Biến động 2
Phần 2: Quốc gia - Biến cố đã lộ diện
Chương 5 - Indonesia, sự trỗi dậy của một quốc gia mới
Trong một khách sạn – Bối cảnh đất nước Indonesia – Thời kỳ
thuộc địa – Độc lập – Sukarno – Vụ đảo chính – Cuộc thảm sát – Suharto – Di sản
của Suharto – Khung biến cố – Trở lại Indonesia
Indonesia là quốc gia đông dân thứ tư thế giới với dân số khoảng
260 triệu người, chỉ đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ. Đây cũng là đất nước
đông dân nhất mà phần lớn dân số là người Hồi giáo với số lượng còn nhiều hơn cả
Pakistan, Bangladesh hay Iran. Những điều đó có thể khiến ai cũng nghĩ rằng
Indonesia nhận được sự quan tâm của báo chí Mỹ và châu Âu.
Thực ra, từ “Hồi giáo” làm người phương Tây nghĩ đến những quốc
gia khác có tên tuổi hơn trong nhận thức phương Tây thay vì Indonesia. Ngày
nay, báo chí Mỹ và phương Tây chỉ nhắc đến đất nước này một cách chiếu lệ. Tôi
nhớ rằng chỉ có rất ít lần trong 15 năm gần đây mà Indonesia xuất hiện trên
trang nhất, đó là khi một trận động đất dữ dội cướp đi nhiều sinh mạng vào năm
2018, khi một số kẻ buôn lậu ma túy, trong đó có cả công dân nước ngoài, bị xử
tử vào năm 2015 dù có những phản đối từ nước ngoài, khi 200.000 người thiệt mạng
trong trận sóng thần năm 2004, và khi xảy ra một vụ đánh bom ở đảo Bali năm
2002 cướp đi mạng sống của nhiều nạn nhân. Việc thiếu quan tâm chung này là do
đất nước Indonesia ngày nay không có những đặc trưng vốn là chất liệu cho những
tít báo quốc tế như nội chiến, xuất khẩu những kẻ khủng bố hay làn sóng di dân
ra nước ngoài, hay giàu có hoặc nghèo khổ cùng cực, hay lên tiếng trong bối cảnh
chính trị quốc tế. Trong phạm vi hiểu biết của người Mỹ đối với Indonesia, hình
ảnh hiện lên là về một đất nước đang phát triển với những địa điểm du lịch vui
vẻ thoải mái, đặc biệt là phong cảnh và các bãi biển, hay các đền thờ Ấn giáo ở
Bali, những rạn san hô phong phú nhất thế giới và là nơi tốt nhất cho môn thể
thao lặn biển, cùng loại vải batik tuyệt đẹp.
Chuyến đi đầu tiên của tôi đến Indonesia là vào năm 1979, khi
tôi bắt đầu chuyến thăm bằng việc ở lại trong một khách sạn có những bức tường
dọc hành lang được trang trí bằng những bức tranh kể một câu chuyện lịch sử
Indonesia. Ở Mỹ, một triển lãm tương tự có thể trình bày những bức tranh về
Cách mạng Mỹ, Nội chiến, Cơn sốt Vàng ở California, con đường sắt xuyên lục địa
và những chủ đề khác từ 150 năm đến 250 năm trước đây. Nhưng ở hành lang khách
sạn đó, mọi bức tranh đều thể hiện những sự kiện xảy ra chỉ mới 35 năm trước. Sự
kiện làm chủ đề cho hầu hết các bức tranh được gọi là Cuộc nổi dậy của những
người cộng sản vào năm 1965. Những bức tranh và phần giải thích bên dưới, miêu
tả một cách sinh động cách thức những người cộng sản tra tấn và giết bảy viên
tướng; và cảnh một trong những viên tướng mà những người cộng sản tìm giết đã
vượt tường trốn thoát khỏi nhà, nhưng đứa con gái năm tuổi của ông ta vô tình bị
bắn và chết sau đó vài ngày. Sự trưng bày này để lại ấn tượng rằng việc tra tấn
và giết chóc các viên tướng và cô bé là hành động khủng khiếp nhất từng xảy ra
trong lịch sử Indonesia.
Sự trưng bày không đề cập đến những gì tiếp theo sau cái chết
của các viên tướng: việc thảm sát khoảng nửa triệu người Indonesia khác dưới sự
chủ mưu của quân đội. Việc không nhắc đến những vụ thảm sát đó ở một cuộc trưng
bày về lịch sử Indonesia hoàn toàn là một sự thiếu sót, vì trong số những vụ giết
người hàng loạt trên thế giới kể từ Thế chiến II, chỉ có một ít vụ vượt qua số
người chết ở Indonesia. Trong hai thập niên kể từ chuyến đi đầu tiên của tôi,
trong những chuyến trở lại và ở lại lâu sau đó, tôi đã nghe, không chỉ một lần,
những người bạn Indonesia của mình nhắc đến các vụ giết người này – cho đến khi
thay đổi chính quyền vào năm 1998. Điều này như thể chính quyền của tướng
Pinochet đã giết hại gấp 100 lần số lượng người Chile, nhưng những vụ giết người
đó không bao giờ được những người Chile sống sót nhắc lại, kể cả trong những tư
liệu lịch sử.
Trong số những vấn đề biến cố và thay đổi để ghi nhớ khi bạn
đọc những trang sau, dĩ nhiên sẽ có một phần đối chiếu giữa Indonesia và Chile.
Cả hai quốc gia đều kinh qua một sự đổ vỡ thỏa hiệp chính trị, một nỗ lực của
cánh tả khi muốn giành quyền kiểm soát chính phủ và một cuộc đảo chính quân sự
kết thúc nỗ lực đó và thiết lập một chế độ độc tài lâu dài. Cả hai quốc gia đều
minh họa vai trò của không chỉ một, mà hai nhà lãnh đạo tiếp nối, với những
tính cách đặc biệt nhưng đối lập nhau. Trong việc đạt được sự hòa giải sau vụ
thảm sát một nhóm chính trị do các đối thủ gây ra, Indonesia chứng tỏ họ nằm ở
đối cực của Phần Lan, với Chile nằm ở giữa. Hơn bất kỳ quốc gia nào được giới
thiệu trong sách này, các bạn sẽ thấy rằng Indonesia, đất nước non trẻ nhất của
chúng ta, minh họa cho tiến trình xây dựng thành công một căn tính quốc gia.
Để hiểu được những gì đã diễn ra trong biến cố ở Indonesia
vào năm 1965 và hệ quả của nó, chúng ta hãy bắt đầu với một số bối cảnh.
Indonesia là một đất nước non trẻ, mãi đến năm 1945 mới được độc lập, và cho đến
khoảng năm 1910 vẫn chưa được thống nhất như một thuộc địa. Đất nước này ở vùng
nhiệt đới, nằm trên đường xích đạo giữa New Guinea và Úc về phía đông và châu Á
về phía tây, có nhiều rặng núi cao, kể cả những núi lửa đang hoạt động. Một
trong số đó là núi lửa Krakatoa, nổi tiếng với vụ phun trào thảm khốc trong lịch
sử cận đại (năm 1883) đã thổi bay hầu như toàn bộ hòn đảo và tống một lượng bụi
tro lên bầu khí quyển đủ để làm thay đổi khí hậu thế giới trong năm sau đó.
Trong số các đảo của Indonesia, được biết đến nhiều nhất là Java, Bali, Sumatra
và Sulawesi, thêm các đảo Borneo và New Guinea mà Indonesia cùng chia sẻ với
các nước khác.
Về mặt địa lý, Indonesia là đất nước bị phân mảnh nhất trên
thế giới, với hàng ngàn hòn đảo có cư dân nằm rải rác trên một địa thế trải dài
3.400 dặm từ tây sang đông. Trong suốt gần 2.000 năm, có những vương quốc bản địa
trên một số đảo. Nhưng không một vương quốc nào kiểm soát được hầu hết quần đảo
Indonesia, cũng không có một cái tên hay một khái niệm nào về đất nước mà ngày
nay chúng ta gọi là Indonesia. Về mặt ngôn ngữ, Indonesia là một trong những quốc
gia đa dạng nhất, với hơn 700 ngôn ngữ khác nhau. Đất nước này cũng đa dạng về
mặt tôn giáo: trong khi hầu hết người Indonesia theo Hồi giáo, thì cũng có một
thiểu số theo Ki-tô giáo và Ấn giáo cũng như Phật giáo, Khổng giáo và những người
theo tín ngưỡng truyền thống địa phương. Tuy cũng có bạo lực và bạo động tôn
giáo, nhưng quy mô của chúng nhỏ hơn nhiều so với ở Nam Á và Trung Đông. Nhiều
người Indonesia ở các tôn giáo khác nhau sống tương đối khoan hòa với nhau. Tôi
đã đến nhiều nơi trên đất nước này và thấy những ngôi làng Ki-tô giáo và Hồi
giáo cận kề nhau, và không nhận ra làng nào tôi đã đến theo đạo gì, chỉ cho đến
khi thấy một ngôi đền Hồi giáo hay một nhà thờ Ki-tô.
Bắt đầu sau năm 1510, người Bồ Đào Nha, rồi người Hà Lan (từ
năm 1595 trở đi), tiếp đó là người Anh cố thiết lập những thuộc địa ở chuỗi đảo
mà ngày nay là Indonesia. Cuối cùng, sự kiểm soát của người Anh giới hạn ở những
vùng trên đảo Borneo, và thuộc địa duy nhất của người Bồ Đào Nha còn sót lại là
nửa phần phía đông của hòn đảo Timor. Những thực dân thành công nhất là người
Hà Lan, tập trung trên đảo Java nơi dân số bản địa lớn nhất (hơn một nửa dân số
Indonesia ngày nay). Vào những năm 1880, để cho thuộc địa tự trang trải và tạo
ra lợi nhuận, người Hà Lan phát triển những đồn điền xuất khẩu trên hai đảo
Java và Sumatra. Nhưng chỉ đến khoảng năm 1910, hơn ba thế kỷ sau khi đến quần
đảo Indonesia, người Hà Lan mới giành được quyền kiểm soát toàn bộ chuỗi đảo rộng
bao la này. Điều được xem là một ví dụ cho việc phần lớn quần đảo này vẫn chưa
được người Hà Lan khám phá hết là mãi đến năm 1910, một viên thống đốc Hà Lan mới
biết hòn đảo Flores ở phía đông Indonesia và hòn đảo nhỏ Komodo kế cận là nơi
cư ngụ của giống kỳ đà lớn nhất thế giới, còn gọi là rồng Komodo. Mặc dù có con
dài đến ba mét và nặng đến vài trăm cân, trong suốt bốn thế kỷ chúng vẫn chưa
được người châu Âu biết đến.
Có thể nhấn mạnh một điều là từ “Indonesia” chưa từng tồn tại
mãi đến khi cái tên này được một người châu Âu đặt ra khoảng năm 1850. Người Hà
Lan gọi thuộc địa của họ là “Indies,” “Netherlands Indies” hay “Dutch East
Indies” (Đông Ấn Hà Lan). Những cư dân ở quần đảo này không chia sẻ cùng một
căn tính quốc gia, một ngôn ngữ quốc gia, kể cả ý thức đoàn kết để đối lập với
người Hà Lan. Chẳng hạn như binh lính ở Java gia nhập quân đội Hà Lan để chinh
phục vương quốc cầm đầu ở đảo Sumatra, một đối thủ truyền thống của các tiểu quốc
Java.
Vào đầu thập niên 1900, chính quyền thuộc địa Hà Lan bắt đầu
nỗ lực chuyển từ chính sách thuần túy khai thác đối với thuộc địa sang cái mà họ
gọi là một “chính sách đạo đức” – nghĩa là sau cùng cũng làm một số điều tốt đẹp
cho người Indonesia. Chẳng hạn như người Hà Lan mở trường học, xây dựng đường
xe lửa và các dự án thủy lợi trên đảo Java, lập hội đồng chính quyền địa phương
ở những thành phố chính và nỗ lực giảm nhẹ gia tăng dân số bằng cách hỗ trợ di
dân sang các hòn đảo bên ngoài ít dân cư hơn (ngược với ý muốn của dân bản địa
trên đảo). Nhưng những nỗ lực của chính sách đạo đức này chỉ đem lại những kết
quả hạn chế – một phần vì Hà Lan quá nhỏ nên không thể đổ nhiều tiền vào
Indonesia, và một phần là vì những nỗ lực của người Hà Lan, cũng như của nước
Indonesia mới độc lập, nhằm cải thiện đời sống người dân bị thất bại do dân số
phát triển nhanh tạo ra quá nhiều miệng ăn. Ngày nay, người Indonesia vẫn xem
những hệ quả tiêu cực của chủ nghĩa thực dân Hà Lan vượt xa như những hệ quả
tích cực.
Vào khoảng năm 1910, sự gia tăng dân số ở Đông Ấn Hà Lan phát
triển thành những khởi đầu cho một “ý thức quốc gia.” Đó là họ bắt đầu cảm thấy
mình không chỉ là cư dân của chế độ ngôi vua sultan đặc thù do người Hà Lan cai
trị ở một số phần trên đảo Java hay Sumatra, mà họ đang thuộc về một thực thể lớn
hơn gọi là “Indonesia.” Với những khởi đầu của một căn tính rộng hơn, người dân
Indonesia đã hình thành những nhóm có nhiều khác biệt nhưng thường chồng chéo
nhau: một nhóm người Java cảm thấy thượng đẳng về mặt văn hóa, một phong trào Hồi
giáo tìm kiếm một căn tính Hồi giáo riêng cho Indonesia, các nghiệp đoàn lao động,
một đảng cộng sản, những sinh viên được gửi sang Hà Lan đào tạo và các nhóm
khác. Điều này có nghĩa là phong trào giành độc lập cho Indonesia phân mảnh
theo các tuyến tư tưởng, địa lý và tôn giáo, những vấn đề báo trước tiếp tục
gây khó khăn cho Indonesia sau khi giành được độc lập.
Kết quả không chỉ là những cuộc đình công, âm mưu và khích động
chống lại người Hà Lan mà còn là mâu thuẫn giữa các nhóm người với nhau, tạo ra
một tình trạng rối rắm. Tuy nhiên, những hoạt động chống người Hà Lan cũng lên
đến đỉnh điểm khi vào thập niên 1920, Hà Lan áp dụng một chính sách đàn áp và
đưa những lãnh tụ đến một nơi giống như trại tập trung, ở New Guinea thuộc Hà
Lan, một vùng xa xôi đầy dịch bệnh truyền nhiễm.
Một đóng góp quan trọng đối với sự thống nhất sau cùng của
Indonesia chính là sự tiến triển và chuyển hóa tiếng Malay, một ngôn ngữ giao
thương có lịch sử lâu dài, thành tiếng Bahasa của Indonesia, ngôn ngữ quốc gia
được mọi người Indonesia sử dụng ngày nay. Ngay cả ngôn ngữ lớn nhất trong số
hàng trăm ngôn ngữ địa phương của Indonesia, ngôn ngữ của người Java ở vùng
trung tâm đảo Java, cũng chỉ là ngôn ngữ của dưới một phần ba dân số Indonesia.
Nếu thứ tiếng địa phương lớn nhất đó trở thành ngôn ngữ quốc gia, thì nó có thể
tiêu biểu cho sự thống trị Indonesia của đảo Java, từ đó sẽ làm trầm trọng thêm
một vấn đề vẫn tồn tại trong đất nước Indonesia hiện đại, đó là nỗi sợ sự thống
trị của người Java trên những hòn đảo khác của người Indonesia. Ngôn ngữ Java
có thêm một điều bất lợi về ý thức thứ bậc, với những từ khác nhau được dùng
trong giao tiếp với người ở địa vị cao hay thấp. Ngày nay, tôi đồng lòng với việc
người Indonesia đánh giá cao những thuận lợi của tiếng Bahasa tuyệt vời như
ngôn ngữ quốc gia. Nó lại dễ học. Chỉ 18 năm sau khi Indonesia giành được New
Guinea thuộc Hà Lan và đưa tiếng Bahasa vào chương trình học, tôi thấy ngôn ngữ
này được sử dụng bởi ngay những người New Guinea không học hành gì cả tại những
làng mạc xa xôi. Ngữ pháp Bahasa đơn giản nhưng uyển chuyển khi thêm tiền tố
hay hậu tố vào nhiều từ gốc để tạo ra từ mới với ý nghĩa dễ đoán ra ngay. Chẳng
hạn như tính từ có nghĩa “sạch sẽ” là “bersih,” động từ “làm sạch” là
“membersihkan,” danh từ “sự sạch sẽ” là “kebersihan,” và danh từ “sự dọn dẹp”
là “pembersihan.”
Sau khi Nhật tuyên chiến với Mỹ vào tháng 12 năm 1941 và bắt
đầu bành trướng khắp các hòn đảo ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á, nước này
nhanh chóng chiếm đóng các đảo vùng Đông Ấn Hà Lan. Các mỏ dầu ở đảo Borneo thuộc
Hà Lan cùng cao su và thiếc ở Malaysia mới thực sự là động lực chính đằng sau
việc Nhật tuyên chiến, và có lẽ là động lực đơn giản lớn nhất, vì nước Nhật thiếu
dầu và phải lệ thuộc vào nguồn dầu xuất khẩu của Mỹ, mà Tổng thống Roosevelt đã
cắt bỏ để đáp trả việc Nhật gây chiến với Trung Quốc và chiếm đóng vùng Đông
Dương thuộc Pháp. Các mỏ dầu ở Borneo là nguồn cung cấp thay thế của Nhật Bản.
Đầu tiên, các nhà lãnh đạo quân sự Nhật Bản tuyên bố trong việc
chiếm vùng Đông Ấn Hà Lan rằng người Indonesia và người Nhật đều là những người
anh em thuộc châu Á chung tay trong sự nghiệp chiến đấu cho một mệnh lệnh chống
thuộc địa kiểu mới. Ban đầu, các nhà đấu tranh theo chủ nghĩa dân tộc ủng hộ
người Nhật và giúp họ phong tỏa người Hà Lan. Nhưng do người Nhật chủ yếu tìm
cách khai thác nguyên liệu (đặc biệt là dầu và cao su) từ vùng Đông Ấn Hà Lan để
phục vụ cho guồng máy chiến tranh của Nhật, nên họ càng lúc càng áp bức hơn cả
người Hà Lan. Khi cuộc chiến trở nên bất lợi cho người Nhật, vào tháng 9 năm
1944 họ hứa hẹn trao trả độc lập cho người Indonesia nhưng không đưa ra thời
gian cụ thể. Khi Nhật tuyên bố đầu hàng vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, thì chỉ
hai ngày sau Indonesia tuyên bố độc lập và phê chuẩn hiến pháp sau đó một ngày,
đồng thời thành lập lực lượng phòng vệ địa phương. Nhưng họ nhanh chóng nhận ra
rằng thất bại của người Hà Lan trước Nhật Bản, rồi lời hứa về nền độc lập của
người Nhật, và cuối cùng là thất bại của Nhật trước Mỹ và đồng minh cũng sẽ
không bảo đảm cho nền độc lập của Indonesia. Thay vào đó, vào tháng 9 năm 1945,
quân đội Anh và Úc đến tiếp quản vùng đất này từ tay người Nhật, và rồi các đội
quân Hà Lan lại đến với mục đích phục hồi sự kiểm soát của họ. Trận chiến giữa
quân đội Anh và Hà Lan đánh với quân đội Indonesia nổ ra.
Người Hà Lan, nhằm khơi lên tính đa dạng chủng tộc và sự rộng
lớn của quần đảo Indonesia, và có lẽ cũng do động cơ “chia để trị” nhằm duy trì
sự kiểm soát của mình, đã đưa ra ý tưởng về một liên bang cho Indonesia. Họ
thành lập những bang trong vùng tái chiếm của mình. Ngược lại, những nhà cách mạng
Indonesia lại tìm cách tạo dựng một chính phủ cộng hòa thống nhất cho các vùng
trước đây thuộc Đông Ấn Hà Lan. Qua một hiệp ước sơ bộ đạt được vào tháng 11
năm 1946, người Hà Lan công nhận chủ quyền của Cộng hòa Indonesia – nhưng chỉ
trên hai hòn đảo Java và Sumatra. Tuy nhiên, đến tháng 7 năm 1947, người Hà Lan
trở nên bực bội và tung ra cái mà họ gọi là “hành động cảnh sát” với mục đích
tiêu diệt nền Cộng hòa. Sau khi ngừng bắn, thêm một “hành động cảnh sát” nữa, rồi
dưới áp lực của Liên Hợp Quốc và Mỹ, người Hà Lan nhượng bộ và đồng ý chuyển
giao chủ quyền cho chính phủ Cộng hòa. Cuộc chuyển giao cuối cùng diễn ra vào
tháng 12 năm 1949 – nhưng với hai hạn chế lớn khiến người Indonesia nổi giận và
phải mất 12 năm mới chuyển đổi xong. Một hạn chế là người Hà Lan không chịu
chuyển giao một nửa đảo New Guinea thuộc Hà Lan (phần phía tây). Thay vào đó, họ
vẫn giữ nó dưới sự điều hành chính quyền của mình với lý do New Guinea kém phát
triển về mặt chính trị hơn phần còn lại của Đông Ấn Hà Lan, nên nó chưa chuẩn bị
cho sự độc lập vốn rất mơ hồ, và vì hầu hết người New Guinea khác biệt với hầu
hết người Indonesia cũng như với nhóm người châu Âu về mặt chủng tộc. Hạn chế
kia là những công ty Hà Lan như Shell Oil vẫn duy trì quyền sở hữu đối với tài
nguyên thiên nhiên của Indonesia.
Những nỗ lực của người Hà Lan nhằm tái thiết lập việc kiểm
soát đất nước Indonesia giai đoạn 1945-1949 được tiến hành với những phương
pháp tàn bạo đến nỗi những đồng nghiệp người Indonesia của tôi vẫn còn kể với
tôi nỗi cay đắng 30 năm sau đó, và được miêu tả sinh động trong những bức tranh
về lịch sử Indonesia ở hành lang khách sạn tôi lưu trú năm 1979. (Chẳng hạn như
một trong những bức tranh vẽ hai binh sĩ Hà Lan hãm hiếp một phụ nữ Indonesia.)
Đồng thời, những phương pháp tàn bạo khác cũng được những người Indonesia áp dụng
với những người Indonesia khác, vì trong nội bộ Indonesia vẫn có đối kháng với
Cộng hòa Indonesia, nhìn theo quan điểm của những người Indenosia phía đông và
người dân đảo Sumatra là bị người Java thống trị. Một lần nữa, tôi vẫn nghe thấy
những lời oán hận và mong mỏi chia tách khỏi Indonesia về mặt chính trị từ những
người bạn không phải người Java của tôi trong thập niên 1980. Ngoài ra còn có đối
kháng với sự lãnh đạo của những người Cộng hòa từ cánh cộng sản Indonesia, lên
đến đỉnh điểm bằng cuộc nổi dậy năm 1948 để rồi bị nghiền nát bởi Quân đội Cộng
hòa khiến ít nhất 8.000 đảng viên cộng sản bị giết – một dạo đầu cho những gì rồi
sẽ xảy đến trên một bình diện rộng lớn hơn sau vụ đảo chính thất bại năm 1965.
Quốc gia mới trỗi dậy này cần đối mặt với những vấn nạn nan
giải phải gánh chịu từ thời kỳ trước khi có được độc lập, và một trong những vấn
nạn đó giờ đây lại trở nên trầm trọng thêm. Từng là một cựu thuộc địa bị Hà Lan
thống trị lâu dài để đáp ứng lợi ích của người Hà Lan, đất nước Indonesia độc lập
bắt đầu sự tồn tại của mình từ một nền kinh tế cực kỳ kém phát triển. Sự gia
tăng dân số (gần 3% mỗi năm trong suốt thập niên 1960) tiếp tục là gánh nặng
kinh tế sau khi độc lập, như ở thời kỳ còn người Hà Lan cai trị. Nhiều người
còn thiếu cả ý thức về căn tính quốc gia, vẫn định danh họ là người Java, người
Moluccan, người Sumatra hoặc thành viên của một số tộc người trong khu vực thay
vì nhận là người Indonesia. Ngôn ngữ Indonesia, đóng góp sau cùng vào sự thống
nhất của Indonesia, lúc đó vẫn chưa phổ biến rộng rãi; trong khi vẫn có 700
ngôn ngữ địa phương được sử dụng. Những người tự nhận mình thuộc quốc gia
Indonesia cũng có những tầm nhìn khác nhau đối với đất nước này. Một số lãnh đạo
Hồi giáo muốn Indonesia trở thành một quốc gia theo Hồi giáo. Đảng Cộng sản
Indonesia thì lại muốn đây là một nước cộng sản. Còn một số không phải người
Java lại vừa muốn tự trị khu vực, vừa muốn độc lập khu vực hoàn toàn và đã tổ
chức những cuộc nổi dậy trong vùng nhưng cuối cùng bị quân đội Cộng hòa đánh bại.
Quân đội tự thân cũng là tâm điểm của sự phân ly, cùng những
tranh cãi về vai trò của nó. Liệu quân đội có nên được kiểm soát bởi các chính
trị gia dân sự như ở các chế độ dân chủ khác, những người mà các sĩ quan quân đội
đang ngày càng gia tăng mối hồ nghi? Hay thay vào đó quân đội nên độc lập hơn
và theo đuổi các chính sách riêng đối với Indonesia? Quân đội xem mình như là
người cứu rỗi cho cuộc cách mạng, là lực lượng bảo vệ căn tính quốc gia, nên
đòi hỏi được bảo đảm bằng một số lớn phiếu bầu vào Quốc hội. Ngược lại, chính
quyền dân sự lại tìm cách tiết kiệm tài chính bằng cách thải hồi một số đơn vị
quân đội, giảm thiểu số sĩ quan và đẩy binh sĩ ra khỏi quân đội và bảng lương
chính phủ phải chịu thuế. Cũng có những bất đồng nội bộ giữa các binh chủng
trong quân đội, đặc biệt là bất đồng giữa không quân và các binh chủng khác.
Còn thêm những bất đồng giữa các chỉ huy quân đội, đặc biệt là giữa các chỉ huy
vùng có tính cách mạng và các chỉ huy ở trung tâm vốn bảo thủ. Những lãnh đạo
quân đội bóp nặn tiền bạc của những người dân khác và từ các doanh nghiệp phục
vụ mục đích quân sự, kiếm tiền bằng buôn lậu và đánh thuế sở hữu radio và dùng
điện, đồng thời ngày càng kiểm soát kinh tế vùng, do đó việc thiết chế hóa nạn
tham nhũng này đến nay vẫn là một trong những vấn nạn lớn nhất của Indonesia.
Sukarno (1901-1970), vị tổng thống đầu tiên thành lập quốc
gia Indonesia, bắt đầu sự nghiệp chính trị trong thời kỳ vẫn còn người Hà Lan,
là một nhà lãnh đạo theo dân tộc chủ nghĩa chống chính quyền thuộc địa Hà Lan (Ảnh
5.1). (Cũng như nhiều người Indonesia, ông ta chỉ có một cái tên gọi duy nhất,
không phải là tên và cũng không phải họ.) Người Hà Lan lưu đày ông, rồi người
Nhật lại đưa ông trở lại từ nơi lưu đày. Chính Sukarno là người ban hành Bản
Tuyên ngôn Độc lập của Indonesia vào ngày 17 tháng 8 năm 1945. Rất quan tâm đến
căn tính quốc gia yếu ớt của Indonesia, ông đặt ra một bộ năm nguyên tắc gọi là
Pancasila mà ngày nay là khung ý thức hệ cho sự thống nhất Indonesia và được
trân trọng đưa vào hiến pháp năm 1945. Các nguyên tắc này rất rộng: đức tin vào
một đấng tối cao, thống nhất dân tộc Indonesia, chủ nghĩa nhân đạo, dân chủ và
công bằng xã hội cho tất cả người dân Indonesia.
Trên cương vị tổng thống, Sukarno quy kết sự nghèo đói của
Indonesia là do chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản, hủy bỏ những nợ nần mà
Indonesia phải thừa hưởng từ trước, quốc hữu hóa tài sản của người Hà Lan và
chuyển giao cho quân đội quản lý. Ông phát triển một nền kinh tế tập trung do
nhà nước quản lý mà quân đội, giới quan liêu chính phủ và chính Sukarno có thể
bòn rút lợi nhuận; nên không lấy gì làm ngạc nhiên khi doanh nghiệp tư nhân và
nguồn tài trợ nước ngoài bị suy trầm. Chính phủ Mỹ và Anh trở nên lo lắng và
tìm cách gạt bỏ vị trí của Sukarno như Mỹ từng gạt bỏ Allende ở Chile. Sukarno
đáp trả bằng việc tuyên bố Mỹ hãy “cút xuống địa ngục với viện trợ của mấy người”;
sau đó, vào năm 1965 ông trục xuất lực lượng Chí nguyện Hòa bình Mỹ và rút khỏi
Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Lạm phát gia tăng, và
đồng tiền của Indonesia (rupiah) mất 90% giá trị trong năm 1965.
Vào thời điểm Indonesia độc lập, đất nước này chưa có lịch sử
về chính quyền tự quản dân chủ, mà thay vào đó là kinh nghiệm về chính quyền
cai trị của Hà Lan mà trong những thập niên sau cùng lại như một nhà nước cảnh
sát, như kiểu người Nhật cai trị năm 1942. Nền tảng cho mọi nền dân chủ vận
hành chính là việc dân trí được phổ biến, nhận thức về quyền phản biện các
chính sách của chính phủ, khoan dung với các quan điểm trái chiều, chấp nhận bị
rớt do phiếu bầu và sự bảo vệ của chính phủ đối với những người không có quyền
lực chính trị. Với những lý do dễ hiểu, tất cả những tiền đề trên đối với
Indonesia đều yếu và thiếu. Vì thế, trong suốt thập niên 1950 các thủ tướng và
nội các cứ lên rồi bị lật đổ liên tục. Trong cuộc bầu cử tháng 9 năm 1955, có đến
92% số cử tri có đăng ký đi bỏ phiếu, mức cao đến ngạc nhiên, nhưng kết quả vẫn
bế tắc, vì bốn đảng phái dẫn đầu đều chỉ chiếm từ 15% đến 22% số phiếu bầu và số
ghế trong Quốc hội. Họ lại không thể thỏa hiệp và rơi vào tình trạng bế tắc
chính trị. Sự đổ vỡ thỏa hiệp giữa các đảng phái chẳng khác gì tình cảnh ở
Chile với vụ đảo chính của Pinochet (Chương 4) – chỉ với khác biệt là Chile có
trình độ dân trí và một lịch sử lâu dài về chính phủ dân chủ, trong khi
Indonesia thiếu cả hai điều này.
Bắt đầu từ năm 1957, Tổng thống Sukarno chấm dứt tình trạng bế
tắc bằng cách tuyên bố thiết quân luật, rồi thay chế độ dân chủ bằng cái gọi là
“dân chủ có định hướng,” thứ ông cho là thích hợp hơn với đặc trưng dân tộc của
Indonesia. Dưới thể chế “dân chủ có định hướng,” Quốc hội đáng ra phải thực hiện
việc “hợp tác lẫn nhau” hay “đồng thuận thông qua thảo luận,” lại áp dụng khái
niệm dân chủ thông thường về lập pháp như là một môi trường để các đảng phái cạnh
tranh lẫn nhau. Để bảo đảm rằng Quốc hội sẽ cùng hợp tác với các mục tiêu của
Sukarno, hơn một nửa ghế trong Quốc hội không còn do bầu bán nữa mà do chính
Sukarno chỉ định và phân công cái gọi là “các nhóm chức năng” thay vì những đảng
phái chính trị, và quân đội là một trong “các nhóm chức năng” đó.
Sukarno ngày càng tin rằng ông ta có khả năng tiên đoán và diễn
giải những ước vọng (kể cả ước vọng vô ý thức) của người dân Indonesia, và đóng
vai đấng tiên tri của họ. Sau hội nghị Bandung năm 1955 của các nước thuộc khối
Á-Phi, Sukarno mở rộng các mục tiêu của mình sang tầm thế giới và bắt đầu xem
trách nhiệm của cá nhân ông ta là để Indonesia đóng vai trò dẫn dắt nền chính
trị chống thực dân của Thế giới Thứ ba7,
trong thời điểm mà những vấn đề nội bộ của chính Indonesia quá căng thẳng (Ảnh
5.2). Năm 1963, ông tự tuyên bố làm tổng-thống-trọn-đời.
Sukarno tung ra hai chiến dịch để chuyển hóa lập trường chống
thực dân của mình thành hành động, bằng cách cố sáp nhập hai lãnh thổ đang bên
bờ độc lập. Chiến dịch đầu tiên nhắm đến New Guinea thuộc Hà Lan mà do sự khác
biệt về chủng tộc của cư dân nên người Hà Lan từ chối trao trả cho Indonesia
sau cuộc cách mạng. Người Hà Lan liền tung ra một chương trình cấp tốc để chuẩn
bị độc lập cho người dân New Guinea, và các lãnh đạo New Guinea cũng đã thông
qua quốc kỳ và quốc ca riêng. Nhưng Sukarno tuyên bố New Guinea Hà Lan thuộc
Indonesia, gia tăng áp lực ngoại giao với người Hà Lan, và đến năm 1961 ông ra
lệnh cho cả ba binh chủng quân đội chiếm New Guinea thuộc Hà Lan bằng vũ lực.
Kết quả là một thành công của Sukarno về mặt chính trị, nhưng
lại là một bi kịch đối với quân đội Indonesia có liên quan và cho cả những người
dân New Guinea đang mong chờ độc lập. Trong khi một trong những bức tranh treo ở
hành lang khách sạn tôi trú ngụ vào năm 1979 ở Indonesia miêu tả một con tàu được
cho là “chiến hạm” Indonesia đang tiến lên tấn công người Hà Lan, thì sự thực
nó chỉ là một tàu tuần duyên cỡ nhỏ bị chiến hạm Hà Lan đánh đắm, làm nhiều thủy
thủ Indonesia thiệt mạng. Lực lượng nhảy dù được thả xuống New Guinea từ phi cơ
gặp kết quả mà theo lời một người bạn của tôi, người từng phục vụ trong lực lượng
phòng vệ Hà Lan hồi đó, mô tả như sau: có lẽ vì sợ lực lượng phòng không của Hà
Lan vào ban ngày, nên lính nhảy dù được thả đại vào ban đêm trên một địa hình rừng
rậm, đẩy họ vào tình huống hiểm nghèo. Số lính dù không may rơi xuống một đầm lầy
đầy cọ sago đầy muỗi mòng và nóng bức, những người lính còn sống sót thì vướng
cây sago, bị treo lơ lửng trên cây do vướng dù. Những nhóm nhỏ hơn bỏ được dù
thì rơi hoặc trèo xuống đúng vùng nước đọng của đầm lầy. Người bạn của tôi và
đơn vị Hà Lan của ông ta bao vây đầm lầy, chờ đúng một tuần rồi chèo thuyền vào
đầm để cứu số lính dù còn sống sót.
Dù quân đội Hà Lan ở đó gặt hái thắng lợi, nhưng chính phủ Mỹ
muốn ra mặt hỗ trợ phong trào chống thực dân của Thế giới Thứ ba, và đã ép buộc
người Hà Lan trao trả New Guinea. Để giữ thể diện, người Hà Lan không trao trả
trực tiếp cho Indonesia mà giao cho Liên Hợp Quốc, mà đến bảy tháng sau mới
chuyển giao việc kiểm soát hành chính (chứ không phải chuyển giao quyền sở hữu)
cho Indonesia, để còn tùy thuộc vào một cuộc trưng cầu dân ý trong tương lai.
Sau đó, chính quyền Indonesia khởi động một chương trình di dân quy mô từ các tỉnh
khác đến, một phần để bảo đảm có tỉ lệ đa số người Indonesia- không-phải-cư-dân
New Guinea định cư trên đảo New Guinea. Bảy năm sau, một hội đồng lãnh đạo New
Guinea được lựa chọn kỹ lưỡng bỏ phiếu dưới áp lực để sáp nhập New Guinea thuộc
Hà Lan vào Indonesia. Người New Guinea vốn từng ở bên bờ độc lập khỏi người Hà
Lan, lúc đó tung ra một chiến dịch du kích để giành lại độc lập từ Indonesia mà
cho đến nay, hơn nửa thế kỷ sau, vẫn còn tiếp diễn.
Chiến dịch khác của Sukarno để chuyển lập trường chống thực
dân thành hành động là nhắm đến những vùng thuộc Malaysia, một nhóm các cựu thuộc
địa của Anh. Malaysia bao gồm nhiều tiểu quốc nằm trên bán đảo Malay của đại lục
châu Á đã giành được độc lập vào năm 1957, cộng thêm hai thuộc địa cũ của Anh
(Sabah và Sarawak) nằm cùng trên đảo Borneo với Indonesia và Brunei. Sabah và
Sarawak nhập vào nước Malaysia độc lập vào năm 1963. Nếu Sukarno tuyên bố quyền
thừa hưởng New Guinea thuộc Hà Lan vốn là một phần của Đông Ấn Hà Lan trước đó,
thì ông ta không thể tuyên bố như thế với phần Borneo thuộc Malaysia. Tuy
nhiên, được khuyến khích bởi thành quả ở New Guinea thuộc Hà Lan, Sukarno bắt đầu
kiểu mà ông gọi là một “cuộc đối đầu” với Malaysia vào năm 1962, theo đó là những
cuộc tấn công quân sự vào vùng Borneo thuộc Malaysia vào năm sau. Nhưng người
dân ở vùng Borneo thuộc Malaysia không có biểu hiện nào muốn nhập vào
Indonesia, trong khi các đội quân của Anh và Khối thịnh vượng chung lại phòng
thủ một cách hiệu quả, nên quân đội Indonesia mất đi lòng “khát khao” đối đầu.
Trong suốt thập niên 1960 diễn ra cuộc đấu tranh phức tạp và
khó hiểu để giành quyền lực giữa ba nhánh trong số các thế lực mạnh nhất ở
Indonesia. Một thế lực là Sukarno, nhà lãnh đạo đầy lôi cuốn và chính trị gia
lão luyện, người được sự ủng hộ rộng rãi của người dân Indonesia như người cha
của nền độc lập dân tộc và cũng là vị tổng thống đầu tiên và duy nhất (cho đến
lúc đó). Thế lực thứ hai là quân đội, độc quyền về sức mạnh quân sự. Thế lực thứ
ba là Đảng Cộng sản Indonesia (Partai Komunis Indonesia – PKI) thiếu sức mạnh
quân sự nhưng đã trở thành đảng phái chính trị mạnh nhất và được tổ chức tốt nhất.
Nhưng ba nhánh này lại bị chia rẽ nội bộ và lôi kéo về những
hướng khác nhau. Trong khi nền “dân chủ có định hướng” của Sukarno dựa vào một
liên minh giữa ông ta và quân đội, thì Sukarno càng lúc càng có xu thế liên
minh với PKI để làm một đối trọng với phe quân đội. Những người Indonesia gốc
Hoa lại trở nên lo lắng do tâm lý bài Trung ở Indonesia đến nỗi nhiều người đã
quay về Trung Quốc. Nhưng đồng thời Indonesia cũng tăng cường đồng minh với
Trung Quốc về mặt ngoại giao và tuyên bố rằng sẽ sớm bắt chước Trung Quốc chế
bom nguyên tử – khiến cả Mỹ và Anh đều sợ hãi. Lực lượng quân đội cũng phân ra
thành các nhóm ủng hộ Sokarno, PKI và những sĩ quan muốn quân đội tiêu diệt
PKI. Các sĩ quan quân đội thâm nhập vào PKI và ngược lại. Để sửa chữa sai lầm yếu
kém của quân đội, vào năm 1965, PKI với sự hỗ trợ của Sukarno dự định trang bị
vũ khí cho giới nông dân và công nhân, bề ngoài có vẻ nhằm phục vụ như một
nhánh quân đội quốc gia thứ năm cùng với lục quân, hải quân, không quân và cảnh
sát. Do lo sợ, các sĩ quan quân đội chống cộng được báo cáo là đã thành lập một
Hội đồng Tướng lĩnh để chuẩn bị các phương án chống lại mối đe dọa của cộng sản
ngày càng hiện rõ.
Cuộc đấu tranh ba phe phái này lên đến cực điểm vào khoảng
3:15 rạng sáng ngày 30 tháng 9 – ngày 1 tháng 10 năm 1965, khi hai đơn vị quân
đội với các chỉ huy cánh tả và 2.000 binh lính nổi dậy và đưa các toán vũ trang
đến bắt bảy vị tướng hàng đầu (gồm cả chỉ huy lục quân và bộ trưởng quốc phòng)
ngay tại nhà, rồi giải họ đến gặp Tổng thống Sukarno thuyết phục ông ta trấn áp
Hội đồng Tướng lĩnh. Đến 7:15 sáng ngày 1 tháng 10, các lãnh tụ đảo chính cũng
chiếm được tòa nhà viễn thông nằm một bên quảng trường trung tâm thủ đô
Jakarta, phát đi tuyên bố trên sóng truyền thanh rằng họ là Phong trào 30 tháng
10, và bày tỏ mục đích của họ là để bảo vệ Tổng thống Sukarno bằng việc ngăn chặn
trước một âm mưu đảo chính do các tướng lĩnh thối nát, được cho là công cụ của
CIA và người Anh, cầm đầu. Đến 2:00 chiều, các lãnh đạo vụ đảo chính phát thêm
ba thông cáo trên đài phát thanh, sau đó họ rơi vào im lặng. Ghi chú: dù thông
tin về một vụ đảo chính của những người cộng sản được miêu tả sinh động trên
hành lang khách sạn tôi lưu trú vào năm 1979, cuộc nổi dậy lại do một đơn vị
quân đội phát động chứ không phải một đám đông theo cộng sản.
Nhưng vụ đảo chính lại quá đỗi vụng về. Bảy đội được cử đi bắt
các tướng lĩnh không được huấn luyện kỹ, dễ bị kích động và chỉ được tập trung
vào phút cuối. Họ lại chưa được diễn tập bắt cóc; nên hai đội quan trọng nhất
được chỉ định bắt cóc (không phải giết) hai vị tướng có cấp hàm cao nhất trong
quân đội lại do hai sĩ quan cấp thấp thiếu kinh nghiệm chỉ huy. Các đội bắt cóc
này kết thúc công việc bằng hành động giết chết ba vị tướng ngay trong nhà họ,
hai người bị bắn còn một người bị đâm chết bằng lưỡi lê. Vị tướng thứ tư trốn
thoát bằng cách vượt tường rào sau nhà. Đội bắt cóc vô tình bắn chết đứa con
gái mới 5 tuổi của ông ta, như mô tả trong bức tranh treo trong khách sạn tôi ở,
và giết luôn viên trung úy tùy viên của ông ta vì nhầm viên trung úy này là ông
tướng (để cho ngắn gọn, tôi vẫn nói đến “bảy vị tướng”). Các đội thi hành nhiệm
vụ chỉ bắt cóc thành công ba viên tướng còn lại, tuy nhiên họ vẫn tiến hành thủ
tiêu những viên tướng này thay vì thực hiện mệnh lệnh đưa các viên tướng còn sống
đến gặp Sukarno.
Dù trong số các lãnh đạo vụ đảo chính có một viên chỉ huy đội
cận vệ của Tổng thống Sukarno, người có công việc phải nắm rõ Sukarno ở đâu vào
mọi lúc, nhưng họ vẫn không tìm thấy ông ta, lúc đó có lẽ đang qua đêm ở nhà của
một trong bốn người vợ của ông. Một sai lầm cực kỳ quan trọng là những lãnh đạo
vụ đảo chính đã không chiếm giữ tổng hành dinh của Lực lượng Dự bị Chiến lược của
quân đội Indonesia (gọi là Kostrad), cũng nằm ở một bên quảng trường Trung tâm,
mặc dù các đơn vị đảo chính đã chiếm giữ ba mặt kia của quảng trường. Các nhà
lãnh đạo vụ đảo chính lại không có xe tăng và bộ đàm. Do họ đã đóng hệ thống điện
thoại của Jakarta vào thời điểm chiếm đóng tòa nhà viễn thông, nên việc các
lãnh đạo này cố liên lạc với nhau ở các điểm khác nhau trong thành phố chỉ còn
một cách là gửi các thông báo qua các đường phố. Có một điều khó tin là các
lãnh đạo đảo chính không cung cấp được thực phẩm và nước uống cho binh lính trú
đóng ở quảng trường, kết quả là nguyên một tiểu đoàn rã ngũ. Một tiểu đoàn khác
đến căn cứ không quân Halim, thấy cổng căn cứ bị đóng nên đi rong trên đường phố
quanh căn cứ suốt đêm. Người lãnh đạo PKI, dường như là một trong những người tổ
chức vụ đảo chính đã không thông báo và phối hợp hành động với những thành viên
còn lại trong PKI, do đó không có vụ nổi dậy rộng lớn nào từ phía những người cộng
sản.
Sau Sukarno, chỉ huy Lực lượng Dự bị Chiến lược là nhà lãnh đạo
chính trị thứ nhì có những phẩm chất vượt trội ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử.
Ông ta có những điểm tương đồng với Sukarno, có cái tên tương tự Suharto dễ nhầm
với Sukarno, cũng là người Java và có khả năng về chính trị (Ảnh 5.3). Nhưng
Suharto khác với Sukarno là trẻ hơn ông này đến 20 tuổi (1921-2008), không đóng
một vai trò đặc biệt nào trong cuộc đấu tranh chống chính quyền thuộc địa Hà
Lan và hầu như vô danh đối với các tầng lớp ngoài quân đội cho đến buổi sáng
ngày 1 tháng 10 năm 1965. Khi Suharto nghe tin về cuộc nổi loạn vào sáng hôm
đó, ông ta đưa ra một chuỗi phương án phản công trong khi chơi trò câu giờ và cố
tính toán một chuỗi khai triển nhanh chóng và mơ hồ. Ông triệu tập chỉ huy của
hai tiểu đoàn quân đội ở quảng trường trung tâm đến gặp ông tại tổng bộ
Kostrad, bảo rằng họ đang tham gia nổi dậy và ra lệnh cho họ phải nhận mệnh lệnh
từ ông; họ chấp hành lệnh theo trách nhiệm. Các nhà lãnh đạo vụ đảo chính, thêm
Sukarno, mà do tình huống xảy ra quá nhanh nên cũng bối rối như Suharto, giờ
đây tập trung ở căn cứ không quân Halim, vì không quân là một binh chủng trong
quân đội có cảm tình với những người cộng sản. Suharto đáp trả bằng việc gửi
binh lính tin cẩn chiếm lại tòa nhà viễn thông đầu tiên, rồi sau đó là căn cứ
không quân Halim một cách dễ dàng, chỉ có đụng độ không đáng kể. Đến 9:00 tối
ngày 01 tháng 10, Suharto phát đi một tuyên bố trên đài phát thanh rằng ông ta
đã kiểm soát được quân đội Indonesia, đè bẹp Phong trào 30 tháng 10, và bảo vệ
được Tổng thống Sukarno. Các nhân vật lãnh đạo cuộc đảo chính trốn khỏi căn cứ
Halim và Jakarta tách riêng ra chạy về các thành phố khác ở miền trung Java bằng
xe lửa hay máy bay, rồi tổ chức những cuộc nổi dậy khác khiến thêm một số tướng
lĩnh bị giết. Nhưng các cuộc nổi dậy này bị đàn áp bởi các đội quân trung thành
với chính phủ chỉ trong một đến hai ngày, cũng như vụ nổi loạn ở Jakarta.
Đến tận ngày nay, nhiều câu hỏi về vụ đảo chính thất bại vẫn
chưa có lời giải đáp. Một điều trông có vẻ rõ ràng là vụ đảo chính có nỗ lực
chung giữa hai nhóm lãnh đạo: một số sĩ quan trẻ trong quân đội và một hay nhiều
thủ lĩnh PKI. Nhưng tại sao những sĩ quan quân đội chuyên nghiệp lại tổ chức một
vụ đảo chính cẩu thả thiếu tính chuyên nghiệp đến vậy? Tại sao họ lại không tổ
chức một cuộc họp báo để lôi kéo sự ủng hộ của công chúng? Có phải sự liên quan
của PKI đến vụ đảo chính chỉ giới hạn trong chỉ một số lãnh đạo của đảng này?
Có hay không sự dính dáng của đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc vạch kế hoạch
và hỗ trợ cho vụ đảo chính? Tại sao các nhà lãnh đạo vụ đảo chính lại không đưa
Suharto vào danh sách các tướng lĩnh phải bắt cóc? Tại sao lực lượng đảo chính
không chiếm tổng bộ Kostrad ở một bên quảng trường trung tâm? Liệu Tổng thống
Sukarno có biết trước về vụ đảo chính hay không? Tướng Suharto có biết trước vụ
đảo chính không? Liệu các tướng lĩnh chống cộng có biết trước vụ đảo chính
nhưng vẫn để nó nổ ra nhằm tạo lý cớ cho những kế hoạch đã vạch ra trước đó để
đàn áp PKI hay không?
Khả năng sau cùng có lý lẽ mạnh mẽ do tốc độ phản ứng của
quân đội. Chỉ trong vòng ba ngày các chỉ huy quân sự đã bắt đầu một chiến dịch
tuyên truyền để biện minh cho việc bố ráp và giết hại những người cộng sản
Indonesia và các cảm tình viên trên diện rộng (Ảnh 5.4). Cuộc đảo chính ban đầu
chỉ giết 12 người ở Jakarta vào ngày 1 tháng 10, cộng thêm một vài người tại
các thành phố khác ở Java vào ngày 2 tháng 10. Nhưng chính những cái chết ít ỏi
đó đã cho Suharto và quân đội Indonesia một lý do để giết người hàng loạt. Sự
đáp trả lại vụ đảo chính quá nhanh, hiệu quả và tổng lực đến nỗi nó khó có thể
là một kiểu ứng biến tự phát chỉ trong vòng vài ngày để đáp lại những khai triển
không lường trước được; thay vào đó hẳn nó phải liên quan đến kế hoạch định sẵn
chỉ chờ một lý do để triển khai, như vụ đảo chính vụng về ngày 1 và 2 tháng 10
đã cung cấp.
Các động cơ của quân đội trong vụ thảm sát này nảy sinh từ sự
phá bỏ thỏa hiệp chính trị và chính quyền dân chủ của Indonesia vào thập niên
1950 và đầu thập niên 1960, lên đến đỉnh điểm trong cuộc đấu tranh quyền lực của
ba phe phái vào năm 1965 giữa PKI, quân đội và Tổng thống Sukarno. Dường như
quân đội bắt đầu thua trong cuộc đấu này. Trong khi đó, PKI, đảng phái chính trị
lớn nhất và được tổ chức tốt nhất Indonesia, lại đang đe dọa quyền lực chính trị
của quân đội và tiền bạc mà quân đội bòn rút được từ các doanh nghiệp nhà nước,
buôn lậu và tham nhũng. Đề xuất của PKI nhằm trang bị vũ khí cho công nhân và
nông dân như là một lực lượng quân đội riêng lại đe dọa độc quyền sức mạnh của
quân đội. Và như những sự cố tiếp đó thể hiện, một mình Tổng thống Sukarno
không thể chống lại quân đội. Nhưng ông ta lại coi PKI như một đồng minh tiềm
năng đóng vai trò đối trọng với quân đội. Thêm vào đó, bản thân quân đội cũng bị
chia rẽ, đồng thời trong đội ngũ có cả những cảm tình viên cộng sản, những người
đã tổ chức vụ đảo chính (cùng với một hay nhiều lãnh tụ PKI). Từ đó, vụ đảo
chính đã cho các sĩ quan quân đội chống cộng một cơ hội thanh trừng các đối thủ
chính trị trong nội bộ quân đội. Nên ta cũng không ngạc nhiên khi thấy các chỉ
huy quân đội được báo động về quyền lực đang trỗi dậy của PKI chuẩn bị kế hoạch
dự phòng cho riêng họ, và vụ đảo chính đã cho nó cơ hội khởi động. Có một điều
không rõ là bản thân Suharto có dính dáng tới việc vạch ra kế hoạch dự phòng
hay không, hay (cũng giống như tướng Pinochet của Chile) trong phút cuối ông ta
trở thành lãnh đạo của một vụ lật đổ quân sự do những người khác chuẩn bị.
Vào ngày 4 tháng 10, Suharto đến một vùng gọi là Lubang Buaya
(“Lỗ Cá sấu” theo tiếng Indonesia), nơi các đội đảo chính đã ném xác của các vị
tướng xuống một cái giếng. Những cái xác đang bị phân hủy được kéo lên khỏi giếng
trước mặt các nhiếp ảnh gia và ống kính truyền hình. Vào hôm sau, ngày 5 tháng
10, quan tài của các vị tướng được chở về qua các con đường ở Jakarta với hàng
ngàn người dân xếp hàng hai bên đường chờ đợi. Lãnh đạo quân đội chống cộng
nhanh chóng kết tội cho đảng PKI là giết người, dù những vụ giết người này rõ
ràng là do các đơn vị quân đội thực hiện. Một chiến dịch tuyên truyền chỉ có thể
dàn dựng trước mới nhanh chóng được tung ra để tạo nên một không khí cuồng loạn,
cảnh báo người dân Indonesia không theo cộng sản rằng họ đang gặp một mối nguy
hiểm chết người từ những người cộng sản, những kẻ được cho là đã lên danh sách
những người cần giết, và sẽ móc mắt họ. Những thành viên nữ phụ trợ của PKI bị
gán cho việc tra tấn tình dục thô bạo và tùng xẻo các vị tướng bị bắt cóc. Tổng
thống Sukarno cố giảm thiểu sự quan trọng của vụ đảo chính ngày 1 tháng 10 và
phản đối quy mô các giải pháp phản ứng của quân đội, nhưng giờ đây quân đội đã
giật quyền kiểm soát tình hình khỏi tay ông. Từ ngày 5 tháng 10 trở đi, quân đội
bắt đầu một cuộc bố ráp nhằm loại trừ mọi thành viên của đảng PKI và các tổ chức
trực thuộc, cùng gia đình của các thành viên này.
Phản ứng của PKI không như những gì người ta trông đợi từ một
tổ chức từng vạch ra kế hoạch đảo chính. Suốt từ tháng 10 đến tháng 11, các
thành viên PKI bị triệu tập đến các căn cứ quân sự, trong đó có nhiều người tự
nguyện đến, vì họ hi vọng chỉ bị thẩm vấn rồi được thả ra. Đảng PKI đúng ra có
thể hỗ trợ vụ đảo chính và cản trở những kế hoạch phản công của quân đội bằng
cách huy động công nhân đường sắt phá hoại tàu hỏa và máy móc để phá phương tiện
vận chuyển của quân đội, và nông dân phong tỏa đường bộ; nhưng họ đã không làm
điều đó.
Do các vụ giết hại người dân Indonesia không được tiến hành
có tổ chức và lưu hồ sơ một cách kỹ càng như các vụ giết người của Đức Quốc xã
trong các trại tập trung ở Thế chiến II, nên số lượng nạn nhân còn quá mơ hồ. Ước
lượng cao nhất là khoảng hai triệu người; con số được trích dẫn rộng rãi nhất
là khoảng nửa triệu người theo ước tính lúc đó của ủy ban tìm hiểu sự thực của
Tổng thống Sukarno. Kỹ thuật giết người của Indonesia cũng đơn giản hơn của Đức
Quốc xã: nạn nhân bị giết từng người một bằng dao rựa và các loại vũ khí cầm
tay khác hoặc thắt cổ, chứ không phải giết một lúc hàng trăm người bằng hơi ngạt.
Việc tiêu hủy xác chết cũng bừa bãi thay vì được xử lý đặc biệt bằng các lò
thiêu lớn. Tuy nhiên, những gì xảy ra ở Indonesia vào các năm 1965 và 1966 vẫn
được xếp vào hàng một trong những bi kịch thảm sát hàng loạt lớn nhất trên thế
giới kể từ Thế chiến II.
Một hiểu lầm phổ biến là nạn nhân các vụ thảm sát này chủ yếu
là người Indonesia gốc Hoa. Không phải như thế, hầu hết nạn nhân đều là người
Indonesia thuần túy; các mục tiêu là những người Indonesia bị nghi là cộng sản
và thành viên trong gia đình chứ không nhất thiết là người Hoa. Một hiểu lầm
khác, những vụ giết người là một sự bùng nổ tự phát bởi người dân mất lý trí, cảm
xúc bất ổn và những người thiếu chín chắn có khuynh hướng “nổi cơn điên”
(amok), một từ Malay để chỉ những người nổi điên rồi trở thành kẻ sát nhân.
Không, tôi không biết bất kỳ chứng cứ nào cho thấy người Indonesia thực chất là
bất ổn và có máu giết người. Thay vào đó, quân đội Indonesia đã vạch kế hoạch
và bố trí việc giết người để bảo vệ quyền lợi của họ, và chiến dịch tuyên truyền
của quân đội đã thuyết phục nhiều dân thường thực hiện các vụ thảm sát để đến
phiên họ bảo vệ các quyền lợi của mình. Chiến dịch giết chóc của quân đội là ác
độc nhưng không phải là bất hợp lý: nó nhắm đến việc tiêu diệt các đối thủ mạnh
nhất ngay trong quân đội, và mục đích của họ đã thành công.
Do đó, tình huống xảy ra vào cuối tháng 10 năm 1965 khiến
Suharto nắm được sự trung thành của một số chứ không phải toàn bộ lãnh đạo quân
đội. Sukarno vẫn là tổng-thống-trọn-đời, vẫn được nhiều người dân tôn kính như
vị cha già khai quốc của đất nước Indonesia, vẫn còn nổi tiếng trong giới sĩ
quan và binh lính trong quân đội, và vẫn có kỹ năng chính trị. Suharto không thể
gạt Sukarno sang một bên cũng như một số tướng lĩnh Mỹ không thể làm vậy với
George Washington, người cha khai quốc yêu quý của nước Mỹ, ở nhiệm kỳ tổng thống
thứ hai.
Trước đó, Suharto chỉ được xem là một vị tướng có khả năng chứ
không có gì nổi trội. Nhưng giờ đây ông chuyển sang thể hiện các kỹ năng về
chính trị còn vượt cả Sukarno. Dần dần, ông giành được sự ủng hộ của những sĩ
quan quân đội khác, thay thế các quan chức quân sự lẫn dân sự có cảm tình với đảng
PKI bằng những người trung thành, rồi sau hơn hai năm rưỡi, ông tiến dần một
cách thận trọng đến cương vị thay thế Sukarno trong khi vẫn vờ hành động theo lệnh
của Sukarno. Vào tháng 3 năm 1966, Sukarno bị ép ký một bức thư nhường quyền lực
cho Suharto; vào tháng 3 năm 1967, Suharto trở thành tổng thống tạm quyền, và đến
tháng 3 năm 1968, ông thay thế Sukarno trong cương vị tổng thống. Ông chính thức
cầm quyền trong suốt thời gian 30 năm.
Ngược hẳn với Sukarno, Suharto không theo đuổi chính sách Thế
giới Thứ ba chống chế độ thực dân và cũng không có tham vọng đất đai bên ngoài
quần đảo Indonesia. Thay vào đó, ông ta tập trung vào những vấn đề trong nước.
Đặc biệt, Suharto kết thúc cuộc “đối kháng” vũ trang với Malaysia về vấn đề
Borneo, tái gia nhập Liên Hợp Quốc, từ bỏ mối liên kết bị thúc đẩy về ý thức hệ
với Trung Hoa Cộng sản, và thay vào đó chuyển hướng sang phương Tây vì những lý
do kinh tế và chiến lược.
Bản thân Suharto thiếu nền tảng học vấn đại học và không hiểu
biết chút nào về lý thuyết kinh tế; nhưng thay vào đó, ông ta đặt nền kinh tế
“chính thức” (trái với nền kinh tế không chính thức được mô tả dưới đây) vào
tay của các nhà kinh tế Indonesia tài năng, nhiều người trong số này có bằng cấp
tại Đại học California ở Berkeley. Việc này tạo nên tên hiệu “nhóm mafia
Berkeley.” Dưới thời Sukarno, nền kinh tế bị thâm hụt chi tiêu do nợ nần và lạm
phát trầm trọng. Cũng như nhóm Các chàng trai Chicago của tướng Pinochet ở
Chile, nhóm mafia Berkeley của Suharto thực hiện những cải cách kinh tế bằng việc
cân đối ngân sách, cắt giảm bao cấp, áp dụng một nền kinh tế định hướng thị trường,
đồng thời giảm nợ công và lạm phát. Tận dụng sự bãi bỏ chính sách thiên tả của
Sukarno, nhóm mafia Berkeley kêu gọi đầu tư nước ngoài và thu hút nguồn tài trợ
từ Mỹ và châu Âu để phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên của Indonesia, đặc
biệt là dầu khí và khoáng sản.
Một bộ phận khác của việc hoạch định kinh tế Indonesia là
quân đội. Suharto tuyên bố: “Quân đội đã có quyền lợi lớn trong tiến trình hiện
đại hóa đất nước và xã hội, đồng thời có nguyện vọng đóng một vai trò năng động
trong tiến trình này… Nếu quân đội đứng trung lập trong việc đối mặt với các vấn
đề củng cố Trật tự Mới, nó sẽ từ bỏ vai trò cũng như lời kêu gọi của lịch sử…
Quân đội có hai chức năng, đó là một công cụ vũ trang của nhà nước và một nhóm
hoạt động để đạt được các mục tiêu của cuộc cách mạng.” Hãy thử hình dung một
tướng lĩnh Mỹ trở thành tổng thống và nói điều này về quân đội Mỹ xem! Trên thực
tế, quân đội Indonesia đã phát triển một chính quyền song song với một ngân
sách tương đương gần bằng ngân sách chính thức của chính phủ. Dưới thời
Suharto, các sĩ quan quân đội chiếm hơn một nửa chức vụ thị trưởng, quản lý địa
phương và tỉnh trưởng. Các sĩ quan quân đội địa phương có quyền bắt giữ vô hạn
định bất kỳ ai bị nghi ngờ có những hành động “gây tổn hại nền an ninh.”
Các sĩ quan quân đội cũng thành lập doanh nghiệp và học đòi
tham nhũng đồng thời tống tiền ở phạm vi rộng lớn để tài trợ cho quân đội và nhồi
nhét cho đầy túi riêng của mình. Trong khi Suharto không có lối sống xa hoa phô
trương, thì vợ con ông ta lại nổi tiếng tham nhũng. Ngay cả khi không đầu tư
vào quỹ riêng của mình, những người con của ông cũng mở những doanh nghiệp đủ
làm cho họ trở nên giàu có. Sau đó, khi gia đình ông ta bị kết tội tham nhũng,
Suharto nổi giận và khăng khăng rằng sự giàu có mới phát của gia đình con cái
mình chỉ là nhờ tài kinh doanh của họ. Người Indonesia gán cho vợ của Suharto
(Ibu Tien = Quý bà Tien) một hỗn danh là “Quý bà Mười phần trăm” vì người ta
cho rằng bà luôn nhận một khoản trích 10% giá trị hợp đồng với chính phủ. Vào
cuối giai đoạn tại vị của Suharto, Indonesia được xếp là một trong những quốc
gia tham nhũng nhất thế giới.
Nạn tham nhũng tràn ngập khắp mọi lĩnh vực đời sống ở
Indonesia. Chẳng hạn, khi tôi đang làm việc cho Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên
(World Wildlife Fund – WWF) ở Indonesia, một người bạn Indonesia cùng làm việc
trong tổ chức này chỉ cho tôi một giám đốc văn phòng WWF ở Indonesia và thì thầm
bên tai tôi hỗn danh của ông ta là “Ngài Tham nhũng” – vì ông ta không chỉ tham
nhũng bình thường, mà còn là loại tham nhũng siêu hạng; một con tàu là quà tặng
của tổ chức WWF nước ngoài đã biến thành con tàu riêng của “Ngài Tham nhũng.” Một
ví dụ khác về tham nhũng ở ngoài khu vực chính phủ là, công việc của tôi ở
Indonesia theo thông lệ đòi hỏi tôi phải bay cùng hành lý nặng nề, cồng kềnh
khiến tôi luôn chịu cước phí hành lý vượt trọng lượng quy định. Tôi bắt đầu
quen với việc mỗi lần làm thủ tục kiểm tra ở quầy sân bay địa phương, thì nhân
viên làm thủ tục kiểm tra của hãng hàng không ra khỏi quầy kiểm tra gặp tôi và
yêu cầu thanh toán cước phí phụ thu bằng tiền mặt để nhét túi chứ không thanh
toán cho hãng hàng không.
Suharto thay nguyên tắc cai trị “dân chủ có định hướng” của
Sukarno bằng nguyên tắc có tên gọi “Trật tự Mới,” được cho là trở lại với những
khái niệm thuần túy trong hiến pháp Indonesia năm 1945 và năm nguyên tắc
Pancasila. Suharto tuyên bố đang gỡ bỏ những thay đổi tồi tệ sau này do các đảng
phái chính trị đưa ra mà ông thấy không có giá trị. Ông ta xem người dân
Indonesia là vô nguyên tắc, dốt nát, dễ bị ảnh hưởng trước những tư tưởng nguy
hiểm và chưa sẵn sàng cho một chế độ dân chủ. Trong tự truyện của mình, ông ta
viết: “Trong thể chế dân chủ Pancasila, không có chỗ cho sự đối lập theo kiểu
phương Tây. Trong thể chế dân chủ Pancasila, chúng ta nhận thấy có sự cân nhắc
[musyawarah] để đạt đến đồng thuận [mufakat] của người dân… nhưng chúng ta
không nhận thấy sự đối lập dựa trên tính mâu thuẫn, sự đối lập chỉ cố tạo nên
khác biệt… Dân chủ phải biết kỷ luật và trách nhiệm vì nếu không có hai điều
trên thì dân chủ chỉ có nghĩa là một điều mơ hồ, rối rắm.”
Những nét đặc trưng này của Suharto – cho rằng chỉ có một
phương cách, và không nên bàn cãi gì nữa – được áp dụng cho mọi phạm trù đời sống
của người dân Indonesia. Chỉ có một hệ tư tưởng chấp nhận được, đó là
Pancasila, mà viên chức chính quyền và thành viên của quân đội phải học tập
theo một chương trình truyền bá trong guồng máy quan liêu. Dĩ nhiên, những cuộc
đình công của giới lao động bị cấm đoán: chúng trái ngược với nguyên tắc
Pancasila. Duy nhất một định danh về chủng tộc được thống nhất là người Indonesia,
do đó người Indonesia gốc Hoa bị cấm dùng chữ Hoa hoặc giữ lại tên tiếng Hoa của
mình. Sự thống nhất chính trị quốc gia không thừa nhận quyền tự trị địa phương
cho các vùng Aceh, Đông Timor, New Guinea thuộc Indonesia hay những vùng ngoại
lệ khác. Về mặt lý tưởng, đúng ra Suharto chỉ thích có một đảng phái chính trị,
nhưng các cuộc bầu cử Quốc hội cần thiết phải có nhiều đảng phái tranh cử để
chính phủ Indonesia trông có vẻ chính danh trên trường quốc tế. Tuy nhiên, một
“nhóm hoạt động” trong chính phủ duy nhất gọi là Golkar luôn thắng cử với tỉ lệ
lên đến 70% số phiếu bầu, trong khi mọi đảng phái chính trị khác hợp nhất thành
hai nhóm hoạt động, một trong hai nhóm thuộc khối Hồi giáo và nhóm kia thuộc khối
không theo Hồi giáo, và luôn luôn thất cử. Vì thế, Indonesia dưới thời Suharto
trở thành một đất nước quân sự, gần giống như trong thập niên cuối cùng của
chính quyền thuộc địa Hà Lan – chỉ khác một điều là đất nước này giờ đây được
điều hành bởi người Indonesia chứ không phải người ngoại quốc.
Trưng bày lịch sử mà tôi xem trong hành lang khách sạn năm
1979 thể hiện sự nhấn mạnh của Suharto về vụ đảo chính bị phá vỡ là một âm mưu
của phe cộng sản, được khắc họa như là thời điểm xác lập sự thay đổi trong lịch
sử Indonesia hiện đại. Ở Tượng đài Pancasila bề thế dựng năm 1969 để tưởng nhớ
việc giết hại bảy vị tướng (Ảnh 5.5), được cho là “bảy anh hùng của cuộc cách mạng,”
hằng năm (đến bây giờ vẫn thế) đều tổ chức một buổi lễ nghiêm trang để tưởng nhớ
và tái hiến dâng cho Pancasila. Một bức phù điêu gắn trên tượng đài, và một Bảo
tàng về sự bội phản của PKI ở kế cận, mô tả lịch sử đất nước Indonesia thời kỳ
hậu thuộc địa là một sự nối tiếp một chuỗi dài những hành động phản bội của những
người cộng sản, và đỉnh điểm là vụ đảo chính vào năm 1965. Vào ngày 30 tháng 9
hằng năm, mọi đài truyền hình đều được yêu cầu phát sóng, và mọi học sinh bị buộc
phải xem, một cuốn phim dài bốn tiếng do chính phủ đặt hàng kể về bảy vụ bắt
cóc và giết người man rợ. Dĩ nhiên không một lời nhắc đến vụ đáp trả giết hại nửa
triệu người Indonesia. Mãi đến 12 năm sau (năm 1979) khi tôi bắt đầu làm việc ở
Indonesia thì hầu hết tù nhân chính trị cuối cùng mới được trả tự do.
Quốc hội Indonesia bầu lại Suharto làm tổng thống hết nhiệm kỳ
năm năm này đến nhiệm kỳ năm năm khác. Sau gần 33 năm, sau khi Quốc hội tôn
vinh ông thêm một nhiệm kỳ bảy năm thì chế độ của ông ta sụp đổ nhanh chóng và
đầy bất ngờ vào tháng 5 năm 1998. Chế độ này đã bị xói mòn bởi sự kết hợp giữa
nhiều yếu tố. Một trong số đó là khủng hoảng tài chính châu Á làm giảm giá trị
đồng tiền Indonesia khoảng 80% và kích động bạo loạn. Yếu tố khác đến từ chính
Suharto, ở tuổi 77, ông ta trở nên mất kết nối với thực tại, mất luôn các kỹ
năng chính trị, và bị sốc bởi cái chết của vợ ông vào năm 1996, người vừa là bạn
đời vừa là nơi nương tựa gần gũi nhất. Có một nỗi giận dữ lan truyền trong công
chúng về sự tham nhũng và tài sản mà gia đình ông ta tích lũy được. Mặc dù những
thành công của Suharto đã tạo ra một xã hội Indonesia công nghiệp hóa hiện đại,
nhưng những công dân của ông ta không còn chịu đựng được sự ngoan cố của ông ta
khi cho rằng người dân không thể tự nắm quyền được. Quân đội Indonesia đã đi đến
kết luận, cũng như quân đội Chile sau cuộc bỏ phiếu “Không!” năm 1998, rằng họ
không thể chặn được làn sóng phản kháng, và rằng Suharto (cũng như Pinochet)
nên từ chức trước khi tình hình vượt khỏi tầm kiểm soát.
Vào năm 1999, một năm sau khi Suharto bị lật đổ, Indonesia tiến
hành các cuộc bầu cử tương đối tự do đầu tiên sau hơn 40 năm.
Kể từ đó, Indonesia có một chuỗi các cuộc bầu cử với tỉ lệ cử
tri đi bầu còn cao hơn nhiều so với Mỹ: tỉ lệ đi bầu là 70%-90%, trong khi tỉ lệ
đi bầu ở Mỹ hiếm khi đạt 60% ngay cả ở các cuộc bầu cử tổng thống. Trong cuộc bầu
cử tổng thống gần đây nhất vào năm 2014, một người chống lại thiết chế cầm quyền
giành chiến thắng, đó là cựu thị trưởng Jakarta, Joko Widodo, người đã đánh bại
đối thủ vốn là một tướng lĩnh quân đội. Tình trạng tham nhũng giảm, và đôi khi
còn nhận sự trừng phạt.
Chúng ta hãy làm một tóm tắt về chính quyền Suharto và di sản
của biến cố bộc phát sau vụ đảo chính thất bại vào năm 1965 cùng vụ phản đảo
chính thành công. Di sản tồi tệ là điều hiển nhiên. Tồi tệ nhất là vụ thảm sát
hàng loạt nửa triệu người Indonesia và giam giữ 100.000 người trong hơn một thập
niên. Tham nhũng tràn lan làm giảm tỉ lệ phát triển của Indonesia xuống dưới mức
mà đáng ra họ phải được thụ hưởng nếu như số tiền chảy vào túi quân đội không
quá nhiều, khi quân đội điều hành chính quyền riêng song hành với một ngân sách
tương đương với chính phủ. Vấn nạn tham nhũng này đã lây lan trong khắp xã hội
Indonesia (ngay cả ở những nhân viên hàng không). Chính đức tin của Suharto rằng
người dân của ông ta không thể tự điều hành được đã lấy đi vài thập niên cơ hội
của người Indonesia để học cách tự điều hành đất nước một cách dân chủ.
Từ các sự kiện năm 1965, lực lượng quân đội Indonesia rút ra
bài học là thành công phải đạt được bằng việc sử dụng sức mạnh và giết người
thay vì giải quyết các vấn đề khiến người dân không hài lòng. Chính sách trấn
áp bằng việc giết người của quân đội đã khiến Indonesia phải trả giá đắt ở New
Guinea thuộc Indonesia, ở Sumatra, và đặc biệt là ở Đông Timor thuộc Indonesia
bị phân chia về mặt chính trị giữa một thuộc địa Bồ Đào Nha ở phía đông và lãnh
thổ Indonesia ở phía tây. Khi người Bồ Đào Nha bỏ rơi những thuộc địa cuối cùng
vào năm 1974, mọi logic về mặt địa lý đều chứng tỏ Đông Timor là một tỉnh của
Indonesia, vốn đã cung cấp cho nhiều tỉnh khác các nền văn hóa, ngôn ngữ và lịch
sử khác nhau. Dĩ nhiên người ta có thể phản bác rằng các biên giới quốc gia
không chỉ được định hình bởi tính hợp lý về mặt địa lý: Canada không phải là một
phần của Mỹ, và Đan Mạch cũng không phải là một phần của Đức. Nhưng với Đông
Timor thì không thể đem so sánh với Canada hay Đan Mạch: nó chỉ là nửa phía
đông của một đảo nhỏ nằm trong một chuỗi dài những hòn đảo, và những phần còn lại
đều hoàn toàn thuộc về Indonesia. Nếu chính phủ và quân đội Indonesia thể hiện
một chút khéo léo, họ có thể đã thương thảo một sự sắp xếp để hợp nhất Đông
Timor với một số quyền tự trị vào Indonesia rồi. Thay vào đó, quân đội
Indonesia lại xâm lấn, thảm sát và chiếm đóng Đông Timor. Dưới áp lực của quốc
tế, và trong nỗi kinh hoàng của quân đội Indonesia, Tổng thống Habibie, người
tiếp nhiệm Suharto, đã cho phép một cuộc trưng cầu dân ý về nền độc lập của
Đông Timor vào tháng 8 năm 1999. Đến lúc đó, dĩ nhiên số đông cử tri lấn át đều
bỏ phiếu cho nền độc lập của họ. Ngay sau đó, quân đội Indonesia tổ chức những
đội dân quân thân Indonesia để tiếp tục cuộc thảm sát, cưỡng bức nhiều người
dân sơ tán đến Tây Timor thuộc Indonesia rồi đốt trụi hầu hết nhà cửa của quốc
gia mới định hình này – nhưng vô ích, vì các đội quân quốc tế đến khôi phục trật
tự, và cuối cùng Đông Timor vẫn nắm quyền kiểm soát và trở thành Cộng hòa Dân
chủ Đông Timor (Timor-Leste) hiện nay. Cái giá phải trả của người Đông Timor là
khoảng một phần tư dân số bị chết, và những người sống sót giờ đây hình thành
quốc gia nhỏ bé nghèo nhất châu Á với thu nhập bình quân đầu người thấp hơn
Indonesia sáu lần. Cái giá phải trả của Indonesia là giờ đây ngay giữa họ là một
quốc gia riêng biệt có chủ quyền trên một đáy biển phong phú tài nguyên dầu lửa
đầy tiềm năng mà nguồn doanh thu từ đó sẽ không chảy vào Indonesia nữa.
Bây giờ chúng ta đang dừng lại ở những di sản kinh hoàng của
chính quyền Suharto, có vẻ không còn gì để nói về nó nữa. Nhưng lịch sử hiếm
khi phơi bày cho chúng ta điều xấu ác thuần túy hay điều tốt đẹp thuần túy, và
lịch sử nên được xem xét một cách trung thực. Về nhiều mặt thì nó đúng là ghê tởm,
nhưng chính quyền Suharto cũng có những di sản tích cực. Nó đã tạo ra và duy
trì sự phát triển kinh tế, ngay cả khi sự phát triển này bị giảm thiểu do tệ nạn
tham nhũng (Ảnh 5.6, 5.7). Nó thu hút đầu tư nước ngoài. Nó tập trung năng lực
vào các vấn đề trong nước thay vì phân tán vào nền chính trị chống thực dân
trên thế giới hay vào nỗ lực triệt phá nước láng giềng Malaysia. Nó thúc đẩy kế
hoạch hóa gia đình, từ đó giải quyết một trong những vấn đề căn bản lớn nhất
làm điêu đứng đất nước Indonesia độc lập cũng như chế độ thuộc địa của người Hà
Lan trước đó. (Ngay ở những khu làng xa xôi nhất thuộc New Guinea của
Indonesia, tôi vẫn thấy những tấm bích chương của chính phủ khuyến khích kế hoạch
hóa gia đình.) Nó đảm đương một cuộc cách mạng xanh bằng việc cung cấp phân bón
và cải thiện hạt giống làm gia tăng nhanh chóng năng suất lúa và hoa màu, từ đó
nâng cao sản lượng nông nghiệp và dinh dưỡng cho người dân Indonesia trên diện
rộng. Trước năm 1965, Indonesia luôn trong tình trạng căng thẳng; ngày nay, nó
không cho thấy bất kỳ nguy cơ cận kề nào về sự phân rã dù đất nước này hợp
thành từ những hòn đảo, lãnh thổ trải dài hàng ngàn dặm, có đến hàng trăm ngôn
ngữ bản địa, và việc tồn tại đồng thời nhiều tôn giáo và tín ngưỡng vốn là những
mầm mống gây thảm họa. 80 năm trước, hầu hết người dân không bao giờ nghĩ mình
là người Indonesia, nhưng giờ đây họ tự hào chọn nó như một căn tính quốc gia.
Nhưng vẫn có nhiều người, kể cả người Indonesia hay người
ngoài, cho điểm chính quyền Suharto bằng không, thay vì có đánh giá một số điểm
tích cực. Họ phản bác: Indonesia cũng có thể đạt được những tiến bộ tương tự dưới
một chính quyền khác chứ không chỉ dưới thời Suharto. Đây lại là một dạng câu hỏi
“giá như?” trong lịch sử, nhưng những câu hỏi như thế thì lại không thể trả lời
với độ tin cậy chính xác. Người ta chỉ có thể so sánh những gì thực sự xảy ra với
những gì có thể xảy ra ở Indonesia sau năm 1965 dưới hai lựa chọn khả dĩ: việc
chính quyền Sukarno nắm quyền cho đến năm 1965, hay thay thế nó bằng một chế độ
cộng sản dưới sự lãnh đạo của PKI, vốn đang tìm cách nắm lấy quyền lực. Một mặt,
chính quyền Sukarno đã đẩy đất nước Indonesia đến những xáo trộn chính trị và bế
tắc về kinh tế đến năm 1965. Những vụ tra tấn, giết người, nghèo đói áp bức và
chính sách ở một số nước khác đã cảnh báo chúng ta rằng một sự thay thế cho
chính quyền Suharto có thể còn tồi tệ hơn cả những gì Suharto đã làm. Mặt khác,
cũng có những người cho rằng chính quyền Sukarno đang dẫn đến những điều kỳ diệu,
hay một chế độ cộng sản Indonesia có thể chứng tỏ sự khác biệt với các chế độ cộng
sản ở những nơi khác trên thế giới. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được.
Làm thế nào để biến cố ở Indonesia khớp với bộ khung của
chúng ta khiến biến cố quốc gia tương đồng với biến cố cá nhân?
Indonesia đúng là minh họa cho sự thay đổi có chọn lọc và vẽ
ra một hàng rào (nhân tố số 3, Bảng 1.2). Bên trong phạm vi hàng rào là những
lĩnh vực chủ yếu được cho là chín muồi để thay đổi. Những lĩnh vực đó bao gồm sự
thay thế chính phủ dân sự bằng một chính quyền độc tài quân sự của Suharto, và
thay đổi ngược lại bởi những người kế nhiệm ông ta, cùng việc sử dụng các nhà
kinh tế được học hành bài bản ở phương Tây để biến sự thoái trào kinh tế thành
phát triển kinh tế, và việc Suharto loại bỏ tham vọng lãnh đạo chính trị Thế giới
Thứ Ba của Sukarno. Mặt khác, bên ngoài hàng rào vẫn còn những đặc điểm chủ yếu
của Indonesia được lưu giữ nguyên vẹn sau năm 1965, bao gồm sự toàn vẹn lãnh thổ
quốc gia và sự khoan dung lớn lao về mặt tôn giáo. Những tính chất liên tục này
được xem là giá trị cốt lõi không bàn cãi bởi cả Sukarno và Suharto cũng như những
người kế nhiệm Suharto, ngoại trừ việc Sukarno mong muốn ngả sang phía những
người cộng sản.
Một số nhân tố ở Indonesia khiến đất nước này gặp phải khó
khăn trong việc xử lý những vấn đề của mình. Với tư cách là một cựu thuộc địa mới
được độc lập, Indonesia chỉ bắt đầu với căn tính quốc gia hạn chế (nhân tố 6) –
chứ không như Phần Lan, vốn đã có được một chính quyền tự quản độc lập đáng kể
trong một thế kỷ trước khi giành được độc lập hoàn toàn. Với tư cách một quốc
gia mới, Indonesia thiếu sự tự tin từ một lịch sử thay đổi thành công trước đó,
ngoại trừ những cuộc đấu tranh giành độc lập đất nước ở giai đoạn 1945-1949
(nhân tố số 8). Việc tự đánh giá thực tế trung thực (nhân tố số 7) ở Tổng thống
Sukarno còn khiếm khuyết, ông ta tin mình được phú một khả năng độc đáo là hiểu
được những ước muốn vô thức của người dân Indonesia. Những giá trị cốt lõi của
hầu hết sĩ quan quân đội chỉ mang tính cực đoan chứ không phải ước mong tốt đẹp
(nhân tố số 11). Sự tự do hành động của Indonesia bị hạn chế bởi những ràng buộc
của nghèo đói và phát triển dân số (nhân tố số 12).
Mặt khác, Indonesia cũng có được những thuận lợi trong việc xử
lý các vấn nạn. Vốn là một quần đảo, đất nước này không chịu những kiềm chế từ
bên ngoài như Chile nhưng khác với Phần Lan: không một quốc gia nào đe dọa
Indonesia kể từ khi người Hà Lan rời đi (lại nhân tố số 12). Những kinh tế gia
thuộc nhóm mafia Berkeley có thể đưa ra những hình mẫu đã được thử nghiệm tốt ở
các nước khác để cải tổ nền kinh tế Indonesia và đạt được sự phát triển kinh tế
(nhân tố số 5). Sau khi Suharto bãi bỏ chính sách đối ngoại thân Trung Hoa Cộng
sản của người tiền nhiệm và áp dụng một chính sách thân phương Tây, Indonesia
nhận được nhiều đầu tư và trợ giúp của nước ngoài từ các nước phương Tây trong
việc tái thiết nền kinh tế (nhân tố số 4).
Suharto là minh họa cho sự đánh giá trung thực, thực tế, và đầy
mưu thuật (nhân tố số 7). Trong việc dần dần loại bỏ người cha khai quốc và
cũng là tổng thống đầu tiên của đất nước Indonesia là Sukarno, Suharto tiến
hành rất thận trọng, tính toán từng bước một về những việc ông ta có thể tránh
được hoặc không tránh được bị chỉ trích hay trừng phạt, và rồi cuối cùng ông ta
cũng thành công trong việc thay thế Sukarno, mặc dù phải mất thời gian. Suharto
cũng thực tế trong việc loại bỏ những tham vọng về chính sách đối ngoại của
Sukarno vượt quá tầm đất nước Indonesia, bao gồm cuộc chiến tranh du kích chống
Malaysia và nỗ lực lãnh đạo phong trào chống thực dân trên thế giới.
Indonesia cũng minh họa ba vấn đề về biến cố quốc gia không nảy
sinh đối với biến cố cá nhân. Giống Chile nhưng khác với Phần Lan, Indonesia
minh họa sự thất bại của thỏa hiệp chính trị tạo ra sự bế tắc và các phong trào
ly khai đầu thập niên 1950, dẫn đến việc Sukarno đặt ra thiết chế “dân chủ có định
hướng,” rồi đến việc đảng Cộng sản Indonesia kêu gọi trang bị vũ khí cho công
nhân và nông dân khiến quân đội trả đũa bằng vụ thảm sát tập thể. Cũng giống
Chile nhưng khác với Phần Lan, Indonesia minh họa cho vai trò của những lãnh đạo
khác thường. Trong trường hợp của Indonesia, những nhân vật đó là Sukarno, người
được ban cho một uy tín thu hút quần chúng và cũng gặp họa vì quá cả tin vào uy
tín của mình; và Suharto, vốn được ban cho đức tính kiên nhẫn, cẩn thận và các
kỹ năng chính trị, nhưng cũng gặp tai ương bởi chính sách giết người tàn bạo, bởi
sự mù quáng trước sự tham nhũng trong gia đình, và bởi việc thiếu lòng tin vào
người dân của mình. Cuối cùng, về sự hòa giải sau những vụ giết người được khơi
dậy từ việc thỏa hiệp chính trị thất bại, thì Indonesia lại ở cực đối nghịch với
Phần Lan, với Chile ở trung gian: Phần Lan nhanh chóng hòa giải sau cuộc Nội
chiến; nhiều tranh cãi và xét xử công khai các thủ phạm dính líu vào biến cố ở
Chile, nhưng sự hòa giải vẫn chưa hoàn tất; trong khi đó ở Indonesia thì sự
tranh cãi hay hòa giải rất hạn chế, đồng thời lại không có vụ xét xử nào. Những
nhân tố chịu trách nhiệm cho việc thiếu xét xử gồm những truyền thống dân chủ yếu
kém của Indonesia; sự kiện khẩu hiệu “một tổ quốc cho mọi người dân Chile” xuất
hiện thời kỳ hậu Pinochet hầu như không có âm hưởng gì ở thời kỳ hậu Sukarno ở
Indonesia; và đặc biệt là Indonesia vẫn giữ một nền cai trị độc tài quân sự
trong suốt 33 năm sau vụ thảm sát tập thể, và hiện nay quân đội vẫn còn nắm giữ
nhiều quyền lực hơn so với ở Chile.
Tôi có thể thêm vào kinh nghiệm cá nhân của mình về những
thay đổi có chọn lọc ở Indonesia. Tôi đã làm việc ở đất nước này trong suốt 17
năm ở thời kỳ Suharto, từ năm 1979 đến năm 1996. Sau đó, đến năm 2012 tôi mới
trở lại (14 năm sau khi triều đại Suharto sụp đổ) và còn tiếp tục đến đó nhiều
lần sau này. Nhiều điều ngạc nhiên đã chờ đón tôi khi trở lại.
Điều ngạc nhiên thứ nhất liên quan đến ngành du lịch hàng
không. Vào thập niên 1980 và 1990, hoạt động của các cảng hàng không thương mại
Indonesia thường bất cẩn và nguy hiểm. Ngoài cảm giác bị tống tiền do phải đưa
hối lộ và trả cước phí vượt trọng lượng quy định không đúng nơi đúng chỗ, tôi
còn trải qua một chuyến bay mà những thùng nhiên liệu lớn được đặt một cách thiếu
an toàn ngay trong cabin hành khách, tiếp viên thì vẫn đứng trong suốt thời
gian cất cánh, còn dây an toàn và túi nôn cho hành khách (trong khi có một người
bị nôn ói) thì lại thiếu. Ở một chuyến bay khác trên một chiếc máy bay chở
khách loại lớn đến thủ phủ Jayapura của tỉnh Papua, cơ trưởng và cơ phó chỉ chú
tâm đến việc tán gẫu với mấy cô tiếp viên qua cửa khoang buồng lái mở toang đến
nỗi họ không nhận ra đang tiếp đất ở vị trí quá cao nên phải bù đắp sự cẩu thả
này bằng cách dốc thẳng máy bay xuống, và phải thắng gấp khi đáp, chiếc máy bay
chỉ dừng khi cách đường hào vành đai đường băng sáu mét. Nhưng đến năm 2012,
hãng máy bay hàng đầu của Indonesia, công ty hàng không Garuda, được xếp loại
là một trong những công ty vận chuyển hành khách trong vùng tốt nhất thế giới.
Kể từ năm 2012 trở đi, mỗi lần kiểm tra hành lý thừa trọng lượng, tôi đều được
yêu cầu đến phòng giải quyết hành lý dư thừa để trả cước phí cho hãng bằng thẻ
tín dụng và được nhận lại hóa đơn. Trong khi đến tận năm 1996, tôi vẫn thường bị
nhân viên yêu cầu phải hối lộ, thì kể từ năm 2012 trở đi tôi chưa bao giờ gặp lại
chuyện này.
Trong khi đang ở trên vùng biển ven bờ Indonesia vào năm
2012, tôi nhận ra một con tàu tìm kiếm của quân đội gần đó và tự hỏi nó là con
tàu gì thì ngạc nhiên khi biết rằng đó là một tàu tuần tra của chính phủ đang
tìm kiếm những tàu đánh cá bất hợp pháp. Đến tận năm 1996, tôi vẫn xem cụm từ
“tàu tuần tra của chính phủ Indonesia” là một phép nghịch hợp đầy mâu thuẫn
cũng như nói “con tôm thẻ nhỏ mà to.” Tôi đã trở nên quen với những hoạt động của
quân đội như việc tạo ra nhu cầu để tuần tra thay vì tiến hành việc tuần tra.
Khi bước chân lên bờ biển New Guinea thuộc Indonesia vào năm
2014, tôi ngạc nhiên khi chạm mặt những con chim to lớn với màu sắc rực rỡ mà
trước đây là mục tiêu hàng đầu của nạn săn bắn bất hợp pháp, giờ đây đang kêu
vang và nhảy nhót gần hoặc ngay trong những ngôi làng ven biển: bồ câu hoàng đế
(chim gầm ghì), hồng hoàng, vẹt mào cọ và các loại chim họ Thiên đường. Trước
đây, các loài chim này thường bị bắn hay bẫy gần các ngôi làng, và chúng ta chỉ
bắt gặp chúng ở những nơi xa dân cư.
Trong chuyến trở lại New Guinea, những người bạn Indonesia của
tôi kể lại một câu chuyện mà thoạt nghe như những mẫu chuyện xưa cũ thường xảy
ra vào các thập niên 1980 và 1990. Trong ngôi làng ở ngay New Guinea này, mới
đây một viên cảnh sát Indonesia đã bắn bốn người New Guinea; ở quận nọ, một
quan chức rất tham nhũng. Hừm! Dĩ nhiên rồi, vậy thì có gì mới đâu? Lần này thì
lại khác, đó là cả viên cảnh sát lẫn tên quan chức đều bị ra tòa và tống vào
tù; một điều chưa từng xảy ra trước đây.
Trong khi có những dấu hiệu tiến bộ, chúng cũng không nên được
cường điệu quá mức. Những vấn đề xưa cũ của Indonesia vẫn tồn tại ở những mức độ
khác nhau. Tệ nạn hối lộ vẫn tràn lan dù tôi không còn phải đối mặt với nó nữa.
Những người bạn Indonesia thân thiết của tôi vẫn không nhắc đến vụ thảm sát năm
1965: những người bạn trẻ hơn tôi lúc đó chưa ra đời, còn những người lớn tuổi
sống ở thời kỳ 1965 thì vẫn kín tiếng với tôi về sự kiện đó, dù những đồng nghiệp
Mỹ nói rằng họ từng gặp nhiều người Indonesia quan tâm đến vụ giết chóc này. Vẫn
còn nỗi sợ về sự can thiệp của giới quân sự vào nền dân chủ của Indonesia: khi
một chính trị gia dân sự đánh bại một tướng lĩnh trong cuộc bầu cử tổng thống
năm 2014, đã có những tháng ngày lo lắng trước khi mọi sự rõ ràng là viên tướng
này đã thất bại trong việc không công nhận kết quả bầu cử. Vào năm 2013, một
phát đạn súng trường từ dưới đất bắn lên làm vỡ kính chắn gió chiếc trực thăng
tôi thuê trên không phận New Guinea; và đến nay vẫn còn không chắc phát đạn đó
xuất phát từ du kích quân trên đảo New Guinea, những người vẫn còn chiến đấu
cho nền độc lập, hay từ chính những đơn vị quân đội đóng giả hoạt động của du
kích để biện hộ cho một sự đàn áp không nương tay.
Quan sát cá nhân còn lại của riêng tôi đòi hỏi giải thích
thêm. Trong những quốc gia được bàn luận trong cuốn sách này, Indonesia là đất
nước có lịch sử dân tộc ngắn nhất và ngôn ngữ đa dạng nhất cho đến nay, và khởi
đầu là quốc gia duy nhất có nguy cơ nghiêm trọng với việc lãnh thổ bị chia rẽ.
Thuộc địa của Hà Lan trước đây của vùng Đông Ấn Hà Lan có thể bị phân tách
thành một số quốc gia dân tộc tách rời, cũng như thuộc địa cũ thuộc Pháp ở bán
đảo Đông Dương tách rời thành Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào. Sự phân tách này rõ
ràng là ý định của người Hà Lan khi họ cố thiết lập những bang riêng rẽ trong
thuộc địa của mình vào cuối thập niên 1940 để làm suy yếu nước Cộng hòa
Indonesia thống nhất còn non trẻ.
Nhưng Indonesia không bị phân tách. Điều ngạc nhiên là đất nước
này, từ tay trắng, đã nhanh chóng xây dựng một ý thức về căn tính quốc gia. Căn
tính này phát triển một phần là do tự phát, và một phần là do được gia cố từ những
nỗ lực có ý thức của chính phủ. Một nền tảng của ý thức này chính là sự tự hào
về cuộc cách mạng 1945-1949, và về việc trút bỏ được sự cai trị của người Hà
Lan. Chính phủ gia cố ý thức tự hào mang tính tự phát đó bằng cách nhắc đi nhắc
lại câu chuyện về thời kỳ 1945-1949, với lý do khá chính đáng, như là cuộc đấu
tranh anh dũng giành độc lập dân tộc – cũng như mọi trường học ở Mỹ kể đi kể lại
cuộc cách mạng lập quốc cho học sinh vậy. Người Indonesia lấy làm tự hào về quy
mô rộng lớn của lãnh thổ nước mình, thể hiện trong bài quốc ca “Dari Sabang
sampai Merauke” (“Từ Sabang đến Merauke,” hai mũi cực tây và cực đông của
Indonesia cách nhau đến 3.400 dặm). Nền tảng khác của căn tính quốc gia là việc
nhanh chóng đưa thứ tiếng Bahasa dễ học và linh hoạt tuyệt vời trở thành ngôn
ngữ quốc gia cùng tồn tại với 700 thổ ngữ.
Cùng với những căn nguyên nền tảng của căn tính quốc gia,
chính phủ Indonesia còn tiếp tục nỗ lực gia cố căn tính này bằng việc nhấn mạnh
vào bộ khung Pancasila gồm năm điểm, và bằng những buổi lễ hằng năm tưởng niệm
bảy tướng lĩnh bị sát hại, tổ chức tại Tượng đài Pancasila ở Jakarta. Và dù từng
lưu trú ở nhiều khách sạn từ khi trở lại Indonesia vào năm 2012, tôi chưa bao
giờ thấy một hành lang khách sạn nào thể hiện những thông tin về “vụ đảo chính
của cộng sản” để chào đón tôi như ở hành lang khách sạn đầu tiên tôi ở lại vào
năm 1979. Người Indonesia giờ đây cảm thấy đủ an toàn với căn tính quốc gia của
mình đến nỗi họ không còn cần đến những thông tin định hướng sai lầm về một “vụ
đảo chính của cộng sản” để củng cố lòng tin thêm nữa. Và đối với tôi, ở tư cách
một du khách đến Indonesia, ý thức sâu xa về căn tính quốc gia của người dân
Indonesia chính là một trong những thay đổi quan trọng nhất mà tôi chứng kiến.
Phần 2: Quốc gia - Biến cố đã lộ diện
Chương
6 - Tái thiết nước Đức
Nước Đức năm 1945 – Giai đoạn 1945-1961 – Người Đức nắm giữ sự
phán xét – Năm 1968 – Hệ quả của năm 1968 – Brandt và sự tái thống nhất – Những
ràng buộc về mặt địa lý – Tự thương thân ư? – Các nhà lãnh đạo và chủ nghĩa hiện
thực – Khung biến cố
Việc nước Đức đầu hàng vào ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1945 đánh
dấu sự kết thúc Thế chiến II ở châu Âu. Diễn tiến tình hình ở Đức vào thời điểm
đó như sau.
Các lãnh đạo đảng Quốc xã gồm Hitler, Goebbels, Himmler và
Bormann đều tự sát hoặc chuẩn bị tự sát. Các binh đoàn Đức, sau khi chinh phục
hầu hết châu Âu, đã bị đẩy lùi rồi bại trận. Khoảng bảy triệu người Đức bị giết,
bao gồm lính tráng, dân thường chết vì bom đạn và những dân thường tị nạn bị giết
khi đang chạy trốn, nhất là do các binh đoàn Liên Xô từ phía đông đã trả thù
cho những điều khủng khiếp mà quân đội Đức hành xử với dân thường Liên Xô.
Hàng chục triệu người dân Đức sống sót đã bị chấn thương tâm
lý bởi bom đạn (Ảnh 6.1). Hầu như tất cả các thành phố lớn ở Đức đều biến thành
gạch vụn do bị đánh bom và những trận chiến trong thành phố (Ảnh 6.2). Khoảng
giữa một phần tư và một phần hai nhà cửa ở các thành phố Đức bị phá hủy.
Một phần tư lãnh thổ trước đây của Đức bị mất vào tay Ba Lan
và Liên Xô. Phần đất còn lại của Đức bị phân chia thành bốn khu vực chiếm đóng
và cuối cùng trở thành hai đất nước bị chia cắt.
Khoảng 10 triệu người Đức trở thành những kẻ tị nạn vô gia
cư. Hàng triệu người thì tìm kiếm những thành viên gia đình bị mất tích mà một
số được phát hiện còn sống một cách kỳ diệu nhiều năm sau đó. Nhưng hầu hết
không bao giờ trở lại, và do thời gian, không gian cũng như hoàn cảnh nên cái
chết của họ vẫn mãi mãi không thể truy nguyên. Giáo viên người Đức đầu tiên của
tôi, sống lưu vong vào năm 1954, tình cờ nhắc đến việc có một người con trai.
Khi tôi ngây thơ hỏi ông về người con trai đó, ông giáo của tôi đột nhiên bật
thốt trong đau khổ: “Họ đã đem nó đi, và chúng tôi không bao giờ còn nghe tin
gì về nó nữa.” Vào thời gian tôi gặp thầy giáo của mình, ông và người vợ đã sống
với nỗi hoang mang không biết con mình còn sống hay chết suốt 10 năm. Hai trong
số những người bạn Đức sau này của tôi thì “may mắn hơn”: một người biết được
có khả năng người cha của cô đã chết “chỉ” một năm sau khi nhận được tin tức cuối
cùng về ông ta, và người kia biết được cái chết của người anh trai ba năm sau.
Bắt đầu từ năm 1945, nền kinh tế Đức sụp đổ. Đồng tiền Đức
nhanh chóng mất giá vì lạm phát. Người Đức đã trải qua 12 năm sống dưới sự lập
trình của đảng Quốc xã. Hầu như mọi viên chức chính phủ và quan tòa đều bị thuyết
phục và đồng lõa với Quốc xã vì cá nhân họ phải thề trung thành với Hitler để
giữ được một công việc trong chính phủ. Xã hội Đức từng là một xã hội chuyên chế.
Ngày nay, Đức là một quốc gia dân chủ tự do. Nền kinh tế nước
này đứng thứ tư thế giới, và là một trong những nước có nền kinh tế xuất khẩu
hàng đầu trên thế giới. Đức là quốc gia hùng mạnh nhất ở phần châu Âu phía tây
nước Nga. Đất nước này xây dựng đồng tiền ổn định riêng (đồng mark Đức); rồi
đóng vai trò hàng đầu trong việc thiết lập đồng tiền chung châu Âu (đồng euro),
cũng như trong việc thiết lập Liên minh Châu Âu và gia nhập một cách êm ả cùng
các quốc gia họ từng tấn công gần đây. Nước Đức phải đương đầu với quá khứ Quốc
xã của mình ở quy mô lớn, và xã hội Đức giờ đây ít chuyên chế hơn nhiều so với
trước đây.
Điều gì đã xảy ra từ tháng 5 năm 1945 đến ngày nay để tạo ra
những thay đổi đó? Lần đầu tôi đến thăm nước Đức là vào năm 1959, sống ở đó gần
như cả năm 1961, và kể từ đó thường quay trở lại. Bây giờ tôi sẽ bàn đến năm sự
thay đổi mà tôi từng chứng kiến ở nước Đức thời hậu chiến. Hai trong số này (sự
chia cắt và phục hồi kinh tế của Tây Đức) hầu như hoàn tất vào thời điểm tôi cư
trú ở Đức; hai thay đổi khác (người Đức đối mặt với di sản của chủ nghĩa Quốc
xã và những thay đổi về mặt xã hội) hồi đó đã diễn ra và sau đó tăng nhanh hơn;
và một thay đổi (sự tái thống nhất) xảy ra chỉ sau vài thập niên mà hồi năm
1961 tôi và những người bạn Đức của mình hoàn toàn không thể mường tượng ra được.
Từ góc nhìn về khung biến cố và thay đổi của cuốn sách này thì nước Đức đại diện
cho một trường hợp cực đoan về nhiều phương diện, gói gọn trong những ràng buộc
địa chính trị và trong vai trò của những nhà lãnh đạo nổi bật về điều xấu và điều
tốt. Trên tất cả, nước Đức tiêu biểu cho một thái cực trên quy mô biến cố mà họ
phải đối mặt. Nhật Bản thời Minh Trị chỉ bị đe dọa tấn công; Phần Lan và Úc bị
tấn công nhưng không bị chiếm đóng; nhưng Đức và Nhật Bản vào năm 1945 vừa bị tấn
công vừa bị chinh phục và chiếm đóng, ngoài ra còn bị tàn phá nặng nề hơn bất kỳ
quốc gia nào được bàn luận trong cuốn sách này.
Các nước Đồng minh chiến thắng trong Thế chiến II cắt nước Đức
thành bốn khu vực chiếm đóng: Mỹ ở vùng phía nam, Pháp ở vùng tây nam, Anh ở
vùng tây bắc và Liên Xô ở vùng phía đông. Thủ đô Berlin, nằm ở giữa vùng chiếm
đóng của Liên Xô, cũng bị phân chia thành những khu vực chiếm đóng của bốn cường
quốc này, giống như một hòn đảo không do Liên Xô chiếm đóng nhưng lại nằm bên
trong vùng chiếm đóng của họ. Vào năm 1948, người Nga tiến hành phong tỏa lối
vào bằng đường bộ những vùng đất bên trong thành phố Berlin do Mỹ, Anh và Pháp
quản lý để thúc ép nước Đồng minh phương Tây này phải từ bỏ những vùng đất này.
Phe Đồng minh đáp trả bằng việc lập cầu không vận và tiếp tế cho Berlin bằng đường
hàng không trong gần một năm cho đến khi Liên Xô phải từ bỏ và chấm dứt việc
phong tỏa vào năm 1949.
Trong cùng năm 1949, Đồng minh nhập các khu vực của mình
thành một chủ thể, gọi là Cộng hòa Liên bang Đức, cũng được biết đến dưới tên gọi
Tây Đức, hay Bundesrepublik Deutschland. Khu vực thuộc Liên Xô trở thành một chủ
thể riêng biệt gọi là Cộng hòa Dân chủ Đức, cũng được biết đến dưới tên gọi
Đông Đức, hay viết tắt từ tiếng Đức là DDR. Ngày nay, Đông Đức bị giải thể và
trên thực tế đã được sáp nhập với Tây Đức. Danh xưng “Cộng hòa Dân chủ Đức” chỉ
còn được nhớ đến như danh xưng “Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên” mà Triều
Tiên áp dụng ngày nay. Bây giờ người ta dễ quên rằng không chỉ sức mạnh của
Liên Xô mà còn cả chủ nghĩa lý tưởng cộng sản đã đóng góp vào việc thành lập
Đông Đức, và chính vô số trí thức đã chọn rời bỏ Tây Đức để chuyển sang Đông Đức
hay sống lưu vong ở nước ngoài.
Nhưng cuối cùng, mức sống và sự tự do ở Đông Đức lại tụt hậu
so với Tây Đức. Trong khi viện trợ kinh tế của Mỹ đổ vào Tây Đức, thì Liên Xô lại
bắt khu vực họ chiếm đóng phải gánh chịu những bồi thường kinh tế, tháo dỡ và vận
chuyển toàn bộ nhà máy về Liên Xô, đồng thời tái cơ cấu nền nông nghiệp Đông Đức
thành những nông trang tập thể. Thêm nữa, trong hơn hai thế hệ kế tiếp cho đến
khi tái thống nhất lãnh thổ năm 1990, người dân Đông Đức lớn lên mà không thể học
hỏi động lực làm việc siêng năng để có được đời sống tốt đẹp hơn, như những gì
người dân ở các thể chế dân chủ phương Tây thu nạp được.
Kết quả là người dân Đông Đức bắt đầu tìm cách đào tẩu sang
phía Tây. Do đó, vào năm 1952 Đông Đức phong tỏa biên giới phía Tây, nhưng dân
Đông Đức vẫn có thể đào tẩu từ Đông Berlin sang Tây Berlin, rồi từ Tây Berlin
bay sang Tây Đức. Hệ thống giao thông công cộng thời tiền chiến ở Berlin
(U-Bahn và S-Bahn) bao gồm những tuyến đường kết nối Tây và Đông Berlin, do đó
bất kỳ một ai ở Đông Berlin đều có thể đến Tây Berlin bằng cách nhảy tàu. Lần đầu
tiên khi tôi đến Berlin năm 1960, cũng như những du khách phương Tây khác, tôi
theo đường cao tốc U-Bahn để thăm Đông Berlin và trở về Tây Berlin.
Sự bất mãn ở Đông Đức năm 1953 bùng phát trong một cuộc đình
công mà sau biến thành một cuộc nổi dậy và bị quân đội Liên Xô dập tắt. Những
người dân Đông Đức bất mãn vẫn tiếp tục đào thoát sang phía Tây bằng hệ thống
giao thông công cộng. Cuối cùng, vào đêm 13 tháng 8 năm 1961, khi tôi đang ở Đức,
chính quyền Đông Đức đột nhiên đóng cửa các nhà ga tuyến U-Bahn ở Đông Berlin
và dựng lên một bức tường ngăn giữa Đông và Tây thành phố, được lính tuần tra
biên giới giám sát và bắn bỏ những ai muốn vượt qua bức tường (Ảnh 6.3). Tôi vẫn
nhớ sự bất ngờ, choáng váng và giận dữ của những người bạn Tây Đức vào buổi
sáng sau khi bức tường được dựng lên. Đông Đức biện minh rằng bức tường được
xây lên là để bảo vệ họ trước những kẻ xâm nhập và tội phạm đến từ Tây Đức,
thay vì thừa nhận rằng nó nhằm ngăn chặn những người dân Đông Đức bất mãn đào tẩu
sang phía Tây. Phe Đồng minh phương Tây không dám đụng chạm đến bức tường vì họ
biết mình bất lực, không làm được gì cho Tây Berlin vốn bị bao quanh bởi quân đội
Đông Đức và Liên Xô.
Kể từ dạo đó, Đông Đức vẫn là một đất nước biệt lập, khó có
khả năng đào thoát khỏi đó mà không chịu xác suất cao bị bắn chết ở ngay biên
giới (trên 1.000 người đã bị bắn chết khi cố làm điều đó). Không còn hi vọng thực
tiễn nào cho việc tái thống nhất nước Đức do sự phân cực giữa một bên là Liên
Xô và khối Cộng sản Đông Âu, và bên kia là Mỹ và các nước Tây Âu. Điều này như
thể nước Mỹ bị phân chia bằng con sông Missisippi giữa một bên là Mỹ cộng sản
phía đông và bên kia là Mỹ dân chủ phía tây, và không có triển vọng nào cho sự
tái hòa hợp ở một tương lai có thể đoán trước.
Về phía Tây Đức, ngay khi kết thúc Thế chiến II, một chính
sách được phe Đồng minh phương Tây chiến thắng xem xét để ngăn chặn nước này
không còn tái thiết được các ngành công nghiệp, buộc nền kinh tế Tây Đức phải
chuyển đổi sang nông nghiệp theo Kế hoạch Morgenthau, và cũng để bòn rút bồi
thường chiến phí như phe Đồng minh đã từng làm sau Thế chiến I như Liên Xô đang
làm ở Đông Đức. Chiến lược này bắt nguồn từ quan điểm phổ biến của Đồng minh là
Đức phải chịu trách nhiệm không chỉ cho Thế chiến II dưới thời Hitler (được đồng
thuận rộng rãi) mà còn cho việc gây ra Thế chiến I dưới thời Hoàng đế Wilhelm
II (một câu hỏi lịch sử còn nhiều tranh cãi), và việc chấp nhận cho nước Đức
tái công nghiệp hóa có thể sẽ dẫn đến một cuộc thế chiến khác.
Điều đã khiến quan điểm của phe Đồng minh thay đổi chính là sự
phát triển của Chiến tranh Lạnh và kết quả từ nhận thức rằng nguy cơ thực tế của
một cuộc thế chiến khác giờ đây không còn đến từ nước Đức mà lại từ Liên Xô.
Như tôi đã giải thích ở Chương 4 liên quan đến chính sách của Mỹ đối với Chile,
nỗi sợ là động cơ thống trị bên dưới chính sách đối ngoại của Mỹ trong những thập
niên sau Thế chiến II. Những vụ tiếp quản quyền lực của cộng sản trên khắp các
nước Đông Âu bị Liên Xô chiếm đóng, việc Liên Xô sở hữu bom nguyên tử rồi đến
bom nhiệt hạch, nỗ lực của Liên Xô vào năm 1948-1949 nhằm phong tỏa và bóp nghẹt
khu vực phía Tây nằm trong Berlin và sức mạnh của phe cộng sản ngay trong một số
thể chế dân chủ Tây Âu (đặc biệt là ở Ý) đã khiến Tây Âu dường như trở thành địa
điểm dễ bùng nổ nhất một cuộc thế chiến khác trong Chiến tranh Lạnh. Cuối năm
1961, khi tôi sắp đến sống ở Đức, người cha (Mỹ) của tôi khuyên nhủ với tất cả
sự nghiêm túc là hãy sẵn sàng chạy đến một nơi tị nạn an toàn là Thụy Sĩ ngay
khi có những dấu hiệu nguy biến ở châu Âu.
Từ viễn cảnh đó, Tây Đức, vốn nằm ở trung tâm châu Âu, có
biên giới chung với Đông Đức và Tiệp Khắc theo cộng sản, trở thành quốc gia quyết
định sự tự do của Tây Âu. Do đó, các Đồng minh phương Tây cần Tây Đức mạnh mẽ
trở lại để biến thành một bức tường thành chống lại chủ nghĩa cộng sản. Những động
cơ khác của họ khi muốn nước Đức trở nên mạnh mẽ là để giảm trừ nguy cơ mà một
nước Đức yếu ớt và nản chí có thể rơi trở lại vào chủ nghĩa cực đoan chính trị
(như đã xảy ra sau Thế chiến I), đồng thời cũng giảm bớt tổn phí kinh tế cho Đồng
minh khi phải tiếp tục nuôi dưỡng và hỗ trợ cho một đất nước Tây Đức yếu kém về
mặt kinh tế.
Sau năm 1945, cũng phải mất vài năm, mà trong suốt thời gian
này nền kinh tế Tây Đức vẫn tiếp tục suy trầm, để việc thay đổi quan điểm của
phe Đồng minh chín muồi. Sau cùng, vào năm 1948 Mỹ bắt đầu đưa thêm Tây Đức vào
danh sách viện trợ kinh tế theo Kế hoạch Marshall cho các nước Tây Âu vào năm
1947. Đồng thời, Tây Đức thay đổi đồng tiền yếu và bị lạm phát bằng một đồng tiền
mới, đồng mark Đức (Deutsche Mark). Khi Đồng minh nhập các khu vực chiếm đóng
thành một nước Tây Đức duy nhất, họ vẫn giữ quyền phủ quyết đối với hiến pháp.
Tuy nhiên, thủ tướng đầu tiên của Tây Đức, Konrad Adenauer, đã chứng tỏ mình biết
cách khai thác sự sợ hãi của Mỹ về một cuộc tấn công từ cộng sản để đạt được sự
mặc nhận của Đồng minh về việc ủy quyền ngày càng nhiều cho Tây Đức và ngày
càng giảm đi cho Đồng minh. Ludwig Erhard, bộ trưởng kinh tế dưới thời
Adenauer, thực hiện các chính sách thị trường tự do có sửa đổi và tận dụng viện
trợ của Kế hoạch Marshall để tạo ra một sự phục hồi kinh tế thành công một cách
ngoạn mục gọi là “Wirtschaftswunder” hay “phép màu kinh tế.” Việc cấp phát khẩu
phần được loại bỏ, sản phẩm công nghiệp và mức sống người dân tăng vọt, và giấc
mơ đủ điều kiện để sắm xe hơi và nhà ở của người dân Tây Đức đã thành hiện thực.
Vào thời gian tôi từ Anh chuyển sang Tây Đức, đất nước này đã
cảm thấy giàu có và hài lòng hơn cuộc sống ở Anh. Không phải châm biếm, nhưng
những người bạn của tôi ở Anh thường cay đắng nhận xét rằng: Đức thất trận
trong Thế chiến II và Anh là kẻ chiến thắng, nhưng chính Tây Đức, chứ không phải
nước Anh, sau đó đã tạo ra phép màu kinh tế. Về phương diện chính trị, đến năm
1955 thì Tây Đức giành được chủ quyền, và chấm dứt sự chiếm đóng của quân đội Đồng
minh. Sau khi Đồng minh đã chiến đấu trong hai cuộc thế chiến để đánh bại và giải
trừ quân bị nước Đức, giờ đây Tây Đức lại bắt đầu tái trang bị và xây dựng quân
đội – không phải do nước này khởi xướng, mà (không thể tin được!) do sự thúc ép
của phương Tây và trái ngược với nghị quyết của quốc hội Tây Đức, để Tây Đức phải
chia sẻ gánh nặng bảo vệ Tây Âu với Đồng minh. Từ góc nhìn của năm 1945, thì điều
này tiêu biểu cho sự thay đổi đáng ngạc nhiên nhất trong chính sách của Mỹ, Anh
và Pháp đối với Đức.
Nền kinh tế Tây Đức được định hình bằng những quan hệ lao động
tương đối tốt, những cuộc đình công không thường xuyên và điều kiện tuyển dụng
linh hoạt. Giữa chủ và thợ có thỏa thuận ngầm là người thợ sẽ không đình công để
các doanh nghiệp có thể phát triển và người chủ chia sẻ kết quả thành tựu với
công nhân của mình. Nền công nghiệp cũng phát triển một hệ thống tập sự vẫn tồn
tại đến ngày nay, theo đó lớp người trẻ học nghề ở các công ty vẫn được trả
công khi theo học nghề. Khi kết thúc thời gian tập sự họ sẽ được nhận làm ở
ngay công ty đó. Ngày nay, Đức sở hữu nền kinh tế lớn nhất châu Âu.
Kết thúc Thế chiến II, Đồng minh truy tố các lãnh đạo Quốc xã
về các tội ác chiến tranh ở tòa án Nuremberg. Mười người bị kết án tử, trong đó
có những nhân vật cao cấp như Ngoại trưởng Joachim von Ribbentrop và Chỉ huy
Không quân Hermann Goering (người sau này tự tử bằng thuốc độc ngay trong đêm
trước ngày ấn định xử tử). Bảy người khác bị kết án tù dài hạn hoặc chung thân.
Tòa án Nuremberg cũng kết án tù ngắn hạn đối với nhiều nhân vật Quốc xã cấp thấp.
Đồng minh cũng đưa ra luận tội rất nhiều người Đức để thực hiện các tiến trình
“loại trừ chủ nghĩa Quốc xã,” bao gồm việc kiểm tra quá khứ Quốc xã và cải tạo
họ.
Nhưng các phiên tòa Nuremberg và tiến trình loại trừ chủ
nghĩa Quốc xã không giải quyết hết những di sản của chủ nghĩa Quốc xã cho người
Đức. Hàng triệu người Đức theo chủ nghĩa Quốc xã ở cấp thấp, hoặc bị thuyết phục
trở thành đảng viên, hoặc tuân theo các mệnh lệnh của đảng không bị truy tố; vì
các phiên tòa không do người Đức mà lại do Đồng minh tiến hành, nên việc truy tố
không liên quan đến vấn đề người Đức phải chịu trách nhiệm cho các hành động của
người Đức. Ở Đức, các phiên tòa được bãi miễn như một dạng “Siegerjustiz”: chẳng
qua chỉ là sự trả thù của những kẻ chiến thắng đối với bên chiến bại. Hệ thống
tòa án riêng của Tây Đức cũng tiến hành các vụ khởi tố, nhưng phạm vi của chúng
ban đầu cũng bị hạn chế.
Một vấn đề thực tiễn cho Đồng minh và cả người Đức trong việc
triển khai một chính phủ chức năng thời hậu chiến ở Đức là bất kỳ chính phủ nào
cũng đòi hỏi phải có những viên chức đầy kinh nghiệm. Nhưng vào năm 1945, đa số
những người Đức có kinh nghiệm trong chính phủ đều thụ hưởng kinh nghiệm ấy từ
chính quyền Quốc xã, có nghĩa rằng mọi viên chức chính phủ có tiềm năng thời hậu
chiến (bao gồm các quan tòa) đều bị thuyết phục thành đảng viên Quốc xã hoặc tối
thiểu cũng từng cộng tác với Quốc xã. Ngoại lệ duy nhất chính là những người Đức
lưu vong hay từng bị nhốt trong các trại tập trung, nơi họ không thể học được
kinh nghiệm gì cho việc quản lý điều hành. Chẳng hạn như vị thủ tướng đầu tiên
của Tây Đức sau chiến tranh là Konrad Adenauer, một nhân vật không gia nhập đảng
Quốc xã nên bị hất khỏi chức thị trưởng thành phố Cologne. Chính sách của
Adenauer khi trở thành thủ tướng được mô tả là “ân xá và hội nhập,” một uyển ngữ
biểu đạt việc không hỏi gì những cá nhân về những điều họ đã làm trong thời kỳ
Quốc xã. Thay vào đó, chính phủ tập trung chủ yếu vào những nhiệm vụ khẩn cấp
là cung cấp nơi ăn và chốn ở cho hàng chục triệu người thiếu ăn và không nơi cư
trú, tái thiết những thành phố bị đánh bom và nền kinh tế bị tàn phá, đồng thời
xây dựng lại chính phủ dân chủ sau 12 năm dưới sự cai trị của Quốc xã.
Kết quả là hầu hết người Đức đi đến sự chấp nhận quan điểm
cho rằng các tội ác của Đức Quốc xã chỉ là lỗi của một nhóm nhỏ những cá nhân
lãnh đạo ác độc, còn đại đa số người dân Đức đều vô tội, và những người lính Đức
chiến đấu dũng cảm chống lại Liên Xô đều không phạm tội, và (khoảng giữa thập
niên 1950) không tiến hành thêm những cuộc điều tra quan trọng nào nữa. Đóng
góp thêm vào việc chính phủ Tây Đức không truy tố những đảng viên Quốc xã là do
sự có mặt của nhiều cựu đảng viên Quốc xã trong số những công tố viên chính phủ
thời hậu chiến: chẳng hạn, có đến 33 trong số 47 nhân viên trong Cục phòng chống
tội phạm liên bang Tây Đức (Bundeskriminalamt) và nhiều thành viên cơ quan tình
báo Tây Đức đã từng là thủ lĩnh tổ chức SS cuồng tín của đảng Quốc xã. Trong
chuyến ở lại Đức năm 1961, thỉnh thoảng tôi nghe những lời biện hộ cho thời kỳ
Quốc xã từ những người lớn tuổi sống trong thời kỳ đó khi đã ở độ tuổi 30, 40
mà tôi có cơ hội được biết rõ hay chỉ nói chuyện riêng tư với nhau. Ví dụ như
người chồng của một nhạc sĩ mà tôi thường chơi chung những bản sonata song tấu
cello-và-piano rốt cuộc cũng giải thích cho tôi việc cố ý hủy diệt hàng triệu
người Do Thái là điều bất khả về mặt toán học và là sự dối trá lớn nhất từng được
nghe. Một người bạn Đức lớn tuổi rồi cũng cho tôi nghe một bài diễn văn của
Hitler được ghi âm lại, và bà ta nghe nó trong tâm thế vừa khoan khoái, vừa
thích thú.
Vào năm 1958, các lãnh đạo tư pháp toàn liên bang Tây Đức cuối
cùng cũng thiết lập một văn phòng trung tâm để xới lại những nỗ lực nhằm truy tố
những tội ác của Quốc xã ở bất kỳ đâu trong và kể cả ngoài phạm vi lãnh thổ Tây
Đức. Gương mặt hàng đầu trong những vụ truy tố này là một luật sư Do Thái gốc Đức
tên Fritz Bauer, vốn là một thành viên của đảng Dân chủ Xã hội chống Quốc xã và
buộc phải trốn khỏi Đức sang Đan Mạch vào năm 1935. Ông bắt đầu công việc truy
tố tội phạm ngay khi trở về Đức năm 1949. Từ năm 1956 cho đến khi mất vào năm
1969, ông làm công tố viên trưởng của bang Hessen. Nguyên tắc trung tâm trong sự
nghiệp của ông là người Đức phải phán xử chính họ. Điều này có nghĩa là nên khởi
tố những người Đức bình thường chứ không chỉ riêng những lãnh tụ mà Đồng minh
đã khởi tố.
Bauer trước hết nổi tiếng với các phiên tòa xử vụ Auschwitz ở
Đức, trong đó ông khởi tố những tội phạm cấp thấp phục vụ ở trại tập trung
Auschwitz, trại thủ tiêu lớn nhất của Đức Quốc xã. Những tội phạm bị truy tố
bao gồm các nhân viên cấp bậc nhỏ, như những người quản lý phòng quần áo, dược
sĩ và bác sĩ. Rồi ông tiếp tục khởi tố những viên chức cảnh sát cấp thấp, những
thẩm phán có phán quyết chống lại người Do Thái hoặc những lãnh tụ kháng chiến
người Đức hay đưa ra những phán quyết tử hình, những đảng viên Quốc xã ngược
đãi thương gia Do Thái, những người dính đến việc hỗ trợ “cái chết êm ái” do Quốc
xã đề ra, bao gồm bác sĩ, thẩm phán và nhân viên trợ tử, các viên chức văn
phòng bộ ngoại giao, và điều gây phiền toái nhất cho người Đức là những binh
lính Đức phạm tội hành xử tàn bạo, đặc biệt ở mặt trận phía Đông – điều này gây
phiền toái là vì người Đức đa phần tin rằng những hành xử tàn bạo đó đều do những
nhóm cuồng tín như lực lượng SS gây ra chứ không phải do những binh lính Đức
bình thường.
Cùng với những vụ truy tố này, Bauer còn nỗ lực truy tìm những
đảng viên Quốc xã quan trọng nhất và cũng tàn ác nhất đã biến mất sau chiến
tranh: Martin Bormann, trợ lý của Hitler; bác sĩ Josef Mengele của trại tập
trung Auschwitz, người tiến hành những thử nghiệm y khoa trên tù nhân; và Adolf
Eichmann, kẻ tổ chức bố ráp người Do Thái. Bauer thất bại trong việc truy tìm
Mengele, kẻ sau cùng chết ở Brazil năm 1979, hay Bormann mà sau đó được biết là
đã tự sát vào năm 1945 khoảng cùng thời điểm Hitler tự tử.
Nhưng Bauer lại nhận được thông tin về nơi ở của Eichmann, kẻ
đã đào tẩu sang Argentina. Bauer cho rằng ông không thể chuyển an toàn thông
tin đó cho cơ quan tình báo Đức để bắt giữ và trừng phạt Eichmann do ông sợ họ
sẽ báo tin cho Eichmann để ông này trốn thoát. Do đó, Bauer chuyển nguồn tin về
nơi ở của Eichmann cho Cơ quan Tình báo Do Thái, và cuối cùng người của cơ quan
này đã bắt cóc Eichmann thành công ở Argentina, bí mật chở ông ta về Do Thái
trên một chiếc máy bay của hãng hàng không El Al, đưa ông ta ra tòa án công
khai, rồi sau cùng treo cổ ông ta sau một vụ xử án thu hút sự chú ý trên toàn
thế giới, không chỉ vì Eichmann mà còn vì toàn thể các đối tượng chịu trách nhiệm
cá nhân cho những tội ác của Quốc xã.
Những vụ khởi tố của Bauer thu hút sự quan tâm rộng rãi trên
toàn nước Đức. Hơn thế nữa, chúng hé mở cho người Đức thế hệ thập niên 1960 nhớ
lại những gì mà người Đức thế hệ thập niên 1930 và 1940 đã làm dưới chế độ Quốc
xã. Những người phục vụ cho chế độ Quốc xã bị Bauer truy tố đều có khuynh hướng
đưa ra những lý do bào chữa tương tự: tôi chỉ làm theo mệnh lệnh; tôi tuân thủ
các chuẩn mực và luật pháp xã hội thời đó; tôi không phải là người chịu trách
nhiệm về những người bị chết đó; tôi chỉ tổ chức vận chuyển người Do Thái bằng
xe lửa đến các trại thủ tiêu; tôi chỉ là một dược sĩ hoặc lính canh ở
Auschwitz; tôi đâu có trực tiếp giết ai; tôi đã mù quáng tin vào thẩm quyền và
ý thức hệ do chính phủ Quốc xã tuyên bố, và điều này khiến tôi không nhận thức
được việc mình đang làm là sai trái.
Phản bác của Bauer, những luận cứ có hệ thống được lặp đi lặp
lại ở các phiên tòa hay trước công luận, như sau. Những người Đức mà ông khởi tố
đều phạm tội ác chống lại loài người. Luật lệ của Đức Quốc xã là không hợp
pháp. Một người không thể bảo vệ cho hành động của mình bằng việc cho rằng hắn
ta đang tuân thủ những luật lệ đó. Không một thứ luật pháp nào có thể biện minh
cho tội ác chống lại loài người. Mọi người ai cũng phải có ý thức về lẽ đúng
sai và phải tuân thủ nó, độc lập với những gì một chính phủ nhà nước đưa ra. Bất
kỳ kẻ nào tham gia vào thứ mà Bauer gọi là guồng máy giết người thì cũng như
công cụ thủ tiêu người ở Auschwitz, do đó cũng trở thành tội phạm. Hơn nữa, một
điều rõ ràng là những kẻ bị ông đưa ra tòa, và đưa ra lời bào chữa rằng họ chỉ
thực hiện điều phải làm do bị buộc phải làm, đều hành động không phải do bắt buộc
mà là do niềm tin của riêng họ.
Trên thực tế rất nhiều, hay có thể là hầu hết, các vụ truy tố
của Bauer đều thất bại: những người bị truy tố đều được tòa án tha bổng, ngay cả
ở thập niên 1960. Chính Bauer cũng thường là mục tiêu cho những công kích bằng
ngôn từ, thậm chí cả dọa giết. Tuy vậy, ý nghĩa việc làm của Bauer chính là ông
ta, một người Đức, giữa tòa án đã liên tục chỉ ra cho công chúng bằng chi tiết
những dằn vặt về niềm tin và hành xử của người Đức trong suốt thời kỳ Quốc xã.
Những hành động xấu xa của đảng Quốc xã không phải là do một số ít lãnh đạo xấu
xa gây ra, mà do đám đông binh lính và viên chức bình thường, trong đó có nhiều
người giờ đây là viên chức cấp cao của chính phủ Tây Đức, đã thực thi mệnh lệnh
của chế độ Quốc xã, và do đó phạm phải những tội ác chống lại loài người. Những
nỗ lực của Bauer từ đó đã hình thành một bối cảnh cần thiết cho các cuộc nổi dậy
của sinh viên Đức vào năm 1968, sẽ được thảo luận dưới đây.
Sự thay đổi trong quan điểm của người Đức về thời kỳ Quốc xã
sau khi tôi đến sống ở Đức phơi bày rõ ràng đến tàn nhẫn với tôi bằng một trải
nghiệm 21 năm sau đó, năm 1982. Vào năm này, vợ tôi Marie và tôi đi nghỉ ở Đức.
Khi chúng tôi đang lái xe trên đường cao tốc liên bang đến gần Munich, một biển
báo trên cao tốc chỉ đường rẽ vào một vùng ngoại ô gọi là Dachau, địa điểm của
một trại tập trung Quốc xã hồi trước (tiếng Đức gọi tắt là KZ) mà người Đức đã
biến thành một bảo tàng. Vợ chồng tôi chưa bao giờ đi thăm một địa điểm KZ nào.
Nhưng chúng tôi không ngờ rằng một trưng bày bảo tàng “thuần túy” lại tác động
đến chúng tôi đến thế sau những gì chúng tôi đã biết về các KZ qua những câu
chuyện của bố mẹ Marie (những người sống sót từ trại tập trung) và những bộ
phim tài liệu được xem hồi thơ ấu. Đặc biệt không như điều chúng tôi mong chờ từ
những giải thích (hay chỉ giải thích mù mờ) của những người Đức về các trại tập
trung của họ.
Chuyến ghé thăm Dachau của chúng tôi thực sự là một trải nghiệm
khó chịu – chí ít thì nó cũng tác động mạnh ngang với chuyến đi sau đó của
chúng tôi đến trại tập trung Auschwitz rộng lớn hơn và nổi tiếng hơn, cũng là một
trưng bày nhưng không phải do người Đức, vì nó nằm trên đất Ba Lan. Những bức ảnh
và bài viết bằng tiếng Đức mô tả và giải thích trại tập trung Dachau và lịch sử
của nó một cách sinh động: đảng Quốc xã vươn đến quyền lực vào năm 1933, sự bức
hại của Quốc xã đối với người Do Thái và người Đức không theo đảng Quốc xã
trong thập niên 1930, những bước tiến đến chiến tranh của Hitler, hoạt động của
trại tập trung Dachau, và hoạt động của hệ thống các trại giam còn lại của Quốc
xã. Và không trốn tránh trách nhiệm của người Đức, sự trưng bày này minh họa
cho phương châm của Fritz Bauer “Người Đức giữ quyền phán xét chính họ.”
Những gì vợ chồng tôi nhìn thấy ở Dachau hồi đó là một phần của
những gì mà mọi trẻ em Đức chứng kiến từ thập niên 1970 trở đi. Chúng được dạy
đầy đủ chi tiết về những hành động tàn bạo của chế độ Quốc xã, và nhiều học
sinh trong các dịp dã ngoại đã được đưa đến những trại tập trung trước đây, như
Dachau chẳng hạn, mà bây giờ đã biến thành những nơi trưng bày chứng tích. Việc
một quốc gia chấp nhận đối mặt với những tội ác trong quá khứ không phải là một
điều dễ dàng. Thực sự, tôi không thấy có đất nước nào nhận trách nhiệm từ xa một
cách nghiêm túc như nước Đức đến thế. Học sinh ở Indonesia vẫn không được dạy về
những vụ thảm sát năm 1965 (Chương 5); lớp trẻ Nhật Bản mà tôi quen kể với tôi
rằng họ không được dạy gì về những tội ác chiến tranh của Nhật (Chương 8); và
việc dạy cho học sinh chi tiết tàn nhẫn về tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt
Nam, cũng như tội ác đối với người châu Mỹ bản địa và nô lệ châu Phi, cũng
không phải là chính sách quốc gia ở Mỹ. Năm 1961, chắc chắn là tôi không thấy sự
thừa nhận của người Đức về quá khứ đen tối của đất nước họ. Ở chừng mực mà người
ta có thể xem một năm đơn thuần dưới đây là mốc chia rẽ mang tính biểu tượng đối
với nước Đức về vấn đề này, thì đó là – như chúng ta sẽ thấy – năm 1968.
Những cuộc nổi loạn và phản kháng, đặc biệt từ giới sinh
viên, lan tràn trên khắp thế giới tự do vào thập niên 1960. Chúng bắt đầu ở Mỹ
với Phong trào Quyền Dân sự, chống Chiến tranh Việt Nam, Phong trào Tự do Phát
biểu ở trường Berkeley thuộc Đại học California, và phong trào được gọi là Sinh
viên đòi một Xã hội Dân chủ. Sự phản kháng trong giới sinh viên cũng lan rộng ở
Pháp, Anh, Nhật, Ý và Đức. Những phản kháng ở các quốc gia này cũng như ở Mỹ một
phần tiêu biểu cho sự đối kháng của thế hệ trẻ đối với thế hệ đi trước. Nhưng sự
đối kháng giữa các thế hệ lại tạo ra một tính bạo lực đặc biệt ở Đức vì hai lý
do. Đầu tiên, sự dính dáng đến Quốc xã của thế hệ đi trước có nghĩa rằng hố
ngăn cách giữa thế hệ trẻ và thế hệ già ở Đức còn sâu hơn ở Mỹ. Thứ nhì, thái độ
độc đoán trong xã hội truyền thống Đức đã khiến các thế hệ này khinh miệt lẫn
nhau. Trong khi những đối kháng dẫn đến sự nới rộng tự do đang phát triển ở Đức
trong suốt thập niên 1960, thì cái van xả của những đối kháng này lại xuất hiện
vào năm 1968 (Ảnh 6.4). Vậy tại sao lại là năm 1968?
Không chỉ ở Đức, mà cả ở Mỹ, những thế hệ khác nhau có những
trải nghiệm khác nhau và có những tên gọi khác nhau. Ở Mỹ, chúng ta nói một
cách công khai về những thế hệ được xác định: thời kỳ bùng nổ trẻ sơ sinh (Baby
Boomer), thế hệ X (Gen X), thế hệ Y (Millennials) v.v. Nhưng những thay đổi từ
năm này sang năm khác ở Đức lại nhanh hơn và sâu xa hơn ở Mỹ. Khi bạn mới quen
biết một người Mỹ, và bạn cùng người bạn này trao đổi với nhau về tiểu sử đời
mình, có thể bạn không bắt đầu bằng câu nói: “Tôi sinh năm 1945, và chỉ biết rằng
sự kiện này sẽ giúp bạn hình dung được nhiều về cuộc sống và hành xử của tôi mà
không cần tôi phải kể cho bạn làm gì.” Nhưng người Đức sẽ bắt đầu nói về họ những
câu đại loại như sau: “Ich bin Jahrgang 1945,” nghĩa là “Năm sinh của tôi là
1945.” Đó là vì mọi người Đức đều biết rằng những công dân như họ có những trải
nghiệm sống rất khác nhau, tùy thuộc vào thời điểm họ sinh ra và lớn lên.
Những ví dụ này là trải nghiệm từ những người bạn Đức cùng độ
tuổi với tôi, sinh ra vào khoảng năm 1937. Không ai trong số họ lớn lên với những
gì mà người Mỹ chúng tôi hay lớp trẻ Đức hiện đại nhận thức như một cuộc sống
bình thường. Tất cả họ đều trải qua những điều tồi tệ khi còn bé do hệ quả chiến
tranh. Chẳng hạn, trong số sáu người bạn Đức thân thiết của tôi sinh khoảng năm
1937, một người là cô nhi khi cha của bà, một người lính, bị giết; một người chứng
kiến từ xa nơi người cha đang ở bị dội bom, dù ông ta vẫn sống sót; một người
thì bị tách lìa với cha từ năm bà ta mới một tuổi cho đến năm 11 tuổi do ông ta
là một tù nhân chiến tranh; một người mất cả hai anh trai trong chiến tranh; một
người sống qua đêm trong suốt những năm thơ ấu của mình ở dưới chân cầu vì
thành phố của ông ta bị dội bom hằng đêm khiến việc ngủ trong nhà không an toàn
chút nào; và một người hằng ngày được mẹ sai đi ăn cắp than ở một sân ga để làm
nhiên liệu sưởi ấm. Do đó, những người bạn Đức của tôi ở Jahrgang 1937 (thế hệ
1937) đã đủ lớn để bị sang chấn tâm lý bởi những hồi ức về chiến tranh, bởi những
biến cố cùng sự nghèo đói tiếp nối và bởi việc nghỉ học do trường phải đóng cửa.
Nhưng họ cũng không đủ lớn để bị thẩm thấu bởi những quan điểm Quốc xã từ tổ chức
thanh niên Quốc xã gọi là Hitler Jugend. Hầu hết đều quá trẻ để đi quân dịch
trong quân đội Tây Đức mới thành lập vào năm 1955; Jahrgang 1937 là thế hệ cuối
cùng không bị gọi nhập ngũ.
Những sự kiện về trải nghiệm khác nhau của người Đức sinh vào
những năm khác nhau giúp giải thích lý do tại sao nước Đức trải qua một cuộc phản
kháng đầy bạo lực của giới sinh viên vào năm 1968. Tính bình quân, những người
phản kháng vào năm 1968 đều ra đời khoảng năm 1945, ngay khi kết thúc chiến
tranh. Họ còn quá trẻ để hấp thụ sự dạy dỗ của chủ nghĩa Quốc xã, hay có trải
nghiệm chiến tranh hoặc nhớ lại những năm biến động và đói khổ sau chiến tranh.
Đa phần họ lớn lên sau khi nền kinh tế Đức đã phục hồi, vào thời điểm thoải mái
về kinh tế. Họ không phải chiến đấu để sống còn; chỉ hưởng thụ sự nhàn rỗi và
an toàn để dành thời gian cho việc phản kháng. Vào năm 1968, họ đang ở độ tuổi
mới chớm đôi mươi. Họ chỉ là những thiếu niên vào thập niên 1950 và đầu những
năm 1960 khi Fritz Bauer khơi dậy những tội ác của Quốc xã mà thế hệ cha mẹ họ,
những người Đức bình thường, bị dính vào. Cha mẹ của những kẻ phản kháng sinh
năm 1945 chủ yếu sinh ra trong giai đoạn 1905-1925. Điều này có nghĩa là cha mẹ
của thế hệ 1945 ở Đức đều bị con cái cho là lớp người bỏ phiếu cho Hitler, tuân
phục Hitler và chiến đấu cho ông ta, hay bị thấm nhuần niềm tin vào đảng Quốc
xã bởi những tổ chức đào tạo thanh niên của Hitler.
Mọi thiếu niên đều có thiên hướng phê phán và thách thức các
bậc cha mẹ. Như thập niên 1960, khi Fritz Bauer công bố những thông tin của
mình, hầu hết những bậc cha mẹ của lớp trẻ sinh vào năm 1945 không nói gì về những
thời gian sống dưới chế độ Quốc xã mà chỉ chúi đầu vào thế giới của công việc
cùng phép màu kinh tế thời hậu chiến. Nếu một đứa trẻ có hỏi, “Bố mẹ, các người
đã làm gì dưới thời Quốc xã?”, bố mẹ nó sẽ trả lời con cái cùng những phản ứng
tương tự như lớp người Đức lớn tuổi muốn nói với tôi vào năm 1961: “Lớp trẻ các
bạn không hiểu được sống dưới một nhà nước toàn trị sẽ như thế nào đâu; người
ta không chỉ hành động theo đức tin của mình được.” Và dĩ nhiên lời biện hộ đó
đã không làm lớp trẻ hài lòng.
Kết quả là người Đức sinh khoảng năm 1945 không còn tín nhiệm
cha mẹ mình và thế hệ của họ, những người từng theo Quốc xã. Điều này lý giải tại
sao những cuộc đối kháng của sinh viên ở Ý và Nhật, hai nước xâm lược ở Thế chiến
II, cũng có hình thức bạo động. Ngược lại, các bậc cha mẹ ở Mỹ có con cái sinh
năm 1945 không bị xem là tội phạm chiến tranh mà lại được cho là anh hùng chiến
tranh trong Thế chiến II. Điều này không có nghĩa là lớp trẻ sinh ra ở thập
niên 1960 tại Mỹ kiềm chế việc phê phán cha mẹ hơn lớp trẻ các nước khác, chỉ
có nghĩa là họ không thể gạt bỏ cha mẹ vì là tội phạm chiến tranh.
Sự việc đáng nhớ được xem như thời khắc biểu trưng vào năm
1968 tại Đức là hành động của một phụ nữ trẻ không có dòng máu Do Thái tên
Beate Klarsfeld (già hơn thế hệ 1945 vài năm) kết hôn với một người Do Thái có
người cha bị đưa vào phòng hơi ngạt ở Auschwitz. Vào ngày 7 tháng 11 năm 1968,
cô ta hét vào mặt thủ tướng Tây Đức Kurt Kiesinger là “Đồ phát xít!” đồng thời
tát vào mặt ông ta, do ông ta từng là một thành viên đảng Quốc xã. Nhưng trong
khi sự đồng lõa với tội ác Quốc xã của bậc cha mẹ khiến lớp trẻ sinh khoảng năm
1945 có khuynh hướng khinh miệt các bậc cha mẹ, thì tự thân quá khứ Quốc xã
không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra những vụ phản kháng ở Đức vào năm
1968. Sinh viên Đức còn phản kháng nhiều thứ khác, tương tự sinh viên Mỹ và
phong trào “hippy” năm 1968: Chiến tranh Việt Nam, nhà cầm quyền, cuộc sống trưởng
giả, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, và đạo đức truyền thống. Thế hệ 1968 ở
Đức đánh đồng xã hội tư bản Đức đương thời với chủ nghĩa phát xít, trong khi lớp
người lớn tuổi bảo thủ lại gọi những kẻ nổi loạn cánh tả trẻ tuổi là “những đứa
con của Hitler,” một sự tái sinh của các tổ chức cuồng tín Quốc xã SA và SS.
Nhiều kẻ nổi loạn là những tay cánh tả cực đoan; một số chạy sang Đông Đức rồi
gửi tiền bạc và tài liệu về cho các cảm tình viên ở Tây Đức. Lớp người Đức lớn
tuổi đáp lại những kẻ nổi loạn như sau: “Được thôi! Cứ sang Đông Đức nếu không
thích cuộc sống ở đây!”
Vào năm 1968, giới sinh viên cấp tiến Đức chuyển sang bạo động
quyết liệt hơn so với sinh viên Mỹ cùng thời. Một số đến Palestine để được huấn
luyện trở thành khủng bố. Một trong các nhóm khủng bố Đức nổi tiếng nhất tự nhận
là phái Hồng quân (Rote Armee Fraktion – RAF), cũng được gọi là nhóm
Baader-Meinhof theo tên của hai nhân vật cầm đầu (Ulrike Meinhof và Andreas
Baader) đặc biệt khét tiếng. Những kẻ khủng bố bắt đầu với những vụ tấn công đốt
phá nhà hàng, rồi tiến đến bắt cóc, đánh bom và giết người. Trong nhiều năm, những
nạn nhân họ bắt cóc hay giết hại có cả lãnh đạo của thành phần “kiến lập” nước
Đức, như Chánh án Tối cao Pháp viện Tây Berlin, một ứng cử viên chức thị trưởng
Tây Berlin, thẩm phán liên bang, chủ tịch ngân hàng Deutsche Bank, và người đứng
đầu Hiệp hội Nghiệp chủ Tây Đức. Kết quả là ngay trong hầu hết những người cánh
tả Đức cũng cảm thấy mình đang trong tình trạng nguy hiểm do bạo lực của phe
cánh tả cấp tiến, nên rút lại mọi hỗ trợ. Chủ nghĩa khủng bố ở Tây Đức lên cao
trào trong giai đoạn 1971-1977, và đạt đến cực điểm vào năm 1977 khi Andreas
Baader cùng hai lãnh tụ của RAF tự sát trong tù sau thất bại trong một vụ khủng
bố nhằm giải thoát mấy tay khủng bố cướp chiếc máy bay của hãng hàng không
Lufthansa. Vẫn còn hai làn sóng khủng bố diễn ra tiếp đó cho đến khi RAF tuyên
bố giải thể vào năm 1998.
Vụ đối kháng của giới sinh viên Đức năm 1968 đôi khi được mô
tả như là “một thất bại thành công.” Nghĩa là tuy những kẻ cực đoan trong giới
sinh viên thất bại ở mục tiêu thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một hệ thống kinh
tế khác và nhằm lật đổ chính phủ dân chủ Tây Đức, họ vẫn gián tiếp đạt được một
số mục đích, vì nhiều phần trong nghị trình của họ được chính phủ Tây Đức bám lấy,
và nhiều ý tưởng của họ được xã hội chủ lưu của Đức áp dụng. Đổi lại, những người
cấp tiến thời kỳ 1968 sau này nổi lên ở những vị trí chính trị hàng đầu trong Đảng
Xanh ở Tây Đức – chẳng hạn như Joschka Fischer, người sau khi đóng vai trò tích
cực của một nhân vật cấp tiến, rồi trở thành một nhân vật thời thượng và trở
thành bộ trưởng rồi phó thủ tướng Tây Đức.
Xã hội truyền thống Đức từng độc đoán về mặt chính trị và xã
hội. Những tính cách này vốn hiện hữu từ rất lâu trước thời Hitler, thể hiện rõ
ràng trong xã hội Quốc xã với việc nhấn mạnh vào “Fuhrerprinzip” hay “nguyên tắc
lãnh đạo.” Không chỉ riêng Hitler mới chính thức được xem là “Fuhrer” (lãnh tụ)
mà mọi người dân Đức thề tuân phục vô điều kiện về mặt chính trị; mà còn sự
tuân phục về mặt xã hội cũng như chính trị đối với các lãnh đạo ở mọi lĩnh vực
và cấp độ trong đời sống nước Đức thời Quốc xã.
Mặc dù việc nước Đức bị đánh bại tan tác trong Thế chiến II
đã gây ra sự mất lòng tin của người Đức vào chế độ độc đoán, nhưng giới tinh
hoa xưa cũ và tư duy của họ vẫn tồn tại sau Thế chiến II. Sau đây là một số ví
dụ điển hình không dính dáng đến chính trị mà tôi chứng kiến trong thời gian ở
Đức năm 1961. Việc dùng đòn roi với con cái hồi đó vẫn phổ biến, không chỉ được
công nhận mà còn được xem là nghĩa vụ của bậc làm cha mẹ hồi đó. Tôi làm việc
trong một viện nghiên cứu khoa học Đức mà viên giám đốc hoàn toàn tự mình đưa
ra những quyết định kiểm soát công việc của 120 nhà khoa học trong viện. Chẳng
hạn, để có được một công việc giảng dạy đại học ở Đức thì ngoài bằng tiến sĩ
đòi hỏi phải có một học vị gọi là “Habilitation.” Nhưng vị giám đốc của tôi mỗi
năm chỉ cho phép một người trong số 120 nhân viên đạt được học vị này, và do
đích thân ông ta lựa chọn. Bất kỳ đi đến đâu – trên đường phố, thảm cỏ, trường
học, các tòa nhà riêng hay công cộng – đều có những bảng cấm (verboten) hoặc chỉ
dẫn nên và không nên làm gì. Một buổi sáng, khi một trong những đồng nghiệp Đức
của tôi đến chỗ làm, mặt mày trông giận dữ chỉ vì tối hôm trước, khi về nhà ông
ta trông thấy bãi cỏ phía trước khu căn hộ của mình, vốn là nơi chơi đùa của lũ
trẻ, bị vây lại bằng dây kẽm gai (vết tích gắn liền với các trại tập trung ở Đức).
Khi người bạn của tôi phản ứng với người quản lý tòa chung cư, người này trả lời
không chút phân trần: “Việc dẫm lên cỏ bị cấm (Betreten des Rasens verboten),
nhưng mấy đứa trẻ hư hỏng (verwohnte Kinder) lại đi trên cỏ, do đó tôi cảm thấy
được quyền (ich fuhlte mich berechtigt) ngăn chặn chúng làm thế bằng cách dựng
hàng rào kẽm gai (Stacheldraht).”
Hồi tưởng lại, thái độ và hành vi độc đoán ở Đức chỉ bắt đầu
thay đổi ngay sau thời điểm tôi đến nước này năm 1961. Một ví dụ nổi tiếng là vụ
tờ báo Spiegel năm 1962. Khi tuần báo Der Spiegel, vốn thường hay phê phán
chính phủ quốc gia, tung ra một bài viết đặt vấn đề về sức mạnh của quân đội Đức
(Bundeswehr), Bộ trưởng Quốc phòng Franz Josef Strauss dưới thời nội các của thủ
tướng Adenauer đã phản ứng một cách ngạo mạn độc đoán bằng việc bắt giữ những
biên tập viên của tờ báo này và thu giữ hồ sơ tài liệu của họ, quy cho tội bị
tình nghi phản quốc. Sự việc này gây ra phản đối kịch liệt của công chúng, thúc
ép chính phủ phải bãi bỏ sự trừng trị này và buộc Strauss từ chức. Tuy vậy,
Strauss vẫn giữ quyền lực, phục vụ với tư cách người đứng đầu bang Bavaria giai
đoạn 1978-1988, và chạy đua vào vị trí thủ tướng Đức năm 1980 (nhưng thất bại).
Sau năm 1968, những khuynh hướng tự do dần phát triển mạnh mẽ
hơn. Vào năm 1969 chúng đã tạo ra kết quả là sự thất bại của đảng bảo thủ cùng
các liên minh vốn cầm quyền liên tục trong suốt 20 năm. Ngày nay, xã hội Đức có
nhiều tự do hơn năm 1961. Không còn việc dùng đòn roi với trẻ em; thực ra, bây
giờ việc này bị nghiêm cấm theo luật định. Việc ăn mặc thông thoáng hơn, vai
trò của phụ nữ cũng bớt đi sự thiếu bình đẳng (cứ xem sự phục vụ lâu dài của thủ
tướng Angela Merkel), và việc dùng đại từ thông tục “Du” (chỉ ngôi thứ hai)
ngày càng phổ biến thay cho đại từ mang tính trang trọng “Sie” ngày nay ít được
sử dụng.
Nhưng đến nay tôi vẫn bị ấn tượng trước những biển “cấm”
(verboten) mỗi khi đến Đức. Những người bạn Đức của tôi từng có những trải nghiệm
khác nhau ở Mỹ thì hoặc là đánh giá nước Đức ngày nay ít độc đoán hơn Mỹ, hoặc
kể cho tôi những mẩu chuyện kinh khủng về thái độ ứng xử theo tôn ti trật tự của
người Đức hiện thời. Và ngược lại, khi tôi hỏi những du khách Mỹ từng đến Đức rằng
họ có cảm thấy đất nước này độc đoán hay không, thì cũng nhận được hai kiểu trả
lời, tùy thuộc vào độ tuổi của người được hỏi. Những du khách trẻ hơn, sinh vào
thập niên 1970 hoặc sau đó, không có trải nghiệm về nước Đức ở thập niên 1950,
theo bản năng so sánh nước Đức ngày nay với nước Mỹ ngày nay và cho rằng xã hội
Đức vẫn độc đoán. Trong khi đó, những người lớn tuổi ngang tôi, vốn đã có trải
nghiệm về nước Đức vào (cuối) thập niên 1950, lại so sánh nước Đức ngày nay và
nước Đức của thập niên 1950, và cho rằng nước Đức ngày nay ít độc đoán hơn nhiều
so với trước đó. Tôi nghĩ rằng cả hai sự so sánh này đều chính xác.
Thành quả êm thấm của chính phủ đối với nhiều mục tiêu của bạo
lực trong giới sinh viên năm 1968 được khởi phát dưới thời thủ tướng Tây Đức
Willy Brandt. Sinh năm 1913, ông buộc phải đào tị khỏi chế độ Quốc xã vì quan
điểm chính trị, và trải qua những năm chiến tranh ở Na Uy và Thụy Điển. Năm
1969, ông trở thành vị thủ tướng cánh tả đầu tiên với tư cách người đứng đầu đảng
Dân chủ Xã hội (SPD) sau 20 năm liên tục cầm quyền của các đời thủ tướng bảo thủ
thuộc Liên minh Dân chủ Ki-tô giáo (CDU) của Konrad Adenauer. Dưới thời Brandt,
nước Đức bắt đầu những cải cách xã hội, trong đó có việc chính phủ theo đuổi những
mục tiêu của giới sinh viên, chẳng hạn như làm nước Đức giảm đi tính độc đoán
và khuyến khích nữ quyền.
Nhưng những thành tựu lớn nhất của Brandt là ở phương diện đối
ngoại. Dưới thời kỳ lãnh đạo của giới bảo thủ Tây Đức trước đó, chính quyền đã
phủ nhận tính hợp pháp của sự tồn tại một chính quyền Đông Đức, và cứ khăng
khăng rằng Tây Đức là đại diện hợp pháp duy nhất cho nhân dân Đức. Đất nước này
không có quan hệ ngoại giao với bất kỳ quốc gia theo cộng sản nào ở Đông Âu
ngoài Liên Xô. Tây Đức cũng khước từ công nhận sự mất mát trên-thực-tế toàn bộ
lãnh thổ Đức phía đông sông Oder và sông Neisse: Đông Phổ thuộc Liên Xô và phần
còn lại của Ba Lan.
Nhưng Brandt đã áp dụng một chính sách mới, đảo ngược tất cả
những phủ nhận trước đó. Ông ký một hiệp ước với Đông Đức và thiết lập quan hệ
ngoại giao với Ba Lan cũng như với các nước thuộc khối Đông Âu. Ông công nhận
tuyến sông Oder-Neisse là đường biên giới Ba Lan-Đức, và do đó cũng chấp nhận
việc không thể thu hồi mọi lãnh thổ của Đức đã mất ở phía đông đường biên giới
này, bao gồm những vùng đất từ lâu đã đồng nhất và trực thuộc Đức: tỉnh Silesia
và những phần đất thuộc đế quốc Phổ cùng với vùng Pomerania. Việc từ bỏ này là
một bước đi lớn lao và trở thành một viên thuốc đắng không nuốt trôi được đối với
đảng CDU bảo thủ, khiến họ tuyên bố rằng sẽ bác bỏ hiệp ước nếu trở lại cầm quyền
trong cuộc bầu cử năm 1972. Nhưng cử tri lại tán thành việc chính phủ của
Brandt nuốt trôi viên thuốc đắng đó, và đảng của Brandt lại thắng trong cuộc bầu
cử năm 1972 với đa số phiếu gia tăng.
Thời khắc kịch tính nhất trong sự nghiệp của Brandt xảy ra
khi ông đi thăm Warsaw, thủ đô Ba Lan, năm 1970. Ba Lan từng là đất nước có tỉ
lệ người chết cao nhất trong Thế chiến II. Đây cũng là nơi tập trung những trại
thủ tiêu lớn nhất của Quốc xã. Nên người Ba Lan có lý do để coi người Đức như
là những tay Quốc xã không bao giờ biết ăn năn. Trong chuyến đi của ông đến Ba
Lan vào ngày 7 tháng 12 năm 1970, Brandt đến thăm khu Warsaw Ghetto, nơi xảy ra
cuộc nổi dậy không thành công của người Do Thái chống lại sự chiếm đóng của Đức
Quốc xã vào tháng 4 và tháng 5 năm 1943. Trước mặt đám đông người Ba Lan,
Brandt đột nhiên quỳ xuống bày tỏ lòng tri ân đến hàng triệu nạn nhân của Quốc
xã và cầu xin sự tha thứ đối với nền độc tài của Hitler và Thế chiến II (Ảnh
6.5). Ngay cả những người Ba Lan vốn không tin người Đức lắm cũng công nhận
thái độ ứng xử của Brandt không phải là dàn cảnh mà chân thực và có ý nghĩa sâu
xa. Trong thế giới của những phát ngôn mang tính ngoại giao không cảm xúc, được
soạn kịch bản chu đáo của ngày hôm nay, thì việc Brandt quỳ xuống ở Warsaw
Ghetto nổi lên như lời xin lỗi chân thành của lãnh đạo một đất nước gửi đến người
dân của một đất nước khác vốn phải gánh chịu những tổn thất lớn lao. Ngược lại,
các bạn hãy nghĩ đến những nhà lãnh đạo không chịu quỳ gối và xin lỗi: các đời
tổng thống Mỹ đối với người Việt Nam, các đời thủ tướng Nhật đối với người Triều
Tiên và Trung Hoa, Stalin đối với người Ba Lan và Ukrain, de Gaulle đối với người
Algerie và những nhà lãnh đạo khác.
Thành quả chính trị đối với Tây Đức từ hành động của Brandt
chỉ đạt được 20 năm sau chuyến viếng thăm Warsaw Ghetto của ông và rất lâu sau
khi Brandt từ chức thủ tướng vào năm 1974. Ở thập niên 1970 và 1980 chỉ còn một
điều mà các thủ tướng Tây Đức chưa trực tiếp thực hiện được là đem đến sự tái
thống nhất Tây Đức và Đông Đức. Hai vị thủ tướng kế nhiệm Brandt, Helmut
Schmidt của đảng SPD và sau đó là Helmut Kohl của đảng CDU, cả hai đều tiếp tục
các chính sách của Brandt là giao thương với Đông Đức, tìm kiếm sự hòa giải với
các nước Đông Âu và vun đắp mối quan hệ riêng tư tốt đẹp với lãnh đạo các quốc
gia quan trọng ở cả hai bên Bức màn Sắt. Mỹ và Tây Âu đã đi đến kết luận rằng
Tây Đức giờ đây được xem là một nước dân chủ và là một đồng minh đáng tin cậy.
Liên Xô và các đối tác thuộc khối Đông Âu giờ đây cũng kết luận rằng Tây Đức có
giá trị như một đối tác thương mại quan trọng và không còn là mối lo về đe dọa
quân sự hay lãnh thổ nữa.
Hiệp ước của Brandt và những thỏa thuận sau đó của Schmidt và
Kohl giữa hai miền nước Đức đã cho phép hàng trăm ngàn người dân Tây Đức vào
Đông Đức thăm viếng và một số nhỏ người dân Đông Đức sang thăm Tây Đức. Giao
thương giữa hai miền đất nước phát triển. Thêm vào đó, người dân Đông Đức có thể
xem đài truyền hình Tây Đức, giúp họ so sánh mức sống cao và phát triển ở Tây Đức
với mức sống thấp và suy trầm ở Đông Đức. Những khó khăn về mặt chính trị ở
ngay Liên Xô cũng lớn dần khiến họ ngày càng ít áp đặt ý muốn của mình lên các
nước trong khối Đông Âu. Trái ngược với bối cảnh đó, khởi đầu cho việc kết thúc
nhà nước Đông Đức là một bước đi hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của cả Tây và
Đông Đức: vào ngày 2 tháng 5 năm 1989, Hungary, một nước thuộc khối Đông Âu
cách Đông Đức về phía bắc bởi một quốc gia thuộc khối Đông Âu khác (Tiệp Khắc),
quyết định dỡ bỏ hàng rào biên giới chia cách phía tây nước này với nước Áo, một
quốc gia dân chủ phương Tây có biên giới chung với Tây Đức. Rồi bốn tháng sau
đó, Hungary chính thức mở cửa biên giới, hàng ngàn người dân Đông Đức nắm lấy
cơ hội này để đào thoát sang phương Tây qua Tiệp Khắc và Hungary. (Thời điểm mở
cửa biên giới chính thức này là ngày 11 tháng 9, trùng hợp với thời điểm xảy ra
vụ đảo chính năm 1973 của Pinochet ở Chile và vụ tấn công Trung tâm Thương mại
Thế giới năm 2001 ở Mỹ.) Chẳng bao lâu sau, hàng trăm ngàn người dân Đông Đức
chống đối chính quyền tràn ngập các đường phố ở Leipzig, rồi lan sang các thành
phố khác. Chính quyền Đông Đức dự định đối phó bằng việc tuyên bố nước này sẽ cấp
phép đi thẳng đến Tây Đức. Tuy nhiên, phát ngôn viên trên truyền hình lại vụng
về loan báo rằng chính phủ cho phép đến Tây Đức “ngay tức thì.” Đêm đó (ngày 9
tháng 11 năm 1989), hàng ngàn người dân Đông Đức nắm lấy cơ hội để lập tức vượt
sang Tây Berlin mà không bị lính canh phòng biên giới cản trở.
Tuy thủ tướng Tây Đức lúc đó là Helmut Kohl không tạo ra việc
mở cửa này, nhưng ông biết cách khai thác việc này một cách cẩn trọng. Vào
tháng 5 năm 1990, ông dàn xếp một hiệp định thống nhất về phúc lợi kinh tế và
xã hội (nhưng chưa bàn đến thống nhất về mặt chính trị) giữa Đông Đức và Tây Đức.
Ông làm việc này một cách cần mẫn và khôn khéo để xoa dịu việc phương Tây và
Liên Xô không sẵn lòng chấp nhận nước Đức tái thống nhất. Chẳng hạn, trong cuộc
gặp quan trọng với tổng thống Liên Xô Gorbachev, ông đề xuất một gói viện trợ
tài chính lớn cho Liên Xô đồng thời thuyết phục để Gorbachev không những không
phản đối việc tái thống nhất nước Đức mà còn để nước Đức tái thống nhất vẫn tiếp
tục nằm trong khối NATO. Vào ngày 3 tháng 10 năm 1990, Đông Đức giải thể và các
vùng đất của nó nhập vào (Tây) Đức thành những bang mới (Bundeslander).
Chúng ta có thể bàn luận về lịch sử nước Đức thời hậu chiến một
cách thuận lợi nếu như tóm tắt nó trong chương này theo cùng một bộ khung áp dụng
cho việc bàn luận về bốn quốc gia từ Chương 2 đến Chương 5 hay không? Lịch sử
nước Đức thời hậu chiến dường như rất khác biệt. Lịch sử của tất cả bốn quốc
gia từ Chương 2 đến chương 5 đều được ghi dấu bởi một biến cố đơn lẻ bất thần nổ
ra trong một ngày: sự xuất hiện của Phó đề đốc Perry trong vịnh Nhật Bản vào
ngày 8 tháng 7 năm 1853, cuộc tấn công của Liên Xô vào Phần Lan ngày 30 tháng
11 năm 1939, vụ đảo chính của Pinochet ở Chile ngày 11 tháng 9 năm 1973 và nỗ lực
đảo chính ở Indonesia ngày 1 tháng 10 năm 1965. Ngược lại, không có bất kỳ sự
bùng phát đơn lẻ nào nổ ra ở nước Đức thời hậu chiến, mà thay vào đó họ lại trải
qua một số thách thức chồng lấn và dần lộ ra từ năm 1945 đến năm 1990. Chúng ta
sẽ thấy ở chương kế (Chương 7) rằng những sự kiện thời hậu chiến ở Úc cũng đi
theo hình mẫu tiệm tiến như ở Đức và khác với hình mẫu bùng nổ như đã thấy từ
Chương 2 đến Chương 5. Vậy việc mở rộng thuật ngữ “biến cố” từ những trường hợp
bùng nổ sang những trường hợp tiệm tiến có gây hiểu lầm hay không?
Thực ra, không có tuyến phân chia rõ ràng giữa hai trường hợp
này: những khác biệt giữa chúng chỉ là về mức độ. Nước Đức trải qua những tai
ương đột ngột, thực ra là ba đợt tai ương chứ không chỉ là một tai ương đơn lẻ.
Đầu tiên, hoàn cảnh bị tàn phá vào thời điểm nước Đức đầu hàng ngày 7 và 8
tháng 5 năm 1945 đặt ra biến cố tồi tệ nhất phải đối mặt đối với bất kỳ quốc
gia nào được bàn luận trong cuốn sách này. Sự kiện dựng bức tường Berlin vào
ngày 13 tháng 8 năm 1961 và những cuộc phản kháng của giới sinh viên đạt đỉnh
điểm vào những tháng trong năm 1968, đại diện cho hai biến cố khác nữa. Ngược lại,
việc Perry đến Nhật Bản và vụ đảo chính của Pinochet ở Chile rõ ràng không phải
là những sự kiện tách biệt bất ngờ xảy ra trong ngày một ngày hai. Thay vào đó,
chúng là những cực điểm phát triển vốn đã kéo dài qua nhiều thập niên trước đó,
và giải pháp đưa ra (từng phần) phải mất nhiều thập niên sau đó: cả hai điều
trình bày này cũng áp dụng cho lịch sử nước Đức thời hậu chiến. Ở những trang kế
tiếp chúng ta sẽ thấy rằng các nhân tố nổi lên với cái gọi là “biến cố quốc gia
sâu sắc” ở chương 2 đến chương 5 cũng tương tự như những nhân tố trong cái gọi
là “những biến cố quốc gia tiệm tiến” ở chương này và chương sau.
Do đó, tôi thấy việc xem xét cả hai nhóm lịch sử trong cùng một
khung biến cố là hữu ích. Đặc biệt, lịch sử nước Đức thời hậu chiến không chỉ
minh họa cho hầu hết các nhân tố trong khung biến cố của chúng ta, mà nó còn
minh họa thêm bốn nhân tố ở mức độ cực đoan. Chúng ta hãy bắt đầu việc thảo luận
về bốn đặc trưng này, rồi đến một số đặc trưng ít cực đoan hơn nhưng cũng khá
quan trọng.
Điểm cực đoan đầu tiên của nước Đức gồm những ràng buộc về mặt
địa lý (nhân tố số 12, Bảng 1.2) áp đặt lên khả năng thực hiện thành công những
giải pháp một cách độc lập, Thay vào đó, phải chờ đợi những cơ hội thích hợp nảy
sinh từ hành động của các nước khác.
Trong số sáu nước được bàn luận từ Chương 2 đến Chương 7, chỉ
có Phần Lan là sánh được với Đức về những hạn chế áp đặt lên khả năng của nước
này trong việc hành động độc lập. Ý tưởng này ban đầu có vẻ vô lý đối với người
ngoài không phải là dân Đức, vốn đã quen với suy nghĩ rằng nước Đức ở thế kỷ 20
chuyên làm điều trái ngược với việc kiềm chế hành động độc lập, mà thay vào đó,
lại chọn (dưới thời hoàng đế Wilhelm II và Hitler) những giải pháp ưu tiên về mặt
quân sự liều lĩnh dẫn đến hai cuộc thế chiến. Thực vậy, hai cuộc thế chiến đã hỗ
trợ cho sự tổng hợp của tôi: cả hai cuộc thế chiến này đều kết thúc một cách thảm
khốc cho nước Đức do Wilhelm II và Hitler không đợi chờ những cơ hội thích hợp
mà lại chọn các giải pháp hành động, tạo ra những hậu quả khủng khiếp.
Để hiểu rõ những ràng buộc về mặt địa lý đối với các giải
pháp của nước Đức, chỉ cần nhìn vào bản đồ hiện hành ở đầu chương này cùng những
bản đồ lịch sử châu Âu gần đây. Ngày nay, Đức có đường biên giới chung với chín
quốc gia (Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, Pháp, Thụy Sĩ, Áo, Cộng hòa Séc, Ba Lan và
Đan Mạch), trong khi bờ biển Bắc và biển Baltic lại tiếp giáp với tám nước khác
(Anh, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Nga, Estonia, Latvia và Lithuania). Ngoài ra,
Đức còn có thêm ba quốc gia láng giềng trên đất liền khi sáp nhập thêm nước Áo
vào năm 1938 (Ý, Nam Tư và Hungary) và thêm một quốc gia láng giềng (Lithuania)
giữa giai đoạn 1918-1939. Một số nước này hình thành một phần của hai vùng đất
rộng lớn bên cạnh (Nga và đế chế Habsburg) cho đến trước năm 1918. Việc này tạo
ra đến 20 láng giềng lịch sử của Đức (nếu chỉ tính mỗi thực thể lịch sử một lần
thay vì tính hai lần những láng giềng trên đất liền và trên biển, hoặc những quốc
gia thừa kế từ trước và hiện tại). Trong số 20 láng giềng này, có đến 19 nước,
ngoại trừ Thụy Sĩ đều bị Đức xâm lấn, tấn công bằng đường biển hoặc bị quân đội
Đức trú đóng hoặc làm điểm trung chuyển (Thụy Điển), hay bị Đức xâm lăng trong
giai đoạn 1866-1945. Năm trong số 20 nước láng giềng này đều là hay từng là những
quốc gia hùng mạnh (Pháp, Nga, đế chế Habsburg, Anh và Thụy Điển trước kia).
Không chỉ nước Đức mới có láng giềng. Hầu hết các nước cũng
có, nhưng biên giới giữa các nước láng giềng thường đồng thời cũng có những chướng
ngại vật về mặt địa lý để bảo vệ. Nhưng miền bắc Đức lại là một phần của Bình
nguyên Bắc Âu bằng phẳng (Ảnh 6.6), vốn không bị phân tách bởi chướng ngại vật
phòng vệ tự nhiên nào: không có các rặng núi (như rặng Pyrenees ngăn cách Tây
Ban Nha với Pháp, hay rặng Alps bao quanh Ý), mà chỉ có những con sông hẹp dễ
vượt qua bởi các binh đội nước ngoài trong suốt chiều dài lịch sử. (Ngay cả
sông Rhine cũng không phải là một chướng ngại vật đúng nghĩa.) Chẳng hạn, khi
tôi cùng Marie, người vợ Mỹ gốc Ba Lan của mình, bay từ Berlin đến Warsaw,
Marie, vốn có tính khôi hài đen cho phép người Ba Lan giữ được sự sáng suốt
xuyên suốt trong lịch sử, từ máy bay nhìn xuống vùng bình nguyên bằng phẳng có
thể thấy hai nước Đức và Ba Lan trộn lẫn vào nhau, rồi đưa ra nhận xét: “Địa thế
tuyệt vời cho một trận chiến xe tăng!” Cô ấy đang nghĩ đến những chiếc xe tăng
tiến vào Ba Lan năm 1939. Nhưng một người Đức có suy nghĩ về lịch sử thì có lẽ
sẽ nghĩ đến các đạo quân đang tiến vào miền bắc nước Đức từ phía đông và phía
tây, bao gồm Liên Xô và Đồng minh trong Thế chiến II, quân đội của Napoleon hai
thế kỷ trước đó và nhiều đạo quân trước đó nữa.
Đối với tôi, vị trí địa lý trung tâm của Đức bị bao quanh bởi
các nước láng giềng xem ra là nhân tố quan trọng nhất trong lịch sử nước Đức.
Dĩ nhiên, vị trí đó không phải là không có những thuận lợi: nó biến nước Đức
thành một ngã tư giao thương, công nghệ, nghệ thuật, âm nhạc và văn hóa. Một
người yếm thế sẽ ghi nhận rằng vị trí của nước Đức cũng tạo thuận lợi cho việc
nước này xâm lược nhiều quốc gia trong Thế chiến II.
Nhưng những bất lợi về mặt chính trị và quân sự đối với vị
trí của Đức cũng lớn. Cuộc chiến Ba mươi năm, một cuộc chiến tôn giáo và giành
quyền lực giữa hầu hết các quốc gia hàng đầu ở Tây Âu và Trung Âu vào thế kỷ
17, chủ yếu diễn ra trên đất Đức, đã làm giảm đến 50% dân số ở đất nước này và
gây ra đình đốn kinh tế và chính trị đến tan nát mà hậu quả còn kéo dài đến hai
thế kỷ sau. Đức là đất nước rộng lớn cuối cùng ở châu Âu được thống nhất (năm
1871), và sự thống nhất này đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một nhà ngoại giao
tài năng (Bismarck) với khả năng xuất chúng để cân nhắc những phản ứng của nhiều
cường quốc châu Âu khác. Cơn ác mộng quân sự đối với một nước Đức thống nhất là
nguy cơ của một cuộc chiến tranh giữa hai mặt trận với nước láng giềng phía tây
(Pháp) và nước láng giềng phía đông (Nga); cơn ác mộng đó đã được cụ thể hóa dẫn
đến việc Đức bị đánh bại ở cả hai cuộc thế chiến. Sau Thế chiến II, ba trong số
các nước láng giềng, cộng thêm Mỹ, đã phân chia nước Đức. Chính phủ Tây Đức
không thể trực tiếp làm gì để đạt được việc tái thống nhất: họ phải chờ đợi những
cơ hội thuận tiện thông qua những sự kiện do các quốc gia khác tạo ra.
Những ràng buộc khác nhau về mặt địa lý đồng nghĩa với việc
khả năng lãnh đạo tồi gây ra nhiều hậu quả đau thương cho nước Đức hơn hẳn so với
những quốc gia ít ràng buộc về mặt địa lý. Chẳng hạn, trong khi Hoàng đế
Wilhelm II và các thủ tướng cũng như nội các nước Đức nổi tiếng vì những sai lầm
và thiếu thực tế, thì nước Đức cũng không độc quyền về sự lãnh đạo tồi: cả Mỹ lẫn
Anh cũng dự phần vào điều này. Nhưng đại dương và biển khơi đã bảo vệ Mỹ và Anh
nên những nhà lãnh đạo thiếu khả năng chuyên đưa ra những điều ngớ ngẩn cũng
không gây thảm họa cho đất nước họ, trong khi sự thiếu khả năng lãnh đạo của
Wilhelm II và các đời thủ tướng của ông ta đã mang đến thảm họa cho nước Đức
trong Thế chiến I.
Triết lý dẫn dắt chính sách đối ngoại hiệu quả của các chính
trị gia Đức được tóm tắt trong câu nói đầy ẩn dụ của Bismarck: “Con người phải
luôn gắng xem Thượng đế sải bước đến đâu trong lịch sử thế giới và Người hướng
đến đâu. Rồi nhảy vào và bám chặt bâu áo của Người để được lướt đi càng xa càng
tốt.” Đó cũng là chiến lược của thủ tướng Helmut Kohl vào những năm 1989-1990,
khi những phát triển về mặt chính trị ở Đông Đức và Liên Xô, sau những sáng kiến
của Willy Brandt ở các năm 1969-1974, đã tạo cơ hợi cho nước Đức tái thống nhất.
Một chiến lược tương đương trong môn bóng bầu dục là “chờ thời cơ.” Hẳn là nước
Anh chưa bao giờ nghĩ đến triết lý này khi ở đỉnh cao sức mạnh của đế chế, cũng
như với nước Mỹ ngày nay (trong chính sách đối ngoại chứ không phải trong môn
bóng bầu dục); thay vào đó, đế quốc Anh hay nước Mỹ ngày nay chỉ trông chờ vào
việc chọn lựa những sách lược ưu tiên để có thể áp đặt ý chí của mình.
Một khía cạnh khác mà trong đó nước Đức ở vị trí thái cực
trong số những nghiên cứu trường hợp liên quan đến sự than thân và tư duy biến
thành nạn nhân (nhân tố số 2). Đây là một chủ đề đặc biệt sáng tỏ cho thảo luận,
vì thực ra nước Đức hình thành không chỉ một mà đến hai thái cực đối nghịch:
trong những phản ứng đối nghịch nhau đối với Thế chiến I và Thế chiến II.
Khoảng tháng 10 năm 1918, thời điểm ngắn ngủi trước khi kết
thúc Thế chiến I, những cuộc tấn công quân sự cuối cùng của Đức ở mặt trận phía
tây thất bại, quân Đồng minh đang đà tiến được tăng cường bởi đạo quân một triệu
binh sĩ Mỹ mới nhập cuộc, và việc Đức bại trận chắc chắn chỉ còn là vấn đề thời
gian. Nhưng quân đội Đức vẫn tiến hành một cuộc rút lui có trật tự, và phe Đồng
minh cũng chưa tiến đến biên giới Đức. Những thỏa thuận đình chiến được đẩy
nhanh đến một chung cuộc bởi cuộc binh biến trong hạm đội Đức và những bùng
phát nổi loạn có vũ trang ở Đức. Điều này cho phép những kẻ chuyên khích động
quần chúng ở Đức thời hậu chiến, đặc biệt là Hitler, cho rằng quân đội Đức
không phải bị đánh bại về mặt quân sự mà bị phản bội bởi một “nhát dao đâm sau
lưng” của các nhà chính trị dân sự phản trắc. Những điều kiện của Hiệp ước
Versailles áp đặt lên nước Đức bởi phe Đồng minh thắng trận, bao gồm một “điều
khoản về tội phạm chiến tranh” gán cho Đức là kẻ xâm lược chịu trách nhiệm về
cuộc chiến tranh, khích động thêm sự phẫn nộ của dân Đức. Kết quả là tuy nhiều
sử gia Đức thời hậu chiến có phân tích về những sai lầm về mặt chính trị của nước
Đức thời tiền chiến đã đẩy nước Đức vào cuộc chiến tranh trong những điều kiện
bất lợi, nhưng quan điểm phổ biến của công chúng Đức thời hậu chiến vẫn cho rằng
nước Đức chỉ là một nạn nhân, với những lãnh đạo không chịu trách nhiệm về nỗi
bất hạnh của đất nước họ.
Giờ đây, trái ngược với tư duy biến thành nạn nhân sau Thế
chiến I là quan điểm của nước Đức thời hậu chiến sau Thế chiến II. Vào tháng 5
năm 1945, quân đội Đức bị đánh bại trên khắp các mặt trận, toàn bộ nước Đức bị
quân đội Đồng minh chiếm đóng và phải đầu hàng vô điều kiện. Không một người Đức
hay người nước ngoài nào phủ nhận việc Thế chiến II xảy ra ở châu Âu chỉ do ý
muốn của một mình Hitler. Người dân Đức dần dần hiểu ra những sự dã man chưa từng
có tiền lệ mà chính sách của chính phủ Đức phạm phải trong các trại tập trung
và của quân đội Đức ở mặt trận phía Đông. Bản thân những thường dân Đức cũng phải
gánh chịu đau khổ: đặc biệt trong các cuộc dội bom ở Hamburg, Dresden và những
thành phố khác của Đức, trong việc trốn chạy trước đà tiến của quân đội Liên
Xô, và trong việc trục xuất những cư dân Đức bản địa sống ở Đông Âu và vùng
lãnh thổ phía đông nước Đức trước đây bởi chính quyền Ba Lan, Tiệp Khắc và các
nước Đông Âu khác ngay sau khi kết thúc chiến tranh. Sự tiến quân của Liên Xô
và việc trục xuất ước tính đã khiến 12 triệu thường dân Đức phải chạy nạn, giết
chết hơn hai triệu người trong số đó và khoảng một triệu phụ nữ Đức bị cưỡng hiếp.
Những đau khổ của thường dân Đức nhận được một số quan tâm ở
Đức thời hậu chiến. Nhưng sự than trách và tư duy biến thành nạn nhân không thống
ngự quan điểm của người Đức sau Thế chiến II như đã từng xảy ra sau Thế chiến
I. Một phần của lý do này là vì người Đức nhận thức rằng những điều khủng khiếp
mà người Nga, người Ba Lan hay Tiệp Khắc gây ra cho thường dân Đức chính là hậu
quả mà trước đó người Đức vừa gây ra cho các nước này. Nhưng chúng ta không nên
xem việc người Đức cự tuyệt vai trò nạn nhân và thừa nhận sự hổ thẹn sau Thế
chiến II như một điều hiển nhiên, vì nó trái ngược với việc họ tự nhận là nạn
nhân sau Thế chiến I và người Nhật tự nhận như thế ở Thế chiến II (Chương 8). Kết
quả của việc nhận phần lỗi đầy đau xót với quá khứ đã dẫn đến thuận lợi cho nước
Đức ngày nay dưới hình thái an toàn hơn và quan hệ tốt đẹp hơn với những kẻ thù
trước đây hơn là quan điểm của Đức sau Thế chiến I và của Nhật ngày nay.
Thêm hai điểm nữa mà trong đó nước Đức là một trường hợp đặc
biệt cho những mục đích được kết nối: vai trò lãnh đạo và sự tự đánh giá trung
thực hoặc thiếu những điều đó (nhân tố số 7). Do vị trí địa lý của Đức ở trung
tâm châu Âu đã khiến họ thường xuyên bộc lộ những khó khăn và nguy hiểm hơn Anh
và Mỹ, vốn được bảo vệ bởi những chướng ngại biển khơi, nên hiệu quả của sự
lãnh đạo giỏi hay yếu kém cũng rõ ràng hơn ở Anh hay Mỹ.
Trong số những nhà lãnh đạo tạo ra hiệu quả tồi, Hitler kiêu
hãnh giữ vị trí đầu bảng trong lịch sử thế giới gần đây. Dĩ nhiên người ta có
thể biện luận rằng những kết hợp từ Hiệp ước Versailles, sự sụp đổ tiền tệ của
Đức năm 1923, cùng nạn thất nghiệp và suy thoái kinh tế bắt đầu từ năm 1929
cũng có thể thúc đẩy nước Đức gây chiến để có thể đảo lộn hiệp ước ngay cả khi
không có Hitler. Nhưng họ cũng có thể cãi rằng một Thế chiến II do Đức gây ra
mà không có Hitler cũng sẽ khác đi. Tính khí xấu xa bất thường, sức thu hút, sự
trơ tráo trong chính sách đối ngoại và quyết định thủ tiêu tất cả người Do Thái
của Hitler không được các lãnh đạo theo chủ nghĩa xét lại khác ở Đức trong thời
kỳ ông ta chia sẻ. Dù có những thành quả quân sự bước đầu, nhưng chính những
đánh giá không tưởng đã dẫn đến việc ông ta liên tục không đếm xỉa gì đến ý kiến
các tướng lĩnh để cuối cùng gây ra sự thất bại của nước Đức. Những quyết định
không tưởng chết người bao gồm việc ông ta vô cớ gây chiến với Mỹ vào tháng 12
năm 1941 trong khi đang có chiến tranh với Anh và Nga, và việc ông ta bỏ qua những
yêu cầu khẩn thiết của các tướng lĩnh cho phép rút lui quân đội đang mắc kẹt ở
Stalingrad vào các năm 1942-1943.
Nhân vật thứ hai sau Hitler về lãnh đạo yếu kém trong lịch sử
nước Đức cận đại là Hoàng đế Wilhelm II, người đã kết thúc 30 năm trị vì của
mình bằng việc thoái vị cùng thất bại của nước Đức trong Thế chiến I. Người ta
lại có thể tranh cãi về việc liệu Thế chiến I có xảy ra nếu không có Wilhelm
hay không. Tuy nhiên, một cuộc chiến tranh như thế cũng có khả năng diễn ra ở
hình thái khác, vì giống như Hitler, Wilhelm cũng thuộc dạng bất thường, dẫu
theo một cách khác. Dù Wilhelm nắm giữ ít quyền lực hơn Hitler, ông ta vẫn có
quyền chỉ định và loại bỏ các thủ tướng Đức, tạo được lòng trung thành của người
dân, và chỉ huy quân đội Đức. Mặc dù không phải là con người xấu xa, nhưng ông
ta là người dễ thay đổi cảm xúc và không tưởng, có óc phán đoán tồi và ứng xử cực
kém trong nhiều trường hợp, từ đó gây ra những vấn nạn không cần thiết cho nước
Đức. Một trong những chính sách của ông ta khiến nước Đức nhảy vào Thế chiến I
trong hoàn cảnh bất lợi dẫn đến sự thất trận là việc ông ta không tiếp tục gia
hạn hiệp ước của Bismarck ký kết giữa Đức và Nga, từ đó đẩy nước Đức vào cơn ác
mộng quân sự nảy sinh từ vị trí địa lý như đã nói ở trên: một cuộc chiến đồng
thời trên hai mặt trận với Nga và Pháp.
Một ví dụ đối nghịch điển hình của khả năng lãnh đạo thành
công và đánh giá một cách thực tế ở Đức là Willy Brandt, người đã công nhận
Đông Đức và các nước khác trong khối Đông Âu, ký hiệp ước với Ba Lan và Nga, đồng
thời chấp nhận mất mát lãnh thổ Đức bên kia Tuyến Oder-Neisse, trái ngược với
20 năm chính sách đối ngoại của Tây Đức trước đó. Khi những đời thủ tướng tiếp
nối vẫn áp dụng các chính sách của Brandt, thì người ta có thể biện luận rằng sự
lãnh đạo của ông ta đã tạo nên sự khác biệt. Trong khi đảng CDU đối nghịch vẫn
tiếp tục chống lại các chính sách này trong vài năm sau đó; thì việc Brandt chấp
nhận Tuyến Oder-Neisse đòi hỏi phải có tư duy hiện thực vượt trội và sự dũng cảm
về mặt chính trị mà những người tiền nhiệm của ông còn thiếu; còn những người kế
nhiệm ông lại thiếu uy tín để có thể làm như ông là đi thăm khu Warsaw Ghetto một
cách đầy thuyết phục và không thể nào quên được. Trong số những thủ tướng Đức
sau Thế chiến II, thì Konrad Adenauer, Helmut Schmidt và Helmut Kohl nổi bật là
những nhân vật có tài năng. Về tổng thể, với tư cách là một người Mỹ, tôi rất ấn
tượng với tư duy tốt nối tiếp nhau của các đời thủ tướng Tây Đức kể từ sau Thế
chiến II, trong suốt thời kỳ mà nước Mỹ phải gánh chịu một vài đời tổng thống
thất bại và không có gì nổi bật.
Ví dụ đối nghịch điển hình còn lại về tài lãnh đạo thành công
tạo nên sự khác biệt chính là Otto von Bismarck, thủ tướng nước Phổ rồi thủ tướng
đế chế Đức, nhân vật đã tiến đến thống nhất nước Đức vào năm 1871. Sự thống nhất
này phải đối mặt với đủ thứ chướng ngại – đáng kể nhất là sự đối kháng đến từ
các tiểu quốc Đức nhỏ hơn chứ không phải nước Phổ, đối kháng từ đế chế Habsburg
láng giềng hùng mạnh và nước Pháp, chỉ có thể giải quyết bằng chiến tranh, xa
hơn là hai nước đối nghịch tiềm năng Nga và Anh, cùng vấn nạn đang bàn cãi là
các chủng tộc German với đầu óc thực tế có thể hợp lại thành một nước Đức thống
nhất hay không. Bismarck là một người duy thực đến mức cực đoan, đã quá quen với
những lý do khiến các cuộc cách mạng ở Đức năm 1848 thất bại, nhận thức được sự
đối kháng đến từ bên trong và bên ngoài đối với việc thống nhất nước Đức, và
cũng quen với việc thay đổi theo từng nấc, ông bắt đầu với những phương sách nhỏ
và chỉ chuyển sang những phương sách mạnh mẽ hơn khi những phương sách nhỏ thất
bại. Ông nhận thấy khả năng của nước Phổ để khởi phát những sự kiện quan trọng
còn bị hạn chế bởi những ràng buộc về mặt địa lý, và chính sách của ông phải
tùy thuộc vào việc chờ đợi cơ hội thích hợp rồi sau đó phải nhanh chóng hành động.
Không một chính trị gia Đức nào ở thế hệ của ông có thể sánh được với ông về
các thủ thuật chính trị. Tuy nhiên, Bismarck cũng thường bị chỉ trích vì đã
không chuẩn bị một người kế nhiệm phù hợp và không xử lý các vấn nạn ở Đức khiến
chúng bùng phát trong Thế chiến I, 24 năm sau khi ông rời chức vụ thủ tướng.
Nhưng theo tôi, việc phê phán ông về những hành động điên rồ của Wilhelm II và
những nhân vật do vị hoàng đế này chỉ định là không công bằng. Bismarck cũng bị
chỉ trích do được cho là hiếu chiến, nhưng nước Đức khó có thể thống nhất do gặp
phải đối kháng khắp phía nếu không có ba cuộc chiến tranh của Bismarck, nhưng
hai trong số này rất ngắn ngủi. (Việc thống nhất nước Ý phải cần đến bốn cuộc
chiến tranh, nhưng Ý chưa từng bị coi là hiếu chiến.) Khi nước Đức thống nhất
vào năm 1871, để lại hàng triệu người nói tiếng Đức bên ngoài biên giới, thì
Bismarck đủ thực tế để hiểu rằng ông đã đạt được hầu hết những điều khả thi và
những cường quốc khác sẽ không chấp nhận để nước Đức bành trướng thêm nữa.
Những sự phù hợp khác của nước Đức đối với bộ khung của chúng
ta có thể được tóm tắt ngắn gọn. Nước Đức kể từ Thế chiến II trở đi minh họa
cho sự thay đổi có chọn lọc (nhân tố số 3). Trong tất cả các nước, Đức là quốc
gia trải qua những thay đổi lớn nhất về biên giới chính trị. Họ quyết liệt đánh
giá lại quá khứ Quốc xã của mình. Họ tiến hành một số thay đổi xã hội rộng lớn,
đặc biệt về chủ nghĩa độc đoán trước đây và địa vị xã hội của phụ nữ. Nhưng nhiều
giá trị cốt lõi của xã hội Đức truyền thống vẫn ít thay đổi, bao gồm hỗ trợ
chính phủ về nghệ thuật, hỗ trợ chính phủ về chăm sóc y tế cho mọi người và
lương hưu trí, đồng thời nhấn mạnh đến các giá trị cộng đồng đối với những quyền
cá nhân không bị hạn chế. Là một người Mỹ, bất kỳ lúc nào quay lại Đức, tôi đều
rất ngạc nhiên khi thấy rằng ngay đến những thành phố nhỏ nhất ở nước này cũng
có nhà hát opera, những người bạn già của tôi vẫn có thể sống thoải mái sau khi
về hưu và những ngôi làng vẫn lưu giữ được màu sắc địa phương (do luật vùng quy
định rằng phong cách mái nhà của bạn phải phù hợp với phong cách địa phương).
Hỗ trợ từ các quốc gia khác cũng rất đa dạng về nơi chốn và
thời gian trong lịch sử Đức thời cận đại (nhân tố số 4). Kế hoạch viện trợ
Marshall của Mỹ và việc sử dụng nguồn viện trợ đúng đắn và hợp lý đã tạo cơ sở
cho phép màu kinh tế sau năm 1948. Ngược lại, viện trợ kinh tế âm – những khoản
bồi thường chiến phí chẳng hạn – đã đóng góp vào sự suy yếu của Đông Đức sau Thế
chiến II và nền Cộng hòa Weimar của Đức sau Thế chiến I.
Căn tính quốc gia mạnh mẽ của Đức đã giúp nước này tồn tại
qua những sang chấn tâm lý do bị tàn phá, chiếm đóng và phân ly (nhân tố số 6).
(Một số người ngoài cuộc còn đi xa hơn, cho rằng căn tính quốc gia của Đức quá
đỗi mạnh mẽ.) Đặc biệt, căn tính quốc gia và sự tự hào đó lại dựa trên âm nhạc,
nghệ thuật, văn học, triết học và khoa học nổi tiếng khắp thế giới của dân tộc
Đức; sự kết nối trong ngôn ngữ Đức được hệ thống hóa qua bản dịch Kinh Thánh của
Martin Luther, chuyển tải sự biến thể một cách biện chứng ngôn ngữ nói của tiếng
Đức; và những hồi ức lịch sử được san sẻ đã giúp người Đức xác định bản sắc của
họ như một dân tộc chung nhất dù phải trải qua nhiều thế kỷ phân ly về mặt
chính trị.
Nước Đức cũng minh họa cho đức tính kiên nhẫn nảy sinh từ những
chiến bại trong quá khứ và những thất bại ban đầu (nhân tố số 9), và cũng minh
họa cho niềm tự hào nảy sinh từ những thành quả trong quá khứ (nhân tố số 8).
Nước này cũng hồi phục từ chiến bại sau hai cuộc thế chiến. Những thành quả của
họ đòi hỏi đức tính kham nhẫn, bao gồm việc thống nhất đất nước vượt qua những
bất hòa lên đến đỉnh điểm vào năm 1871, cùng việc tái thống nhất vượt qua những
bất hòa đến đỉnh điểm vào năm 1990, cũng như phép màu kinh tế thời hậu chiến.
Những sự phát triển ở Đức thời hậu chiến liên quan đến những
sự phát động từ bên trong và bên ngoài nước này. Những sự phát động từ bên
trong đã thúc đẩy nước Đức giải quyết quá khứ Quốc xã của mình và sự bùng phát
cuộc nổi dậy trong giới sinh viên vào năm 1968. Những sự phát động từ bên ngoài
– như việc Hungary mở cửa biên giới với Áo năm 1989 và sự sụp đổ của Liên Xô –
đã tạo động lực cho việc tái thống nhất thành công.
Trong số những vấn đề nảy sinh từ biến cố quốc gia không
trùng khớp với biến cố cá nhân, nước Đức minh họa cho một sự hòa giải ở mức độ
xuất sắc với các đối thủ trước đó của mình. Sự thừa nhận quá khứ Quốc xã, tiêu
biểu qua việc thủ tướng Brandt quỳ gối tại khu Warsaw Ghetto, đã khiến mối bang
giao giữa Đức và hai nước láng giềng Ba Lan và Pháp trở nên tương đối trơn tru
và trung thực – vượt xa mối quan hệ giữa Nhật Bản với Hàn Quốc và Trung Quốc
(Chương 8). Một vấn đề khác đặc biệt nảy sinh đối với biến cố quốc gia là sự
thay đổi quyết liệt diễn ra do cách mạng hay do tiến trình. Nước Đức hiện đại
đã trải qua ba cuộc cách mạng hay nổi dậy, hai trong số này thất bại với những
tác động tức thì: nỗ lực thống nhất và dân chủ hóa bằng cách mạng năm 1848 thất
bại, những vụ nổi dậy năm 1918 lật đổ các vị vua và hoàng đế Đức, và những vụ nổi
loạn của giới sinh viên năm 1968 dùng bạo lực để thay đổi xã hội, hệ thống kinh
tế và loại hình chính phủ của nước Đức. Một trong các mục tiêu này về sau đã gặt
hái thành công do sự tiến triển: thành quả êm thấm thời kỳ sau năm 1968 về nhiều
mục tiêu của các nhà cách mạng trong giới sinh viên. Sự thay đổi quyết liệt
trong việc tái thống nhất vào các năm 1989-1990 cũng gặt hái thành công một
cách êm thấm.
Điều thú vị là lịch sử nước Đức cận đại đã cung cấp bốn ví dụ
điển hình về khoảng cách 21-23 năm giữa một thất bại tan vỡ và một phản ứng
bùng phát từ thất bại đó. Bốn hình mẫu điển hình đó là: khoảng cách 23 năm giữa
nỗ lực thống nhất bằng cách mạng thất bại vào năm 1848 và sự thống nhất thành
công vào năm 1871; khoảng cách 21 năm giữa thảm bại năm 1918 trong Thế chiến I
và sự bùng nổ Thế chiến II năm 1939 để tìm kiếm tình thế đảo ngược cho chiến bại
đó, nhưng cuối cùng cũng phải gánh chịu thất bại; khoảng cách 23 năm giữa chiến
bại thảm hại trong Thế chiến II năm 1945 và các cuộc nổi loạn của giới sinh
viên ra đời khoảng năm 1945; và khoảng cách 22 năm giữa các cuộc nổi loạn của
sinh viên năm 1968 và việc tái thống nhất năm 1990. Dĩ nhiên, cũng có những
khác biệt giữa bốn bộ sự kiện đó, và các nhân tố bên ngoài góp vai trò trong việc
quyết định những khoảng cách đó, đặc biệt là giai đoạn 1968-1990. Nhưng tôi
nghĩ rằng tuy vậy cũng có một ý nghĩa đối với những điểm tương đồng đó: 21-23
năm tương đương với một thế hệ con người. Những năm 1848, 1918 và 1968 là những
trải nghiệm cốt tử cho lớp thanh niên hồi đó và cho những người mà hai thập
niên sau lại trở thành lãnh đạo của đất nước họ rồi cuối cùng thấy mình đang ở
một vị thế phải hoàn tất (năm 1871, năm 1990) hay phản ứng (năm 1939) với trải
nghiệm cốt tử của họ thời còn trẻ trai. Đối với những vụ nổi loạn của giới sinh
viên năm 1968, sự lãnh đạo và tham gia không yêu cầu như những chính khách dày
dạn ở độ tuổi 40 hay 50, mà chỉ là những người cấp tiến dày dạn ở độ tuổi 20.
Và như một người bạn Đức đã trải qua năm 1968 đầy biến động đó giải thích với
tôi rằng, “Nếu không có năm 1968 thì cũng sẽ không có năm 1990.”
Phần 2: Quốc gia - Biến cố đã lộ diện
Chương 7 - Nước Úc: Chúng ta là ai?
Đến thăm Úc – Hạm đội Thứ nhất và thổ dân đầu tiên của Úc –
Những di dân đầu tiên – Hướng đến chính quyền tự trị – Liên bang – Tránh xa họ
– Thế chiến I – Thế chiến II – Nới lỏng quan hệ – Kết thúc chính sách Úc Trắng
– Khung biến cố
Lần đầu tiên tôi đến Úc là vào năm 1964, sau khi sống ở Anh
được bốn năm. Hồi đó, nước Úc gây ấn tượng với tôi là có nhiều người Anh hơn cả
nước Anh – như nước Anh của một vài thập niên trước đó, đóng băng với thời
gian. Khung cảnh đường phố Sydney, thành phố lớn nhất nước Úc, khiến tôi liên
tưởng đến nước Anh trên mọi góc phố, với Công viên Hyde của Sydney, Ga King’s
Cross và Phố Oxford giống như ở London. Đa phần người dân Úc không chỉ có tổ
tiên là người da trắng; mà họ còn áp đảo về số lượng người Anh trắng. Thức ăn
Úc vẫn là các món truyền thống nhàm chán của người Anh: món nướng Sunday Roast
theo nghi thức, đa phần là các cửa hàng cá và khoai tây chiên, và hũ bơ
Vegemite trong bữa điểm tâm, bắt chước món sốt Marmite của Anh.
Có nhiều quán rượu kiểu Anh, với một phòng chỉ dành cho nam
và phòng khác (gọi là phòng cho quý bà) dành cho cả nam lẫn nữ, và có giờ mở cửa
giới hạn tương tự như các quán rượu của Anh trong những năm đó. Những lựa chọn
thay thế cho thực phẩm truyền thống của Anh ở Úc chủ yếu trong phạm vi các nhà
hàng Ý, Hy Lạp và thi thoảng cũng bắt gặp nhà hàng Trung Hoa.
Kể từ lần đầu tiên đến Úc, tôi đã trở lại hàng chục lần để chứng
kiến sự thay đổi của đất nước này. Đối với tôi, biểu tượng của những thay đổi
này đến từ một trải nghiệm vào năm 2008, khi tôi đưa con trai Joshua tới Úc để
tham dự một học kỳ đại học ở nước ngoài tại Đại học Queensland ở Brisbane. Khi
chúng tôi đi ngang qua khuôn viên đại học, tôi cảm thấy như mình không còn ở một
nước Úc mà tôi từng biết, thay vào đó, trông nó như khuôn viên của trường tôi,
Đại học California ở Los Angeles, vì rất nhiều sinh viên là người châu Á. Nước
Úc không còn thuộc về người Anh da trắng là chủ yếu.
Vào năm 1964, thực tế cơ bản của xã hội Úc một mặt vẫn là sự
mâu thuẫn giữa một bên là vị trí địa lý của Úc, và mặt khác là sự hình thành
dân cư và những mối quan hệ tình cảm và văn hóa. Dân số Úc và căn tính quốc gia
chủ yếu là mang chất Anh (Ảnh 7.1). Nhưng Úc cách Anh gần nửa vòng Trái đất: ở
Nam bán cầu chứ không phải Bắc bán cầu và cách nước Anh 8 đến 10 múi giờ về
phía đông. Cảnh quan xứ sở của chuột túi, động vật có vú đẻ trứng, loài chim
bói cá kích cỡ lớn (kookaburra), thằn lằn lớn, cây bạch đàn và hoang mạc là cảnh
quan đặc biệt nhất (và khác với Anh nhất) trong bất kỳ lục địa nào có con người
cư trú (Ảnh 7.2). Về mặt địa lý, Úc gần gũi với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước
Đông Á khác hơn so với châu Âu và gần Indonesia hơn 50 lần so với Anh. Tuy
nhiên, khi tôi đi trên các đường phố Úc vào năm 1964, không có dấu hiệu nào cho
thấy có sự gần gũi với châu Á.
Vào thời điểm tôi đưa Joshua đến Brisbane 44 năm sau, sự gần
gũi của châu Á đã trở nên rõ rệt, với một số lượng lớn người châu Á (Ảnh 7.3),
và ở các nhà hàng Nhật Bản, Thái Lan và Việt Nam. Chính sách một nước Úc Trắng
chính thức từng cấm đoán những người nhập cư châu Á và các chính sách không
chính thức khác làm nản lòng người châu Âu da trắng, ngoài người Anh, đã biến mất.
Nhưng ngôn ngữ chính của Úc vẫn là tiếng Anh, Nữ hoàng Anh vẫn là biểu tượng đứng
đầu của nước Úc, và quốc kỳ Úc vẫn có sự kết hợp với cờ Anh. Đó là một đất nước
tuyệt vời, luôn được xếp hạng là một trong những nơi đáng sống nhất thế giới,
có cư dân hài lòng nhất và tuổi thọ cao nhất. Đó là một trong hai quốc gia mà
tôi nghiêm túc xem xét việc chuyển đến sống. Đất nước này mang chất Anh, nhưng
lại không phải là Anh. Vậy điều gì đã xảy ra khiến nảy sinh những thay đổi có
chọn lọc trong suốt những thập niên tôi đến Úc?
Khi bạn lướt qua lịch sử nước Úc cùng tôi trong các trang tiếp
theo, hãy nghĩ xem Úc được xếp vào đâu trong tương quan với năm quốc gia khác
mà chúng ta đã xem xét về các biến cố. Giống Đức như đã thảo luận trong chương
trước, và không giống như bốn quốc gia từ Chương 2 đến Chương 5, Úc đã trải qua
một biến cố không nổ ra trong ngày một ngày hai. (Tuy nhiên, ba cú sốc quân sự
trong vòng 71 ngày từ năm 1941 đến năm 1942 lại nổi bật về tầm quan trọng.)
Ngoài ra, biến cố của Úc, cũng như của Đức, một phần là sự bộc lộ một phản ứng
đối với những năm trong Thế chiến II. Đối với cả Đức lẫn Úc, chiến tranh đã chứng
minh rằng các giải pháp quốc gia truyền thống không còn hiệu quả, nhưng bằng chứng
thảm khốc hơn nhiều và thuyết phục nhanh chóng trong chiến tranh lại làm tan vỡ
nước Đức hơn so với ở Úc. Câu hỏi cơ bản cho người Úc, hơn cả đối với công dân
của bất kỳ quốc gia nào khác đề cập trong cuốn sách này, là vấn đề căn tính quốc
gia: Chúng ta là ai? Thế chiến II bắt đầu khiến hình ảnh nhận thức bản thân lâu
nay của người Úc như một nước Anh thứ hai cách nửa vòng thế giới đã trở nên lỗi
thời và không còn phù hợp với những hoàn cảnh thay đổi của nước này. Nhưng chỉ
một mình cuộc chiến này cũng không đủ để khiến hầu hết người Úc lìa bỏ nhận thức
đó.
Phải mất nhiều thời gian để một con người đơn lẻ tìm được một
câu trả lời mới cho câu hỏi Tôi là ai? Và còn phải mất nhiều thời gian hơn nữa
cho một quốc gia, bao gồm hàng triệu cá nhân chia thành nhiều nhóm với quan điểm
khác biệt về căn tính quốc gia của họ, để tìm ra câu trả lời cho: Chúng ta là
ai? Do đó, không lấy gì ngạc nhiên khi đến nay người Úc vẫn còn vật vã với câu
hỏi đó. Điều nghịch lý là, trong khi việc giải quyết biến cố ở Úc chậm chạp –
chậm đến mức nhiều người Úc thậm chí không nghĩ rằng đó là một biến cố chút nào
– Úc là một trong sáu quốc gia chúng ta đang bàn đến đã trải nghiệm tập hợp những
thay đổi thống nhất rộng lớn nhất được công bố trong thời gian ngắn nhất, chỉ
19 ngày trong tháng 12 năm 1972. Mọi sự phát triển này, và những điều khác, là
những gì tôi thấy hấp dẫn trong câu chuyện về nước Úc hiện đại mà bây giờ chúng
ta sẽ xem xét.
Khoảng 50.000 năm sau khi tổ tiên của thổ dân Úc định cư ở
đây, thì những người định cư châu Âu đầu tiên mới đến vào tháng 1 năm 1788, với
một hạm đội gồm 11 tàu được Anh gửi đến. Chính phủ Anh gửi hạm đội này đến
không phải vì họ coi Úc là một địa điểm tuyệt vời thu hút dân định cư người
Anh, mà bởi vì họ gặp vấn đề với sự bùng nổ số lượng người bị kết án mà họ muốn
tống đến một nơi xa xôi. Úc và vùng Tây Phi nhiệt đới đều được xem là những địa
điểm xa xôi thích hợp, nhưng rõ ràng các căn bệnh nhiệt đới ở Tây Phi khiến nó
biến thành một nơi không tốt cho sức khỏe của người châu Âu; và Úc có vẻ như
đáp ứng được nhiều thuận lợi: nó còn xa hơn nhiều so với Tây Phi và chưa rõ là
(và trên thực tế thì thường vô hại) có hại cho sức khỏe của người châu Âu hay
không; ngoài ra, nó còn cung cấp các căn cứ tiềm năng ở Thái Bình Dương cho những
con tàu hải quân hoàng gia, tàu buôn, tàu săn cá voi, và tàu cung cấp gỗ và vải
lanh của Anh.
Và thế là Úc đã được chọn – đặc biệt, tại những vùng quanh
thành phố Sydney ngày nay.
Hạm đội Thứ nhất bao gồm 730 tù nhân, lính canh, giám thị,
công nhân và một sĩ quan hải quân Anh làm thống đốc. Sau đó, còn thêm nhiều hạm
đội và tàu thuyền đến, đem thêm tù nhân đến Sydney rồi đến bốn địa điểm khác nằm
rải rác trên lục địa Úc. Chẳng bao lâu sau, lại có thêm dân định cư tự do người
Anh sang. Tuy nhiên, 32 năm sau, vào năm 1820, dân số người Âu của Úc vẫn bao gồm
84% tù nhân và cựu tù, và việc đưa tù nhân từ Anh đến Úc vẫn không chấm dứt cho
đến năm 1868. Để tồn tại và làm giàu ở vùng biên viễn Úc không phải là chuyện dễ
dàng, và vì vậy người Úc hiện đại thuộc dòng giống các tù nhân năm xưa xem đó
như một huy hiệu của niềm tự hào chứ không phải là điều đáng xấu hổ – giống như
niềm tự hào được cảm nhận bởi con cháu người Mỹ hiện đại của những người định
cư đến Tân thế giới trên con tàu Mayflower năm 1620.
Người ta dự kiến (chính xác) rằng sẽ mất một thời gian dài để
những người tù và dân định cư tìm ra phương cách trồng trọt đủ thức ăn để nuôi
sống bản thân. Do đó Hạm đội Thứ nhất chất theo nhiều thực phẩm, và nước Anh vẫn
tiếp tục gửi sang cho đến năm 1840. Vài thập niên trôi qua trước khi người Úc
có thể xuất khẩu hàng trở lại Anh: ban đầu, chỉ là các sản phẩm từ săn bắt cá
voi và hải cẩu; rồi từ 1830 trở đi là len cừu; vàng từ cơn sốt vàng bắt đầu vào
năm 1851; thịt và bơ khi xuất hiện tàu đông lạnh cho chuyến đi biển dài đến Anh
vào năm 1880. Ngày nay, một phần ba số len thế giới là nguồn từ số lượng cừu dồi
dào của Úc, năm con cừu cho mỗi đầu người. Nhưng kể từ Thế chiến II, nền kinh tế
Úc lại chủ yếu từ khai thác lượng khoáng sản dồi dào mà lục địa này sở hữu: Úc
là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về nhôm, than, đồng, vàng, sắt, chì, magiê,
bạc, vonfram, titan và urinium.
Thông tin ngắn gọn này về khu định cư châu Âu ở Úc từ năm
1788 trở đi đã bỏ qua những gì đang xảy ra với thổ dân định cư trước đó rất
lâu. Ở các thuộc địa khác của Anh như Mỹ, Canada, Ấn Độ, Fiji và Tây Phi, thực
dân Anh đối phó với người bản địa một cách hòa bình bằng cách đàm phán với các
thủ lĩnh hoặc ông hoàng địa phương, hoặc dùng biện pháp quân sự bằng cách gửi
quân đội Anh đánh dẹp những đội quân địa phương hoặc các bộ lạc lớn. Tuy nhiên,
những phương pháp đó lại không hiệu quả ở Úc, nơi tổ chức thổ dân bao gồm các
nhóm nhỏ không có quân đội, thủ lĩnh hay ông hoàng nào. Những người thổ dân sống
một lối sống du mục và không có những ngôi làng cố định. Đối với những người định
cư châu Âu, điều đó có nghĩa là thổ dân xem như không “sở hữu” vùng đất này.
Do đó, dân định cư châu Âu đơn giản là lấy đất của thổ dân mà
không cần thương lượng hay trả tiền. Không có những trận chiến với các đội quân
thổ dân: chỉ có những cuộc tấn công lẻ tẻ bởi các nhóm nhỏ thổ dân, hoặc đánh lại
họ, đôi khi khởi nguồn từ việc thổ dân giết cừu vì họ cho rằng chúng cũng không
khác gì loài chuột túi và các động vật hoang dã khác mà họ đã quen săn bắt. Đáp
lại, người định cư châu Âu lại giết chết thổ dân; vụ thảm sát lớn cuối cùng (32
thổ dân) diễn ra gần đây nhất là vào năm 1928. Khi một thống đốc Anh ra lệnh
xét xử và treo cổ những người châu Âu giết hại thổ dân, công chúng Úc ủng hộ mạnh
mẽ những kẻ giết người đó và văn phòng thuộc địa của London nhận ra rằng không
thể ngăn chặn những thần dân Anh ở vùng đất Úc xa xôi làm những gì họ muốn – chẳng
hạn như việc giết chết thổ dân.
Do thổ dân là những người săn bắt-hái lượm chứ không phải là
nông dân định cư, nên người Úc da trắng khinh miệt, xem họ như người nguyên thủy.
Tôi còn ngạc nhiên về mức độ phổ biến của sự khinh miệt thổ dân vẫn tồn tại ở
những người Úc có học. Một thượng nghị sĩ Úc từng nói “không có bằng chứng khoa
học nào cho thấy anh ta [thổ dân] là một con người cả.” Khi số lượng thổ dân sụt
giảm vì bệnh tật, giết chóc và bị tước đoạt đất đai, người Úc da trắng tin rằng
họ đang trên bờ vực tuyệt chủng. Một giám mục người Úc đã viết “những người thổ
dân đang biến mất. Trong quá trình một hoặc hai thế hệ là nhiều nhất, người đồng
bào da đen cuối cùng của Úc [tức là thổ dân] sẽ quay mặt xuống lòng đất mẹ ấm
áp… công việc truyền giáo sau đó chỉ có thể là cầu nguyện cho một chủng tộc sắp
chết.”
Những người thổ dân cuối cùng cũng bị cấm kết hôn với những
người không phải thổ dân nếu không có sự đồng ý của chính phủ. Đã có nhiều
tranh cãi về một chính sách được triển khai vào năm 1930, về việc cưỡng bức trẻ
em pha trộn hai chủng tộc thổ dân/da trắng và cả trẻ thổ dân rời bỏ gia đình để
đến sống trong các tổ chức hoặc gia đình nuôi dưỡng (được cho là vì lợi ích của
chúng). Bắt đầu từ thập niên 1990, một phong trào đề nghị người Úc da trắng phải
xin lỗi thổ dân cũng vấp phải sự phản đối mạnh mẽ. Thủ tướng Kevin Rudd đã đưa
ra lời xin lỗi chính thức vào năm 2008, nhưng Thủ tướng John Howard lập luận,
“Những người Úc thuộc thế hệ này không buộc phải thừa nhận tội lỗi và chịu
trách nhiệm cho những hành động và chính sách trong quá khứ mà họ không kiểm
soát được.”
Tóm lại, chính sách Úc Trắng của người Anh ở Úc không chỉ nhắm
vào những người nhập cư không phải thuộc chủng tộc da trắng từ nước ngoài đến,
mà cũng hướng vào những người Úc bản địa không phải da trắng xâm nhập vào vùng
đất mà những người định cư Anh da trắng đang sinh sống, và quyền sở hữu của họ
đối với những vùng đất đó bị phủ nhận, đồng thời họ (nhiều người định cư da trắng
hi vọng thế) sẽ nhanh chóng bị tuyệt chủng.
Trong suốt những thập niên đầu tiên trên vùng thuộc địa Úc,
những người nhập cư tự do cũng như những tù nhân đều đến từ Anh (bao gồm cả
Ireland, vào thời điểm đó vẫn là một phần của Anh). Nhóm nhập cư đáng kể đầu
tiên không phải người Anh đã đến Nam Úc năm 1836. Vùng thuộc địa này được thành
lập không phải để tập kết những kẻ bị kết án tù mà bởi một công ty phát triển đất
đai đã cẩn thận lựa chọn những người định cư tiềm năng từ châu Âu; trong số đó
có những người Đức theo phái Luther đến để tìm kiếm tự do tôn giáo, một động lực
nhập cư dễ nhận thấy hơn nhiều trong lịch sử ban đầu của Mỹ so với Úc. Những
người nhập cư Đức này có tay nghề cao và da trắng, phát triển thị trường làm vườn
và vườn nho, thích nghi nhanh chóng với Úc và hầu như không gây ra sự phản đối
nào. Nhưng gây tranh cãi nhiều hơn là sự xuất hiện của hàng chục ngàn người
Trung Quốc trong thập niên 1850 (cùng với nhiều người châu Âu và Mỹ) do cơn sốt
vàng đầu tiên của Úc. Dòng người đó dẫn đến việc quân đội Anh được sử dụng lần
cuối tại Úc, để đàn áp các cuộc bạo loạn của một đám đông đầu đường xó chợ
chuyên đi cướp bóc, thậm chí lột cả da đầu người Trung Quốc.
Làn sóng thứ ba của những di dân không phải người Anh phát
sinh từ sự phát triển các đồn điền mía đường ở Queensland bắt đầu từ thập niên
1860. Công nhân đồn điền là những người dân vùng đảo Thái Bình Dương đến từ New
Guinea, các đảo Melanesia khác và quần đảo Polynesia. Trong khi một số là những
người được tuyển dụng tự nguyện, thì số đông khác bị bắt cóc từ các cuộc đột
kích kèm theo những vụ giết người thường xuyên, bằng thủ đoạn gọi là dụ dỗ hoặc
bắt cóc người da đen (black-birding, vì dân đảo có làn da đen). Khi các đồn điền
(đặc biệt là đồn điền dừa) phát triển ở New Guinea thuộc Đức và Úc sau này, mô
hình tương tự của Úc đã được áp dụng để đưa nhân công ở các đảo Thái Bình Dương
đến đồn điền New Guinea. Những thủ đoạn tuyển dụng lao động như vậy vẫn tiếp tục
ở New Guinea cho đến thế kỷ 20: một người Úc mà tôi gặp ở New Guinea thuộc Úc
vào năm 1966 nói với tôi rằng ông ta là một người tuyển dụng lao động, nhưng
ông ta cất công giải thích là chỉ tuyển dụng lao động tự nguyện và trả thưởng bằng
tiền mặt. Ông ta tự hào khẳng định rằng mình không phải là kẻ bắt cóc người da
đen (black- birder, từ mà ông ta vẫn sử dụng), trong khi hiện tượng này vẫn còn
ở một số nhà tuyển dụng khác cạnh tranh với ông ta. Trong bất kỳ trường hợp
nào, bất kể những nhân công da sậm trên các đồn điền mía đường Úc từ những năm
1860 trở đi tự nguyện hay không tự nguyện đến đó, họ cũng không làm cho cư dân
Úc ít trắng hơn, do họ ký hợp đồng có thời hạn và sẽ bị trục xuất khỏi Úc khi kết
thúc hợp đồng.
Vẫn còn một nhóm người nhập cư không phải người Anh, vốn là một
số ít người đến từ Ấn Độ, thuộc địa của Anh. Dù tất cả những người Đức, Trung
Quốc, hay dân đảo Thái Bình Dương có hợp đồng và người Ấn Độ, nước Úc vẫn duy
trì chính sách chỉ cho phép người Anh và dân da trắng nhập cư cho đến sau Thế
chiến II.
Những người Mỹ quen với lịch sử Mỹ bị ấn tượng bởi sự khác biệt
giữa các tiến trình mà các thuộc địa Mỹ và các thuộc địa Úc chia tách khỏi nước
Anh. Các thuộc địa Mỹ giành được độc lập, tham gia vào một liên minh và cắt đứt
mọi quan hệ chính trị với Anh chống lại sự đối kháng mạnh mẽ của quân đội Anh,
sau một cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài bảy năm. Mỗi năm vào ngày 4 tháng 7,
ngày kỷ niệm Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, người Mỹ đều ăn mừng Ngày Độc lập, một
trong những ngày lễ lớn nhất hằng năm. Ngược lại, Úc không công nhận hay tổ chức
một Ngày Độc lập nào, vì nước này không có ngày đó. Các thuộc địa Úc có được
chính quyền tự trị mà không có sự phản đối từ Anh, và không bao giờ cắt đứt
hoàn toàn mối quan hệ của họ với Anh. Úc vẫn tham gia trong các nước thuộc Khối
thịnh vượng chung (Anh) và vẫn công nhận Nữ hoàng Anh là người đứng đầu nhà nước
Úc trên danh nghĩa. Tại sao sự nới lỏng hay cắt đứt quan hệ với Anh lại diễn ra
khác nhau ở Úc và ở Mỹ?
Có vài lý do. Một là Anh đã học được bài học từ thất bại đắt
giá của mình trong Cách mạng Mỹ, thay đổi chính sách đối với các thuộc địa có
người da trắng của mình nên sẵn sàng trao quyền tự trị cho Canada, New Zealand
và các thuộc địa Úc. Trên thực tế, Anh đã chủ động ban phát nhiều đặc trưng của
chính phủ tự trị cho Úc trước khi người Úc đưa ra bất kỳ yêu cầu nào. Lý do thứ
hai là khoảng cách hải trình từ Anh đến Úc dài hơn nhiều so với đến Bờ Đông Mỹ.
Hạm đội Thứ nhất cần tám tháng để đến Úc và trong phần lớn giai đoạn đầu thế kỷ
19, các cuộc hải trình cũng phải mất từ nửa năm đến một năm. Kết quả chậm chạp
trong liên lạc khiến văn phòng thuộc địa Anh ở London không thể kiểm soát Úc chặt
chẽ được; các quyết định và đạo luật ban đầu phải được ủy quyền cho các thống đốc,
rồi mới đến chính người Úc. Chẳng hạn, trong toàn bộ giai đoạn 1809-1819, thống
đốc Anh của thuộc địa New South Wales thậm chí không bận tâm thông báo cho
London về luật mới mà ông đang áp dụng.
Lý do thứ ba của sự khác biệt giữa lịch sử Úc và Mỹ là chính
quyền thực dân Anh phải đặt quân đồn trú và chi trả cho một đội quân lớn ở các
thuộc địa Mỹ. Đội quân đó phục vụ để bảo vệ các thuộc địa chống lại quân đội
Pháp hiện diện ở Canada và đang cạnh tranh để kiểm soát Bắc Mỹ, đồng thời cũng
để chống lại các bộ lạc da đỏ tuy trang bị kém nhưng đông đảo với sự lãnh đạo tập
trung của các tù trưởng. Ngược lại, không có cường quốc châu Âu nào cạnh tranh
với Anh để xâm chiếm lục địa Úc, và thổ dân lại rất ít, không có súng ống và
cũng không có lãnh đạo tập trung. Do đó, Anh chưa bao giờ cần đến việc đóng
quân ở Úc, cũng như khỏi phải đánh các loại thuế không được người dân ưa thích
để chi trả cho quân đội; việc nước Anh đánh thuế đối với các thuộc địa Mỹ mà
không hỏi ý kiến họ là nguyên nhân trực tiếp của cuộc Cách mạng Mỹ. Đội quân nhỏ
cuối cùng của Anh tại Úc đã rút đi vào năm 1870 là do người Anh chủ động chứ
không phải vì áp lực của Úc. Một nhân tố khác là các thuộc địa Úc, trái ngược với
các thuộc địa Mỹ, không đem lại lợi ích và cũng không quan trọng cho lắm để Anh
phải quan tâm và chú ý nhiều. Chính thuộc địa Mỹ, chứ không phải thuộc địa Úc,
mới giàu có và được xem là có thể đáp ứng được việc đóng thuế cho nước Anh. Những
thuộc địa Canada, Ấn Độ, Nam Phi và Singapore còn đem lại nhiều lợi ích và quan
trọng hơn nhiều cho nước Anh so với Úc. Cuối cùng, như tôi sẽ giải thích trong
phần tiếp theo, các khu định cư chính ở Úc trong một thời gian dài vẫn là các
thuộc địa riêng rẽ với ít sự phối hợp mang tính chính trị.
Quá trình mà các thuộc địa Úc đạt được chính quyền tự trị như
sau. Năm 1828, 40 năm sau khi Hạm đội Thứ nhất đến, Anh thành lập các hội đồng
lập pháp được bổ nhiệm (không bầu) ở hai thuộc địa lâu đời nhất của Úc là New
South Wales và Tasmania. Vào năm 1842, các hội đồng bổ nhiệm được thay bằng
chính quyền thuộc địa Úc đầu tiên với đại diện được bầu chọn một phần (ở New
South Wales). Năm 1850, Anh soạn thảo hiến pháp cho các thuộc địa ở Úc, rồi sau
đó các thuộc địa được tự do sửa đổi hiến pháp, điều đó có nghĩa là họ được tự
do một phần lớn trong việc thiết kế chính quyền của mình. Những hiến pháp năm
1850 và hiến pháp sửa đổi sau đó vẫn “bảo lưu” cho Anh quyền quyết định đối với
một số vấn đề của Úc như quốc phòng, phản quốc và nhập tịch, đồng thời cho phép
Anh có quyền lực về mặt lý thuyết để không chấp nhận bất kỳ luật thuộc địa nào.
Tuy nhiên, trên thực tế, Anh hiếm khi thực hiện các quyền được bảo lưu đó. Đến
cuối những năm 1800, quyền quan trọng duy nhất dành riêng cho Anh là kiểm soát
các vấn đề đối ngoại của Úc.
Cùng với những quyền được bảo lưu mà Anh giữ lại, trong suốt
thập niên 1800, nước này tiếp tục chuyển giao cho Úc các nhiệm vụ quan trọng mà
một nước Úc độc lập sẽ phải tự lo liệu. Một trong những nhiệm vụ đó gồm cả việc
trước đây tàu chiến Anh bảo vệ về mặt quân sự, do vào cuối thập niên 1800 các
nước châu Âu khác cùng Nhật Bản và Mỹ ngày càng muốn khẳng định vị thế ở Thái
Bình Dương. Một nhiệm vụ khác liên quan đến các thống đốc mà Anh gửi đến các
thuộc địa Úc. Các thống đốc này không phải là những bạo chúa phẫn uất khi bị một
nước Anh hùng mạnh buộc phải quản trị các thuộc địa Úc. Thay vao đó, họ đóng một
vai trò thiết yếu được thừa nhận trong chính phủ tự trị của Úc mà vốn các thuộc
địa của Úc thường hay gặp bế tắc. Các thống đốc Anh được bổ nhiệm phải thường
xuyên giải quyết những bất đồng giữa thượng viện và hạ viện của cơ quan lập
pháp thuộc địa, phải dàn xếp để thành lập liên minh nghị viện, và phải quyết định
khi nào nên giải tán Quốc hội và kêu gọi bầu cử.
Cho đến nay, tôi nói về các thuộc địa mang tính lịch sử của
Úc như thể chúng là tiền thân cho nước Úc thống nhất ngày nay. Nhưng trên thực
tế, Úc nổi lên như sáu thuộc địa riêng biệt – New South Wales, Tasmania,
Victoria, Nam Úc, Tây Úc và Queensland – có sự tiếp xúc lẫn nhau ít hơn so với
các thuộc địa Mỹ mà sau này trở thành các bang của Mỹ. Sự tiếp xúc hạn chế này
là do địa lý của Úc, một lục địa có quá ít mảng đất đai trồng trọt cách nhau bởi
khoảng cách lớn của sa mạc và các loại đất đai không sản xuất được. Mãi đến năm
1917, cả năm thành phố thủ phủ bang trên lục địa Úc mới được kết nối bằng đường
sắt. (Hobart, thủ phủ thứ sáu thuộc Tasmania, chưa bao giờ được kết nối bởi vì
Tasmania là một hòn đảo cách đất liền Úc hơn hai trăm kilomet.)
Mỗi thuộc địa sử dụng một khổ đường sắt khác nhau, từ một mét
đến một mét sáu, kết quả là các đoàn tàu không thể chạy trực tiếp từ thuộc địa
này sang thuộc địa khác. Giống như các quốc gia độc lập, các thuộc địa dựng lên
hàng rào thuế quan riêng biệt và vẫn duy trì các văn phòng thuế để thu thuế nhập
khẩu ở ranh giới các thuộc địa. Năm 1864, giữa New South Wales và Victoria suýt
xảy ra một cuộc đối đầu vũ trang ở biên giới của nhau. Kết quả là mãi đến năm
1901, sáu thuộc địa này mới hợp nhất thành một nước Úc duy nhất, 113 năm sau
ngày Hạm đội Thứ nhất đến Úc.
Ban đầu, các thuộc địa tỏ ra ít quan tâm đến việc hợp nhất.
Trước tiên, những người định cư nghĩ mình là người Anh ở nước ngoài, và sau đó
là người Victoria hoặc người Queensland chứ không phải là người Úc. Những khơi
nguồn cho mối quan tâm đến thể chế liên bang chỉ xuất hiện vào nửa cuối thập
niên 1800, khi Nhật Bản gia tăng sức mạnh quân sự, và khi Mỹ, Pháp và Đức bành
trướng trên Thái Bình Dương và sáp nhập hết nhóm đảo này đến đảo khác trên Thái
Bình Dương, tạo ra mối đe dọa tiềm tàng đối với các thuộc địa trên Thái Bình
Dương của Anh. Nhưng ban đầu vẫn chưa rõ giới hạn lãnh thổ một liên bang thuộc
các thuộc địa Anh là gì. Một hội đồng liên bang đầu tiên của “người Nam Đảo” họp
vào năm 1886 gồm cả đại diện các thuộc địa Anh là New Zealand và Fiji, vốn cách
xa Úc, nhưng chỉ có bốn trong số sáu thuộc địa hình thành nên nước Úc ngày nay
được đại diện.
Mặc dù bản dự thảo đầu tiên của hiến pháp liên bang Úc được
chuẩn bị vào năm 1891, nhưng mãi đến ngày 1 tháng 1 năm 1901, Khối thịnh vượng
chung Úc thống nhất mới được hình thành. Lời mở đầu của hiến pháp tuyên bố thỏa
thuận “hợp nhất trong một Khối thịnh vượng chung Liên bang bất khả phân dưới
ngai vàng Liên hiệp Anh của Anh và Ireland,” với một toàn quyền liên bang do
Anh bổ nhiệm và với điều khoản rằng các quyết định của Tòa án Tối cao Úc có thể
kháng cáo lên Hội đồng Cơ mật của Anh (tương đương với Tòa án Tối cao ở Anh).
Hãy tưởng tượng những điều khoản đó xuất hiện trong Hiến pháp Mỹ!
Hiến pháp Úc minh họa một điều rằng người Úc vẫn cảm thấy
trung thành với Liên hiệp Anh, nghĩa là “sự chấp nhận các giá trị chung – pháp
quyền, tự do báo chí, bảo vệ quyền tự do cá nhân, lời khẳng định cho sự bảo vệ
của siêu cường thời đó mà đại diện là Hải quân Hoàng gia Anh, một niềm tự hào
khi được xem là một phần của Đế chế mặt trời không bao giờ lặn, thậm chí còn là
lòng yêu mến đối với Nữ hoàng Victoria” (Frank Welsh, Australia, tr. 337). Lá cờ
được thông qua sau đó, và vẫn là quốc kỳ Úc ngày nay, bao gồm cờ Liêp hiệp (gọi
là Union Jack), với chòm sao Nam Thập Tự ở Bán cầu Nam (Ảnh 7.4).
Người Úc tranh cãi về hiến pháp liên bang trong nhiều vấn đề
nhưng lại nhất trí về việc loại trừ tất cả các chủng tộc không phải da trắng khỏi
Úc. Các trích dẫn sau đây minh họa quan điểm của Úc vào thời kỳ đó về việc duy
trì một nước Úc Trắng. Vào năm 1896, tờ Melbourne Age viết, “Chúng ta mong muốn
thấy Úc là quê hương của một chủng tộc da trắng cao cả đồng nhất, hoàn toàn
thoát khỏi những vấn đề đã khiến Mỹ rơi vào cuộc nội chiến… thật vô ích khi bảo
vệ công nhân của chúng ta khỏi đám lao động nghèo khổ Viễn Đông nếu chúng ta chấp
nhận những kẻ này.” Một trong những đạo luật đầu tiên của Liên bang Úc thời kỳ
đầu vào năm 1901 là Đạo luật Hạn chế Nhập cư, được thông qua với sự đồng thuận
của tất cả các đảng phái chính trị, nhằm đảm bảo rằng nước Úc vẫn trắng. Đạo luật
này ngăn chặn việc nhập cư của gái mại dâm, người mất trí, người mắc các bệnh
ghê tởm và tội phạm (mặc dù nguồn gốc của Úc là một vùng đất dành cho tội phạm).
Đạo luật này cũng quy định không chấp nhận người da đen hoặc người châu Á, và
người Úc phải là “một chủng tộc, và vẫn là một chủng tộc không có sự trộn lẫn với
các chủng tộc khác.” Một lãnh đạo đảng lao động Úc phát biểu như sau, “Dòng người
xa lạ này sẽ hạ thấp chuẩn mực tổng thể của cộng đồng, khiến chỉ trong một thời
gian rất ngắn, luật tắc xã hội sẽ không còn hiệu quả. Nhưng nếu càng được sự
thuần chủng và xây dựng một căn tính quốc gia, chúng ta sẽ trở thành một dân tộc
tiến bộ cao mà chính phủ Anh sẽ tự hào khi chúng ta còn sống và phát triển mạnh
mẽ.
Những vấn đề tiêu biểu cho các quan điểm thời kỳ đó của liên
bang là: “Những người da màu xa lạ không phải là người tốt để có thể tiếp xúc
trong quán rượu Úc”; không một người Trung Quốc nào được kỳ vọng “đạt được mức
độ văn minh mà nước Úc đã kế thừa từ bao thế kỷ nay”; và “quý bà ăn mặc đẹp đẽ
dự… lễ nhà thờ hẳn phải hài lòng khi nghĩ rằng có lẽ một… [từ miệt thị] to béo
đầy mùi hôi thối với đủ loại vi trùng gieo mầm bệnh đến từ các nhà xí ở
Yokohama, trước đó đã ngồi vào chỗ mình đang ngồi.” Ngay cả Edmund Barton, thủ
tướng liên bang đầu tiên của Úc, cũng từng viết: “không có sự bình đẳng chủng tộc.
Những chủng tộc [không phải da trắng] này, so với các chủng tộc da trắng thì
không tương xứng và kém cỏi. Học thuyết về sự bình đẳng của con người không bao
giờ áp dụng cho sự bình đẳng giữa người Anh và người Trung Hoa… Chúng ta không
thể làm gì để khai hóa, cải sửa, hoặc bằng bất cứ điều gì để có thể biến một số
chủng tộc ngang bằng với chủng tộc khác.” Một thủ tướng khác, Alfred Deakin,
tuyên bố: “Sự thống nhất chủng tộc là tuyệt đối cần thiết cho sự thống nhất của
nước Úc.”
Bộ trưởng bộ Thuộc địa Anh dứt khoát phản đối Khối thịnh vượng
chung Úc về vấn đề chủng tộc, một phần vì điều đó tạo ra khó khăn vào thời điểm
khi Anh đang cố gắng đàm phán một liên minh quân sự với Nhật Bản. Từ đó, Khối
thịnh vượng chung đạt được mục tiêu tương tự là kiểm soát nhập cư dựa trên sắc
dân mà không đề cập đến chủng tộc, bằng cách yêu cầu người nhập cư làm một bài
kiểm tra chính tả – không nhất thiết phải bằng tiếng Anh, mà theo bất kỳ ngôn
ngữ châu Âu nào theo quyết định của viên chức di trú. Khi một thuyền chở công
nhân đến từ thuộc địa Anh nhưng thuộc đảo Malta ở Địa Trung Hải, do những người
này có khả năng vượt qua bài kiểm tra chính tả bằng tiếng Anh, nên thay vào đó
họ phải thực hiện một bài kiểm tra chính tả bằng tiếng Hà Lan (một ngôn ngữ
không được biết đến ở Malta cũng như ở Úc) để có cớ trục xuất họ. Đối với những
người không phải da trắng đã được chấp nhận vào lao động ở Úc, Liên bang trục
xuất người ở các đảo Thái Bình Dương, Trung Quốc và Ấn Độ nhưng vẫn cho phép
hai nhóm nhỏ có nghề đặc biệt (người Afghanistan điều khiển lạc đà và thợ lặn
ngọc trai Nhật Bản) ở lại.
Động cơ đằng sau những rào cản nhập cư này chủ yếu là sự phân
biệt chủng tộc ở thời kỳ đó, nhưng một phần cũng do đảng Lao động Úc muốn bảo vệ
mức lương cao cho người lao động Úc bằng cách ngăn chặn sự di cư của lao động
giá rẻ. Tuy nhiên, ý tôi không muốn nói rằng người Úc phân biệt chủng tộc; mà họ
chỉ chia sẻ quan điểm phân biệt chủng tộc phổ biến trên khắp thế giới, và khác
nhau chủ yếu là có thể chuyển những quan điểm đó thành chính sách nhập cư dựa
trên việc loại trừ chủng tộc đồng thời khuyến khích người nhập cư Anh do mật độ
dân số của Úc còn thưa thớt. Đương thời, nước Anh và các nước châu Âu lục địa
cũng không khuyến khích hoặc chấp nhận người nhập cư; nhưng sau cùng, khi nhiều
người có nguồn gốc châu Phi đến Anh từ các thuộc địa Tây Ấn thuộc Anh sau Thế
chiến II, kết quả là các cuộc bạo loạn chủng tộc đã nổ ra ở Nottingham và
Notting Hill năm 1958. Chính Nhật Bản vẫn hạn chế đáng kể số lượng người nhập
cư; và Mỹ, vẫn phản đối lòng trung thành của Úc đối với bản sắc Anh, nên đã chấp
nhận một số lượng lớn người nhập cư từ lục địa châu Âu, Mexico và Đông Á, nhưng
cũng phải vượt qua nhiều áp lực.
Mãi cho đến sau Thế chiến II thì mọi thứ bắt đầu thay đổi, ý
thức về bản sắc của người Úc vẫn xem họ là thần dân nước Anh. Sự thể hiện rõ
ràng nhất là từ lòng nhiệt thành của binh lính Úc khi chiến đấu bên cạnh quân đội
Anh trong các cuộc chiến của nước Anh, vốn không dính dáng gì đến lợi ích của
Úc. Trường hợp đầu tiên là vào năm 1885, khi thuộc địa New South Wales (rất lâu
trước khi gia nhập Khối thịnh vượng chung Úc) gửi bính lính đến chiến đấu cùng
quân đội Anh chống lại phiến quân ở Sudan, một vùng xa xôi của thế giới không
chút gì liên quan đến Úc. Một cơ hội thể hiện khác lớn hơn phát sinh trong Chiến
tranh Boer8 năm
1899, giữa Anh và hậu duệ của thực dân Hà Lan ở Nam Phi, một lần nữa cũng không
liên quan trực tiếp đến lợi ích của Úc. Những người lính Úc đã chiến đấu rất
dũng cảm trong Chiến tranh Boer, giành được năm Huân chương Chữ Thập Victoria
(huân chương cao nhất của Anh cho sự dũng cảm trên chiến trường), và nhờ đó đạt
được vinh quang và danh tiếng là những thần dân trung thành của Anh với cái giá
chỉ khoảng 300 binh sĩ Úc bỏ mình trong chiến đấu.
Khi nước Anh tuyên chiến với Đức vào tháng 8 năm 1914, khởi đầu
Thế chiến I, họ không bận tâm hỏi ý kiến của Úc hay Canada. Viên Thống đốc Úc
được Anh chỉ định đơn giản chỉ chuyển bản tuyên bố chiến tranh đến thủ tướng Úc
được bầu lên. Người Úc không ngần ngại ủng hộ các nỗ lực chiến tranh của Anh ở
quy mô lớn hơn nhiều so với trường hợp Chiến tranh Boer hay Chiến tranh Sudan.
Một ký giả Úc đã viết, “Chúng ta phải bảo vệ tổ quốc [sic!]. Chúng ta phải gìn
giữ sự thiêng liêng này chống lại đe dọa vũ lực [đến từ nước Đức] đối với di sản
thiêng liêng này.” Ở đây, cuộc chiến đã có chút ảnh hưởng đến lợi ích của Úc:
nó tạo cớ giúp quân đội Úc chiếm các thuộc địa của Đức ở vùng đông bắc New
Guinea và Quần đảo Bismarck. Nhưng đóng góp chủ yếu của Úc trong Thế chiến I là
một lực lượng quân tình nguyện khổng lồ gồm 400.000 binh sĩ, chiếm hơn một nửa
số nam giới Úc đủ điều kiện phục vụ trong tổng dân số gần 5 triệu người để chiến
đấu ở Pháp và Trung Đông nhằm bảo vệ lợi ích của Anh, cách nước Úc đến nửa vòng
Trái đất. Hơn 300.000 lính được gửi đi, trong đó có đến 2/3 bị thương hoặc bị
giết. Hầu như ở bất cứ trung tâm của thị trấn nhỏ nào ở vùng nông thôn Úc đều
có một tấm bia liệt kê danh sách những thanh niên địa phương bị giết trong chiến
tranh.
Sự kiện nổi tiếng nhất trong việc Úc tham gia Thế chiến I
chính là cuộc tấn công của đội quân hỗn hợp ANZAC (Liên quân Úc và New Zealand)
vào quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đang trấn giữ Bán đảo Gallipoli (Ảnh 7.5). Lực lượng
ANZAC đổ bộ vào ngày 25 tháng 4 năm 1915 chịu tổn thất cao vì sự lãnh đạo bất
tài của viên tướng Anh chỉ huy chiến dịch, và phải rút đi vào năm 1916 khi Anh
kết luận rằng chiến dịch này đã thất bại. Kể từ đó, Ngày ANZAC (25 tháng 4),
ngày kỷ niệm cuộc đổ bộ lên Gallipoli, là ngày lễ quốc gia quan trọng nhất và
gây cảm xúc nhất của Úc.
Đối với người nước ngoài, việc chú trọng vào Ngày ANZAC là
ngày lễ quốc gia Úc vượt quá tầm hiểu biết của họ. Tại sao lại có một quốc gia
ăn mừng việc tàn sát những chàng trai trẻ của đất nước mình, những người bị
lãnh đạo Anh phản bội ở cách đó nửa vòng Trái đất, trên một bán đảo đối đầu với
Sudan, vốn không liên quan gì đến lợi ích quốc gia của Úc? Nhưng tôi đã học được
cách ngậm miệng để không hỏi những câu hỏi hợp lý đó khi mà đến tận ngày nay,
những người bạn Úc của tôi đầm đìa nước mắt khi họ nhắc lại cuộc đổ bộ lên
Gallipoli một thế kỷ trước đó. Lời giải thích rõ ràng là do người Úc lúc đó sẵn
sàng chết vì đất mẹ Anh của mình chứ không phải là sự việc những người Úc trẻ
tuổi bị tàn sát ở Gallipoli. Gallipoli được xem là sự khai sinh quốc gia Úc, phản
ánh quan điểm rộng rãi rằng sự khai sinh của bất kỳ quốc gia nào đều yêu cầu sự
hi sinh và đổ máu. Vụ thảm sát ở Gallipoli tượng trưng cho niềm tự hào dân tộc
của người Úc, lúc đó đang chiến đấu cho tổ quốc Anh trên danh nghĩa người Úc,
chứ không phải là người thuộc bang Victoria, Tasmania hay Nam Úc – và với sự cống
hiến đầy cảm xúc này, người Úc công khai tự nhận mình là thần dân trung thành của
nước Anh.
Việc tự định danh đó còn được tái khẳng định vào năm 1923,
khi một hội nghị các nước tự trị trong khối Liên hiệp Anh đồng ý rằng sự thống
trị của Anh từ đây có thể bổ nhiệm đại sứ hoặc đại diện ngoại giao của họ ở các
nước khác chứ không chỉ được đại diện bởi đại sứ Anh. Các nước Canada, Nam Phi
và Ireland đã nhanh chóng bổ nhiệm các đại diện ngoại giao của riêng mình.
Nhưng Úc thì không, với lý do không có chút nhiệt tình nào ở Úc trong việc tìm
kiếm những dấu hiệu độc lập quốc gia khỏi sự ràng buộc của Anh.
Tuy nhiên, mối quan hệ của Úc đối với Anh không chỉ theo kiểu
một con trẻ ngoan ngoãn tìm kiếm sự thừa nhận từ nước mẹ cao quý, mà còn bao gồm
cả thành tố yêu/ghét. Một ví dụ cá nhân là một người bạn của tôi làm việc trong
lò mổ cừu Úc, một số sản phẩm của họ tiêu thụ ở nội địa, trong khi các sản phẩm
khác được đông lạnh rồi xuất khẩu sang Anh. Trong các hộp đựng cừu để xuất khẩu
sang Anh, người bạn của tôi và đồng nghiệp của anh ta thỉnh thoảng thả vào một
túi mật cừu, có mùi đắng ngắt không thể quên được. Những ví dụ nghiêm trọng hơn
về thành tố thù ghét trong mối quan hệ giữa Úc với Anh là những quan điểm thể
hiện, mà tôi sẽ trích dẫn sau, của các đời thủ tướng Úc sau Thế chiến II.
Tầm quan trọng của Thế chiến II đối với Úc rất khác với Thế
chiến I, vì chính Úc bị tấn công và vì có những trận chiến dữ dội trên các hòn
đảo gần Úc chứ không phải chỉ cách nửa vòng Trái đất. Việc căn cứ hải quân lớn
của Anh tại Singapore đầu hàng quân đội Nhật Bản thường được xem là một bước
ngoặt trong quá trình phát triển của việc đánh giá lại mình của nước Úc.
Trong suốt hai thập niên sau Thế chiến I, Nhật Bản xây dựng
quân đội và hải quân, phát động một cuộc chiến không tuyên bố với Trung Quốc và
nổi lên như một mối nguy đối với Úc. Trong vai trò người bảo vệ nước Úc, Anh
đáp lại bằng cách tăng cường căn cứ ở Singapore trên mũi bán đảo Malay, dù nơi
này cách Úc đến 4.000 dặm. Úc chỉ dựa vào sự bảo vệ của căn cứ xa xôi đó của
Anh cùng hạm đội Anh xa hơn nữa, chỉ tập trung ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải.
Nhưng Anh không thể bị đổ lỗi một mình cho thất bại cuối cùng của chiến lược ở
Singapore, vì một phần cũng do Úc đồng thời quên tiến hành các bước tự vệ. Úc
bãi bỏ dự thảo tự vệ này năm 1930 và chỉ xây dựng một lực lượng không quân và hải
quân nhỏ. Lực lượng sau không có tàu sân bay, thiết giáp hạm hay tàu chiến nào
lớn hơn mấy chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ, không đủ khả năng để bảo vệ Úc và
các kết nối trên biển với quốc tế để chống lại cuộc tấn công của Nhật. Đồng thời,
chính Anh cũng đang phải đối mặt với một mối đe dọa nghiêm trọng và cấp thời
hơn từ Đức và đang bị tụt hậu trong việc chuẩn bị quân sự chống lại Nhật Bản.
Cũng giống như khi bắt đầu Thế chiến I, khi Anh lại tuyên chiến
với Đức vào ngày 3 tháng 9 năm 1939, thủ tướng Úc lập tức tuyên bố mà không cần
hỏi ý kiến Quốc hội, “Liên hiệp Anh đã tuyên chiến, và kết quả là Úc cũng đang
có chiến tranh [với Đức].” Như trong Thế chiến I, ban đầu Úc không có lợi ích
trực tiếp trên chiến trường châu Âu cách nước này đến nửa vòng Trái đất trong
Thế chiến II, nơi nước Đức đang đọ sức với Ba Lan, Anh, Pháp và các nước Tây
Âu. Nhưng một lần nữa, giống như trong Thế chiến I, Úc lại gửi quân đội đến chiến
trường châu Âu, chủ yếu ở Bắc Phi và Crete. Khi nguy cơ tấn công từ Nhật Bản
tăng lên, chính phủ Úc yêu cầu những đội quân đó quay về để bảo vệ nước mình;
nhưng thủ tướng Anh Winston Churchill trấn an người Úc bằng cách hứa rằng Anh
và hạm đội của họ sẽ sử dụng căn cứ Singapore để bảo vệ Úc chống lại cuộc xâm
lăng của Nhật và bất kỳ hạm đội Nhật nào xuất hiện ở hải phận Úc. Và như các sự
kiện đã chứng minh, những lời hứa đó không có cơ sở thực tế.
Nhật Bản bắt đầu tấn công Mỹ, Anh, Úc và các đảo Đông Ấn Hà
Lan ngày 7 tháng 12 năm 1941. Vào ngày 10 tháng 12, chỉ ngày thứ ba sau khi Nhật
tuyên bố chiến tranh, máy bay ném bom của Nhật đã đánh chìm hai tàu chiến lớn của
Anh đang ở Viễn Đông để bảo vệ Úc, thiết giáp hạm Prince of Wales (Ảnh 7.6) và
tuần dương chiến hạm Repulse. Vào ngày 15 tháng 2 năm 1942, viên tướng chỉ huy
người Anh ở Singapore đầu hàng quân đội Nhật, đẩy 100.000 lính Anh và Đế quốc
vào trại tù binh – thất bại quân sự nghiêm trọng nhất mà Anh phải hứng chịu
trong lịch sử (Ảnh 7.7).9 Một
điều đáng buồn là trong số tù binh này, có cả 2.000 binh sĩ Úc mới đến
Singapore vào ngày 24 tháng 1, chỉ ba tuần trước đó, để bảo vệ căn cứ này trong
vô vọng. Thiếu tàu chiến Anh bảo vệ, chiếc tàu sân bay Nhật, mới ném bom căn cứ
hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng xong, đã ném bom dữ dội vào thành phố Darwin của
Úc vào ngày 19 tháng 2 năm 1942 (Ảnh 7.8). Đó là đợt đầu tiên trong số hơn 60 đợt
không kích của Nhật trên đất Úc, ngoài một cuộc đột kích vào cảng Sydney bằng
tàu ngầm.
Đối với người Úc, sự sụp đổ của Singapore không chỉ là một cú
sốc và một thất bại quân sự gây ra tâm lý sợ hãi: nó được xem là sự phản bội của
nước mẹ Anh đối với họ. Trong khi quân Nhật đang tiến vào Singapore, Thủ tướng
Úc John Curtin đã gửi điện văn cho Churchill, nói rằng sẽ là “một sự phản bội
không thể tha thứ” nếu Anh di tản khỏi Singapore sau tất cả các cam kết về tính
bất khả xâm phạm của căn cứ này. Nhưng Singapore thất thủ là do Anh phải trải mỏng
lực lượng của mình giữa chiến trường châu Âu và Viễn Đông, và do lực lượng tấn
công của Nhật vượt trội hơn về mặt chiến thuật so với lực lượng bảo vệ có quân
số đông hơn của Anh và các nước trong Khối thịnh vượng chung.
Nước Úc cũng phạm lỗi bỏ bê nền quốc phòng của mình. Tuy
nhiên, nỗi cay đắng của nước này đối với Anh vẫn tồn tại trong một thời gian
dài. Đến tận năm 1992, 50 năm sau khi Singapore đầu hàng, Thủ tướng Úc Paul
Keating còn gay gắt lên án nước Anh và trút sự căm ghét của mình trong một bài
phát biểu trước Quốc hội Úc: “Ở trường… tôi được học về lòng tự trọng và tự tôn
đối với nước Úc – chứ không phải về sự bất tín có tính văn hóa của một quốc gia
khi quyết định không bảo vệ Bán đảo Mã Lai, không bận tâm về Singapore và không
để chúng ta rút quân đội về để bảo vệ đất nước khỏi sự thống trị của Nhật Bản.
Đây là đất nước mà quý vị [các thành viên Quốc hội Úc thuộc hai đảng bảo thủ]
đã tự kết ước với… ngay cả khi họ bỏ rơi quý vị.” Đối với Úc, bài học trong Thế
chiến II đắt gấp đôi. Đầu tiên và quan trọng nhất, nước Anh bất lực trong việc
bảo vệ Úc. Thay vào đó, công việc này phụ thuộc vào việc triển khai binh lính,
tàu chiến và máy bay Mỹ, do tướng MacArthur chỉ huy và đặt tổng hành dinh ở Úc.
MacArthur điều phối hầu hết các chiến dịch, bao gồm những chiến dịch liên quan
đến quân đội Úc: không có đề xuất nào về mối quan hệ đối tác bình đẳng giữa Mỹ
và Úc. Tuy có mối quan ngại về khả năng Nhật đổ bộ vào đất Úc, nhưng việc này
đã không trở thành hiện thực. Nhưng rõ ràng nếu có bất kỳ sự bảo vệ nào chống lại
cuộc đổ bộ thì nước Mỹ sẽ đảm trách, chứ không phải nước Anh. Trong khi cuộc
chiến chống Nhật diễn ra trong gần bốn năm, thì binh lính Úc cũng chiến đấu chống
lại quân đội Nhật Bản trên mọi mặt trận ở các đảo New Guinea, New England, quần
đảo Solomon và cuối cùng là Borneo. Những người lính Úc này đã đóng một vai trò
quan trọng trên tuyến đầu khi đánh bại nỗ lực của Nhật Bản nhằm tiến qua Đường
mòn Kokoda để chiếm thủ phủ Port Moresby của New Guinea thuộc Úc vào năm 1942.
Tuy nhiên, MacArthur dần dần điều chuyển quân đội Úc sang các chiến dịch phụ
thuộc, ở xa tiền tuyến. Kết quả là, mặc dù Úc bị tấn công trực tiếp trong Thế
chiến II chứ không phải trong Thế chiến I, nhưng điều nghịch lý là số thương
vong của nước này chỉ bằng một nửa so với Thế chiến I.
Điều thứ nhì, Thế chiến II đã lan đến nước Úc, trong khi quân
đội Úc phục vụ trong cả hai cuộc thế chiến ở chiến trường châu Âu xa xôi, thì
có những nguy cơ nghiêm trọng tức thời với Úc từ khu vực châu Á gần đó. Với lý
do đó, lúc bấy giờ Úc xem Nhật Bản là kẻ thù. Khoảng 22.000 lính Úc bị quân Nhật
bắt giữ trong chiến tranh phải chịu những điều kiện đối xử tàn khốc và tồi tệ
trong các trại tù binh Nhật, trong đó có đến 36% tù nhân Úc chết: cao hơn nhiều
so với tỉ lệ tử vong 1% của lính Mỹ và Anh trong các trại giam tù binh chiến
tranh của Đức cũng như của lính Đức ở trại tù binh của Mỹ và Anh. Điều đặc biệt
gây sốc cho người Úc là hành trình tử thần của tù binh đến trại Sandakan, trong
đó 2.700 lính Úc và Anh bị quân Nhật bắt và giam cầm ở Sandakan bị dẫn giải
xuyên qua Borneo, bị bỏ đói và đánh đập cho đến khi hầu hết số tù binh ít ỏi
còn sống sót bị xử tử, kết quả là hầu hết tù binh đều bị chết.
Sau Thế chiến II, các mối quan hệ giữa Úc với Anh dần lỏng lẻo,
và có một sự thay đổi trong nhận thức của người Úc, vốn tự nhận mình là “những
người Anh trung thành ở Úc,” dẫn đến việc dỡ bỏ chính sách Úc Trắng. Ngay cả đối
với các nhà sử học vốn không quan tâm đặc biệt đến chính nước Úc, thì những
thay đổi này cũng tạo ra một nghiên cứu mẫu cho việc thay đổi câu trả lời về mặt
quốc gia cho câu hỏi “Chúng ta là ai?” Những thay đổi như vậy có thể diễn ra
nhanh chóng ở các quốc gia khác, bao gồm các nhóm có mối quan tâm khác nhau,
cũng như ở bình diện cá nhân; nhưng ở Úc, những thay đổi này phải kéo dài trong
nhiều thập niên và hiện vẫn diễn ra đến ngày hôm nay.
Thế chiến II đã tạo ra những hậu quả tức thời trong chính
sách nhập cư của Úc. Ngay từ năm 1943, thủ tướng Úc đã kết luận rằng dân số ít ỏi
của Úc (dưới 8 triệu vào năm 1945) không thể đủ sức bảo vệ lục địa rộng lớn của
họ chống lại các mối đe dọa đến từ Nhật Bản (với dân số lúc đó hơn 100 triệu),
Indonesia (chỉ cách 200 dặm) với dân số xấp xỉ 200 triệu người và Trung Quốc
(dân số 1 tỉ người). So với mật độ dân số cao ở Nhật Bản, Java và Trung Quốc,
nước Úc trông trống trải và dễ thu hút những cuộc xâm lấn đến từ châu Á – nhưng
dù vị thủ tướng nghĩ đến điều này, chính người châu Á lại không nghĩ thế. Một lập
luận khác về việc cho nhập cư nhiều hơn là niềm tin sai lầm rằng một dân số lớn
là điều cần thiết cho bất kỳ quốc gia nào thuộc Thế giới Thứ nhất để phát triển
nền kinh tế mạnh mẽ.
Cả hai lập luận đó đều không có sức thuyết phục. Luôn có và vẫn
tồn tại những lý do thuyết phục tại sao Úc có mật độ dân số thấp hơn nhiều so với
Nhật Bản hay Java. Tất cả vùng đất của Nhật và Java đều ẩm ướt và màu mỡ, đồng
thời phần lớn diện tích của những hòn đảo này phù hợp với nền nông nghiệp năng
suất cao. Nhưng hầu hết lãnh thổ Úc là sa mạc cằn cỗi và chỉ có một phần rất nhỏ
là đất nông nghiệp sản xuất. Còn lập luận rằng cần một dân số lớn để xây dựng một
nền kinh tế Thế giới Thứ nhất mạnh mẽ, thì những thành công kinh tế của Đan Mạch,
Phần Lan, Israel và Singapore, mỗi quốc gia chỉ có dân số bằng 1/4 dân số Úc
cũng đủ minh họa cho việc chất lượng quan trọng hơn số lượng để thành công
trong lĩnh vực kinh tế. Trên thực tế, đúng ra Úc sẽ tốt hơn nhiều với dân số ít
hơn so với hiện tại, bởi vì điều đó sẽ làm giảm tác động của con người đối với
cảnh quan mong manh của nước Úc và sẽ làm tăng tỉ lệ tài nguyên thiên nhiên cho
người dân.
Nhưng các đời thủ tướng Úc ở thập niên 1940 không phải là các
nhà sinh thái hay kinh tế, do đó, sau chiến tranh, Úc liền cấp tốc bắt tay vào
một chương trình khuyến khích nhập cư. Rủi thay, hầu như không có đủ đơn xin nhập
cư từ các nguồn ưu tiên ở Anh và Ireland để hoàn thành mục tiêu của Úc, trong
khi chính sách Úc Trắng lại giới hạn các lựa chọn khác của Úc. Việc thuyết phục
quân nhân Mỹ trú đóng tại Úc ở lại không phải là một khả năng hấp dẫn, bởi vì
quá nhiều người trong số họ là người Mỹ gốc Phi. Thay vào đó, nguồn nhân lực
theo ưu tiên kế tiếp (sau Anh và Ireland) mà sau chiến tranh Úc khuyến khích nhập
cư là ở Bắc Âu. Lựa chọn thứ ba là Nam Âu, mà các nhà hàng Ý và Hy Lạp tôi thường
đến vào năm 1964 là một minh chứng. Những người Úc ủng hộ nhập cư đã công bố một
phát hiện đáng ngạc nhiên, “Với sự lựa chọn đúng đắn, người Ý trở thành những
công dân xuất sắc” (!). Với bước đầu tiên theo hướng đó, những tù nhân chiến
tranh người Ý và người Đức bị đưa đến Úc được phép ở lại.
Bộ trưởng nhập cư Úc giai đoạn 1945-1949, Arthur Calwell, vốn
là một kẻ phân biệt chủng tộc công khai. Ông ta thậm chí từ chối cho phép nam
giới Úc, những người không yêu nước đến mức kết hôn với phụ nữ Nhật, Trung Quốc
hay Indonesia được đem các cô dâu hoặc con cái thời chiến tranh về Úc. Calwell
viết như sau, “sẽ không một phụ nữ Nhật Bản hay bất kỳ người có dòng máu lai
nào được nhận vào Úc; đơn giản chỉ là họ không được mời và vẫn luôn thế, một
người lai Úc cũng không được.” Để có một nguồn nhân lực bổ sung ngoài nước Anh,
Calwell bày tỏ việc ủng hộ ba nước Cộng hòa Baltic (Estonia, Latvia và Litva),
khi việc chiếm đóng của Nga đã thúc đẩy sự di cư của hàng ngàn người da trắng
có học với màu mắt và màu tóc cũng giống như của người Anh. Năm 1947, Calwell
đi thăm các trại tị nạn ở châu Âu thời hậu chiến, phát hiện rằng những nơi này
cung cấp “nguồn nhân lực tuyệt vời,” và ghi nhận sẽ chấp thuận cho những người ở
các nước Cộng hòa Baltic, nhiều người trong số họ có màu tóc đỏ và mắt xanh.
Ngoài ra còn có một số người tóc vàng bạch kim tự nhiên ở cả hai giới tính. Kết
quả của sự khuyến khích nhập cư có chọn lọc là trong giai đoạn 1945-1950, Úc đã
tiếp nhận được khoảng 700.000 người nhập cư (một con số gần bằng 10% dân số năm
1945), một nửa trong số đó đảm bảo là người Anh, phần còn lại đến từ các nước
châu Âu khác. Đến năm 1949, Úc bớt gay gắt và cho phép các cô dâu Nhật thời chiến
được ở lại.
Sự xói mòn của chính sách Úc Trắng đã sản sinh dân nhập cư
châu Á và các nhà hàng châu Á chờ đón tôi ở Brisbane năm 2008 là kết quả từ năm
cân nhắc: bảo vệ quân sự, những phát triển chính trị ở châu Á, những chuyển đổi
thương mại của Úc, vấn đề người nhập cư và chính sách của Anh. Về vấn đề quân sự,
Thế chiến II cho thấy rõ Anh không còn là một cường quốc quân sự ở Thái Bình
Dương; thay vào đó, Úc có các mối quan hệ quân sự với Mỹ. Điều này được chính
thức công nhận bằng Hiệp ước An ninh ANZUS năm 1951 ký kết giữa Mỹ, Úc và New
Zealand, nhưng không có Anh tham gia. Chiến tranh Triều Tiên, sự gia tăng các mối
đe dọa cộng sản ở Malaya thuộc Anh và Việt Nam cùng sự can thiệp của quân đội
Indonesia ở New Guinea thuộc Hà Lan, Borneo thuộc Malaysia và Timor thuộc Bồ
Đào Nha đã cảnh báo Úc về các vấn đề an ninh ngày càng gia tăng ở cạnh mình. Khủng
hoảng Kênh đào Sueznăm 1956, trong đó Anh thất bại trong việc lật đổ Tổng thống
Nasser ở Ai Cập và buộc phải nhượng bộ trước áp lực kinh tế của Mỹ, đã phơi bày
sự suy yếu của Anh về mặt quân sự và cả kinh tế. Trước sự kinh ngạc của người
Úc, năm 1967, Anh tuyên bố ý định rút toàn bộ lực lượng quân sự ở phía đông
kênh đào Suez. Điều này đánh dấu sự kết thúc chính thức vai trò bảo vệ lâu nay
của nước Anh.
Về sự phát triển chính trị châu Á, các thuộc địa cũ và xứ ủy
trị ở châu Á đã trở thành các quốc gia độc lập, bao gồm Indonesia, Đông Timor,
Papua New Guinea, Philippines, Malaysia, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia và Thái
Lan. Những nước này đều gần Úc: Papua New Guinea chỉ cách một vài dặm,
Indonesia và Đông Timor chỉ cách 200 dặm. Mỗi nước đều có chính sách đối ngoại
của riêng mình, không còn phụ thuộc vào chính sách đối ngoại của các ông chủ thực
dân trước đây. Các nước này cũng có nền kinh tế đang trỗi dậy.
Về mặt thương mại, Anh trước đây là đối tác lớn nhất của Úc,
đến đầu thập niên 1950 còn chiếm 45% lượng nhập khẩu và 30% xuất khẩu của Úc.
Gia tăng thương mại giữa Úc với Nhật phát triển nhanh chóng khi Úc xóa bỏ được
sự phân biệt chủng tộc và thù địch trong Thế chiến II với Nhật để ký một hiệp định
thương mại với họ vào năm 1957, rồi sau đó dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu quặng sắt
sang Nhật Bản vào năm 1960. Đến thập niên 1980, đối tác thương mại hàng đầu của
Úc vẫn là Nhật! – tiếp theo là Mỹ, còn Anh rớt lại sau xa. Năm 1982, Nhật tiếp
nhận 28% hàng xuất khẩu của Úc, 11% của Mỹ và Anh chỉ có 4%. Nhưng vẫn có một
mâu thuẫn rõ ràng là nước Úc cùng lúc thể hiện việc mong muốn giao dịch thương
mại với Nhật và các nước châu Á khác, thì đồng thời cũng thể hiện với các nước
này rằng họ xem người Nhật và những người châu Á khác lại không phù hợp để định
cư ở Úc.
Yếu tố gần cuối làm suy yếu chính sách nhập cư Úc Trắng chính
là sự chuyển đổi trong chính những người nhập cư vào Úc. Hiển nhiên mọi người
Ý, Hy Lạp, Estonia, Latvia và Litva di cư sau Thế chiến II là người da trắng,
nhưng không phải là người Anh. Họ không cùng chia sẻ hình ảnh truyền thống của
người Úc với tư cách thần dân trung thành của Anh. Họ cũng không chia sẻ những
định kiến phân biệt chủng tộc mạnh mẽ đối với người châu Á, vốn đang thịnh hành
ở Anh cũng như ở Úc đến cuối thập niên 1950.
Sau cùng, không chỉ Úc đang rời bỏ Anh, mà Anh cũng rời bỏ
Úc. Đối với Anh cũng như với Úc, lợi ích của mỗi nước đang thay đổi và nhận thức
của họ ngày càng trở nên lỗi thời. Chính phủ Anh đã nhận ra những thực tế phũ
phàng đó trước cả chính phủ Úc, nhưng sự thừa nhận này đều gây tổn thương cho cả
hai phía. Những thay đổi ở Anh lên đến đỉnh điểm khi tôi sống ở đó trong giai
đoạn 1958-1962. Trong khi người Úc có truyền thống xem mình là công dân Anh thuộc
Đế quốc Anh, dựa trên thực tế kết hợp chặt chẽ giữa nguồn gốc tổ tiên và việc
nước Anh bảo vệ về mặt thương mại và quân sự, nhưng giờ đây mọi thứ đã thay đổi.
Đồng thời, người Anh có truyền thống xem căn tính quốc gia của mình dựa trên
quyền sở hữu đế chế lớn nhất trong lịch sử thế giới (“đế chế mặt trời không bao
giờ lặn”), rồi sau đó là nước đứng đầu các đối tác thương mại trong Khối thịnh
vượng chung Anh. Đế chế và sau đó là Khối thịnh vượng chung là các đối tác
thương mại hàng đầu của Anh và các nguồn binh lực chính yếu: bạn cứ nghĩ về tất
cả những binh sĩ Úc, New Zealand, Ấn Độ và Canada đã hi sinh cùng lính Anh
trong cả hai cuộc thế chiến. Nhưng nền thương mại của Anh với Khối thịnh vượng
chung đang giảm dần và chuyển hướng sang châu Âu, cũng giống như nền thương mại
của Úc với Anh đang giảm dần và chuyển sang châu Á và Mỹ. Các thuộc địa của Anh
ở châu Phi và châu Á đang trở nên độc lập, phát triển căn tính quốc gia của
riêng họ và xây dựng chính sách đối ngoại của riêng họ, ngay cả trong Khối thịnh
vượng chung, và (vượt qua sự phản đối của Anh) còn buộc Nam Phi rời khỏi Khối
thịnh vượng chung do các chính sách phân biệt chủng tộc của nước này. Nếu Úc cảm
thấy chịu áp lực khi phải lựa chọn giữa Anh với châu Á và Mỹ, thì Anh cũng thấy
chịu áp lực khi phải lựa chọn giữa Khối thịnh vượng chung và châu Âu.
Năm 1955, Anh quyết định rút khỏi các cuộc đàm phán với sáu
quốc gia Tây Âu (Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg) trong việc thành lập Cộng
đồng Kinh tế châu Âu (EEC, khởi nguồn cho Thị trường chung châu Âu ngày nay).
Trái với dự đoán của Anh vào năm 1955, nhóm bộ Sáu (gồm sáu nước Tây Âu) đã
thành công trong việc thành lập EEC mà không có Anh vào năm 1957. Đến năm 1961,
Thủ tướng Anh Harold Macmillan thừa nhận sự thay đổi lợi ích của Anh. Châu Âu
trở nên quan trọng đối với Anh hơn Khối thịnh vượng chung về cả hai lĩnh vực
kinh tế và chính trị. Do đó, Anh nộp đơn xin gia nhập EEC. Việc xin gia nhập
này và các diễn tiến tiếp theo đã tạo nên một cú sốc đối với mối quan hệ của Úc
và Anh, thậm chí còn quan trọng hơn vụ Singapore bị thất thủ, mặc dù vụ sau kịch
tính hơn và mang tính biểu tượng hơn, và gây nên sự cay đắng của người Úc kéo
dài đến tận ngày nay.
Đơn xin gia nhập của Anh đã tạo ra một cuộc va chạm không thể
tránh khỏi giữa lợi ích của Anh và Úc. Nhóm bộ Sáu lúc đó đang dựng lên các
hàng rào thuế quan chung chống lại hàng nhập khẩu ngoài khối EEC, những rào cản
mà Anh phải đăng ký. Giờ đây, những rào cản đó cũng sẽ áp dụng cho các mặt hàng
thực phẩm và kim loại tinh chế của Úc, mà Anh vẫn đại diện cho một thị trường
xuất khẩu lớn. Xuất khẩu thực phẩm của Úc sang Anh ắt sẽ bị thay thế bởi thực
phẩm của Pháp, Hà Lan, Ý và Đan Mạch. Thủ tướng Macmillan cũng như Thủ tướng
Robert Menzies của Úc đều biết thực tế tàn nhẫn này. Macmillan hứa với Úc và
các nước Thịnh vượng chung rằng Anh sẽ kiên trì bảo vệ lợi ích của khối trong
các cuộc đàm phán với EEC. Nhưng lúc đó, các nước này vẫn nghi ngờ việc
Macmillan sẽ thắng thế, và trên thực tế, nhóm bộ Sáu đã khước từ nhượng bộ những
lợi ích của Úc.
Phản ứng của người Úc đối với đơn xin gia nhập EEC của Anh gợi
nhớ đến phản ứng của họ trong vụ căn cứ ở Singapore sụp đổ. Việc đệ đơn này bị
cáo buộc là vô đạo đức, không trung thực, là cơ sở cho sự bất bình về đạo đức
và sự phản bội ở bán đảo Gallipoli, của một thế kỷ với những hi sinh khác nhau
của Úc cho đất mẹ Anh và di sản của Anh bên dưới căn tính quốc gia truyền thống
của Úc. Thật vậy, cú sốc này mang tính biểu tượng sâu sắc cũng như hữu hình. Những
cú sốc mang tính biểu tượng còn tồi tệ hơn vẫn tiếp tục diễn ra. Đạo luật Di
trú trong Khối thịnh vượng chung của Anh năm 1962 hiển nhiên nhằm ngăn chặn việc
nhập cư vào khối này từ các đảo vùng Tây Ấn và Pakistan, để tránh sự xuất hiện
nạn phân biệt chủng tộc bằng việc chấm dứt quyền tất yếu của mọi công dân Khối
thịnh vượng chung (bao gồm cả người Úc) được vào cư trú tại Anh. Đạo luật Di
trú Anh năm 1968 cấm quyền tất yếu được nhập cảnh tự động vào Anh đối với mọi
người nước ngoài (người Úc lúc đó cũng được tuyên bố là người nước ngoài!) nếu
không có ít nhất một cụ nội sinh ra ở Anh, do đó đã loại trừ một phần lớn người
Úc tại thời điểm đó. Năm 1972, Anh tuyên bố người Úc là NGƯỜ I NGOÀI (!). Đúng
là một sự lăng nhục!
Tóm lại, đây không phải là trường hợp những người con trai và
con gái Úc của đất mẹ Anh tuyên bố độc lập; mà chính đất mẹ đã tuyên bố độc lập
riêng mình, nới lỏng mối quan hệ với Khối thịnh vượng chung và từ bỏ con cái.
Các cuộc đàm phán giữa Anh và châu Âu diễn ra đầy chậm chạp
và cay đắng với những khởi đầu rồi ngừng lại. Tổng thống Pháp de Gaulle phủ quyết
đơn xin gia nhập đầu tiên vào khối EEC của Anh năm 1963, rồi tiếp tục phủ quyết
lần hai vào năm 1967. Chỉ đến sau khi de Gaulle từ chức rồi qua đời, năm 1971,
đơn xin gia nhập lần thứ ba của Anh mới được nhóm bộ Sáu chấp thuận và được
công dân Anh đồng tình thông qua một cuộc trưng cầu dân ý. Đến thời điểm đó,
Anh chỉ chiếm 8% xuất khẩu của Úc. Các chính trị gia Úc nhận ra việc gia nhập
châu Âu là vì lợi ích sống còn của Anh, và Úc cũng không thể phản đối lợi ích của
Anh, và rằng mối quan hệ trước đó giữa Úc và Anh giờ đây đã trở thành huyền thoại.
Từ quan điểm của Úc, dường như bản sắc Úc đã thay đổi đột ngột
và toàn diện vào năm 1972, khi Đảng Lao động Úc dưới thời Thủ tướng Gough
Whitlam lên nắm quyền lần đầu tiên sau 23 năm. Trong 19 ngày đầu cầm quyền,
ngay cả trước khi bổ nhiệm một nội các mới, Whitlam và trợ lý của ông đã bắt
tay vào một chương trình với những thay đổi cấp thời có chọn lọc mà một số
trong đó có sự tương đồng về tốc độ và tính toàn diện trong thế giới hiện đại.
Những thay đổi đưa ra trong 19 ngày đó bao gồm: chấm dứt chế độ quân dịch (vốn
có tính cưỡng bách); rút toàn bộ quân đội Úc khỏi Việt Nam; công nhận Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa; tuyên bố độc lập cho Papua New Guinea mà Úc đã quản trị hơn
nửa thế kỷ dưới sự ủy nhiệm của Hội Quốc Liên, sau này là Liên Hợp Quốc; cấm chỉ
các chuyến du đấu của những đội thể thao nước ngoài có tính phân biệt chủng tộc
(một đạo luật đặc biệt nhằm vào các đội tuyển Nam Phi toàn người da trắng); bãi
bỏ việc vinh danh người Úc theo hệ thống huân chương danh dự của Anh (tước hiệp
sĩ, Huân chương Đế quốc Anh, Huân chương Thánh Michael và Thánh George v.v.) và
thay thế chúng bằng một hệ thống huân chương mới của Úc; đồng thời chính thức
bãi miễn chính sách Úc Trắng. Khi toàn bộ nội các Whitlam được chuẩn y, nhiều
bước trong chương trình cấp thời được áp dụng: giảm tuổi bầu cử xuống còn 18;
tăng mức lương tối thiểu; trao quyền cử đại diện cho cả vùng Lãnh thổ phía Bắc
và vùng thủ đô Úc ở Thượng viện liên bang; công nhận hội đồng lập pháp cho cả
hai lãnh thổ đó; yêu cầu phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường trong
phát triển công nghiệp; tăng kinh phí dành cho thổ dân; trả lương công bằng cho
phụ nữ; chấp thuận ly hôn vô điều kiện; đưa ra chương trình bảo hiểm y tế toàn
diện và những thay đổi lớn trong giáo dục bao gồm bãi bỏ học phí đại học, tăng
viện trợ tài chính cho các trường học và giao các bang trong Khối thịnh vượng
chung Úc trách nhiệm tài trợ cho giáo dục đại học.
Whitlam mô tả chính xác những cải cách của mình chỉ là một “sự
nhìn nhận những gì đã xảy ra” chứ không phải một cuộc cách mạng phát sinh từ hư
vô. Trên thực tế, căn tính Anh của nước Úc đã giảm dần. Việc Singapore thất thủ
vào năm 1942 là cú sốc lớn đầu tiên, Hiệp ước An ninh ANZUS năm 1951 là một sự
nhìn nhận sớm, các chính phủ cộng sản ở Đông Âu và Việt Nam là các dấu hiệu cảnh
báo. Nhưng Úc vẫn mong đợi và đứng về phía Anh sau vụ thất thủ ở Singapore.
Quân đội Úc vẫn sát cánh với Anh ở Malaya chống lại quân nổi dậy cộng sản vào
cuối năm 1940, và ở Borneo thuộc Malaysia chống lại những kẻ xâm nhập Indonesia
vào đầu năm 1960. Úc cho phép Anh thử bom nguyên tử ở các sa mạc xa xôi của nước
này vào cuối thập niên 1950, trong một nỗ lực nhằm giữ Anh là một cường quốc
quân sự độc lập với Mỹ, Úc là một trong số ít các quốc gia ủng hộ cuộc tấn công
của Anh vào Ai Cập trong Khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956, vốn bị lên án rộng
rãi. Vào năm 1954, chuyến thăm Úc đầu tiên của Nữ hoàng Elizabeth đã được chào
đón long trọng theo nghi thức của người Anh: hơn 75% người Úc đổ ra đường để
hoan hô bà (Ảnh 7.9). Song đến thời điểm Nữ hoàng Elizabeth thăm Úc một lần nữa
vào năm 1963, hai năm sau khi Anh gửi đơn xin gia nhập EEC lần đầu tiên, thì
người Úc lại tỏ ra chẳng mấy quan tâm đến bà và nước Anh.
Việc dỡ bỏ chính sách Úc Trắng đã được tiến hành một cách
trình tự trong từng giai đoạn trước khi Whitlam ban hành văn bản chính thức, với
sự thừa nhận các cô dâu Nhật thời chiến vào năm 1949 là giai đoạn đầu tiên.
Theo Kế hoạch phát triển châu Á ký kết ở Colombo thủ đô Sri Lanka, Úc đón nhận
10.000 sinh viên châu Á trong thập niên 1950. Bài kiểm tra chính tả được cho là
xem rẻ người nhập cư tương lai bị hủy bỏ vào năm 1958. Đạo luật Nhập cư ban
hành cùng năm đó cho phép những người châu Á ưu tú và có trình độ cao nhập cư.
Do đó, khi Whitlam tuyên bố chấm dứt chính sách Úc Trắng vào năm 1972 và chính
thức loại bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, hành động của ông ít gây ra phản
đối so với dự đoán về việc kết thúc một chính sách đã được theo đuổi dai dẳng
trong hơn một thế kỷ. Trong giai đoạn 1978- 1982, Úc đã tiếp nhận người tị nạn
đến từ bán đảo Đông Dương mà nếu tính theo tỉ lệ phần trăm dân số thì còn nhiều
hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Vào cuối thập niên 1980, có đến gần một
nửa dân Úc sinh ra ở nước ngoài hoặc có ít nhất một bậc sinh thành sinh ra ở nước
ngoài. Đến năm 1991, người châu Á đại diện cho hơn 50% người nhập cư đến Úc. Đến
năm 2010, tỉ lệ người Úc thực sự sinh ra ở nước ngoài (hơn 25%) đứng thứ hai
trên thế giới, chỉ sau Israel. Ảnh hưởng của những người nhập cư châu Á này đã
vượt xa so với số lượng: sinh viên châu Á chiếm hơn 70% chỗ ngồi ở các trường
hàng đầu tại Sydney, sinh viên đại học châu Á dường như chiếm một phần lớn
trong số những sinh viên mà tôi thấy đi dạo trong khuôn viên Đại học Queensland
vào năm 2008, và dân châu Á và những người không phải người châu Âu hiện chiếm
hơn một nửa số sinh viên y khoa Úc.
Những thay đổi khác ở Úc là về chính trị và văn hóa. Năm
1986, Úc chấm dứt quyền phúc thẩm sau cùng đối với Hội đồng Cơ mật Anh, điều
này đồng nghĩa với việc thực sự xóa bỏ dấu vết cuối cùng của chủ quyền Anh và
biến Úc trở thành một quốc gia hoàn toàn độc lập. Năm 1999, Tòa án Tối cao Úc
tuyên bố Anh là một “nước ngoài.” Về mặt văn hóa, sự thống trị của Anh trong ẩm
thực Úc ở giai đoạn thập niên 1960 mà biểu trưng là bánh nướng nhân thịt và bia
giờ đã mở rộng hơn với nhiều phong cách ẩm thực quốc tế, và không chỉ riêng từ
các nhà hàng Ý, Hy Lạp và một số ít của Trung Quốc ở thập niên 1960. Một số loại
rượu vang Úc hiện nằm trong danh mục những loại rượu nổi tiếng nhất trên thế giới.
(Gợi ý: Tôi đặc biệt giới thiệu nhãn rượu khai vị tuyệt hảo Noble One giá phải
chăng của nhà De Bortoli, vang đỏ Penfolds Grange cũng nổi tiếng nhưng giá hơi
đắt, và loại Morris thuộc dòng Muscat của nhà Rutherglen là loại rượu mạnh chất
lượng và giá cả phải chăng.) Nhà hát Opera ở Sydney (Hình 7.10) khai trương vào
năm 1973, và hiện được xem là biểu tượng của nước Úc cũng như một trong những
thành tựu vĩ đại của kiến trúc hiện đại trên thế giới, được thiết kế bởi kiến
trúc sư người Đan Mạch Jørn Utzon.
Những tranh luận về câu hỏi Chúng ta là ai? không chỉ liên
quan đến tính thực tiễn về căn tính Úc, mà dường như còn về mọi biểu tượng có
thể tạo ra căn tính. Hệ thống tiền tệ Úc có nên giữ tên gọi là đồng bảng không
tính theo hệ thập phân như ở Anh, hay nên có một cái tên Úc khác biệt, chẳng hạn
như tiền roo (viết tắt của từ kangaroo)? (Quyết định cuối cùng là loại bỏ đồng
bảng để dùng một loại tiền theo hệ thập phân có tên gọi như Mỹ hay quốc tế, đồng
đô la.) Có nên giữ bài “Chúa phù hộ Nữ hoàng” làm quốc ca hay không? (Cuối
cùng, năm 1984, bản quốc ca của Anh đã được thay thế bằng bài “Nước Úc tiến bước
hùng cường.”) Có nên tiếp tục dùng quốc kỳ Úc dựa trên nền cờ Union Jack của
Anh hay không? (Hiện Úc vẫn sử dụng lá cờ này.) Có nên tổ chức quốc lễ ăn mừng
sự thất trận của những người lính Úc anh dũng khi bảo vệ lợi ích của nước Anh để
chống lại người Thổ ở Gallipoli năm 1915 hay nên thay thế bằng chiến thắng oai
hùng của nước Úc chống lại người Nhật trên cung đường mòn Kokoda vào năm 1942?
(Hiện Úc vẫn giữ Ngày ANZAC kỷ niệm vụ đổ bộ lên Gallipoli.) Và nước Úc có nên
thừa nhận Nữ hoàng Anh hay không, hay nên trở thành một nước cộng hòa? (Hiện Úc
vẫn thừa nhận Nữ hoàng.)
Rốt cuộc, nước Úc phù hợp với khung biến cố và thay đổi có chọn
lọc của chúng ta như thế nào?
Đối với Úc thì khác hơn bất kỳ quốc gia nào khác mà chúng ta
đang thảo luận, vấn đề trung tâm là một cuộc tranh cãi đang tiếp diễn về các vấn
đề căn tính quốc gia và các giá trị cốt lõi (các nhân tố số 6 và 11, Bảng 1.2):
Chúng ta là ai? Úc có phải là tiền đồn của người Anh trắng ở gần châu Á nhưng lại
ít chú ý đến các nước láng giềng châu Á không? Có phải những thần dân Úc trung
thành với những người Anh đặt niềm tự hào của mình dựa vào sự ủng hộ của Anh,
cũng như kỳ vọng sự bảo vệ của Anh, đến nỗi cảm thấy không cần quốc gia của họ
có đại sứ riêng ở nước ngoài, đồng thời thể hiện lòng trung thành của họ với đất
mẹ Anh, tình nguyện hi sinh nhân mạng ở những vùng xa xôi trên thế giới có tầm
quan trọng chiến lược đối với nước Anh chứ không phải với nước Úc? Hay thay vào
đó Úc là một quốc gia độc lập ở ngoại vi châu Á, với lợi ích quốc gia, chính
sách đối ngoại và có đại sứ riêng của đất nước mình, dính dáng nhiều đến châu Á
hơn châu Âu cùng với nền di sản văn hóa Anh ngày càng suy giảm theo thời gian?
Mãi đến sau Thế chiến II, cuộc tranh cãi này mới trở nên nghiêm túc, và đến nay
vẫn còn đang tiếp tục. Nhưng ngay cả khi Úc đang tranh cãi về việc liệu căn
tính quốc gia của họ có phải là một tiền đồn đáng tự hào của Đế quốc Anh, thì
nước Anh cũng đang tranh cãi về việc liệu căn tính riêng của họ có phải là
trung tâm đầy tự hào của đế quốc (vốn đang suy tàn) và đang tranh đấu để khoác
lên một căn tính mới như là một cường quốc gắn bó hơn với lục địa châu Âu.
Chủ đề tự đánh giá trung thực (nhân tố số 7) ngày càng trở
thành đặc trưng cho nước Úc kể từ sau Thế chiến II, khi người Úc nhận thức được
tình trạng đất nước đang thay đổi trong thế giới hiện đại. Người Úc miễn cưỡng
nhận ra rằng Anh, đối tác thương mại thiết thân nhất trước đây của họ, giờ chỉ
là một đối tác nhỏ, kẻ thù tồi tệ nhất trước đây là Nhật thì bây giờ lại là đối
tác thương mại quan trọng nhất, và giờ đây chiến lược để Úc vận hành như một tiền
đồn của người Anh da trắng ở ngoại vi châu Á không còn khả thi nữa.
Động lực cho sự thay đổi ở Úc một phần do tác động bên ngoài,
một phần là từ bên trong. Tác động bên ngoài là do sức mạnh của Anh ngày càng
suy giảm, việc kết thúc đế chế hải ngoại của Anh và sức mạnh đang trỗi dậy của
Nhật Bản, Trung Quốc và các nước châu Á khác. Phần khác là từ nội bộ, vì thông
qua việc nhập cư, dân số Úc gốc Anh ngày càng giảm và người châu Á cộng với người
châu Âu không phải người Anh ngày càng tăng, và việc thay đổi dân số cũng tạo
ra các chính sách khác nhau.
Úc là minh họa nổi bật cho thay đổi có chọn lọc và việc xây dựng
một hàng rào (nhân tố số 3). Những điều chính yếu làm thay đổi bao gồm những
chuyển đổi trong quan điểm người Úc nhìn nhận bản thân mình; sự phát triển của
một chính sách đối ngoại độc lập thay vì giao phó các quyết định chính sách đối
ngoại của Úc cho Anh; một cộng đồng dân số và văn hóa đa sắc tộc ngày càng gia
tăng (ở thành phố nhiều hơn vùng nông thôn); cùng định hướng chính trị và kinh
tế hướng đến châu Á và Mỹ. Đồng thời, những điều chính yếu khác vẫn không thay
đổi. Úc vẫn giữ nền dân chủ nghị viện, vẫn duy trì các mối quan hệ tượng trưng
quan trọng với Anh như việc Nữ hoàng Anh vẫn là nguyên thủ Úc, chân dung Nữ
hoàng vẫn xuất hiện trên tờ tiền giấy năm đô la và tiền xu của nước này, và cờ
Úc vẫn gắn liền với cờ Anh. Úc vẫn duy trì các giá trị xã hội bình đẳng và chủ
nghĩa cá nhân mạnh mẽ. Xã hội Úc vẫn mang một phong vị riêng của Úc không lẫn
vào đâu được, như đam mê thể thao: đặc biệt là môn bóng bầu dục theo luật chơi
Úc (phát minh ở Úc và chỉ được chơi ở xứ sở này), cùng với bơi lội, cộng thêm
môn cricket và bóng bầu dục của Anh. Các nhà lãnh đạo Úc vẫn giữ những trò tiêu
khiển truyền thống này ngay cả khi họ dễ gặp nguy hiểm: Thủ tướng Harold Holt
chết đuối khi còn đương chức vào năm 1967, khi đang bơi trong một vùng biển có
dòng chảy xiết ngoài khơi.
Ở hầu hết các quốc gia thực hiện nhiều thay đổi có chọn lọc,
và những thay đổi này thường được thực hiện riêng rẽ trong nhiều năm. Nhưng một
trong số ít điển hình về một chương trình thống nhất bao gồm nhiều thay đổi được
đưa ra đồng thời là cơn lốc 19 ngày của Thủ tướng Úc Gough Whitlam từ ngày 1
tháng 12 đến ngày 19 tháng 12 năm 1972.
Vấn đề tự do khỏi các ràng buộc (nhân tố số 12) rất quan trọng
đối với Úc và tự do (hay thiếu nó) cũng thay đổi theo thời gian. Cho đến Thế
chiến II, đại dương đã bảo vệ Úc khỏi mọi nguy cơ tấn công hiển hiện, cũng giống
như nó bảo vệ lục địa Mỹ sau khi giành độc lập cho đến khi Trung tâm Thương mại
Thế giới bị tấn công vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Nhưng kể từ khi Nhật ném bom
vào Darwin ngày 19 tháng 2 năm 1942 thì người Úc đã nhận ra rằng đất nước của họ
không còn tránh được những ràng buộc bên ngoài.
Tuy vậy, ngay cả trước năm 1942, xã hội Úc do người châu Âu
thống trị cũng phải dựa vào sự hỗ trợ từ những nước bạn bè hữu hảo (nhân tố số
4): ban đầu là Anh, mà nhiều năm sau khi Hạm đội Thứ nhất đến đây vẫn còn cung
cấp thực phẩm, và sau này là việc phòng thủ; và, từ Thế chiến II trở đi là Mỹ.
Do trước đó, Úc chưa bao giờ có nguy cơ bị tấn công trực tiếp cho đến khi xảy
ra vụ ném bom vào Darwin, nên người Úc chỉ quan ngại việc quân đội Pháp, Đức, Mỹ
và Nhật Bản mở rộng thuộc địa ở các đảo vùng Thái Bình Dương, khởi đầu từ nửa
sau thế kỷ 19. Úc lại trông cậy vào hạm đội Anh để ngăn chặn những mối quan ngại
đó, đến nỗi nước này không lãnh trách nhiệm (nhân tố số 2) tự bảo vệ trong suốt
thập niên 1930 và còn cho phép giảm trừ binh bị.
Những thay đổi của Úc trong hơn 70 năm qua không phải để đối
phó với một biến cố cấp thời, mà là một quá trình phát triển từ từ trong một thời
gian dài rồi tăng tốc kể từ sau Thế chiến II, khi căn tính Anh của Úc suy giảm,
từ thực tế giờ đã thành huyền thoại. Mặc dù bản thân người Úc có thể không dùng
từ “biến cố” đối với nước mình, tôi thấy thật hữu ích khi nghĩ rằng Úc đã trải
qua một biến cố diễn ra từ từ, bởi vì các vấn đề thay đổi có chọn lọc của Úc
cũng tương tự như các vấn đề ở các quốc gia khác khi đối phó với biến cố bất ngờ.
Về mặt này, những thay đổi gần đây ở Úc, giống với những thay đổi trong cùng những
thập niên ở Đức (Chương 6), cũng diễn ra chậm chạp. Tất nhiên cũng có một số
khoảnh khắc đáng chú ý trong chuỗi thay đổi chậm chạp của Úc: đặc biệt là vụ
hai chiến hạm Prince of Wales và Repulse bị đánh đắm, sự đầu hàng ở Singapore
và cuộc không kích vào Darwin, mọi thứ chỉ trong vòng 71 ngày. Nhưng biến cố và
thay đổi ở Úc không đưa đến cú sốc chuyển đổi khi tàu chiến của Phó đề đốc
Perry đến Nhật Bản vào ngày 8 tháng 7 năm 1853, cuộc tấn công của Nga vào Phần
Lan ngày 30 tháng 11 năm 1939, cuộc đảo chính của Pinochet và cái chết của
Allende vào ngày 11 tháng 9 năm 1973 ở Chile, cuộc đảo chính thất bại ngày 1
tháng 10 năm 1965 và vụ diệt chủng tiếp sau ở Indonesia.
Sự tái đánh giá của Úc về các giá trị cốt lõi của nước này và
chuỗi thay đổi có chọn lọc chắc chắn vẫn chưa kết thúc. Năm 1999, Úc tổ chức một
cuộc trưng cầu dân ý về việc nước này có nên bãi bỏ việc Nữ hoàng Anh là nguyên
thủ đứng đầu quốc gia hay trở thành một nước cộng hòa. Nhưng dù cuộc trưng cầu
dân ý có thất bại với tỉ lệ phiếu bầu 55% trên 45% không đồng ý, thì nhiều thập
niên trước đó, một cuộc trưng cầu dân ý như thế chưa từng được nghĩ đến, chứ đừng
nói đến khả năng 45% phiếu bầu “đồng ý.” Tỉ lệ người Úc có nguồn gốc Anh đang
giảm nhanh chóng. Dường như chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi có một cuộc
trưng cầu dân ý khác về việc Úc có nên trở thành một nước cộng hòa hay không,
và cơ hội bỏ phiếu “đồng ý” hẳn sẽ cao hơn. Trong vòng một hoặc hai thập niên,
nhiều khả năng người châu Á sẽ chiếm hơn 15% dân số Úc và các nhà lập pháp cùng
hơn 50% sinh viên trong các trường đại học hàng đầu của Úc. Sớm hay muộn, Úc sẽ
bầu một người châu Á làm thủ tướng. (Ở thời điểm tôi viết câu này, một người nhập
cư Việt Nam đã đảm nhiệm chức thống đốc Nam Úc). Khi những thay đổi này diễn ra
thì sẽ không có gì phi lý bằng việc nước Úc vẫn giữ Nữ hoàng Anh làm người đứng
đầu nhà nước, giữ chân dung bà trên đồng tiền của mình, và giữ lá cờ Úc có hình
cờ Anh trên đó.
Phần 3: Các quốc gia và t...
Chương 8 - Tương lai nào cho nước Nhật? Chương 9
- Nước Mỹ đang đối mặt với điều gì? Sức mạnh cùng vấn nạn lớn nhất Chương
10 - Tương lai nào cho nước Mỹ? Ba vấn đề “khác” Chương 11 - Tương lai
nào cho thế giới? Lời bạt - Những bài học, câu hỏi và góc nhìn
Select Chapter Chương 2: - Cuộc chiến ở Phần Lan Chương 3 -
Khởi nguyên của nước Nhật hiện đại Chương 4 - Một nước Chile cho mọi người
Chile Chương 5 - Indonesia, sự trỗi dậy của một quốc gia mới Chương
6 - Tái thiết nước Đức Chương 7 - Nước Úc: Chúng ta là ai?
Select Chapter Chương 1 - Biến cố cá nhân
Nhật Bản ngày nay – Kinh tế – Ưu thế – Nợ công – Phụ nữ – Trẻ
em – Dân số già và suy giảm – Di cư – Trung Quốc và Hàn Quốc – Quản lý tài
nguyên – Khung biến cố
Chúng ta đã nói về các biến cố xảy ra trong sáu quốc gia.
Trong bốn quốc gia đầu tiên, biến cố nổ ra bất ngờ ở những thời điểm giữa 166
năm trước (Nhật Bản thời Minh Trị) và 46 năm trước (Chile). Trong hai quốc gia
tiếp theo, biến cố dần lộ diện và đạt tới đỉnh điểm vào khoảng nửa thế kỷ trước.
Mặc dù không thể nói biến cố nào được giải quyết hoàn toàn (hay bế tắc hoàn
toàn), nhưng nhiều thập niên đã trôi qua đối với mỗi trường hợp đó, đủ để chúng
ta có thể thảo luận một cách hữu ích về hệ quả của chúng.
Trong bốn chương tiếp theo, chúng ta thực sự sẽ thảo luận về
các biến cố có vẻ đang diễn ra, mà chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết liệu
chúng có thực sự trở thành biến cố lớn hay không và hệ quả vẫn còn bất định.
Nhưng chương này liên quan đến Nhật Bản đương đại, Mỹ và toàn thế giới.
Tương tự như đã nói về các biến cố trước đây bao gồm cả Nhật
Bản thời Minh Trị, chúng ta hãy bắt đầu thảo luận về các biến cố hiện tại có thể
xảy ra với Nhật. (Trong chương này, tôi sẽ chỉ xem xét các vấn đề cụ thể đối với
Nhật, nhưng Nhật dĩ nhiên cũng phải đương đầu với các vấn đề thế giới mà tôi sẽ
mổ xẻ trong chương 11.) Bạn bè và người thân Nhật Bản của tôi cùng người Nhật
nói chung thừa nhận một số vấn đề quốc gia khiến họ lo lắng. Có những vấn đề
khác khiến tôi lo lắng về Nhật Bản, nhưng bản thân người Nhật có xu hướng bác bỏ
hoặc lờ đi. Nhưng có quá nhiều cuộc tranh luận về Nhật Bản đã đi đến mức công
kích cực đoan hoặc trái lại, sùng bái cực đoan. Vì vậy, hãy mở đầu cuộc thảo luận
của chúng ta về các vấn đề của Nhật Bản hiện đại bằng cách điểm qua các điểm mạnh
của họ. Chúng ta sẽ thấy rằng, đối với Nhật cũng như nhiều quốc gia khác, một số
điểm mạnh lại liên quan đến các vấn đề của nó. Các điểm mạnh mà tôi sẽ đề cập
liên quan đến kinh tế Nhật Bản, vốn nhân lực, văn hóa và môi trường.
Ngày nay, Nhật là cường quốc kinh tế thứ ba thế giới, chỉ vừa
mới bị Trung Quốc vượt mặt. Nhật Bản chiếm khoảng 8% sản lượng kinh tế thế giới,
gần bằng một nửa sản lượng của nền kinh tế hàng đầu (Mỹ), và gấp đôi sản lượng
của Anh, một quốc gia nổi tiếng năng suất khác. Nói chung, tổng sản lượng kinh
tế quốc gia dựa vào hai con số: dân số trong một quốc gia, nhân với sản lượng
trung bình tính theo đầu người. Sản lượng quốc gia Nhật Bản cao vì hai lý do:
Nhật Bản có dân số đông (chỉ đứng thứ hai sau Mỹ trong số những nền dân chủ
giàu có) và sản lượng trung bình tính theo đầu người cao.
Trong khi nợ trong nước của Nhật thu hút rất nhiều quan tâm
(sẽ nói ở đoạn sau), Nhật Bản vẫn là quốc gia cho vay hàng đầu thế giới. Nhật
có dự trữ ngoại hối cao thứ hai thế giới và cạnh tranh với Trung Quốc, chủ nợ lớn
nhất của Mỹ.
Một yếu tố quan trọng đằng sau sức mạnh kinh tế chính là chi
tiêu khủng khiếp của Nhật Bản cho nghiên cứu và phát triển để thúc đẩy đổi mới.
Nhật Bản là nước đứng thứ ba thế giới về đầu tư thường niên tuyệt đối vào
nghiên cứu và phát triển, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ dù dân số ít hơn hai nước
này nhiều. Cụ thể, tỉ lệ GDP mà Nhật Bản đầu tư cho nghiên cứu và phát triển là
3,5 %, gần gấp đôi Mỹ (chỉ 1,8%) và vẫn cao hơn rất nhiều so với hai quốc gia
khác nổi tiếng vì đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là Đức (2,9%) và Trung Quốc
(2,0%).
Hằng năm, Diễn đàn Kinh tế Thế giới báo cáo cho các quốc gia
một con số gọi là Chỉ số Năng lực cạnh tranh Toàn cầu, chỉ số này tích hợp một
tá số liệu ảnh hưởng tới năng suất kinh tế của một quốc gia. Trong nhiều năm
liên tục Nhật Bản luôn nằm trong số mười quốc gia hàng đầu thế giới dựa vào chỉ
số trên; Nhật Bản, Singapore và Hong Kong (Trung Quốc) là ba nền kinh tế duy nhất
ngoài châu Âu và Mỹ lọt vào bảng xếp hạng này. Những nguyên nhân quyết định thứ
hạng cao của Nhật bao gồm hai nguyên nhân rõ ràng liên quan đến du khách: cơ sở
hạ tầng và mạng lưới giao thông tuyệt vời của Nhật, như đường sắt tốt nhất thế
giới chẳng hạn; và lực lượng lao động được giáo dục tốt, đặc biệt thành thạo
trong toán học và khoa học (sẽ bàn thêm ở phần sau). Những lý do khác trong
danh sách không rõ rệt bằng nhưng vẫn quen thuộc đối với người ngoại quốc đang
làm ăn với Nhật Bản. Các lý do này bao gồm: kiểm soát lạm phát; hợp tác lao động/quan
hệ lao động; thị trường trong nước cạnh tranh cao; các viện nghiên cứu chất lượng
cao đào tạo rất nhiều nhà khoa học và kỹ sư; thị trường nội địa lớn; tỉ lệ thất
nghiệp thấp; số bằng sáng chế tính theo đầu người mỗi năm cao hơn bất kỳ quốc
gia nào khác; bảo vệ quyền sở hữu và sở hữu trí tuệ; tiếp thu công nghệ nhanh
chóng; khách hàng và chủ doanh nghiệp sành sỏi; và nhân viên kinh doanh được
đào tạo tốt. Tôi hứa sẽ không đưa ra câu đố về danh sách dài ngoằng này, nhưng
thông điệp rút ra thật rõ ràng: có rất nhiều lý do khiến các doanh nghiệp Nhật
Bản có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.
Cuối cùng, đừng quên một nét đặc trưng của nền kinh tế Nhật Bản
đang mang lại lợi nhuận tài chính khổng lồ và cũng có thể gây ra rắc rối trong
tương lai. Hai quốc gia duy nhất có nền kinh tế vượt trội Nhật Bản là Mỹ và
Trung Quốc, nhưng họ đổ một phần lớn ngân sách vào quân phí. Nhật Bản không tốn
khoản phí này, nhờ một điều khoản của hiến pháp năm 1947 do Mỹ áp đặt (nay được
đông đảo người dân Nhật Bản tán thành) quy định cắt giảm lực lượng vũ trang Nhật
Bản xuống tối thiểu.
Thế mạnh thứ hai của Nhật Bản bên cạnh những thế mạnh về kinh
tế, chính là “vốn nhân lực,” hay nói cách khác, là thế mạnh của dân số. Dân số
nước này hơn 120 triệu, con người khỏe mạnh và học thức cao. Tuổi thọ của người
Nhật cao nhất thế giới: đàn ông là 80 tuổi, phụ nữ là 85 tuổi. Sự bất bình đẳng
kinh tế-xã hội vốn làm hạn chế cơ hội của một bộ phận lớn người Mỹ lại đang giảm
mạnh ở Nhật: Nhật là quốc gia đứng thứ ba thế giới về bình đẳng trong phân phối
thu nhập, chỉ sau Đan Mạch và Thụy Điển. Đó là một phần kết quả của chính sách
giáo dục của chính phủ Nhật Bản: trường học ở những vùng khó khăn về kinh tế xã
hội có lớp học nhỏ hơn (tỉ lệ giáo viên-học sinh cao hơn) so với những trường học
trong vùng giàu có, do vậy, tạo điều kiện dễ dàng cho con em các gia đình nghèo
đuổi kịp. (Trái lại, hệ thống giáo dục của Mỹ có xu hướng duy trì sự bất bình đẳng
bằng cách nhồi nhét nhiều học sinh hơn vào các lớp học ở khu vực nghèo khó.) Địa
vị xã hội ở Nhật Bản phụ thuộc vào giáo dục hơn là vào sự kế thừa và quan hệ gia
đình: một lần nữa, nó lại trái ngược với xu thế ở Mỹ. Nói tóm lại, thay vì đầu
tư mất cân xứng vào một bộ phận dân chúng thì Nhật Bản đầu tư đồng đều vào tất
cả họ – hay chí ít, tất cả công dân nam giới. (Tôi sẽ nói về phụ nữ Nhật sau.)
Tỉ lệ biết chữ và trình độ học vấn ở Nhật Bản gần cao nhất thế
giới. Mẫu giáo và trung học phổ thông ở Nhật là hai cấp học gần như được phổ cập
nhưng không bắt buộc. Việc kiểm tra sinh viên ở các quốc gia trên thế giới cho
thấy sinh viên Nhật Bản xếp thứ tư thế giới về kiến thức toán học và khoa học,
trên tất cả các nước châu Âu và Mỹ. Nhật Bản chỉ đứng sau Canada về tỉ lệ người
trưởng thành – gần 50% – tiếp tục lên đại học sau khi tốt nghiệp trung học.
Song song với những thế mạnh của nền giáo dục là những chỉ trích thường của
chính người Nhật Bản, rằng nền giáo dục đó gây quá nhiều áp lực cho học sinh bằng
việc chỉ chú tâm vào điểm số mà không quan thiết tới động lực bản thân và khả
năng suy nghĩ độc lập. Kết quả là, một khi sinh viên Nhật Bản thoát khỏi môi
trường áp lực ở trung học và lên đến đại học, tự nhiên hứng thú học tập của họ
giảm dần.
Mặc dù không dễ để ước lượng thế mạnh văn hóa, căn tính quốc
gia, và chất lượng cuộc sống, nhưng có rất nhiều bằng chứng mang tính giai thoại
về những đặc điểm này ở Nhật. Như khách ngoại quốc đến Nhật có thể nhanh chóng
nhận ra, thủ đô Tokyo cạnh tranh với Singapore để là thành phố sạch nhất châu
Á, và là một trong những nơi sạch nhất thế giới. Đó là vì trẻ em Nhật học cách
sạch sẽ và dọn dẹp, như một phần trách nhiệm của chúng là giữ gìn Nhật Bản và
trao lại đất nước cho thế hệ tiếp theo. (Các văn bản thông dịch tại các địa điểm
khảo cổ Nhật đôi khi trưng ra một cách tự hào bằng chứng về sự sạch sẽ của người
Nhật đã có từ thời cổ đại.) Khách tham quan cũng nhận thấy sự an toàn và tỉ lệ
tội phạm thấp tại các thành phố Nhật Bản. Tỉ lệ ngồi tù của Nhật Bản nhỏ hơn rất
nhiều so với Mỹ: tương ứng là 80.000 người so với gần 2,5 triệu người. Bạo loạn
và cướp bóc là rất hiếm ở Nhật. Căng thẳng sắc tộc thấp hơn nhiều so với ở Mỹ
và châu Âu, bởi lẽ ở Nhật có sự đồng nhất về sắc dân và chỉ có một số rất ít
dân tộc thiểu số. (Đây cũng là một ví dụ khác của một ưu thế mang theo nhiều bất
lợi, sẽ được trình bày sau.)
Cuối cùng, thế mạnh của Nhật Bản lại nằm ở những ưu thế to lớn
về tự nhiên. Sản lượng nông nghiệp Nhật Bản cao là nhờ sự kết hợp giữa khí hậu
ôn hòa, không có sâu bọ của nền nông nghiệp nhiệt đới, mưa lớn tập trung vào
mùa hè – mùa cây cối phát triển, và đất núi lửa màu mỡ. Điều này góp phần vào
khả năng hỗ trợ một trong những nền công nghiệp có mật độ dân số cao nhất thế
giới, trong khi dân chúng và nền nông nghiệp chỉ tập trung ở một tỉ lệ khiêm tốn
(12%) diện tích. (Đa số diện tích nước Nhật chủ yếu là đồi núi và rừng cây, chỉ
cho phép một lượng nhỏ dân cư tổ chức canh tác nhỏ lẻ.) Chất dinh dưỡng từ đất
đai màu mỡ khiến cho sông suối và bờ biển Nhật Bản rất giàu tôm cá, rong biển
và nhiều hải sản khác. Nhật Bản đứng thứ sáu trên thế giới về đánh bắt hải sản,
trước đây họ chỉ đánh bắt ven biển Nhật Bản nhưng bây giờ đã được tổ chức thành
nhiều đội tàu đánh cá Nhật Bản đi khắp các đại dương. Với sự ưu ái về tự nhiên
như vậy, Nhật Bản đã là một xứ phi thường trong thời cổ đại, bởi ít nhất là
10.000 năm trước thời kỳ trồng trọt, những người săn bắt-hái lượm Nhật Bản đã lập
làng và làm gốm, thay vì sống đời du mục với số tài sản vật chất ít ỏi. Trước
khi dân số Nhật Bản bùng nổ trong vòng nửa cuối thế kỷ trước, Nhật Bản đã tự
cung cấp đủ lương thực.
Bây giờ hãy nói về trở ngại, khó khăn của đất nước này. Khi
được yêu cầu chỉ ra vấn đề nghiêm trọng nhất của Nhật Bản, các nhà kinh tế học
thường trả lời, “Đó là khoản nợ quốc gia khổng lồ của chính phủ.” Hiện nay khoản
nợ này cao gấp 2,5 lần GDP hằng năm của Nhật, tức giá trị của toàn bộ hàng hóa
sản xuất tại Nhật Bản trong một năm. Điều này có nghĩa, ngay cả khi Nhật dành
toàn bộ thu nhập và nỗ lực để trả hết nợ quốc gia và không sản xuất gì cho
chính họ, thì họ vẫn phải mất hai năm rưỡi để trả nợ. Tệ hơn nữa, khoản nợ đã
tăng lên trong nhiều năm. Để so sánh, trong khi các nhà tài chính bảo thủ Mỹ rất
quan tâm đến nợ quốc gia, thì khoản này “chỉ” chiếm 1,0 GDP của Mỹ. Hy Lạp và
Tây Ban Nha là hai nước châu Âu khét tiếng vì những vấn đề kinh tế của họ,
nhưng tỉ lệ nợ/GDP của Nhật cao gấp đôi so với Hy Lạp và gấp bốn lần so với Tây
Ban Nha (tính đến thời điểm tôi viết câu này). Khoản nợ của chính phủ Nhật Bản
tương đương với khoản nợ của toàn bộ khu vực đồng Euro bao gồm 17 quốc gia,
trong khi tổng dân số của họ gấp ba lần Nhật.
Tại sao chính phủ Nhật Bản không sụp đổ hay vỡ nợ từ lâu vì
gánh nặng này? Trước hết, phần lớn nợ không thuộc về chủ nợ nước ngoài mà là
các cá nhân Nhật Bản, doanh nghiệp Nhật Bản và các quỹ hưu trí sở hữu trái phiếu
(nhiều quỹ thuộc sở hữu của chính phủ), và ngân hàng Nhật Bản, nhưng không một
đơn vị nào trong số ấy làm khó chính phủ Nhật Bản. Ngược lại, phần lớn nợ của
Hy Lạp thuộc về chủ nợ nước ngoài, những người này gây khó dễ và tạo áp lực buộc
Hy Lạp thay đổi chính sách tài khóa. Bất chấp tất cả nợ mà chính phủ Nhật đang
chịu từ chính người dân Nhật, thì Nhật Bản vẫn là một quốc gia tín dụng ròng đối
với nhiều quốc gia khác vốn nợ tiền Nhật Bản. Thứ hai, lãi suất ở Nhật Bản được
giữ ở mức thấp (dưới 1%) theo chính sách của chính phủ, với mục đích kiểm soát
thanh toán lãi suất của chính phủ. Cuối cùng, các chủ nợ nước ngoài và Nhật Bản
vẫn rất tin vào khả năng thanh toán của chính phủ nên họ tiếp tục mua trái phiếu
chính phủ. Trên thực tế, đó là phương cách chính mà các cá nhân và doanh nghiệp
Nhật Bản đầu tư tiền tiết kiệm của họ. Nhưng không ai biết được nợ có thể vọt
lên cao bao nhiêu trước khi các chủ nợ của Nhật Bản vay tiền mất niềm tin và
chính phủ vỡ nợ.
Mặc dù thuế suất thấp, nhưng quy mô khoản nợ và dân số già đồng
nghĩa với việc lãi suất nợ và chi phí y tế, an sinh xã hội tiêu tốn phần lớn tiền
thuế của chính phủ. Điều này làm giảm sút quỹ tài chính vốn phải luôn sẵn sàng
đáp ứng đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển, cơ sở hạ tầng và các động
cơ tăng trưởng kinh tế khác để có thể kích thích doanh thu thuế. Vấn đề càng
nghiêm trọng hơn nữa khi thuế suất kéo theo nguồn thu của chính phủ tương đối
thấp chiếu theo những tiêu chuẩn của thế giới phát triển. Cuối cùng, khoản nợ
chủ yếu nằm trong tay của giới người Nhật già, những người đã đầu tư tiền bạc một
cách trực tiếp (bằng cách mua trái phiếu chính phủ) hoặc gián tiếp (bằng cách
nhận lương hưu từ quỹ lương hưu đầu tư nhiều vào trái phiếu chính phủ) – trong
khi những người Nhật trả lãi suất cho khoản nợ phần lớn là người trẻ Nhật vẫn
làm việc và đóng thuế. Vì thế, khoản nợ của Nhật Bản thực sự là khoản tiền mà
giới trẻ phải trả cho giới già, tạo thành một cuộc xung đột giữa các thế hệ và
một thế chấp trên tương lai Nhật Bản. Thế chấp đang lớn lên bởi vì dân số trẻ
Nhật Bản đang suy giảm trong khi dân số già thì tăng lên (xem đoạn sau).
Giải pháp đề ra để giảm nợ bao gồm tăng thuế suất, giảm chi
tiêu của chính phủ, và giảm lương hưu của người già Nhật Bản. Những giải pháp
này và tất cả các giải pháp khác được cho là quá khó để thực hiện. Do đó, khoản
nợ của chính phủ là một vấn đề lớn được thừa nhận rộng rãi suốt một thời gian
dài ở Nhật Bản, điều đó đã tiếp tục trở nên tồi tệ hơn trong nhiều năm, và
không có thỏa thuận về giải pháp.
Những vấn đề cơ bản khác được chính người Nhật thừa nhận là bốn
vấn đề liên quan tới vai trò của phụ nữ, tỉ lệ sinh thấp và có chiều hướng giảm,
quy mô dân số giảm, và dân số già. Hãy bắt đầu với vai trò của phụ nữ.
Trên lý thuyết, phụ nữ và đàn ông Nhật Bản bình đẳng với
nhau. Hiếp pháp Nhật Bản năm 1947, do chính phủ chiếm đóng Mỹ soạn thảo vẫn còn
hiệu lực cho tới ngày hôm nay, trong đó có một điều khoản (do một phụ nữ Mỹ soạn
thảo) tuyên bố bình đẳng giới. Điều khoản đó đã được thông qua bất chấp sự phản
đối quyết liệt của chính phủ Nhật Bản, và một số nhà lập pháp Nhật Bản vẫn còn
muốn thay đổi nó.
Trên thực tế, phụ nữ Nhật Bản phải đối mặt với nhiều rào cản
xã hội về bình đẳng giới. Tất nhiên, những rào cản mà tôi sắp mô tả cũng tồn tại
ở các quốc gia khác ngoài Nhật Bản. Nhưng những rào cản này – và khoảng cách giới
trong y tế, giáo dục, cùng sự tham gia vào lực lượng lao động và chính trị – ở
Nhật Bản lớn hơn so với bất kỳ quốc gia công nghiệp giàu có nào khác, ngoại trừ
Hàn Quốc. Tôi suy đoán rằng, vì Nhật Bản là quốc gia công nghiệp giàu có, trong
đó vai trò của phụ nữ cho tới gần đây hầu hết vẫn là phụ thuộc và rập khuôn. Chẳng
hạn, khi đi bộ ở nơi công cộng, một người phụ nữ truyền thống Nhật Bản chắc chắn
sẽ ở sau chồng ba bước. Để tóm gọn, tôi sẽ mô tả các rào cản xã hội đối với phụ
nữ một cách tổng quát, nhưng tất nhiên rào cản sẽ biến đổi tùy theo vị trí và độ
tuổi người Nhật Bản: chẳng hạn, ở nông thôn, rào cản mạnh hơn ở Tokyo và ở người
lớn tuổi mạnh hơn so với người trẻ.
Ở nhà, sự phân chia giới tính trong các cặp vợ chồng Nhật thường
được gọi là “gói hôn nhân.” Một sự phân chia công việc không hiệu quả thường xảy
ra, từ đó một ông chồng lao vào công việc kiếm sống cho cả hai ở bên ngoài và
tiêu tốn cả thời gian lẽ ra phải dành cho con cái, trong khi vợ anh ta ở nhà và
hi sinh cơ hội phát triển nghề nghiệp. Chủ doanh nghiệp mong đợi nhân viên (chủ
yếu là đàn ông) ở lại văn phòng trễ và ra ngoài uống rượu với họ sau giờ làm việc.
Điều này gây khó dễ cho các ông chồng Nhật Bản kể cả khi họ muốn chia sẻ việc
nhà với vợ. Ông chồng Nhật làm việc nhà ít hơn những ông chồng ở các quốc gia
công nghiệp hóa giàu có: chẳng hạn, chỉ bằng 2/3 số giờ mỗi tuần mà các ông chồng
Mỹ bỏ ra. Các ông chồng Nhật có vợ đi làm không làm việc nhà nhiều hơn các ông
có vợ ở nhà toàn thời gian. Thay vào đó, chủ yếu là những người vợ chăm sóc con
cái, chồng của họ, cha mẹ họ, cha mẹ chồng – và quản lý tài chính gia đình
trong thời gian rảnh rỗi còn lại. Nhiều bà vợ Nhật ngày nay thề rằng họ sẽ là
thế hệ phụ nữ Nhật cuối cùng chịu đựng những trách nhiệm này.
Ở sở làm, phụ nữ Nhật tham gia ít và nhận lương thấp. Sự tham
gia lao động ngày càng giảm với mức độ trách nhiệm ngày càng tăng. Trong khi nữ
giới chiếm 49% sinh viên đại học Nhật Bản và 45% các công việc cấp đầu vào, thì
họ lại chỉ chiếm 14% các vị trí giảng dạy (so với 33%-44% ở Mỹ, Anh, Đức và
Pháp), 11% các vị trí quản lý trung cấp đến cao cấp, 2% các vị trí trong hội đồng
quản trị, 1% các trong ủy ban điều hành kinh doanh và dưới 1% là CEO. Ở những cấp
độ cao hơn, Nhật Bản tụt hậu so với tất cả các nước công nghiệp lớn, ngoại trừ
(một lần nữa) Hàn Quốc. Có rất ít phụ nữ tham gia chính trường Nhật Bản, và đất
nước này cũng chưa bao giờ có một nữ thủ tướng. Sự chênh lệch mức lương nam/nữ
trong công việc toàn thời gian ở Nhật cao thứ ba (chỉ sau Hàn Quốc và Estonia)
trong số 35 nước công nghiệp giàu có. Một nhân viên nữ Nhật thường chỉ được hưởng
73% lương so với nam giới cùng trình độ, trong khi mức trung bình ở các nước
công nghiệp giàu là 85%, ở New Zealand lên tới 94%. Trở ngại công việc đối với
phụ nữ bao gồm: thời gian làm việc dài, kỳ vọng vào sự tương tác giữa nhân viên
sau giờ làm việc, và vấn đề ai sẽ chăm sóc con cái nếu một người mẹ đi làm muốn
tương tác ngoài xã hội sau giờ làm và nếu chồng của cô cũng không rảnh hoặc
không sẵn lòng làm việc đó.
Chăm sóc con cái là một vấn đề nan giải đối với các bà mẹ
công sở Nhật. Trên giấy tờ, luật pháp Nhật quy định phụ nữ được nghỉ thai sản bốn
tuần trước sinh và tám tuần sau sinh; một số đàn ông Nhật cũng được hưởng chế độ
thai sản này; và bộ luật năm 1992 cho phép cha mẹ nghỉ hẳn một năm không lương
để chăm con nếu họ muốn. Trên thực tế, hầu hết các ông bố bà mẹ Nhật Bản không
lấy phép mà họ được hưởng. Thay vào đó, 70% lao động nữ giới Nhật Bản rời bỏ
công sở ngay khi sinh đứa con đầu tiên và đa số không quay trở lại làm việc
trong nhiều năm, thậm chí nghỉ hẳn. Trong khi trên danh nghĩa, việc ép buộc một
bà mẹ nghỉ việc là bất hợp pháp, nhưng các bà mẹ Nhật vẫn chịu áp lực này. Chăm
sóc trẻ nhỏ là bắt buộc đối với các bà mẹ lao động Nhật bởi họ thiếu phụ nữ nhập
cư để thuê chăm sóc trẻ tại nhà (xem đoạn sau), và bởi có rất ít trung tâm chăm
sóc trẻ nhỏ thuộc nhà nước hoặc tư nhân, khác với tình trạng ở Mỹ và
Scandinavia. Mặt khác, quan điểm chung của người Nhật là một bà mẹ phải ở nhà,
tự chăm sóc con nhỏ và không làm việc.
Kết quả là tình thế tiến thoái lưỡng nan đối với phụ nữ Nhật
Bản ở công sở. Một mặt, hầu hết phụ nữ Nhật đều muốn làm việc, và họ cũng muốn
có con, muốn dành thời gian cho con. Mặt khác, các công ty Nhật đầu tư lớn vào
đào tạo nhân viên, tuyển dụng vị trí lâu dài, đổi lại họ cũng kỳ vọng người
nhân viên đó sẽ gắn bó dài lâu và giữ vững công việc suốt đời. Các công ty
không muốn thuê và đào tạo phụ nữ, bởi vì họ dễ bỏ việc khi có con, không muốn
làm việc toàn thời gian, và có thể không trở lại sau khi sinh con. Vì lý do đó
phụ nữ có xu hướng không được tuyển dụng, và có xu hướng không nhận việc khi
trúng tuyển các công việc cấp cao trong doanh nghiệp Nhật Bản.
Thủ tướng đương nhiệm Nhật Bản, Shinzo Abe là một người bảo
thủ, trước đây vốn không bày tỏ sự quan tâm đến những vấn đề nữ giới. Tuy
nhiên, gần đây ông đã đi ngược lại đường lối, và tuyên bố muốn tìm giải pháp
giúp các bà mẹ trở lại công sở – nhiều người nghi ngại điều đó, không phải vì
ông đột nhiên tỏ ra quan tâm đến phụ nữ, mà bởi sự sụt giảm dân số Nhật dẫn đến
việc thu hẹp lực lượng lao động (sẽ nói thêm ở phần sau). Một nửa dân số Nhật
nói chung, và sinh viên tốt nghiệp nói riêng là phụ nữ. Abe đề xuất rằng các bà
mẹ có công ăn việc làm có thể nghỉ thai sản ba năm với điều kiện họ sẽ quay trở
lại, đồng thời chính phủ mở rộng thêm các trung tâm công cộng chăm sóc trẻ em
và các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ tài chính khi thuê lao động nữ. Nhưng rất
nhiều phụ nữ Nhật, trong đó có cả một số bạn bè đã tốt nghiệp đại học của tôi từng
làm việc tại nước ngoài, đã phản đối đề xuất của Abe. Họ nghi ngờ rằng đó lại
là một âm mưu khác của chính phủ để giữ chân phụ nữ ở nhà!
Phần tiếp theo trong chuỗi các vấn đề dân số chính là tỉ lệ
sinh thấp và có chiều hướng giảm. Người Nhật hiểu rõ sự nghiêm trọng của vấn đề,
nhưng họ không có cách giải quyết.
Tỉ lệ sinh thấp và giảm đang chiếm ưu thế ở các nước thuộc Thế
giới Thứ nhất. Nhưng Nhật Bản có tỉ lệ sinh thấp nhất thế giới: trên 1.000 người
mỗi năm thì chỉ có 7 trẻ sơ sinh ra đời, trong khi ở Mỹ là 13, trung bình trên
thế giới là 19, và ở các nước châu Phi là trên 40. Hơn nữa, tỉ lệ sinh thấp này
ở Nhật Bản vẫn đang giảm. Nếu trong những năm gần đây, sự giảm sút này được suy
đoán là thường niên, thì có lẽ đến năm 2917, tỉ lệ sinh của Nhật Bản sẽ chạm mốc
0, nghĩa là sẽ không có trẻ sơ sinh nào ở Nhật! Tất nhiên, tình hình không tệ đến
mức đó, nhưng thật sự là tỉ lệ sinh vốn rất thấp của Nhật vẫn đang có dấu hiệu
giảm sút.
Có một cách khác thể hiện tỉ lệ sinh được gọi là tổng tỉ suất
sinh: nghĩa là, tổng số trẻ được sinh ra từ một người phụ nữ trung bình trong
toàn bộ cuộc đời. Đối với toàn thế giới, con số trung bình là 2,5 trẻ; đối với
các nước thuộc Thế giới Thứ nhất với nền kinh thế lớn nhất thì con số dao động
từ 1,3 đến 2,0 trẻ (ở Mỹ là 1,9). Tỉ suất sinh này ở Nhật chỉ đạt 1,27 trẻ, thuộc
hạng thấp nhất của biểu đồ; Hàn Quốc và Ba Lan là một trong số ít các quốc gia
có tỉ suất sinh thấp hơn. Nhưng số trẻ trung bình mà một người phụ nữ phải sinh
để duy trì sự ổn định của dân số – hay còn gọi là tỉ lệ thay thế – phải cao hơn
2,0 một chút. Nhật Bản cùng một số quốc gia thuộc Thế giới Thứ nhất có tỉ suất
sinh thấp hơn tỉ lệ thay thế này. Đối với các quốc gia thuộc Thế giới Thứ nhất
khác, đó không phải là vấn đề bởi lẽ nhập cư giữ cho quy mô dân số không đổi hoặc
thậm chí tăng lên dù giảm sinh. Tuy nhiên, việc nhập cư ở Nhật gần như vắng
bóng, nghĩa là dân số Nhật thực sự đang giảm như chúng ta đề cập.
Một phần lý do của việc giảm tỉ lệ sinh ở Nhật chính là độ tuổi
kết hôn lần đầu của họ đã tăng lên: hiện nay là xấp xỉ 30 ở cả nam và nữ. Điều
đó có nghĩa là phụ nữ có ít năm trước thời kỳ mãn kinh hơn để thụ thai. Một lý
do lớn khác nữa chính là tỉ lệ kết hôn (số lượng kết hôn trên 1.000 người trên
một năm) đang giảm nhanh ở Nhật Bản. Bạn có thể bác bỏ rằng, ở nhiều nước phát
triển khác tỉ lệ kết hôn cũng giảm nhưng không gây ra sụt giảm nghiêm trọng đối
với tỉ lệ sinh như Nhật Bản đang phải đối mặt, vì họ có rất nhiều những ca sinh
nở không mong muốn: 40% ở Mỹ, 50% ở Pháp và 66% ở Iceland. Nhưng yếu tố này
không áp dụng cho Nhật Bản, nơi tỉ lệ các ca sinh nở không mong muốn chỉ chiếm
2%.
Tại sao người Nhật ngày càng tránh kết hôn và sinh con? Khi
được khảo sát về vấn đề này, người Nhật đưa ra một số lý do. Một lý do liên
quan đến kinh tế: sống độc thân và sống cùng cha mẹ thì rẻ hơn và thoải mái hơn
là ra ngoài, kết hôn, phải trả tiền thuê nhà cộng với tiền nuôi con. Nhất là đối
với phụ nữ, kết hôn và làm mẹ có thể là thảm họa kinh tế bởi vì họ sẽ khó kiếm
được hoặc giữ được một công việc. Một lý do khác được đưa ra là tự do của việc
độc thân, một sự cân nhắc đặc biệt đối với phụ nữ, những người không muốn rơi
vào cảnh gánh vác trách nhiệm chăm sóc nhà cửa, chồng con, cha mẹ mình và cha mẹ
chồng. Còn một lý do nữa, đó là nhiều thanh niên nam nữ Nhật trong tương quan tỉ
lệ, coi rằng một cuộc sống trọn vẹn “không cần thiết” phải kết hôn.
Bất chấp những lập luận phản đối đó, 70% nam giới và nữ giới
Nhật chưa kết hôn vẫn bày tỏ rằng họ muốn được lập gia đình. Vậy thì tại sao họ
vẫn chưa tìm thấy bạn đời phù hợp? Theo truyền thống thì điều này không đòi hỏi
họ phải nỗ lực, bởi vì kết hôn ở Nhật được sắp xếp bởi những người mai mối (gọi
là nakoudo), họ lên lịch cho các cuộc phỏng vấn chính thức để những người trẻ độc
thân có thể gặp gỡ bạn đời tiềm năng của mình. Kể từ năm 1960 đến nay, đây vẫn
là hình thức hôn nhân chiếm ưu thế ở Nhật Bản. Nhưng rồi số người làm nakoudo
giảm dần, và tư tưởng phương Tây về hôn nhân lãng mạn tăng lên đã khiến cho các
cuộc hôn nhân do mai mối giảm xuống chỉ còn chiếm 5% trên tổng số cuộc hôn
nhân. Nhưng nhiều người trẻ hiện đại Nhật Bản quá bận rộn với công việc, quá
thiếu kinh nghiệm hẹn hò hoặc quá vụng về để phát triển một mối quan hệ lãng mạn.
Đặc biệt, việc giảm sút các cuộc hôn nhân sắp đặt ở Nhật
trong vài thập niên gần đây trùng khớp với sự gia tăng tiếp xúc không gặp mặt bằng
liên lạc qua thư điện tử, tin nhắn, điện thoại di động, và do đó kéo theo sự
suy giảm kỹ năng giao tiếp xã hội. Một trải nghiệm sâu sắc mà tôi từng chứng kiến
là một người bạn Nhật Bản, trong khi dùng bữa ở nhà hàng đã bị ấn tượng bởi một
cặp đôi trẻ ăn mặc đẹp, ngồi đối diện nhau ở bàn bên với thái độ lúng túng và
im lặng. Cả hai đều cúi đầu và nhìn xuống đầu gối thay vì nhìn nhau. Bạn tôi để
ý rằng mỗi người họ đều cầm một chiếc điện thoại để trên đùi và nhắn tin cho
nhau. Cuối cùng, người bạn của tôi hiểu ra rằng chàng trai và cô gái nọ cảm thấy
quá vụng về để nói chuyện trực tiếp với nhau, cho nên họ phải nhắn tin qua lại
giữa cái bàn. Đó không phải là cách tốt để phát triển và hoàn thiện một mối
quan hệ lãng mạn! Dĩ nhiên giới trẻ Mỹ cũng nghiện giao tiếp điện tử, nhưng họ
(không giống người Nhật đương đại) là những người kế thừa truyền thống hẹn hò.
Tỉ lệ sinh và tỉ lệ kết hôn thấp vẫn đang giảm là nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến hai vấn đề lớn tồn đọng được công nhận rộng rãi ở Nhật Bản:
dân số giảm và dân số già.
Vì tỉ lệ sinh của Nhật Bản trong nhiều năm đã ở dưới mức tỉ lệ
thay thế, nên rõ ràng dân số Nhật Bản cuối cùng sẽ ngừng tăng và bắt đầu giảm.
Tuy nhiên, thật sốc khi các số liệu thống kê dân số xác nhận rằng thời điểm
đáng sợ đó đã thực sự đến. Sau cuộc điều tra dân số thực hiện năm năm một lần,
vào năm 2010 đã cho thấy có 128.057.352 người và năm 2015 là 127.100.000 người,
tức dân số giảm gần một triệu người. Từ xu hướng hiện tại và phân bố tuổi của
dân số Nhật Bản, người ta tính đến năm 2060, dân số nước này sẽ giảm 40 triệu
và chỉ còn 80 triệu người.
Hậu quả của sự giảm sút và dịch chuyển dân số từ nông thôn
sang thành thị ở Nhật đã bộc lộ rõ. Nhật Bản đang đóng cửa khoảng 500 trường học
mỗi năm. Dân số giảm ở nông thôn khiến cho làng mạc và những thị trấn nhỏ bị bỏ
hoang. Người ta lo sợ rằng, với dân số không tăng để làm động lực thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế thì một Nhật Bản thưa dân sẽ trở nên nghèo hơn và yếu hơn trên
trường thế giới. Vào năm 1948, Nhật Bản là quốc gia đông dân thứ năm thế giới,
đến năm 2007 họ đã tụt xuống hàng thứ 10, sau Negeria và Banladesh; dự đoán
trong vài thập niên tới Nhật sẽ còn tụt hạng so với những nước không phải là cường
quốc như Congo hay Ethiopia. Điều đó bị coi là nhục nhã, với giả định ngầm rằng
một đất nước ít dân hơn Congo sẽ yếu hơn và ít quan trọng hơn Congo.
Vì vậy, năm 2015, Thủ tướng Abe tuyên bố mục tiêu của chính
phủ là duy trì dân số Nhật ít nhất ở mốc 100 triệu, bằng cách tăng tổng tỉ lệ
sinh trung bình từ 1,4 lên 1,8 trẻ trên mỗi phụ nữ. Nhưng việc tăng sinh phụ
thuộc vào lựa chọn của giới trẻ Nhật Bản hơn là Abe. Tôi từng bàn luận về những
nguyên do khiến giới trẻ Nhật, bất chấp việc họ nghĩ rằng Nhật Bản sẽ là quốc
gia tốt hơn nếu có nhiều em bé hơn, lại đang chọn không sinh con.
Suy giảm dân số có thực sự là một “thách thức” với Nhật Bản?
Nhiều quốc gia có số dân nhỏ hơn Nhật nhưng vẫn giàu có và đóng vai trò quan trọng
trên trường quốc tế, như Úc, Phần Lan, Israel, Hà Lan, Singapore, Thụy Điển và
Thụy Sĩ. Tất nhiên những nước đó không phải là lãnh đạo quân sự thế giới, nhưng
Nhật Bản cũng chẳng có vai trò ấy do hiến pháp và chủ nghĩa hòa bình rộng khắp
của họ. Tôi cho rằng Nhật Bản sẽ không tệ đi mà thay vào đó còn tốt hơn nhiều với
số dân nhỏ hơn, bởi vì nhu cầu đối với những tài nguyên nội địa và nhập khẩu sẽ
ít hơn. Chúng ta sẽ thấy rằng áp lực tài nguyên từng là một trong những tai
ương của lịch sử Nhật Bản hiện đại, nó vẫn còn cho tới hôm nay, và chính người
Nhật nghĩ rằng đất nước của họ thiếu hụt tài nguyên. Do vậy tôi tin sự suy giảm
dân số không phải là vấn đề mà là một trong những ưu thế của họ.
Dù quan tâm đến sự suy giảm dân số, nhưng người Nhật phải thừa
nhận rằng dân số già mới là vấn đề nghiêm trọng hơn. Nhật Bản đã là quốc gia có
tuổi thọ cao nhất thế giới (84 tuổi, so với 77 ở Mỹ, và chỉ 40-45 ở một số quốc
gia châu Phi), và có tỉ lệ người già cao nhất. Ngay lúc này, 23% dân số Nhật có
tuổi thọ trên 65, và 6% trên 80. Đến năm 2050, ước đoán những con số này sẽ đạt
tương ứng 40% và 16%. (Con số tương quan ở Mali, quốc gia châu Phi là 3% và
0,1%.) Đến khi đó, người già trên 80 tuổi ở Nhật sẽ đông hơn trẻ em dưới 14 tuổi,
và người già trên 65 tuổi sẽ đông hơn gấp ba lần số trẻ em này.
Bạn lưu ý rằng, cá nhân tôi không có gì chống đối những người
ở độ tuổi 80. (Như thế thì khác gì tự căm ghét mình, vì tôi bây giờ đã 82 rồi.)
Nhưng như vậy có quá nhiều phúc lợi, và điều đó đúng với người già. Một số lượng
lớn người già tạo ra gánh nặng đối với hệ thống y tế quốc gia, bởi người già có
nhiều bệnh hơn so với người trẻ: đặc biệt là bệnh mạn tính, không thể chữa khỏi,
khó chữa, hoặc chi phí điều trị đắt đỏ như bệnh tim mạch và mất trí nhớ. Khi phần
trăm dân số trên 65 tuổi tăng lên, thì tỉ lệ phần trăm dân số nghỉ hưu cũng
tăng, và tỉ lệ phần trăm lao động giảm. Điều đó có nghĩa là lao động trẻ không
đủ làm nguồn lực chủ yếu bù đắp cho số lượng hưu trí tăng lên: bằng cách hỗ trợ
trực tiếp tài chính và chăm sóc trong gia đình, hoặc hỗ trợ gián tiếp bằng quỹ
lương hưu của chính phủ và hệ thống y tế mà lao động trẻ phải đóng thuế vào đó.
Tỉ lệ người lao động trên người nghỉ hưu ở Nhật đã giảm một cách khủng khiếp:
năm 1965 là 9 lao động trên một hưu trí, nay là 2,4 và ước tính đến năm 2050 chỉ
còn 1,3.
Nhưng bạn có thể phản đối rằng Nhật Bản không phải là quốc
gia duy nhất có tỉ lệ sinh giảm, có dân số già, cùng gia tăng gánh nặng lên quỹ
lương hưu và hệ thống an sinh xã hội. Những vấn đề tương tự cũng đang xảy ra
trên khắp thế giới phát triển; Nhật Bản chỉ là đang đối mặt với những thách thức
này ở mức độ căng thẳng hơn. Mỹ cũng quan ngại về việc hệ thống an sinh xã hội
suy giảm trong tương lai. Tất cả các quốc gia châu Âu cũng có tỉ lệ sinh thấp
hơn giá trị thay thế, hai trong số các nước này thậm chí còn có tỉ lệ sinh thấp
hơn của Nhật Bản. Nhưng Mỹ và châu Âu không lo ngại về các vấn đề này như Nhật,
bởi họ không bị mắc kẹt trong việc suy giảm dân số và dân số ngày càng già đi một
cách khủng khiếp như ở Nhật. Tại sao không? Bằng cách nào họ đã thoát khỏi những
cái bẫy này?
Câu trả lời liên quan đến vấn đề đầu tiên trong ba vấn đề nổi
cộm ở Nhật nhưng không được họ thừa nhận rộng rãi, như tôi đã đề cập. Đó chính
là việc Nhật Bản thiếu vắng nguồn nhập cư.
Nhật Bản, như họ vẫn tự hào, là sắc dân thuần chủng hay quốc
gia đông đúc đồng nhất hàng đầu thế giới. Họ không chào đón người nhập cư, và
càng khó khăn hơn nữa cho ai đã vào Nhật và muốn nhập quốc tịch. Tỉ lệ phần
trăm dân nhập cư và con cái người nhập cư chiếm 28% tổng dân số ở Úc, 21% ở
Canada, 16% ở Thụy Điển, và 14% ở Mỹ, nhưng ở Nhật chỉ là 1,9%.
Trong số người tị nạn đang xin cư trú, Thụy Điển chấp nhận
92%, Đức 70%, Canada 48% nhưng Nhật chỉ chấp nhận 0,2%. (Chẳng hạn, Nhật chỉ chấp
nhận 6 và 11 người tị nạn trong các năm 2013 và 2014.) Lao động nước ngoài chiếm
15% lực lượng lao động tại Mỹ và 9% tại Đức, nhưng chỉ chiếm 1,3% tại Nhật. Hiện
nay Nhật Bản chấp nhận lao động nước ngoài tạm thời (được gọi là lao động
khách) có visa từ một đến ba năm nhờ vào trình độ kỹ thuật cao của họ (như thợ
đóng tàu hay công nhân xây dựng cho thế vận hội Olympic Tokyo 2020). Song những
lao động ngoại quốc này rất khó để lấy được thẻ cư trú dài hạn hoặc quốc tịch
Nhật Bản.
Cuộc di dân đáng kể duy nhất đến Nhật Bản thời hiện đại là cuộc
di dân của vài triệu người Triều Tiên trước Thế chiến II, khi Triều Tiên còn là
thuộc địa của Nhật Bản. Tuy nhiên, phần lớn người Triều Tiên này nhập cư không
tự nguyện hoặc được nhập khẩu làm nô lệ lao động. Chẳng hạn, người ta ít biết rằng
10% số nạn nhân bị chết ở Hiroshima bởi quả bom nguyên tử đầu tiên là người lao
động Triều Tiên làm việc tại đây.
Một vài bộ trưởng Nhật Bản gần đây kêu gọi nhập cư nhiều hơn.
Như ông Shigeru Ishiba, bộ trưởng phụ trách các vấn đề địa phương, nói rằng,
“Xưa kia, người Nhật di cư đến nam và bắc Mỹ đã hòa nhập được với dân chúng địa
phương đồng thời vẫn duy trì niềm tự hào là người Nhật… Thật vô lý khi từ chối
người nước ngoài đến Nhật Bản trong khi người dân của chúng ta làm điều tương tự
ở nước ngoài.” Chẳng hạn, Peru đã có một tổng thống người Nhật,10 trong
khi Mỹ có các thượng nghị sĩ, thành viên Quốc hội và hiệu trưởng trường đại học
là người Nhật. Nhưng chính phủ Nhật hiện vẫn không xem xét lại chính sách phản
đối nhập cư.
Sự phản đối của chính phủ Nhật Bản phản ánh quan điểm tiêu cực
về nhập cư mà công dân Nhật thể hiện qua nhiều cuộc thăm dò dư luận, trong đó
thái độ của người Nhật tỏ ra khác biệt so với những nước giàu có khác. Tỉ lệ
người Nhật phản đối tăng lượng người nhập cư là 63%, 72% cho rằng nhập cư làm
tăng tỉ lệ tội phạm, 80% cho rằng người nhập cư không đem lại sự cải tiến xã hội
bằng ý tưởng mới, khác với 57-75% người Mỹ, Canada và Úc tin rằng người nhập cư
sẽ cải thiện xã hội. Trái lại, rất ít người Nhật (chỉ 0,5%) coi nhập cư là vấn
đề nghiêm trọng mà quốc gia đang đối mặt, trong khi con số này ở người Mỹ,
Pháp, Thụy Điển và Anh lên tới 15%.
Xin nói rõ: tôi không cho rằng sự phản đối nhập cư của người
Nhật là “sai lầm” và cần thay đổi. Ở mọi quốc gia, nhập cư tạo ra khó khăn đồng
thời mang lại lợi ích. Đây là vấn đề để mỗi quốc gia cân nhắc những lợi ích và
những khó khăn, để đi đến chính sách nhập cư của riêng họ. Không có gì ngạc
nhiên khi Nhật Bản, một quốc gia đồng nhất về dân tộc có lịch sử cô lập lâu dài
và không có người nhập cư, rất coi trọng tính đồng nhất dân tộc của họ, trong
khi Mỹ, một quốc gia đa chủng tộc với đa số công dân người nhập cư thì không
coi sự đồng nhất dân tộc là giá trị. Thay vào đó, thách thức nan giải của Nhật
Bản là họ phải chịu đựng những vấn đề được thừa nhận rộng rãi mà các quốc gia
khác giảm thiểu bằng cách nhập cư, nhưng Nhật Bản thì không tìm ra cách giải
quyết nào mà không cần phải nhập cư.
Vấn đề lớn nhất là vấn đề liên quan được thảo luận ở trên về
tỉ lệ sinh giảm, dân số già và gánh nặng kinh tế do ngày càng ít người lao động
trẻ khỏe nộp thuế để hỗ trợ cho quỹ hưu và chi phí chăm sóc y tế cho người hưu
trí ngày càng tăng đồng thời các vấn đề sức khỏe liên quan đến tuổi già cũng
tăng. Tuy Mỹ, Canada, Úc và Tây Âu cũng phải đương đầu với tỉ lệ sinh giảm và
già hóa dân số bản địa như Nhật nhưng những quốc gia này giảm thiểu hệ quả bằng
cách đón nhận số lượng lớn lao động nhập cư trẻ tuổi. Nhật Bản không thể bù đắp
lực lượng lao động đang suy giảm bằng cách thuê các bà mẹ học thức không có việc
làm, vì ở Nhật khó lòng có một lượng lớn phụ nữ nhập cư được thuê làm nhân viên
chăm sóc trẻ em tư nhân bởi rất nhiều bà mẹ làm việc như ở Mỹ. Ở Nhật cũng
không tồn tại một lượng lớn đàn ông và phụ nữ nhập cư làm công việc chăm sóc
người già, làm điều dưỡng và nhân viên bệnh viện như ở Mỹ.(Tôi viết những dòng
này trong khi đang hồi phục sau một trải nghiệm kinh hoàng về cái chết của một
người thân Nhật mắc bệnh nan y, gia đình bà được ủy thác lo ăn uống và giặt giũ
cho bà khi bà nằm viện.)
Mặc dù sự đổi mới diễn ra rất mạnh mẽ ở Nhật, bằng chứng là số
lượng lớn bằng sáng chế được trao cho các nhà phát minh Nhật, tuy nhiên người
Nhật vẫn lo lắng vì họ có ít những sáng tạo đột phá so với những gì mà người ta
mong đợi ở sự đầu tư lớn của nước này vào nghiên cứu và phát triển. Điều này được
phản ánh bằng số lượng giải Nobel khiêm tốn mà các nhà khoa học Nhật Bản được
trao tặng. Hầu hết những nhà khoa học Mỹ nhận giải Nobel là thế hệ nhập cư đầu
tiên hoặc là con cái của thế hệ này. Nhưng trong số các nhà khoa học Nhật Bản
cũng như trong xã hội Nhật Bản nói chung rất hiếm có người nhập cư và con cái của
họ. Mối tương quan giữa nhập cư và giải Nobel này thật dễ hiểu khi nó cho thấy
sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro và thử nghiệm một điều gì thực sự mới mẻ chính là
điều kiện tiên quyết cho cả việc di cư và đổi mới ở cấp độ cao nhất.
Về ngắn hạn, Nhật Bản không sẵn sàng giải quyết các vấn đề
này bằng nhập cư. Về lâu dài, không thể biết liệu người Nhật có tiếp tục chịu đựng
những vấn đề này không, hay thay vào đó họ chọn giải quyết bằng cách thay đổi
chính sách nhập cư, hoặc sẽ tìm ra giải pháp nào đó khác ngoài nhập cư. Nếu Nhật
Bản quyết định đánh giá lại vấn đề nhập cư, thì chính sách của Canada có thể là
mô hình hợp lý, trong đó chú trọng đánh giá người nộp đơn dựa trên cơ sở giá trị
tiềm năng mà người đó mang đến cho Canada.
Vấn đề tiếp theo mà Nhật Bản lờ đi, sau vấn đề nhập cư, chính
là hệ quả của thái độ của Nhật trong thời chiến đối với các nước Trung Quốc và
Triều Tiên đang ảnh hưởng tới mối quan hệ ngày nay giữa họ. Trước và trong Thế
chiến II, Nhật Bản từng làm những điều khủng khiếp đối với dân chúng ở các nước
châu Á khác, nhất là Trung Quốc và Triều Tiên. Rất lâu trước khi Nhật chính thức
tuyên bố chiến tranh vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật đã tiến hành một cuộc
chiến toàn diện không công khai đối với Trung Quốc kể từ năm 1937. Trong cuộc
chiến đó, quân đội Nhật đã giết chết hàng triệu người Trung Quốc, có hàng trăm
nghìn thường dân đã phải bỏ mạng ở Nam Kinh từ tháng 12 năm 1937 đến tháng 1
năm 1938, và nhiều người khác bị giết để trả thù cho cuộc không kích Doolittle
xảy ra hồi tháng 4 năm 1942. Mặc dù ngày nay Nhật ra sức phủ nhận những cuộc thảm
sát này, nhưng có nhiều tài liệu đã được dẫn ra. (Bạn có thể xem hơn 400 bức
hình trong tập sách của Shi Young và James Yin có tên The Rape of Nanking: An
Undeniable History in Photographs [Tội ác Nam Kinh: Lịch sử không thể bác bỏ
qua những bức ảnh], xuất bản năm 1999.) Nhật Bản thôn tính Triều Tiên vào năm
1910, bắt buộc trường học Triều Tiên sử dụng tiếng Nhật thay vì tiếng Hàn trong
35 năm Nhật chiếm đóng, cưỡng ép rất nhiều phụ nữ Triều Tiên và phụ nữ mang quốc
tịch khác trở thành nô lệ tình dục trong các nhà thổ cho lính Nhật, và buộc vô
số đàn ông Triều Tiên lao dịch không khác gì nô lệ cho quân đội Nhật.
Kết quả là làn sóng căm thù Nhật Bản lan rộng khắp Trung Quốc
và Triều Tiên ngày nay. Theo quan điểm của người Trung Quốc và Triều Tiên, Nhật
Bản không thừa nhận một cách thẳng thắn, không xin lỗi hoặc bày tỏ ân hận đối với
sự tàn bạo mà họ gây ra trong thời chiến. Dân số Trung Quốc đông gấp 11 lần Nhật
Bản, trong khi dân số của cả Triều Tiên và Hàn Quốc nhỉnh hơn nửa dân số Nhật.
Cả Trung Quốc và Triều Tiên đều có vũ khí hạt nhân. Trung Quốc, Triều Tiên và
Hàn Quốc đều có quân đội hùng mạnh, được trang bị tốt, trong khi lực lượng vũ
trang Nhật Bản vẫn rất mỏng vì hiến pháp Nhật bị Mỹ áp đặt, cộng với ngày nay,
chủ nghĩa hòa bình lan rộng tại Nhật Bản. Bắc Triều Tiên thỉnh thoảng lại phóng
tên lửa qua Nhật để chứng tỏ khả năng tiếp cận nước này. Nhật Bản lại còn đang
vướng mắc tranh chấp với Trung Quốc và Hàn Quốc về những hòn đảo nhỏ không có
người ở, không có giá trị nội tại nhưng quan trọng vì tài nguyên cá, khí đốt và
khoáng sản trong mỗi vùng biển đảo. Tôi cho rằng về lâu dài, sự kết hợp của những
thực tế này là mối nguy khôn lường cho Nhật Bản.
Dưới góc nhìn của người châu Á về quan điểm của Nhật Bản đối
với Thế chiến II, Lý Quang Diệu, một nhà quan sát sắc sảo, thủ tướng Singapore
trong nhiều thập niên, đã trở nên quen thuộc với Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc
và các nhà lãnh đạo của họ, nhận xét: “Không như Đức, người Nhật đã không tự phấn
chấn và tự loại bỏ chất độc ra khỏi hệ thống của họ. Họ không giáo dục giới trẻ
về sai lầm mà họ đã làm. Hashimoto [một thủ tướng Nhật Bản] đã bày tỏ ‘sự hối
tiếc sâu sắc nhất’ trong lễ kỷ niệm 52 năm kết thúc Thế chiến II (1997) và ‘sự
ân hận tự đáy lòng’ trong chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 9 năm 1997. Tuy nhiên,
ông không xin lỗi, như người Trung Quốc và Hàn Quốc mong muốn nhà lãnh đạo Nhật
Bản làm. Tôi không hiểu tại sao người Nhật không sẵn lòng thừa nhận quá khứ,
xin lỗi về nó và tiếp tục tiến lên. Vì một số lý do, họ không muốn xin lỗi. Xin
lỗi tức là thừa nhận đã làm sai. Nhưng bày tỏ sự ân hận hoặc hối tiếc chỉ đơn
thuần là bày tỏ cảm xúc chủ quan hiện tại của họ. Họ phủ nhận vụ thảm sát Nam
Kinh; phủ nhận những người phụ nữ Hàn Quốc, Philippines, Hà Lan và những người
phụ nữ khác đã bị bắt cóc hoặc bị ép buộc trở thành ‘phụ nữ giải khuây’ (một uyển
ngữ của nô lệ tình dục) cho binh lính Nhật Bản ở mặt trận chiến tranh; phủ nhận
đã thực hiện các thí nghiệm sinh học tàn khốc trên các tù nhân Trung Quốc, Hàn
Quốc, Mông Cổ, Nga và các tù nhân khác ở Mãn Châu. Đối với mỗi vụ việc, chỉ sau
khi không thể bác bỏ được bằng chứng từ hồ sơ của chính họ, họ mới miễn cưỡng
thừa nhận. Điều này làm dấy lên những nghi ngờ về ý đồ trong tương lai của Nhật
Bản. Thái độ hiện tại của Nhật Bản là một dấu hiệu cho thấy hành vi trong tương
lai của họ. Nếu họ xấu hổ về quá khứ, họ sẽ ít có khả năng lặp lại nó.”
Hằng năm, các lớp của tôi tại Đại học California ở Los
Angeles bao gồm các sinh viên đến từ Nhật Bản, nói chuyện với tôi về việc học ở
đó và về những trải nghiệm của họ khi đến California. Họ nói với tôi rằng các lớp
học lịch sử của họ ở các trường học Nhật Bản dành ít thời gian cho Thế chiến II
(“bởi vì cuộc chiến đó chỉ kéo dài vài năm trong hàng ngàn năm lịch sử Nhật Bản”),
kể rất ít hoặc không nói gì về vai trò kẻ xâm lược của Nhật Bản, nhấn mạnh vai
trò nạn nhân của Nhật Bản (của hai quả bom nguyên tử đã giết chết 120.000 người
Nhật) thay vì chịu trách nhiệm về cái chết của hàng triệu người khác cộng với
hàng triệu binh sĩ và thường dân Nhật Bản, và đổ lỗi cho Mỹ bằng cách nào đó đã
lừa Nhật Bản để phát động chiến tranh. (Nói một cách công bằng, sách giáo khoa
Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ cũng cho thấy quan điểm bị bóp méo của họ về Thế chiến
II.) Học sinh Nhật Bản của tôi bị sốc khi tham gia các hiệp hội châu Á ở Los
Angeles, gặp gỡ các học sinh Hàn Quốc và Trung Quốc, và lần đầu tiên được nghe
về những hành động thời chiến của Nhật Bản từ những sinh viên đến từ những quốc
gia khác, những hành động vẫn còn khơi dậy sự căm thù Nhật Bản.
Tuy nhiên, một số sinh viên Nhật Bản của tôi và nhiều người
Nhật Bản khác đã chỉ ra rất nhiều lời xin lỗi của các chính trị gia Nhật Bản,
và hỏi “Nhật Bản đã xin lỗi đủ chưa?” Một câu trả lời ngắn gọn là: chưa, bởi vì
những lời xin lỗi nghe có vẻ lạc lõng, thiếu thuyết phục và lập lờ với những
tuyên bố giảm thiểu hoặc chối bỏ trách nhiệm của Nhật Bản. Một câu trả lời dài
hơn là so sánh cách tiếp cận đối nghịch giữa Nhật Bản và Đức đối với các di sản
lịch sử gần đây của họ và hỏi tại sao cách tiếp cận của Đức lại thuyết phục được
kẻ thù trước đây trong khi cách tiếp cận của Nhật Bản không thuyết phục được nạn
nhân chính là Trung Quốc và Triều Tiên. Chương 6 đã mô tả nhiều cách thức mà
các nhà lãnh đạo Đức bày tỏ sự hối tiếc và trách nhiệm, và trong đó các học
sinh Đức được dạy để đối mặt với những gì đất nước họ đã làm. Người Trung Quốc
và Hàn Quốc có thể bị thuyết phục về sự chân thành của Nhật Bản nếu họ dùng những
câu trả lời tương tự như người Đức: chẳng hạn, nếu thủ tướng Nhật đến Nam Kinh,
quỳ gối trước nhân dân Trung Quốc và xin lỗi vì những cuộc thảm sát mà Nhật đã
gây ra ở Nam Kinh thời chiến tranh; nếu trên khắp Nhật Bản có các bảo tàng, di
tích và trại tù binh cũ với hình ảnh và lời giải thích chi tiết về sự tàn bạo của
thời chiến; nếu học sinh Nhật Bản thường xuyên được đưa đi học ở những địa điểm
như vậy ở Nhật Bản và đến các địa điểm bên ngoài Nhật Bản như Nam Kinh,
Sandakan, Bataan và Saipan; và nếu Nhật Bản nỗ lực nhiều hơn để mô tả các nạn
nhân của họ trong thời chiến thay vì mô tả các nạn nhân người Nhật trong chiến
tranh. Tất cả những hành động này không tồn tại và không thể tưởng tượng được ở
Nhật Bản, nhưng chúng lại được thực hiện rộng rãi ở Đức. Trước khi được tiến
hành tại Nhật Bản, người Trung Quốc và Triều Tiên vẫn sẽ tiếp tục không tin lời
xin lỗi theo kịch bản của Nhật Bản và căm ghét Nhật Bản. Và chừng nào Trung Quốc
và Triều Tiên được trang bị vũ khí trong khi Nhật Bản vẫn không có phương tiện
để tự vệ, thì một mối nguy lớn vẫn sẽ tiếp tục treo trên đầu Nhật Bản.
Để tồn tại, tất cả các dân tộc đều phụ thuộc vào tài nguyên
thiên nhiên tái tạo, bao gồm cây cối, cá, lớp đất mặt, nước sạch và không khí sạch.
Tất cả những tài nguyên đó đặt ra nhiều vấn đề về quản lý mà các nhà khoa học
đã có quá nhiều kinh nghiệm. Nếu các khu rừng và nghề đánh bắt cá trên thế giới
được quản lý một cách tốt nhất theo khuyến nghị, thì ta có thể thu hoạch lâm sản
và thủy sản lâu dài, với số lượng đủ để đáp ứng nhu cầu của dân số thế giới hiện
tại. Đáng buồn thay, việc thu hoạch thực tế vẫn mang tính phá hủy và không bền
vững. Hầu hết các khu rừng trên thế giới đang bị thu hẹp và hầu hết nghề đánh bắt
cá đang suy giảm hoặc đã sụp đổ. Nhưng không quốc gia nào có thể tự túc mọi nguồn
tài nguyên thiên nhiên; tất cả các nước phải nhập khẩu ít nhất một số tài
nguyên. Do đó ở hầu hết các quốc gia đều có các cơ quan chính phủ, chi nhánh của
các tổ chức môi trường quốc tế (như Quỹ Động vật hoang dã Thế giới và Bảo tồn
Quốc tế) và các tổ chức môi trường địa phương đang nỗ lực để giải quyết những vấn
đề này.
Những thách thức này đặc biệt nghiêm trọng đối với Nhật Bản.
Trước năm 1853, khi Nhật Bản đóng cửa với thế giới bên ngoài và nhập khẩu không
đáng kể, thì họ vẫn tự cung tự cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên. Buộc phải phụ
thuộc vào các khu rừng của chính mình và bị báo động bởi sự suy giảm của chúng
vào những năm 1600, Nhật Bản đã phát triển các phương pháp lâm nghiệp khoa học
độc lập với Đức và Thụy Sĩ, để quản lý các khu rừng của mình. Ngày nay, do sự
bùng nổ dân số của Nhật Bản kể từ năm 1853, mức sống và mức tiêu thụ tăng cao,
dân số đông đúc trong một khu vực nhỏ và cần nguyên liệu thô cần thiết cho nền
kinh tế công nghiệp hiện đại, Nhật Bản đã trở thành một trong những nhà nhập khẩu
tài nguyên thiên nhiên lớn nhất thế giới. Trong số các tài nguyên không tái tạo,
hầu hết mọi nhu cầu của Nhật Bản về dầu, khí đốt tự nhiên, niken, nhôm, nitrat,
kali, và phốt phát, và hầu hết các nhu cầu về sắt, than và đồng đều phải được
nhập khẩu. Trong số các tài nguyên thiên nhiên tái tạo, Nhật Bản được xếp hạng
là nhà nhập khẩu hàng đầu thế giới hoặc thứ hai hoặc thứ ba về hải sản, gỗ
tròn, gỗ dán, gỗ cứng nhiệt đới, vật liệu giấy và bột giấy.
Đó là một danh sách dài các tài nguyên thiết yếu mà Nhật Bản
phụ thuộc vào nhập khẩu. Khi bất kỳ tài nguyên nào trong số này trở nên cạn kiệt
trên toàn thế giới, Nhật Bản sẽ là quốc gia đầu tiên hoặc là một trong những quốc
gia đầu tiên gánh chịu hậu quả. Nhật Bản cũng là quốc gia lớn phụ thuộc nhiều
nhất vào thực phẩm nhập khẩu để nuôi sống công dân. Nhật Bản ngày nay có tỉ lệ
cao nhất (hệ số 20) về nhập khẩu nông sản so với xuất khẩu nông sản giữa các nước
lớn. Hàn Quốc xếp thứ nhì với hệ số 6, trong khi Mỹ, Brazil, Ấn Độ, Úc và khá
nhiều quốc gia lớn khác lại là các nhà xuất khẩu thực phẩm thuần túy.
Do đó, người Nhật có lý do chính đáng để xem đất nước họ
nghèo tài nguyên. Và cũng vì vậy, người ta kỳ vọng rằng Nhật Bản, trong vai trò
quốc gia phát triển với sự phụ thuộc lớn nhất vào nhập khẩu tài nguyên, sẽ được
thúc đẩy bởi lợi ích để trở thành nhà quảng bá hàng đầu thế giới về khai thác
tài nguyên bền vững. Nhất là, Nhật Bản phải sử dụng chính sách hợp lý để đi đầu
trong việc khai thác bền vững các nghề cá và rừng trên thế giới mà Nhật Bản vốn
bị phụ thuộc.
Nghịch lý thay, điều ngược lại đang diễn ra. Là giám đốc của
Quỹ Động vật hoang dã Thế giới ở Mỹ và Tổ chức Bảo tồn Quốc tế, tôi được nghe
nhiều về các chính sách quốc gia về quản lý tài nguyên mà hai tổ chức này giải
quyết. Tôi cũng được nghe rất nhiều về các chính sách của Nhật Bản nói riêng, từ
bạn bè và đồng nghiệp Nhật Bản. Nhật Bản dường như là quốc gia phát triển với sự
hỗ trợ ít nhất và sự phản đối mạnh mẽ nhất đối với các chính sách tài nguyên bền
vững ở nước ngoài. Lượng nhập khẩu lâm sản Nhật Bản có nguồn gốc bất hợp pháp
và không được khai thác bền vững cao hơn nhiều so với các quốc gia thuộc Liên
minh Châu Âu hoặc Mỹ, cho dù tính theo đầu người hoặc tính theo tỉ lệ phần trăm
của tổng nhập khẩu lâm sản. Nhật Bản là quốc gia tiên phong trong việc chống lại
quy định thận trọng trong đánh bắt cá đại dương và cá voi. Sau đây là hai ví dụ.
Ví dụ đầu tiên của tôi liên quan đến cá ngừ vây xanh Đại Tây
Dương và Địa Trung Hải, đặc biệt được đánh giá cao và tiêu thụ ở Nhật Bản dưới
dạng sashimi hoặc sushi. Một con cá ngừ lớn nhập khẩu gần đây được bán ở Nhật Bản
với mức giá hơn 1.000.000 đô la. Những con cá ngừ này đang suy giảm mạnh do bị
đánh bắt quá mức, và điều đó kích thích các nỗ lực bảo tồn nguồn tài nguyên quý
giá này bằng cách đồng ý đánh bắt bền vững và áp dụng hạn ngạch đánh bắt cá. Thật
đáng kinh ngạc, khi nguồn cá ngừ đó được đề xuất trong danh sách bảo vệ quốc tế
năm 2010 (được gọi là danh sách CITES), Nhật Bản lại không phải là quốc gia khởi
xướng. Thay vào đó, Nhật Bản xem việc ngăn chặn thành công đề xuất này là một
chiến thắng ngoại giao.
Ví dụ thứ hai của tôi là Nhật Bản ngày nay là quốc gia săn bắt
cá voi hàng đầu và liên tục nhất. Ủy ban Cá voi Quốc tế xác định hạn ngạch săn
cá voi. Hằng năm, Nhật Bản hợp pháp hóa hạn ngạch đó bằng cách giết một số lượng
lớn cá voi cho mục đích nghiên cứu, sau đó xuất bản ít hoặc không có nghiên cứu
nào về những con cá voi đã chết và thay vào đó là bán chúng để lấy thịt. Tuy
nhiên, nhu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản đối với thịt cá voi là thấp và đang
giảm, và thịt cá voi bị lãng phí thành thức ăn cho chó và phân bón hơn là cho
con người. Duy trì việc săn bắt cá voi là một thiệt hại kinh tế đối với Nhật Bản,
bởi vì ngành đánh bắt cá voi của nước này được chính phủ trợ cấp rất nhiều theo
nhiều cách: trợ cấp trực tiếp cho chính các tàu săn cá voi; chi phí bổ sung cho
nhiều tàu hộ tống và bảo vệ các tàu săn cá voi; và các chi phí tiềm ẩn của cái
gọi là viện trợ nước ngoài trả cho các quốc gia không săn bắt cá voi nhưng là
thành viên của Ủy ban Cá voi Quốc tế, như một khoản hối lộ để đổi lấy phiếu bầu
ủng hộ săn bắt cá voi của họ.
Tại sao Nhật Bản theo đuổi những lập trường này? Những người
bạn Nhật của tôi đã đưa ra ba lời giải thích. Đầu tiên, người dân Nhật Bản trân
trọng hình ảnh sống hòa hợp với thiên nhiên và theo truyền thống họ quản lý rừng
của mình một cách bền vững – nhưng không phải là rừng và cá ở nước ngoài mà hiện
tại họ khai thác. Thứ hai, niềm tự hào dân tộc Nhật Bản không thích cúi đầu trước
áp lực quốc tế. Nhật Bản đặc biệt không muốn bị coi là nhượng bộ trong các chiến
dịch chống săn bắt cá voi của tổ chức Hòa bình Xanh và Sea Shepherd, và trước
áp lực quốc tế trong việc điều tiết ngành săn cá ngừ vây xanh. Người ta có thể
mô tả Nhật Bản là kẻ chống lệnh cấm săn cá voi, chứ không phải là kẻ săn cá
voi. Cuối cùng, nhận thức về tài nguyên nội địa hạn chế của Nhật Bản đã khiến họ
trong 140 năm qua phải duy trì, vì cốt lõi của an ninh quốc gia và vì yếu tố
then chốt trong chính sách đối ngoại của nước này, tuyên bố quyền khai thác
không hạn chế tài nguyên thiên nhiên thế giới. Mặc dù sự khăng khăng đó là một
chính sách khả thi trong quá khứ khi tài nguyên thế giới dư thừa, nhưng khi nguồn
cung vượt quá nhu cầu, chính sách này không còn khả thi trong thời đại ngày nay
bởi nguồn tài nguyên đang suy giảm.
Đối với một người ngoài cuộc ngưỡng mộ Nhật Bản như tôi, sự
phản đối của họ trước việc sử dụng bền vững tài nguyên ở nước ngoài là điều
đáng buồn và tự hủy hoại. Nỗ lực giành lấy các nguồn tài nguyên ở nước ngoài đã
thúc đẩy Nhật Bản thực hiện hành vi tự hủy hoại một lần trước đây, khi họ gây
chiến đồng thời với Trung Quốc, Mỹ, Anh, Úc, New Zealand và Hà Lan. Thất bại
sau đó là không thể tránh khỏi. Bây giờ cũng vậy, thất bại một lần nữa là không
thể tránh khỏi – không phải bởi sự chinh phục quân sự, mà là sự cạn kiệt tài
nguyên thiên nhiên có thể tái tạo và không tái tạo ở nước ngoài. Nếu tôi là nhà
độc tài xấu xa của một quốc gia ghét Nhật Bản và muốn hủy hoại nó mà không cần
phải dùng đến chiến tranh, tôi sẽ làm chính xác những gì Nhật Bản đang làm với
chính mình: tôi sẽ phá hủy các tài nguyên ở nước ngoài mà Nhật Bản phụ thuộc.
Cuối cùng, hãy xem xét tương lai nào dành cho Nhật Bản dưới
ánh sáng của 12 nhân tố dự đoán của chúng ta. Nếu coi đó là một bài tập học thuật
đơn thuần, chúng ta chỉ có thể hỏi liệu với các nhân tố dự đoán như vậy, Nhật Bản
có khả năng thành công trong việc giải quyết các vấn đề hiện tại hay không. Hữu
ích hơn, chúng ta có thể đề xuất phương cách mà người Nhật có thể sử dụng các yếu
tố này để nghĩ ra giải pháp và vượt qua một số trở ngại mà hiện tại họ đang tạo
ra cho chính mình.
Một nguyên nhân cho sự lạc quan là Nhật Bản luôn thành công
trong việc giải quyết các biến cố (nhân tố số 8 trong Bảng 1.2). Hai lần trong
thời hiện đại, Nhật Bản đã cho thấy những câu chuyện thành công nổi bật của quốc
gia về việc đánh giá lại và thay đổi có chọn lọc. Những thay đổi mạnh mẽ nhất
xuất hiện cùng Minh Trị Duy Tân bắt đầu vào năm 1868. Việc hạm đội của Phó đề đốc
Perry bắt buộc Nhật Bản mở cửa vào năm 1853 đã làm dấy lên nỗi ám ảnh rằng Nhật
Bản, giống như rất nhiều quốc gia ngoài châu Âu khác, có thể bị các cường quốc
phương Tây xâm chiếm. Nhật Bản đã tự cứu mình bằng một chương trình thay đổi có
chọn lọc. Họ vứt bỏ sự cô lập quốc tế, vứt bỏ chính phủ do một shogun điều
hành, tầng lớp samurai và hệ thống phong kiến. Họ đã thông qua một hiến pháp, nội
các chính phủ, quân đội quốc gia, công nghiệp hóa, hệ thống ngân hàng kiểu châu
Âu, hệ thống trường học mới, và nhiều quần áo, thực phẩm và âm nhạc phương Tây.
Đồng thời, họ giữ lại hoàng đế, ngôn ngữ, hệ thống chữ viết và hầu hết văn hóa.
Nhật Bản do đó không chỉ giữ được độc lập mà còn trở thành quốc gia ngoài
phương Tây đầu tiên cạnh tranh với phương Tây về sự giàu có và quyền lực. Một lần
nữa, sau Thế chiến II, Nhật Bản đã có những thay đổi có chọn lọc mạnh mẽ hơn, vứt
bỏ truyền thống quân sự và niềm tin vào hoàng đế, họ áp dụng nền dân chủ và hiến
pháp mới, và phát triển hoặc vực dậy nền kinh tế xuất khẩu.
Một nguyên nhân lớn khác cho sự lạc quan là dấu vết lịch sử
cho thấy sự kiên nhẫn và khả năng phục hồi sau thất bại và thua trận (nhân tố số
9) của Nhật Bản, như lời thừa nhận của Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, người
có lời chỉ trích Nhật Bản trong phần trước: “Bất chấp những trải nghiệm của tôi
trong thời kỳ Nhật chiếm đóng và những tính cách Nhật từng khiến tôi sợ hãi, giờ
đây tôi tôn trọng và ngưỡng mộ họ. Sự đoàn kết, kỷ luật, thông minh, cần cù và
sẵn sàng hi sinh vì dân tộc của họ khiến họ trở thành một lực lượng sản xuất mạnh
mẽ. Ý thức được sự nghèo nàn về tài nguyên, họ tiếp tục nỗ lực để đạt được điều
không thể đạt được. Vì giá trị văn hóa của họ, họ sẽ là những người sống sót cô
đơn sau bất kỳ thảm họa nào. Thỉnh thoảng họ bị tấn công bởi các thế lực không
thể đoán trước của thiên nhiên – động đất, bão và sóng thần. Họ thu nhặt thương
vong, tự đứng dậy và xây dựng lại… Tôi đã rất ngạc nhiên thấy cuộc sống trở lại
bình thường ở Kobe khi tôi đến thăm vào tháng 11 năm 1996, một năm rưỡi sau trận
động đất [kinh hoàng]. Họ đã vượt qua thảm họa này trong chốc lát và ổn định nếp
sống mới.”
Các nhân tố khác trong danh sách các ưu thế của Nhật Bản là sự
tự do lựa chọn mà Nhật Bản có được khi là một quần đảo không có hàng xóm chung
biên giới đất liền (nhân tố số 12), được bù đắp bởi sự gần gũi với Trung Quốc
và Hàn Quốc; căn tính quốc gia, niềm tự hào và sự gắn kết mạnh mẽ (nhân tố số
6); sự hỗ trợ thân thiện hoặc ít nhất là sự trung lập nhân từ mà Nhật Bản nhận
được từ nhiều đối tác thương mại khác ngoài Trung Quốc và Hàn Quốc (nhân tố số
4); và các mô hình sẵn có mà các quốc gia khác đưa ra để giải quyết một số vấn
đề chính của Nhật Bản nếu họ chọn sử dụng các mô hình đó (nhân tố số 5: xem đoạn
sau). Ưu thế lớn hơn nữa của Nhật Bản là sức mạnh kinh tế, nhân lực, văn hóa và
môi trường như đã được thảo luận trong những trang đầu tiên của chương này.
Bù lại những ưu thế này là ba yếu tố trong danh sách của tôi.
Tôi đề cập đến chúng không phải để thúc đẩy sự bi quan, mà để tập trung chú ý
vào thái độ mà Nhật Bản sẽ phải thay đổi nếu họ muốn giải quyết các vấn đề hiện
tại. Giá trị cốt lõi truyền thống chính là một trở ngại vì hiện nó đã trở nên
không phù hợp do hoàn cảnh thay đổi (nhân tố số 11): Nhật Bản tiếp tục nỗ lực để
bảo đảm quyền khai thác không hạn chế tài nguyên thiên nhiên như thể chúng là
siêu dư thừa, thay vì nỗ lực hợp tác quốc tế để khai thác chừng mực một cách bền
vững. Một trở ngại khác là câu chuyện của Nhật Bản về Thế chiến II tập trung
vào sự tự thương thân và xem họ là nạn nhân, thay vì chấp nhận trách nhiệm của
Nhật Bản đối với chiến tranh và các hành động của họ (nhân tố số 2). Trong
chính sách quốc gia cũng như trong cuộc sống cá nhân, vấn đề sẽ không thể giải
quyết nếu người ta vẫn phủ nhận trách nhiệm của chính mình. Nhật Bản sẽ phải
noi theo tấm gương của Đức về việc thừa nhận trách nhiệm, nếu Nhật Bản muốn cải
thiện mối quan hệ với Trung Quốc và Triều Tiên.
Trở ngại còn lại, theo tôi, chính là thiếu việc tự đánh giá
trung thực, mang tính thực tế trong một số lĩnh vực chính (nhân tố số 7). Hai
ví dụ chúng ta vừa đề cập liên quan đến nhập khẩu tài nguyên và câu chuyện về
Thế chiến II. Một ví dụ khác là niềm tin sai lệch của Nhật Bản vào sự tối quan
trọng của việc ngăn chặn sự suy giảm dân số. Tuy việc giảm từ 127 triệu xuống
còn 20 triệu người sẽ thực sự gây ra vấn đề, nhưng tôi thấy không có bất lợi
nào trong việc giảm xuống còn 80 triệu, mà thay vào đó là một ưu thế rất lớn: cụ
thể là giảm sự thèm khát của Nhật Bản đối với tài nguyên nhập khẩu, điều đã ám ảnh
lịch sử Nhật Bản hiện đại. Nhật Bản rất hùng mạnh vì có nhiều ưu thế như đã nêu
ở phần đầu của chương này, chứ không phải vì dân số Nhật Bản hiện tại là 127
triệu, bằng Mexico, cao hơn 80 triệu của Đức.
Còn một lĩnh vực cần phải được tự đánh giá là nhập cư. Đó là
phương pháp mà nhiều quốc gia sử dụng để giải quyết các vấn đề vốn được Nhật Bản
coi là nghiêm trọng: đặc biệt, khi tỉ lệ lao động trẻ so với người nghỉ hưu lớn
tuổi đang giảm, chăm sóc trẻ em không có nhiều lựa chọn và không đủ người chăm
sóc cho người già. Một lựa chọn là Nhật Bản nên xem xét nhập cư theo mô hình rất
thành công của Canada, hoặc dựa trên kinh nghiệm của những người di cư Nhật Bản
đến Mỹ và Nam Mỹ. Một lựa chọn thay thế là Nhật Bản tiếp tục nói không với nhập
cư và thay vào đó áp dụng một số thay đổi rõ ràng: ví dụ: mở rộng lực lượng lao
động bản địa Nhật Bản bằng cách loại bỏ những trở ngại khiến phụ nữ không tham
gia lực lượng lao động, và tăng số lượng thị thực có thời hạn được cấp cho nhân
viên nước ngoài để làm việc chăm sóc trẻ em, điều dưỡng và chăm sóc người già.
Không có bí mật nào về những giải pháp khả thi này, mỗi giải pháp đều có những
ưu điểm và nhược điểm riêng. Những gì cần thiết là mạnh mẽ chịu cuộc đại phẫu,
tìm kiếm đồng thuận về một giải pháp và tránh tình trạng tê liệt hiện tại tiếp
diễn.
Làm thế nào Nhật Bản đối diện với những thách thức trong thập
niên tới? Trên thực tế, những vấn đề mà Nhật Bản hiện đang gặp phải ít ghê gớm
hơn những vấn đề mà họ từng đối mặt khi chính sách cô lập lâu dài của họ đột ngột
kết thúc vào năm 1853, hoặc khi Nhật Bản hoàn toàn bại trận vào tháng 8 năm
1945. Nhật Bản từng phục hồi mạnh mẽ sau những chấn thương đó, nên tôi hi vọng
rằng ngày nay, một lần nữa, Nhật Bản có thể đánh giá lại một cách có chọn lọc
các giá trị cốt lõi của mình, loại bỏ những giá trị không còn ý nghĩa, giữ lại
những giá trị vẫn còn ý nghĩa và kết hợp chúng với một số giá trị mới thích ứng
với sự biến động của hoàn cảnh hiện đại.
Jared Diamond
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét