hợp có sẵn (nhân tố 5) và không bị những ràng buộc về địa chính trị (nhân tố 12). Trong các quốc gia đưa ra thảo luận trong cuốn sách này, không một quốc gia nào nhận được hỗ trợ ít ỏi từ đồng minh như Phần Lan: mọi đồng minh truyền thống và tiềm năng của Phần Lan đều từ chối cung cấp sự giúp đỡ thiết yếu mà Phần Lan kỳ vọng trong suốt Cuộc chiến Mùa đông. (Thụy Điển có cung cấp sự trợ giúp phi chính phủ nhỏ nhoi với khoảng 8.000 lính tình nguyện và tiếp nhận trẻ em tị nạn, trong khi Đức cũng có cung cấp sự giúp đỡ quân sự và kinh tế cần thiết trong Cuộc chiến Tiếp diễn.) Phần Lan không thể mong đợi một hình mẫu nào về một đất nước yếu ớt lại thành công trong việc đề kháng với những yêu sách của Liên Xô hay Đức Quốc xã: hầu hết các nước châu Âu khác hoặc chấp nhận những yêu sách đó rồi mất đi nền độc lập (như Ba Lan và Nam Tư), hoặc khước từ thắng lợi nhờ sức mạnh quân sự của mình, vốn vượt xa tiềm lực quân sự của Phần Lan (chỉ duy nhất nước Anh), hoặc giữ được nền độc lập bằng những nhượng bộ dễ chịu hơn so với những yêu sách của Liên Xô đối với Phần Lan (những dàn xếp giữa Thụy Sĩ và Thụy Điển với Đức Quốc xã). Ngược lại, hành động đi trên dây với Liên Xô thành công của Phần Lan lại là một hình mẫu (“Thuật ngữ Phần Lan hóa không phải để xuất khẩu”). Tự do chọn lựa của Phần Lan bị giới hạn một cách khắc nghiệt bởi ràng buộc về địa chính trị của một đường biên giới dài với người láng giềng Liên Xô hùng mạnh; chỉ duy nước Đức trước Thế chiến II tiếp cận Phần Lan ở mức độ hạn chế tự do hành động mà các nước có quyền lực hơn áp dụng.
Trong số những vấn đề đặc thù đưa ra cho các biến cố quốc gia nhưng không phát sinh trong biến cố cá nhân, có hai thảo luận được bảo chứng đối với Phần Lan: vai trò lãnh đạo và tái hòa giải sau đối kháng. Phần Lan được ưu thế về lực lượng quân sự và lãnh đạo chính trị có kỹ năng trong và sau Thế chiến II. Với tư cách một nhà lãnh đạo quân sự, tướng Mannerheim là bậc thầy trong việc phân bổ nguồn lực vốn dĩ khan hiếm, phán đoán những hiểm họa liên quan từ những mối đe dọa do Liên Xô đề ra ở các mặt trận chiến đấu khác nhau, giữ tỉnh táo và tư duy sáng suốt trong những tình huống cực kỳ khốn đốn và vẫn tin tưởng vào binh sĩ và các cấp sĩ quan dưới quyền. Thủ tướng Juho Paasikivi, sau này là tổng thống, và người kế nhiệm Urho Kekkonen, ngoài kỹ năng nói tiếng Nga lưu loát, còn chứng tỏ kỹ năng đàm phán với Stalin khi ở thế yếu, đạt thắng lợi và gây được niềm tin nơi một con người cực đoan như ông ta, và còn thuyết phục ông ta rằng việc duy trì nền độc lập của Phần Lan sẽ là một chính sách có lợi cho Liên Xô. (Hãy hình dung bạn ở tình huống khó khăn và tồi tệ của Paasikivi vào tháng 9 năm 1944 khi ông bay đến Moscow gặp Stalin thương thảo hòa bình để kết thúc Cuộc chiến Tiếp diễn sau khi đã bay đến đó thương thảo hòa bình vào tháng 3 năm 1940 để chấm dứt Cuộc chiến Mùa đông, và sau khi Phần Lan phá vỡ thỏa hiệp tháng 3 năm 1940 với việc về phe Đức và chiếm lại vùng Karelia vào mùa hè năm 1941. Bạn sẽ nói gì với Stalin vào năm 1944 đó? – “Xin hãy tin tôi, ngài cứ tin tôi lần này đi” chăng?) Dù kỹ năng của họ là hiếm có, những tác động của Mannerheim, Paasikivi và Kekkonen với tư cách những nhà lãnh đạo cũng không đến nỗi quá mức, nhưng vì mục đích và chiến lược của họ cũng giống như của các tướng lĩnh và chính trị gia hàng đầu.
Một vấn đề đặc thù khác về các biến cố quốc gia liên quan đến việc hòa giải sau cuộc xung đột nội bộ khốc liệt hay nội chiến. Cuộc hòa giải ở Phần Lan sau nội chiến năm 1918 nhanh hơn và toàn triệt hơn cuộc hòa giải ở Chile sau chế độ độc tài quân sự của tướng Pinochet (Chương 4), trong khi người Indonesia vẫn thể hiện rất ít để đạt đến sự kết thúc sau vụ diệt chủng năm 1965 do quân đội chủ mưu (Chương 5). Một phần câu giải thích là sự liên quan đến những khác biệt dân tộc đến mức quân đội vẫn nắm quyền lực và tiếp tục đe dọa những đối thủ. Quân đội vẫn giữ quyền lực ở Indonesia sau năm 1965 hoặc vẫn hiện hữu và là mối đe dọa ở Chile ngay cả sau khi Pinochet rời khỏi cương vị tổng thống, trong khi đó quân đội Phần Lan ít thấy xuất hiện sau cuộc nội chiến. Phần khác là ý thức về tính đặc thù được mọi người Phần Lan chia sẻ: đó là cả kẻ thắng lẫn người bại trong cuộc Nội chiến Phần Lan đều có chung truyền thống dân chủ, có sự độc đáo giữa mọi dân tộc trên thế giới là nói tiếng Phần Lan, đọc thuộc lòng trường ca Kalevala và là những đồng bào của Jean Sibelius và Paavo Nurmi.
Vì vậy, Phần Lan là điển hình đầu tiên trong hai quốc gia điển hình trải qua một biến cố do cú sốc đột ngột từ bên ngoài. Ở chương kế tiếp, đề cập tới Nhật Bản thời Minh Trị, chúng ta sẽ bàn luận về một quốc gia khác có căn tính quốc gia mạnh mẽ và một ngôn ngữ khác biệt, còn khác biệt về mặt văn hóa hơn cả Phần Lan, với nhiều thay đổi có chọn lọc còn quyết liệt hơn và với tính thực tế nổi tiếng như của Phần Lan, nhưng với một tình trạng địa chính trị khác biệt cho phép Nhật Bản theo đuổi một chiến lược dài hạn độc lập hơn Phần Lan.
Phần 2: Quốc gia - Biến cố đã lộ diện
Chương 3 - Khởi nguyên của nước Nhật hiện đại 

Những kết nối với Nhật Bản của tôi – Nhật Bản trước năm 1853 – Perry – Từ năm 1853 đến năm 1868 – Kỷ nguyên Minh Trị – Cải cách Minh Trị – “Tây phương hóa” – Bành trướng ra hải ngoại – Khung biến cố – Những câu hỏi
Không như các quốc gia khác được thảo luận trong sách này, đối với Nhật Bản, tôi không nói được tiếng nước này, không sống ở đó trong những thời kỳ dài và chỉ mới đến đó lần đầu tiên cách đây hai thập niên. Tuy nhiên, tôi lại có nhiều cơ hội để học hỏi gián tiếp về những thay đổi có chọn lọc của Nhật Bản và sự hòa trộn giữa châu Âu với những đặc trưng truyền thống Nhật Bản của đất nước này. Khi chuyển đến California từ Boston ở bờ tây nước Mỹ, nơi tôi sinh ra và lớn lên, tôi thấy mình đang ở trong một phần nước Mỹ với lượng dân số châu Á đông đúc hơn, trong số đó có người Nhật hay người Mỹ gốc Nhật. Những người châu Á hiện nay chiếm một tỉ lệ lớn nhất trong số sinh viên ở trường đại học của tôi (Đại học California ở Los Angeles), vượt xa số sinh viên có nguồn gốc từ châu Âu. Tôi có nhiều người bạn và đồng nghiệp người Nhật, gồm cả một trợ lý nghiên cứu tuyệt vời, biết rất rõ về nước Mỹ và châu Âu do sống ở đó trong một thời gian dài và trong một số trường hợp lại có những cuộc hôn nhân dị chủng. Ngược lại, tôi cũng có nhiều người bạn và đồng nghiệp Mỹ biết rất rõ nước Nhật do sống ở đó rất lâu và cũng có một số trường hợp hôn nhân dị chủng. Chính tôi cũng có mấy anh chị em cô cậu và cháu gái người Nhật do gia đình vợ tôi có hai chi họ người Nhật.
Kết quả là tôi thường nghe kể về những khác biệt giữa nước Nhật với nước Mỹ hay châu Âu từ những người Nhật, người Mỹ và người châu Âu qua kinh nghiệm lâu dài khi sống ở cả Nhật Bản và Mỹ hay châu Âu. Mọi người thân, sinh viên, bạn bè và đồng nghiệp đều nói về những dị biệt lớn cùng tồn tại với những tương đồng lớn giữa các xã hội Nhật Bản với Mỹ hay châu Âu. Một số dị biệt mà họ chỉ ra liên quan đến: xin lỗi (hoặc không xin lỗi), khó khăn của việc học đọc và viết, im lặng chịu đựng gian khổ, hòa hợp rộng rãi với khách hàng giao dịch có triển vọng, cực kỳ lịch sự, cảm nhận về người ngoại quốc, thái độ trọng nam khinh nữ không cần che đậy, giao tiếp giữa bệnh nhân/bác sĩ, tự hào về chữ viết đẹp, giảm trừ chủ nghĩa cá nhân, quan hệ với bố mẹ vợ, nổi bật về sự khác biệt với những người khác, địa vị xã hội của phụ nữ, nói thẳng cảm nghĩ của mình, không ích kỷ, những cách biểu thị sự không hài lòng với người khác – và nhiều đặc trưng khác nữa.
Tất cả những dị biệt đó là di sản của nước Nhật truyền thống, cùng tồn tại với những ảnh hưởng từ phương Tây lên nước Nhật hiện đại. Sự hòa trộn đó bắt đầu từ một biến cố bùng nổ vào ngày 8 tháng 7 năm 1853 và được thúc đẩy nhanh hơn với công cuộc Minh Trị Duy Tân năm 1868 (sẽ nói nhiều hơn dưới đây), khi nước Nhật bắt tay vào một chương trình thay đổi có chọn lọc kéo dài trên nửa thế kỷ. Nhật Bản thời Minh Trị có lẽ là điển hình nổi bật của thế giới hiện đại về sự thay đổi dân tộc có chọn lọc và áp dụng hình mẫu của các quốc gia khác. Giống như biến cố của Phần Lan mà chúng ta đã bàn ở chương trước, biến cố của Nhật Bản cũng bắt đầu bằng một mối đe dọa từ người ngoài (nhưng không phải một cuộc tấn công thực sự). Giống như Phần Lan, nước Nhật thể hiện rất rõ sự tự đánh giá trung thực, và kiên nhẫn thử nghiệm nhiều giải pháp khác nhau cho đến khi tìm được những giải pháp có hiệu quả. Nhưng không giống Phần Lan, nước Nhật chấp nhận nhiều thay đổi có chọn lọc toàn diện và có được tự do hành động rộng rãi hơn. Do đó, Nhật Bản thời Minh Trị là một nghiên cứu trường hợp tốt để đi cặp với Phần Lan trong thảo luận của chúng ta.
Nhật Bản là một đất nước hiện đại không-phải-châu-Âu đầu tiên khế hợp với các xã hội châu Âu và tân châu Âu ở hải ngoại (Mỹ, Canada, Úc và New Zealand) về mức sống, công nghiệp hóa và công nghệ. Nước Nhật ngày nay không chỉ giống như châu Âu và các nước châu Âu mới về phương diện kinh tế và công nghệ, mà còn về nhiều mặt chính trị và xã hội, chẳng hạn như một nền dân chủ nghị viện, trình độ học vấn cao, học theo y phục phương Tây và thu nạp âm nhạc phương Tây cùng âm nhạc truyền thống Nhật Bản. Nhưng về các mặt khác, đặc biệt về xã hội và văn hóa, Nhật Bản vẫn còn khác biệt với mọi xã hội châu Âu hơn bất kỳ xã hội nào trong phạm vi châu Âu với nhau. Nhưng không có gì phải ngạc nhiên về những bình diện phi châu Âu của xã hội Nhật Bản. Chúng hoàn toàn được như mong đợi, vì nước Nhật nằm cách Tây Âu đến 8.000 dặm và đã chịu ảnh hưởng nặng nề từ các nước trong nội địa châu Á ở gần (đặc biệt là Trung Hoa và Cao Ly), vốn có chung một lịch sử lâu dài với Nhật Bản.
Trước năm 1542, châu Âu không có chút ảnh hưởng nào tới Nhật Bản. Tiếp theo là một thời kỳ ảnh hưởng gắn kết với sự bành trướng ra hải ngoại của châu Âu (nhưng chỉ giới hạn bởi khoảng cách tiếp cận quá lớn) trong giai đoạn 1542-1639, kế tiếp là một giai đoạn giảm dần ảnh hưởng cho đến năm 1853. Hầu hết những khía cạnh châu Âu ở xã hội Nhật Bản đương đại đều đến từ năm 1853. Dĩ nhiên chúng không thay thế mọi thứ đối với nước Nhật truyền thống, những thứ vẫn còn được lưu giữ nhiều. Nghĩa là nước Nhật, cũng giống như những người sống sót sau vụ hỏa hoạn Cocoanut Grove và như nước Anh sau Thế chiến II, là một mảnh ghép giữa bản sắc cũ và bản sắc mới – nhiều hơn so với bất kỳ xã hội nào được thảo luận trong cuốn sách này.
Trước thời Minh Trị Duy Tân, người thực sự cai trị nước Nhật là một nhà độc tài quân sự theo chế độ cha truyền con nối, gọi là shogun (tướng quân), trong khi vị hoàng đế chỉ ngồi làm vì, không có thực quyền. Giai đoạn 1639-1853, các shogun hạn chế sự tiếp xúc giữa Nhật Bản với người ngoại quốc, từ đó tiếp nối một lịch sử cách biệt lâu dài nảy sinh từ những tác động về mặt địa lý, với vị trí hòn đảo giữa biển. Lịch sử đó đầu tiên có thể làm chúng ta ngạc nhiên khi nhìn vào bản đồ thế giới và so sánh địa lý Nhật Bản với địa lý của quần đảo Anh.
Nhìn bề ngoài, hai quần đảo này có vẻ mang nhiều điểm tương đồng về địa lý, mỗi bên đều lần lượt nằm ngoài khơi bờ đông và bờ tây của lục địa Á-Âu (để có tính thuyết phục, các bạn chỉ cần nhìn bản đồ). Nhật Bản và Anh trông cũng khá tương đồng về diện tích, và cả hai đều nằm gần đại lục Á-Âu, do đó người ta dễ nghĩ có những lịch sử tương tự liên quan đến đại lục. Thực ra, kể từ thời Chúa Jesus, Anh quốc đã bị bốn lần xâm chiếm thành công xuất phát từ đại lục, nhưng Nhật Bản thì không. Ngược lại, Anh quốc cũng có những đạo quân chiến đấu ở đại lục trong mỗi thế kỷ kể từ cuộc chinh phục của người Norman vào năm 1066, nhưng đến tận cuối thế kỷ 19 không có đội quân Nhật Bản nào ở đại lục ngoại trừ hai giai đoạn ngắn. Ngay trong thời kỳ đồ đồng hơn 3.000 trước đây, đã có giao thương mạnh mẽ giữa Anh và lục địa châu Âu; những khu mỏ ở vùng Cornwall là nguồn thiếc chính để làm ra đồng ở châu Âu. Một hoặc hai thế kỷ trước đó, nước Anh là quốc gia giao thương hàng đầu thế giới, trong khi giao thương với nước ngoài của Nhật Bản vẫn còn nhỏ bé. Tại sao lại có những khác biệt lớn lao mâu thuẫn rõ ràng với những kỳ vọng về mặt địa lý đến thế?
Lời giải thích cho sự mâu thuẫn này liên quan đến các chi tiết quan trọng về địa lý. Trong khi Nhật Bản và Anh quốc nhìn thoáng qua thì giống nhau về diện tích và sự tách biệt, thì Nhật Bản xa đại lục gấp năm lần so với Anh (110 dặm so với 22 dặm) và diện tích gấp rưỡi, đồng thời đất đai màu mỡ hơn. Do đó, dân số Nhật Bản ngày nay hơn gấp đôi Anh, sản xuất thực phẩm trên đất liền và gỗ cùng hải sản trong vùng bờ biển cũng cao hơn. Trước khi nền công nghiệp hiện đại đòi hỏi phải nhập dầu và kim loại, nước Nhật vẫn tự túc phần lớn các nguồn thiết yếu và có ít nhu cầu giao thương với nước ngoài – không giống như ở Anh. Đó là bối cảnh địa lý cho việc tách biệt đã đặc trưng hóa phần lớn lịch sử Nhật Bản, và hầu như chỉ tăng lên sau năm 1639.
Những người châu Âu đầu tiên đến Trung Hoa và Nhật Bản bằng đường biển tương ứng các năm 1514 và 1542. Nước Nhật, từng giao thương một số mặt hàng với Trung Hoa và Cao Ly, sau đó bắt đầu buôn bán với bốn nhóm người châu Âu: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và Anh. Đó là chưa kể đến giao thương trực tiếp giữa Nhật Bản và châu Âu, nhưng chỉ ở những khu định cư trên bờ biển Trung Hoa và ở nơi khác ở vùng Đông Nam Á. Những lần tiếp xúc với người châu Âu đã tác động đến các lĩnh vực của xã hội Nhật Bản, từ vũ khí đến tôn giáo. Khi những kẻ phiêu lưu người Bồ Đào Nha đến Nhật vào năm 1542, họ bắn vịt trời bằng những khẩu súng còn thô sơ nhưng cũng khiến người Nhật rất ấn tượng đến nỗi họ say sưa phát triển loại súng cầm tay cho riêng mình, và kết quả là vào khoảng năm 1600 Nhật Bản còn có nhiều súng tốt hơn bất kỳ nước nào trên thế giới. Những nhà truyền giáo đầu tiên đến Nhật vào năm 1549 và đến năm 1600, nước Nhật có đến 300.000 Ki-tô hữu.
Nhưng các shogun có nhiều lý do để lưu tâm đến ảnh hưởng của phương Tây nói chung, và về Ki-tô giáo nói riêng. Những người châu Âu bị kết tội can thiệp vào chính trị nước Nhật và cung cấp vũ khí cho những kẻ phản loạn chống lại chính quyền Nhật Bản. Các giáo sĩ truyền đạo dạy rằng không khoan dung với các tôn giáo khác, họ cũng không tuân thủ những lệnh cấm truyền đạo của chính quyền Nhật Bản và chỉ trung thành với một người ngoại quốc (Giáo hoàng). Vì thế, sau khi đóng đinh hàng ngàn giáo dân Nhật, trong giai đoạn 1636-1639, shogun cắt đứt hầu hết các mối quan hệ giữa Nhật Bản và châu Âu. Ki-tô giáo bị cấm đoán. Hầu hết người Nhật bị cấm đi lại hay sống ở nước ngoài. Những ngư dân Nhật bị đắm thuyền ngoài biển, được tàu phương Tây hay Mỹ cứu mà quay về Nhật thường bị quản thúc ở nhà hay cấm nói về những trải nghiệm của họ ở nước ngoài. Những cuộc viếng thăm nước Nhật của người nước ngoài cũng bị cấm đoán, ngoại trừ những thương nhân Trung Hoa được giới hạn ở một khu vực trên thành phố cảng Nagasaki, và thương nhân Hà Lan ở đảo Deshima trong vịnh Nagasaki. (Do những người Hà Lan theo đạo Tin lành nên Nhật xem họ không phải tín đồ Ki-tô giáo.) Cứ mỗi bốn năm một lần, những thương nhân Hà Lan được lệnh đem đồ triều cống đến kinh đô theo một lộ trình đã vạch trước dưới những đôi mắt soi mói dọc đường đi như những con vi trùng nguy hiểm được giữ bên trong lọ được niêm phong cẩn thận. Một số lãnh địa thành công trong việc giao thương với Cao Ly, Trung Hoa và Lưu Cầu (Ryukyu), một quần đảo cách Nhật Bản vài trăm dặm về hướng nam, bao gồm cả Okinawa. Giao thương ngắt quãng của Cao Ly đến Nhật được che đậy với người dân là những chuyến đi sứ được cho phép để nhận “triều cống” từ Cao Ly. Nhưng tất cả những mối liên hệ đó vẫn giới hạn về quy mô.
Về mặt kinh tế, giao thương nhỏ lẻ giữa Hà Lan và Nhật Bản thì không đáng kể. Nhưng điều quan trọng đối với Nhật Bản là những thương nhân Hà Lan trở thành một nguồn thông tin quan trọng về châu Âu. Trong những khóa hướng dẫn do các trường tư của người Nhật tổ chức có môn gọi là “Hà Lan học.” Những lớp này dạy những thông tin thu thập được từ Hà Lan về các môn thực hành và khoa học: đặc biệt là y học, thiên văn, bản đồ, khảo sát súng ống và chất nổ. Trong bộ phận Thông Thiên Giám của chính quyền Nhật Bản có một văn phòng chuyên dịch sách vở Hà Lan về những môn học trên sang tiếng Nhật. Nhiều thông tin về thế giới bên ngoài (kể cả châu Âu) cũng lọt vào Nhật Bản thông qua Trung Hoa, sách vở Trung Hoa, và sách vở châu Âu dịch sang chữ Hán.
Tóm lại, cho đến năm 1853, mối liên hệ giữa Nhật Bản và người nước ngoài còn hạn chế và bị chính quyền Nhật kiểm soát.
Nhật Bản vào năm 1853 rất khác với nước Nhật ngày nay, ngay cả nước Nhật vào năm 1900, ở nhiều mặt quan trọng. Phần nào giống như châu Âu thời Trung cổ, Nhật Bản năm 1853 vẫn còn là một xã hội phân tầng phong kiến, phân chia thành các lãnh địa, mỗi lãnh địa do một daimyo (lãnh chúa) kiểm soát, quyền lực vượt xa các lãnh chúa châu Âu thời trung cổ. Trên đỉnh cao quyền lực là một shogun (Ảnh 3.1) thuộc dòng dõi Tokugawa đã cai trị nước Nhật từ năm 1603 và kiểm soát 1/4 đất trồng lúa của Nhật Bản. Daimyo phải được sự cho phép của shogun mới được cưới vợ, di dời hay xây dựng sửa chữa một lâu đài. Luân phiên hai năm một lần, họ cũng được yêu cầu phải dẫn theo tùy tùng trình diện và mất nhiều thời gian với tổn phí lớn ở bản doanh của shogun. Bên cạnh căng thẳng tạo ra từ những nguyên nhân trên giữa shogun và các daimyo, những vấn nạn của nước Nhật thời kỳ các shogun dòng Tokugawa phát sinh từ lỗ hổng giữa chi phí và thu nhập của shogun, những cuộc nổi loạn thường xuyên gia tăng, sự đô thị hóa và trỗi dậy của tầng lớp thương nhân. Nhưng các shogun dòng Tokugawa vẫn xử lý được các vấn nạn đó và vẫn nắm giữ quyền lực trong 250 năm và không gặp rủi ro báo trước nào về việc bị lật đổ. Thay vào đó, cú sốc dẫn đến việc họ bị lật đổ lại đến từ phương Tây.
Bối cảnh của áp lực từ phương Tây lên Nhật Bản chính là từ áp lực của phương Tây lên Trung Hoa, vốn sản xuất thứ hàng hóa mà phương Tây khao khát nhiều hơn hẳn so với Nhật Bản. Đặc biệt, người tiêu dùng châu Âu thích trà và lụa Trung Hoa, nhưng ngược lại, phương Tây sản xuất ít loại hàng hóa mà Trung Hoa cần, do đó người châu Âu phải bù đắp vào khoản thiếu hụt bằng vận chuyển bạc đến Trung Hoa. Để giảm việc chảy máu bạc, thương nhân Anh có một ý tưởng sáng suốt là vận chuyển nha phiến từ Ấn Độ đến bán ở Trung Hoa với giá thấp hơn nguồn cung nội địa hiện thời. (Vâng, chính sách nha phiến của người Anh không phải là sự vu khống được nghĩ ra để chống phương Tây: điều này đúng thực sự, và cần được ghi nhớ khi muốn tìm hiểu thái độ của Trung Hoa hiện đại đối với phương Tây.) Nên có thể thông cảm việc chính quyền Trung Hoa đáp trả bằng việc quy kết nha phiến gây nguy hại cho sức khỏe, cấm nhập khẩu và yêu cầu các nhà buôn châu Âu phải giao nộp tất cả số nha phiến trên tàu đang neo đậu ngoài khơi bờ biển Trung Hoa. Nước Anh phản đối sự đáp trả của Trung Hoa, cho là một sự kiềm chế giao thương bất hợp pháp.
Kết quả là nổ ra cuộc Chiến tranh Nha phiến I (1839-1842) giữa Anh và Trung Hoa, phép thử nghiêm túc đầu tiên về sức mạnh quân sự giữa Trung Hoa với phương Tây. Mặc dù đất nước Trung Hoa rộng lớn hơn và đông dân hơn Anh rất nhiều, nhưng hải quân và bộ binh của Anh lại được trang bị và huấn luyện vượt trội hơn so với hải quân và bộ binh Trung Hoa. Do đó, Trung Hoa bị đánh bại và buộc phải nhượng bộ nhục nhã, bồi thường một khoản chiến phí lớn và ký một hiệp ước mở năm cảng biển cho người Anh giao thương. Rồi sau đó, Pháp và Mỹ cũng bòn rút được những nhượng bộ tương tự từ Trung Hoa.
Khi chính quyền Nhật biết được những tình huống phát sinh từ Trung Hoa, nước này sợ rằng việc một số cường quốc phương Tây yêu sách một hiệp ước tương tự về hệ thống cảng biển ở Nhật chỉ còn là vấn đề thời gian. Điều này thực sự xảy ra vào năm 1853, và cường quốc phương Tây đứng ra lãnh trách nhiệm là nước Mỹ. Lý do khiến Mỹ là quốc gia đầu tiên trong số các nước phương Tây khởi động sự đối nghịch với Nhật Bản là vì cuộc chinh phục vùng đất California từ tay Mexico vào năm 1848, theo đó là việc phát hiện ra vàng ở vùng đất này, tạo ra sự bùng nổ lưu thông tàu thuyền đến bờ biển Thái Bình Dương. Việc đi lại trên Thái Bình Dương để săn bắt cá voi và buôn bán cũng gia tăng. Điều không thể tránh được là một số tàu Mỹ bị đắm, một số vụ đắm tàu xảy ra ở vùng biển gần Nhật Bản và một số thủy thủ sống sót tình cờ đến được Nhật Bản, ở đó họ bị giết hay bị bắt theo chính sách biệt lập của shogun Tokugawa. Nhưng Mỹ lại muốn những thủy thủ đó được bảo vệ và giúp đỡ, và cũng muốn tàu Mỹ được mua than ở Nhật Bản.
Vì thế, Tổng thống Millard Fillmore gửi Phó đề đốc Matthew Perry cùng hạm đội gồm bốn tàu chiến đến Nhật, trong đó có hai tàu chiến trang bị đại bác chạy bằng hơi nước hoàn toàn vượt trội về sức mạnh so với bất kỳ tàu chiến Nhật nào vào thời kỳ đó (nước Nhật hồi đó chưa có tàu chạy bằng hơi nước cũng như máy hơi nước). Vào ngày 8 tháng 7 năm 1853, Perry đưa hạm đội không mời mà đến của mình vào Vịnh Edo (Vịnh Tokyo ngày nay), khước từ mệnh lệnh bắt phải rời đi của Nhật, chuyển thư yêu cầu của Tổng thống Fillmore, đồng thời tuyên bố ông ta mong nhận được phúc đáp khi trở lại vào năm sau.
Đối với Nhật Bản, việc hạm đội của Perry xuất hiện ở vịnh Edo và lời đe dọa công khai với sức mạnh vượt trội, phù hợp với định nghĩa của chúng ta về “biến cố”: một thách thức nghiêm trọng không thể xử lý bằng những phương pháp có sẵn. Sau khi Perry rời đi, vị shogun liền chuyển bức thư của Fillmore đến các daimyo để tham khảo ý kiến về việc đáp trả thế nào là tốt nhất; điều này quả là bất thường. Trong số những ý kiến phúc đáp trở lại của các daimyo, chủ điểm chung vẫn là thể hiện một mong ước mạnh mẽ tiếp tục duy trì sự “biệt lập” của Nhật Bản, nhưng đều nhận thức được điều bất khả trên thực tế của nước Nhật trong việc bảo vệ đất nước trước những tàu chiến của Perry, do đó có ý kiến cho rằng nên thỏa hiệp để kéo dài thời gian cho đến khi Nhật Bản có được súng ống và công nghệ phương Tây để tự bảo vệ. Chính quan điểm sau cùng đã thắng thế.
Khi Perry trở lại vào ngày 13 tháng 2 năm 1854, lần này với một hạm đội gồm chín tàu chiến, vị shogun đáp lại bằng việc ký hiệp ước đầu tiên của Nhật với một quốc gia phương Tây. Mặc dù Nhật Bản thành công trong việc trì hoãn yêu cầu của Perry về một thỏa thuận giao thương, nhưng họ đã có những nhượng bộ khác, chấm dứt chính sách biệt lập trong suốt 215 năm. Nhật đồng ý mở hai cảng biển làm chỗ trú cho tàu Mỹ, chấp thuận có một lãnh sự Mỹ đặt văn phòng ở một trong những cảng này và đồng ý đối xử nhân đạo với thủy thủ Mỹ bị đắm tàu. Sau khi Nhật ký hiệp ước với Mỹ, các chỉ huy hải quân Anh, Nga và Hà Lan ở vùng Viễn Đông cũng nhanh chóng đạt được những hiệp ước tương tự với Nhật.
Thời kỳ 14 năm bắt đầu vào năm 1854, khi chính quyền của shogun (gọi là bakufu, hay Mạc phủ) ký hiệp ước với Perry, chấm dứt mấy thế kỷ biệt lập của Nhật, là một thời kỳ hỗn loạn trong lịch sử Nhật Bản. Mạc phủ phải đấu tranh để giải quyết các vấn nạn do việc buộc phải mở cửa gây ra. Nhưng cuối cùng shogun cũng thất bại do việc mở cửa đã khởi phát những thay đổi không thể ngừng được trong xã hội và chính quyền Nhật. Đến lượt những thay đổi này lại dẫn đến việc những đối thủ của shogun lật đổ ông ta, và rồi quá nhiều thay đổi lại vượt quá xa khỏi tầm tay của chính phủ mới do những đối thủ của shogun dẫn dắt.
Hiệp ước của Perry và những sĩ quan đồng cấp người Anh, Nga và Hà Lan vẫn không thỏa mãn được mục đích mở cửa nước Nhật để giao thương của phương Tây. Do đó, vào năm 1858, người lãnh sự Mỹ mới ở Nhật lại thương thảo một hiệp ước rộng rãi hơn đề cập tới giao thương, và một lần nữa lại là những hiệp ước tương tự với Anh, Pháp, Nga và Hà Lan. Những hiệp ước này bị xem là một sự sỉ nhục cho nước Nhật và được cho là “những hiệp ước bất bình đẳng” vì chúng thấm đẫm quan niệm phương Tây cho rằng Nhật Bản không xứng đáng để được ứng xử theo cách những cường quốc phương Tây ứng xử với nhau. Chẳng hạn, những hiệp ước cấp cho công dân phương Tây đặc quyền ngoại giao, đó là họ không phải tuân phục luật pháp Nhật Bản. Mục tiêu chính của chính sách Nhật Bản ở nửa thế kỷ tiếp đó đã bị những hiệp ước bất bình đẳng này hủy hoại.
Sự yếu kém về quân sự của Nhật Bản năm 1858 đã chuyển mục tiêu đó đến tương lai xa hơn. Thay vào đó, mục tiêu cấp thời đơn giản của Mạc phủ vào năm 1858 là giảm thiểu sự xâm nhập của người phương Tây cùng những ý tưởng và ảnh hưởng của họ. Nhật đạt được điều này khi tiếp tục tuân thủ các hiệp ước, nhưng đồng thời cũng vô hiệu hóa chúng bằng cách trì hoãn, đơn phương thay đổi các thỏa thuận, lợi dụng sự không quen thuộc địa danh tiếng Nhật dễ gây nhầm lẫn cho người phương Tây và kích động các nước phương Tây kình chống lẫn nhau. Qua các hiệp ước năm 1858, Nhật Bản đã thành công trong việc giới hạn giao thương chỉ ở hai cảng biển, gọi là “cảng hiệp ước,” và hạn chế người nước ngoài ở những khu vực được quy định trong phạm vi cảng và không được ra khỏi những khu vực đó.
Chiến lược cơ bản của Mạc phủ từ 1854 trở đi là câu giờ. Điều này đồng nghĩa với việc thỏa mãn những yêu cầu của các cường quốc phương Tây (với càng ít nhượng bộ càng tốt), nhưng cùng lúc tiếp thu kiến thức, công nghệ và sức mạnh quân sự lẫn không thuộc quân sự của phương Tây để có khả năng chống đỡ phương Tây càng sớm càng tốt. Mạc phủ, cùng những lãnh địa hùng mạnh Satsuma và Choshu6 trên danh nghĩa vẫn phục tùng Mạc phủ, nhưng vẫn được hưởng nhiều quyền tự trị, ganh đua nhau mua tàu bè, súng ống phương Tây, hiện đại hóa quân đội và gửi du học sinh đến châu Âu và Mỹ. Những du học sinh này không chỉ học về những điều thực tiễn như kỹ thuật hàng hải, tàu thuyền, kỹ nghệ, xây dựng, khoa học và công nghệ phương Tây mà còn về luật pháp, ngôn ngữ, thể chế, kinh tế học, chính trị học và mẫu tự phương Tây. Mạc phủ còn triển khai một Viện Nghiên cứu về Sách vở của người Ngoại tộc (người nước ngoài), dịch sách phương Tây và tài trợ cho việc xuất bản sách ngữ pháp và một từ điển bỏ túi tiếng Anh.
Nhưng trong khi Mạc phủ và các lãnh địa lớn đang cố xây dựng sức mạnh, thì các vấn đề nảy sinh từ mối liên hệ với phương Tây cũng phát triển ở Nhật. Mạc phủ và các lãnh địa gánh nợ nần chồng chất từ những chủ nợ nước ngoài do các tổn phí cho việc mua vũ khí và gửi học sinh đi du học. Giá tiêu dùng và sinh hoạt tăng vọt. Nhiều samurai (tầng lớp chiến binh) và thương nhân phản đối những nỗ lực của Mạc phủ nhằm độc quyền ngoại thương. Giờ đây, do shogun phải xin lời khuyên từ các daimyo sau chuyến viếng thăm đầu tiên của Perry, nên một số daimyo muốn tham gia nhiều hơn về chính sách và kế hoạch thay vì để shogun xử lý mọi việc như trước đây. Chính shogun là người thương thảo và ký các hiệp ước với những cường quốc phương Tây, nhưng ông ta lại không thể kiểm soát được các daimyo ở xa vi phạm những hiệp ước đó.
Kết quả là một số khuynh hướng mâu thuẫn lại giao nhau. Các cường quốc phương Tây mâu thuẫn với Nhật về việc mở cửa nước Nhật nhiều (mục tiêu của phương Tây) hay ít (mục tiêu thịnh hành của người Nhật) với phương Tây. Những lãnh địa như Satsuma và Choshu, vốn đã có truyền thống đối kháng với Mạc phủ, giờ đây càng đối kháng sâu sắc hơn, mỗi phe đều thử áp dụng thiết bị và kiến thức phương Tây cũng như liên kết đồng minh để chống lại phe kia. Mâu thuẫn gia tăng giữa các lãnh địa. Ngay cả giữa Mạc phủ và vị hoàng đế làm vì ở triều đình cũng có xung khắc về việc ai được cho là người thay mặt Mạc phủ để hành động. Chẳng hạn, triều đình từ chối chấp thuận hiệp ước 1858 mà Mạc phủ thương thảo với Mỹ, nhưng Mạc phủ vẫn tiến hành ký kết.
Xung đột dữ dội nhất trong nội bộ nước Nhật phát sinh từ sự nan giải về chiến lược căn bản: hoặc cố gắng kháng cự và tống xuất người nước ngoài lúc này, hoặc chờ đến khi nước Nhật hùng cường hơn. Việc Mạc phủ ký kết những hiệp ước bất bình đẳng đã tạo ra phản ứng dữ dội trong nước: sự giận dữ đối với những kẻ ngoại quốc lăng nhục nước Nhật, cùng sự giận dữ nhằm vào vị shogun và các lãnh chúa khác đã chấp nhận để cho nước Nhật bị lăng nhục. Đến khoảng năm 1859, giới samurai trẻ tuổi phẫn uất, ngây thơ, nóng nảy bắt đầu theo đuổi mục tiêu tống xuất những kẻ ngoại quốc bằng một chiến dịch ám sát. Họ được biết dưới tên gọi “shishi,” nghĩa là “chí sĩ.” Tín điều của họ chính là những giá trị truyền thống Nhật Bản, họ tự cho là có phẩm hạnh cao quý hơn những chính khách già nua.
Công bố sau đây về những nguyên tắc của các shishi này, tuyên ngôn năm 1861, đã chuyển tải mùi vị sự giận dữ của họ: “Chính từ căn nguyên của nỗi thống khổ sâu xa đối với Thiên hoàng của chúng ta về việc đất nước thần thánh và diễm lệ của chúng ta bị lũ man rợ lăng nhục, và Tinh thần Võ sĩ đạo Nhật Bản lưu truyền từ xa xưa, sắp sửa bị hủy diệt… Thiên hạ nói rằng khi chủ nhân của một người bị lăng nhục, những tùy hầu của ông ta phải chọn cái chết để hoàn thành bổn phận. Há chúng ta không phải nhấn mạnh hơn về tình huống hiện tại, khi mà Đất nước của Thiên hoàng sắp sửa biết đến nỗi hổ nhục hay sao? Chúng ta thề trước thần linh rằng, một khi Lá cờ của Thiên hoàng phất lên, chúng ta sẽ dấn thân vào chốn hiểm nguy để làm tâm trí Thiên hoàng nhẹ nhõm, để thực hiện di nguyện của cựu hoàng, và thanh trừng loài quỷ dữ này khỏi người dân chúng ta. Nếu có kẻ nào, đối với sự nghiệp này, mà mưu cầu đưa ra những toan tính riêng tư, kẻ đó sẽ gánh sự trừng phạt bởi sự giận dữ của chư thần, và bị đưa ra trước những những đồng chí của mình để tự xử bằng mổ bụng.”
Chủ nghĩa khủng bố của các shishi nhắm trực tiếp đến những người ngoại quốc, và cũng thường nhắm đến những người Nhật làm việc hay thỏa hiệp với người ngoại quốc. Vào năm 1860, một nhóm shishi chém đầu quan nhiếp chính Ii Naosuke, người đã ủng hộ việc ký các hiệp ước với phương Tây. Những vụ tấn công người ngoại quốc lên đến cao trào ở hai sự kiện vào năm 1862 và năm 1863 liên quan đến hai lãnh địa Satsuma và Choshu. Vào ngày 14 tháng 9 năm 1862, Charles Richardson, thương nhân 28 tuổi người Anh, bị các kiếm sĩ ở Satsuma tấn công trên một con đường lộ, rồi bị vứt lại chảy máu đến chết vì anh ta được cho là không thể hiện sự tôn trọng thích đáng một đám rước trong đó có người cha của vị daimyo ở Satsuma. Nước Anh không những yêu cầu Satsuma mà còn cả Mạc phủ phải bồi thường nhân mạng, xin lỗi, và xử tử các thủ phạm. Sau gần một năm thương thảo với vị daimyo bất thành, một hạm đội tàu chiến của Anh nã pháo và hủy diệt hầu như toàn bộ thủ đô Kagoshima của lãnh địa Satsuma, giết chết khoảng 1.500 chiến binh Nhật. Sự kiện sau đó diễn ra vào cuối tháng 6 năm 1863 khi đại bác trên bờ lãnh địa Choshu bắn vào các tàu phương Tây và đóng cửa Eo biển Shimonoseki nằm giữa hai đảo chính Honshu và Kyushu của Nhật Bản. Một năm sau, hạm đội gồm 17 chiến hạm của Anh, Pháp Mỹ và Hà Lan nã pháo và hủy diệt những đại bác trên bờ và lấy đi một đại bác còn lại của Choshu.
Hai cuộc trả thù của phương Tây đã thuyết phục cả nhóm “nóng máu” ở Satsuma và Choshu về sức mạnh của súng đạn phương Tây, và về sự vô ích của nỗ lực tống xuất chủ nhân của chúng ra khỏi đất nước trong điều kiện yếu ớt hiện thời. Những kẻ nóng nảy sẽ phải chờ đợi cho đến khi Nhật Bản đạt được sức mạnh quân sự ngang bằng với phương Tây. Điều trớ trêu, đó cũng là chính sách mà Mạc phủ đã theo đuổi và vì nó mà những kẻ “nóng máu” chỉ trích Mạc phủ.
Nhưng một số lãnh địa, đặc biệt là Satsuma và Choshu, giờ đây lại tin rằng shogun không đủ khả năng để tăng cường sức mạnh cho Nhật Bản đến mức có thể đối chọi với phương Tây. Các daimyo kết luận rằng nếu họ chia sẻ mục tiêu của Mạc phủ để thu nạp công nghệ phương Tây, sẽ đạt được mục tiêu đòi hỏi việc tái cơ cấu chính quyền và xã hội Nhật Bản. Từ đó, họ dần dần khôn ngoan hơn vị shogun. Hai lãnh địa Satsuma và Choshu, trước đây từng là đối thủ của nhau, nghi ngờ nhau và đánh lẫn nhau; thấy rằng những nỗ lực xây dựng sức mạnh quân sự của shogun sẽ đe dọa cả hai lãnh địa, nên giờ đây lại kết đồng minh.
Sau cái chết của vị shogun đời trước vào năm 1866, vị shogun mới lên thay đưa ra một chương trình hiện đại hóa và cải cách cấp thời, bao gồm việc nhập thiết bị và cố vấn quân sự từ Pháp. Điều này càng làm gia tăng mối đe dọa cảm nhận được đối với Satsuma và Choshu. Khi vị hoàng đế trước đó cũng băng hà vào năm 1867, vị hoàng tử mới 15 tuổi kế vị ngai vàng (Ảnh 3.2). Các daimyo của vùng Satsuma và Choshu liền âm mưu với người ông của vị hoàng đế mới và tranh thủ được sự ủng hộ của vương triều. Vào ngày 3 tháng 1 năm 1868, nhóm âm mưu chiếm giữ các cổng thành của Cung điện ở Kyoto, triệu tập một hội đồng tước bỏ đất đai và danh vị trong hội đồng của vị shogun này và kết thúc chế độ Mạc phủ. Hội đồng còn đưa ra một công bố hư cấu về việc “phục hồi” trách nhiệm cai trị nước Nhật thuộc về Thiên hoàng, dù rằng trách nhiệm đó trước đây hẳn nhiên là của các vị shogun. Sự kiện đó được biết đến là sự Khôi phục triều đại Minh Trị, và nó đánh dấu sự khởi đầu của Kỷ nguyên Minh Trị: thời kỳ cai trị của vị Thiên hoàng mới.
Sau vụ đảo chính giành được quyền lực ở Kyoto, vấn đề tức thời mà các nhà lãnh đạo ở triều đại Minh Trị phải đối mặt là thiết lập quyền kiểm soát trên khắp nước Nhật. Trong khi vị shogun chấp nhận sự thất bại của mình, thì những tướng lĩnh khác lại không chịu. Kết quả là xảy ra nội chiến giữa các đội quân ủng hộ và chống đối chính quyền mới của vương triều. Chỉ đến khi lực lượng đối kháng cuối cùng ở phía bắc hòn đảo chính Hokkaido bị đánh bại, vào tháng 6 năm 1869 thì các cường quốc phương Tây mới công nhận chính quyền của vương triều là chính danh. Và chỉ đến lúc đó, các nhà lãnh đạo dưới triều Minh Trị mới theo đuổi nỗ lực cải cách đất nước.
Vào giai đoạn đầu của Kỷ nguyên Minh Trị, đất nước Nhật đầy những biến động. Một số lãnh đạo muốn một Thiên hoàng có quyền lực thực sự; số khác lại chỉ muốn một Thiên hoàng làm vì còn quyền lực thực sự sẽ nằm trong tay hội đồng “cố vấn” (giải pháp đó cuối cùng thất bại); và còn có đề xuất khác là Nhật Bản trở thành một nước cộng hòa, không còn hoàng đế nào nữa. Một số người Nhật đánh giá cao mẫu tự Latin đưa ra đề xuất để mẫu tự đó thay thế hệ thống chữ viết tiếng Nhật, tuy đẹp nhưng phức tạp, vì gồm cả ký tự lấy từ Trung Hoa (Hán tự) với hai kiểu chữ tượng thanh của Nhật Bản. Một số người lại muốn phát động một cuộc chiến với Cao Ly không được trì hoãn, số khác lại bàn nên chờ đợi. Giới samurai thì lại muốn giữ lại lực lượng phòng vệ riêng để sử dụng, trong khi những người khác thì muốn giải giáp và kết thúc tầng lớp Samurai.
Với sự hỗn loạn của những đề xuất mâu thuẫn nhau, các nhà lãnh đạo thời Minh Trị nhanh chóng đề ra ba nguyên tắc cơ bản. Đầu tiên, dù một số nhà lãnh đạo từng nằm trong nhóm “nóng máu” muốn nhanh chóng trục xuất người phương Tây, nhưng chủ nghĩa thực tiễn nhanh chóng chiếm ưu thế. Sự việc hiển nhiên đối với các lãnh đạo dưới triều Minh Trị cũng như với shogun rằng nước Nhật hiện thời không thể tống xuất được người phương Tây. Trước khi có thể thực hiện được điều này thì Nhật Bản phải trở nên mạnh mẽ bằng cách chấp nhận các nguồn lực phương Tây, nghĩa là không chỉ súng ống mà còn cả những cải cách xa hơn về mặt chính trị và xã hội đã cung cấp những nền móng cho sức mạnh phương Tây.
Thứ nhì, mục tiêu tối hậu của giới lãnh đạo thời Minh Trị là sửa đổi lại những hiệp ước bất bình đẳng mà phương Tây áp đặt lên nước Nhật. Nhưng điều này đòi hỏi Nhật Bản phải mạnh và được phương Tây xem là một quốc gia hợp pháp theo kiểu phương Tây với thể chế và luật lệ phương Tây. Chẳng hạn, Ngoại trưởng Anh, Lord Granville, nói thẳng thừng với các nhà thương thảo Nhật Bản rằng nước Anh chỉ công nhận “quyền xét xử đối với các chủ thể người Anh [cư trú ở Nhật] tương xứng rõ ràng với sự tiến bộ [của Nhật] về khai sáng và văn minh” theo đánh giá của Anh, phù hợp với các tiêu chuẩn về tiến bộ của nước Anh. Phải mất 26 năm kể từ lúc bắt đầu Minh Trị cho đến khi Nhật Bản có thể yêu cầu phương Tây sửa đổi những hiệp ước bất bình đẳng.
Nguyên tắc cơ bản thứ ba của giới lãnh đạo thời Minh Trị là trong mỗi lĩnh vực đời sống cần nhận diện, bắt chước và sửa đổi hình mẫu nước ngoài phù hợp nhất với những điều kiện và giá trị Nhật Bản.
Nhật Bản thời Minh Trị vay mượn đủ thứ từ các hình mẫu Anh, Đức, Pháp và Mỹ. Các quốc gia khác nhau trở thành hình mẫu ở các lĩnh vực khác nhau: chẳng hạn, hải quân và quân đội mới của Nhật Bản lần lượt lấy hình mẫu từ hải quân Anh và quân đội Đức. Ngược lại, trong một phạm vi cụ thể, nước Nhật thường thử kế thừa những hình mẫu nước ngoài khác nhau: chẳng hạn, để tạo ra một bộ luật dân sự Nhật, Bộ Tư pháp nhờ một học giả Pháp đưa ra một phác thảo ban đầu, nhưng rồi sau đó ở bản phác thảo kế tiếp lại dựa vào một hình mẫu Đức.
Sự vay mượn từ phương Tây của Nhật Bản thời Minh Trị đúng là ở quy mô lớn, có ý thức và kế hoạch. Một số vay mượn có khi đưa người phương Tây đến Nhật: chẳng hạn, nhập giáo viên phương Tây vào để giảng dạy hoặc tư vấn về giáo dục, đưa vào hai học giả Đức để giúp viết hiến pháp Nhật dựa nhiều vào hiến pháp Đức. Nhưng vay mượn nhiều hơn lại đến từ những người Nhật đi khảo sát ở châu Âu và nước Mỹ. Một bước quyết định, thực hiện chỉ hai năm sau khi chính quyền Minh Trị củng cố quyền lực, là phái đoàn Iwakura 1871-1873 (Ảnh 3.3), gồm 50 đại biểu chính phủ đi thăm nước Mỹ và một tá nước châu Âu, đến thăm các nhà máy và văn phòng chính phủ, gặp gỡ tổng thống Mỹ Grant và các nhà lãnh đạo châu Âu, sau đó công bố một báo cáo gồm năm tập, cung cấp cho Nhật những thông tin chi tiết trên phạm vi rộng lớn về những điều thực tiễn ở phương Tây. Phái đoàn tuyên bố mục đích của nó là nhằm “chọn lựa từ những thể chế đang chiếm ưu thế giữa những nước đã khai sáng để tìm cái phù hợp nhất trong điều kiện nước ta.” Khi bùng nổ Chiến tranh Pháp-Phổ vào năm 1870, Nhật gửi đi hai quan sát viên với một mục đích hạn hẹp hơn: chứng kiến tận mắt xem người châu Âu đánh nhau như thế nào.
Một sản phẩm phụ của các chuyến đi ra nước ngoài này là người Nhật có kinh nghiệm ở nước ngoài có khuynh hướng trở thành những nhà lãnh đạo Nhật Bản thời Minh Trị, cả trong chính phủ hay ở các lĩnh vực tư. Chẳng hạn, hai trong số những người trẻ tuổi quan trọng nhất vươn đến quyền lực trong chính quyền Minh Trị vào thập niên 1880, một người là Ito Hirobumi (người chỉ đạo thiết kế hiến pháp mới) từng có một số chuyến đi dài đến châu Âu, trong khi người kia, Yamagata Arimoto (sau này trở thành thủ tướng) học khoa học quân sự ở Đức. Godai Tomoatsu áp dụng kinh nghiệm ở châu Âu để trở thành chủ tịch của phòng thương mại Osaka đồng thời là người sáng lập ngành đường sắt và khai mỏ, trong khi đó, Shibusawa Eiichi (người kiểm soát tài chính của một phái đoàn Nhật ở Paris năm 1867) tiếp tục phát triển các kỹ nghệ ngân hàng và dệt may.
Để khiến cho sự vay mượn quy mô này từ phương Tây trở nên hợp khẩu vị của những người Nhật còn giữ truyền thống, những phát kiến và vay mượn ở Nhật Bản thời Minh Trị thường được tuyên bố là không mới chút nào, mà chỉ là quay về với những phương thức truyền thống Nhật Bản. Chẳng hạn, khi Thiên hoàng ban bố hiến pháp đầu tiên vào năm 1889, chủ yếu dựa vào hiến pháp Đức, trong bài nói, ngài viện dẫn “sự lên ngai vàng của kẻ thừa kế trực hệ liên tục trường tồn” và “quyền chủ quyền quốc gia [mà] chúng ta thừa hưởng từ Tổ tiên.” Tương tự như thế, những lễ nghi mới được nghĩ ra cho triều đình trong thời Minh Trị cũng được tuyên bố là những lễ nghi cung đình xưa cũ bất biến với thời gian.
Việc thay đổi nhận thức về các đổi mới được xem là vẫn giữ được truyền thống – hiện tượng “những truyền thống được phát kiến” thường được các nhà cải cách ở các quốc gia bên ngoài Nhật Bản viện dẫn – đã đóng góp vào thành công của những nhà lãnh đạo thời Minh Trị trong việc tiến hành những thay đổi quyết liệt. Sự thật khắc nghiệt là những nhà lãnh đạo phải đối mặt với một tình huống nguy hiểm khi họ nắm quyền lực vào tháng 1 năm 1868. Nước Nhật lúc đó có nguy cơ bị các cường quốc phương Tây tấn công, nguy cơ về một cuộc nội chiến giữa những đối thủ và những người ủng hộ Mạc phủ, nguy cơ chiến tranh giữa các lãnh địa, và nguy cơ về những cuộc nổi loạn bởi những nhóm bị đe dọa mất đi tước vị và quyền lực trước đó. Sự hủy bỏ những đặc quyền của giới Samurai cũng khơi dậy một vài vụ nổi loạn của giới Samurai, nghiêm trọng nhất là vụ nổi dậy ở Satsuma vào năm 1877. Những vụ nổi dậy nông dân vũ trang nổ ra định kỳ vào thập niên 1870. Nhưng đối kháng với những cải cách thời Minh Trị trở nên ít bạo lực hơn dự đoán. Các nhà lãnh đạo thời Minh Trị đã chứng tỏ được khả năng mua chuộc, thu nạp hoặc hòa giải với những đối thủ thực sự hay tiềm năng. Chẳng hạn, đô đốc hải quân Enomoto Takeaki chỉ huy hạm đội tiếp tục ở đảo Hokkaido chống lại lực lượng quân đội của Minh Trị cho đến năm 1869, nhưng cuối cùng lại được đưa vào các chức vụ bộ trưởng nội các và đặc sứ.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét những thay đổi có chọn lọc nào thực sự được áp dụng ở Nhật Bản thời Minh Trị. Những thay đổi tác động tới hầu hết mọi phạm vi đời sống Nhật Bản: nghệ thuật, y phục, chính trị trong nước, kinh tế, giáo dục, vai trò của Thiên hoàng, chế độ phong kiến, chính sách ngoại giao, chính phủ, kiểu tóc, hệ tư tưởng, luật lệ, quân sự, xã hội và công nghệ. Những thay đổi cấp thiết nhất, được tác động và khởi phát trong một vài năm đầu của thời Minh Trị, là tạo ra một quân đội quốc gia hiện đại, loại bỏ chế độ phong kiến, thành lập một hệ thống giáo dục quốc dân, và đảm bảo thu nhập cho chính phủ bằng việc cải cách thuế khóa. Sau đó chuyển sang quan tâm đến cải cách các bộ luật, thiết kế thể chế, bành trướng ra nước ngoài và xóa bỏ các hiệp ước bất bình đẳng. Song hành với sự quan tâm về những vấn đề thực tiễn này, các nhà lãnh đạo thời Minh Trị cũng bắt đầu đưa ra thách thức về việc tạo ra một hệ tư tưởng rõ ràng để tranh thủ sự ủng hộ của công dân Nhật.
Cải tổ quân đội bắt đầu với việc mua thiết bị hiện đại của phương Tây, mời sĩ quan Pháp và Đức huấn luyện quân đội, và (sau này) thử nghiệm các hình mẫu Pháp và Anh để phát triển lực lượng hải quân hiện đại. Kết quả đạt được minh họa cho sự tài tình của Minh Trị trong việc chọn lựa hình mẫu nước ngoài tốt nhất: thay vì chỉ chọn một quân đội nước ngoài làm hình mẫu cho tất cả các binh chủng trong quân đội, Nhật Bản cuối cùng chọn lục quân Nhật rập khuôn lục quân Đức, nhưng chọn hải quân rập khuôn hải quân Anh (do ở cuối thế kỷ 19, lục quân Đức mạnh nhất, nhưng về hải quân thì Anh mạnh nhất châu Âu). Chẳng hạn, khi Nhật Bản muốn học cách đóng những tàu chiến chạy nhanh, gọi là tuần dương chiến hạm do người Anh đóng, Nhật đặt hàng cho một xưởng đóng tàu của Anh thiết kế và đóng chiếc tuần dương chiến hạm đầu tiên, rồi dùng nó làm mẫu để đóng thêm ba chiếc nữa ở ba xưởng đóng tàu khác nhau trên đất Nhật.
Một đạo luật về nghĩa vụ quân sự dựa theo hình mẫu châu Âu được thông qua năm 1873, cung cấp một lực lượng quân đội trang bị súng ống phục vụ trong ba năm. Trước đây, mỗi lãnh địa đều có lực lượng dân quân riêng là những kiếm sĩ dòng dõi Samurai, giờ đây trở nên vô dụng trong chiến tranh hiện đại nhưng vẫn còn là mối đe dọa cho chính phủ quốc gia Nhật Bản (Ảnh 3.4). Từ đó, đầu tiên các samurai bị cấm đeo kiếm hay thực hiện việc trừng phạt cá nhân, rồi đến việc chức nghiệp cha truyền con nối (bao gồm trở thành một Samurai) bị loại bỏ, tiếp đó, những cựu Samurai được chính phủ trợ cấp, rồi cuối cùng những khoản trợ cấp đó được chuyển thành trái phiếu chính phủ có sinh lãi.
Một mệnh lệnh khẩn cấp khác là chấm dứt chế độ phong kiến. Để làm nước Nhật trở nên hùng cường, đòi hỏi phải xây dựng một nhà nước tập quyền theo lối phương Tây. Điều này đặt ra một vấn đề tế nhị, do vào tháng 1 năm 1868, những quyền lực thực sự duy nhất vẫn còn nằm trong tay shogun; những quyền lực khác vẫn do các daimyo (lãnh chúa phong kiến) nắm giữ. Do đó, vào tháng 3 năm 1868, bốn daimyo, bao gồm hai lãnh chúa Satsuma và Choshu, những người xúi bẫy khôi phục vương triều Minh Trị, được thuyết phục dâng hiến lãnh địa và dân của họ cho Thiên hoàng bằng một văn thư đầy mơ hồ. Khi Thiên hoàng chấp nhận việc này vào tháng 7, những daimyo khác cũng được yêu cầu đưa ra đề xuất tương tự, và để ban thưởng, họ được phong là “toàn quyền” ngay ở đất phong cũ của mình. Cuối cùng, vào tháng 8 năm 1871, các daimyo được thông báo rằng đất phong (và cả chức toàn quyền) bấy giờ phải dẹp bỏ và thay bằng chế độ hành chính cấp quận và quận trưởng. Nhưng các daimyo được phép giữ lại 10% thu nhập định giá trên đất phong trước đây trong khi vẫn được hỗ trợ gánh nặng chi phí mà trước đây họ phải gánh. Vì thế, chỉ trong vòng 3 năm rưỡi, chế độ phong kiến kéo dài hàng bao thế kỷ được xóa bỏ.
Có một điều không thay đổi: Thiên hoàng vẫn là Thiên hoàng. Tuy nhiên, hoàng đế không còn ngự trong Cung điện Hoàng gia ở Kyoto: ngài được chuyển về kinh đô thực sự ở Edo, đặt tên lại là Tokyo. Trong suốt 45 năm trị vì, Thiên hoàng thực hiện đến 102 chuyến tuần du ra khỏi Tokyo và khắp nước, so với chỉ ba chuyến tuần du của tất cả Thiên hoàng cộng lại trong suốt 265 năm thời kỳ Mạc phủ Tokugawa (1603-1868).
Giáo dục là chủ điểm cho những cải cách lớn lao, với những kết quả cũng lớn lao. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước Nhật có được một hệ thống giáo dục quốc dân. Các trường tiểu học bắt buộc được thành lập năm 1872, sau đó là trường đại học đầu tiên ở Nhật được thành lập vào năm 1877, trường trung học cơ sở năm 1881 và trường trung học phổ thông năm 1886. Đầu tiên hệ thống trường học theo hình mẫu tập trung cao của Pháp, đến năm 1879 chuyển sang hình mẫu kiểm soát theo địa phương của Mỹ, rồi đến năm 1886 lại áp dụng mô hình Đức. Kết quả cuối cùng của nền cải cách giáo dục đó là Nhật Bản ngày nay có tỉ lệ phần trăm công dân biết chữ cao nhất thế giới (99%) dù có hệ thống chữ viết khó học và phức tạp nhất thế giới. Tuy hệ thống giáo dục quốc dân mới bị ảnh hưởng từ phương Tây, họ vẫn đặt ra những mục tiêu hoàn toàn mang đặc trưng Nhật Bản: dạy cho người Nhật thành những công dân trung thành và yêu nước, tôn kính Thiên hoàng và thấm nhuần tư duy đoàn kết dân tộc.
Một mục đích thế tục hơn nhưng cũng quan trọng không kém của việc cải cách giáo dục là đào tạo những con người mới làm việc trong chính phủ và phát triển vốn con người cho Nhật Bản để nước Nhật có thể trỗi dậy trên thế giới và trở nên thịnh vượng. Vào thập niên 1880, việc tuyển dụng viên chức chính phủ trung ương đã dựa trên một kỳ thi tuyển kiểm tra kiến thức phương Tây thay vì kiểm tra kiến thức về học thuyết Khổng giáo. Giáo dục quốc dân cùng với việc chính thức loại bỏ chức vị cha truyền con nối của chính phủ đã làm suy yếu sự phân chia giai cấp truyền thống của Nhật Bản, vì giờ đây việc học tập còn cao hơn dòng dõi gia thế để làm bàn đạp tiến thân trong văn phòng cao cấp của chính phủ. Một phần từ kết quả này, ngày nay trong số 14 chế độ dân chủ rộng lớn và giàu có, Nhật Bản là nước có sự phân chia của cải ngang bằng nhất, và có tỉ lệ tỉ phú ít nhất tính trên dân số; nước Mỹ lại nằm ở cực ngược lại về cả hai khía cạnh này.
Tính ưu việt hàng đầu còn lại của chính phủ thời Minh Trị là phân chia nguồn thu nhập để hỗ trợ tài chính cho các hoạt động của chính phủ. Nước Nhật chưa bao giờ có các loại thuế quốc gia theo kiểu phương Tây. Thay vào đó, mỗi daimyo đánh thuế riêng trên đất đai của mình để trả cho những chi phí hoạt động riêng, còn shogun vẫn đánh thuế tương tự chỉ trên lãnh địa của mình nhưng cũng yêu cầu mọi daimyo đóng tiền thêm cho các mục đích đặc biệt. Ngoài ra, chính phủ thời Minh Trị còn an ủi các cựu daimyo bằng chức vụ “toàn quyền” dù đã chuyển đổi lãnh địa cũ của họ sang đơn vị hành chính “quận” và ban sắc luật công nhận những quận này được chính quyền trung ương quản lý, để các cựu daimyo không cần (theo lời các lãnh đạo thời Minh Trị) thu thuế để trả cho các hoạt động quản lý của riêng họ. Từ đó, Bộ Tài chính thời Minh Trị lý giải rằng giờ đây bộ này cần số thu nhập thuế hằng năm ít nhất cũng bằng số shogun và tất cả daimyo kết hợp lại trước đây đã trích ra. Và họ đã đạt được mục đích theo kiểu phương Tây, bằng cách đánh một khoản thuế đất là 3%. Nông dân Nhật thường xuyên than phiền và gây bạo động, vì hằng năm họ phải trả bằng tiền mặt bất kể thu hoạch của vụ mùa như thế nào. Nhưng đúng ra họ phải cho là mình còn may mắn nếu đoán trước tỉ lệ đóng thuế của phương Tây thời hiện đại. Chẳng hạn, ngay tại bang California của tôi, chúng tôi phải trả 1% thuế tài sản bang, cộng thuế thu nhập bang lên đến 12%, cộng thuế thu nhập quốc gia hiện lên đến 44%.
Những vấn đề ít khẩn thiết hơn là áp dụng một hệ thống pháp luật theo kiểu phương Tây thay thế cho hệ thống luật pháp truyền thống Nhật Bản. Mô hình tòa án với thẩm phán theo chỉ định được giới thiệu vào năm 1871, tiếp đó là Tòa án Tối cao vào năm 1875. Những cải cách luật hình sự, thương mại và dân sự lần lượt đi theo con đường Tây phương hóa bằng việc thử nghiệm các hình mẫu khác nhau của nước ngoài. Bộ luật hình sự ban đầu được cải cách theo hình mẫu của Pháp, rồi đổi sang hình mẫu Đức; bộ luật thương mại áp dụng các khái niệm của Pháp, Anh và bản địa trước khi hoàn chỉnh với sự truyền cảm hứng từ hình mẫu của Đức. Trong mỗi trường hợp, những thách thức ảnh hưởng đến việc lựa chọn, bao gồm việc tìm giải pháp phù hợp với quan điểm của người Nhật, cộng thêm việc mô phỏng các thể chế phương Tây để có được sự tôn trọng của quốc tế, vốn cần thiết cho việc sửa đổi các hiệp ước bất bình đẳng. Chẳng hạn, điều này đòi hỏi loại bỏ sự tra tấn truyền thống của Nhật và áp dụng rộng rãi án tử hình mà phương Tây không còn xem là đúng đắn.
Việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng của Nhật bắt đầu sớm ở Kỷ nguyên Minh Trị. Năm 1872 chứng kiến sự thành lập hệ thống bưu điện quốc gia cùng việc xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên và đường dây điện tín, kế tiếp là thành lập một ngân hàng quốc gia vào năm 1873. Đèn chiếu sáng thắp bằng khí gas được lắp đặt ở Tokyo. Chính phủ cũng tham gia vào nền kỹ nghệ hóa bằng cách xây dựng nhà máy sản xuất gạch, xi măng, thủy tinh, máy móc và lụa với máy móc và phương pháp của phương Tây. Sau khi thắng lợi trong cuộc chiến với Trung Hoa giai đoạn 1894-1895, chi tiêu của chính phủ dần tập trung vào các kỹ nghệ liên quan đến chiến tranh như than, điện, nhà máy vũ khí, sắt, thép, đường sắt và xưởng đóng thuyền.
Cải cách của chính phủ đặc biệt quan trọng nếu nước Nhật có được sự tôn trọng trên trường quốc tế – và đặc biệt là đầy thách thức. Nội các chính phủ ra mắt năm 1885, nhưng năm 1881 đã có tuyên bố về một hiến pháp sắp ra đời, phần nào để hồi đáp áp lực từ công chúng. Sau đó phải mất tám năm để đưa ra một hiến pháp theo phong cách phương Tây hài hòa với hoàn cảnh nước Nhật. Giải pháp cho thách thức đó dựa trên việc chọn hình mẫu của hiến pháp Đức thay vì hiến pháp Mỹ, vì hiến pháp Đức làm nổi bật một vị hoàng đế mạnh mẽ, thích hợp với các điều kiện ở Nhật Bản. Hiến pháp Nhật kêu gọi đức tin của người dân rằng Thiên hoàng là hậu duệ của thần linh thuộc dòng giống không gián đoạn của các tiên đế trải qua hàng thiên niên kỷ. Trong một buổi lễ diễn ra ở điện thiết triều vào một thời điểm (ngày 11 tháng 2) theo truyền thống kỷ niệm năm thứ 2.549 ngày sáng lập vương triều, Thiên hoàng cầu khấn tổ tiên và chuyển cuộn giấy ghi hiến pháp mới cho thủ tướng như một món quà của ngài cho đất nước Nhật Bản. Hiện diện ở buổi lễ có đại diện của các phái đoàn ngoại giao và cộng đồng nước ngoài để bảo đảm rằng họ không bỏ qua thời điểm đó. Nước Nhật giờ đó đã là một đất nước văn minh với một chính phủ lập hiến, ngang bằng các chính phủ lập hiến khác trên thế giới (và – ám chỉ rằng – không còn bị áp đặt bởi các hiệp ước bất bình đẳng nữa).
Cũng như các khía cạnh khác trong đời sống Nhật Bản, nền văn hóa Nhật đã trở thành một mảnh ghép giữa các yếu tố phương Tây và các yếu tố truyền thống của Nhật Bản. Y phục và kiểu tóc phương Tây trở nên thịnh hành ở Nhật lúc đó và nhanh chóng được bắt chước – bởi nam giới Nhật (Ảnh 3.5 và 3.6). Ví dụ như một bộ ảnh chụp năm thành viên trong phái đoàn Iwakura năm 1872, chỉ bốn năm sau khi khôi phục triều đại Minh Trị và chỉ 19 năm sau khi Phó đề đốc Perry đến, cho thấy bốn thành viên mặc lễ phục, đeo cà vạt, đội mũ cao và để kiểu tóc phương Tây, chỉ có một người (Iwakura) vẫn mặc y phục Nhật Bản với kiểu tóc gọt búi cao (top-knot) truyền thống của Nhật (Ảnh 3.3). Trong các bộ môn nghệ thuật thì âm nhạc, hội họa, tranh mộc bản, kịch kabuki và kịch Noh truyền thống Nhật Bản vẫn tồn tại song song với khiêu vũ, quân nhạc, dàn nhạc giao hưởng, opera, nhà hát, hội họa và tiểu thuyết phương Tây.
Bất kỳ quốc gia nào cũng đều có nguy cơ bị phân rã nếu công dân nước đó không cảm thấy được hòa nhập bởi một số hệ tư tưởng dân tộc thống nhất. Mỗi quốc gia đều có những ý tưởng và câu nói tương tự cho nhiệm vụ tạo ra một hệ tư tưởng thống nhất. Chẳng hạn, những tư tưởng của người Mỹ gồm có dân chủ, công bằng, tự do cá nhân và dân tộc, và cơ hội cho mọi người, như thường thấy trong những câu nói như “ai cũng có cơ hội làm giàu” (rags to riches), “nồi đúc hỗn hợp” (melting pot), “vùng đất tự do” (land of liberty), “vùng đất của mọi cơ hội” (land of equal opportunity), và “vùng đất của mọi khả năng không giới hạn” (land of unlimited possibilities). Đặc biệt ở những nước mới giành được độc lập như Indonesia (Chương 5) hay ở các nước đang trải qua thay đổi nhanh chóng như Nhật Bản thời Minh Trị, các chính phủ đưa ra công thức và thúc đẩy những hệ tư tưởng dân tộc thống nhất một cách có ý thức. Vậy Nhật Bản thời Minh Trị tiến hành điều này như thế nào?
Nhu cầu cần có một hệ tư tưởng Minh Trị nhất quán được miêu tả trong một diễn giải được lan truyền rộng rãi vào năm 1891 về Huấn dụ Giáo dục của Thiên hoàng ban hành năm 1890: “Nhật Bản… là một nước nhỏ. Do hiện nay có những kẻ nuốt chửng các quốc gia khác mà không bị trừng phạt, chúng ta phải xem toàn bộ thế giới là kẻ thù… vì thế bất kỳ người dân Nhật chân chính nào cũng phải có trách nhiệm chung, theo đó hắn ta phải xem đời mình nhẹ như hạt bụi, hăng say tiến bước, và sẵn sàng hi sinh bản thân cho đất nước… Mục đích của Huấn dụ này là tăng cường nền tảng quốc gia bằng cách trau dồi đức trung hiếu và tình huynh đệ, đức tính trung thành và chân thật, và sẵn sàng trong mọi tình huống khẩn cấp bằng cách nuôi dưỡng tinh thần yêu nước tập thể… Nếu chúng ta không đoàn kết người dân, thì thành trì và tàu chiến cũng sẽ không đủ. Nếu quả chúng ta đoàn kết được họ, thì ngay đến một triệu kẻ thù ghê gớm cũng không thể làm gì tổn hại được chúng ta.”
Trong hai thập niên cuối Kỷ nguyên Minh Trị, dù phải giải quyết những vấn đề bình thường nhưng khẩn cấp như cải cách thuế má và soạn thảo các bộ luật, nhưng chính phủ vẫn có thể tập trung chú ý hơn đến nhiệm vụ thấm nhuần cho dân Nhật ý thức về nghĩa vụ công. Điều này đạt được một phần cũng nhờ vào sự hỗ trợ của chính phủ đối với tín ngưỡng truyền thống, nhưng phần nhiều hơn là nhờ sự quan tâm của chính phủ đối với sự nghiệp giáo dục. Tín ngưỡng truyền thống Nhật Bản đóng vai trò đoàn kết người dân qua việc rao giảng những đức tin được chia sẻ về dòng dõi thần linh của Thiên hoàng, tinh thần ái quốc, trách nhiệm công dân, lòng hiếu thuận, kính trọng thần linh, và tình yêu tổ quốc. Vì thế, chính phủ khuyến khích tín ngưỡng Thần đạo (Shinto) và triết lý Khổng giáo, trợ cấp cho các đền thờ Thần đạo hàng đầu quốc gia và bổ nhiệm tu sĩ trụ trì. Những giá trị đó, kết hợp với sự tôn thờ Nhật hoàng như một vị thần sống, được đề cao một cách nổi bật trong các bộ sách giáo khoa nhất quán của quốc gia được quy định ở mọi cấp học trong ngành giáo dục.
Bây giờ chúng ta tóm tắt những nhân tố chính của sự thay đổi có chọn lọc ở Nhật Bản thời Minh Trị – ngoài những thay đổi trong chính sách bành trướng ra hải ngoại được khảo sát ở những trang kế tiếp – chúng ta hãy soi rọi những thay đổi ở thời Minh Trị và loại trừ những hiểu lầm có thể xảy ra.
Mục tiêu của các nhà lãnh đạo thời Minh Trị rõ ràng không phải là “Tây phương hóa” nước Nhật, trong ý nghĩa chuyển đổi đất nước thành một xã hội châu Âu bên ngoài châu Âu – không giống như những thực dân Anh ở Úc mà mục đích là chuyển đổi Úc thành một xã hội Anh bên ngoài nước Anh (Chương 7). Thay vào đó, mục đích của chính quyền Minh Trị là mô phỏng nhiều đặc điểm của phương Tây, nhưng cải biến chúng cho phù hợp với hoàn cảnh Nhật Bản đồng thời giữ lại nhiều truyền thống Nhật. Những đặc trưng phương Tây được mô phỏng và cải biến được ghép trên cốt lõi Nhật lưu giữ từ lịch sử nước Nhật. Chẳng hạn, nước Nhật không cần châu Âu làm hình mẫu cho tri thức và đô thị hóa: nước Nhật thời kỳ Tokugawa đã có tri thức cao và Edo, thủ đô của Mạc phủ (đổi tên thành Tokyo) đã là thành phố lớn nhất thế giới cả một thế kỷ rưỡi trước khi Phó đề đốc Perry đến. Việc Tây phương hóa ở thời Minh Trị không phải là bắt chước một cách mù quáng những phần đặc thù của các thể chế phương Tây: các lãnh đạo thời Minh Trị điều hành đất nước với sự hiểu biết rõ ràng toàn diện về xã hội phương Tây để làm nền móng cho các thiết chế quân sự, giáo dục, và những thứ khác ở Nhật Bản cùng với những cải biến thích hợp.
Nhật Bản thời Minh Trị có khả năng rút ra nhiều hình mẫu, bao gồm các hình mẫu đa dạng của phương Tây: Anh, Đức, Pháp, Mỹ ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Cũng có nhiều hình mẫu bản địa để rút ra: cuối thời kỳ Mạc phủ Tokugawa, nước Nhật có đến 240 phiên (lãnh địa) riêng rẽ, khác nhau về chính sách thuế khóa và ở một số thiết chế. Ngoài những hình mẫu tích cực đó, Nhật Bản thời Minh Trị còn hưởng lợi từ một hình mẫu tiêu cực khác: Trung Hoa, một nước mà số phận của nó là bị phương Tây thống trị đã cho thấy rõ những gì nước Nhật muốn tránh.
Những cải cách của Minh Trị được nhắm đến hai “khán giả” khác nhau: một là người dân trong nước, và khán giả khác là người phương Tây ở hải ngoại. Một mặt, công cuộc cải cách được nhắm vào chính Nhật Bản: để tăng cường sức mạnh quốc gia về mặt quân sự và kinh tế, đồng thời để thấm nhuần tư tưởng đoàn kết cho người dân Nhật. Mặt khác, những cải cách cũng nhằm để các nước phương Tây tôn trọng Nhật Bản như một quốc gia bằng vai phải vế, vì nước Nhật giờ đây đã mô phỏng các thiết chế phương Tây vốn dĩ được các nước phương Tây tôn trọng. Những thiết chế này gồm các quy tắc định chế cơ bản như hiến pháp và bộ luật theo kiểu cách phương Tây; và những quy tắc về thể diện bên ngoài, như y phục và kiểu tóc phương Tây, và cả việc Nhật hoàng tổ chức một đám cưới theo phong cách phương Tây với chỉ duy một hoàng hậu cũng theo kiểu phương Tây (những Thiên hoàng trước đó công khai có nhiều hầu thiếp).
Trong khi các lãnh đạo thời Minh Trị đều nhất trí về mục tiêu tổng thể là tăng cường sức mạnh Nhật Bản để đất nước có thể đề kháng với Phương Tây, họ không khởi đầu bằng một thiết kế hoàn chỉnh. Thay vào đó, những cải cách thời Minh Trị được vạch ra và mô phỏng từng phần trong nhiều giai đoạn: đầu tiên, tạo ra một quân đội quốc gia, một dòng thu nhập và một hệ thống giáo dục, rồi loại bỏ chế độ phong kiến; sau đó, đưa ra một hiến pháp và các bộ luật dân sự và hình sự; và muộn hơn là bành trướng ra hải ngoại thông qua chiến tranh (sẽ được thảo luận ở những trang sau). Không phải tất cả những cải cách đều được sao chép trơn tru và đồng thuận: có sự đối kháng nội bộ trong Nhật Bản thời Minh Trị, như những cuộc khởi loạn của giới Samurai và nổi dậy của nông dân.
Dòng chủ đạo còn lại của sự thay đổi có chọn lọc vào Kỷ nguyên Minh Trị mà chúng ta chưa xem xét là sự chuyển hóa của nước Nhật từ việc là mục tiêu lại biến thành tác nhân gây ra sự bành trướng và tấn công bằng quân sự ra nước ngoài. Chúng ta thấy rằng nước Nhật thời kỳ Mạc phủ Tokugawa thi hành chủ nghĩa biệt lập và không có tham vọng chinh phục đất đai bên ngoài nước Nhật. Nhưng vào năm 1853, nước Nhật có vẻ gặp hiểm họa hiện tiền từ quân đội còn lớn hơn các cường quốc nước ngoài. Tuy nhiên, vào lúc khởi đầu của Kỷ nguyên Minh Trị vào năm 1868, những cải cách quân đội và xây dựng nền kỹ nghệ đã gạt bỏ hiểm họa hiện tiền ấy và thay vào đó là chấp nhận một sự bành trướng từng bước một. Bước đầu tiên là năm 1869, Nhật thôn tính hợp pháp hòn đảo Hokkaido ở phía bắc, nguyên là nơi sinh sống của một tộc người (người Ainu) hoàn toàn khác với người Nhật, nhưng trước đó phần nào nằm dưới sự kiểm soát của Mạc phủ. Rồi vào năm 1874, một đạo quân trừng phạt được gửi đến đảo Đài Loan do người dân bản địa ở đó đã giết hàng tá ngư dân Lưu Cầu.
Tuy nhiên, vào cuối cuộc viễn chinh, Nhật lại rút binh và ngưng việc thôn tính Đài Loan. Năm 1879, quần đảo Lưu Cầu (cách Nhật Bản vài trăm dặm về hướng nam) bị thôn tính. Trong giai đoạn 1894-1895, Nhật Bản thời Minh Trị đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh đầu tiên ở hải ngoại với Trung Hoa và thôn tính được Đài Loan.
Cuộc Chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905) tạo điều kiện cho Nhật Bản lần đầu tiên có phép thử khi chống lại một cường quốc phương Tây; cả hải quân lẫn lục quân Nhật đều đánh bại Nga (Ảnh 3.7 và 3.8). Đó là một dấu mốc trong lịch sử thế giới: thất bại của một cường quốc phương Tây trước một nước phương Đông trong một cuộc chiến tranh tổng lực. Từ kết quả của hòa ước này, nước Nhật thôn tính được một nửa phía nam đảo Sakhalin và nắm quyền kiểm soát tuyến đường sắt Nam Mãn Châu. Nhật thiết lập chế độ bảo hộ đối với Cao Ly năm 1905 rồi thôn tính đất nước này vào năm 1910. Năm 1914, Nhật chiếm đóng các hòn đảo nhỏ (quần đảo Marshall) thuộc phạm vi ảnh hưởng của Trung Hoa do Đức kiểm soát ở Thái Bình Dương (Ảnh 3.9). Cuối cùng, vào năm 1915, Nhật gửi cho Trung Hoa cái gọi là 21 Yêu sách, rõ ràng họ đã xem Trung Hoa như một thuộc quốc; Trung Hoa thỏa mãn một số nhưng không phải toàn bộ yêu sách.
Nước Nhật đã xem xét việc tấn công Trung Hoa và Cao Ly trước năm 1894 nhưng rồi gặp trở ngại do nước này nhận ra mình chưa đủ mạnh và có nguy cơ tạo cớ cho các cường quốc phương Tây can thiệp. Trường hợp duy nhất mà Nhật Bản thời Minh Trị đánh giá quá cao sức mạnh của mình là vào năm 1895, khi kết thúc cuộc chiến với Trung Hoa. Những nhượng bộ mà Nhật nhận được từ Trung Hoa lúc đó bao gồm việc nhượng lại cho Nhật bán đảo Liêu Đông, nơi kiểm soát các tuyến đường biển và đường bộ giữa Trung Hoa và Cao Ly. Nhưng Pháp, Nga và Đức phản ứng bằng cách cùng đồng thuận buộc Nhật từ bỏ bán đảo, rồi ba năm sau Nga tiến hành thuê nó từ Trung Hoa. Sự rút lui nhục nhã này khiến nước Nhật nhận thức được sự yếu kém của mình khi đứng một mình đối mặt với các cường quốc phương Tây. Do đó, vào năm 1902, Nhật kết đồng minh với Anh để phòng vệ và được bảo đảm trước khi tấn công Nga năm 1904. Ngay cả khi được bảo đảm bằng một liên minh với Anh, Nhật cũng chỉ đưa ra yêu sách với Trung Hoa khi mà những lực lượng quân sự ở các cường quốc phương Tây bị vướng vào Thế chiến I, không thể đe dọa can thiệp được như đã làm vào năm 1895.
Tóm lại, chủ nghĩa bành trướng quân sự của Nhật Bản thời Minh Trị thành công một cách nhất quán do được chỉ đạo từng bước một với sự đánh giá thông tin trung thực, thực tế và cẩn trọng về sức mạnh tương ứng của Nhật Bản và các mục tiêu của họ, và bởi một đánh giá chính xác về những gì có khả năng trở thành hiện thực đối với Nhật Bản. Bây giờ, hãy so sánh sự bành trướng thành công của Nhật Bản thời Minh Trị và tình trạng của nước Nhật vào ngày 14 tháng 8 năm 1945. Vào ngày đó nước Nhật cùng lúc ở trong tình trạng chiến tranh với Trung Hoa, Mỹ, Anh, Nga, Úc và New Zealand (cũng như với nhiều quốc gia khác tuyên bố chiến tranh với Nhật nhưng không thực sự tham chiến). Tình trạng đó quả là vô vọng khi mọi kẻ thù kết hợp lại để đánh một mình nước Nhật. Đa phần quân đội Nhật bị giam chân nhiều năm ở Trung Hoa. Hai quả bom nguyên tử phá hủy hoàn toàn Hiroshima và Nagasaki. Một hạm đội hỗn hợp Anh-Mỹ nã pháo vào bờ biển Nhật Bản. Các đạo quân của Nga tiến quân vào Mãn Châu và bán đảo Sakhalin dưới sự kháng cự yếu ớt của quân Nhật. Binh lính Úc và New Zealand thì đang càn quét các đội quân đồn trú trên một số đảo ở Thái Bình Dương. Hầu hết mọi chiến hạm lớn và đội thương thuyền của Nhật bị đánh đắm hoặc loại bỏ. Hơn ba triệu người Nhật bị chết.
Sự việc đáng ra đã đủ tồi tệ nếu những sai lầm nghiêm trọng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản đã khiến nước này bị mọi quốc gia tấn công, nhưng những sai lầm của Nhật Bản còn tồi tệ hơn nữa: chính nước này là quốc gia đi tấn công những nước đó. Vào năm 1937, Nhật tung ra một cuộc chiến tranh toàn diện vào Trung Hoa. Nước Nhật còn gây ra hai cuộc chiến tranh biên giới, nhanh chóng nhưng khốc liệt, với Nga vào năm 1938 và năm 1939. Năm 1941, Nhật bất ngờ tấn công Mỹ, Anh và Hà Lan trong khi vẫn còn nguy cơ chiến tranh trở lại với Nga. Cuộc tấn công nhằm vào Anh tự động gây ra hậu quả là sự tuyên chiến từ các nước thuộc Anh ở Thái bình dương là Úc và New Zealand; Nhật tiến hành đánh bom Úc. Năm 1945, Nga tấn công Nhật. Đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, nước Nhật cuối cùng cũng chịu khuất phục bởi kết cục vốn đã trì hoãn trong một thời gian dài và không thể tránh khỏi, và đầu hàng. Tại sao nước Nhật từ năm 1937 trở đi có bước sai lầm trong việc bành trướng quân sự một cách phi thực tế và thất bại hoàn toàn trong khi Nhật Bản thời Minh Trị từ năm 1868 trở đi lại tiến hành từng bước bành trướng quân sự một cách thực tế và hiệu quả?
Có vô số lý do: chiến tranh với Nga đạt thắng lợi, vỡ mộng với Hiệp ước Versailles, sự sụp đổ của phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu năm 1929, và nhiều nguyên nhân khác. Nhưng một lý do thêm vào đặc biệt thích hợp cho cuốn sách này: một khác biệt giữa Nhật Bản thời Minh Trị và nước Nhật ở thập niên 1930 và 1940 nằm ở kiến thức và khả năng tự đánh giá trung thực của các nhà lãnh đạo Nhật Bản. Trong thời Minh Trị, nhiều người Nhật, bao gồm những lãnh đạo quân sự, ra nước ngoài tham quan. Do đó họ có được kiến thức trực tiếp một cách chi tiết về Trung Hoa, Mỹ, Đức và Nga cùng quân đội và hải quân các nước này. Họ có thể đánh giá trung thực về sức mạnh của Nhật Bản so với các nước khác. Và Nhật chỉ tấn công khi nắm chắc thành công. Ngược lại, vào thập niên 1930, quân đội Nhật ở vùng đại lục châu Á được chỉ huy bởi những sĩ quan trẻ nóng máu không có kinh nghiệm ở nước ngoài (ngoại trừ ở Đức Quốc xã) và không tuân lệnh những lãnh đạo có kinh nghiệm ở Tokyo. Những sĩ quan nóng máu này không có hiểu biết trực tiếp về sức mạnh kỹ nghệ và quân sự của Mỹ và những đối thủ có triển vọng khác của Nhật. Họ không hiểu tâm lý người Mỹ và chỉ xem Mỹ là một nước của các chủ cửa hàng không biết chiến đấu.
Chỉ có một số lãnh đạo lớn tuổi trong chính phủ Nhật Bản và quân đội (đặc biệt là hải quân) ở thập niên 1930 mới chứng kiến tận mắt sức mạnh của Mỹ và châu Âu. Thời điểm thấm thía nhất trong lần đầu tiên đi Nhật vào năm 1998 là vào một buổi chiều tôi ngồi cùng bàn ăn chung với một ủy viên quản trị ngành thép của Nhật đã về hưu, lúc đó ông ta ở độ tuổi 90, kể lại cho tôi câu chuyện của ông về những chuyến viếng thăm các nhà máy thép ở Mỹ vào thập niên 1930. Ông nói rằng mình đã sửng sốt khi biết rằng năng suất sản xuất thép chất lượng cao của Mỹ gấp 50 lần của Nhật, và chỉ một điều đó cũng đủ thuyết phục ông ta rằng nước Nhật có điên mới đi gây chiến với Mỹ.
Nhưng các lãnh đạo lớn tuổi có kinh nghiệm từng xuất ngoại vào thập niên 1930 đều bị đe dọa hoặc bị khống chế và một số thì bị ám sát, bởi những kẻ nóng máu trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm nước ngoài – nhiều cũng bằng các lãnh đạo nước Nhật ở cuối thập niên 1850 và thập niên 1860 bị các shishi nóng máu ám sát và hăm dọa. Dĩ nhiên, các chí sĩ này cũng không có chút kinh nghiệm gì về sức mạnh của các quốc gia bên ngoài chẳng khác gì những sĩ quan trẻ của Nhật vào thập niên 1930. Sự khác nhau ở đây là việc các chí sĩ tấn công người phương Tây dẫn đến việc tàu chiến phương Tây bắn phá Kagoshima và Eo biển Shimonoseki, điều này đã thuyết phục các chí sĩ rằng chiến lược của họ là phi thực tế. Vào thập niên 1930, không có cuộc bắn phá nước ngoài nào như thế vào nước Nhật để buộc lớp sĩ quan trẻ chưa từng ra nước ngoài phải thực tế hơn.
Thêm vào đó, kinh nghiệm lịch sử của các nhà lãnh đạo Nhật Bản trưởng thành ở Kỷ nguyên Minh Trị rõ ràng trái ngược với kinh nghiệm của các nhà lãnh đạo thập niên 1930. Các nhà lãnh đạo thời Minh Trị đã dành những năm của họ để xây dựng một nước Nhật yếu ớt có nguy cơ bị những kẻ thù tiềm năng mạnh mẽ tấn công. Nhưng đối với những lãnh đạo Nhật Bản thập niên 1930, chiến tranh chỉ có nghĩa là thắng lợi đầy men nồng trong cuộc Chiến tranh Nga-Nhật, việc hủy diệt hạm đội Thái Bình Dương của Nga ở cảng Lữ Thuận (Port Arthur) bằng một cuộc tấn công bất ngờ được dùng làm hình mẫu cho cuộc tấn công bất ngờ vào hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng (Ảnh 3.7), và hải quân Nhật hủy diệt hạm đội Bắc Hải (Baltic) của Nga một cách ngoạn mục trong cuộc hải chiến ở Eo biển Tsushima (Ảnh 3.8). Khi thảo luận về nước Đức ở Chương 6, chúng ta sẽ bắt gặp một ví dụ khác về những thế hệ thành công trong cùng một quốc gia đã có những quan điểm chính trị khác nhau rõ rệt chỉ do những kinh nghiệm lịch sử khác nhau.
Vì thế, một phần – không phải toàn bộ, nhưng chỉ một phần – lý do của việc nước Nhật khởi phát Thế chiến II bất chấp những sự chênh lệch vô vọng đến thế là do lớp lãnh đạo quân sự trẻ ở thập niên 1930 thiếu vắng nền tảng kiến thức và kinh nghiệm lịch sử cần thiết cho việc tự đánh giá trung thực, thực tế và cân nhắc cẩn trọng. Kết quả là một thảm họa cho Nhật Bản.
Nhật Bản thời Minh Trị minh họa sâu sắc cho sự tương đồng của hầu hết 12 nhân tố được xác định ở Chương 1 như là những hệ quả tác động của biến cố cá nhân. Đối với một nhân tố (nhân tố số 5 ở Bảng 1.2) nước Nhật chính là dẫn chứng nổi bật trong số bảy quốc gia; với nhân tố khác (nhân tố số 7), Nhật Bản là một trong hai dẫn chứng nổi bật; bảy nhân tố kia (số 1, 3, 4, 6, 9, 10 và 11) cũng quan trọng; và một nhân tố (số 12) vận hành vừa tích cực vừa tiêu cực.
Hơn tất cả những quốc gia được thảo luận trong cuốn sách này, Nhật Bản thời Minh Trị minh họa sự thay đổi từ việc vay mượn những hình mẫu nước ngoài (nhân tố số 5), sau khi đối chiếu cẩn thận các hình mẫu khác nhau để xác định cái nào phù hợp nhất trong hoàn cảnh Nhật Bản ở một phạm vi đặc thù. Kết quả là thể chế và quân đội Nhật Bản tiến đến chỗ dựa trên hình mẫu của Đức, còn hạm đội hải quân thì dựa trên hình mẫu của Anh, bản dự thảo bộ luật dân sự ban đầu lại dựa vào hình mẫu của Pháp, và công cuộc cải cách giáo dục năm 1879 dựa trên hình mẫu của Mỹ. Ngay cả Bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ dường như cũng được dùng làm hình mẫu cho một dự thảo về cải cách chính phủ năm 1870 do Itagaki Taisuke và Fukuoka Kotei soạn, bắt đầu bản dự thảo của họ bằng lời mở đầu tuyên ngôn rằng mọi người đều có quyền bình đẳng, để từ đó đưa ra mọi quyết định. (Hãy đối chiếu với câu thứ nhì trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ: “Chúng tôi khẳng định những chân lý này là hiển nhiên, mọi người sinh ra đều bình đẳng…” dẫn đến nhiều kết luận.) Những đề xuất của Itagaki và Fukuoka dựa trên hình mẫu của Mỹ không được thông qua, nhưng nhiều hình mẫu nước ngoài khác được áp dụng.
Chúng ta đã thảo luận trong phần trước đó về vai trò của việc đánh giá thực tế (nhân tố số 7) ở Nhật Bản thời Minh Trị, vai trò tương tự chỉ diễn ra ở Phần Lan. Thảo luận của chúng ta đã làm rõ rằng việc đánh giá quốc gia thành công đòi hỏi có hai nhân tố. Một là ý nguyện đương đầu với những sự thực đau đớn: trong trường hợp nước Nhật, sự thực là những kẻ ngoại bang đáng ghét lại mạnh hơn Nhật Bản, và nước Nhật chỉ có thể đạt được sức mạnh bằng cách học hỏi từ những kẻ ngoại bang đó. Điều kiện tiên quyết khác chính là kiến thức. Việc các nhà lãnh đạo thời Minh Trị và những chí sĩ ở thập niên trước thời Minh Trị có ý nguyện đương đầu với sự thực cay đắng về sức mạnh quân sự của phương Tây là chưa đủ: họ cần đến kiến thức về sức mạnh đó từ quan sát hay kinh nghiệm trực tiếp. Nhưng các sĩ quan trẻ của nước Nhật vào thập niên 1930 lại thiếu kiến thức trực tiếp về sức mạnh quân sự của phương Tây. Sự tự đánh giá thực tế thời Minh Trị được nối với đánh giá khác về những nhân tố hệ quả tiếp diễn: sự đồng thuận rộng rãi của người Nhật về biến cố mà chuyến ghé vịnh Edo của Phó đề đốc Perry đặt ra với nước Nhật (nhân tố số 1).
Nhật Bản thời Minh Trị là minh họa tốt cho việc xây dựng một hàng rào và việc áp dụng thay đổi có chọn lọc (nhân tố số 3). Những thay đổi rộng lớn được áp dụng ở nhiều phạm vi xã hội thời Minh Trị, bao gồm các bình diện kinh tế, luật pháp, quân sự, chính trị, xã hội và công nghệ. Nhưng các đặc trưng truyền thống khác của Nhật vẫn được lưu giữ ở Kỷ nguyên Minh Trị, kể cả luân lý Khổng giáo, tôn thờ Nhật hoàng, tính đồng nhất dân tộc, lòng hiếu thảo, Thần đạo và hệ thống chữ viết. Ban đầu, dự kiến cũng có những thay đổi dành cho một số đặc trưng kể trên, như đề xuất đưa nước Nhật theo chế độ cộng hòa và áp dụng bảng ký tự phương Tây. Nhưng nước Nhật nhanh chóng lập một hàng rào, tách riêng những đặc trưng truyền thống để lưu giữ chúng khỏi những điều đang cần thay đổi. Trong khi ước ao thay đổi vẫn mạnh mẽ, thì ước ao giữ lại truyền thống cũng mạnh không kém đến nỗi một số thay đổi phải được khắc họa như sự duy trì hư cấu của “những truyền thống được phát kiến” để khiến chúng có thể được chấp nhận. Sự kết hợp giữa việc thay đổi quyết liệt này với việc duy trì bảo tồn cũng minh họa cho nhân tố của tính linh hoạt quốc gia trong tình huống đặc thù (nhân tố số 10).
Cùng với giá trị của các hình mẫu nước ngoài, Nhật Bản thời Minh Trị minh họa cho giá trị của sự giúp đỡ từ bên ngoài (nhân tố số 4). Có vô số dẫn chứng, bao gồm thương nhân người Anh Thomas Glover có cơ sở buôn bán ở Nagasaki đã gửi một nhóm 19 thanh niên ở Satsuma đi du học ở Anh từ năm 1864; nhiều người phương Tây ở châu Âu và Mỹ đón tiếp khách thăm người Nhật; năm 1886 có hai nhà cố vấn người Đức là Albert Mosse và Hermann Roesler đến Nhật Bản để giúp đỡ Ito Hirobumi xây dựng hiến pháp; và xưởng đóng tàu Vickers đã đóng chiếc Kongo, tuần dương chiến hạm đầu tiên cho Nhật Bản, để sau đó làm hình mẫu cho những chiếc tuần dương chiến hạm Haruna, Hiei và Kirishima được đóng ngay tại Nhật.
Nhật Bản thời Minh Trị, và Nhật Bản ngày nay, minh họa mạnh mẽ cho căn tính quốc gia (nhân tố số 6). Người dân Nhật và các lãnh đạo của họ xem nước Nhật là độc đáo, thượng đẳng, và tách biệt với phần còn lại của thế giới. Niềm tin được sẻ chia này đã giúp người Nhật chịu được những căng thẳng về tâm lý trong Kỷ nguyên Minh Trị, đôi khi có sự khác biệt về phương cách tốt nhất để bảo đảm cho tương lai Nhật Bản, nhưng không bao giờ nghi ngờ giá trị của đất nước họ.
Nhật Bản thời Minh Trị cũng làm minh họa cho đức tính kiên nhẫn, sự sẵn sàng chịu đựng những thất bại ban đầu và tính kiên trì cho đến khi tìm ra một giải pháp khả dụng (nhân tố số 9). Phản ứng ban đầu của Nhật đối với những mối đe dọa của nước ngoài vào thập niên 1850 và 1860 là cố giữ khoảng cách tách biệt với những kẻ ngoại quốc, sau đó (khi những người này được thừa nhận ở một số hải cảng của Nhật theo hiệp ước) lại cố tống xuất họ đi một lần nữa. Nhưng dần dần mọi sự cũng ngã ngũ và Mạc phủ, giới chí sĩ cùng các nhà lãnh đạo thời Minh Trị đều chấp nhận một điều là phương cách đó không hiệu quả, và nhất thiết phải có một phương cách khác: mở cửa nước Nhật cho phương Tây, để từ đó tăng cường sức mạnh Nhật Bản. Tương tự như thế, những nỗ lực thời Minh Trị để soạn các bộ luật, một hệ thống giáo dục quốc gia, và một hiến pháp phải mất nhiều năm làm dự thảo, thử nghiệm và thay đổi. Trong mỗi lĩnh vực này, chính phủ thời Minh Trị ban đầu thử nghiệm với một hay nhiều hình mẫu nước ngoài, loại trừ những hình mẫu không thích hợp với hoàn cảnh nước Nhật, rồi cuối cùng mới chọn một hình mẫu khác từ nước ngoài: chẳng hạn như bộ luật dân sự, bắt đầu với những hình mẫu lấy từ Pháp và Anh, nhưng kết thúc bằng hình mẫu của Đức.
Những giá trị cốt lõi không tương nhượng (nhân tố số 11) đã đoàn kết người Nhật để sẵn sàng hi sinh. Nổi bật trong những giá trị này là lòng tận trung với Thiên hoàng. Điều này được minh họa rõ nét vào cuối Thế chiến II, khi Mỹ yêu cầu Nhật đầu hàng vô điều kiện. Ngay cả sau khi bị thả hai quả bom nguyên tử và quân đội thì trong tình trạng tuyệt vọng, nước Nhật vẫn kiên trì với một điều kiện: “rằng tuyên bố [đầu hàng] như đã nêu không bao gồm bất kỳ yêu cầu nào làm tổn hại đến đặc quyền của Hoàng đế ở cương vị nhà lãnh đạo tối cao.” Nếu không chấp nhận điều kiện đó, nước Nhật sẵn sàng kháng cự lại sự đe dọa xâm chiếm của Mỹ trên đất Nhật. Sức mạnh của những giá trị cốt lõi của người Nhật cũng được minh họa trong Thế chiến II bằng việc số lượng lớn binh lính Nhật sẵn sàng tự sát, vượt xa so với bất kỳ quốc gia hiện đại nào khác. Nổi tiếng nhất là các phi công Thần phong (kamikaze) của loại máy bay chiến đấu thông thường và phi công “khùng” (baka) điều khiển tàu lượn gắn hỏa tiễn, chuyên lao máy bay gắn bom vào chiến hạm kẻ địch; và các thủy thủ điều khiển ngư lôi hoặc tàu tự sát được phóng đi từ tàu chiến Nhật để lao vào chiến hạm đối phương. Các loại vũ khí công nghệ cao này chỉ được tung ra khi gần kết thúc Thế chiến II, vài năm sau khi xảy ra các vụ tự sát công nghệ thấp, khi lính Nhật giả vờ đầu hàng rồi cho nổ lựu đạn để chết chung với kẻ thù. Mọi hình thức tự sát này chỉ có mục đích quân sự tức thời để giết binh lính đối phương. Ngoài ra, binh sĩ và sĩ quan Nhật cũng thường tự sát mà không kéo theo kẻ địch theo tinh thần giá trị được khắc ghi là “không đầu hàng.” Chẳng hạn, trong tổng số 2.571 binh lính tinh nhuệ của Nhật bảo vệ đảo san hô Tarawa vào tháng 11 năm 1943 kháng cự cuộc đổ bộ của lính Mỹ lên đảo, có đến 2.563 chết, nhiều binh lính trong số đó cuối cùng đã tự sát, chỉ còn tám người bị bắt làm tù binh.
Nhật Bản, vốn là một quần đảo không tiếp giáp với đất liền, ở điều kiện tương đối thuận lợi nếu xét về mặt ràng buộc bởi địa chính trị (nhân tố số 12) so với các nước khác như Phần Lan hay Đức, do không có chung đường biên giới đất liền với nước nào. Như chúng ta đã thấy ở chương trước đó, biên giới chung dài giữa Phần Lan và Nga đã tạo ra vấn nạn cơ bản cho Phần Lan. Và ở Chương 6, chúng ta sẽ thấy việc có chung biên giới trên đất liền với các cường quốc cũng là một chủ điểm chính trong lịch sử nước Đức. Tuy nhiên, chính các cường quốc khác đã gây ra vấn nạn cơ bản cho Mạc phủ Tokugawa và Nhật Bản thời Minh Trị mặc dù các nước này cách Nhật đến nửa vòng Trái đất bởi đại dương mênh mông. Đến thế kỷ 19, và ngay cả ở thế giới hiện đại ngày nay, công nghệ mới làm giảm bớt những ràng buộc địa chính trị – nhưng vẫn chưa hoàn toàn loại bỏ được chúng.
Chúng ta hãy kết lại thảo luận về Nhật Bản thời Minh Trị bằng cách xem xem nó dẫn đến đâu với bốn câu hỏi nảy sinh cho biến cố quốc gia chứ không dành cho biến cố cá nhân: cách mạng đối lập với tiến trình, sự lãnh đạo, đối kháng và hòa giải nhóm, và sự hiện diện hay thiếu vắng một tầm nhìn thống nhất.
Các biến cố quốc gia chọn hình thức cách mạng bạo lực (Chile năm 1973, Indonesia năm 1965) hay tiến trình hòa bình (nước Úc thời kỳ hậu chiến). Nhật Bản thời Minh Trị ở dạng trung gian, nhưng gần hơn với kết cục sau về tính liên tục. Chức vị shogun chấm dứt vào ngày 3 tháng 1 năm 1868 do một cuộc đảo chính hầu như không đổ máu. Một số nhân vật ủng hộ shogun, chứ không phải chính ông ta, phản kháng và cuối cùng bị đánh bại trong một cuộc nội chiến kéo dài một năm rưỡi. Nhưng cuộc nội chiến đó gây thương vong với tỉ lệ còn ít hơn cuộc đảo chính và phản đảo chính ở Indonesia năm 1965, đảo chính ở Chile năm 1973 và di chứng sau đó của nó, hay cuộc Nội chiến Phần Lan năm 1918.
Không có nhà lãnh đạo nào thống trị vào thời Minh Trị như Hitler, Pinochet và Suharto đặt dấu ấn cá nhân của họ lên nước Đức Quốc xã, Chile sau năm 1973 và Indonesia sau năm 1965, theo thứ tự tương ứng. Thay vào đó, vào bất kỳ thời điểm nào cũng có nhiều nhà lãnh đạo ở thời Minh Trị, đồng thời có một tiến trình chuyển tiếp từng bước một quyền lãnh đạo ở thập niên 1880. Tất cả các nhà lãnh đạo khác nhau đều có kinh nghiệm trực tiếp về phương Tây, và tất cả đều tận tâm với chiến lược cơ bản là tăng cường sức mạnh nước Nhật bằng cách áp dụng những hình mẫu nước ngoài một cách chọn lọc. Nhật hoàng vẫn chỉ là một biểu tượng đứng đầu nước Nhật chứ không phải là một nhà lãnh đạo thực sự.
Về đối kháng và hòa giải nhóm, giai đoạn 1853-1868 có những bất đồng về chiến lược nền tảng bên trong nước Nhật. Từ khoảng năm 1868 trở đi, khi chiến lược cơ bản được hình thành, vẫn có những bất đồng bình thường phát sinh ở bất kỳ vùng miền nào về những chính sách tác động đến chiến lược đó. Đến tận năm 1877, một số bất đồng này vẫn phải giải quyết bằng bạo lực: đặc biệt là giữa Mạc phủ và liên minh các lãnh địa Satsuma-Choshu đến tận năm 1869, giữa các chí sĩ và những người theo phái ôn hòa ở thập niên 1860, và giữa chính phủ thời Minh Trị với giới samurai bất mãn trong các cuộc nổi loạn của giới samurai. Mức độ bạo lực cũng vẫn khiêm nhường so với mức độ ở Chile và Indonesia. Sự hòa giải sau đó giữa các phe phái đối kháng về những bất đồng vẫn nhanh hơn so với ở Chile và còn nhanh hơn nữa so với ở Indonesia: một phần vì có ít tổn thất nhân mạng hơn; và một phần vì các nhà lãnh đạo chính quyền thời Minh Trị nỗ lực hơn và thể hiện khả năng tốt hơn trong việc hòa giải với những kẻ đối nghịch so với các lãnh đạo quân sự của Chile và Indonesia. Trong số các nước được đề cập trong cuốn sách này thì chỉ có Phần Lan sau cuộc nội chiến năm 1918 mới có thể cho một so sánh tương đương gần nhất với Nhật Bản thời Minh Trị trong việc loại bỏ di sản của các cuộc phản kháng bạo lực.
Các giải pháp xử lý của hầu hết biến cố quốc gia đòi hỏi nhiều thay đổi chính sách khác nhau, có thể thay đổi dần dần hoặc có thể tất cả đều là một phần của viễn cảnh thống nhất. Nhật Bản thời Minh Trị là nghiên cứu trường hợp tiếp cận gần nhất với đỉnh cao của viễn cảnh thống nhất. Phải nói là các lãnh đạo thời Minh Trị không đưa ra mọi thay đổi chính sách cùng lúc: họ biết rằng có một số vấn đề khẩn thiết hơn những vấn đề khác. Họ bắt đầu bằng việc tạo ra một quân đội Thiên hoàng, thực hiện cải cách thuế khóa và giải quyết một số vấn đề căng thẳng ở đầu thập niên 1870, nhưng không phát động chiến tranh chính thức ra hải ngoại cho đến năm 1894. Tuy nhiên, tất cả những chính sách này đều bắt nguồn từ một nguyên tắc dựa trên sự đồng thuận ở khởi điểm của Kỷ nguyên Minh Trị: sự cần thiết phải tăng cường sức mạnh của nước Nhật ở nhiều lĩnh vực khác nhau bằng cách học hỏi từ phương Tây một cách chọn lọc.
Do đó, Nhật Bản thời Minh Trị cho chúng ta một nghiên cứu trường hợp thứ hai rất tốt cho việc khám phá những vấn đề liên quan đến các biến cố quốc gia thông qua sự thay đổi có chọn lọc. Phần Lan (trường hợp thứ nhất) và Nhật Bản thời Minh Trị đều giống nhau về việc đối mặt với biến cố bùng nổ vào một ngày khi sự đe dọa quân sự từ bên ngoài vốn đã phát triển trong nhiều năm tháng đột nhiên trở thành hiện thực. Cả người Phần Lan và người Nhật đều có căn tính và giá trị cốt lõi quốc gia mạnh mẽ để phòng vệ bằng việc hi sinh mạng sống chống lại những thế lực vượt trội bên ngoài; người Nhật được thử nghiệm nó trong Thế chiến II chứ không phải ở Kỷ nguyên Minh Trị. Cả người Phần Lan và người Nhật thời Minh Trị đều trung thực và thực tế một cách khủng khiếp. Dù vậy, ở một số mặt khác thì họ lại ở hai đối cực khác nhau. Nhật Bản thời Minh Trị nhận được sự giúp đỡ từ nhiều quốc gia, ngay từ chính những quốc gia đã đe dọa họ; còn Phần Lan rõ ràng không nhận được sự giúp đỡ nào trong suốt Cuộc chiến Mùa đông. Nước Nhật giải quyết các vấn đề của mình bằng cách sử dụng nhiều hình mẫu, trong khi Phần Lan không thể áp dụng hình mẫu nào cả. Việc dân số đông, sức mạnh kinh tế, và khoảng cách địa lý cách xa kẻ thù cho phép nước Nhật có thời gian và không gian cần thiết để tiến đến ngang tầm về mặt quân sự với các quốc gia đe dọa họ; sự gần gũi về mặt địa lý và kích thước tương quan giữa Phần Lan và Nga đã loại trừ cơ hội đó của Phần Lan. Trong hai chương kế tiếp, chúng ta sẽ chuyển sang các nước cũng có biến cố đẩy lên đỉnh điểm một cách đột ngột như ở Phần Lan và Nhật Bản thời Minh Trị, nhưng sự bùng phát lại nằm ngay trong nội bộ.
Phần 2: Quốc gia - Biến cố đã lộ diện
Chương 4 - Một nước Chile cho mọi người Chile
Viếng thăm Chile – Chile đến năm 1970 – Allende – Vụ đảo chính và Pinochet – Nền kinh tế đến khi “Không!” – Hậu Pinochet – Bóng ma của Pinochet – Khung biến cố – Trở lại Chile
Vào năm 1967, tôi có một kỳ nghỉ ở Chile, ở thời điểm khi mọi thứ còn có vẻ yên bình. Những chủ nhà của tôi nhấn mạnh rằng đất nước Chile rất khác với những quốc gia Mỹ Latin khác. Họ giải thích rằng Chile có một lịch sử lâu dài về chính phủ dân chủ, chỉ bị ngắt quãng bởi một số vụ đảo chính hầu như không đổ máu. Chile không thường xuyên có chính quyền quân sự như Peru, Argentina và các nước khác ở Nam Mỹ và Trung Mỹ. Đất nước này được đánh giá là ổn định nhất về mặt chính trị trên khắp lục địa Mỹ Latin.
Người dân Chile có điểm tương đồng với châu Âu và Mỹ hơn Mỹ Latin. Chẳng hạn, chuyến viếng thăm của tôi là theo một chương trình trao đổi giữa Đại học Chile và Đại học California. Chương trình này được thành lập không chỉ để công nhận sự kiện địa lý là Chile và California đều giữ vị trí giống nhau ở các vùng khí hậu Địa Trung Hải trên bờ biển phía tây của các châu lục tương ứng – mà cũng để nhận thức rằng cả Chile và California còn giống nhau về nhân tố xã hội và sự ổn định về mặt chính trị. Những người bạn Chile của tôi tóm lược nó bằng câu nói sau: “Người Chile chúng tôi biết cách tự cai trị.”
Nhưng chỉ sáu năm sau chuyến viếng thăm của tôi, Chile lại bị cai trị bởi một chế độ độc tài quân sự phá vỡ những kỷ lục thế giới trước đó về mức độ tra tấn bạo hành của chính phủ. Trong quá trình đảo chính quân sự ở Chile vào ngày 11 tháng 9, vị tổng thống được bầu lên một cách dân chủ đã tự sát trong dinh tổng thống. Hội đồng quân sự Chile không chỉ giết hại người Chile với số lượng lớn, tra tấn người dân với số lượng còn lớn hơn, nghĩ ra những kỹ thuật tra tấn tinh thần lẫn thể xác đáng kinh tởm, đẩy người dân Chile vào con đường lưu vong, mà còn chỉ đạo những vụ khủng bố giết người mang tính chính trị bên ngoài Chile, bao gồm việc sát hại một công dân Mỹ ngay trên đất Mỹ (ở thủ đô Washington, DC vào năm 1976), vụ khủng bố mang màu sắc chính trị duy nhất tại Mỹ trước cuộc tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới ngày 11 tháng 9 năm 2001 (trùng hợp với ngày đảo chính ở Chile). Quyền lực của chính phủ quân sự đó tồn tại trong gần 17 năm.
Ngày nay, 29 năm sau khi chính phủ quân sự rớt đài, đất nước Chile vẫn đang đấu tranh với di sản của nó. Một số kẻ tra tấn bạo hành và lãnh đạo quân đội bị tống giam, nhưng những lãnh đạo quân đội hàng đầu được tự do. Nhiều người Chile, trong khi lấy làm tiếc về các vụ tra tấn, vẫn cho rằng vụ đảo chính quân sự là cần thiết, không tránh được.
Khi các bạn đọc lịch sử đất nước Chile gần đây ở những trang kế tiếp, các bạn sẽ dấy lên nhiều câu hỏi trong tâm khảm. Làm thế nào để giải thích một sự chuyển hướng đột ngột ở một quốc gia từng có những truyền thống dân chủ mạnh mẽ đến thế? Làm thế nào Chile và những quốc gia khác đối phó với quá khứ đầy u ám gần đây? Làm thế nào để những chủ điểm về biến cố quốc gia và sự thay đổi lại xảy ra ở Chile? Bạn sẽ nhận thấy những thay đổi có chọn lọc lớn trong chính sách kinh tế của chính phủ và trong thỏa hiệp chính trị. Bạn cũng sẽ nhận ra một số chủ điểm tái diễn đều đặn: sự tự đánh giá một cách trung thực và việc thiếu điều đó, sự tự do hành động và việc thiếu điều đó, sự hỗ trợ hay đối nghịch từ đồng minh, và vai trò của một hình mẫu hay đối tượng được xem là một hình mẫu. Hai nhà lãnh đạo Chile đặt ra câu hỏi mang tính lịch sử tái diễn về việc liệu các nhà lãnh đạo với tính cách độc đáo có thật sự làm thay đổi tiến trình lịch sử hay không.
Với hầu hết những người bạn Mỹ của tôi, vấn đề Chile đặt ra một câu hỏi đáng sợ trong tâm trí khi các bạn đọc chương này, vì Mỹ và Chile đều có chung một truyền thống dân chủ mạnh mẽ. Đối với người Chile, dường như họ hoàn toàn không thể hình dung được việc truyền thống đó dễ dàng chuyển sang một chế độ độc tài vào năm 1967, như nhiều người Mỹ ngày nay hoàn toàn không thể hình dung ra chuyện tương tự. Song điều đó đã xảy ra ở Chile, những dấu hiệu cảnh báo đều có thể thấy được khi chúng ta nhìn lại. Liệu điều này có thể xảy ra cho nước Mỹ hay không?
Chúng ta hãy bắt đầu với địa lý, lịch sử và con người Chile. Khi nhìn vào một bản đồ (Hình 4), bạn sẽ bất ngờ khi thấy Chile là đất nước dài nhất và hẹp nhất trên thế giới. Trong khi bình quân chỉ rộng hơn 100 dặm từ tây sang đông, thì đất nước này lại dài gần 3.000 dặm từ bắc xuống nam: gần bằng chiều ngang nước Mỹ. Về mặt địa lý, Chile tách biệt với các nước khác bởi dãy núi cao Andes ở phía đông chia cắt nước này với Argentina, và bởi vùng sa mạc cằn cỗi nhất trên thế giới ở phía bắc chia cắt Chile với Bolivia và Peru. Kết quả là kể từ khi Chile giành được độc lập, nước này chỉ có hai cuộc chiến với các nước láng giềng phía bắc là Bolivia và Peru vào những năm 1836-1839 và 1879- 1883.
Mặc dù có chiều dài rất lớn, đất canh tác, đất nông nghiệp và dân số Chile chỉ tập trung trong một phần diện tích quốc gia, trong phạm vi Thung lũng Trung tâm bao quanh thủ đô Santiago. Chỉ cách Santiago 60 dặm là cảng chính Valparaíso của Chile, hải cảng rộng lớn nhất ở bờ biển phía tây Nam Mỹ. Sự tập trung về mặt địa lý này, cộng với sự thuần nhất chủng tộc sẽ đề cập dưới đây, đã góp phần vào sự đoàn kết của Chile, họ không bao giờ phải đối mặt với các phong trào ly khai về mặt địa lý vốn là căn bệnh lây lan ở hầu hết các nước có quy mô lãnh thổ như Chile.
Không như các nước vùng Nam Mỹ khác thuộc khí hậu nhiệt đới, Chile cùng Argentina và Uruguay chia sẻ hai thuận lợi lớn do nằm ở vùng khí hậu ôn hòa ở cực nam của Nam Mỹ. Những thuận lợi này là sản lượng nông nghiệp bình quân cao hơn và bình quân gánh nặng bệnh tật thấp hơn so với các vùng khí hậu nhiệt đới. Kết quả là Chile, Argentina và Uruguay là những quốc gia Nam Mỹ có thu nhập bình quân đầu người cao nhất, bất chấp những chính sách sai lầm kinh niên của các chính phủ Argentina. Sự thịnh vượng tương ứng của Chile phát sinh từ nông nghiệp, công nghiệp đánh bắt cá, khoáng sản (nói thêm ở phần dưới) và kỹ nghệ chế biến. Chile từng là nước xuất khẩu lúa mì lớn trong thời kỳ Cơn sốt vàng (Gold Rush) ở California và Úc hồi thập niên 1840, và vẫn là nước xuất khẩu nông sản từ đó đến nay. Trong những thập niên gần đây, Chile trở thành nước xuất khẩu hải sản hàng đầu ở Nam Mỹ, và là một trong những quốc gia xuất khẩu hải sản hàng đầu thế giới. Cuối cùng, Chile cũng sản xuất nhiều hàng hóa hơn hầu hết các nước Mỹ Latin khác.
Về lịch sử và con người Chile, trước khi người châu Âu đến vùng đất nay là Chile, thì ở đó chỉ có dân cư bản địa sống thưa thớt, thiếu hẳn những thành tựu văn hóa và chính trị như của Đế quốc Inca hùng mạnh, đông dân và giàu có ở phía bắc, nơi hiện giờ là Bolivia, Peru và Ecuador. Như tại hầu hết phần còn lại của Nam Mỹ và Trung Mỹ, những người châu Âu chinh phục và định cư ở Chile là người Tây Ban Nha, khởi đầu trong thập niên 1540. Họ nhập vào một ít nô lệ châu Phi và kết hôn với người bản địa. Do vậy, không như hầu hết các quốc gia Nam Mỹ khác, ngày nay Chile mang đặc tính cộng đồng sắc tộc hơn là thuần nhất và không có cộng đồng người châu Mỹ bản địa lớn hay các nhóm thiểu số châu Phi. Thay vào đó, người Chile đa phần là gốc Tây Ban Nha và mestizo (hậu duệ của những người đến từ Tây Ban Nha với người châu Mỹ bản địa), hầu hết đều theo Công giáo và nói tiếng Tây Ban Nha (không như các nhóm dân tộc thiểu số lớn nói những ngôn ngữ bản địa ở các nước Mỹ Latin khác). Nhóm thiểu số đông nhất là thổ dân Mapuche, chỉ chiếm 1% dân số. Có tương đối ít người không phải gốc Tây Ban Nha và dòng dõi người bản địa.
Như vậy, các đặc điểm địa lý, lịch sử và dân tộc Chile đều đóng góp vào sự đoàn kết thống nhất của nước này. Đây là một khía cạnh tích cực trong lịch sử Chile, khiến nó ít lộn xộn hơn so với lịch sử của các nước Mỹ Latin khác. Nhưng Chile có chung một thế lực tiêu cực lớn với nhiều nước Mỹ Latin khác: thực dân Tây Ban Nha thành lập những khu đất đai rộng lớn chứ không như các nông trại nhỏ mà người định cư phương Tây lập ra ở Bắc Mỹ. Do đó, trong khi nước Mỹ và Canada phát triển những chính phủ dân chủ dựa trên nền tảng rộng lớn từ lúc khởi đầu những khu định cư của người châu Âu, thì ở Chile chế độ quyền lực tập trung kiểm soát hầu hết đất đai, tài sản và nền chính trị. Sự tập trung quyền lực chính trị đã hình thành một vấn nạn cơ bản trong lịch sử Chile.
Mâu thuẫn tiềm ẩn giữa thế lực truyền thống của chế độ quyền lực tập trung cố chấp và thế lực của những tầng lớp xã hội khác đang trỗi dậy đúng ra có thể giải quyết bằng thỏa hiệp chính trị hoặc không thể giải quyết do bế tắc chính trị. Hệ quả thứ hai trở nên gia tăng thường xuyên sau khi Chile thông qua hiến pháp mới vào năm 1925 làm chao đảo các cuộc bầu cử tổng thống, Thượng viện và Hạ viện trong những năm khác nhau. Dự tính tốt đẹp đó, vốn được thông qua trên nguyên tắc cân bằng quyền lực rõ ràng, rủi thay lại dẫn đến tình trạng chức vụ tổng thống, sự kiểm soát Thượng viện và Hạ viện lại thường thuộc về các đảng phái chính trị khác nhau, tùy thuộc vào đảng nào xem ra mạnh nhất trong một năm bầu cử cụ thể. Hai thay đổi lớn sau đó trong các tiến trình bầu cử đã gia tăng số phiếu bầu cánh tả, gây bất lợi cho sự thống trị trước đó của chế độ quyền lực tập trung. Một thay đổi là phụ nữ Chile cuối cùng cũng được quyền đi bầu ở các cuộc bầu cử thành phố vào năm 1934, rồi ở các cuộc bầu cử tổng thống năm 1949. Thay đổi kia là việc bầu bán ở Chile có truyền thống mở và công khai, khiến giới chủ đất dễ quan sát và gây ảnh hưởng đến việc bỏ phiếu của giới nông dân. Do đó, việc thông qua đạo luật bỏ phiếu kín vào năm 1958 đã sản sinh sự dịch chuyển về phe cánh tả.
Các đảng phái chính trị ở Chile tiến đến hình thành ba khối – cánh tả, phe trung dung và cánh hữu – có sức mạnh tương đương nhau. Từ đó, việc chính phủ do cánh tả hay cánh hữu kiểm soát tùy vào phe trung dung ngả theo cánh nào. Mỗi khối tự nó lại bao hàm các yếu tố nhiều hoặc ít cực đoan trong mâu thuẫn đối kháng với nhau. Chẳng hạn, ngay bên trong khối cánh tả cũng có những người theo phái ôn hòa (bao gồm hầu hết những người cộng sản chính thống) muốn đạt được thay đổi qua phương tiện hiến pháp, cạnh tranh với phe cánh tả cấp tiến vốn thiếu kiên nhẫn và chỉ muốn thay đổi bằng một cuộc cách mạng. Quân đội vẫn đứng ngoài các cuộc đấu tranh chính trị hiện đại của Chile – cho đến năm 1973.
Cuộc bầu cử tổng thống gần nhất ở Chile trước khi tôi đến ở đất nước này năm 1967 diễn ra vào năm 1964. Điều đặc biệt đối với Chile, nơi ứng cử viên tổng thống dẫn đầu thường chỉ cần đạt đa số phiếu tương đối thay vì cần đa số phiếu quá bán, là cuộc bầu cử năm 1964 lại có đa số phiếu quá bán dành cho ứng cử viên phe trung dung Eduardo Frei. Ông này được xem là người có ý hướng tốt và trung thực. Do e ngại chương trình theo đường lối Marxist và sức mạnh đang lên của liên minh cánh tả, nhiều cử tri cánh hữu đã ủng hộ Frei, đồng thời đảng của ông cũng kiểm soát được Hạ viện Quốc hội trong cuộc bầu cử năm 1965. Điều này làm dấy lên hi vọng rằng Frei có thể đưa ra thay đổi chính yếu để chấm dứt tình huống bế tắc chính trị ở Chile.
Frei nhanh chóng hành động để chính phủ Chile có thể mua 51% quyền kiểm soát các công ty khai thác mỏ đồng do Mỹ sở hữu ở Chile. Ông đổ các khoản đầu tư chính phủ vào nền kinh tế Chile, mở rộng cơ hội tiếp cận việc học hành cho những người nghèo khổ ở Chile, thành công trong việc trở thành nước nhận tài trợ kinh tế của Mỹ tính trên bình quân đầu người lớn nhất châu Mỹ Latin, đồng thời phát động một chương trình cải cách ruộng đất để phá bỏ hệ thống nắm giữ đất đai. Nhưng khả năng thay đổi xã hội Chile của Frei lại bị hạn chế bởi bế tắc chính trị kéo dài. Một mặt, Frei không đủ cấp tiến đối với những người cánh tả, vốn chỉ muốn Chile kiểm soát nhiều hơn nữa các mỏ đồng, đầu tư của chính phủ và tái phân phối đất đai. Dưới thời Frei, nền kinh tế Chile tiếp tục bị đình đốn do các cuộc đình công, nạn lạm phát và thiếu hụt mọi thứ. Chẳng hạn, trong những tháng tôi ở Chile đã xảy ra sự thiếu hụt nguồn thịt kinh niên: ngay cả thịt cá voi và thịt bò dai nhách cũng chỉ thi thoảng mới có mặt ở cửa hàng thịt, dù mỗi ngày trong tuần vẫn có mặt hàng mắt cừu. Những người bạn của tôi trở thành nạn nhân của bạo lực đường phố. Khoảng năm 1969, cả ba khối chính trị của Chile – cánh hữu, cánh tả và phe trung dung – đều cảm thấy thất vọng về tình hình chính trị hiện tại.
Những phát triển của Chile từ năm 1970 trở đi đều được dẫn dắt bởi hai nhà lãnh đạo tiếp nối nhau tiêu biểu cho hai đối cực về chính trị và tính cách cá nhân: Salvador Allende và Augusto Pinochet. Họ chỉ giống nhau ở chỗ cho đến nay người ta vẫn không biết tại sao mỗi người trong số họ lại hành động như thế.
Hiểu biết của tôi về Allende dựa trên những thông tin công khai về ông ta, và những thông tin thu thập được từ một người bạn Chile của tôi, vốn biết rõ ông ta và gia đình. Allende là một chuyên gia Chile thuộc tầng lớp tinh hoa, xuất thân từ một gia đình trung-thượng lưu, giàu có, thông minh, có lý tưởng, có tài hùng biện và được phú một tính cách có sức lôi cuốn (Ảnh 4.1). Ngay từ thời kỳ còn là sinh viên, ông đã trở thành một nhà Marxist rõ rệt, đồng thời thuộc nhóm thành lập đảng Xã hội Chile, vốn thuộc cánh tả cực đoan hơn cả đảng Cộng sản Chile. Song Allende được đánh giá là ôn hòa theo những tiêu chuẩn xã hội của Chile, vì mục đích của ông là đưa chính phủ Marxist vào Chile theo đường lối dân chủ chứ không phải bằng cách mạng vũ trang. Ông tốt nghiệp trường y khoa và trở thành Bộ trưởng Y tế Chile lúc mới 31 tuổi, một chức vụ mà ông đảm nhiệm rất thành công. Ông chạy đua vào vị trí tổng thổng ở các năm 1952, 1958 và 1964 và cả ba lần đều thất bại, hai lần do chênh lệch phiếu bầu lớn. Do đó, vào thời điểm Allende ứng cử tổng thống lần nữa vào năm 1970 trên cương vị người đứng đầu liên minh Đoàn kết Nhân dân gồm các phe phái xã hội, cộng sản, cấp tiến và trung dung, tiếng tăm của ông chỉ là một kẻ thất bại lâu năm không có gì đáng gờm.
Trong cuộc bầu cử năm 1970, Allende nhận được số phiếu bầu phổ thông lớn nhất (36%), nhưng cũng chỉ vừa đủ, vì tỉ lệ cử tri bỏ phiếu chống ông (64%) tuy nhiều hơn nhưng lại bị phân tán giữa liên minh cánh hữu (35%, chỉ thấp hơn số phiếu bầu cho Allende 1,4%) và liên minh trung dung (28%). Do Allende chỉ được đa số phiếu tương đối chứ không phải đa số phiếu quá bán, nên kết quả bầu cử đòi hỏi phải được Quốc hội thông qua, chấp thuận cho ông đổi lại bằng một loạt các sửa đổi hiến pháp đảm bảo quyền tự do báo chí và các quyền tự do khác. Dù tính cách điềm đạm và lý lịch ứng xử của Allende không có gì phải phàn nàn, nhưng sự đắc cử của ông đã ngay lập tức kích động một nỗ lực bất thành của chính phủ Mỹ nhằm tập trung sự ủng hộ của Quốc hội Chile phản đối việc chấp thuận ông, đồng thời cũng khích động gia đình của một trong những người bạn Chile của tôi phải di cư mà không quan tâm chờ đợi những chính sách mà Allende đề ra. Tại sao việc bầu một con người ôn hòa lịch thiệp như vậy làm tổng thống lại bị đón nhận bằng những phản ứng tiêu cực mạnh mẽ đến thế?
Lý do chính đó là việc Allende và liên minh đảng phái của ông đã tuyên bố mục tiêu đưa chính phủ Marxist vào đất nước Chile: một viễn cảnh làm kinh hoàng những người Chile cánh hữu và trung dung, quân đội Chile lẫn chính phủ Mỹ. Ngày nay, hàng thập niên sau vụ sụp đổ của Liên bang Xô Viết và kết thúc thời kỳ Chiến tranh Lạnh, những bạn đọc trẻ của tôi, vốn không sống trong các thập niên 1940, 1950 và 1960, sẽ không thể hình dung được lý do tại sao những thiết chế quyền lực đó lại kiên quyết rằng một chính quyền Marxist ở Chile phải bị chặn trước bằng mọi giá. Lời giải thích này bắt đầu bằng việc sau Thế chiến II, Liên Xô bắt tay vào một chính sách gây ảnh hưởng trên thế giới và phát triển bom nguyên tử, bom nhiệt hạch và tên lửa đạn đạo vượt đại dương. Nước này cố gắng kiểm soát Tây Berlin vào năm 1948 bằng cách phong tỏa mọi ngã đường bộ. Nước này cũng hậu thuẫn cho các chính quyền cộng sản lên nắm quyền ở Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary và Ba Lan.
Nhưng nguy hiểm nhất chính là các dàn phóng hỏa tiễn đạn đạo trang bị đầu đạn nguyên tử được đặt ở Cuba, chỉ cách bờ biển nước Mỹ 90 dặm. Trong một tuần kinh hoàng vào tháng 10 năm 1962, khắc sâu không thể nào quên trong ký ức tất cả những ai sống vào thời đó và tuổi tác còn đủ để nhớ lại, thế giới cận kề bên bờ vực của cuộc chiến tranh nguyên tử hơn bất kỳ lúc nào khác trong lịch sử từ trước đến nay (Ảnh 4.2). Sau biến cố đó, việc giải mật thông tin về sự việc trước đó từ phía Mỹ và cả Liên Xô đã cho thấy rõ chúng ta từng cận kề với sự hủy diệt hơn những đánh giá ở thời điểm ấy biết bao. Chính những lãnh đạo quân sự của Mỹ hồi đó, dù biết rằng có ít nhất 162 tên lửa được thiết lập ở Cuba, cũng chỉ nghĩ những đầu đạn nguyên tử chưa đến, lại không hề biết nhiều đầu đạn thực sự đã được đem đến Cuba.
Sau cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba, Liên Xô đáp trả bằng việc khởi động chương trình phát triển vũ khí nguyên tử và tên lửa đạn đạo có khả năng hủy diệt mạnh hơn. Phía Mỹ đáp lại bằng quyết định sẽ không bao giờ chấp nhận cho việc thiết lập một chính phủ cộng sản ở Tây bán cầu một lần nữa. Bất kỳ tổng thống Mỹ nào thất bại trong việc ngăn chặn sự việc đó xảy ra lập tức sẽ bị luận tội và phải rời bỏ cương vị của mình vì tội coi thường những quyền lợi của nước Mỹ, như Tổng thống Kennedy đã được cảnh báo rằng ông sẽ bị luận tội nếu thất bại trong việc buộc Liên Xô rút tên lửa khỏi Cuba. Bắt đầu vào thập niên 1960, Mỹ cũng bị ám ảnh bởi nguy cơ cộng sản ở Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác. Các phe phái cánh hữu, trung dung và quân đội đều kiên quyết không để tồn tại một chính phủ Marxist nào ở Chile vì họ đã chứng kiến những gì xảy ra cho những người chống chủ nghĩa Marx ở Cuba khi Castro lên nắm quyền. Họ không thể chấp nhận lịch sử đó sẽ lặp lại ở Chile.
Một động cơ khác khiến nước Mỹ quan tâm về Chile chính là các mỏ đồng ở đất nước này, vốn là một bộ phận lớn nhất của nền kinh tế Chile, thuộc sở hữu của Mỹ đồng thời cũng được phát triển bằng vốn đầu tư của Mỹ, do Chile vào thế kỷ 19 thiếu vốn và công nghệ để có thể tự mình phát triển việc khai thác các mỏ này. Dưới thời tổng thống Frei, Chile truất hữu (có bồi hoàn) 51% quyền lợi các mỏ đồng; nước Mỹ sợ rằng (chính xác, vì nó đã diễn ra) Allende sẽ truất hữu 49% còn lại mà không bồi hoàn. Do đó, từ thập niên 1960 trở đi, thông qua một chương trình gọi là Liên minh vì Tiến bộ, chính phủ Mỹ hỗ trợ các đảng phái cải cách trung dung Mỹ Latin (bao gồm Chile) và đổ tiền viện trợ nước ngoài vào các nước Mỹ Latin do các đảng này cai trị, nhằm ngăn ngừa việc hỗ trợ cho những cuộc cách mạng của cánh tả. Dưới thời Tổng thống Frei, Chile trở thành nước nhận tiền phát triển của Mỹ hàng đầu ở châu Mỹ Latin.
Dựa vào những thực tế đó, chính sách nào để Allende áp dụng khi trở thành tổng thống? Mặc dù ông biết rằng chức vụ của mình chỉ được 36% cử tri ủng hộ và bị quân đội cùng chính phủ Mỹ phản đối, ông vẫn không chịu nhân nhượng, đề phòng hay thỏa hiệp, mà vẫn tiếp tục theo đuổi các chính sách chắc chắn sẽ bị các thế lực thù địch nguyền rủa. Biện pháp đầu tiên của ông, với sự đồng thuận của Quốc hội Chile, là quốc hữu hóa các công ty khai thác đồng do Mỹ sở hữu mà không bồi hoàn; đó là một phương sách tạo ra những kẻ thù quốc tế hùng mạnh. (Lý do cho việc Allende thoái thác bồi hoàn là cho rằng lợi nhuận của các công ty đã vượt trên một tỉ lệ hoàn vốn nhất định được xem là “lợi nhuận thặng dư,” được tính để khấu trừ khoản đền bù và triệt tiêu khoản nợ bồi hoàn.) Ông cũng quốc hữu hóa những công ty quốc tế lớn khác. Ông còn khiến lực lượng quân đội kinh hoàng khi đưa một lượng lớn người Cuba vào Chile, khi đeo một khẩu súng máy do Fidel Castro tặng, và mời Castro đến thăm Chile suốt năm tuần. Ông hạn định giá cả (ngay đến một món hàng nhỏ như dây giày), thay các yếu tố thị trường tự do của nền kinh tế Chile bằng kế hoạch nhà nước theo kiểu xã hội chủ nghĩa, trợ cấp cho việc gia tăng tiền công, gia tăng mạnh mẽ các khoản chi tiêu chính phủ, và cho in tiền giấy để bù đắp các khoản thiếu hụt do chính phủ gây ra. Ông còn mở rộng chính sách cải cách ruộng đất của Tổng thống Frei bằng việc truất hữu các điền trang lớn và biến chúng thành hợp tác xã nông dân. Mặc dù chính sách cải cách ruộng đất và các mục tiêu của Allende là có ý hướng tốt nhưng chúng lại được thực hiện một cách kém cỏi. Chẳng hạn, một người bạn Chile của tôi vào lúc đó đã là một nhà kinh tế, dù chỉ là sinh viên chưa tốt nghiệp mới 19 tuổi, chịu trách nhiệm chính trong việc lập biểu giá cho hàng tiêu dùng ở Chile. Một người bạn Chile khác miêu tả về chính sách của Allende như sau: “Allende có những ý tưởng tốt, nhưng thực hiện chúng một cách nghèo nàn. Dù ông ta nhận ra những vấn đề của Chile một cách chính xác, nhưng lại áp dụng những giải pháp sai cho những vấn đề đó.”
Kết quả cho các chính sách của Allende là sự lan rộng của hỗn loạn kinh tế, bạo lực và sự phản kháng lại ông. Thâm hụt ngân sách chính phủ chỉ được trám lại bằng việc in thêm tiền gây siêu lạm phát, đồng lương thật sự (đó là lương đã điều chỉnh theo lạm phát) rơi xuống dưới mức năm 1970, dù đồng lương không điều chỉnh theo lạm phát trên danh nghĩa đã tăng lên. Đầu tư trong và ngoài nước, cùng nguồn hỗ trợ nước ngoài, đều cạn kiệt. Thâm hụt thương mại gia tăng. Hàng tiêu dùng, gồm cả giấy vệ sinh, trở nên khan hiếm trên thị trường, thể hiện qua những quầy hàng trống rỗng và hàng dài người xếp hàng ngày càng tăng. Khẩu phần lương thực, kể cả nước, trở nên khan hiếm. Công nhân, tầng lớp từng ủng hộ Allende một cách tự nhiên, giờ cũng gia nhập phe chống đối và tham gia các cuộc biểu tình trên toàn quốc; điều đặc biệt hủy hoại nền kinh tế Chile là những vụ đình công của thợ mỏ và giới tài xế xe tải. Bạo lực đường phố và những đồn đoán về một cuộc đảo chính rộ lên. Phía cánh tả, các ủng hộ viên cấp tiến của Allende tự trang bị vũ khí; phía cánh hữu, các bích chương treo trên đường phố đưa ra tuyên ngôn: “Yakarta viene,” nghĩa đen là “Jakarta đang đến gần,” ám chỉ vụ cánh hữu thảm sát những người cộng sản ở Indonesia năm 1965, sẽ đề cập ở chương sau. Điều này là một lời đe dọa công khai từ những người cánh hữu đối với cánh tả, và rồi đe dọa đó hóa ra lại thành sự thực. Ngay cả Giáo hội Công giáo đầy quyền lực ở Chile cũng quay sang chống Allende khi ông đề xuất những cải cách về chương trình giáo dục cưỡng bách ở các trường Công giáo tư nhân cũng như trường học của chính phủ, nhằm tạo ra một thế hệ “Con người mới” tập thể và không nghĩ đến quyền lợi bản thân bằng cách định hướng học sinh đến các lĩnh vực lao động chân tay.
Kết quả của những diễn biến này là cuộc đảo chính năm 1973 mà nhiều người bạn Chile của tôi xác định là điều tất yếu mặc dù hình thức đảo chính thì không tất yếu chút nào. Một nhà kinh tế, bạn của tôi, đã tóm gọn sự sụp đổ của Allende như sau: “Allende bị rớt đài do các chính sách kinh tế của ông ta dựa vào những biện pháp dân túy vốn đã lần lượt thất bại ở các quốc gia khác. Chúng sản sinh những lợi ích ngắn hạn với cái giá là việc thế chấp tương lai của Chile và tạo ra lạm phát chóng mặt.” Nhiều người Chile ngưỡng mộ Allende và xem ông như một vị thánh. Nhưng đức hạnh của một vị thánh không nhất thiết tạo ra thành công về mặt chính trị.
Tôi trình bày về Allende để nói rằng lý do tại sao ông ta lại làm những điều như thế vẫn chưa rõ ràng. Tôi cứ tự hỏi: tại sao mà Allende, một chính trị gia lão luyện và là một con người ôn hòa, lại theo đuổi những chính sách cực đoan mà ông ta biết là không được chấp nhận bởi đa phần người dân cũng như lực lượng quân đội Chile? Những người bạn Chile của tôi đã đưa ra hai câu trả lời khả dĩ, nhưng không một ai có thể chắc chắn câu trả lời nào, nếu có, giải thích đúng đắn lý lẽ của Allende. Có một khả năng là những thành công về mặt chính trị trước đó của Allende đã đánh lừa chính ông khi cho rằng mình có thể làm lắng dịu sự chống đối. Ông từng thành công trên cương vị bộ trưởng y tế; từng xoa dịu những nghi ngờ của Quốc hội trong cuộc bầu cử thắng lợi bằng những sửa đổi hiến pháp nhằm không trói buộc ông về những chính sách kinh tế; và Quốc hội đã đồng thuận chính sách truất hữu của ông đối với các công ty khai thác đồng mà không bồi hoàn. Giờ đây, ông hi vọng có thể xoa dịu quân đội bằng việc đưa cả ba chỉ huy quân sự vào nội các của mình. Một khả năng khác là Allende buộc phải đưa ra những biện pháp cực đoan ngược với suy xét của mình do phe ủng hộ cực đoan nhất của ông, Phong trào Cách mạng Cánh tả (viết tắt theo tiếng Tây Ban Nha là MIR) muốn một cuộc cách mạng nhanh chóng nhằm lật đổ nhà nước theo chủ nghĩa tư bản của Chile. Họ tích trữ vũ khí, đưa ra khẩu hiệu “Trang bị cho nhân dân,” trách cứ Allende quá yếu đuối và từ chối lắng nghe những khẩn nài của ông, “Hãy kiên nhẫn chờ đợi trong vài năm nữa thôi.”
Ngay cả khi hai lời giải thích khả dĩ này được cho là tạo ra các động cơ của Allende, tôi thấy vẫn chưa thỏa mãn. Với tôi, dường như ngay lúc đó chứ chưa cần tới kinh nghiệm muộn màng sau này, đã có thể thấy rằng các chính sách của Allende chỉ dựa trên những đánh giá phi thực tế.
Cuộc đảo chính được dự đoán đã lâu xảy ra vào ngày 11 tháng 9 năm 1973, sau khi ba binh chủng quân đội – lục quân, hải quân và không quân – đồng lòng với kế hoạch trước đó 10 ngày. Mặc dù CIA kiên trì ủng hộ việc chống đối Allende và tìm cách phá hoại ông ta, thì ngay cả những người Mỹ bóc trần sự can thiệp của CIA trong nội tình Chile cũng đồng ý rằng cuộc đảo chính chỉ được thực hiện bởi chính người Chile chứ CIA không can dự vào. Không quân Chile thả bom dinh tổng thống ở Santiago, trong khi xe tăng pháo kích vào đó (Ảnh 4.3). Nhận thấy tình trạng tuyệt vọng của mình, Allende đã tự sát bằng chính khẩu súng máy Fidel Castro tặng ông ta. Phải thú nhận rằng tôi hoài nghi về khẳng định đó, mà ngờ rằng Allende bị giết bởi binh lính đảo chính. Nhưng một ủy ban điều tra do chính phủ dân chủ phục hồi ở Chile thành lập sau khi chấm dứt chính quyền quân sự đã kết luận rằng Allende quả đã chết một mình do tự sát. Kết luận đó được một người bạn Chile của tôi xác nhận, người này vốn quen biết một nhân viên chữa cháy trong đội cứu hỏa đã đến dinh tổng thổng khi đang cháy dở và gặp những chiến hữu sống sót cuối cùng của Allende, kể cả người sau cùng trông thấy ông ta còn sống.
Cuộc đảo chính được hoan nghênh trong sự thở phào và ủng hộ rộng rãi bởi những người Chile thuộc phe trung dung và cánh hữu, hầu hết thuộc tầng lớp trung lưu, và dĩ nhiên là cả nhóm thiểu số ủng hộ chế độ quyền lực tập trung. Vào lúc đó, nền kinh tế hỗn loạn, các chính sách kinh tế điên khùng của chính phủ và bạo lực đường phố dưới thời Allende đã hết thuốc chữa. Cuộc đảo chính chỉ được hội đồng quân sự xem là một giai đoạn quá độ không tránh được để hướng đến nguyên trạng trước đó, khi sự thống trị chính trị của giới dân sự thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu thắng thế trước năm 1970. Một người bạn Chile kể lại cho tôi câu chuyện về một bữa tiệc tối có 18 người mà ông ta tham dự vào tháng 12 năm 1973, chỉ ba tháng sau cuộc đảo chính như sau: khi chủ đề của cuộc nói chuyện chuyển sang câu hỏi dự đoán hội đồng quân sự còn ở lại với quyền lực trong bao lâu nữa, thì 17/18 người dự đoán là chỉ khoảng hai năm. Riêng dự đoán của người thứ 18 là bảy năm thì bị những người khác cho là ngớ ngẩn; họ nói rằng điều đó không thể xảy ra ở Chile, nơi mà các chính quyền quân sự trước đây luôn nhanh chóng trao lại quyền lực cho một chính phủ dân sự. Không một ai trong bữa tiệc hôm đó tiên đoán được hội đồng quân sự vẫn nắm quyền lực trong gần 17 năm. Chính quyền này đình chỉ mọi hoạt động chính trị, giải tán Quốc hội, cấm đoán các đảng phái chính trị cánh tả, ngay cả đảng Dân chủ Ki-tô giáo thuộc phe trung dung (trước sự ngỡ ngàng của những người theo đảng này), kiểm soát các trường đại học và cử các lãnh đạo quân sự làm hiệu trưởng.
Một thành viên hội đồng quân sự trở thành lãnh đạo của hội đồng, chủ yếu là do tình cờ, gia nhập vào hội đồng vào phút cuối và cũng không chỉ huy kế hoạch đảo chính: Tướng Augusto Pinochet (Ảnh 4.4). Chỉ hai tuần trước cuộc đảo chính, quân đội Chile làm áp lực buộc vị tham mưu trưởng cũ từ nhiệm vì ông ta phản đối sự can thiệp quân sự. Theo mặc định, tham mưu trưởng quân đội mới lại là Pinochet, người chỉ huy một đơn vị quân đội ở vùng Santiago. Ngay cả ở thời điểm đó, Pinochet cũng bị xem là hơi già (58 tuổi). Các tướng lĩnh và chỉ huy quân đội nghĩ rằng họ hiểu đồng đội của mình, CIA cũng thế, nên đã tập trung vào thông tin tán dương ông ta. Đánh giá của CIA về Pinochet: trầm lặng, tính khí mềm mỏng, trung thực, vô hại, thân thiện, siêng năng, thực tế, có đức tin tôn giáo và lối sống giản dị, một người chồng và người cha khoan dung và tròn bổn phận, không có quan tâm nào ngoài quân đội, Giáo hội Công giáo và gia đình – tóm lại, không có khả năng là người lãnh đạo cuộc đảo chính. Hội đồng quân sự mong có một ủy ban bình đẳng với quyền lãnh đạo luân phiên. Họ chọn Pinochet là nhà lãnh đạo đầu tiên chủ yếu vì ông ta là người lớn tuổi nhất, là tham mưu trưởng một binh chủng lớn nhất của Chile (trong quân đội), và có lẽ vì họ cũng nghĩ như CIA là ông ta vô hại. Khi hội đồng quân sự nắm quyền, chính Pinochet cũng tuyên bố rằng lãnh đạo hội đồng sẽ theo hình thức luân phiên.
Nhưng đến khi hết nhiệm kỳ lãnh đạo, Pinochet lại không chịu rời bỏ chức vị. Thay vào đó, ông ta dọa dẫm các thành viên trong hội đồng quân sự bằng một đơn vị mật vụ do ông ta dựng lên. Hàng trăm sự cố được phơi bày liên quan đến những bất đồng chính kiến trong nội bộ hội đồng quân sự nhưng Pinochet vẫn luôn thành công khi làm theo ý mình. Các thành viên trong hội đồng quân sự cũng như CIA và bất kỳ ai khác đều không lường trước được sự tàn nhẫn, sự lãnh đạo kiên quyết và khả năng bám giữ quyền lực của ông ta – cùng lúc đó ông ta vẫn tiếp tục vẽ ra hình ảnh một ông già nhân từ và một người Công giáo mộ đạo, được truyền thông do nhà nước kiểm soát mô tả khi đối xử với con cái và đi lễ nhà thờ.
Chúng ta không thể hiểu được những hành động man rợ xảy ra ở Chile sau ngày 11 tháng 9 năm 1973 nếu không nhận ra vai trò của Pinochet. Cũng như Hitler ở Đức vào giai đoạn thập niên 1930 và 1940, Pinochet dù chỉ là một phần tử trong bối cảnh rộng lớn hơn, lại là một lãnh tụ đã đặt dấu ấn của mình lên tiến trình lịch sử. Ông ta thậm chí còn bí hiểm hơn cả Allende. Trong khi đề cập đến hai giải thích dành cho những hành động của Allende, thì tôi không nghe được bất kỳ giải thích đáng tin cậy nào về sự bạo hành của Pinochet. Như một người bạn Chile giải thích cho tôi: “Tôi không hiểu được tâm lý của Pinochet.”
Ngay khi hội đồng quân sự nắm lấy quyền lực, những nhà lãnh đạo đảng Đoàn kết Nhân dân của Allende và những người được cho là cánh tả (như các sinh viên đại học và ca sĩ hát dân ca nổi tiếng Victor Jara; Ảnh 4.5) bị tập trung lại với mục tiêu hủy diệt các nhà cánh tả theo nghĩa đen. Chỉ trong vòng 10 ngày đầu, hàng ngàn người theo cánh tả bị đưa vào hai sân vận động ở Santiago, bị thẩm vấn, tra tấn, và giết chết. (Chẳng hạn, thi thể của Jara được tìm thấy ở một con kênh bẩn thỉu với 44 lỗ đạn, các ngón tay đều bị chặt đứt, và khuôn mặt thì biến dạng.) Năm tuần sau cuộc đảo chính, đích thân Pinochet ra lệnh cho một tướng lĩnh đi khắp các thành phố ở Chile, được biết dưới danh xưng “Chuyến đi của Thần chết,” để giết hết những tù nhân chính trị và chính trị gia đảng Đoàn kết Nhân dân mà quân đội quá chậm chạp không kịp thực hiện. Hội đồng quân sự cấm đoán mọi hoạt động chính trị, đóng cửa Quốc hội và chiếm lấy các trường đại học.
Hai tháng sau vụ đảo chính, Pinochet thành lập một tổ chức sau chuyển thành DINA (Dirección de Inteligencia Nacional), tổ chức tình báo quốc gia và lực lượng cảnh sát mật. Chỉ huy tổ chức này báo cáo trực tiếp với Pinochet, và tổ chức biến thành nhân tố chính của sự trấn áp. Nó khét tiếng tàn bạo, ngay cả khi đánh giá theo những tiêu chuẩn về sự tàn bạo của các đơn vị tình báo khác thuộc quân đội Chile. Đơn vị này thiết lập mạng lưới các trại giam giữ bí mật, nghĩ ra những phương pháp tra tấn mới và làm nhiều người Chile “biến mất” (sát hại họ không để lại dấu vết). Một trung tâm gọi là La Venda Sexy chuyên cưỡng bức tình dục để lấy thông tin – chẳng hạn, tập trung các thành viên trong gia đình của tù nhân và hành hạ họ ngay trước mặt tù nhân đó, bằng những phương pháp ghê tởm đến nỗi không thể mô tả trên giấy được và sử dụng đến cả loài gặm nhấm và chó được huấn luyện. Nếu có dịp đến Santiago, có một bao tử tốt và không dễ gặp ác mộng, bạn có thể làm một chuyến tham quan một trung tâm giam giữ như thế ở biệt thự Villa Grimaldi, giờ đây đã chuyển thành một bảo tàng.
Vào năm 1974, DINA bắt đầu mở rộng hoạt động ra khỏi biên giới Chile, bắt đầu với Argentina qua vụ đánh bom xe giết chết cựu tham mưu trưởng quân đội Chile, tướng Carlos Prats và người vợ, Sofia, do Prats từ chối gia nhập cuộc đảo chính và Pinochet cho rằng đó là một mối đe dọa tiềm ẩn. Sau đó, DINA tung ra một chiến dịch quốc tế chống khủng bố của chính phủ, mang tên Chiến dịch Thần ưng (Operation Condor), tham dự hội nghị những người đứng đầu ngành cảnh sát mật của Chile, Argentina, Uruguay, Paraguay, Bolivia và cuối cùng là Brazil, để hợp tác trong việc săn đuổi xuyên biên giới những kẻ đào tị, theo cánh tả và những nhân vật chính trị. Hàng trăm người Chile bị theo dõi và giết chết ở các nước Nam Mỹ, châu Âu và thậm chí còn có một vụ ở Mỹ. Trường hợp ở Mỹ xảy ra năm 1976 ngay ở thủ đô Washington D.C., chỉ cách Nhà Trắng 14 khối nhà, khi một quả bom xe phát nổ giết chết nhà cựu ngoại giao Chile Orlando Letelier (bộ trưởng quốc phòng dưới thời Allende) cùng một đồng nghiệp người Mỹ. Như tôi đã đề cập trước đó, đây là trường hợp duy nhất mà một tên khủng bố nước ngoài sát hại một công dân Mỹ ngay trên đất Mỹ – trước khi xảy ra vụ tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới năm 2001.
Vào khoảng năm 1976, chính phủ của Pinochet đã bắt giữ 130.000 người Chile, hay 1% dân số Chile. Tuy sau cùng đa số đó cũng được thả, nhưng các nhân viên của hội đồng quân sự cũng đã kịp giết và làm “biến mất” hàng ngàn người (hầu hết đều dưới độ tuổi 35) cùng với bốn công dân Mỹ và các công dân nước khác. Những vụ sát hại này thường là bị tra tấn trước khi giết, một phần để nhằm khai thác thông tin. Dù vậy, cũng không rõ việc tra tấn được thúc đẩy do động cơ bạo hành đến mức độ nào; các sinh viên Chile mà tôi cùng thảo luận về vấn đề này đều đưa ra hai động cơ. Có khoảng 100.000 người lâm vào cảnh tha hương, và nhiều người không bao giờ trở lại.
Người ta phải đặt câu hỏi là tại sao một nước vốn trước đây theo chế độ dân chủ lại trỗi dậy những tiềm ẩn hành vi về số lượng giết người và bạo hành đến thế, vượt xa những cuộc can thiệp quân sự trước đó trong tiến trình lịch sử của Chile. Câu trả lời một phần nằm ở sự phân cực ngày càng gia tăng, bạo lực, sự phá vỡ những thỏa hiệp chính trị, và lên đến cực điểm dưới thời Allende khi trang bị vũ khí cho những người cực tả và trong câu cảnh báo “Yakarta viene” về vụ thảm sát do phái cực hữu gây ra đang treo lơ lửng trên đầu. Những thiết kế theo đường lối Marxist và mối liên kết với Cuba, còn hơn cả những chương trình của cánh tả ở Chile trước đó, khiến quân đội cảm thấy lo sợ và phải sẵn sàng tiến hành các hành động ngăn ngừa. Một phần khác của câu trả lời, theo những người Chile tôi từng nói chuyện, lại dính dáng đến chính Pinochet, một con người bất thường dù có vẻ bình thường khi tìm cách tạo dựng hình tượng như một lão già Công giáo hiền từ, ngoan đạo. Một số tài liệu gắn trực tiếp Pinochet với các hành động tàn ác; mà có lẽ cận kề nhất cho thông tin chứng minh ông ta là kẻ thủ ác chính là việc ông ta cho tiến hành Chuyến đi của Thần chết. Nhiều người Chile thuộc cánh hữu vẫn tin rằng Pinochet không đích thân ra lệnh tra tấn và giết người mà chính những vị tướng và lãnh đạo khác đã làm điều đó. Nhưng tôi thấy thật khó tin rằng Pinochet có thể gặp viên chỉ huy lực lượng mật vụ (DINA) hằng tuần, thậm chí hằng ngày, hoặc nhiều sĩ quan khác trong quân đội Chile dám luân phiên tra tấn mà không có chỉ thị rõ ràng của Pinochet.
Vì thế, cũng giống như Hitler, Pinochet dường như là điển hình của một nhà lãnh đạo xấu xa đã làm thay đổi tiến trình lịch sử. Nhưng chưa hết, những tội ác của quân đội Chile không thể quy vào mỗi Pinochet, vì không ai cho rằng cá nhân ông ta có thể bắn hay tra tấn ai được. Ở đỉnh điểm, DINA có đến 4.000 nhân viên mà công việc chỉ là thẩm vấn, tra tấn và giết người. Tôi không diễn giải điều đó để có ý cho rằng hầu hết những người Chile là độc ác vô song: mọi quốc gia đều có hàng ngàn người rối loạn nhân cách chống đối xã hội (sociopath) có thể phạm tội ác nếu được ra lệnh hay chỉ cần được phép làm điều đó. Chẳng hạn, bất kỳ người nào từng bị giam giữ, dù ở các nước mà cái ác thường không phổ biến như Anh hay Mỹ, hoặc từng gặp xui rủi khi gặp phải những tù nhân mắc chứng bạo dâm và đám cai ngục không được ra lệnh bạo hành một cách rõ ràng, thì có thể hình dung được những tù nhân và cai ngục đó sẽ cư xử ra sao khi họ thật sự được phép bạo hành một cách công khai.
Ngoài việc triệt tiêu những người cánh hữu, một nỗ lực khác của chế độ độc tài Pinochet là tái cơ cấu nền kinh tế Chile dựa trên nền tảng kinh tế thị trường, chuyển đổi nguyên tắc mở rộng sự can thiệp của chính phủ trước đó. Sự chuyển đổi này không diễn ra trong giai đoạn một năm rưỡi đầu tiên Pinochet nắm quyền lực, khi nền kinh tế tiếp tục co cụm, lạm phát vẫn dai dẳng và nạn thất nghiệp vẫn gia tăng. Nhưng từ 1975 trở đi, Pinochet để việc quản lý kinh tế cho một nhóm tư vấn kinh tế tân-tự do được biết dưới tên gọi Các chàng trai Chicago (Chicago Boys), vì nhiều người trong số họ học ở Đại học Chicago có liên hệ với kinh tế gia Milton Friedman. Những chính sách của họ nhấn mạnh đến doanh nghiệp tự do, thương mại tự do, định hướng thị trường, cân đối ngân sách, giảm lạm phát, hiện đại hóa các doanh nghiệp Chile và giảm sự can thiệp của chính phủ.
Các chính phủ quân sự Nam Mỹ luôn thích một nền kinh tế mà họ có thể kiểm soát nhằm phục vụ cho lợi ích của mình hơn là một nền kinh tế thị trường tự do mà họ không kiểm soát được. Vì lý do đó, việc hội đồng quân sự chấp nhận các chính sách của nhóm Các chàng trai Chicago đúng là một điều bất ngờ, và người ta vẫn còn không biết chắc lý do tại sao nó lại xảy ra. Điều này có khả năng không xảy ra nếu không có bàn tay của Pinochet, vì các chính sách đó bị một số chỉ huy cấp cao của giới quân sự chống đối, gồm cả một thành viên hội đồng (tướng không quân Gustavo Leigh), người mà cuối cùng Pinochet ép phải từ nhiệm vào năm 1978. Việc chấp nhận có khi được cho là do chuyến thăm Chile năm 1975 của Milton Friedman, ông gặp gỡ Pinochet trong 45 phút, và việc tiếp theo sau cuộc gặp là ông gửi cho Pinochet một bức thư dài đầy những đề xuất. Nhưng khi rời khỏi cuộc gặp, Friedman đánh giá thấp Pinochet, vốn chỉ hỏi Friedman một câu hỏi trong suốt cuộc nói chuyện. Thực ra, chương trình của nhóm Các chàng trai Chicago khác xa những đề xuất của Friedman và đưa ra những kế hoạch chi tiết mà các kinh tế gia Chile đã trình bày trong một tài liệu có biệt danh “viên gạch” (vì nó quá dài dòng và nặng nề).
Một lời giải thích khả dĩ đó là Pinochet nhận thấy ông ta không biết gì về kinh tế học, phác họa mình như (hay từng) là một con người đơn giản, và cảm thấy bị thu hút bởi những đề xuất đơn giản, thích hợp và đầy thuyết phục của nhóm này. Một nhân tố khác có thể là do Pinochet nhận ra nhóm Các chàng trai Chicago và chính sách của họ cùng với Mỹ đều ủng hộ ông ta mạnh mẽ, cùng chia sẻ quan điểm thù ghét những người cộng sản và phục hồi các khoản vay dành cho Chile ngay sau vụ đảo chính của Pinochet. Đúng như một số hành động khác của Pinochet (và Allende), những động cơ trong trường hợp này cũng không rõ ràng.
Dù động cơ có là gì đi nữa, thì kết quả của các chính sách thị trường tự do bao gồm việc tái tư nhân hóa hàng trăm doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước được quốc hữu hóa dưới thời Allende (ngoại trừ các công ty khai thác đồng); giảm thâm hụt của chính phủ bằng việc cắt giảm về mọi mặt ngân sách các bộ phận chính phủ từ 15% đến 25%; giảm thuế nhập khẩu bình quân từ 120% xuống 10%; và mở cửa nền kinh tế Chile cho cạnh tranh quốc tế. Điều này khiến chương trình của nhóm Các chàng trai Chicago bị nhóm quyền lực tập trung gồm các nhà tư bản công nghiệp và gia đình có thế lực truyền thống chống đối, do doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả của họ trước đây được bảo vệ khỏi cạnh tranh quốc tế bằng việc đánh thuế cao, còn bây giờ buộc phải cạnh tranh và đổi mới. Nhưng các kết quả hiện tiền là tỉ lệ lạm phát giảm từ 600% mỗi năm dưới thời Allende xuống chỉ còn 9%, nền kinh tế Chile tăng trưởng ở mức gần 10% mỗi năm, đầu tư nước ngoài tăng cao, mức tiêu dùng của người Chile cũng tăng, và các mặt hàng xuất khẩu cuối cùng cũng đa dạng và gia tăng.
Các kết quả tích cực này không phải không có những trục trặc và hậu quả đau đớn. Một quyết định rủi ro là neo giá trị đồng peso Chile vào đồng đô la Mỹ đã tạo ra một khoản thâm hụt thương mại lớn và một biến cố kinh tế vào năm 1982. Lợi ích kinh tế của Chile không được phân phối công bằng: giới trung lưu và thượng lưu thì giàu có, nhưng nhiều người khác lại gánh chịu cực khổ và thấy mình vẫn sống dưới mức nghèo. Trong một xã hội dân chủ thì sẽ khó để bắt người dân nghèo Chile gánh chịu tổn thương, cũng như áp đặt những chính sách của chính phủ bị các nhóm doanh nghiệp đầu sỏ giàu có chống đối. Điều này chỉ khả thi dưới một chế độ độc tài áp bức. Một người bạn Chile, tuy vẫn không có cảm tình với Pinochet, giải thích với tôi: “Vâng, nhưng đã có quá nhiều người dân Chile phải gánh chịu những vấn đề kinh tế trước đó dưới thời Allende, họ không hi vọng gì vào một sự cải thiện.” Khi mọi sự được phơi bày rõ ràng là chế độ hội đồng quân sự không còn là một giai đoạn chuyển tiếp tạm thời mà dự định vẫn tiếp tục nắm quyền lực, nhiều người Chile thuộc tầng lớp trung và thượng lưu dù vậy vẫn tiếp tục ủng hộ Pinochet do sự cải thiện nền kinh tế này (được phân phối bất bình đẳng), bất chấp sự đàn áp của chính phủ. Chủ nghĩa lạc quan và có chút thở phào nhẹ nhõm về việc chấm dứt sự hỗn loạn kinh tế xuất hiện dưới thời Allende đã nảy sinh trong lòng người dân Chile, những người nằm ngoài các bộ phận xã hội bị tra tấn hay giết chóc.
Cũng như nhiều người dân Chile, chính phủ Mỹ ủng hộ Pinochet trong hơn một nửa thời gian ông ta nắm quyền lãnh đạo Chile như một nhà độc tài quân sự – ở trường hợp của Mỹ là vì lập trường chống cộng mạnh mẽ của ông ta. Chính sách của Mỹ là gia tăng hỗ trợ về mặt kinh tế và quân sự cho Chile và công khai phủ nhận những ngược đãi vi phạm nhân quyền của Pinochet, ngay cả khi có những người bị tra tấn và giết hại là công dân Mỹ. Như ngoại trưởng Kissinger đã diễn đạt: “… tuy họ [hội đồng quân sự] hành động không dễ chịu chút nào, nhưng đối với chúng ta thì dù sao chính phủ này [chính phủ của Pinochet] cũng tốt hơn chính phủ của Allende.” Sự ủng hộ Pinochet và làm ngơ với những ngược đãi của ông ta từ chính phủ Mỹ tiếp tục kéo dài qua mấy đời tổng thống Mỹ Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter và thời kỳ ban đầu của Ronald Reagan.
Nhưng từ giữa thập niên 1980 trở đi, có hai điều đã khiến chính phủ Mỹ chống lại Pinochet. Một là những chứng cứ về sự bức hại ngày càng tích lũy, trong đó có những vụ bức hại công dân Mỹ – những chứng cứ khó làm ngơ được càng lúc càng gia tăng; và bước ngoặt là vụ giết hại thảm khốc Rodrigo Rojas, một thiếu niên Chile có thẻ cư trú hợp pháp ở Mỹ, khi cậu ta bị lính Chile tưới xăng và đốt cháy. Một nhân tố khác khiến chính quyền Reagan chống lại Pinochet là do suy thoái kinh tế Chile trong giai đoạn 1982-1984, khiến công chúng Chile chống đối Pinochet. Do sự phục hồi kinh tế từ năm 1984 trở về sau không cải thiện được đời sống của nhiều người dân, nên cánh tả ở Chile lại giành được sức mạnh, Giáo hội Công giáo Chile trở thành nơi tập trung công khai sự chống đối (dù Pinochet là một giáo dân mộ đạo), và ngay cả quân đội cũng không hài lòng đối với ông ta. Tóm lại, Pinochet không chỉ là một kẻ ác: còn tệ hơn nữa theo quan điểm của chính quyền Mỹ, ông ta đã trở thành một gánh nặng cho lợi ích chính trị của Mỹ.
Vào năm 1980, hội đồng quân sự đề xuất một hiến pháp mới để bám giữ những lợi ích của cánh hữu và phe quân đội, đồng thời yêu cầu cử tri hợp thức hóa Pinochet bằng việc bỏ phiếu kéo dài nhiệm kỳ tổng thống thành tám năm (từ năm 1981 đến năm 1989). Sau chiến dịch bầu cử được hội đồng quân sự kiểm soát chặt chẽ, đa số cử tri Chile bỏ phiếu đồng thuận với hiến pháp mới và gia hạn nhiệm kỳ tổng thống. Khi nhiệm kỳ gia hạn đó gần đến năm 1989, hội đồng quân sự lại tuyên bố trưng cầu dân ý vào năm 1988 để kéo dài nhiệm kỳ của Pinochet thêm tám năm nữa cho đến 1997 khi ông ta đã 82 tuổi. Dù vậy, lần này Pinochet đã tính toán sai lầm và bị các đối thủ của mình vượt mặt. Mối quan tâm quốc tế buộc chiến dịch này phải tiến hành công khai, và việc bỏ phiếu phải trung thực. Mỹ dốc nguồn lực ủng hộ phe chống đối, tổ chức một nỗ lực to lớn để đăng ký 92% cử tri tiềm năng, nâng lên thành một chiến dịch được vạch ra một cách sáng tạo xoay quanh khẩu hiệu đơn giản “Không!” (Ảnh 4.6). Trước sự kinh ngạc của Pinochet, chiến dịch “Không!” lại thắng thế với 58% số phiếu bầu. Mặc dù phản ứng ban đầu của Pinochet vào đêm bầu cử là cố phủ nhận kết quả bầu cử, nhưng các thành viên khác trong hội đồng quân sự đã buộc ông ta phải chấp nhận nó. Song, vẫn còn 42% người Chile bỏ phiếu cho Pinochet trong cuộc bầu cử tự do năm 1988.
Với chiến thắng “Không!,” các đối thủ của Pinochet cuối cùng cũng có cơ hội trở lại nắm quyền trong cuộc bầu cử dự kiến năm 1990. Nhưng những người tham gia chiến dịch “Không!” lại có đến 17 nhóm khác nhau, với 17 tầm nhìn khác nhau cho đất nước Chile thời kỳ hậu Pinochet. Do đó, Chile có nguy cơ rơi vào vết xe đổ của các thể chế dân chủ khối Đồng minh từng đánh bại Nhật và Đức trong Thế chiến II, theo như Winston Churchill đã viết trong chương cuối của Triumph and Tragedy (Thắng lợi và Bi kịch), cuốn sách về lịch sử Thế chiến II gồm 16 chương, “Các thể chế dân chủ vĩ đại đã thắng lợi, và vì thế có thể tiếp tục những hành động điên rồ mà họ gần như phải trả giá bằng mạng sống.” Một câu hỏi tương tự cũng đang treo lơ lửng cho Chile: liệu người Chile có tiếp tục những điều điên rồ của sự không khoan nhượng và thái độ không thỏa hiệp vốn đã khiến nhiều người phải trả giá bằng mạng sống và khiến đất nước họ phải trả giá bằng chính quyền dân chủ hay không?
Về các đối thủ cánh tả của Pinochet không bị ông ta giết, có 100.000 người đào tẩu ra nước ngoài, bắt đầu khoảng năm 1973. Họ vẫn phải sống lưu vong trong một thời gian dài, khoảng 16 năm (cho đến năm 1989). Vì thế, họ có đủ thời gian để ngẫm lại về sự không khoan nhượng trước đây của mình. Một số người đến Đông Âu hoặc Tây Âu, nơi họ có nhiều năm quan sát những người theo phái xã hội, cộng sản và những người cánh tả khác ở các nước châu Âu hoạt động như thế nào hay sống ra sao. Những người sống lưu vong ở Đông Âu có khuynh hướng trở nên thất vọng khi nhận ra các nhà lý tưởng cánh tả cố chấp nắm quyền lại không tạo ra hạnh phúc cho dân tộc. Những kẻ đào tẩu sang Tây Âu thay vì quan sát những chế độ dân chủ xã hội ôn hòa đang hành động, thì chỉ thấy mức sống cao và một bầu khí chính trị tĩnh lặng hơn bầu khí đã phổ biến ở Chile. Họ thấy rằng những người cánh tả không cần phải cấp tiến và cố chấp, mà họ vẫn có thể đạt được nhiều mục tiêu của mình bằng thương thảo hay thỏa hiệp với những người khác quan điểm chính trị. Những người sống lưu vong còn chứng kiến sự sụp đổ của Liên Xô và các chính quyền cộng sản ở Đông Âu, và cuộc đàn áp biểu tình đẫm máu ở Chile vào năm 1989. Tất cả những quan sát trên đã xoa dịu chủ nghĩa cực đoan và những người Chile cánh tả có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản.
Trong suốt chiến dịch “Không!” năm 1989, những người có quan điểm khác nhau ủng hộ chiến dịch này nhận ra rằng họ không thể thắng nếu không học cách hợp tác với nhau. Họ cũng nhận ra rằng Pinochet vẫn nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong cộng đồng doanh nhân và giới thượng lưu Chile, và họ không thể thắng hay (giả như họ thắng) không bao giờ được phép thâu tóm quyền lực, trừ phi những người ủng hộ Pinochet được bảo đảm an toàn cá nhân trong thời kỳ hậu Pinochet. Tuy đau khổ vì viễn cảnh đó, nhưng cánh tả phải học cách khoan dung đối với kẻ thù cũ, những người mà họ vốn không ưa quan điểm và thái độ ứng xử của những người này đối với họ từng rất khủng khiếp. Họ phải tuyên bố ước muốn xây dựng “một đất nước Chile cho mọi người Chile”: mục tiêu mà Patricio Aylwin, tổng thống dân chủ đầu tiên được bầu lên sau Pinochet, tuyên bố trong bài diễn văn nhậm chức ngày 12 tháng 3 năm 1990.
Vì thế, một khi sự liên minh của 17 nhóm “Không!” chiến thắng trong cuộc trưng cầu dân ý, thì liên minh cánh tả lại đối mặt với điều thiết yếu là thuyết phục phe trung dung thuộc đảng Dân chủ Ki-tô giáo của liên minh rằng không có gì phải sợ hãi một chính quyền mới thuộc cánh tả và họ cũng không cực đoan như chính phủ cánh tả dưới thời Allende. Do đó, các đảng phái cánh tả và trung dung mới kết hợp lại thành một liên minh gọi là Concertación. Những người cánh tả đồng ý rằng, nếu liên minh chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1990 (quả đúng như thế), thì chức vụ tổng thống sẽ do hai phe luân phiên nắm giữ, và sẽ để người của đảng Dân chủ Ki-tô giáo làm tổng thống trước. Phe cánh tả đồng ý các điều kiện đó vì chỉ bằng phương cách đó thì rốt cuộc họ mới có thể quay trở lại nắm quyền được.
Thực vậy, liên minh Concertación liên tục chiến thắng trong bốn cuộc bầu cử giai đoạn đầu tiên thời hậu Pinochet, vào các năm 1990, 1993, 2000 và 2006. Hai tổng thống đầu tiên là người của đảng Dân chủ Ki-tô giáo, Patricio Aylwin và Eduardo Frei, Jr. (con trai của cựu tổng thống Eduardo Frei). Hai tổng thống tiếp đó là người của đảng xã hội Ricardo Lagos và Michelle Bachelet; người sau là nữ tổng thống đầu tiên và cũng là con gái của một vị tướng đã bị hội đồng quân sự của Pinochet tra tấn và giam giữ. Vào năm 2010, liên minh Concertación bị đánh bại bởi một tổng thống cánh hữu (Sebastian Pinera), năm 2014 Tổng thống Bachelet phe xã hội trở lại quyền lực, và năm 2018 lại đến Tổng thống phe hữu Pinera. Vì thế, đất nước Chile thời kỳ hậu Pinochet chuyển đổi để trở thành một thể chế dân chủ không theo quy tắc nào ở châu Mỹ Latin, nhưng với một thay đổi có chọn lọc lớn lao: một ước muốn khoan dung, thỏa hiệp và luân phiên chia sẻ quyền lực.
Bên cạnh việc từ bỏ tính cố chấp, thay đổi chính yếu khác về đường hướng của các chính phủ liên minh dân chủ mới Concertación so với các chính phủ dân chủ thời kỳ tiền Pinochet là về chính sách kinh tế. Các chính phủ mới vẫn tiếp tục theo đuổi hầu hết các chính sách kinh tế thị trường tự do thời Pinochet, vì những chính sách này rốt cuộc được cho là mang lại lợi ích lớn lao. Thực vậy, các chính phủ liên minh Concertación còn đưa những chính sách này đi xa hơn, bằng cách giảm thuế quan nhập khẩu đến mức bình quân chỉ 3% vào năm 2007, mức thấp nhất thế giới. Các hiệp ước tự do mậu dịch được ký với Mỹ và Liên minh Châu Âu. Thay đổi chính yếu được liên minh Concertación đưa vào các chính sách kinh tế của chính quyền quân sự được áp dụng là gia tăng chi tiêu chính phủ vào các chương trình xã hội và cải cách luật lao động.
Kết quả là, từ sự thay đổi chính quyền năm 1990, nền kinh tế Chile đã có tỉ lệ tăng trưởng đầy ấn tượng, và dẫn đầu các nước Mỹ Latin về kinh tế. Thu nhập bình quân ở Chile chỉ bằng 19% ở Mỹ vào năm 1975; đến năm 2000, tỉ lệ này đã lên đến 44%, trong khi thu nhập bình quân của các nước Mỹ Latin còn lại rớt xuống trong cùng thời điểm. Tỉ lệ lạm phát ở Chile cũng thấp, luật pháp thì nghiêm minh, các quyền sở hữu tài sản cá nhân được bảo vệ, và nạn tham nhũng lan tràn mà tôi gặp phải trong chuyến thăm Chile năm 1967 đã giảm. Một hệ quả (đồng thời cũng là một phần nguyên nhân) của môi trường kinh tế được cải thiện này là việc đầu tư nước ngoài tăng gấp đôi xảy ra nhanh chóng trong bảy năm đầu tiên khôi phục nền dân chủ.
Ngày nay, Santiago trông hoàn toàn khác hẳn những gì tôi biết vào năm 1967. Nó mọc đầy những tòa nhà chọc trời (trong đó có tòa nhà cao nhất châu Mỹ Latin) với một hệ thống xe điện ngầm và một sân bay mới. Tuy nhiên, hiệu suất kinh tế Chile còn xa mới đạt được thành quả phân phối đều khắp cho mọi người. Tính thiếu bình đẳng kinh tế vẫn còn cao, động lực thúc đẩy kinh tế-xã hội vẫn còn thấp, và cũng như trước đây, Chile lại tiếp tục là một vùng đất của mâu thuẫn giàu nghèo, mặc dù người giàu hiện nay thường là các doanh nhân cầm đầu thuộc thế hệ mới chứ không phải là những điền chủ có đất đai rộng lớn trước đây. Nhưng về mặt tổng thể, cải thiện lớn lao của nền kinh tế Chile chính là, trong khi khoảng cách tương đối giữa người giàu và người nghèo vẫn duy trì, thì tình trạng kinh tế tuyệt đối của người nghèo trở nên tốt hơn. Tỉ lệ người Chile sống dưới ngưỡng nghèo giảm từ mức 24% trong năm cuối cùng Pinochet nắm quyền lực xuống chỉ còn 5% vào năm 2003.
Chiến thắng của chiến dịch “Không!” trong cuộc bỏ phiếu năm 1989 không có nghĩa rằng Chile đã được giải thoát khỏi Pinochet và lực lượng quân đội. Trái lại, trước khi rời khỏi cương vị tổng thống, Pinochet được ban hành pháp chế công nhận ông ta là nghị-sĩ-trọn-đời, cho phép ông ta bổ nhiệm một số thẩm phán Tòa án Tối cao mới, và vẫn giữ chức tổng tư lệnh quân đội cho đến khi ông ta về hưu ở tuổi 83. Điều này có nghĩa rằng Pinochet, và mối đe dọa ẩn tàng của một cuộc đảo chính quân đội, vẫn hiện diện trong tâm trí của các nhà lãnh đạo dân chủ. Như một người bạn Chile giải thích cho tôi: “Điều này như thể sau khi Đức Quốc xã đầu hàng vào ngày 9 tháng 5 năm 1945, Hitler không tự tử mà vẫn làm nghị-sĩ-trọn-đời và tổng tư lệnh quân đội Đức.” Để gia tăng thêm vị thế quân đội, hiến pháp của Pinochet còn kèm một điều khoản (đến nay vẫn còn hiệu lực) ghi rõ rằng 10% thu nhập bán ra từ việc khai thác đồng của quốc gia (đúng là bán ra chứ không phải lợi nhuận) hằng năm phải đưa vào ngân sách quân đội. Điều này cho phép quân đội Chile có một khoản tài chính vượt xa số tiền cần có để bảo vệ Chile khỏi bất kỳ mối đe dọa hiện hữu nào từ nước ngoài – một điều đặc biệt khi xét đến cuộc chiến gần nhất (đây chỉ là cuộc chiến thứ hai) đã kết thúc từ hơn một thế kỷ trước, vào năm 1883, trong khi biên giới Chile lại được bao bọc bởi đại dương, sa mạc và núi cao, đồng thời các nước láng giềng với Chile (Argentina, Bolivia, Peru) lại chẳng nguy hiểm chút nào. Thay vào đó, mục đích khả dĩ duy nhất để sử dụng quân đội Chile chính là nhằm chống lại người dân của chính họ.
Hiến pháp Chile được chấp thuận dưới thời Pinochet có ba điều khoản có lợi cho cánh hữu. Một điều khoản chỉ rõ rằng trong số 35 nghị sĩ Thượng viện thì có 10 người không do công chúng bầu ra mà lại được tổng thống chỉ định từ một danh sách có khả năng chỉ gồm những người theo cánh hữu (chẳng hạn như các cựu tư lệnh lục quân và hải quân); còn những cựu tổng thống thì trở thành nghị-sĩ-trọn-đời. Điều khoản thứ nhì (mãi đến năm 2015 mới xóa bỏ) ghi rõ rằng mỗi khu vực bầu cử Quốc hội bầu hai đại biểu, người đầu chỉ cần đạt được đa số phiếu tương đối, nhưng người sau cần phải đạt đa số phiếu 80%; điều này khiến bất kỳ khu vực bầu phiếu nào cũng khó có thể chọn được hai đại biểu cánh tả. Điều khoản cuối đòi hỏi phải có 5/7 đa số phiếu cử tri mới có thể thay đổi hiến pháp – nhưng trong một chế độ dân chủ (đặc biệt ở chế độ đã bị rạn nứt như Chile) để đạt 5/7 cử tri đồng thuận thì lại rất khó. Kết quả là, mặc dù đã nhiều thập niên qua đi kể từ khi Pinochet bị bỏ phiếu rời khỏi chức vụ tổng thống, Chile vẫn vận hành dưới một phiên bản hiến pháp của ông ta, mà hầu hết người dân Chile xem là bất hợp pháp.
Thật đau xót cho bất kỳ đất nước nào phải thừa nhận, đồng thời chuộc lỗi, cho các hành vi xấu xa mà quan chức nhà nước phạm phải đối với công dân nước mình hay các nước khác. Điều này thật đau xót vì không gì có thể sửa đổi quá khứ, và thường thì những thủ phạm vẫn còn sống, không ăn năn hối lỗi, đầy quyền lực và vẫn được ủng hộ. Sự thừa nhận và cứu chuộc lại đặc biệt khó khăn đối với đất nước Chile, vì Pinochet vẫn được đa số cử tri ủng hộ, ngay cả trong cuộc trưng cầu dân ý tự nguyện năm 1989, vì Pinochet vẫn còn là tổng tư lệnh quân đội, và vì chính quyền dân chủ có lý do để sợ xảy ra một vụ đảo chính quân sự khác nếu tiến hành truy tố những thủ phạm bên quân đội. Trong cả hai trường hợp – khi con trai của Pinochet bị tiến hành điều tra, và khi một ủy ban nhân quyền bắt đầu việc điều tra những vụ bức hại – thì binh lính trang bị binh phục đầy đủ xuất hiện trên các đường phố. Việc họ xuất hiện chỉ được cho là một “diễn tập theo định kỳ” – nhưng mối đe dọa tiềm ẩn đối với mọi người là quá rõ ràng.
Patricio Aylwin, tổng thống đầu tiên sau Pinochet, tiến hành việc khởi tố một cách cẩn thận. Khi ông hứa công lý sẽ được thực thi “trong phạm vi có thể” thì người Chile đặt hi vọng vào việc xem xét này đã cảm thấy vỡ mộng và sợ rằng câu nói của ông chỉ là một uyển ngữ cho “không có công lý nào cả.” Nhưng Aylwin đã lập một Ủy ban Sự thực và Hòa giải, trong năm 1991 đã đưa ra danh sách tên tuổi của 3.200 người Chile bị giết hại hoặc “biến mất,” và một ủy ban thứ nhì vào năm 2003 báo cáo về nạn tra tấn. Trên truyền hình, Aylwin nói gần như khóc khi ông thay mặt chính quyền Chile cầu xin những gia đình nạn nhân tha thứ. Những lời xin lỗi chân thành từ trái tim của các lãnh đạo chính phủ về những hành động tàn bạo của chính quyền ngày càng trở nên hiếm hoi trong lịch sử hiện đại; tương đồng gần nhất là lời xin lỗi chân thành của Thủ tướng Đức Willy Brandt tại khu Warsaw Ghetto gửi đến các nạn nhân của chính quyền Quốc xã trước đó (xem chi tiết ở Chương 6).
Một bước ngoặt trong vụ điều tra Pinochet là trát bắt giữ ông ta năm 1998 của chính phủ Anh khi ông đến một bệnh viện ở London để điều trị y tế. Trát tòa này được phát ra theo yêu cầu của một thẩm phán Tây Ban Nha đòi dẫn độ Pinochet đến Tây Ban Nha để trả lời cho những tội ác chống lại loài người, đặc biệt là việc giết hại những công dân Tây Ban Nha. Các luật sư của Pinochet đầu tiên cãi rằng Pinochet phải được miễn trừ truy tố vì việc tra tấn và giết người được thực hiện theo chức năng hợp pháp của chính quyền. Nhưng khi Thượng viện Anh bác bỏ biện hộ đó, thì luật sư của ông ta lại tuyên bố rằng ông ta đã già yếu và nên được thả ra vì những lý do nhân đạo. Luật sư chỉ cho phép được chụp ảnh ông ta khi đang ngồi trên xe lăn. Sau 503 ngày bị quản thúc tại gia, bộ trưởng nội vụ Anh từ chối yêu cầu dẫn độ của Tây Ban Nha, vì Pinochet được cho là thiếu khả năng biện hộ ở phiên tòa, nhưng có lẽ là do chính phủ Chile đã giúp đỡ Anh trong Chiến tranh Falkland giữa Anh với Argentina năm 1982. Sau đó, Pinochet lập tức bay về Chile. Khi phi cơ hạ cánh, ông ta rời xe lăn, đứng lên bước ra khỏi đường băng và bắt tay những tướng lĩnh có mặt để chào mừng (Ảnh 4.7).
Nhưng ngay cả những người cánh hữu cũng bị sốc khi một tiểu ban Thượng viện Mỹ tiết lộ rằng Pinochet đã cất giấu 30 triệu đô la trong 125 tài khoản ngân hàng bí mật ở Mỹ. Dù những người cánh hữu sẵn sàng khoan dung với những vụ tra tấn và giết hại, thì họ cũng vỡ mộng khi biết rằng Pinochet, một con người được cho là khác với, và tốt hơn, các nhà độc tài không trung thực ở Mỹ Latin, lại ăn cắp và giấu giếm tiền bạc. Tòa án Tối cao Chile tước quyền miễn trừ truy tố do đặc quyền nghị-sĩ-trọn-đời của Pinochet. Cơ quan thuế Chile (tương đương Sở Thuế vụ Mỹ) đưa ra một khiếu nại dành cho Pinochet về việc làm giả hồ sơ hoàn thuế (có thể các giới chức thẩm quyền lấy cảm hứng từ vụ tay xã hội đen Mỹ khét tiếng Al Capone đã tránh được bị kết tội giết người và ra lệnh giết người, buôn lậu và điều hành đường dây cờ bạc và gái điếm thành công, nhưng cuối cùng vẫn vào tù vì tội trốn thuế thu nhập của liên bang). Lúc này, Pinochet mới bị truy tố về các tội tài chính và giết người khác, và bị quản thúc tại gia, đồng thời vợ và bốn người con của ông ta cũng bị bắt giữ. Nhưng vào năm 2002, ông ta được tuyên bố không đủ năng lực để hầu tòa do bị chứng mất trí. Ông ta chết vì đột quỵ năm 2006, ở tuổi 91.
Cuối cùng, hàng trăm kẻ tra tấn và giết người cũng bị truy tố, và hàng tá người bị tống vào tù – kể cả tướng Manuel Contreras, giám đốc cơ quan tình báo mật DINA của Pinochet, ông ta bị kết án 526 năm tù và vẫn không chịu ăn năn cho đến lúc chết. Nhiều người Chile lớn tuổi vẫn xem những bản án là quá nghiêm khắc và vẫn xem Pinochet là một người tuyệt vời bị đối xử thiếu công bằng; trong khi những người khác lại cho các bản án là quá nhẹ, quá ít và quá muộn màng, chủ yếu chỉ nhằm vào những tội phạm cấp thấp thay vì cả tội phạm cao cấp, và kết quả là họ chỉ bị đưa vào các nhà tù đầy đủ tiện nghi như một khu an dưỡng đặc biệt. Chẳng hạn, mãi đến 2015 các thẩm phán mới kết án 10 sĩ quan quân đội đã giết ca sĩ nổi tiếng Victor Jara vào năm 1973 và 7 sĩ quan khác về tội giết Rodrigo Rojas năm 1986: theo thứ tự 42 và 29 năm sau khi xảy ra những hành động đó. Vào năm 2010, Tổng thống Michelle Bachelet khai trương Bảo tàng Villa Grimaldi ở Santiago trưng bày các tài liệu đầy chi tiết kinh hoàng của các vụ tra tấn và giết người dưới thời chính phủ quân đội. Hoàn toàn chẳng thể nghĩ tới điều này chừng nào Pinochet vẫn còn làm tổng tư lệnh quân đội.
Người Chile vẫn phải đánh vật với tình trạng khó xử về mặt đạo đức khi làm thế nào để cân phân các mặt tích cực và tiêu cực của chính phủ quân sự trước đó của đất nước mình: đặc biệt, tình trạng khó xử trong việc làm thế nào để cân đối những lợi ích kinh tế và những tội ác của chính phủ này. Tình trạng này không thể giải quyết được. Một câu hỏi đơn giản là: Tại sao lại cứ phải cân phân giữa lợi ích và tội ác? Tại sao không chỉ công nhận rằng chính phủ quân sự làm cùng hai điều là lợi ích và tội ác? Nhưng người dân Chile đã phải cân phân như vậy trong cuộc trưng cầu ý dân năm 1989, khi họ được quyền chỉ chọn “đồng ý” hoặc “không đồng ý” giữ Pinochet làm tổng thống thêm tám năm nữa, và họ không thể bỏ phiếu cho việc “đồng ý, nhưng…” hay “không đồng ý, nhưng…” Đối mặt với chọn lựa đó, 42% người Chile đã bỏ phiếu “đồng ý” mặc cho những hành động kinh tởm tiếp tục được trưng bày ở Bảo tàng Villa Grimaldi. Trong khi hầu hết lớp người trẻ khinh rẻ Pinochet, thì sự phân chia quan điểm giữa những người lớn tuổi đủ để còn nhớ những năm tháng dưới thời Allende và Pinochet là một minh họa cho tôi khi phỏng vấn hai cặp vợ chồng người Chile. Ở mỗi trường hợp, người chồng và người vợ đều yêu cầu tôi phỏng vấn riêng từng người vì quan điểm của họ về những vấn đề đau thương như vậy cũng khác biệt. Ở mỗi trường hợp, người chồng nói với tôi, trên thực tế “các chính sách của Pinochet làm lợi cho Chile về mặt kinh tế, nhưng các vụ tra tấn và giết chóc của ông ta thì không thể tha thứ được.” Các người vợ thì nói với tôi, trên thực tế “những vụ tra tấn và giết chóc của Pinochet là độc ác, nhưng ông phải hiểu rằng các chính sách của ông ta lại làm lợi cho Chile về mặt kinh tế.”
Từ góc nhìn trong khuôn khổ cuốn sách của tôi về những nhân tố tạo điều kiện thuận lợi hay cản trở kết quả của biến cố, Chile minh họa rất nhiều điều.
Đầu tiên, những thay đổi ở Chile thực sự có chọn lọc và lớn lao (nhân tố số 3 ở Bảng 1.2). Ban đầu, Chile phá vỡ truyền thống lâu dài về sự can thiệp quân sự tối thiểu của quốc gia này, cũng như giải quyết sự căng thẳng kéo dài giữa sự can thiệp về kinh tế của chính phủ và cách tiếp cận không can thiệp về kinh tế của chính phủ bằng việc thực thi một sự chuyển đổi quyết liệt sang cách tiếp cận không can thiệp. Cuối cùng, khi sự chuyển dịch can thiệp quân sự bị đảo ngược, thì sự thay đổi đó tự thân cũng có chọn lọc: vâng, chính phủ dân chủ được phục hồi, nhưng sự thay đổi sang nền kinh tế thị trường tự do mà bên quân đội đã đưa ra vẫn được giữ lại. Điều này trở thành một trong những thay đổi có chọn lọc kéo dài, cũng minh họa cho tính linh động đáng chú ý (nhân tố số 10): những người chủ nghĩa xã hội cuối cùng cũng trở lại quyền lực đã từ bỏ cam kết với chủ nghĩa xã hội và tiếp tục các chính sách kinh tế của chính phủ quân sự đáng ghét. Một thay đổi có chọn lọc kéo dài khác là chấm dứt (ít nhất cũng ở vài thập niên gần đây) những chống đối không khoan nhượng đối với thỏa hiệp chính trị vốn là đặc trưng chính trị quốc gia trong hầu hết lịch sử gần đây của Chile.
Chile đạt được những thay đổi có chọn lọc đó thông qua hai chu kỳ bất định và thất bại (nhân tố số 9). Chu kỳ đầu tiên là nỗ lực thất bại của Allende nhằm giải quyết các vấn nạn kinh tế và xã hội kinh niên của Chile bằng việc không thỏa hiệp và đưa vào một chính phủ Marxist. Chu kỳ thứ hai là nỗ lực thất bại của Pinochet cũng để không thỏa hiệp và để tạo ra một chính phủ quân sự dài hạn và một chức vụ tổng thống gia hạn cho chính ông ta, để rồi bị ngăn chặn do ông ta đã tính toán sai lầm trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1988.
Làm thế nào mà Chile trỗi dậy từ gần 17 năm chịu sự áp bức của giới quân sự và sự tàn bạo phá kỷ lục của chính phủ mà không bị sang chấn tâm lý nặng nề hơn những gì đất nước này đã gánh chịu? Tuy ngày nay Chile vẫn đang đấu tranh với hậu quả của những năm dài dưới thời Pinochet, nhưng tôi ngạc nhiên một cách vui sướng rằng người Chile không còn bị đau khổ dằn vặt nữa. Kết quả đó chính là nhờ vào căn tính quốc gia và niềm kiêu hãnh của người Chile (nhân tố số 6). Người Chile vẫn ôm giữ câu mà những người bạn Chile đã nói với tôi vào năm 1967: “Chile khác với những nước châu Mỹ Latin khác; người Chile chúng tôi biết cách tự cai trị.” Người Chile đã rất nỗ lực để giữ sự khác biệt với những quốc gia Mỹ Latin khác, và để tự điều hành đất nước một cách hiệu quả. Họ sẵn sàng tuân thủ châm ngôn “xây dựng một đất nước Chile cho mọi người Chile” mặc dù những động cơ mạnh mẽ của quá nhiều người Chile là không chấp nhận những kiểu người Chile khác cùng thuộc về đất nước mình. Không có căn tính quốc gia, Chile không thể vượt qua được tình trạng tê liệt về chính trị, và cũng không thể quay trở lại là quốc gia dân chủ và giàu có nhất Mỹ Latin.
Chile minh họa cho đánh giá thực tế và trung thực về sức mạnh ở một giai đoạn, và sự thiếu tính thực tế ở giai đoạn khác (nhân tố số 7). Pinochet và các lãnh đạo chiến hữu của ông ta chứng tỏ họ đã đúng vào năm 1973 khi có thể đánh bại những kẻ thù của mình bên trong và bên ngoài đất nước; Allende chứng tỏ đã sai lầm trong niềm tin rằng ông ta có thể thành công khi dựng lên một chính phủ Marxist ở Chile một cách dân chủ. Điều khác biệt này minh họa thêm cho một sự thật đáng buồn: thành công không nhất thiết sẽ đến với những người công chính có ý hướng tốt, thành công cũng chưa chắc sẽ từ chối những kẻ xấu xa.
Chile minh họa cho vai trò trợ giúp và thiếu trợ giúp từ người khác (nhân tố số 4), và về các hình mẫu để học hỏi (nhân tố số 5). Sự đối nghịch của Mỹ đóng một vai trò trong sự sụp đổ của Allende, và việc phục hồi nhanh chóng sự giúp đỡ kinh tế của Mỹ tiếp sau vụ đảo chính năm 1973 đã đóng một vai trò trong sự tồn tại kéo dài của chính quyền quân sự. Nhận thức của Pinochet (không hoàn toàn đúng trên thực tế) về nền kinh tế Mỹ như là hình mẫu của thị trường tự do đã đóng một vai trò trong việc đi theo chính sách kinh tế của Các chàng trai Chicago.
Tương tự, Chile cũng minh họa cho những thuận lợi của việc tự do hành động và bất lợi của việc thiếu tự do hành động (nhân tố số 12). Sự tách biệt về mặt địa lý bởi núi non và sa mạc với các nước láng giềng ở Nam Mỹ đã giúp Allende và Pinochet giảm trừ nhu cầu quan tâm đến việc chính sách của họ có thể kích động sự can thiệp của các nước láng giềng Argentina, Peru và Bolivia. Ngược lại, những chính phủ độc tài ở Uganda, Rwanda, Đông Pakistan, Cam-pu-chia và nhiều nước khác đều bị lung lay bởi sự can thiệp từ các quốc gia láng giềng. Nhưng sự tự do hành động của Allende bị kiềm chế bởi nước Mỹ xa xôi, còn sự tự do hành động của mọi chính phủ Chile đều bị ràng buộc bởi việc nền kỹ nghệ khai thác đồng (cột trụ lớn nhất của kinh tế Chile) lệ thuộc vào những điều kiện của nền kinh tế thị trường thế giới, vượt ngoài tầm kiểm soát của nước này.
Đó là những đặc trưng biến cố của Chile nhìn từ quan điểm biến cố cá nhân. Bây giờ chúng ta xét đến những đặc trưng riêng cho những biến cố quốc gia (nằm ngoài biến cố cá nhân), và đối chiếu các sự kiện xảy ra ở Chile với sự kiện ở các nước khác mà chúng ta đề cập trong cuốn sách này.
Đầu tiên, biến cố của Chile vào năm 1973, giống như biến cố ở Indonesia năm 1965 sẽ thảo luận ở chương sau, là một biến cố từ bên trong, khác với những cú sốc đến từ bên ngoài của Nhật Bản năm 1853 và Phần Lan năm 1939. (Điều này không phải để phủ nhận vai trò áp lực từ bên ngoài của Mỹ trong biến cố ở Chile.) Cả hai biến cố xảy ra ở Chile và Indonesia đều nảy sinh từ sự phân cực chính trị, sự bất đồng sâu xa về những giá trị cốt lõi, và một khát khao giết chóc và nguy cơ bị giết hại thay vì thỏa hiệp.
Thứ nhì, lịch sử Chile minh họa chủ đề tiến trình hòa bình đối nghịch với cách mạng bạo lực. Ở Đức vào năm 1848 và khi bạo lực cấp tiến khởi phát ở đó lặp lại vào năm 1968, cách mạng bạo lực đã thất bại, nhưng tiến trình hòa bình sau đó lại thành công trong việc đạt được cùng lúc nhiều mục tiêu. Những thay đổi ở Úc từ năm 1945 trở đi cũng thành công mỹ mãn nhờ vào tiến trình hòa bình chứ không có bất kỳ nỗ lực cách mạng bạo lực nào cả. Ngược lại, các biến cố ở Chile vào năm 1973 và ở Indonesia vào năm 1965 đều đạt đến cực điểm của cách mạng bạo lực, tạo ra các chính quyền quân sự lên nắm quyền lực lâu dài. Nhưng cả hai chính quyền quân sự ở các nước này đều bị hất khỏi quyền lực bằng những phản kháng hòa bình. Trong khi thành công của những phản kháng này không được bảo đảm ở thời điểm bắt đầu, thì lựa chọn khác nhằm hạ bệ Pinochet và Suharto ở Indonesia nhờ cách mạng bạo lực chắc chắn sẽ khích động quân đội và bị nghiền nát. Nhưng lực lượng quân đội Chile và Indonesia đều không thể để binh lính bắn vào đám đông khổng lồ phản kháng hòa bình trên đường phố.
Thứ ba, một lần nữa lại giống như Indonesia năm 1965 và Đức năm 1933, nhưng không giống Nhật Bản thời Minh Trị hay Úc sau Thế chiến II, Chile minh họa cho vai trò của một lãnh đạo nổi bật: trong trường hợp của Pinochet, một nhà lãnh đạo có tính ác nổi bật (theo quan điểm của tôi). Những người bạn Chile kể với tôi rằng tính phân cực ngày càng phát triển ở Chile vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 khiến khả năng giải quyết vấn đề phải là bằng bạo lực. Ngay cả trước khi nổ ra vụ đảo chính ngày 11 tháng 9 năm 1973, nạn bạo lực đã ngày càng gia tăng trong suốt sáu năm. Điều làm người Chile ngỡ ngàng là sự kéo dài của bạo lực, trái ngược với dự đoán của những người bạn của tôi trong bữa tiệc tối hồi tháng 12 năm 1973 rằng chính phủ quân sự chỉ nắm quyền trong chưa đầy hai năm. Đây không chỉ là một sự bùng phát giết chóc trong vài ngày hay vài tuần sau vụ đảo chính, mà người Chile tiếp tục bị tra tấn và giết hại trong nhiều năm, và Pinochet tiếp tục nắm giữ quyền lực trong gần 17 năm. Hậu quả đó đúng là gây bất ngờ, không chỉ cho người dân Chile, mà còn cho cả hai nhóm khác được xem là có thể dự đoán sát nhất động thái của Pinochet: những đồng sự của ông ta trong hội đồng quân sự, những người đã đi theo và chia sẻ sự nghiệp của ông ta trong mấy thập niên, và CIA mà nhiệm vụ của họ chính là hiểu rõ những gì có thể xảy ra ở những quốc gia khác. Các đồng sự của Pinochet trong hội đồng quân sự cũng ngỡ ngàng như CIA trước tính cách tàn nhẫn và quyết đoán của ông ta trong việc đeo bám quyền lực, ngược hẳn truyền thống của mọi nhà lãnh đạo đảo chính trước đó trong lịch sử đất nước Chile. Tâm lý cá nhân của ông ta lại tiếp tục gây trở ngại cho các sử gia.
Chủ đề còn lại được minh họa bởi lịch sử Chile thời hiện đại liên quan đến những ràng buộc tạo ra trở ngại trong việc nắm bắt những hành vi xấu ác trong quá khứ. Vào tháng 5 năm 1945, khi Đức Quốc xã bị đánh bại hoàn toàn về mặt quân sự, thì nhiều lãnh đạo Quốc xã đã tự sát, và toàn bộ đất nước bị chiếm đóng. Sau Thế chiến II, vẫn còn nhiều cựu thành viên Quốc xã trong chính quyền Đức, nhưng họ không thể công khai bảo vệ các tội ác của đảng Quốc xã. Do vậy, nước Đức cuối cùng phải công bố rộng rãi các tội ác đó. Ở cực ngược lại, khi quân đội Indonesia giết hại hay bố trí việc giết hơn nửa triệu người Indonesia vào năm 1965, chính phủ đứng sau những vụ giết người hàng loạt vẫn nghiễm nhiên nắm quyền lực đến tận ngày nay. Không lấy gì làm ngạc nhiên là ngay đến hôm nay, 50 năm sau những vụ thảm sát, người Indonesia vẫn ngần ngại nói về chúng.
Chile là một trường hợp trung gian. Chính quyền quân sự Chile từng ban hành các mệnh lệnh giết chóc lại chịu chuyển giao cho một chính phủ dân chủ một cách hòa bình. Nhưng các lãnh đạo quân sự vẫn còn sống và còn nắm giữ nhiều quyền lực nên ban đầu chính phủ dân chủ mới lên không dám truy tố các tội phạm bên quân đội. Ngày nay, việc đó vẫn được tiến hành một cách cẩn trọng. Tại sao lại phải cẩn trọng? Vì quân đội có thể trở lại. Vì vẫn còn nhiều người Chile muốn bảo vệ Pinochet. Vì khẩu hiệu “một đất nước Chile cho mọi người dân Chile” rủi thay lại có ý nghĩa là một đất nước Chile bao gồm cả những cựu tội phạm chiến tranh.
Cuối cùng, nhiều bạn đọc Mỹ của tôi, vốn quan tâm đến sự phân cực chính trị ở Mỹ ngày nay, sẽ thấy thông tin về lịch sử Chile gần đây đáng sợ chừng nào. Tuy có truyền thống dân chủ mạnh mẽ, song sự phân cực chính trị và phá vỡ thỏa hiệp đã lên đến đỉnh điểm trong bạo lực và một chế độ độc tài mà ít có người dân Chile nào lường trước được. Liệu điều này có thể xảy ra cho nước Mỹ không?
Sẽ có người tức khắc phản bác: “Không, dĩ nhiên là không bao giờ. Nước Mỹ khác với Chile. Quân đội Mỹ không bao giờ nổi loạn để dựng lên một chế độ độc tài.”
Vâng, nước Mỹ quả là khác biệt với Chile; nhưng một số khác biệt làm giảm đi, và một số lại làm gia tăng nguy cơ chấm dứt nền dân chủ ở Mỹ. Nếu nền dân chủ ở Mỹ chấm dứt thì sẽ không phải qua một cuộc nổi dậy bởi những chỉ huy quân đội; có nhiều cách khác để chấm dứt nền dân chủ. Tôi sẽ bàn luận xa hơn về những câu hỏi đối với nước Mỹ ở Chương 9.
Khi trở lại Chile vào năm 2003, lần đầu tiên kể từ khi tôi rời đất nước này năm 1967, tôi đến thăm dinh tổng thống của Allende, bây giờ trở thành một địa điểm du lịch. Tôi được kể rằng công chúng được vào cửa tự do. Ở cửa trước là một cảnh vệ (carabinero) trông dữ tợn bồng súng đứng trên một bục gác cao gần nửa mét khiến anh ta vượt hẳn lên so với tôi. Anh ta nhìn chằm chằm xuống tôi, không cười, và hỏi tôi muốn gì. Tôi trả lời mình là một du khách và anh ta để tôi qua. Nhưng tôi tự hỏi anh ta sẽ làm gì nếu như tôi vô tình vi phạm một quy định nào đó. Tôi ngẫm nghĩ: “Đây chính là một tay cảnh sát hay người lính cũng giống như người từng tưới xăng lên người Rodrigo Rojas rồi châm lửa đốt!” Rồi tôi cảm thấy sợ hãi nên một phút sau đã rời khỏi chốn đó, cùng với chút hiểu biết thêm lý do tại sao chính quyền dân chủ Chile lại tiến hành truy tố những kẻ tra tấn và giết người của Pinochet một cách cẩn trọng.
Jared Diamond
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nguyễn Trọng Luân và Đi tìm thời gian đã mất

Nguyễn Trọng Luân và Đi tìm thời gian đã mất… Trong “10 truyện ngắn hay năm 2020” (Phụ bản số Tết Tân Sửu Báo Văn Nghệ) nhà văn Nguyễn Trọ...