Thứ Năm, 18 tháng 9, 2025

Những tù nhân của địa lý 1

Những tù nhân của địa lý 1

Ngày nay, chúng ta thường nghe nghe các từ: “địa chính trị”, “địa chiến lược” trên các phương tiện truyền thông. Điều đó chứng tỏ sự quan trọng của vị trí địa lý đối với các quốc gia hiện nay.
Trong cuốn Những tù nhân của địa lý này, Tim đã cho chúng ta thấy vai trò quan trọng then chốt của các yếu tố địa lý trong bối cảnh chính trị hiện đại. Ông vẫn luôn khẳng định một điều: “các nhân tố địa lý vốn đã góp phần xác định lịch sự, đa phần sẽ tiếp tục xác định tương lai của chúng ta”.
Như bạn đã biết, một đất nước được đóng khung bởi đường biên giới, dù làm bất cứ cách nào đất nước ấy cũng không vượt qua được đường biên giới của mình. Cho dù rộng lớn như Liên bang Nga, dân cư đông đúc như Trung Quốc, được hình thành từ rất nhiều hòn đảo như Nhật Bản, gặp nước láng giếng đáng ghét, liên miên khiêu chiến nhau như Ấn Độ và Pakistan hoặc đất nước của bạn lại nằm trong khu vực liên tục nóng trên bản tin thời sự hằng ngày như Trung Đông hoặc quanh năm lạnh giá như Bắc cực.
Một minh chứng cho nhận định trên của ông là nước Nga. Từ thời Pie đại đế hay Putin ngày nay nước Nga vẫn đau đầu với việc cảng biển bị đóng băng vào mùa đông. Bởi vậy, ngay khi có chính biến ở Ucraina Putin đã thôn tính ngay Crirmea bởi tầm quan trọng của cảng biển Sevastopol. Nước Nga sẵn sàng dùng quân sự để bảo vệ những gì mà họ cho là thiết yếu. Một vấn đề trọng yếu khiến nước Nga có tầm quan trọng, ảnh hưởng rất lớn trong khu vực chính là lượng dầu khí dồi dào nằm trong biên giới nước Nga khiến cho nhiều nước châu Âu lệ thuộc vào Nga.
Trung Quốc: một đất nước rộng lớn với dân số hơn một, với hơn 1 tỷ người cũng không thoát khỏi sự phụ thuộc vào yếu tố địa lý. Trung Nguyên với diện tích 160.000 dặm vuông nằm trong lưu vực sông Hoàng Hà, chạy xuống lưu vực sông Dương Tử, mật độ dân cư đông nhất trên thế giới. Tuy sông Hoàng Hà thường xuyên gây lũ lụt, tàn phá, song nó là cái nôi của nền văn minh, nơi người dân học làm ruộng, chế tạo giấy và thuốc súng. Trung Quốc đông dân và rộng lớn: đó là hai yếu tố thuận lợi quan trọng song cũng có những khó khăn kèm theo. Các chủng tộc khác ngoài tộc Hán như người Duy ngôn nhĩ đang đòi ly khai, có thể leo thang thành một cuộc nổi dậy bùng nổ hết cỡ.
Biên giới Đài Loan cũng là vấn đề không nhỏ đối với Trung Quốc. Giữa Trung Quốc và Thái Bình Dương là quần đảo mà Bắc Kinh gọi là quần đảo thứ nhất, đường 10 đoạn (đường lưỡi bò) bao gồm cả Đài Loan. Cuộc tranh chấp về quyền sở hữu trên 200 hòn đảo nhỏ đang khiến cho mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng ngày càng căng thẳng.
Châu Âu: Được dòng hải lưu giúp ban tặng một lượng mưa phù hợp cho sự phát triển nông nghiệp cùng với đất đai màu mỡ đã khiến cho mùa màng bội thu. Nhiệt độ châu Âu mùa đông còn đủ lạnh để tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn gây dịch bệnh. Châu Âu không có sa mạc, không còn núi lửa, sông ngồi thì dài và lặng, không chảy xiết, có thể dùng thuyền đi lại trên sông rất thuận tiện, thêm nữa lại có nhiều cảng biển.
Tuy vậy, riêng từng nước ở châu Âu lại cũng có những vấn đề khó khăn bởi vị trí địa lý riêng của mình. Ví như:
– Tây Ban Nha luôn phải vật lộn với các vùng đồng bằng ven biển đất đai khô cần, các con sông ngắn dẫn đến việc tiếp cận với các thị trường xung quanh.
– Hy Lạp lại là vấn đề khác, đồng bằng ven biển cũng không thuận lợi cho nông nghiệp. Nội địa cũng có những vách đá dựng đứng, vận chuyển trên sông cũng rất khó khăn.
Với nhiều vấn đề đã dẫn đến tình hình các nước Bắc âu trở nên giàu có hơn và là nhà tài trợ cho các nước Nam âu kinh tế kém phát triển và tồn tại một số mâu thuẫn nặng nề.
Châu Phi: Là một châu lục giầu tài nguyên, xong tài nguyên ấy lại bị gấp thế lực bên ngoài cướp bóc. Một trong những nước châu Phi có nền văn minh sớm nhất của nhân loại là Ai Cập. Quốc gia này phát triển rực rỡ, nhưng lại bị ngãng đường chính bởi yếu tố địa lý vây quanh mình: Ai Cập bị bao bọc bởi ba mặt là sa mạc, không một ngọn cây lớn nào có thể mọc được ở Ai cập, nên không có gỗ để đóng tàu dẫn đến không thể có lực lượng hải quân hùng mạnh.
Là một châu lục khô cằn, nên giữa các nước châu Phi luôn xảy ra tranh chấp nguồn nước, ví dụ: Ai cập với Ethiopia.
Dầu mỏ cũng là nguyên nhân xảy ra chiến tranh nội chiến ở Nicaragua, Angola…
Ấn độ, Pakistan và Nhật Bản, Triều tiền cùng có một yếu tố địa lý bất lợi là những người hàng xóm luôn lục đục. Nếu như Ấn Độ và Pakistan là mối quan hệ láng giềng không hề tốt đẹp sau khi thực dân Anh rút đi, tách Ấn độ thành 2 nước: Ấn Độ và Pakistan. Đường biên giới chung Kashmir chưa bao giờ yên ắng. Mâu thuẫn tôn giáo giữa Hindu và Hồi giáo, người Sikh và người Ấn. Vùng đất này ngày càng nóng lên khi xuất hiện Taliban và một số nhóm “thánh chiến” khác…
Thì Nhật Bản và Triều Tiên là mỗi bất hòa truyền kiếp xuất phát từ các hòn đảo, thêm nữa là ý thức hệ đối nghịch.
Chúng ta đang sống trong một thời đại bất ổn, mọi yếu tố đều ảnh hưởng đến sự phát triển của một quốc gia. Tuy còn có những bất đồng với quan điểm của tác giả song mình vẫn cho rằng đây là một cuốn sách đáng để đọc với nhiều luận điểm mới lạ, khiến người đọc phải suy nghĩ.
Lời tựa
Chúng ta đang sống trong một thời đại bất ổn khác thường, chuyện đó không có gì phải bàn cãi. Chúng ta được bảo rằng, thế giới chưa bao giờ bất định như bây giờ. Những phán đoán như vậy gợi nên những phản hồi thận trọng và thậm chí đa nghi hơn. Thế giới vốn dĩ vẫn luôn bất ổn, và tương lai vẫn luôn khó lường ngay chính từ định nghĩa của nó. Những mối lo âu hiện tại của chúng ta chắc chắn còn tệ hại hơn. Dù không nói đến điều gì khác, lễ kỷ niệm một trăm năm của sự kiện 1914 đủ để gợi nhắc chúng ta về điều đó.
Dù sao, chắc chắn những thay đổi căn bản đang diễn ra, và những thay đổi đó có ý nghĩa thực sự đối với tương lai của chúng ta và của con cái chúng ta, dù chúng ta đang sống ở đâu đi nữa. Những thay đổi về kinh tế, xã hội và nhân khẩu học, tất cả đều liên quan tới sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ, đều có những hệ lụy toàn cầu, cho thấy sự khác biệt rõ giữa thời đại chúng ta đang sống với những thời đại trước. Hẳn đây là lý do vì sao chúng ta nói rất nhiều về “tình trạng bất định khác thường“ và tại sao việc bình luận về “địa chính trị” lại trở thành một ngành đang phát triển.
Tim Marshall có thừa tư cách, cả về cá nhân và chuyên môn, để đóng góp cho cuộc tranh luận này. Ông đã trực tiếp tham gia vào nhiều quá trình phát triển ấn tượng nhất trong vòng hai mươi lăm năm qua. Như ông nhắc chúng ta trong Lời giới thiệu, ông từng có mặt tại tiền tuyến ở Balkan, Afghanistan và Syria. Ông nhận ra rằng các quyết định và các sự kiện, những mâu thuẫn quốc tế và những cuộc nội chiến, chỉ có thể được thấu hiểu bằng cách xem xét đầy đủ những hy vọng, sợ hãi và định kiến do lịch sử hình thành và đến lượt chúng đã bị thúc ép như thế nào bởi môi trường vật lý xung quanh – tức là địa lý – môi trường mà trong đó các cá nhân, xã hội và quốc gia đã phát triển.
Kết quả là, cuốn sách này chứa đầy những kiến giải sâu sắc có liên quan trực tiếp đến an ninh và đời sống ổn định của chúng ta. Điều gì đã tác động đến hành động của Nga tại Ukraine? Phải chăng (người phương Tây) chúng ta đã không thể lường trước được điều đó? Nếu như vậy thì tại sao? Moscow sẽ còn đẩy sự việc đi xa tới đâu nữa đây? Rốt cuộc, liệu Trung Quốc đã cảm thấy an toàn hay chưa trong phạm vi đường biên giới đất liền mà họ cho là tự nhiên, và điều này sẽ gây ảnh hưởng ra sao đến Hoa Kỳ, đến đường lối tiếp cận quyền lực hàng hải của Bắc Kinh? Điều này có ý nghĩa gì đối với các quốc gia khác trong khu vực, bao gồm cả Ấn Độ và Nhật Bản? Trong hơn hai trăm năm, Hoa Kỳ đã hưởng lợi từ những hoàn cảnh địa chính trị và nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng ưu đãi. Giờ đây, họ có được nguồn tài nguyên dầu khí trái với thông lệ. Liệu điều này có ảnh hưởng đến chính sách toàn cầu của họ hay không? Hoa Kỳ có lực lượng và khả năng phục hồi phi thường, vậy tại sao người ta lại nói về sự suy yếu của Hoa Kỳ nhiều như vậy? Liệu sự chia rẽ sâu sắc và những cảm xúc mãnh liệt tại Bắc Phi, Trung Đông và Nam Á có là thứ bất trị, hay chúng ta vẫn có thể tìm thấy hy vọng nào đó cho tương lai? Cuối cùng, và có lẽ là điều quan trọng nhất đối với Vương quốc Anh, một trong những nền kinh tế lớn nhất và mang tính toàn cầu nhất: châu Âu phản ứng thế nào với sự bấp bênh, xung đột ở gần và cả ở xa? Như Tim đã chỉ ra, trong bảy mươi năm qua (và đặc biệt là từ năm 1991), châu Âu đã trở nên ấm êm với hòa bình và thịnh vượng. Phải chăng chúng ta đang đứng trước nguy cơ chấp nhận điều đó như một sự hiển nhiên? Liệu rồi đây chúng ta vẫn hiểu được những gì đang xảy ra xung quanh mình chăng?
Nếu bạn muốn suy nghĩ về những câu hỏi trên, hãy đọc cuốn sách này.
Sir John Scarlett KCMG OBE
Cục trưởng Cục Tình báo (MI6), 2004-2009
Lời giới thiệu
Vladimir Putin nói mình là người có tín ngưỡng, nhiệt thành ủng hộ Giáo hội Chính thống Nga. Nếu quả thực như vậy, hẳn là mỗi đêm ông thường đi ngủ với lời cầu nguyện và chất vấn Thiên Chúa rằng: “Tại sao Người không tạo thêm chút núi non ở Ukraine? “
Giá như Chúa tạo ra những ngọn núi ở Ukraine, thì vùng bình nguyên mênh mông nay là Bắc Âu đã không phải là lãnh thổ từ đó khuyến khích những cuộc tấn công liên miên vào đất Nga. Nhưng sự thể đã vậy, Putin không còn lựa chọn nào khác: ông ít nhất phải cố kiểm soát đồng bằng này từ phía tây. Quốc gia nào cũng phải như vậy, dù lớn hay nhỏ. Bối cảnh địa lý cầm tù các nhà lãnh đạo của họ, cho họ ít lựa chọn và ít không gian để xoay xở hơn bạn tưởng. Điều này từng đúng với Đế chế Athens, Ba Tư hay Babylon và trước đó nữa; và đúng với mọi thủ lĩnh tìm kiếm một vùng địa thế cao hơn để che chở cho bộ lạc của mình.
Miền đất chúng ta sống vẫn luôn định hình chúng ta. Nó định hình những cuộc chiến tranh, quyền lực, những phát triển về chính trị và xã hội của những dân tộc hiện giờ đang cư trú trên mọi phần của địa cầu. Công nghệ dường như có thể vượt qua khoảng cách không gian tinh thần và vật chất giữa chúng ta nhưng chúng ta dễ quên rằng miền đất nơi chúng ta sinh sống, làm việc và nuôi dạy con cái là vô cùng quan trọng, và sự lựa chọn của những cá nhân lãnh đạo bảy tỉ cư dân của hành tinh này ở một mức độ nhất định sẽ luôn bị định hình bởi sông, núi; sa mạc, hồ và biển, là những thứ ràng buộc tất cả chúng ta – như xưa nay vẫn vậy.
Nói chung, không có chuyện nhân tố địa lý này quan trọng hơn những nhân tố địa lý kia. Núi non không quan trọng hơn sa mạc, cũng như sông ngòi không hơn gì rừng rậm. Trong các phần khác nhau của hành tinh, các đặc điểm địa lý khác nhau là một trong những nhân tố chính quyết định những gì con người có thể và không thể làm.
Nói chung, địa chính trị nhìn vào những cách thức theo đó các vấn đề quốc tế có thể được hiểu thông qua các nhân tố địa lý; không chỉ là cảnh quan tự nhiên – như những rào cản tự nhiên của núi non hoặc sự kết nối của mạng lưới sông ngòi – mà còn cả về khí hậu, nhân khẩu, các khu vực văn hóa và khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các nhân tố như vậy có thể tác động quan trọng đến nhiều khía cạnh khác nhau của nền văn minh, từ chiến lược chính trị và quân sự cho đến sự phát triển xã hội con người, bao gồm cả ngôn ngữ, thương mại và tôn giáo.
Những thực tế địa lý tự nhiên vốn làm nền tảng cho chính trị quốc gia và quốc tế thường bị bỏ qua trong các cuốn sách về lịch sử cũng như trong các báo cáo về thời sự thế giới. Địa lý học rõ ràng là một phần cơ bản của câu hỏi “tại sao“ cũng như câu hỏi “cái gì”. Lấy ví dụ như Trung Quốc và Ấn Độ: hai quốc gia vĩ đại với các quần thể dân cư khổng lồ chia sẻ một đường biên giới rất dài nhưng không đứng chung hàng về chính trị hoặc văn hóa. Chẳng ngạc nhiên nếu hai gã khổng lồ đó từng gây chiến với nhau vài ba lần, nhưng sự thực, ngoài trận chiến kéo dài một tháng vào năm 1962, họ chưa bao giờ đánh nhau thực sự. Tại sao? Bởi giữa họ là rặng núi cao nhất thế giới, và trên thực tế, việc đưa các binh đoàn lớn xuyên ngang hoặc vượt qua dãy Himalaya là điều không thể. Dĩ nhiên, khi công nghệ trở nên tinh vi hơn ắt sẽ có những cách để vượt qua trở ngại này, nhưng rào cần tự nhiên vẫn còn đó, và vì vậy cả hai quốc gia đều hướng chính sách đối ngoại của mình vào các khu vực khác trong khi vẫn để mắt trông chừng nhau.
Cá nhân các nhà lãnh đạo, các tư tưởng, công nghệ và những nhân tố khác, tất thảy đều có vai trò trong việc định hình các sự kiện, nhưng chúng là tạm thời. Mỗi thế hệ mới vẫn phải đối mặt với những chướng ngại tự nhiên do dãy Hindu Kush và dãy Himalaya tạo ra; những thách thức tạo ra bởi mùa mưa; và những bất lợi trong việc bị giới hạn khả năng tiếp cận các khoáng sản tự nhiên hoặc nguồn lương thực.
Tôi bắt đầu quan tâm đến chủ đề này khi theo dõi để tường thuật các cuộc chiến ở Balkan vào những năm 1990. Tôi đã quan sát tận mắt các nhà lãnh đạo của các sắc tộc khác nhau, ví dụ như Serbia, Croatia hay Bosnia, khi họ cố ý nhắc “bộ tộc” mình nhớ về sự phân chia từ thời cổ đại và, hắn nhiên, cả những mối nghi kỵ từ đời xưa, trong một khu vực tập trung nhiều sắc dân đa dạng. Một khi các nhà lãnh đạo đã chia rẽ các dân tộc, sẽ không mất nhiều công sức để đẩy các dân tộc ấy chống lại nhau.
Dòng sông Ibar ở Kosovo là một ví dụ hàng đầu. Sự cai trị của đế chế Ottoman đối với Serbia đã được củng cố nhờ trận chiến Kosovo Polje năm 1389, diễn ra gần nơi sông Ibar chảy qua thành Mitrovica. Suốt những thế kỷ sau đó, dân chúng người Serb bắt đầu rút lui sang bên kia dòng Ibar, trong khi dân Albania theo đạo Hồi dân dân từ vùng núi Malezija tràn xuống Kosovo, nơi họ trở thành đa số từ giữa thế kỷ 18.
Lướt nhanh tới thế kỷ 20, vẫn tồn tại một sự phân chia sắc tộc – tôn giáo rõ ràng được đánh dấu bằng dòng sông này. Sau đó vào năm 1999, bị vùi dập bởi NATO từ trên không và Quân Giải phóng Kosovo trên mặt đất, quân đội Yugoslav (Serbia) rút lui qua sông Ibar, nhanh chóng theo sau họ là hầu hết số dân cư Serbia còn lại. Con sông trở thành đường biên giới de facto (trên thực tế) của cái mà một số quốc gia hiện nay công nhận là một nhà nước Kosovo độc lập.
Thành Mitrovica cũng là nơi lực lượng tiền phương của lục quân NATO dừng chân. Trong suốt cuộc chiến ba tháng này đã có những đe dọa úp mở rằng NATO có ý định xâm chiếm toàn bộ Serbia. Sự thực thì những sự ràng buộc cả về địa lý cũng như chính trị cũng có nghĩa là các lãnh đạo NATO không bao giờ thực sự có được lựa chọn đó. Hungary đã nói thẳng là họ sẽ không cho phép một cuộc xâm lược phát xuất từ lãnh thổ của họ, vì họ e sợ sự trả thù nhắm vào 350.000 người sắc tộc Hungary sống ở miền Bắc Serbia. Giải pháp khác là xâm chiếm từ phía nam, cách này có thể giúp họ tiến tới sông Tbar nhanh gấp đôi; nhưng nếu vậy NATO sẽ phải đối mặt với những dãy núi chắn ngay trên đầu họ.
Tôi đang làm việc với một nhóm người Serbia tại Belgrade vào thời điểm ấy và hỏi họ chuyện gì sẽ xảy ra nếu NATO tiến vào: “Tim ạ, chúng tôi sẽ bỏ máy ảnh xuống và cầm súng lên”, đó là câu trả lời của họ. Họ là những người dân Serbia theo chủ nghĩa tự do, những người bạn tốt của tôi và những người phản kháng chính phủ của họ, nhưng họ vẫn lôi bản đồ ra để chỉ cho tôi thấy nơi người Serbia sẽ bảo vệ lãnh thổ của mình trong vùng núi non, và nơi NATO sẽ phải dừng bước. Cũng có đôi chút khuây khỏa khi nhận được một bài học địa lý về lý do tại sao những lựa chọn của NATO bị hạn chế nhiều hơn so với những gì cỗ máy tuyên truyền Brussels1 công bố.
Sự hiểu biết về tầm quan trọng mang tính quyết định của cảnh quan tự nhiên trong việc đưa tin tức ở Balkan đã giúp tôi đứng vững trong những năm tiếp theo. Ví dụ, vào năm 2001, vài tuần sau sự kiện ngày 11 tháng Chín, tôi đã chứng kiến một minh chứng về việc khí hậu, thậm chí với công nghệ hiện đại, vẫn đóng vai trò quyết định ra sao đến những khả năng quân sự của thậm chí một đội quân hùng mạnh nhất thế giới. Tôi đang ở miền Bắc Afghanistan, đã vượt con sông biên giới từ Tajikistan bằng bè, để liên lạc với quân Liên minh phương Bắc (Northern Alliance) khi ấy đang chiến đấu với Taliban.
Các máy bay tiêm kích và máy bay ném bom của Hoa Kỳ bay ngang trên đầu, bắn phá vào các cứ điểm của Taliban và Al-Qaeda trên những đồng bằng và ngọn đồi lạnh lẽo đầy khói bụi ở phía đông Mazar-e- Sharif để dọn đường cho bộ binh tiến vào Kabul. Sau một vài tuần, rõ ràng quân Liên minh phương Bắc đang rục rịch để di chuyển về phía nam. Và rồi cả thế giới thay màu.
Cơn bão cát dữ dội nhất tôi từng trải qua thổi tới, biến tất cả mọi thứ thành màu vàng nhờ nhờ. Tại đỉnh điểm của cơn bão, bạn không thể nhìn xa hơn một vài mét trước mặt, và điều duy nhất rõ ràng là công nghệ vệ tinh ở đỉnh cao của khoa học của người Mỹ đã bất lực, đui mù khi đối mặt với khí hậu của vùng đất hoang đã này. Tất cả mọi người, từ Tổng thống Bush và Hội đồng tham mưu Liên quân cho đến quân đội Liên minh phương Bắc trên bộ, chỉ còn cách chờ đợi. Sau đó trời đổ mưa, còn cát đã phủ lên mọi thứ và ai nấy đều mình mẩy lấm bùn. Mưa rơi nặng hạt đến nỗi những túp lều đóng bùn nơi chúng tôi trú ngụ trông như thể đang tan chảy. Một lần nữa, rõ ràng ý định tiến quân về phía nam đã bị trì hoãn cho đến khi địa lý đã hoàn tất việc cất lên tiếng nói của nó. Các quy luật của địa lý, mà Hannibal, Tôn Tử và Alexander Đại đế đều biết, vẫn thích dụng cho các nhà lãnh đạo ngày nay.
Gần đây hơn, năm 2012, tôi nhận được một bài học địa-chiến lược nữa: trong khi Syria sa vào cuộc nội chiến bùng nổ hết cỡ, tôi đứng trên một đỉnh đôi tại Syria, nhìn xuống thung lũng phía nam thành phố Hama, và thấy một xóm nhỏ đang bốc cháy ở phía xa. Những người bạn Syria chỉ cho tôi ngôi làng lớn hơn nhiều cách đó khoảng một dặm, họ nói đó là nơi cuộc tấn công được bắt đầu. Sau đó họ giải thích rằng, nếu một phe có thể đẩy một số người vừa đủ từ phe kia ra khói thung lũng, khi đó thung lũng này sẽ được sáp nhập vào một vùng đất khác vốn dẫn tới con đường cao tốc duy nhất của đất nước, và như vậy sẽ hữu ích trong việc khoét được một máng từ vùng đất có thể sinh sống tiếp giáp nhau, mà một ngày nào đó có thể tạo nên một nhà nước nhỏ nếu như Syria không thể tái hợp một lần nữa. Nơi trước đó tôi chỉ thấy là một ngôi làng nhỏ đang bốc cháy, thì giờ đây tôi đã nhận ra tầm quan trọng chiến lược của nó và hiểu các thực tế chính trị được định hình ra sao bởi những thực tế địa lý tự nhiên cơ bản nhất.
Địa chính trị ảnh hưởng đến mọi quốc gia, dù trong thời chiến, như trong các ví dụ ở trên, hay trong thời bình. Ở mỗi một vùng đất mà bạn có thể nhớ ra, đều sẽ có vài ví dụ. Trong những trang sách này, tôi không thể khám phá được tất cả: Canada, Úc và Indonesia chỉ được đề cập ngắn gọn, mặc dù tôi có thể dành hẳn một cuốn sách riêng cho Úc và cách thức mà theo đó địa lý của quốc gia này đã định hình mối liên hệ của nó với các vùng khác của thế giới, về vật chất cũng như văn hóa. Thay vào đó, tôi sẽ tập trung vào các thế lực và các khu vực có thể minh họa tốt nhất các điểm chính của cuốn sách này, giới thiệu khái quát di sản địa chính trị từ quá khứ (sự hình thành quốc gia); những tình huống cấp bách nhất mà chúng ta phải đối mặt ngày hôm nay (những bất ổn liên tục ở Ukraine, ảnh hưởng bành trướng của Trung Quốc); và nhìn tới tương lai (sự cạnh tranh ngày càng tăng ở Bắc cực).
Trong chương về Nga, chúng ta thấy sự ảnh hưởng của Bắc cực, và khí hậu băng giá của nó đã hạn chế khả năng để nước Nga trở thành một thế lực toàn cầu thực sự như thế nào. Trong chương về Trung Quốc, chúng ta thấy những hạn chế của một thế lực không có một lực lượng hải quân toàn cầu, và hiện Trung Quốc đang tìm cách thay đổi điều này với sự khẩn trương thấy rõ. Chương về Hoa Kỳ minh họa cho các quyết định khôn ngoan để mở rộng lãnh thổ trong những khu vực trọng điểm cho phép Hoa Kỳ có được vận mệnh hiện đại của mình trong vai trò một siêu cường trên hai đại dương như thế nào. Châu Âu cho ta thấy giá trị của bình nguyên và các con sông tàu thuyền dễ lưu thông trong việc kết nối các vùng miền với nhau và tạo ra một nền văn hóa có khả năng khởi động một thế giới hiện đại, trong khi châu Phi là một ví dụ điển hình về những ảnh hưởng của sự cô lập.
Chương về Trung Đông cho thấy lý do tại sao việc vạch ranh giới trên bản đồ nếu xem nhẹ địa thế, và quan trọng không kém, xem nhẹ các nền văn hóa địa lý trong một khu vực xác định, thì sẽ gây ra hệ lụy bất ổn. Chúng ta sẽ còn tiếp tục chứng kiến sự bất ổn đó ngay trong thế kỷ này. Chủ đề tương tự cũng được trình bày trong các chương về châu Phi và Ấn Độ – Pakistan. Những cường quốc thuộc địa đã vạch ra các đường biên giới nhân tạo trên giấy, chẳng đếm xỉa gì đến những thực tế địa lý tự nhiên của khu vực đó, kết quả là đã tạo ra một số trong những biên giới nhân tạo nhất mà thế giới từng chứng kiến. Hiện tại, ở Trung Đông một nỗ lực đang được thực hiện để vẽ lại những đường biên giới đó bằng máu.
Nhật Bản và Hàn Quốc rất khác so với trường hợp của Kosovo hay Syria, ở chỗ họ hầu như đông nhất về sắc tộc. Nhưng họ có những vấn đề khác: Nhật Bản là một quốc đảo không có tài nguyên thiên nhiên, trong khi sự chia cắt hai miền Triều Tiên vẫn còn là vấn đề đang chờ được giải quyết. Trong khi đó, châu Mỹ Latinh là một trường hợp bất thường. Ở xa về phía nam, Mỹ Latinh bị cắt đứt với thế giới bên ngoài khiến việc giao thương quốc tế trở nên khó khăn, và địa lý nội bộ của nó là rào cản đối với việc hình thành một khối thương mại thành công như Liên minh châu Âu.
Sau cùng, chúng ta đến một trong những nơi hoang vu nhất trên Trái đất – Bắc cực. Trong hầu hết lịch sử, con người đã phớt lờ nó, nhưng trong thế kỷ 20, chúng ta tìm thấy nguồn năng lượng tại đây, và nền ngoại giao trong thế kỷ 21 sẽ xác định xem ai là người sở hữu – hay buôn bán – nguồn tài nguyên đó.
Việc nhìn nhận địa lý như một nhân tố quyết định trong tiến trình lịch sử nhân loại có thể bị diễn giải là một cách nhìn ảm đạm về thế giới, đó là lý do tại sao nó không được ưa thích trong một số cộng đồng trí thức. Nó cho thấy tự nhiên có quyền lực mạnh hơn con người, và chúng ta cũng chỉ có thể làm được đến thế trong việc quyết định số phận của chính mình mà thôi. Tuy nhiên, các nhân tố khác rõ ràng cũng có ảnh hưởng đến các sự kiện. Bất kỳ người có lý trí nào đều có thể nhận thấy công nghệ hiện đang bẻ cong các quy tắc thép của địa lý.
Công nghệ đã tìm ra phương cách để vượt lên trên, luồn xuống dưới, hoặc xuyên qua một số rào cản. Máy bay Hoa Kỳ giờ đây có thể bay thẳng một lèo từ Missouri tới Mosul để thực hiện nhiệm vụ ném bom mà không cần phải đáp dọc đường để tiếp nhiên liệu. Việc này có nghĩa là, cùng với các nhóm tác chiến hàng không mẫu hạm lớn, Hoa Kỳ sẽ hoàn toàn không cần một đồng minh hay một thuộc địa để mở rộng tầm với ra khắp thế giới. Tất nhiên, nếu có một căn cứ không quân trên đảo Diego Garcia, hoặc quyền xuất nhập thường trực vào hải cảng ở Bahrain, họ sẽ có nhiều lựa chọn hơn; nhưng điều đó không nhất thiết cho lắm.
Như vậy, giống như Internet, không lực cũng đã thay đổi các quy tắc [của địa lý], dù theo một cách khác. Nhưng địa lý, và cách thức mà lịch sử của các quốc gia đã tự thiết lập trong địa lý ấy, vẫn rất quan trọng đối với sự hiểu biết của chúng ta về thế giới hôm nay và tương lai của chúng ta.
Xung đột ở Iraq và Syria có nguồn gốc từ việc các cường quốc thuộc địa phớt lờ những quy tắc về địa lý, trong khi sự kiện Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng lại phát sinh từ việc tuân theo những quy tắc này; chính sách đối ngoại toàn cầu của Hoa Kỳ cũng bị định đoạt bởi chúng, và thậm chí sự phát huy quyền lực của vị thế siêu cường mới nhất này cũng chỉ có thể làm giảm nhẹ bớt các quy tắc mà thiên nhiên, hoặc Thiên Chúa, đã an bài.
Những quy tắc đó là gì? Khởi đầu sẽ là vùng đất nơi quyền lực khó bề phòng vệ, và vì thế trong nhiều thế kỉ, các nhà lãnh đạo của nó đã bù đắp điều này bằng cách bành trướng ra bên ngoài. Đó là vùng đất mà phía Tây của nó không có núi non: nước Nga.
Chương 1 - Nga
Rộng lớn (tính từ; so sánh: rộng lớn hơn, rộng lớn nhất): diện tích hay kích thước rộng lớn, mênh mông.
Nga là một đất nước rộng lớn. Rộng lớn nhất. Mênh mông. Diện tích của Nga là sáu triệu dặm vuông, bao phủ mười một múi giờ; là quốc gia lớn nhất thế giới.
Rừng, hồ, sông ngòi, lãnh nguyên đóng băng, thảo nguyên, rừng taiga và vùng núi của nước Nga, tất thảy đều mênh mông. Kích thước này đã hằn sâu trong nhận thức tập thể của chúng ta. Dù chúng ta có ở nơi đâu, thì nước Nga vẫn luôn ở đó, có thể nằm về phía đông, phía tây, phía bắc hay phía nam – nhưng luôn luôn có Gấu Nga vĩ đại.
Không phải một điều tình cờ mà gấu là biểu tượng của quốc gia bao la này. Gấu luôn ở đó, đôi khi ngủ đông, đôi khi gầm gừ, oai phong nhưng hung dữ. Gấu là một từ có trong tiếng Nga, nhưng người Nga luôn ngại ngần khi gọi sinh vật này bằng tên thật, họ sợ rằng điều đó sẽ gợi nhắc đến mặt tối của nó. Họ gọi nó là medved, “kẻ thích mật ong”.
Ít nhất có 120.000 medved sống tại một đất nước năm vắt từ châu Âu sang châu Á. Phía tây của Dãy núi Ural là phần nước Nga thuộc châu Âu. Phía đông dãy núi là Siberia, trải dài một lèo đến tận biển Bering và Thái Bình Dương. Thậm chí ngay trong thế kỷ 21, đi ngang qua đất nước này bằng đường sắt cũng phải mất sáu ngày. Các nhà lãnh đạo của nước Nga phải nhìn xuyên suốt những khoảng cách như vậy, những khác biệt như vậy, rồi đề ra những chính sách phù hợp; trong mấy thế kỷ nay họ đã hướng mắt về mọi phương, nhưng chủ yếu tập trung vào phía tây.
Khi các nhà văn tìm đường đến trái tim của chú gấu này, họ thường sử dụng lời nhận xét nổi tiếng về nước Nga của Winston Churchill, vào năm 1939: “Đó là một câu đố được bọc trong một bức màn bí ẩn, giấu bên trong một cỗ máy mã hóa”, nhưng ít người nói trọn câu nói ấy, nó kết thúc bằng, “nhưng có thể có một chiếc chìa khóa. Chìa khóa đó chính là lợi ích quốc gia Nga”. Bảy năm sau, ông đã dùng chiếc chìa khóa này để mở ra đáp án của ông cho câu đố đó và khẳng định, “Tôi bị thuyết phục rằng không có gì họ ngưỡng mộ bằng sức mạnh, và không có gì họ ít tôn trọng bằng sự yếu đuối, đặc biệt là sự yếu đuối về quân sự.”
Có thể lúc bấy giờ ông đang nói về giới lãnh đạo đương nhiệm của Nga, bất chấp việc được bao bọc kỹ trong tấm áo dân chủ, về bản chất vẫn là một thể chế độc tài lấy lợi ích quốc gia làm cốt lõi.
Khi Vladimir Putin không nghĩ về Thiên Chúa, hay những rặng núi, ông ta nghĩ về bánh pizza. Cụ thể là, hình dạng của một lát bánh pizza – hình nêm.
Đầu nhọn của hình nêm này là Ba Lan. Nơi đây, dải Đồng bằng Bắc Âu mênh mông trải từ nước Pháp đến dãy Ural (rặng núi kéo dài khoảng một ngày đặm từ nam chí bắc, tạo thành một ranh giới tự nhiên giữa châu Âu và châu Á) chỉ rộng ba trăm dặm. Bình nguyên này chạy từ biển Baltic ở phía bắc đến dãy núi Carpathian Ở phía nam: Đồng bằng Bắc Âu bao quanh miền Tây và miền Bắc nước Pháp, nước Bỉ, Hà Lan, miền Bắc nước Đức và hầu hết Ba Lan.
Từ góc nhìn của Nga, đây là một thanh kiếm mà hai cạnh lưỡi đều sắc. Ba Lan hiện diện như một hành lang khá hẹp mà Nga có thể đưa quân đội đi xuyên qua khi cần thiết và nhờ vậy ngăn chặn kẻ địch tiến đến Moscow. Nhưng từ đầu nhọn này; hình nêm cũng bắt đầu trải rộng ra; khi chạm đến biên giới Nga, nó đã rộng hơn hai ngàn dặm, và từ đó đi tới Moscow và xa hơn nữa địa hình thảy đều bằng phẳng. Ngay cả khi có một quân đội lớn, bạn cũng phải vô cùng vất vả để phòng thủ bằng vũ lực đọc toàn bộ tuyến đường này. Tuy nhiên, Nga chưa bao giờ bị xâm chiếm từ hướng này, một phần là nhờ chiều sâu có tính chiến lược của nó. Một đội quân đến thời điểm tiếp cận được Moscow thường phải duy trì một đường hậu cần dài dằng dặc đến mức không kham nổi, một sai lầm mà Napoleon đã phạm phải vào năm 1812, và Hitler lặp lại năm 1941.
Tương tự tại miền Viễn Đông nước Nga, chính địa lý đã che chở cho đất nước này. Việc di chuyển một quân đội từ châu Á lên phần đất Nga thuộc châu Á là vô cùng khó khăn; hầu như không có gì để làm mục tiêu tấn công ngoài tuyết, và bạn bất quá cũng chỉ có thể tiến tới dãy Ural. Sau đó, bạn sẽ chỉ chiếm được một phần lãnh thổ mênh mông, trong những điều kiện khắc nghiệt, với đường tiếp tế hậu cần dài dặc cùng nguy cơ bị phản công thường trực.
Bạn có lẽ cho rằng không ai từng có ý định xâm lược nước Nga, nhưng đó không phải là suy nghĩ của người Nga, và họ có lý. Trong vòng năm trăm năm trở lại đây, họ đã bị xâm lược một vài lần từ phía tây. Người Ba Lan vượt qua Đồng bằng Bắc Âu năm 1605, sau đó là người Thụy Điển dưới thời của vua Charles XII vào năm 1708, người Pháp dưới quyền Napoleon vào năm 1812, và người Đức hai lần, trong cả hai cuộc Thế chiến năm 1914 và 1941. Nhìn theo một cách khác, nếu tính từ cuộc xâm lược của Napoleon năm 1812, rồi tính cả cuộc Chiến tranh Crimea năm 1853-1856 và hai cuộc Thế chiến cho đến năm 1945, như vậy người Nga phải chiến đấu trong hoặc xung quanh Đông bằng Bắc Âu trung bình ba mươi ba năm một lần.
Vào cuối Thế chiến II năm 1945, người Nga chiếm giữ một vùng lãnh thổ chiếm đoạt được từ nước Đức tại Trung và Đông Âu, một số vùng trở thành một phần của Liên bang Xô viết, khi nó ngày càng trở nên giống với Đế chế Nga cổ. Năm 1942, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) được hình thành bởi sự kết hợp của châu Âu và các quốc gia Bắc Mỹ, để phòng vệ châu Âu và Bắc Đại Tây Dương trước hiểm họa tấn công từ phía Liên bang Xô viết. Để đáp lại, đa số các quốc gia cộng sản ở châu Âu – dưới sự lãnh đạo của Nga – thành lập Khối Hiệp ước Warsaw năm 1255, một hiệp định phòng thủ và tương trợ về quân sự. Hiệp ước này được coi là vững như thành đông, nhưng sau vài năm của thập niên 1980, nó đã bị gỉ sét, và sau khi bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, nó tan thành khói bụi.
Tổng thống Vladimir Putin không phải người hâm mộ vị tổng thống Liên Xô cuối cùng, Mikhail Gorbachev. Ông đổ lỗi cho Gorbachev vì đã làm suy yếu an ninh Nga và đề cập đến sự tan rã của Liên bang Xô viết trong những năm 1990 như “một thảm họa địa chính trị lớn của thế kỷ”.
Kể từ đó, người Nga lo lắng canh chừng trong khi NATO cứ từ từ lén đến gần, kết nạp thêm các nước mà Nga tuyên bố là các nước này đã từng hứa sẽ không tham gia: Séc, Hungary và Ba Lan vào năm 1999, Bulgaria, Estonia, Latvia, Lithuania, Romania và Slovakia vào năm 2004 và Albania trong năm 2009. NATO nói rằng chẳng có một cam kết nào như vậy từng được đưa ra.
Nga, như mọi cường quốc khác, đang nghĩ cho một trăm năm tới và hiểu rằng trong khoảng thời gian đó, mọi thứ đều có thể xảy ra. Một thế kỷ trước, ai có thể đoán được là các lực lượng quân đội Hoa Kỳ sẽ đóng quân tại Ba Lan và các quốc gia vùng Baltic, cách Moscow chỉ vài trăm dặm? Đến năm 2004, mới mười lăm năm kể từ năm 1989, tất cả các thành viên cũ của Khối Hiệp ước Warsaw trước đây, trừ Nga, đều tham gia NATO hoặc Liên minh châu Âu.
Tâm trí của chính quyền Moscow nhờ đó mà đã được tập trung, và nhờ cả lịch sử của nước Nga nữa.
Nước Nga là một khái niệm khởi đầu từ thế kỷ 9 và là một liên bang lỏng lẻo của các bộ lạc Đông Slav được gọi là Rus Kiev, gốc gác tại Kiev và các thành thị khác dọc theo sông Dnieper, ngày nay thuộc Ukraine. Người Mông Cổ trong khi mở rộng đế quốc của họ, đã liên tục tấn công vùng đất này từ phía nam và phía đông, sau cùng tràn vào vùng đất này vào thế kỷ 13. Khi đó, nước Nga non trẻ được dời về hướng đông bắc, trong và xung quanh thành phố Moscow. Nước Nga sơ khai này, được gọi là Đại Công quốc Muscovy, không thể phòng thủ được. Không có núi, không có sa mạc chỉ có vài con song. Bốn bề đều là bình nguyên, và bên kia thảo nguyên ở phía nam và phía đông là người Mông Cổ. Kẻ xâm lược có thể tiến vào bất kỳ nơi nào họ chọn, và hầu như không có vị trí phòng thủ tự nhiên nào để đồn trú.
Xuất hiện Ivan Bạo Chúa, vị Sa Hoàng đầu tiên. Ông ta đã thực hiện khái niệm tấn công để phòng thủ – có nghĩa là bắt đầu sự bành trướng bằng cách củng cố ngay từ cứ địa của mình và hướng ra bên ngoài. Cách này sẽ dẫn tới sự vĩ đại. Đây là một con người đã chủ trương lý thuyết cho rằng cá nhân có thể thay đổi lịch sử. Nếu không có nhân vật kết hợp cả tính tàn nhẫn quyết liệt và có tầm nhìn này, lịch sử Nga đã rất khác với ngày nay.
Nước Nga non trẻ bắt đầu bành trướng từ từ dưới thời ông nội của Ivan, tức Ivan Đại đế, nhưng sự bành – trướng này đã tăng tốc sau khi Ivan trẻ lên nắm quyền năm 1533. Nga xâm lấn về phía đông đến dãy Ural, về phía nam đến biển Caspi và phía bắc tiến đến vành đai Bắc cực. Nga tiếp cận được biển Caspi, sau đó là biển Đen, do vậy nó tận dụng lợi thế của dãy Caucasus làm thành rào cản một phân giữa nó và Mông Cổ. Một căn cứ quân sự được xây dựng ở Chechnya nhằm ngăn chặn bất kỳ kẻ nào lăm le tấn công, dù là những đoàn kỵ binh thiện nghệ của Mông Cổ, của Đế chế Ottoman hay của người Ba Tư.
Tuy có vài thất bại, nhưng trong thế kỷ tiếp theo, Nga đã vượt qua dãy Ural và tiến dần vào Siberia, cuối cùng sáp nhập toàn bộ dải đất đến bờ Thái Bình Dương xa tít về phía đông. Giờ đây, người Nga đã có một vùng đệm không hoàn chỉnh và một vùng nội địa – có chiều sâu chiến lược – một nơi nào đó có thể rút về trong trường hợp bị xâm lấn. Sẽ không có ai tấn công họ bằng vũ lực từ Bắc Băng Dương, cũng không có ai cố vượt qua dãy Ural để đến vùng đất của họ. Dải đất của họ đang trở thành nước Nga như chúng ta biết hiện nay, và để đến được nơi đó từ phía nam hay đông nam, bạn phải có một đội quân khổng lồ, một đường tiếp vận hậu cần rất dài và phải chiến đấu để vượt qua nhiều cứ điểm phòng ngự.
Vào thế kỷ 18, dưới thời Peter Đại đế, người đã sáng lập Đế chế Nga vào năm 1721, và sau đó là Nữ hoàng Catherine Đại đế, nước Nga nhìn về hướng tây, mở rộng đế chế thành một trong những thế lực lớn của châu Âu, được thôi thúc chủ yếu bởi thương mại và chú nghĩa dân tộc. Một nước Nga an toàn hơn và hùng mạnh hơn giờ đây có đủ sức chiếm cứ Ukraine và vươn tay đến dãy Carpathian. Nó đã chiếm hầu hết những gì mà ngày nay chúng ta gọi là các quốc gia vùng Baltic – Lithuania, Latvia và Estonia. Do đó, nó được che chở khỏi bất kỳ cuộc đột nhập nào qua đường bộ, hoặc từ phía biển Baltic.
Giờ đây, Nga đã có một vành đai khổng lồ quây quanh Moscow, trung tâm của đất nước. Bắt đầu từ Bắc cực, vành đai này đi xuống vùng Baltic, qua Ukraine, rồi đến dãy Carpathian, biển Đen, Caucasus và Caspi, quay trở lại dãy Ural chạy dài đến Vành đai Bắc cực.
Trong thế kỷ 20, nước Nga cộng sản đã thành lập Liên bang Xô viết. Đằng sau lời hùng biện “Người lao động toàn thế giới liên hiệp lại”, Liên Xô rõ ràng chỉ đơn giản là Đế quốc Nga mà thôi. Sau Chiến tranh Thế giới II, nó trải dài từ Thái Bình Dương đến Berlin, từ Bắc cực đến biên giới Afghanistan – một siêu cường kinh tế; chính trị và quân sự, chỉ có Hoa Kỳ mới là đối thủ.
Nga là đất nước lớn nhất thế thế giới, kích cỡ gấp đôi Hoa Kỳ hoặc Trung Quốc, gấp năm lần Ấn Độ, gấp hai mươi lăm lần Vương quốc Anh. Tuy nhiên, nó có dân số tương đối nhỏ, chỉ khoảng 144 triệu người, ít hơn cả Nigeria hoặc Pakistan. Mùa canh tác nông nghiệp ngắn và phải chật vật lắm Nga mới phân phối tương đối thỏa đáng hoa màu thu hoạch cho vùng đất trải dài mười một múi giờ mà Moscow cai quản.
Nga, cho tới chân dãy Ural, là một cường quốc châu Âu trong chừng mực nó tiếp giáp với đại lục châu Âu, nhưng nó không phải là một cường quốc châu Á mặc dù có chung đường biên giới với Kazakhstan, Mông Cổ, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên và có chung hải giới với một số nước bao gồm Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Cựu ứng cử viên phó tổng thống Hoa Kỳ, Sarah Palin từng bị chế giễu khi báo chí đưa tin bà nói rằng “Bạn thực sự có thể nhìn thấy nước Nga từ vùng đất này ở Alaska”, một câu nói bị bóp méo bởi cách đưa tin của truyền thông thành “Bạn có thể nhìn thấy nước Nga từ cửa nhà tôi”. Điều bà thực sự đã nói là, “Bạn có thể thấy nước Nga từ dải đất này của Alaska, từ một hòn đảo tại Alaska”. Bà đã nói đúng. Một hòn đảo Nga trong eo biển Bering cách một hòn đảo của Hoa Kỳ, đảo Little Diomede, chỉ có hai dặm rưỡi và có thể quan sát bằng mắt thường. Bạn thực sự có thể nhìn thấy nước Nga từ Hoa Kỳ.
Cao trên đỉnh núi trong dãy Ural có một cây thập giá đánh dấu nơi mà châu Âu dừng lại và châu Á bắt đầu. Khi bầu trời quang đãng, đó là một nơi tuyệt đẹp và bạn có thể vươn tầm mắt qua những rừng thông trải dài nhiều dặm về phía đông. Vào mùa đông, tuyết bao phủ khắp nơi, cũng như bình nguyên Siberia bạn nhìn thấy dưới chân trải dài về phía thành phố Yekaterinburg. Khách du lịch thích đến thăm nơi này để được đặt một chân ở châu Âu và một chân ở châu Á. Cây thập tự đó là thứ để nhắc bạn nhớ rằng nước Nga rộng lớn thế nào khi bạn biết nơi đặt nó chỉ là một phần tư quãng đường đi ngang qua đất nước này. Bạn có thể đã đi 1.500 dặm từ Saint Petersburg, xuyên qua miền tây nước Nga, để đến được dãy Ural này, nhưng bạn còn phải đi 4.500 dặm nữa trước khi đến được eo biển Bering, để có thể trông thấy bà Palin, ở phía đối diện, là Alaska thuộc Hoa Kỳ.
Chẳng bao lâu sau khi Liên Xô sụp đổ, tôi đã đến Ural, tại điểm mốc nơi châu Âu trở thành châu Á, dẫn theo một tổ quay phim người Nga. Người quay phim là một cựu binh trong nghề làm phim, tóc hoa râm, lầm lì, khắc kỷ, và là con trai của một người quay phim của Hồng Quân, đã từng quay rất nhiều thước phim trong cuộc vây hãm Stalingrad của người Đức. lôi hỏi ông, “Vậy ông là người châu Âu hay là người châu Á?” Ông nghĩ vài giây, rồi trả lời, “Đều không phải – tôi là người Nga“.
Vì nhiều lý do, Nga không phải là một thế lực châu Á, bất kể đặc tính Âu châu của nước này là nhiều hay ít. Mặc dù 75% lãnh thổ của nó nằm ở châu Á, nhưng chỉ có 22% dân sống tại đó. Siberia có thể là: “chiếc rương báu vật” của nước Nga, chứa đựng phần lớn tài nguyên khoáng sản, dầu khí, nhưng đó là một vùng đất khắc nghiệt, đóng băng hàng tháng liền, với những khu rừng bạt ngàn (rừng taiga), đất đai quá cằn cỗi không thể canh tác và những vùng đầm lầy rộng lớn. Chỉ có hai mạng lưới đường sắt chạy từ tây sang đông – Tuyến đường Xuyên Siberia và Tuyến đường Baikal-Amur. Chỉ có vài tuyến đường vận chuyển bắc nam và do đó không có cách nào dễ dàng để Nga phát huy quyền lực của mình về phía nam tới Mông Cổ hoặc Trung Quốc hiện đại: họ thiếu nguồn nhân lực và: đường tiếp vận để làm điều đó.
Trung Quốc cũng rất có thể kiểm soát được một phần của Siberia trong tương lai xa, nhưng điều này có thể nhờ vào tỉ lệ sinh đẻ của nước Nga giảm và dân Trung Quốc di cư lên phía bắc. Ngay hiện giờ, xa về phía tây đến tận Siberia lầy lội, giữa dãy Ural ở phía tây và sông Yenisei cách một ngàn dặm về phía đông, bạn cũng có thể bắt gặp các nhà hàng Trung Quốc trong hầu hết các thị trấn và thành phố. Đang có thêm nhiều doanh nghiệp khác nhau tràn đến những không gian thưa thớt dân cư của vùng Viễn Đông của Nga thậm chí càng có nhiều khả năng chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc hơn, và rốt cuộc là theo sự kiểm soát chính trị của họ.
Bên ngoài miền đất trung tâm của Nga, phần lớn dân số của Liên bang Nga không thuộc sắc tộc Nga và chẳng mấy trung thành với Moscow, dẫn đến một hệ thống an ninh khắt khe tương tự như thời kỳ Liên bang Xô viết. Trong thời kỳ đó, Nga thực tế là một thế lực thực dân cai trị các quốc gia và các dân tộc mà họ cảm thấy mình không có gì chung với những ông chú của họ; các bộ phận của Liên bang Nga – ví dụ như Chechnya và Dagestan ở vùng Caucasus – vẫn giữ cảm nhận ấy cho tới nay.
Vào cuối thế kỷ trước, do căng mình quá sức, chỉ tiêu nhiều hơn lượng tiền kiếm được, nền kinh tế của ngôi nhà thương điên trên một vùng đất không dành cho con người và thất bại ở vùng núi non Afghanistan, tất cả đã dẫn tới sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và chứng kiến Đế quốc Nga ít nhiều co rút về hình dạng của thời kỳ tiền cộng sản, với biên giới phía châu Âu kết thúc ở Estonia, Latvia, Belarus, Ukraine, Georgia và Azerbaijan. Cuộc xâm lược của Liên Xô vào Afghanistan năm 1979, nhằm hỗ trợ chính phủ cộng sản Afghanistan chống lại du kích quân Hồi giáo chống cộng sản, chưa bao giờ nhằm đem lại những niềm hân hoan của chủ nghĩa Marx-Lenin cho người dân Afghanistan. Mục đích của nó vẫn luôn nhằm đảm bảo cho Moscow quyền kiểm soát không gian này để ngăn chặn bất kỳ thế lực nào khác làm điều tương tự:
Điều quan trọng là cuộc xâm chiếm Afghanistan còn đem lại hy vọng cho giấc mơ Nga vĩ đại rằng quân đội của họ có thể “giặt ủng trong làn nước ấm áp của Ấn Độ Dương” – theo lời của chính trị gia Nga theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan Vladimir Zhirinovsky – và nhờ đó đạt được một thứ Nga chưa bao giờ có: một hải cảng nước ấm không bị đóng băng vào mùa đông, cho phép tự do tiếp cận các tuyến thương mại chủ chốt của thế giới. Các hải cảng trên Bắc cực, như Murmansk, đóng băng vài tháng mỗi năm: Vladivostok, cảng lớn nhất của Nga ở Thái Bình Dương, bị đóng băng trong khoảng bốn tháng và bao quanh là biển Nhật Bản, vốn là vùng biển người Nhật chỉ phối. Điều này không chỉ làm ngưng trệ dòng chảy thương mại; nó còn ngăn chặn hạm đội Nga hoạt động như một thế lực toàn cầu. Ngoài ra, vận tải đường thủy rẻ hơn nhiều so với đường bộ hoặc đường không. Tuy nhiên, giấc mơ về những tuyến đường biển nước ấm mở ra đại dương đã tuột dần khỏi tay nước Nga, và nay có lẽ còn xa vời hơn so với 200 năm về trước. Trải nghiệm Afghanistan đôi khi còn được gọi là “Cuộc chiến Việt Nam của Nga”. Nhưng còn hơn thế nữa, những đồng bằng Kandahar, và vùng núi non Hindu Kush là chứng minh cho cái quy luật nói rằng Afghanistan là “Mồ chôn của các đế chế”.
Việc thiếu một hải cảng nước ấm có lối ra trực tiếp với các đại dương luôn là gót chân Achilles của nước Nga, nó hệ trọng về mặt chiến lược không kém gì Đồng bằng Bắc Âu. Nga đang ở trong tình trạng bất lợi về mặt địa lý, chỉ nhờ nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt nó mới thoát khỏi vị thế một thế lực yếu ớt hơn nhiều. Không ngạc nhiên khi Peter Đại đế, theo di chúc của ông năm 1725, khuyên các con “tiếp cận càng gần Constantinople và Ấn Độ càng tốt. Bất cứ kẻ nào nắm quyền cai trị ở đó sẽ là bá chủ thực sự của thế giới. Do đó, liên tục kích động chiến tranh, không chỉ ở Thổ Nhĩ Kỳ, mà còn ở Ba Tư… Xâm nhập vịnh Ba Tư, tiến đến Ấn Độ”.
Khi tan rã, Liên bang Xô viết phân chia thành mười lăm quốc gia. Địa lý đã trả được mối hận với ý thức hệ Xô viết. Bản đồ Nga tái hiện một hình ảnh hợp lý hơn, trong đó núi, sông, hồ và biển phác họa địa phận mỗi dân tộc, cư trú riêng rẽ với nhau, và từ đó họ phát triển ngôn ngữ và phong tục khác nhau như thế nào. Một ngoại lệ đối với quy tắc này là các quốc gia “stan”, ví dụ Tajikistan, biên giới của các quốc gia này bị Stalin vẽ ra đầy dụng ý, nhằm làm suy yếu họ bằng cách đảm bảo mỗi quốc gia đều có nhiều người thiểu số đến từ các quốc gia khác.
Nếu bạn nhìn suốt một thời kỳ dài của lịch sử – mà hầu hết các nhà ngoại giao và các nhà hoạch định quân sự đều làm như vậy – thì vẫn có đủ mọi lá bài để chơi cho mỗi một quốc gia vốn trước đây cấu thành Liên bang Xô viết, thêm vào vài thứ khác vốn trước đây thuộc Khối Hiệp ước quân sự Warsaw. Họ có thể được chia thành ba nhóm: nhóm quốc gia trung lập, nhóm thân phương Tây và nhóm thân Nga.
Các quốc gia trung lập – Uzbekistan, Azerbaijan và Turkmenistan – là những nước có ít lý do để liên minh với Nga và phương Tây. Đó là vì cả ba quốc gia này đều tự sản xuất năng lượng và không phải nhờ vào phe nào để đảm bảo cho an ninh hoặc thương mại của họ.
Nhóm các nước thân Nga gồm Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Belarus và Armenia: Nền kinh của các nước này gắn liền với Nga giống như phần lớn nền kinh tế của Đông Ukraine thuộc vào Nga (một lý do nữa cho cuộc nổi dậy ở đó). Quốc gia lớn nhất trong số này, Kazakhstan, dựa dẫm vào Nga về mặt ngoại giao, và nhóm dân cư thiểu số thuộc sắc tộc Nga của nước này khá lớn và đã được hòa nhập chặt chẽ vào xã hội Kazakhstan. Năm quốc gia này, ngoại trừ Tajikistan đã tham gia cùng Liên bang Nga trong Liên minh kinh tế Á-Âu mới (một kiểu tổ chức Liên minh châu Âu của các nước nghèo), lần đầu kỷ niệm ngày thành lập vào tháng Một năm 2016. Và cả năm nước đều nằm trong liên minh quân sự với Nga gọi là tổ chức liên minh quân sự tập thể (Collective Security Treaty Organization – CSTO). CSTO loay hoay trầy trật bởi một cái tên không thể thu gọn thành một từ, và bởi bản chất của một khối Warsaw bị hạ cấp. Nga vẫn duy trì sự hiện diện quân sự tại Kyrgyzstan, Tajikistan, Armenia.
Sau cùng là những quốc gia thân phương Tây, trước đây họ nằm trong khối hiệp ước Warsaw, nhưng nay tất cả đều đã gia nhập vào NATO và Liên minh châu Âu: Balan, Latvia, Lithuania, Estonia, Séc, Bulgaria,
Hungary, Slovakia, Albania và Romania. Không phải trùng hợp ngẫu nhiên mà nhiều quốc gia trong số này là những nước từng bị ảnh hưởng nặng nề nhất dưới chế độ chuyên quyền Liên Xô. Cộng thêm Georgia, Ukraine và Moldova, đều muốn tham gia vào cả hai tổ chức trên nhưng đang bị giữ ngoài tầm tay do nằm sát Nga về địa lý và do cả ba đều có quân đội Nga hoặc quân của phe thân Nga trên đất của họ. Việc bất kỳ quốc gia nào trong số này trở thành thành viên của NATO có thể là môi lửa cho một cuộc chiến tranh.
Tất cả những điều kể trên giải thích tại sao, trong năm 2013, khi cuộc đấu đá chính trị về phương hướng của Ukraine ngày càng sôi sục, Moscow đã trở nên quyết liệt.
Chừng nào một chính phủ thân Nga còn nắm quyền tại Kiev, người Nga vẫn có thể tự tin rằng khu vực đệm của họ vẫn còn nguyên vẹn và được canh giữ cho đồng bằng Bắc Âu. Họ cũng có thể chấp nhận ngay cả một nước Ukraine trung lập có tính toán, nếu hứa không gia nhập Liên minh châu Âu (EU) hay NATO và duy trì hợp đồng cho Nga thuê dài hạn cảng nước ấm Sevastopol ở Crimea. Việc Ukraine phụ thuộc vào Nga về nguồn năng lượng.cũng khiến cho lập trường ngày càng trung lập là điều có thể chấp nhận được, cho dù có gây khó chịu. Nhưng một Ukraine thân phương Tây với tham vọng gia nhập vào hai liên minh phương Tây khổng lồ, và đe dọa quyền tiếp cận của Nga vào cảng biển Đen của họ ư? Một Ukraine ngày nào đó thậm chí còn có thể là nhà của một căn cứ hải quân NATO ư? Điều đó không thể chấp nhận được.
Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych đã cố bắt cá hai tay. Ông tán tỉnh phương Tây, nhưng thần phục Moscow – vì thế Putin đã khoan dung với ông. Khi ông gần như sắp ký một hiệp định thương mại lớn với EU, một hiệp định có thể dẫn đến tấm thẻ thành viên, Putin bắt đầu quay sang gây sức ép.
Với giới tinh hoa về chính sách đối ngoại của Nga, tư cách thành viên EU chỉ đơn giản là cái vỏ bọc cho tư cách thành viên NATO, và với nước Nga, việc Ukraine có tư cách thành viên NATO chính là một lằn ranh đỏ. Putin gây sức ép lớn lên Yanukovych, đưa cho ông ấy một lựa chọn không thể chối từ, thế là vị tổng thống Ukraine chuồn khỏi thỏa thuận với EU và ký một hiệp ước với Moscow, do đó châm ngòi cho những sự phản kháng mà kết cuộc là ông bị lật đổ.
Người Đức và người Mỹ chống lưng cho các đảng đối lập, cụ thể là Berlin coi chính trị gia cựu vô địch quyền Anh thế giới Vitali Klitschko là người của họ. Phương Tây lôi kéo Ukraine về phía họ cả về tri thức cũng như kinh tế khi giúp phe thân Tây Âu ở Ukraine ngả thêm về phía tây bằng cách đào tạo và tài trợ cho một số nhóm dân chủ đối lập.
Cuộc chiến đường phố bùng nổ ở Kiev và các cuộc biểu tình lan rộng trên khắp đất nước. Tại miền đông Ukraine, đám đông xuống đường để ủng hộ Tổng Thống trong khi tại miền Tây, ở các thành phố như Lviv (trước đây thuộc Ba Lan), đang loay hoay cố thoát khỏi bất kỳ ảnh hưởng nào của phe thân Nga.
Vào giữa tháng Hai năm 2014, chính phủ không còn kiểm soát được Lviv và các vùng đô thị khác nữa. Sau đó, vào ngày 22 tháng Hai, sau khi hàng chục người bị giết tại Kiev, Tổng thống lo sợ cho mạng sống của mình đã bỏ chạy. Các phe chống Nga, trong đó một số thân phương Tây và một số ủng hộ chủ nghĩa phát xít, đã cướp chính quyền. Từ thời điểm đó hạt xúc xắc định mệnh đã được gieo xuống. Tổng thống Putin không có nhiều lựa chọn – ông ấy phải thôn tính Crimea. Tại đó không chỉ có nhiều người Ukraine nói tiếng Nga, mà quan trọng nhất là có cảng Sevastopol.
Nhu cầu khẩn thiết về địa lý này, và toàn bộ động thái dịch chuyển về phía đông của NATO, chính là điều mà ông Putin nghĩ đến, nên trong một bài phát biểu về cuộc thôn tính này, ông nói, “Nga đã rơi vào một vị thế mà họ không thể thoái lui. Nếu bạn nén chặt cái lò xo đến giới hạn của nó, nó sẽ bật trở lại dữ dội. Bạn phải luôn nhớ điều này.“
Sevastopol thực sự là cảng nước ấm trọng yếu duy nhất của nước Nga. Tuy nhiên, con đường thoát khỏi biển Đen và đi vào Địa Trung Hải bị hạn chế bởi Công ước Montreux năm 1936, nó trao quyền kiểm soát eo biển Bosporus cho Thổ Nhĩ Kỳ – nước hiện là thành viên NATO. Các tàu hải quân Nga có thể vượt qua eo biển, nhưng với số lượng hạn chế, và điều này sẽ không được phép trong trường hợp có xung đột. Thậm chí sau khi vượt qua eo Bosphorus, người Nga còn phải tìm đường qua biển Aegean trước khi vào Địa Trung Hải, và còn phải vượt qua eo Gibraltar để vào Đại Tây Dương, hoặc xin phép xuôi theo kênh đào Suez để đến Ấn Độ Dương.
Nga có một căn cứ hải quân nhỏ tại Tartus trên bờ biển Địa Trung Hải thuộc Syria (điều này phần nào giải thích sự ủng hộ của họ đối với chính phủ Syria khi xung đột nổ ra vào năm 2011), nhưng đó chỉ là một cơ sở tiếp liệu và hậu cần hạn chế, chứ không phải là một căn cứ quân sự quan trọng.
Sau khi sáp nhập Crimea, người Nga không lãng phí thời gian. Họ đang xây dựng hạm đội biển Đen tại Sevastopol và xây dựng một quân cảng mới ở thành phố Novorossiysk của Nga, dù không phải là một bến cảng nước sâu tự nhiên, nhưng nó sẽ bổ sung năng lực cho người Nga. Tám mươi tàu chiến mới được đưa biên chế cùng một số tàu ngầm. Hạm đội vẫn còn chưa đủ mạnh để đột phá ra biển Đen trong thời chiến, nhưng năng lực của nó ngày càng tăng. Vào tháng 7 năm 2015, Nga công bố học thuyết hải quân mới của mình và trong đó, ngay trong đầu danh sách các mối đe dọa lợi ích của Nga là NATO. Nó gọi việc bố trí quân đội và trang thiết bị quân sự của NATO gần biên giới nước Nga là không thể chấp nhận được, đó là tóm tắt về cuộc khẩu chiến.
Để đối phó với vấn đề này, trong thập niên tiếp theo, chúng ta có thể sẽ thấy Hoa Kỳ khuyến khích đối tác NATO của họ là Romania tăng cường hạm đội trên biển Đen trong khi vẫn dựa vào Thổ Nhĩ Kỳ để kiểm soát tuyến đường qua eo biển Bosphorus.
Crimea từng là một phần của nước Nga suốt hai thế kỷ, trước khi được Khrushchev tặng cho Cộng hòa Xô viết Ukraine vào năm 1954, tại thời điểm mà người ta tưởng Liên Xô sẽ tồn tại mãi mãi và do đó Crimea sẽ vĩnh viễn nằm dưới tầm kiểm soát của Moscow. Giờ đây, Ukraine không thuộc về Nga, thậm chí không thuộc về phe thân Nga, Putin hiểu rằng tình hình đã thay đổi. Các nhà ngoại giao phương Tây có hiểu được điều này không? Nếu không, tức là họ đã không hiểu gì về Quy tắc A, Bài Một, trong giáo trình Ngoại giao Nhập môn: khi đối mặt với một điều được coi là mối đe dọa sống còn, một cường quốc sẽ sử dụng vũ lực. Còn nếu họ hiểu, thì họ phải coi việc Putin sáp nhập Crimea là giá tương xứng phải trả cho việc lôi kéo Ukraine vào châu Âu hiện đại và vào không gian chịu ảnh hưởng của phương Tây.
Một cách nhìn thoáng hơn là Hoa Kỳ và châu Âu nóng lòng chào đón Ukraine gia nhập vào thế giới dân chủ với tư cách thành viên chính thức của các thiết chế tự do và pháp quyền của mình, và Moscow không thể làm gì chống lại điều đó. Đó là quan điểm không tính đến thực tế rằng địa chính trị vẫn còn tồn tại ở thế kỉ 21, và Nga không chơi trò pháp quyền.
Hừng hực khí thế chiến thắng, chính phủ lâm thời mới thành lập của Ukraine đã ngay lập tức đưa ra một số tuyên bố ngớ ngẩn, chí ít là ý định bãi bỏ tiếng Nga như ngôn ngữ chính thức thứ hai ở các khu vực khác nhau. Vì các khu vực này vốn có nhiều người nói tiếng Nga và có cảm tình với Nga, và thực tế bao gồm cả Crimea, điều đó chắc chắn châm ngòi cho sự phản ứng dữ dội. Nó cũng trao cho Tổng thống Putin sự tuyên truyền ông cần có để lập luận rằng dân gốc Nga tại Ukraine cần được bảo vệ. Kremlin có một đạo luật bắt buộc chính phủ phải bảo vệ “người sắc tộc Nga”. Khó có thể định nghĩa cụ thể về thuật ngữ đó, bởi với cách nói như thế nó có thể được định nghĩa theo bất kỳ cách nào mà Nga cảm thấy phù hợp với mỗi cuộc khủng hoảng tiềm tàng có thể bùng phát trong Liên Xô cũ. Khi thấy thích hợp, “sắc tộc Nga“ sẽ được Kremlin định nghĩa đơn giản là những người sử dụng tiếng Nga như ngôn ngữ thứ nhất. Tại một thời điểm khác, luật về quyền công dân mới sẽ được áp dụng, nó nói rằng nếu ông bà của bạn sống ở Nga, và tiếng Nga là bản ngữ của bạn, thì bạn có thể được nhận quyền công dân Nga. Do đó, khi khủng hoảng nảy sinh, người dân sẽ có xu hướng chấp nhận hộ chiếu Nga để phòng hờ, và đó chính là đòn bẩy cho sự xâm nhập của Nga vào cuộc xung đột.
Khoảng 60% dân số của Crimea thuộc “sắc tộc Nga”, vậy là Kremlin chỉ việc bước qua một cánh cửa đã mở. Putin hỗ trợ các cuộc biểu tình chống Kiev, và khuấy động cho tình hình thêm náo loạn đến mức sau cùng ông ta “phải” phái quân đội của mình ra khỏi ranh giới của căn cứ hải quân và xuống đường phố để bảo vệ người dân. Quân đội Ukraine trong khu vực này không đủ sức để chống lại cả nhân dân và quân đội Nga, và họ nhanh chóng rút lui. Crimea một lần nữa de facto (trên thực tế) lại thuộc về Nga.
Bạn có thể lập luận rằng Tổng thống Putin có một sự lựa chọn: ông ấy có thể tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine. Nhưng vì ông ấy đang chơi quân bài địa lý mà Thiên Chúa đã chia cho nước Nga, nên điều này chưa bao giờ thực sự là một lựa chọn của Putin. Ông ấy sẽ không phải là người “làm mất Crimea“”, và cùng với nó là cảng nước ấm thích hợp duy nhất mà đất nước ông có quyền tiếp cận.
Không ai nhào tới giải cứu Ukraine khi họ mất một phần lãnh thổ tương đương với kích thước của Bỉ, hoặc bang Maryland của Hoa Kỳ. Ukraine và các nước láng giềng biết một sự thật về địa lý rằng: trừ phi bạn nằm trong NATO, còn không thì Moscow ở gần, mà Washington DC lại rất xa. Với Nga, đây là một vấn đề sống còn: họ không thể chấp nhận để mất Crimea, nhưng phương Tây thì có thể.
– EU áp đặt các lệnh trừng phạt hạn chế – hạn chế là một số nước châu Âu, trong đó có Đức, phụ thuộc năng lượng của Nga để sưởi ấm các ngôi nhà của họ vào mùa đông. Các đường ống dẫn chạy từ đông sang tây và Kremlin có thể mở hoặc đóng những cái van của đường ống.
Năng lượng như một quyền lực chính trị sẽ còn được triển khai nhiều lần trong những năm tới, và khái niệm: “người sắc tộc Nga” sẽ được sử dụng để biện minh cho bất cứ động thái nào của Nga.
Trong một bài phát biểu năm 2014, Tổng thống Putin đã nhắc đến “Novorossiya” hay “Nước Nga mới”. Những người theo dõi điện Kremlin phải hít một hơi thật sâu. Ông ấy đã làm sống lại cái địa danh dành cho các vùng đất hiện là miền Nam và miền Đông Ukraine, các vùng đất mà Nga đã giành được từ tay Đế chế Ottoman dưới triều đại Nữ hoàng Catherine Đại đế vào cuối thế kỷ 18. Catherine tiếp tục đưa người Nga định cư ở những khu vực này và yêu cầu tiếng Nga phải là ngôn ngữ thứ nhất. “Novorossiya” chỉ được nhượng lại cho nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraine mới thành lập, vào năm 1922. “Tại sao?” Putin đặt câu hỏi tu từ, “Hãy để Thiên Chúa phán xét họ”. Trong bài phát biểu của mình ông ấy đã liệt kê các vùng đất thuộc Ukraine gồm Kharkiv, Luhansk, Donetsk, Kherson, Mykolaiv và Odessa trước khi nói, “Nga đã mất những lãnh thổ này vì nhiều lý do, nhưng ở đó vẫn còn có nhân dân”.
Mấy triệu người thuộc sắc dân Nga vẫn còn nằm trong vùng thuộc Liên Xô cũ, nhưng nằm ngoài nước Nga.
Không có gì ngạc nhiên, sau khi chiếm Crimea, Nga tiếp tục khuyến khích các cuộc nổi dậy của những phe thân Nga tại các trung tâm công nghiệp phía đông Ukraine ở Luhansk và Donetsk. Nga có thể dễ dàng đưa quân đến bờ phía đông của sông Dnieper tại Kiev. Nhưng họ không cần phải nhức đầu về chuyện đó. Khuyến khích sự bất ổn ở biên giới phía đông của Ukraine và nhắc cho Kiev nhớ rằng ai thực sự kiểm soát nguồn cung cấp năng lượng, đó chính là cách ít đau đớn và ít tốn kém hơn nhiều, để đảm bảo rằng sự mê đắm của Kiev với phương Tây đàng điếm kia không biến thành một cuộc hôn nhân được hoàn tất trong phòng ngủ của EU hoặc NATO.
Việc ngấm ngầm hỗ trợ cho cuộc nổi dậy ở phía đông Ukraine cũng sẽ đơn giản về mặt hậu cần và còn dễ bề phủ nhận trên trường quốc tế. Việc trơ tráo nói dối trong phòng họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc quả là đơn giản nếu đối thủ không có bằng chứng mười mươi về hành động của bạn, và quan trọng hơn, không muốn có bằng chứng mười mươi nếu bằng chứng ấy buộc họ phải làm một điều gì đó để có nó. Nhiều chính trị gia phương Tây thở phào nhẹ nhõm và lầm bẩm, “Ơn Chúa, Ukraine không nằm trong NATO, nếu không chúng ta đã phải hành động.”
Việc sáp nhập Crimea cho thấy Nga sẵn sàng hành động quân sự như thế nào để bảo vệ những gì mà họ coi là lợi ích của mình trong vùng họ gọi là “ngoại vi” của mình. Họ phải một phen đấu trí để các thế lực bên ngoài Nga vẫn chưa xong việc với Ukraine, cũng như các nơi khác. Vùng Donbass, chiến sự vẫn lác đác tùy lúc. Một vụ bộc phát bạo lực tại đó vào mùa hè năm 2017 gây thiệt mạng cho một số binh lính Ukraine, khiến Hoa Kỳ phải cân nhắc tăng cường viện trợ quân sự cho Ukraine, và Nga thực hiện các cuộc tập trận lớn trên biên giới Ukraine.
Trừ phi cảm thấy bị đe dọa, Nga có thế sẽ không phái quân đội của mình vào các nước vùng Baltic, hoặc tiến xa hơn hiện nay tại Georgia; nhưng Nga sẽ gia tăng quyền lực của mình tại Georgia, và trong thời kỳ biến động này, không thể loại trừ khả năng xảy ra hành động quân sự xa hơn.
Tuy nhiên, cũng như các hành động của Nga trong cuộc chiến với Georgia năm 2008 từng là lời cảnh báo để NATO không tiến đến gần hơn, thông điệp của NATO gửi đến Nga vào mùa hè năm 2014 là “Bấy nhiêu về phía tây là đủ và đừng xa hơn nữa”. Một vài chiến đấu cơ của NATO đã bay tới các quốc gia vùng Baltic, các cuộc tập linh đã được công bố ở Ba Lan, và Hoa Kỳ bắt đầu lên kế hoạch “bố trí sẵn” các phần cứng quân sự ở càng gần Nga càng tốt. Đồng thời, bộ trưởng Quốc phòng và ngoại trưởng cũng có những chuyến viếng thăm ngoại giao bất ngờ đến các quốc gia vùng Baltic, Georgia và Moldova để khẳng định sự hậu thuẫn của NATO đối với họ.
Một số nhà bình luận đã lên tiếng dè bỉu phản ứng này, lập luận rằng sáu chiến đấu cơ phản lực Eurofighter Typhoon của Lực lượng Không quân Hoàng gia Anh bay trên không phận Baltic khó có thể cản trở người Nga. Tuy nhiên, phản ứng này là một tín hiệu ngoại giao, và tín hiệu có ý nghĩa rõ ràng – NATO sẵn sàng chiến đấu Quả thực họ sẽ phải sẵn sàng, bởi vì nếu họ không phản ứng trước một cuộc tấn công vào một quốc gia thành viên, họ sẽ lập tức bị coi là thứ bỏ đi. Hoa Kỳ – kẻ đã và đang tiến dần đến một chính sách đối ngoại mới theo đó họ cảm thấy ít bị gò bó trong các cơ cấu hiện tại và sẵn sàng dựng nên những cơ cấu mới khi nhận thức điều đó là cần thiết – vẫn chẳng mấy ấn tượng với cam kết về ngân sách quốc phòng của các quốc gia châu Âu. Trong vai trò một ứng cử viên tổng thống, Donald Trump đã gợi ý rằng NATO là “phế phẩm”; khi trở thành tổng thống, vào mùa xuân năm 2017, ông ấy đã đảo ngược lời phát biểu này, nhưng rõ ràng Trump muốn chọc tức các quốc gia NATO khác, và đã có một sự gia tăng nhỏ trong chỉ tiêu quốc phòng của một vài thành viên2.
Tổng thống Trump cũng không thể làm rõ liệu Hoa Kỳ sẽ tự động tới giúp đỡ một đồng minh NATO chiến hữu của mình hay không, nhưng một lần nữa, khi những thực tế và những rắc rối về quốc phòng, chiến tranh, tuyên truyền vận động và địa chính trị trở nên rõ ràng, thì sau cùng Trump đã cam kết theo Điều 5 của NATO vào mùa xuân năm 2017. Với trường hợp ba nước vùng Baltic, quan điểm của NATO tất rõ ràng. Vì cả ba nước đều là thành viên NATO, việc Nga xâm lược vũ trang vào bất kỳ nước nào sẽ kích hoạt Điều 5 của Hiệp ước thành lập NATO, trong đó nêu rõ: “Một cuộc tấn công vũ trang chống lại một hoặc nhiều quốc gia [thành viên NATO] tại châu Âu hay Bắc Mỹ sẽ được coi là một cuộc tấn công chống lại tất cả các thành viên”, và nói thêm rằng NATO sẽ đến giải cứu nếu cần thiết. Điều 5 đã từng được viện dẫn trong các cuộc tấn công chống khủng bố của Hoa Kỳ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, mở đường cho sự can thiệp của NATO vào Afghanistan.
Tổng thống Putin là người luôn quan tâm đến lịch sử. Ông ý tỏ ra đã học những bài học của thời kỳ Liên Xô, trong đó Nga đã quá căng sức và buộc phải chùng lại. Một cuộc tấn công công khai vào các quốc gia vùng Baltic cũng là một hành động quá căng sức và không có khả năng xảy ra. Nhất là khi NATO và các bậc thầy chính trị của nó biết rõ Putin đã hiểu tín hiệu của họ. Nhưng vào năm 2016, tổng thống Nga đã phát đi tín hiệu riêng của mình. Ông đã đổi lời lẽ trong tài liệu học thuyết chiến lược quân sự tổng thể của Nga và đi xa hơn so với các báo cáo nghiên cứu chiến lược hải quân 2015: lần đầu tiên, Hoa Kỳ được gọi là “mối đe dọa từ bên ngoài” đối với Nga.
Nga không cần phải đưa một sư đoàn thiết giáp vào Latvia, Lithuania hay Estonia để gây ảnh hưởng đến các sự kiện ở đó, nhưng nếu có làm vậy, Nga vẫn có thể biện minh cho hành động của mình bằng cách tuyên bố rằng các cộng đồng lớn người Nga tại đó đang bị phân biệt đối xử. Trong cả hai quốc gia Estonia và Latvia, khoảng một phần tư dân số thuộc sắc tộc Nga, và tại Lithuania là 5,8%. Tại Estonia, những phát ngôn viên của cộng đồng Nga nói rằng họ có ít đại diện trong chính phủ và hàng ngàn người không có bất kỳ một thứ giấy tờ công dân nào. Điều này không có nghĩa là họ muốn trở thành một phần của Nga, nhưng họ là một trong những đòn bẩy mà Nga có thể sử dụng để gây ảnh hưởng đến các sự kiện.
Các cộng đồng dân cư nói tiếng Nga tại các nước Baltic có thể bị khuấy động để khiến cho cuộc sống trở nên khó khăn. Hiện có rất nhiều đảng phái chính trị được thành lập đầy đủ, đang tồn tại và đại diện cho nhiều người trong cộng đồng nói tiếng Nga. Nga cũng kiểm soát hệ thống sưởi ấm trung tâm trong nhà của người dân vùng Baltic. Nga cũng ấn định mức giá người dân phải trả cho hóa đơn khí đốt tiêu thụ để sưởi ấm mỗi tháng, và nếu muốn Nga cứ việc tắt hệ thống đó đi.
Một số quốc gia từng là thành viên của Liên bang Xô viết trước đây mong muốn thắt chặt quan hệ hơn với châu Âu, nhưng tại một số khu vực nhất định, như vùng Transnistria ở Moldova, vẫn còn rất thân Nga, và tiềm tàng nguy cơ xung đột trong tương lai.
Nga sẽ tiếp tục thúc đẩy lợi ích của mình tại các quốc gia vùng Baltic. Các nước này là một trong những mắt xích yếu trong chuỗi phòng thủ của Nga kể từ khi Liên bang Xô viết sụp đổ, một lỗ thủng khác trên bức tường thành mà họ muốn chứng kiến sẽ tạo thành một vòng cung từ biển Baltic, chạy về phía nam, sau đó về phía đông nam nối với dãy Ural.
Điều này đưa chúng ta đến một khe hở khác trên bức tường thành và một khu vực khác Moscow xem như là một vùng đệm tiềm năng. Luôn nằm trong tầm ngắm của Kremlin là Moldova.
Moldova trình ra như một vấn đề khác biệt cho tất cả các bên. Một cuộc tấn công của Nga vào Moldova nhất thiết phải đi qua Ukraine, qua sông Dnieper và rồi vượt qua biên giới quốc gia khác đề vào Moldova. Điều đó có thể được thực hiện – với tổn thất sinh mạng đáng kể và bằng cách sử dụng Odessa làm điểm tập trung quân – nhưng sẽ không còn khả năng phủ nhận [hành động xâm lược]. Mặc dù điều này sẽ không kích động chiến tranh với NATO (Moldova không phải là thành viên của NATO) nhưng nó sẽ dẫn tới các biện pháp trừng phạt đối với Moscow ở mức độ chưa từng thấy, và xác nhận những gì mà người viết tin là đã và đang xảy ra, rằng mối quan hệ đang nguội lạnh giữa Nga và phương Tây đã trở thành một cuộc chiến tranh lạnh mới. Việc Donald Trump lên nắm quyền đã khiến một số nhà phân tích đồn đoán Nga tin rằng họ có thể đã được “bật đèn xanh“ để hành động xa hơn nữa tại Ukraine. Tuy nhiên chỉ vài tuần sau khi nhậm chức, bộ trưởng Quốc phòng và ngoại trưởng Hoa Kỳ đã phát biểu một loạt những cảnh báo nhằm vào Moscow. Những phát biểu này cho thấy, mặc dù nhà trắng có thể tìm kiếm các mối quan hệ tốt đẹp hơn với Nga, thực tế địa chính trị đặt ra những giới hạn mà Moscow hẳn sẽ khôn ngoan không dám mạo hiểm.
Tại sao Nga muốn có Moldova? Bởi vì khi dãy núi Carpathian lượn vòng về hướng tây nam để trở thành dãy núi Transylvanian Alps, phía đông nam là đồng coi là một hành lang bằng phẳng dẫn vào nước Nga; và cũng y như Nga muốn kiểm soát đồng bằng Bắc Âu tại mũi nhọn của nó ở Ba Lan, họ muốn kiểm soát vùng đồng bằng bên bờ biển Đen – còn được gọi là Moldova – trong vùng đất trước đây là Bessarabia.
Sau Chiến tranh Crimea (giữa Nga và các đồng minh Tây Âu bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman khỏi Nga), Hiệp ước Paris năm 1856 đã trả lại một số vùng của Bessarabia cho Moldova, do đó chia cắt Nga khỏi sông Danube. Nga mất gần một thế kỷ để lấy lại quyền tiếp cận dòng sông, nhưng cùng với sự sụp đổ của Liên Xô, thêm một lần nữa Nga phải rút về phía đông.
Tuy nhiên, trong thực tế, Nga vốn đã kiểm soát một phần Moldova – một vùng có tên là Transnistria, nằm ở phía đông sông Dniester, là con sông biên giới với Ukraine. Với sự khôn ngoan của mình, Stalin đã bế trí số lượng lớn người Nga tại đó, giống như điều ông ta đã làm ở Crimea sau khi trục xuất phân lớn sắc dân Tatar.
Ít nhất 50% dân số Transnistria hiện tại nói tiếng Nga hoặc tiếng Ukraine, và đó là bộ phận dân cư thân Nga. Khi Moldova trở thành quốc gia độc lập vào năm 1291, cộng đồng dân cư nói tiếng Nga làm loạn và, sau một giai đoạn đấu tranh ngắn ngủi, đã tuyên thành lập nước cộng hòa Transnistria ly khai. Nước này đã giúp chon Nga đưa quân đội đồn trú ở đó, và vẫn duy trì lực lượng hai ngàn quân cho đến ngày nay.
Việc Nga tăng cường quân ở Moldova là khó xảy ra, nhưng Kremlin có thể đang sử dụng sức mạnh kinh tế của mình cũng như lợi dụng tình hình bất ổn ở Transnistria để gây ảnh hưởng ngăn chính phủ Moldova gia nhập EU hay NATO.
Moldova phải dựa vào Nga để thỏa mãn nhu cầu năng lượng, nông sản của họ được bán về phía đông, và lượng nhập khẩu rượu vang Moldova thượng hạng vào Nga có xu hướng tăng hoặc giảm tùy theo tình trạng quan hệ giữa hai nước.
Bên kia biển Đen, ở phía đối diện Moldova là một quốc gia sản xuất rượu vang khác: Georgia. Quốc gia này không có vị trí cao trong danh sách các khu vực phải được kiểm soát của Nga vì hai lý do. Thứ nhất, cuộc chiến Georgia-Nga năm 2008 đã khiến phần lớn đất nước này bị quân đội Nga chiếm đóng. Hiện quân đội Nga đang kiểm soát hoàn toàn các vùng Abkhazia và Nam Ossetia. Thứ hai, Georgia nằm ở phía nam dãy Caucasus và Nga cũng có quân đội đóng tại nước Armenia láng giềng. Moscow cũng muốn tăng thêm một lớp vào vùng đệm nhưng họ có thể tồn tại mà không cần chiếm phần còn lại của Georgia. Tình thế đó cũng tiềm ẩn khả thay đổi nếu Georgia tiếp cận tấm thẻ thành viên NATO. Đây chính là lý do tại sao cho đến giờ Georgia vẫn bị các chính phủ NATO từ chối, vì họ muốn né một cuộc xung đột không thể tránh khỏi với Nga.
Đa số dân chúng của Georgia muốn thắt chặt hơn quan hệ với các nước EU, nhưng cú sốc của cuộc chiến tranh năm 2008, khi thời điểm đó Tổng thống Mikheil Saakashvili ngây thơ nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ đến giải cứu sau khi ông chọc giận người Nga, đã khiến các phe nhóm chính trị phải cân nhắc đi hàng hai để được an toàn hơn. ‘Năm 2013, họ đã bầu ra một chính phủ, và tổng thống mới Giorgi Margvelashvili có thái độ hòa hảo hơn nhiều với Moscow. Cũng như tại Ukraine, người dân bằng bản năng biết rõ sự thật hiển nhiên mà bất kỳ ai ở quanh khu vực đó cũng công nhận, đó là: Washington ở rất xa, và Moscow thì rất gần.
Vũ khí mạnh nhất của Nga hiện nay, ngoài tên lửa hạt nhân, không phải là quân đội và không quân Nga, mà là khí đốt và dầu mỏ. Nga chỉ đứng sau Hoa Kỳ trong tư cách nhà cung cấp khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới, và dĩ nhiên họ cũng vận dụng sức mạnh này để giành lợi thế. Quan hệ với Nga càng tốt, bạn phải trả ít tiền cho năng lượng; ví dụ Phần Lan có một thỏa thuận tốt hơn đối với các nước Baltic. Chính sách này được sử dụng rất tích cực, và Nga có ảnh hưởng đến nhu cầu năng lượng của châu Âu lớn đến mức đã có những động thái được tiến hành để giảm bớt tác động của nó. Nhiều quốc gia ở châu Âu đang cố gắng vứt bỏ phụ thuộc năng lượng vào Nga, không phải bằng đường ống cấp khí đốt thay thế từ các quốc gia ít hung hăng hơn mà bằng cách xây dựng hải cảng.
Tính trung bình, hơn 25% lượng khí đốt và dầu của châu Âu đến từ Nga; nhưng thường thì một quốc gia càng gần Moscow, sự phụ thuộc của nó vào Nga càng lớn. Điều này đến lượt nó lại làm giảm bớt các lựa chọn trong chính sách đối ngoại của nước đó. Latvia, Slovakia, Phần Lan và Estonia phụ thuộc 100% vào khí đốt của Nga. Cộng hòa Séc, Bulgaria và Lithuania phụ thuộc 80%, Hy Lạp, Áo và Hungary là 60%. Khoảng một nửa lượng tiêu thụ khí đốt của Đức đến từ Nga, và điều này, cùng với các thỏa thuận thương mại giá trị lớn khác, chính là một phần lý do tại sao các chính trị gia Đức có xu hướng không mấy mặn mà trong việc chỉ trích những hành vi gây hấn của Kremlin so với một quốc gia như Anh, vì Anh chỉ phụ thuộc vào Nga 13%, đồng thời còn có ngành công nghiệp sản xuất khí đốt riêng, bao gồm một mỏ dự trữ có thể cung cấp cho Anh trong chín tháng.
Có một số tuyến đường ống lớn chạy từ đông sang tây phát xuất từ Nga, một số cung cấp dầu và một số thì cung cấp khí đốt. Chính những tuyến đường ống dẫn khí đóng vai trò quan trọng nhất.
Ở phía bắc, qua biển Baltic, là tuyến đường ống Dòng chảy phương Bắc (Nord Stream), nối trực tiếp với Đức. Phía dưới tuyến đường ống này, cắt ngang Belarus, là tuyến Yamal, cung cấp cho Ba Lan và Đức. Ở phía nam tuyến Dòng chảy Xanh (Blue Stream), dẫn khí đốt tới Thổ Nhĩ Kỳ qua biển Đen. Cho đến đầu năm 2015, có một dự án được trù định, gọi là Dòng chảy phương Nam (South Stream), vẫn sử dụng cùng một tuyến đường ống nhưng phân nhánh vào Hungary, Ào, Serbia, Bulgaria và Ý. Dòng chảy phương Nam là nỗ lực của Nga để đảm bảo ngay cả trong tình trạng có tranh chấp với Ukraine, họ vẫn sở hữu một tuyến ống chính đến các thị trường lớn tại Tây Âu và Balkan. Một số nước EU đã gây áp lực lên các nước láng giềng của họ nhằm bác bỏ kế hoạch này, và Bulgaria đã thực tế rút khỏi dự án khi nói rằng đường ống này không thể đi qua lãnh thổ của mình. Tổng thống Putin phản ứng bằng cách tiếp cận Thổ Nhĩ Kỳ với một đề xuất mới, còn được gọi là Dòng chảy Thổ Nhĩ Kỳ (Turk Stream).
Các dự án Dòng chảy phương Nam và Dòng chảy Thổ Nhĩ Kỳ của Nga tránh đi qua Ukraine là hệ quả của những tranh chấp về giá cả với nước này trong giai đoạn 2005-2010, những tranh chấp này tại nhiều thời điểm khác nhau khiến cho lượng cung cấp khí đốt cho mười tám quốc gia bị cắt giảm. Các quốc gia châu Âu nào được hưởng lợi từ Dòng chảy phương Nam thì đè đặt thấy rõ trong việc chỉ trích Nga suốt cuộc khủng hoảng Crimea năm 2014.
Hoa Kỳ vào cuộc, với một chiến lược đôi bên cùng thắng cho Hoa Kỳ và châu Âu. Nhận thấy rằng châu Âu cần khí đốt, nhưng không muốn bị coi là yếu đuối khi đối mặt với chính sách đối ngoại của Nga, Hoa Kỳ tin rằng mình có lời giải. Sự bùng nổ ồ ạt trong ngành sản xuất khí đá phiến ở Hoa Kỳ không chỉ giúp họ có khả năng tự túc về năng lượng mà còn có thể bán phần thặng dư cho một trong những vùng tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới – châu Âu.
Để làm điều này, khí đốt cần phải được hóa lỏng và vận chuyển qua Đại Tây Dương. Việc này lại đòi hỏi phải có các bến cảng và trạm cuối khí hóa lỏng LNG (liquefied natural gas: khí tự nhiên hóa lỏng) được xây dựng dọc bờ biển châu Âu để nhận hàng và hóa khí trở lại. Washington đã duyệt giấy phép cho các trang thiết bị hạ tầng xuất khẩu, và châu Âu đang bắt đầu một dự án dài hạn để xây dựng thêm nhiều trạm cuối LNG. Ba Lan và Lithuania đang xây dựng các trạm cuối LNG. Các nước khác như Cộng hòa Séc muốn xây dựng các đường ống kết nối với các trạm cuối này, vì hiểu rằng khi đó họ có thể hưởng lợi không chỉ từ khí đốt hóa lỏng Hoa Kỳ, mà còn từ các nguồn cung cấp từ Bắc Phi và Trung Đông. Kremlin sẽ không còn có khả năng đóng van nguồn cung cấp.
Người Nga, nhìn thấy mối họa lâu dài, đã chỉ ra rằng khí đốt bơm qua đường ống dẫn rẻ hơn LNG, và Tổng thống Putin, với biểu cảm “Tôi đã làm gì sai?” hiện trên khuôn mặt, nói rằng châu Âu vốn dĩ đã có khí đốt đáng tin cậy và rẻ hơn từ đất nước của ông. LPG không thể thay thế hoàn toàn khí đốt của Nga, nhưng nó sẽ củng cố vị thế yếu kém của châu Âu cả trong việc đàm phán giá cả lẫn trong chính sách đối ngoại. Để ứng phó với nguy cơ giảm doanh thu tiềm tàng, Nga đang lên kế hoạch đặt các đường ống theo hướng Đông Nam và hi vọng sẽ tăng lượng khí đốt bán cho Trung Quốc.
Đây là một cuộc chiến kinh tế đặt căn bản trên địa lý và là một trong những ví dụ của thời hiện đại, khi công nghệ đang được tận dụng để vượt qua những câu thúc về địa lý của các thời đại trước.
Rất nhiều thứ đã nảy sinh từ nỗi đau về kinh tế mà Nga phải chịu trong năm 2014 khi giá dầu giảm xuống dưới 50 USD/thùng, và thậm chí còn thấp hơn nữa trong năm 2015. Ngân sách của Moscow trong năm 2016 và khoản chi tiêu dự đoán cho năm 2017 được căn cứ trên mức giá 50 USD/thùng, và mặc dù Nga đã bơm ra lượng dâu kỷ lục, họ biết rằng họ vẫn không thể cân bằng được ngân sách. Nga mất khoảng hai tỷ USD doanh thu cho mỗi đô la giảm giá dầu và nền kinh tế Nga phải lãnh đủ, gây ra nhiều khó khăn cho người dân thường, nhưng những dự đoán về sự sụp đổ của nhà nước Nga đã trật lất. Nga sẽ phải vật lộn để tài trợ cho khoản chỉ tiêu quân sự tăng vọt, nhưng bất chấp những khó khăn mà họ phải đối mặt, Ngân hàng Thế giới dự đoán rằng trong nửa sau của thập niên này, nền kinh tế Nga sẽ tăng trưởng nhẹ. Nếu những mỏ dầu khổng lồ ở biển Kara của Bắc cực mới được khám phá có thể được dẫn vào bờ thì sự tăng trưởng đó sẽ lành mạnh hơn.
Bên ngoài khu vực trung tâm, Nga thực sự có tâm với chính trị ở phạm vi toàn cầu, và biết sử dụng ảnh hưởng của mình, đặc biệt là ở châu Mỹ Latinh, nơi họ kết bạn với bất kỳ quốc gia Nam Mỹ nào có mối quan hệ ít thân thiện nhất với Hoa Kỳ, ví dụ như Venezuela. Nga cố gắng chặn đứng các động thái của Hoa Kỳ tại Trung Đông, hoặc ít nhất đảm bảo cho họ có tiếng nói trong mọi vấn đề, họ chi tiêu một khoản rất lớn vào các lực lượng quân đội ở vùng Bắc cực, và không ngừng quan tâm đến Greenland để duy trì các yêu sách về lãnh thổ. Kể từ khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, Nga ít tập trung hơn vào châu Phi, nhưng vẫn cố gắng duy trì sự ảnh hưởng của mình tại đó, mặc dù Nga đang thất bại trước Trung Quốc [ở châu Phi].
Họ có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau, nhưng hai gã khổng lồ này cũng hợp tác ở các cấp độ khác nhau. Khi Moscow biết rằng châu Âu có tham vọng lâu dài hòng chấm dứt sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga, Nga tìm tới Trung Quốc như một khách hàng thay thế. Trung Quốc chiếm thế thượng phong trong vai trò thị trường của người mua (buyer’s market), nhưng các kênh liên lạc giữa hai bên thì thân thiện và được vận dụng tốt. Từ năm 2019, Nga sẽ cung cấp cho Trung Quốc ba mươi tám tỷ mét khối khí đốt mỗi năm theo một thỏa thuận trị giá 400 tỷ USD kỳ hạn ba mươi năm.
Thời kỳ Nga bị coi là mối đe dọa quân sự với Trung Quốc đã trôi qua, và ý tưởng cho rằng quân đội Nga sẽ chiếm Mãn Châu, như họ từng làm năm 1945, là điều không thể tưởng tượng được, mặc dù họ luôn để mắt dè chừng nhau ở những vùng đất họ muốn là thế lực thống trị, như Kazakhstan chẳng hạn. Tuy nhiên, họ không còn cạnh tranh vị trí lãnh đạo hệ tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản toàn cầu, và điều này đã giải thoát cho đôi bên để họ có thể hợp tác ở cấp độ quân sự tại bất cứ nơi nào họ có lợi ích trùng hợp. Một ví dụ có vẻ kỳ quặc xảy ra vào tháng Năm năm 2015, khi họ tiến hành các cuộc tập trận quân sự bắn đạn thật chung ở Địa Trung Hải. Việc Bắc Kinh đưa quân vào một vùng biển cách căn cứ nước nhà chín ngàn dặm là một phần trong nỗ lực của họ nhằm mở rộng tầm hoạt động hải quân ra quy mô toàn cầu. Trong khi đó, Moscow đã có ý dòm ngó những mỏ khí đốt được phát hiện trong vùng Địa Trung Hải, đang lôi kéo Hy Lạp, đồng thời muốn bảo vệ quân cảng nhỏ bé của mình trên bờ biển Syria. Ngoài ra, cả hai bên đều rất thích thú được quấy nhiễu các lực lượng của NATO trong khu vực, bao gồm cả Hạm đội 6 của Hoa Kỳ có căn cứ tại Naples [thuộc nước Ý].
Trong nước, Nga đang đối mặt với nhiều thách thức, trong đó nhân khẩu học không phải vấn đề nhỏ. Sự sụt giảm mạnh trong tăng trưởng dân số có lẽ đã được ngăn chặn, nhưng đó vẫn còn là vấn đề. Tuổi thọ trung bình của người Nga thấp hơn 65, khiến Nga bị xếp vào nửa dưới trong số 193 nước thành viên thuộc Liên Hiệp Quốc, và hiện chỉ có 144 triệu người Nga (không tính Crimea):
Từ Đại Công quốc Muscovy, qua thời Peter Đại đế, alin và hiện giờ là Putin, mỗi nhà lãnh đạo Nga đều phải đối mặt với cùng những vấn đề giống nhau. Cho dù ý thức hệ của những người cầm quyền có là chế độ Sa hoàng, chủ nghĩa cộng sản hoặc chủ nghĩa tư bản thân hữu đi nữa – thì các hải cảng vẫn bị đóng băng, và Đồng bằng Bắc Âu vẫn cứ bằng phẳng.
Việc xóa bỏ những đường biên giới của các quốc gia dân tộc, và tấm bản đồ mà Ivan Bạo Chúa phải đương đầu cũng vẫn chính là những vấn đề mà ngày nay Vladimir Putin đang phải đối mặt.
Chương 2 - Trung Quốc
“Trung Quốc là một nền văn minh giả dạng là một quốc gia”- Lucian Pye nhà khoa học chính trị.
Tháng Mười năm 2006, trong khi một đội tàu siêu sân bay của hải quân Hoa Kỳ dẫn đầu bởi chiếc USS Kitty Hawk dài 320 mét đang tự tin vượt biển Hoa Đông giữa miền Nam Nhật Bản và Đài Loan, thận trọng để ý việc của mọi người xung quanh, thì một tàu ngầm hải quân Trung Quốc trồi lên mặt nước ngay giữa đội hình mà không hề cảnh báo.
Một tàu sân bay Hoa Kỳ thuộc kích cỡ như vậy thường được bao quanh bởi khoảng mười hai tàu chiến khác, được che chắn trên không và có tàu ngầm bảo vệ dưới nước. Con tàu của Trung Quốc, một tàu ngầm tấn công lớp Tống, có thể rất im lặng khi chạy bằng điện năng, nhưng dù sao sự kiện này vẫn tương đương với việc một nhà quản lý của Pepsi-Cola bất ngờ xuất hiện giữa một cuộc họp hội đồng quản trị của Coca-Cola sau khi nghe lén dưới gầm bàn nửa giờ.
Cảm xúc của người Mỹ là vừa kinh ngạc vừa tức giận. Kinh ngạc bởi vì họ không ngờ Trung Quốc có thể làm điều đó mà không bị họ phát hiện, tức giận bởi vì họ đã không phát hiện được và vì họ coi đó là hành động khiêu khích, đặc biệt là tàu ngầm Trung Quốc nằm trong tầm ngư lôi của Kitty Hawk. Họ lên tiếng phản đối, có lẽ hơi ồn ào quá, và người Trung Quốc phát biểu: “Ôi! Thật là trùng hợp, việc chúng tôi nổi lên ở giữa đội chiến hạm của quý vị vốn nằm ngoài khơi bờ biển của chúng tôi, chúng tôi nào có biết.”
Đây là thuật ngoại giao pháo hạm đảo ngược của thế kỷ 21; khi xưa người Anh thường bố trí một tàu chiến ngoài khơi vùng bờ biển của một thế lực nhỏ nào đó để báo hiệu ý định của họ, nay người Trung Quốc đột ngột xuất hiện ngoài khơi vùng bờ biển của chính họ như một thông điệp rõ ràng: “Hiện nay chúng tôi là một cường quốc hàng hải, đây là thời của chúng tôi, và đây là vùng biển của chúng tôi.” Trung Quốc phải mất đến bốn ngàn năm, nhưng rốt cuộc họ đã bắt đầu tiếp cận một hải cảng – và một tuyến đường vận chuyển – ngay gần nơi bạn.
Cho đến nay, Trung Quốc chưa bao giờ là một thế lực hải quân – với diện tích đất liền rộng lớn, rất nhiều những đường biên giới và tuyến đường biển ngắn kết đến các đối tác thương mại, họ không cần thiết phải mạnh về hải quân, và hiếm khi có ý muốn bành trướng về mặt ý thức hệ. Thương nhân Trung Quốc từ lâu đã giăng buồm vượt đại dương để buôn bán hàng hóa, nhưng hải quân của họ không tìm cách lấn chiếm lãnh ngoài vùng đất của mình; cộng với những khó khăn của việc tuần tra các tuyến đường biển dài trên Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương khiến cho những nỗ lực đó chẳng bõ công. Trung Quốc vẫn luôn là một thế lực trên đất liền, với đất rộng và người đông – hiện đã gần 1,4 tỷ người.
Khái niệm về Trung Quốc xét như một thực thể có dân cư đã bắt đầu gần bốn ngàn năm trước. Cái nôi của nền văn minh Trung Quốc là vùng được gọi là Bình nguyên Hoa Bắc, người Trung Quốc gọi vùng này là Trung nguyên. Một dải đất thấp rộng lớn diện tích gần 160.000 dặm vuông, nó nằm phía dưới vùng Nội Mông, phía nam Mãn Châu, trong và xung quanh lưu vực sông Hoàng Hà và trải xuống lưu vực sông Dương Tử; cả hai con sông này chảy từ tây sang đông. Đây là một trong những khu vực có mật độ dân cư đông nhất trên thế giới.
Lưu vực sông Hoàng Hà thường xuyên phải hứng chịu những đợt lũ lụt tàn phá, vì vậy dòng sông này nhận được biệt hiệu không ai ưa thích là “Tai họa của con dân Hán“. Quá trình công nghiệp hóa trong khu vực thực sự khởi đầu vào những năm 1950 và đã nhanh chóng tăng tốc trong ba thập niên vừa qua. Dòng sông bị ô nhiễm nặng nề này hiện bị tắc nghẽn với đầy rẫy những chất thải độc hại đến mức đôi khi nó thậm chí phải vùng vẫy để chảy ra tới bờ biển. Tuy nhiên, sông Hoàng Hà với Trung Quốc cũng như sông Nile với Ai Cập – là cái nôi của nền văn minh, nơi người dân học cách làm ruộng, chế tạo giấy và thuốc súng.
Ở phía bắc vùng đất tiền-Trung Hoa này là những dải đất khắc nghiệt của sa mạc Gobi, mà giờ đây thuộc về Mông Cổ. Về phía tây, dải đất dần nâng cao cho đến khi nó trở thành cao nguyên Tây Tạng, tiến đến chân dãy Himalaya. Phía đông nam và phía nam giáp với biển.
Vùng đất trung tâm được biết đến với tên gọi bình nguyên Hoa Bắc, là một đồng bằng rộng lớn và màu mỡ với hai con sông chính và một bầu khí hậu cho phép người ta thu hoạch gạo và đậu nành hai vụ một năm, khuyến khích dân số phát triển nhanh. Đến thế kỉ thứ 15 trước công nguyên tại vùng đất trung tâm này, từ hàng trăm thành bang nhỏ tranh đoạt thôn tính lẫn nhau, đã xuất hiện phiên bản sớm nhất của một nhà nước Trung Hoa – nhà Thương. Đây chính là nơi mà dân tộc Hán dần hình thành, bảo vệ vùng đất trung tâm và kiến tạo một vùng đệm xung quanh họ.
Dân tộc Hán hiện chiếm hơn 90% dân số Trung Quốc, thống trị Trung Quốc cả chính trị và kinh tế. Họ được phân chia thành những nhóm sử dụng tiếng Quan thoại, tiếng Quảng Đông và nhiều ngôn ngữ địa phương khác, nhưng được thống nhất bởi tính cách sắc tộc và, ở một mức độ chính trị là bởi sự thôi thúc về địa chính trị để bảo vệ vùng đất trung tâm. Tiếng Quan thoại, có nguồn gốc ở phần phía bắc của khu vực, là ngôn ngữ ưu thế và là phương tiện truyền thông của chính phủ, truyền hình và giáo dục quốc gia. Tiếng Quan Thoại giống tiếng Quảng Đông và nhiều tiếng địa phương khác về chữ viết, nhưng ngôn ngữ nói thì rất khác biệt.
Vùng đất trung tâm là trọng tâm về chính trị, văn hóa, nhân khẩu học và – quan trọng nhất – về nông nghiệp. Khoảng một tỷ người sống trong khu vực này của Trung Quốc, mặc dù về diện tích nó chỉ bằng một nửa của Hoa Kỳ nơi có dân số 322 triệu người. Do địa hình của vùng đất trung tâm tạo thuận lợi cho sự định cư và lối sống canh tác nông nghiệp, nên các triều đại sơ kỳ đã cảm thấy bị đe dọa bởi các vùng đất không thuộc về người Hán ở xung quanh, đặc biệt là Mông Cổ với những toán chiến binh du mục hung tợn.
Trung Quốc đã chọn chiến lược tương tự như Nga: lấy công làm thủ, dẫn tới quyền lực. Như chúng ta sẽ thấy, tại đây có những rào cản tự nhiên che chắn cho họ – nếu người Hán có thể tiếp cận và thiết lập sự kiểm soát tại vùng này. Đó là một cuộc tranh đấu trường kỳ hàng thiên niên kỷ, chỉ được hoàn tất trọn vẹn với sự kiện sáp nhập Tây Tạng vào năm 1951.
Đến thời của triết gia Trung Quốc nổi tiếng Khổng Tử (651-479 trước Công nguyên) đã hình thành một cảm nghĩ mạnh mẽ về bản sắc Trung Hoa, về sự phân chia giữa vùng văn minh Trung Hoa và những vùng “man di” xung quanh nó. Đây là một cảm thức về bản sắc được chia sẻ bởi khoảng sáu mươi triệu con người.
Đến năm 200 trước công nguyên, Trung Quốc đã bành trướng về hướng Tây Nam, nhưng vẫn chưa với tới Tây Tạng ở phía tây nam, về phía bắc tới vùng thảo nguyên Trung Á và phía nam xuống tận đến biển Đông (mà họ gọi là biển Hoa Nam). Vạn Lý Trường Thành được khởi công xây dựng từ triều đại nhà Tần (221-207 trước Công nguyên), và hình dạng Trung Quốc trên bản đồ bắt đầu định hình như nước Trung Hoa hiện đại mà chúng ta nhìn nhận ngày nay. Tuy nhiên phải hơn hai ngàn năm trôi qua trước khi biên giới Trung Quốc hiện nay được cố định.
Giữa năm 605 và 609 Công nguyên, kênh đào Đại Vận Hà, mất mấy thế kỷ xây dựng và ngày nay là con đường thủy nhân tạo dài nhất thế giới, đã được kéo dài và cuối cùng nối liền sông Hoàng Hà với sông Dương Tử. Nhà Tùy (581-618 Công nguyên) đã kiểm soát được một số lượng lớn nhân công và sử dụng họ để nối liền những phụ lưu tự nhiên sẵn có thành một tuyến đường thủy có khả năng thông thương giữa hai con sông lớn. Tuyến đường thủy này kết nối hai vùng Hoa Bắc và Hoa Nam chặt chẽ hơn bao giờ hết. Mấy triệu nô lệ phải lao động năm năm để hoàn tất công trình, nhưng bài toán được đặt ra từ xưa về việc làm cách nào vận chuyển hàng hóa từ nam tới bắc nay đã được giải quyết. Tuy vậy, một bài toán khác vẫn tồn tại cho đến ngày nay – lũ lụt.
Người Hán vẫn tranh đoạt thôn tính lẫn nhau, nhưng ngày càng giảm dần, và vào đầu thế kỉ thứ 11, họ buộc phải tập trung sự chú ý vào những đợt sóng xâm lăng Mông Cổ tràn xuống từ phương Bắc. Người Mông Cổ đánh bại bất cứ vương quốc nào chống lại họ, dù phía nam, và đến năm 1279, thủ lĩnh của họ là Hốt Tất Liệt trở thành người ngoại tộc đầu tiên cai trị toàn bộ đất nước này trên ngôi vị hoàng đế của triều đại Mông Cổ (nhà Nguyên). Gần chín mươi năm trôi qua trước khi người Hán giành lại quyền tự chủ cùng với sự thành lập nhà Minh.
Vào thời điểm này, Trung Quốc ngày càng có nhiều tiếp xúc với thương nhân và sứ giả từ các quốc gia châu Âu đang trỗi dậy, như Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc chống lại bất kỳ hình thức hiện diện thường trực nào của châu Âu, nhưng ngày càng mở cửa các vùng duyên hải để buôn bán. Đây vẫn còn là một nét đặc trưng của Trung Quốc cho đến ngày nay: khi Trung Quốc mở cửa, các vùng duyên hải phát triển phồn thịnh nhưng các khu vực sâu trong đại lục thường bị bỏ quên. Sự thịnh vượng do thương mại đem lại đã làm cho các thành phố ven biển như Thượng Hải trở nên giàu có, nhưng sự giàu có ấy không lan tới vùng nông thôn. Tình trạng này càng làm gia tăng dòng di dân khổng lồ đổ vào các khu đô thị, và cũng làm nổi bật sự khác biệt giữa các vùng miền.
Vào thế kỷ 18, Trung Quốc đã vươn tay tới một số vùng thuộc Miến Điện và Đông Dương ở phía nam. Vùng Tân Cương phía tây bắc cũng bị chinh phục và trở thành tỉnh lớn nhất của nước này. Là một vùng gồm núi non hiểm trở và các lòng chảo sa mạc rộng lớn, Tân Cương rộng 642.820 dặm vuông, gấp đôi diện tích của Texas – hoặc tính theo cách khác, bạn có thể xếp gọn Anh, Pháp, Đức, Áo, Thụy Sĩ, Hà Lan và Bỉ bên trong địa giới tỉnh này mà vẫn còn đủ chỗ cho Luxembourg, thậm chí cả Liechtenstein nữa.
Nhưng, khi tăng diện tích, Trung Quốc đồng thời cũng chuốc thêm những vấn đề khác. Tân Cương, một khu vực có dân cư theo Hồi giáo, là nguồn gốc của những bất ổn, thậm chí bạo động trường kỳ cũng như ở các khu vực khác; nhưng đối với dân tộc Hán, đây là một vùng đệm đáng giá để chấp nhận rắc rối, thậm chí càng đáng giá hơn sau khi đất nước Trung Quốc hứng chịu vận xấu đổ xuống đầu họ trong thế kỷ 19 và 20 cùng với sự xuất hiện của người châu Âu.
Các cường quốc thực dân kéo đến, trong số đó có người Anh, và chia cắt đất nước này thành những vùng ảnh hưởng của họ. Điều đó đã, và vẫn là nỗi nhục nhã lớn nhất mà người Trung Quốc phải chịu đựng kể từ cuộc xâm lược của người Mông Cổ. Đây là một câu chuyện mà đảng Cộng sản thường xuyên sử dụng; một phần vì nó đúng, nhưng cũng vì nó hữu dụng trong việc che đậy các thất bại và chính sách đàn áp của đảng Cộng sản.
Sau đó, người Nhật – một cường quốc mới nổi đang trên đà bành trướng lãnh thổ – đã xâm lược với cuộc tấn công vào năm 1932 và lần nữa vào năm 1937, sau đó họ xâm chiếm hầu hết vùng đất trung tâm cũng như Mãn Châu và Nội Mông. Năm 1945, vào giai đoạn cuối của thế chiến thứ II Nhật đầu hàng Mỹ vô điều kiện và theo đó rút quân khỏi Trung Quốc, mặc dù ở Mãn Châu, họ được thay thế bởi quân đội Liên Xô đang tiến vào, sau đó quân Liên Xô cũng rút lui năm 1946.
Một số nhà quan sát bên ngoài nhận định rằng những năm hậu chiến có thể mang lại nên tự do dân chủ cho Trung Quốc. Nhưng đó là một lối suy nghĩ viển vông, giống như những gì người phương Tây ngây thơ đã viết trong những ngày đầu của cuộc cách mạng “Mùa xuân Ả-rập3“ mới đây, thì trường hợp của Trung Quốc cũng vậy, chúng dựa trên sự thiếu hiểu biết về những động lực nội bộ của dân chúng, của chính trị và địa lý trong khu vực.
Thay vào đó, lực lượng dân tộc chủ nghĩa (Quốc dân đảng) dưới quyền Tưởng Giới Thạch và quân đội cộng sản dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông đã đánh nhau để tranh giành quyền lực tối cao cho đến năm 1949, khi đảng Cộng sản giành thắng lợi và những người theo Quốc dân đảng rút sang Đài Loan. Cùng năm đó, đài phát thanh Bắc Kinh tuyên bố: “Quân Giải phóng Nhân dân phải giải phóng mọi vùng lãnh thổ thuộc Trung Quốc, bao gồm Tây Tạng, Tân Cương, Hải Nam và Đài Loan.”
Mao Trạch Đông tập trung quyền lực tới một mức độ chưa từng thấy trong các triều đại trước đó. Ông ấy ngăn chặn ảnh hưởng của Nga tại Nội Mông và mở rộng ảnh hưởng của Bắc Kinh vào sâu lãnh thổ Mông Cổ. Năm 1951 Trung Quốc hoàn tất việc sáp nhập Tây Tạng (một vùng lãnh thổ rộng mênh mông khác không thuộc về người Hán), và đến thời điểm này bản đồ trong sách giáo khoa Trung Quốc bắt đầu mô tả Trung Quốc trải dài thậm chí lấn sang các nước cộng hòa Trung Á. Đất nước đã được ghép nối lại hoàn chỉnh, Mao dùng phần còn lại của cuộc đời mình để đảm bảo đất nước tồn tại nguyên vẹn như vậy và củng cố quyền kiểm soát của đảng Cộng sản trong mọi mặt của đời sống, nhưng – quay lưng lại với phần lớn thế giới bên ngoài. Đất nước – tiếp tục nghèo khổ đến tuyệt vọng, đặc biệt là các miền – đất xa ở những vùng duyên hải, nhưng đất nước được thống nhất.
Những người kế nhiệm Mao cố gắng biến cuộc Vạn lý Trường chinh tới chiến thắng của Mao thành một cuộc trường chinh kinh tế hướng tới sự thịnh vượng. Vào đầu những năm 1980, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã đặt ra thuật ngữ “Chủ nghĩa xã hội với đặc điểm Trung Quốc” (Trung Quốc đặc sắc Xã hội chủ nghĩa), mà thực tế nên được dịch là “Đảng Cộng sản toàn quyền kiểm soát trong một nền kinh tế Tư Bản”. Trung Quốc trở thành một cường quốc thương mại lớn và một gã khổng lồ quân sự mới nổi. Vào cuối thập niên 1990, Trung Quốc đã được khôi phục sau cuộc thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn năm 1989, lần lượt lấy lại Hồng Kông và Macau từ tay Anh và Bồ Đào Nha, và đã có thể nhìn ra xung quanh biên giới của mình, đánh giá mức độ an ninh của mình và lên kế hoạch cho bước xuất hành vĩ đại hướng ra thế giới.
Nếu nhìn vào biên giới hiện đại của Trung Quốc, chúng ta thấy một cường quốc vĩ đại giờ đây tự tin rằng nó được đảm bảo bởi các đặc điểm địa lý của mình, cho phép nó phòng vệ và làm thương mại hữu hiệu. Tại Trung Quốc, các hướng của la bàn luôn được liệt kê theo thứ tự đông-nam-tây-bắc, nhưng chúng ta hãy bắt đầu từ hướng bắc và di chuyển theo chiều kim đồng hồ.
Ở phía bắc, chúng ta thấy đường biên giới dài 2.906 dặm với Mông Cổ. Nằm vắt ngang biên giới này là sa mạc Gobi. Các chiến binh du mục từ thời cổ đại có thể đã tấn công về phía nam qua sa mạc này, nhưng một binh đoàn thời hiện đại tập kết tại đây sẽ bị phát hiện ra hàng tuần trước khi sẵn sàng tiến quân, và họ cũng cần đến các tuyến tiếp vận dài đến khó tin chạy dọc qua một địa hình không hiếu khách trước khi có thể tiến vào Nội Mông (một phần của Trung Quốc) và đến gần vùng trung tâm. Hầu như không có đường xá phù hợp để vận chuyển những chiến xa hạng nặng, rất ít vùng có thể cư trú được. Sa mạc Gobi là một hệ thống cảnh báo sớm kiêm tuyến phòng thủ vĩ đại. Bất kỳ sự bành trướng nào của Trung Quốc lên phía bắc sẽ không phải bằng quân sự, mà phát xuất từ những thỏa thuận thương mại, khi Trung Quốc cố gắng hút cạn nguồn tài nguyên thiên nhiên của Mông Cổ, chủ yếu là khoáng sản. Việc này cũng làm gia tăng lượng di dân từ Hán vào Mông Cổ.
Ngay cạnh đó, về phía đông, là đường biên giới của Trung Quốc với Nga, chạy dài một mạch đến Thái Bình Dương – hoặc ít nhất đến phân khu biển Nhật Bản của nó. Phía trên là vùng Viễn Đông núi non thuộc Nga, một lãnh thổ bao la, không hiếu khách, với dân cư thưa thớt. Dưới đó là Mãn Châu, vùng đất mà người Nga sẽ phải vượt qua nếu họ muốn đến được dải đất trung tâm Trung Quốc. Dân số Mãn Châu là 100 triệu người và đang đà gia tăng; ngược lại, vùng Viễn Đông của Nga chỉ có dưới bảy triệu người và không có dấu hiệu tăng trưởng dân số. Người ta có thể chờ đợi một cuộc di cư quy mô lớn từ phía nam ngược lên phía bắc, và điều này sẽ đem lại cho Trung Quốc một lợi thế trong mối quan hệ với Nga. Từ góc nhìn quân sự, địa điểm tốt nhất để vượt qua biên giới là nơi nằm gần cảng Vladivostok của Nga trên Thái Bình Dương, nhưng Nga có rất ít lý do, và hiện tại không dự định nào, để làm vậy. Thực tế, các biện pháp trừng phạt gần đây của phương Tây đối với Nga do cuộc khủng hoảng của Ukraine đã thúc đẩy Nga tiến hành những thỏa thuận kinh tế lớn với Trung Quốc theo những điều kiện giúp Nga không bị nhấn chìm, nhưng những thỏa thuận này có lợi hơn cho Trung Quốc. Nga là đối tác yếu thế trong mối quan hệ này.
Bên dưới vùng Viễn Đông của Nga, dọc miền duyên hải, là biển Hoàng Hải, biển Hoa Đông và biển Đông (mà Trung Quốc gọi là Hoa Nam), thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có nhiều bến cảng tốt và vẫn luôn được sử dụng cho mục đích thương mại. Tuy nhiên, bên kia bờ biển là một loạt vấn đề đến từ những đảo quốc – một trong số đó có hình dạng giống như Nhật Bản mà chúng ta sẽ bàn đến sau.
Tiếp tục theo chiều kim đồng hồ, chúng ta đến biên giới đất liền kế tiếp: Việt Nam, Lào và Miến Điện. Việt Nam là một nỗi bực bội đối với Trung Quốc. Trong nhiều thế kỷ, hai dân tộc đã tranh chấp về lãnh thổ, và điều không may cho cả hai là khu vực miền nam này có một biên giới mà quân đội có thể vượt qua chẳng mấy khó khăn – điều này phần nào giải thích sự thống trị và chiếm đóng của Trung Quốc trên lãnh thổ Việt Nam suốt một ngàn năm từ 111 trước Công nguyên đến 938 Công nguyên và cuộc chiến tranh biên giới ngắn ngủi năm 1979. Tuy nhiên, khi sức mạnh quân sự của Trung Quốc ngày càng gia tăng, Việt Nam sẽ ít có khả năng để mình bị lôi kéo vào một trận đấu súng, và sẽ kết thân hơn nữa với Hoa Kỳ để được bảo vệ, hoặc bắt đầu lặng lẽ thay đổi sách lược ngoại giao để làm bạn với Bắc Kinh. Việc cả hai nước trên danh nghĩa đều theo lý tưởng cộng sản là chẳng tác động gì mấy đến tình trạng quan hệ của họ: chính sự chia sẻ về mặt địa lý đã quy định mối quan này. Nhìn từ góc độ của Bắc Kinh, Việt Nam chỉ là một mối đe dọa nhỏ và một vấn đề có thể xử lý được.
Biên giới với Lào là địa hình đồi gò rừng rậm, thương nhân rất khó vượt qua – và thậm chí càng phức tạp hơn đối với quân đội. Khi di chuyển theo chiều kim đồng hồ tới Miến Điện, rừng rậm đồi gò trở thành vùng núi non vươn cao dần đến độ cao hơn sáu ngàn mét ở cực tây và bắt đầu nhập vào dãy Himalaya.
Điều này đưa chúng ta đến Tây Tạng và tầm quan trọng của nó đối với Trung Quốc. Dãy Himalaya chạy dọc chiều dài biên giới Trung – Ấn trước khi hạ dần xuống để trở thành rặng Karakorum tạo ranh giới với Pakistan, Afghanistan và Tajikistan. Đây là phiên bản Vạn Lý Trường Thành tự nhiên của Trung Quốc, hoặc – nếu nhìn từ phía New Delhi – là Vạn Lý Trường Thành của Ấn Độ. Bức tường tự nhiên này đã tách biệt hai nước đông dân nhất trên hành tinh cả về mặt quân sự cũng như kinh tế.
Trung-Ấn cũng có tranh chấp: Trung Quốc đòi “bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ, Ấn Độ nói Trung Quốc đang chiếm Aksai Chin; nhưng mặc dù pháo binh họ chĩa vào nhau vươn qua bức tường chắn tự nhiên này cả hai bên đều có những việc cần làm hơn là khơi lại trận đụng độ quân sự nổ ra vào năm 1962, khi một loạt tranh chấp bạo lực trên biên giới đạt đến đỉnh điểm là những trận chiến khốc liệt quy mô lớn trên vùng núi. Tuy nhiên sự căng thẳng vẫn còn đó và mỗi bên cần thận trọng xử lý tình huống.
Hầu như không có quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Ấn Độ trong nhiều thế kỷ, và điều này có vẻ sẽ không thay đổi trong tương lai gần. Dĩ nhiên biên giới này thực ra là biên giới Tây Tạng – Ấn Độ. Và đó chính là lý do tại sao Trung Quốc luôn muốn kiểm soát Tây Tạng.
Đây là địa chính trị của nỗi lo sợ. Nếu Trung Quốc không kiểm soát Tây Tạng, thì luôn có khả năng Ấn Độ sẽ cố gắng làm điều đó. Điều đó sẽ trao cho Ấn Độ những cao điểm kiểm soát cao nguyên Tây Tạng và một căn cứ để từ đó đưa quân vào Trung nguyên Trung Hoa, cũng như quyền kiểm soát thượng nguồn ở Tây Tạng của ba con sông lớn của Trung Quốc, sông Hoàng Hà, sông Dương Tử và sông Mekong. Đây cũng là lý do tại sao Tây Tạng được mang biệt danh “Tháp nước của Trung Quốc”. Trung Quốc, một quốc gia có lượng nước sử dụng tương tự như Hoa Kỳ, nhưng với dân số gấp năm lần, rõ ràng sẽ không cho phép điều đó.
Vấn đề không phải ở chỗ Ấn Độ muốn cắt nguồn cung cấp nước của Trung Quốc hay không, mà là liệu Ấn Độ có đủ sức làm như vậy hay không. Trong nhiều thế kỷ, Trung Quốc đã cố gắng đảm bảo để điều đó sẽ không bao giờ xảy ra. Diễn viên Richard Gere và phong trào tự do cho Tây Tạng sẽ còn tiếp tục lên tiếng chống lại sự bất công của việc xâm chiếm Tây Tạng, và giờ đây là việc định cư của người Hán tại Tây Tạng, nhưng trong Cuộc tranh chấp giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma, phong trào giành độc lập cho Tây Tạng, các ngôi sao Hollywood với Đảng Cộng sản Trung Quốc – kẻ đang thống trị nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – sẽ chỉ có một người chiến thắng.
Khi người phương Tây, dù là diễn viên Hollywood Richard Gere hay cựu Tổng thống Mỹ Obama, nói về Tây Tạng, Trung Quốc thấy vô cùng khó chịu. Họ không thấy nguy hiểm, không sợ bị lật đổ, mà chỉ thấy khó chịu. Họ không nhìn sự việc qua lăng kính nhân quyền, mà qua lăng kính an ninh địa chính trị, và chỉ tin rằng phương Tây đang cố gắng làm suy yếu an ninh của họ. Tuy nhiên, an ninh Trung Quốc đã và sẽ không bị làm suy yếu, ngay cả khi có nhiều cuộc nổi loạn hơn nữa chống lại người Hán. Nhân khẩu học và địa chính trị đều chống lại sự độc lập của Tây Tạng.
Người Trung Quốc đang xây dựng “sự thực trên thực địa” (facts on the ground) trên “nóc nhà của thế giới”. Vào những năm 1950, quân đội Trung Quốc bắt đầu xây dựng các tuyến đường vào Tây Tạng, và kể từ đó họ đã góp phần đưa thế giới hiện đại đến vương quốc cổ xưa này; nhưng các tuyến đường bộ này, và bây giờ là đường sắt cũng đưa người Hán đến đây.
Từ lâu người ta đã bảo rằng không thể xây dựng một tuyến đường sắt xuyên qua vùng đất đóng băng vĩnh viễn, qua núi non và thung lũng của Tây Tạng. Các kỹ sư giỏi nhất của của châu Âu, những người đã từng đục xuyên qua dãy Alps, cho biết điều đó không thể thực hiện được. Cho đến năm 1988, tác giả du ký Paul Theroux4 đã viết trong cuốn sách Riding the Iron Rooster: “Dãy Côn Lôn là thứ khiến đường sắt sẽ không bao giờ đến được Lhasa.” Côn Lôn chia cắt tỉnh Tân Cương với Tây Tạng, và Theroux cám ơn vì điều đó: “Đó hắn là một điều tốt lành. Cho đến khi nhìn thấy Tây Tạng, tôi vẫn tưởng rằng mình yêu thích đường sắt. Và rồi tôi nhận ra rằng mình thích sự hoang dã hơn rất nhiều.” Nhưng người Trung Quốc đã xây dựng tuyến đường sắt đó. Có lẽ chỉ họ mới có thể làm được điều này. Đường vào Lhasa, thủ phủ Tây Tạng, được chủ tịch Trung Quốc lúc bấy giờ là Hồ Cẩm Đào khánh thành năm 2006. Giờ đây, tàu khách và tàu hàng đổ đến từ Thượng Hải và Bắc Kinh mỗi ngày bốn chuyến, và hằng ngày.
Những chuyến tàu này mang theo nhiều thứ, ví dụ như hàng tiêu dùng từ mọi miền Trung Quốc, máy vi tính, tivi màu và điện thoại di động. Chúng mang đến những khách du lịch hỗ trợ cho nền kinh tế địa phương, chúng mang đời sống hiện đại đến một vùng đất cổ xưa và nghèo khó, một sự cải thiện lớn lao về mức sống và chăm sóc sức khỏe, và cũng mang lại tiềm năng đưa hàng hóa của Tây Tạng ra thế giới bên ngoài. Nhưng những chuyến tàu đó cũng đưa đến vài triệu di dân người Trung Quốc gốc Hán.
Con số thực tế khó có thể biết được: phong trào Tây Tạng Tự do tuyên bố rằng trong vùng văn hóa Tây Tạng rộng lớn, người Tây Tạng hiện nay là thiểu số, nhưng chính phủ Trung Quốc nói rằng ở Khu Tự trị Tây Tạng, hơn 90% dân chúng là người Tây Tạng. Cả hai bên đều cường điệu các con số, nhưng bằng chứng cho thấy chính phủ Trung Quốc có mức độ cường điệu cao hơn. Con số đó không bao gồm những di dân người Hán vốn không được đăng ký thường trú, nhưng người quan sát bình thường có thể thấy rằng hiện nay các khu dân cư người Hán thống trị trong các vùng đô thị Tây Tạng.
Đã có thời đại đa số dân cư Mãn Châu, Nội Mông và Tân Cương là người thuộc sắc tộc Mãn Châu, Mông Cổ và Duy Ngô Nhĩ (Uighur); hiện giờ trong cả ba tỉnh trên người Hán chiếm đa số, hoặc đang trở thành đa số. Tình trạng như vậy cũng sẽ xảy ra với Tây Tạng.
Điều này có nghĩa là sự oán giận đối với người Hán sẽ tiếp tục biểu lộ qua bạo loạn như sự kiện năm 2008, khi người dân Tây Tạng biểu tình chống Trung Quốc tại Lhasa, đốt và cướp phá tài sản của người Hán, hai mươi mốt người chết và hàng trăm người bị thương. Sự trấn áp của chính quyền sẽ tiếp tục, phong trào Tây Tạng Tự do sẽ tiếp tục, tăng sĩ sẽ tiếp tục tự thiêu để cảnh báo thế giới về tình cảnh của người Tây lạng – còn người Hán vẫn sẽ tiếp tục di cư đến.
Dân số khổng lồ của Trung Quốc, hầu hết sống trong vùng trung tâm, đang tìm kiếm cách để mở rộng. Cũng giống như người Mỹ từng hướng mắt nhìn về phía tây, người Trung Quốc cũng vậy, và cũng giống như những con Ngựa sắt (tàu lửa) đã đưa dân di cư gốc châu Âu đến vùng đất của thổ dân Comanche và Navajo, những con Gà sắt5 thời hiện đại đang đưa người Hán tới Tây Tạng.
Sau cùng, kim la bàn di chuyển qua biên giới với Pakistan, Tajikistan và Kyrgyzstan (tất cả đều là vùng núi) trước khi đến biên giới giáp với Kazakhstan, dẫn ngược về phía bắc, trở lại Mông Cổ. Đây là Con đường Tơ lụa cổ đại, là cầu nối thương mại trên đất liền từ Trung Hoa ra thế giới bên ngoài. Về mặt lý thuyết, nó là một điểm yếu trong hệ thống phòng thủ của Trung Quốc, một khoảng trống giữa vùng núi non và sa mạc; nhưng nó nằm xa dải đất trung nguyên, dân Kazakhs không ở vị thế có thể đe dọa Trung Quốc, và Nga cách xa mấy trăm dặm.
Phía đông nam giáp biên giới Kazakhstan này là Tân Cương, tỉnh “bán tự trị” bất kham của Trung Quốc, và dân cư ở đó là người Duy Ngô Nhĩ bản địa theo Hồi giáo, họ nói thứ tiếng cùng ngữ hệ với tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Tân Cương giáp biên giới với 8 quốc gia: Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan và Ấn Độ.
Tân Cương đã từng và sẽ luôn có bất ổn. Người Duy Ngô Nhĩ đã hai lần tuyên bố nhà nước độc lập “Đông Turkestan”, trong những năm 1930 và những năm 1240. Họ chứng kiến sự sụp đổ của Đế quốc Nga dẫn đến hệ quả là các nước láng giềng Xô viết cũ của họ ở vùng “Stan” trở thành các quốc gia có chủ quyền. Họ được truyền cảm hứng bởi phong trào độc lập của Tây Tạng, và hiện nay nhiều người đang kêu gọi tách khỏi Trung Quốc.
Cuộc bạo loạn giữa các sắc tộc bùng nổ trong năm 2009, dẫn đến hơn hai trăm người chết. Bắc Kinh phản ứng theo ba cách: tàn nhẫn đàn áp những người bất đồng, đổ tiền vào khu vực này, và vẫn tiếp tục ồ ạt đưa lao động người Hán tới. Đối với Trung Quốc, Tân Cương quá quan trọng về mặt chiến lược và vì vậy không thể cho phép phong trào đòi độc lập trỗi dậy: Tân Cương không chỉ chia sẻ biên giới với tám quốc gia, do đó là vùng đệm cho dải đất trung tâm, mà nó còn có dầu mỏ, và là nơi an toàn để bố trí các địa điểm thử nghiệm vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Lãnh thổ này cũng là con át chủ bài trong chiến lược kinh tế “Một vành đai, Một con đường”. Thật kỳ quặc khi con đường này lại là đường biển – kiến tạo nên một tuyến đường cao tốc trên biển để chuyên chở hàng hóa. Vành đai ở đây là “Vành đai kinh tế kiểu Con đường Tơ lụa” – một tuyến đường bộ được hình thành từ thời Con đường Tơ lụa ngày xưa, chạy thẳng qua Tân Cương đó sẽ nối tiếp xuống phía nam tới cảng nước sâu khổng lồ mà Trung Quốc đang tiến hành xây dựng tại Gwadar, Pakistan. Vào cuối năm 2015, Trung Quốc đã ký một hợp đồng thuê cảng 40 năm. Hải cảng này là một phần trong biện pháp mà theo đó “Vành đai và Con đường” sẽ được kết nối.
Hầu hết các thị trấn và thành phố mới mọc lên ở Tân Cương chủ yếu là người tộc Hán định cư, họ bị thu hút bởi công ăn việc làm trong các nhà máy mới mà chính quyền trung ương đầu tư. Một ví dụ điển hình là thành phố Thạch Hà Tử, cách tám lăm dặm về phía tây bắc thủ phủ Urumqi. Trong tổng số 650.000 dân cư của vùng, có ít nhất 620.000 người được cho là thuộc dân tộc Hán. Trên tổng thể, ước chừng Tân Cương có khoảng 40% người Hán, theo một ước tính dè dặt – và thậm chí đa số dân của chính Urumqi cũng là người Hán, mặc dù các số liệu chính thức rất khó nắm bắt và không phải lúc nào cũng đáng tin cậy do tính nhạy cảm về chính trị của chúng.
Đã xuất hiện một “Đại hội Đại biểu Duy Ngô Nhĩ thế giới” đóng trụ sở tại Đức, và “Phong trào Giải phóng Đông Turkestan“ được thành lập ở Thổ Nhĩ Kỳ; nhưng những người Duy Ngô Nhĩ chủ trương ly khai không có một nhân vật kiểu như Đạt Lai Lạt Ma để có thể thu hút sự chú ý của các phương tiện truyền thông, và sự nghiệp giành độc lập của họ hầu như không được thế giới biết đến. Trung Quốc cố gắng giữ tình trạng y nguyên như vậy, đảm bảo cho họ quan hệ thân thiện với càng nhiều các quốc gia láng giềng càng tốt, nhằm ngăn chặn các phong trào độc lập có tổ chức tìm được tuyến tiếp tế hậu cần hoặc căn cứ nào đó để rút lui. Bắc Kinh cũng chủ chương tô vẽ những người chủ chương ly khai y như khủng bố Hồi giáo. Al-Qaeda và các nhóm khác có cơ sở tại những nơi như Tajikistan quả thực là đang nỗ lực liên kết với các phần tử ly khai Duy Ngô Nhĩ, nhưng phong trào này chủ yếu là mang tính dân tộc chủ nghĩa. Tuy nhiên, các cuộc tấn công bằng súng, bom, và dao trong khu vực này, nhắm vào các mục tiêu là chính phủ và/ hoặc người Hán, trong vài năm vừa qua có vẻ như sẽ tiếp tục và có thể leo thang thành một cuộc nổi dậy bùng nổ hết cỡ.
Năm 2016, các quan chức chính quyền địa phương cho biết rằng nỗ lực loại bỏ các phần tử cực đoan đã “làm suy yếu đáng kể” phong trào Hồi giáo mới manh nha này. Tuy nhiên, với việc quân đội Thổ Nhĩ Kỳ cho biết họ đã bắt giữ 324 nghi can là phần tử thánh chiến Hồi giáo từ Tân Cương đang trên đường tới Syria trong năm 2015, cố gắng xoa dịu dư luận trong tuyên bố trên dường như không có kết quả. Sự thất bại toàn diện của Nhà nước Hồi giáo (IS) tại lraq và các vùng thuộc của Syria vào năm 2017 cũng đã gia tăng nguy cơ những chiến binh hiếu chiến từ nước ngoài trở về quê quán nhưng không chịu an phận.
Trung Quốc sẽ không nhượng bộ lãnh thổ này, và cũng như ở Tây Tạng, cơ hội giành độc lập của Tân Cương đang dần khép lại. Cả hai đều là vùng đệm, trong đó có một vùng là tuyến ngoại thương lớn trên bộ, và quan trọng nhất – cả hai (mặc dù với thu nhập giới hạn) cho một nền kinh tế phải liên tục sản xuất và bán hàng nếu Trung Quốc cứ tiếp tục tăng trưởng và để ngăn ngừa nạn thất nghiệp hàng loạt. Nếu không làm được điều đó nhiều khả năng dẫn đến sự bất ổn dân sự trên diện rộng, đe dọa quyền kiểm soát của đảng Cộng sản và sự thống nhất của đất nước Trung Quốc.
Đảng Cộng sản Trung Quốc có những lý do tương tự để chống lại xu hướng dân chủ và các quyền cá nhân. Nếu người dân được quyền tự do bỏ phiếu, sự thống nhất của người Hán có thể bắt đầu rạn nứt, hoặc có nhiều khả năng hơn, các vùng nông thôn và thành thị sẽ nảy sinh xung đột. Điều đó, đến lượt nó, sẽ khuyến khích dân cư trong vùng đệm trở nên táo bạo hơn, và làm Trung Quốc suy yếu thêm. Mới chỉ là một thế kỷ trôi qua kể từ lần nhục nhã gần đây nhất, khi Trung Quốc bị các cường quốc nước ngoài ức hiếp; đối với Bắc Kinh, sự thống nhất và sự tiến bộ kinh tế là những ưu tiên hàng đầu so với các nguyên tắc dân chủ.
Cách nhìn của người Trung Quốc về xã hội rất khác với phương Tây. Tư duy phương Tây thấm nhuần ý tưởng về quyền cá nhân; tư duy Trung Quốc coi tập thể cao hơn cá nhân. Điều mà phương Tây coi là quyền con người thì lãnh đạo Trung Quốc coi là những lý thuyết nguy hiểm gây hại cho đa số, và phân lớn dân chúng chấp nhận rằng, ít nhất, gia đình họ tộc phải được đặt lên trên so với cá nhân.
Có lần tôi đã đưa vị đại sứ Trung Quốc ở London tới một nhà hàng Pháp cao cấp với hy vọng ông ta sẽ lặp lại câu trả lời được trích dẫn nhiều lần của Thủ tướng Chu Ân Lai cho câu hỏi của Richard Nixon: “Tác động của cuộc Cách mạng Pháp là gì?” Vị thủ tướng trả lời: “Quá sớm để nói.” Đáng buồn là điều này không xảy ra, nhưng tôi đã nhận được một bài giảng nghiêm khắc rằng sự áp đặt đầy đủ của “cái mà quý vị gọi là nhân quyền” ở Trung Quốc sẽ dẫn tới tình trạng bạo lực và chết chóc trên diện rộng như thế nào. Sau đó tôi nhận được câu hỏi, “Tại sao anh nghĩ những giá trị của các anh sẽ áp dụng được trong một nền văn hóa mà các anh không hiểu?”
Thỏa thuận giữa các lãnh đạo đảng và người dân Trung Quốc, cho một thế hệ hiện nay, vẫn là “Chúng tôi sẽ làm cho các anh sống tốt hơn – các anh sẽ tuân thủ mệnh lệnh của chúng tôi”. Chừng nào nền kinh tế còn giữ được đà tăng trưởng, giao kèo vĩ đại này vẫn có thể tồn tại lâu dài. Nếu nền kinh tế khựng lại, hoặc suy thoái, thỏa thuận đó sẽ bị hủy bỏ. Tâm mức hiện thời của các cuộc biểu tình, và sự tức giận trước tình cảnh tham nhũng và thiếu hiệu quả chính là bằng chứng cho những điều sẽ xảy ra nếu thỏa thuận đó tan vỡ.
Còn một vấn đề đang lớn dần đối với Đảng Cộng Sản Trung Quốc là khả năng cung cấp lương thực cho dân cư. Theo bộ Nông nghiệp, hơn 40% đất trồng trọng đang bị ô nhiễm hoặc có lớp đất bề mặt đang bị bào mòn dần.
Trung Quốc rơi vào một trò chơi đuổi bắt. Họ cần phải duy trì công nghiệp hóa do họ đang hiện đại hóa và nâng cao mức sống, nhưng chính quá trình đó lại đe dọa đến việc sản xuất lương thực. Nếu Trung Quốc không thể giải quyết được vấn đề này thì, tình trạng bất ổn sẽ xảy ra.
Hiện nay có khoảng 500 cuộc biểu tình mỗi ngày trên khắp Trung Quốc, chủ yếu là biểu tình ôn hòa, về nhiều vấn đề khác nhau. Nếu xuất hiện tình trạng thất nghiệp hàng loạt, hoặc nạn đói ở quy mô lớn, hai vấn đề này sẽ bùng nổ cả về số lượng và mức độ sử dụng bạo lực cả hai bên.
Vì vậy, về phương diện kinh tế, hiện nay Trung Quốc cũng có một thỏa thuận lớn với thế giới – “Chúng tôi sẽ làm ra những thứ rẻ tiền – các anh mua nó với giá rẻ.
Tạm gác lại cái thực tế là chi phí lao động ở Trung Quốc đang tăng lên và đang bị cạnh tranh bởi Thái Lan và Indonesia, cạnh tranh là về giá nếu không phải là về lượng. Điều gì sẽ xảy ra nếu các nguồn tài nguyên cần thiết để sản xuất hàng hóa trở nên cạn kiệt, nếu ai đó giành được tài nguyên trước, hoặc nếu hàng hóa bị phong tỏa trên đường biển – cả xuất và nhập khẩu? Đề đối phó với chuyện đó, bạn sẽ cần có hải quân.
Người Trung Quốc là dân đi biển cừ khôi, đặc biệt là trong thế kỷ 15, khi họ rong ruổi trên Ấn Độ Dương. Những chuyến thám hiểm của Đô đốc Trịnh Hòa đã mạo hiểm đi xa tới tận Kenya. Nhưng đây là những cuộc thao diễn nhằm kiếm tiền, không phải là những trù tính về quyền lực, và chúng không được hoạch định để thiết lập những căn cứ tiên phương nhằm hỗ trợ các hoạt động quân sự.
Sau khi mất bốn ngàn năm hỗn loạn để củng cố khối đại lục của mình, Trung Quốc hiện đang xây dựng một lực lượng Hải quân Nước xanh dương (blue-water navy). Hải quân Nước xanh lục (Green-water navy) tuần tra lãnh hải của Trung Quốc, trong khi Hải quân Nước xanh dương tuần tra các đại dương. Phải mất ba mươi năm nữa (giả định rằng nền kinh tế vẫn phát triển), Trung Quốc mới xây dựng được lực lượng hải quân đủ mạnh để có thể thực sự thách thức lực lượng hải quân hùng mạnh nhất từng thấy trên thế giới – hải quân Hoa Kỳ. Nhưng về trung hạn và ngắn hạn, trong khi xây dựng, huấn luyện học hỏi, hải quân Trung Quốc sẽ va chạm với các đối thủ trên biển; và việc xử lý những va chạm ấy ra sao – đặc biệt là với Hoa Kỳ – sẽ xác định cục diện quyền lực chính trị lớn của thế kỷ này.
Những trẻ hiện đang được huấn luyện trên chiếc tàu sân bay “second-hand” (tàu Liêu Ninh) mà Trung Quốc tận dụng từ ụ tàu phế thải của Ukraine sẽ là những người, nếu họ lên đến cấp bậc đô đốc, có đủ kiến thức để biết cách đưa một biên đội tàu sân bay mười hai chiến hạm đi vòng quanh thế giới rồi quay về – và tham chiến dọc đường nếu cần thiết. Như một số nước Ả-rập giàu có giờ đây đã hiểu, bạn không thể đến siêu thị và mua một đội quân thiện chiến.
Mùa hè năm 2017, người Trung Quốc đưa tàu Liêu Ninh tới cảng Hồng Kông, đi cùng là hai tàu khu trục tên lửa dẫn đường, một tàu chiến nhỏ với tên lửa dẫn đường và hai tàu hộ vệ cỡ nhỏ. Đó là thời điểm tôn vinh chuyến thăm của Chủ tịch Tập Cận Bình – nhưng đồng thời đó cũng là một lời nhắc nhở cho Hồng Kông, và cả thế giới, về việc ai là kẻ thực sự nắm quyền kiểm soát Hồng Kông, và ai chủ định kiểm soát biển Đông một ngày gần đây.
Một vài tháng trước đó, Trung Quốc đã hạ thủy tàu sân bay thứ hai của mình. Con tàu này có thể vượt biển, nhưng chưa sẵn sàng tham gia chiến đấu. Tàu sân bay thứ ba dự định sẽ được xuất xưởng năm 2021. Người ta nghi ngờ việc con tàu này sẽ sử dụng năng lượng hạt nhân, và nó thiếu một số năng lực của các tàu sân bay Hoa Kỳ; tuy nhiên, nó sẽ cho phép Trung Quốc vươn xa hơn và có nhiều lựa chọn hơn.
Dần dần, Trung Quốc sẽ đưa ngày càng nhiều tàu chiến ra các vùng biển ngoài khơi của họ, và ra Thái Bình Dương. Mỗi lần thêm một tàu Trung Quốc được hạ thủy, Hoa Kỳ sẽ bớt đi một ít không gian trên các vùng biến. Hoa Kỳ biết điều này, và biết Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng một hệ thống tên lửa đất đối hạm để nhân đôi lý do tại sao hải quân Hoa Kỳ, hay bất kỳ đồng minh nào của họ, một ngày nào đó sẽ phải suy nghĩ kỹ về việc đi ngang biển Đông. Hay đúng hơn, đi ngang bất kỳ vùng biển “Trung Hoa” nào khác. Hỏa lực đất đối hạm ngày càng mạnh của Trung Quốc sẽ cho phép hải quân đang phát triển của họ có thể mạo hiểm rời xa bờ biển hơn vì vai trò phòng thủ của hải quân sẽ bớt quan trọng hơn. Một dấu hiệu về điều này đã xuất hiện vào tháng Chín năm 2015 khi Trung Quốc cho năm tàu chiến đi qua (một cách hợp pháp) các vùng lãnh hải của Hoa Kỳ ở ngoài khơi Alaska. Sự việc này xảy ra tại thời điểm ngay trước chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch Tập không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Eo biển Bering là con đường nhanh nhất để tàu chiến Trung Quốc đến Bắc Băng Dương, và chúng ta sẽ còn thấy nhiều tàu Trung Quốc hơn ở ngoài khơi bờ biển Alaska trong những năm tới. Trong khi đó, những dự án không gian đang trên đà phát triển của Trung Quốc sẽ dõi theo mọi động thái của Hoa Kỳ và đồng minh.
Như vậy, sau khi đã đi theo chiều kim đồng hồ quanh biên giới đất liền, giờ đây chúng ta nhìn về phía đại dương nằm ở hướng đông, nam và tây nam.
Giữa Trung Quốc và Thái Bình Dương là quần đảo mà Bắc Kinh gọi là “Chuỗi đảo thứ nhất” trong chiến lược Chuỗi ngọc trai. Ngoài ra còn có tường Chín đoạn (đường lưỡi bò), gần đây đã trở thành mười đoạn vào năm 2013 để bao gồm cả Đài Loan. Trung Quốc tuyên bố đây là đường đánh dấu lãnh hải của mình. Cuộc tranh chấp về quyền sở hữu hơn 200 hòn đảo nhỏ và những rạn san hô đang đầu độc mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng. Niềm tự hào dân tộc khiến Trung Quốc muốn kiểm soát hành lang xuyên qua chuỗi đảo này; còn địa chính trị bắt họ phải làm như vậy. Sự kiểm soát này giúp họ tiếp cận các tuyến vận tải đường biển quan trọng nhất thế giới trên biển Đông. Trong thời bình, tuyến đường này được để mở ở nhiều vị trí khác nhau, nhưng trong thời chiến, chúng có thể dễ dàng bị chặn lại, do đó phong tỏa Trung Quốc. Tất cả các cường quốc đều tận dụng thời gian hòa bình để chuẩn bị cho thời điểm chiến tranh nổ ra.
Thông lộ ra Thái Bình Dương bị cản trở trước hết bởi Nhật Bản. Tàu Trung Quốc xuất phát từ biển Hoàng Hải và vòng qua bán đảo Triều Tiên sẽ phải băng qua biến Nhật Bản và ngược lên để vượt qua eo biển La Perouse phía trên Hokkaido rồi đi vào Thái Bình Dương. Phần lớn vùng biển này thuộc lãnh hải của Nhật Bản hoặc Nga, và vào thời điểm căng thẳng chính trị lên cao, hệ thậm chí là có chiến sự, Trung Quốc sẽ không thể tiếp cận được, Nhưng kể cả khi làm được điều đó, họ vẫn phải bẻ lái qua quần đảo Kuril ở phía đông bắc của Hokkaido, nằm dưới quyền kiểm soát của Nga nhưng Nhật Bản cũng đang đòi quyền sở hữu.
Nhật bản còn tranh chấp với Trung Quốc về chuỗi đảo không có người ở mà họ gọi là Senkaku và người Trung Quốc gọi là Điếu Ngư, nằm ở phía đông bắc Đài Loan. Đây là vấn đề gây bất đồng lớn nhất trong tất cả các tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ giữa hai nước. Thay vào đó, nếu tàu Trung Quốc đi qua, hoặc thực ra là rời cảng, từ biển Hoa Đông ngoài khơi Thượng Hải và đi theo một đường thẳng ra Thái Bình Dương, thì họ phải vượt qua quần đảo Ryukyu, bao gồm Okinawa – nơi không chỉ có một căn cứ quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ, mà còn một số lượng cực nhiều tên lửa đất đối hạm mà người Nhật có thể bố trí dày đặc tại mũi đất của hòn đảo này. Thông điệp từ Tokyo là: “Chúng tôi biết các anh đang đi ngang ngoài kia, nhưng đừng làm phiền chúng tôi trên đường ra.
Một mồi lửa tiềm tàng nữa cũng có nguy cơ bùng nổ, với việc Nhật Bản tập trung vào các mỏ khí đốt ở biển Hoa Đông. Bắc Kinh đã tuyên bố một “Vùng nhận dạng phòng không“ bao trùm hầu hết vùng biển này, yêu cầu bất kỳ ai cũng phải thông báo trước khi bay qua nó. Hoa Kỳ và Nhật đang cố phớt lờ tuyên bố này, nhưng nó sẽ trở thành một vấn đề nóng bỏng vào một thời điểm nào đó mà Bắc Kinh lựa chọn, hoặc khi có một sự cố bị xử lý sai lầm.
Bên dưới Okinawa là Đài Loan, nằm ngoài khơi bờ biển Trung Quốc và tách biển Hoa Đông ra khỏi biển Đông (mà Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam). Trung Quốc tuyên bố Đài Loan là tỉnh thứ hai mươi ba của mình, nhưng hiện tại Đài Loan là một đồng minh của Hoa Kỳ với lực lượng hải quân và không quân được Washington trang bị đến tận răng. Đài Loan thuộc quyền kiểm soát của người Trung Hoa từ thế kỷ 17, nhưng chỉ bị cai trị bởi Trung Quốc trong 5 năm ở thế kỷ trước (từ năm 1945 đến năm 1949).
Tên chính thức của Đài Loan là Cộng hòa Trung Hoa (ROC), để phân biệt nó với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, mặc dù cả hai bên đều tin rằng họ phải có quyền quản hạt đối với cả hai vùng lãnh thổ. Đây là một tên gọi mà Bắc Kinh có thể chấp nhận được vì nó không tuyên xưng Đài Loan là một quốc gia riêng biệt. Hoa Kỳ cam kết bảo vệ Đài Loan trong trường hợp Trung Quốc xâm lược, chiếu theo Đạo luật Quan hệ Đài Loan năm 1979. Tuy nhiên, nếu Đài Loan tuyên bố độc lập hoàn toàn với Trung Quốc, điều mà Trung Quốc sẽ coi như một hành động chiến tranh, thì Hoa Kỳ không bắt buộc phải đến giải cứu Đài Loan, vì động thái tuyên bố độc lập sẽ bị coi là một sự khiêu khích.
Chính phủ hai bên ganh đua quyết liệt để giành sự công nhận cho chính mình và sự phủ nhận cho phía bên kia ở mỗi một quốc gia trên thế giới, và trong hầu hết các trường hợp Bắc Kinh là bên chiến thắng. Khi bạn có một thị trường tiềm năng 1,4 tỷ người để mời chào so với thị trường 23 triệu người của đối thủ, thì hầu hết các quốc gia không phải cân nhắc quá lâu. Tuy nhiên có hai mươi quốc gia (chủ yếu là các quốc gia đang phát triển như Swaziland, Burkina Faso và các đảo São Tomé và Príncipe) lựa chọn Đài Loan, và thường được tưởng thưởng hào phóng.
Trung Quốc quyết tâm phải có được Đài Loan, nhưng còn lâu mới đủ khả năng thách thức nó về mặt quân sự. Thay vào đó, họ đang sử dụng sức mạnh mềm, bằng cách tăng cường thương mại và du lịch giữa hai thể chế. Trung Quốc muốn lôi kéo Đài Loan trở lại vòng tay của mình. Vào thời điểm diễn ra cuộc biểu tình sinh viên năm 2014 tại Hồng Kông, một trong những lý do khiến giới chức trách không lập tức đánh họ văng khỏi đường phố – như họ đã làm tại Urumqi chẳng hạn – là do ống kính máy quay của toàn thế giới đang chĩa vào đó và sẽ thu được những cảnh bạo lực. Ở Trung Quốc, phần lớn những thước phim này sẽ bị kiểm duyệt, nhưng ở Đài Loan, người dân sẽ thấy những gì cả thế giới đã thấy và họ sẽ tự hỏi mình muốn một mối quan hệ gần gũi đến mức nào với một thế lực như vậy. Bắc Kinh do dự; họ đang chơi trò chơi dài hạn.
Cách tiếp cận bằng quyền lực mềm nghĩa là thuyết phục người dân Đài Loan rằng họ không có gì phải sợ khi trở về với “Đất mẹ”. Vùng Nhận dạng Phòng không, việc cho tàu ngầm nổi lên gần tàu Hoa Kỳ và việc xây dựng lực lượng hải quân đều nằm trong một kế hoạch dài hạn nhằm làm suy yếu quyết tâm của Hoa Kỳ hòng bảo vệ một hòn đảo cách 140 dặm ngoài khơi Trung Quốc đại lục, nhưng cách vùng duyên hải phía tây của Hoa Kỳ tới 6.400 dặm.
Từ biển Đông, tàu Trung Quốc vẫn gặp nhiều vấn đề, cho dù họ hướng đến Thái Bình Dương hay sang Ấn Độ Dương – vốn là con đường vận chuyển hàng hải của thế giới cho mặt hàng khí đốt và dầu mỏ, không có nó Trung Quốc sẽ sụp đổ.
Để đi về phía tây đến với các quốc gia xuất khẩu năng lượng vùng vịnh Ba Tư, họ phải đi qua Việt Nam. Như chúng ta đã lưu ý, Việt Nam gần đây đã bắt đầu thương lượng với Hoa Kỳ. Họ còn phải đi gần Philippines, một đồng minh của Hoa Kỳ, trước khi cố gắng xuyên qua eo biển Malacca nằm giữa Malaysia, Singapore và Indonesia, tất cả đều có quan hệ với Hoa Kỳ về ngoại giao và quân sự. Eo biển này trải dài xấp xỉ năm trăm dặm và rộng chưa đầy hai dặm ở nơi hẹp nhất của nó. Nó luôn luôn là một nút thắt – và Trung Quốc vẫn luôn dễ bị mắc kẹt tại đó. Tất cả các quốc gia nằm dọc theo và ở gần những ngả đường vào eo biển này đều lo ngại trước ưu thế áp đảo của Trung Quốc, và hầu hết đều có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh,
Trung Quốc đòi chủ quyền gần như toàn bộ biển Đông, và các nguồn cung cấp năng lượng được cho là năm dưới đáy vùng biển này. Tuy nhiên, Malaysia, Đài Loan, Việt Nam, Philippines và Brunei cũng có những tuyên bố chủ quyền chống lại Trung Quốc và chống lẫn nhau. Ví dụ, Philippines và Trung Quốc tranh cãi gay gắt về Đá Vành Khăn, một rạn san hô lớn hình vòng thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam trên biển Đông mà một ngày nào đó có thể sẽ xứng với tên gọi của nó (tên tiếng Anh của Đá Vành Khăn là Mischief: mối bất hòa). Mỗi rạn trong số hàng trăm rạn san hô đang tranh chấp, đôi khi chỉ là một mỏm đá nhô lên khỏi mặt nước, cũng có thể biến thành một cuộc khủng hoảng ngoại giao, bởi vì xung quanh mỗi mỏm đá là một tranh chấp tiềm tàng về khu vực đánh cá, quyền thăm dò tài nguyên và chủ quyền lãnh thổ.
Để xúc tiến các mục tiêu của mình, Trung Quốc sử dụng các phương pháp hút cát và bởi lấp để bắt đầu biến một loạt các rạn và vòng san hô trong lãnh thổ tranh chấp thành các đảo nhỏ. Ví dụ, Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường 5a của Việt Nam hiện nay đã là một hòn đảo hoàn chỉnh với một hải cảng và đường băng có thể tiếp nhận chiến đấu cơ phản lực, giúp Trung Quốc kiểm soát không phận trong khu vực tốt hơn trước đây rất nhiều. Một rạn san hô khác đã có các đơn vị pháo binh đóng quân tại đó.
Phát biểu vào mùa hè năm 2015, bộ trưởng Quốc _ phòng Hoa Kỳ, Ash Carter nói, “Việc biến một mỏm – đá ngầm thành một sân bay đơn giản không đem lại các quyền hạn về chủ quyền lãnh thổ cũng chẳng được quyền cấp phép quản lý quá cảnh hàng không hoặc hàng hải quốc tế.“ Phát biểu này được đưa ra chẳng bao lâu sau khi Trung Quốc tuyên bố đã chuyển tư thế quân sự của mình trong khu vực, từ phòng thủ sang vừa tấn công vừa phòng thủ. Động thái này nhấn mạnh ý định của Trung Quốc muốn làm kẻ thiết lập luật chơi trong khu vực, và vì điều đó Trung Quốc phải nắm chắc các tuyến đường qua biển Đông, cả vì mục đích xuất khẩu hàng hóa của mình ra thị trường thế giới, cũng như việc nhập các mặt hàng thiết yếu vào Trung Quốc để chế tạo những hàng hóa xuất khẩu ấy – trong đó có dầu mỏ, khí đốt và các kim loại quý – cho nên Trung Quốc không thể để cho con đường này bị phong tỏa. Ngoại giao là một giải pháp; phát triển hải quân là một giải pháp khác; nhưng giải pháp đảm bảo nhất vẫn là các đường ống dẫn, đường bộ và hải cảng.
Về ngoại giao, Trung Quốc sẽ cố gắng lôi kéo các quốc gia Đông Nam Á tách khỏi Hoa Kỳ bằng cả cây gậy và củ cà rốt. Dùng quá nhiều gậy, các quốc này vẫn trông chờ vào sự bảo hộ đến từ bên kia Thái Bình Dương.
Các bản đồ khu vực mà Trung Quốc hiện đang in ra cho thấy họ coi gần như toàn bộ biển Đông là của họ. Đây là một tuyên bố tỏ rõ ý định, được hậu thuẫn bằng các cuộc tuần tra hải quân hung hăng và các tuyên bố chính thức. Bắc Kinh toan tính thay đổi cách suy nghĩ và hành xử của Hoa Kỳ – liên tục thúc đẩy mưu đồ riêng của mình cho đến khi những kẻ cạnh tranh với họ phải nhường bước. Nguy cơ mất mát ở đây chính là khái niệm về các vùng biển quốc tế và quyền đi lại tự do trong thời bình; đó không phải là điều các cường quốc khác dễ dàng từ bỏ.
Với ý nghĩ đó, Anh đã thông báo vào mùa hè năm 2017 rằng một trong những sứ mệnh đầu tiên được thực hiện bởi hai tàu sân bay mới của họ chính là một cuộc hành quân vì “quyền tự do hàng hải” xuyên qua biển Đông. Bắc Kinh giữ một quan điểm rất mập mờ về điều này, dù đây được coi là một hành động khiêu khích, và điều đáng chú ý là người Anh đã không nói cụ thể khi nào họ sẽ bắt đầu cuộc hành quân.
Tác giả địa chính trị Robert Kaplan đã dẫn giải lý thuyết cho rằng biển Đông đối với Trung Quốc trong thế kỷ 21 cũng tương tự vùng Caribe đối với Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20. Hoa Kỳ đã củng cố khối đại lục của họ, trở thành một cường quốc trên hai đại dương (Đại Tây Dương và Thái Bình Dương), và sau đó tiến tới kiểm soát các vùng biển xung quanh, đẩy Tây Ban Nha ra khỏi Cuba.
Trung Quốc cũng có ý định trở thành cường quốc hai đại dương (Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương). Để đạt được điều này, Trung Quốc đang đầu tư vào các cảng nước nước sâu ở Miến Điện, Bangladesh, Pakistan và Sri Lanka – những khoản đầu tư mang lại cho họ các mối quan hệ tốt, mang lại cho hải quân tương lai của họ khả năng có được các căn cứ thân thiện để ghé qua hoặc trú đóng, và các mối làm ăn thương mại bắc cầu trở lại quê nhà.
Các cảng tại Ấn Độ Dương và vịnh Bengal là một phần của kế hoạch lớn hơn để đảm bảo tương lai của Trung Quốc. Việc thuê cảng nước sâu mới tại Gwadar, Pakistan, sẽ là chìa khóa (nếu khu vực Baluchistan của Pakistan đủ ổn định) để tạo ra một tuyến đường bộ thay thế dẫn tới Trung Quốc. Từ bờ biển phía tây của Miến Điện, Trung Quốc đã xây dựng các đường ống dẫn khí thiên nhiên và dầu mỏ nối vịnh Bengal với vùng Tây Nam Trung Quốc – một biện pháp của Trung Quốc nhằm giảm bớt sự phụ thuộc đáng quan ngại vào eo biển Malacca, nơi gần 80% nguồn cung cấp năng lượng của họ được vận chuyển qua. ĐIều này phần nào giải thích lý do tại sao, khi Miến Điện bắt đầu từng bước mở cửa ra thế giới bên ngoài vào năm 2010, Trung Quốc không phải là kẻ duy nhất đắp con đường đến tận cửa nhà họ. Hoa Kỳ và Nhật Bản nhanh chóng thiết lập những quan hệ tốt hơn và cả Tổng thống Obama lẫn Thủ tướng Abe đều đích thân đến thăm Miến Điện để bày tỏ sự tôn trọng. Chính quyền Trump nói rằng họ không muốn bị vướng vào những chuyện mạo hiểm ở nước ngoài, nhưng trò đôi co ở Miến Điện không phải là một trò mạo hiểm, đó là một chiến lược dài hạn. Nếu Hoa Kỳ có thể gây ảnh hưởng đến Miến Điện, điều đó góp phần chặn đứng Trung Quốc. Cho đến nay, Trung Quốc đang thắng trong ván cờ đặc biệt này trên bàn cờ toàn cầu, nhưng Hoa Kỳ vẫn có khả năng giành ưu thế chừng nào chính quyền Miến Điện còn tin rằng Washington sẽ đứng về phía họ.
Trung Quốc cũng đang xây dựng các cảng ở Kenya, các tuyến đường sắt ở Angola và một đập thủy điện ở Ethiopia. Họ đang lùng sục suốt chiều dài và chiều rộng của toàn bộ châu Phi để vơ vét khoáng sản và kim loại quý.
Các công ty và công nhân Trung Quốc tràn đi khắp thế giới; dần dần quân đội Trung Quốc sẽ theo sau. Quyền lực lớn dẫn đến trách nhiệm lớn. Trung Quốc sẽ không để mặc các tuyến đường biển trong khu vực của mình cho Hoa Kỳ kiểm soát. Sẽ có những sự kiện đòi hỏi Trung Quốc phải hành động ở bên ngoài khu vực của mình. Thiên tai hoặc một vụ khủng bố/bắt con tin liên quan đến một số lượng lớn công nhân Trung Quốc sẽ đòi hỏi Trung Quốc phải hành động, và việc đó tất sẽ dẫn đến việc thiết lập các căn cứ ở hải ngoại, hoặc ít nhất là sự chấp thuận từ các quốc gia khác cho phép Trung Quốc đi qua lãnh thổ của họ. Hiện có hàng chục triệu người Trung Quốc trên khắp thế giới, trong một số trường hợp họ lưu trú trong những khu nhà tập thể liên hợp khổng lồ dành cho công nhân ở nhiều vùng của châu Phi.
Trung Quốc sẽ phải phấn đấu để trở nên nhanh nhạy trong thập niên tới. Họ hầu như không thể điều động trang thiết bị cứu trợ của Quân đội Nhân dân trong công tác giải quyết hậu quả của trận động đất tàn khốc năm 2008 tại Tứ Xuyên. Họ huy động được quân đội, nhưng không thể huy động trang thiết bị của quân đội; việc di chuyển ra nước ngoài với tốc độ cao còn là một thách thức lớn hơn nữa.
Điều này sẽ thay đổi. Trung Quốc không bị áp lực hoặc bị thúc đẩy bởi vấn đề nhân quyền, xét về phương diện ngoại giao hoặc kinh tế, trong các giao dịch với thế giới. Họ được an toàn trong biên giới của mình trong khi căng sức chống lại các mối liên kết của “Chuỗi đảo thứ nhất” trong Chuỗi ngọc trai, và hiện nay đang tự tin tiến ra toàn cầu. Nếu có thể tránh được một cuộc xung đột nghiêm trọng với Nhật Bản hay Hoa Kỳ, khi ấy nguy cơ thực sự duy nhất đối với Trung Quốc là chính bản thân họ.
Có 1,4 tỷ lý do tại sao Trung Quốc có thể thành công, và 1,4 tỷ lý do tại sao Trung Quốc không thể vượt qua Hoa Kỳ để trở thành thế lực lớn nhất trên thế giới. Một công cuộc đại suy thoái trong thập niên 1930 có thể khiến Trung Quốc thụt lùi nhiều thập niên. Trung Quốc đã tự khóa mình vào nền kinh tế toàn cầu. Nếu chúng ta không mua, họ sẽ không thể sản xuất. Và nếu họ không sản xuất, sẽ xảy ra thất nghiệp hàng loạt. Nếu có sự thất nghiệp hàng loạt và dài hạn, trong một thời đại khi người Trung Quốc là một dân tộc sống chen chúc trong các khu đô thị, tình trạng bất ổn xã hội tất phải xảy ra trên quy mô chưa từng thấy – giống như tất cả những thứ khác của Trung Quốc hiện đại.
Chương 3 - Hoa Kỳ
“Những tin đồn về cái chết của tôi đã bị thổi phồng quá nhiều” – Mark Twain.
Vị trí, vị trí và vị trí. Nếu bạn trúng số và đang muốn Vẫn một nơi để sống, quốc gia đầu tiên mà các tay cò nhà đất chỉ cho bạn sẽ là Hoa Kỳ.
Câu trích dẫn của Twain nhắc tới những tin tức thất thiệt về cái chết của ông, nhưng có thể lúc ấy ông cũng đang nói đến những tin tức thái quá về sự sụp đổ của Hoa Kỳ.
Nó có một nơi cư trú tuyệt vời, cảnh quan tráng lệ và nguồn nước thì sạch miễn chê, các tuyến giao thông hoàn hảo. Còn hàng xóm? Hàng xóm cũng tất tử tế, không bao giờ có chuyện rắc rối.
Nếu bạn chia cắt không gian sống này thành nhiều phần nhỏ, điều đó sẽ làm giảm đáng kể giá trị của nó – đặc biệt nếu làm cho cư dân không nói cùng một ngôn ngữ và trả tiền thuê nhà bằng các loại tiền tệ khác nhau – nhưng khi không gian sống ấy thống nhất như một mái nhà, một gia đình, thì không gì có thể tốt hơn.
Có năm mươi tiểu bang Hoa Kỳ, nhưng chúng quy tụ lại thành một quốc gia theo cách mà hai mươi tám quốc gia có chủ quyền của Liên minh châu Âu không bao giờ có thể làm được. Hầu hết các quốc gia châu Âu đều có bản sắc dân tộc đậm nét hơn, xác định hơn so với bất kỳ tiểu bang nào của Hoa Kỳ. Thật dễ dàng để thấy một người Pháp, trước tiên có chất Pháp, kế đến mới là chất châu Âu, hoặc một người dân EU chẳng trung thành mấy với ý tưởng của châu Âu; nhưng thật dễ để tìm thấy một người Mỹ gắn bó với Hợp chúng quốc của mình theo cách mà rất ít người châu Âu nào có được với Liên minh châu Âu của họ. Điều này có thể được giải thích bằng địa lý, và bởi lịch sử về quá trình thống nhất của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Phác họa lại quốc gia rộng lớn này bằng những nét vẽ đậm, phóng khoáng, từ đông sang tây, bạn có thể chia nó thành ba phần.
Đầu tiên là Bình nguyên Bờ Đông dẫn đến dãy Appalachia, một khu vực được tưới tiêu tốt nhờ những con sông ngắn nhưng dễ dàng giao thông, cùng với thổ nhưỡng màu mỡ. Sau đó, đi xa hơn về phía tây, bạn có Đại bình nguyên trải dài tới tận dãy Rocky, và bên trong lãnh thổ này là lưu vực Mississippi với mạng lưới vĩ đại các con sông, có thể giao thông qua lại, chảy vào sông Mississippi chạy thẳng một lèo xuống tận vịnh Mexico. Vịnh biển này được che chở bởi bán đảo Florida và một số hòn đảo. Một khi vượt qua vùng núi non hùng vĩ ở rặng núi của dãy Rocky là lúc bạn đến được vùng sa mạc, tiếp đó là dãy Sierra Nevada, rồi một đồng bằng ven biển hẹp, và cuối cùng đến bờ biển Thái Bình Dương.
Ở phía bắc, phía trên Ngũ Đại Hồ, là Lá chắn Canada, vùng núi đá tiền kỷ Cambria lớn nhất thế giới, một phần lớn của nó tạo thành rào chắn cho các khu định cư của con người. Về phía tây nam – sa mạc. Địa lý quy định rằng nếu một thực thể chính trị có thể hình thành và sau đó kiểm soát dải đất “sáng tươi từ đại dương bên này đến đại dương bên kia“ (Katharine Lee Bates), thì nó sẽ là một thế lực vĩ đại, vĩ đại nhất mà lịch sử từng biết đến. Một khi đã đạt được quyền lực đó, Liên bang Hoa Kỳ sẽ gần như bất khả xâm phạm về mặt quân sự. Như chúng ta đã thấy ở chương về Nga, Hoa Kỳ có “chiều sâu chiến lược“ để một lực lượng phòng thủ có thể lùi sâu. Kích thước của Canada, (và Mexico ở một mức độ kém hơn) cũng là một lợi thế (của Hoa Kỳ). Còn bất kỳ thế lực thù địch nào cố gắng xâm nhập bằng sức mạnh từ đường biển sẽ phải chấp nhận những đường tiếp vận hậu cần kéo dài đến khó tin, điều này cũng đúng với các lực lượng trên bộ.
Điều quan trọng không kém, trong thời hiện đại, là bất cứ kẻ nào đủ dại dột để rắp tâm xâm lược Hoa Kỳ sẽ sớm phải suy nghĩ về thực tế là Hoa Kỳ có hàng trăm triệu khẩu súng, sẵn sàng cung cấp cho một dân chúng vô cùng coi trọng cuộc sống, tự do và sự mưu cầu hạnh phúc của mình. Ngoài quân đội hùng mạnh, Hoa Kỳ còn có Vệ binh quốc gia (National Guard), cảnh sát tiểu bang và như chúng ta thấy trong những dịp khác nhau vào năm 2015, lực lượng cảnh sát đô thị có thể chuyển thành một đơn vị quân đội. Trong trường hợp bị xâm lược, mỗi thị trấn của Hoa Kỳ như Folsom, Fairfax hay Farmerville sẽ nhanh chóng biến thành một thành phố tương tự như Fallujah của Iraq.
Nhưng để có được vị trí địa lý hiếm hoi gần như bất khả xâm phạm trước mọi cuộc tấn công thông thường, trước tiên Hoa Kỳ phải giành được không gian này và thống nhất nó. Công việc này đã được hoàn tất một cách nhanh chóng đến mức đáng kinh ngạc, nếu xét đến kích thước của lục địa là ba ngàn dặm từ bờ đông đến bờ tây.
Khi những người châu Âu lần đầu tiên bắt đầu đổ bộ và định cư vào đầu thế kỷ 17, họ nhanh chóng nhận ra rằng vùng bờ biển phía đông của lãnh thổ “nguyên sơ” này có đầy rẫy những bến cảng tự nhiên và đất đai màu mỡ. Đây là một nơi họ có thể sinh sống, và không giống như ở cố hương, đây là một nơi họ hy vọng có thể sống tự do. Thế rồi thế hệ con cháu của họ tiếp tục phủ nhận sự tự do của thổ dân bản địa, nhưng đó không phải là ý định của những di dân đầu tiên. Địa lý lôi kéo họ đến từ bên kia Đại Tây Dương với số lượng ngày càng đông.
Thuộc địa cuối cùng trong số mười ba thuộc địa đầu tiên được thành lập là Georgia vào năm 1732. Mười ba thuộc địa đó ngày càng trở nên có tư tưởng độc lập suốt cho đến cuộc Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ (1775- 1783). Vào lúc khởi đầu của giai đoạn ấy, các thuộc địa dần dần kết nối với nhau, trải dài một ngàn dặm từ Massachusetts Ở phía bắc, xuống đến Giorgia. Và có một dân số tổng cộng ước tính khoảng 2,5 triệu người. Các thuộc địa này được bao bọc bởi Đại Tây Dương về phía đông, và dãy Appalachia về phía tây. Dãy Appalachia dài 1.500 dặm, cảnh quan hùng vĩ, nhưng so với dãy Rocky thì không được cao lắm. Tuy nhiên, chúng vẫn tạo thành một rào cản ghê gớm đối với hành trình di cư có một rào cản khác, một rào cản chính trị. Chính phủ Anh ngăn cấm việc định cư ở phía tây dãy Appalachia vì nước Anh muốn đảm bảo thương mại và thuế má vẫn nằm lại bên bờ biển phía đông.
Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (1776) nói rõ: “Trong tiến trình lịch sử nhân loại, khi một dân tộc thấy cần rũ bỏ những mối liên hệ chính trị ràng buộc họ với một dân tộc khác và cân giành lấy một địa vị riêng biệt, bình đẳng trong hàng cường quốc trên trái đất này – địa vị mà các quy luật của thiên nhiên và của đấng cai quản muôn loài cho phép họ được hưởng – thì vì nghiêm túc tôn trọng phán xét của nhân loại, họ không thể không tuyên bố những căn nguyên khiến họ phải ly khai.” Tuyên ngôn tiếp tục trình bày khá chi tiết những căn nguyên đó, và khẳng định (mà không mảy may gợi nhắc đến sự trớ trêu của chế độ chiếm hữu nô lệ) rằng hiển nhiên tất cả con người sinh ra được bình đẳng. Nhưng cảm nghĩ cao quý ấy đã tiếp thêm năng lượng cho sự thắng lợi trong cuộc Chiến tranh giành độc lập, từ đó khai sinh một quốc gia mới.
Vào đầu thế kỉ 19, lãnh đạo của quốc gia mới này vẫn chưa biết rằng họ cách xa “Biển Nam” hoặc “Thái Bình Dương” hàng ngàn dặm. Sử dụng những đường mòn của người Indian bản địa, một vài nhà thám hiểm, chỉ có thể nói là gan dạ nhất, đã vượt qua dãy Appalachia và đến được Mississippi. Họ nghĩ rằng từ nơi đây họ có thể tìm thấy đường thủy dẫn đến đại dương và nhờ đó nối liên với những vùng đất rộng lớn mà người Tây Ban Nha đã khám phá dọc các vùng duyên hải tây nam bên Thái Bình Dương, bao gồm cả Texas và California ngày nay.
Tại thời điểm đó, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ non trẻ còn xa mới được an toàn, và nếu bị cầm chân trong các đường biên giới lúc bấy giờ, thì nó sẽ phải tranh đấu dữ dội lắm mới trở thành một cường quốc vĩ đại. Công dân Hoa Kỳ thời đó đã có thể lui tới được con sông Ohio, ở ngay phía tây của dãy Appalachia, nhưng sông Ohio dẫn vào Mississippi, con sông mà bờ tây của nó do người Pháp kiểm soát suốt một dải đến tận thành phố New Orleans. Sự kiểm soát này cho phép người Pháp làm chủ tuyến thương mại của Hoa Kỳ từ vịnh Mexico hướng về Cựu Thế giới, cũng như vùng lãnh thổ rộng lớn kéo dài về phía tây mà nay là vùng đất trung tâm của Hoa Kỳ. Năm 1802, một năm sau khi Thomas Jefferson đảm nhận chức vụ tổng thống, ông viết: “Trên Địa Cầu có một vị trí duy nhất, mà ai sở hữu nó thì chính là kẻ thù tự nhiên và thường xuyên của chúng ta đó là New Orleans.”
Pháp chính là kẻ đó, và vì vậy, chính là vấn đề, nhưng kỳ lạ thay, giải pháp không phải là chiến tranh.
Năm 1803, Hoa Kỳ chỉ đơn giản mua lại quyền kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Louisiana từ tay Pháp. Vùng đất này trải dài từ vịnh Mexico về phía tây bắc đến thượng nguồn của các con sông nhỏ góp nước của các chi lưu chảy vào sông Mississippi trong dãy Rocky. Đó là một khu vực có điện tích tương đương với Tây Ban Nha, Ý, Pháp, Anh và Đức ngày nay cộng lại. Cùng với lãnh thổ trên là lưu vực Mississippi, lộ trình dẫn đến sự vĩ đại của Hoa Kỳ phát xuất từ đó.
Chỉ bằng một nét bút, và trao tay món tiên trị giá 15 triệu đô la, vụ mua bán Louisiana năm 1803 đã làm tăng gấp đôi kích thước của Hoa Kỳ, và trao cho nó quyền bá chủ trên các tuyến vận tải đường thủy nội địa lớn nhất thế giới. Như nhà sử học người Mỹ Henry Adams đã viết, “Chưa bao giờ Hoa Kỳ nhận được nhiều như vậy với một chi phí nhỏ đến thế.”
Lưu vực Mississippi có nhiều dặm thủy vận hơn so với tất cả phần còn lại của thế giới cộng lại. Không nơi nào khác có nhiều con sông có đầu nguồn không nằm trong cao nguyên như vậy, và có dòng nước êm đềm chạy thẳng đến tận đại dương vượt qua những khoảng cách rộng lớn. Sông Mississippi được nuôi dưỡng bởi phần lớn hệ thống sông ở lưu vực này, bắt nguồn gần Minneapolis và kết thúc cách đó 1.800 dặm trong vịnh Mexico. Vì vậy, các con sông chính là đường vận tải tự nhiên cho hoạt động thương mại ngày càng phát triển, dẫn đến một hải cảng lớn, và toàn bộ tuyến vận tải này đều sử dụng những bè nổi thủ công mà cho đến ngày nay vẫn rẻ hơn gấp nhiều lần so với đi đường bộ.
Hoa Kỳ giờ đã có độ sâu địa lý chiến lược, một vùng đất màu mỡ rộng lớn và một lựa chọn thay thế cho các cảng Đại Tây Dương để tiến hành kinh doanh. Họ cũng có các tuyến đường không ngừng được mở rộng từ đông sang tây nối bờ đông với vùng lãnh thổ mới, và các hệ thống sông chảy từ bắc xuống nam nối liền các vùng đất dân cư hãy còn thưa thớt với nhau, nhờ đó khuyến khích Hoa Kỳ tổ chức thành một thực thể đơn nhất.
Giờ đây đã có một cảm nhận rằng quốc gia này sẽ trở thành một gã khổng lồ, một cường quốc lục địa. Họ tiếp tục dấn bước về phía trước, luôn hướng về phía tây, nhưng dõi một mắt nhìn về phía nam và canh chừng sự an toàn của viên bảo ngọc trên vương miện – dòng MississIppI.
Đến năm 1814, người Anh đã rời đi, và người Pháp đã từ bỏ Louisiana. Giờ là lúc nghĩ mẹo để người Tây Ban Nha cũng ra đi nốt. Việc ấy không quá khó. Tây Ban Nha đã kiệt quệ bởi cuộc chiến chống lại Napoléon ở châu Âu; Hoa Kỳ lúc này đang đẩy thổ dân Seminole vào vùng Florida thuộc Tây Ban Nha, và Madrid biết rằng những đợt sóng di cư sẽ theo sau. Năm 1812, người Tây Ban Nha nhượng lại Florida cho Hoa Kỳ và cùng với nó là một diện tích lãnh thổ khổng lồ.
Vụ mua bán Louisiana đã mang lại cho Hoa Kỳ vùng đất trung tâm, nhưng Hiệp ước Xuyên lục địa năm 1819 đã đem lại cho họ một thứ có giá trị gần như ngang bằng. Người Tây Ban Nha chấp nhận Hoa Kỳ có quyền quản hạt tại vùng viễn tây bên trên vĩ tuyến 42, ranh giới của California và Oregon ngày nay, trong khi Tây Ban Nha sẽ kiểm soát những gì nằm bên dưới vĩ tuyến này, phía tây lãnh thổ Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã vươn đến được Thái Bình Dương.
Vào thời điểm đó, hầu hết người dân Hoa Kỳ nghĩ rằng chiến thắng vĩ đại của năm 1819 chính là việc giành được Florida, nhưng Ngoại trưởng John Quincy Adams đã viết trong nhật ký của mình: “Việc có được một đường biên giới rõ ràng đến [Thái Bình Dương] đánh dấu một kỷ nguyên tuyệt vời trong lịch sử của chúng tôi.”
Nhưng vẫn còn một vấn đề khác đối với một khu vực nói tiếng Tây Ban Nha – Mexico.
Bởi vì Thương vụ Louisiana làm tăng gấp đôi kích thước của Hoa Kỳ, nên khi Mexico giành được độc lập từ Tây Ban Nha năm 1821, biên giới của Mexico chỉ cách cảng New Orleans hai trăm dặm. Trong thế kỷ 21, Mexico không đặt ra mối đe dọa về lãnh thổ đối với Hoa Kỳ, mặc dù sự gần gũi của họ gây rắc rối cho người Mỹ, vì họ nhồi cho người láng giềng phương bắc của mình sự thèm khát nguồn lao động và ma túy bất hợp pháp.
Nhưng năm 1821 thì tình hình lại khác. Mexico kiểm soát toàn bộ vùng đất kéo dài đến tận Bắc California, một điều mà Hoa Kỳ có thể chấp nhận được. Nhưng Mexico cũng trải dài về phía đông, gồm cả phần đất hiện thời là Texas, vùng lãnh thổ từ hồi đấy cho đến ngày nay vẫn giáp ranh với Louisiana. Dân số của Mexico vào thời điểm đó là 6,2 triệu, so với 9,6 triệu của Hoa Kỳ. Quân đội Hoa Kỳ có thể có khả năng tiễn chân quân đội Anh hùng mạnh, nhưng người Anh phải chiến đấu xa nhà ba ngàn dặm với các tuyến tiếp tế hậu cần vượt qua cả một đại dương. Còn người Mexico thì ở ngay kế bên.
Washington âm thầm vận động người dân Hoa Kỳ và những người mới đến, khuyến khích họ đến định cư ở cả hai phía của biên giới Hoa Kỳ – Mexico. Làn sóng người nhập cư kéo đến và lan rộng về phía tây và tây nam. Hầu như có rất ít cơ hội cho họ sinh cơ lập nghiệp trong vùng đất hiện là Mexico ngày nay, do đó họ không có cơ hội hòa nhập và làm gia tăng dân số ở đó. Mexico không được may mắn như Hoa Kỳ. Đất nông nghiệp của họ kém màu mỡ, không có hệ thống sông ngòi để sử dụng cho giao thông vận tải, và hoàn toàn thiếu không khí dân chủ, dẫn đến việc những người mới đến định cư không có cơ hội được cấp đất.
Trong khi quá trình xâm nhập Texas Xung diễn ra, Washington đã cho lưu hành “Học thuyết — (được đặt theo tên của Tổng thống James Monroe) vào năm 1923. Học thuyết này là một lời cảnh cáo dành cho các cường quốc châu Âu rằng họ không thể tìm kiếm đất đai ở Tây bán cầu được nữa, và nếu để mất bất kỳ phần lãnh thổ hiện có nào của mình, họ không thể đòi lại chúng. Nếu không thì…
Vào giữa thập niên 1830, đã có đủ số lượng người định cư da trắng ở Texas để gây sức ép lên vấn đề Mexico. Dân chúng theo Công giáo Mexico, nói tiếng Tây Ban Nha, ước tính chỉ khoảng mấy ngàn, nhưng có tới gần hai mươi ngàn di dân da trắng theo Tin lành. Cuộc Cách mạng Texas giai đoạn 1835-1836 đã đẩy người Mexico phải rời đi, nhưng đó là một thắng lợi sít sao, và giả dụ lúc đó di dân thất thế, thì quân đội Mexico sẽ lập tức tràn vào New Orleans và kiểm soát phần hạ lưu phía nam của sông Mississippi. Đó là một trong những “giả dụ vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Tuy nhiên, lịch sử đã rẽ vào một ngả đường khác và Texas trở nên độc lập nhờ vào tiền, vũ khí và các ý tưởng của Hoa Kỳ. Vùng lãnh thổ này đi xa hơn, họ gia nhập Liên bang Hoa Kỳ vào năm 1845 và cùng sát cánh chiến đấu trong cuộc chiến tranh Mexico 1846-1848, trong cuộc chiến đó, họ nghiền nát người hàng xóm phía nam. Cuộc chiến đó là điều cần thiết để người ta chấp nhận rằng lãnh thổ Mexico đã kết thúc tại đải bờ cát phía nam của dòng sông Rio Grande.
Với California, New Mexico và vùng đất mà hiện nay là Arizona, Nevada, Utah và một phần Colorado, biên giới của Hoa Kỳ lục địa lúc bấy giờ đã giống như ngày nay, và xét trên nhiều khía cạnh, chúng là những biên giới tự nhiên. Ở phía nam, dòng sông Rio Grande chạy qua sa mạc; ở phía bắc là những hồ lớn và vùng núi đá với ít cư dân sinh sống ở gần biên giới, đặc biệt là ở nửa phía đông của lục địa; ở phía đông và tây là đại dương mênh mông. Tuy nhiên trong thế kỷ 21 ở phía Tây Nam, những kí ức lịch sử văn hóa về gốc gác Hispanic (gốc gác về Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) của những vùng đất này có khả năng sẽ trỗi dậy, vì nhân khẩu học đang thay đổi nhanh chóng, và những người Hispanic sẽ là nhóm dân số đông đảo nhất trong vài thập niên tới.
Nhưng hãy trở lại năm 1848. Người châu Âu đã rời đi, lưu vực sông Mississippi đã được an toàn trước mọi cuộc tấn công trên đất liền, Thái Bình Dương đã ở ngay trước mắt và các lãnh địa của người Indian còn lại chắc chắn sẽ bị chinh phục: không còn mối đe dọa nào đối với Hoa Kỳ nữa. Giờ là lúc để kiếm tiền, và sau đó mạo hiểm ra khơi để đảm bảo việc tiếp cận ba tuyến đường biển duyên hải cho siêu cường tương lai.
Cơn sốt vàng ở California giai đoạn 1848-1849 có phần góp sức, nhưng dù không có nó thì những người nhập cư vẫn cứ tiến về miền Tây. Xét cho cùng thì cả một đế chế lục địa cần được xây dựng, và khi đế chế ấy phát triển, sẽ càng nhiều dân nhập cư nối bước đến theo. Đạo luật Cấp Đất ngụ cư (Homestead Act) năm 1862 tưởng thưởng một mảnh đất 160 mẫu Anh thuộc sở hữu của Liên bang cho bất kỳ ai canh tác nó trong năm năm và chỉ trả một khoản phí nhỏ. Nếu bạn là một người nghèo từ Đức, Scandinavia, hay Ý tới, tại sao phải đến Mỹ Latinh và trở thành một nông nô, trong khi bạn có thể đến Hoa Kỳ và trở thành một người tự do sở hữu đất đai?
Năm 1867, Alaska được mua lại từ Nga. Vào thời điểm đó, thương vụ này được gọi là “Trò điên rồ của Seward”, lấy theo tên Ngoại trưởng William Seward, người đã chấp nhận thỏa thuận này. Ông đã trả 7,2 triệu đô la, tức đơn giá hai xu một mẫu Anh. Báo chí cáo buộc ông bỏ tiền ra mua tuyết, nhưng mọi người thay đổi ý kiến khi các mỏ vàng lớn được phát hiện vào năm 1896. Nhiều thập niên sau đó, những mỏ dầu với trữ lượng khổng lồ cũng được tìm thấy.
Hai năm sau, vào năm 1869, tuyến đường sắt xuyên lục địa đầu tiên được khánh thành. Lúc này, bạn có thể đi băng qua đất nước trong vòng một tuần, trong khi trước kia, một hành trình như vậy phải mất mấy tháng trời đầy nguy hiểm.
Khi đất nước phát triển và tăng trưởng thịnh vượng, Hoa Kỳ bắt đầu xây dựng Hải quân Đại dương. Hầu hết các chính sách đối ngoại thế kỷ 19 đều bị chi phối bởi việc mở rộng thương mại và tránh các vướng mắc bên ngoài khu vực mình sinh sống, nhưng giờ đã đến lúc phải dấn bước ra bên ngoài và bảo vệ các ngả tiếp cận tới bờ biển. Mối đe dọa thực sự duy nhất là từ Tây Ban Nha – người Tây Ban Nha có thể đã bị thuyết phục rời khỏi lục địa, nhưng họ vẫn kiểm soát các đảo Cuba, Puerto Rico và một phần lãnh thổ thuộc cộng hòa Dominica hiện nay.
Riêng Cuba là trường hợp khiến các tổng thống Hoa Kỳ chong mắt cả đêm, như nước này còn làm điều đó một lần nữa vào năm 1962 trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. Hòn đảo này nằm ngay ngoài khơi Florida, cho phép nó tiếp cận và có tiềm năng kiểm soát eo biển Florida và eo biển Yucatan trong vịnh Mexico. Đây là lối ra vào của cảng New Orleans.
Quyền lực của Tây Ban Nha có thể đã suy yếu dần cho đến cuối thế kỷ 19, nhưng đây vẫn là một thế lực quân sự đáng gờm. Năm 1898, Hoa Kỳ tuyên chiến với Tây Ban Nha, điều động quân đội tới và giành quyền kiểm soát Cuba, cùng với Puerto Rico, Guam và Philippines gom chung vào một mẻ. Tất cả những vùng đất này đều trở nên có ích, nhưng Guam nói riêng là một món lợi chiến lược tối quan trọng và Cuba là một mối đe dọa chiến lược nếu đảo này bị kiểm soát bởi một cường quốc lớn.
Năm 1898, mối đe dọa này đã được loại bỏ bởi cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha. Năm 1962, nó lại được loại bỏ bởi mối đe dọa chiến tranh với Liên Xô sau khi Liên Xô xuống nước nhượng bộ trước. Ngày nay không có thế lực lớn nào bảo trợ cho Cuba, và dường như Cuba lại bị đặt dưới ảnh hưởng văn hóa, và có lẽ cả chính trị, của Hoa Kỳ một lần nữa.
Hoa Kỳ nhanh chóng hành động. Trong một năm đó, họ siết chặt Cuba, eo biển Florida, và ở trong một chừng mực lớn, toàn vùng biển Caribe. Hoa Kỳ cũng sát nhập quần đảo Hawaii trên Thái Bình Dương, do đó che chắn cửa ngõ đến vùng bờ biển phía tây của mình. Năm 1903, Hoa Kỳ đã ký một hiệp ước thuê độc quyền kênh đào Panama. Thương mại đang bùng nổ.
Đã đến lúc Hoa Kỳ cho thấy họ không chỉ đơn thuần bước lên sân khấu thế giới, và còn cách nào tốt hơn để chứng minh điều đó bằng một màn phô diễn thế lực quân sự vòng quanh Trái đất.
Tổng thống Theodore Roosevelt có lối phát biểu tương đối nhẹ nhàng – nhưng về bản chất, ông ấy chở một cây gậy khổng lô đi thị uy khắp thế giới. Mười sáu chiến hạm hải quân từ lực lượng Đại Tây Dương khởi hành tại Hoa Kỳ vào tháng Mười hai năm 1907. Thân tàu được sơn màu trắng, màu thời bình của hải quân, và ví dụ ấn tượng về tín hiệu ngoại giao này trở nên nổi tiếng dưới tên gọi “Hạm đội Trắng vĩ đại”. Trong mười bốn tháng sau hạm đội đã viếng thăm 20 hải cảng, bao gồm các cảng ở Brazil, Chile, Mexico, New Zealand, Úc, Philippines, Nhật Bản, Trung Quốc, Ý và Ai Cập. Một trong số những hải cảng tối quan trọng này là Nhật Bản, và nước này đã được thông báo rằng, trong những tình huống nguy cấp, hạm đội Đại Tây Dương của Hoa Kỳ có thể sẽ được điều động đến Thái Bình Dương. Chuyến hải trình này, một sự kết hợp của sức mạnh cả nhu lẫn cương, diễn ra trước khi có thuật ngữ quân sự “thị uy sức mạnh“ (force projection), nhưng nó đích thực là như vậy, và màn thị uy này đã được tất cả liên kết thế lực lớn trên thế giới ghi nhận đúng mức.
Hầu hết các tổng thống kế nhiệm đều ghi nhớ lời khuyên của George Washington trong diễn văn chia tay của ông vào năm 1796, rằng đừng để bị lôi kéo vào những “ác cảm thâm căn cố đế đối với một quốc gia cụ thể nào, và mê mải bám víu vào một số quốc gia khác”, và “tránh xa các liên minh vĩnh viễn với bất kỳ phần nào của thế giới bên ngoài”.
Ngoài sự tham gia muộn màng – mặc dù rất thiết yếu – vào Chiến tranh Thế giới I, Hoa Kỳ của thế kỷ 20 hầu như đã xoay xở né tránh các dính líu và liên minh cho đến năm 1941.
Chiến tranh Thế giới II đã làm thay đổi mọi thứ. Hoa Kỳ bị tấn công bởi một nước Nhật ngày càng quân phiệt sau khi Washington áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Tokyo, một điều lẽ ra sẽ khiến Nhật Bản phải quỳ gối. Hoa Kỳ phản đòn mạnh mẽ. Họ đã thị uy sức mạnh khổng lồ hiện tại của mình vòng quanh thế giới, và để giữ nguyên tình thế đó, lần này họ không lui về quê nhà nữa.
Là cường quốc kinh tế và quân sự hậu chiến lớn nhất thế giới, Hoa Kỳ hiện nay cần kiểm soát các tuyến đường biển toàn cầu, để gìn giữ hòa bình và đưa hàng hóa ra thị trường.
Họ là “kẻ cuối cùng còn đứng vững”. Châu Âu đã vắt kiệt sức, và nền kinh tế châu Âu đã bị tàn phá nặng nề giống như các thị trấn và thành phố của họ vậy. Nhật Bản đã bị đè bẹp, Trung Quốc tan hoang và đang có nội chiến, Nga thì thậm chí không tham dự trò chơi từ bản.
Một thế kỷ trước, người Anh đã biết được rằng họ cần căn cứ tiền phương và các trạm tiếp than đá để từ đó triển khai và bảo vệ lực lượng hải quân của họ. Giờ đây, khi nước Anh suy yếu, Hoa Kỳ thèm thuồng ngắm nghía các thứ thuộc sở hữu của người Anh và nói, “Căn cứ đẹp đấy – chúng tôi sẽ lấy nó “.
Giá cả cũng thuận mua vừa bán. Mùa thu năm 1940, Anh rất cần có thêm nhiều tàu chiến. Hoa Kỳ có năm mươi tàu dự trữ và thế là, với cái gọi là “Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ”, người Anh đánh đổi tiềm năng trở thành một cường quốc toàn cầu của họ để lấy sự trợ giúp trong việc duy trì cuộc chiến. Hầu hết các căn cứ hải quân Anh ở Tây bán cầu đã được bàn giao (cho Hoa Kỳ).
Công cuộc này, đối với tất cả các quốc gia, cho đến nay đã tệ vẫn là câu chuyện về bê tông. Bê tông để xây cưng hải cảng, đường băng, nhà chứa máy bay được gia cố, kho nhiên liệu, ụ tàu cạn và các căn cứ đào tạo lực lượng đặc biệt. Ở phương Đông, sau thất bại của Nhật Bản, Hoa Kỳ đã nắm lấy cơ hội để xây dựng những cơ sở như vậy trên khắp Thái Bình Dương. Tại Guam nằm nửa chừng đại dương, công việc đã hoàn tất; hiện nay Hoa Kỳ đã có căn cứ ngay trên hòn đảo Okinawa của Nhật ở biển Hoa Đông.
Hoa Kỳ cũng lưu ý đến đất liền. Nếu họ chỉ trả để tái thiết châu Âu thông qua Kế hoạch Marshall giai đoạn 1948-1951, thì họ cũng muốn đảm bảo cho Liên Xô không tàn phá châu Âu và vươn ra tới bờ biển Đại Tây Dương. Những anh lính thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã không trở về nhà. Thay vào đó, họ xây dựng căn cứ tại Đức và đối mặt với Hồng quân Liên Xô trên khắp Đồng bằng Bắc Âu.
Năm 1949, Washington lãnh đạo công cuộc thành lập NATO và nhờ đó thu về tay mình quyên chỉ huy sức mạnh quân sự sống còn của thế giới phương Tây. Lãnh đạo dân sự của NATO năm nay có thể là một người Bỉ, năm sau là một người Anh, nhưng vị tư lệnh quân sự luôn luôn là một người Mỹ, và cho đến nay hỏa lực mạnh nhất của NATO chính là Hoa Kỳ.
Bất kể hiệp ước kia có viết gì đi nữa, tư lệnh tối cao của NATO rốt cuộc vẫn chịu sự sai khiến của Washington. Anh và Pháp trong cuộc khủng hoảng Suez. năm 1956, khi họ chịu khuất phục trước áp lực của Hoa Kỳ để rồi phải chấm dứt vị thế chiếm đóng của họ ở khu vực kênh đào, kéo theo việc mất đi phần lớn ảnh hưởng của họ ở Trung Đông, đã phải trả giá để học được bài học rằng một đất nước thuộc khối NATO không thể duy trì chính sách chiến lược hải quân mà không trước hết tham khảo ý kiến của Washington.
Với việc Iceland, Nauy, Anh và Ý (tất cả thành viên sáng lập NATO) đã trao cho Hoa Kỳ quyền truy cập và các quyền hạn khác đối với các căn cứ của họ, hiện nay Hoa Kỳ đã thống trị Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải cũng như Thái Bình Dương. Năm 1951, Hoa Kỳ bành trướng sự thống trị của mình xuống phía nam bằng cách thành lập một liên minh với Úc và New Zealand, đồng thời cũng hướng lên phía bắc sau Chiến tranh Triều Tiên những năm 1950-1953.
Giờ đây có hai tấm bản đồ Hoa Kỳ: một bản đồ quen thuộc trải dài theo đường chéo từ Seattle trên bờ Thái Bình Dương xuống đến mũi đất dài hình cán chảo trên biển Sargasso, và một bản đồ thể hiện dấu vết quyền lực địa chính trị của Hoa Kỳ. Tấm bản đồ thứ hai này cho thấy các căn cứ, hải cảng và đường băng – những thứ có thực mà bạn có thể đánh dấu trên mặt giấy. Nhưng đồng thời đó cũng là một bản đồ khái niệm, một bản đồ cho ta biết rằng trong trường hợp sự kiện A xảy ra ở khu vực P, quốc gia C có thể đứng về phe của Hoa Kỳ, và ngược lại. Nếu một thế lực lớn muốn chơi một ván tại bất cứ nơi nào trên thế giới, kẻ đó nên biết rằng họ định chơi thì Hoa Kỳ luôn có thể có sẵn một tay chân ở đó để đương đầu với họ. Một siêu cường đã xuất hiện. Trong những năm 1960 thất bại tại Việt Nam đã hủy hoại sự tự tin của Hoa Kỳ, và khiến họ thận trọng hơn trong việc can dự ở nước ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế thì một thất bại cũng không làm thay đổi căn bản chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ.
Hiện tại, thách thức đối với quyền bá chủ của Hoa Kỳ chỉ xuất hiện từ ba khu vực: một châu Âu thống nhất, Nga và Trung Quốc. Cả ba sẽ phát triển mạnh mẽ hơn, nhưng hai trong số đó sẽ đạt đến giới hạn của họ.
Giấc mơ của một số người châu Âu về một Liên minh châu Âu “ngày càng gần gũi hơn“ cùng với một chính sách đối ngoại và quốc phòng chung đang chết dần trước mắt chúng ta. Thậm chí nếu viễn cảnh đó không xảy ra, châu Âu cũng đã chi quá ít vào quốc phòng đến mức họ sớm muộn cũng phải phụ thuộc vào sự bảo hộ của Hoa Kỳ. Đợt suy sụp kinh tế năm 2008 đã khiến các cường quốc châu Âu suy giảm năng lực và hầu như không còn mặn mà với các cuộc phiêu lưu ở nước ngoài, đặc biệt sau khi họ chứng kiến sự can thiệp vào Libya đã kết thúc tồi tệ như thế nào, khi Pháp và Anh, cùng với Hoa Kỳ “lãnh đạo từ phía sau“, hậu thuẫn cho cuộc lật đổ chế độ Gaddafi. Năm 2013, thủ tướng Anh David Cameron đã đến thăm Tripoli và nói với dân Libya rằng bài học kinh nghiệm ở Afghanistan và Iraq là: “Việc giúp đỡ các xứ sở khác, hay can thiệp vào các quốc gia khác, không chỉ đơn giản là sự can thiệp về quân sự.“ Trước những tiếng hô vang “Allahu Akbar“ (Vinh danh Thượng đế), ông cam kết: “Trong công cuộc xây dựng một Libya mới, các bạn sẽ không có người bạn nào lớn hơn nước Anh. Chúng tôi sẽ chung bước với các bạn suốt chặng đường này.” Nhưng sau đó, khi Libya rơi vào hỗn loạn, các phe dân quân đánh nhau giành quyền kiểm soát, người châu Âu rời đi, bỏ lại môt nhà nước tan nát, một dân tộc tuyệt vọng và một tuyến đường mới mở toang cho dân nhập cư bất hợp pháp tràn vào lục địa.
Năm 1991, mối đe dọa từ Nga đã bị xóa bỏ vì sự kém cỏi về kinh tế gây sửng sốt của họ, sự căng sức quá mức về quân sự và thất bại của chính phủ Nga trong việc thuyết phục quần chúng trong đế chế của mình rằng những trại cải tạo lao động và việc sản xuất dư thừa máy kéo nông nghiệp do nhà nước tài trợ là con đường tiến lên phía trước. Sự phản kháng gần đây của Putin là một cái gai đâm vào sườn Hoa Kỳ, nhưng Nga không phải là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự thống trị của Hoa Kỳ. Khi Tổng thống Obama mô tả Nga “không hơn gì một cường quốc khu vực” vào năm 2014, có lẽ ông ấy đã khiêu khích không cần thiết, nhưng nói vậy là không sai. Những chấn song trong nhà tù địa lý của Nga, như đã thấy trong chương Một, vẫn còn nằm nguyên tại chỗ: Nga vẫn thiếu một hải cảng nước ấm với khả năng tiếp cận các tuyến hằng hải toàn cầu, và vẫn thiếu năng lực quân sự trong thời chiến để tiến đến Đại Tây Dương thông qua biển Baltic và biển Bắc, hoặc biển Đen và Địa Trung Hải.
Hoa Kỳ phần nào hậu thuẫn cho sự thay đổi chính phủ Ukraine năm 2014. Họ muốn mở rộng nền dân chủ thế giới, muốn lôi kéo Ukraine ra khỏi ảnh hưởng của Nga và nhờ đó làm suy yếu tổng thống Putin. Washington biết rằng trong thập niên vừa qua, khi Hoa Kỳ bị xao lãng vì những chuyển biến ở Iraq và Afghanistan, Nga đã lợi dụng những gì họ gọi là “cận ngoại” (near abroad – các nước cộng hòa độc lập mới thành lập sau khi Liên Xô sụp đổ) để lập lại chỗ đứng vững chắc ở những nơi như Kazakhstan và lấn chiếm lãnh thổ ở Georgia. Chậm trễ, và có phần nửa vời, Hoa Kỳ cố gắng giảm thiểu những lợi lộc của Nga. Tổng thống Trump đã bày tỏ thiện ý với Moscow và tìm kiếm một mối quan hệ cá nhân với Putin, nhưng sự bất đồng giữa hai quốc gia lớn hơn mối quan hệ giữa các nhà lãnh đạo của họ.
Hoa Kỳ quan tâm đến châu Âu, quan tâm đến NATO, và đôi khi sẽ hành động (nếu việc đó liên quan đến lợi ích của họ), nhưng đối với Hoa Kỳ hiện nay, Nga chủ yếu là một vấn đề của châu Âu, mặc dù họ vẫn để mắt sát sao.
Vậy là còn lại vấn đề Trung Quốc, và Trung Quốc đang vươn lên.
Hầu hết các phân tích được viết suốt thập niên vừa qua đều cho rằng vào giữa thế kỷ 21, Trung Quốc sẽ vượt qua Hoa Kỳ và trở thành siêu cường dẫn đầu. Vì những lý do cụ thể được thảo luận trong chương Hai, tôi không tin vào điều đó. Chuyện này có thể phải mất một thế kỷ mới đạt được.
Xét về phương diện bình tế, Trung Quốc đang trên con đường bắt kịp với Hoa Kỳ, và điều đó đem lại cho họ rất nhiều ảnh hưởng và một vị trí đầu bảng, nhưng về quân sự và chiến lược, họ còn rớt lại phía sau hàng thập niên. Hoa Kỳ sẽ dành những thập niên đó để đảm bảo cho hiện trạng này không thay đổi, nhưng Hoa Kỳ cũng cảm nhận rằng khoảng cách đó lết sẽ thu hẹp lại.
Chi phí đổ bê tông không hề rẻ. Bê tông không chỉ đòi hỏi trộn và đổ, mà còn phải có khả năng trộn và đổ đúng nơi bạn muốn. Như chúng ta đã thấy với “Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ”, sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đối với các chính phủ khác không phải lúc nào cũng hoàn toàn vị tha. Viện trợ kinh tế, và quan trọng không kém, là hỗ trợ quân sự, đem lại cho Hoa Kỳ giấy phép để đổ bê tông, nhưng cũng kèm theo nhiều quyền lợi khác nữa, ngay cả khi những quyền đó đòi hỏi tốn phí bổ sung.
Ví dụ, vào năm 2017, Washington bày tỏ sự phẫn nộ về những vi phạm nhân quyền ở Syria (một nhà nước thù địch); sau một cuộc tấn công bằng khí độc của chế độ này, Tổng thống Trump thậm chí đã ra lệnh tấn công bằng tên lửa hành trình. Tuy nhiên, sự phẫn nộ của Hoa Kỳ đối với việc lạm dụng ở Bahrain có thể là tiếng kêu hơi khó nghe thấy, bị lấn át, như đã từng, bởi tiếng ồn ào động cơ của Hạm đội 5 Hoa Kỳ đồn trú tại Bahrain với tư cách là khách mời của chính phủ Bahrain. Mặt khác bằng cách hỗ trợ, Hoa Kỳ quả thực đã có được khả năng đề xuất với chính phủ B (ví dụ Miến Điện) rằng chính phủ này có lẽ muốn kháng cự những lời đề nghị của chính phủ C (ví dụ Trung Quốc). Trong ví dụ cụ thể trên, Hoa Kỳ đã dậm chân, vì chính phủ Miến Điện mới chỉ bắt đầu mở cửa gần đây đối với phần lớn thế giới bên ngoài, và Bắc Kinh đã có một khởi đầu thuận lợi.
Tuy nhiên, khi nói đến Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Indonesia và những quốc gia khác, đối với Hoa Kỳ cũng dễ dàng như bước qua cánh cửa đã mở sẵn, nhờ sự quan ngại của các quốc gia này về người hàng xóm khổng lồ và nhờ việc họ mong muốn được gắn bó với Washington. Các quốc gia này hẳn đều có vấn đề với nhau, nhưng những vấn đề đó trở nên nhỏ nhặt trước nhận thức rằng nếu không sát cánh cùng nhau, họ sẽ bị đốn ngã từng quốc gia một, và cuối cùng sẽ gục ngã dưới bá quyền Trung Quốc.
“Chính sách xoay trục sang châu Á” nổi tiếng của Hoa Kỳ dưới nhiệm kỳ Obama đã được một số người cho rằng đồng nghĩa với việc bỏ rơi châu Âu; nhưng xoay trục tới một nơi này không có nghĩa từ bỏ nơi khác. Trong trường hợp này, nó mang ý nghĩa bạn dồn bao nhiêu trọng lực lên bàn chân nào. Ngay cả trước khi Tổng thống Trump lên nắm quyền, Hoa Kỳ vẫn đi nước đôi. Sẽ không bao giờ xảy ra một động thái điên rồ là vội vàng rút khỏi châu Âu – quả thực là khí tài quân sự hạng nặng của Hoa Kỳ đã được xây dựng thêm ở Đông Âu. Chính quyền Trump đang giữ thăng bằng khá vững vàng, mặc dù có thể nói rằng những tiến triển tại châu Á mới có khả năng khiến họ mất ăn mất ngủ, chứ không phải tại châu Âu hoặc Nga.
Nhiều chiến lược gia về chính sách đối ngoại của chính phủ Hoa Kỳ tin rằng lịch sử của thế kỷ 21 sẽ được viết ở châu Á và Thái Bình Dương. Một nửa dân số thế giới sống ở đó, và nếu bao gồm cả Ấn Độ, châu Á được kỳ vọng sẽ cung cấp một nửa sản lượng kinh tế toàn cầu vào năm 2050.
Do đó chúng ta sẽ thấy Hoa Kỳ ngày càng đầu tư thời gian và tiền bạc vào Đông Á để thiết lập sự hiện diện và ý định của họ trong khu vực này. Ví dụ ở miền Bắc nước Úc, Hoa Kỳ đã thiết lập một căn cứ thủy quân lục chiến. Nhưng để thực thi ảnh hưởng thực sự, họ cũng có thể phải đầu tư vào một hành động quân sự có giới hạn để bảo đảm với các đồng minh rằng Hoa Kỳ sẽ đến giải cứu trong trường hợp có sự biến gây hấn. Ví dụ, nếu Trung Quốc bắt đầu bắn vào một tàu khu trục Nhật Bản và có vẻ như họ sẽ có thêm những hành động quân sự khác, hải quân Hoa Kỳ có thể phải nổ súng cảnh cáo về phía hải quân Trung Quốc, hoặc thậm chí là nhắm thẳng mà khai hỏa, để phát đi tín hiệu rằng Hoa Kỳ sẵn sàng tham chiến. Tương tự, khi Bắc Triều Tiên bắn vào Hàn Quốc, Hàn Quốc bắn trả, nhưng hiện tại Hoa Kỳ không hành động. Thay vào đó, Hoa Kỳ đặt các lực lượng của mình vào tình trạng báo động một cách công khai để gửi đi một thông điệp. Nếu tình hình leo thang Hoa Kỳ sẽ bắn cảnh cáo vào một mục tiêu của Bắc Triều Tiên, và cuối cùng bắn trực tiếp. Đó là cách leo thang mà không khai chiến – và đây là thời điểm cho mọi chuyện trở nên nguy hiểm.
Hoa Kỳ đang tìm cách chứng minh cho toàn bộ khu vực này thấy rằng lợi ích tốt nhất của họ là đứng về phe với Washington – Trung Quốc đang làm ngược lại. Vì vậy, khi bị thách thức, mỗi bên đều phải phản ứng, bởi vì với mỗi thách thức mà họ né tránh, niềm tin của đồng minh và nỗi sợ hãi của đối thủ cạnh tranh sẽ từ từ suy giảm, cho đến khi cuối cùng một sự kiện nào đó sẽ thuyết phục một quốc gia đổi phe.
Các nhà phân tích thường viết về nhu cầu của một số nền văn hóa nào đó không muốn bị mất thể diện hoặc để ai thấy mình phải lùi bước, nhưng đó không chỉ là vấn đề của các nền văn hóa Ả-rập hay Đông Á – đó còn là vấn đề của nhân loại được thể hiện theo nhiều cách khác nhau. Có thể trong hai nền văn hóa trên, nhu cầu đó được xác định rõ ràng hơn và phát biểu công khai hơn, nhưng các chiến lược gia về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cũng nhận thức được vấn đề, cũng như bất kỳ cường quốc nào khác. Thành ngữ tiếng Anh thậm chí còn có hai câu chứng minh ý tưởng này ăn sâu đến mức nào: “Nhường cho họ một tấc, họ sẽ lấn một dặm”; và châm ngôn của Tổng thống Theodore Roosevelt những năm 1900, mà giờ đây đã được đưa vào kho từ vựng chính trị: “Nói năng nhẹ nhàng, nhưng mang theo một cây gậy lớn.“
Trò chơi chết chóc trong thế kỷ này sẽ là vấn đề Trung Quốc, Hoa Kỳ và những quốc gia khác trong khu vực làm thế nào để quản lý mỗi cuộc khủng hoảng phát sinh mà không bị mất thể diện, không gây nên nỗi oán hận và giận dữ sâu sắc từ hai phía.
Cuộc khủng hoảng tên là một chiến thắng của Hoa Kỳ; công bố là vài tháng sau khi Nga rút các tên lửa của mình khỏi Cuba, Hoa Kỳ cũng rút các tên lửa Jupiter (có thể bắn tới Moscow) khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Đó thực sự là một thỏa hiệp, để cả hai bên để có thể công bố với công chúng của mình rằng họ không đầu hàng.
Ở Thái Bình Dương trong thế kỷ 21 này, nhiều thỏa hiệp quyền lực lớn hơn đã được thực hiện. Trong ngắn hạn, đa số nhưng không phải tất cả những thỏa hiệp như vậy có khả năng do Trung Quốc thực hiện – một ví dụ đầu tiên là tuyên bố của Bắc Kinh về một Vùng nhận dạng phòng không, yêu cầu các quốc gia khác thông báo cho họ trước khi tiến vào vùng lãnh thổ tranh chấp, và Hoa Kỳ cố tình bay qua không phận đó mà không báo trước. Trung Quốc đã ít nhiều đạt được điều gì đó bằng việc công bố rõ vùng nhận dạng này và biến nó thành một vấn đề; Hoa Kỳ đã đạt được điều gì đó bằng cách cho thấy họ không tuân thủ yêu cầu. Đó là một trò chơi dài hạn.
Đây cũng là một trò chơi mèo vờn chuột. Đầu năm 2016, lần đầu tiên máy bay quân sự của Trung Quốc hạ cánh tại một trong những đường băng được xây dựng trên các hòn đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp trong khu vực quần đảo Trường Sa ở biển Đông. Việt Nam và Philippines đã đưa ra động thái phản đối chính thức vì cả hai đều có tuyên bố chủ quyền trong khu vực này. Hoa Kỳ đã mô tả động thái của Trung Quốc là đe dọa “sự ổn định khu vực”. Giờ đây, Washington theo dõi từng dự án xây dựng và từng chuyến bay, phải cân nhắc kỹ rồi lựa chọn thời điểm và địa điểm để đưa ra các phản kháng mạnh mẽ hơn, hoặc phái các lực lượng tuần tra hải quân và không quân tiến đến gần lãnh thổ tranh chấp. Bằng một cách nào đó, Hoa Kỳ phải trấn an các đồng minh của mình rằng sẽ hỗ trợ họ và đảm bảo quyền tự do hàng hải trong các vùng biển quốc tế, đồng thời không đi xa đến mức lôi kéo Trung Quốc vào một cuộc đối đầu quân sự.
Chính sách của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản là trấn an người Nhật rằng Hoa Kỳ chia sẻ các lợi ích chiến lược đối với Trung Quốc và đảm bảo rằng căn cứ của Hoa Kỳ tại Okinawa vẫn hoạt động. Hoa Kỳ sẽ giúp Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản trở thành một lực lượng hùng mạnh, nhưng đồng thời hạn chế năng lực quân sự của Nhật Bản để không thách thức Hoa Kỳ trên Thái Bình Dương.
Mặc dù tất cả các quốc gia khác trong khu vực đều có vai trò quan trọng trong một trò chơi ghép hình ngoại giao phức tạp, nhưng các quốc gia then chốt có vẻ vẫn là Indonesia, Malaysia và Singapore. Cả ba nước có vị trí vắt ngang eo biển Malacca, mà đoạn hẹp nhất chỉ rộng 1,7 dặm. Mỗi ngày mười hai triệu thùng dầu vượt qua eo biển đó hướng thẳng đến một Trung Quốc ngày càng khát đầu, và đến những nước khác trong khu vực. Chừng nào ba quốc gia then chốt này còn ủng hộ Hoa Kỳ, Hoa Kỳ vẫn có được lợi thế then chốt.
Thêm nữa, Trung Quốc không có lý tưởng chính trị, họ không tìm cách truyền bá chủ nghĩa cộng sản, và cũng không thèm muốn có thêm (thật nhiều) lãnh thổ như Nga đã làm trong Chiến tranh Lạnh, và không bên nào tìm kiếm xung đột. Trung Quốc có thể chấp nhận để Hoa Kỳ canh giữ hầu hết các tuyến đường biển vận chuyển hàng hóa của Trung Quốc ra thế giới, miễn là Hoa Kỳ chấp nhận rằng tầm kiểm soát đó sẽ chỉ được mở rộng đến gần biên giới Trung Quốc trong một giới hạn nhất định.
Những cuộc tranh luận sẽ còn xảy ra, và thỉnh thoảng chủ nghĩa dân tộc sẽ được vận dụng để đảm bảo sự thống nhất của dân tộc Trung Hoa, nhưng mỗi bên cũng sẽ tìm cách thỏa hiệp. Sẽ nguy hiểm nếu như họ đọc vị sai đối phương hoặc/và đặt cược quá nhiều.
Có những điểm bùng nổ, Hoa Kỳ có một hiệp ước với Đài Loan, quy định rằng nếu Trung Quốc xâm chiếm vào vùng lãnh thổ mà họ coi là tỉnh thứ 23 của mình, thì Hoa Kỳ sẽ tham chiến. Về phía Trung Quốc, lằn ranh đỏ có thể châm ngòi cho cuộc xâm lược chính là thừa nhận chính thức của Hoa Kỳ với Đài Loan, hoặc việc Đài Loan tuyên bố độc lập. Tuy nhiên, hiện không có dấu hiệu nào về những chuyện đó, và Hoa Kỳ và Đài Loan cũng không thấy sẽ có một cuộc xâm lược nào từ phía Trung Quốc.
Trong khi cơn khát dầu mỏ và khí đốt nước ngoài của Trung Quốc tăng lên, nhu cầu của Hoa Kỳ giảm xuống. Điều này có tác động rất lớn đến mối quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, đặc biệt là ở Trung Đông, gây ra hiệu ứng dây chuyền tới các quốc gia khác.
Nhờ có những giàn khoan ngoài khơi trong vùng ven biển của Hoa Kỳ, và những dự án khai thác dầu đá phiến dưới mặt đất tại nhiều vùng rộng lớn của đất nước, Hoa Kỳ dường như không chỉ đang trên đà trở nên tự túc về năng lượng, mà còn trở thành một nước xuất khẩu năng lượng ròng vào năm 2020. Điều này sẽ đồng nghĩa với giảm bớt sự tập trung của họ vào việc đảm bảo nguồn dầu mỏ và khí đốt đến từ vùng Vịnh. Hoa Kỳ vẫn sẽ giữ lợi ích chiến lược ở đó, nhưng sự chú tâm sẽ không còn cao độ nữa. Nếu Hoa Kỳ không còn mặn mà nữa, các quốc gia vùng Vịnh sẽ tìm kiếm các liên minh mới. Một ứng cử viên sẽ là lran, Trung Quốc là một ứng viên khác, nhưng điều đó sẽ chỉ xảy ra khi Trung Quốc xây dựng xong Hải quân Đại dương của họ, và quan trọng không kém, là sẵn sàng để triển khai nó.
Hạm đội 5 của Hoa Kỳ sẽ không rời bỏ khỏi cảng của họ ở Bahrain – đó là một mảng bê tông mà họ lưỡng lự không muốn từ bỏ. Tuy nhiên, nếu nguồn cung cấp năng lượng của Ả-rập Saudi, Kuwait UAE và Qatar không còn cần thiết để giữ cho ngọn đèn Hoa Kỳ tiếp tục cháy sáng và xe hơi Hoa Kỳ tiếp tục chạy trên đường, công chúng Hoa Kỳ và Quốc hội sẽ đặt câu hỏi, hạm đội ở đó để làm gì? Câu trả lời “để chiếu tướng Iran“ có lẽ sẽ không đủ để dập tắt cuộc tranh luận.
Ở những nơi khác của Trung Đông, chính sách của Hoa Kỳ trong ngắn hạn là ngăn chặn Iran trở nên quá mạnh trong khi đồng thời cố đạt được cái gọi là “món hời lớn” – một thỏa thuận giải quyết nhiều vấn đề đã chia rẽ hai quốc gia, và kết thúc giai đoạn ba năm rưỡi thù hận. Tổng thống Trump kế thừa, và đồng ý với chính sách này, nhưng tìm cách đạt được nó thông qua một lộ trình hung hăng hơn, ít nhất là trong lời nói. Điều này có thể gây ra những sự bùng nổ và, với việc không bên nào chịu nhượng bộ, có thể dẫn đến tình trạng đối đầu. Tuy nhiên, không bên nào muốn chiến tranh, châu Âu không hề mang tâm thái muốn hủy bỏ hoàn toàn thỏa thuận hạt nhân đã được đồng thuận, và nhà cầm quyền Hoa Kỳ nhận thức rằng khi họ nhúng tay vào các sự kiện trong một “Trung Đông mở rộng”, Tehran sẽ nhận được một phiếu với những gì xảy ra. Vì vậy, trong khi Nhà Trắng của Trump tỏ một thái độ thù địch hơn, và ủng hộ các nhà nước Ả-rập Sunni trong tình trạng bế tắc với Iran, cũng như trong nhiều vấn đề khác, lời lẽ hùng hồn chống Iran trước cuộc bầu cử đã được xoa dịu bởi những thực tế mà Nhà Trắng phải đối diện
Về phần các quốc gia Ả-rập tham gia vào cuộc đấu tranh không chừng có thể kéo dài hàng thập niên với các nhóm Hồi giáo vũ trang, Washington có vẻ như đã từ bỏ ý tưởng lạc quan về việc khuyến khích các nền dân chủ kiểu Jefferson trỗi dậy trong khu vực, và sẽ tập trung vào việc cố gắng giải quyết tình hình trong khi tuyệt vọng xoay xở để cho gót giày binh sĩ Hoa Kỳ không phải dính cát bụi sa mạc.
Mối quan hệ gần gũi với Israel có thể nguội lạnh, mặc dù chậm chạp, khi nhân khẩu học của Hoa Kỳ thay đổi. Con cháu của dân nhập cư gốc Mỹ Latinh và châu Á đang tràn vào Hoa Kỳ hiện nay sẽ quan tâm đến Mỹ Latinh và Viễn Đông nhiều hơn so với một quốc gia nhỏ bé ngoài rìa một khu vực không còn quan trọng đối với lợi ích của Hoa Kỳ.
Chính sách ở châu Mỹ Latinh sẽ bao gồm việc đảm bảo cho kênh đào Panama vẫn mở cửa, tìm kiếm những đánh giá về việc đi qua kênh đào được đề xuất ở Nicaragua để đến Thái Bình Dương, và theo dõi sự trỗi dậy của Brazil trong trường hợp quốc gia này có ý đồ tạo ảnh hưởng tại vùng biển Caribe. Về mặt kinh tế, Hoa Kỳ cũng sẽ cạnh tranh sức ảnh hưởng với Trung Quốc trên khắp châu Mỹ Latinh – nhưng chỉ tại Cuba, Washington mới dốc toàn lực để hòng thống trị kỷ nguyên hậu Castro. Khoảng cách gần gũi từ Cuba tới Florida và mối quan hệ mang tính lịch sử (mặc dù phức hợp) giữa Cuba và Hoa Kỳ, kết hợp với chủ nghĩa thực dụng Trung Quốc, đủ để mở đường cho Hoa Kỳ trở thành thế lực thống trị ở Cuba mới. Chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Obama đến hòn đảo này vào mùa xuân năm 2016 đã đánh dấu một chặng đường dài hướng đến việc đảm bảo cho điều này. Obama là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm Havana kể từ Calvin Coolidge vào năm 1228. Cựu lãnh đạo Cuba, Fidel Castro nay quá cố, đã giận sôi máu trước sự kiện này. Các phương tiện truyền thông do nhà nước chỉ đạo đã làm đúng bổn phận khi tường trình đầy đủ những nhận xét tiêu cực của Castro, nhưng người ta có cảm nhận rằng việc này chỉ nhằm trấn an ông già kia mà thôi; quyết định tập thể đã được đưa ra, thời đại mới đã bắt đầu.
Ở châu Phi, Hoa Kỳ chỉ là một trong những quốc gia đang tìm kiếm nguồn của cải tự nhiên của lục địa này, nhưng quốc gia kiếm được phần lớn kho báu đó lại là Trung Quốc. Như ở Trung Đông, Hoa Kỳ sẽ quan tâm theo dõi cuộc đấu tranh Hồi giáo ở Bắc Phi, nhưng cố gắng để không bị lôi kéo vào đó thấp hơn mười ngàn mét tính từ mặt đất.
Thứ nghiệm của Hoa Kỳ với việc kiến lập các quốc gia bên ngoài dường như đã kết thúc.
Tại lraq, Afghanistan và các nơi khác, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp tinh thần và sức mạnh của các thế lực địa phương và các bộ lạc nhỏ. Lịch sử về sự bảo toàn và thống nhất lãnh thổ của chính Hoa Kỳ có thể khiến họ đánh giá quá cao các lập luận duy lý về dân chủ của mình, một lập luận tin rằng sự thỏa hiệp, làm việc công bằng và chăm chỉ sẽ chiến thắng trước những nỗi sợ hãi lịch sử sâu xa và truyền đời đối với những gì khác lạ, cho dù đó là dân Ả-rập, Kurd, Hồi giáo Sunni, Hồi giáo Shia hay Kitô giáo. Hoa Kỳ giả định rằng mọi dân tộc sẽ muốn đến với nhau trong khi thực tế nhiều phe còn không dám thử, và vì trải nghiệm của riêng họ lại càng khiến họ muốn sống tách biệt hơn. Đó là một phản tỉnh đáng buồn về nhân loại, nhưng đó có vẻ là một sự thật đáng tiếc xuất hiện trong nhiều giai đoạn lịch sử, và ở nhiều nơi khác nhau. Hành động của Hoa Kỳ chỉ là nhấc cái vung khỏi một cái nồi nước sôi vốn đang tạm thời che giấu sự thật đó.
Điều này không có nghĩa là các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ “ngây thơ”, như một số nhà ngoại giao châu Âu hợm hĩnh muốn tin; nhưng Hoa Kỳ thực sự có thái độ “có thể thực thí” và “có thể sửa chữa”, mặc dù hiển nhiên không phải lúc nào thái độ đó cũng hữu hiệu.
Trong ba mươi năm qua, người ta đã thành thói quen ưa dự đoán sự sắp sửa hoặc sự suy tàn đang diễn ra của Hoa Kỳ. Điều đó là sai lầm trong hiện tại cũng như trong quá khứ. Đất nước thành công nhất hành tỉnh này sắp sửa có thể tự cung tự cấp về năng lượng, họ vẫn là thế lực kinh tế vượt trội, và chỉ tiêu nghiên cứu và phát triển cho quân đội của họ còn nhiều hơn ngân sách quân sự của tất cả các nước NATO khác cộng lại. Dân số của Hoa Kỳ không già đi như ở châu Âu và Nhật Bản, và một nghiên cứu của viện Gallup năm 2015 cho thấy 25% trong tổng số những người mong muốn di cư vẫn coi Hoa Kỳ là điểm đến ưu tiên số một của họ. Cùng trong năm đó, Đại học Thượng Hải đã liệt kê những trường mà các chuyên gia của Trung Quốc đánh giá vào nhóm hai mươi trường đại học hàng đầu thế giới: mười bảy trường trong số đó nằm tại Hoa Kỳ.
Otto von Bismarck, chính trị gia người Phổ, trong một nhận xét nhiều hàm ý, đã phát biếu từ hơn một thế kỷ trước rằng: “Thiên Chúa đặc biệt ưu ái những kẻ say rượu, trẻ con và Hoa Kỳ.” Câu nói này dường như vẫn còn đúng.
Chương 4 - Tây Âu
“Nơi đây quá khứ hiện diện khắp nơi, cả một lục địa gieo đầy những ký ức” – Miranda Richmond Mouillot. A Fifty-Year Silence: Love, War and  Ruined House in France (Sự yên lặng 50 năm: tình yêu, chiến tranh và ngôi nhà đổ nát tại Pháp)
Thế giới hiện đại, dù tốt hơn hay xấu đi, vẫn khởi dậy từ châu Âu. Tiền đồn phía tây của khối đại lục địa Á-Âu vĩ đại này đã sinh ra Thời đại Khai sáng, dẫn đến cuộc Cách mạng Công nghiệp, và kết quả là những gì chúng ta đang nhìn thấy xung quanh mỗi ngày. Vì lý do đó, chúng ta có thể biết ơn, hoặc đổ lỗi cho vị trí địa lý của châu Âu.
Bầu khí hậu được nuôi dưỡng bởi dòng hải lưu Gulf Stream đã ban tặng cho lục địa này một lượng mưa phù hợp để canh tác nông nghiệp trên quy mô lớn, và loại đất đai phù hợp để mùa màng bội thu. Điều đó cho phép dân số tăng nhanh trong một khu vực nơi đa số dân cư có việc làm quanh năm, ngay cả giữa mùa hè. Mùa đông thực tế còn ban thêm một phần thưởng, với nhiệt độ đủ ấm để làm việc nhưng đủ lạnh để tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn cho đến nay đã gây ra những bệnh dịch khủng khiếp trong hầu hết phần còn lại của thế giới.
Mùa màng bội thu đồng nghĩa với thực phẩm dư thừa có thế được đem ra buôn bán; điều này dẫn tới việc xây dựng các trung tâm thương mại về sau trở thành các thị trấn. Nó cũng cho phép con người suy nghĩ đến nhiều vấn đề khác ngoài việc kiếm miếng ăn, và chú tâm vào tư tưởng và công nghệ.
Tây Âu không có sa mạc thực sự nào, những vùng hoang vu băng giá chỉ có ở một vài khu vực phía bắc xa xôi. Động đất, núi lửa và lũ lụt lớn rất hiếm khi xảy ra. Các con sông thì dài, phẳng lặng, có thể giao thông và dường như được tạo ra để thuận tiện cho việc thương mại. Khi tuôn đổ vào nhiều vùng biển và đại dương, chúng chảy xuống những bờ biển phía tây, bắc và nam vốn dồi dào các bến cảng tự nhiên.
Nếu bạn đọc những dòng này giữa lúc đang bị mắc kẹt giữa một trận bão tuyết trong dãy núi Alps, hoặc đang chờ đợi nước lũ hạ xuống trên sông Danube, thì dường như các ân phúc địa lý của châu Âu có thể không hiển hiện quá rõ ràng; nhưng, so với nhiều nơi, quả thực đó là những ân phúc. Chính những nhân tố này đã dẫn đến việc người châu Âu kiến tạo nên các quốc gia công nghiệp hóa đầu tiên, dẫn đến việc họ trở thành những dân tộc đầu tiên tiến hành chiến tranh trên quy mô công nghiệp.
Nếu nhìn cả châu Âu liền một dải, chúng ta sẽ thấy núi, sông và thung lũng, chúng giải thích lý do tại sao có rất nhiều quốc gia dân tộc trong khu vực. Không giống như Hoa Kỳ, nơi một ngôn ngữ và một văn hóa chủ đạo không ngừng bành trướng một cách nhanh chóng và dữ dội về phía tây, tạo thành một quốc gia khổng lồ, trong khi châu Âu phát triển hữu cơ qua hàng nghìn năm và vẫn bị chia cắt giữa các vùng miền về địa lý và ngôn ngữ.
Ví dụ, nhờ có sự hiện diện của dãy Pyrenees, các bộ lạc khác nhau của bán đảo Iberia bị ngăn không bành trướng về phía bắc để xâm nhập vào Pháp, và dần dần, qua hàng ngàn năm, hợp nhất với nhau để hình thành Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha – và thậm chí Tây Ban Nha cũng chưa phải là một quốc gia hoàn toàn thống nhất, với việc xứ Catalonia ngày càng cất cao giọng đòi độc lập. Pháp cũng được hình thành bởi các rào cản tự nhiên, được đóng khung giữa dãy Pyrenees, dãy Alps, sông Rhine và Đại Tây Dương.
Các dòng sông chính của châu Âu không hợp lưu (trừ phi tính cả sông Sava, chảy vào sông Danube ở nhiều quốc gia trong một không gian tương đối nhỏ. Bởi vì các con sông không kết nối, đến thời điểm nào đó hầu hết chúng làm thành ranh giới tự nhiên, và mỗi con sông có phạm vi ảnh hưởng kinh tế thực thụ; điều này làm mọc lên ít nhất một vùng phát triển đô thị lớn trên bờ của mỗi con sông, vài đô thị trong số đó lần lượt trở thành thủ đô.
Con sông dài thứ hai châu Âu, sông Danube (1.780 dặm), là một ví dụ điển hình. Nó khởi nguồn từ Rừng Đen của Đức và chảy về phía nam đến biển Đen. Tổng cộng, lưu vực sông Danube ảnh hưởng đến mười tám quốc gia và tạo thành đường biên giới tự nhiên dọc theo dòng chảy, bao gồm cả biên giới giữa Slovakia và Hungary, giữa Croatia và Serbia, giữa Serbia và Romania, và giữa Romania và Bulgaria. Cách đây hơn hai ngàn năm, Danube là một trong những đường biên giới của Đế chế La Mã, và rồi nhờ đó lại biến thành một trong những tuyến giao thương tuyệt vời của thời Trung cổ và lập nên các thành phố thủ đô hiện tại, là Vienna, Bratislava, Budapest và Belgrade. Nó cũng tạo thành biên giới tự nhiên của hai đế chế tiếp theo, đế quốc Áo-Hung và đế quốc Ottoman. Khi mỗi đế chế phải co rút lại, từ trong lòng nó các dân tộc lại trỗi lên một lần nữa, cuối cùng trở thành những quốc gia dân tộc (nation state). Tuy nhiên, địa lý của lưu vực Danube, đặc biệt là ở đầu phía nam của nó, giúp chúng ta giải thích tại sao có quá nhiều quốc gia nhỏ tại đây nếu so sánh với các quốc gia lớn trong và xung quanh Đông bằng Bắc Âu. Các nước Bắc Âu vốn giàu có hơn so với các nước phía nam trong mấy thế kỷ. Bắc Âu công nghiệp hóa sớm hơn so với Nam Âu và vì vậy thành công hơn về mặt kinh tế. Vì nhiều quốc gia phía bắc cấu thành khu vực trung tâm của Tây Âu, các liên kết thương mại của họ dễ duy trì hơn, và các nước láng giềng thịnh vượng có thể giao dịch với nhau – trong khi, chẳng hạn, Tây Ban – Nha muốn giao dịch phải vượt qua dãy núi Pyrenees, hoặc trông chờ vào những thị trường hạn hẹp của Bồ Đào Nha và Bắc Phi.
Cũng có lý thuyết không thể chứng nghiệm nói rằng sự thống trị của Công giáo ở Nam Âu đã khiến vùng này trì trệ, trong khi đạo đức lao động của phái Tin lành góp phần thúc đẩy các quốc gia phía bắc phát triển cao hơn.
Lưu vực sông Danube minh họa những lợi thế địa lý của địa hình ở châu Âu; các con sông nối liền nhau trên một bình nguyên bằng phẳng tạo ra các biên giới tự nhiên và một mạng lưới giao thông đường sông thuận tiện, thúc đẩy một hệ thống thương mại bùng phát.
Mỗi lần ghé thăm thành phố Munich thuộc bang Bavaria (Bayern), tôi đều suy ngẫm về lý thuyết này, và khi lái xe qua những thánh đường sáng láng là tổng hành dinh của BMW, Allianz và Siemens, tôi lại thấy có lý do để nghi ngờ nó. Tại Đức, 34% dân số là người Công giáo, và đại đa số dân Bavaria cũng là người Công giáo, nhưng các khuynh hướng tôn giáo dường như không ảnh hưởng đến sự tiến bộ của họ, cũng không lay chuyển được việc họ một mực cho rằng dân Hy Lạp nên làm việc chăm chỉ hơn và nộp thuế nhiều hơn.
Sự tương phản giữa Bắc Âu và Nam Âu một phần cũng do Nam Âu có ít đồng bằng ven biển thích hợp cho nông nghiệp, và chịu nhiều hạn hán và thiên tai hơn so với Bắc Âu, mặc dù các tai họa này ở quy mô nhỏ hơn so (với các khu vực khác trên thế giới. Như chúng ta đã thấy ở chương Một, Đồng bằng Bắc Âu là một hành lang chạy dài từ Pháp đến dãy Ural ở Nga, phía bắc tiếp giáp với biển Bắc và biển Baltic. Vùng đất này cho phép canh tác nông nghiệp thành công trên quy mô lớn, và các tuyến đường thủy giúp cho việc vận chuyển mùa màng và các hàng hóa khác được thuận tiện dễ dàng.
Trong tất cả các quốc gia trên dải đồng bằng này, Pháp có được vị trí tốt nhất để tận dụng lợi thế của nó. Pháp là nước châu Âu duy nhất là một thế lực ở cả Bắc Âu cũng như Nam Âu. Quốc gia này bao gồm dải đất màu mỡ với diện tích lớn nhất ở Tây Âu, và nhiều con sông của xứ sở này được kết nối với nhau; một dòng sông chảy về phía tây đến tận Đại Tây Dương (sông Loire), phía nam là một dòng khác chảy đến Địa Trung Hải (sông Rhône). Những nhân tố này, cùng với độ bằng phẳng tương đối của Pháp, tạo điều kiện thống nhất các vùng và – đặc biệt là từ thời Napoléon – tập trung hóa quyền lực. Tuy nhiên, ở phía nam và phía tây, nhiều quốc gia vẫn còn nằm lại nấc thang thứ hai của thế lực Âu châu, một phần là do vị trí địa lý của họ. Ví dụ miền Nam nước Ý vẫn lạc hậu hơn so với miền Bắc, và mặc dù Ý đã là một nhà nước thống nhất (bao gồm cả Venice và Rome) kể từ năm 1871, các vết rạn nứt giữa miền Bắc và miền Nam Ý hiện nay còn lớn hơn so với trước Thế chiến II. Các trung tâm công nghiệp nặng, du lịch và tài chính ở miền Bắc từ lâu đã mang lại mức sống cao hơn, dẫn dẫn đến sự hình thành các đảng phái chính trị kích động việc cắt giảm, hoặc thậm chí hủy bỏ trợ cấp của nhà nước đối với miền Nam.
Tây Ban Nha cũng đang và vẫn luôn phải vật lộn vì địa lý của nó. Các vùng đồng bằng hẹp ven biển có đất đai khô cằn, việc tiếp cận với các thị trường trong nội địa bị ngăn trở bởi các con sông ngắn và bởi cao nguyên Meseta Central bị các dãy núi bao quanh và một số còn cắt ngang qua. Thương mại với Tây Âu lại càng bị cản trở bởi dãy Pyrenees, và bất kỳ thị trường nào nằm về phía nam của Tây Ban Nha ở bên kia Địa Trung Hải đều là các nước đang phát triển với thu nhập có hạn. Tây Ban Nha bị tụt hậu từ sau Thế chiến II, vì dưới chế độ độc tài Franco, nước này đã bị đa số các nước châu Âu hiện đại cô lập về mặt chính trị. Franco qua đời năm 1975 và nước Tây Ban Nha dân chủ mới mẻ gia nhập EU vào năm 1986. Đến những năm 1990, nước này bắt đầu theo kịp phần còn lại của Tây Âu, nhưng những nhược điểm về địa lý và tài chính cố hữu tiếp tục kìm giữ nó lại và làm trầm trọng thêm các vấn đề bội chi và sự kiểm soát chính sách tài chính công lỏng lẻo. Tây Ban Nha là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008.
Hy Lạp cũng phải hứng chịu điều tương tự. Bờ biển Hy Lạp đa phần là những vách đá dốc đứng và rất ít đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp. Vùng nội địa cũng là những vách đá còn dốc đứng hơn, các con sông không cho phép vận chuyển hàng hóa và một vài thung lũng rộng, màu mỡ. Dù những vùng đất nông nghiệp đều có chất lượng cao; nhưng vấn đề là Hy Lạp có quá ít đất đai để trở thành một nước xuất khẩu nông nghiệp lớn, hoặc để phát triển thêm nhiều khu đô thị lớn với dân số có trình độ học vấn cao, tay nghề cao và tiên tiến về mặt công nghệ. Tình hình của Hy Lạp càng trở nên trầm trọng hơn bởi vị trí địa lý của nó: Athens nằm ở mũi một bán đảo, gần như bị cắt đứt khỏi tuyến thương mại đường bộ với châu Âu. Hy Lạp phụ thuộc vào biển Aegean để tiếp cận với thương mại hàng hải trong khu vực – nhưng bên kia bờ biển này là Thổ Nhĩ Kỳ, một kình địch tiềm tàng. Hy Lạp đã trải qua một vài cuộc chiến tranh với Thổ Nhĩ Kỳ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, và trong thời hiện đại vẫn chỉ tiêu một số tiền khổng lồ, mà đất nước không có, vào quốc phòng.
Phần đất liền của Hy Lạp được che chắn bởi núi non, nhưng có khoảng 1.400 hòn đảo Hy Lạp (hoặc sáu ngàn đảo nếu bạn tính cả những mỏm đá muôn hình vạn trạng nhô lên trên biển Aegean) trong đó chỉ khoảng hai trăm đảo là có người sinh sống. Phải có một đội tàu chiến tương đối mới đủ để tuần tra lãnh thổ này, chưa nói đến một hạm đội đủ mạnh để ngăn chặn bất kỳ mưu toan chiếm đảo nào. Kết quả là một khoản chỉ tiêu khổng lồ cho quân sự mà Hy Lạp không thể chi trả. Trong Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ, và ở một mức độ thấp hơn là Anh, đã bằng lòng tài trợ cho Hy Lạp một số nhu cầu quân sự nhằm ngăn chặn Liên Xô khỏi vùng biển Aegean và Địa Trung Hải. Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các chi phiếu cũng ngừng lại. Nhưng Hy Lạp vẫn tiếp tục chỉ tiêu.
Sự phân chia mang tính lịch sử này tiếp tục gây tác động đến tận ngày nay theo sau vụ sụp đổ tài chính tại châu Âu vào năm 2008 và sự rạn nứt của ý thức hệ trong khu vực đồng euro. Vào năm 2012, khi các khoản cứu trợ tài chính của châu Âu được khởi tạo và đòi hỏi Hy Lạp thực thi các biện pháp thắt lưng buộc bụng đã được đưa ra nhằm giữ cho đất nước này không vỡ nợ và vẫn ở trong khu vực đồng euro, chẳng mấy chốc sự phân chia về địa lý đã trở nên rõ rệt. Bên tài trợ và đưa ra yêu cầu là các nước phía bắc, bên nhận và xin tài trợ hầu hết là các nước phía nam. Chẳng bao lâu người dân Đức đã nhận ra rằng họ phải làm việc đến tận sáu mươi lăm tuổi và phải trả những khoản thế sẽ chạy sang Hy Lạp để dân dân Hy Lạp có thể nghỉ hưu ở tuổi năm mươi lăm. Họ đặt ra câu hỏi: Tại sao? Và câu trả lời, “no đói có nhau” không đủ thỏa mãn họ.
Người Đức dẫn đầu phe yêu cầu thực thi biện pháp thắt lưng buộc bụng để giải cứu vỡ nợ, người Hy Lạp dẫn đầu phe chống trả. Ví dụ, bộ trưởng Tài chính Đức Wolfgang Schäuble nhận xét rằng ông “không dám chắc tất cả các đảng phái chính trị ở Hy Lạp đều nhận thức được trách nhiệm của họ đối với tình cảnh khó khăn mà đất nước họ đang lâm vào”. Về vấn đề này, tổng thống Hy Lạp, Karolos Papoulias, người đã từng chiến đấu chống Đức Quốc xã, trả lời, “tôi không thể chấp nhận ông Schäuble xúc phạm đất nước tôi… Ông Schauble là ai mà dám xúc phạm Hy Lạp? Ai là dân Hà Lan? Ai là dân Phần Lan?” Ông ta cũng đưa ra luận điểm ám chỉ đến Thế chiến II: “Chúng tôi luôn lấy làm tự hào để bảo vệ không chỉ tự do và đất nước của chúng tôi, mà còn tự do của cả châu Âu nữa.” Những quan niệm khuôn mẫu về dân miền Nam lười biếng hoang đàng, và dân miền Bắc cần mẫn chu đáo nhanh chóng xuất hiện trở lại; còn báo chí Hy Lạp phản ứng bằng những lời gợi nhớ liên tục và thô lỗ về quá khứ của nước Đức, bao gồm cả việc vẽ chồng một bộ ria mép Hitler lên chân dung của thủ tướng Đức Merkel trên trang nhất.
Những người nộp thuế Hy Lạp – những người không nộp đủ số lượng để duy trì nền kinh tế của đất nước – có một quan điểm rất khác. Họ đặt câu hỏi: “Tại sao người Đức có thể chỉ thị cho chúng ta, khi đồng euro có lợi cho họ nhiều hơn bất cứ ai khác?“ Ở Hy Lạp và các quốc gia khác, các biện pháp thắt lưng buộc bụng được áp đặt từ phía bắc được coi là một cuộc tấn công vào chủ quyền.
Các vết rạn nứt đang xuất hiện trên dinh thự của “gia đình châu Âu”, và không chỉ vì người Anh bỏ phiếu cho Brexit. Đó là triệu chứng của một vấn đề, chứ không phải là nguyên nhân. Ở ngoại vi Tây Âu, cuộc khủng hoảng tài chính đã khiến Hy Lạp giống như một thành viên bị tách rời ra một nửa; từ phía đông người ta lại một lần nữa nhận thấy “gia đình” này có xung đột. Nếu sự lạc bước của bảy mươi năm hòa bình vừa qua vẫn tiếp diễn suốt thế kỷ này, nền hòa bình đó sẽ cần tình yêu thương, sự quan tâm và sự chăm sóc.
Những thế hệ hậu Thế chiến II lớn lên trong hòa bình là chuyện thường tình, nhưng điều khác biệt về thế hệ hiện tại đó là người dân châu Âu khó mà hình dung được điều ngược lại. Hiện nay người ta xem chiến tranh đường như là những gì xảy ra ở nơi khác hoặc trong quá khứ – hoặc trong trường hợp tôi tệ nhất thì chúng xảy ra tại vùng “ngoại vi“ của châu Âu. Chấn thương của hai cuộc chiến tranh thế giới, tiếp theo là bảy thập niên hòa bình và sau đó sự sụp đổ của Liên Xô, đã thuyết phục nhiều người rằng Tây Âu là một khu vực “hậu xung đột”.
Có nhiều lý do để tin rằng điều này vẫn còn đúng trong tương lai, nhưng những nguồn xung đột tiềm tàng vẫn sôi sục dưới bề mặt, và sự căng thẳng giữa châu Âu và Nga có thể dẫn đến một cuộc đối đầu. Ví dụ lịch sử và sự chuyển dời hình dạng địa lý ám ảnh chính sách đối ngoại của Ba Lan ngay cả khi đất nước này hiện đang là một quốc gia hòa bình, thịnh vượng trong số những quốc gia EU lớn, với dân số ba mươi lăm triệu người. Ba Lan cũng là một trong những thành viên lớn về diện tích và nền kinh tế của họ đã tăng trưởng gấp đôi kể từ khi trỗi dậy từ sau Bức Màn Sắt, nhưng vẫn nhìn về quá khứ trong khi cố gắng bảo đảm tương lai của mình.
Chỗ hẹp nhất của hành lang của Đồng bằng Bắc Âu nằm ở giữa bờ biển Baltic của Ba Lan trên phía bắc và nơi khởi đầu dãy núi Carpat ở phía nam. Từ quan điểm quân sự của Nga, đây là nơi tốt nhất để có thể đặt tuyến phòng thủ, hoặc từ quan điểm của kẻ tấn công, là địa điểm mà lực lượng tấn công sẽ đổ dồn về tập kết trước khi tung quân đột nhập vào Nga.
Ba Lan đã chứng kiến cả hai cách thức này khi các đạo quân đã từng quét qua nó từ đông sang tây và ngược lại, thường xuyên làm thay đổi đường biên giới. Nếu bạn lấy cuốn The Times Atlas of European History (Atlas: Lịch đại châu Âu) và lướt nhanh qua các trang như thể đó là một cuốn sách lật, bạn thấy Ba Lan xuất hiện khoảng năm 1000, sau đó liên tục thay đổi hình dạng, biến mất và xuất hiện trở lại trước khi có được hình dạng hiện tại của nó vào cuối thế kỷ 20.
Vị trí địa lý của Đức và Nga, đi cùng với kinh nghiệm của Ba Lan về hai quốc gia này, khiến cả hai đều không thể trở thành đồng minh tự nhiên của Warsaw. Cũng như Pháp, Ba Lan muốn Đức bị khóa chặt trong EU và NATO, trong khi những nỗi sợ hãi còn chưa quá xa xưa đối với Nga đã trỗi dậy cùng với cuộc khủng hoảng tại Ukraine. Trong nhiều thế kỷ qua, Ba Lan đã chứng kiến ngọn thủy triều Nga dâng trào lên bao trùm họ và rồi lại rút đi. Sau khi ngọn thủy triều đó rút xuống thấp nhất vào cuối đế chế Xô Viết, giờ đây nó chỉ có thể chảy về một hướng duy nhất mà thôi.
Quan hệ với nước Anh, giữ vai trò là một đối trọng với Đức trong EU, được thiết lập dễ dàng bất chấp sự phản bội năm 1939: Anh và Pháp đã ký một hiệp ước cam đoan trợ giúp Ba Lan nếu Đức xâm lược. Khi Đức tấn công, động thái phản ứng trước Blitzkrieg (chiến tranh chớp nhoáng) là “Sitzkrieg“ (chiến tranh không động thủ) – cả hai đồng minh đều ngồi yên phía sau Phòng tuyến Maginot tại Pháp trong khi Ba Lan bị nuốt chửng. Mặc dù vậy, mối quan hệ với Anh vẫn rất vững chắc, ngay cả khi một nước Ba Lan vừa mới giải phóng tìm được một đồng minh chính yếu mới là Hoa Kỳ vào năm 1989.
Hoa Kỳ chào đón Ba Lan và ngược lại: cả hai đều dè chừng Nga. Năm 1999, Ba Lan gia nhập NATO, mở rộng tầm với của NATO đến gần Moscow thêm bốn trăm dặm. Rồi sau đó, một số quốc gia khác vốn thuộc khối hiệp ước Warsaw cũng trở thành thành viên của NATO vào năm 1999, Moscow bất lực nhìn NATO gây chiến với đồng minh của mình là Serbia. Vào những năm 1990, Nga không có vị thế để chống trả, nhưng sau sự hỗn loạn của những năm dưới thời Yeltsin, Putin đã bước chân lên võ đài và tung cú đấm tạt sườn.
Câu nói rất nổi tiếng được gán cho Henry Kissinger xuất hiện vào thập niên 1970, khi báo chí nói rằng ông đã hỏi: “Nếu tôi muốn gọi điện thoại cho châu Âu – tôi sẽ gọi ai?“ Người Ba Lan đã cập nhật câu hỏi này: “Nếu người Nga đe dọa, chúng tôi phải gọi Brussels hay Washington?“ Họ biết câu trả lời.
Các nước vùng Balkan cũng một lần nữa được giải phóng khỏi đế quốc Nga. Địa hình núi non của họ đã dẫn đến sự xuất hiện của rất nhiều nhà nước nhỏ trong khu vực, và địa hình cũng chính là một trong những lý do khiến họ không thể hợp nhất – bất chấp những nỗ lực hết mình trong cuộc thử nghiệm của Liên minh các nước Nam Slav, hay còn gọi là Liên bang Nam Tư (Yugoslavia).
Bỏ lại phía sau những cuộc chiến trong thập niên 1990, phần lớn các quốc gia thuộc Nam Tư cũ nhìn về phía tây, nhưng tại Serbia, sức lôi kéo của phương Đông, do Thiên Chúa giáo Chính thống và những sắc tộc Slav, vẫn còn rất mạnh mẽ. Nga, vốn chưa tha thứ cho các quốc gia phương Tây vì vụ ném bom Serbia năm 1999 và sự ly khai của Kosovo, vẫn đang cố gắng lôi kéo Serbia trở lại trong quỹ đạo của mình nhờ sức hấp dẫn về ngôn ngữ, sắc tộc, tôn giáo và các thỏa thuận về năng lượng.
Bismarck có câu nói nổi tiếng rằng một cuộc chiến tranh lớn sẽ được châm ngòi bởi “một chuyện ngu xuẩn chết tiệt nào đó ở vùng Balkan”; và chuyện đã xảy ra đúng như vậy. Khu vực đó hiện là một chiến trường kinh tế và ngoại giao giữa EU, NATO, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga, tất cả đều đang cạnh tranh giành ảnh hưởng. Albania, Bulgaria, Croatia và Romania đã có lựa chọn của mình và bước vào NATO – và, ngoại trừ Albania, họ cũng nằm trong EU, như Slovenia vậy.
Sự căng thẳng mở rộng lên phía bắc và bán đảo Scandinavia. Đan Mạch vốn là một thành viên NATO. Sự hồi sinh gần đây của Nga đã làm dấy lên một cuộc tranh luận ở Thụy Điển về câu hỏi liệu đã đến lúc từ bỏ thái độ trung lập suốt hai thế kỷ qua và gia nhập NATO hay chưa. Năm 2013, chiến đấu cơ Nga đã tổ chức một cuộc ném bom giả trên đất Thụy Điển vào giữa đêm. Hệ thống phòng thủ của Thụy Điển dường như ngủ quên, không có bất kỳ chiến đấu cơ nào xuất phát, và chính lực lượng không quân Đan Mạch đã cất cánh để xua đuổi máy bay Nga. Mặc dù vậy, đa số người dân Thụy Điển vẫn không tán thành việc tham gia NATO, nhưng cuộc tranh luận còn đang tiếp diễn, khi biết được từ tuyên bố của Moscow rằng Nga sẽ buộc phải “đáp trả“ nếu Thụy Điển hoặc Phần Lan tham gia NATO.
Các nước EU và NATO cần phải thể hiện một mặt trận thống nhất trước những thách thức như vậy, nhưng điều đó là không thể trừ phi mối quan hệ chính yếu trong EU – tức là giữa Pháp và Đức – vẫn y như cũ.
Như ta vẫn thấy, Pháp nằm ở vị trí địa lý tốt nhất để tận dụng lợi thế của khí hậu, tuyến đường thương mại và biên giới tự nhiên của Châu Âu. Quốc gia này được che chắn một phần, ngoại trừ ở một khu vực: phía đông bắc, nơi vùng đất bằng của đồng bằng Bắc Âu trở thành nước Đức hiện nay. Trước khi Đức thành hình như một quốc gia duy nhất thì điều đó không thành vấn đề. Pháp vốn cách xa Nga một khoảng đáng kể, cách xa những đội kỵ binh Mông Cổ, và có eo biển ngăn cách nó với nước Anh. Những điều trên có nghĩa là mưu đồ xâm lược và chiếm đóng toàn diện chắc chắn sẽ bị đẩy lùi. Trên thực tế, Pháp là cường quốc vượt trội trên lục địa châu Âu: thậm chí nước này còn có thể phát huy quyền lực của mình tới tận cửa ngõ Moscow. Nhưng rồi Đức thống nhất.
Việc này đã diễn ra trong một thời gian dài. “Ý tưởng” về một nước Đức đã xuất hiện trong nhiều thế kỷ: các vùng đất thuộc bộ tộc Erank miền Đông đã trở thành Đế quốc La Mã Thần thánh trong thế kỷ 10 đôi khi được gọi là “các Công quốc German”, có khi lên tới 500 tiểu quốc nhỏ của sắc tộc German. Sau khi Đế quốc La Mã Thần thánh tan rã vào năm 1806, Liên bang Đức gồm ba mươi chín tiểu bang sáp nhập lại tại Hội nghị Vienna năm 1815. Sự kiện này đến lượt nó dẫn tới sự ra đời của Liên bang Bắc Đức, và sau đó nước Đức thống nhất vào năm 1871 sau cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ, một cuộc chiến mà trong đó quân Đức chiến thắng đã chiếm đóng Paris. Giờ đây, Pháp đã có một láng giềng sát biên giới, lớn hơn Pháp về mặt địa lý, có quy mô dân số tương tự nhưng với một tỉ lệ tăng trưởng tốt hơn, và được công nghiệp hóa nhiều hơn.
Sự thống nhất nước Đức được công bố tại cung điện Versailles gần Paris sau chiến thắng của nước Đức. Điểm yếu trong tuyến phòng thủ của Pháp, Đồng bằng Bắc Âu, đã bị chọc thủng. Điều này sẽ còn xảy ra, hai lần nữa, trong bảy mươi năm tiếp theo, và từ đó về sau Pháp sử dụng biện pháp ngoại giao thay vì chiến tranh để cố vô hiệu hóa mối đe dọa từ phía đông.
Đức luôn có những vấn đề về địa lý lớn hơn so với Pháp. Những dải đất bằng phẳng của Đồng bằng Bắc Âu khiến cho nước này -có hai lý do để lo sợ: phía tây của Đức là người láng giềng Pháp hùng mạnh với lịch sử thống nhất lâu đài, và phía đông là gấu Nga khổng lồ. Nỗi sợ hãi lớn nhất của Đức là cùng một lúc bị cả hai cường quốc này tấn công ngang qua vùng đất bằng của hành lang Bắc Âu. Chúng ta chẳng thể nào biết liệu điều đó có bao giờ xảy ra hay không, nhưng nỗi sợ hãi về điều này đem lại những hậu quả thê thảm.
Pháp sợ Đức, Đức sợ Pháp, và khi Pháp gia nhập với cả hai nước Nga và Anh trong Hiệp ước đồng minh Ba bên (Triple Entente) năm 1907, Đức lo sợ cả ba nước này. Giờ đây còn có thêm một chiều kích nữa, hải quân Anh vào bất cứ thời điểm nào họ muốn đều có thể phong tỏa con đường xâm nhập của Đức vào biển Bắc và Đại Tây Dương. Giải pháp của Đức, đã xảy ra hai lần, là tấn công nước Pháp trước.
Thể tiến thoái lưỡng nan giữa vị trí địa lý và não trạng hiếu chiến của Đức được biết đến qua cuộc tranh luận gọi là “Giải pháp Đức (German Question)”. Câu trả lời, sau nỗi kinh hoàng của Thế chiến II, nói đúng hơn sau hàng thế kỷ chiến tranh, là chấp nhận sự hiện diện của một cường quốc áp đảo duy nhất tại các vùng đất châu Âu, tức Hoa Kỳ, kẻ thành lập NATO và sau cùng cho phép tạo ra Liên minh châu Âu. Kiệt quệ bởi chiến tranh, và được “đảm bảo” an toàn bởi lực lượng quân đội Hoa Kỳ, các nước châu Âu bắt tay vào một thử nghiệm đáng kinh ngạc. Họ được yêu cầu tin tưởng lẫn nhau.
EU hiện nay đã được thiết lập sao cho Pháp và Đức có thể ôm ghì nhau trong một vòng tay yêu thương để không bên nào có thể buông tay ra đấm người kia. Kế sách này đã thành công rực rỡ và tạo ra một không gian địa lý rộng lớn chứa đựng nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Nó đặc biệt có hiệu quả tốt đối với Đức, đất nước đã đứng lên từ đống tro tàn của năm 1945 và làm quen với lợi thế địa lý mà họ từng sợ hãi. Đức đã trở thành nhà sản xuất lớn của châu Âu. Thay vì phái quân đội đến các vùng bình nguyên, Đức vận chuyển đến đó hàng hóa với nhãn hiệu uy tín “MADE IN GERMANY“. Những dòng hàng hóa này chảy xuôi sông Rhine và sông Elbe, đọc theo những cao tốc tỏa khắp châu Âu và thế giới, phía bắc, phía nam, phía tây, và từ năm 1990 ngày càng nhiều về phía đông.
Tuy nhiên, khởi đầu vào năm 1951 như Cộng đồng Than-Thép châu Âu của sáu quốc gia, tổ chức này đã trở thành một EU đa quốc gia với cốt lõi ý thức hệ của “một liên minh chặt chẽ hơn bao giờ hết”. Sau cuộc khủng hoảng tài chính lớn đầu tiên tấn công liên minh này, ý thức hệ đó đặt trên một nền tảng không vững chắc và các mối ràng buộc đang bị sờn mòn. Như tác giả địa chính trị Robert Kaplan diễn đạt: có dấu hiệu về “sự trả thù của địa lý” trong Liên minh châu Âu.
Liên minh chặt chẽ hơn bao giờ hết dẫn mười chín quốc gia thành viên đến một đồng tiền duy nhất – đồng euro. Tất cả hai mươi tám thành viên, trừ Đan Mạch và Anh, cam kết tham gia nếu và khi họ đáp ứng các tiêu chí. Điều rõ ràng hiện nay, và có phần nào rõ ràng tại thời điểm đó, là vào thời điểm phát hành đồng euro vào năm 1999, nhiều quốc gia đã tham gia khi đơn giản là còn chưa sẵn sàng.
Năm 1999, nhiều quốc gia trong số đó đã nhắm mắt bước vào mối quan hệ mới được xác định này. Tất cả các nước này được cho là đều có mức nợ nần, thất nghiệp và lạm phát trong giới hạn nhất định. Vấn đề là một số quốc gia, đặc biệt là Hy Lạp, đang xào nấu sổ sách. Hầu hết các chuyên gia đều biết, nhưng vì đồng EURO không chỉ là đồng tiền – nó còn là một ý thức hệ – nên các thành viên đã nhắm mắt làm ngơ.
Các quốc gia thuộc khu vực đồng euro đã đồng ý bước vào một cuộc hôn phối về kinh tế, như người Hy Lạp chỉ rõ, “no đói có nhau”, nhưng khi cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 nổ ra, các nước giàu hơn phải giải cứu những nước nghèo hơn, và một cuộc cãi cọ nội bộ cay đắng đã nổ ra. Đến tận bây giờ, các thành viên vẫn còn đang ném đồ ăn vào mặt nhau.
Khủng hoảng đồng euro và các vấn đề kinh tế rộng hơn đã bộc lộ các vết nứt trong Ngôi nhà châu Âu (đặc biệt là dọc theo đường đứt gãy cũ vốn phân chia bắc nam). Giấc mơ về một liên minh chặt chẽ hơn bao giờ hết dường như bị đóng băng, hoặc thậm chí có khả năng diễn tiến ngược lại. Mùa xuân năm 2017, Ủy ban EU đã cho lưu hành một báo cáo đặt ra một số lựa chọn về chiều hướng phát triển của EU. Sự lựa chọn trao nhiều quyền lực hơn cho Brussels đã bị bác bỏ thẳng thừng ở hầu hết các thủ đô của châu Âu.
Cuộc bỏ phiếu năm 2016 để Anh rời bỏ EU là một cú đánh tâm lý sâu sắc vào giấc mơ châu Âu. Nếu Liên minh châu Âu tan vỡ thì cuộc tranh luận về “Giải pháp Đức” có thể trở lại. Nhìn qua lăng kính của bảy thập niên hòa bình, điều này dường như là gieo rắc hoang mang – Đức là một trong những thành viên hiếu hòa và dân chủ nhất của gia đình châu Âu; nhưng nhìn qua lăng kính của bảy thế kỷ chiến tranh châu Âu, điều này không thể bị loại trừ.
Đức quyết tâm giữ mình là một thành viên tốt của châu Âu. Bằng bản năng, người Đức biết rằng nếu EU phân mảnh, những nỗi sợ hãi xưa cũ đối với nước Đức sẽ xuất hiện trở lại, đặc biệt hiện nay khi Đức là quốc gia đông dân và giàu có nhất châu Âu, với 82 triệu dân và nền kinh tế lớn thứ tư thế giới. Liên minh thất bại cũng sẽ gây tổn hại cho Đức về mặt kinh tế: quốc gia xuất khẩu hàng hóa lớn thứ ba thế giới không muốn nhìn thấy mảng thị trường gần nó nhất rơi vào chủ nghĩa bảo hộ. (Đó là lý do tại sao vào mùa hè năm 2015, sau cuộc tranh cãi gay gắt về Hy Lạp, Đức đã dẫn dắt cuộc thảo luận về việc liệu các nước trong khu vực đồng euro có nên thành lập một liên minh tài chính thực sự hay không. Việc này sẽ đòi hỏi một mức độ hội nhập chủ quyền chưa từng thấy ở châu Âu, với một ngân sách chung được chia sẻ giữa các quốc gia thành viên. Nếu được chấp nhận, nó sẽ mang lại hình ảnh thay thế rõ ràng hơn về một “châu Âu hai tốc độ”, một nhóm gồm các quốc gia đồng euro “liên bang hóa“ (vẫn do Đức thống trị) và phần còn lại của EU.]
Quốc gia dân tộc Đức (German nation state6), mặc dù chưa đầy 150 tuổi, giờ đây là sức mạnh không thể thiếu của châu Âu. Trong các vấn đề kinh tế, Đức là vô song, nó nói năng nhẹ nhàng nhưng vác theo một cây gậy khổng lồ hình đồng tiền euro, và cả lục địa lắng nghe: Tuy nhiên, về chính sách đối ngoại toàn cầu, Đức luôn phát biểu nhẹ nhàng, đôi khi còn chẳng nói một lời nào, và né tránh bạo lực.
Cái bóng của Chiến tranh Thế giới II vẫn còn lơ lửng trên nước Đức. Hoa Kỳ, và sau cùng là Tây Âu, sẵn sàng chấp nhận việc Đức tái vũ trang vì mối đe dọa Liên Xô, nhưng Đức tái vũ trang gần như miễn cưỡng và không thích sử dụng sức mạnh quân sự của mình. Đức đóng một vai phụ ở Kosovo và Afghanistan, nhưng đã chọn đứng ngoài cuộc xung đột Libya.
Về phương diện ngoại giao sự tham gia nghiêm túc nhất của Đức vào một cuộc khủng hoảng phi kinh tế là tại Ukraine, điều này cho chúng ta biết nhiều về việc người Đức đang nhìn về đâu. Đức đã tham gia vào mưu đồ lật đổ tổng thống Ukraine Yanukovych năm 2014, đồng thời đã chỉ trích gay gắt việc sáp nhập Crimea vào Nga. Tuy nhiên, vì quan tâm đến các đường ống dẫn khí đốt, Berlin đã kiềm chế đáng kể trong động thái chỉ trích và trong việc hậu thuẫn cho các biện pháp trừng phạt Nga, nếu đem so với các quốc gia ít phụ thuộc hơn vào nguồn năng lượng của Nga, ví dụ như nước Anh. Thông qua EU và NATO, Đức được neo chặt vào Tây Âu, nhưng trong giông bão, mỏ neo này vẫn có thể trôi đi, và Berlin có ưu thế vị trí địa lý để dịch chuyển tiêu điểm chú ý của mình về phía đông nếu cần, và tạo dựng mối quan hệ gần gũi hơn với Moscow.
Kẻ đối theo tất cả những âm mưu ở lục địa từ ngoài khơi Đại Tây Dương là hiện điện trên lục địa, có lúc lại đứng ngoài cuộc trong thế “cô lập hào nhoáng”, luôn nhiệt tình tham gia vào việc đảm bảo không cho thế lực nào lớn hơn mình sẽ nổi lên ở châu Âu. Điều này hiện cũng đúng trong các hội trường ngoại giao của EU, cũng như khi xưa trên các chiến trường của Agincourt, Waterloo hay Balaclava.
Khi có cơ hội, nước Anh tìm cách chen chân vào các liên minh Pháp-Đức vĩ đại trong EU. Nếu chuyện đó thất bại, Anh tìm kiếm đồng minh trong số các quốc gia thành viên nhỏ hơn khác để xây dựng đủ sự hỗ trợ nhằm thách thức các chính sách mà họ không đồng ý. Trong mấy thế kỷ, Anh đã tìm mọi cách đảm bảo rằng không có thế lực nào chiếm ưu thế áp đảo trên lục địa châu Âu. Chính sách này được thực hiện trong quá trình Anh là thành viên EU, và sẽ tiếp tục trong tương lai, cho dù Anh có còn là thành viên EU nữa hay không.
Về mặt địa lý, Anh nằm ở vị trí đắc địa. Đất nông nghiệp màu mỡ, sông ngòi thuận tiện, khả năng tiếp cận tuyệt vời với biển và nguồn thủy sản, đủ gần lục địa châu Âu để buôn bán song lại được che chở nhờ vị thế đảo quốc – đã có những lúc Anh phải biết ơn địa lý của mình khi chiến tranh và cách mạng càn quét các nước láng giềng.
Không coi nhẹ những tổn thất và trải nghiệm của Anh trong các cuộc chiến tranh thế giới, nhưng những điều đó dường như trở nên nhỏ bé trước những gì đã xảy ra ở lục địa châu Âu trong thế kỷ 20 và thậm chí trước cả đó nữa. Người Anh không muốn sống với những ký ức lịch sử tập thể về các cuộc xâm lược thường xuyên và sự biến động của các đường biên giới.
Có một lý thuyết cho rằng tình hình an ninh tương đối của nước Anh trong vài trăm năm qua là lý do giải thích tại sao nước này đã trải nghiệm nhiều tự do hơn và ít chuyên quyền hơn so với các quốc gia bên kia eo biển. Lý thuyết đó cho rằng Anh ít có nhu cầu về các “strong men” hoặc các nhà độc tài, kể từ Đại hiến chương Magna Carta (1215) và sau đó là các Điều khoản Oxford (Provisions of Oxford) (1258), dẫn đến việc các hình thức dân chủ hình thành sớm hơn nhiều năm so với các quốc gia khác.
Đó là một luận điểm hay, dù không thể chứng minh được. Điều không thể phủ nhận là vùng nước xung quanh quốc đảo này và rừng cây mọc trên dải đất đó cho phép xây dựng một lực lượng hải quân lớn, và những điều kiện kinh tế khơi mào cho cuộc Cách mạng Công nghiệp đã dẫn đến việc Vương quốc Anh kiểm soát một đế chế toàn cầu. Vương quốc Anh có thể là hòn đảo lớn nhất châu Âu, nhưng nó không phải là một đất nước lớn. Việc mở rộng quyền lực của quốc đảo này trên toàn cầu trong thế kỷ 18, 19 và 20 là điều rất đáng chú ý, cho dù kể từ đó, vị thế của nó đã suy thoái.
Vị trí địa lý của Anh vẫn mang lại một số lợi đón chiến lược nhất định, một trong số đó là Khoảng trống GIUK (Greenland, Iceland và Anh). Đây là một nút thắt của các tuyến đường biển thế giới. Nó dường như không quan trọng bằng eo biển Hormuz hay eo biển Malacca, nhưng trong lịch sử khoảng trống GIUK đã mang lại những lợi thế cho Anh ở Bắc Đại Tây Dương. Tuyến đường thay thế dành cho các lực lượng hải quân Bắc Âu (bao gồm Bỉ, Hà Lan và Pháp) để tiến vào Đại Tây Dương là thông qua eo biển Manche (còn gọi là English Channel), nhưng eo biển này khá hẹp, chỉ rộng hai mươi dặm tại eo Dover, và được phòng thủ rất chắc chắn. Bất kỳ tàu hải quân Nga nào đến từ vùng Bắc cực đều phải đi qua GIUK trên đường đến Đại Tây Dương.
Lợi thế chiến lược này đã suy giảm song hành với sự suy giảm vai trò và sức mạnh của hải quân Hoàng gia, nhưng trong thời chiến tranh nó sẽ lại tạo lợi thế cho nước Anh. GIUK là một trong nhiều lý do tại sao London rơi vào hoảng loạn năm 2014 khi cuộc bỏ phiếu về vấn đề độc lập của Scotland đã có lúc dường như có thể dẫn đến kết quả “Đồng ý“. Việc mất đi quyền lực trên biển Bắc và Bắc Đại Tây Dương sẽ là một cú đánh chiến lược và một sự tổn thương lớn đến thanh thế của phần còn lại của nước Anh.
Những gì người Anh có hiện nay là một ký ức tập thể về sự vĩ đại. Ký ức đó chính là điều thuyết phục nhiều người trên hòn đảo này tin rằng nếu thế giới cần phải hoàn thành một việc gì đó, nước Anh lên là một trong số các quốc gia làm điều ấy. Vương quốc Anh vẫn thuộc về châu Âu, song vẫn nằm ngoài châu lục này; đây là một vấn đề còn phải giải quyết.
Bốn mươi năm sau khi gia nhập EU, Vương quốc Anh quyết định tổ chức trưng cầu dân ý về việc liệu nước này có nên tiếp tục là một phần của EU nữa hay không. Hai vấn đề chính khiến người Anh bước đến ngưỡng cửa ra khỏi EU lại liên quan đến nhau: chủ quyền lãnh thổ và nhập cư. Quan điểm chống EU, được hậu thuẫn bởi một số phần tử ngập ngừng quay lưng lại với EU, đã được tiếp lửa bởi một số lượng lớn đủ các loại đạo luật được EU ban hành, mà nước Anh, theo thỏa thuận thành viên, phải tuân thủ. Có những dòng tít lớn về những tội phạm nước ngoài bị kết án phạm tội nghiêm trọng ở Anh, nhưng không thể bị trục xuất do các phán quyết từ Tòa án Tư pháp châu Âu.
Đồng thời, làn sóng dân nhập cư và tị nạn kinh tế đến châu Âu từ Trung Đông và châu Phi cũng đã thúc đẩy tình cảm chống EU khi nhiều người trong số di dân đó muốn đến nước Anh, và người ta tin rằng chính các nước EU nơi dân nhập cư đi qua đã khuyến khích họ làm như vậy.
Định kiến chống dân nhập cư luôn gia tăng trong thời kỳ suy thoái kinh tế, ví dụ thời kỳ suy thoái gần đây nhất mà châu Âu đã phải gánh chịu, và chúng ta có thể chứng kiến các hiệu ứng của nó ngay trên lục địa, dẫn đến sự gia tăng của các đảng chính trị cánh hữu, tất cả đều chống lại chủ nghĩa quốc tế và do đó làm suy yếu cơ cấu của EU.
Một ví dụ trần trụi xảy đến vào đầu năm 2016 khi Thụy Điển, lần đầu tiên trong nửa thế kỷ, người ta bắt đầu kiểm tra giấy tờ tùy thân của du khách đến từ Đan Mạch. Đây là một phản ứng trực tiếp với dòng người tị nạn và di cư chảy vào Bắc Âu từ vùng Trung Đông và cũng là phản ứng trước các cuộc tấn công của IS vào Paris tháng Mười một năm 2015. Ý tưởng về một “Khu vực Schengen” của EU, một khu vực không biên giới bao gồm hai mươi sáu quốc gia, đã phải chịu những cú đánh nặng nề khi các quốc gia khác nhau vào các thời điểm khác nhau tái lập các biện pháp kiểm soát biên giới vì lý do an ninh. Lo sợ tình trạng tắc nghẽn, Đan Mạch bắt đầu kiểm tra giấy tờ những du khách từ Đức sang. Tất cả những điều này đều gây tốn phí, khiến cho việc đi lại khó khăn hơn, và là một cuộc tấn công cả về mặt thể chất lẫn khái niệm vào ý thức hệ của “một liên minh ngày càng khăng khít”. Một số nhà phân tích đã bắt đầu nói về một “Pháo đài châu Âu” từ những biện pháp được đề nghị nhằm giảm số lượng nhập cư, nhưng phát biểu này cũng bỏ qua một thực tế rằng còn có một xu hướng dịch chuyển hướng tới một “Pháo đài Quốc gia Dân tộc”.
Dân cư trắng truyền thống của châu âu đang chuyển thành muối tiêu. Những dự báo phát triển dân số cho thấy biểu đồ hình kim tự tháp ngược, với thế hệ người lớn tuổi trên tầng cao nhất và ở tầng mức thấp hơn là thế hệ trẻ phải chăm sóc họ hoặc trả thuế. Tuy nhiên những dự báo như vậy vẫn không gây ra một tác động nào đối với tình cảm mạnh mẽ chống dân nhập cư tồn tại trong cộng đồng dân cư bản địa trước đây, những người đang vật lộn để đối phó với các thay đổi chóng mặt của thế giới mà tại đó họ đã lớn lên.
Sự thay đổi nhân khẩu học này đến lượt nó lại ảnh hưởng lên chính sách đối ngoại của các quốc gia, đặc biệt là đối với Trung Đông. Ví dụ, về các vấn đề như chiến tranh lraq hoặc xung đột Israel/Palestine, nhiều chính phủ châu Âu dù sao cũng phải tính đến tình cảm của công dân Hồi giáo khi hoạch định chính sách.
Các đặc tính và chuẩn mực xã hội trong nước của các quốc gia châu Âu cũng bị ảnh hưởng. Các cuộc tranh luận về nữ quyền và khăn trùm đầu của phụ nữ, những đạo luật ngăn cấm báng bổ, tự do ngôn luận và nhiều vấn đề khác đều bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của một số lượng lớn người Hồi giáo ở các khu vực đô thị của châu Âu. Câu châm ngôn của Voltaire nói rằng ông sẽ bảo vệ đến cùng quyền ngôn luận của con người, dù chính ông thấy lời nói đó chướng tai, đã từng được coi như một điều hiển nhiên. Ngày nay, bất chấp vô số người đã bị giết vì những lời họ nói gây xúc phạm, cuộc tranh luận kia đã chuyển hướng. Không hiếm gặp những ý tưởng cho rằng những lời lẽ xúc phạm đến tôn giáo:nên bị coi là vượt quá giới hạn cho phép, thậm chí có thể bị phán xử là bất hợp pháp.
Trong khi những người theo chủ nghĩa tự do trước đây hoàn toàn ủng hộ Voltaire, thì hiện nay xuất hiện những sắc thái của chủ nghĩa tương đối. Vụ thảm sát các nhà báo của tạp chí châm biếm Pháp Charlie Hebdo vào năm 2015 kéo theo một làn sóng lên án và bài bác lan rộng; tuy nhiên, một số trong thái độ lên án chủ nghĩa tự do đã nhuốm một sắc thái “nhưng có lẽ những kẻ châm biếm cũng thật quá đáng”. Đây là một điều mới mẻ đối với châu Âu trong thời hiện đại và là một phần của những cuộc chiến tranh văn hóa, mà tất cả đều quay vòng trở lại thái độ đối với các cấu trúc chính trị của châu Âu. NATO cũng bắt đầu chia rẽ cùng thời điểm với Liên minh châu Âu. Cả hai tổ chức còn có thể được chắp vá lại, nhưng nếu không, theo thời gian cả hai có thể tan rã hoặc không còn thích hợp nữa. Đến lúc đó, chúng ta sẽ quay trở lại một châu Âu với những quốc gia dân tộc có chủ quyền, với việc mỗi một nhà nước đều tìm kiếm đồng minh trong một thế cân bằng của hệ thống quyền lực. Đức một lần nữa sẽ lo sợ bị bao vây bởi Nga và Pháp, Pháp sẽ lại lo sợ người láng giềng lớn hơn của mình, và tất cả chúng ta sẽ quay trở lại đầu thế kỷ 20.
Đối với người Pháp, đây là một cơn ác mộng. Họ đã thành công trong việc trói chặt nước Đức vào EU, chỉ để nhận ra rằng sau khi Đức tái thống nhất, Pháp trở thành đối tác yếu thế hơn trong một cỗ máy động cơ kép mà họ đã từng hy vọng sẽ được lèo lái. Điều này đặt ra cho Paris một vấn đề dường như không thể giải quyết được. Trừ khi Paris lặng lẽ chấp nhận rằng Berlin lĩnh xướng châu Âu, còn không Pháp có nguy cơ làm Liên minh châu Âu suy yếu hơn nữa. Nhưng nếu Pháp chấp nhận vai trò lãnh đạo của Đức, khi đó sức mạnh của chính họ sẽ bị suy giảm.
Pháp có khả năng đưa ra một chính sách đối ngoại độc lập, mà thực sự, với chương trình ngăn chặn hạt nhân “Force de frappe” (Lực lượng Tấn công), với các vùng lãnh thổ hải ngoại và các lực lượng vũ trang được hậu thuẫn bởi tàu sân bay của mình, Pháp đã làm như vậy – nhưng họ chỉ hoạt động an toàn khi biết chắc sườn phía đông của mình được bảo đảm và có thể nhướng mắt lên trên đường chân trời.
Cả Pháp và Đức hiện đang làm tất cả để giữ Liên minh châu Âu: họ coi nhau như những đối tác tự nhiên. Nhưng chỉ mình Đức có Kế hoạch B – nước Nga.
Giai đoạn kết thúc Chiến tranh Lạnh đã chứng kiến hầu hết các cường quốc lục địa cắt giảm ngân sách quân sự và lực lượng vũ trang của họ. Cú sốc của cuộc chiến tranh Nga-Georgia năm 2008 và việc sáp nhập Crimea vào Nga năm 2014 đã hướng sự chú ý đổ dồn vào khả năng xảy ra chiến tranh ở châu Âu, một vấn đề xưa cũ.
Hiện tại, Nga thường xuyên tung ra những phi vụ nhằm kiểm tra các hệ thống phòng không của châu Âu, họ cũng đang bận rộn với việc củng cố địa vị ở Nam Ossetia, Abkhazia, Crimea, Transnistria và miền Đông Ukraine. Họ duy trì mối liên hệ với khối sắc dân Nga ở vùng Baltic, và họ vẫn có lãnh thổ hải ngoại của mình tại Kaliningrad trên biển Baltic.
Châu Âu đã bắt đầu thực hiện một số tái tính toán nghiêm túc về chi tiêu quản sự, nhưng không có nhiều tiền nhàn rỗi, và họ phải đối mặt với những quyết định khó khăn. Trong khi tranh luận về những quyết định này, những tấm bản đồ lại được lôi ra phủi bụi, và các nhà ngoại giao và chiến lược gia quân sự nhận thấy rằng, cho dù những mối đe dọa như Charlemagne, Napoleon, Hitler và Liên Xô có thể đã qua, nhưng Đông bằng Bắc Âu, vùng núi Carpath, Baltic và biển Bắc thì vẫn còn đó.
Trong cuốn Oƒ Paradise and Power (Thiên đường và Quyền lực), nhà sử học Robert Kagan cho rằng các nước Tây Âu sống trong thiên đường nhưng không nên tìm cách vận hành theo các quy luật của thiên đường một khi họ bước vào thế giới của quyền lực. Có lẽ, khi cuộc khủng hoảng đồng euro dịu đi và chúng ta nhìn quanh thiên đường đó, dường như không thể tưởng tượng được rằng chúng ta có thể đi thụt lùi; nhưng lịch sử cho chúng ta biết có bao nhiêu điều có thể thay đổi chỉ trong vài thập niên, và địa lý cho chúng ta biết rằng nếu con người không liên tục cố chiến thắng các “quy luật” của nó, thì những “quy luật” ấy sẽ chiến thắng con người.
Đây là điều mà Helmut Kohl ngụ ý trong diễn văn rời chức thủ tướng Đức năm 1998, khi cảnh báo ông là nhà lãnh đạo Đức cuối cùng đã sống qua Chiến tranh thế giới thứ II và do đó đã trải qua những nỗi kinh hoàng mà nó đã từng gây ra. Năm 2012, ông đã viết một bài báo cho tờ nhật báo bán chạy nhất của nước Đức, Bild, và rõ ràng ông vẫn còn ám ảnh bởi khả năng rằng thế hệ hiện tại, do khủng hoảng tài chính, sẽ không trân trọng kinh nghiệm hậu chiến về lòng tin lẫn nhau của châu Âu: “Với những người không tự mình trải nghiệm qua điều này và đặc biệt những người hiện đang sống trong cuộc khủng hoảng đang đặt câu hỏi rằng sự thống nhất của châu Âu có thể mang lại điều gì, bất chấp thời kỳ hòa bình chưa từng có của châu Âu kéo dài hơn sáu mươi lăm năm và bất chấp những vấn đề và khó khăn mà chúng ta vẫn còn phải vượt qua, câu trả lời là: hòa bình.”
Chương 5 - Châu Phi
“Mọi điều luôn có vẻ như là bất khả cho đến khi nó được thực hiện” – Nelson Mandela
Bờ biển châu Phi? Những bãi biển tuyệt đẹp, thực sự đáng yêu, nhưng bến cảng thiên nhiên lại tệ hại. Sông ngòi? Sông ngòi tuyệt vời, nhưng hầu hết chúng thực sự vô dụng xét về mục đích giao thông, vì rằng cứ vài dặm bạn lại phải vượt qua một thác nước. Đây chỉ là hai vấn để trong một danh sách dài các lý do giải thích tại sao châu Phi không thành công về công nghệ hay chính trị như Tây Âu hay Bắc Mỹ.
Có rất nhiều vùng đất không thành công, nhưng rất ít nơi không thành công như châu Phi, cho dù nó đã có lợi thế khởi đầu trước: là nơi giống Homo sapiens (người tinh khôn) khởi sinh từ khoảng hai trăm ngàn năm trước. Như Jared Diamond, tác giả minh mẫn bậc nhất, đã diễn đạt điều đó trong một bài viết xuất sắc cho National Geographic năm 2005, “Nó trái ngược với những gì người ta mong đợi từ vận động viên xuất phát đầu tiên.“ Tuy nhiên, vận động viên xuất phát đầu tiên ấy bị tách biệt khỏi những dân tộc khác bởi sa mạc Sahara, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Hầu như toàn bộ lục địa này phát triển trong thế cô lập khỏi khối đất liền Á-Âu, nơi những ý tưởng và công nghệ được trao đổi từ đông sang tây, và từ tây sang đông, nhưng không đi từ bắc xuống nam.
Là một lục địa khổng lồ, châu Phi luôn bao gồm các vùng đất, khí hậu và văn hóa khác nhau, nhưng có một điểm chung giữa các vùng miền này là sự cô lập của chúng đối với nhau và đối với thế giới bên ngoài. Hiện nay tình hình có giảm đi đôi chút, nhưng di sản đó vẫn còn tôn tại.
Ý niệm của thế giới về địa lý châu Phi có nhiều khiếm khuyết. Rất ít người nhận ra châu Phi rộng lớn đến mức nào. Đó là do hầu hết chúng ta sử dụng bản đồ thế giới tiêu chuẩn Mercator. Bản đồ này, cũng giống như các bản đồ khác, dùng mặt phẳng để mô tả một mặt cầu và do đó gây biến dạng. Châu Phi dài hơn rất, rất nhiều so với những gì thường được khắc họa. Việc đó giải thích tại sao một chuyến đi vòng qua mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) là một thành tích đáng kể, và là một lời nhắc nhở về tầm quan trọng của kênh đào Suez đối với thương mại thế giới. Đi vòng qua mũi Hảo Vọng là một thành tựu trọng đại, nhưng một khi không còn cần phải làm thế, cuộc hải hành từ Tây Âu đến Ấn Độ có thể rút ngắn được sáu ngàn dặm.
Nếu bạn nhìn vào một bản đồ thế giới và tưởng tượng có thể dán Alaska cạnh California, sau đó lộn ngược Hoa Kỳ, có vẻ như Hoa Kỳ sẽ gần khớp với châu Phi, với một vài chỗ thừa thiếu đây đó. Trên thực tế, châu Phi lớn hơn Hoa Kỳ gấp ba lần. Nhìn trên bản đồ Mercator tiêu chuẩn, bạn thấy rằng Greenland dường như có cùng kích thước với châu Phi. Thực ra châu Phi lớn gấp 14 lần so với Greenland! Bạn có thể xếp gọn Hoa Kỳ, Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Pháp, Đức và Anh trong châu Phi, và vẫn còn đủ chỗ cho hầu hết Đông Âu. Chúng ta biết châu Phi là một khối đất liền khổng lồ, nhưng các bản đồ hầu như không thể cho chúng ta biết nó khổng lồ đến mức nào.
Địa lý của lục địa mênh mông này có thể được giải thích theo nhiều cách, nhưng cách cơ bản nhất là chia châu Phi thành một phần ba phía đỉnh và hai phần ba phía đáy.
Một phần ba phía đỉnh bắt đầu từ bờ Địa Trung Hải của các quốc gia nói tiếng Ả-rập thuộc Bắc Phi. Đồng bằng duyên hải nhanh chóng trở thành sa mạc Sahara, sa mạc khô lớn nhất thế giới, rộng gần bằng Hoa Kỳ. Ngay dưới sa mạc Sahara là vùng Sahel, một dải đất cát, nửa khô hạn, lẫn với dăm đá, bề ngang hơn ba ngàn dặm tại điểm rộng nhất của nó và trải dài từ Gambia trên bờ Đại Tây Dương qua Niger, Chad và chạy ngang Eritrea trên bờ biển Đỏ. Từ Sahel bắt nguồn từ tiếng Ả-rập sahil, có nghĩa là bờ biển; đó là cách người dân trong vùng nghĩ về nó, như “bờ” của “biển cát” Sahara rộng mênh mông. Nó còn là một loại bờ ven khác nữa, một bờ ven nơi mà ảnh hưởng Hồi giáo giảm dần đi. Từ Sahel đến Địa Trung Hải, đại đa số dân cư là người Hồi giáo. Phía nam của Sahel bắt đầu xuất hiện sự đa dạng tôn giáo hơn nhiều.
Thật vậy, phía nam của Sahel, hai phần ba ở phía đáy của châu Phi, có mức độ đa dạng hơn trong hầu hết mọi thứ. Vùng đất trở nên ôn hòa hơn và thảm thực vật xanh xuất hiện, dần trở thành rừng nhiệt đới khi tiến gần đến Congo và Cộng hòa Trung Phi. Đi về hướng bờ biển phía đông là những hồ lớn thuộc Uganda và Tanzania, trong khi đi về phía tây lại xuất hiện nhiều sa mạc hơn tại Angola và Namibia. Khi chạm đến đỉnh mũi của Nam Phi, khí hậu lại “có tính chất Địa Trung Hải”, mặc dù chúng ta đã đi xa gần năm ngàn dặm từ điểm cực bắc ở Tunisia trên bờ biển Địa Trung Hải.
Với việc châu Phi là nơi khởi nguồn của loài người, thì tất cả chúng ta đều là người châu Phi. Tuy nhiên, các quy tắc của cuộc đua đã thay đổi từ khoảng tám ngàn năm trước Công nguyên, khi một số trong giống loài chúng ta lang thang đến những nơi như Trung Đông và xung quanh khu vực Địa Trung Hải, mất đi máu viễn du, họ định cư, bắt đầu canh tác và cuối cùng sống tập trung trong các làng mạc và thị trấn.
Nhưng trở lại phía nam, rất ít loài thực vật dễ dàng để thuần hóa, và động vật thì thậm chí còn ít hơn. Phần lớn đất đai bao gồm rừng nhiệt đới, đầm lầy, sa mạc hoặc cao nguyên dốc đứng, không địa hình nào trong số đó cho phép trồng lúa mì hoặc lúa nước, hoặc nuôi cừu. Tê giác, linh dương và hươu cao cổ của châu Phi kiên quyết từ chối làm động vật thồ hoặc như Diamond diễn đạt trong một đoạn văn đáng nhớ, “Lịch sử có thể đã trở nên khác đi nếu quân đội châu Phi, được nuôi dưỡng bởi thịt hươu cao cổ được chăn nuôi và được hỗ trợ bởi những đợt sóng kỵ binh cưỡi tê giác khổng lồ, đã quét qua châu Âu, giẫm nát những lính tráng ăn thịt cừu cưỡi loài ngựa lùn tịt.” Nhưng ưu thế khởi đầu trước của châu Phi trong câu chuyện chung của dòng giống chúng ta đã cho phép lục địa này có nhiều thời gian hơn để phát triển một thứ khác mà cho đến nay vẫn khiến nó lạc hậu: một loạt những bệnh dịch hiểm nghèo, như sốt rét và sốt vàng da, bùng phát do nhiệt độ cao và hiện nay càng diễn tiến phức tạp bởi điều kiện sống chen chúc và cơ sở hạ tầng cho y tế nghèo nàn. Điều này cũng đúng đối với các khu vực khác, như tiểu lục địa [tức Nam Á] và Nam Mỹ chẳng hạn, nhưng khu vực châu Phi Hạ Sahara đặc biệt chịu ảnh hưởng nặng nề, ví dụ virus HIV, và gặp vấn đề đặc biệt khó khăn do sự hoành hành của muỗi và ruồi Tsetse.
Hầu hết các con sông của lục địa này cũng đặt ra một vấn đề, vì chúng bắt nguồn từ vùng đất cao và đổ xuống thành những dòng chảy xiết gây cản trở giao thông. Ví dụ, Zambezi hùng vĩ có thể là con sông dài thứ tư của châu Phi, chảy xuống 1600 dặm, vào có thể là một địa danh du lịch đẹp tuyệt với những ghềnh nước trắng và thác Victoria, nhưng nó khá là vô dụng trong vai trò một tuyến đường thương mại. Nó chảy qua sáu quốc gia, tuôn đổ từ độ cao 1.500 mét xuống ngang mực nước biển khi đến bờ Ấn Độ Dương thuộc Mozambique. Một vài khúc của nó có thể thuận tiện cho giao thông bằng những tàu đáy bằng, nhưng các khúc sông đó lại không nối liền nhau, do đó hạn chế việc vận chuyển hàng hóa.
Không giống như châu Âu, nơi có sông Danube và sông Rhine, nhược điểm này đã cản trở sự tiếp xúc và giao thương giữa các vùng đất của châu Phi – rồi đến lượt nó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và cản trở sự hình thành các vùng thương mại lớn. Các con sông lớn của châu lục này, Niger, Congo, Zambezi, Nile và các con sông khác, đều không kết nối với nhau và sự chia cắt ấy có một nhân tố con người. Trong khi các khu vực rộng lớn của Nga, Trung Quốc và Hoa Kỳ sử dụng một ngôn ngữ thống nhất giúp thuận tiện cho thương mại, thì ở châu Phi tồn tại hàng ngàn ngôn ngữ khác nhau và không có nền văn hóa nào nổi lên thống trị một khu vực có kích thước tương tự. Mặt khác, châu Âu đủ nhỏ để giao tiếp bằng một “lingua franca” (ngôn ngữ cầu nối), và một cảnh quan khuyến khích sự tương tác.
Thậm chí nếu như các quốc gia có xuất hiện nền sản xuất công nghệ đi nữa, thì phần lớn lục địa vẫn sẽ phải vật lộn để kết nối với phần còn lại của thế giới, vì phần lớn khối đất liền này bị đóng khung bởi Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương và sa mạc Sahara. Việc trao đổi ý tưởng và công nghệ hiếm khi với tới châu Phi Hạ Sahara trong suốt hàng ngàn năm. Mặc dù vậy, một số đế quốc châu Phi và các thành bang đã xuất hiện từ khoảng thế kỷ 6: ví dụ đế chế Mali (thế kỷ 13-16) và thành bang Đại Zimbabwe (thế kỷ 11-15), một thành phố nằm trong dải đất giữa sông Zambezi và sông Limpopo. Tuy nhiên, những nhà nước này và những khu vực khác bị cô lập thành các khối khu vực tương đối nhỏ, và mặc dù vô số những nền văn hóa đã xuất hiện trên khắp lục địa vốn có lẽ đã sẵn phức tạp về mặt chính trị, thì địa thế tự nhiên vẫn là rào cản đối với sự phát triển công nghệ. Vào thời điểm thế giới bên ngoài đến nơi đây bằng sức mạnh, hầu hết châu Phi vẫn còn chưa phát triển chữ viết, chưa thể chế tạo giấy, thuốc súng hay bánh xe.
Thương nhân từ Trung Đông và Địa Trung Hải đã đến kinh doanh trong vùng Sahara, sau khi lạc đà được du nhập từ khoảng hai ngàn năm trước, đáng chú ý là việc buôn bán nguồn tài nguyên muối khổng lồ ở đó; nhưng phải đến những cuộc chinh phục của người Ả-rập vào thế kỷ thứ 7, những hoạt động này mới tiến triển xuống phía nam. Đến thế kỷ 9, họ đã vượt qua Sahara, và đến thế kỷ 11, đã thiết lập vững chắc ở phía nam đến tận Nigeria ngày nay. Người Ả-rập cũng đi chuyển xuống từ bờ biển phía đông và định cư ở những vùng như Zanzibar và Dar es Salaam thuộc Tanzania ngày nay.
Khi người châu Âu sau cùng đã cập bến ở bờ biển phía tây trong thế kỷ 15, họ thấy có rất ít bến cảng tự nhiên để thả neo, Không giống như châu Âu hoặc Bắc Mỹ, nơi bờ biển nhấp nhô hình thành các bến cảng sâu tự nhiên, phần lớn đường bờ biển châu Phi đều nhẵn nhụi. Và một khi đã cập bến, người châu Âu đã phải khó khăn lắm mới thập nhập được một trăm dặm vào trong nội địa ở bất kỳ nơi nào, do sự khó khăn trong giao thông trên các con sông, cũng như những thách thức của thời tiết và bệnh tật.
Cả người Ả-rập và sau đó là người châu Âu đều mang theo công nghệ mới mà họ hầu như chỉ giữ cho riêng mình, và lấy đi bất cứ thứ gì có giá trị mà họ tìm thấy, chủ yếu là tài nguyên thiên nhiên và con người.
Chế độ nô lệ đã tồn tại từ lâu trước khi thế giới bên ngoài trở về nơi nguồn cội của nó. Thương nhân ở vùng Sahel đã sử dụng hàng ngàn nô lệ để vận chuyển khối lượng muối rất lớn, món hàng có giá trị nhất của vùng này thời bấy giờ, nhưng người Ả-rập bắt đầu thực hành nghề săn bắt nô lệ châu Phi cho những thủ lĩnh bộ lạc nào muốn có họ, vị thủ lĩnh đó sẽ đưa nô lệ đến bờ biển. Vào thời cực thịnh của Đế chế Ottoman trong thế kỷ 15 và 16, hàng trăm ngàn người Phi (chủ yếu từ khu vực Sudan) đã được đưa đến Istanbul, Cairo, Damascus và khắp thế giới Ả-rập. Người châu Âu liền học theo, vượt qua cả Ả-rập và Thổ Nhĩ Kỳ về lòng tham và sự ngược đãi đối với những con người bị đẩy lên những con tàu nô lệ neo ngoài khơi bờ biển phía tây.
Trở về những thủ phủ lớn là London, Paris, Brussels và Lisbon, người châu Âu khi đó lôi ra các tấm bản đồ địa lý châu Phi và kẻ những đường “biên giới” – hoặc, diễn đạt lại một cách gây hấn hơn, những đường “dối trá” – lên đó. Ở giữa những đường kẻ này, họ viết những từ như Trung Congo hay Thượng Volta và gọi chúng là những đất nước. Những đường kẻ trên bản đồ này đúng hơn là về việc các nhà thám hiểm, quân đội và doanh nhân của mỗi cường quốc đã tiến xa đến đâu, chứ không phải là về việc những người dân sống giữa những đường kẻ ấy cảm nhận mình là gì, hay họ muốn tổ chức cuộc sống của chính họ như thế nào. Nhiều người dân châu Phi hiện nay phần nào là những tù nhân của địa lý chính trị mà người châu Âu đã làm ra, và là tù nhân của những rào cản tự nhiên đối với sự phát triển mà thiên nhiên đã ban cho họ. Từ những điều như vậy, họ đang xây dựng một quê hương hiện đại và, trong một số trường hợp, một nền kinh tế sôi động và kết nối.
Hiện tại có năm mươi sáu quốc gia ở châu Phi. Kể từ khi “ngọn gió thay đổi “ của phong trào độc lập thổi qua giữa thế kỷ 20, một số từ ngữ nằm giữa những đường kẻ đã bị thay đổi, ví dụ, Rhodesia thì giờ là Zimbabwe, nhưng điều đáng ngạc nhiên là các đường biên giới hầu như vẫn y nguyên. Tuy vậy, nhiều đường biên giới bao quanh chính những phân khu vực chúng đã từng bao quanh khi được vẽ ra lần đầu tiên, và những khu vực chính thức đó là một số trong nhiều di sản mà chủ nghĩa thực dân để lại cho lục địa này.
Những xung đột sắc tộc ở Sudan, Somalia, Kenya, Angola, Cộng hòa Congo, Nigeria, Mali và các nơi khác là bằng chứng cho thấy ý tưởng về địa lý của châu Âu không phù hợp với thực tế nhân khẩu học của châu Phi. Xung đột có thể vẫn luôn xảy ra: người Zulus và người Xhosas đã có những bất hòa từ lâu trước khi họ từng nhìn thấy một người châu Âu. Nhưng chủ nghĩa thực dân đã bắt những bất hòa đó phải được giải quyết trong phạm vi một cấu trúc nhân tạo – một khái niệm châu Âu về quốc gia dân tộc (nation state). Các cuộc nội chiến hiện đại ngày nay một phần là do những kẻ thực dân bảo các dân tộc (nation) khác nhau rằng họ là một dân tộc trong một quốc gia (state), và rồi sau khi những thế lực thực dân đã bị đuổi đi, một sắc tộc lấn át nổi lên trong phạm vi quốc gia/nhà nước (state) đó và muốn cai trị tất cả, do đó bạo lực tất phải xảy ra.
Hãy lấy ví dụ Libya, một kết cấu nhân tạo có tuổi chỉ một vài thập niên, mà ngay từ thử thách đầu tiên đã tan vỡ, trở lại cấu trúc tiền thân của nó – ba vùng địa lý riêng biệt. Vùng phía tây, trong thời Hy Lạp cai trị, là Tripolitania (từ tiếng Hy Lạp “tripolis”, ba thành phố, sau cùng sáp nhập trở thành Tripoli). Vùng phía đông, tập trung ở thành phố Benghazi nhưng kéo dài đến biên giới nước Chad, được biết đến trong cả thời kỳ Hy Lạp và La Mã dưới tên gọi Cyrenaica. Bên dưới hai vùng này, ở nơi hiện nay thuộc vùng viễn tây nam của đất nước, là vùng Fezzan.
Tripolitania luôn hướng về phía bắc và tây bắc, buôn bán với các nước láng giềng Nam Âu. Cyrenaica luôn nhìn về hướng đông, đến Ai Cập và các vùng đất Ả-rập. Thậm chí dòng hải lưu ngoài khơi bờ biển của tùng Benghazi cũng đưa tàu thuyền đi về hướng đông một cách tự nhiên. Fezzan theo truyền thống là vùng đất của những người du mục có ít điểm chung với hai cộng đồng miễn duyên hải nói trên.
Đây là lối cai trị mà cả người Hy Lạp, người La Mã lẫn người Thổ Nhĩ Kỳ áp đặt tại vùng đất này và cũng là cách mà người dân nghĩ về bản thân họ qua nhiều thế kỷ. Thứ ý tưởng về Libya kiểu Âu châu mới mấy mươi năm tuổi sẽ phải vật lộn để tồn tại, và đã có một trong nhiều nhóm Hồi giáo ở miền đông tuyên lập một “tiểu vương quốc Cyrenaica”. Mặc dù “tiểu vương quốc” này có thể không tồn tại lâu, nhưng đây là một ví dụ về việc khái niệm vùng miền chỉ đơn thuần phát sinh từ những đường kẻ trên bản đồ của người nước ngoài.
Tuy nhiên, một trong những thất bại lớn nhất của việc vẽ đường ranh giới của người châu Âu nằm ở trung tâm lục địa, cái lỗ đen khổng lồ được biết đến với tên gọi Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC). Đây là miền đất mà Joseph Conrad lấy làm bối cảnh cho tiểu thuyết Heart of Darkness, và nó vẫn là một nơi bị bao phủ trong bóng tối chiến tranh. Đây là một ví dụ điển hình cho thấy việc áp đặt những biên giới nhân tạo có thể dẫn đến một nhà nước yếu ớt và bị chia cắt ra sao, bị tàn phá bởi xung đột nội bộ, và tài nguyên khoáng sản của nó chỉ đày đọa nó vào cảnh ngộ bị người nước ngoài khai thác mà thôi.
DRC là một minh họa về lý do tại sao cái thuật ngữ vơ đũa cả nắm “các nước đang phát triển” là quá rộng để miêu tả các quốc gia không thuộc về nhóm các nước công nghiệp hóa hiện đại. Congo không phát triển, cũng không cho thấy bất kỳ dấu hiệu nào rằng nó sẽ phát triển. Nước này lẽ ra không bao giờ nên được hợp lại với nhau; nó đã tan rã và là vùng chiến sự ít được đưa tin nhất trên thế giới, bất chấp sự thật là sáu triệu người đã chết tại đây trong các cuộc chiến diễn ra từ cuối những năm 1990.
DRC không phải là một nước dân chủ, cũng không phải cộng hòa. Đây là quốc gia lớn thứ hai ở châu Phi với dân số khoảng 75 triệu người, mặc dù do tình hình tại đây khó có thể biết được con số chính xác. Congo lớn hơn Đức, Pháp và Tây Ban Nha kết hợp lại, và có rừng mưa nhiệt đới Congo, lớn thứ hai thế giới chỉ sau rừng Amazon.
Người dân nước này chia thành hơn 200 nhóm sắc tộc, trong đó lớn nhất là người Bantu. Có vài trăm ngôn ngữ được sử dụng, nhưng việc sử dụng rộng rãi tiếng Pháp đã kết nối những khoảng cách biệt ở một mức độ nhất định. Tiếng Pháp phát triển từ những năm Congo là thuộc địa của Bỉ (1908-1960) và trước đó, khi vua Leopold của Bỉ lợi dụng nước này như món tài sản riêng của mình để vơ vét tài nguyên thiên nhiên lận vào túi riêng. Luật thuộc địa của Bỉ khiến các phiên bản luật của Anh và Pháp trông có vẻ lành tính thấy rõ: luật của Bỉ tàn nhẫn đến hung bạo từ đầu đến cuối, hầu như không nhằm xây dựng bất kỳ loại cơ sở hạ tầng nào để giúp người dân thuộc địa. Khi người Bỉ ra đi vào năm 1960, họ đã không để lại cơ hội nào cho đất nước gắn kết lại với nhau.
Ngay tức thì cuộc nội chiến bắt đầu và sau đó càng trở nên khốc liệt bởi phải giữ một vai phụ đẫm máu trong cuộc Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Chính quyền tại thủ đô Kinshasa hậu thuẫn cho phe nổi dậy trong chiến tranh Angola, do đó dẫn đến sự chú ý của Hoa Kỳ, kẻ cũng ủng hộ phong trào nổi dậy chống lại chính phủ Angola do Liên Xô chống lưng. Mỗi bên đổ vào lượng vũ khí giá trị hàng trăm triệu đô la.
Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, cả hai cường quốc không còn quan tâm đến vùng đất về sau được gọi là Zaire, và đất nước này lảo đảo bước tiếp, sống sót nhờ những nguồn tài nguyên thiên nhiên của nó. Thung lũng Rift Vĩ đại uốn cong vào DRC ở phía nam và phía đông, và để lộ một trữ lượng khoáng sản khổng lồ gồm cobalt, đồng, kim cương, vàng, bạc, kẽm, than đá, mangan và các khoáng vật khác, đặc biệt trong tỉnh Katanga.
Trong thời kỳ vua Leopold, thế giới muốn có cao su từ khu vực này cho ngành công nghiệp xe hơi đang mở rộng; hiện nay Trung Quốc mua hơn 50% lượng hàng xuất khẩu của DRC, nhưng người dân vẫn sống trong nghèo đói. Trong năm 2014, Chỉ số Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc đã đặt DRC ở vị trí 186 trên tổng số 187 quốc gia được đo lường. Mười tám quốc gia dưới cùng trong danh sách đó đều nằm ở châu Phi.
Bởi vì Congo là quốc gia rất giàu tài nguyên và diện tích lớn, nên ai cũng muốn cắn một miếng từ chiếc bánh Congo, nhưng vì thiếu một nhà nước trung ương có thực quyền, Congo không thể cắn trả.
Vùng đất này cũng giáp biên giới với chín quốc gia khác, tất cả đều có vai trò trong nỗi thống khổ của Congo, đó là một lý do giải thích tại sao cuộc chiến Congo còn được gọi là “cuộc đại chiến thế giới của châu Phi”. Ở phía nam là Angola, phía bắc là Cộng hòa Congo (RC) và Cộng hòa Trung Phi, về phía đông Uganda, Rwanda, Burundi, Tanzania và Zambia. Cội nguồn của các cuộc chiến tranh đã bắt rễ từ nhiều thập niên trước, nhưng giai đoạn tồi tệ nhất bị kích hoạt bởi thảm họa giáng xuống Rwanda vào năm 1994 và hệ quả của nó còn càn quét về phía tây.
Sau nạn diệt chủng ở Rwanda, những người Tutsi sống sót và những người Hutu trung lập hình thành một chính phủ do người Tutsi lãnh đạo. Interahamwe, những cỗ máy giết người của dân quân Hutu, đã chạy trốn vào miền đông DRC nhưng vẫn tiến hành các cuộc tập kích ở biên giới. Họ cũng tham gia với những đơn vị quân đội DRC lùng giết người Tutsi ở DRC, sống gần khu vực biên giới. Quân đội Rwandan và Uganda tiến vào, do được sự hậu thuẫn của Burundi và Eritrea. Liên minh với các lực lượng dân quân đối lập, họ tấn công tổ chức Interahamwe và lật đổ chính phủ DRC. Họ cũng tiếp tục kiểm soát sản tự nhiên của đất nước, riêng Kwanda còn vận chuyển đi hàng tấn coltan, được sử dụng để sản xuất điện thoại di động và chip máy tính. Tuy nhiên, những lực lượng chính phủ còn sót lại không chịu thua, và với sự tham gia của Angola, Namibia và Zimbabwe, họ tiếp tục chiến đấu. Đất nước đã trở thành một chiến địa mênh mông, với hơn hai mươi phe phái tham chiến.
Theo ước tính thấp nhất, những cuộc chiến này đã cướp đi sinh mạng hàng chục nghìn người, và đã dân đến cái chết của sáu triệu người khác do bệnh tật và suy dinh dưỡng. Liên Hiệp Quốc ước tính rằng gân 50% nạn nhân là trẻ em dưới năm tuổi.
Trong những năm gần đây, cuộc chiến đã lắng dịu đi, nhưng DRC là nơi có xung đột gây chết chóc nhiều nhất thế giới kể từ Thế chiến II, và vẫn cần đến lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc lớn nhất thế giới để ngăn chặn chiến tranh toàn diện bùng nổ một lần nữa. Hiện nay, nhiệm vụ không phải là lắp ráp những mảnh vỡ lại với nhau, bởi vì DRC chưa bao giờ là một toàn thể nguyên vẹn. Nhiệm vụ đơn giản là giữ cho các mảnh vỡ tách biệt nhau cho đến khi có thể tìm thấy một biện pháp để hàn gắn chúng một cách hợp lý và hòa bình. Thực dân châu Âu đã tạo ra một quả trứng gà mà không nở ra gà con, một sự ngu xuẩn về logic cứ lặp đi lặp lại trên khắp lục địa và sẽ còn tiếp tục ám ảnh nó.
Burundi là một ví dụ khác, những căng thẳng chính trị có căn nguyên sắc tộc nổi lên từ năm 2015 và trầm trọng hơn trong năm 2016. Burundi trước đây là một phần của Đông Phi thuộc Đức vào thời khu vực này còn bao gồm cả xứ Tanzania hiện nay. Sau Thế chiến I, Burundi được phân chia giữa Bỉ và Anh, và do Bỉ quản lý từ năm 1945 cho đến khi Burundi giành độc lập vào năm 1962. Người Bỉ sử dụng dân Tutsi để cai trị dân Hutu, và mặc dù chỉ chiếm 15% dân số, người Tutsi tiếp tục thống trị về chính trị, kinh tế và quân đội. Hơn ba trăm ngàn người thiệt mạng trong cuộc nội chiến giữa năm 1993 và 2005. Mức độ bạo lực bắt đầu gia tăng trở lại trong giai đoạn 2015-2016 sau khi Tổng thống Pierre Nkurunziza diễn giải hiến pháp theo một ý nghĩa mới để ông ta có thể ứng cử nhiệm kỳ thứ ba. Tổng thống Obama đã có ý ám chỉ điều này khi chỉ trích các nhà lãnh đạo châu Phi trong chuyến thăm châu Phi vào tháng Bảy năm 2015; ông nói, “Lục địa này sẽ không tiến bộ nếu các nhà lãnh đạo không chịu rời bỏ chức vụ khi kết thúc nhiệm kỳ… Đôi khi chúng ta nghe các nhà lãnh đạo nói, “Tôi là người duy nhất có thể giữ quốc gia này nguyên vẹn.“ Nếu quả đúng là vậy thì nhà lãnh đạo đó đã thực sự thất bại trong việc xây dựng đất nước của ông ta.” Phát biểu này đã bao quát được cả di sản lịch sử thuộc địa của châu Phi, cũng như sự thật rằng các nhà lãnh đạo hiện đại của nó thường là một phần của vấn đề chứ không phải là giải pháp cho di sản đó.
Châu Phi bị nguyền rủa và được ban phúc ngang nhau, phúc là bởi vì có nguồn tài nguyên phong phú, nhưng bị nguyền rủa vì những thế lực bên ngoài đã đến cướp bóc chúng bấy lâu. Thời gian gần đây, các quốc gia châu Phi đã có thể tuyên bố đòi phải có phần trong kho báu này, và hiện tại các quốc gia bên ngoài châu lục đầu tư nhiều hơn là ăn cắp, nhưng người dân châu Phi vẫn hiếm khi được hưởng lợi.
Ngoài nguồn khoáng sản tự nhiên giàu có, châu Phi cũng được trời ban nhiều dòng sông lớn – mặc dù hầu hết các dòng sông không thuận tiện cho việc thương mại, nhưng chúng có tiềm năng tốt cho thủy điện. Tuy vậy, đây cũng là một nguồn xung đột tiềm tàng.
Sông Nile, con sông dài nhất thế giới (4.100 dặm), có ảnh hưởng đến mười quốc gia được coi là có vị trí gần lưu vực của nó: Burundi, DRC, Eritrea, Ethiopia, Kenya, Rwanda, Sudan, Tanzania, Uganda và Ai Cập. Từ thế kỷ 5 trước Công nguyên, sử gia Herodotus đã nói: “Ai Cập là sông Nile, và sông Nile chính là Ai Cập.” Điều này vẫn đúng, và vì vậy, một mối đe dọa đối với tuyến tiếp vận trên khúc sông Nile có thể giao thông, dài bảy trăm dặm của Ai Cập vẫn là mối quan tâm của Cairo, một mối quan tâm mà Ai Cập sẵn sàng để gây chiến.
Không có sông Nile, sẽ không có con người ở đó. Ai Cập có thể là một quốc gia rất lớn, nhưng đại đa số trong khối dân cư 84 triệu người của nước này sống trong khoảng cách vài dặm từ sông Nile. Nếu chỉ đo lường trong khu vực có người sinh sống, Ai cập là một trong những quốc gia có mật độ dân cư đông nhất trên thế giới.
Ai Cập được cho là một quốc gia dân tộc ngay từ khi hầu hết người châu Âu còn đang sống trong những túp lều trát bùn, nhưng nó chưa bao giờ vươn ra khỏi một thế lực địa phương. Ai Cập bị sa mạc bao bọc ở ba mặt và có thể đã trở thành một cường quốc lớn trong khu vực Địa Trung Hải nếu như không gặp một vấn đề. Hầu như không có một ngọn cây lớn nào ở Ai Cập, và trong hầu hết lịch sử, nếu không có rừng cây, bạn không thể xây dựng một hải quân hùng mạnh để thể hiện quyền lực của mình. Hải quân Ai Cập vẫn luôn luôn tồn tại – nước này phải nhập khẩu gỗ tuyết tùng từ Lebanon để đóng tàu với chi phí khổng lồ – nhưng nó chưa bao giờ là một lực lượng Hải quân Đại dương.
Hiện nay, Ai Cập hiện đại có lực lượng vũ trang hùng mạnh nhất trong tất cả các quốc gia Ả-rập, nhờ có sự viện trợ quân sự của Hoa Kỳ; nhưng nước này vẫn còn bị bó buộc bởi sa mạc, biển và hiệp ước hòa bình với Israel. Ai Cập vẫn sẽ xuất hiện trong các bản tin thời sự bởi họ vẫn phải chật vật để đối phó với việc nuôi sống 84 triệu dân mỗi ngày, trong khi chiến đấu chống lại cuộc nổi loạn Hồi giáo, đặc biệt là ở Sinai, và canh giữ kênh đào Suez, nơi 8% dòng thương mại của thế giới đi qua mỗi ngày. Khoảng 2,5% lượng dầu của toàn thế giới cũng đi qua lối này mỗi ngày; việc đóng cửa kênh đào sẽ gia tăng thời gian vận chuyển đến châu Âu thêm mười lăm ngày và đến Hoa kỳ cộng thêm mười ngày, cộng với chi phí phát sinh.
Mặc dù đã trải qua năm cuộc chiến tranh với Israel, đất nước ai cập nhiều khả năng sẽ bước vào vào xung đột với Ethiopia, và vấn đề tranh chấp là sông Nile. Hai trong số các quốc gia lâu đời nhất của lục địa, với quân đội lớn nhất, có thể khai chiến trên nguồn nước chính của khu vực (sông Nile).
Nhánh sông Nile Xanh, bắt đầu ở Ethiopia, và nhánh sông Nile Trắng hợp lưu tại thủ đô Khartoum của Sudan, trước khi chảy qua sa mạc Nubia vào Ai Cập. Đến điểm này, phần lớn lượng nước phát xuất từ sông Nile Xanh.
Ethiopia đôi khi được gọi là “tháp nước của châu Phi” do độ cao của nó và có hơn hai mươi con đập được tiếp nước bởi lượng mưa trên vùng cao nguyên. Năm 2011, Addis Ababa đã công bố một dự án liên doanh với Trung Quốc để xây dựng một dự án thủy điện khổng lồ trên sông Nile Xanh gần biên giới Sudan, gọi là đập Grand Renaissance (Đại Phục hưng). Năm 2017, con đập đã gần như hoàn thành, nhưng phải mất vài năm để làm đầy hố trữ nước. Đập sẽ được sử dụng cho thủy điện, và dòng chảy đến Ai Cập vẫn tiếp tục; nhưng về mặt lý thuyết, hồ chứa cũng có thể giữ lại lượng nước của một năm, và việc hoàn thành dự án sẽ mang lại cho Ethiopia tiềm năng giữ nước để sử dụng riêng, do đó làm giảm trầm trọng lượng nước chảy vào Ai Cập.
Như tình trạng hiện tại, Ai Cập có quân đội mạnh hơn, nhưng điều đó đang từ từ thay đổi, và Ethiopia, đất nước có 96 triệu dân, là một thế lực ngày càng gia tăng. Cairo hiểu điều đó, và cũng biết rằng một khi con đập được xây dựng, việc phá hủy nó sẽ gây thảm họa ngập lụt ở cả Ethiopia và Sudan. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, Ai Cập không có một casus belli (cái cớ gây chiến) để tấn công trước khi con đập hoàn thành. Bất chấp thực tế là một bộ trưởng trong nội các gần đây trong một bài phát biểu đã lỡ lời đưa ra đề nghị ném bom, vài năm sắp tới có nhiều khả năng chúng ta sẽ chứng kiến những cuộc đàm phán cam go, vì Ai Cập muốn được đảm bảo chắc chắn rằng dòng nước sẽ không bao giờ bị chặn lại. Chiến tranh về nguồn nước được coi là một trong những cuộc xung đột sẽ diễn ra trong thế kỷ này và đây chính là cuộc xung đột cần được canh chừng.
Một thứ chất lỏng khác cũng gây tranh chấp kịch liệt là dầu mỏ.
Nigeria là nước sản xuất dầu lớn nhất khu vực châu Phi Hạ Sahara, và tất cả các loại dầu chất lượng cao đều nằm ở phía nam. Dân miền Bắc Nigeria phàn nàn rằng lợi nhuận từ dầu không được chia sẻ công bằng giữa các miền của đất nước. Đến lượt điều này lại làm trầm trọng thêm sự căng thẳng dân tộc và tôn giáo giữa những sắc dân vùng châu thổ Nigeria và những sắc dân ở phía đông bắc.
Về điện tích, dân số và tài nguyên thiên nhiên, Nigeria là quốc gia hùng mạnh nhất Tây Phi. Đây cũng là quốc gia đông dân nhất của châu lục – 177 triệu dân, với quy mô và tài nguyên thiên nhiên cho phép nó trở thành thế lực đứng đầu khu vực. Nigeria được hình thành từ các lãnh thổ của một số vương quốc cổ đại mà người Anh đã thống nhất lại thành một khu vực hành chính. Năm 1898, họ đã dựng lên “Khu bảo hộ của Anh trên sông Niger”, từ đó trở thành Nigeria.
Nigeria hiện nay có thể là một cường quốc độc lập trong vùng, nhưng người dân và các nguồn tài nguyên của nước này đã bị quản trị sai lầm trong nhiều thập niên. Thời kỳ thuộc địa, người Anh thích lưu lại trong khu vực tây nam dọc theo bờ biển. Sứ mệnh “khai hóa” của họ hiếm khi mở rộng đến các vùng cao nguyên của khu trung tâm, hay đến các cụm dân cư Hồi giáo phía bắc, và nửa đất nước phía bắc vẫn kém phát triển hơn so với phía nam. Phần lớn lợi nhuận từ dầu được dùng để chỉ trả cho giới quyền cao chức trọng trong hệ thống bộ lạc phức hợp của Nigeria. Ngành công nghiệp dầu mỏ trên bờ ở vùng châu thổ cũng đang bị đe dọa bởi Phong trào Giải phóng Châu thổ Niger, một cái tên mỹ miều cho một nhóm hoạt động trong khu vực bị tàn phá bởi ngành công nghiệp dầu mỏ, nhưng sử dụng tên gọi này làm vỏ bọc cho hoạt động khủng bố và tống tiền. Nhưng vụ bắt cóc công nhân dầu mỏ nước ngoài khiến cho vùng này trở lên ít hấp dẫn hơn đối với kinh doanh. Các mỏ dầu ngoài khơi hầu như không gặp phải hoạt động tương tự và đó là nơi nguồn đầu tư đang đổ vào.
Nhóm Hồi giáo Boko Haram, muốn thành lập nhà nước dưới quyền một vị caliph trong các khu vực Hồi giáo, đã lợi dụng ý thức về sự bất công phát sinh do sự kém phát triển để lấn chiếm đất đai ở miền Bắc. Chiến binh Boko Haram thường là người sắc tộc Kanuris từ phía đông bắc. Họ hiếm khi hoạt động bên ngoài lãnh thổ quê hương của họ, thậm chí không mạo hiểm hướng về phía tây đến vùng Hausa, và chắc chắn không xuống xa dưới phía nam đến các khu vực ven biển. Điều đó có nghĩa là khi quân đội Nigeria đến tìm họ, Boko Haram sẽ hoạt động trên sân nhà. Phần lớn dân địa phương sẽ không hợp tác với quân đội, hoặc vì sợ bị trả thù hoặc do cùng chung nỗi oán hận của miền Nam. Mặc dù quân đội đã có một số chiến dịch lớn chống lại nhóm này, nó còn lâu mới bị đánh bại. Năm 2017, Boko Haram vẫn đủ mạnh để tấn công và giết chết hàng chục thường dân trong một loạt các cuộc tập kích. Kể từ khi Boko Haram xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2009, hơn hai mươi ngàn người đã thiệt mạng và hàng ngàn người khác bị bắt cóc.
Lãnh thổ bị Boko Haram chiếm đóng chưa gây nguy hiểm cho sự tồn tại của nhà nước Nigeria. Nhóm này thậm chí không gây ra mối đe dọa cho thủ đô Abuja, mặc dù thủ đô nằm lưng chừng ở nửa trên của đất nước; nhưng họ đặt ra một mối đe dọa hằng ngày cho người dân phía bắc và làm tổn hại danh tiếng của Nigeria trên trường quốc tế trong vai trò một địa điểm để kinh doanh.
Hầu hết các ngôi làng mà họ đã chiếm giữ đều nằm trên dãy núi Mandara, phía sau lưng là Cameroon. Như thế có nghĩa là quân đội quốc gia phải hành quân rất xa căn cứ của mình, và không thể bao vây lực lượng Boko Haram. Chính phủ Cameroon không hoan nghênh Boko Haram, nhưng vùng nông thôn lại cho những chiến binh không gian để rút lui nếu cần. Tình hình xung đột sẽ không tự tắt lịm trong vài năm tới, trong thời gian đó, Boko Haram sẽ cố gắng liên minh với các nhóm chiến đấu Hồi giáo phía bắc trong khu vực Sahel.
Hoa Kỳ và Pháp đã theo dõi vấn đề này trong nhiều năm và hiện đang dùng máy bay do thám không người lái để ứng phó với hiểm họa bạo lực ngày càng tăng phát xuất từ vùng Sahel/Sahara và kết nối với miền Bắc Nigeria. Hoa Kỳ sử dụng một vài căn cứ quân sự, bao gồm một căn cứ ở Djibouti vốn thuộc Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ tại châu Phi (US Africa Command), được thành lập năm 2007. Pháp có thể sẽ có quyền đổ bê tông ở các quốc gia khác nhau trong vùng gọi là “châu Phi Pháp ngữ”.
Mối hiểm họa bạo lực này lan rộng tới nhiều quốc gia chính là một lời cảnh tỉnh. Nigeria, Cameroon và Chad hiện đều đang tham gia về mặt quân sự, và đang phối hợp với Hoa Kỳ và Pháp.
Xa hơn về phía nam, xuống đến bờ biển Đại Tây Dương, là nước sản xuất dầu lớn thứ hai ở khu vực châu Phi Hạ Sahara: Angola. Thuộc địa cũ này của Bồ Đào Nha là một trong những quốc gia châu Phi có biên giới địa lý tự nhiên. Nó được bao chắn bởi Đại Tây Dương ở phía tây, bởi rừng nhiệt đới ở phía bắc và sa mạc ở phía nam, trong khi vùng đất sỏi đá phía đông dân cư thưa thớt đóng vai trò làm vùng đệm với DRC và Zambia.
Đa số trong 22 triệu người sống ở nửa phía tây đất nước, là nơi có nguồn nước tưới tiêu tốt và có thể duy trì nông nghiệp; và hầu hết các mỏ dầu của Angola nằm ngoài khơi bờ biển phía tây. Các giàn khoan ở Đại Tây Dương chủ yếu thuộc sở hữu của các công ty Hoa Kỳ, nhưng quá nửa sản lượng được đưa đến Trung Quốc. Điều này khiến Angola (tùy thuộc vào sự thăng giáng đều đặn của dòng thương mại) chỉ đứng sau Á-rập Saudi trong vai trò nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Trung Quốc.
Angola cũng là một quốc gia quen thuộc với xung đột. Cuộc chiến giành độc lập của nước này kết thúc vào năm 1975 khi người Bỏ Đào Nha bỏ cuộc, nhưng ngay lập tức biến dạng thành một cuộc nội chiến giữa các bộ lạc, được ngụy trang dưới vỏ bọc một cuộc nội chiến về hệ tư tưởng. Nga và Cuba ủng hộ “những người xã hội chủ nghĩa”, Hoa Kỳ và quốc gia phân biệt chủng tộc Nam Phi chống lưng cho “quân phiến loạn”. Hầu hết những người xã hội chủ nghĩa của MPLA (Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola) đều đến từ bộ lạc Mbundu, trong khi chiến sĩ phe phiến loạn chủ yếu đến từ hai bộ lạc lớn khác, Bakongo và Ovimbundu. Vỏ ngụy trang chính trị của họ là FNLA (Mặt trận Giải phóng quốc gia Angola) và UNITA (Liên minh Quốc gia vì sự độc lập toàn vẹn Angola). Nhiều cuộc nội chiến của thập “ 1960 và 1970 đi theo khuôn mẫu này: nếu Nga hậu thuẫn cho một phe nào đó, phe này sẽ đột nhiên nhớ ra rằng nó đi theo các nguyên lý xã hội chủ nghĩa trong khi đối thủ của nó sẽ trở thành phe chống cộng.
Người Mbundu có lợi thế về địa lý nhưng không có lợi thế về số lượng. Họ chiếm giữ thủ đô Luanda, kiểm ngặt các mỏ đầu và con sông chính Kwanza, và được hậu thuẫn bởi các nước có thể cung cấp cho họ vũ khí Nga và binh lính Cuba. Họ thắng thế vào năm 2002, và các cấp chỉ huy chóp bu lập tức hủy hoại chứng thư xã hội chủ nghĩa có phần đáng ngờ của họ bằng cách đưa tên mình gia nhập vào bản danh sách dài những lãnh tụ châu Phi thời thực dân, những người vốn làm giàu cho bản thân mình trên mồ hôi nước mắt của người dân.
Lịch sử đáng buồn này về sự bóc lột bởi cả thế lực bên trong lẫn ngoại xâm tiếp tục diễn ra trong thế kỷ 21.
Như chúng ta thấy, người Trung Quốc có mặt khắp mọi nơi, họ có mục tiêu là kinh doanh, và hiện nay họ nhúng tay vào khắp lục địa, chẳng kém gì châu Âu và Hoa Kỳ. Khoảng một phần ba lượng dầu nhập khẩu vào Trung Quốc đến từ châu Phi, cùng với kim loại quý được tìm thấy ở nhiều nước châu Phi, điều này có nghĩa là Trung Quốc đã đến và họ sẽ ở lại. Các công ty dầu mỏ châu Âu, Hoa Kỳ và các công ty đa quốc gia lớn vẫn đầu tư mạnh tay hơn nữa vào châu Phi, nhưng Trung Quốc vẫn đang nhanh chóng bắt kịp. Ví dụ Trung Quốc đang tìm kiếm quặng sắt ở Liberia, mỏ đồng ở DRC và Zambia, và mỏ cobalt nữa, cũng ở DRC. Nước này đã giúp phát triển cảng Mombasa của Kenya và hiện đang khởi công nhiều dự án khổng lồ hơn khi nguồn tài nguyên dầu mỏ của Kenya đang bắt đầu trở nên khả thi về mặt thương mại. Tổng công ty Cầu-Đường thuộc sở hữu nhà nước Trung quốc đang xây dựng một dự án đường sắt trị giá 14 tỷ đô la kết nối Mombasa với thủ đô Nairobi (Kenya). Các nhà phân tích cho biết thời gian vận chuyển hàng hóa giữa hai thành phố sẽ giảm từ ba mươi sáu giờ xuống còn tám giờ, với chi phí vận chuyển cắt giảm tương ứng 60%. Thậm chí còn có những kế hoạch kết nối Nairobi ngược lên Nam Sudan, qua Uganda và Rwanda. Với sự giúp đỡ của Trung Quốc, Kenya dự tính sẽ trở thành thế lực kinh tế chủ đạo của vùng bờ biển phía đông.
Trên vùng biên giới phía nam, Tanzania đang cố gắng cạnh tranh hết sức để trở thành lãnh đạo Đông Phi và đã ký kết giao dịch trị giá hàng tỉ đô la với Trung Quốc về các dự án cơ sở hạ tầng. Nước này cũng đã ký một thỏa thuận liên doanh với Trung Quốc và một công ty xây dựng Oman để tu sửa và mở rộng cảng Bagamoyo, vì cảng chính ở Dar es Salaam bị tắc nghẽn nghiêm trọng. Theo kế hoạch, Bagamoyo có thể xử lý hai mươi triệu container hàng hóa mỗi năm, năng lực này sẽ biến nó trở thành cảng lớn nhất châu Phi. Tanzania cũng có kết nối giao thông tốt trong “Hành lang tăng trưởng nông nghiệp miền Nam của Tanzania” và đang liên kết với mười lăm quốc gia thuộc Cộng đồng Phát triển Nam Phi. Điều này cho phép nước này kết nối vào Hành lang Bắc Nam, các khu vực mỏ đông của DRC và Zambia với các nhánh đường sắt phụ nối cảng Dar es Salaam với Durban và một tuyến tiếp vận kết nối cảng Durban với Malawi.
Bất chấp những điều này, Tanzania dường như vẫn chỉ là một thế lực hạng hai dọc vùng duyên hải phía đông. Nền kinh tế của Kenya vẫn giữ vai trò đầu tàu trong Cộng đồng Năm quốc gia Đông Phi, chiếm khoảng 40% GDP của khu vực. Có thể có ít đất canh tác hơn so với Tanzania, nhưng Kenya sử dụng những gì mình có một cách hiệu quả hơn nhiều. Hệ thống công nghiệp của Kenya cũng hiệu quả hơn, cũng như hệ thống vận chuyển hàng hóa ra thị trường cả trong nước và quốc tế. Nếu Kenya có thể duy trì sự ổn định chính trị, nước này sẽ nắm bắt được vận mệnh là một thế lực thống trị khu vực trong tương lai gần và trung hạn.
Sự hiện diện của Trung Quốc cũng vươn dài sang Niger, với việc Tổng công ty Dầu khí Quốc gia Trung Quốc đầu tư vào mỏ dầu nhỏ trên những cánh đồng Ténéré ở trung tâm của đất nước. Đầu tư của Trung Quốc vào Angola trong thập niên qua đã vượt qua tám tỷ đô la và đang tăng lên hàng năm. Tổng công ty Cơ khí đường sắt Trung Quốc (CERC) đã bỏ ra gần hai tỷ đô la để hiện đại hóa tuyến đường sắt Benguela nối DRC với cảng Lobito của Angola trên bờ biển Đại Tây Dương cách đó tám trăm dặm. Trên tuyến đường này, cobalt, đồng và mangan sẽ đi qua, nhờ đó mà tỉnh Katanga của DRC sẽ vừa gặp họa lại vừa được phước.
Tại Luanda, CREC đang xây dựng một cảng hàng không quốc tế mới, và xung quanh thủ đô đã nhanh chóng mọc lên một loạt các khu chung cư khổng lồ theo mô hình Trung Quốc, làm nơi ăn ở cho ước tính khoảng một trăm năm chục ngàn đến hai trăm ngàn công nhân Trung Quốc hiện đang làm việc trong quốc gia này. Hàng ngàn công nhân trong số đó cũng được đào tạo về kỹ năng quân sự và có thể cung cấp một lực lượng dân quân sẵn sàng nếu Trung Quốc cần dùng đến.
Những gì Bắc Kinh muốn ở Angola cũng là những gì họ muốn ở khắp mọi nơi: nguyên vật liệu để chế tạo sản phẩm, và sự ổn định chính trị để đảm bảo dòng chảy của những nguyên vật liệu và sản phẩm đó. Vì vậy, nếu Tổng thống José Eduardo dos Santos, người đương nhiệm đã ba mươi sáu năm, từng quyết định chỉ trả cho Mariah Carey một triệu đô la để hát tại bữa tiệc sinh nhật của ông vào năm 2013, thì đó là việc riêng của ông ấy. Và nếu bộ lạc Mbundu, là bộ lạc dòng tộc của José, tiếp tục thống trị, thì đó cũng là việc riêng của họ.
Sự tham gia của Trung Quốc là một đề xuất hấp dẫn đối với nhiều chính phủ châu Phi. Bắc Kinh và các công ty lớn của Trung Quốc không đặt những câu hỏi khó trả lời về nhân quyền, không đòi hỏi cải cách kinh tế, hay thậm chí cũng không đề nghị một số nhà lãnh đạo châu Phi ngừng ăn cắp tài sản của nước mình như cách mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế hay Ngân hàng Thế giới có thể sẽ làm. Ví dụ, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Sudan, một lý do đáng kể giải thích tại Sao Trung Quốc luôn bảo vệ Sudan tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và tiếp tục ủng hộ Tổng thống Omar al- Bashir ngay cả khi có lệnh bắt giữ ông ta từ Tòa án Hình sự Quốc tế. Tuy nhiên, động thái chỉ trích của phương Tây về thái độ này đã bị Bắc Kinh xếp vào khay “chờ giải quyết”; chúng đơn giản bị coi là một trong nhiều trò chơi quyền lực nhằm ngăn chặn Trung Quốc hoạt động kinh doanh, và là thứ đạo đức giả nếu căn cứ trên lịch sử hành động của phương Tây ở châu Phi.
Tất cả những gì Trung Quốc muốn là dầu mỏ, khoáng sản, kim loại quý và thị trường. Đây là một mối quan hệ có qua có lại giữa chính phủ và chính phủ, nhưng chúng ta sẽ chứng kiến sự căng thẳng gia tăng giữa dân cư địa phương và lực lượng công nhân Trung Quốc thường được đưa tới để hỗ trợ các dự án lớn. Điều này đến lượt nó có thể kéo Bắc Kinh can thiệp sâu hơn vào các vấn đề chính trị địa phương, và đòi hỏi Trung Quốc phải có một kiểu hiện điện quân sự nhỏ nào đó ở một số nước khác nhau.
Nam Phi là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc ở châu Phi. Hai quốc gia có một lịch sử kinh tế và chính trị lâu dài và có vị trí thuận lợi để hợp tác với nhau. Hàng trăm công ty Trung Quốc, của cả nhà nước và tư nhân, hiện đang hoạt động tại Durban, Johannesburg, Pretoria, Cape Town và cảng Elizabeth.
Nền kinh tế của Nam Phi được xếp hạng lớn thứ hai trên lục địa sau Nigeria. Nước này chắc chắn là Cường quốc ở phía nam xét về mặt kinh tế (gấp ba lần quy mô của Angola), quân đội và dân số (53 triệu). Nam Phi phát triển hơn nhiều quốc gia châu Phi, nhờ vị trí của nước này ở ngay cực nam của lục địa, cùng với khả năng tiếp cận hai đại dương, tài nguyên thiên nhiên giàu có về vàng, bạc và than, một bầu khí hậu và đất đai thuận lợi cho sản xuất lương thực quy mô lớn.
Nhờ vị trí nằm ở cực nam, và đồng bằng duyên hải nhanh chóng đốc lên thành vùng cao nguyên, Nam Phi là một trong số rất ít các nước châu Phi không phải chịu nạn sốt rét, vì muỗi khó sinh sản ở đó. Điều này cho phép thực dân châu Âu vào sâu trong đất liền xa hơn và nhanh hơn so với vùng nhiệt đới chịu sự hoành hành bệnh sốt rét, họ định cư và bắt đầu hoạt động công nghiệp quy mô nhỏ, dần dà phát triển thành nền kinh tế lớn nhất của nửa phía nam châu Phi hiện nay.
Đối với hầu hết Nam Phi, việc kinh doanh của thế giới bên ngoài đồng nghĩa là làm ăn với Pretoria, Bloemfontein và Cape Town.
Nam Phi đã sử dụng tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý để ràng buộc các nước láng giềng vào hệ thống vận của mình, có nghĩa là một tuyến vận chuyển đường sắt và đường bộ hai chiều kéo dài từ các cảng ở Đông London, Cape Town, cảng Elizabeth và Durban chạy dài lên phía bắc qua Zimbabwe, Botswana, Zambia, Malawi và Tanzania, vươn xa đến tận tỉnh Katanga của DRC và về phía đông đến Mozambique. Tuyến đường sắt mới xây dựng của Trung Quốc từ Katanga đến vùng duyên hải Angola đã được xây dựng để thách thức sự thống trị này và có thể lấy đi một lưu lượng vận chuyển đáng kể từ DRC, nhưng Nam Phi dường như được tất định là sẽ duy trì lợi thế của nó.
Trong giai đoạn phân biệt chủng tộc, ANC (Đại hội Dân tộc châu Phi) đã hậu thuẫn cho MPLA (Phong trào Nhân dân Giải phóng) của Angola trong cuộc chiến chống thực dân Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, niềm say mê của một cuộc đấu tranh chung đang chuyển thành một mối quan hệ nguội lạnh dần, mỗi bên kiểm soát đất nước của riêng mình và cạnh tranh ở cấp độ khu vực. Angola còn phải đi một chặng đường dài mới có thể bắt kịp với Nam Phi. Đây không phải là một cuộc đối đầu quân sự: sự thống trị của Nam Phi gần như trọn vẹn. Nam Phi có lực lượng vũ trang lớn, được trang bị tốt, bao gồm khoảng một trăm ngàn binh sĩ, hàng chục máy bay chiến đấu và trực thăng tấn công, cũng như vài tàu ngầm và tàu khu trục hiện đại.
Trong thời kỳ Đế quốc Anh, việc kiểm soát Nam Phi đồng nghĩa với việc kiểm soát mũi Hảo Vọng và nhờ đó là cả các tuyến đường biển giữa Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương. Hải quân hiện đại có thể mạo hiểm xa hơn nữa từ bờ biển phía nam châu Phi nếu họ muốn đi qua, nhưng mũi Hảo Vọng vẫn là một mảnh bất động sản có vị trí kiểm soát trên bản đồ thế giới và Nam Phi là một sự hiện diện uy nghi trong toàn bộ khu vực một phần ba phía dưới lục địa này.
Xuất hiện một cuộc tranh đoạt mới đối với châu Phi trong thế ký hiện tại, nhưng lần này nó rẽ làm hai nhánh. Trong cuộc cạnh tranh về nguồn tài nguyên, có những mối quan tâm và sự can thiệp công khai từ bên ngoài, đồng thời cũng có “cuộc tranh đoạt trong nội địa”, và Nam Phi có ý định tranh giành nhanh nhất và xa nhất.
Nam Phi chiếm ưu thế trong Cộng đồng Phát triển Mười lăm quốc gia Nam châu Phi (SADC) và đã xoay xở đạt được một ghế thường trực tại Hội nghị Quốc tế Vùng Đại Hồ, mặc dù nó thậm chí không phải là một thành viên của vùng này. SADC phải cạnh tranh với Cộng đồng Đông Phi (EAC) bao gồm Burundi, Kenya, Rwanda, Uganda và Tanzania. Tanzania cũng là một thành viên của SADC và các thành viên EAC khác tỏ ra bất mãn với việc nước này tán tỉnh Nam Phi. Về phần mình, Nam Phi dường như xem Tanzania là phương tiện để đạt được ảnh hưởng lớn hơn trong vùng Đại Hồ và xa hơn nữa.
Lực lượng Quốc phòng Nam Phi có một lữ đoàn IRC chính thức đặt dưới quyền chỉ huy của Liên Quốc, nhưng lữ đoàn này được gửi đến nơi đó bởi những chính trị gia lão luyện nhằm đảm bảo rằng Nam Phi không bị loại khỏi cuộc mưu lời từ chiến tranh ở đất nước giàu khoáng sản này. Điều đó đã đưa Nam Phi vào cuộc cạnh tranh với Uganda, Burundi và Rwanda, mỗi nước có những ý tưởng riêng về việc ai là kẻ nên chịu trách nhiệm ở DRC.
Châu Phi của quá khứ đã không có được sự lựa chọn nào – địa lý của nó đã định hình nên nó – và sau đó người châu Âu tạo dựng nên những đường biên giới hiện tại. Ngày nay, với dân số bùng nổ và các đại đô thị đang phát triển, châu Phi không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc đi theo xu hướng của thế giới toàn cầu hóa hiện đại mà lục địa này bị kết nối với họ. Trong quá trình này, bất chấp tất cả những vấn để chúng ta đã chứng kiến, châu Phi đang có những bước tiến lớn.
Chính những con sông xưa kia cản trở thương mại thì giờ đây được khai thác cho thủy điện. Chính từ mảnh đất phải vật lộn để duy trì nền sản xuất thực phẩm quy mô lớn đã xuất hiện khoáng sản và dầu mỏ, làm cho một số nước trở nên giàu có ngay cả khi chỉ một ít trong số nguồn của cải đó đến được tay người dân. Tuy nhiên, trong hầu hết, nhưng không phải là tất cả các quốc gia, sự nghèo đói đã giảm khi chất lượng chăm sóc y tế và giáo dục đã tăng lên. Nhiều quốc gia sử dụng tiếng Anh, và đó là một lợi thế trong nền kinh tế toàn cầu thống trị bởi tiếng Anh, và lục địa này đã chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế trong hầu hết thập niên vừa qua. Xét về mặt trái của điều đó, tăng trưởng kinh tế ở nhiều quốc gia phụ thuộc vào giá cả toàn cầu cho mặt hàng khoáng sản và năng lượng. Ví dụ, các nước có ngân sách quốc gia phụ thuộc vào mức giá 100 đô la trên mỗi thùng dầu hầu như không biết dựa vào đâu khi giá giảm xuống còn 80 đô la hoặc 60 đô la. Mức sản lượng vẫn gần với những năm 1970. Tham nhũng vẫn tràn lan trên khắp lục địa, và trong khi có một vài xung đột “nóng bỏng” (ví dụ Somalia, Nigeria, Sudan), nhiều xung đột khác chỉ đơn thuần là tạm thời bị đóng băng.
Tuy nhiên, mỗi năm nhiều tuyến đường bộ và đường sắt đang được xây dựng, kết nối những không gian vô cùng đa dạng của châu lục. Khoảng cách bao la của đại dương và sa mạc chia cách châu Phi với những nơi khác đã được khắc phục bằng đường hàng không, và sức mạnh công nghiệp đã tạo ra bến cảng ở những nơi thiên nhiên không có ý định tạo tác chúng.
Kể từ những năm 1960, trong mỗi thập niên, những người lạc quan đã viết về việc châu Phi đang mấp mé chiến thắng đối với định mệnh mà bàn tay lịch sử và thiên nhiên đã an bài cho nó. Có lẽ lần này là thật. Châu Phi cần điều đó. Châu Phi Hạ Sahara hiện đang nuôi dưỡng 1,1 tỉ người – theo một số ước tính, đến năm 2050, con số đó có thể đã tăng hơn gấp đôi, lên đến 2,4 tỷ người.
Tim Marshall
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt Phùng Cung sinh ra ở làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhưng...