Thứ Năm, 18 tháng 9, 2025

Những tù nhân của địa lý 2

Những tù nhân của địa lý 2

Chương 6 - Trung Đông
“Chúng ta đã phá vỡ hiệp ước Sykes – Picot!” – Chiến binh của nhà nước Hồi Giáo (IS), 2014.
Trung Đông: ở đây là trung (ở giữa) của cái gì; là đông của nơi nào? Bản thân địa danh này đã được đặt ra theo cách nhìn của châu Âu về thế giới, và chính cách nhìn của châu Âu về vùng đất này đã định hình cho nó. Người châu Âu dùng mực vạch vài nét lên bản đỏ: chúng là những đường kẻ không tồn tại trong thực tế và tạo nên những biên giới thuộc loại nhân tạo nhất mà thế giới từng thấy. Ngày nay, đang xuất hiện những nỗ lực nhằm vẽ lại những đường nét đó bằng máu. Một trong những đoạn video quan trọng nhất xuất hiện từ Trung Đông trong năm 2014 nhưng bị lu mờ bởi những thước phim tư liệu về những vụ nổ bom và chặt đầu. Đó là một đoạn clip tuyên truyền khéo léo được thực hiện bởi Nhà nước Hồi giáo (IS), cho thấy một chiếc xe ủi đất đang xóa đi, hay đúng hơn là ủi bay mất đường biên giới lraq-Syria. Biên giới đó chỉ đơn giản là một gờ cát cao. Ủi phẳng gờ cát và biên giới vật lý đó không còn tồn tại nữa, “Đường kẻ” trên bản đồ vẫn tồn tại trong lý thuyết. Vài năm sắp tới sẽ cho chúng ta biết liệu những lời của các chiến binh của Nhà nước Hồi giáo (IS) là tiên trị hay chỉ là trò phách lối: “Chúng ta đang phá hủy các đường biên giới và phá bỏ những rào cản. Tạ ơn Allah.”
Sau Thế chiến I, ở Trung Đông có ít đường biên giới hơn so với hiện nay, và những đường biên nào đã tồn tại thường được xác định chỉ dựa trên địa lý mà thôi. Không gian bên trong được phân chia lỏng lẻo và được cai trị dựa theo địa lý, sắc tộc và tôn giáo, nhưng không có nỗ lực nào nhằm tạo ra các quốc gia dân tộc.
Đại Trung Đông trải dài trên một ngàn dặm, từ tây sang đông, từ biển Địa Trung Hải đến vùng núi của Iran. Từ bắc chí nam, nếu chúng ta bắt đầu tại biển Đen và kết thúc trên bờ biển Ả-rập ngoài khơi Oman, thì dải đất này trải dài hai ngàn dặm. Khu vực này bao gồm những sa mạc rộng lớn, những ốc đảo, những đỉnh núi phủ tuyết, sông ngòi dài, những thành phố lớn và vùng đồng bằng duyên hải. Và nó rất giàu tài nguyên thiên nhiên dưới cái hình thức mà mọi nước đã và đang công nghiệp hóa trên khắp thế giới đều cần: dầu mỏ và khí đốt.
Nó cũng bao gồm dải đất màu mỡ được gọi là Mesopotamia (Lưỡng Hà), nghĩa là “dải đất giữa các con sông” (sông Euphrates và Tigris). Tuy nhiên, đặc điểm nổi bật nhất là sa mạc Ả-rập rộng lớn và dải đất toàn cây bụi rậm thấp ở trung tâm của nó nằm sát bên các vùng thuộc Israel, Jordan, Syria, lraq, Kuwait, Oman, Yemen và hầu hết Ả-rập Saudi, bao gồm cả hoang mạc Rub“al Khali hay “Góc Trống rỗng“ (Empty Quarter). Đây là hoang mạc cát không gián đoạn lớn nhất trên thế giới, bao quát một khu vực có kích thước bằng nước Pháp. Chính do đặc tính này, không chỉ đa số dân cư chỉ sống ở ngoại vi của nó, mà cho đến thời kỳ thực dân châu Âu, hầu hết người dân trong khu vực không hề suy nghĩ theo hình thức quốc gia dân tộc hay biên giới cố định theo nghĩa pháp lý. Ý niệm cho rằng một người từ một nơi nào đó không thể đi qua một vùng đất khác để gặp người thân thuộc cùng một bộ lạc trừ phi anh ta có giấy tờ tùy thân, giấy tờ này được cấp bởi một người thứ ba mà anh ta không quen biết ở một thị trấn xa xôi, là một ý niệm có rất ít ý nghĩa. Ý tưởng cho rằng giấy tờ tùy thân được ban hành chỉ vì một người nước ngoài đã tuyên bố vùng này hiện nay bị chia thành hai khu vực và đã đặt tên cho chúng, lại càng không có ý nghĩa gì cả, và trái ngược với lối sống đã diễn ra nhiều thế kỷ qua.
Đế chế Ottoman (1299-1922) được cai trị từ Istanbul. Ở thời kỳ cực thịnh, đế chế này trải dài từ cổng thành Vienna, xuyên qua Anatolia và chạy xuống phía nam qua bán đảo Ả-rập đến tận Ấn Độ Dương. Từ tây sang đông nó bao trọn những vùng hiện nay là Algeria, Libya, Ai Cập, Israel/Palestine, Syria, Jordan, lraq và một phần của lran. Đế chế chưa bao giờ phải lo lắng với việc đặt tên cho hầu hết các vùng đất này; năm 1867, đế chế đơn thuần chia chúng thành các khu vực hành chính được gọi là “Vilayet” (mang nghĩa “tỉnh bang”), thường được căn cứ trên địa điểm nơi có bộ tộc cụ thể nào đó cư trú, dù họ là người Kurd tại Bắc lraq ngày nay hay liên minh
bộ lạc trong vùng hiện nay thuộc Syria và thuộc Iraq.
Khi đế quốc Ottoman bắt đầu sụp đổ, Anh và Pháp có một ý tưởng khác hẳn. Năm 1916, nhà ngoại giao Anh, Đại tá Sir Mark Sykes nhặt lên một cây bút sáp và vạch một đường thô thiển trên bản đồ Trung Đông. Nó chạy từ Haifa bên bờ Địa Trung Hải trong vùng đất thuộc Israel ngày nay đến Kirkuk (hiện thuộc lraq) ở phía đông bắc. Đường vạch đó đã trở thành cơ sở của thỏa thuận bí mật giữa Mark Sykes với đối tác Pháp Francois Georges-Picot nhằm chia khu vực thành hai vùng ảnh hưởng, trong trường hợp Liên minh Ba bên (Triple Entente) đánh bại Đế chế Ottoman trong Thế chiến I. Phía bắc của đường vạch đặt dưới sự kiểm soát của Pháp, phía nam thuộc quyền chi phối của Anh.
Thuật ngữ “Sykes-Picot” trở thành từ viết tắt dùng để chỉ những quyết định khác nhau trong ba mươi năm đầu tiên của thế kỷ 20, những quyết định đã phản bội lời hứa hẹn được trao cho các thủ lĩnh bộ tộc, đồng thời cũng phần nào giải thích tình trạng bất ổn và cực đoan ngày nay. Dù vậy, lời giải thích này có thể bị phóng đại: bạo lực và chủ nghĩa cực đoan đã xuất hiện ở đây từ khi người châu Âu đến. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy ở châu Phi, việc tùy tiện tạo lập các “quốc gia dân tộc” cấu thành từ những dân tộc không quen chung sống với nhau trong một khu vực không phải là một công thức cho công lý, bình đẳng và ổn định.
Trước khi có Sykes-Picot (theo nghĩa rộng hơn của thuật ngữ này) thì không có Syria, không có nhà nước Lebanon, cũng không có Jordan, lraq, Saudi Arabia, Kuwait, Israel hay Palestine. Bản đồ hiện đại thể hiện biên giới và tên gọi của các quốc gia dân tộc, nhưng chúng đều còn non trẻ và mong manh.
Hồi giáo là tôn giáo thống trị ở Trung Đông, nhưng lại bao gồm trong nó nhiều phiên bản khác nhau. Sự phân chia quan trọng nhất trong Hồi giáo cũng cố xưa gần như bản thân tôn giáo này: cuộc phân ly giữa các giáo phái Sunni và Shia xuất hiện từ năm 632 khi nhà tiên tri Muhammad qua đời, dẫn đến một cuộc tranh chấp về quyền kế vị ông.
 
Tín đồ Hồi giáo Sunni chiếm đa số trong cộng đồng cư dân Ả-rập, và thực sự là cả trong toàn bộ tín đồ Hồi giáo thế giới, có lẽ lên tới 85% tổng số, mặc dù trong một số quốc gia Ả-rập, tỉ lệ phần trăm ít chênh lệch hơn. Tên gọi của giáo phái Sunni phát xuất từ “Al Sunna” hoặc “dân theo truyền thống“. Khi nhà tiên tri qua đời, những người sẽ trở thành tín đồ Sunni lập luận rằng người thừa kế của ông nên được chọn dựa theo truyền thống của bộ tộc Ả-rập. Họ tự coi mình là phái Hồi giáo Chính thống. lên gọi của giáo phái Shia bắt nguồn từ “Shiat Ali”, theo nghĩa đen là “đảng của Ali”, và chỉ đích danh con rể Ali của Tiên tri Muhammad. Ali và các con trai của ông, Elassan và Hussein đều bị ám sát và do đó bị phủ nhận cái mà tín đồ Shia tự cho là quyền theo thừa kế của họ – tức là quyền dẫn dắt cộng đồng Hồi giáo.
Từ đó nảy sinh một số tranh chấp về giáo lý và tập tục văn hóa chia rẽ hai giáo phái chính của Hồi giáo, dẫn đến tranh chấp và chiến tranh, mặc dù cũng có những khoảng thời gian họ chung sống hòa bình.
Ngoài ra còn có các chi phái nhỏ trong từng giáo phái. Ví dụ, có nhiều chi phái khác nhau của chi phái Sunni theo các hiền giả vĩ đại cụ thể trong quá khứ, bao gồm truyền thống Hanbali nghiêm ngặt, được đặt tên theo hiền giả Iraq thế kỷ thứ 9 Ahmad ibn Hanbal, vốn được nhiều người Sunni từ Qatar và Ả-rập Saudi mến mộ; điều này đến lượt nó lại gây ảnh hưởng lên tư tưởng Salafi cực kỳ thuần khiết, vốn chiếm ưu thế trong cộng đồng những phần tử thánh chiến (Jihad).
Hồi giáo Shia có ba chỉ phái chính, được biết đến nhiều nhất trong số đó có lẽ là phái “Mười hai“ (Twelvers), tín đồ của phái này tuân thủ giáo huấn của Mười hai Imam (Giáo chủ), nhưng ngay cả chi phái này cũng bao gồm những chỉ nhỏ hơn nữa. Phái Ismaili tranh chấp đồng truyền thừa của vị Imam thứ bảy, trong khi phái Zaidi tranh chấp dòng truyền thừa của vị Imam thứ năm. Ngoài ra còn có mấy chi phái của Hồi giáo Shia chủ đạo, trong đó Alawite (Alawis) và Druze được cho là xa rời tư tưởng Hồi giáo truyền thống đến mức nhiều tín đồ hồi giáo khác, đặc biệt là Sunni, thậm chí không công nhận họ là một bộ phận trong tôn giáo của mình.
Di sản của chủ nghĩa thực dân châu Âu đã khiến dân Ả-rập bị gộp lại thành các quốc gia dân tộc và bị cai trị bởi các nhà lãnh đạo có khuynh hướng ủng hộ bất kỳ chi phái Hồi giáo (và bộ lạc) nào cùng xuất thân với họ. Những kẻ độc tài này sau đó vận dụng bộ máy nhà nước để bảo đảm cho quyền cai trị của họ trong toàn bộ khu vực thuộc trong những đường biên giới nhân tạo do người châu Âu thiết kế, chẳng bận tâm đến việc điều đó có phù hợp về mặt lịch sử hay có công bằng đối với các bộ lạc và tôn giáo khác nhau vốn đã bị ném chung vào một bị hay không.
Iraq là một ví dụ điển hình của xung đột và sự hỗn loạn nảy sinh từ đó. Những tín đồ mộ đạo nhất trong giáo phái Shia sẽ không bao giờ chấp nhận một chính phủ do người Sunni lãnh đạo lại có quyền kiểm soát các thành phố thiêng liêng như Najaf và Karbala, được cho là nơi chôn cất các thánh tử đạo Ali và Hussein của họ. Những cảm thức cộng đồng này đã tồn tại từ nhiều thế kỷ trước; một vài thập niên được gọi là “dân Iraq“ sẽ không bao giờ xóa nhòa nổi những cảm xúc ấy.
Là những kẻ cai trị Đế chế Ottoman, người Thổ Nhĩ Kỳ nhìn một vùng đồi núi trập trùng do người Kurd thống trị, thế rồi, khi những vùng núi non thoải dần xuống thành dải đất bằng phẳng hướng về Baghdad và về phía tây đến địa danh mà nay là Syria, họ thấy một dải đất mà đa số là dân Ả-rập Sunni. Sau cùng, khi hai con sông lớn Tigris và Euphrates hợp lưu và đổ xuống thủy lộ Shatt al-Arab, vùng đầm lầy và thành Basra, họ nhìn thấy càng nhiều dân Ả-rập hơn, hầu hết thuộc giáo phái Shia. Họ tùy theo đó mà cai trị không gian này, chia nó thành ba vùng hành chính: Mosul, Baghdad và Basra.
Trong thời cổ đại, các địa danh gần tương ứng với các vùng hành chính kể trên được gọi là Assyria, Babylon và Sumer Khi người Ba Tư kiểm soát không gian này, họ phân chia nó theo cách tương tự, rồi Alexander Đại đế và sau đó là Đế quốc Umayyad cũng làm vậy. Người Anh dòm ngó cũng chính dải đất này và gộp ba thành một, một điều bất khả về mặt logic mà người Kitô giáo có thể giải quyết thông qua Chúa Ba Ngôi, nhưng tại Iraq, điều đó chỉ dẫn đến một mớ hỗn độn “phi thần thánh“.
Nhiều nhà phân tích nói rằng chỉ có một nhà lãnh đạo mạnh mẽ mới có thể thống nhất ba khu vực này thành một quốc gia, và lraq đã có hàng loạt những lãnh đạo cứng rắn như vậy. Nhưng trong thực tế, dân tộc này không bao giờ thống nhất, họ chỉ co quắp vì sợ hãi. Có một nơi mà các nhà độc tài không thể nhìn thấy, đó là trong thâm tâm của người dân, hầu như không có ai tin vào những sự tuyên truyền của nhà nước, bất chấp truyền thông bao phủ bốn bể, dù đó là cuộc bức hại có hệ thống đối với người Kurd, sự thống trị bởi gia tộc Hồi giáo Sunni của Saddam Hussein từ quê nhà Tikrit của ông ta, hay vụ tàn sát hàng loạt tín đồ Shia sau cuộc nổi dậy thất bại của họ vào năm 1991.
Người Kurd là sắc dân đầu tiên rời đi. Những nhóm thiểu số nhỏ nhất sống trong một chế độ độc tài đôi khi giả vờ tin vào những lời tuyên truyền rằng quyền lợi của họ được bảo vệ, bởi vì họ không có đủ sức mạnh để làm bất cứ điều gì chống lại thực tế đó. Ví dụ, nhóm thiểu số Kitô giáo và số ít người Do Thái tại lraq cảm thấy họ có thể an toàn trong một chế độ độc tài thế tục như của Saddam, hơn là chấp nhận những rủi ro theo sau sự thay đổi. Và những gì họ đã e sợ có thể xảy ra thì thực tế đã xảy ra. Tuy nhiên, người Kurd là một sắc dân được minh định về mặt địa lý và, quan trọng nhất, đủ đông đảo để có thể phản ứng khi hiện trạng thực tế của chế độ độc tài trở nên quá quắt.
Năm triệu người Kurd lraq tập trung ở các tỉnh phía bắc và đông bắc là Erbil, Sulaymaniyah, Dahuk và những khu vực xung quanh các tỉnh này. Đó là một hình lưỡi liềm khổng lồ, chủ yếu là đồi núi, điều đó đồng nghĩa người Kurd gìn giữ được bản sắc riêng của họ bất chấp các cuộc tấn công văn hóa và quân sự liên tục, chẳng hạn như chiến dịch al-Anfal năm 1988, bao gồm các cuộc tấn công bằng khí gas từ trên không nhắm vào các làng mạc. Trong chiến dịch tám giai đoạn này, các lực lượng của Saddam không giữ tù nhân và giết tất cả nam giới trong độ tuổi từ mười lăm đến năm mươi mà họ bắt gặp. Tổng cộng lên đến một trăm ngàn người Kurd đã bị sát hại và 90% số làng mạc bị xóa sổ trên bản đồ. Khi Saddam Hussein vươn tới Kuwait vào năm 1990, người Kurd chớp cơ hội làm nên lịch sử và biến Kurdistan mà họ đã được hứa hẹn từ sau Thế chiến I trong Hiệp ước Sèvres (1920), nhưng chưa bao giờ được cho phép, thành hiện thực. Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến vùng Vịnh, người Kurd đã nổi lên, các lực lượng đồng minh tuyên bố lập một “vùng an toàn” mà quân đội Iraq không được phép bước vào đó, và một vùng Kurdistan de facto (trên thực tế) lúc đó mới bắt đầu hình thành. Cuộc xâm lược Iraq năm 2003 của Hoa Kỳ đã củng cố một điều dường như trở thành sự thật: Baghdad sẽ thống trị người Kurd lần nữa.
Mặc dù không phải là một quốc gia được công nhận, vẫn có một khu vực “Kurdistan” có thể nhận diện được. Bằng việc vượt qua những đường biên giới như tình hình hiện nay, đây là một khu vực bất ổn tiềm tàng nếu các vùng đất của người Kurd nỗ lực thiết lập một quốc gia độc lập.
Kurdistan không phải là một quốc gia được công nhận chủ quyền, nhưng nó có rất nhiều đặc điểm của một quốc gia như vậy, và các sự kiện hiện nay ở Trung Đông chỉ làm gia tăng khả năng sẽ có một quốc gia mang tên Kurdistan có chính danh trong luật pháp quốc tế. Câu hỏi là: nó sẽ có hình dạng gì? Và Syria, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran sẽ phản ứng như thế nào nếu các vùng người Kurd ở đất nước họ cố gắng trở thành một phần của quốc gia mới này và nó nỗ lực tạo ra một quốc gia Kurdistan liên một dải, với khả năng tiếp cận Địa Trung Hải?
Sẽ nảy sinh một vấn đề khác: sự thống nhất giữa người Kurd. Người Kurd tại lraq từ lâu đã bị chia rẽ giữa hai bộ tộc đối đầu. Người Kurd tại Syria đang cố tạo ra một thể chế nhỏ mà họ gọi là Rojava. Họ xem nó như là một phần của một quốc gia Kurdistan lớn hơn trong tương lai, nhưng trong trường hợp một quốc gia như vậy được kiến tạo, sẽ phát sinh những câu hỏi như ai sẽ có bao nhiêu quyền lực, và ở đâu. Nếu Kurdistan trở thành một quốc gia được quốc tế công nhận thì hình dạng của Iraq sẽ thay đổi. Đó là giả sử sẽ vẫn còn một quốc gia Iraq. Rất có thể sẽ không còn có Iraq.
Vương quốc Hashemite, cũng được biết đến dưới tên Jordan, là một vùng khác được tạo ra từ sa mạc bởi tay người Anh, và từ năm 1918 người Anh đã có một vùng lãnh thổ lớn để quản lý và một số vấn đề cần giải quyết.
Nhiều bộ lạc Ả-rập đã giúp người Anh chống lại người Ottoman trong thế chiến I, nhưng có hai bộ tộc đặc biệt mà London hứa sẽ tưởng thưởng vào cuối cuộc chiến. Thật không may cả hai đều được hứa hẹn cùng một món tặng phẩm: quyền kiểm soát bán đảo Ả-rập. Nhưng với thực tế là các bộ tộc Saud và Hashemite thường xuyên gây chiến với nhau, nên việc này có chút rắc rối. Vì vậy, London lại phủi bụi tấm bản đồ, vẽ thêm một vài đường kẻ mới và thông báo rằng thủ lĩnh của bộ tộc Saud có thể cai trị trên khu vực này, trong khi thủ lĩnh của Hashemite cai trị một khu vực khác, mặc dù mỗi khu vực đều sẽ “cần” một khâm sứ Anh để trông coi tất cả. Vị thủ lĩnh bộ tộc Saudi cuối cùng đã đặt tên cho lãnh thổ của mình bằng cách gọi theo tên của chính bộ tộc, vì thế chúng ta biết đến khu vực này dưới tên Ả-rập Saudi – một địa danh mà phép so sánh tương đương thô thiển sẽ là lấy tên “Windsorland“ đặt cho nước Anh.
Người Anh, vốn khắt khe về mặt quản trị, đặt tên cho khu vực còn lại là “Transjordan”, viết tắt của “phía bên kia sông Jordan“. Một thị trấn nhỏ bụi bặm tên là Amman trở thành thủ đô của Transjordan, và khi người Anh trở về nhà vào năm 1948, tên gọi của quốc gia này được đổi thành Jordan. Nhưng người Hashemite không phải đến từ miền Amman: họ nguyên là một phần của bộ tộc Qureshi hùng mạnh đến từ vùng Mecca, và những cư dân bản địa hầu hết là người Bedouin. Đa số dân cư hiện nay là người Palestine: khi người Israel chiếm đóng bờ Tây (West Bank) năm 1967, nhiều người Palestine đã chạy trốn sang Jordan, đây là nhà nước Ả-rập duy nhất cấp cho họ quyền công dân. Trong tình huống hiện nay, đa số trong 6,7 triệu công dân của Jordan là người Palestine, nhiều người trong số họ không coi mình là những thần dân trung thành của nhà cai trị Flashemite hiện tại, vua Abdullah. Thêm vào vấn đề này, một triệu dân tị nạn Iraq và Syria mà Jordan đã thu nhận chính là nhóm dân cư đang đặt ra một tình trạng căng thẳng rất lớn đối với các nguồn lực cực kỳ hạn chế của nước này. Những thay đổi như vậy đối với nhân khẩu học của một quốc gia có thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng, và không nơi nào điều đó xảy ra nhiều hơn ở Lebanon. Cho đến thế kỷ 20, người Ả-rập trong khu vực đã coi dải đất giữa vùng núi non và biển cả của Lebanon chỉ đơn thuần là một tỉnh của Syria. Người Pháp, kẻ vớ được nó vào tay từ sau Thế chiến I, lại nhìn sự việc theo cách khác.
Pháp từ lâu đã liên minh với những dân Kitô giáo Ả-rập trong vùng, và đã trả ơn bằng cách tạo ra một đất nước cho họ ở một nơi mà họ trở thành nhóm dân cư áp đảo trong những năm 1920. Vì không nghĩ được tên gọi rõ ràng nào khác cho đất nước này, người Pháp gọi nó theo tên của vùng núi non gần đấy, và Lebanon đã ra đời như vậy. Thực thể huyễn tưởng địa lý này tổn tại cho đến cuối những năm 1950. Vào lúc đó, tỉ lệ sinh đẻ trong cộng đồng người Hồi giáo Shia và Sunni tại Lebanon ngày càng tăng cao so với tỉ lệ sinh đẻ của người Kitô, trong khi dân số hồi giáo tăng vọt bởi những người Palestine chạy trốn cuộc chiến tranh Ả-rập-Israel năm 1248 giữa hai nước láng giềng Israel/Palestine. Chỉ có một cuộc điều tra dân số chính thức duy nhất tại Lebanon (năm 1932), bởi vì nhân khẩu học là một vấn đề nhạy cảm và hệ thống chính trị phần nào được căn cứ trên quy mô dân số.
Đã có nhiều cuộc xung đột vũ trang giữa các nhóm tôn giáo khác nhau trong khu vực và cuộc chiến mà một số sử gia gọi là cuộc Nội chiến Lebanon lần thứ nhất nổ ra vào năm 1958 giữa dân Maronite theo Kitô giáo và người Hồi giáo, mà vào lúc đó có lẽ nhỉnh hơn dân Kitô giáo về số lượng. Hiện nay nhóm Hồi giáo rõ ràng chiếm đa số, nhưng vẫn không có số liệu chính thức, và các nghiên cứu học thuật trích dẫn những con số luôn gây tranh cãi gay gắt.
Một số khu vực của thủ đô Beirut chỉ có dân Hồi giáo Shia, cũng như đa phần phía nam đất nước. Đây là nơi mà nhóm Shia Hezbollah (được hậu thuẫn bởi lran, đất nước đại đa số là theo giáo phái Shia) chiếm ưu thế. Một thành trì khác của dân Shia là Thung lũng Bekaa, nơi nhóm Hezbollah sử dụng làm điểm tập kết cho các cuộc tập kích đánh phá của họ vào Syria để hỗ trợ lực lượng chính phủ ở đó. Các thị trấn khác là nơi phái Hồi giáo Sunni áp đảo. Ví dụ Tripoli, ở phía bắc, được cho là 80% Sunni, nhưng cũng có một thiểu số Alawite với số lượng đáng kể, và trước tình hình có xuất hiện những căng thẳng giữa Sunni-Alawite trong, đất nước Syria kế bên, điều này đã dẫn đến những vụ xung đột vũ trang lẻ tẻ.
Lebanon dường như là một nhà nước thống nhất nếu quan sát trên bản đồ. Nhưng chỉ vài phút sau khi đến sân bay Beirut người ta có thể khám phá ra điều đó khác xa so với sự thật. Từ sân bay đi xe vào trung tâm, bạn sẽ đi qua những vùng ngoại ô phía nam chỉ toàn là dân Shia, được giữ gìn trật tự phần nào nhờ dân quân Hezbollah, lực lượng chiến đấu có lẽ là hiệu quả nhất trong cả nước. Quân đội Lebanon chỉ tồn tại trên giấy tờ, nhưng trong trường hợp xảy ra một cuộc nội chiến khác như giai đoạn 1975-1990, nó sẽ tan rã, vì binh lính trong hầu hết các đơn vị sẽ trở về thị trấn quê hương của họ và tham gia vào dân quân địa phương.
Đó phân nào là những gì đã xảy ra với lực lượng vũ trang Syria khi cuộc nội chiến đã thực sự diễn ra cho đến cuối năm 2011.
Syria là một quốc gia khác cũng đa tín ngưỡng, đa giáo phái, đa sắc tộc cũng tan nát ngay từ lần đầu tiên được thử thách. Cũng như toàn bộ khu vực này, đất nước có đa số là người Hồi giáo Sunni, chiếm khoảng 70%, nhưng có những cộng đồng thiểu số đáng kể theo các tín ngưỡng khác. Cho đến năm 2011, nhiều cộng đồng vẫn sống cạnh nhau trong các thị trấn, các thành phố và nông thôn, nhưng vẫn có những khu vực riêng biệt trong đó một nhóm cụ thể chiếm ưu thế. Như ở Iraq, người dân địa phương sẽ luôn nói với bạn, “Chúng tôi là một dân tộc, không có sự phân chia giữa chúng tôi”. Tuy nhiên, ở Iraq, tên tuổi, nơi sinh hoặc nơi cư trú thường có nghĩa là xuất thân của bạn có thể xác định dễ dàng, và ở Iraq, không mất nhiều công sức để chia rẽ một dân tộc thành nhiều phe phái.
Khi người Pháp cai trị vùng đất này, họ noi theo tấm gương của người Anh: chia để trị. Vào thời điểm đó, người Alawite còn được gọi là Nusayri. Nhiều tín đồ Sunni không coi họ là Hồi giáo, và sự thù địch nhắm vào họ dữ dội đến mức họ tự đổi tên giáo phái thành Alawite (có nghĩa “những tông đồ của Ali”) để tăng cường chứng tích Hỏi giáo của mình. Họ là dân vùng cao lạc hậu, ở dưới đáy xã hội Syria. Người Pháp lấy họ vào lực lượng cảnh sát và quân đội, từ đó trong nhiều năm họ đã tự dựng mình thành một thế lực lớn trong dải đất này.
Về cơ bản, ai cũng nhận thức được sức ép, khi mà các nhà lãnh đạo xuất thân từ một nhóm dân cư thiểu số cai trị nhóm đa số. Gia tộc Assad, nơi Tổng thống Bashar al-Assad xuất thân, là người Alawite, một nhóm người chiếm xấp xỉ 12% dân số. Gia tộc này đã cai trị đất nước kể từ Hafez, cha của Bashar, đoạt quyền trong một cuộc đảo chính vào năm 1970. Năm 1982, Hafez nghiền nát một cuộc nổi dậy của Hội Huynh Đệ Hồi Giáo Sunni ở Hama, giết có thể có lẽ đến ba mươi ngàn người trong vòng vài ngày. Hội Huynh đệ không bao giờ tha thứ hay quên được điều này, và khi cuộc nổi dậy trên toàn quốc bắt đầu vào năm 2011, mối thù phải được thanh toán. Trong một số khía cạnh, cuộc nội chiến xảy ra sau đó đơn thuần là tập hai của bộ phim Hama.
Hình dạng và cấu tạo sau cùng của Syria hiện đang trong vòng nghi vấn, nhưng kể từ khi người Nga can thiệp vào cuối năm 2015, khả năng bị đánh bại của chế độ đã giảm xuống. Chính phủ nắm giữ phần cốt lõi của đất nước, đặc biệt là các khu vực đô thị, trong khi các nhóm nổi dậy và IS hiện đang ở thế bất lợi. Các lực lượng người Kurd đã phác ra được vùng lãnh thổ họ sẽ kiểm soát, nhưng điều này đã buộc quân đội Thổ Nhĩ Kỳ tiến vào, họ là những kẻ quyết tâm ngăn chặn một nhà nước Kurd trỗi dậy từ đống đổ nát.
Trong tương lai gần, định mệnh của Syria dường như phải bị cai trị như một số những thái ấp với nhiều lãnh chúa khác nhau nắm quyền kiểm soát. Vào thời điểm viết cuốn sách này, Tổng thống Assad là người có – thế lực nhất trong số các lãnh chúa đó. Cuộc nội chiến gần đây nhất của Lebanon kéo dài trong mười lăm năm, và ở nhiều điểm, đất nước này vẫn đang tiến hành một cách nguy hiểm đến một cuộc chiến tranh khác. Syria cũng có thể có số phận tương tự.
Giống như Lebanon, Syria cũng đã trở thành một nơi bị các cường quốc bên ngoài sử dụng để đạt được mục tiêu của họ. Nga, Iran và phái Hezbollah ở Lebanon ủng hộ các lực lượng chính phủ Syria. Các nước Ả-rập ủng hộ phe đối lập, nhưng các quốc gia khác nhau hỗ trợ các nhóm đối lập khác nhau: ví dụ cả người Saudi và Oatari đều đang tranh giành ảnh hưởng, nhưng mỗi nước lại hậu thuẫn cho một đại biểu khác nhau để đạt được điều đó.
Sẽ cần có kỹ năng, lòng can đảm và một yếu tố thường thiếu vắng – sự thỏa hiệp – để giữ cho nhiều trong số những vùng đất này kết nối lại cùng nhau như một không gian duy nhất có thể quản lý được. Đặc biệt khi các phần tử thánh chiến (jihadist) Sunni đang cố chia rẽ các vùng này để mở rộng “vương quốc Hồi giáo (caliphate)“ của chúng.
Các nhóm như Al-Qaeda và gần đây là Nhà nước Hồi giáo (IS) đã nhận được sự ủng hộ cho chúng một phần vì nỗi sỉ nhục mà chủ nghĩa thực dân gây ra và sau đó là vì thất bại của chủ nghĩa dân tộc liên Ả-rập – và trong một chừng mực nào đó, của quốc gia dân tộc Ả-rập. Các nhà lãnh đạo Ả-rập đã không thể đem lại sự thịnh vượng hay tự do, và lời kêu gọi mê hoặc lòng người của Hồi giáo, vốn hứa hẹn giải quyết mọi vấn đề, đã tỏ ra hấp dẫn với nhiều người trong một vùng đất nổi bật bởi sự pha trộn độc hại giữa lòng mộ đạo, thất nghiệp và đàn áp. Người Hồi giáo hoài niệm về thời kỳ hoàng kim khi Hồi giáo còn cai trị cả một đế chế và ở vị trí dẫn đầu về kỹ nghệ, nghệ thuật, y học và chính quyền. Họ đã giúp đưa ra ánh sáng những mối nghi ngờ cổ xưa về “kẻ lạ” trên khắp Trung Đông.
Nhà nước hồi giáo (IS) phát triển từ nhóm mệnh vào cuối những năm 2000, trên danh nghĩa được chỉ đạo bởi những tàn dư của nhóm lãnh đạo Al-Qaeda. Vào thời điểm cuộc nội chiến Syria bùng phát toàn diện, nhóm này đã tách khỏi Al-Qaeda và tự đổi tên. Ban đầu nhóm được thế giới bên ngoài biết đến dưới tên gọi ISIL (“Nhà nước Hồi giáo lraq và Tây Á ” – “Islamic State In the Levant”) nhưng vì “Tây Á” trong tiếng Ả-rập là AI Sham, dần dần nó trở thành ISIS. Từ mùa hè năm 2014, nhóm này đã bắt đầu tự gọi mình là Nhà nước Hồi giáo (IS – Islamic State), sau khi công bố một thực thể như vậy ở nhiều vùng lớn thuộc lraq và Syria.
IS nhanh chóng trở thành nhóm thánh chiến “tiên phong”, thu hút hàng ngàn tín đồ Hồi giáo nước ngoài về dưới ngọn cờ của mình, một phần do chủ nghĩa lãng mạn sùng đạo và một phần vì sự tàn bạo của nó. Tuy nhiên, điểm thu hút chính của IS là thành công của nó trong việc tạo ra một vương quốc Hồi giáo “caliphate”; ở nơi mà Al-Qaeda giết người và chiếm các bản tin thời sự nóng hổi thì IS giết người và chiếm lãnh thổ.
IS cũng chiếm giữ được một lĩnh vực ngày càng quan trọng trong thời đại Internet: không gian vật lý. Nó được xây dựng dựa trên hoạt động tiên phong của Al-Qaeda trong truyền thông mạng xã hội và đạt tới tầm cao mới về bất kỳ chính phủ nào về mức độ tin nhắn tạo dư luận bằng cách sử dụng các phần tử thánh chiến được nuôi dưỡng trong môi trường đôi lúc đầy tác hại của Internet và những ám ảnh bạo lực và tình dục của nó. Họ là Thế hệ Chiến binh Jihad Đầu lừa và đang dẫn đầu một trò chơi chết người.
Đến mùa hè năm 2015, nhiều người Ả-rập trên khắp Trung Đông, bao gồm hầu hết các phương tiện truyền thông khu vực, đã gọi IS bằng một cái tên khác, một cái tên tóm gọn cảm giác ghê tởm của những người dân thường đối với tổ chức này – DAESH.
Nó là một từ viết tắt hình thành từ tên gọi trước đây của nhóm trong tiếng Ả-rập, Dawlat al Islamiya ƒ al lraq wa al Shams, nhưng lý do người ta có xu hướng sử dụng tên này là vì các thành viên IS ghét nó. Nó phát âm tương tự như động từ dzes (kẻ lừa lọc và gieo rắc sự bất đồng); nó hợp vần với những từ tiêu cực như ƒahish (kẻ mang tội lỗi); và nhất là nó dành cho tất cả những ai khinh ghét tổ chức của chi phái Hồi giáo này, nó có vần điệu và âm thanh giống như Sahesh, có nghĩa là “con la ngu xuẩn“”. Điều này còn tệ hơn cả việc bị gọi là con lừa, vì trong văn hóa Ả-rập, đây là một sự xúc phạm khá nghiêm trọng, vừa có tính sỉ nhục vừa đồng thời làm giảm khả năng gieo rắc nỗi sợ hãi của tổ chức này.
Vào năm 2015, cuộc chiến đã hoành hành tới lui qua nhiều vùng đất của lraq với việc IS để mất thị trấn Tikrit, nhưng chiếm được Ramadi, nơi chính phủ sau đó phải chiến đấu để giành lại. Trong cuộc chiến giành lại Tikrit, không lực Hoa Kỳ đột nhiên thấy mình rơi vào một vị thế kỳ quặc, phải thực hiện các nhiệm vụ trinh sát và các cuộc không kích có giới hạn để hỗ trợ cho các chỉ huy của Vệ binh Cộng hòa Iran, những người được phái tới để giám sát cuộc tấn công của người lraq vào thành phố này. IS muốn có Tikrit, một phần để ngăn chặn chính phủ Iraq đang cố chiếm lại Mosul ở phía bắc, nhưng Ramadi với họ quan trọng hơn nhiều. Ramadi nằm trong tỉnh Anbar, một vùng của lraq nơi phái Sunni áp đảo và có các tuyến đường liên kết với biên giới Syria. Việc chiếm giữ lãnh thổ này củng cố cho tuyên bố là một “nhà nước” của họ.
Tháng Tám năm 2015 đánh dấu một năm đầu tiên của các vụ ném bom do Hoa Kỳ dẫn đầu chống lại IS ở cả lraq và Syria. Đã có hàng ngàn cuộc không kích với nhiều máy bay Hoa Kỳ bay từ tàu sân bay USS George H. W. Bush và USS Carl Vinson trong vùng Vịnh, và những máy bay khác từ Kuwait và một căn cứ tại UAE, chiến đấu cơ F-22 Raptor Stealth cũng được đưa vào cuộc chiến trong năm 2015, tấn công các cơ sở hạ tầng dầu khí của IS. Các phi công Hoa Kỳ, những người đảm trách phần lớn các phi vụ, lâm vào tình huống không có đơn vị nào của Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ đi trước làm điều phối không lưu cho các cuộc oanh tạc. Vì các mục tiêu thường nằm trong các khu vực đô thị, “luật tham chiến” đã buộc nhiều máy bay phải quay trở lại căn cứ mà không được khai hỏa.
Kể từ cuối mùa hè năm 2015, IS đã đều đặn mất dần lãnh thổ. Nhưng tổn thất đáng kể bao gồm thị trấn Kobani của Syria, bị chiến binh Kurd chiếm, và vào tháng Một năm 2016, thành phố lớn Ramadi của lraq đã bị quân đội lraq tái chiếm. Đồng thời, IS chịu áp lực rất lớn từ việc gia tăng các cuộc không kích.
Ngay cả Nga cũng đã tham gia nhiều hơn, tấn công các mục tiêu thuộc cả lực lượng ly khai là Quân đội Syria Tự do (FSA) và các mục tiêu của IS tại Syria, sau khi IS bị cáo buộc tấn công một trong những máy bay chở khách tại Ai Cập. Pháp trả đũa các cuộc tấn công khủng bố ở Paris vào tháng Mười một năm 2015 bằng các cuộc không kích lớn vào IS, và sau đó yêu cầu Anh giúp sức. Nghị viện Anh đã bỏ phiếu việc mở rộng các cuộc không kích tại Iraq bao gồm cả Syria.
Kết quả đã cho thấy vương quốc Hồi giáo của IS bị thu nhỏ về kích thước, cũng như một số lãnh đạo và nhiều chiến binh bị tiêu diệt. Việc để mất Mosul, do quân đội lraq tái chiếm vào năm 2017, là một bước thụt lùi lớn đối với IS cả về mặt quân sự và tâm lý: chính tại Giáo đường Hồi giáo Vĩ đại trong thành phố này, vương quốc Hồi giáo “Caliphate“ đã được tuyên lập ba năm về trước. Dù vậy, điều này không nhất thiết là sự kết thúc của IS. Đến năm 2017, hàng trăm chiến binh đã tới Libya để thiết lập một căn cứ khác, và nhiều chiến binh nước ngoài không phải người Ả-rập cố gắng trở về quê hương của mình ở châu Âu và các quốc gia Trung Á, hệ quả là tất cả những nơi này chắc chắn sẽ bị tiêm nhiễm chủ nghĩa Hồi giáo bạo lực trong những năm tới.
Tuy nhiên, mặt trận quân sự cốt lõi vẫn là ở Trung Đông, bằng chứng là việc Nga, Anh, Hoa Kỳ, Pháp và những nước khác hiện đã tham gia khá sâu, hàng ngàn phi vụ máy bay không người lái đã được thực hiện, một số phi vụ xuất phát từ lục địa Hoa Kỳ. Máy bay không người lái là một ví dụ hiện đại rõ ràng về việc công nghệ có thể khắc phục một số hạn chế địa lý nhưng đồng thời chúng cũng giúp nêu bật tầm quan trọng của địa lý. Hoa Kỳ có ngày càng nhiều phi đội máy bay không người lái tại ít nhất mười căn cứ trên khắp thế giới. Điều này cho phép một người ngồi trong văn phòng gắn máy điều hòa tại Nevada có thể điều khiển máy bay đi tới mục tiêu, hoặc chuyển giao quyền kiểm soát cho một đặc vụ ở gần mục tiêu. Nhưng nó cũng có nghĩa là Hoa Kỳ cần giữ mối quan hệ tốt đẹp với bất kỳ quốc gia nào họ được phép đặt căn cứ cho phi đội không người lái trong khu vực. Ví dụ, tín hiệu được gửi từ Nevada có thể cần phải đi qua đường cáp ngầm dưới biển đến Đức và sau đó được gửi đến một vệ tinh thuộc về nước thứ ba đã bán băng thông cho Lầu Năm Góc. Đây là một lời nhắc nhở về bản đồ mang tính khái niệm của quyền lực Hoa Kỳ, một điều cần thiết phải biết để hiểu cặn kẽ địa chính trị ngày nay.
Những cuộc oanh kích bằng máy bay không người lái cũng phải tuân thủ luật lệ tham chiến, nhưng chúng thường được sử dụng để tiêu diệt các mục tiêu đơn lẻ. Chúng đã đóng góp rất lớn vào việc tái chiếm vài ngàn dặm vuông lãnh thổ của lraq từ tay IS trong năm 2015-2016, ngay cho dù IS vẫn còn kiểm soát những khoảng không rộng lớn của đất nước trong khu vực nơi phái Sunni thống trị.
Những chiến binh Hồi giáo Sunni từ khắp nơi trên thế giới, bị thu hút như những con bướm đêm bởi nguồn ánh sáng một tỷ pixel, đã tận dụng hoàn cảnh thuận lợi của thế chia ba giữa người Kurd, phái Sunni và phái Shia ở lraq. Họ đưa ra lời hứa hẹn bá đạo với người Ả-rập Sunni về một viễn cảnh vừa khôi phục vị trí “chính đáng” cho phái Sunni với tư cách là lực lượng thống trị trong khu vực, vừa tái thiết lập vương quốc caliphate, mà trong đó tất cả những tín đồ chân chính theo phiên bản của họ (tức Hồi giáo Sunni) sẽ sống dưới sự cai quản của duy nhất một nhà cai trị.
Tuy nhiên, chính sự cuồng tín trong đức tin và cách thực hành đức tin của họ cho thấy lý do tại sao họ không thể đạt được những ảo mộng hão huyền ấy.
Thứ nhất, sẽ chỉ có một số bộ tộc Sunni tại lraq hỗ trợ cho mục đích thánh chiến, và thậm chí cũng chỉ nhằm đạt được mục tiêu của riêng họ – một mục tiêu không bao gồm việc quay trở lại thế kỷ 6. Một khi những bộ tộc này có được những gì họ muốn, họ sẽ quay lưng lại với các phần tử thánh chiến, đặc biệt là những người ngoài. Thứ hai, các phần tử thánh chiến đã chứng tỏ rằng họ không có lòng nhân từ đối với bất cứ ai chống đối họ và việc không theo đức tin Sunni cũng giống như một bản án tử hình. Vì vậy, tất cả những tín đồ Hồi giáo không theo phái Sunni và tất cả các nhóm thiểu số khác tại Iraq như dân Kitô giáo, dân Chaldea, Yazidi và những nhóm khác, cũng như hàng chục quốc gia phương Tây và Hồi giáo, đều chống lại họ.
Nhóm dân Sunni ở Iraq không thuộc phe thánh chiến đang ở trong một tình thế khó khăn. Trong trường hợp Iraq bị chia cắt hoặc thành lập liên bang hợp pháp, họ đều bị mắc kẹt ở giữa, bị dải cát bao vây trong một khu vực được gọi là Tam giác Sunni, với ba góc được định vị đại khái ở phía đông Baghdad, phía tây Ramadi và phía bắc Tikrit. Người Sunni sống ở đây thường có nhiều điểm chung với các bộ lạc họ hàng của mình ở Syria hơn là dân Kurd ở phía Bắc hoặc dân Shia ở phía nam.
Bên trong tam giác này không có đủ sự đa dạng về kinh tế để duy trì sự tồn tại của một thực thể Sunni. Lịch sử đã trao các mỏ dầu cho “lraq”, nhưng sự phân chia de facto (trên thực tế) của đất nước lại có nghĩa là dầu hầu hết nằm ở các khu vực người Kurd và người Shia; và nếu không có một Iraq hùng mạnh, thống nhất, thì lợi nhuận từ dầu sẽ chảy trở lại nơi dầu được phát hiện. Người Sunni không thể kiểm soát được các vùng đất của người Kurd, các thành phố phía nam Baghdad như Najaf và Karbala có dân số Shia áp đảo, và các cảng Basra và Umm Qasr nằm cách xa lãnh thổ Sunni. Thế lưỡng nan này khiến cho người Sunni phải chiến đấu để giành được một phần bình đẳng trong một đất nước mà họ từng cai trị, đôi khi đùa giỡn với ý tưởng ly khai, nhưng họ biết rằng tương lai của họ có lẽ sẽ không có nhiều thứ để mà tự cai trị.
Trong trường hợp phân ly, người Shia có vị trí đắc địa nhất để tận dụng lợi thế. Khu vực họ chiếm ưu thế có mỏ dâu, 35 dặm đường bờ biển, thủy lộ Shatt al-Arab, bến cảng, khả năng tiếp cận với thế giới bên ngoài và ngay kế bên là lran – một đồng minh về tôn giáo, kinh tế và quân sự.
Ảo tưởng của những phần tử thánh chiến là Salafi Islam sẽ là tôn giáo thống trị toàn cầu. Trong những khoảnh khắc tỉnh táo, nhưng vẫn điên cuồng, họ hoạch định và chiến đấu cho một mục tiêu hạn chế hơn – một vương quốc “caliphate” trải khắp Trung Đông. Một trong những tiếng hô lâm trận của các phần tử thánh chiến là “Từ Mosul đến Jerusalem!”, nghĩa là họ hy vọng sẽ kiểm soát khu vực từ Mosul thuộc Iraq cho đến Beirut thuộc Lebanon, Amman thuộc Jordan và Jerusalem thuộc Israel. Tuy nhiên, kích thước địa lý thực tế của vương quốc “caliphate“ của IS bị giới hạn bởi năng lực của nó.
Nói vậy không phải là đánh giá thấp vấn đề hoặc quy mô của sự kiện có thể được xem là phiên bản Ả-rập của cuộc Chiến tranh Ba mươi năm ở châu Âu (1618-1648). Nó không chỉ là vấn đề của Trung Đông. Nhiều người trong số những phần tử thánh chiến quốc tế sống sót sẽ trở về quê nhà ở châu Âu, Bắc Mỹ, Indonesia, vùng Caucasus Và Bangladesh, những nơi họ không có vẻ sẽ định cư để sống cuộc đời yên tĩnh. Cơ quan tình báo ở London tin rằng số người Anh theo Hồi giáo chiến đấu tại Trung Đông cho các nhóm thánh chiến lớn hơn rất nhiều so với số người phục vụ trong quân đội Anh ở đó. Các hoạt động cực đoan được thực hiện bởi những người Hồi giáo đã bắt đầu vài thập niên trước khi các chương trình giải cực đoan hiện nay được tiến hành ở các nước châu Âu. Hầu hết các nước trong khu vực đều phải đối mặt với phiên bản riêng của họ trong cuộc đấu tranh mang tâm thế hệ này ở mức độ cao hơn hoặc thấp hơn. Ví dụ, Ả-rập Saudi đã bắt nhiều chi bộ Al-Qaeda trong thập niên qua, nhưng chủ yếu theo cách bắt bớ riêng rẽ, nhưng hiện nay Ả-rập Saudi đang phải đối mặt với những thách thức mới từ thế hệ các phần tử thánh chiến tiếp theo. Nước này còn gặp một vấn đề khác ở phía nam, trên biên giới với Yemen, vùng đất cũng bị tàn phá bởi bạo lực, các phong trào ly khai và một nhánh thánh chiến mạnh mẽ.
Phong trào Hồi giáo cũng sôi sục ở ]ordan, đặc biệt tại thị trấn Zarqa, nằm ở đông bắc về phía biên giới Syria và Iraq, nơi cư trú của một số trong mấy ngàn người ủng hộ các nhóm như Al-Qaeda và IS. Các nhà chức trách lo ngại một nhóm thánh chiến ở Iraq hoặc Syria đang ồ ạt băng qua đường biên giới mong manh hiện tại và tiến vào Jordan. Quân đội Jordan do Anh huấn luyện được coi là một trong những lực lượng mạnh nhất Trung Đông, nhưng nó có thể gặp khó khăn khi dân Hồi Giáo địa phương và các chiến binh thánh chiến nước ngoài áp dụng chiến tranh du kích trên đường phố. Nếu những người Palestine tại Jordan từ chối bảo vệ đất nước, sẽ không phải là thiếu thực tế khi tin rằng Jordan sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn mà chúng ta đang chứng kiến tại Syria. Đây chính là điều cuối cùng mà các nhà cai trị Hashemite mong muốn – và cũng là điều cuối cùng mà người Israel mong muốn.
Trận chiến vì tương lai của Trung Đông Ả-rập phần nào đã khiến cho cuộc đấu tranh giữa Israel và Ả-rập trở nên nổi bật. Việc chuyên chú vào vấn đề Israel/ Palestine đôi khi trở lại, nhưng sau cùng, tầm quan trọng của những sự kiện đang diễn tiến ở nơi khác đã khiến một số nhà quan sát hiểu rằng các vấn đề của khu vực không đặt nặng vào sự tồn tại của Israel. Đó là một luận điệu dối trá của những nhà độc tài Ả-rập nhằm làm cho dư luận bị lái khỏi sự tàn bạo của chính họ, và nó đã được nhiều người dân trong khu vực và những kẻ ngu xuẩn nhưng hữu ích của họ ở phương Tây tin theo. Tuy nhiên, thảm họa chung của Israel/Palestine vẫn tiếp diễn, và nỗi ám ảnh đối với mảnh đất nhỏ bé này mạnh mẽ đến mức một lần nữa nó có thể bị một số người coi là cuộc xung đột căng thẳng nhất trên thế giới.
Đế chế Ottoman đã từng coi khu vực phía tây sông Jordan đến bờ biển Địa Trung Hải như là một phần của vùng đất Syria. Họ gọi nó là Filistina. Sau Thế chiến I, dưới hiệu lực của Lệnh ủy quyền cho nước Anh (Bristish Mandate), vùng đất này trở thành quốc gia Palestine.
Người Do Thái đã sống trong phần đất từng được gọi là Israel trong hàng thiên niên kỷ, nhưng sự tàn phá của lịch sử đã khiến họ phân tán khắp toàn cầu. Israel đối với họ vẫn là “miền đất hứa” và Jerusalem nói riêng vẫn là thánh địa. Tuy nhiên, đến năm 1948, người Hồi giáo và Kitô giáo Ả-rập đã là nhóm cư dân chiếm đại đa số trong xứ sở này hơn một ngàn năm.
Trong thế kỷ 20, với sự ra đời của Lệnh ủy quyền Palestine (Mandate for Palestine), phong trào Do Thái kết nối những nhóm thiểu số đồng đạo của họ đã lớn mạnh, và bị thúc đẩy bởi những cuộc tàn sát người Do Thái ở Đông Âu, ngày càng nhiều người Do Thái bắt đầu định cư tại đây. Anh có vẻ thuận mắt đối với việc kiến tạo một “ quê hương Do Thái” tại Palestine, đã cho phép người Do Thái di chuyển đến đó và mua đất từ người Ả-rập. Sau Thế chiến II và nạn diệt chủng Holocaust của Hitler, người Do Thái tìm cách đến Palestine với số lượng thậm chí còn lớn hơn. Căng thẳng giữa cộng đồng Do Thái và phi Do Thái đạt đến điểm bùng nổ, và nhà chức trách Anh quá mệt mỏi đã bàn giao vấn đề này lại cho Liên Hợp Quốc vào năm 1948, Liên Hợp Quốc bỏ phiếu cho việc phân chia khu vực thành hai quốc gia. Người Do Thái đồng ý, người Ả-rập nói “không”. Kết quả là chiến tranh, dẫn tới làn sóng đầu tiên của dân tị nạn Palestine bỏ chạy khỏi khu vực và dân tị nạn Do Thái đổ vào từ khắp Trung Đông.
Cao nguyên Golan, Bờ Tây và dải Gaza vẫn là lãnh thổ bị tranh chấp sau cuộc Chiến tranh Sáu ngày năm 1967.
Jordan chiếm khu bờ Tây, bao gồm cả Đông Jerusalem. Ai Cập chiếm dải Gaza, coi đó là một phần mở rộng của lãnh thổ nước này. Cả hai đều không có ý định cấp cho những người dân sống ở đó quyền công dân hoặc quốc tịch là người Palestine, cũng không có bất kỳ phong trào đủ lớn nào của người dân kêu gọi thành lập một nhà nước Palestine. Trong khi đó, Syria, coi toàn bộ khu vực này là một phần của Đại quốc Syria và cũng coi những người sống ở đó là công dân Syria.
Cho đến ngày nay, Ai Cập, Syria và Jordan vẫn ngờ vực về vị thế độc lập của Palestine, và nếu Israel biến mất và được thay thế bởi Palestine, có thể cả ba sẽ tuyên bố chủ quyền đối với các phần của lãnh thổ đó. Tuy nhiên, trong thế kỷ này, người Palestine có cảm thức mãnh liệt về họ như một quốc gia, và bất kỳ chế độ độc tài Ả-rập nào tìm cách ngoạm một miếng vào thể chế Palestine dưới bất kỳ hình thù hay kích thước nào đều sẽ gặp phải sự phản đối mạnh mẽ. Người Palestine ý thức rất rõ rằng hầu hết các quốc gia Ả-rập, mà một số nước trong đó là nơi họ đã di tản đến trong thế kỷ 20, đã từ chối cho họ quyền công dân; các quốc gia này nhấn mạnh rằng con và cháu của họ vẫn là “dân tị nạn”, và làm mọi cách để đảm bảo cho họ không thể hội nhập vào đất nước.
Trong cuộc Chiến tranh Sáu ngày vào năm 1967, Israel giành quyền kiểm soát toàn bộ Jerusalem, Bờ Tây và dải Gaza. Năm 2005, họ rời Gaza, nhưng hàng trăm ngàn người định cư vẫn ở lại Bờ Tây.
Israel coi Jerusalem là thủ đô vĩnh cửu, không thể chia cắt của mình. Do Thái giáo nói rằng tảng đá nơi Abraham chuẩn bị hiến tế Isaac chính là nơi đó, và nằm ngay trên nền Nơi Chí thánh (Holy of Holies), Đền thờ của vua Solomon. Đối với người Palestine, Jerusalem có một âm ba tôn giáo vang vọng khắp thế giới Hồi giáo: thành phố này được coi là chốn thiêng liêng thứ ba của Hồi giáo bởi vì Tiên tri Muhammad được cho là đã thăng thiên từ chính nơi tảng đá đó, tại địa điểm hiện là “Giáo đường Hồi giáo Xa xôi nhất” (AI Aqsa). Về mặt quân sự, thành phố chỉ có tầm quan trọng địa lý chiến lược vừa phải – nó không có ngành công nghiệp thực sự nào đáng kể, không có sông ngòi và sân bay – nhưng nó có ý nghĩa bao trùm về văn hóa và tôn giáo: nhu cầu hệ tư tưởng của địa điểm này quan trọng hơn vị trí của nó. Quyền kiểm soát và việc tiếp cận Jerusalem không phải là một vấn đề mà một giải pháp thỏa hiệp có thể dễ dàng đạt được dựa trên đó.
Trong tương quan so sánh, người Israel dễ dàng từ bỏ dải Gaza hơn (mặc dù điều này vẫn khó khăn). Tuy nhiên, liệu người dân sống tại đó có được hưởng lợi gì
nhiều hay không bởi sự ra đi của Israel thì vẫn là điều còn phải tranh luận.
Dải Gaza ở trong tình trạng còn hơn cả tồi tệ giữa hai “thực thể” Palestine hiện tại. Dải đất này chỉ trải dài 25 dặm và rộng 7,5 dặm. Một triệu tám trăm ngàn người sống chen chúc trong không gian này. Thực tế, Gaza là một “thành quốc“, mặc dù là một thành quốc bị bần cùng hóa khủng khiếp. Do cuộc xung đột với Israel, công dân của nó bị quây ráp ba mặt bởi một hàng rào an ninh được tạo ra bởi Israel và Ai Cập, và bởi bờ biển phía tây. Người dân chỉ được phép xây dựng công trình trong phạm vi cách biên giới Israel một khoảng cách nhất định vì Israel đang cố gắng hạn chế khả năng tên lửa từ Gaza có thể phóng sâu vào đất Israel. Thập niên vừa qua đã chứng kiến một cuộc chạy đua vũ trang bất cân xứng ngày càng tiến triển, với việc các nhóm vũ trang tại Gaza tìm kiếm loại tên lửa có thể bắn xa hơn, còn Israel thì phát triển hệ thống phòng thủ chống tên lửa của mình.
Do mật độ đô thị của nó, Gaza là một trận địa chiến đấu tốt cho những người phòng vệ nó, nhưng là một con ác mộng đối với người dân thường, những người hầu như không có nơi trú ẩn khỏi bom đạn và không có mối liên hệ nào với vùng Bờ Tây, mặc dù khoảng cách giữa hai bên chỉ là hai lăm dặm tại điểm hẹp nhất. Cho đến khi một thỏa thuận hòa bình đạt được thì người dân Gaza chẳng biết đi đâu, và thật ít công việc để họ làm bên trong dải đất này.
Bờ Tây lớn gần gấp bảy lần diện tích Gaza nhưng là mảnh đất bị phong tỏa cả bốn mặt. Phần lớn Bờ Tây là một dãy núi chạy từ bắc xuống nam. Từ quan điểm quân sự, điều này cho phép bất cứ ai nắm giữ được vùng đất cao đó đều có thể kiểm soát đồng bằng duyên hải ở phía tây sườn núi, và cả thung lũng Rift Jordan ở phía đông của nó. Gạt sang một bên ý thức hệ của những di dân Do Thái, những người tuyên bố theo Kinh Thánh rằng họ có quyền được sinh sống trong khu vực mà họ gọi là Judea và Samaria, từ quan điểm quân sự, đối với Israel, một lực lượng phi-Israel không thể được phép kiểm soát những cao điểm này, vì từ đó vũ khí hạng nặng có thể bắn xuống đồng bằng duyên hải nơi 70% dân số Israel sinh sống. Đồng bằng này cũng bao gồm các hệ thống đường bộ quan trọng nhất của Israel, nhiều công ty công nghệ cao thành đạt, sân bay quốc tế và hầu hết các ngành công nghiệp nặng.
Đây là một lý do dẫn tới nhu cầu “an ninh” của phía Israel và việc nó một mực cho rằng, ngay cả khi có một nhà nước Palestine độc lập, nhà nước đó cũng không thể có quân đội với vũ khí hạng nặng đặt trên đỉnh núi, và Israel cũng phải duy trì quyền kiểm soát đường biên giới với Jordan. Do Israel quá nhỏ, nó không có “chiều sâu chiến lược” thực sự, không có nơi nào để rút lui nếu tuyến phòng thủ của nó bị chọc thủng, và vì vậy về mặt quân sự, Israel tập trung vào việc cố đảm bảo không ai có thể đến gần. Hơn nữa, khoảng cách từ biên giới Bờ Tây đến Tel Aviv chỉ có mười dặm ở đoạn hẹp nhất; từ sườn núi Bờ Tây, bất kỳ đội quân tương đối lớn nào cũng có thể cắt Israel ra làm đôi. Tương tự, trong trường hợp của Bờ Tây, Israel không để cho bất kỳ nhóm quân sự nào trở nên hùng mạnh có thể đe dọa đến sự tồn tại của nó.
Trong điều kiện hiện tại, Israel phải đối mặt với các – mối đe dọa an ninh và cuộc sống của người dân bởi các tấn công khủng bố và hỏa lực tên lửa từ các nước láng giềng kề sát, nhưng đó không phải là mối đe dọa đối với chính sự tồn tại của nước này. Ai Cập, về phía tây nam, không phải là mối đe dọa. Có một hiệp ước hòa bình hiện vẫn phù hợp với cả hai bên, và bán đảo Sinai bán phi quân sự đóng vai trò như một vùng đệm giữa hai nước. Về phía đông, bên kia biển Đỏ tại Aqaba thuộc Jordan, sa mạc cũng che chở cho Israel, hiệp ước hòa bình của họ với Amman cũng vậy. Về phía bắc có một mối đe dọa tiềm tàng từ Lebanon nhưng là tương đối nhỏ, dưới dạng những đợt tập kích qua biên giới và / hoặc pháo kích hạn chế. Tuy nhiên, nếu và khi nhóm Hezbollah ở Lebanon sử dụng tên lửa lớn hơn và có tầm xa hơn để bắn sâu vào Israel, thì động thái đáp trả sẽ trở nên dữ dội.
Mối đe dọa tiềm tàng nghiêm trọng hơn đến từ nước láng giềng lớn hơn của Lebanon, Syria. Trong lịch sử, Damascus muốn và cần con đường tiếp cận trực tiếp đến bờ biển. Syria vẫn luôn coi Lebanon là một phần của mình (và quả thực là vậy) và vẫn còn cay đắng về việc binh sĩ của họ bị buộc phải rút quân vào năm 2005. Nếu tuyến đường ra biển đó bị chặn, phương án thay thế là vượt qua cao nguyên Golan và chạy xuống vùng đồi núi xung quanh biển Galilee trên đường đến Địa Trung Hải. Nhưng cao nguyên Golan đã bị Israel chiếm giữ trong cuộc chiến tranh Sáu ngày vào năm 1967, và quân đội Syria sẽ phải thực hiện một cuộc công kích quy mô lớn để vượt qua được vùng đồng bằng ven biển dẫn đến các trung tâm dân cư lớn của Israel. Điều này không thể không tính đến tại một thời điểm nào đó trong tương lai, nhưng trong trung hạn, nó rất khó có thể xảy ra, và chừng nào cuộc nội chiến Syria còn tiếp tục, thì đó là điều bất khả.
Vấn đề còn lại là Iran – việc này cần được cân nhắc nghiêm túc hơn vì nó làm nảy sinh vấn đề về vũ khí hạt nhân.
Iran là một gã khổng lồ phi Ả-rập, đa số dân nói tiếng Farsi. Nó lớn hơn ba nước Pháp, Đức và Anh cộng lại, nhưng trong khi tổng số dân của ba nước đó lên đến 200 triệu thì Iran chỉ có 78 triệu người. Với không gian có thể định cư hạn chế, hầu hết dân cư sống ở vùng núi; các sa mạc lớn và đồng bằng muối trong nội địa lran không phải là nơi con người có thể sinh sống. Chỉ mỗi việc chạy xe qua các vùng này cũng đủ khiến người ta nhụt chí, và sinh sống ở đó là một cuộc tranh đấu ít người dám dấn thân.
Có hai dãy núi khổng lồ ở Iran: dãy Zagros và dãy Elburz. Dãy Zagros chạy từ phía bắc, xuống chín trăm dặm dọc theo biên giới giữa Iran với Thổ Nhĩ Kỳ và lraq, kết thúc ở gần eo biển Hormuz trong vùng Vịnh. Trong nửa phía nam của dãy núi có một đồng bằng về phía tây, nơi sông Shatt al-Arab chia cắt Iran và Iraq. Đây cũng là nơi có các mỏ dầu lớn của Iran, các mỏ khác nằm ở phía trung tâm đất nước. Tổng trữ lượng dầu trong các mỏ này được cho là lớn thứ ba trên thế giới. Dẫu vậy, Iran vẫn còn tương đối nghèo do quản lý yếu kém, tham nhũng, địa hình miền núi cản trở các kết nối giao thông và do các biện pháp trừng phạt kinh tế đã phần nào ngăn chặn một số lĩnh vực công nghiệp có thể hiện đại hóa.
Dãy Elburz cũng bắt đầu ở phía bắc, nhưng dọc theo biên giới với Armenia. Nó chạy dọc toàn bộ chiều dài của bờ phía nam biển Caspi và nối vào biên giới với Turkmenistan trước khi hạ dân độ cao khi đến Afghanistan. Đây là dãy núi bạn có thể nhìn thấy từ thú đô Tehran, cao chót vót phía trên thành phố về phía bắc. Elburz mang lại cảnh quan ngoạn mục, cũng như một bí mật được cất giữ còn hơn cả dự án hạt nhân của lran: điều kiện trượt tuyết hết sức tuyệt vời trong vài tháng mỗi năm.
Iran được che chở bởi địa lý như vậy, với núi non bao bọc ba mặt, đầm lầy và nước ở mặt thứ tư. Người Mông Cổ là lực lượng cuối cùng có thể tiến vào lãnh thổ này năm 1219-1221, và kể từ đó, những kẻ tấn công đã phải tự chuốc lấy tiêu vong khi cố vượt qua vùng núi non này. Vào thời điểm Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai năm 2003, ngay cả Hoa Kỳ, lực lượng thiện chiến nhất mà thế giới từng thấy, cũng không dám rẽ phải khi tiến vào lraq từ phía nam, họ tự biết rằng kể cả với hỏa lực áp đảo, lran cũng không phải một đất nước có thể xâm lược. Thực tế, thời đó quân đội Hoa Kỳ đã có một câu khẩu quyết: “Chúng ta chịu được sa mạc, nhưng núi thì không.”
Năm 1980, khi cuộc chiến tranh Iran-lraq nổ ra, người lraq đã sử dụng sáu sư đoàn để vượt qua sông Shatt al-Arab trong một chiến dịch nhằm thôn tính tỉnh Khuzestan của lran. Họ thậm chí không bao giờ vượt qua được vùng đồng bằng đầm lầy, đừng nói tới việc tiến đến chân dãy Zagros. Cuộc chiến sa lầy tám năm, lấy đi sinh mạng của ít nhất một triệu người.
Địa hình đồi núi của Iran có nghĩa là xây dựng một nền kinh tế liên kết hỗ tương là việc rất khó khăn, và rằng Iran có nhiều nhóm thiểu số, mỗi nhóm đều có những đặc trưng được xác định rõ nét. Ví dụ Khuzestan đa số là người Ả-rập, những vùng khác có người Kurd, người Azeri,người Turkmen và người Georgia, và những nhóm sắc tộc khác nữa. Tối đa 60% đất nước nói tiếng Farsi, ngôn ngữ của người Ba Tư chiếm đa số. Kết quả của sự đa dạng này là Iran có truyền thống tập trung quyền lực và sử dụng vũ lực, cùng một mạng lưới tình báo đáng sợ để duy trì sự ổn định nội bộ. Tehran biết rằng sẽ chẳng ai xâm chiếm lran, nhưng cũng có khả năng các thế lực thù địch có thể sử dụng các nhóm dân tộc thiểu số để cố gắng kích động sự bất đồng và do đó gây nguy hiểm cho cuộc cách mạng Hồi giáo của nước này.
lran cũng có một nền công nghiệp hạt nhân mà nhiều quốc gia, đặc biệt là Israel, tin rằng đang được sử: để chuẩn bị cho việc chế tạo vũ khí hạt nhân, làm gia tăng sự căng thắng trong khu vực. Người Israel cảm thấy bị đe dọa bởi triển vọng vũ khí hạt nhân của Iran. Đó không chỉ là việc Iran có tiềm năng cạnh tranh với kho vũ khí của Israel và quét sạch Israel chỉ bằng một quả bom hạt nhân: nếu Iran chế tạo được bom hạt nhân, thì các nước Ả-rập có lẽ sẽ kinh hoảng và cố để cũng có bom hạt nhân. Ví dụ, người Ả-rập Saudi sợ rằng các ayatollah (thủ lĩnh Hồi giáo của Iran) muốn thống trị vùng này, đưa tất cả dân Ả-rập Shia quy thuận dưới sự lãnh đạo của họ, và thậm chí còn có mưu đồ kiểm soát các thành phố thánh Mecca và Medina. Một nước Iran được trang bị vũ khí hạt nhân sẽ là một bá quyền trong khu vực, và để đối phó với mối nguy ấy, Saudi có lẽ sẽ cố mua vũ khí hạt nhân từ Pakistan (nước mà họ có quan hệ chặt chẽ). Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ có thể nối bước theo sau.
Điều này có nghĩa là mối đe dọa về một cuộc không kích của Israel vào các cơ sở hạt nhân của lran liên tục hiện diện, nhưng có nhiều nhân tố ngăn trở. Một là khoảng cách theo đường thẳng dài một ngàn dặm từ Israel đến Iran. Không quân Israel sẽ cần phải vượt qua hai biên giới có chủ quyền, của Jordan và lraq; và lraq chắc chắn sẽ thông báo trước với lran rằng cuộc tấn công sắp xảy ra. Yếu tố thứ hai là bất kì tuyến đường nào khác đều đòi hỏi khả năng tiếp nhiên liệu nằm ngoài lãnh thổ Israel, và (nếu bay tuyến phía bắc) cũngp hải bay qua những lãnh thổ có chủ quyền. Lý do cuối cùng là Iran nắm giữ thứ có thể là một con át chủ bài – khả năng phong tỏa eo biển Hormuz tại vùng vịnh mà mỗi ngày, tùy thuộc vào doanh số bán, khoảng 20% nhu cầu dầu của toàn thế giới đi qua. Tại điểm hẹp nhất của eo biển này, được coi là điểm có vai trò chiến lược nhất trên thế giới, chỉ rộng có hai mươi mốt dặm. Thế giới công nghiệp hóa lo sợ tác động của việc đóng cửa Hormuz có thể diễn ra suốt nhiều tháng ròng, đẩy giá cả tăng vọt theo đường xoắn ốc. Đây là một trong những lý do khiến nhiều nước gây áp lực không để cho Israel hành động.
Trong thập niên 2000, Iran lo sợ bị bao vây bởi Hoa Kỳ. Hải quân Hoa Kỳ đóng ở vùng Vịnh, trong khi lục quân Hoa Kỳ đóng tại Iraq và Afghanistan. Với sự cắt giảm quân sự ở cả hai quốc gia kể trên, nỗi lo sợ của người lran giờ đã phai nhạt, và Iran được để lại ở vị trí ưu thế với một tuyến liên hệ trực tiếp tới các đồng minh của mình tại Iraq, nơi phe Ả-rập Shia áp đảo. Phía nam lraq cũng là một cầu nối cho lran với các đồng minh Alawite của mình ở Damascus, và sau đó đến các đồng minh Ả-rập Shia núp bóng nhóm Hezbollah tại Lebanon trên bờ biển Địa Trung Hải.
Từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 4 trước Công nguyên, Đế chế Ba Tư (tiền thân của lran) trải dài một dải suốt từ Ai Cập đến Ấn Độ. Iran ngày nay không có một ý đồ đế quốc như vậy, nhưng nước này tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình, và chiều hướng rõ ràng là qua các vùng đất bằng phẳng về phía Tây – thế giới Ả-rập và các khi cuộc xâm lược của Hoa Kỳ chịu lùi bước chính phủ đa số là người Shia. Điều này đã đánh động Ả-rập Saudi nơi phái Sunni thống trị và góp phần tiếp lửa cho phiên bản Trung Đông của cuộc Chiến tranh Lạnh mà cốt lõi là mối quan hệ Saudi-lran. Ả-rập Saudi có thể lớn hơn Iran, có thể giàu hơn lran gấp nhiều lần nhờ có các ngành công nghiệp dầu khí phát triển tốt, nhưng dân số của nước này nhỏ hơn nhiều (28 triệu người Á-rập Saudi so với 78 triệu người lran), và về mặt quân sự, nó không tự tin vào khả năng đối phó với nước Ba Tư láng giềng của mình nếu cuộc chiến tranh lạnh này trở nên nóng bỏng và các lực lượng của hai bên đối đầu trực tiếp. Mỗi bên đều có tham vọng trở thành thế lực thống trị trong khu vực, và mỗi bên đều tự coi mình là người bảo vệ của phiên bản Hồi giáo tương ứng. Khi lraq còn nằm dưới gót giày của Saddam, đó là một vùng đệm vững mạnh chia tách Ả-rập Saudi và lran; khi vùng đệm đó biến mất, hai nước hiện nay đang để mắt canh chừng nhau từ hai bờ vùng Vịnh. Thỏa thuận do Hoa Kỳ lãnh đạo về các cơ sở hạt nhân của Iran, được ký kết vào mùa hè năm 2015, không thể trấn an các nước vùng Vịnh rằng mối đe dọa từ lran đối với họ đã giảm bớt, và cuộc khẩu chiến ngày càng gay gắt giữa Ả-rập Saudi với Iran vẫn tiếp diễn, bên cạnh một cuộc chiến đôi khi được ủy thác cho một bên khác chiến đấu, đáng chú ý nhất là tại Yemen.
Các phương tiện truyền thông phương Tây tập trung vào phản ứng của Israel đối với thỏa thuận kể trên, nhưng truyền thống Ả-rập trên toàn bộ khu vực hoàn toàn chống lại nó, một số tờ báo so sánh thỏa thuận này với Hiệp định Munich năm 1938. Một tờ báo hàng đầu của Saudi còn kêu gọi vương quốc này bắt đầu chế tạo bom hạt nhân để sẵn sàng cho thời điểm Iran cũng làm như vậy.
Đây là bối cảnh cho các sự kiện gây sốc vào đâu năm 2016, khi Ả-rập Saudi (một quốc gia có người Sunni chiếm đa số) hành quyết bốn mươi bảy tù nhân trong một ngày, trong đó có tộc trưởng lão thành nhất của phái Shia, Nimr al Nimr. Đây là một động thái có toan tính của hoàng gia đương quyền thuộc phái Sunni, để thể hiện cho thế giới, bao gồm cả Hoa Kỳ, rằng dù có thỏa thuận hạt nhân hay không, Saudi vẫn sẽ đối mặt với Iran. Các cuộc biểu tình nổ ra khắp thế giới Hồi giáo Shia, đại sứ quán Ả-rập Saudi tại Tehran lập tức bị đập phá và phóng hỏa, quan hệ ngoại giao giữa hai nước bị cắt đứt, và bối cảnh đó được sắp đặt cho sự tiếp diễn của cuộc nội chiến Sunni/Shia ác liệt. Cuộc chiến này diễn ra theo một số chiều hướng và thậm chí các nhà nước Sunni cũng xung đột lẫn nhau về mặt ngoại giao. Năm 2017, Ả-rập Saudi, UAE (các Tiểu Vương quốc Ả-rập Thống nhất), Bahrain và Ai Cập đã chấm dứt quan hệ với Qatar, cáo buộc nước này hỗ trợ hoạt động khủng bố. Một cuộc phong tỏa kinh tế xảy ra sau đó, dẫn tới việc Qatar chấp nhận viện trợ bằng đường không từ Iran, quốc gia này nhanh chóng nhìn thấy một cơ hội để tiếp tục chia rẽ các quốc gia vùng Vịnh hơn nữa.
Phía tây của Iran là một quốc gia thuộc cả châu Âu và châu Á. Thổ Nhĩ Kỳ nằm trên biên giới của các vùng đất Ả-rập nhưng không thuộc Ả-rập, và mặc dù hầu hết diện tích đất đai rộng lớn của nó là một phần của khu vực Đại Trung Đông, nhưng nó cố gắng tránh xa những xung đột đang diễn ra ở đó.
Thổ Nhĩ Kỳ chưa bao giờ thực sự được các láng giềng phía bắc và tây bắc của mình công nhận là một phần của châu Âu. Nếu Thổ Nhĩ Kỳ thuộc về châu Âu, thì biên giới của châu Âu nằm ở phía xa của đồng bằng Anatolia rộng lớn, có nghĩa là châu Âu dừng lại ở biên giới Syria, lraq và lran. Đây là một khái niệm mà ít người chấp nhận. Nếu Thổ Nhĩ Kỳ không phải là một phần của châu Âu, thì nó ở đâu? Thành phố lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ, Istanbul, là Thành phố Văn hóa châu Âu năm 2010, Thổ tranh đua trong cuộc thi Eurovision Song và tham gia cúp bóng đá UEFA European Championship, nó đăng ký trở thành thành viên của Liên minh châu Âu
vào những năm 1970; vậy mà chưa tới 5% lãnh thổ của nó là ở châu Âu. Hầu hết các nhà địa lý đều coi vùng đất nhỏ của Thổ Nhĩ Kỳ nằm ở phía tây Bosphorus là thuộc châu Âu, và phần còn lại của đất nước, phía nam và đông nam Bosphorus, thuộc Trung Đông (theo nghĩa rộng nhất của địa danh này).
Đó là một lý do tại sao Thổ Nhĩ Kỳ chưa bao giờ được chấp nhận vào EU. Các yếu tố khác là hồ sơ nhân quyền của nước này, đặc biệt khi nhắc đến người Kurd, và nền kinh tế của Thổ. Dân số của Thổ Nhĩ Kỳ là 75 triệu và các nước châu Âu lo sợ rằng, do sự khác biệt về mức sống, việc Thổ trở thành thành viên EU sẽ dẫn đến một làn sóng lao động di cư ồ ạt. Có thể còn có một yếu tố nữa, mặc dù không được nói ra trong EU, Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia đa số là người Hồi giáo (98%). EU không phải là một tổ chức thế tục hay một tổ chức Kitô giáo, nhưng đã diễn ra một cuộc tranh luận gay go về “các giá trị”. Đối với mỗi lập luận chấp thuận Thố Nhĩ Kỳ vào EU lại có một lập luận chống lại, và trong thập niên qua, triển vọng cho Thổ Nhĩ Kỳ tham gia EU đã suy giảm. Điều này đã khiến Thổ phải suy nghĩ về những lựa chọn khác có thể có.
Hồi những năm 1920, có ít nhất một người đàn ông, mà với ông không hề có sự lựa chọn khác. Tên của ông là Mustafa Kemal và ông là vị tướng duy nhất của Thổ Nhĩ Kỳ sống sót sau Thế chiến I với danh tiếng nổi bật. Sau khi những thế lực chiến thắng chia cắt Thổ Nhĩ Kỳ, Mustafa Kemal trở thành tổng thống với một cương lĩnh chống đối các điều khoản của phe Đồng minh, nhưng đồng thời hiện đại hóa Thổ Nhĩ Kỳ và biến nó thành một phần của châu Âu. Các bộ luật phương Tây và bộ lịch Gregorian được ban hành và các thiết chế công của Hồi giáo bị cấm đoán. Mũ fez bị cấm, bảng chữ cái Latinh thay thế chữ cái Ả-rập, và Kemal thậm chí chấp nhận trao quyền bầu cử cho phụ nữ (đi trước Tây Ban Nha hai năm, và trước Pháp mười lăm năm). Năm 1934, khi người Thổ Nhĩ Kỳ bắt buộc phải mang tên họ (surname) vệ mặt pháp lý, Kemal được nhận cái tên “Ataturk” – “Cha già của người Thổ”. Ông qua đời vào năm 1938 nhưng các nhà lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ kế nghiệp vẫn tiếp tục nỗ lực để đưa Thổ Nhĩ Kỳ vào Tây Âu, và những ai không thấy mình đứng sau phía trong cuộc đảo chính quân sự đã quyết tâm hoàn tất di sản của Ataturk.
Tuy nhiên, vào cuối những năm 1980, sự phản đối liên tục của châu Âu và sự từ chối bướng bỉnh của nhiều thường dân Thổ Nhĩ Kỳ không muốn đất nước bớt chất tôn giáo đi đã dẫn đến kết quả là một thế hệ các chính trị gia bắt đầu nghĩ đến điều không thể tưởng tượng – rằng có lẽ Thổ Nhĩ Kỳ cần có một Kế hoạch B. Tổng thống Turgut Ozal, một người mộ đạo, nhậm chức vào năm 1989 và bắt đầu phong trào thay đổi. Ông khuyến khích người dân một lần nữa coi Thổ Nhĩ Kỳ là cầu nối đất liền lớn giữa châu Âu, châu Á và Trung Đông, và là một đất nước có thể thêm một lần trở thành một cường quốc lớn trong cả ba lục địa. Tổng thống đương nhiệm, Recep Tayyip Erdogan, cũng có những tham vọng tương tự, thậm chí có lẽ còn lớn hơn, nhưng phải đối mặt với những trở ngại tương tự để đạt được chúng. Những trở ngại đó một phần thuộc về địa lý.
Về mặt chính trị, các quốc gia Ả-rập vẫn nghi ngờ Erdogan muốn tái lập Đế chế Ottoman bằng con đường kinh tế, và họ phản đối những ràng buộc quá chặt chẽ. Người Iran nhận thấy Thổ Nhĩ Kỳ là đối thủ cạnh tranh về kinh tế và quân sự mạnh nhất nơi sân sau của họ. Các mối quan hệ, chưa bao giờ ấm áp, càng nguội lạnh hơn do họ đứng về hai phía đối lập nhau trong việc hỗ trợ cho các phe phái tham gia cuộc nội chiến Syria. Sự ủng hộ mạnh mẽ của Thổ Nhĩ Kỳ đối với chính phủ của Hội Anh em Hồi giáo ở Ai Cập là một chính sách phản tác dụng khi quân đội Ai Cập tổ chức cuộc đảo chính thứ hai và lên nắm quyền. Mối quan hệ giữa Cairo và Ankara hiện đang đóng băng.
Tệ hơn nữa vẫn là mối quan hệ giữa Ankara và Moscow. Người Thổ Nhĩ Kỳ và người Nga đã bất hòa suốt năm trăm năm, nhưng trong thế kỷ qua họ gần như đã học được cách chấp nhận chung sống mà không gây ra quá nhiều xích mích. Cuộc nội chiến Syria đã thay đổi điều đó, với việc Nga ủng hộ Tổng thống Assad và Thổ Nhĩ Kỳ nỗ lực hết sức để lật đổ chế độ Assad và thay thế bằng một chính phủ do Hồi giáo Sunni lãnh đạo. Mọi thứ đã dẫn đến thế đối đầu vào cuối năm 2015 sau khi Nga can thiệp vào Syria bằng quân sự. Thổ Nhĩ Kỳ bắn hạ một chiến đấu cơ phản lực SU24 của Nga, mà Thổ tuyên bố đã vi phạm không phận của mình. Một cuộc khẩu chiến gay gắt theo sau, thậm chí còn có mối họa mơ hồ rằng nó sẽ biến thành một màn đấu súng thực sự, nhưng cả hai bên chấp nhận dừng lại ở những lời đả kích và biện pháp phong tỏa kinh tế. Cuộc tranh cãi quyết liệt này không chỉ là về Syria và máy bay chiến đấu của Nga – mà còn về việc Thổ Nhĩ Kỳ và Nga tranh giành ảnh hưởng ở biển Đen, biển Caspi, và giữa các sắc dân Thổ tại các nước như Turkmenistan. Cả hai đều biết rằng khi Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục phát triển, nước này sẽ tìm cách đối đầu với Nga trong các quốc gia “stans” và không có ý định lùi bước trước các vấn đề chủ quyền lãnh thổ và “danh dự”.
Tầng lớp tinh hoa của Thổ Nhĩ Kỳ đã học được rằng tìm cách ghi điểm trước thế giới Hồi giáo bằng cách gây chiến với Israel sẽ dẫn tới kết quả là Israel hợp tác với Cyprus và Hy Lạp để tạo ra một liên minh năng lượng ba bên nhằm khai thác các mỏ khí đốt ngoài khơi từng nước. Quan điểm mập mờ của chính phủ Ai Cập về Thổ Nhĩ Kỳ đang góp phần vào mối quan tâm của Cairo trong việc trở thành khách hàng lớn cho nguồn năng lượng mới này. Trong khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ, nước có thể được hưởng lợi từ nguồn năng lượng của Israel, vẫn phải phụ thuộc phần lớn vào kẻ thù cũ là nước Nga để đáp ứng nhu cầu năng lượng của mình, trong khi đồng thời hợp tác với Nga để phát triển các đường ống mới cung cấp năng lượng cho các nước EU.
Hoa Kỳ lo lắng trước cuộc chiến tranh lạnh mới giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Israel, hai trong số các đồng minh của mình, đang cố gắng đưa họ trở lại với nhau. Hoa Kỳ muốn hai nước có mối quan hệ tốt đẹp hơn để củng cố vị trí của NATO ở khu vực phía đông Địa Trung Hải. Đối với NATO, Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia trọng yếu vì nước này kiểm soát lối ra vào biển Đen qua eo biển hẹp Bosporus. Nếu Thổ phong tỏa lối ra vào eo biển vốn chỉ rộng chưa đến một dặm ở khúc hẹp nhất, Hạm đội biển Đen của Nga không thể đột nhập vào Địa Trung Hải và sau đó đi ra Đại Tây Dương. Ngay cả đi qua Bosphorus bạn cũng chỉ đến được biển Marmara; bạn vẫn phải bẻ lái qua eo biển Dardanelles để đến biển Aegean trên đường tới Địa Trung Hải.
Với khối đất liền rộng lớn của mình, Thổ Nhĩ Kỳ thường không được coi là một cường quốc biển, nhưng nước này giáp giới với ba biển, và quyền kiểm soát các vùng biển này của nó khiến Thổ Nhĩ Kỳ luôn là một thế lực đáng phải lưu tâm. Nước này cũng là một câu nối thương mại và giao thông vận tải liên kết châu Âu với Trung Đông, với vùng Caucasus và ngược lên phía bắc đến các nước Trung Á mà nó chia sẻ lịch sử và các mối ràng buộc về sắc tộc ở một số vùng.
Thổ Nhĩ Kỳ quyết tâm đứng tại vị trí giao lộ của lịch sử kể cả khi giao thông qua đó đôi khi có thể nguy hiểm. Trang web của Bộ Ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ nhấn mạnh điều này trong phần “Tóm tắt chính sách đối ngoại”: “Địa lý Á Âu-Phi, mà Thổ Nhĩ Kỳ nằm ở tâm chấn, chính là một khu vực nơi những cơ hội và rủi ro tương tác lẫn nhau rất dữ đội.” Trang web này cũng nói: “Thổ Nhĩ Kỳ quyết tâm trở thành một thành viên đầy đủ của Liên minh châu Âu như một phần của nỗ lực hai thế kỷ qua nhằm đạt tới mức độ cao nhất của nền văn minh đương đại.
Điều đó dường như không có khả năng xảy ra trong ngắn hạn và trung hạn. Cho đến một vài năm trước Thổ Nhĩ Kỳ đã nêu tấm gương về cách thức mà một quốc gia Trung Đông, không kể Israel, có thể chấp nhận nền dân chủ. Tấm gương đó đã phải lãnh những chấn thương nặng nề gần đây với vấn đề người Kurd vẫn đang tiếp diễn, với những khó khăn khi đương đầu một số cộng đồng Kitô giáo nhỏ và sự hỗ trợ ngầm cho các nhóm Hồi giáo trong cuộc chiến chống lại chính phủ Syria. Cuộc đảo chính thất bại năm 2016 đã mở đường cho chính phủ Erdogan đẹp tan hết các phe đối lập. Hệ quả là hơn năm mươi ngàn người đã bị bắt và một trăm năm mươi ngàn người bị đuổi việc.
Những phát biểu của Tổng thống Erdogan về người Do Thái, về chủng tộc và bình đẳng giới, đi kèm với sự Hồi giáo hóa từng bước của Thổ Nhĩ Kỳ, cũng đã rung lên hồi chuông báo động. Tuy nhiên, so với đa số các quốc gia Ả-rập, Thổ Nhĩ Kỳ phát triển vượt xa hơn và cũng dễ nhận dạng hơn xét như một nền dân chủ. Erdogan có thể đang phá hỏng một số thành tựu của Ataturk, nhưng thế hệ con cháu của vị cha già dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ được sống tự do hơn bất cứ ai khác trong các quốc gia Ả-rập Trung Đông.
Bởi vì các quốc gia Ả-rập không được trải nghiệm bầu không khí cởi mở tương tự và phải chịu đựng chủ nghĩa thực dân, họ không sẵn sàng biến các cuộc nổi dậy Ả-rập (làn sóng các cuộc biểu tình bắt đầu vào năm 2010) thành một Cách mạng Mùa xuân Ả-rập thực sự. Thay vào đó, họ rơi vào bạo loạn và nội chiến không ngừng nghỉ.
Mùa xuân Ả-rập là một cái tên nhầm lẫn, do giới truyền thông chế ra; nó che mờ sự hiểu biết của chúng ta về những gì đang xảy ra. Quá nhiều phóng viên đổ xô đến phỏng vấn những con người trẻ tuổi theo chủ nghĩa tự do đứng quanh quảng trường thành phố, đeo những tấm bảng viết bằng tiếng Anh, và nhận lầm họ là tiếng nói thực sự của người dân và hướng đi của lịch sử. Một số nhà báo đã mắc lỗi tương tự trong cuộc “Cách mạng Xanh” của lran, mô tả những sinh viên trẻ tuổi ở phía bắc Tehran là “Tuổi trẻ của Iran”, do đó bỏ qua những thanh niên Iran khác đang tham gia dân quân của phe đối lập Basij và lực lượng Vệ binh Cách mạng.
Năm 1989, ở Đông Âu tổn tại một hình thức của chủ nghĩa toàn trị: chế độ cộng sản. Trong tâm trí đa số người dân, chỉ có một hướng để đi: hướng tới nền dân chủ, vốn đang phát triển mạnh ở phía bên kia Bức màn sắt. Đông và Tây chia sẻ một ký ức lịch sử về những thời kỳ của dân chủ và xã hội dân sự. Thế giới Ả-rập năm 2011 chẳng được hưởng thứ gì trong hai thứ đó và nhìn về nhiều hướng khác nhau. Đã và vẫn xuất hiện các chiều hướng dân chủ (democracy), dân chủ tự do (liberal democracy) (hai ý niệm dân chủ này khác nhau), chủ nghĩa dân tộc, sự sùng bái những nhà lãnh đạo tài giỏi và một chiều hướng mà nhiều người đã phải đối mặt ngay từ đầu – Hồi giáo trong các vỏ bọc khác nhau của nó, bao gồm cả chủ nghĩa Hồi giáo (cực đoan).
Tại Trung Đông, quyền lực thực sự phát xuất từ họng súng. Một số công dân tốt của Misrata tại Libya có thể mong muốn phát triển một đảng dân chủ tự do, số khác thậm chí có thể muốn vận động cho quyền đồng tính; nhưng sự lựa chọn của họ sẽ bị giới hạn nếu những thế lực tôn tại trên thực tế của địa phương bắn thẳng vào những người theo chủ nghĩa dân chủ tự do và những người đồng tính. Iraq là một trường hợp điển hình: một nên dân chủ chỉ trên danh nghĩa, xa lắc với tự do, và là nơi người ta bị giết như chuyện thường ngày chỉ vì có xu hướng đồng tính luyến ái.
Giai đoạn thứ hai của cuộc nổi dậy Ả-rập cũng đã khởi động đúng lúc. Đây là cuộc đấu tranh nội bộ phức tạp bên trong các xã hội nơi mà tín ngưỡng tôn giáo, đạo đức xã hội, những mối liên hệ bộ lạc và súng đạn hiện mạnh hơn nhiều so với các ý tưởng “phương Tây” về bình đẳng, tự do biểu đạt và quyền phổ thông đầu phiếu. Các quốc gia Ả-rập bị vây bọc bởi định kiến, lòng hận thù thực sự mà một người phương Tây bình thường hầu như không biết, đến mức người ấy sẽ có xu hướng không tin những điều như vậy ngay cả khi chúng có được bày ra trước mắt họ trên sách báo. Chúng ta nhận thức được vô vàn những định kiến của riêng mình, nhưng chúng ta thường nhắm mắt làm ngơ đối với những định kiến của người Trung Đông.
Sự biểu hiện thường ngày của lòng thù hận đối với người khác hết sức phổ biến trong thế giới Ả-rập đến mức nó hầu như không còn khơi dậy lời phê phán của ai khác ngoài nhóm thiểu số Tây học theo chủ nghĩa tự do trong khu vực, những người có quyền truy cập rất hạn chế vào nền tảng của phương tiện thông tin đại chúng. Những biếm họa
bài Do Thái gợi nhớ về tờ báo tuyên truyền của Đức Quốc xã Der Sturmer vốn khá nổi tiếng. Hết tuần này đến tuần khác, hình ảnh những vị Imam cực đoan với những phát ngôn gây sốc được bố trí vào các chương trình truyền hình ở khung giờ vàng.
Những người phương Tây biện hộ cho loại hành vi này đôi khi bị trói chân trói tay vì sợ bị coi là một trong những kẻ “theo chủ nghĩa phương Đông“ (Orientalists) của Edward Said. Họ phản bội các giá trị tự do của mình bằng cách phủ nhận tính phổ quát của chúng. Những người khác, ngây thơ nói rằng những lời kích động giết chóc như vậy không phải là phổ biến và phải được xem xét trong bối cảnh của ngôn ngữ Ả-rập, thứ ngôn ngữ có thể dẫn người ta đến chỗ lộng ngôn không thực tế. Điều này thể hiện sự thiếu hiểu biết của họ về cuộc sống “đường phố Ả-rập”, vai trò của truyền thông Ả-rập chính thống và một thái độ không chịu hiểu rằng khi những con người đây hận thù phát ngôn điều gì đó, họ thực sự có ý như vậy.
Khi Hosni Mubarak bị hất khỏi chức vụ tổng thống Ai Cập, quả thực chính sức mạnh của dân chúng đã lật đổ ông ta, nhưng điều mà thế giới bên ngoài không nhìn thấy là quân đội đã chờ đợi nhiều năm để có cơ hội loại bỏ Mubarak và người con trai ông là Gamal, và chiến địa trên đường phố đã cung cấp tấm màn sân khấu mà họ cần. Chỉ đợi đến khi Hội Anh em Hồi giáo kêu gọi những người ủng hộ nó ra mặt, rằng che đậy thế là đủ rồi. Chỉ có ba thiết chế ở Ai Cập: Đảng Dân chủ Quốc gia của Mubarak, quân đội và Hội Huynh đệ Hồi giáo. Hai tổ chức thứ hai và thứ ba đã tiêu diệt tổ chức thứ nhất, sau đó Hội Huynh đệ Hồi giáo đã thắng trong cuộc bầu cử và bắt đầu biến Ai Cập thành một nhà nước Hồi giáo, để rồi phải trả giá bằng việc chính nó bị lật đổ bởi sức mạnh thực sự ở xứ này – quân đội.
Phe Hồi giáo vẫn là thế lực thứ hai, mặc dù hiện nay họ hoạt động ngầm. Khi các cuộc biểu tình chống Mubarak lên đến đỉnh cao, các cuộc tụ tập ở Cairo đã thu hút mấy trăm nghìn người. Sau sự sụp đổ của Mubarak, khi nhà thuyết giáo cực đoan của Hội Huynh đệ Hồi giáo Yusuf al-Qaradawi trở về sau những ngày lưu vong ở Qatar, ít nhất một triệu người đã chào đón ông, nhưng ít người trong giới truyền thông phương Tây gọi đây là “tiếng nói của dân”. Những người theo chủ nghĩa tự do đã chưa bao giờ có cơ hội. Hiện nay cũng không. Điều này không phải vì người dân trong vùng có tư tưởng cực đoan; mà bởi vì nếu bạn đói và sợ hãi, và bạn được chào mời hoặc bánh mì cộng với sự an toàn, hoặc khái niệm về dân chủ, thì sự lựa chọn sẽ chẳng có gì khó khăn cả.
Trong các xã hội nghèo đói với rất ít tổ chức chịu trách nhiệm, quyền lực sẽ nằm trong tay các băng nhóm được ngụy trang dưới cái vỏ “dân quân” và “đảng phái chính trị”. Trong khi họ tranh giành quyền lực, đôi khi được cổ vũ bởi những cảm tình viên phương Tây ngây thơ, thì rất nhiều người vô tội thiệt mạng. Điều này dường như sẽ xảy ra tại Libya, Syria, Yemen, lraq và có thể cả các nước khác trong nhiều năm tới. Người Mỹ muốn giảm bớt các hoạt động chính trị và quân sự trong khu vực này do nhu cầu nhập khẩu năng lượng của họ đã giảm; nếu họ rút đi, khi đó có thể Trung Quốc, và Ấn Độ ở một mức độ thấp hơn, sẽ tham gia theo tỉ lệ tương đương với sự quan tâm mà Hoa Kỳ đã mất đi. Người Trung Quốc vốn đã là những tay chơi lớn tại Ả-rập Saudi, Iraq và Iran. Kịch bản này diễn ra ở cấp độ toàn cầu và sẽ được quyết định trong những tháp ngà tại thủ đô của các cường quốc. Trên mặt đất, trò chơi này sẽ được chơi bằng trí tưởng tượng, sự thiếu thốn, niềm hy vọng và nhu cầu của người dân, và đặt cọc bằng sinh mạng của họ. Sykes-Picot đang tan vỡ; hàn gắn nó trở lại, kể cả dưới một hình dạng khác, sẽ là một công việc lâu đài và đẫm máu.
Chương 7 - Ấn Độ và Pakistan
“Ấn Độ không phải là một dân tộc, không phải là một đất nước. Nó là tiểu lục địa của nhiều dân tộc”. – Muhammad Ali Jinnah.
Ấn Độ và Pakistan có thể đồng ý với nhau về một điều: chẳng ai muốn có kẻ kia ở bên cạnh mình. Nhưng điều này có chút vấn đề vì hai nước cùng chia sẻ một đường biên giới dài 1.900 dặm. Mỗi quốc gia đều khá giận dữ với sự đối kháng và vũ khí hạt nhân, vì vậy cách họ xử lý mối quan hệ không mong muốn này như thế nào là một vấn đề sống còn trên quy mô hàng chục triệu sinh mạng.
Ấn Độ có dân số gần 1,3 tỷ người, trong khi dân số Pakistan là 182 triệu. Nghèo đói, không ổn định và phân mảnh, Pakistan dường như tự xác định mình bằng sự chống đối của nước này đối với Ấn Độ, trong khi, mặc dù bị ám ảnh về Pakistan, Ấn Độ xác định mình theo nhiều cách, bao gồm cả việc trở thành một cường quốc mới nổi ở tầm cỡ thế giới với nền kinh tế đang phát triển và tầng lớp trung lưu đang mở rộng. Từ lợi thế này, nước này nhìn sang Pakistan và thấy mình áp đảo trên hầu hết các chỉ số kinh tế và dân chủ.
Hai nước đã trải qua bốn cuộc chiến tranh lớn và nhiều cuộc đụng độ nhỏ. Cảm xúc vẫn nóng bỏng. Một nhận xét khá quen thuộc từ một sĩ quan Pakistan rằng Pakistan sẽ làm cho Ấn Độ đổ máu bởi hàng ngàn vết cắt đã được phân tích quân sự, tiến sĩ Amarjit Singh, dãn ra trong một bài viết đăng trên tạp chí Quốc phòng Ấn Độ cuối năm 2014: “Bất kể những người khác có tin hay không, ý kiến của tôi chỉ đơn giản là Ấn Độ tốt hơn nên đương đầu với một cuộc tấn công hạt nhân tốn kém từ Pakistan, và giải quyết dứt điểm nó kể cả với cái giá tổn thất hàng chục triệu sinh mạng, còn hơn là chịu đựng sự nhục nhã và đau đớn ngày này qua ngày khác với hàng ngàn vết cắt và lãng phí năng lượng vào những tiềm năng không hiện thực hóa ra được.” Phát biểu này có thể không phản ánh chính sách chính thức của chính phủ Ấn Độ, nhưng nó là một chỉ dấu cho thấy chiều sâu của cảm xúc ở nhiều mức độ trong cả hai xã hội. Pakistan và Ấn Độ hiện đại được sinh ra trong khói lửa; trong cuộc chiến sắp tới, khói lửa có thể sẽ giết họ.
Cả hai nước bị ràng buộc với nhau trong phạm vi địa lý của tiểu lục địa Ấn Độ, lục địa này tạo ra một khung bao bọc tự nhiên. Vịnh Bengal, Ấn Độ Dương và biển Ả-rập ở các phía tương ứng là đông nam, nam và tây nam, dãy núi Hindu Kush ở phía tây bắc và dãy Himalaya ở phía bắc. Theo chiều kim đồng hồ, cao nguyên sa mạc Baluchistan dâng cao đều đặn trước khi trở thành vùng núi non của biên giới tây bắc, và nó còn vươn cao hơn nữa để trở thành dãy Hindu Kush. Quay sang phải, phía đông kết nối với dãy Karakoram, rồi dẫn đến dãy Himalaya. Những vùng cao này chạy dọc theo biên giới với Trung Quốc đến tận Miến Điện. Từ đó, nơi Ấn Độ uốn cong bao quanh Bangladesh, địa hình hạ thấp dần về phía nam đến vịnh Bengal.
Bên trong khung địa hình này bao gồm Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Nepal và Bhutan hiện tại. Hai nước Nepal và Bhutan là các quốc gia nội địa nghèo khó bị chi phối bởi các láng giềng khổng lồ, Trung Quốc và Ấn Độ. Vấn đề của Bangladesh không phải là nó thiếu con đường tiếp cận với biển, mà là biến có quá nhiều đường để tiếp cận Bangladesh: lũ lụt từ các vùng nước của vịnh Bengal liên tục quấy nhiễu dải lãnh thổ thấp này. Một vấn đề địa lý khác của Bangladesh là nó gần như hoàn toàn bị bao quanh bởi Ấn Độ, vì đường biên giới dài 2.545 dặm, được thỏa thuận vào năm 1974, giúp Ấn Độ quấn quanh Bangladesh, chỉ chừa lại cho nước này một đoạn biên giới ngắn với Miến Điện đóng vai trò một tuyến đường bộ thay thế dẫn ra thế giới bên ngoài.
Bangladesh rất bất ổn, và có các nhóm dân quân Hồi giáo cực đoan thường gây rắc rối cho Ấn Độ; nhưng không quốc gia nào trong số ba quốc gia nhỏ hơn trên tiểu lục địa này có thể nổi dậy đe dọa vị ông chủ không thể tranh cãi của họ. Pakistan lẽ ra cũng không được coi là mối đe dọa đối với Ấn Độ nếu nước này không làm chủ được công nghệ để phát triển vũ khí hạt nhân trong vài thập niên sau cuộc chia cắt của vùng này năm 1947.
Khu vực trong khung địa hình kể trên, mặc dù tương đối bằng phẳng, vẫn luôn quá lớn và quá đa dạng để có một sự cai trị tập trung vững mạnh. Ngay cả các lãnh chúa thời thuộc địa Anh, với bộ máy quân sự quan liêu khét tiếng của họ và hệ thống đường sắt kết nối, đã cho phép sự tự trị của khu vực và thực tế đã sử dụng nó để xúi bẩy các thủ lĩnh địa phương chống lại nhau. Sự đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa phần nào là do sự khác biệt về vùng khí hậu – ví dụ, khí hậu băng giá ở phía bắc dãy Himalaya trái ngược với các khu rừng nhiệt đới phía nam – nhưng còn là do sông ngòi và các tôn giáo đa dạng của tiểu lục địa này.
Các nền văn minh đa dạng đã phát triển dọc theo các con sông, như sông Hằng (Ganges), sông Brahmaputra Và sông Ấn (Indus). Cho đến nay, các trung tâm dân cư mọc lên rải rác dọc bên bờ những con sông này, và các vùng miền vốn rất khác biệt nhau – ví dụ Punjab, với đa số người Sikh, và Tamil Nadu với những người nói tiếng Tamil – vốn là dựa trên sự phân chia địa lý như vậy.
Các cường quốc khác nhau đã xâm chiếm tiểu lục địa này trong nhiều thế kỷ, nhưng không thế lực nào thực sự chinh phục được nó. Thậm chí ngay hiện nay New Delhi cũng không thực sự kiểm soát toàn bộ Ấn Độ, và như chúng ta sẽ thấy, ở một mức độ lớn hơn, Islamabad cũng không kiểm soát được Pakistan. Người Hồi giáo thành công nhất trong việc thống nhất tiểu lục địa dưới một quyền lãnh đạo, nhưng ngay cả Hồi giáo cũng không bao giờ vượt qua được những khác biệt về ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa.
Cuộc xâm lược Hồi giáo đầu tiên xảy ra vào đầu thế kỷ 8, khi người Ả-rập thuộc vương quốc caliphate của hoàng tộc Umayyad đã tiến xa tới tận Punjab ở nơi hiện nay là Pakistan. Từ đó cho đến thế kỷ 18, các cuộc ngoại xâm khác nhau đã đưa Hồi giáo đến tiểu lục địa; tuy nhiên, ở phía đông thung lũng sông Ấn, đa số dân Hindu không chịu cải đạo, do đó gieo rắc những hạt mầm cho cuộc chia cắt sau cùng của Ấn Độ.
Người Anh đến rồi đi, và khi họ rời đi, khu trung tâm không thể giữ vững được và mọi thứ tan rã. Thật ra, không có một trung tâm thực sự: khu vực này luôn bị phân chia bởi sự cách biệt cổ xưa giữa các ngôn ngữ của vùng Punjab và Gujarat, giữa vùng núi non và sa mạc, và giữa Hồi giáo và Ấn giáo. Năm 1947, các lực lượng theo chủ nghĩa quốc gia hậu thuộc địa và chủ nghĩa ly khai tôn giáo đã phá vỡ tiểu lục địa này thành hai phần, rồi sau đó thành ba phần chính: Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Người Anh, kiệt quệ bởi hai cuộc chiến tranh thế giới, và nhận thức được rằng ngày tàn của đế chế đã đến, không buồn khoác lên tấm áo vinh quang khi họ rời đi.
Ngày 3 tháng 6 năm 1947, thông cáo được đưa ra tại Hạ viện Anh: người Anh sẽ rút đi – Ấn Độ được phân chia thành hai lãnh thổ độc lập: Ấn Độ và Pakistan. Bảy mươi ba ngày sau, vào ngày 15 tháng 8, người Anh rút hết.
Một đợt di dân bất thường diễn ra kế tiếp, khi hàng triệu người hồi giáo tháo chạy khỏi biên giới mới của Ấn Độ, hướng về phía đông đến Pakistan, cùng với đó là hàng triệu người theo đạo Hindu và người Sikh chạy theo hướng ngược lại. Từng đoàn người nối dài lên tới số lương ba trăm ngàn người mỗi đoàn trên đường, khi toàn bộ các cộng đồng đều di cư cùng một lượt. Xe lửa chất đầy người tị nạn chạy ngang dọc khắp tiểu lục địa, đổ người vào các thành phố trên chuyến hành trình trở về lại chở đầy những người theo hướng ngược lại.
Đó thực sự là một cuộc tàn sát. Náo loạn bùng nổ trên cả hai quốc gia khi người Hồi giáo, người Hindu, người Sikh và những sắc dân khác quay sang đánh nhau trong hoảng loạn và sợ hãi. Chính phủ Anh đã rửa tay và từ chối lời cầu xin từ các nhà lãnh đạo của hai tân quốc gia Ấn Độ và Pakistan về việc cho phép một số binh sĩ còn đang ở lại xứ đó trợ giúp để duy trì trật tự. Các ước tính về số người thiệt mạng có khác nhau, nhưng ít nhất một triệu người đã chết và mười lăm triệu người phải di cư. Các khu vực với đa số dân Hồi giáo ở phía tây – vùng thung lũng bên sông Ấn ở phía tây sa mạc Thar và lưu vực sông Hằng – trở thành Tây Pakistan trong khi những vùng phía đông của Calcutta (này là Kolkata) trở thành Đông Pakistan.
Pakistan nhận được gì từ sự việc này? Ít hơn Ấn Độ rất nhiều. Nước này thừa hưởng đường biên giới rắc rối nhất của Ấn Độ, phía tây bắc giáp với Afghanistan, và nó là một nước gồm hai khu vực không tiếp giáp nhau, với rất ít khả năng để gắn kết chúng khi mà một ngàn dặm lãnh thổ Ấn Độ đã chia cắt Tây Pakistan khỏi Đông Pakistan. Alaska và phần còn lại của Hoa Kỳ đã xử lý vấn đề khoảng cách không tiết giáp mà không gặp khó khăn nào, nhưng đó là vì giữa chúng có sự liên kết về văn hóa, ngôn ngữ, kinh tế và hoạt động trong một môi trường ổn định. Mối liên hệ duy nhất giữa hai phần của Pakistan là Hồi giáo. Họ không bao giờ thực sự đến với nhau, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi họ đã bị tách ra; năm 1971, Đông Pakistan nổi loạn chống lại sự thống trị của Tây Pakistan, Ấn Độ can thiệp và, sau nhiều vụ đổ máu, Đông Pakistan ly khai, trở thành Bangladesh.
Tuy nhiên, trở lại năm 1947, hai mươi lăm năm sau sự kết thúc của Đế chế Ottoman, Jinnah và các lãnh đạo khác của nước Pakistan mới, giữa bối cảnh rất nhiều phô trương quá lố và những lời hứa hẹn về một tương lai tươi sáng, tuyên bố họ đã tạo lập một quê hương Hồi giáo thống nhất.
Pakistan yếu hơn Ấn Độ về mặt địa lý, kinh tế, dân số và quân sự. Bản sắc dân tộc của nước này cũng không mạnh mẽ như Ấn Độ. Ấn Độ, mặc dù có quy mô lớn, có sự đa dạng văn hóa và các phong trào ly khai, đã xây dựng một nền dân chủ vững chắc với một ý thức thống nhất về bản sắc Ấn Độ. Pakistan là một nhà nước Hồi giáo độc tài và lòng trung thành của quần chúng về khu vực văn hóa của họ nhiều hơn là hướng về nhà nước.
Nền dân chủ thế tục đã mang lại lợi ích cho Ấn Độ, nhưng chính sự chia cắt năm 1947 đã cho nó một lợi thế khởi đầu sớm. Bên trong phạm vi đường biên giới mới của Ấn Độ là tuyệt đại đa số các nguồn thu nhập có thể đánh thuế và đa số các thành phố lớn. Ví dụ Calcutta, với khu vực cảng và ngân hàng, được chia cho Ấn Độ, do đó tước bỏ của Đông Pakistan nguồn cung cấp ngân sách chủ chốt này và cả mối liên hệ với bên ngoài.
Pakistan chỉ nhận được 17% dự trữ tài chính vốn vẫn được kiểm soát bởi chính phủ trước khi bị phân chia. Nước này được để lại với nền kinh tế dựa trên cơ sở nông nghiệp, không có tiền vốn để chi cho phát triển, một biên giới phía tây bất ổn và một nhà nước bị chia rẽ trong nội bộ theo nhiều cách.
Các khu vực tạo nên Ấn Độ và Pakistan có nhiều vùng có bản sắc riêng biệt.
Cái tên Pakistan cho chúng ta biết manh mối về những sự chia rẽ; pak nghĩa là “thuần khiết” và stan có nghĩa là “vùng đất” trong tiếng Urdu, vì vậy nó là vùng đất của sự thuần khiết, nhưng nó cũng là từ viết tắt. Chữ P dành cho Punjab, A dành cho Afghania (vùng Pashtun gần biên giới Afghanistan), K cho Kashmir, S cho Sindh và T là viết tắt của “tan”, như trong địa danh ở Baluchistan.
Từ năm vùng riêng biệt này, mỗi vùng có ngôn ngữ riêng của họ, một nhà nước chung được thành lập, nhưng không phải là một quốc gia. Pakistan nỗ lực hết sức để tạo nên một cảm thức về sự thống nhất, nhưng sự kiện một người Punjab kết hôn với một người Baluchistan, hay một người Sindh cưới một người Pashtun, vẫn còn rất hiếm hoi. Punjab chiếm 60% dân số, Sindh 14%, Pashtun 13,5% và Baluchistan 4,5%. Những sự căng thẳng tôn giáo luôn hiện diện – không chỉ trong sự đối kháng đôi khi được thể hiện đối với các nhóm thiểu số Kitô giáo và Ấn giáo của đất nước, mà còn giữa đa số hồi giáo Sunni và thiểu số Hồi giáo Shia. Trong lòng Pakistan là mấy quốc gia được gom lại trong phạm vi một nhà nước.
Ngôn ngữ chính thức là tiếng Urdu, tiếng mẹ đẻ của những người Hồi giáo Ấn Độ chạy loạn vào năm 1947, hầu hết định cư ở Punjab. Điều này không giúp cho ngôn ngữ đó nhận được thiện cảm của phần còn lại trong đất nước. Vùng Sindh đã từ lâu lấy làm bực mình với thứ mà nó coi là ách thống trị của người Punjab, và nhiều người Sindh cảm thấy như bị coi là công dân hạng hai. Người Pashtun vùng biên giới tây bắc chưa bao giờ chấp nhận sự cai trị của người ngoài: các phần của vùng đất biên cương được đặt tên là các Vùng đất Bộ lạc Trực thuộc Liên bang (Federally Administered Tribal Areas), nhưng trong thực tế họ chưa bao giờ bị cai quản bởi Islamabad. Kashmir vẫn bị chia sẻ giữa Pakistan và Ấn Độ, và mặc dù đa số người Kashmir muốn độc lập, nhưng điều duy nhất Ấn Độ và Pakistan có thể đồng ý với nhau là họ không thể chấp nhận điều đó. Baluchistan cũng có phong trào độc lập, cứ định kỳ là nổi dậy chống nhà nước.
Baluchistan có tầm quan trọng thiết yếu: mặc dù vùng này chỉ chứa đựng một phần nhỏ dân số Pakistan, nhưng không có Baluchistan sẽ không có Pakistan. Baluchistan chiếm gần 45% diện tích đất nước và nắm giữ phần lớn nguồn tài nguyên khí đốt thiên nhiên và khoáng sản. Một nguồn thu nhập khác cũng đang vẫy gọi khi các tuyến đường bộ được đề xuất xây dựng để vận chuyển dầu của Iran và biển Caspi đi qua Pakistan để tới Trung Quốc. Viên bảo ngọc trên vương miện này là thành phố ven biển Gwadar. Nhiều nhà phân tích tin rằng tài sản chiến lược này là mục tiêu dài hạn của Liên Xô khi xâm chiếm Afghanistan vào năm 1979: Gwadar đáng lẽ đã có thể hoàn thành ước mơ ôm ấp bấy lâu của Moscow về một cảng nước ấm. Người Trung Quốc cũng bị hấp dẫn bởi viên ngọc quý đó và đã đầu tư hàng tỷ đô la vào vùng đất này. Một cảng nước sâu đã được khánh thành vào năm 2017 và hai nước hiện đang làm việc để kết nối nó với Trung Quốc. Về lâu dài, Trung Quốc muốn sử dụng Pakistan như một tuyến đường bộ đáp ứng cho nhu cầu năng lượng của mình. Điều đó sẽ cho phép người Trung Quốc tránh né eo biển Malacca, như chúng ta thấy chương nói về Trung Quốc, vốn là một điểm thắt có thể bóp nghẹt sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.
Mùa xuân năm 2015, hai nước đã đồng ý một thỏa thuận 45 tỷ đô là để xây dựng một siêu xa lộ đường bộ, đường sắt và đường ống chạy 1800 dặm từ Gwadar tới khu Tân Cương của Trung Quốc. Hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan, như các người ta gọi sẽ cho Trung Quốc một con đường tiếp cận trực tiếp với Ấn Độ Dương và xa hơn nữa. Cuối năm 2015, Trung Quốc đã ký hợp đồng thuê đất thời hạn bốn mươi năm với diện tích 2.300 mẫu Anh (khoảng 9.300 ha) tại khu vực cảng, để phát triển một đặc khu kinh tế và sân bay quốc tế, tất cả đều thuộc Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Pakistan. Và bởi cả hai nước đều biết người Baluchistan có khả năng vẫn còn bất ổn, một lực lượng an ninh lên đến hai lăm ngàn người đã được thành lập để đảm bảo an toàn cho khu vực này.
Những khoản đầu tư khổng lồ của Trung Quốc trong việc xây dựng một tuyến đường bộ như thế khiến cho Pakistan rất vui mừng, và đây là một trong những lý do Pakistan sẽ luôn tìm cách đè bẹp bất kỳ phong trào ly khai nào nảy sinh trong tỉnh đó. Tuy nhiên, cho đến khi những của cải mà Baluchistan tạo ra được trả về quê nhà nhiều hơn và được sử dụng cho chính sự phát triển của chính nó, khu vực này tất nhiên vẫn còn bất kham và có nguy cơ bạo động.
Hồi giáo, môn thể thao cricket, cơ quan tình báo, quân đội và sự sợ hãi đối với Ấn Độ là những thứ giữ Pakistan kết hợp lại. Không thứ nào trong số đó là đủ để ngăn chặn nước này khỏi bị tan vỡ thành từng mảnh nếu các lực lượng ly khai phát triển mạnh hơn. Trong thực tế, Pakistan đã ở trong tình trạng nội chiến hơn một thập niên, sau những cuộc chiến tranh định kỳ và thiếu xét đoán với người láng giềng khổng lồ Ấn Độ.
Cuộc chiến tranh đầu tiên vào năm 1947 chiến đấu để giành Kashmir, nổ ra chẳng bao lâu sau cuộc chia, và kết thúc vào năm 1948 với sự chia cắt dọc theo Đường kiểm soát (còn được gọi là Bức tường Berlin của châu Á); tuy nhiên cả Ấn Độ và Pakistan tiếp tục tuyên bố chủ quyền với lãnh thổ này.
Gần hai mươi năm sau, Pakistan đã đánh giá sai sức mạnh của Ấn Độ qua màn trình diễn tệ hại của Ấn Độ trong cuộc chiến tranh Trung – Ấn năm 1962. Căng thẳng giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã tăng lên do việc Trung Quốc xâm lược Tây Tạng, điều đó đã khiến Ấn Độ chấp nhận cho Đức Đạt Lai Lạt Ma được tị nạn. Trong cuộc xung đột ngắn ngủi này, quân đội Trung Quốc đã thể hiện sự vượt trội của họ và tiến sâu vào tận bên trong bang Assam gần vùng trung tâm Ấn Độ. Quân đội Pakistan vui mừng theo dõi, sau đó, đánh giá quá cao năng lực của chính mình, họ đã gây chiến với Ấn Độ vào năm 1965 và thua trận.
Năm 1984, Pakistan và Ấn Độ đánh nhau qua các cuộc giao tranh nhỏ ở độ cao khoảng hơn 6.700 mét, trên sông băng Siachen, được cho là trận chiến ở bình độ cao nhất trong lịch sử. Nhiều trận chiến đã nổ ra vào các năm 1985, 1987 và 1995, Pakistan tiếp tục huấn luyện binh sĩ để xâm nhập sang bên kia Đường kiểm soát, và một trận chiến nữa nổ ra vì Kashmir vào năm 1999. Đến thời điểm này, cả hai quốc gia đều đã được trang bị vũ khí hạt nhân, và trong vài tuần lễ, nguy cơ ngấm ngầm về một cuộc leo thang chiến tranh hạt nhân lơ lửng bên trên cuộc xung đột, trước khi Hoa Kỳ can dự bằng ngoại giao và hai bên đã nói chuyện dàn hòa. Họ lại suýt giao chiến một lần nữa vào năm 2001, và tiếng súng vẫn nổ rải rác dọc theo biên giới.
Về mặt quân sự, Ấn Độ và Pakistan đọ sức với nhau. Cả hai bên đều nói rằng tư thế của họ là phòng thủ, nhưng không bên nào tin phía bên kia, và vì vậy họ tiếp tục dàn quân trên biên giới, bị khóa chặt với nhau trong một vũ điệu tử thần tiềm tàng.
Mối quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan sẽ không bao giờ trở nên thân thiện, nhưng nếu không có chiếc gai Kashmir chĩa về cả hai phía, nó có tiềm năng trở nên hòa hảo. Còn như tình hình hiện nay, Ấn Độ hài lòng chứng kiến Pakistan bị chia rẽ và sẽ làm tất cả để duy trì tình trạng đó, và Pakistan cũng sẽ tìm cách làm suy yếu Ấn Độ, với việc các phần tử trong lòng nhà nước đó thậm chí còn hậu thuẫn cho những cuộc tấn công khủng bố bên trong Ấn Độ, như vụ thảm sát Mumbai năm 2008. Vấn đề Kashmir là một phần của niềm tự hào dân tộc, nhưng nó cũng có ý nghĩa chiến lược. Toàn quyền kiểm soát Kashmir đồng nghĩa Ấn Độ sẽ có được một cửa sổ nhìn vào Trung Á và một biên giới chung với Afghanistan. Nó cũng sẽ tước bỏ của Pakistan một biên giới chung với Trung Quốc và do đó làm giảm đi sự hữu ích của mối quan hệ Trung Quốc-Pakistan. Chính phủ Pakistan thích tung hô rằng tình hữu nghị của họ với Trung Quốc “cao hơn những ngọn núi và sâu hơn các đại dương”. Điều này không đúng, nhưng nó rất hữu ích
trong việc khiến Hoa Kỳ đôi khi bất an về việc cắt giảm khoản viện trợ tài chính khổng lồ mà Pakistan nhận được từ Washington.
Nếu Pakistan có kiểm soát hoàn toàn Kashmir, nước này sẽ tăng cường các lựa chọn chính sách đối ngoại của Islamabad và phủ nhận các cơ hội của Ấn Độ. Nó hẳn cũng giúp ích cho an ninh đường thủy của Pakistan. Sông Ấn bắt nguồn từ Himalaya Tây Tạng nhưng đi qua phần đất Kashmir thuộc quyền kiểm soát của Ấn Độ trước khi chảy vào Pakistan, sau đó chạy theo chiều dài của đất nước và đổ vào biển Ả-rập tại thành phố cảng Karachi.
Sông Ấn và các phụ lưu của nó cung cấp nước cho hai phần ba đất nước: không có nó, ngành công nghiệp bông và nhiều ngành trụ cột khác của nền kinh tế đang chật vật của Pakistan sẽ sụp đổ. Theo một hiệp ước vẫn được tôn trọng qua tất cả các cuộc chiến tranh của họ, Ấn Độ và Pakistan đồng ý chia sẻ các nguồn nước; nhưng cả hai khối dân cư đang phát triển với tốc độ đáng báo động, và hiện tượng nóng lên toàn cầu có thể làm giảm lưu lượng nước. Việc sáp nhập toàn bộ Kashmir sẽ giúp đảm bảo nguồn cung cấp nước cho Pakistan. Với những khoản đặt cược này, sẽ chẳng bên nào chịu buông tay; và cho đến khi họ đạt được thỏa thuận về Kashmir, chìa khóa để cởi bỏ sự thù địch giữa hai nước sẽ chưa thể tìm thấy. Kashmir dường như vẫn sẽ là nơi diễn ra các cuộc chiến ủy nhiệm lè tè giữa các chiến binh được Pakistan huấn luyện và quân đội Ấn Độ – một cuộc xung đột dễ lan ra thành một cuộc chiến toàn diện với nguy cơ cố hữu về việc sử dụng vũ khí hạt nhân. Cả hai quốc gia cũng sẽ tiếp tục giao tranh trong một cuộc chiến ủy nhiệm (proxy war) khác – tại Afghanistan – nhất là khi hầu hết các lực lượng NATO đã rời đi.
Pakistan thiếu “chiều sâu chiến lược” nội địa với Ấn Độ – một nơi nào đó để rút về trong trường hợp bị thất thủ ở phía ĐÔng. Biên giới Pakistan/Ấn Độ bao gồm dải đất đầm lầy ở phía nam, sa mạc Thar và vùng núi non phía bắc; tất cả đều là địa hình cực kì khó khăn cho một đội quân vượt qua. Điều đó có thể thực hiện được và cả hai bên đều có các kế hoạch quân sự để chiến đấu tại đây. Kế hoạch của quân đội Ấn Độ bao gồm việc phong tỏa cảng Karachi và các kho chứa nhiên liệu bằng đường bộ và đường biển, nhưng một tuyến đường xâm lược dễ dàng hơn lại nằm giữa miền Nam và miền Bắc – nó nằm ở trung tâm, trong vùng Punjab vốn hiếu khách hơn, và tọa lạc bên trong vùng Punjab là thủ đô của Pakistan – Islamabad.
Khoảng cách từ biên giới Ấn Độ đến Islamabad chưa đến hai trăm năm mươi dặm, hầu hết là đất bằng. Trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công quy ước quy mô lớn và áp đảo, quân đội Ấn Độ có thể đặt chân đến thủ đô Islamabad trong vòng vài ngày. Việc họ tuyên bố không có ý định làm như vậy không có ý nghĩa gì cả: từ quan điểm của Pakistan thì Ấn Độ rất có thể làm vậy, và khả năng về mặt địa lý đủ để đòi hỏi Pakistan phải chuẩn bị một kế hoạch A và cả kế hoạch B để chống lại mối nguy đó.
Kế hoạch A là ngăn một đợt tiến quân của Ấn Độ vào Punjab, và duy trì khả năng phản công dọc tuyến biên giới và ngăn chặn đường cao tốc 1A của Ấn ĐỘ, một tuyến tiếp vận sống còn cho quân đội Ấn Độ. Quân đội Ấn Độ có lực lượng hơn một triệu người, gấp đôi quân đội Pakistan, nhưng nếu không được tiếp tế đầy đủ, họ không thể chiến đấu. Kế hoạch B là rút lui qua biên giới Afghanistan nếu cần thiết, và điều đó đòi hỏi có một chính phủ đồng cảm tại Kabul. Do vậy, chính địa lý đã bắt buộc Pakistan phải can thiệp vào đất nước Afghanistan, giống như Ấn Độ cũng sẽ làm.
Để phá kế hoạch của nhau, mỗi bên đều tìm cách nhào nặn chính quyền Afghanistan theo ý của mình – hoặc, nói theo một cách khác, mỗi bên đều muốn Kabul trở thành kẻ thù của kẻ thù của mình.
Khi Liên Xô xâm chiếm Afghanistan năm 1979, Ấn Độ đã hậu thuẫn về mặt ngoại giao cho Moscow, nhưng Pakistan đã nhanh chóng giúp đỡ Hoa Kỳ và Saudi để vũ trang, đào tạo và trả lương cho lực lượng Mujahideen. chống lại Hồng quân. Khi Liên Xô bị đánh bại, cơ quan tình báo Pakistan, ISI, đã giúp thành lập và sau đó chống lưng cho Taliban Afghanistan, thế lực đủ sức tiếp quản đất nước Afghanistan.
Pakistan có một “ ‘tay trong” Afghanistan. Hầu hết họ là người Pashtun, cùng một sắc tộc với đa số dân Pakistan ở biên giới tây bắc (nay gọi là Khyber Pakhtunkhwa). Họ chưa bao giờ nghĩ mình là hai dân tộc và coi đường biên giới giữa họ là một thứ do phương Tây nghĩ ra, điều mà theo nghĩa nào đó là đúng như vậy.
Biên giới Afghanistan – Pakistan được gọi là Đường Durand. Sir Mortimer Durand, bộ trưởng ngoại giao của chính quyền thuộc địa Ấn Độ, vẽ đường này vào năm 1893 và nhà cai trị của Afghanistan đã đồng ý. Tuy nhiên, tới năm 1949, chính phủ Afghanistan hủy bỏ thỏa thuận này, tin rằng đó là tàn tích nhân tạo của thời kỳ thuộc địa. Kể từ đó, Pakistan đã cố thuyết phục Afghanistan thay đổi suy nghĩ, nhưng Afghanistan từ chối, và người Pashtun ở hai bên của vùng núi non đó cố gắng để tiếp tục sống như họ vẫn sống trong nhiều thế kỷ qua bằng cách tảng lờ đường biên giới và duy trì các mối liên hệ cổ xưa của họ.
Các nhóm sắc tộc chính trong khu vực Afghanistan – Pakistan không khớp với đường biên giới được đặt vào năm 1893 bởi đường Durand; nhiều nhóm trong số này vẫn gắn bó với các bộ tộc của họ bên kia đường biên giới nhiều hơn so với phần còn lại của quốc gia.
Trung tâm của khu vực này, đôi khi được gọi là “nước” Pashtunistan, là thành phố Peshawar của Pakistan, một dạng tổ hợp công nghiệp quân sự đô thị của Taliban. Súng AK nhái, công nghệ làm bom và các chiến binh tuôn ra từ thành phố này, và sự hỗ trợ từ bên trong các cơ quan của nhà nước đổ vào nó.
Đây cũng là một đầu cầu trung chuyển cho các sĩ quan ISI trên đường đến Afghanistan mang theo tài chính và những chỉ thị cho các nhóm Taliban xuyên biên giới. Pakistan đã tham dự bằng quân sự vào Afghanistan trong nhiều thập niên, nhưng nước này đã không tự lượng sức mình, và đã bị chính con hổ mà mình đang cưỡi cắn trả.
Năm 2001, Taliban do Pakistan dựng nên đã đón tiếp các chiến binh nước ngoài của Al-Qaeda suốt mấy năm trời. Sau đó, vào ngày 11 tháng Chín, Al-Qaeda tấn công Hoa Kỳ ngay tại lãnh thổ nước này bằng một chiến dịch phối hợp từ Afghanistan. Để đáp trả, quân lực Hoa Kỳ đã truy kích Taliban và Al-Qaeda. Các lực lượng chống Taliban của Liên minh miền Bắc Afghanistan đã di chuyển xuống phía nam để tiếp quản đất nước và theo sau là một lực lượng bình định của NATO.

Bên kia biên giới, vào ngày hôm sau của sự kiện 11 tháng 9, Hoa Kỳ bắt đầu thổi ngọn lửa ngoại giao vào người Pakistan, yêu cầu họ tham gia vào cuộc chiến chống khủng bố và chấm dứt sự ủng hộ của họ đối với chủ nghĩa khủng bố. Sau đó, Ngoại trưởng Colin Powell đã gọi điện cho tổng thống Musharraf và yêu cầu ông ấy rời khỏi một cuộc họp để nghe máy, trong cuộc gọi đó Powell nói với ông ấy: “Quý vị hoặc về phe chúng tôi hoặc đối đầu với chúng tôi.”
Phía Hoa Kỳ chưa bao giờ xác nhận điều này, nhưng Musharraf đã viết rằng sau cuộc gọi đó là một cuộc gọi từ trợ lý của Powell, Richard Armitage, tới lãnh đạo ISI và nói với ông ấy rằng: “Nếu chọn phe khủng bố, chúng tôi nên sẵn sàng để hứng bom và trở lại Thời kỳ Đồ đá.” Pakistan đã hợp tác, và chuyện chỉ có thế. Cũng có khả năng là họ không hoàn toàn hợp tác, và chuyện không chỉ có thế. Islamabad buộc phải hành động, và đã hành động; nhưng không phải mọi người trong hệ thống chính quyền Pakistan đều tham gia. Chính quyền đã cấm đoán một số nhóm dân quân và cố gắng kiềm. chế các nhóm tôn giáo bị cho là cực đoan. Đến năm 2004, Pakistan tham gia bằng quân sự để chống lại phe nhóm hoạt động ở biên giới tây bắc và đã bí mật chấp nhận để Hoa Kỳ thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái trên lãnh thổ của mình, trong khi công khai chỉ trích các hoạt động đó.
Đó là những quyết định khó khăn. Quân đội Pakistan và ISI đã phản bội chính những lãnh đạo Taliban mà họ đã huấn luyện và gây dựng tình hữu nghị từ thập niên 1990. Các nhóm Taliban phản ứng giận dữ, giành lấy quyền kiểm soát hoàn toàn một số nơi trong các vùng đất bộ lạc. Musharraf là mục tiêu của ba lần mưu sát bất thành, người được dự tính sẽ kế nhiệm ông ta là Benazir Bhutto đã bị sát hại, và giữa những tình cảnh hỗn loạn của các chiến dịch ném bom và các cuộc tấn công quân sự, số thường dân Pakistan thiệt mạng lên tới năm mươi ngàn người.
Chiến dịch của Hoa Kỳ/NATO ở Afghanistan và các biện pháp của Pakistan trên biên giới, đã phát tán các chiến binh Ả-rập, Chechnya và các chiến binh nước ngoài khác của Al-Qaeda đến mọi ngóc ngách trên trái đất, nơi các thủ lĩnh của họ bị săn lùng và giết chết; nhưng Taliban thì không có nơi nào để đi – họ là người Afghanistan và Pakistan – và như lời họ nói với những kẻ xâm lược nước ngoài có công nghệ tân tiến đến từ Hoa Kỳ và châu Âu, “Quý vị có thể có đồng hồ – nhưng chúng tôi có thời gian” Họ sẽ chờ đợi người nước ngoài gia đi, bất kể họ bị đối xử như thế nào, và trong việc này họ sẽ được những phần tử ở Pakistan giúp sức.
Trong vòng một vài năm, mọi việc trở nên rõ ràng: Taliban không bị đánh bại, họ chỉ hòa tan vào nơi sinh trưởng của họ, cộng đồng dân Pashtun, và hiện nay họ lại nổi dậy một lần nữa vào những thời điểm và ở những nơi tùy họ lựa chọn.
Hoa Kỳ đã viện tới một chiến lược “trên đe dưới búa”. Họ nện búa xuống đầu quân Taliban Afghanistan trên cái đe của chiến dịch Pakistan ở phía bên kia biên giới. Hoa ra cái “đe” trong các vùng đất bộ lạc thay vì là đe lại là một miếng bọt biển thấm hút bất cứ thứ gì được ném vào nó, kể cả các lực lượng Taliban Afghanistan đang tháo lui khỏi cây búa Hoa Kỳ.
Năm 2006, người Anh đã quyết định họ sẽ dẹp yên tỉnh Helmand ở phía nam, nơi thẩm quyền của chính phủ Afghanistan không vượt ra ngoài phạm vi Lashkar Gah, thủ phủ của tỉnh này. Đây là lãnh thổ trung tâm của người Pashtun Afghanistan. Người Anh tiến vào với những ý định tốt, họ biết lịch sử của Pashtun, nhưng dường như họ phớt lờ nó – lý do tại sao vẫn còn là một bí ẩn. Bộ trưởng Quốc phòng Anh khi đó là John Reid bị người ta trích dẫn sai và trách lầm, cho rằng trong mùa hè năm ấy, ông đã nói ông “hy vọng không một phát súng nào sẽ nổ ra trong cơn tức giận“. Thực ra ông nói, “Chúng tôi tiến vào miền Nam để giúp đỡ và bảo vệ người dân Afghanistan nhằm tái thiết nền kinh tế và nền dân chủ của họ. Chúng tôi sẽ cực kỳ vui khi rời đi trong thời gian ba năm mà không nổ một phát súng nào”.
Đó có thể là một mong ước tốt lành, nhưng liệu có khả thi hay không? Mùa hè năm ấy, sau khi ông có cuộc họp báo tại Bộ Ngoại giao ở London, tôi đã có cuộc trao đổi với bộ trưởng Quốc phòng như sau:
“Đừng lo, Tim. Chúng ta không săn lùng Taliban, chúng ta ở đó để bảo vệ người dân”
“Đừng lo, Bộ trưởng, Taliban sẽ săn lùng ông”
Đó là cuộc trao đổi thân thiện diễn ra trước khi bốn trăm năm mươi ngàn lính Anh bị giết, nhưng cho đến giờ tôi vẫn không biết có phải chính phủ Anh đang xoa dịu công luận trước thời điểm triển khai quân đội trong khi lại âm thầm liệu trước rằng tình hình sẽ khó khăn, hay có phải họ ngây thơ đến độ không thể hiểu được về những gì đang ở phía trước họ.
Vì vậy, Taliban đã gây đổ máu cho người Anh, gây đổ máu cho Hoa Kỳ, gây đổ máu cho NATO, chờ NATO ra đi, và rốt cuộc sau mười ba năm, NATO đã rời đi.
Trong toàn bộ thời kỳ này, các thành viên cao cấp nhất của chính quyền Pakistan đã chơi một trò chơi nước đôi. Hoa Kỳ có chiến lược riêng của mình, nhưng Pakistan biết điều mà Taliban biết: một ngày nào đó Hoa Kỳ hẳn sẽ ra đi, và khi họ rời đi, chính sách đối ngoại của Pakistan vẫn sẽ đòi hỏi một chính phủ Afghanistan thân thiện với Pakistan. Các phe cánh trong quân đội và chính phủ Pakistan tiếp tục giúp đỡ Taliban, đánh cược rằng sau khi NATO rút lui, ít nhất nửa phía nam của Afghanistan sẽ trở lại quy phục dưới sự thống trị của Taliban, điều này đảm bảo rằng Kabul cần phải đàm phán với Islamabad.
Sự tráo trở của Pakistan đã bị phơi bày khi Hoa Kỳ rốt cuộc tìm thấy thủ lĩnh của Al-Qaeda, Osama Bin Laden, trốn ngay dưới mũi chính phủ Pakistan tại Abbottabad, một thành phố nơi đồn trú của quân đội. Đến thời điểm đó, sự thiếu tin tưởng của Hoa Kỳ đối với “đồng minh” Pakistan đã lên cao đến mức họ không thông báo cho Islamabad biết trước về việc lực lượng đặc nhiệm bay vào để giết Osama Binladen. Đây là một sự vi phạm chủ quyền lãnh thổ làm bẽ mặt quân đội và chính phủ Pakistan, như lập luận này đã làm “ Nếu các vị có biết, vậy các vị là đồng lõa của hắn.”
Chính quyền Pakistan vẫn luôn phủ nhận rằng, họ đã chơi trò hai mặt dẫn đến cái chết của vô số dân thường Afghanistan và Pakistan, cũng như một số lượng tương đối nhỏ binh lính Hoa Kỳ. Sau phi vụ Abbottabad, Islamabad tiếp tục phủ nhận, nhưng giờ đây càng ít người tin họ hơn. Nếu những phần tử trong chính quyền Pakistan sẵn sàng cứu giúp cho kẻ bị truy lùng gắt gao nhất của Hoa Kỳ, mặc dù lúc đó kẻ này chỉ có giá trị giới hạn đối với họ, thì hiển nhiên là họ cũng sẽ hỗ trợ các phe nhóm thúc đẩy tham vọng của họ đi xa hơn để gây ảnh hưởng lên những sự kiện ở Afghanistan. Vấn đề là các nhóm này hiện nay đã có các đối tác ở Pakistan và cũng muốn tạo ảnh hưởng lên các sự kiện diễn ra tại đó. Kẻ cắn người đã bị cắn lại.
Taliban Pakistan là một sản phẩm tự nhiên của phiên bản Afghanistan. Cả hai đều chủ yếu là người Pashtun và sẽ không chấp nhận sự thống trị từ bất kỳ thế lực nào không phải là người Pashtun, du đó là quân đội Anh của thế kỷ 19 hay quân đội Pakistan mà người Punjab chiếm ưu thế trong thế kỷ 21.
Islamabad luôn luôn hiểu và chấp nhận điều đó. Chính phủ Pakistan vờ như đang cai quản toàn bộ đất nước, và người Pashtun ở biên giới tây bắc giả bộ như thể họ trung thành với nhà nước Pakistan. Mối quan hệ này vẫn ổn cho đến ngày 11 tháng Chín năm 2001.
Những năm từ sau sự kiện đó đặc biệt khó khăn đối với Pakistan. Số ca tử vong của thường dân rất lớn và đầu tư nước ngoài hao dần, khiến cho cuộc sống bình thường càng khó khăn hơn. Quân đội, buộc phải đứng lên chống lại một kẻ trên thực tế là đồng minh, đã tổn thất đến năm ngàn người, và cuộc nội chiến đã đe dọa sự thống nhất mong manh của quốc gia.
Tình hình trở nên tồi tệ đến mức quân đội và chính phủ Pakistan cuối cùng đã buộc phải trao cho quân đội Hoa Kỳ tin tức tình báo quân sự và tọa độ để tiến hành các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhắm vào các mục tiêu Taliban Pakistan ở biên giới tây bắc. Đồng thời, khi các cuộc không kích quá rõ ràng, Islamabad phải giả bộ lên án và mô tả chúng như một động thái vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Pakistan vì lẽ hàng trăm ca tử vong của thường dân bị người ta quy cho những sai lầm của Hoa Kỳ.
Các máy bay không người lái chủ yếu bay từ căn cứ tại Hoa Kỳ và Afghanistan, nhưng một số lại được cho là xuất kích từ một căn cứ bí mật bên trong lãnh thổ Pakistan. Bất kể chúng đến từ đâu thì số lượng cũng rất nhiều. Các cuộc không kích bằng máy bay không người lái tại Afghanistan và Pakistan đã gia tăng ồ ạt trong nhiệm kỳ của Obama so với số phi vụ trong nhiệm kỳ của George Bush.
Đến mùa xuân năm 2015, mọi thứ càng trở nên khó khăn hơn. NATO đã rời Afghanistan và Hoa Kỳ đã tuyên bố chấm dứt sứ mệnh chiến đấu, chỉ để lại một lực lượng đồn trú nhỏ. Một cách chính thức, điều này nhằm để tiến hành các hoạt động của Lực lượng Đặc nhiệm và các nhiệm vụ huấn luyện; một cách không chính thức, nó là một nỗ lực nhằm đảm bảo cho Kabul không rơi vào tay Taliban. Nếu không có NATO quấy nhiễu Taliban trên đường biên giới từ phía Afghanistan, cuộc chiến đấu của Pakistan với Taliban bên này đường biên giới sẽ gian nan hơn nhiều. Washington tiếp tục gây sức ép lên Islamabad, và điều này dẫn đến một số kịch bản có thể xảy ra:
– Toàn bộ lực lượng của quân đội Pakistan được điều động vào vùng biên giới tây bắc và đánh bại Taliban.
– Chiến dịch Taliban tiếp tục đẩy nhanh quá trình rạn nứt của Pakistan cho đến khi nước này trở thành một nhà nước thất bại.
– Hoa Kỳ hết quan tâm, áp lực lên Islamabad giảm sút và chính phủ thỏa hiệp với Taliban. Tình hình trở lại bình thường, với việc biên giới tây bắc được yên ổn, nhưng Pakistan tiếp tục thúc đẩy kế hoạch chính trị riêng của mình ở Afghanistan.
Trong các kịch bản này, ít có khả năng nhất là kịch bản đầu tiên. Không có lực lượng bên ngoài nào từng đánh bại được các bộ lạc của biên giới tây bắc, và quân đội Pakistan bao gồm cả người Punjab, Sindh, Baluch và Kashmir (và một số người Pashtun) được coi là lực lượng ngoại bang nếu nó tấn công vào các vùng đất bộ lạc.
Kịch bản thứ hai có thể xảy ra, nhưng sau nhiều năm bịt tai giả điếc trước những lời cảnh tỉnh, vụ thảm sát năm 2014 của Taliban với 132 học sinh ở Peshawar dường như khiến giới chức Pakistan giật mình đủ để nhận ra rằng phong trào họ đã góp phần tạo ra giờ đây có thể hủy diệt họ.
Điều này khiến cho kịch bản thứ ba có nhiều khả năng nhất. Hoa Kỳ có mối quan tâm khá giới hạn đối với Afghanistan, miễn là Taliban kín đáo hứa hẹn không tiếp tục chứa chấp một nhóm chiến binh thánh chiến quốc tế nào nữa. Người Pakistan sẽ duy trì mối liên hệ với Taliban Afghanistan đủ để đảm bảo các chính phủ ở Kabul sẽ lắng nghe Islamabad mà không kết thân với Ấn Độ, và một khi áp lực tiêu tan, họ sẽ đi đến thỏa thuận với Taliban Pakistan.
Tất cả những điều này lẽ ra chẳng cần thiết nếu Taliban Afghanistan, một phần do cơ quan tình báo ISI Pakistan tạo dựng, đã không ngu ngốc đến mức nhận các nhóm chiến binh Ả-rập Al-Qaeda của Osama bin Laden, và sau sự kiện 11 tháng 9 đã không lạm dụng lòng hiếu khách đáng ngợi ca của văn hóa Pashtun, dẫn tới việc họ buộc phải từ chối giao những kẻ tội phạm khi Hoa Kỳ gọi cửa. Trong vụ việc đó, sau một thập niên rưỡi chiến tranh, tình hình vẫn tồi tệ đến mức chính phủ Hoa Kỳ phải đảo ngược chính sách và để hàng ngàn binh sĩ ở lại Afghanistan trái với kế hoạch ban đầu. Mặc dù muốn rời khỏi đất nước này, nhưng Hoa Kỳ không thể hoàn toàn bỏ hẳn nó. Không chỉ Taliban Afghanistan sẽ tiến vào tiếp quản một khu vực thuộc Afghanistan thậm chí còn rộng hơn những gì họ đã kiểm soát, mà IS còn chen chân được vào đó. Trong trường hợp thủ đô Afghanistan sụp đổ, Hoa Kỳ sẽ không còn có thể giả bộ rằng máu và ngân sách quốc gia họ đã tiêu hao vào đó là một cái giá đáng phải trả. Nguy cơ thất bại của chiến dịch tuyên truyền dữ đội này chính là điều buộc Hoa Kỳ phải tiếp tục tham gia vào cuộc chiến tranh dài nhất lịch sử của họ, và là lý do tại sao chính quyền Trump khi nhậm chức phải vật lộn để thiết lập một chính sách chặt chẽ.
Về phần Ấn Độ, nước này có thể làm nhiều việc cùng lúc – quả thật họ phải làm vậy, vì lẽ Ấn Độ còn có nhiều chuyện phải đau đầu chứ không riêng gì Pakistan, kể cả khi Pakistan là ưu tiên chính sách đối ngoại số một của New Delhi. Việc ở ngay sát cửa có một nhà nước thù địch được trang bị vũ khí hạt nhân là một điều khiến người ta phải luôn canh chừng, nhưng Ấn Độ cũng phải tập trung vào việc quản lý 1,3 tỷ dân trong khi đồng thời phải cũng vươn lên như một cường quốc toàn cầu tiềm năng.
Mối quan hệ với Trung quốc sẽ chi phối chính sách đối ngoại của Ấn Độ, ngoại trừ một điều – dãy Himalaya. Không có dãy núi cao nhất thế giới giữa họ, một mối quan hệ nồng ấm có khả năng sẽ trở nên băng giá. Liếc nhìn vào bản đỏ, chúng ta thấy hai quốc gia khổng lồ vai kề vai, nhưng nếu nhìn gần hơn, hai nước bị ngăn cách nhau bởi đường biên giới mà ấn phẩm World Factbook của CIA ghi nhận là dài 1.652 dặm.
Có những vấn đề gây ra xung đột, trong số đó chủ yếu là Tây Tạng, vùng đất cao nhất trên Trái đất. Như đã thảo luận ở phần trước, Trung Quốc muốn có Tây Tạng, vừa để ngăn không cho Ấn Độ có được nó, và cũng tồi tệ không kém xét theo quan điểm của Bắc Kinh, là để ngăn chặn một nước Tây Tạng độc lập cho phép Ấn Độ đặt căn cứ quân sự ở đó, và do đó trao cho họ những cao điểm kiểm soát.
Phản ứng của Ấn Độ đối với việc Trung Quốc sáp nhập Tây Tạng là tiếp nhận Đức Đạt Lai Lạt Ma và phong trào độc lập Tây Tạng vào dùng Dharamsala ở bang Himachal Pradesh. Đây là một hợp đồng bảo hiểm dài hạn, phí tổn do Ấn Độ đài thọ nhưng không mong sẽ có ngày được chi trả. Như tình hình hiện tại, sự độc lập của Tây Tạng xem ra là điều không thể; Nhưng nếu điều không thể đó xảy ra, thậm chí trong vài thập niên tới, Ấn độ sẽ ở vào một vị thế có thể nhắc nhở Tây Tạng rằng ai đã là bạn của họ trong suốt những năm lưu vong.
Trung Quốc hiểu rằng kịch bản này rất khó xảy ra, nhưng vẫn bị khó chịu bởi sự kiện Dharamshala. Phản ứng của họ đã được thấy tại Nepal, nơi Bắc Kinh đảm bảo họ có ảnh hưởng đối với phong trào Maoist ở đây. Ấn Độ không muốn nhìn thấy Nepal bị những kẻ Maoist chỉ phối rốt cuộc lại rơi vào vòng kiểm soát của Trung Quốc, nhưng cũng biết rằng tiền bạc và thương mại của Bắc Kinh đang mua được ảnh hưởng ở đây. Trung Quốc có lẽ chẳng mấy quan tâm đến phong trào Maoist thời nay, nhưng nước này bận tâm đến Tây Tạng đủ để phát tín hiệu cho Ấn Độ rằng họ cũng có thừa khả năng đóng phí cho một hợp đồng bảo hiểm dài hạn. Bất kỳ “sự can thiệp“ nào của Ấn Độ vào Tây Tạng đều có thể bị đáp trả bằng “sự can thiệp” của Trung Quốc vào Nepal. Ấn Độ càng mất công sức tập trung vào các nước hàng xóm láng giểng nhỏ hơn, thì họ càng, ít có khả năng tập trung vào Trung Quốc.
Vào giữa năm 2017, cả hai quốc gia đều tập trung vào xứ Bhutan nhỏ bé mà mỗi bên đều có đường biên giới chung, dẫn đến một cuộc đối đầu nho nhỏ trên cao nguyên Doklam của Bhutan. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền một phần khu vực này và bắt đầu xây dựng một tuyến đường cao tốc ở đó, nhưng quân đội Ấn Độ nhanh chóng xuất hiện để phong tỏa nó. Trong trường hợp Trung Quốc kiểm soát được tam giác biên giới ba bên đó, họ sẽ nhìn bao quát xuống các cứ điểm quân sự của Ấn Độ, nhưng quan trọng hơn, nó sẽ cho phép Trung Quốc mang vũ khí hạng nặng tới gần Ấn Độ, đặc biệt là Hành Lang Siliguri, còn được gọi là Dải cổ gà: một rẻo đất hẹp nối các bang đông bắc của Ấn Độ với phần còn lại của đất nước, vốn có thể dễ dàng bị cắt đứt.
Một vấn đề khác giữa hai người khổng lồ này là bang Arunachal Pradesh thuộc miền đông bắc Ấn Độ, mà Trung Quốc tuyên bố là “miền nam Tây Tạng”. Khi sự tự tin của Trung Quốc tăng lên, diện tích lãnh thổ mà nước này tuyên bố chủ quyền cũng vậy. Cho đến gần đây, Trung Quốc chỉ tuyên bố chủ quyền đối với khu vực Tawang ở cực tây của nước họ. Tuy nhiên, vào đầu những năm 2000, Bắc Kinh đã quyết định rằng toàn bộ Arunachal Pradesh là thuộc về Trung Quốc. Đó là tin mới tinh đối với người Ấn Độ, những người đã thực thi chủ quyền lãnh thổ ở bang này kể từ năm 1955. Tuyên bố của Trung Quốc một phần có ý nghĩa địa lý và một phần là tâm lý. Arunachal Pradesh giáp ranh với Trung Quốc, Bhutan và Miến Điện, khiến nó hữu ích về mặt chiến lược, nhưng đối với Trung Quốc, vấn đề này cũng. có giá trị như một lời nhắc nhở cho Tây Tạng rằng độc lập là thứ không có triển vọng.
Đó là một thông điệp mà Ấn Độ cũng phải định kỳ gửi tới một số vùng lãnh thổ của chính nước này. Có rất nhiều phong trào ly khai, một số tích cực hơn số khác, một số thì nằm im không hoạt động, nhưng xem ra không phong trào nào cố đạt được mục tiêu. Ví dụ, phong trào Sikh, phát xuất từ một phần đất thuộc Punjab của cả Ấn Độ và Pakistan, đã có thời điểm rút vào yên lặng, nhưng có thể bùng lên một lần nữa. Tại bang Assam có một số phong trào đang đua tranh, bao gồm cả những nhóm dân nói tiếng Bodo muốn có một nhà nước riêng của mình, và đội quân Những con hổ giải phóng Assam của Phong trào Thống nhất Hồi giáo muốn tạo lập quốc gia riêng bên trong Assam cho người hồi giáo.
Thậm chí còn có phong trào thành lập một nhà nước Kitô giáo độc lập ở Nagaland, nơi 75% dân số là người Kitô giáo. Tuy nhiên, triển vọng để Hội đồng Quốc gia Nagaland đạt được mục tiêu của nó vẫn xa xôi như chính vùng đất nó đang tìm cách kiểm soát, và điều này cũng đúng với tất cả các phong trào ly khai.
Bất chấp các nhóm đang tìm kiếm nền độc lập này hay khác, với khối dân cư Sikh gồm 21 triệu người và một cộng đồng thiểu số Hồi giáo khoảng 170 triệu người, Ấn Độ vẫn giữ được ý thức mạnh mẽ về chính mình và về sự sự thống nhất trong đa dạng. Điều này sẽ hữu ích khi nước này vươn lên cao hơn trên sân khấu thế giới.
Thế giới quá kinh ngạc trước sự trỗi dậy ngoạn mục của cường quốc Trung Hoa đến mức người láng giềng của nó thường bỏ qua, nhưng Ấn Độ vẫn có thể cạnh tranh với Trung Quốc với tư cách một động lực kinh tế ở thế kỷ này. Đây là quốc gia lớn thứ bảy trên thế giới với dân số đứng hàng thứ hai. Ấn Độ có chung biên giới với sáu quốc gia (là bảy nếu tính cả Afghanistan). Nước này có chín ngàn dặm đường thủy nội địa, cung cấp nước ngọt đáng tin cậy và diện tích đất canh tác rộng mênh mông, là một nhà sản xuất than lớn và có trữ lượng dầu và khí đốt có thể khai thác được, ngay cả khi Ấn Độ vẫn luôn là nước nhập khẩu cả ba thứ kể trên, và chính sách trợ cấp nhiên liệu và chi phí sưởi ấm luôn làm tiêu hao nguồn tài chính của nước này.
Bất chấp sở hữu sự giàu có tài nguyên thiên nhiên, Ấn Độ không sánh kịp với sự tăng trưởng của Trung Quốc, và bởi vì Trung Quốc hiện đang vươn ra thế giới, hai nước có thể va chạm với nhau – không phải dọc theo biên giới đất liền của họ, mà là trên biển.
Trong hàng nghìn năm, những vùng đất mà hiện nay là Trung Quốc và Ấn Độ có thể đã lờ nhau đi bởi địa hình tự nhiên của họ. Việc bành trướng vào lãnh thổ của nhau xuyên qua dãy Himalaya là điều không thể, và ngoài ra, mỗi nước đều đã có đủ đất đai canh tác.
Tuy nhiên, ngày nay, sự gia tăng của công nghệ đồng nghĩa với việc mỗi nước đòi hỏi một lượng năng lượng khổng lồ; địa lý đã không để lại cho họ nguồn tài nguyên dồi dào như vậy, và do đó cả hai nước đều buộc phải mở rộng chân trời của họ và mạo hiểm hướng ra đại dương, và chính tại đây, họ đã đụng độ nhau.
Hai mươi năm năm trước, Ấn Độ bắt tay vào chính sách “Hướng Đông”, một phần trong đó là kế hoạch phong tỏa cái mà họ gọi là sự trỗi dậy sắp xảy ra của Trung Quốc. Nước này đã “đối phó với tình huống” bằng cách gia tăng đáng kể thương mại với Trung Quốc (chủ yếu là nhập khẩu) trong khi đồng thời gây dựng các mối quan hệ chiến lược tại những vùng mà Trung Quốc coi là sân sau của mình.
Ấn Độ đã củng cố mối quan hệ với Miến Điện, Philipin và Thái Lan, nhưng quan trọng hơn cả, họ đang hợp tác với Việt Nam và Nhật Bản để chặn đứng sự thống trị ngày càng tăng của Trung Quốc Trên biển Đông.
Trong việc này, Ấn Độ có một đồng minh mới, mặc dù nước này vẫn luôn giữ nó cách xa một sải tay – Hoa Kỳ. Trong nhiều thập niên, Ấn Độ vẫn nghi ngờ Hoa Kỳ là một nước Anh kiểu mới, nhưng với giọng điệu khác và có nhiều tiền hơn. Bước sang thế kỷ 21, một Ấn Độ tự tin hơn, trong một thế giới ngày càng đa cực, đã tìm ra lý do để hợp tác với Hoa Kỳ. Khi Tổng thống Obama tham dự cuộc duyệt binh kỷ niệm Ngày Cộng hòa Ấn Độ năm 2015, New Delhi đã chủ ý phô trương cả những chiếc máy bay C-130 Hercules và C-17 Globemaster láng bóng do Hoa Kỳ cung cấp cũng như những chiếc xe tăng do Nga cung cấp. Hai nền dân chủ khổng lồ đang chầm chậm tiến đến gần nhau hơn, như được biểu thị bởi vòng tay thân thiện mà Thủ tướng Modi và Tổng thống Trump đã trao cho nhau trong cuộc gặp gỡ đầu tiên của họ.
Ấn Độ có một lực lượng hải quân lớn, hiện đại, được trang bị tốt, bao gồm một tàu sân bay, nhưng nó sẽ không thể cạnh tranh với lực lượng Hải quân Nước xanh dương đồ sộ mà Trung Quốc đã hoạch định. Thay vào
đó, Ấn Độ đang liên kết với các bên khác có cùng quan tâm để có thể cùng nhau ít nhất là theo dõi, nếu không nói là kiềm chế, hạm đội Trung Quốc khi nó vượt qua eo biển Malacca, qua vịnh Bengal và vòng qua mũi đất Ấn Độ để đi vào biển Ả-rập, hướng tới bến cảng thân thiện mà Trung Quốc đã xây dựng tại Gwadar của Pakistan.
Với Ấn Độ, mọi chuyện luôn trở lại với chủ đề Pakistan, và về phần Pakistan, là quay về chủ đề Ấn Độ.
Chương 8 - Triều Tiên và Nhật Bản
“Tôi… vừa bắt đầu cụm từ chơi chữ gọi Kim Jong-il là ‘Ôi lãnh đạo mến yêu’, nhưng nó đã chết lịm trên môi tôi.” – Christopher Hitchens, Tình yêu, nghèo đói và chiến tranh:
Những cuộc hành trình và những tiểu luận.
Làm cách nào bạn giải quyết một vấn đề như Triều Tiên? Không, bạn không thể, bạn chỉ kiềm chế nó mà thôi – xét cho cùng, có rất nhiều thứ đang diễn ra trên thế giới này cần được lưu tâm cấp bách hơn.
Toàn bộ khu vực trải từ Malaysia đến cảng Vladivostok của Nga đều căng thắng theo dõi vấn đề Bắc/Nam Triều Tiên. Tất cả các nước láng giềng đều biết rằng vấn đề đó có tiềm năng nổ bùng vào mặt họ, làm liên lụy đến nước họ và gây tổn hại cho nền kinh tế của họ. Trung Quốc không muốn đánh nhau thay cho Bắc Triều Tiên, nhưng cũng không muốn một nước Triều Tiên thống nhất, chứa chấp các căn cứ Hoa Kỳ gần biên giới của mình. Hoa Kỳ không thực sự muốn đánh nhau cho Hàn Quốc, nhưng họ cũng không chấp nhận bị coi là kẻ bỏ rơi bạn bè. Nhật Bản, với lịch sử can dự lâu dài vào bán đảo Triều Tiên, cần cho thiên hạ thấy họ bước đi rón rén, vì biết rằng bất cứ điều gì xảy ra điều có thể sẽ kéo họ vào cuộc.
Giải pháp là thỏa hiệp, nhưng món đó không được thích thú lắm tại Hàn Quốc, còn giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên thì chẳng hề đoái hoài. Con đường phía trước không hoàn toàn rõ ràng; có vẻ như nó luôn luôn khuất dạng sau đường chân trời.
Trong suốt mấy năm, Hoa Kỳ và Cuba đã lặng lẽ nhảy một vũ điệu vờn quanh nhau, buông ra những gợi ý rằng họ muốn điệu tango không bị rối chân, và dẫn đến bước đột phá trong việc thiết lập lại quan hệ ngoại giao vào tháng Bảy năm 2015. Bắc Triều Tiên lại khác, họ trừng mắt trước mọi lời mời mọc từ những kẻ mời họ lên sàn nhảy, thỉnh thoảng lại làm mặt hằm hè.
Bắc Triều Tiên là một đất nước nghèo khổ với ước tính hai lăm triệu dân, lãnh đạo bởi một chế độ quân chủ, được Trung Quốc hỗ trợ, một phần vì lo sợ hàng triệu dân tị nạn sẽ tràn vào miền bắc qua sông Áp Lục (Yalu). Hoa Kỳ lo rằng việc rút quân sẽ gửi đi một tín hiệu sai lầm và khuyến khích chủ nghĩa phiêu lưu của Bắc Triều Tiên, do đó tiếp tục đồn trú gần ba mươi ngàn quân tại Hàn Quốc. Còn Hàn Quốc, với cảm xúc lẫn lộn về việc phải mạo hiểm sự thịnh vượng của mình, vẫn chẳng làm điều gì đáng kể để thúc đẩy sự thống nhất đất nước.
Tất cả các vai diễn trong vở kịch dài Đông Á này đều biết rằng nếu họ cố đòi cho được một câu trả lời vào thời điểm sai, họ sẽ khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Tôi tệ hơn nhiều. Không phải quá đáng khi người ta sợ rằng mọi sự sẽ kết thúc với việc hai thành phố thủ đô điêu tàn trong tro bụi, một cuộc nội chiến, một thảm họa con người, những tên lửa rơi vào Tokyo và các vùng ngoại vi, một cuộc đối đầu quân sự nữa của Trung Quốc/Hoa Kỳ trên bán đảo bị chia cắt, mà một bên có vũ khí hạt nhân. Nếu Bắc Triều Tiên sụp đổ, nó cũng có thể phát nổ, đưa sự bất ổn vượt qua bên kia biên giới dưới hình thức chiến tranh, khủng bố và /hoặc cơn lũ những người tị nạn, và vì vậy, các diễn viên đều bị mắc kẹt. Và cũng vì vậy, giải pháp được để lại cho thế hệ lãnh đạo kế tiếp, và rồi thế hệ kế tiếp nữa.
Nếu các nhà lãnh đạo thế giới có phát biểu công khai về việc chuẩn bị cho cái ngày mà Bắc Triều Tiên sụp đổ, thì có nguy cơ họ sẽ thúc đẩy ngày đó tới sớm; và vì không ai có kế hoạch cho ngày đó – tốt hơn cả là nên giữ im lặng. Tiến thoái lưỡng nan.
Bắc Triều Tiên tiếp tục sắm vai kẻ yếu thế nhưng điên rồ và đầy quyền lực để có được hiệu quả tốt. Về cơ bản, chính sách đối ngoại của nước này là nghi ngờ tất cả, trừ Trung Quốc, mà thậm chí Bắc Kinh cũng không hoàn toàn được tin tưởng mặc dù cung ứng 84,12% số hàng nhập khẩu của Bắc Triều Tiên và mua 84,48% hàng xuất khẩu của nước này, theo những số liệu năm 2014 của Dữ liệu Phức hợp Kinh tế (Observatory of Economic Complexity). Bắc Triều Tiên bỏ rất nhiều nỗ lực vào việc xúi bẩy tất cả những thế lực bên ngoài chống lại nhau, bao gồm cả người Trung Quốc, để ngăn chặn một mặt trận thống nhất chống lại nước này.
Đối với đám quần chúng bị giam cầm trong nước, Bắc Triều Tiên nói rằng mình là một nhà nước vững mạnh, hào phóng, hùng vĩ, đứng vững trước mọi nghịch cảnh và những thế lực ngoại bang xấu xa, tự gọi mình là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (DPRK). Họ có một triết lý chính trị độc đáo gọi là “Juche” (Chủ thể), pha trộn chủ nghĩa dân tộc bạo liệt với chủ nghĩa cộng sản và tự lực tự cường dân tộc.
Trong thực tế, đây là nhà nước ít dân chủ nhất trên thế giới: nhà nước này không phải là một nền cộng hòa. Nó là một triều đại được chia sẻ trong một gia tộc và một chính đảng. Nó cũng đánh dấu mọi ô trong bài test về chế độ độc tài: bắt giữ tùy tiện, tra tấn, xét xử hình thức, trại cải tạo, kiểm duyệt, cai trị bằng nỗi sợ hãi, tham nhũng và hàng loạt những điều kinh hoàng trên quy mô có một không hai trong thế kỷ 21 này.
Những câu chuyện trên các bản tin về những thành viên thuộc giới tinh hoa bị thanh trừng bằng súng phòng không, hoặc làm mồi cho một bầy chó đói, chưa bao giờ được xác nhận. Tuy nhiên, dù đúng dù sai, hầu như không có sự nghi ngờ về biết bao nỗi kinh hoàng kéo dài bất tận mà chế độ độc tài gây ra đối với người dân. Chính quyền kiểm soát toàn diện dẫn đến việc đánh đập, tra tấn, trại tù và giết người một cách vô pháp.
Đó là sự cô lập tự o ép mình của đất nước này, và sự kiểm soát gần như toàn diện của nhà nước về kiến thức thông tin, đến mức chúng ta chỉ có thể đoán được những gì người dân cảm nhận về đất nước, về hệ thống chính trị và lãnh đạo của họ, và liệu họ có ủng hộ chế độ hay không. Việc phân tích những gì đang diễn ra về mặt chính trị, và lý do của tình hình đó, giống như nhìn qua một cửa sổ kính mờ trong khi đeo kính râm. Một vị cựu đại sứ tại Bình Nhưỡng đã từng nói với tôi: “Giống như bạn đang ở bên này của tấm cửa kính, và bạn cố gắng kéo tấm cửa kính để mở nó ra, nhưng chẳng biết xoay xở ra sao để hé nhìn vào bên trong.
Huyền thoại lập quốc của Triều Tiên kể rằng nước này đã được tạo dựng vào năm 2333 trước Công nguyên bởi ý trời. Thượng đế cử con trai mình, Hwanung, xuống thế gian, ông hạ phàm tại núi Paektu (Baekdu) và kết hôn với một phụ nữ đã từng là một con gấu, và đến lượt con trai họ, Dangun, tiếp tục tham dự vào tiền lệ lập quốc này.
Phiên bản được ghi chép lại sớm nhất về huyền thoại khai quốc này có niên đại từ thế kỷ 13. Nó ít nhiều có thể giải thích tại sao một nhà nước cộng sản lại có vai trò cha truyền con nối trong một gia đình và được nhận một địa vị như thần thánh. Ví dụ, Kim Jong-Il được bộ máy tuyên truyền Bình Nhưỡng mô tả là “Lãnh tụ kính yêu, một hiện thân hoàn hảo của phong thái diện mạo mà một lãnh tụ cần có”, “Ánh sáng soi đường”, “Ngôi sao rực sáng của núi Paektu”, “Nhà lãnh đạo thế giới của thế kỷ 20” và “Con người vĩ đại giáng trần từ thiên đàng”, cũng như “Tấm lòng vĩnh cửu mang tình yêu nồng nhiệt”. Cha của ông có những danh hiệu rất giống như vậy, và con trai ông cũng vậy.
Dân chúng cảm nhận như thế nào về những tuyên bố như vậy? Ngay cả các chuyên gia cũng bỏ ngỏ các phán đoán của mình. Khi bạn nhìn vào những đoạn phim tư liệu quay cảnh cả đám đông cuồng loạn những người dân Bắc Triều Tiên than khóc Kim Jong- il, qua đời vào năm 2011, thì thật thú vị khi lưu ý rằng sau vài hàng người đầu tiên khóc nức nở, gào thét, mức độ bộc lộ đau buồn dường như giảm hẳn. Liệu có phải vì những người đứng ở hàng phía trước biết máy quay phim đang chĩa vào họ và do đó, vì sự an toàn của riêng mình, họ phải làm những gì được yêu cầu? Hay là những đảng viên trung kiên được xếp ở hàng đầu? Hay họ là những người dân thường thực sự đau buồn, một phiên bản phóng đại kiểu Bắc Triều Tiên của hiện tượng bộc phát cảm xúc mà chúng ta. đã chứng kiến ở Anh sau cái chết của Công nương Diana?
Tuy nhiên, Bắc Triều Tiên vẫn đang, trình diễn tốt vai kẻ yếu thế nhưng điên rồ và nguy hiểm. Đó là cả một bí quyết, và nguồn gốc của bí quyết này phần nào nằm ở vị trí địa lý và lịch sử của bán đảo, bị kẹp chặt giữa hai người khổng lồ Trung Quốc và Nhật Bản.
Tên gọi “Vương quốc Ẩn cư” được dành cho Triều Tiên vào thế kỷ 18 sau khi nước này cố gắng tự cô lập sau mấy thế kỷ là mục tiêu cho sự thống trị, chiếm đóng và cướp phá, hoặc đôi khi chỉ đơn giản là vì nằm trên tuyến đường dẫn đến một nơi nào khác. Nếu đến từ phía Bắc, thì một khi bạn vượt qua sông Áp Lục, có vài tuyến phòng thủ tự nhiên chủ chốt chạy một mạch xuống đến tận bờ biển, và nếu bạn có thể đổ bộ vào bờ từ ngoài biển, nhận định trên vẫn đúng nếu đảo ngược lại. Người Mông Cổ đến và đi, cũng như nhà Minh của Trung Hoa, người Mãn Châu và Nhật Bản cũng từng mấy lần. Vì vậy, trong một thời gian, đất nước Triều Tiên không muốn liên hệ với thế giới bên ngoài, họ cắt đứt nhiều liên kết thương mại của mình với hy vọng sẽ được yên thân.
Sách lược đó không thành công. Trong thế kỷ 20, người Nhật trở lại, thôn tính toàn bộ bán đảo vào năm 1910, và sau đó bắt đầu phá hủy nền văn hóa của nước này. Ngôn ngữ Triều Tiên bị cấm đoán, việc giảng dạy lịch sử Triều Tiên cũng vậy, và việc thờ phụng tại các ngôi đền Thần đạo Nhật Bản trở thành bắt buộc. Những thập niên đàn áp đã để lại một di sản mà thậm chí ngày nay vẫn còn tác động đến quan hệ giữa Nhật Bản và cả hai nhà nước Triều Tiên.
Nước Nhật bại trận vào năm 1945 để lại một Triều Tiên bị chia cắt tại vĩ tuyến 38. Miền Bắc là một chế độ cộng sản ban đầu chịu sự giám sát của Liên Xô và sau đó của Trung Quốc cộng sản, miền Nam là một chế độ độc tài thân Hoa Kỳ được gọi là Cộng hòa Triều Tiên (Hàn Quốc). Đây là khởi đầu của thời kỳ chiến tranh Lạnh khi mỗi tấc đất đều bị tranh chấp, cùng với việc mỗi phe tìm cách thiết lập ảnh hưởng hoặc sự kiểm soát khắp nơi trên thế giới, không muốn để phe kia duy trì một sự hiện diện độc nhất.
Lựa chọn vĩ tuyến 38 làm đường phân chia là điều không may theo nhiều cách và, theo nhà sử học người Mỹ Don Oberdorfer, là lựa chọn tùy tiện. Ông nói rằng Washington đã quá tập trung vào sự đầu hàng của Nhật Bản ngày 10 tháng Tám năm 1945 nên không có chiến lược thực sự cho Triều Tiên. Với việc quân đội Liên Xô tiến vào phía bắc bán đảo và Nhà Trắng triệu tập một cuộc họp khẩn cấp suốt đêm, hai viên chức cấp thấp, chỉ mang theo một bản đồ của tạp chí National Geographic, đã chọn vĩ tuyến 38 làm nơi để đề xuất Liên Xô dừng tiến quân, dựa trên việc nó nằm ở lưng chừng đất nước. Một trong hai viên chức đó là Dean Rusk, người sau này trở thành ngoại trưởng dưới thời Tổng thống Truman trong Chiến tranh Triều Tiên.
Không một người Triều Tiên nào có mặt, cũng không có bất kỳ chuyên gia nào về Triều Tiên. Nếu có mặt lúc đó, họ có thể nói với Tổng thống và Ngoại trưởng James Francis Byrnes rằng đó cũng chính là vĩ tuyến nơi người Nga và người Nhật Bản đã thảo luận về các vùng ảnh hưởng từ nửa thế kỷ trước, theo sau Chiến tranh Nga-Nhật giai đoạn 1904-1905. Moscow, vốn không biết rằng Hoa Kỳ đã hoạch định chính sách một cách vội vàng, có thể được tha thứ vì họ nghĩ rằng đó là sự công nhận trên thực tế của Hoa Kỳ với đề xuất kể trên, và do đó [Hoa Kỳ] chấp nhận sự phân chia và cũng chấp nhận một miền Bắc theo chế độ cộng sản. Thỏa thuận đã được thực hiện, quốc gia bị chia cắt và con xúc xắc đã gieo xuống.
Liên Xô rút quân ra khỏi Bắc Triều Tiên vào năm 1948 và Hoa Kỳ nối gót theo sau ở miền Nam vào năm 1949. Tháng Sáu năm 1950, một lực lượng quân đội Bắc Triều Tiên táo bạo đã phạm sai lầm chết người là đánh giá thấp chiến lược địa chính trị trong Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ, họ vượt qua vĩ tuyến 38, với ý định thống nhất toàn bộ bán đảo dưới một chính quyền cộng sản. Các lực lượng miền Bắc tràn xuống gần đến mũi đất của vùng duyên hải phía nam đất nước, làm rung hồi chuông báo động tại Washington.
Giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên, và những người Trung Quốc hậu thuẫn cho họ, đã tính toán chính xác rừng Hàn Quốc không quá quan trọng đối với Hoa Kỳ, theo ý nghĩa quân sự chặt chẽ; nhưng họ không hiểu được một điều là Hoa Kỳ biết nếu họ không đứng lên bảo vệ đồng minh Hàn Quốc, các đồng mình khác của họ trên khắp thế giới sẽ mất niềm tin vào Hoa Kỳ. Nếu các đồng minh của Hoa Kỳ, vào lúc đỉnh điểm của chiến tranh Lạnh, lại bắt đầu đi hàng hai hoặc ngả về phe cộng sản, thì khi đó toàn bộ chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ sẽ gặp rắc rối. Có những điểm tương đồng giữa chính sách của Hoa Kỳ ở Đông Á và ở Đông Âu hiện đại. Các quốc gia như Ba Lan, các nước vùng Baltic, Nhật Bản và Philippines cần phải có lòng tin rằng Hoa Kỳ sẽ chống lưng cho họ khi cân nhắc đến mối quan hệ của họ với Nga và Trung Quốc.
Tháng Chín năm 1950, Hoa Kỳ, dẫn đầu một lực lượng Liên Hiệp Quốc, đã đổ quân vào Hàn Quốc, đánh bật quân Bắc Triều Tiên qua bên kia vĩ tuyến 38 và sau đó tiến lên gần sát sông Áp Lục và biên giới với Trung Quốc.
Lúc này đến lượt Bắc Kinh đưa ra quyết định. Lực lượng Hoa Kỳ có mặt trên bán đảo là một chuyện, khi họ tiến lên phía bắc vĩ tuyến 38 lại là một chuyện hoàn toàn khác – thực tế là phía bắc của vùng núi non phía trên Hamhung – và nằm trong tầm tấn công vào chính Trung Quốc. Quân đội Trung Quốc tràn qua sông Ấp Lục và ba mươi sáu tháng chiến đấu khốc liệt diễn ra với thương vong khổng lồ cho tất cả các bên tham chiến trước khi họ dừng lại dọc theo biên giới hiện tại và đồng ý một thỏa thuận ngừng bắn, nhưng không phải là một hiệp ước. Họ lưu lại đó, bị mắc kẹt tại vĩ tuyến 38, và vẫn bị mắc kẹt lại cho đến nay.
Địa lý của bán đảo này khá đơn giản và là một cách nhắc nhở về sự phân chia nhân tạo giữa bắc và nam. Sự phân chia thực sự (về tổng thể) là giữa đông và tây. Phía tây của bán đảo bằng phẳng hơn nhiều so với phía đông và là nơi đa số người dân sinh sống. Phần phía đông có dãy núi Hamgyong ở hướng bắc và những dãy núi thấp hơn ở hướng nam. Khu phi quân sự (DMZ) chia bán đảo làm đôi, một phần chạy dọc theo các khúc của sông Imjin-gang, nhưng nó không bao giờ là rào cản tự nhiên giữa hai thực thể, chỉ là một con sông trong một không gian địa lý thống nhất vốn thường xuyên bị các thế lực bên ngoài thâm nhập.
Hai nước Triều Tiên nói cho đúng nghĩa thì vẫn còn trong tình trạng chiến tranh, và căn cứ trên những căng thẳng cực độ giữa họ, để làm bùng nổ một cuộc xung đột lớn không cần nhiều hơn một vài quả đạn pháo.
Nhật Bản, Hoa Kỳ và Hàn Quốc đều lo lắng về vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên, nhưng riêng Hàn Quốc thì còn có một mối đe dọa khác. Khả năng Bắc Triều Tiên thành công trong việc thu nhỏ công nghệ vũ khí hạt nhân của họ và chế tạo ra những đầu đạn có thể bắn được xa là điều chưa chắc chắn, nhưng như nước này đã từng cho thấy vào năm 1950, họ chắc chắn có khả năng phát động một cuộc tấn công quy ước, động thủ trước và hoàn toàn bất ngờ.
Thủ đô của Hàn Quốc, đại đô thị Seoul, chỉ cách ba mươi lăm dặm về phía nam vĩ tuyến 38 và vùng phi quân sự. Gần một nửa trong số năm mươi triệu người Hàn Quốc sống trong khu vực Đại Seoul, nơi có nhiều trung tâm công nghiệp và tài chính, tất cả đều nằm trong tầm bắn của pháo binh Bắc Triều Tiên.
Một mối quan tâm chính đối với Hàn Quốc là Seoul và các khu vực đô thị xung quanh nằm gần biên giới với Bắc Triều Tiên. Vị trí của Seoul khiến cho nó dễ hứng chịu các cuộc tấn công bất ngờ từ nước láng giềng, nước láng giềng này có thủ đô cách xa hơn nhiều và được che chắn một phần bởi địa hình đồi núi.
 
 
 
 
Trên những ngọn đồi ở phía trên. Khu phi quân sự trải dài 148 dặm, lực lượng quân đội Bắc có khoảng mười ngàn khẩu đội pháo. Chúng được đặt trong chiến hào, một số trong hang và boong ke. Không phải tất cả đều có thể bắn được đến trung tâm Seoul, nhưng một số có thể, và tất cả chúng đều có thể bắn đến khu vực Đại Seoul. Chẳng ai nghi ngờ rằng trong vòng hai hoặc ba ngày, sức mạnh kết hợp của lực lượng không quân Hàn Quốc và Hoa Kỳ sẽ tiêu diệt nhiều khẩu pháo trong số này, nhưng đến thời điểm đó thì Seoul đã chìm trong biển lửa. Hãy tưởng tượng hiệu quả của chỉ một loạt đạn từ mười nghìn khẩu pháo giội vào các khu vực đô thị và bán đô thị, sau đó nhân lên vài chục lần.
Hai chuyên gia về Bắc Triều Tiên, Victor Cha và David Chang, viết cho tạp chí Foreign Policy, ước tính rằng các lực lượng Bắc Triều Tiên có thể bắn tới năm trăm ngàn viên đạn pháo về phía thành phố Seoul trong giờ đầu tiên của một cuộc xung đột. Đó có vẻ là một ước tính rất cao, nhưng kể cả khi chỉ lấy một phần năm con số đó, nó vẫn gây ra sự tàn phá nặng nề. Chính phủ Hàn Quốc sẽ thấy họ đang có một cuộc chiến tranh lớn, trong khi cùng lúc phải cố xử trí sự hỗn loạn của hàng triệu người dân bỏ chạy về phía nam ngay giữa lúc đang phải nỗ lực củng cố biên giới bằng những binh sĩ đồn trú ở ngay cửa ngõ thủ đô.
Những ngọn đồi phía trên khu phi quân sự không cao và có rất nhiều khoảng đất bằng giữa chúng và Seoul. Trong một cuộc tấn công bất ngờ, quân đội Bắc Triều Tiên có thể tiến quân khá nhanh, với sự hỗ trợ của Lực lượng Đặc nhiệm, lực lượng này xâm nhập thông qua các đường hầm ngầm mà người Hàn Quốc tin rằng đã được xây dựng. Các kế hoạch chiến đấu của Bắc Triều Tiên được cho là bao gồm cả việc cho tàu ngầm đổ quân tập kích xuống phía nam Seoul, và việc kích hoạt các đơn vị nằm vùng được cài cắm sẵn trong dân chúng miền Nam. Người ta ước tính Bắc Triều Tiên có một trăm ngàn nhân sự được cho là thuộc Lực lượng đặc nhiệm.
Bắc triều tiên vốn đã chứng minh rằng họ có thể với tới Tokyo bằng tên lửa đạn đạo khi bắn mấy quả tên lửa qua biển Nhật Bản và rơi xuống Thái Bình Dương, một lộ trình đưa chúng bay thắng đến lãnh thổ Nhật Bản. Lực lượng vũ trang của nước này có quân số hơn một triệu, một trong những quân đội lớn nhất thế giới, và ngay cả khi đa số không được huấn luyện cao, họ vẫn có ích đối với Bình Nhưỡng, giữ vai trò một lực lượng làm bia đỡ đạn trong khi nước này tìm cách mở rộng sự xung đột.
Hoa Kỳ sẽ chiến đấu sát cánh cùng Hàn Quốc, quân đội Trung Quốc sẽ báo động toàn phần và tiếp cận sông Áp Lục, trong khi Nga và Nhật Bản sẽ lo lắng theo dõi tình hình.
Những kịch bản trên đây – tại thời điểm cuốn sách này được viết – đã khiến các tổng thống kế tiếp nhau của Hoa Kỳ hạn chế thực hiện hành động quân sự kiên quyết để đánh sập chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Các cuộc thử nghiệm tên lửa đạn đạo liên lục địa vào năm 2017 của Bắc Triều Tiên, tiềm năng thu nhỏ vũ khí hạt nhân, và hoạt động tàu ngầm vẫn tiếp diễn của nước này đồng nghĩa chúng ta đang nhanh chóng tiến gần đến trò chơi chung cuộc, trong đó hoặc Bắc Triều Tiên trở thành một lực lượng vũ trang hạt nhân hoàn bị, hoặc Hoa Kỳ sẽ can thiệp để ngăn chặn họ. Không ai được lợi nếu để xảy ra một cuộc chiến tranh lớn nữa tại Triều Tiên, vì cả hai bên đều sẽ bị tàn phá, nhưng điều đó đã không ngăn được các cuộc chiến tranh trong quá khứ. Năm 1950, khi Bắc Triều Tiên vượt qua vĩ tuyến 38, nước này đã không dự đoán được một cuộc chiến tranh ba năm với bốn triệu người chết, rồi kết thúc trong thế bế tắc. Một xung đột tổng lực vào thời điểm hiện nay thậm chí có thể còn thảm khốc hơn. Nền kinh tế của Hàn Quốc mạnh gấp tám mươi lần Bắc Triều Tiên, dân số của nước này gấp hai lần và lực lượng vũ trang Hàn Quốc và Hoa Kỳ kết hợp lại gần như chắc chắn sẽ áp đảo Bắc Triều Tiên, giả dụ rằng Trung Quốc không quyết định tham chiến nữa.
Và sau đó là gì? Đã có kế hoạch nghiêm túc có giới hạn cho một tình huống như vậy. Hàn Quốc được cho là đã chạy một số mô hình trên máy tính về những gì có thể cần phải làm, nhưng nhìn nhìn chung người ta chấp nhận rằng tình hình sẽ là hỗn loạn. Các vấn đề gây ra bởi tình huống Triều Tiên sụp đổ hay nổ tung sẽ nghiêm trọng hơn bội phần nếu nó xảy ra như là kết quả của một cuộc chiến. Nhiều quốc gia sẽ bị ảnh hưởng và sẽ phải đưa ra quyết định. Kể cả khi Trung Quốc không muốn can thiệp vào cuộc chiến, nhưng nước này có thể quyết định phải vượt qua biên giới và cứu vãn Bắc Triều Tiên để làm một vùng đệm giữa họ và các lực lượng Hoa Kỳ. Họ có thể quyết định rằng một Triều Tiên thống nhất, liên minh với Hoa Kỳ, liên minh với Nhật Bản, sẽ là mối đe dọa tiềm tàng quá mức cho phép.
Hoa Kỳ sẽ phải quyết định băng qua khu phi quân sự bao xa và liệu có nên tìm kiếm và chiếm tất cả các địa điểm có chứa vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt hàng loạt khác của Bắc Triều Tiên hay không. Trung Quốc sẽ có mối quan tâm tương tự, đặc biệt là khi một số cơ sở hạt nhân chỉ cách biên giới của nước này ba mươi lăm dặm.
Trên mặt trận chính trị, Nhật Bản sẽ phải quyết định liệu họ có muốn một Triều Tiên hùng mạnh, thống nhất ở bên kia biển Nhật Bản hay không. Với mối quan hệ dễ đổ vỡ giữa Tokyo và Seoul, Nhật Bản có lý do để lo lắng về một kịch bản như vậy, nhưng vì nước này có mối quan tâm lớn hơn về Trung Quốc, có khả năng họ sẽ quyết định ngả theo chiều hướng ủng hộ sự thống nhất, bất chấp có thể xảy ra kịch bản trong đó Nhật Bản được yêu cầu hỗ trợ về mặt tài chính vì lẽ họ đã chiếm đóng lâu dài bán đảo này trong thế kỷ trước. Ngoài ra, Nhật Bản cũng biết những gì Seoul biết: hầu hết các chi phí kinh tế cho tái thống nhất sẽ do Hàn Quốc gánh chịu, và chúng sẽ khiến cho phí tổn của công cuộc tái thống nhất nước Đức có vẻ như những món tiền nhỏ. Đông Đức có thể tụt hậu khá xa sau Tây Đức, nhưng nó có một lịch sử phát triển, một nền móng công nghiệp và một dân số c
có học thức. Công cuộc phát triển Bắc Triều Tiên sẽ bắt ở từ nền đất trống và những khoản chi phí sẽ kìm hãm nền kinh tế của một bán đảo thống nhất trong một thập niên, Sau đó, nguồn lợi của tài nguyên thiên nhiên phong phú ở miền Bắc, như than đá, kẽm, đồng, sắt và các nguyên tố hiếm, và chương trình hiện đại hóa được kỳ vọng sẽ bắt đầu có tác dụng, nhưng có những cảm xúc lẫn lộn về việc mạo hiểm đánh đổi sự thịnh vượng của một trong những quốc gia tiên tiến bậc nhất thế giới trong quãng thời gian chờ đợi đó.
Những quyết định đó là để cho tương lai. Còn lúc này, mỗi bên tiếp tục chuẩn bị cho một cuộc chiến; như với Pakistan và Ấn Độ, họ bị khóa chặt trong vòng tay của nỗi sợ hãi và nghi ngờ.
 
Hàn Quốc hiện nay là một thành viên hội nhập sôi động của các quốc gia trên thế giới, với một chính sách đối ngoại phù hợp. Với vùng nước rộng mở về phía tây, phía đông và phía nam, và với rất ít tài nguyên thiên nhiên, nước này quan tâm đến việc xây dựng hải quân hiện đại trong ba thập niên vừa qua, một lực lượng có khả năng tiến ra biển Nhật Bản và biển Hoa Đông để canh giữ lợi ích của Hàn Quốc. Giống như Nhật Bản, nước này phụ thuộc vào nguồn năng lượng nước ngoài để đáp ứng cho nhu cầu nội địa, và vì vậy họ theo dõi sát sao các tuyến đường biển của toàn vùng. Hàn Quốc đã dành nhiều thời gian để tạo dựng quan hệ nước đôi, đầu tư vốn liếng ngoại giao vào các mối quan hệ gần gũi hơn với Nga và Trung Quốc, nhiều đến mức gây khó chịu cho Bình Nhưỡng.
Một tính toán sai lầm của bên này hay bên kia đều có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh, vừa gây những tác động tai hại đối với người dân của bán đảo, vừa có thể phá hủy nền kinh tế của khu vực, với các hiệu ứng lan tỏa lớn tác động đến nền kinh tế Hoa Kỳ. Cái bắt đầu với việc Hoa Kỳ bảo vệ lập trường Chiến tranh Lạnh chống Nga đã phát triển thành một vấn đề có tầm quan trọng chiến lược đối với nền kinh tế của nước này và của một số quốc gia khác.
Hàn Quốc vẫn có những vấn đề với Tokyo liên quan đến sự chiếm đóng của Nhật Bản trước đây, và ngay cả trong những lúc tốt đẹp nhất, một điều thật hiếm hoi, mối quan hệ đó cũng chỉ ở mức thân thiện. Đầu năm 2015, khi Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nhật Bản cùng ngồi xuống bàn bạc chi tiết về một thỏa thuận chia sẻ tin tức tình báo quân sự mà họ từng thu thập được ở Bắc Triều Tiên, Seoul cho biết họ sẽ chỉ chuyển một lượng thông tin mật hạn chế tới Tokyo thông qua Washington. Họ sẽ không giao dịch trực tiếp với Nhật Bản.
Hai nước vẫn còn tranh chấp lãnh thổ về phần đất mà Hàn Quốc gọi là quần đảo Dokdo (Độc đảo) và Nhật Bản gọi là đảo Takeshima (Trúc đảo). Hàn Quốc hiện đang kiểm soát các mỏm đá nhô, nằm trong vùng đánh cá thuận lợi, và có thể có trữ lượng khí đốt. Bất chấp cái gai này vẫn mắc vào bên sườn họ, và bất chấp những ký ức còn tươi mới về cuộc chiếm đóng, cả hai đều có lý do để hợp tác và bỏ lại đằng sau quá khứ khôn nguôi.
Lịch sử Nhật Bản rất khác với lịch sử của Hàn Quốc, và điều đó một phân là do địa lý của nước này. Người Nhật là giống dân đảo, với đa số trong tổng số 127 triệu dân sống chủ yếu trên bốn hòn đảo lớn giáp mặt với Hàn Quốc và Nga trên biến Nhật Bán, và một thiểu số sinh sống tại 6.848 hòn đảo nhỏ hơn. Đảo lớn nhất là đảo Honshu, bao gồm đại đô thị lớn nhất thế giới, Tokyo, với 39 triệu dân.
Từ điểm gần nhất, Nhật Bản cách khối lục địa Á-Âu một trăm hai mươi dặm, đây là một trong những lý do tại sao nước này chưa bao giờ bị xâm chiếm thành công. Trung Quốc cách khoảng năm trăm dặm qua biển Hoa Đông; và mặc dù lãnh thổ Nga ở gần hơn, các lực lượng Nga thường cách khá xa vì khí hậu cực kỳ khắc nghiệt và dân cư thưa thớt dọc bờ biển Okhotsk.
Vào thế kỷ 14, người Mông Cổ đã rắp tâm xâm lược Nhật Bản sau khi quét qua Trung Quốc, Mãn Châu và xuống đến Triều Tiên. Trong lần toan xâm lược đầu tiên, họ bị đánh lui và vào lần thứ hai, một cơn bão đã phá hủy hạm đội của họ. Các vùng biển trong eo biển Triều Tiên bị khuấy động bởi thứ mà người Nhật gọi là “thần phong” hay “kamikaze”.
Vì vậy, môi đe dọa từ phía tây và tây bắc bị hạn chế, còn ở phía đông và đông nam không có gì ngoài Thái Bình Dương. Hương nhìn sau cùng này là lý do tại sao người Nhật tự đặt cho mình tên gọi là “Nippon” hay “nguồn gốc của mặt trời”: về phía đông không có gì chắn giữa họ và đường chân trời, và mỗi buổi sáng mặt trời mọc lên từ đường chân trời đó. Ngoài những cuộc xâm lược lâu lâu một lần vào Triều Tiên, họ chủ yếu lo việc của mình cho đến khi thế giới hiện đại kéo đến, và khi nó đến, sau động thái xua đuổi ban đầu, họ đã bước ra gặp gỡ nó.
Có nhiều ý kiến khác nhau về thời gian khi những hòn đảo này trở thành Nhật Bản, nhưng có một bức thư nổi tiếng được gửi từ đất nước mà chúng ta gọi là Nhật Bản đến hoàng đế Trung Hoa vào năm 617, trong đó nhà quý tộc hàng đầu Nhật Bản viết: “Ta, Hoàng đế của đất nước nơi mặt trời mọc, gửi một bức thư cho Hoàng đế của đất nước nơi mặt trời lặn. Ngài có được mạnh khỏe không?“ Sử chép rằng hoàng đế Trung Quốc khá bất mãn với sự xấc xược rõ ràng như vậy. Đế quốc của ông bao la rộng lớn, trong khi các hòn đảo chính của Nhật Bản vẫn chỉ thống nhất một cách lỏng lẻo, một tình hình sẽ không thay đổi cho đến khoảng thế kỷ 16.

Lãnh thổ của các hòn đảo Nhật Bản tạo thành một quốc gia lớn hơn hai miền Triều Tiên kết hợp lại, hoặc lớn hơn nước Pháp hay nước Đức tại châu Âu. Tuy nhiên, 3/4 điện tích đất không thuận lợi cho việc sinh sống của con người, đặc biệt ở các vùng núi, và chỉ có 13% đất đai thích hợp cho việc canh tác. Điều này khiến người Nhật sống xích lại gần nhau dọc theo vùng đồng bằng duyên hải và trong những vùng có giới hạn sâu trong đất liền, nơi một số mảnh ruộng bậc thang có thể được khai phá trên sườn đồi. Địa hình núi non đồng nghĩa Nhật Bản có nguồn nước dồi dào, nhưng việc thiếu vùng đất bằng cũng có nghĩa là các dòng sông của Nhật không thuận tiện cho việc giao thông và do đó cả thương mại, một vấn đề càng trở nên trầm trọng bởi thực tế là rất ít các con sông hợp lưu.
Vì vậy, người Nhật trở thành một dân tộc hàng hải, liên hệ và buôn bán dọc theo bờ biển có vô số các hòn đảo của họ, thỉnh thoảng đột kích cướp phá Triều Tiên, và rồi sau nhiều thế kỷ cô lập, đã vươn ra để thống trị toàn bộ khu vực.
Vào lúc bắt đầu thế kỷ 20, Nhật Bản là một cường quốc công nghiệp với một lực lượng hải quân lớn thứ ba trên thế giới, và năm 1905, nước này đánh bại người Nga trong một cuộc chiến tranh trên đất liền và trên biển. Tuy nhiên, chính địa lý đảo quốc từng cho phép họ sống cô lập không để lại cho họ sự lựa chọn nào khác ngoài việc gia nhập với thế giới. Vấn đề là ở chỗ Nhật đã chọn cách gia nhập bằng quân sự.
Cả cuộc chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất và chiến tranh Nga-Nhật đều nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga tại Triều Tiên. Theo lời của cố vấn quân sự Phổ, thiếu tá Klemens Meckel, Nhật Bản coi Triều Tiên là “một con dao găm chĩa vào trái tim Nhật Bản”. Việc kiểm soát bán đảo này sẽ loại bỏ mối đe dọa đó, và kiểm soát Mãn Châu sẽ đảm bảo cho bàn tay của Trung Quốc, và ở một mức độ thấp hơn là bàn tay của Nga, không thể với tới cán của con dao găm này. Quặng sắt và than đá của Triều Tiên cũng rơi vào tay Nhật Bán.
Nhật Bản có rất ít tài nguyên thiên nhiên cần thiết để trở thành một quốc gia công nghiệp hóa. Nước này có nguồn cung cấp than hạn chế và chất lượng kém, rất ít dầu mỏ, lượng khí đốt khan hiếm, nguồn cung cấp cao su hạn chế và thiếu nhiều kim loại. Điều này hiện nay vẫn đúng, giống như một trăm năm trước, mặc dù các mỏ khí đốt ngoài khơi đang được khám phá cùng với các mỏ trầm tích kim loại quý dưới đáy biển. Tuy nhiên, Nhật hiện vẫn là nước nhập khẩu khí tự nhiên lớn nhất thế giới và là nước nhập khẩu dầu lớn thứ ba thế giới.
Chính sự thèm khát những tài nguyên này là nguyên nhân đã khiến Nhật Bản đưa quân vào Trung Quốc những năm 1930 và sau đó là Đông Nam Á đầu những năm 1940. Nhật chiếm đóng Đài Loan năm 1895 và sau đó sáp nhập Triều Tiên năm 1910. Nước này chiếm đóng Mãn Châu năm 1932, sau đó tiến hành một cuộc xâm lược toàn diện vào Trung Quốc năm 1937. Khi mỗi con bài domino được gieo xuống, đế chế càng mở rộng và dân số Nhật Bản gia tăng càng đòi hỏi nhiều dầu hơn, nhiều than đá và kim loại hơn, nhiều cao su và thực phẩm hơn.
Trong khi các cường quốc châu Âu vướng bận với chiến tranh tại châu Âu, Nhật Bản tiếp tục xâm chiếm miền Bắc Đông Dương. Cuối cùng, Hoa Kỳ, quốc gia vào thời điểm đó đang cung cấp hầu hết nhu cầu dầu khí của Nhật Bản, đã gửi cho họ một tối hậu thư – rút quân hoặc bị cấm vận dầu. Người Nhật phản ứng bằng cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng và sau đó càn quét khắp Đông Nam Á, chiếm đóng Miến Điện, Singapore và Philippines, đó chỉ là vài cái tên trong số nhiều lãnh thổ khác nữa.
Đây là một sự căng sức quá lớn, không chỉ là việc đối chọi với Hoa Kỳ, mà còn vơ vét các nguồn tài nguyên, ví dụ cao su, thứ mà Hoa Kỳ cũng cần cho ngành công nghiệp của chính mình. Người khổng lồ của thế kỷ 20 đã huy động cho cuộc chiến tổng lực. Thế rồi, chính địa lý của Nhật Bản đã đóng một vai trò trong thảm họa lớn nhất của nước này – Hiroshima và Nagasaki.
Hoa Kỳ đã chiến đấu mở đường băng qua Thái Bình Dương, từ đảo này tới đảo kia, với cái giá rất lớn. Vào thời điểm họ chiếm Okinawa, nằm trong chuỗi đảo Ryukyu giữa Đài Loan và Nhật Bản, họ phải đối mặt với một kẻ địch vẫn còn đây cuồng tín, luôn chuẩn bị sẵn sàng để bảo vệ những ngả đường tiếp cận và bảo vệ bốn hòn đảo chính khỏi cuộc xâm lược đổ bộ. Những tổn thất nặng nề của Hoa Kỳ đã được dự đoán trước. Nếu địa hình dễ dàng hơn, sự lựa chọn của người Mỹ có thể đã khác – họ có thể tiến quân đến tận Tokyo – nhưng họ đã lựa chọn giải pháp hạt nhân, giáng xuống Nhật Bản và lương tâm tập thể toàn thế giới, nỗi kinh hoàng của một thời đại mới.
Sau khi bụi phóng xạ đã lắng xuống trên một nước Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện, Hoa Kỳ đã giúp họ xây dựng lại, một phần là để làm hàng rào ngăn cản Trung Quốc cộng sản. Nước Nhật Bản mới cho thấy sức sáng tạo khi xưa của mình và trong vòng ba thập niên đã trở thành một cường quốc kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, tính hung hăng và chủ nghĩa quân phiệt trước đây của nước này không biến mất hoàn toàn: chúng chỉ bị chôn vùi dưới đống đổ nát của Hiroshima và Nagasaki và một tâm lý dân tộc tan nát. Hiến pháp thời hậu chiến của Nhật Bản không cho phép nước này xây dựng quân đội, không quân hay hải quân, chỉ có “Lực lượng Phòng vệ” mà trong nhiều thập niên là một cái bóng nhạt nhòa của quân đội trước chiến tranh. Thỏa thuận hậu chiến do Hoa Kỳ áp đặt đã giới hạn chỉ tiêu quốc phòng của Nhật Bản xuống mức 1% tổng sản lượng quốc nội và để lại hàng chục ngàn binh lính Hoa Kỳ trên lãnh thổ Nhật Bản, ba mươi hai ngàn người trong số này vẫn còn đang ở đó.
Nhưng vào đầu thập niên 1980, những sự khuấy động yếu ớt của chủ nghĩa dân tộc lại được phát hiện. Có những bộ phận thuộc thế hệ cũ chưa bao giờ thừa nhận những tội ác chiến tranh quá lớn của Nhật Bản, và những thành phần của giới trẻ, những người không sẵn sàng chấp nhận sự chuộc lỗi cho những tội ác mà cha anh họ gây ra. Nhiều trẻ em trong Xứ sở Mặt trời mọc muốn có chỗ đứng “tự nhiên” của mình dưới ánh nắng mặt trời của thế giới hậu chiến.
Một quan điểm linh hoạt về hiến pháp đã trở thành quan điểm chuẩn mực, và dần dần Lực lượng Phòng vệ của Nhật Bản đã trở thành một đơn vị chiến đấu hiện đại. Điều này xảy ra khi sự trỗi dậy của Trung Quốc ngày càng trở nên rõ ràng, và vì vậy người Mỹ, nhận ra rằng họ sẽ cần các đồng minh quân sự trong khu vực Thái Bình Dương, đã sẵn sàng chấp nhận một Nhật Bản được quân sự hóa trở lại.
Trong thế kỷ hiện tại, Nhật Bản đã thay đổi chính sách quốc phòng để cho phép các lực lượng của mình chiến đấu cùng với các đồng minh nước ngoài, và những thay đổi về hiến pháp được kỳ vọng sẽ theo sau để đặt chính sách quốc phòng mới trên một cơ sở pháp lý vững chắc hơn. Tài liệu Chiến lược An ninh năm 2013 là văn bản đầu tiên trong đó Nhật nêu tên kẻ thù tiềm năng của họ, nói rằng: “Trung Quốc đã thực hiện các hành động có thế được coi là nỗ lực hòng thay đổi hiện trạng bằng cách cưỡng ép. “
Ngân sách quốc phòng năm 2015 đạt mức kỷ lục 42 tỷ đô la, và năm sau nó vọt lên 44 tỉ đô la. Hầu hết khoản này dành cho trang thiết bị hải quân và không quân, bao gồm sáu tàu ngầm mới và sáu máy bay chiến đấu tàng hình F-35A do Hoa Kỳ sản xuất. Mùa xuân năm 2015, Tokyo cũng tiết lộ về một “tàu khu trục mang trực thăng”. Không cần phải là một chuyên gia quân sự cũng có thể nhận thấy rằng con tàu đó lớn không kém các tàu sân bay Nhật Bản trong thế chiến thứ II, đã bị cấm bởi các điều khoản đầu hàng năm 1945. Con tàu này có thể được chuyển đổi để tiếp nhận máy bay cánh cứng
nhưng bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản đã tuyên bố rằng ông “không nghĩ đến việc sử dụng nó làm tàu sân bay”. Điều này cũng khá giống việc mua một chiếc xe máy, sau đó nói rằng bởi vì bạn sẽ không sử dụng nó như một chiếc xe máy, nên nó là một chiếc xe đạp. Nhật Bản hiện đã có một tàu sân bay.
Khoản tiền chỉ tiêu cho những khí cụ đó và các trang thiết bị mới tinh khác, cũng như nơi chúng được biên chế, là một tuyên bố rõ ràng về ý định. Hạ tầng quân sự tại Okinawa, nơi canh gác những con đường tiếp cận các đảo chính, sẽ được nâng cấp. Điều này cũng sẽ cho phép Nhật Bản linh hoạt hơn trong việc tuần tra Vùng nhận dạng phòng không, một phân vùng này chồng lấn lên Vùng nhận dạng phòng không của Trung Quốc sau khi Bắc Kinh công bố mở rộng không phận của mình vào năm 2013.
Cả hai khu vực đó đều bao gồm các đảo được gọi là Senkaku (tên Nhật Bản) hoặc Điếu Ngư (tên Trung Quốc), mà Nhật Bản kiểm soát nhưng Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền. Chúng cũng là một phần của chuỗi đảo Ryukyu, đặc biệt nhạy cảm vì bất kỳ lực lượng thù địch nào cũng phải vượt qua các đảo này trên đường đến khu vực trung tâm của Nhật Bản; chúng đem lại cho Nhật Bán nhiều không gian lãnh hải mà họ có thể khai thác các mỏ dầu và khí đốt dưới đáy biển. Vì vậy, Tokyo có ý định giữ chúng bằng mọi cách.
“Vùng nhận dạng phòng không” mở rộng của Trung Quốc trên biển Hoa Đông bao phủ vùng lãnh thổ mà Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc đều đòi chủ quyền. Khi Bắc Kinh nói rằng bất kỳ máy bay nào bay qua khu vực này đều phải thông báo nhận dạng hoặc sẽ phải “đối mặt với các biện pháp phòng thủ”, thì Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ phản ứng bằng cách bay qua nó mà không thông báo. Không có phản ứng thù địch nào từ phía Trung Quốc, nhưng đây là một vấn đề có thể biến thành một tối hậu thư tại bất cứ thời điểm nào mà Bắc Kinh lựa chọn.
Nhật Bản cũng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Kuril ở cực bắc của nó, ngoài khơi Hokkaido, vốn đã để mất vào tay Liên Xô trong Thế chiến II và hiện nay vẫn dưới quyền kiểm soát của Nga. Nga không muốn thảo luận về vấn đề này, nhưng cuộc tranh luận không nằm trong cùng cấp độ với các tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Chỉ có mười chín nghìn cư dân tại quần đảo Kuril, và mặc dù các hòn đảo nằm trong khu vực đánh cá có trữ lượng hải sản phong phú, vùng lãnh thổ đó không có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt. Vấn đề này giữ Nga và Nhật Bản duy trì một mối quan hệ lãnh đạm, nhưng trong hiện trạng lãnh đạm đó, họ còn: đóng băng cả vấn đề về những hòn đảo.
Chính Trung Quốc mới là vấn đề khiến các nhà lãnh đạo Nhật Bản mất ăn mất ngủ và khiến họ gần gũi với Hoa Kỳ cả về ngoại giao và quân sự. Nhiều người Nhật Bản, đặc biệt là ở Okinawa, đã phẫn nộ trước sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ, nhưng sức mạnh của Trung Quốc, cộng thêm sự suy giảm của dân số Nhật Bản, có thể là những nhân tố đảm bảo cho mối quan hệ Hoa Kỳ-Nhật Bản thời hậu chiến được tiếp tục, nhưng trên cơ sở bình đẳng hơn. Các nhà thống kê Nhật Bản lo ngại rằng dân số của họ sẽ giảm xuống còn 100 triệu vào giữa thế kỷ 21. Nếu tỉ lệ sinh đẻ tiếp tục như hiện tại, có thế đến 2110 dân số Nhật Bản sẽ giảm xuống dưới mức 50 triệu, mức mà nước này đã vượt qua từ năm 1910. Chính phủ Nhật đang cố vận dụng mọi biện pháp để đảo ngược sự suy giảm đó. Một ví dụ gần đây là việc sử dụng hàng triệu đô la tiền thuế để tài trợ cho dịch vụ mai mối các cặp nam nữ trẻ. Các bữa tiệc được trợ cấp có tên là konkatsu (săn kết hôn) được sắp xếp cho những người độc thân gặp gỡ, ăn uống và – sau cùng – sinh con. Nhập cư là một giải pháp khả thi khác, nhưng Nhật Bản vẫn là một xã hội tương đối khép kín và nhập cư không được dân chúng ưa chuộng. Trước tình hình một Trung Quốc ngày càng quyết đoán với dân số 1,4 tỷ người, Nhật Bản vốn là một cường quốc tái quân sự hóa với quan điểm diều hâu ẩn mình, sẽ cần có nhiều bạn bè trong khu vực.
Vì vậy, Hoa Kỳ đang có mặt tại cả Hàn Quốc và Nhật Bản. Hiện tại có một mối quan hệ tay ba giữa như được nhấn mạnh bởi thỏa thuận tình báo kể trên. Nhật Bản và Hàn Quốc có nhiều chuyện để tranh cãi, nhưng họ sẽ đồng ý rằng sự lo lắng chung của họ về Trung Quốc và Bắc Triều Tiên sẽ khắc phục điều này. Thậm chí nếu họ muốn tiến đến chỗ giải quyết một vấn đề như Triều Tiên, thì vấn đề Trung Quốc vẫn sẽ còn đó, và Hạm đội 7 Hoa Kỳ vẫn sẽ trú đóng tại vịnh Tokyo, còn thủy quân lục chiến Hoa Kỳ vẫn sẽ lưu lại Okinawa, canh giữ các tuyến đường trong và ngoài các vùng biển của Thái Bình Dương và các vùng biển quanh Trung Quốc. Các vùng biển được dự đoán có thể sẽ có bão tố.
Chương 9 - Châu Mỹ Latinh
“Chúng tôi thích được gọi là `lục địa của hy vọng`… Hy vọng này giống như một lời hứa hẹn về thiên đường, một tờ giấy nợ mà việc thanh toán sẽ luôn bị trì hoãn.” – Pablo Neruda, nhà thơ Chile đoạt giải Nobel văn học.
Mỹ Latinh, đặc biệt là phần phía nam của nó, là bằng chứng cho thấy bạn có thể đưa kiến thức và công nghệ của Cựu Thế giới đến Tân Thế giới, nhưng nếu địa lý chống lại bạn, bạn sẽ chỉ đạt được sự thành công hạn chế, nhất là nếu bạn hiểu sai về chính trị. Cũng như địa lý của Hoa Kỳ giúp nó trở thành một thế lực vĩ đại, địa lý của hai mươi quốc gia miền Nam châu Mỹ lại giữ cho không một nước nào trong số đó có thể nối dậy thách thức người khổng lồ Bắc Mỹ trong thế kỷ này, hay có thể liên kết với nhau để chung sức thực hiện điều đó.
Những hạn chế của địa lý châu Mỹ Latinh đã bị làm cho tồi tệ thêm ngay từ ngày đầu hình thành các quốc gia dân tộc nơi đây. Lại Hoa Kỳ, ngay sau khi tước đoạt được đất đai từ cư dân bản xứ, phần lớn chúng được bán hoặc trao cho các chủ đất nhỏ. Ngược lại, nền văn hóa Cựu Thế giới với những chủ đất quyền uy cùng đám nông nô được áp đặt lên châu Mỹ Latinh, dẫn đến sự bất bình đẳng. Ngoài ra, dân định cư châu Âu đưa đến một vấn đề địa lý khác mà cho đến nay vẫn kìm hãm các nước Mỹ Latinh, khiến họ không thể phát triển được đầy đủ tiềm năng của mình: dân định cư chỉ sống gần vùng duyên hải, đặc biệt là (như chúng ta đã thấy ở châu Phi) ở những vùng nội địa bị muỗi và bệnh tật hoành hành. Do đó, thường là thủ đô, chỉ nằm bên bờ biển, và các tuyến đường được xây dựng nối các vùng nội địa với thủ đô, nhưng không nối các vùng nội địa với nhau.
Trong một số trường hợp, ví dụ ở Peru và Argentina, khu vực đô thị của thủ đô chiếm hơn 30% dân số của đất nước. Các nước thực dân tập trung vào việc mang của cải ra khỏi mỗi vùng, đưa đến bờ biển và đưa vào thị trường quốc tế. Thậm chí sau khi giành độc lập, giới tinh hoa ở vùng duyên hải chủ yếu là dân châu Âu vẫn không đầu tư vào sâu trong nội địa, và các trung tâm dân cư trong nội địa vẫn kết nối với nhau rất kém.
Vào đầu những năm 2010, một điều đã thành cái mốt trong số nhiều nhà lãnh đạo kinh doanh, các giáo sư và chuyên gia phân tích trên báo chí là say sưa tranh luận rằng thế giới đã bước vào buổi bình minh của “thập niên Mỹ Latinh”. Buổi bình minh ấy đã không đến, và mặc dù khu vực này có một tiềm năng còn chưa đạt tới, nó vẫn phải liên tục chiến đấu chống lại cuộc hôn phối mà thiên nhiên và lịch sử đã an bài cho nó.
Mexico đang phát triển thành một cường quốc khu vực, nhưng nước này vẫn còn đó những vùng hoang địa khô cằn ở phía bắc, vùng núi non ở phía đông và phía tây, rừng rậm ở phía nam, tất cả đều hạn chế sự tăng trưởng kinh tế của nó. Brazil đã xuất hiện trên sân khấu thế giới, nhưng các vùng nội địa của nước này vẫn cứ bị cô lập với nhau; còn Argentina và Chile, mặc dù giàu có tài nguyên thiên nhiên, vẫn cứ ở xa New York và Washington còn hơn cả Paris hay London.
Hai trăm năm sau sự khởi đầu của cuộc đấu tranh giành độc lập, các nước Mỹ Latinh tụt hậu xa sau Bắc Mỹ và châu Âu. Tổng dân số Mỹ Latinh (bao gồm cả Caribe) khoảng 600 triệu, nhưng tổng sản lượng nội địa (GDP) của họ chỉ tương đương với Pháp và Anh, hai nước mà dân số cộng lại chỉ khoảng 125 triệu người. Họ đã đi qua một chặng đường dài kể từ chủ nghĩa thực dân và chế độ nô lệ. Nhưng vẫn còn một chặng đường dài nữa phía trước.
Mỹ Latinh bắt đầu tại biên giới Mexico với Hoa Kỳ và trải dài bảy ngàn dặm về phía nam qua Trung Mỹ, và sau đó là Nam Mỹ, trước khi kết thúc tại Tierra del Fuego trên mũi đất cực nam Cape Horn, nơi Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, hai đại dương của thế giới gặp nhau. Tại quãng rộng nhất của nó, từ tây sang đông, từ Brazil sang Peru, là ba mươi hai ngàn dặm. Ở phía tây là Thái Bình Dương, phía bên kia là vịnh Mexico, biển Caribe và Đại Tây Dương. Cả hai dải bờ biển đều không có nhiều cảng nước sâu tự nhiên, do đó hạn chế sự giao thương.
Trung Mỹ là một vùng đồi núi với những thung lũng sâu, và tại nơi hẹp nhất chỉ rộng 120 dặm. Sau đó, chạy song song với Thái Bình Dương suốt 4.500 dặm là dãy núi liên tục dài nhất thế giới – dãy Andes. Dãy núi này phủ đầy tuyết suốt dọc chiều dài của nó và gần như không thể vượt qua, do vậy chia cắt nhiều vùng ở phía tây với phía đông lục địa. Điểm cao nhất ở Tây bán cầu là đỉnh Aconcagua, cao 6.962 mét, và nước đổ xuống từ dãy núi này chính là nguồn thủy điện cho các quốc gia vùng Andes như Chile, Peru, Ecuador, Colombia và Venezuela. Sau cùng, độ cao của dải đất hạ thấp, rừng và sông băng xuất hiện, chúng ta tiến vào quần đảo Chile và rồi – dải đất liền kết thúc. Brazil và sông Amazon ngự trị nửa phía đông của châu Mỹ Latinh, đây là con sông dài thứ hai trên thế giới sau sông Nile.
Một trong số ít những điểm chung mà các quốc gia này chia sẻ là ngôn ngữ đặt căn bản trên tiếng Latinh. Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ của hầu như tất cả các quốc gia ở đây, nhưng tại Brazil nó lại là tiếng Bồ Đào Nha, và trong vùng Guiana thuộc Pháp thì nói tiếng Pháp. Mối kết nối ngôn ngữ này che giấu những khác biệt ở một lục địa có năm vùng khí hậu khác nhau. Vùng tương đối bằng phẳng phía đông của dãy núi Andes và khí hậu ôn đới của một phần ba dưới cùng của Nam Mỹ, được gọi là Southern Cone (Chóp cực Nam), tương phản rõ rệt với núi non và rừng rậm phía bắc, giúp giảm thiểu chi phí xây dựng và nông nghiệp, do đó khiến chúng trở thành một trong những vùng sinh lợi nhất trên toàn lục Brazil, như chúng ta sẽ thấy, thậm chí, vận chuyển hàng hóa ngay trong thị trường nội địa của mình.
Các nhà hàn lâm và cánh nhà báo thích viết rằng lục địa này đang “đứng ở một giao lộ” – vì rốt cuộc nó sắp sửa dấn bước vào tương lai vĩ đại của mình. Tôi thì muốn cãi rằng, xét về mặt địa lý mà nói, bảo rằng lục địa này nằm ở đáy thế giới thì đúng hơn là ở một giao lộ; có rất nhiều chuyện đang xảy ra trong không gian mênh mông này, nhưng vấn đề là phần lớn chúng diễn ra cách quá xa tất cả mọi thứ khác. Điều đó có thể bị coi là cách nhìn kiểu Bắc bán cầu, nhưng nó cũng là cách nhìn về sự bố trí của những thế lực kinh tế, quân sự và ngoại giao chính yếu.
Bất chấp vị trí xa xôi của lục địa này với các trung tâm dân cư lớn trong lịch sử, từ khoảng mười lăm ngàn năm trước đã có những tộc người sống ở phía nam vùng đất mà nay là biên giới Mexico/Hoa Kỳ. Họ được cho là có nguồn gốc từ Nga và đã vượt qua eo biển Bering bằng đường bộ vào thời điểm nó vẫn còn là một dải đất liền. Những cư dân ngày nay chính là một dòng giống hợp chủng của người châu Âu, châu Phi, các thổ dân bản địa và dân Mestizo, hậu duệ của người gốc Âu và người châu Mỹ bản địa.
Sự pha trộn này có thể truy nguồn về Hiệp ước Tordesillas giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha năm 1494, một trong những tiền lệ đầu tiên của việc thực dân châu Âu tùy tiện vẽ những đường biên trên bản đồ của những vùng đất xa xôi mà họ hầu như không hiểu biết gì. Khi lên đường đi về phía tây khám phá đại dương, hai cường quốc hàng hải lớn của châu Âu đã thỏa thuận rằng bất kỳ vùng đất nào được tìm thấy bên ngoài châu Âu sẽ được chia sẻ giữa họ với nhau. Đức Giáo hoàng đồng ý. Phần còn lại là một lịch sử rất bất hạnh, trong giai đoạn đó đại đa số dân cư bản địa Nam Mỹ bị quét sạch.
Các phong trào độc lập bắt đầu vào đầu thập niên 1800, do Simón Bolívar của Venezuela và José de San Martín của Argentina lãnh đạo. Riêng Bolívar đã in sâu trong ý thức tập thể của Nam Mỹ: Bolivia được đặt theo tên ông để tôn vinh ông, và các quốc gia thiên tả của lục địa được liên kết lỏng lẻo trong một hệ tư tưởng “Bolivarian” chống lại Hoa Kỳ. Đây là một tập hợp biến động thất thường của những ý tưởng chống thực dân/ủng hộ chủ nghĩa xã hội, thường lạc lối sang chủ nghĩa quốc gia nếu và khi nó phù hợp với các chính trị gia tán thành chúng.
Trong thế ký 19, nhiều quốc gia vừa mới giành được độc lập đã bị tan vỡ, hoặc do các xung đột nội bộ hoặc do chiến tranh xuyên biên giới, nhưng vào cuối thế kỷ này, biên giới của các nhà nước khác nhau đa phần đã được vạch định. Từ đó, ba quốc gia giàu có nhất – Brazil, Argentina và Chile – bắt đầu cuộc chạy đua vũ trang với lực lượng hải quân đắt đỏ đến mức phá sản, cuộc chạy đua đã kìm hãm sự phát triển của cả ba nước. Vẫn còn những tranh chấp biên giới xảy ra trên khắp lục địa, nhưng sự phát triển của nền dân chủ đồng nghĩa với việc đóng băng hoặc có những nỗ lực giải quyết chúng bằng ngoại giao.
Đặc biệt gay gắt là mối quan hệ giữa Bolivia và Chile, bắt đầu từ cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương năm 1879, qua đó Bolivia mất một phần lãnh thổ khá lớn, bao gồm hai trăm năm mươi ngàn dặm đường bờ biển, và bị khóa chặt trong lục địa kể từ ngày đó. Bolivia chưa bao giờ hồi phục từ cú trời giáng này, một điều giải thích tại sao nó lại là nước nghèo nhất ở Mỹ Latinh. Điều này đến lượt nó làm trầm trọng thêm sự chia rẽ trầm trọng giữa dân cư vùng đồng bằng chủ yếu là người châu Âu và dân cư vùng cao nguyên chủ yếu là người bản địa.
Thời gian đã không chữa lành vết thương giữa người dân hai nước, cũng như những vết thương giữa hai quốc gia. Bất chấp thực tế là Bolivia có trữ lượng khí đốt tự nhiên lớn thứ ba ở Nam Mỹ, nhưng họ không thể bán nó cho Chile vì nước này cần một nhà cung cấp đáng tin cậy. Hai vị tổng thống Bolivia đùa giỡn với ý tưởng đó đã bị gạt khỏi chức vụ và tổng thống hiện tại, Evo Morales, với chính sách “khí đốt đến Chile”, bao gồm một thỏa thuận “đổi khí đốt lấy bờ biển”, đã bị Chile bác bỏ mặc dù họ có nhu cầu năng lượng. Lòng tự hào dân tộc và nhu cầu địa lý của cả đôi bên đã đánh bại sự thỏa hiệp ngoại giao.
Một cuộc tranh chấp biên giới khác nữa có nguồn gốc từ thế kỷ 19 được biểu thị bởi biên giới của vùng lãnh thổ Belize thuộc Anh và xứ Guatemala lân cận. Chúng là những đường thẳng, như chúng ta đã thấy ở châu Phi và Trung Đông, và được vẽ ra bởi người Anh. Guatemala tuyên bố Belize là một bộ phận trong lãnh thổ có chủ quyền của nước này nhưng, không giống như Bolivia, họ không muốn theo đuổi vấn đề này. Chile và Argentina tranh cãi về tuyến đường thủy của kênh Beagle, Venezuela đòi một nửa Guyana, và Ecuador có những tuyên bố chủ quyền lịch sử về Peru. Ví dụ cuối cùng về Peru là một trong những tranh chấp đất đai nghiêm trọng hơn trên lục địa và đã dẫn tới ba cuộc chiến tranh biên giới trong bảy mươi lăm năm qua, lần gần đây nhất là vào năm 1995. Nhưng một lần nữa, sự phát triển của nền dân chủ đã làm dịu đi những căng thẳng.
Nửa sau của thế kỷ 20 chứng kiến Trung Mỹ và Nam Mỹ trở thành chiến trường ủy nhiệm của Chiến tranh Lạnh, đi kèm với các cuộc đảo chính, các chế độ độc tài quân sự và những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, ví dụ như ở Nicaragua. Chiến tranh Lạnh chấm đứt, cho phép nhiều quốc gia tiến triển theo hướng dân chủ và, so với thế kỷ 20, mối quan hệ giữa các quốc gia này hiện nay đã tương đối ổn định.
Dân cư Mỹ Latinh, hoặc ít nhất là dân cư ở phía nam Panama, chủ yếu cư trú tại hoặc gần các vùng duyên hải phía tây và phía đông, trong khi những vùng nội địa và miền Nam giá lạnh thì thưa thớt dân cư. Trên thực tế, Nam Mỹ là một lục địa rỗng xét về nhân khẩu học và bờ biển của lục địa này thường được gọi là “vành đai dân cư”. Điều này ít đúng hơn đối với Trung Mỹ và đặc biệt là Mexico, nơi các quần thể dân cư được phân bố đều hơn; nhưng Mexico đặc biệt có địa hình khó khăn, làm hạn chế tham vọng và chính sách đối ngoại của nước này.
Ở xa về phía bắc, Mexico có một biên giới dài hai ngàn dặm với Hoa Kỳ, hầu như tất cả đều là sa mạc. Vùng đất nơi đây khắc nghiệt đến nỗi hầu như không có người ở. Biên giới này giữ vai trò như một vùng đệm giữa Mexico và người láng giềng khổng lồ phía bắc – nhưng là một vùng đệm có lợi cho Hoa Kỳ nhiều hơn là cho Mexico, do sự khác biệt về trình độ công nghệ. Xét về quân sự, chỉ các lực lượng Hoa Kỳ mới có thể phát động một cuộc xâm lược lớn qua Mexico; bất kỳ lực lượng nào khác tiến theo chiều ngược lại sẽ bị tiêu diệt. Là một rào cản đối với việc nhập cư bất hợp pháp vào Hoa Kỳ, đây là một vùng rất hữu ích, nhưng có những lỗ hổng – một vấn đề mà các chính quyền Hoa Kỳ kế tiếp sẽ phải đối phó. Tổng thống Trump lên nắm quyền một phần là nhờ thao túng nỗi lo ngại về nạn nhập cư, với lời hứa xây dựng một bức tường dọc theo biên giới Hoa Kỳ-Mexico. Kế hoạch xây bức tường của ông có những sơ hở; luôn có những cách đi vòng, hoặc thậm chí xuyên qua một bức tường, và còn có lựa chọn khác là hối lộ để xâm nhập vào nước này, hoặc chỉ đơn giản là đi qua nghỉ dưỡng nhưng rồi không trở lại. Nhưng một bức tường không chỉ để giúp giảm dòng chảy nhập cư, nó sẽ sừng sững như một biểu tượng đây gây hấn tỏ rõ ý định, với một thông điệp rõ ràng: “Đừng có đến.”
Tất cả người dân Mexico đều biết rằng trước cuộc chiến tranh 1846-1848 với Hoa Kỳ, dải đất hiện nay là Texas, California, New Mexico và Arizona là một phần của Mexico. Cuộc xung đột đã dẫn đến một nửa lãnh thổ của Mexico bị nhượng lại cho Hoa Kỳ. Tuy nhiên không có một phong trào chính trị nghiêm túc nào đòi giành lại khu vực đó và cũng không có tranh chấp biên giới giữa hai nước. Trong suốt thế kỷ 20, họ đã tranh cãi ầm ĩ vì một mẩu đất nhỏ sau khi sông Rio Grande thay đổi dòng chảy vào những năm 1850, nhưng vào năm 1967, cả hai bên nhất trí khu vực này là một phần hợp pháp của Mexico.
Đến giữa thế kỷ 21, dân gốc Mỹ Latinh có lẽ sẽ là nhóm sắc dân lớn nhất trong bốn tiểu bang Hoa Kỳ kể trên, và nhiều người trong số đó là dân gốc Mexico. Rốt cuộc có thể sẽ xuất hiện các phong trào chính trị nói tiếng Tây Ban Nha ở cả hai phía biên giới Hoa Kỳ-Mexico kêu gọi tái hợp, nhưng sự thực là nhiều người gốc Mỹ Latinh không mang di sản Mexico, và Mexico không có gì để sánh được với mức sống của Hoa Kỳ sẽ kiềm chế các phong trào này. Chính phủ Mexico còn đang phải vật lộn để kiểm soát ngay chính lãnh thổ của mình – nên trong tương lai có thể nhìn thấy được họ sẽ không ở vị thế có thể ham hố thêm trách nhiệm. Số phận của Mexico đã được định sẵn là sống trong cái bóng của Hoa Kỳ, và như vậy nước này luôn đóng vai trò phụ thuộc trong các quan hệ song phương. Mexico thiếu một hải quân có khả năng bảo vệ an ninh vịnh Mexico hoặc tiến vào Đại Tây Dương, và vì vậy phải dựa dẫm vào Hoa Kỳ để đảm bảo cho các tuyến đường biển được mở rộng và an toàn.
Các công ty tư nhân của cả hai quốc gia đã xây dựng những nhà máy ở phía nam đường biên giới để giảm chi phí nhân công và vận tải, nhưng khu vực này không thân thiện với sự tồn tại của con người và sẽ vẫn là vùng đệm mà những người dân nghèo của Mỹ Latinh vẫn tiếp tục vượt qua để tìm cách nhập cảnh, hợp pháp hoặc bất hợp pháp, đến vùng Đất Hứa phương Bắc.
Các dãy núi chính của Mexico, Sierra Madres, thống trị phía tây và đông của đất nước, và giữa chúng là một bình nguyên. Ở phía nam, trong Thung lũng Mexico, là thủ đô Mexico City, một trong những đại đô thị lớn nhất thế giới với dân số khoảng 20 triệu người.
Trên sườn phía tây của vùng cao nguyên và trong các thung lũng, đất đai cằn cỗi, còn các con sông không mấy thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa ra thị trường. Trên sườn phía đông, đất đai màu mỡ hơn, nhưng địa hình gồ ghề vẫn ngăn không cho Mexico phát triển được như mong muốn. Phía nam là biên giới giáp với Belize và Guatemala. Mexico ít quan tâm đến việc mở rộng về phía nam vì mặt đất nơi đây nhanh chóng dâng cao trở thành loại địa hình đồi núi, rất khó để chinh phục hoặc kiểm soát. Việc mở rộng vào cả hai khu vực đó sẽ không làm gia tăng diện tích đất sinh lợi vốn dĩ hạn chế mà Mexico đang có. Nước này cũng không có tham vọng về lãnh thổ mang tính ý thức hệ mà thay vào đó lại tập trung phát triển ngành công nghiệp sản xuất dầu còn nhỏ bé và thu hút thêm đầu tư vào các nhà máy của mình. Ngoài ra, Mexico đã có đủ các vấn đề nội bộ phải đối phó, không hơi sức đâu dấn thân vào bất kỳ cuộc phiêu lưu bên ngoài nào – có lẽ nước này không có vai trò gì lớn hơn là thỏa mãn cơn thèm khát ma túy của người Mỹ.
Biên giới Mexico vẫn luôn là nơi ẩn náu cho những kẻ buôn lậu, nhưng tình hình chưa bao giờ tệ như hai mươi năm qua. Đây là một kết quả trực tiếp từ chính sách của chính phủ Hoa Kỳ tại Colombia, cách đó một ngàn năm trăm dặm về phía nam.
Chính Tổng thống Nixon trong thập niên 1970 là người đầu tiên tuyên bố “Cuộc chiến chống ma túy”, giống như “Cuộc chiến chống khủng bố”, đây là một khái niệm hơi mơ hồ, một cuộc chiến không thể giành được chiến thắng. Tuy nhiên, mãi cho đến đầu thập niên 1990, Washington mới trực tiếp chiến đấu với các tập đoàn ma túy Colombia, với sự hỗ trợ công khai của chính phú Colombia. Nước này cũng đã thành công trong việc phong tỏa nhiều tuyến đường hàng không và hàng hải từ Colombia vào Hoa Kỳ.
Các tập đoàn ma túy đáp trả bằng cách tạo ra một tuyến đường bộ xuyên qua Trung Mỹ và Mexico, vào vùng tây nam Hoa Kỳ. Tuyến đường này một phần đi theo Xa lộ Liên Mỹ, chạy từ nam chí bắc ngược lên phía trên lục địa: Ban đầu xa lộ này được thiết kế để vận chuyển hàng hóa tới những nước khác nhau, hiện nay nó cũng được sử dụng để vận chuyển ma túy lên phía bắc đến Hoa Kỳ. Điều này đến lượt nó dẫn đến việc các băng đảng ma túy Mexico cũng vào cuộc bằng cách làm bảo kê cho các tuyến đường và sản xuất sản phẩm của riêng mình. Ngành kinh doanh hàng tỉ đô la này đã châm ngòi cho những cuộc chiến tranh giữa các băng đảng địa phương, những kẻ chiến thắng sử dụng sức mạnh và tiền bạc mới kiếm được để thâm nhập, hối lộ cảnh sát và quân đội Mexico, rồi len lỏi vào tầng lớp tinh hoa của chính trị và kinh doanh.
Tình hình này cũng có những nét tương đồng với việc buôn bán ma túy tại Afghanistan. Nhiều nông dân Afghanistan trồng cây thuốc phiện đã đáp trả những nỗ lực của NATO nhằm phá hủy phương kế sinh nhai truyền thống của họ bằng cách cầm súng hoặc hỗ trợ cho Taliban. Phát động “Cuộc chiến chống ma túy” có thể là chính sách của chính phủ, nhưng điều đó không có nghĩa là các mệnh lệnh sẽ được thi hành ở các chính quyền địa phương, nơi các lãnh chúa ma túy Afghanistan đã xâm nhập. Ở Mexico cũng vậy.
Trong suốt chiều dài lịch sử, các chính phủ nối tiếp nhau tại Mexico City chưa bao giờ nắm vững quyền kiểm soát đất nước. Hiện nay đối thủ của nó, các tập đoàn ma túy, có các nhánh bán quân sự được vũ trang chẳng kém gì các lực lượng quân sự của nhà nước, thường được trả lương tốt hơn, có động lực hơn, và ở trong một số vùng nó được một số thành phần trong công chúng xem là một nguồn công ăn việc làm. Số tiền khổng lồ của các băng đảng đó đang lan tràn khắp đất nước, phần lớn nó được rửa bằng những dịch vụ mà trông bề những doanh nghiệp hợp pháp.
Mexico hiện đang bị kìm kẹp trong một tình huống gần như một cuộc nội chiến. Các băng đảng cố kiểm soát các lãnh thổ bằng cách đe dọa, chính phủ cố giả vờ chịu trách nhiệm cai quản bằng luật pháp, và hàng trăm thường dân bị kẹt ở giữa, đang bị giết hại. Một trong số những biểu hiện kinh hoàng nhất là vụ giết hại bốn mươi ba giáo viên bởi một tập đoàn ma túy vào năm 2014, một hành động làm chấn thương đất nước và kích động các nhà chức trách, nhưng rốt cuộc nó có vẻ như “chỉ” là một dấu mốc khủng khiếp trong một cuộc đấu tranh lâu dài.
Tuyến cung cấp đường bộ được thiết lập vững chắc, và nhu cầu [ma túy] của Hoa Kỳ hầu như không cho thấy dấu hiệu giảm sút. Tất cả các chính phủ Mexico đều cố gắng để tiếp tục đứng bên cạnh người láng giềng hùng mạnh của họ và đáp ứng áp lực của Hoa Kỳ bằng cách tiến hành “Cuộc chiến chống ma túy” của chính họ. Đây là một câu hỏi hóc búa. Mexico kiếm sống bằng cách cung cấp hàng tiêu dùng cho Hoa Kỳ, và chừng nào Hoa Kỳ còn tiêu thụ ma túy, Mexico sẽ cung cấp nó – sau rốt, ý tưởng ở đây là làm ra những thứ có thể sản xuất với chi phí thấp và bán chúng với giá cao hơn. Nếu không có ma túy, đất nước có thể còn nghèo hơn hiện tại, vì một lượng lớn tiền từ nước ngoài sẽ bị cắt mất. Nhưng có ma túy, tình hình thậm chí còn loạn hơn. Điều này cũng đúng với một số quốc gia ở phía nam Mexico. Trung Mỹ hầu như không có gì thuận lợi về mặt địa lý, ngoại trừ một điều. Nó rất hẹp. Cho đến nay, quốc gia duy nhất có được lợi thế từ điều này là Panama, nhưng với sự xuất hiện của khoản tiền mới từ Trung Quốc, có thể sắp có sự thay đổi.
Trung Mỹ có thể thấy nhiều thay đổi ở các khu vực đang nhận đầu tư của Trung Quốc, ví dụ như sự phát triển của kênh Grand của Nicaragua.
Công nghệ hiện đại đồng nghĩa với việc người Trung Quốc chỉ thoáng nhìn qua một bức ảnh vệ tỉnh cũng có thể thấy các cơ hội thương mại mà dải đất này có thể mang lại. Năm 1513, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Vasco Núñez de Balboa phải dong buồm vượt qua Đại Tây Dương, cập bến vùng đất hiện nay là Panama, sau đó lội bộ xuyên qua rừng rậm và vượt núi non trước khi nhìn thấy trước mặt một đại dương rộng lớn khác – Thái Bình Dương. Những lợi thế của việc nối kết hai đại dương này là hiển nhiên, nhưng mất 401 năm, công nghệ mới bắt kịp địa lý. Năm 1914, kênh đào Panama dài năm mươi dặm vừa mới hoàn tất, do Hoa Kỳ kiểm soát, được mở cửa, nhờ đó tiết kiệm được đoạn hành trình tám ngàn dặm từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương và dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế trong khu vực kênh đào.
Kể từ năm 1999, con kênh này do Panama kiểm soát, nhưng được coi là tuyến đường thủy quốc tế trung lập được bảo vệ bởi hải quân Hoa Kỳ và Panama. Và ở đó, đối với Trung Quốc, ẩn chứa vấn đề.
Panama và Hoa Kỳ là bạn – trên thực tế, là bạn bè thân thiết đến mức Venezuela đã cắt đứt quan hệ với Panama năm 2014, gọi nước này là “tay sai của Hoa Kỳ“. Ảnh hưởng của thứ ngôn từ khoa trương có từ thời cách mạng Bolivarian của một đất nước ngày càng hung hăng đã được xoa dịu bởi nhận thức rằng Hoa Kỳ là đối tác thương mại quan trọng nhất của Venezuela, và Venezuela cung cấp khoảng 10% lượng dầu mà Hoa Kỳ nhập khẩu. Tuy nhiên, sự đàn áp tàn bạo của Venezuela đối với các cuộc biểu tình chống chính phủ vào năm 2017 đã khiến Hoa Kỳ áp đặt các biện pháp trừng phạt lên khối tài sản tư nhân đáng kể của Tổng thống Maduro và một số quan chức cấp cao mà phiên bản chủ nghĩa xã hội của Bolivia đã dẫn dắt họ phân phối lại một lượng tiền lớn cho chính mình.
Trung Quốc, như chúng ta đã thấy trong chương Hai, có mưu đồ trở thành một cường quốc toàn cầu, và để đạt được mục tiêu đó, nước này cần giữ các tuyến đường biển mở rộng cho các hoạt động thương mại và hải quân của mình. Kênh đào Panama cũng có thể là một lối đi trung lập, nhưng xét cho cùng thì nó phụ thuộc vào thiện chí của Hoa Kỳ. Vì vậy, tại sao không xây dựng con kênh của riêng mình trên tuyến đường dẫn vào Nicaragua? Xét cho cùng, 50 tỷ đô la đối với một siêu cường đang lớn mạnh có ý nghĩa gì đâu?
Dự án Nicaragua Grand Canal được tài trợ bởi một doanh nhân Hồng Kông tên là Wang ]Jing, người đã kiếm được rất nhiều tiền từ ngành viễn thông nhưng không có chút kinh nghiệm nào về xây dựng, chưa nói đến việc làm chủ một trong những dự án xây dựng tham vọng nhất trong lịch sử thế giới. Wang khăng khăng nói rằng chính phủ Trung Quốc không tham gia vào dự án. Với bản chất của văn hóa kinh doanh Trung Quốc và sự tham gia của chính phủ trong mọi khía cạnh của cuộc sống, điều này là không bình thường.
Ước tính chi phí 50 tỷ đô la cho dự án, do được dự kiến hoàn thành vào đầu năm 2020, lớn gấp bốn lần quy mô toàn bộ nền kinh tế Nicaragua, và cấu thành một phần của những đầu tư khổng lồ của Trung Quốc vào Mỹ Latinh. Trung Quốc đang dần dần thay thế Hoa Kỳ ở vị trí đối tác thương mại chính của khu vực. Tổng thống Nicaragua Daniel Ortega đã sốt sắng ký vào dự án mà không mảy may bận tâm đến hơn ba mươi ngàn người dân có thể phải giải tỏa khỏi vùng đất của mình vì dự án.
Cựu phần tử bạo động cách mạng xã hội chủ nghĩa phe Sandino ông Daniel Ortega, hiện đang bị cáo buộc đứng về phía các doanh nghiệp lớn. Nếu được hoàn thành, con kênh sẽ cắt đất nước làm hai, và sáu khu vực hành chính sẽ bị chia cắt làm đôi. Sẽ chỉ có một cây cầu duy nhất bắc qua con kênh suốt toàn bộ chiều dài của nó – mặc dù cây cầu chưa được xây dựng bởi vì cho đến nay chưa có gì để nó bắc qua.
Dự án đang diễn ra không suôn sẻ. Wang đã mất khoảng 85% tài sản của mình trong vụ sụp đổ thị trường chứng khoán Trung Quốc vào tháng Chín năm 2015. Tất cả các bên đều khẳng định dự án sẽ thành công, nhưng hầu hết các công trình xây dựng đều đã bị trì hoãn vào cuối năm 2017, nên tuyên bố trên có vẻ sáo mòn hơn bao giờ hết. Một con đường đất đã được mở rộng thêm chút, nhưng vẫn không được trải nhựa, và chẳng thấy bóng dáng những công nhân làm đường nào cả.
Xét trong trường hợp kênh Nicaragua sẽ được mở, cho dù vẫn không lấy gì làm chắc chắn, nó sẽ dài hơn kênh Panama và, quan trọng hơn, nó rộng và sâu hơn đáng kể, do đó cho phép các tàu chở dầu và tàu container lớn hơn vượt qua, chưa kể đến các tàu chiến lớn của Trung Quốc. Tuy nhiên, Tổng thống Ortega không còn phô trương rùm beng về “kế hoạch thay đổi thế giới” này và điện thoại của doanh nhân Wang dường như đang ở chế độ im lặng.
Với việc vài trăm dặm về phía nam của kênh đào Panama đang được mở rộng, những người hoài nghỉ đặt câu hỏi tại sao lại phải cần đến kênh đào Nicaragua và liệu nó có thể sinh lời hay không, nhưng ít nhất mục đích của toàn bộ dự án dường như là nhắm vào lợi ích quốc gia của Trung Quốc hơn là lợi nhuận thương mại.
Gợi cho một quốc gia dân tộc ý niệm về một tuyến đường thủy liên kết giữa hai đại dương chỉ là dấu hiệu rõ ràng nhất về sự quan tâm và đầu tư ngày càng tăng của Trung Quốc vào Mỹ Latinh. Chúng ta đã quen với việc chứng kiến Trung Quốc là tay chơi chính ở châu Phi, nhưng trong hai mươi năm nay, họ đã lặng lẽ di chuyển tới vùng phía nam sông Rio Grande.
Cũng như việc đầu tư vào các dự án xây dựng, Trung Quốc đang cho các chính phủ Mỹ Latinh vay những khoản tiền lớn, đặc biệt là Argentina, Venezuela và Ecuador. Đổi lại, Trung Quốc sẽ trông đợi sự ủng hộ của các nước này trong Liên Hiệp Quốc về các tuyên bố chủ quyền khu vực mình, bao gồm cả vấn đề Đài Loan.
Bắc Kinh cũng đang mua hàng tại đây. Các nước Mỹ Latinh lần lượt được Hoa Kỳ chọn, Hoa Kỳ ưu tiên các giao dịch thương mại song phương khi làm ăn với khu vực này xét như một tổng thể, như điều họ đã làm với EU. Trung Quốc cũng đang làm điều tương tự, nhưng ít nhất cũng đưa thêm một giải pháp thay thế, do đó làm giảm sự phụ thuộc của khu vực này vào thị trường Hoa Kỳ. Ví dụ, hiện nay Trung Quốc đã thay thế Hoa Kỳ trong vai trò đối tác thương mại chính của Brazil, và họ có thể làm điều tương tự với một số quốc gia Mỹ Latinh khác.
Các nước Mỹ Latinh không có sự gần gũi tự nhiên với Hoa Kỳ. Các mối quan hệ bị chi phối bởi lập trường khởi đầu của Hoa Kỳ, được trình bày trong Học thuyết – Monroe năm 1823 (như chúng ta đã thấy ở chương Ba) trong thông điệp liên bang của Tổng thống Monroe. Học thuyết này cảnh cáo các thực dân châu Âu và nói, bằng rất nhiều lời lẽ, rằng Mỹ Latinh là sân sau và không gian ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vẫn luôn sắp đặt mọi sự ở đó từ trước đến giờ và nhiều người dân Mỹ Latinh tin rằng kết quá không phải lúc nào cũng tốt đẹp.
Tám thập niên sau Học thuyết Monroe, xuất hiện một vị tổng thống khác với “Monroe tái nạp” (Monroe reloaded). Trong một bài phát biểu vào năm 1904, Theodore “Teddy“ Roosevelt nói: “Ở Tây bán câu, trong những trường hợp sai trái hay bất lực rõ ràng [như vậy], sự tuân thủ của Hoa Kỳ đối với Học thuyết Monroe có thể buộc Hoa Kỳ, cho dù miễn cưỡng, thực thi quyền lực của một cảnh sát quốc tế.“ Nói cách khác, Hoa Kỳ có thể can thiệp bằng quân sự ở Tây bán cầu bất cứ khi nào nước này muốn. Không tính những lần tài trợ cho các cuộc cách mạng, vũ trang cho các phe nhóm và cung cấp những chuyên gia huấn luyện quân sự cho họ, Hoa Kỳ đã sử dụng vũ lực ở Mỹ Latinh gần năm mươi lần trong khoảng thời gian từ năm 1890 đến khi kết thúc Chiến tranh Lạnh.
Sau đó, sự can thiệp công khai đã đột ngột giảm đi và năm 2001, Hoa Kỳ đã ký một Hiến chương Dân chủ Liên Mỹ với ba mươi tư quốc gia do Tổ chức các nước châu Mỹ soạn thảo, tuyên bố rằng: “Người dân châu Mỹ có quyền dân chủ và các chính phủ của họ có nghĩa vụ thúc đẩy và bảo vệ quyền đó.” Kể từ đấy, Hoa Kỳ đã tập trung vào việc trói buộc các nước Mỹ Latinh với mình về kinh tế bằng cách phát triển các hiệp định thương mại đã có sẵn như Liên hiệp Tự do Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), và đề xuất những hiệp định khác như Thỏa thuận Tự do Thương mại Trung Mỹ (CAFTA).
Do đó, sự thiếu ấm áp phát sinh trong các mối quan hệ lịch sử và kinh tế giữa Nam Mỹ và Bắc Mỹ dẫn tới tình cảnh khi Trung Quốc đến gõ, cánh cửa đã mở ra nhanh chóng. Bắc Kinh hiện đang bán hoặc tặng vũ khí cho Uruguay, Colombia, Chile, Mexico và Peru, mời chào các trao đổi quân sự. Trung Quốc đang cố gắng xây dựng một mối quan hệ quân sự với Venezuela mà họ hy vọng mối quan hệ đó sẽ tồn tại lâu hơn cuộc cách mạng Bolivia nếu và khi cuộc cách mạng này sụp đổ. Lượng vũ khí cấp cho Mỹ Latinh tương đối nhỏ nhưng có tác dụng bổ trợ cho những nỗ lực sử dụng quyền lực mềm của Trung Quốc. Tàu bệnh viện duy nhất của họ Peace Ark, đã đến thăm khu vực này vào năm 2011. Nó chỉ là một chiếc tàu ba trăm giường, thấp lùn nếu đem so với các phiên bản một ngàn giường của Hoa Kỳ vốn cũng đã ghé thăm, nhưng đó là một tín hiệu về ý định và một lời nhắc nhở rằng Trung Quốc đang ngày càng “thạo” món quyền lực mềm.
Tuy nhiên, dù có thương mại của Trung Quốc hay không thì các nước Mỹ Latinh cũng vẫn bị khóa chặt không thể thoát khỏi vào một khu vực địa lý – có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ luôn là một tay chơi chính tại đây.

Brazil, chiếm một phần ba điện tích đất đai Nam Mỹ, là ví dụ tốt nhất về điều đó. Nước này rộng gần như bằng Hoa Kỳ, và liên bang gồm hai mươi bảy tiểu bang của họ tương đương một khu vực lớn hơn hai mươi tám quốc gia EU kết hợp lại; nhưng không giống như EU, Brazil thiếu cơ sở hạ tầng để trở nên giàu có như họ. Một phần ba diện tích của Brazil là rừng rậm, nơi việc khai phá đất đai để phù hợp cho con người hiện đại sinh sống sẽ tốn kém đến mức đau đớn, và trong một số vùng còn là bất hợp pháp. Sự tàn phá rừng nhiệt đới Amazon là vấn đề sinh thái dài hạn cho toàn thế giới, nhưng nó cũng là một vấn đề trung hạn đối với Brazil: chính phủ để cho nông dân được phép “chặt và đốt” rừng và sau đó sử dụng là đất nông nghiệp. Nhưng đất đai bạc màu đến mức chỉ sau một vài năm là không thể trồng trọt được nữa. Nông dân tiếp tục chặt phá thêm rừng nhiệt đới, và một khi rừng nhiệt đới bị chặt phá, nó sẽ không mọc lại được nữa. Khí hậu và đất đai vô cùng bất lợi cho sự phát triển nông nghiệp.
Sông Amazon có thể giao thông đường thủy ở nhiều nơi, nhưng hai bờ sông là bùn lầy và vùng đất xung quanh gây khó khăn cho việc xây dựng. Vấn đề này cũng giới hạn nghiêm trọng diện tích đất đai có thể mang lại lợi nhuận. Trên vùng cao nguyên ở ngay dưới khu vực Amazon là thảo nguyên xavan, và trái lại, đó là một câu chuyện thành công. Hai mươi lăm năm trước khu vực này được coi là không thích hợp cho nông nghiệp, nhưng công nghệ của Brazil đã biến nó trở thành một trong những khu vực sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới, cùng với sự tăng trưởng trong sản xuất ngũ cốc – có nghĩa là Brazil đang trở thành một nhà sản xuất nông nghiệp quan trọng.
Về phía nam thảo nguyên là vùng đất nông nghiệp truyền thống của Brazil. Giờ đây chúng ta đang nói về Chóp cực Nam (Southern Cone) của Nam Mỹ, dải đất mà Brazil chia sẻ với Argentina, Uruguay và Chile. Phần thuộc về Brazil tương đối nhỏ, là nơi thực dân Bồ Đào Nha đến sinh sống trước tiên, và mất ba trăm ngàn năm trôi qua trước khi cư dân có thể tiến ra khỏi khu trung tâm này và thực sự phát triển dân số khắp phần còn lại của đất nước. Cho đến ngày nay, hầu hết dân cư vẫn sống gần các vùng duyên hải, bất chấp quyết định kịch tính vào cuối những năm 1950 di dời thủ đô (trước đã là Rio de Janeiro) vài trăm dặm vào sâu trong nội địa, đến thành phố Brasilia được xây dựng với mục đích nỗ lực phát triển khu trung tâm của Brazil.
Vùng trung tâm nông nghiệp phía nam có kích thước bằng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Ý kết hợp lại và bằng phẳng hơn nhiều so với phần còn lại của đất nước. Nơi đây được tưới tiêu tương đối tốt, nhưng phần lớn vùng này nằm sâu trong nội địa và thiếu các tuyến đường giao thông được phát triển thích đáng.
Điều này cũng đúng với hầu hết đất nước Brazil. Nếu từ biển nhìn vào nhiều thành phố ven biển của Brazil, thường có một vách đá khổng lỗ cao vọt lên từ mặt nước không ở bên này thì ở bên kia của vùng đô thị, hoặc ở ngay phía sau nó. Được gọi là Grand Escarpment, vách đá này ngự trị nhiều phần của dải bờ biển Brazil; nó là đầu mút của cao nguyên có tên Tấm khiên Brazil (Brazilian Shield) tạo nên phần lớn vùng nội địa của Brazil. Bởi vì đất nước thiếu một đồng bằng duyên hải, nên để kết nối các thành phố duyên hải lớn, phải xây dựng các tuyến đường leo lên và vượt qua vách đá này, chạy dọc theo nó tới khu đô thị tiếp theo và sau đó leo trở xuống. Việc thiếu các tuyến đường bộ hiện đại tươm tất lại đi đôi với hiện trạng thiếu hụt tương tự các tuyến đường sắt. Đây không phải là điều kiện để có thể giao thương sinh lợi hoặc để thống nhất một không gian rộng lớn về mặt chính trị.
Mọi thứ còn trở nên tồi tệ hơn. Brazil không có đường giao thông thẳng tới các con sông của vùng Rio de la Plata. Con sông Plate đổ ra Đại Tây Dương ở địa phận Argentina, có nghĩa là trong hàng thế kỷ, các thương nhân vận chuyển hàng hóa của họ theo sông Plate đến Buenos Aires thay vì mang vác chúng trèo lên leo xuống Grand Escarpment để đến được các bến cảng kém phát triển của Brazil. Công ty tình báo địa chính trị Stratfor.com đóng trụ sở tại Texas ước tính rằng bảy bến cảng lớn nhất của Brazil cộng lại cũng chỉ có thể xử lý số hàng hóa mỗi năm ít hơn so với chỉ một cảng tại New Orleans của Hoa Kỳ.
Do đó, Brazil thiếu khối lượng thương mại mà nước này mong muốn và, quan trọng không kém, hầu hết hàng hóa được di chuyển dọc theo tuyến đường bộ không đầy đủ của nó chứ không phải bằng đường sông, do đó làm tăng thêm chi phí. Về mặt tích cực, Brazil đang xây dựng hạ tầng giao thông của mình và mỏ khí đốt ngoài khơi mới được phát hiện sẽ giúp chi trả cho công việc này, giảm sự phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu từ Bolivia và Venezuela. Tuy nhiên, Brazil sẽ cần có một nỗ lực lớn cỡ Hercules để vượt qua những bất lợi về mặt địa lý.
Khoảng 25% người Brazil được cho là sống trong những khu ổ chuột favela nổi tiếng. Khi một phần tư dân số của đất nước rơi vào cảnh nghèo đói, đất nước đó rất khó trở lên giàu có. Điều này không có nghĩa là Brazil không phải là một thế lực đang vươn lên, chỉ là sự vươn lên của nước này sẽ bị hạn chế.
Một lối tắt dẫn đến tăng trưởng có thể là quyền lực mềm, do đó Brazil nỗ lực để có được vị trí thường trực trong Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc và thói quen xây dựng các liên minh kinh tế khu vực chẳng hạn như Mercosur, vốn kết nối lỏng lẻo các quốc gia như Brazil, Argentina, Paraguay, Uruguay và Venezuela với nhau. Vài năm một lần, thường do Brazil lãnh đạo, Nam Mỹ cố gắng khởi tạo phiên bản EU của họ – hóa thân mới nhất là UNASUR, trong đó gồm có mười hai quốc gia Nam Mỹ là thành viên. Trụ sở chính của tổ chức này ở Ecuador, nhưng Brazil là nước có tiếng nói to nhất. Ở điểm này, UNASUR giống như EU, có một trụ sở tại Bỉ và một thế lực hàng đầu tại Đức. Nhưng đến đây sự so sánh dừng lại. UNASUR có sự hiện diện ấn tượng trên Internet nhưng nó giống một website bình thường hơn là một liên minh kinh tế. Các nước EU có các hệ thống chính trị và kinh tế tương tự nhau và hầu hết các thành viên đều dùng chung một loại tiền tệ, trong khi các nước Mỹ Latinh khác nhau về chính trị, kinh tế, tiền tệ, trình độ giáo dục và luật lao động. Họ cũng vượt qua những ngăn trở về khoảng cách, cũng như chiều cao của những ngọn núi và độ rậm rạp của những khu rừng nhiệt đới chia cắt họ.
Nhưng Brazil sẽ tiếp tục làm việc để tạo dựng một cường quốc Nam Mỹ bằng việc sử dụng sức mạnh ngoại giao và sức mạnh kinh tế đang gia tăng của mình. Về bản chất là không đối đầu, chính sách đối ngoại của Brazil chống lại sự can thiệp vào các quốc gia khác, và chiến tranh với bất kỳ nước láng giềng nào dường như là điều rất khó xảy ra. Nước này đã xoay xở để duy trì mối quan hệ tốt với tất cả mười một quốc gia Nam Mỹ khác, mặc dù có chung đường biên giới với chín nước trong số đó.
Có một tranh chấp biên giới với Uruguay, nhưng sự việc có vẻ sẽ không phát hỏa; và sự cạnh tranh giữa Brazil và Argentina dường như sẽ không được thể hiện ở bất kỳ nơi nào có ý nghĩa chính trị hơn là một sân bóng đá. Trong những năm gần đây, Brazil đã di chuyển các đơn vị quân đội ra khỏi biên giới với Argentina và đã thấy người láng giềng nói tiếng Tây Ban Nha của mình cũng đáp lại tương tự. Một tàu hải quân Argentina được chào đón vào một cảng Brazil, trong khi vài năm trước, một tàu hải quân Hoàng gia Anh lại bị từ chối cập cảng, vì vậy khiến Argentina rất hài lòng giữa lúc nước này vẫn đang trong cuộc chiến ngoại giao với Vương quốc Anh về vấn đề quần đảo Falkland.
Brazil cũng thuộc khối BRICS – một nhóm các quốc gia lớn được coi là đang vươn lên cả về mặt kinh tế và chính trị, nhưng trong khi từng nước thành viên có thể đang vươn lên, thì khái niệm này là thứ theo mốt thời thượng chứ chẳng có ý nghĩa thực tế. Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi không phải là một tập hợp về chính trị hay địa lý theo một cách thức có ý nghĩa, và các nước này có ít điểm chung với nhau. Nếu những chữ cái này ghép lại mà không phát âm thành một cái gì đó giống như một từ, thì có lẽ lý thuyết BRICS đã chẳng được ai chú ý. BRICS tổ chức một hội nghị thường niên và Brazil đôi khi bắt liên lạc với Ấn Độ và Nam Phi về các vấn đề quốc tế như một thứ tiếng vọng mơ hồ của Phong trào Không liên kết thời Chiến tranh Lạnh, nhưng Brazil không tham gia với Nga và Trung Quốc trong lập trường đôi khi thù địch hướng đến Hoa Kỳ.
Hai người khổng lồ Bắc Mỹ và Nam Mỹ đã chia tay nhau vào năm 2013 vì một vấn đề vẫn còn nhức nhối ở Brazil. Tin tức mà Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ do thám được về Tổng thống Brazil đương nhiệm, Dilma Rousseff, đã khiến bà hủy bỏ một chuyến viếng thăm chính thức đến Washington. Việc không có một lời xin lỗi nào từ chính quyền Obama là minh chứng cho sự thực rằng Hoa Kỳ khó chịu với việc Trung Quốc thay thế họ trong vị trí đối tác thương mại chính của Brazil. Quyết định tiếp theo của Brazil về việc mua máy bay chiến đấu của Thụy Điển chứ không phải máy bay Boeing cho lực lượng không quân của mình được cho là xuất phát từ mối bất hòa kể trên. Tuy nhiên, hiện nay mối quan hệ giữa hai nhà nước phần nào đã hồi phục. Đối đầu không phải là phong cách của Brazil, không giống như Venezuela dưới thời Tổng thống Chavez. Người Brazil biết thế giới nghĩ rằng họ là một cường quốc sắp nổi, nhưng họ cũng biết rằng thế lực của họ sẽ không bao giờ sánh kịp với Hoa Kỳ. Thế lực của Argentina cũng vậy; tuy nhiên, theo cách nào đó, Argentina có vị trí địa lý để có thể trở thành một quốc gia của Thế giới thứ nhất tốt hơn so với Brazil. Argentina thiếu kích thước và dân số để trở thành thế lực khu vực đứng đầu của châu Mỹ Latinh, một số phận dường như được an bài cho Brazil, nhưng nước này có đất đai màu mỡ để tạo ra một tiêu chuẩn sống có thể so sánh với các nước châu Âu. Điều đó không có nghĩa là Argentina sẽ đạt được tiềm năng này – đơn giản là nếu Argentina điều hành kinh tế đúng cách, địa lý sẽ cho phép nước này có được thế lực xưa nay nó chưa từng có. Nền tảng cho tiềm năng này được hình thành vào thế kỷ 19 với những chiến thắng quân sự trên đất Brazil và Paraguay, dẫn đến việc kiểm soát các vùng đồng bằng nông nghiệp của Rio de la Plata, hệ thống sông có thể giao thông, và do đó kiểm soát cả dòng chảy thương mại dọc dòng sông xuôi xuống cảng Buenos Aires. Đây thuộc số những bất động sản có giá trị bậc nhất trên toàn lục địa. Nó ngay lập tức mang lại cho Argentina một lợi thế kinh tế và chiến lược vượt trội so với Brazil, Paraguay và Uruguay – một lợi thế vẫn duy trì cho đến nay.
Tuy nhiên Argentina không phải lúc nào cũng tận dụng được hết những lợi thế của mình. Một trăm năm trước, nước này nằm trong số mười nước giàu có nhất thế giới – vượt trên cả Pháp và Ý. Nhưng thất bại trong việc đa dạng hóa, một xã hội phân biệt tầng lớp và bất công, một hệ thống giáo dục nghèo nàn, một loạt các cuộc đảo chính và các chính sách kinh tế khác biệt nhau quá mức trong thời kỳ dân chủ kéo dài ba mươi năm qua vừa đã dẫn đến sự suy giảm mạnh mẽ của Argentina.
Người Brazil có một câu nói đùa về những người hàng xóm hợm hĩnh, theo cách nhìn nhận của họ: “Chỉ những người tinh tế như vậy mới có thể tạo ra một mớ hỗn độn lớn đến như thế.” Argentina cần phải hiểu đúng tình thế, và một con bò chết có thể giúp cho nước này.
Con Bò Chết, hay Vaca Muerta, là một thạch địa tầng dầu đá phiến, cùng với các khu vực dầu đá phiến khác của đất nước, có thể cung cấp nhu cầu năng lượng của Argentina trong một trăm năm mươi năm tới và vẫn dư thừa để xuất khẩu. Nó tọa lạc ở lưng chừng Argentina, trong vùng Patagonia, và phía tây tiếp giáp với Chile. Nó có kích thước sánh bằng nước Bỉ – có thể tương đối nhỏ so với một quốc gia, nhưng rất lớn so với một địa tầng đá phiến. Mọi chuyện có vẻ ” thuận lợi, trừ phi bạn phản đối nguồn năng, lượng sản xuất từ đá phiến – nhưng có một điểm bất lợi. Khai thác dầu từ đá phiến đòi hỏi đầu tư nước ngoài rất lớn, và Argentina không được coi là một quốc gia thân thiện cho đầu tư nước ngoài.
Có nhiều dầu và khí hơn nữa về phía nam – thực tế, xa về phía nam đến mức nó nằm ngoài khơi, quanh các hòn đảo thuộc về người Anh từ năm 1833. Và đó là vấn đề, và là một câu chuyện thời sự chưa bao giờ biến mất khỏi các bản tin.
Cái mà người Anh gọi là Quần đảo Falkland thì người Argentina gọi là Las Malvinas, và khốn khổ cho bất kỳ người Argentina nào sử dụng từ “F“. Sẽ là một hành vi phạm tội ở Argentina nếu in ra một bản đồ mô tả quần đảo này bằng một tên gọi nào khác ngoài “Islas Malvinas – Quần đảo Malvinas”. Tất cả trẻ em tiểu học đều được dạy vẽ phác thảo hai hòn đảo chính, phía tây và phía đông. Việc giành lại “các cô em gái thất lạc” này là một sự nghiệp quốc gia cho các thế hệ kế tiếp của người Argentina, và là một sự nghiệp mà hầu hết các nước láng giềng Latinh của họ đều ủng hộ.
Tháng Tư năm 1982, người Anh buông lỏng sự canh gác và chế độ độc tài quân sự Argentina đặt dưới quyền tướng Galtieri ra lệnh xâm chiếm quần đảo – đây được coi là một thành công lớn cho đến khi lực lượng đặc nhiệm Anh tiến vào tám tuần sau đó, nhanh chóng chấm dứt công cuộc của quân đội Argentina và tái chiếm lãnh thổ. Điều này dẫn đến sự sụp đổ của chế độ độc tài.
Nếu cuộc xâm chiếm của Argentina xảy ra vào lúc này, nước Anh sẽ không có vị thế để chiếm lại quần đảo, vì nước này hiện không có tàu sân bay có thể hoạt động – một tình huống sẽ được khắc phục vào năm 2020, lúc đó cơ hội của Argentina sẽ không còn nữa. Tuy nhiên, bất chấp sự hấp dẫn của dầu mỏ và khí đốt, cuộc xâm chiếm Falkland của Argentina là không khả thi vì hai lý do sau:
Thứ nhất, Argentina hiện nay là một nền dân chủ và biết rằng đại đa số người dân đảo Falkland muốn ở lại dưới quyền kiểm soát của Anh; thứ hai, người Anh, chim sợ cành cong, sẽ cảnh giác gấp đôi. Họ có thể tạm thời thiếu một tàu sân bay để bơi tám ngàn đặm xuống Nam Đại Tây Dương, nhưng hiện tại họ có vài trăm lính bộ binh trên đảo, cùng với các hệ thống radar tiên tiến, tên lửa đất đối không, bốn máy bay phản lực Eurofighter và cả một tàu ngầm tấn công hạt nhân rình rập gần đó suốt ngày. Anh có ý định ngăn chặn ngay thậm chí không để Argentina nghĩ rằng họ có thể đến được bờ biển, đừng nói đến việc chiếm quần đảo.
Lực lượng không quân Argentina sử dụng những chiếc máy bay lạc hậu vài thập kỷ so với Eurofighter, và chính sách ngoại giao của Anh đã đảm bảo rằng mọi nỗ lực của Argentina nhằm mua các máy bay mới hơn từ Tây Ban Nha đã bị dập tắt. Việc mua hàng từ Hoa Kỳ không có cơ may thành công do mối quan hệ đặc biệt giữa Vương quốc Anh và Hoa Kỷ, đôi khi quả thực là rất đặc biệt: do đó, khả năng Argentina tổ chức một cuộc tấn công khác trước năm 2020 là tất ít ỏi.
Tuy nhiên, điều đó sẽ không xoa dịu cuộc chiến ngoại giao, và Argentina đã mài sắc vũ khí của mình trên mặt trận đó. Buenos Aires đã cảnh báo rằng bất kỳ công ty dầu khí nào khoan dầu ở Falkland/Malvinas đều không thể đấu thầu khai thác dầu đá phiến trong khu mỏ Vaca Muerta tại Patagonia. Nước này thậm chí đã thông qua một đạo luật đe dọa phạt tiền hoặc phạt tù đối với những người thăm dò thềm lục địa của Falkland mà không có sự cho phép của nhà nước. Điều này đã khiến nhiều công ty dầu khí lớn ra đi, nhưng tất nhiên, người Anh thì không. Tuy nhiên, bất cứ ai thăm dò nguồn của cải giàu tiềm năng ẩn dưới biển Nam Đại Tây Dương đều đang hoạt động tại một trong những môi trường kinh doanh khắc nghiệt nhất. Khu vực đó khá lạnh và gió lớn, biển thì động.
Chúng ta đã đi xa hết mức có thể về phía nam trước khi đến những hoang địa đóng băng của Nam cực. Trong khi nhiều quốc gia muốn kiểm soát vùng này, sự kết hợp của môi trường cực kỳ khắc nghiệt với Hiệp ước Nam cực và việc thiếu tài nguyên có thể khai thác được và có giá trị, đã cùng nhau ngăn cản sự cạnh tranh công khai, ít nhất cho tới hiện tại. Không thể nói điều tương tự về vùng đối diện phía bắc của nó. Từ Nam cực đi thẳng lên đến vùng cực Bắc của địa cầu, bạn đến một nơi được định sẵn để trở thành chiến trường ngoại giao trong thế kỷ 20, vì các quốc gia lớn và nhỏ đều cố gắng đạt tới điểm cực ở đó: Bắc cực.
Chương 10 - Bắc cực
“Có hai loại vấn đề về Bắc cực, tưởng tượng và thực tế. Trong hai loại đó, loại tưởng tượng là thực tế nhất.” – Vilhjalmur Stefansson, Bắc cực trong đời thực và trong truyện kể.
Khi người tuyết đến, họ sẽ đến với toàn bộ sức mạnh. Ai có sức mạnh? Người Nga. Không kẻ nào khác có sự hiện diện nhiều và mạnh như vậy trong khu vực này, hoặc được chuẩn bị tốt như vậy để đối phó với sự khắc nghiệt của hoàn cảnh. Tất cả các quốc gia khác đều đang tụt lại phía sau và, còn trong trường hợp của Hoa Kỳ, họ dường như không cố gắng bắt kịp: Hoa Kỳ là một quốc gia vùng Bắc cực mà không có chiến lược Bắc cực nào trong một khu vực đang nóng lên.
Những ảnh hưởng của hiệu ứng ấm lên toàn cầu hiện nay đang diễn ra ở Bắc cực nhiều hơn bao giờ hết: băng tan chảy, cho phép con người dễ dàng tiếp cận khu vực này hơn, cùng với việc phát hiện những vỉa năng lượng và sự phát triển công nghệ để khai thác chúng – tất cả đều khiến các quốc gia vùng Bắc cực tập trung chú ý đến những được và mất tiềm năng có thể có từ môi trường khó khăn nhất thế giới này. Nhiều quốc gia trong khu vực có những tuyên bố lãnh thổ cạnh tranh nhau nhưng vẫn không bận tâm đến việc theo đuổi chúng – cho đến giờ. Nhưng có rất nhiều thứ để tuyên bố, và rất nhiều thứ để tranh cãi.
Cái tên “bắc cực” (arctic) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “arktikos”, có nghĩa là “gần loài gấu”, ám chỉ đến chòm Gấu Lớn (Đại Hùng Tinh) có hai ngôi sao cuối cùng chỉ về phía sao Bắc Đẩu.
Bắc Băng Dương có diện tích 5,4 triệu dặm vuông; điều này có thể làm cho nó trở thành đại dương nhỏ nhất thế giới, nhưng nó vẫn lớn gần bằng nước Nga, và gấp rưỡi kích thước của Hoa Kỳ. Các thềm lục địa dưới đáy đại dương, về tỷ lệ, chiếm nhiều điện tích hơn so với bất kỳ đại dương nào khác, đó là một trong những lý do tại sao thật khó có thể đồng ý về các khu vực chủ quyền.
Bắc cực bao gồm các phần đất thuộc về Canada, Phần Lan, Greenland, Iceland, Nauy, Nga, Thụy Điển và Hoa Kỳ (Alaska). Đó là một vùng đất của các thái cực: trong một thời gian ngắn vào mùa hè, nhiệt độ có thể lên tới 26 độ C ở một số nơi, nhưng trong một thời gian dài vào mùa đông, nó giảm xuống dưới âm 45 độ C. Có những vách đá bị chà xát bởi gió lạnh, những vịnh hẹp ngoạn mục, những hoang mạc vùng cực và thậm chí cả sông ngòi. Đó là nơi mà sự thù nghịch cao độ và vẻ đẹp hùng vĩ đã hớp hồn con người trong hàng ngàn năm qua.
Chuyến thám hiểm đầu tiên được chi nhận vào năm 330 trước công nguyên bởi một nhà hàng hải người Hy Lạp tên là Pytheas của thành Massilia, người đã tìm thấy một vùng đất lạ gọi là “Thule”. Trở về quê nhà ở Địa Trung Hải, rất ít người tin vào những câu chuyện đáng kinh ngạc của ông về phong cảnh độc một màu trắng, vùng biển đóng băng và những sinh vật lạ bao gồm những con gấu trắng lớn; nhưng Pytheas chỉ là người đầu tiên trong vô số những người qua nhiều thế kỷ đã phi lại sự kỳ diệu của Bắc cực và bị khuất phục bởi những cảm xúc mà nó gợi lên.
Nhiều người cũng không chịu nổi cái hoàn cảnh thiếu thốn của nó, đặc biệt là những người thám hiểm đi tới rìa tận cùng của thế giới mà loài người đã biết rõ để tìm kiếm những gì mà những kẻ hay ngờ vực gọi là Hành lang Tây Bắc “huyền thoại” xuyên qua Bắc Băng Dương, nối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương. Một ví dụ là Henry Hudson. Có lẽ vịnh biển lớn thứ hai trên thế giới đã được đặt tên theo tên ông, nhưng trở lại năm 1607, có lẽ ông sẽ thích sống an hưởng tuổi già hơn là bị thả trôi lênh đênh và suýt bị giết bởi một thủy thủ đoàn nổi loạn vì chán ngấy những chuyến đi thám hiểm của ông.
Còn về việc ai là người đầu tiên đến “Cực Bắc”, hừm, đó là một câu hỏi khó, mặc dù có một điểm cố định trên địa cầu biểu thị vị trí của nó, nhưng việc mặt băng bên dưới chân bạn liên tục di chuyển, và không có thiết bị định vị toàn cầu GPS, thật khó để nói chính xác bạn đang ở đâu. Sir Edward Parry, không có GPS, đã cố gắng làm điều đó vào năm 1827, nhưng băng di chuyển về phía nam nhanh hơn ông có thể di chuyển về phía bắc và thành ra cuối cùng ông đi giật lùi; nhưng ít ra ông đã sống sót.
Thuyền trưởng Sir John Franklin ít may mắn hơn khi cố vượt qua đoạn đường không thể đi lại cuối cùng của Hành lang Tây Bắc vào năm 1845. Hai chiếc tàu của ông bị kẹt trong băng gần đảo King William thuộc quần đảo Canada. Tất cả một trăm hai mươi chín thành viên của đoàn thám hiểm đã thiệt mạng, một số thiệt mạng trên tàu, những người khác thiệt mạng sau khi rời tàu và bắt đầu đi về phía nam. Một số đoàn thám hiểm khác được phái đi để tìm kiếm những người sống sót nhưng họ chỉ tìm thấy một vài bộ xương, và nghe những câu chuyện từ những người thợ săn Inuit về hàng chục người da trắng đã chết trong khi đi bộ trong cảnh băng giá. Các con tàu biến mất hoàn toàn, nhưng năm 2014, công nghệ bắt kịp với địa lý và một nhóm tìm kiếm của Canada đã sử dụng sóng âm xác định được vị trí của một chiếc tàu, tàu HMS Erebus, dưới đáy biển của Hành lang Tây Bắc, và họ vớt lên được quả chuông của con tàu.
Số phận của đoàn thám hiểm Franklin đã không ngăn cản được vô số kẻ mạo hiểm khác cố gắng tìm đường vượt xuyên qua quần đảo Bắc cực, nhưng mãi đến năm 1905, nhà thám hiểm vĩ đại người Na Uy Roald Amundsen đã vẽ con đường ông đã vượt qua quần đảo Bắc cực trên một con tàu nhỏ hơn chỉ với năm thủy thủ. Ông đi ngang qua đảo King William, xuyên qua eo biển Bering và vào Thái Bình Dương. Ông biết rằng mình đã đến đích khi phát hiện một tàu săn cá voi từ San Francisco đến từ hướng khác. Trong cuốn nhật ký, ông thú nhận những cảm xúc vui mừng đã làm cho ông khỏe hơn, một sự kiện có lẽ cũng hiếm hoi gần như thành tích vĩ đại của ông: “Hành lang tây Bắc đã được thực hiện. Giấc mơ thời thơ ấu của tôi – vào lúc đó đã được hoàn thành. Một cảm giác kỳ lạ trào dâng trong cổ họng; tôi hơi căng thẳng và kiệt sức – đó là điểm yếu trong tôi – nhưng tôi cảm thấy nước mắt mình trào dâng nơi khóe mắt.”
Hai mươi năm sau, ông quyết định rằng mình muốn trở thành người đầu tiên bay qua Bắc cực, mặc dù dễ dàng hơn là đi bộ qua nó, nhưng đó vẫn là một kỳ tích đáng kể. Cùng với hoa tiêu người Ý Umberto Nobile và mười bốn người trong phi hành đoàn, ông đã đưa một quả khí cầu có kiểu kết cấu vỏ nửa cứng bay qua vùng băng giá và thả xuống những lá cờ Na Uy, Ý và Hoa Kỳ từ độ cao khoảng chín mươi mét. Điều này có thể là một nỗ lực anh hùng, nhưng trong thế kỷ 21, nó không được coi như là cơ sở pháp lý cho bất kỳ tuyên bố sở hữu nào của ba quốc gia trên đối với khu vực này.
Điều đó cũng áp dụng cho nỗ lực ấn tượng của Shinji Kazama từ Nhật Bản, vào năm 1987 đã trở thành người đầu tiên tiếp cận Bắc cực trên một chiếc xe máy. Kazama đã vô cùng can đảm, vì đã không nương theo một chóp băng đang co rút. Ông là loại người đi trong bão tuyết để ghi dấu vào sử sách, nhưng không nghi ngờ rằng ngày nay có ít tuyết hơn để vượt qua.
Việc băng đang lùi xa dần không còn là một câu hỏi nữa – hình ảnh vệ tinh trong thập niên qua cho thấy rõ ràng diện tích băng đang thu hẹp – chỉ có nguyên nhân là còn chưa sáng tỏ. Hầu hết các nhà khoa học đều tin rằng không chỉ các chu kỳ khí hậu tự nhiên, mà con người cũng phải chịu trách nhiệm, và việc khai thác sắp tới những gì mới được phát hiện sẽ làm cho nó tăng tốc. Các làng mạc dọc theo vùng duyên hải Bering và Chukchi đã phải di dời vì bờ biển bị xói lở và đất săn bắn bị mất. Hiện tượng tái bố trí sinh học đang diễn ra. Gấu và cáo Bắc cực đang di cư, hải mã cạnh tranh đất sống với nhau, và những bầy cá không biết đến ranh giới lãnh thổ, đang di chuyển về phía bắc, làm cạn kiệt nguồn dự trữ của một số quốc gia nhưng gia tăng nguồn lợi cho một số quốc gia khác. Cá thu và cá tuyết Đại Tây Dương hiện đang xuất hiện trong những lưới đánh cá Bắc Cực.
Ảnh hưởng của băng tan sẽ không chỉ được cảm nhận ở Bắc cực: các nước ở xa như Maldives, Bangladesh và Hà Lan có nguy cơ lũ lụt cao hơn khi băng tan và mực nước biển dâng cao. Những hiệu ứng nối tiếp này là lý do tại sao Bắc cực là một vấn đề toàn cầu, không chỉ là một vấn đề khu vực.
Có thể thấy rõ ràng từ những hình ảnh vệ tinh là băng ở Bắc cực đang lùi xa dần, khiến cho các tuyến đường biển qua khu vực này dễ dàng hơn trong khoảng thời gian dài hơn của năm.
Khi băng tan chảy và lãnh nguyên lộ ra, hai điều có khả năng xảy đến sẽ đẩy nhanh quá trình ngả màu xám của chóp băng. Chất thải từ các hoạt động công nghiệp xảy ra không tránh khỏi sẽ tồn đọng lại trên tuyết và băng, tiếp tục làm suy giảm diện tích vùng phản xạ nhiệt của Hành lang Tây Bắc. Mặt đất màu sậm hơn và mặt nước không đóng băng sẽ hấp thụ nhiệt nhiều hơn băng tuyết chúng thay thế, do đó làm tăng kích thước của vùng tối màu. Điều này được gọi là hiệu ứng Albedo, và mặc dù có những ảnh hưởng tiêu cực, nó cũng có điểm tích cực: vùng lãnh nguyên ấm dần sẽ cho phép thực vật tăng trưởng tự nhiên và cây trồng nông nghiệp phát triển mạnh hơn, giúp người dân địa phương tìm được những nguồn thực phẩm mới.
Mặc dù vậy, không có cách nào thoát khỏi viễn cảnh rằng một trong những vùng hoang sơ vĩ đại cuối cùng của thế giới sắp sửa thay đổi. Một số mô hình dự đoán khí hậu cho biết rằng đến cuối thế kỷ này, Bắc cực sẽ không đóng băng vào mùa hè; có một vài dự đoán rằng việc đó có thể xảy ra sớm hơn nhiều. Điều chắc chắn là, bất kể diễn tiến nhanh chóng và sự thu giảm kịch tính ở mức độ nào, nó đã bắt đầu xảy ra.
Sự tan chảy của chóp băng đã cho phép tàu chỗ hàng thực hiện hành trình xuyên qua Hành lang Tây Bắc của quần đảo thuộc phần Canada trong vài tuần mùa hè mỗi năm, do đó rút ngắn thời gian ít nhất một tuần cho việc vận chuyển từ châu Âu sang Trung Quốc. Chuyến tàu hàng đầu tiên không cần tàu phá băng hộ tống đã trong năm 2014. Nunavik chở hai mươi ba ngàn tấn quặng nickel từ Canada đến Trung Quốc. Tuyến đường Bắc cực ngắn hơn 40% và đi qua vũng nước sâu hơn tuyến kênh đào Panama. Điều này cho phép tàu bè chở hàng hóa nhiều hơn, tiết kiệm được hàng chục ngàn đô la chỉ phí nhiên liệu và giảm một ngàn ba trăm tấn lượng khí thải nhà kính của tàu bè. Đến năm 2040, tuyến đường này dự kiến sẽ mở hai tháng mỗi năm, làm biến đổi các tuyến liên kết thương mại trên khắp “Vùng cận Cực Bắc” và gây ra các hiệu ứng dây chuyền với các tuyến đường ở xa như Ai Cập và Panama, cụ thể là ảnh hưởng đến doanh thu mà các nước này được hưởng từ kênh đào Suez và Panama.
Tuyến đường Bắc-Đông, hoặc tuyến biển Bắc như người Nga gọi nó, bao bọc bờ biển Siberia, hiện cũng mở cửa vài tháng mỗi năm và đang trở thành một tuyến đường biển ngày càng sôi động.
Băng tan chảy làm lộ ra những nguồn của cải tiềm tàng khác. Người ta cho rằng số lượng lớn khí đốt tự nhiên và trữ lượng dầu mỏ chưa được khai thác hẳn là nằm tại Bắc cực trong các khu vực hiện nay có thể tiếp cận được. Trong năm 2008, Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ ước tính trữ lượng bốn mươi hai nghìn tỷ mét khối khí tự nhiên, bốn mươi tư tỷ thùng khí đốt hóa lỏng tự nhiên và chín mươi tỷ thùng dầu thô có tại Bắc cực, phần lớn nằm ngoài khơi. Khi nhiều vùng Bắc cực trở nên dễ tiếp cận hơn, các trữ lượng vàng, kẽm, niken và sắt cũng được phát hiện thêm tại từng vùng của Bắc cực.
ExxonMobil, Shell và Rosneft thuộc nhóm những gã khổng lồ trong ngành năng lượng đang xin cấp giấy phép và bắt đầu khoan thăm dò. Các quốc gia và công ty chuẩn bị nỗ lực để khai thác được những của cải đó sẽ phải đối phó với một bầu khí hậu mà phần lớn thời gian trong năm là những đêm dài vô tận, biển đóng băng ở độ sâu hơn hai mét và nơi đây, khi mặt nước lộ ra, sóng có thể cao tới mười hai mét.
Đó sẽ là công việc bẩn thỉu, khó khăn và nguy hiểm, đặc biệt đối với bất cứ ai hy vọng hoạt động quanh năm. Công việc đó cũng đòi hỏi sự đầu tư lớn. Ở nhiều nơi sẽ không thể đặt các đường ống dẫn khí, và việc xây dựng cơ sở hạ tầng hóa lỏng khí đốt phức hợp trên mặt biển, đặc biệt trong điều kiện khó khăn, là rất tốn kém. Tuy nhiên, lợi ích tài chính và chiến lược đạt được đồng nghĩa với việc những tay chơi lớn sẽ cố gắng tuyên bố chủ quyền trên vùng lãnh thổ Bắc cực và bắt đầu khoan thăm dò, và những hậu quả tiềm ẩn về môi trường không thể ngăn trở họ.
Nhưng tuyên bố chủ quyền không dựa trên lá cờ của những nhà thám hiểm đầu tiên mà dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS). Công ước khẳng định rằng một quốc gia đã ký kết Công ước có chủ quyền kinh tế từ bờ biển nước sở tại cho tới giới hạn hai trăm hải lý (trừ phi giới hạn này xung đột với giới hạn của một quốc gia khác), và có thể tuyên bố đó là Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Do vậy, dầu và khí đốt trong khu vực này được coi là thuộc về quốc gia đó. Trong một số trường hợp nhất định và tùy thuộc các bằng chứng khoa học liên quan đến thềm lục địa của một quốc gia, quốc gia đó có thể áp dụng việc mở rộng “EEZ” đến 350 hải lý tính từ bờ biển của mình.
Sự tan chảy của băng Bắc cực đang mang đến một thái độ cứng rắn hơn từ tám thành viên của Hội đồng Bắc cực, diễn đàn nơi mà địa chính trị trở thành địa chính trị vùng cực.
“Ngũ quốc Bắc cực” (Arctic Five), năm quốc gia có biên giới trên Bắc Băng Dương, là Canada, Nga, Hoa Kỳ, Na Uy và Đan Mạch (do trách nhiệm của nước này đối với Greenland). Iceland, Phần Lan và Thụy Điển cũng tham gia với tư cách thành viên đầy đủ. Mười hai quốc gia khác có tư cách quan sát viên thường trực đã công nhận “chủ quyền và quyền tài phán của các nước Bắc cực “ trong khu vực, cùng với các tiêu chí khác. Ví dụ, tại Hội đồng Bắc cực 2013, Nhật Bản và Ấn Độ là hai nước đã tài trợ cho các cuộc thám hiểm khoa học Bắc cực, còn Trung Quốc, có cơ sở nghiên cứu khoa học trên các hòn đảo Nauy cũng như một tàu phá băng hiện đại, đã được cấp tư cách Quan sát viên.
Tuy nhiên, có những quốc gia không có mặt trong Hội đồng nói rằng họ có mối quan tâm hợp pháp trong khu vực, và vẫn còn nhiều tranh luận rằng theo lý thuyết về “di sản chung của nhân loại”, vấn đề Bắc cực nên được mở rộng cho tất cả mọi quốc gia.
Hiện tại có ít nhất chín tranh chấp pháp lý và tuyên bố chủ quyền ở Bắc Băng Dương, tất cả đều phức tạp về mặt pháp lý và một số có khả năng gây ra những căng thẳng nghiêm trọng giữa các quốc gia. Một trong những tuyên bố ngang ngược nhất đến từ người Nga: Moscow đã cắm xuống tận đáy biển một cột mốc. Trong năm 2007, nước này đã phái hai tàu ngầm có người lái lặn 4.260 mét dưới mặt biển tới đáy của Bắc cực và cắm một ngọn cờ Nga bằng titan chống gỉ như một tuyên bố về tham vọng. Theo như nguồn tin được biết, lá cờ Nga vẫn còn “tung bay“ dưới đó cho tới giờ. Một nhóm chuyên gia cố vấn của Nga đẩy vấn đề đi xa hơn bằng cách gợi ý rằng Bắc cực nên được đổi tên. Không cần suy nghĩ nhiều, họ đã đưa ra một cái tên thay thế: “Đại dương Nga“ (Russian Ocean).
Ở một chỗ khác, Nga lập luận rằng đải Lomonosov ngoài khơi bờ biển Siberia của nước này là một phần mở rộng của thềm lục địa Siberia, và do đó thuộc chủ quyền của Nga. Đây là một vấn đề đối với các quốc gia khác, vì sự thực là dải Lomonosov kéo đài một mạch cho đến tận Cực Bắc. Nga và Na Uy đặc biệt vướng mắc ở biển Barents. Na Uy tuyên bố dải Gakkel trên biển Barents là một phần mở rộng của đặc khu kinh tế của nước này, nhưng Nga không chấp nhận điều đó, và họ có tranh chấp cụ thể về quần đảo Svalbard, điểm cực bắc trên Trái đất nơi có một quần thể dân cư sinh sống. Hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều công nhận các hòn đảo đó thuộc chủ quyền của Na Uy, nhưng đảo lớn nhất, Spitsbergen, có dân di cư Nga ngày càng tăng, sống tụ tập quanh ngành khai thác than ở đó. Các mỏ này không sinh lợi, nhưng cộng đồng Nga tại đó được sử dụng như một công cụ hữu ích trong việc tiếp tục tuyên bố chủ quyền của Moscow trên tất cả quần đảo Svalbard. Đến một thời điểm Nga lựa chọn, họ có thể gây căng thẳng và biện minh cho hành động của mình bằng cách sử dụng các tuyên bố địa chất và “tình hình thực tế“ của cụm dân cư Nga.
Na Uy, một quốc gia NATO, biết điều gì đang đến và đã đưa vùng Cận cực Bắc vào chính sách đối ngoại ưu tiên. Lực lượng không quân Na Uy thường xuyên chặn các máy bay chiến đấu Nga tiếp cận biên giới nước này; những căng thẳng gia tăng đã khiến Na Uy đi chuyển trung tâm của hoạt động quân sự từ phía nam đất nước lên phía bắc, và đang xây dựng một Tiểu đoàn Bắc cực. Canada đang tăng cường khả năng chiến đấu trong thời tiết lạnh, và Đan Mạch cũng đã phản ứng với màn phô trương cơ bắp của Moscow bằng cách thiết lập một Lực lượng Phản ứng Bắc cực.
Trong khi đó, Nga đang xây dựng một Quân đội Bắc cực. Sáu căn cứ quân sự mới đang được xây dựng đồng thời mở cửa lại một số cơ sở được bảo tồn từ Chiến tranh Lạnh, như trên quần đảo Novosibirsk, và các đường băng đang được cải tạo. Một lực lượng ít nhất sáu ngàn binh sĩ chiến đấu được chuẩn bị sẵn sàng cho khu vực Murmansk và sẽ bao gồm hai lữ đoàn bộ binh cơ giới được trang bị xe trượt tuyết và tàu đệm hơi.
Không phải ngẫu nhiên mà Murmansk hiện nay được gọi là “cửa ngõ năng lượng phía bắc của Nga” và Tổng thống Putin đã có phát biểu liên quan đến nguồn năng lượng rằng, “Các mỏ ngoài khơi, đặc biệt là ở Bắc cực, sẽ chẳng quá lời khi nói rằng đây là nguồn dự trữ chiến lược của chúng ta cho thế kỷ 21.”
Lữ đoàn Murmansk sẽ là lực lượng Bắc cực thường trực tối thiểu của Moscow, nhưng Nga đã chứng minh khả năng chiến đấu trong thời tiết lạnh vào năm 2014 với một trận diễn tập bao gồm 155.000 binh sĩ và hàng ngàn xe tăng, máy bay phản lực và tàu chiến. Bộ Quốc phòng Nga cho biết nó lớn hơn các cuộc diễn tập từng thực hiện trong Chiến tranh Lạnh.
Trong trò chơi chiến tranh này, quân đội Nga được giao nhiệm vụ đẩy lùi cuộc xâm lược của một cường quốc nước ngoài có tên là “Missouri”, đích thị là chỉ Hoa Kỳ. Kịch bản nói rằng quân đội Missouri đổ bộ vào Chukotka, Kamchatka, quần đảo Kuril và Sakhalin để hỗ trợ cho một lực lượng châu Á không được nêu tên đã đụng độ với Nga. Lực lượng vô danh đó là Nhật Bản, và theo kịch bản, cuộc xung đột bị kích động bởi một tranh chấp lãnh thổ được các nhà phân tích cho rằng liên quan đến quần đảo Kuril. Việc phô trương ý định bằng quân sự sau đó đã được nhấn mạnh bằng chính trị khi Tổng thống Putin lần đầu tiên đưa khu vực Bắc cực vào không gian ảnh hưởng của Nga trong học thuyết chính sách đối ngoại chính thức của nước này.
Bất chấp sức mạnh kinh tế của Nga đang giảm sút, dẫn đến cắt giảm ngân sách ở nhiều cơ quan chính phủ, ngân sách quốc phòng của nước này vẫn tăng và một phần là để chỉ trả cho việc tăng cường sức mạnh quân sự Bắc cực diễn ra từ nay đến năm 2020. Moscow đã có kế hoạch cho tương lai, có sẵn cơ sở hạ tầng từ quá khứ và lợi thế về vị trí. Như Melissa Bert, một chỉ huy lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ (US Coast Guard), nói với Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược ở Washington: “Họ có các thành phố ở Bắc cực, chúng ta chỉ có làng mạc.”
Tất cả điều này, theo nhiều cách, là sự tiếp tục hoặc ít nhất là sự phục hồi của các chính sách Bắc cực trong Chiến tranh Lạnh của Nga. Nga biết rằng NATO có thể bóp nghẹt Hạm đội Baltic của họ bằng cách phong tỏa eo biển Skagerrak. Khả năng phong tỏa tiềm tàng này càng phức tạp bởi thực tế là Hạm đội biển Bắc của Nga tại Bắc cực chỉ có được một trăm tám mươi dặm nước không đóng băng tính từ đường bờ biển Kola cho đến chóp băng Bắc cực. Từ hành lang hẹp này, Nga phải vượt biển Na Uy và sau đó ngang qua bàn tay sắt tiềm tàng nơi khoảng trống GIUK (Greenland, Iceland và Anh) để đến Đại Tây Dương.
Trong Chiến tranh Lạnh, khu vực này được NATO biết đến như một “Sát Khu” (Kill Zone), vì đây là nơi các máy bay, tàu chiến và tàu ngầm của NATO dự tính sẽ tóm được hạm đội Liên Xô.
Ta tua nhanh thời gian để tiến tới cuộc Chiến tranh Lạnh mới với các chiến lược vẫn được giữ nguyên như cũ, ngay cả nếu hiện nay Hoa Kỳ đã rút quân khỏi Iceland, đồng minh NATO của họ. Iceland không có lực lượng vũ trang của riêng mình và việc Hoa Kỳ rút quân được chính phủ Iceland mô tả là “tầm nhìn thiển cận”. Trong một bài phát biểu tại Hội đồng Đại Tây Dương Thụy Điển, bộ trưởng Tư pháp Iceland Björn Bjarnason cho biết: “Một sự hiện diện quân sự nhất định cần được duy trì trong khu vực, nhằm gửi đi tín hiệu về lợi ích và tham vọng của một quốc gia trong một khu vực nhất định, vì một khoảng trống quân sự có thể bị hiểu lầm là sự thiếu vắng lợi ích quốc gia và quyền ưu tiên quốc gia. “
Tuy nhiên, chí ít là hơn một thập niên nay, Bắc cực rõ ràng là một ưu tiên đối với Nga không cùng một cách như đối với Hoa Kỳ. Điều này được phản ánh ở mức độ quan tâm của cả hai nước đối với khu vực này, hoặc trong trường hợp của Hoa Kỳ, sự tương đối thiếu quan tâm của nước này kể từ khi Liên bang Xô viết sụp đổ.
Phải mất tới một tỷ đô la và mười năm để đóng một chiếc tàu phá băng. Nga rõ ràng là lực lượng Bắc cực hàng đầu với đội tàu phá băng lớn nhất thế giới, tổng cộng ba mươi hai chiếc, theo tạp chí Tuần duyên Hoa Kỳ năm 2013. Sáu chiếc trong số đó chạy bằng năng lượng hat nhân, là phiên bản duy nhất trên toàn cầu, và Nga cũng có kế hoạch tung ra chiếc tàu phá băng mạnh nhất thế giới vào năm 2018. Nó sẽ có khả năng phá tan mặt băng dày hơn ba mét và kéo tàu chở dầu với trọng lượng lên đến bảy mươi ngàn tấn qua các cánh đồng băng.
Ở chiều ngược lại, Hoa Kỳ chỉ có một hạm đội gồm một tàu phá băng hạng nặng còn đang hoạt động được, tàu USS Polar Star, giảm từ tám chiếc mà nước này sở hữu trong thập niên 1960, và không có kế hoạch đóng thêm một con tàu nào khác. Năm 2012, Hoa Kỳ phải nhờ cậy một tàu phá băng Nga để tiếp tế cho cơ sở nghiên cứu của họ ở Nam cực, đó là một thắng lợi của sự hợp tác hai siêu cường, nhưng đồng thời là một biểu hiện vẻ sự tụt hậu của Hoa Kỳ. Không có quốc gia nào khác lại không thể hiện một thách thức: Canada có sáu tàu phá băng và đang đóng một chiếc mới, Phần Lan có tám, Thụy Điển bảy và Đan Mạch bốn. Trung Quốc, Đức và Na Uy mỗi nước một chiếc.
Mùa thu năm 2015, Tổng thống Obama đã thực hiện chuyến đi đầu tiên của một tổng thống đương nhiệm tới Alaska và đã kêu gọi đóng thêm nhiều tàu phá băng của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đây gần như là một nhận xét thoảng qua trong một chuyến đi được hoạch định xung quanh vấn đề biến đổi khí hậu. Các khía cạnh an ninh và năng lượng của Bắc cực hầu như không được đề cập. Washington vẫn còn tụt hậu so với tình hình chung, một điều mà cuộc bầu cử chọn ra Tổng thống Trump cũng không làm thay đổi.
Hoa kì có một vấn đề khác. Nước này đã không phê chuẩn hiệp ước UNCLOS, do đó trên thực tế họ đang nhường lại hai trăm ngàn dặm vuông lãnh thổ dưới đáy biển thuộc Bắc cực, vì họ không tuyến bố chủ quyền cho một EEZ (Vùng đặc quyền kinh tế).
Tuy nhiên Hoa Kỳ đang tranh chấp với Canada về quyền khai thác tiềm năng dầu mỏ ngoài khơi và quyền tiếp cận với các vùng biển trong quần đảo Canada. Canada nói rằng chúng là “tuyến đường thủy nội địa”, trong khi Hoa Kỳ nói rằng chúng là một eo biển thuộc tuyến giao thông quốc tế không chịu chi phối bởi luật pháp Canada. Năm 1985, Hoa Kỳ đã phái một chiếc tàu phá
băng đi qua vùng biển mà không báo trước cho Canada, gây ra một cuộc cãi cọ dữ dội giữa hai nước láng giềng, khiến mối quan hệ của họ vừa thân thiện đồng thời vừa hờn dỗi.
Hoa Kỳ cũng đang tranh chấp với Nga về biển Bering, Bắc Băng Dương và Bắc Thái Bình Dương. Hiệp định Hải giới năm 1990 đã được ký kết với Liên Xô, trong đó Moscow nhượng lại một khu vực đánh cá. Tuy nhiên, sau khi Liên Xô tan rã, Quốc hội Nga từ chối phê chuẩn thỏa thuận. Khu vực này được cả hai bên coi như chủ quyền của Hoa Kỳ, nhưng người Nga vẫn bảo lưu quyền được bàn lại vấn đề này.
Các tranh chấp khác bao gồm cả tranh chấp giữa Canada và Đan Mạch trên đảo Hans, năm tại eo biển Nares, phân chia Greenland với đảo Ellesmere. Greenland, với dân số năm mươi sáu ngàn người, có chính phủ tự trị nhưng vẫn thuộc chủ quyền Đan Mạch. Một thỏa thuận năm 1953 giữa Đan Mạch và Canada bỏ lại hòn đảo trong tình trạng tranh chấp, và kể từ đó, cả hai nước đã bỏ công sức dong buồm tới hòn đảo để cắm quốc kỳ của mình lên đó.
Tất cả các vấn đề chủ quyền đều bắt nguồn từ những ham muốn và sợ hãi tương tự nhau – mong muốn đảm bảo các tuyến vận chuyển quân sự và thương mại, mong muốn sở hữu của cải thiên nhiên của khu vực, và lo sợ rằng những người khác có thể đoạt được thứ mà mình để mất. Cho đến gần đây, những của cải đó vẫn chỉ là trên lý thuyết, nhưng hiện tượng băng tan đã biến lý thuyết thành điều có thể, và trong một số trường hợp thành điều chắc chắn.
Sự tan chảy của băng làm thay đổi địa lý và các khoản đặt cược. Các nước Bắc cực và các công ty năng lượng khổng lồ giờ đây phải quyết định về việc phải đối phó như thế nào với những thay đổi này và phải chú ý đến môi trường và người dân Bắc cực đến mức nào. Sự đói khát năng lượng cho thấy không thể tránh khỏi một cuộc chạy đua trong những diễn tiến mà một số chuyên gia Bắc cực gọi là “Ván bài Vĩ đại Mới”. Sẽ có nhiều con tàu hơn xuất hiện trong vùng cận Bắc cực, nhiều giàn khoan dầu và giàn khoan khí đốt hơn – thực tế, tất cả mọi thứ sẽ nhiều hơn. Người Nga không chỉ có các tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân, mà còn xem xét xây dựng một nhà máy điện hạt nhân nổi có khả năng chịu được sức chèn ép của ba mét băng.
Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa tình huống này với “Cuộc chạy đua giành châu Phi” ở thế kỷ 19, hoặc những mưu đồ của các cường quốc lớn ở Trung Đông, Ấn Độ và Afghanistan trong Ván bài Vĩ đại xưa kia. Cuộc đua lần này có các quy tắc, một công chức và một diễn đàn để ra quyết định. Hội đồng Bắc cực bao gồm các quốc gia trưởng thành, hầu hết trong số đó đều có nền dân chủ ở một mức độ nào đó, dù cao hay thấp. Luật pháp quốc tế quy định các tranh chấp lãnh thổ, nạn ô nhiễm môi trường, luật hàng hải và chính sách đối xử với các dân tộc thiểu số được thực hiện như thế nào. Hầu hết lãnh thổ đang bị tranh chấp này chưa từng bị chinh phục bởi chủ nghĩa đế quốc thế kỷ 19 hoặc bởi các quốc gia trong cuộc chiến tranh đoạt lẫn nhau.
Các nước Bắc cực biết rằng đó là một khu vực khó nhằn, không chỉ vì các phe phái giành giật, mà vì những thách thức mà địa lý của nó mang lại. Có năm triệu rưỡi dặm vuông đại dương tại Bắc cực; chúng có thể tăm tối, nguy hiểm chết người. Đó không phải là nơi dễ chịu để có thể không cần đến bạn bè. Họ biết rằng bất kỳ nước nào để thành công trong khu vực cũng sẽ cần đến sự hợp tác, đặc biệt là trong các vấn đề như trữ lượng đánh bắt cá, buôn lậu, khủng bố, tìm kiếm – cứu nạn và thảm họa môi trường.
Điều rất có thể xảy ra là một cuộc tranh cãi về quyền khai thác có thể leo thang thành một sự kiện nghiêm trọng hơn, chiếu theo việc Vương quốc Anh và Iceland gần như đã đụng độ nhau trong “Cuộc chiến Cá tuyết” vào các năm 1950 và 1970. Việc buôn lậu xảy ra ở bất cứ nơi nào có các tuyến đường vận chuyển, và không có lý do gì để tin rằng Bắc cực sẽ khác; nhưng việc kiểm soát khu vực này sẽ rất khó khăn do các điều kiện môi trường ở đó. Khi càng nhiều tàu thương mại và tàu du lịch tiến vào khu vực, khả năng tìm kiếm, cứu nạn và chống khủng bố của các quốc gia Bắc cực sẽ cần được phát triển phù hợp, cũng như khả năng phản ứng với thảm họa môi trường trong vùng nước đang ngày càng chật chội đông đúc. Năm 1965, tàu phá băng Lenin đã gặp nạn với lò phản ứng hạt nhân của nó trong khi đang vượt biển. Sau khi trở về bờ, các bộ phận của lò phản ứng đã được cắt ra và, cùng với nhiên liệu bị hư hỏng, được đặt trong một bể chứa bê tông với một lớp lót bằng thép mà sau đó được ném xuống biển. Những sự cố như vậy có thể xảy ra thường xuyên hơn khi Bắc cực mở rộng cửa, và chúng vẫn sẽ tiếp tục khó quản lý.
Có lẽ Bắc cực hóa ra chỉ là một chiến trường khác cho các quốc gia – rốt cuộc thì các cuộc chiến tranh được bắt đầu bởi nỗi sợ hãi đối với kẻ khác cũng như sự tham lam; nhưng Bắc cực thì khác, và vì vậy có lẽ cách nó được xử lý cũng sẽ khác. Lịch sử của chúng ta đã cho thấy các cư xử tham tàn của trò chơi Tổng bằng Không (zero-sum game). Có thể lập luận rằng; niềm tin phần nào vào quyết định luận địa lý, cùng với bản tính con người, đã khiến cho bất kỳ cách ứng xử nào khác càng trở nên khó khăn hơn. Tuy nhiên, có những ví dụ về việc công nghệ đã giúp chúng ta thoát khỏi nhà tù địa lý như thế nào. Ví dụ, chúng ta có thể vượt qua sa mạc và biển cả với tốc độ mà các thế hệ trước không thể tưởng tượng được. Chúng ta thậm chí đã phá vỡ gông cùm của trọng lực Trái đất. Trong thế giới toàn cầu hóa mới, chúng ta có thể sử dụng công nghệ đó để đem lại cho chúng ta một cơ hội ở Bắc cực. Chúng ta có thể vượt qua khía cạnh tham lam của bản tính con người, và chơi Ván bài Vĩ đại một cách đúng đắn vì lợi ích của tất cả mọi người.
Kết luận
Chúng ta đã kết thúc tại chóp đỉnh của thế giới và vì vậy cách duy nhất là đi lên.
Biên giới cuối cùng luôn luôn kêu gọi trí tưởng tượng của chúng ta, nhưng hiện giờ là thời đại mà nhân loại đã hiện thực hóa giấc mơ và vươn vào không gian, một bước tiến vỏn vẹn một milimét vào cái vô hạn, trên con đường đến tương lai. Tinh thần không ngơi nghỉ của nhân loại đảm bảo rằng ranh giới của chúng ta không bị hạn chế trong phạm vi của vật thể mà Carl Sagan gọi là “Đốm Xanh Mờ”.
Nhưng chúng ta phải trở lộn lại Trái đất, đôi khi bằng một cú va mạnh, bởi vì chúng ta chưa chỉnh phục được địa lý, cũng chưa hề có ý hướng đua tranh với nó.
Địa lý vẫn luôn luôn là một loại nhà tù – một nhà tù quy định một quốc gia là hoặc có thể là gì, và một nhà tù mà các nhà lãnh đạo thế giới thường phải vật lộn để thoát ra. Nước Nga có lẽ là ví dụ rõ ràng nhất, với lãnh thổ tự nhiên trải rộng từ vùng bình nguyên nhỏ hẹp mà nước này kiểm soát cho đến dải đất trung tâm bao phủ một không gian rộng lớn được bao quanh chủ yếu bởi núi non và biển cả – chỉ với một điểm dễ bị xâm nhập từ bên kia Đồng bằng Bắc Âu. Nếu các nhà lãnh đạo nước Nga muốn xây dựng một quốc gia vĩ đại, vốn là điều họ từng mong muốn, thì họ có rất ít sự lựa chọn về việc phải làm gì với vị trí yếu kém đó. Cũng vậy, tại châu Âu không có quyết định tỉnh táo nào được đưa ra để hòng trở thành một khu vực mậu dịch khổng lồ; các mạng lưới sông ngòi dài, phẳng lặng đã khiến điều đó trở nên khả thi, và trở nên tất yếu ở một mức nào đó, trải suốt hàng thiên niên kỷ.
Tiến vào thế kỷ 21, các nhân tố địa lý vốn đã góp phần quy định lịch sử hầu hết sẽ tiếp tục quy định tương lai của chúng ta: một thế kỷ nữa kể từ bây giờ, nước Nga vẫn sẽ lo âu dõi mắt về phía tây, nhìn sang một dải đất vẫn là bình nguyên. Ấn Độ và Trung Quốc vẫn sẽ bị cách ngăn bởi dãy Himalaya. Rốt cuộc thì họ cũng có thể xung đột với nhau, nhưng nếu điều đó xảy ra, thì địa lý sẽ quy định bản chất của cuộc chiến đó: họ sẽ cần phải phát triển công nghệ để có thể đưa một lực lượng quân sự khổng lồ băng qua vùng núi non, hoặc nếu điều đó vẫn chưa khả thi và không bên nào muốn lâm vào chiến tranh hạt nhân, họ sẽ đối đầu với nhau trên biển. Florida sẽ tiếp tục canh giữ lối ra vào vịnh Mexico. Chính vị trí địa lý của vịnh này mới giữ vai trò then chốt, chứ không phải vấn đề ai là người kiểm soát nó. Thử đặt ra kịch bản cực đoan và khó xảy ra: hãy tưởng tượng đa số người dân Florida gốc Tây Ban Nha ly khai khỏi Hoa Kỳ và kết thân với Cuba và Mexico. Hẳn nhiên điều này sẽ chỉ làm thay đổi động thái của vấn đề thế lực nào sẽ kiểm soát vịnh, chứ không phải tầm quan trọng của địa điểm đó.
Tất nhiên, địa lý không quyết định tiến trình của tất cả các sự kiện. Những ý tưởng vĩ đại và các nhà lãnh đạo vĩ đại là một phần trong lực xô đẩy của lịch sử. Nhưng họ tất thảy phải hoạt động trong phạm vi của địa lý. Các nhà lãnh đạo Bangladesh có thể mơ mộng về việc ngăn chặn nước lũ dâng lên ở vịnh Bengal, nhưng họ biết rằng 80% xứ sở đó nằm trên một đồng bằng ngập nước và không thể chuyển dời. Đó là luận điểm mà vị thú lĩnh của xứ Scandinavia và Anh, King Canute, đã đưa ra để nhắc nhở các triều thần nịnh bợ của ông vào thế kỷ 11, khi ra lệnh cho những con sóng rút lui: thiên nhiên, hay Thượng đế, mạnh hơn bất kỳ con người nào. Tại Bangladesh, tất cả những gì con người có thể làm là thích ứng với những thực trạng của thiên nhiên: xây dựng nhiều phòng tuyến chống lũ lụt hơn, và hy vọng rằng sự mô phỏng trên máy tính về các đợt nước dâng do hiện tượng nóng lên toàn cầu chỉ là thứ phóng đại.
Những thực trạng địa lý mới chẳng hạn như biến đổi khí hậu phô bày những cơ hội và thách thức mới. Hiện tượng nóng lên toàn cầu rất có thể dẫn đến sự di cư ồ ạt của con người. Nếu quả thực định mệnh đã an bài cho Maldives và nhiều hòn đảo khác phải chìm khuất trong sóng nước, tác động đó sẽ không chỉ ảnh hưởng lên những người kịp ra đi trước khi quá muộn, mà còn ảnh hưởng đến cả các quốc gia mà họ đến tị nạn. Nếu vấn đề lũ lụt ở Bangladesh trở nên trầm trọng hơn, tương lai của xứ sở đó và 160 triệu con người sẽ vô cùng thê thảm; nếu mực nước dâng cao hơn nhiêu, đất nước nghèo khó này có thể sẽ biến mất. Và nếu hiện tượng sa mạc hóa các dải đất phía nam Sahel tiếp diễn, khi đó các cuộc chiến như ở Darfur và Sudan (một phần gây ra bởi sa mạc xâm lấn nơi sinh sống của các bộ tộc du mục ở phía bắc, do đó đẩy họ di chuyển xuống vùng của người Eur ở phía nam) sẽ dữ dội và lan rộng hơn.
Chiến tranh nguồn nước là một vấn đề tiềm tàng. Ngay cho dù các nền dân chủ ổn định xuất hiện ở Trung Đông trong những thập niên tới, nếu nguồn nước của sông Murat, khởi nguồn ở Thổ Nhĩ Kỳ trước khi đổ vào sông Euphrates, giảm đi đáng kể, thì những con đập mà Thổ Nhĩ Kỳ sẽ phải xây dựng để bảo vệ nguồn sinh sống của nó có thể sẽ dễ dàng trở thành nguyên nhân cho cuộc chiến với Syria và Iraq ở vùng hạ lưu.
Nhìn xa hơn về phía trước, khi chúng ta tiếp tục bứt phá khỏi nhà tù địa lý của mình để vươn vào vũ trụ, các cuộc đấu đá chính trị vẫn sẽ tồn tại trong không gian, ít nhất là trong tương lai gần.
Nhân loại lần đầu tiên tiến vào lớp trên cùng của tầng bình lưu vào năm 1961 khi phi hành gia Liên Xô hai mươi bảy tuổi Yuri Gagarin bay vào vũ trụ trên con tàu Vostok 1. Nhưng sự việc một người Nga khác là Kalashnikov, người chế tạo khẩu AK-47, thậm chí còn nổi danh hơn gợi nên một nỗi buồn về nhân sinh. Gagarin, Buzz Aldrin và nhiều người khác là hậu duệ của Marco Polo và Christopher Columbus, những con người tiên phong đã mở đường vượt qua những ranh giới và thay đổi thế giới theo những cách thức mà sinh thời họ không thể tưởng tượng nổi. Cho dù thay đổi tốt hơn hay tệ hơn, thì đó không phải là vấn đề; họ đã khám phá ra những cơ hội mới và những không gian mới trong đó con người sẽ đua tranh để tận dụng tối đa những gì thiên nhiên đã đặt để ở đó. Trong không gian vũ trụ cũng vậy, sẽ phải trải qua nhiều thế hệ chúng ta mới cắm được những lá cờ của mình, “chinh phục“ lãnh thổ, tuyên bố chủ quyền và vượt qua những rào cản mà vũ trụ đặt trên con đường chúng ta đi.
Hiện tại có khoảng 1.100 vệ tinh đang hoạt động trong không gian và Ít nhất 2.000 vệ tinh không hoạt động. Nga và Hoa Kỳ phóng lên khoảng 2.400 vệ tinh trong tổng số đó, khoảng 100 vệ tinh là của Nhật Bản và một số lượng tương tự đến từ Trung Quốc, tiếp theo là một loạt các quốc gia khác với số lượng ít hơn rất nhiều.
Bên dưới chúng là các trạm không gian, nơi lần đầu tiên con người sống và làm việc lâu dài bên ngoài phạm vi tác động của trọng lực trái đất. Xa hơn nữa, ít nhất năm lá cờ Hoa Kỳ được cho là vẫn đứng yên trên bề mặt của Mặt trăng, và còn xa hơn nữa, nhiều máy móc của chúng ta đã vượt qua sao Hỏa và sao Mộc, một số tiến xa hơn, vượt quá phạm vi của tất cả những gì chúng ta có thể thấy được và đang cố tìm hiểu.
Thật cám dỗ để nghĩ về những nỗ lực của chúng ta trong không gian như đang kết nối nhân loại với một tương lai chung và hợp tác. Nhưng trước tiên vẫn sẽ tiếp tục diễn ra sự cạnh tranh để giành quyền bá chủ trong không gian vũ trụ. Các vệ tinh không chỉ có mặt ở đó để truyền tín hiệu hình ảnh tới chiếc TV của chúng ta, hoặc để dự đoán thời tiết: chúng cũng do thám các nước khác, để xem ai đang có động thái nào ở đâu và về chuyện gì. Ngoài ra, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã bước vào phát triển công nghệ laser, có thể được sử dụng làm vũ khí, và cả hai nước đều tìm cách đảm bảo rằng họ có một hệ thống tên lửa có thể hoạt động trong không gian và vô hiệu hóa tên lửa của đối thủ cạnh tranh. Nhiều quốc gia có nền công nghệ tiên tiến hiện đang chuẩn bị mọi thứ để phòng khi cần phải chiến đấu trong không gian.
Khi chúng ta đang vươn tới những vì sao, những thách thức đặt ra phía trước là những thách thức mà chúng ta có lẽ sẽ phải chung tay để ứng phó: du hành vào vũ trụ không phải với tư cách người Nga, người Trung Quốc hay người Mỹ, mà là những đại diện của nhân loại. Nhưng cho đến nay, mặc dù đã thoát khỏi sự kìm hãm của trọng lực, chúng ta vẫn đang bị giam cầm trong tâm trí của chính mình, bị giới hạn bởi sự nghi ngờ của mình về “kẻ khác”, và do đó bởi cuộc cạnh tranh nguyên thủy về tài nguyên. Phía trước chúng ta còn cả một chặng đường dài.
Nguồn tham khảo
Tham khảo chung
Diamond, Jared, Guns, Germs, and Steel (New York: W. W. Norton, 2008)
Dodds, Klaus, Geopolitics: A Very Short Introduction (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2007)
Ikenberry, G. John, “The Tllusion of Geopolitics”, tạp chí Foreien Affairs (tháng 5/ tháng 6 năm 2014)
Keegan, John, Aflas oƒ World War Túo (London: Harper Collins, 2006) Mackinder, Halford John, “The Geographical Pivot of History“”, tạp chí The Geographical Society/, tập 23, số 4 (tháng 4 năm 1904), 421-37
Mackinder, Halford John, Democratic Ideals and Reality, 1919

Mead, Walter Russell, “The Return of Geopolitics”, tạp chí Foreien Affairs (tháng 5/ tháng 6 năm 2014)
Monmonier, M. How to Lie with Maps (Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago, 1996)
Parry, Chris, Super Highway: Sea Power in the 21st Century (London: Elliot $ Thompson, 2014)
Pickles, John, A History of Spaces: Cartographic Reason, Mapping and the Geo-Coded World (London: Routledge, 2004)
Roberts, S., Secor, A., và Sparke, M., “Neoliberal Geopolitics”, Antipode, Tập 35, số 5 (tháng 11 năm 2003), 886-97.
The Times Atlas of World History (London: Times Books, 2000) The Times Comprehensive Atlas oƒ The World, ấn bản lần thứ 12 (London: Times Books, 2007)
Weigley, Russell F„ The American Way oƒ War (Bloomington, IN: Nhà xuất bản Đại học Indiana, 1973)
Nga
Eberstadt, Nicholas, “ Russia’s Peacetime Demographic Crisis: Dimensions, Causes, Implications” (Cục nghiên cứu Quốc gia | về châu Á, 2010)
Kennan, George F., “The Sources of Soviet Conduct”, Tạp chí Foreign Affairs (tháng 7 năm 1947)
“Russian accusations – setting the record straight”, tài liệu của NATO (tháng 4 năm 2014)
Trung Quốc
Beardson, Timothy, Stumbling Giant: The Threats to China’s Future (New Haven, CT: Nhà xuất bản Đại học Yale, 2013)
Boehm, Dana Carver, “Chinas Failed War on Terror: Fanning the Flames of Uighur Separatis Violence” tạp trí Berkley Journal of Middle Eastern and Islamic Law, tập 2, Số 1: 3 (2019)
De Crespigny, Rafe, China TJịs Century (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1992)
Holmes, James, “When China Rules the Sea”, tạp chí
Foreign Policy (tháng 9 năm 2015)
Kaplan, Robert D., The Reøenge oƒ Geography (London: Random House, 2012)
Lewis, Martin, “East Asia”, Stanford University Global Geopolitics Lectures, East Asia (ngày 15 tháng 1 năm 2008)
Shaughnessy, Edward L. (ed.), China: Empire and Civilization (London: Nhà xuất bản Duncan Baird, 2005)
Theroux, Paul, Riding the lron Rooster (London: Hamish Hamiilton, 1988)
Hoa Kỳ
Commager, S., Documents of American History Volume 1: to 1898, ấn bản lần thứ 10 (New Jersey: Prentice Hall, 1288)
Kagan, Robert, Dangerous NaH0n: America and the World,1600-1898 (London: Atlantic Books, 2006)
Pei, Minxin, “How America and China See Each Other”, Tạp chí Foreign Affairs (tháng 3/ tháng 4 năm 2014)
The Geopolitics of the United States, Part 1: The Inevitable Empire“, Stratfor.com, ngày 4 tháng Z năm 2014 ((https:/ / www.stratfor.com/analysis /geopolitics-united-states-part-1-inevitable-empire)
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, “Rise to World Power, 1867-1913”, A Short History Of the Department of State (history.state. gov/departmenthistory /short-history)
Châu Phi
Bloom, David E. và Sachs, Jeffrey D., “Geography, Demography, and Economic Growth in Africa“, Viện Phát triển Quốc tế Harvard, Đại học Harvard (tháng 10 năm 1998)
Chaves, lsaías, Engerman, Stanley L. và Robinson, James A., “Reinventing the Wheel: The Economic Benefits of Wheeled Transportation in Early Colonial British West Africa“”, tháng 2 năm 2012 (http:/ /scholar.harvard.edu/files / jrobinson/files/the_wheel_in_africa_february_2012.pdf)
Kasperson, Roger E. và Minphi, Julian V., The Structure 0ƒ Political Geography (New Brunswick, NỊ: Nhà xuất bản Transaction, 2011)
Tây Âu
Kagan, Robert, Oƒ Paradise and Pơuer (New York: Random House, 2003)
Ottens, Nick, ““Too Big for Europe: The Recurring German Problem“, Tạp chí Atlantic Sentinel, ngày 28 tháng 4, 2014
Speck, Ulrich, “Power and Purpose: German Foreign Policy at a Crossroads”, ngày 3 tháng 11 năm 2014(http:// Carnegieeurope.eu /publications /?fa=571 67)
Simon, Luis và Rogers, James, “The Return of European Geopolitics? All roads run through London”, tạp chí the RUSI Journal, tập 155, số 3 (2010), 57-63
Turchin, Peter, War and Peace and War (London: Plume Books, 2007)
Trung Đông
Fisher, Max, “40 Maps Which Explain The Middle East”, Vox. com, ngày 5 tháng 5 năm 2014 (http://www.vox.com/a/maps-explain-the-middle-east)
Malinowski, Jon C. (ed.), “lraq: A Geography“, Học viện Quân sự Hoa Kỳ, West Point, New York, 2004 (http:// wWww.usma.edu/gene/SiteAssets /SitePages/Publications/ Iraq%20A%20Geography.pdf?Mobile=1)
Ấn Độ và Pakistan
French, Patrick, India: A Portrait (London: Allen Lane, 2011)
“Geography of India“, MapsofIndia.com, ngày 12 tháng 11 năm 2014 (http://www.mapsofindia.com/geography/)
Viện Nghiên cứu Chiến tranh, “Pakistan and Afghanistan“ (2009)
Kreft, Dr. Heinrich, “The Geopolitical Importance of Pakistan”, Institut für Strategie- Politik- Sicherheits- und Wirtschaftsberatung (ISPSW), ngày 15 tháng 2 năm 2008 Musharraf, Pervez, ln The Line Oƒ Fire: A Memoir (New York: Eree PresS, 2008)
Châu Mỹ Latinh
Keen, Benjamin và Haynes, Keith, A History of Latin America, Volume 1 (Wadsworth: Cengage Learning, 2012)
Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Mỹ Latinh năm 2011 (http:// www.weforum.org /events/ worlđ-economic-forum-Latinh-america-2011)
Zovatto, Daniel, “Elections in the Southern Cone: Citizens Chose Continuity“, Brookings, ngày 30 tháng 10 năm 2014 (http://www.brookings. edu/research/ opinions/2014/10/30-democracy-alternation-Latinh-america-zovatto)
Triều Tiên và Nhật Bản
Chang, Gordon G., Nuclear Showdown: North Korea Takes On The World (London: Hutchinson, 2006)
Oberdorfer, Don, The Two Koreas (New York: Basic Books, 2001)
Arctic
Bjarnason, Björn, “Climate Change and Iceland’s Role in North Atlantic Security” (bài phát biểu), Trung tâm Belfer, Học viện quản lý nhà nước John F. Kennedy, Harvard, ngày 26 tháng 11 năm 2007
Conant, Eve, “Breaking the Ice: Russian Nuclear-Powered Ice-Breakers”, blog Scientific American, 8 tháng | năm 2012 (http:// blogs.scientificamerican.com/ øuest- blog/2012/09/08/ breaking-the-ice /)
Grydehøj, Anne, Grydehøj, Adam và Akrén, Maria, “The Globalization of the Arctic: Negotiating Sovereignty and Building Communities in Svalbard, Norway”, Tạp chí Island Studies Journal, tập 7, số 1 (2012), 99
Liên Hợp Quốc, “Part V: Exclusive Economic Zone”, Hiệp uớc UNCLOS (http://www.un.org/depts/los/convention_agreements /texts/“unclos/part5.htm)
Viện Hải dương học Woods Hole, “The Arctic: Exploration Timeline, Polar Discovery”, 2009 (http:// ›olardiscovery.whoi. Edu/arctic/330.html)
Tim Marshall
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

XXXXXTruyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt Phùng Cung sinh ra ở làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhưng...