Biến động 3
Phần 3: Các quốc gia và thế giới - Biến cố đang xảy ra
Chương 8 - Tương lai nào cho nước Nhật?
Nhật Bản ngày nay – Kinh tế – Ưu thế – Nợ công – Phụ nữ – Trẻ
em – Dân số già và suy giảm – Di cư – Trung Quốc và Hàn Quốc – Quản lý tài
nguyên – Khung biến cố
Chúng ta đã nói về các biến cố xảy ra trong sáu quốc gia.
Trong bốn quốc gia đầu tiên, biến cố nổ ra bất ngờ ở những thời điểm giữa 166
năm trước (Nhật Bản thời Minh Trị) và 46 năm trước (Chile). Trong hai quốc gia
tiếp theo, biến cố dần lộ diện và đạt tới đỉnh điểm vào khoảng nửa thế kỷ trước.
Mặc dù không thể nói biến cố nào được giải quyết hoàn toàn (hay bế tắc hoàn
toàn), nhưng nhiều thập niên đã trôi qua đối với mỗi trường hợp đó, đủ để chúng
ta có thể thảo luận một cách hữu ích về hệ quả của chúng.
Trong bốn chương tiếp theo, chúng ta thực sự sẽ thảo luận về
các biến cố có vẻ đang diễn ra, mà chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết liệu
chúng có thực sự trở thành biến cố lớn hay không và hệ quả vẫn còn bất định.
Nhưng chương này liên quan đến Nhật Bản đương đại, Mỹ và toàn thế giới.
Tương tự như đã nói về các biến cố trước đây bao gồm cả Nhật
Bản thời Minh Trị, chúng ta hãy bắt đầu thảo luận về các biến cố hiện tại có thể
xảy ra với Nhật. (Trong chương này, tôi sẽ chỉ xem xét các vấn đề cụ thể đối với
Nhật, nhưng Nhật dĩ nhiên cũng phải đương đầu với các vấn đề thế giới mà tôi sẽ
mổ xẻ trong chương 11.) Bạn bè và người thân Nhật Bản của tôi cùng người Nhật
nói chung thừa nhận một số vấn đề quốc gia khiến họ lo lắng. Có những vấn đề
khác khiến tôi lo lắng về Nhật Bản, nhưng bản thân người Nhật có xu hướng bác bỏ
hoặc lờ đi. Nhưng có quá nhiều cuộc tranh luận về Nhật Bản đã đi đến mức công
kích cực đoan hoặc trái lại, sùng bái cực đoan. Vì vậy, hãy mở đầu cuộc thảo luận
của chúng ta về các vấn đề của Nhật Bản hiện đại bằng cách điểm qua các điểm mạnh
của họ. Chúng ta sẽ thấy rằng, đối với Nhật cũng như nhiều quốc gia khác, một số
điểm mạnh lại liên quan đến các vấn đề của nó. Các điểm mạnh mà tôi sẽ đề cập
liên quan đến kinh tế Nhật Bản, vốn nhân lực, văn hóa và môi trường.
Ngày nay, Nhật là cường quốc kinh tế thứ ba thế giới, chỉ vừa
mới bị Trung Quốc vượt mặt. Nhật Bản chiếm khoảng 8% sản lượng kinh tế thế giới,
gần bằng một nửa sản lượng của nền kinh tế hàng đầu (Mỹ), và gấp đôi sản lượng
của Anh, một quốc gia nổi tiếng năng suất khác. Nói chung, tổng sản lượng kinh
tế quốc gia dựa vào hai con số: dân số trong một quốc gia, nhân với sản lượng
trung bình tính theo đầu người. Sản lượng quốc gia Nhật Bản cao vì hai lý do:
Nhật Bản có dân số đông (chỉ đứng thứ hai sau Mỹ trong số những nền dân chủ
giàu có) và sản lượng trung bình tính theo đầu người cao.
Trong khi nợ trong nước của Nhật thu hút rất nhiều quan tâm
(sẽ nói ở đoạn sau), Nhật Bản vẫn là quốc gia cho vay hàng đầu thế giới. Nhật
có dự trữ ngoại hối cao thứ hai thế giới và cạnh tranh với Trung Quốc, chủ nợ lớn
nhất của Mỹ.
Một yếu tố quan trọng đằng sau sức mạnh kinh tế chính là chi
tiêu khủng khiếp của Nhật Bản cho nghiên cứu và phát triển để thúc đẩy đổi mới.
Nhật Bản là nước đứng thứ ba thế giới về đầu tư thường niên tuyệt đối vào
nghiên cứu và phát triển, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ dù dân số ít hơn hai nước
này nhiều. Cụ thể, tỉ lệ GDP mà Nhật Bản đầu tư cho nghiên cứu và phát triển là
3,5 %, gần gấp đôi Mỹ (chỉ 1,8%) và vẫn cao hơn rất nhiều so với hai quốc gia
khác nổi tiếng vì đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là Đức (2,9%) và Trung Quốc
(2,0%).
Hằng năm, Diễn đàn Kinh tế Thế giới báo cáo cho các quốc gia
một con số gọi là Chỉ số Năng lực cạnh tranh Toàn cầu, chỉ số này tích hợp một
tá số liệu ảnh hưởng tới năng suất kinh tế của một quốc gia. Trong nhiều năm
liên tục Nhật Bản luôn nằm trong số mười quốc gia hàng đầu thế giới dựa vào chỉ
số trên; Nhật Bản, Singapore và Hong Kong (Trung Quốc) là ba nền kinh tế duy nhất
ngoài châu Âu và Mỹ lọt vào bảng xếp hạng này. Những nguyên nhân quyết định thứ
hạng cao của Nhật bao gồm hai nguyên nhân rõ ràng liên quan đến du khách: cơ sở
hạ tầng và mạng lưới giao thông tuyệt vời của Nhật, như đường sắt tốt nhất thế
giới chẳng hạn; và lực lượng lao động được giáo dục tốt, đặc biệt thành thạo
trong toán học và khoa học (sẽ bàn thêm ở phần sau). Những lý do khác trong
danh sách không rõ rệt bằng nhưng vẫn quen thuộc đối với người ngoại quốc đang
làm ăn với Nhật Bản. Các lý do này bao gồm: kiểm soát lạm phát; hợp tác lao động/quan
hệ lao động; thị trường trong nước cạnh tranh cao; các viện nghiên cứu chất lượng
cao đào tạo rất nhiều nhà khoa học và kỹ sư; thị trường nội địa lớn; tỉ lệ thất
nghiệp thấp; số bằng sáng chế tính theo đầu người mỗi năm cao hơn bất kỳ quốc
gia nào khác; bảo vệ quyền sở hữu và sở hữu trí tuệ; tiếp thu công nghệ nhanh
chóng; khách hàng và chủ doanh nghiệp sành sỏi; và nhân viên kinh doanh được
đào tạo tốt. Tôi hứa sẽ không đưa ra câu đố về danh sách dài ngoằng này, nhưng
thông điệp rút ra thật rõ ràng: có rất nhiều lý do khiến các doanh nghiệp Nhật
Bản có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.
Cuối cùng, đừng quên một nét đặc trưng của nền kinh tế Nhật Bản
đang mang lại lợi nhuận tài chính khổng lồ và cũng có thể gây ra rắc rối trong
tương lai. Hai quốc gia duy nhất có nền kinh tế vượt trội Nhật Bản là Mỹ và
Trung Quốc, nhưng họ đổ một phần lớn ngân sách vào quân phí. Nhật Bản không tốn
khoản phí này, nhờ một điều khoản của hiến pháp năm 1947 do Mỹ áp đặt (nay được
đông đảo người dân Nhật Bản tán thành) quy định cắt giảm lực lượng vũ trang Nhật
Bản xuống tối thiểu.
Thế mạnh thứ hai của Nhật Bản bên cạnh những thế mạnh về kinh
tế, chính là “vốn nhân lực,” hay nói cách khác, là thế mạnh của dân số. Dân số
nước này hơn 120 triệu, con người khỏe mạnh và học thức cao. Tuổi thọ của người
Nhật cao nhất thế giới: đàn ông là 80 tuổi, phụ nữ là 85 tuổi. Sự bất bình đẳng
kinh tế-xã hội vốn làm hạn chế cơ hội của một bộ phận lớn người Mỹ lại đang giảm
mạnh ở Nhật: Nhật là quốc gia đứng thứ ba thế giới về bình đẳng trong phân phối
thu nhập, chỉ sau Đan Mạch và Thụy Điển. Đó là một phần kết quả của chính sách
giáo dục của chính phủ Nhật Bản: trường học ở những vùng khó khăn về kinh tế xã
hội có lớp học nhỏ hơn (tỉ lệ giáo viên-học sinh cao hơn) so với những trường học
trong vùng giàu có, do vậy, tạo điều kiện dễ dàng cho con em các gia đình nghèo
đuổi kịp. (Trái lại, hệ thống giáo dục của Mỹ có xu hướng duy trì sự bất bình đẳng
bằng cách nhồi nhét nhiều học sinh hơn vào các lớp học ở khu vực nghèo khó.) Địa
vị xã hội ở Nhật Bản phụ thuộc vào giáo dục hơn là vào sự kế thừa và quan hệ gia
đình: một lần nữa, nó lại trái ngược với xu thế ở Mỹ. Nói tóm lại, thay vì đầu
tư mất cân xứng vào một bộ phận dân chúng thì Nhật Bản đầu tư đồng đều vào tất
cả họ – hay chí ít, tất cả công dân nam giới. (Tôi sẽ nói về phụ nữ Nhật sau.)
Tỉ lệ biết chữ và trình độ học vấn ở Nhật Bản gần cao nhất thế
giới. Mẫu giáo và trung học phổ thông ở Nhật là hai cấp học gần như được phổ cập
nhưng không bắt buộc. Việc kiểm tra sinh viên ở các quốc gia trên thế giới cho
thấy sinh viên Nhật Bản xếp thứ tư thế giới về kiến thức toán học và khoa học,
trên tất cả các nước châu Âu và Mỹ. Nhật Bản chỉ đứng sau Canada về tỉ lệ người
trưởng thành – gần 50% – tiếp tục lên đại học sau khi tốt nghiệp trung học.
Song song với những thế mạnh của nền giáo dục là những chỉ trích thường của
chính người Nhật Bản, rằng nền giáo dục đó gây quá nhiều áp lực cho học sinh bằng
việc chỉ chú tâm vào điểm số mà không quan thiết tới động lực bản thân và khả
năng suy nghĩ độc lập. Kết quả là, một khi sinh viên Nhật Bản thoát khỏi môi
trường áp lực ở trung học và lên đến đại học, tự nhiên hứng thú học tập của họ
giảm dần.
Mặc dù không dễ để ước lượng thế mạnh văn hóa, căn tính quốc
gia, và chất lượng cuộc sống, nhưng có rất nhiều bằng chứng mang tính giai thoại
về những đặc điểm này ở Nhật. Như khách ngoại quốc đến Nhật có thể nhanh chóng
nhận ra, thủ đô Tokyo cạnh tranh với Singapore để là thành phố sạch nhất châu
Á, và là một trong những nơi sạch nhất thế giới. Đó là vì trẻ em Nhật học cách
sạch sẽ và dọn dẹp, như một phần trách nhiệm của chúng là giữ gìn Nhật Bản và
trao lại đất nước cho thế hệ tiếp theo. (Các văn bản thông dịch tại các địa điểm
khảo cổ Nhật đôi khi trưng ra một cách tự hào bằng chứng về sự sạch sẽ của người
Nhật đã có từ thời cổ đại.) Khách tham quan cũng nhận thấy sự an toàn và tỉ lệ
tội phạm thấp tại các thành phố Nhật Bản. Tỉ lệ ngồi tù của Nhật Bản nhỏ hơn rất
nhiều so với Mỹ: tương ứng là 80.000 người so với gần 2,5 triệu người. Bạo loạn
và cướp bóc là rất hiếm ở Nhật. Căng thẳng sắc tộc thấp hơn nhiều so với ở Mỹ
và châu Âu, bởi lẽ ở Nhật có sự đồng nhất về sắc dân và chỉ có một số rất ít
dân tộc thiểu số. (Đây cũng là một ví dụ khác của một ưu thế mang theo nhiều bất
lợi, sẽ được trình bày sau.)
Cuối cùng, thế mạnh của Nhật Bản lại nằm ở những ưu thế to lớn
về tự nhiên. Sản lượng nông nghiệp Nhật Bản cao là nhờ sự kết hợp giữa khí hậu
ôn hòa, không có sâu bọ của nền nông nghiệp nhiệt đới, mưa lớn tập trung vào
mùa hè – mùa cây cối phát triển, và đất núi lửa màu mỡ. Điều này góp phần vào
khả năng hỗ trợ một trong những nền công nghiệp có mật độ dân số cao nhất thế
giới, trong khi dân chúng và nền nông nghiệp chỉ tập trung ở một tỉ lệ khiêm tốn
(12%) diện tích. (Đa số diện tích nước Nhật chủ yếu là đồi núi và rừng cây, chỉ
cho phép một lượng nhỏ dân cư tổ chức canh tác nhỏ lẻ.) Chất dinh dưỡng từ đất
đai màu mỡ khiến cho sông suối và bờ biển Nhật Bản rất giàu tôm cá, rong biển
và nhiều hải sản khác. Nhật Bản đứng thứ sáu trên thế giới về đánh bắt hải sản,
trước đây họ chỉ đánh bắt ven biển Nhật Bản nhưng bây giờ đã được tổ chức thành
nhiều đội tàu đánh cá Nhật Bản đi khắp các đại dương. Với sự ưu ái về tự nhiên
như vậy, Nhật Bản đã là một xứ phi thường trong thời cổ đại, bởi ít nhất là
10.000 năm trước thời kỳ trồng trọt, những người săn bắt-hái lượm Nhật Bản đã lập
làng và làm gốm, thay vì sống đời du mục với số tài sản vật chất ít ỏi. Trước
khi dân số Nhật Bản bùng nổ trong vòng nửa cuối thế kỷ trước, Nhật Bản đã tự
cung cấp đủ lương thực.
Bây giờ hãy nói về trở ngại, khó khăn của đất nước này. Khi
được yêu cầu chỉ ra vấn đề nghiêm trọng nhất của Nhật Bản, các nhà kinh tế học
thường trả lời, “Đó là khoản nợ quốc gia khổng lồ của chính phủ.” Hiện nay khoản
nợ này cao gấp 2,5 lần GDP hằng năm của Nhật, tức giá trị của toàn bộ hàng hóa
sản xuất tại Nhật Bản trong một năm. Điều này có nghĩa, ngay cả khi Nhật dành
toàn bộ thu nhập và nỗ lực để trả hết nợ quốc gia và không sản xuất gì cho
chính họ, thì họ vẫn phải mất hai năm rưỡi để trả nợ. Tệ hơn nữa, khoản nợ đã
tăng lên trong nhiều năm. Để so sánh, trong khi các nhà tài chính bảo thủ Mỹ rất
quan tâm đến nợ quốc gia, thì khoản này “chỉ” chiếm 1,0 GDP của Mỹ. Hy Lạp và
Tây Ban Nha là hai nước châu Âu khét tiếng vì những vấn đề kinh tế của họ,
nhưng tỉ lệ nợ/GDP của Nhật cao gấp đôi so với Hy Lạp và gấp bốn lần so với Tây
Ban Nha (tính đến thời điểm tôi viết câu này). Khoản nợ của chính phủ Nhật Bản
tương đương với khoản nợ của toàn bộ khu vực đồng Euro bao gồm 17 quốc gia,
trong khi tổng dân số của họ gấp ba lần Nhật.
Tại sao chính phủ Nhật Bản không sụp đổ hay vỡ nợ từ lâu vì
gánh nặng này? Trước hết, phần lớn nợ không thuộc về chủ nợ nước ngoài mà là
các cá nhân Nhật Bản, doanh nghiệp Nhật Bản và các quỹ hưu trí sở hữu trái phiếu
(nhiều quỹ thuộc sở hữu của chính phủ), và ngân hàng Nhật Bản, nhưng không một
đơn vị nào trong số ấy làm khó chính phủ Nhật Bản. Ngược lại, phần lớn nợ của
Hy Lạp thuộc về chủ nợ nước ngoài, những người này gây khó dễ và tạo áp lực buộc
Hy Lạp thay đổi chính sách tài khóa. Bất chấp tất cả nợ mà chính phủ Nhật đang
chịu từ chính người dân Nhật, thì Nhật Bản vẫn là một quốc gia tín dụng ròng đối
với nhiều quốc gia khác vốn nợ tiền Nhật Bản. Thứ hai, lãi suất ở Nhật Bản được
giữ ở mức thấp (dưới 1%) theo chính sách của chính phủ, với mục đích kiểm soát
thanh toán lãi suất của chính phủ. Cuối cùng, các chủ nợ nước ngoài và Nhật Bản
vẫn rất tin vào khả năng thanh toán của chính phủ nên họ tiếp tục mua trái phiếu
chính phủ. Trên thực tế, đó là phương cách chính mà các cá nhân và doanh nghiệp
Nhật Bản đầu tư tiền tiết kiệm của họ. Nhưng không ai biết được nợ có thể vọt
lên cao bao nhiêu trước khi các chủ nợ của Nhật Bản vay tiền mất niềm tin và
chính phủ vỡ nợ.
Mặc dù thuế suất thấp, nhưng quy mô khoản nợ và dân số già đồng
nghĩa với việc lãi suất nợ và chi phí y tế, an sinh xã hội tiêu tốn phần lớn tiền
thuế của chính phủ. Điều này làm giảm sút quỹ tài chính vốn phải luôn sẵn sàng
đáp ứng đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển, cơ sở hạ tầng và các động
cơ tăng trưởng kinh tế khác để có thể kích thích doanh thu thuế. Vấn đề càng
nghiêm trọng hơn nữa khi thuế suất kéo theo nguồn thu của chính phủ tương đối
thấp chiếu theo những tiêu chuẩn của thế giới phát triển. Cuối cùng, khoản nợ
chủ yếu nằm trong tay của giới người Nhật già, những người đã đầu tư tiền bạc một
cách trực tiếp (bằng cách mua trái phiếu chính phủ) hoặc gián tiếp (bằng cách
nhận lương hưu từ quỹ lương hưu đầu tư nhiều vào trái phiếu chính phủ) – trong
khi những người Nhật trả lãi suất cho khoản nợ phần lớn là người trẻ Nhật vẫn
làm việc và đóng thuế. Vì thế, khoản nợ của Nhật Bản thực sự là khoản tiền mà
giới trẻ phải trả cho giới già, tạo thành một cuộc xung đột giữa các thế hệ và
một thế chấp trên tương lai Nhật Bản. Thế chấp đang lớn lên bởi vì dân số trẻ
Nhật Bản đang suy giảm trong khi dân số già thì tăng lên (xem đoạn sau).
Giải pháp đề ra để giảm nợ bao gồm tăng thuế suất, giảm chi
tiêu của chính phủ, và giảm lương hưu của người già Nhật Bản. Những giải pháp
này và tất cả các giải pháp khác được cho là quá khó để thực hiện. Do đó, khoản
nợ của chính phủ là một vấn đề lớn được thừa nhận rộng rãi suốt một thời gian
dài ở Nhật Bản, điều đó đã tiếp tục trở nên tồi tệ hơn trong nhiều năm, và
không có thỏa thuận về giải pháp.
Những vấn đề cơ bản khác được chính người Nhật thừa nhận là bốn
vấn đề liên quan tới vai trò của phụ nữ, tỉ lệ sinh thấp và có chiều hướng giảm,
quy mô dân số giảm, và dân số già. Hãy bắt đầu với vai trò của phụ nữ.
Trên lý thuyết, phụ nữ và đàn ông Nhật Bản bình đẳng với
nhau. Hiếp pháp Nhật Bản năm 1947, do chính phủ chiếm đóng Mỹ soạn thảo vẫn còn
hiệu lực cho tới ngày hôm nay, trong đó có một điều khoản (do một phụ nữ Mỹ soạn
thảo) tuyên bố bình đẳng giới. Điều khoản đó đã được thông qua bất chấp sự phản
đối quyết liệt của chính phủ Nhật Bản, và một số nhà lập pháp Nhật Bản vẫn còn
muốn thay đổi nó.
Trên thực tế, phụ nữ Nhật Bản phải đối mặt với nhiều rào cản
xã hội về bình đẳng giới. Tất nhiên, những rào cản mà tôi sắp mô tả cũng tồn tại
ở các quốc gia khác ngoài Nhật Bản. Nhưng những rào cản này – và khoảng cách giới
trong y tế, giáo dục, cùng sự tham gia vào lực lượng lao động và chính trị – ở
Nhật Bản lớn hơn so với bất kỳ quốc gia công nghiệp giàu có nào khác, ngoại trừ
Hàn Quốc. Tôi suy đoán rằng, vì Nhật Bản là quốc gia công nghiệp giàu có, trong
đó vai trò của phụ nữ cho tới gần đây hầu hết vẫn là phụ thuộc và rập khuôn. Chẳng
hạn, khi đi bộ ở nơi công cộng, một người phụ nữ truyền thống Nhật Bản chắc chắn
sẽ ở sau chồng ba bước. Để tóm gọn, tôi sẽ mô tả các rào cản xã hội đối với phụ
nữ một cách tổng quát, nhưng tất nhiên rào cản sẽ biến đổi tùy theo vị trí và độ
tuổi người Nhật Bản: chẳng hạn, ở nông thôn, rào cản mạnh hơn ở Tokyo và ở người
lớn tuổi mạnh hơn so với người trẻ.
Ở nhà, sự phân chia giới tính trong các cặp vợ chồng Nhật thường
được gọi là “gói hôn nhân.” Một sự phân chia công việc không hiệu quả thường xảy
ra, từ đó một ông chồng lao vào công việc kiếm sống cho cả hai ở bên ngoài và
tiêu tốn cả thời gian lẽ ra phải dành cho con cái, trong khi vợ anh ta ở nhà và
hi sinh cơ hội phát triển nghề nghiệp. Chủ doanh nghiệp mong đợi nhân viên (chủ
yếu là đàn ông) ở lại văn phòng trễ và ra ngoài uống rượu với họ sau giờ làm việc.
Điều này gây khó dễ cho các ông chồng Nhật Bản kể cả khi họ muốn chia sẻ việc
nhà với vợ. Ông chồng Nhật làm việc nhà ít hơn những ông chồng ở các quốc gia
công nghiệp hóa giàu có: chẳng hạn, chỉ bằng 2/3 số giờ mỗi tuần mà các ông chồng
Mỹ bỏ ra. Các ông chồng Nhật có vợ đi làm không làm việc nhà nhiều hơn các ông
có vợ ở nhà toàn thời gian. Thay vào đó, chủ yếu là những người vợ chăm sóc con
cái, chồng của họ, cha mẹ họ, cha mẹ chồng – và quản lý tài chính gia đình
trong thời gian rảnh rỗi còn lại. Nhiều bà vợ Nhật ngày nay thề rằng họ sẽ là
thế hệ phụ nữ Nhật cuối cùng chịu đựng những trách nhiệm này.
Ở sở làm, phụ nữ Nhật tham gia ít và nhận lương thấp. Sự tham
gia lao động ngày càng giảm với mức độ trách nhiệm ngày càng tăng. Trong khi nữ
giới chiếm 49% sinh viên đại học Nhật Bản và 45% các công việc cấp đầu vào, thì
họ lại chỉ chiếm 14% các vị trí giảng dạy (so với 33%-44% ở Mỹ, Anh, Đức và
Pháp), 11% các vị trí quản lý trung cấp đến cao cấp, 2% các vị trí trong hội đồng
quản trị, 1% các trong ủy ban điều hành kinh doanh và dưới 1% là CEO. Ở những cấp
độ cao hơn, Nhật Bản tụt hậu so với tất cả các nước công nghiệp lớn, ngoại trừ
(một lần nữa) Hàn Quốc. Có rất ít phụ nữ tham gia chính trường Nhật Bản, và đất
nước này cũng chưa bao giờ có một nữ thủ tướng. Sự chênh lệch mức lương nam/nữ
trong công việc toàn thời gian ở Nhật cao thứ ba (chỉ sau Hàn Quốc và Estonia)
trong số 35 nước công nghiệp giàu có. Một nhân viên nữ Nhật thường chỉ được hưởng
73% lương so với nam giới cùng trình độ, trong khi mức trung bình ở các nước
công nghiệp giàu là 85%, ở New Zealand lên tới 94%. Trở ngại công việc đối với
phụ nữ bao gồm: thời gian làm việc dài, kỳ vọng vào sự tương tác giữa nhân viên
sau giờ làm việc, và vấn đề ai sẽ chăm sóc con cái nếu một người mẹ đi làm muốn
tương tác ngoài xã hội sau giờ làm và nếu chồng của cô cũng không rảnh hoặc
không sẵn lòng làm việc đó.
Chăm sóc con cái là một vấn đề nan giải đối với các bà mẹ
công sở Nhật. Trên giấy tờ, luật pháp Nhật quy định phụ nữ được nghỉ thai sản bốn
tuần trước sinh và tám tuần sau sinh; một số đàn ông Nhật cũng được hưởng chế độ
thai sản này; và bộ luật năm 1992 cho phép cha mẹ nghỉ hẳn một năm không lương
để chăm con nếu họ muốn. Trên thực tế, hầu hết các ông bố bà mẹ Nhật Bản không
lấy phép mà họ được hưởng. Thay vào đó, 70% lao động nữ giới Nhật Bản rời bỏ
công sở ngay khi sinh đứa con đầu tiên và đa số không quay trở lại làm việc
trong nhiều năm, thậm chí nghỉ hẳn. Trong khi trên danh nghĩa, việc ép buộc một
bà mẹ nghỉ việc là bất hợp pháp, nhưng các bà mẹ Nhật vẫn chịu áp lực này. Chăm
sóc trẻ nhỏ là bắt buộc đối với các bà mẹ lao động Nhật bởi họ thiếu phụ nữ nhập
cư để thuê chăm sóc trẻ tại nhà (xem đoạn sau), và bởi có rất ít trung tâm chăm
sóc trẻ nhỏ thuộc nhà nước hoặc tư nhân, khác với tình trạng ở Mỹ và
Scandinavia. Mặt khác, quan điểm chung của người Nhật là một bà mẹ phải ở nhà,
tự chăm sóc con nhỏ và không làm việc.
Kết quả là tình thế tiến thoái lưỡng nan đối với phụ nữ Nhật
Bản ở công sở. Một mặt, hầu hết phụ nữ Nhật đều muốn làm việc, và họ cũng muốn
có con, muốn dành thời gian cho con. Mặt khác, các công ty Nhật đầu tư lớn vào
đào tạo nhân viên, tuyển dụng vị trí lâu dài, đổi lại họ cũng kỳ vọng người
nhân viên đó sẽ gắn bó dài lâu và giữ vững công việc suốt đời. Các công ty
không muốn thuê và đào tạo phụ nữ, bởi vì họ dễ bỏ việc khi có con, không muốn
làm việc toàn thời gian, và có thể không trở lại sau khi sinh con. Vì lý do đó
phụ nữ có xu hướng không được tuyển dụng, và có xu hướng không nhận việc khi
trúng tuyển các công việc cấp cao trong doanh nghiệp Nhật Bản.
Thủ tướng đương nhiệm Nhật Bản, Shinzo Abe là một người bảo
thủ, trước đây vốn không bày tỏ sự quan tâm đến những vấn đề nữ giới. Tuy
nhiên, gần đây ông đã đi ngược lại đường lối, và tuyên bố muốn tìm giải pháp
giúp các bà mẹ trở lại công sở – nhiều người nghi ngại điều đó, không phải vì
ông đột nhiên tỏ ra quan tâm đến phụ nữ, mà bởi sự sụt giảm dân số Nhật dẫn đến
việc thu hẹp lực lượng lao động (sẽ nói thêm ở phần sau). Một nửa dân số Nhật
nói chung, và sinh viên tốt nghiệp nói riêng là phụ nữ. Abe đề xuất rằng các bà
mẹ có công ăn việc làm có thể nghỉ thai sản ba năm với điều kiện họ sẽ quay trở
lại, đồng thời chính phủ mở rộng thêm các trung tâm công cộng chăm sóc trẻ em
và các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ tài chính khi thuê lao động nữ. Nhưng rất
nhiều phụ nữ Nhật, trong đó có cả một số bạn bè đã tốt nghiệp đại học của tôi từng
làm việc tại nước ngoài, đã phản đối đề xuất của Abe. Họ nghi ngờ rằng đó lại
là một âm mưu khác của chính phủ để giữ chân phụ nữ ở nhà!
Phần tiếp theo trong chuỗi các vấn đề dân số chính là tỉ lệ
sinh thấp và có chiều hướng giảm. Người Nhật hiểu rõ sự nghiêm trọng của vấn đề,
nhưng họ không có cách giải quyết.
Tỉ lệ sinh thấp và giảm đang chiếm ưu thế ở các nước thuộc Thế
giới Thứ nhất. Nhưng Nhật Bản có tỉ lệ sinh thấp nhất thế giới: trên 1.000 người
mỗi năm thì chỉ có 7 trẻ sơ sinh ra đời, trong khi ở Mỹ là 13, trung bình trên
thế giới là 19, và ở các nước châu Phi là trên 40. Hơn nữa, tỉ lệ sinh thấp này
ở Nhật Bản vẫn đang giảm. Nếu trong những năm gần đây, sự giảm sút này được suy
đoán là thường niên, thì có lẽ đến năm 2917, tỉ lệ sinh của Nhật Bản sẽ chạm mốc
0, nghĩa là sẽ không có trẻ sơ sinh nào ở Nhật! Tất nhiên, tình hình không tệ đến
mức đó, nhưng thật sự là tỉ lệ sinh vốn rất thấp của Nhật vẫn đang có dấu hiệu
giảm sút.
Có một cách khác thể hiện tỉ lệ sinh được gọi là tổng tỉ suất
sinh: nghĩa là, tổng số trẻ được sinh ra từ một người phụ nữ trung bình trong
toàn bộ cuộc đời. Đối với toàn thế giới, con số trung bình là 2,5 trẻ; đối với
các nước thuộc Thế giới Thứ nhất với nền kinh thế lớn nhất thì con số dao động
từ 1,3 đến 2,0 trẻ (ở Mỹ là 1,9). Tỉ suất sinh này ở Nhật chỉ đạt 1,27 trẻ, thuộc
hạng thấp nhất của biểu đồ; Hàn Quốc và Ba Lan là một trong số ít các quốc gia
có tỉ suất sinh thấp hơn. Nhưng số trẻ trung bình mà một người phụ nữ phải sinh
để duy trì sự ổn định của dân số – hay còn gọi là tỉ lệ thay thế – phải cao hơn
2,0 một chút. Nhật Bản cùng một số quốc gia thuộc Thế giới Thứ nhất có tỉ suất
sinh thấp hơn tỉ lệ thay thế này. Đối với các quốc gia thuộc Thế giới Thứ nhất
khác, đó không phải là vấn đề bởi lẽ nhập cư giữ cho quy mô dân số không đổi hoặc
thậm chí tăng lên dù giảm sinh. Tuy nhiên, việc nhập cư ở Nhật gần như vắng
bóng, nghĩa là dân số Nhật thực sự đang giảm như chúng ta đề cập.
Một phần lý do của việc giảm tỉ lệ sinh ở Nhật chính là độ tuổi
kết hôn lần đầu của họ đã tăng lên: hiện nay là xấp xỉ 30 ở cả nam và nữ. Điều
đó có nghĩa là phụ nữ có ít năm trước thời kỳ mãn kinh hơn để thụ thai. Một lý
do lớn khác nữa chính là tỉ lệ kết hôn (số lượng kết hôn trên 1.000 người trên
một năm) đang giảm nhanh ở Nhật Bản. Bạn có thể bác bỏ rằng, ở nhiều nước phát
triển khác tỉ lệ kết hôn cũng giảm nhưng không gây ra sụt giảm nghiêm trọng đối
với tỉ lệ sinh như Nhật Bản đang phải đối mặt, vì họ có rất nhiều những ca sinh
nở không mong muốn: 40% ở Mỹ, 50% ở Pháp và 66% ở Iceland. Nhưng yếu tố này
không áp dụng cho Nhật Bản, nơi tỉ lệ các ca sinh nở không mong muốn chỉ chiếm
2%.
Tại sao người Nhật ngày càng tránh kết hôn và sinh con? Khi
được khảo sát về vấn đề này, người Nhật đưa ra một số lý do. Một lý do liên
quan đến kinh tế: sống độc thân và sống cùng cha mẹ thì rẻ hơn và thoải mái hơn
là ra ngoài, kết hôn, phải trả tiền thuê nhà cộng với tiền nuôi con. Nhất là đối
với phụ nữ, kết hôn và làm mẹ có thể là thảm họa kinh tế bởi vì họ sẽ khó kiếm
được hoặc giữ được một công việc. Một lý do khác được đưa ra là tự do của việc
độc thân, một sự cân nhắc đặc biệt đối với phụ nữ, những người không muốn rơi
vào cảnh gánh vác trách nhiệm chăm sóc nhà cửa, chồng con, cha mẹ mình và cha mẹ
chồng. Còn một lý do nữa, đó là nhiều thanh niên nam nữ Nhật trong tương quan tỉ
lệ, coi rằng một cuộc sống trọn vẹn “không cần thiết” phải kết hôn.
Bất chấp những lập luận phản đối đó, 70% nam giới và nữ giới
Nhật chưa kết hôn vẫn bày tỏ rằng họ muốn được lập gia đình. Vậy thì tại sao họ
vẫn chưa tìm thấy bạn đời phù hợp? Theo truyền thống thì điều này không đòi hỏi
họ phải nỗ lực, bởi vì kết hôn ở Nhật được sắp xếp bởi những người mai mối (gọi
là nakoudo), họ lên lịch cho các cuộc phỏng vấn chính thức để những người trẻ độc
thân có thể gặp gỡ bạn đời tiềm năng của mình. Kể từ năm 1960 đến nay, đây vẫn
là hình thức hôn nhân chiếm ưu thế ở Nhật Bản. Nhưng rồi số người làm nakoudo
giảm dần, và tư tưởng phương Tây về hôn nhân lãng mạn tăng lên đã khiến cho các
cuộc hôn nhân do mai mối giảm xuống chỉ còn chiếm 5% trên tổng số cuộc hôn
nhân. Nhưng nhiều người trẻ hiện đại Nhật Bản quá bận rộn với công việc, quá
thiếu kinh nghiệm hẹn hò hoặc quá vụng về để phát triển một mối quan hệ lãng mạn.
Đặc biệt, việc giảm sút các cuộc hôn nhân sắp đặt ở Nhật
trong vài thập niên gần đây trùng khớp với sự gia tăng tiếp xúc không gặp mặt bằng
liên lạc qua thư điện tử, tin nhắn, điện thoại di động, và do đó kéo theo sự
suy giảm kỹ năng giao tiếp xã hội. Một trải nghiệm sâu sắc mà tôi từng chứng kiến
là một người bạn Nhật Bản, trong khi dùng bữa ở nhà hàng đã bị ấn tượng bởi một
cặp đôi trẻ ăn mặc đẹp, ngồi đối diện nhau ở bàn bên với thái độ lúng túng và
im lặng. Cả hai đều cúi đầu và nhìn xuống đầu gối thay vì nhìn nhau. Bạn tôi để
ý rằng mỗi người họ đều cầm một chiếc điện thoại để trên đùi và nhắn tin cho
nhau. Cuối cùng, người bạn của tôi hiểu ra rằng chàng trai và cô gái nọ cảm thấy
quá vụng về để nói chuyện trực tiếp với nhau, cho nên họ phải nhắn tin qua lại
giữa cái bàn. Đó không phải là cách tốt để phát triển và hoàn thiện một mối
quan hệ lãng mạn! Dĩ nhiên giới trẻ Mỹ cũng nghiện giao tiếp điện tử, nhưng họ
(không giống người Nhật đương đại) là những người kế thừa truyền thống hẹn hò.
Tỉ lệ sinh và tỉ lệ kết hôn thấp vẫn đang giảm là nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến hai vấn đề lớn tồn đọng được công nhận rộng rãi ở Nhật Bản:
dân số giảm và dân số già.
Vì tỉ lệ sinh của Nhật Bản trong nhiều năm đã ở dưới mức tỉ lệ
thay thế, nên rõ ràng dân số Nhật Bản cuối cùng sẽ ngừng tăng và bắt đầu giảm.
Tuy nhiên, thật sốc khi các số liệu thống kê dân số xác nhận rằng thời điểm
đáng sợ đó đã thực sự đến. Sau cuộc điều tra dân số thực hiện năm năm một lần,
vào năm 2010 đã cho thấy có 128.057.352 người và năm 2015 là 127.100.000 người,
tức dân số giảm gần một triệu người. Từ xu hướng hiện tại và phân bố tuổi của
dân số Nhật Bản, người ta tính đến năm 2060, dân số nước này sẽ giảm 40 triệu
và chỉ còn 80 triệu người.
Hậu quả của sự giảm sút và dịch chuyển dân số từ nông thôn
sang thành thị ở Nhật đã bộc lộ rõ. Nhật Bản đang đóng cửa khoảng 500 trường học
mỗi năm. Dân số giảm ở nông thôn khiến cho làng mạc và những thị trấn nhỏ bị bỏ
hoang. Người ta lo sợ rằng, với dân số không tăng để làm động lực thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế thì một Nhật Bản thưa dân sẽ trở nên nghèo hơn và yếu hơn trên
trường thế giới. Vào năm 1948, Nhật Bản là quốc gia đông dân thứ năm thế giới,
đến năm 2007 họ đã tụt xuống hàng thứ 10, sau Negeria và Banladesh; dự đoán
trong vài thập niên tới Nhật sẽ còn tụt hạng so với những nước không phải là cường
quốc như Congo hay Ethiopia. Điều đó bị coi là nhục nhã, với giả định ngầm rằng
một đất nước ít dân hơn Congo sẽ yếu hơn và ít quan trọng hơn Congo.
Vì vậy, năm 2015, Thủ tướng Abe tuyên bố mục tiêu của chính
phủ là duy trì dân số Nhật ít nhất ở mốc 100 triệu, bằng cách tăng tổng tỉ lệ
sinh trung bình từ 1,4 lên 1,8 trẻ trên mỗi phụ nữ. Nhưng việc tăng sinh phụ
thuộc vào lựa chọn của giới trẻ Nhật Bản hơn là Abe. Tôi từng bàn luận về những
nguyên do khiến giới trẻ Nhật, bất chấp việc họ nghĩ rằng Nhật Bản sẽ là quốc
gia tốt hơn nếu có nhiều em bé hơn, lại đang chọn không sinh con.
Suy giảm dân số có thực sự là một “thách thức” với Nhật Bản?
Nhiều quốc gia có số dân nhỏ hơn Nhật nhưng vẫn giàu có và đóng vai trò quan trọng
trên trường quốc tế, như Úc, Phần Lan, Israel, Hà Lan, Singapore, Thụy Điển và
Thụy Sĩ. Tất nhiên những nước đó không phải là lãnh đạo quân sự thế giới, nhưng
Nhật Bản cũng chẳng có vai trò ấy do hiến pháp và chủ nghĩa hòa bình rộng khắp
của họ. Tôi cho rằng Nhật Bản sẽ không tệ đi mà thay vào đó còn tốt hơn nhiều với
số dân nhỏ hơn, bởi vì nhu cầu đối với những tài nguyên nội địa và nhập khẩu sẽ
ít hơn. Chúng ta sẽ thấy rằng áp lực tài nguyên từng là một trong những tai
ương của lịch sử Nhật Bản hiện đại, nó vẫn còn cho tới hôm nay, và chính người
Nhật nghĩ rằng đất nước của họ thiếu hụt tài nguyên. Do vậy tôi tin sự suy giảm
dân số không phải là vấn đề mà là một trong những ưu thế của họ.
Dù quan tâm đến sự suy giảm dân số, nhưng người Nhật phải thừa
nhận rằng dân số già mới là vấn đề nghiêm trọng hơn. Nhật Bản đã là quốc gia có
tuổi thọ cao nhất thế giới (84 tuổi, so với 77 ở Mỹ, và chỉ 40-45 ở một số quốc
gia châu Phi), và có tỉ lệ người già cao nhất. Ngay lúc này, 23% dân số Nhật có
tuổi thọ trên 65, và 6% trên 80. Đến năm 2050, ước đoán những con số này sẽ đạt
tương ứng 40% và 16%. (Con số tương quan ở Mali, quốc gia châu Phi là 3% và
0,1%.) Đến khi đó, người già trên 80 tuổi ở Nhật sẽ đông hơn trẻ em dưới 14 tuổi,
và người già trên 65 tuổi sẽ đông hơn gấp ba lần số trẻ em này.
Bạn lưu ý rằng, cá nhân tôi không có gì chống đối những người
ở độ tuổi 80. (Như thế thì khác gì tự căm ghét mình, vì tôi bây giờ đã 82 rồi.)
Nhưng như vậy có quá nhiều phúc lợi, và điều đó đúng với người già. Một số lượng
lớn người già tạo ra gánh nặng đối với hệ thống y tế quốc gia, bởi người già có
nhiều bệnh hơn so với người trẻ: đặc biệt là bệnh mạn tính, không thể chữa khỏi,
khó chữa, hoặc chi phí điều trị đắt đỏ như bệnh tim mạch và mất trí nhớ. Khi phần
trăm dân số trên 65 tuổi tăng lên, thì tỉ lệ phần trăm dân số nghỉ hưu cũng
tăng, và tỉ lệ phần trăm lao động giảm. Điều đó có nghĩa là lao động trẻ không
đủ làm nguồn lực chủ yếu bù đắp cho số lượng hưu trí tăng lên: bằng cách hỗ trợ
trực tiếp tài chính và chăm sóc trong gia đình, hoặc hỗ trợ gián tiếp bằng quỹ
lương hưu của chính phủ và hệ thống y tế mà lao động trẻ phải đóng thuế vào đó.
Tỉ lệ người lao động trên người nghỉ hưu ở Nhật đã giảm một cách khủng khiếp:
năm 1965 là 9 lao động trên một hưu trí, nay là 2,4 và ước tính đến năm 2050 chỉ
còn 1,3.
Nhưng bạn có thể phản đối rằng Nhật Bản không phải là quốc
gia duy nhất có tỉ lệ sinh giảm, có dân số già, cùng gia tăng gánh nặng lên quỹ
lương hưu và hệ thống an sinh xã hội. Những vấn đề tương tự cũng đang xảy ra
trên khắp thế giới phát triển; Nhật Bản chỉ là đang đối mặt với những thách thức
này ở mức độ căng thẳng hơn. Mỹ cũng quan ngại về việc hệ thống an sinh xã hội
suy giảm trong tương lai. Tất cả các quốc gia châu Âu cũng có tỉ lệ sinh thấp
hơn giá trị thay thế, hai trong số các nước này thậm chí còn có tỉ lệ sinh thấp
hơn của Nhật Bản. Nhưng Mỹ và châu Âu không lo ngại về các vấn đề này như Nhật,
bởi họ không bị mắc kẹt trong việc suy giảm dân số và dân số ngày càng già đi một
cách khủng khiếp như ở Nhật. Tại sao không? Bằng cách nào họ đã thoát khỏi những
cái bẫy này?
Câu trả lời liên quan đến vấn đề đầu tiên trong ba vấn đề nổi
cộm ở Nhật nhưng không được họ thừa nhận rộng rãi, như tôi đã đề cập. Đó chính
là việc Nhật Bản thiếu vắng nguồn nhập cư.
Nhật Bản, như họ vẫn tự hào, là sắc dân thuần chủng hay quốc
gia đông đúc đồng nhất hàng đầu thế giới. Họ không chào đón người nhập cư, và
càng khó khăn hơn nữa cho ai đã vào Nhật và muốn nhập quốc tịch. Tỉ lệ phần
trăm dân nhập cư và con cái người nhập cư chiếm 28% tổng dân số ở Úc, 21% ở
Canada, 16% ở Thụy Điển, và 14% ở Mỹ, nhưng ở Nhật chỉ là 1,9%.
Trong số người tị nạn đang xin cư trú, Thụy Điển chấp nhận
92%, Đức 70%, Canada 48% nhưng Nhật chỉ chấp nhận 0,2%. (Chẳng hạn, Nhật chỉ chấp
nhận 6 và 11 người tị nạn trong các năm 2013 và 2014.) Lao động nước ngoài chiếm
15% lực lượng lao động tại Mỹ và 9% tại Đức, nhưng chỉ chiếm 1,3% tại Nhật. Hiện
nay Nhật Bản chấp nhận lao động nước ngoài tạm thời (được gọi là lao động
khách) có visa từ một đến ba năm nhờ vào trình độ kỹ thuật cao của họ (như thợ
đóng tàu hay công nhân xây dựng cho thế vận hội Olympic Tokyo 2020). Song những
lao động ngoại quốc này rất khó để lấy được thẻ cư trú dài hạn hoặc quốc tịch
Nhật Bản.
Cuộc di dân đáng kể duy nhất đến Nhật Bản thời hiện đại là cuộc
di dân của vài triệu người Triều Tiên trước Thế chiến II, khi Triều Tiên còn là
thuộc địa của Nhật Bản. Tuy nhiên, phần lớn người Triều Tiên này nhập cư không
tự nguyện hoặc được nhập khẩu làm nô lệ lao động. Chẳng hạn, người ta ít biết rằng
10% số nạn nhân bị chết ở Hiroshima bởi quả bom nguyên tử đầu tiên là người lao
động Triều Tiên làm việc tại đây.
Một vài bộ trưởng Nhật Bản gần đây kêu gọi nhập cư nhiều hơn.
Như ông Shigeru Ishiba, bộ trưởng phụ trách các vấn đề địa phương, nói rằng,
“Xưa kia, người Nhật di cư đến nam và bắc Mỹ đã hòa nhập được với dân chúng địa
phương đồng thời vẫn duy trì niềm tự hào là người Nhật… Thật vô lý khi từ chối
người nước ngoài đến Nhật Bản trong khi người dân của chúng ta làm điều tương tự
ở nước ngoài.” Chẳng hạn, Peru đã có một tổng thống người Nhật,10 trong
khi Mỹ có các thượng nghị sĩ, thành viên Quốc hội và hiệu trưởng trường đại học
là người Nhật. Nhưng chính phủ Nhật hiện vẫn không xem xét lại chính sách phản
đối nhập cư.
Sự phản đối của chính phủ Nhật Bản phản ánh quan điểm tiêu cực
về nhập cư mà công dân Nhật thể hiện qua nhiều cuộc thăm dò dư luận, trong đó
thái độ của người Nhật tỏ ra khác biệt so với những nước giàu có khác. Tỉ lệ
người Nhật phản đối tăng lượng người nhập cư là 63%, 72% cho rằng nhập cư làm
tăng tỉ lệ tội phạm, 80% cho rằng người nhập cư không đem lại sự cải tiến xã hội
bằng ý tưởng mới, khác với 57-75% người Mỹ, Canada và Úc tin rằng người nhập cư
sẽ cải thiện xã hội. Trái lại, rất ít người Nhật (chỉ 0,5%) coi nhập cư là vấn
đề nghiêm trọng mà quốc gia đang đối mặt, trong khi con số này ở người Mỹ,
Pháp, Thụy Điển và Anh lên tới 15%.
Xin nói rõ: tôi không cho rằng sự phản đối nhập cư của người
Nhật là “sai lầm” và cần thay đổi. Ở mọi quốc gia, nhập cư tạo ra khó khăn đồng
thời mang lại lợi ích. Đây là vấn đề để mỗi quốc gia cân nhắc những lợi ích và
những khó khăn, để đi đến chính sách nhập cư của riêng họ. Không có gì ngạc
nhiên khi Nhật Bản, một quốc gia đồng nhất về dân tộc có lịch sử cô lập lâu dài
và không có người nhập cư, rất coi trọng tính đồng nhất dân tộc của họ, trong
khi Mỹ, một quốc gia đa chủng tộc với đa số công dân người nhập cư thì không
coi sự đồng nhất dân tộc là giá trị. Thay vào đó, thách thức nan giải của Nhật
Bản là họ phải chịu đựng những vấn đề được thừa nhận rộng rãi mà các quốc gia
khác giảm thiểu bằng cách nhập cư, nhưng Nhật Bản thì không tìm ra cách giải
quyết nào mà không cần phải nhập cư.
Vấn đề lớn nhất là vấn đề liên quan được thảo luận ở trên về
tỉ lệ sinh giảm, dân số già và gánh nặng kinh tế do ngày càng ít người lao động
trẻ khỏe nộp thuế để hỗ trợ cho quỹ hưu và chi phí chăm sóc y tế cho người hưu
trí ngày càng tăng đồng thời các vấn đề sức khỏe liên quan đến tuổi già cũng
tăng. Tuy Mỹ, Canada, Úc và Tây Âu cũng phải đương đầu với tỉ lệ sinh giảm và
già hóa dân số bản địa như Nhật nhưng những quốc gia này giảm thiểu hệ quả bằng
cách đón nhận số lượng lớn lao động nhập cư trẻ tuổi. Nhật Bản không thể bù đắp
lực lượng lao động đang suy giảm bằng cách thuê các bà mẹ học thức không có việc
làm, vì ở Nhật khó lòng có một lượng lớn phụ nữ nhập cư được thuê làm nhân viên
chăm sóc trẻ em tư nhân bởi rất nhiều bà mẹ làm việc như ở Mỹ. Ở Nhật cũng
không tồn tại một lượng lớn đàn ông và phụ nữ nhập cư làm công việc chăm sóc
người già, làm điều dưỡng và nhân viên bệnh viện như ở Mỹ.(Tôi viết những dòng
này trong khi đang hồi phục sau một trải nghiệm kinh hoàng về cái chết của một
người thân Nhật mắc bệnh nan y, gia đình bà được ủy thác lo ăn uống và giặt giũ
cho bà khi bà nằm viện.)
Mặc dù sự đổi mới diễn ra rất mạnh mẽ ở Nhật, bằng chứng là số
lượng lớn bằng sáng chế được trao cho các nhà phát minh Nhật, tuy nhiên người
Nhật vẫn lo lắng vì họ có ít những sáng tạo đột phá so với những gì mà người ta
mong đợi ở sự đầu tư lớn của nước này vào nghiên cứu và phát triển. Điều này được
phản ánh bằng số lượng giải Nobel khiêm tốn mà các nhà khoa học Nhật Bản được
trao tặng. Hầu hết những nhà khoa học Mỹ nhận giải Nobel là thế hệ nhập cư đầu
tiên hoặc là con cái của thế hệ này. Nhưng trong số các nhà khoa học Nhật Bản
cũng như trong xã hội Nhật Bản nói chung rất hiếm có người nhập cư và con cái của
họ. Mối tương quan giữa nhập cư và giải Nobel này thật dễ hiểu khi nó cho thấy
sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro và thử nghiệm một điều gì thực sự mới mẻ chính là
điều kiện tiên quyết cho cả việc di cư và đổi mới ở cấp độ cao nhất.
Về ngắn hạn, Nhật Bản không sẵn sàng giải quyết các vấn đề
này bằng nhập cư. Về lâu dài, không thể biết liệu người Nhật có tiếp tục chịu đựng
những vấn đề này không, hay thay vào đó họ chọn giải quyết bằng cách thay đổi
chính sách nhập cư, hoặc sẽ tìm ra giải pháp nào đó khác ngoài nhập cư. Nếu Nhật
Bản quyết định đánh giá lại vấn đề nhập cư, thì chính sách của Canada có thể là
mô hình hợp lý, trong đó chú trọng đánh giá người nộp đơn dựa trên cơ sở giá trị
tiềm năng mà người đó mang đến cho Canada.
Vấn đề tiếp theo mà Nhật Bản lờ đi, sau vấn đề nhập cư, chính
là hệ quả của thái độ của Nhật trong thời chiến đối với các nước Trung Quốc và
Triều Tiên đang ảnh hưởng tới mối quan hệ ngày nay giữa họ. Trước và trong Thế
chiến II, Nhật Bản từng làm những điều khủng khiếp đối với dân chúng ở các nước
châu Á khác, nhất là Trung Quốc và Triều Tiên. Rất lâu trước khi Nhật chính thức
tuyên bố chiến tranh vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật đã tiến hành một cuộc
chiến toàn diện không công khai đối với Trung Quốc kể từ năm 1937. Trong cuộc
chiến đó, quân đội Nhật đã giết chết hàng triệu người Trung Quốc, có hàng trăm
nghìn thường dân đã phải bỏ mạng ở Nam Kinh từ tháng 12 năm 1937 đến tháng 1
năm 1938, và nhiều người khác bị giết để trả thù cho cuộc không kích Doolittle
xảy ra hồi tháng 4 năm 1942. Mặc dù ngày nay Nhật ra sức phủ nhận những cuộc thảm
sát này, nhưng có nhiều tài liệu đã được dẫn ra. (Bạn có thể xem hơn 400 bức
hình trong tập sách của Shi Young và James Yin có tên The Rape of Nanking: An
Undeniable History in Photographs [Tội ác Nam Kinh: Lịch sử không thể bác bỏ
qua những bức ảnh], xuất bản năm 1999.) Nhật Bản thôn tính Triều Tiên vào năm
1910, bắt buộc trường học Triều Tiên sử dụng tiếng Nhật thay vì tiếng Hàn trong
35 năm Nhật chiếm đóng, cưỡng ép rất nhiều phụ nữ Triều Tiên và phụ nữ mang quốc
tịch khác trở thành nô lệ tình dục trong các nhà thổ cho lính Nhật, và buộc vô
số đàn ông Triều Tiên lao dịch không khác gì nô lệ cho quân đội Nhật.
Kết quả là làn sóng căm thù Nhật Bản lan rộng khắp Trung Quốc
và Triều Tiên ngày nay. Theo quan điểm của người Trung Quốc và Triều Tiên, Nhật
Bản không thừa nhận một cách thẳng thắn, không xin lỗi hoặc bày tỏ ân hận đối với
sự tàn bạo mà họ gây ra trong thời chiến. Dân số Trung Quốc đông gấp 11 lần Nhật
Bản, trong khi dân số của cả Triều Tiên và Hàn Quốc nhỉnh hơn nửa dân số Nhật.
Cả Trung Quốc và Triều Tiên đều có vũ khí hạt nhân. Trung Quốc, Triều Tiên và
Hàn Quốc đều có quân đội hùng mạnh, được trang bị tốt, trong khi lực lượng vũ
trang Nhật Bản vẫn rất mỏng vì hiến pháp Nhật bị Mỹ áp đặt, cộng với ngày nay,
chủ nghĩa hòa bình lan rộng tại Nhật Bản. Bắc Triều Tiên thỉnh thoảng lại phóng
tên lửa qua Nhật để chứng tỏ khả năng tiếp cận nước này. Nhật Bản lại còn đang
vướng mắc tranh chấp với Trung Quốc và Hàn Quốc về những hòn đảo nhỏ không có
người ở, không có giá trị nội tại nhưng quan trọng vì tài nguyên cá, khí đốt và
khoáng sản trong mỗi vùng biển đảo. Tôi cho rằng về lâu dài, sự kết hợp của những
thực tế này là mối nguy khôn lường cho Nhật Bản.
Dưới góc nhìn của người châu Á về quan điểm của Nhật Bản đối
với Thế chiến II, Lý Quang Diệu, một nhà quan sát sắc sảo, thủ tướng Singapore
trong nhiều thập niên, đã trở nên quen thuộc với Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc
và các nhà lãnh đạo của họ, nhận xét: “Không như Đức, người Nhật đã không tự phấn
chấn và tự loại bỏ chất độc ra khỏi hệ thống của họ. Họ không giáo dục giới trẻ
về sai lầm mà họ đã làm. Hashimoto [một thủ tướng Nhật Bản] đã bày tỏ ‘sự hối
tiếc sâu sắc nhất’ trong lễ kỷ niệm 52 năm kết thúc Thế chiến II (1997) và ‘sự
ân hận tự đáy lòng’ trong chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 9 năm 1997. Tuy nhiên,
ông không xin lỗi, như người Trung Quốc và Hàn Quốc mong muốn nhà lãnh đạo Nhật
Bản làm. Tôi không hiểu tại sao người Nhật không sẵn lòng thừa nhận quá khứ,
xin lỗi về nó và tiếp tục tiến lên. Vì một số lý do, họ không muốn xin lỗi. Xin
lỗi tức là thừa nhận đã làm sai. Nhưng bày tỏ sự ân hận hoặc hối tiếc chỉ đơn
thuần là bày tỏ cảm xúc chủ quan hiện tại của họ. Họ phủ nhận vụ thảm sát Nam
Kinh; phủ nhận những người phụ nữ Hàn Quốc, Philippines, Hà Lan và những người
phụ nữ khác đã bị bắt cóc hoặc bị ép buộc trở thành ‘phụ nữ giải khuây’ (một uyển
ngữ của nô lệ tình dục) cho binh lính Nhật Bản ở mặt trận chiến tranh; phủ nhận
đã thực hiện các thí nghiệm sinh học tàn khốc trên các tù nhân Trung Quốc, Hàn
Quốc, Mông Cổ, Nga và các tù nhân khác ở Mãn Châu. Đối với mỗi vụ việc, chỉ sau
khi không thể bác bỏ được bằng chứng từ hồ sơ của chính họ, họ mới miễn cưỡng
thừa nhận. Điều này làm dấy lên những nghi ngờ về ý đồ trong tương lai của Nhật
Bản. Thái độ hiện tại của Nhật Bản là một dấu hiệu cho thấy hành vi trong tương
lai của họ. Nếu họ xấu hổ về quá khứ, họ sẽ ít có khả năng lặp lại nó.”
Hằng năm, các lớp của tôi tại Đại học California ở Los
Angeles bao gồm các sinh viên đến từ Nhật Bản, nói chuyện với tôi về việc học ở
đó và về những trải nghiệm của họ khi đến California. Họ nói với tôi rằng các lớp
học lịch sử của họ ở các trường học Nhật Bản dành ít thời gian cho Thế chiến II
(“bởi vì cuộc chiến đó chỉ kéo dài vài năm trong hàng ngàn năm lịch sử Nhật Bản”),
kể rất ít hoặc không nói gì về vai trò kẻ xâm lược của Nhật Bản, nhấn mạnh vai
trò nạn nhân của Nhật Bản (của hai quả bom nguyên tử đã giết chết 120.000 người
Nhật) thay vì chịu trách nhiệm về cái chết của hàng triệu người khác cộng với
hàng triệu binh sĩ và thường dân Nhật Bản, và đổ lỗi cho Mỹ bằng cách nào đó đã
lừa Nhật Bản để phát động chiến tranh. (Nói một cách công bằng, sách giáo khoa
Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ cũng cho thấy quan điểm bị bóp méo của họ về Thế chiến
II.) Học sinh Nhật Bản của tôi bị sốc khi tham gia các hiệp hội châu Á ở Los
Angeles, gặp gỡ các học sinh Hàn Quốc và Trung Quốc, và lần đầu tiên được nghe
về những hành động thời chiến của Nhật Bản từ những sinh viên đến từ những quốc
gia khác, những hành động vẫn còn khơi dậy sự căm thù Nhật Bản.
Tuy nhiên, một số sinh viên Nhật Bản của tôi và nhiều người
Nhật Bản khác đã chỉ ra rất nhiều lời xin lỗi của các chính trị gia Nhật Bản,
và hỏi “Nhật Bản đã xin lỗi đủ chưa?” Một câu trả lời ngắn gọn là: chưa, bởi vì
những lời xin lỗi nghe có vẻ lạc lõng, thiếu thuyết phục và lập lờ với những
tuyên bố giảm thiểu hoặc chối bỏ trách nhiệm của Nhật Bản. Một câu trả lời dài
hơn là so sánh cách tiếp cận đối nghịch giữa Nhật Bản và Đức đối với các di sản
lịch sử gần đây của họ và hỏi tại sao cách tiếp cận của Đức lại thuyết phục được
kẻ thù trước đây trong khi cách tiếp cận của Nhật Bản không thuyết phục được nạn
nhân chính là Trung Quốc và Triều Tiên. Chương 6 đã mô tả nhiều cách thức mà
các nhà lãnh đạo Đức bày tỏ sự hối tiếc và trách nhiệm, và trong đó các học
sinh Đức được dạy để đối mặt với những gì đất nước họ đã làm. Người Trung Quốc
và Hàn Quốc có thể bị thuyết phục về sự chân thành của Nhật Bản nếu họ dùng những
câu trả lời tương tự như người Đức: chẳng hạn, nếu thủ tướng Nhật đến Nam Kinh,
quỳ gối trước nhân dân Trung Quốc và xin lỗi vì những cuộc thảm sát mà Nhật đã
gây ra ở Nam Kinh thời chiến tranh; nếu trên khắp Nhật Bản có các bảo tàng, di
tích và trại tù binh cũ với hình ảnh và lời giải thích chi tiết về sự tàn bạo của
thời chiến; nếu học sinh Nhật Bản thường xuyên được đưa đi học ở những địa điểm
như vậy ở Nhật Bản và đến các địa điểm bên ngoài Nhật Bản như Nam Kinh,
Sandakan, Bataan và Saipan; và nếu Nhật Bản nỗ lực nhiều hơn để mô tả các nạn
nhân của họ trong thời chiến thay vì mô tả các nạn nhân người Nhật trong chiến
tranh. Tất cả những hành động này không tồn tại và không thể tưởng tượng được ở
Nhật Bản, nhưng chúng lại được thực hiện rộng rãi ở Đức. Trước khi được tiến
hành tại Nhật Bản, người Trung Quốc và Triều Tiên vẫn sẽ tiếp tục không tin lời
xin lỗi theo kịch bản của Nhật Bản và căm ghét Nhật Bản. Và chừng nào Trung Quốc
và Triều Tiên được trang bị vũ khí trong khi Nhật Bản vẫn không có phương tiện
để tự vệ, thì một mối nguy lớn vẫn sẽ tiếp tục treo trên đầu Nhật Bản.
Để tồn tại, tất cả các dân tộc đều phụ thuộc vào tài nguyên
thiên nhiên tái tạo, bao gồm cây cối, cá, lớp đất mặt, nước sạch và không khí sạch.
Tất cả những tài nguyên đó đặt ra nhiều vấn đề về quản lý mà các nhà khoa học
đã có quá nhiều kinh nghiệm. Nếu các khu rừng và nghề đánh bắt cá trên thế giới
được quản lý một cách tốt nhất theo khuyến nghị, thì ta có thể thu hoạch lâm sản
và thủy sản lâu dài, với số lượng đủ để đáp ứng nhu cầu của dân số thế giới hiện
tại. Đáng buồn thay, việc thu hoạch thực tế vẫn mang tính phá hủy và không bền
vững. Hầu hết các khu rừng trên thế giới đang bị thu hẹp và hầu hết nghề đánh bắt
cá đang suy giảm hoặc đã sụp đổ. Nhưng không quốc gia nào có thể tự túc mọi nguồn
tài nguyên thiên nhiên; tất cả các nước phải nhập khẩu ít nhất một số tài
nguyên. Do đó ở hầu hết các quốc gia đều có các cơ quan chính phủ, chi nhánh của
các tổ chức môi trường quốc tế (như Quỹ Động vật hoang dã Thế giới và Bảo tồn
Quốc tế) và các tổ chức môi trường địa phương đang nỗ lực để giải quyết những vấn
đề này.
Những thách thức này đặc biệt nghiêm trọng đối với Nhật Bản.
Trước năm 1853, khi Nhật Bản đóng cửa với thế giới bên ngoài và nhập khẩu không
đáng kể, thì họ vẫn tự cung tự cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên. Buộc phải phụ
thuộc vào các khu rừng của chính mình và bị báo động bởi sự suy giảm của chúng
vào những năm 1600, Nhật Bản đã phát triển các phương pháp lâm nghiệp khoa học
độc lập với Đức và Thụy Sĩ, để quản lý các khu rừng của mình. Ngày nay, do sự
bùng nổ dân số của Nhật Bản kể từ năm 1853, mức sống và mức tiêu thụ tăng cao,
dân số đông đúc trong một khu vực nhỏ và cần nguyên liệu thô cần thiết cho nền
kinh tế công nghiệp hiện đại, Nhật Bản đã trở thành một trong những nhà nhập khẩu
tài nguyên thiên nhiên lớn nhất thế giới. Trong số các tài nguyên không tái tạo,
hầu hết mọi nhu cầu của Nhật Bản về dầu, khí đốt tự nhiên, niken, nhôm, nitrat,
kali, và phốt phát, và hầu hết các nhu cầu về sắt, than và đồng đều phải được
nhập khẩu. Trong số các tài nguyên thiên nhiên tái tạo, Nhật Bản được xếp hạng
là nhà nhập khẩu hàng đầu thế giới hoặc thứ hai hoặc thứ ba về hải sản, gỗ
tròn, gỗ dán, gỗ cứng nhiệt đới, vật liệu giấy và bột giấy.
Đó là một danh sách dài các tài nguyên thiết yếu mà Nhật Bản
phụ thuộc vào nhập khẩu. Khi bất kỳ tài nguyên nào trong số này trở nên cạn kiệt
trên toàn thế giới, Nhật Bản sẽ là quốc gia đầu tiên hoặc là một trong những quốc
gia đầu tiên gánh chịu hậu quả. Nhật Bản cũng là quốc gia lớn phụ thuộc nhiều
nhất vào thực phẩm nhập khẩu để nuôi sống công dân. Nhật Bản ngày nay có tỉ lệ
cao nhất (hệ số 20) về nhập khẩu nông sản so với xuất khẩu nông sản giữa các nước
lớn. Hàn Quốc xếp thứ nhì với hệ số 6, trong khi Mỹ, Brazil, Ấn Độ, Úc và khá
nhiều quốc gia lớn khác lại là các nhà xuất khẩu thực phẩm thuần túy.
Do đó, người Nhật có lý do chính đáng để xem đất nước họ
nghèo tài nguyên. Và cũng vì vậy, người ta kỳ vọng rằng Nhật Bản, trong vai trò
quốc gia phát triển với sự phụ thuộc lớn nhất vào nhập khẩu tài nguyên, sẽ được
thúc đẩy bởi lợi ích để trở thành nhà quảng bá hàng đầu thế giới về khai thác
tài nguyên bền vững. Nhất là, Nhật Bản phải sử dụng chính sách hợp lý để đi đầu
trong việc khai thác bền vững các nghề cá và rừng trên thế giới mà Nhật Bản vốn
bị phụ thuộc.
Nghịch lý thay, điều ngược lại đang diễn ra. Là giám đốc của
Quỹ Động vật hoang dã Thế giới ở Mỹ và Tổ chức Bảo tồn Quốc tế, tôi được nghe
nhiều về các chính sách quốc gia về quản lý tài nguyên mà hai tổ chức này giải
quyết. Tôi cũng được nghe rất nhiều về các chính sách của Nhật Bản nói riêng, từ
bạn bè và đồng nghiệp Nhật Bản. Nhật Bản dường như là quốc gia phát triển với sự
hỗ trợ ít nhất và sự phản đối mạnh mẽ nhất đối với các chính sách tài nguyên bền
vững ở nước ngoài. Lượng nhập khẩu lâm sản Nhật Bản có nguồn gốc bất hợp pháp
và không được khai thác bền vững cao hơn nhiều so với các quốc gia thuộc Liên
minh Châu Âu hoặc Mỹ, cho dù tính theo đầu người hoặc tính theo tỉ lệ phần trăm
của tổng nhập khẩu lâm sản. Nhật Bản là quốc gia tiên phong trong việc chống lại
quy định thận trọng trong đánh bắt cá đại dương và cá voi. Sau đây là hai ví dụ.
Ví dụ đầu tiên của tôi liên quan đến cá ngừ vây xanh Đại Tây
Dương và Địa Trung Hải, đặc biệt được đánh giá cao và tiêu thụ ở Nhật Bản dưới
dạng sashimi hoặc sushi. Một con cá ngừ lớn nhập khẩu gần đây được bán ở Nhật Bản
với mức giá hơn 1.000.000 đô la. Những con cá ngừ này đang suy giảm mạnh do bị
đánh bắt quá mức, và điều đó kích thích các nỗ lực bảo tồn nguồn tài nguyên quý
giá này bằng cách đồng ý đánh bắt bền vững và áp dụng hạn ngạch đánh bắt cá. Thật
đáng kinh ngạc, khi nguồn cá ngừ đó được đề xuất trong danh sách bảo vệ quốc tế
năm 2010 (được gọi là danh sách CITES), Nhật Bản lại không phải là quốc gia khởi
xướng. Thay vào đó, Nhật Bản xem việc ngăn chặn thành công đề xuất này là một
chiến thắng ngoại giao.
Ví dụ thứ hai của tôi là Nhật Bản ngày nay là quốc gia săn bắt
cá voi hàng đầu và liên tục nhất. Ủy ban Cá voi Quốc tế xác định hạn ngạch săn
cá voi. Hằng năm, Nhật Bản hợp pháp hóa hạn ngạch đó bằng cách giết một số lượng
lớn cá voi cho mục đích nghiên cứu, sau đó xuất bản ít hoặc không có nghiên cứu
nào về những con cá voi đã chết và thay vào đó là bán chúng để lấy thịt. Tuy
nhiên, nhu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản đối với thịt cá voi là thấp và đang
giảm, và thịt cá voi bị lãng phí thành thức ăn cho chó và phân bón hơn là cho
con người. Duy trì việc săn bắt cá voi là một thiệt hại kinh tế đối với Nhật Bản,
bởi vì ngành đánh bắt cá voi của nước này được chính phủ trợ cấp rất nhiều theo
nhiều cách: trợ cấp trực tiếp cho chính các tàu săn cá voi; chi phí bổ sung cho
nhiều tàu hộ tống và bảo vệ các tàu săn cá voi; và các chi phí tiềm ẩn của cái
gọi là viện trợ nước ngoài trả cho các quốc gia không săn bắt cá voi nhưng là
thành viên của Ủy ban Cá voi Quốc tế, như một khoản hối lộ để đổi lấy phiếu bầu
ủng hộ săn bắt cá voi của họ.
Tại sao Nhật Bản theo đuổi những lập trường này? Những người
bạn Nhật của tôi đã đưa ra ba lời giải thích. Đầu tiên, người dân Nhật Bản trân
trọng hình ảnh sống hòa hợp với thiên nhiên và theo truyền thống họ quản lý rừng
của mình một cách bền vững – nhưng không phải là rừng và cá ở nước ngoài mà hiện
tại họ khai thác. Thứ hai, niềm tự hào dân tộc Nhật Bản không thích cúi đầu trước
áp lực quốc tế. Nhật Bản đặc biệt không muốn bị coi là nhượng bộ trong các chiến
dịch chống săn bắt cá voi của tổ chức Hòa bình Xanh và Sea Shepherd, và trước
áp lực quốc tế trong việc điều tiết ngành săn cá ngừ vây xanh. Người ta có thể
mô tả Nhật Bản là kẻ chống lệnh cấm săn cá voi, chứ không phải là kẻ săn cá
voi. Cuối cùng, nhận thức về tài nguyên nội địa hạn chế của Nhật Bản đã khiến họ
trong 140 năm qua phải duy trì, vì cốt lõi của an ninh quốc gia và vì yếu tố
then chốt trong chính sách đối ngoại của nước này, tuyên bố quyền khai thác
không hạn chế tài nguyên thiên nhiên thế giới. Mặc dù sự khăng khăng đó là một
chính sách khả thi trong quá khứ khi tài nguyên thế giới dư thừa, nhưng khi nguồn
cung vượt quá nhu cầu, chính sách này không còn khả thi trong thời đại ngày nay
bởi nguồn tài nguyên đang suy giảm.
Đối với một người ngoài cuộc ngưỡng mộ Nhật Bản như tôi, sự
phản đối của họ trước việc sử dụng bền vững tài nguyên ở nước ngoài là điều
đáng buồn và tự hủy hoại. Nỗ lực giành lấy các nguồn tài nguyên ở nước ngoài đã
thúc đẩy Nhật Bản thực hiện hành vi tự hủy hoại một lần trước đây, khi họ gây
chiến đồng thời với Trung Quốc, Mỹ, Anh, Úc, New Zealand và Hà Lan. Thất bại
sau đó là không thể tránh khỏi. Bây giờ cũng vậy, thất bại một lần nữa là không
thể tránh khỏi – không phải bởi sự chinh phục quân sự, mà là sự cạn kiệt tài
nguyên thiên nhiên có thể tái tạo và không tái tạo ở nước ngoài. Nếu tôi là nhà
độc tài xấu xa của một quốc gia ghét Nhật Bản và muốn hủy hoại nó mà không cần
phải dùng đến chiến tranh, tôi sẽ làm chính xác những gì Nhật Bản đang làm với
chính mình: tôi sẽ phá hủy các tài nguyên ở nước ngoài mà Nhật Bản phụ thuộc.
Cuối cùng, hãy xem xét tương lai nào dành cho Nhật Bản dưới
ánh sáng của 12 nhân tố dự đoán của chúng ta. Nếu coi đó là một bài tập học thuật
đơn thuần, chúng ta chỉ có thể hỏi liệu với các nhân tố dự đoán như vậy, Nhật Bản
có khả năng thành công trong việc giải quyết các vấn đề hiện tại hay không. Hữu
ích hơn, chúng ta có thể đề xuất phương cách mà người Nhật có thể sử dụng các yếu
tố này để nghĩ ra giải pháp và vượt qua một số trở ngại mà hiện tại họ đang tạo
ra cho chính mình.
Một nguyên nhân cho sự lạc quan là Nhật Bản luôn thành công
trong việc giải quyết các biến cố (nhân tố số 8 trong Bảng 1.2). Hai lần trong
thời hiện đại, Nhật Bản đã cho thấy những câu chuyện thành công nổi bật của quốc
gia về việc đánh giá lại và thay đổi có chọn lọc. Những thay đổi mạnh mẽ nhất
xuất hiện cùng Minh Trị Duy Tân bắt đầu vào năm 1868. Việc hạm đội của Phó đề đốc
Perry bắt buộc Nhật Bản mở cửa vào năm 1853 đã làm dấy lên nỗi ám ảnh rằng Nhật
Bản, giống như rất nhiều quốc gia ngoài châu Âu khác, có thể bị các cường quốc
phương Tây xâm chiếm. Nhật Bản đã tự cứu mình bằng một chương trình thay đổi có
chọn lọc. Họ vứt bỏ sự cô lập quốc tế, vứt bỏ chính phủ do một shogun điều
hành, tầng lớp samurai và hệ thống phong kiến. Họ đã thông qua một hiến pháp, nội
các chính phủ, quân đội quốc gia, công nghiệp hóa, hệ thống ngân hàng kiểu châu
Âu, hệ thống trường học mới, và nhiều quần áo, thực phẩm và âm nhạc phương Tây.
Đồng thời, họ giữ lại hoàng đế, ngôn ngữ, hệ thống chữ viết và hầu hết văn hóa.
Nhật Bản do đó không chỉ giữ được độc lập mà còn trở thành quốc gia ngoài
phương Tây đầu tiên cạnh tranh với phương Tây về sự giàu có và quyền lực. Một lần
nữa, sau Thế chiến II, Nhật Bản đã có những thay đổi có chọn lọc mạnh mẽ hơn, vứt
bỏ truyền thống quân sự và niềm tin vào hoàng đế, họ áp dụng nền dân chủ và hiến
pháp mới, và phát triển hoặc vực dậy nền kinh tế xuất khẩu.
Một nguyên nhân lớn khác cho sự lạc quan là dấu vết lịch sử
cho thấy sự kiên nhẫn và khả năng phục hồi sau thất bại và thua trận (nhân tố số
9) của Nhật Bản, như lời thừa nhận của Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, người
có lời chỉ trích Nhật Bản trong phần trước: “Bất chấp những trải nghiệm của tôi
trong thời kỳ Nhật chiếm đóng và những tính cách Nhật từng khiến tôi sợ hãi, giờ
đây tôi tôn trọng và ngưỡng mộ họ. Sự đoàn kết, kỷ luật, thông minh, cần cù và
sẵn sàng hi sinh vì dân tộc của họ khiến họ trở thành một lực lượng sản xuất mạnh
mẽ. Ý thức được sự nghèo nàn về tài nguyên, họ tiếp tục nỗ lực để đạt được điều
không thể đạt được. Vì giá trị văn hóa của họ, họ sẽ là những người sống sót cô
đơn sau bất kỳ thảm họa nào. Thỉnh thoảng họ bị tấn công bởi các thế lực không
thể đoán trước của thiên nhiên – động đất, bão và sóng thần. Họ thu nhặt thương
vong, tự đứng dậy và xây dựng lại… Tôi đã rất ngạc nhiên thấy cuộc sống trở lại
bình thường ở Kobe khi tôi đến thăm vào tháng 11 năm 1996, một năm rưỡi sau trận
động đất [kinh hoàng]. Họ đã vượt qua thảm họa này trong chốc lát và ổn định nếp
sống mới.”
Các nhân tố khác trong danh sách các ưu thế của Nhật Bản là sự
tự do lựa chọn mà Nhật Bản có được khi là một quần đảo không có hàng xóm chung
biên giới đất liền (nhân tố số 12), được bù đắp bởi sự gần gũi với Trung Quốc
và Hàn Quốc; căn tính quốc gia, niềm tự hào và sự gắn kết mạnh mẽ (nhân tố số
6); sự hỗ trợ thân thiện hoặc ít nhất là sự trung lập nhân từ mà Nhật Bản nhận
được từ nhiều đối tác thương mại khác ngoài Trung Quốc và Hàn Quốc (nhân tố số
4); và các mô hình sẵn có mà các quốc gia khác đưa ra để giải quyết một số vấn
đề chính của Nhật Bản nếu họ chọn sử dụng các mô hình đó (nhân tố số 5: xem đoạn
sau). Ưu thế lớn hơn nữa của Nhật Bản là sức mạnh kinh tế, nhân lực, văn hóa và
môi trường như đã được thảo luận trong những trang đầu tiên của chương này.
Bù lại những ưu thế này là ba yếu tố trong danh sách của tôi.
Tôi đề cập đến chúng không phải để thúc đẩy sự bi quan, mà để tập trung chú ý
vào thái độ mà Nhật Bản sẽ phải thay đổi nếu họ muốn giải quyết các vấn đề hiện
tại. Giá trị cốt lõi truyền thống chính là một trở ngại vì hiện nó đã trở nên
không phù hợp do hoàn cảnh thay đổi (nhân tố số 11): Nhật Bản tiếp tục nỗ lực để
bảo đảm quyền khai thác không hạn chế tài nguyên thiên nhiên như thể chúng là
siêu dư thừa, thay vì nỗ lực hợp tác quốc tế để khai thác chừng mực một cách bền
vững. Một trở ngại khác là câu chuyện của Nhật Bản về Thế chiến II tập trung
vào sự tự thương thân và xem họ là nạn nhân, thay vì chấp nhận trách nhiệm của
Nhật Bản đối với chiến tranh và các hành động của họ (nhân tố số 2). Trong
chính sách quốc gia cũng như trong cuộc sống cá nhân, vấn đề sẽ không thể giải
quyết nếu người ta vẫn phủ nhận trách nhiệm của chính mình. Nhật Bản sẽ phải
noi theo tấm gương của Đức về việc thừa nhận trách nhiệm, nếu Nhật Bản muốn cải
thiện mối quan hệ với Trung Quốc và Triều Tiên.
Trở ngại còn lại, theo tôi, chính là thiếu việc tự đánh giá
trung thực, mang tính thực tế trong một số lĩnh vực chính (nhân tố số 7). Hai
ví dụ chúng ta vừa đề cập liên quan đến nhập khẩu tài nguyên và câu chuyện về
Thế chiến II. Một ví dụ khác là niềm tin sai lệch của Nhật Bản vào sự tối quan
trọng của việc ngăn chặn sự suy giảm dân số. Tuy việc giảm từ 127 triệu xuống
còn 20 triệu người sẽ thực sự gây ra vấn đề, nhưng tôi thấy không có bất lợi
nào trong việc giảm xuống còn 80 triệu, mà thay vào đó là một ưu thế rất lớn: cụ
thể là giảm sự thèm khát của Nhật Bản đối với tài nguyên nhập khẩu, điều đã ám ảnh
lịch sử Nhật Bản hiện đại. Nhật Bản rất hùng mạnh vì có nhiều ưu thế như đã nêu
ở phần đầu của chương này, chứ không phải vì dân số Nhật Bản hiện tại là 127
triệu, bằng Mexico, cao hơn 80 triệu của Đức.
Còn một lĩnh vực cần phải được tự đánh giá là nhập cư. Đó là
phương pháp mà nhiều quốc gia sử dụng để giải quyết các vấn đề vốn được Nhật Bản
coi là nghiêm trọng: đặc biệt, khi tỉ lệ lao động trẻ so với người nghỉ hưu lớn
tuổi đang giảm, chăm sóc trẻ em không có nhiều lựa chọn và không đủ người chăm
sóc cho người già. Một lựa chọn là Nhật Bản nên xem xét nhập cư theo mô hình rất
thành công của Canada, hoặc dựa trên kinh nghiệm của những người di cư Nhật Bản
đến Mỹ và Nam Mỹ. Một lựa chọn thay thế là Nhật Bản tiếp tục nói không với nhập
cư và thay vào đó áp dụng một số thay đổi rõ ràng: ví dụ: mở rộng lực lượng lao
động bản địa Nhật Bản bằng cách loại bỏ những trở ngại khiến phụ nữ không tham
gia lực lượng lao động, và tăng số lượng thị thực có thời hạn được cấp cho nhân
viên nước ngoài để làm việc chăm sóc trẻ em, điều dưỡng và chăm sóc người già.
Không có bí mật nào về những giải pháp khả thi này, mỗi giải pháp đều có những
ưu điểm và nhược điểm riêng. Những gì cần thiết là mạnh mẽ chịu cuộc đại phẫu,
tìm kiếm đồng thuận về một giải pháp và tránh tình trạng tê liệt hiện tại tiếp
diễn.
Làm thế nào Nhật Bản đối diện với những thách thức trong thập
niên tới? Trên thực tế, những vấn đề mà Nhật Bản hiện đang gặp phải ít ghê gớm
hơn những vấn đề mà họ từng đối mặt khi chính sách cô lập lâu dài của họ đột ngột
kết thúc vào năm 1853, hoặc khi Nhật Bản hoàn toàn bại trận vào tháng 8 năm
1945. Nhật Bản từng phục hồi mạnh mẽ sau những chấn thương đó, nên tôi hi vọng
rằng ngày nay, một lần nữa, Nhật Bản có thể đánh giá lại một cách có chọn lọc
các giá trị cốt lõi của mình, loại bỏ những giá trị không còn ý nghĩa, giữ lại
những giá trị vẫn còn ý nghĩa và kết hợp chúng với một số giá trị mới thích ứng
với sự biến động của hoàn cảnh hiện đại.
Phần 3: Các quốc gia và thế giới - Biến cố đang xảy ra
Chương 9: Nước Mỹ đang đối mặt với điều gì? Sức mạnh cùng vấn nạn lớn nhất
Nước Mỹ ngày nay – Sự thịnh vượng – Địa lý – Ưu thế của thể
chế dân chủ – Những ưu thế khác – Phân cực chính trị – Tại sao? – Phân cực khácTrong bốn chương tiếp theo, chúng ta thực sự sẽ thảo luận về các biến cố có vẻ đang diễn ra, mà chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết liệu chúng có thực sự trở thành biến cố lớn hay không và hệ quả vẫn còn bất định. Nhưng chương này liên quan đến Nhật Bản đương đại, Mỹ và toàn thế giới.
Tương tự như đã nói về các biến cố trước đây bao gồm cả Nhật Bản thời Minh Trị, chúng ta hãy bắt đầu thảo luận về các biến cố hiện tại có thể xảy ra với Nhật. (Trong chương này, tôi sẽ chỉ xem xét các vấn đề cụ thể đối với Nhật, nhưng Nhật dĩ nhiên cũng phải đương đầu với các vấn đề thế giới mà tôi sẽ mổ xẻ trong chương 11.) Bạn bè và người thân Nhật Bản của tôi cùng người Nhật nói chung thừa nhận một số vấn đề quốc gia khiến họ lo lắng. Có những vấn đề khác khiến tôi lo lắng về Nhật Bản, nhưng bản thân người Nhật có xu hướng bác bỏ hoặc lờ đi. Nhưng có quá nhiều cuộc tranh luận về Nhật Bản đã đi đến mức công kích cực đoan hoặc trái lại, sùng bái cực đoan. Vì vậy, hãy mở đầu cuộc thảo luận của chúng ta về các vấn đề của Nhật Bản hiện đại bằng cách điểm qua các điểm mạnh của họ. Chúng ta sẽ thấy rằng, đối với Nhật cũng như nhiều quốc gia khác, một số điểm mạnh lại liên quan đến các vấn đề của nó. Các điểm mạnh mà tôi sẽ đề cập liên quan đến kinh tế Nhật Bản, vốn nhân lực, văn hóa và môi trường.
Ngày nay, Nhật là cường quốc kinh tế thứ ba thế giới, chỉ vừa mới bị Trung Quốc vượt mặt. Nhật Bản chiếm khoảng 8% sản lượng kinh tế thế giới, gần bằng một nửa sản lượng của nền kinh tế hàng đầu (Mỹ), và gấp đôi sản lượng của Anh, một quốc gia nổi tiếng năng suất khác. Nói chung, tổng sản lượng kinh tế quốc gia dựa vào hai con số: dân số trong một quốc gia, nhân với sản lượng trung bình tính theo đầu người. Sản lượng quốc gia Nhật Bản cao vì hai lý do: Nhật Bản có dân số đông (chỉ đứng thứ hai sau Mỹ trong số những nền dân chủ giàu có) và sản lượng trung bình tính theo đầu người cao.
Trong khi nợ trong nước của Nhật thu hút rất nhiều quan tâm (sẽ nói ở đoạn sau), Nhật Bản vẫn là quốc gia cho vay hàng đầu thế giới. Nhật có dự trữ ngoại hối cao thứ hai thế giới và cạnh tranh với Trung Quốc, chủ nợ lớn nhất của Mỹ.
Một yếu tố quan trọng đằng sau sức mạnh kinh tế chính là chi tiêu khủng khiếp của Nhật Bản cho nghiên cứu và phát triển để thúc đẩy đổi mới. Nhật Bản là nước đứng thứ ba thế giới về đầu tư thường niên tuyệt đối vào nghiên cứu và phát triển, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ dù dân số ít hơn hai nước này nhiều. Cụ thể, tỉ lệ GDP mà Nhật Bản đầu tư cho nghiên cứu và phát triển là 3,5 %, gần gấp đôi Mỹ (chỉ 1,8%) và vẫn cao hơn rất nhiều so với hai quốc gia khác nổi tiếng vì đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là Đức (2,9%) và Trung Quốc (2,0%).
Hằng năm, Diễn đàn Kinh tế Thế giới báo cáo cho các quốc gia một con số gọi là Chỉ số Năng lực cạnh tranh Toàn cầu, chỉ số này tích hợp một tá số liệu ảnh hưởng tới năng suất kinh tế của một quốc gia. Trong nhiều năm liên tục Nhật Bản luôn nằm trong số mười quốc gia hàng đầu thế giới dựa vào chỉ số trên; Nhật Bản, Singapore và Hong Kong (Trung Quốc) là ba nền kinh tế duy nhất ngoài châu Âu và Mỹ lọt vào bảng xếp hạng này. Những nguyên nhân quyết định thứ hạng cao của Nhật bao gồm hai nguyên nhân rõ ràng liên quan đến du khách: cơ sở hạ tầng và mạng lưới giao thông tuyệt vời của Nhật, như đường sắt tốt nhất thế giới chẳng hạn; và lực lượng lao động được giáo dục tốt, đặc biệt thành thạo trong toán học và khoa học (sẽ bàn thêm ở phần sau). Những lý do khác trong danh sách không rõ rệt bằng nhưng vẫn quen thuộc đối với người ngoại quốc đang làm ăn với Nhật Bản. Các lý do này bao gồm: kiểm soát lạm phát; hợp tác lao động/quan hệ lao động; thị trường trong nước cạnh tranh cao; các viện nghiên cứu chất lượng cao đào tạo rất nhiều nhà khoa học và kỹ sư; thị trường nội địa lớn; tỉ lệ thất nghiệp thấp; số bằng sáng chế tính theo đầu người mỗi năm cao hơn bất kỳ quốc gia nào khác; bảo vệ quyền sở hữu và sở hữu trí tuệ; tiếp thu công nghệ nhanh chóng; khách hàng và chủ doanh nghiệp sành sỏi; và nhân viên kinh doanh được đào tạo tốt. Tôi hứa sẽ không đưa ra câu đố về danh sách dài ngoằng này, nhưng thông điệp rút ra thật rõ ràng: có rất nhiều lý do khiến các doanh nghiệp Nhật Bản có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.
Cuối cùng, đừng quên một nét đặc trưng của nền kinh tế Nhật Bản đang mang lại lợi nhuận tài chính khổng lồ và cũng có thể gây ra rắc rối trong tương lai. Hai quốc gia duy nhất có nền kinh tế vượt trội Nhật Bản là Mỹ và Trung Quốc, nhưng họ đổ một phần lớn ngân sách vào quân phí. Nhật Bản không tốn khoản phí này, nhờ một điều khoản của hiến pháp năm 1947 do Mỹ áp đặt (nay được đông đảo người dân Nhật Bản tán thành) quy định cắt giảm lực lượng vũ trang Nhật Bản xuống tối thiểu.
Thế mạnh thứ hai của Nhật Bản bên cạnh những thế mạnh về kinh tế, chính là “vốn nhân lực,” hay nói cách khác, là thế mạnh của dân số. Dân số nước này hơn 120 triệu, con người khỏe mạnh và học thức cao. Tuổi thọ của người Nhật cao nhất thế giới: đàn ông là 80 tuổi, phụ nữ là 85 tuổi. Sự bất bình đẳng kinh tế-xã hội vốn làm hạn chế cơ hội của một bộ phận lớn người Mỹ lại đang giảm mạnh ở Nhật: Nhật là quốc gia đứng thứ ba thế giới về bình đẳng trong phân phối thu nhập, chỉ sau Đan Mạch và Thụy Điển. Đó là một phần kết quả của chính sách giáo dục của chính phủ Nhật Bản: trường học ở những vùng khó khăn về kinh tế xã hội có lớp học nhỏ hơn (tỉ lệ giáo viên-học sinh cao hơn) so với những trường học trong vùng giàu có, do vậy, tạo điều kiện dễ dàng cho con em các gia đình nghèo đuổi kịp. (Trái lại, hệ thống giáo dục của Mỹ có xu hướng duy trì sự bất bình đẳng bằng cách nhồi nhét nhiều học sinh hơn vào các lớp học ở khu vực nghèo khó.) Địa vị xã hội ở Nhật Bản phụ thuộc vào giáo dục hơn là vào sự kế thừa và quan hệ gia đình: một lần nữa, nó lại trái ngược với xu thế ở Mỹ. Nói tóm lại, thay vì đầu tư mất cân xứng vào một bộ phận dân chúng thì Nhật Bản đầu tư đồng đều vào tất cả họ – hay chí ít, tất cả công dân nam giới. (Tôi sẽ nói về phụ nữ Nhật sau.)
Tỉ lệ biết chữ và trình độ học vấn ở Nhật Bản gần cao nhất thế giới. Mẫu giáo và trung học phổ thông ở Nhật là hai cấp học gần như được phổ cập nhưng không bắt buộc. Việc kiểm tra sinh viên ở các quốc gia trên thế giới cho thấy sinh viên Nhật Bản xếp thứ tư thế giới về kiến thức toán học và khoa học, trên tất cả các nước châu Âu và Mỹ. Nhật Bản chỉ đứng sau Canada về tỉ lệ người trưởng thành – gần 50% – tiếp tục lên đại học sau khi tốt nghiệp trung học. Song song với những thế mạnh của nền giáo dục là những chỉ trích thường của chính người Nhật Bản, rằng nền giáo dục đó gây quá nhiều áp lực cho học sinh bằng việc chỉ chú tâm vào điểm số mà không quan thiết tới động lực bản thân và khả năng suy nghĩ độc lập. Kết quả là, một khi sinh viên Nhật Bản thoát khỏi môi trường áp lực ở trung học và lên đến đại học, tự nhiên hứng thú học tập của họ giảm dần.
Mặc dù không dễ để ước lượng thế mạnh văn hóa, căn tính quốc gia, và chất lượng cuộc sống, nhưng có rất nhiều bằng chứng mang tính giai thoại về những đặc điểm này ở Nhật. Như khách ngoại quốc đến Nhật có thể nhanh chóng nhận ra, thủ đô Tokyo cạnh tranh với Singapore để là thành phố sạch nhất châu Á, và là một trong những nơi sạch nhất thế giới. Đó là vì trẻ em Nhật học cách sạch sẽ và dọn dẹp, như một phần trách nhiệm của chúng là giữ gìn Nhật Bản và trao lại đất nước cho thế hệ tiếp theo. (Các văn bản thông dịch tại các địa điểm khảo cổ Nhật đôi khi trưng ra một cách tự hào bằng chứng về sự sạch sẽ của người Nhật đã có từ thời cổ đại.) Khách tham quan cũng nhận thấy sự an toàn và tỉ lệ tội phạm thấp tại các thành phố Nhật Bản. Tỉ lệ ngồi tù của Nhật Bản nhỏ hơn rất nhiều so với Mỹ: tương ứng là 80.000 người so với gần 2,5 triệu người. Bạo loạn và cướp bóc là rất hiếm ở Nhật. Căng thẳng sắc tộc thấp hơn nhiều so với ở Mỹ và châu Âu, bởi lẽ ở Nhật có sự đồng nhất về sắc dân và chỉ có một số rất ít dân tộc thiểu số. (Đây cũng là một ví dụ khác của một ưu thế mang theo nhiều bất lợi, sẽ được trình bày sau.)
Cuối cùng, thế mạnh của Nhật Bản lại nằm ở những ưu thế to lớn về tự nhiên. Sản lượng nông nghiệp Nhật Bản cao là nhờ sự kết hợp giữa khí hậu ôn hòa, không có sâu bọ của nền nông nghiệp nhiệt đới, mưa lớn tập trung vào mùa hè – mùa cây cối phát triển, và đất núi lửa màu mỡ. Điều này góp phần vào khả năng hỗ trợ một trong những nền công nghiệp có mật độ dân số cao nhất thế giới, trong khi dân chúng và nền nông nghiệp chỉ tập trung ở một tỉ lệ khiêm tốn (12%) diện tích. (Đa số diện tích nước Nhật chủ yếu là đồi núi và rừng cây, chỉ cho phép một lượng nhỏ dân cư tổ chức canh tác nhỏ lẻ.) Chất dinh dưỡng từ đất đai màu mỡ khiến cho sông suối và bờ biển Nhật Bản rất giàu tôm cá, rong biển và nhiều hải sản khác. Nhật Bản đứng thứ sáu trên thế giới về đánh bắt hải sản, trước đây họ chỉ đánh bắt ven biển Nhật Bản nhưng bây giờ đã được tổ chức thành nhiều đội tàu đánh cá Nhật Bản đi khắp các đại dương. Với sự ưu ái về tự nhiên như vậy, Nhật Bản đã là một xứ phi thường trong thời cổ đại, bởi ít nhất là 10.000 năm trước thời kỳ trồng trọt, những người săn bắt-hái lượm Nhật Bản đã lập làng và làm gốm, thay vì sống đời du mục với số tài sản vật chất ít ỏi. Trước khi dân số Nhật Bản bùng nổ trong vòng nửa cuối thế kỷ trước, Nhật Bản đã tự cung cấp đủ lương thực.
Bây giờ hãy nói về trở ngại, khó khăn của đất nước này. Khi được yêu cầu chỉ ra vấn đề nghiêm trọng nhất của Nhật Bản, các nhà kinh tế học thường trả lời, “Đó là khoản nợ quốc gia khổng lồ của chính phủ.” Hiện nay khoản nợ này cao gấp 2,5 lần GDP hằng năm của Nhật, tức giá trị của toàn bộ hàng hóa sản xuất tại Nhật Bản trong một năm. Điều này có nghĩa, ngay cả khi Nhật dành toàn bộ thu nhập và nỗ lực để trả hết nợ quốc gia và không sản xuất gì cho chính họ, thì họ vẫn phải mất hai năm rưỡi để trả nợ. Tệ hơn nữa, khoản nợ đã tăng lên trong nhiều năm. Để so sánh, trong khi các nhà tài chính bảo thủ Mỹ rất quan tâm đến nợ quốc gia, thì khoản này “chỉ” chiếm 1,0 GDP của Mỹ. Hy Lạp và Tây Ban Nha là hai nước châu Âu khét tiếng vì những vấn đề kinh tế của họ, nhưng tỉ lệ nợ/GDP của Nhật cao gấp đôi so với Hy Lạp và gấp bốn lần so với Tây Ban Nha (tính đến thời điểm tôi viết câu này). Khoản nợ của chính phủ Nhật Bản tương đương với khoản nợ của toàn bộ khu vực đồng Euro bao gồm 17 quốc gia, trong khi tổng dân số của họ gấp ba lần Nhật.
Tại sao chính phủ Nhật Bản không sụp đổ hay vỡ nợ từ lâu vì gánh nặng này? Trước hết, phần lớn nợ không thuộc về chủ nợ nước ngoài mà là các cá nhân Nhật Bản, doanh nghiệp Nhật Bản và các quỹ hưu trí sở hữu trái phiếu (nhiều quỹ thuộc sở hữu của chính phủ), và ngân hàng Nhật Bản, nhưng không một đơn vị nào trong số ấy làm khó chính phủ Nhật Bản. Ngược lại, phần lớn nợ của Hy Lạp thuộc về chủ nợ nước ngoài, những người này gây khó dễ và tạo áp lực buộc Hy Lạp thay đổi chính sách tài khóa. Bất chấp tất cả nợ mà chính phủ Nhật đang chịu từ chính người dân Nhật, thì Nhật Bản vẫn là một quốc gia tín dụng ròng đối với nhiều quốc gia khác vốn nợ tiền Nhật Bản. Thứ hai, lãi suất ở Nhật Bản được giữ ở mức thấp (dưới 1%) theo chính sách của chính phủ, với mục đích kiểm soát thanh toán lãi suất của chính phủ. Cuối cùng, các chủ nợ nước ngoài và Nhật Bản vẫn rất tin vào khả năng thanh toán của chính phủ nên họ tiếp tục mua trái phiếu chính phủ. Trên thực tế, đó là phương cách chính mà các cá nhân và doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tiền tiết kiệm của họ. Nhưng không ai biết được nợ có thể vọt lên cao bao nhiêu trước khi các chủ nợ của Nhật Bản vay tiền mất niềm tin và chính phủ vỡ nợ.
Mặc dù thuế suất thấp, nhưng quy mô khoản nợ và dân số già đồng nghĩa với việc lãi suất nợ và chi phí y tế, an sinh xã hội tiêu tốn phần lớn tiền thuế của chính phủ. Điều này làm giảm sút quỹ tài chính vốn phải luôn sẵn sàng đáp ứng đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển, cơ sở hạ tầng và các động cơ tăng trưởng kinh tế khác để có thể kích thích doanh thu thuế. Vấn đề càng nghiêm trọng hơn nữa khi thuế suất kéo theo nguồn thu của chính phủ tương đối thấp chiếu theo những tiêu chuẩn của thế giới phát triển. Cuối cùng, khoản nợ chủ yếu nằm trong tay của giới người Nhật già, những người đã đầu tư tiền bạc một cách trực tiếp (bằng cách mua trái phiếu chính phủ) hoặc gián tiếp (bằng cách nhận lương hưu từ quỹ lương hưu đầu tư nhiều vào trái phiếu chính phủ) – trong khi những người Nhật trả lãi suất cho khoản nợ phần lớn là người trẻ Nhật vẫn làm việc và đóng thuế. Vì thế, khoản nợ của Nhật Bản thực sự là khoản tiền mà giới trẻ phải trả cho giới già, tạo thành một cuộc xung đột giữa các thế hệ và một thế chấp trên tương lai Nhật Bản. Thế chấp đang lớn lên bởi vì dân số trẻ Nhật Bản đang suy giảm trong khi dân số già thì tăng lên (xem đoạn sau).
Giải pháp đề ra để giảm nợ bao gồm tăng thuế suất, giảm chi tiêu của chính phủ, và giảm lương hưu của người già Nhật Bản. Những giải pháp này và tất cả các giải pháp khác được cho là quá khó để thực hiện. Do đó, khoản nợ của chính phủ là một vấn đề lớn được thừa nhận rộng rãi suốt một thời gian dài ở Nhật Bản, điều đó đã tiếp tục trở nên tồi tệ hơn trong nhiều năm, và không có thỏa thuận về giải pháp.
Những vấn đề cơ bản khác được chính người Nhật thừa nhận là bốn vấn đề liên quan tới vai trò của phụ nữ, tỉ lệ sinh thấp và có chiều hướng giảm, quy mô dân số giảm, và dân số già. Hãy bắt đầu với vai trò của phụ nữ.
Trên lý thuyết, phụ nữ và đàn ông Nhật Bản bình đẳng với nhau. Hiếp pháp Nhật Bản năm 1947, do chính phủ chiếm đóng Mỹ soạn thảo vẫn còn hiệu lực cho tới ngày hôm nay, trong đó có một điều khoản (do một phụ nữ Mỹ soạn thảo) tuyên bố bình đẳng giới. Điều khoản đó đã được thông qua bất chấp sự phản đối quyết liệt của chính phủ Nhật Bản, và một số nhà lập pháp Nhật Bản vẫn còn muốn thay đổi nó.
Trên thực tế, phụ nữ Nhật Bản phải đối mặt với nhiều rào cản xã hội về bình đẳng giới. Tất nhiên, những rào cản mà tôi sắp mô tả cũng tồn tại ở các quốc gia khác ngoài Nhật Bản. Nhưng những rào cản này – và khoảng cách giới trong y tế, giáo dục, cùng sự tham gia vào lực lượng lao động và chính trị – ở Nhật Bản lớn hơn so với bất kỳ quốc gia công nghiệp giàu có nào khác, ngoại trừ Hàn Quốc. Tôi suy đoán rằng, vì Nhật Bản là quốc gia công nghiệp giàu có, trong đó vai trò của phụ nữ cho tới gần đây hầu hết vẫn là phụ thuộc và rập khuôn. Chẳng hạn, khi đi bộ ở nơi công cộng, một người phụ nữ truyền thống Nhật Bản chắc chắn sẽ ở sau chồng ba bước. Để tóm gọn, tôi sẽ mô tả các rào cản xã hội đối với phụ nữ một cách tổng quát, nhưng tất nhiên rào cản sẽ biến đổi tùy theo vị trí và độ tuổi người Nhật Bản: chẳng hạn, ở nông thôn, rào cản mạnh hơn ở Tokyo và ở người lớn tuổi mạnh hơn so với người trẻ.
Ở nhà, sự phân chia giới tính trong các cặp vợ chồng Nhật thường được gọi là “gói hôn nhân.” Một sự phân chia công việc không hiệu quả thường xảy ra, từ đó một ông chồng lao vào công việc kiếm sống cho cả hai ở bên ngoài và tiêu tốn cả thời gian lẽ ra phải dành cho con cái, trong khi vợ anh ta ở nhà và hi sinh cơ hội phát triển nghề nghiệp. Chủ doanh nghiệp mong đợi nhân viên (chủ yếu là đàn ông) ở lại văn phòng trễ và ra ngoài uống rượu với họ sau giờ làm việc. Điều này gây khó dễ cho các ông chồng Nhật Bản kể cả khi họ muốn chia sẻ việc nhà với vợ. Ông chồng Nhật làm việc nhà ít hơn những ông chồng ở các quốc gia công nghiệp hóa giàu có: chẳng hạn, chỉ bằng 2/3 số giờ mỗi tuần mà các ông chồng Mỹ bỏ ra. Các ông chồng Nhật có vợ đi làm không làm việc nhà nhiều hơn các ông có vợ ở nhà toàn thời gian. Thay vào đó, chủ yếu là những người vợ chăm sóc con cái, chồng của họ, cha mẹ họ, cha mẹ chồng – và quản lý tài chính gia đình trong thời gian rảnh rỗi còn lại. Nhiều bà vợ Nhật ngày nay thề rằng họ sẽ là thế hệ phụ nữ Nhật cuối cùng chịu đựng những trách nhiệm này.
Ở sở làm, phụ nữ Nhật tham gia ít và nhận lương thấp. Sự tham gia lao động ngày càng giảm với mức độ trách nhiệm ngày càng tăng. Trong khi nữ giới chiếm 49% sinh viên đại học Nhật Bản và 45% các công việc cấp đầu vào, thì họ lại chỉ chiếm 14% các vị trí giảng dạy (so với 33%-44% ở Mỹ, Anh, Đức và Pháp), 11% các vị trí quản lý trung cấp đến cao cấp, 2% các vị trí trong hội đồng quản trị, 1% các trong ủy ban điều hành kinh doanh và dưới 1% là CEO. Ở những cấp độ cao hơn, Nhật Bản tụt hậu so với tất cả các nước công nghiệp lớn, ngoại trừ (một lần nữa) Hàn Quốc. Có rất ít phụ nữ tham gia chính trường Nhật Bản, và đất nước này cũng chưa bao giờ có một nữ thủ tướng. Sự chênh lệch mức lương nam/nữ trong công việc toàn thời gian ở Nhật cao thứ ba (chỉ sau Hàn Quốc và Estonia) trong số 35 nước công nghiệp giàu có. Một nhân viên nữ Nhật thường chỉ được hưởng 73% lương so với nam giới cùng trình độ, trong khi mức trung bình ở các nước công nghiệp giàu là 85%, ở New Zealand lên tới 94%. Trở ngại công việc đối với phụ nữ bao gồm: thời gian làm việc dài, kỳ vọng vào sự tương tác giữa nhân viên sau giờ làm việc, và vấn đề ai sẽ chăm sóc con cái nếu một người mẹ đi làm muốn tương tác ngoài xã hội sau giờ làm và nếu chồng của cô cũng không rảnh hoặc không sẵn lòng làm việc đó.
Chăm sóc con cái là một vấn đề nan giải đối với các bà mẹ công sở Nhật. Trên giấy tờ, luật pháp Nhật quy định phụ nữ được nghỉ thai sản bốn tuần trước sinh và tám tuần sau sinh; một số đàn ông Nhật cũng được hưởng chế độ thai sản này; và bộ luật năm 1992 cho phép cha mẹ nghỉ hẳn một năm không lương để chăm con nếu họ muốn. Trên thực tế, hầu hết các ông bố bà mẹ Nhật Bản không lấy phép mà họ được hưởng. Thay vào đó, 70% lao động nữ giới Nhật Bản rời bỏ công sở ngay khi sinh đứa con đầu tiên và đa số không quay trở lại làm việc trong nhiều năm, thậm chí nghỉ hẳn. Trong khi trên danh nghĩa, việc ép buộc một bà mẹ nghỉ việc là bất hợp pháp, nhưng các bà mẹ Nhật vẫn chịu áp lực này. Chăm sóc trẻ nhỏ là bắt buộc đối với các bà mẹ lao động Nhật bởi họ thiếu phụ nữ nhập cư để thuê chăm sóc trẻ tại nhà (xem đoạn sau), và bởi có rất ít trung tâm chăm sóc trẻ nhỏ thuộc nhà nước hoặc tư nhân, khác với tình trạng ở Mỹ và Scandinavia. Mặt khác, quan điểm chung của người Nhật là một bà mẹ phải ở nhà, tự chăm sóc con nhỏ và không làm việc.
Kết quả là tình thế tiến thoái lưỡng nan đối với phụ nữ Nhật Bản ở công sở. Một mặt, hầu hết phụ nữ Nhật đều muốn làm việc, và họ cũng muốn có con, muốn dành thời gian cho con. Mặt khác, các công ty Nhật đầu tư lớn vào đào tạo nhân viên, tuyển dụng vị trí lâu dài, đổi lại họ cũng kỳ vọng người nhân viên đó sẽ gắn bó dài lâu và giữ vững công việc suốt đời. Các công ty không muốn thuê và đào tạo phụ nữ, bởi vì họ dễ bỏ việc khi có con, không muốn làm việc toàn thời gian, và có thể không trở lại sau khi sinh con. Vì lý do đó phụ nữ có xu hướng không được tuyển dụng, và có xu hướng không nhận việc khi trúng tuyển các công việc cấp cao trong doanh nghiệp Nhật Bản.
Thủ tướng đương nhiệm Nhật Bản, Shinzo Abe là một người bảo thủ, trước đây vốn không bày tỏ sự quan tâm đến những vấn đề nữ giới. Tuy nhiên, gần đây ông đã đi ngược lại đường lối, và tuyên bố muốn tìm giải pháp giúp các bà mẹ trở lại công sở – nhiều người nghi ngại điều đó, không phải vì ông đột nhiên tỏ ra quan tâm đến phụ nữ, mà bởi sự sụt giảm dân số Nhật dẫn đến việc thu hẹp lực lượng lao động (sẽ nói thêm ở phần sau). Một nửa dân số Nhật nói chung, và sinh viên tốt nghiệp nói riêng là phụ nữ. Abe đề xuất rằng các bà mẹ có công ăn việc làm có thể nghỉ thai sản ba năm với điều kiện họ sẽ quay trở lại, đồng thời chính phủ mở rộng thêm các trung tâm công cộng chăm sóc trẻ em và các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ tài chính khi thuê lao động nữ. Nhưng rất nhiều phụ nữ Nhật, trong đó có cả một số bạn bè đã tốt nghiệp đại học của tôi từng làm việc tại nước ngoài, đã phản đối đề xuất của Abe. Họ nghi ngờ rằng đó lại là một âm mưu khác của chính phủ để giữ chân phụ nữ ở nhà!
Phần tiếp theo trong chuỗi các vấn đề dân số chính là tỉ lệ sinh thấp và có chiều hướng giảm. Người Nhật hiểu rõ sự nghiêm trọng của vấn đề, nhưng họ không có cách giải quyết.
Tỉ lệ sinh thấp và giảm đang chiếm ưu thế ở các nước thuộc Thế giới Thứ nhất. Nhưng Nhật Bản có tỉ lệ sinh thấp nhất thế giới: trên 1.000 người mỗi năm thì chỉ có 7 trẻ sơ sinh ra đời, trong khi ở Mỹ là 13, trung bình trên thế giới là 19, và ở các nước châu Phi là trên 40. Hơn nữa, tỉ lệ sinh thấp này ở Nhật Bản vẫn đang giảm. Nếu trong những năm gần đây, sự giảm sút này được suy đoán là thường niên, thì có lẽ đến năm 2917, tỉ lệ sinh của Nhật Bản sẽ chạm mốc 0, nghĩa là sẽ không có trẻ sơ sinh nào ở Nhật! Tất nhiên, tình hình không tệ đến mức đó, nhưng thật sự là tỉ lệ sinh vốn rất thấp của Nhật vẫn đang có dấu hiệu giảm sút.
Có một cách khác thể hiện tỉ lệ sinh được gọi là tổng tỉ suất sinh: nghĩa là, tổng số trẻ được sinh ra từ một người phụ nữ trung bình trong toàn bộ cuộc đời. Đối với toàn thế giới, con số trung bình là 2,5 trẻ; đối với các nước thuộc Thế giới Thứ nhất với nền kinh thế lớn nhất thì con số dao động từ 1,3 đến 2,0 trẻ (ở Mỹ là 1,9). Tỉ suất sinh này ở Nhật chỉ đạt 1,27 trẻ, thuộc hạng thấp nhất của biểu đồ; Hàn Quốc và Ba Lan là một trong số ít các quốc gia có tỉ suất sinh thấp hơn. Nhưng số trẻ trung bình mà một người phụ nữ phải sinh để duy trì sự ổn định của dân số – hay còn gọi là tỉ lệ thay thế – phải cao hơn 2,0 một chút. Nhật Bản cùng một số quốc gia thuộc Thế giới Thứ nhất có tỉ suất sinh thấp hơn tỉ lệ thay thế này. Đối với các quốc gia thuộc Thế giới Thứ nhất khác, đó không phải là vấn đề bởi lẽ nhập cư giữ cho quy mô dân số không đổi hoặc thậm chí tăng lên dù giảm sinh. Tuy nhiên, việc nhập cư ở Nhật gần như vắng bóng, nghĩa là dân số Nhật thực sự đang giảm như chúng ta đề cập.
Một phần lý do của việc giảm tỉ lệ sinh ở Nhật chính là độ tuổi kết hôn lần đầu của họ đã tăng lên: hiện nay là xấp xỉ 30 ở cả nam và nữ. Điều đó có nghĩa là phụ nữ có ít năm trước thời kỳ mãn kinh hơn để thụ thai. Một lý do lớn khác nữa chính là tỉ lệ kết hôn (số lượng kết hôn trên 1.000 người trên một năm) đang giảm nhanh ở Nhật Bản. Bạn có thể bác bỏ rằng, ở nhiều nước phát triển khác tỉ lệ kết hôn cũng giảm nhưng không gây ra sụt giảm nghiêm trọng đối với tỉ lệ sinh như Nhật Bản đang phải đối mặt, vì họ có rất nhiều những ca sinh nở không mong muốn: 40% ở Mỹ, 50% ở Pháp và 66% ở Iceland. Nhưng yếu tố này không áp dụng cho Nhật Bản, nơi tỉ lệ các ca sinh nở không mong muốn chỉ chiếm 2%.
Tại sao người Nhật ngày càng tránh kết hôn và sinh con? Khi được khảo sát về vấn đề này, người Nhật đưa ra một số lý do. Một lý do liên quan đến kinh tế: sống độc thân và sống cùng cha mẹ thì rẻ hơn và thoải mái hơn là ra ngoài, kết hôn, phải trả tiền thuê nhà cộng với tiền nuôi con. Nhất là đối với phụ nữ, kết hôn và làm mẹ có thể là thảm họa kinh tế bởi vì họ sẽ khó kiếm được hoặc giữ được một công việc. Một lý do khác được đưa ra là tự do của việc độc thân, một sự cân nhắc đặc biệt đối với phụ nữ, những người không muốn rơi vào cảnh gánh vác trách nhiệm chăm sóc nhà cửa, chồng con, cha mẹ mình và cha mẹ chồng. Còn một lý do nữa, đó là nhiều thanh niên nam nữ Nhật trong tương quan tỉ lệ, coi rằng một cuộc sống trọn vẹn “không cần thiết” phải kết hôn.
Bất chấp những lập luận phản đối đó, 70% nam giới và nữ giới Nhật chưa kết hôn vẫn bày tỏ rằng họ muốn được lập gia đình. Vậy thì tại sao họ vẫn chưa tìm thấy bạn đời phù hợp? Theo truyền thống thì điều này không đòi hỏi họ phải nỗ lực, bởi vì kết hôn ở Nhật được sắp xếp bởi những người mai mối (gọi là nakoudo), họ lên lịch cho các cuộc phỏng vấn chính thức để những người trẻ độc thân có thể gặp gỡ bạn đời tiềm năng của mình. Kể từ năm 1960 đến nay, đây vẫn là hình thức hôn nhân chiếm ưu thế ở Nhật Bản. Nhưng rồi số người làm nakoudo giảm dần, và tư tưởng phương Tây về hôn nhân lãng mạn tăng lên đã khiến cho các cuộc hôn nhân do mai mối giảm xuống chỉ còn chiếm 5% trên tổng số cuộc hôn nhân. Nhưng nhiều người trẻ hiện đại Nhật Bản quá bận rộn với công việc, quá thiếu kinh nghiệm hẹn hò hoặc quá vụng về để phát triển một mối quan hệ lãng mạn.
Đặc biệt, việc giảm sút các cuộc hôn nhân sắp đặt ở Nhật trong vài thập niên gần đây trùng khớp với sự gia tăng tiếp xúc không gặp mặt bằng liên lạc qua thư điện tử, tin nhắn, điện thoại di động, và do đó kéo theo sự suy giảm kỹ năng giao tiếp xã hội. Một trải nghiệm sâu sắc mà tôi từng chứng kiến là một người bạn Nhật Bản, trong khi dùng bữa ở nhà hàng đã bị ấn tượng bởi một cặp đôi trẻ ăn mặc đẹp, ngồi đối diện nhau ở bàn bên với thái độ lúng túng và im lặng. Cả hai đều cúi đầu và nhìn xuống đầu gối thay vì nhìn nhau. Bạn tôi để ý rằng mỗi người họ đều cầm một chiếc điện thoại để trên đùi và nhắn tin cho nhau. Cuối cùng, người bạn của tôi hiểu ra rằng chàng trai và cô gái nọ cảm thấy quá vụng về để nói chuyện trực tiếp với nhau, cho nên họ phải nhắn tin qua lại giữa cái bàn. Đó không phải là cách tốt để phát triển và hoàn thiện một mối quan hệ lãng mạn! Dĩ nhiên giới trẻ Mỹ cũng nghiện giao tiếp điện tử, nhưng họ (không giống người Nhật đương đại) là những người kế thừa truyền thống hẹn hò.
Tỉ lệ sinh và tỉ lệ kết hôn thấp vẫn đang giảm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hai vấn đề lớn tồn đọng được công nhận rộng rãi ở Nhật Bản: dân số giảm và dân số già.
Vì tỉ lệ sinh của Nhật Bản trong nhiều năm đã ở dưới mức tỉ lệ thay thế, nên rõ ràng dân số Nhật Bản cuối cùng sẽ ngừng tăng và bắt đầu giảm. Tuy nhiên, thật sốc khi các số liệu thống kê dân số xác nhận rằng thời điểm đáng sợ đó đã thực sự đến. Sau cuộc điều tra dân số thực hiện năm năm một lần, vào năm 2010 đã cho thấy có 128.057.352 người và năm 2015 là 127.100.000 người, tức dân số giảm gần một triệu người. Từ xu hướng hiện tại và phân bố tuổi của dân số Nhật Bản, người ta tính đến năm 2060, dân số nước này sẽ giảm 40 triệu và chỉ còn 80 triệu người.
Hậu quả của sự giảm sút và dịch chuyển dân số từ nông thôn sang thành thị ở Nhật đã bộc lộ rõ. Nhật Bản đang đóng cửa khoảng 500 trường học mỗi năm. Dân số giảm ở nông thôn khiến cho làng mạc và những thị trấn nhỏ bị bỏ hoang. Người ta lo sợ rằng, với dân số không tăng để làm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì một Nhật Bản thưa dân sẽ trở nên nghèo hơn và yếu hơn trên trường thế giới. Vào năm 1948, Nhật Bản là quốc gia đông dân thứ năm thế giới, đến năm 2007 họ đã tụt xuống hàng thứ 10, sau Negeria và Banladesh; dự đoán trong vài thập niên tới Nhật sẽ còn tụt hạng so với những nước không phải là cường quốc như Congo hay Ethiopia. Điều đó bị coi là nhục nhã, với giả định ngầm rằng một đất nước ít dân hơn Congo sẽ yếu hơn và ít quan trọng hơn Congo.
Vì vậy, năm 2015, Thủ tướng Abe tuyên bố mục tiêu của chính phủ là duy trì dân số Nhật ít nhất ở mốc 100 triệu, bằng cách tăng tổng tỉ lệ sinh trung bình từ 1,4 lên 1,8 trẻ trên mỗi phụ nữ. Nhưng việc tăng sinh phụ thuộc vào lựa chọn của giới trẻ Nhật Bản hơn là Abe. Tôi từng bàn luận về những nguyên do khiến giới trẻ Nhật, bất chấp việc họ nghĩ rằng Nhật Bản sẽ là quốc gia tốt hơn nếu có nhiều em bé hơn, lại đang chọn không sinh con.
Suy giảm dân số có thực sự là một “thách thức” với Nhật Bản? Nhiều quốc gia có số dân nhỏ hơn Nhật nhưng vẫn giàu có và đóng vai trò quan trọng trên trường quốc tế, như Úc, Phần Lan, Israel, Hà Lan, Singapore, Thụy Điển và Thụy Sĩ. Tất nhiên những nước đó không phải là lãnh đạo quân sự thế giới, nhưng Nhật Bản cũng chẳng có vai trò ấy do hiến pháp và chủ nghĩa hòa bình rộng khắp của họ. Tôi cho rằng Nhật Bản sẽ không tệ đi mà thay vào đó còn tốt hơn nhiều với số dân nhỏ hơn, bởi vì nhu cầu đối với những tài nguyên nội địa và nhập khẩu sẽ ít hơn. Chúng ta sẽ thấy rằng áp lực tài nguyên từng là một trong những tai ương của lịch sử Nhật Bản hiện đại, nó vẫn còn cho tới hôm nay, và chính người Nhật nghĩ rằng đất nước của họ thiếu hụt tài nguyên. Do vậy tôi tin sự suy giảm dân số không phải là vấn đề mà là một trong những ưu thế của họ.
Dù quan tâm đến sự suy giảm dân số, nhưng người Nhật phải thừa nhận rằng dân số già mới là vấn đề nghiêm trọng hơn. Nhật Bản đã là quốc gia có tuổi thọ cao nhất thế giới (84 tuổi, so với 77 ở Mỹ, và chỉ 40-45 ở một số quốc gia châu Phi), và có tỉ lệ người già cao nhất. Ngay lúc này, 23% dân số Nhật có tuổi thọ trên 65, và 6% trên 80. Đến năm 2050, ước đoán những con số này sẽ đạt tương ứng 40% và 16%. (Con số tương quan ở Mali, quốc gia châu Phi là 3% và 0,1%.) Đến khi đó, người già trên 80 tuổi ở Nhật sẽ đông hơn trẻ em dưới 14 tuổi, và người già trên 65 tuổi sẽ đông hơn gấp ba lần số trẻ em này.
Bạn lưu ý rằng, cá nhân tôi không có gì chống đối những người ở độ tuổi 80. (Như thế thì khác gì tự căm ghét mình, vì tôi bây giờ đã 82 rồi.) Nhưng như vậy có quá nhiều phúc lợi, và điều đó đúng với người già. Một số lượng lớn người già tạo ra gánh nặng đối với hệ thống y tế quốc gia, bởi người già có nhiều bệnh hơn so với người trẻ: đặc biệt là bệnh mạn tính, không thể chữa khỏi, khó chữa, hoặc chi phí điều trị đắt đỏ như bệnh tim mạch và mất trí nhớ. Khi phần trăm dân số trên 65 tuổi tăng lên, thì tỉ lệ phần trăm dân số nghỉ hưu cũng tăng, và tỉ lệ phần trăm lao động giảm. Điều đó có nghĩa là lao động trẻ không đủ làm nguồn lực chủ yếu bù đắp cho số lượng hưu trí tăng lên: bằng cách hỗ trợ trực tiếp tài chính và chăm sóc trong gia đình, hoặc hỗ trợ gián tiếp bằng quỹ lương hưu của chính phủ và hệ thống y tế mà lao động trẻ phải đóng thuế vào đó. Tỉ lệ người lao động trên người nghỉ hưu ở Nhật đã giảm một cách khủng khiếp: năm 1965 là 9 lao động trên một hưu trí, nay là 2,4 và ước tính đến năm 2050 chỉ còn 1,3.
Nhưng bạn có thể phản đối rằng Nhật Bản không phải là quốc gia duy nhất có tỉ lệ sinh giảm, có dân số già, cùng gia tăng gánh nặng lên quỹ lương hưu và hệ thống an sinh xã hội. Những vấn đề tương tự cũng đang xảy ra trên khắp thế giới phát triển; Nhật Bản chỉ là đang đối mặt với những thách thức này ở mức độ căng thẳng hơn. Mỹ cũng quan ngại về việc hệ thống an sinh xã hội suy giảm trong tương lai. Tất cả các quốc gia châu Âu cũng có tỉ lệ sinh thấp hơn giá trị thay thế, hai trong số các nước này thậm chí còn có tỉ lệ sinh thấp hơn của Nhật Bản. Nhưng Mỹ và châu Âu không lo ngại về các vấn đề này như Nhật, bởi họ không bị mắc kẹt trong việc suy giảm dân số và dân số ngày càng già đi một cách khủng khiếp như ở Nhật. Tại sao không? Bằng cách nào họ đã thoát khỏi những cái bẫy này?
Câu trả lời liên quan đến vấn đề đầu tiên trong ba vấn đề nổi cộm ở Nhật nhưng không được họ thừa nhận rộng rãi, như tôi đã đề cập. Đó chính là việc Nhật Bản thiếu vắng nguồn nhập cư.
Nhật Bản, như họ vẫn tự hào, là sắc dân thuần chủng hay quốc gia đông đúc đồng nhất hàng đầu thế giới. Họ không chào đón người nhập cư, và càng khó khăn hơn nữa cho ai đã vào Nhật và muốn nhập quốc tịch. Tỉ lệ phần trăm dân nhập cư và con cái người nhập cư chiếm 28% tổng dân số ở Úc, 21% ở Canada, 16% ở Thụy Điển, và 14% ở Mỹ, nhưng ở Nhật chỉ là 1,9%.
Trong số người tị nạn đang xin cư trú, Thụy Điển chấp nhận 92%, Đức 70%, Canada 48% nhưng Nhật chỉ chấp nhận 0,2%. (Chẳng hạn, Nhật chỉ chấp nhận 6 và 11 người tị nạn trong các năm 2013 và 2014.) Lao động nước ngoài chiếm 15% lực lượng lao động tại Mỹ và 9% tại Đức, nhưng chỉ chiếm 1,3% tại Nhật. Hiện nay Nhật Bản chấp nhận lao động nước ngoài tạm thời (được gọi là lao động khách) có visa từ một đến ba năm nhờ vào trình độ kỹ thuật cao của họ (như thợ đóng tàu hay công nhân xây dựng cho thế vận hội Olympic Tokyo 2020). Song những lao động ngoại quốc này rất khó để lấy được thẻ cư trú dài hạn hoặc quốc tịch Nhật Bản.
Cuộc di dân đáng kể duy nhất đến Nhật Bản thời hiện đại là cuộc di dân của vài triệu người Triều Tiên trước Thế chiến II, khi Triều Tiên còn là thuộc địa của Nhật Bản. Tuy nhiên, phần lớn người Triều Tiên này nhập cư không tự nguyện hoặc được nhập khẩu làm nô lệ lao động. Chẳng hạn, người ta ít biết rằng 10% số nạn nhân bị chết ở Hiroshima bởi quả bom nguyên tử đầu tiên là người lao động Triều Tiên làm việc tại đây.
Một vài bộ trưởng Nhật Bản gần đây kêu gọi nhập cư nhiều hơn. Như ông Shigeru Ishiba, bộ trưởng phụ trách các vấn đề địa phương, nói rằng, “Xưa kia, người Nhật di cư đến nam và bắc Mỹ đã hòa nhập được với dân chúng địa phương đồng thời vẫn duy trì niềm tự hào là người Nhật… Thật vô lý khi từ chối người nước ngoài đến Nhật Bản trong khi người dân của chúng ta làm điều tương tự ở nước ngoài.” Chẳng hạn, Peru đã có một tổng thống người Nhật,10 trong khi Mỹ có các thượng nghị sĩ, thành viên Quốc hội và hiệu trưởng trường đại học là người Nhật. Nhưng chính phủ Nhật hiện vẫn không xem xét lại chính sách phản đối nhập cư.
Sự phản đối của chính phủ Nhật Bản phản ánh quan điểm tiêu cực về nhập cư mà công dân Nhật thể hiện qua nhiều cuộc thăm dò dư luận, trong đó thái độ của người Nhật tỏ ra khác biệt so với những nước giàu có khác. Tỉ lệ người Nhật phản đối tăng lượng người nhập cư là 63%, 72% cho rằng nhập cư làm tăng tỉ lệ tội phạm, 80% cho rằng người nhập cư không đem lại sự cải tiến xã hội bằng ý tưởng mới, khác với 57-75% người Mỹ, Canada và Úc tin rằng người nhập cư sẽ cải thiện xã hội. Trái lại, rất ít người Nhật (chỉ 0,5%) coi nhập cư là vấn đề nghiêm trọng mà quốc gia đang đối mặt, trong khi con số này ở người Mỹ, Pháp, Thụy Điển và Anh lên tới 15%.
Xin nói rõ: tôi không cho rằng sự phản đối nhập cư của người Nhật là “sai lầm” và cần thay đổi. Ở mọi quốc gia, nhập cư tạo ra khó khăn đồng thời mang lại lợi ích. Đây là vấn đề để mỗi quốc gia cân nhắc những lợi ích và những khó khăn, để đi đến chính sách nhập cư của riêng họ. Không có gì ngạc nhiên khi Nhật Bản, một quốc gia đồng nhất về dân tộc có lịch sử cô lập lâu dài và không có người nhập cư, rất coi trọng tính đồng nhất dân tộc của họ, trong khi Mỹ, một quốc gia đa chủng tộc với đa số công dân người nhập cư thì không coi sự đồng nhất dân tộc là giá trị. Thay vào đó, thách thức nan giải của Nhật Bản là họ phải chịu đựng những vấn đề được thừa nhận rộng rãi mà các quốc gia khác giảm thiểu bằng cách nhập cư, nhưng Nhật Bản thì không tìm ra cách giải quyết nào mà không cần phải nhập cư.
Vấn đề lớn nhất là vấn đề liên quan được thảo luận ở trên về tỉ lệ sinh giảm, dân số già và gánh nặng kinh tế do ngày càng ít người lao động trẻ khỏe nộp thuế để hỗ trợ cho quỹ hưu và chi phí chăm sóc y tế cho người hưu trí ngày càng tăng đồng thời các vấn đề sức khỏe liên quan đến tuổi già cũng tăng. Tuy Mỹ, Canada, Úc và Tây Âu cũng phải đương đầu với tỉ lệ sinh giảm và già hóa dân số bản địa như Nhật nhưng những quốc gia này giảm thiểu hệ quả bằng cách đón nhận số lượng lớn lao động nhập cư trẻ tuổi. Nhật Bản không thể bù đắp lực lượng lao động đang suy giảm bằng cách thuê các bà mẹ học thức không có việc làm, vì ở Nhật khó lòng có một lượng lớn phụ nữ nhập cư được thuê làm nhân viên chăm sóc trẻ em tư nhân bởi rất nhiều bà mẹ làm việc như ở Mỹ. Ở Nhật cũng không tồn tại một lượng lớn đàn ông và phụ nữ nhập cư làm công việc chăm sóc người già, làm điều dưỡng và nhân viên bệnh viện như ở Mỹ.(Tôi viết những dòng này trong khi đang hồi phục sau một trải nghiệm kinh hoàng về cái chết của một người thân Nhật mắc bệnh nan y, gia đình bà được ủy thác lo ăn uống và giặt giũ cho bà khi bà nằm viện.)
Mặc dù sự đổi mới diễn ra rất mạnh mẽ ở Nhật, bằng chứng là số lượng lớn bằng sáng chế được trao cho các nhà phát minh Nhật, tuy nhiên người Nhật vẫn lo lắng vì họ có ít những sáng tạo đột phá so với những gì mà người ta mong đợi ở sự đầu tư lớn của nước này vào nghiên cứu và phát triển. Điều này được phản ánh bằng số lượng giải Nobel khiêm tốn mà các nhà khoa học Nhật Bản được trao tặng. Hầu hết những nhà khoa học Mỹ nhận giải Nobel là thế hệ nhập cư đầu tiên hoặc là con cái của thế hệ này. Nhưng trong số các nhà khoa học Nhật Bản cũng như trong xã hội Nhật Bản nói chung rất hiếm có người nhập cư và con cái của họ. Mối tương quan giữa nhập cư và giải Nobel này thật dễ hiểu khi nó cho thấy sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro và thử nghiệm một điều gì thực sự mới mẻ chính là điều kiện tiên quyết cho cả việc di cư và đổi mới ở cấp độ cao nhất.
Về ngắn hạn, Nhật Bản không sẵn sàng giải quyết các vấn đề này bằng nhập cư. Về lâu dài, không thể biết liệu người Nhật có tiếp tục chịu đựng những vấn đề này không, hay thay vào đó họ chọn giải quyết bằng cách thay đổi chính sách nhập cư, hoặc sẽ tìm ra giải pháp nào đó khác ngoài nhập cư. Nếu Nhật Bản quyết định đánh giá lại vấn đề nhập cư, thì chính sách của Canada có thể là mô hình hợp lý, trong đó chú trọng đánh giá người nộp đơn dựa trên cơ sở giá trị tiềm năng mà người đó mang đến cho Canada.
Vấn đề tiếp theo mà Nhật Bản lờ đi, sau vấn đề nhập cư, chính là hệ quả của thái độ của Nhật trong thời chiến đối với các nước Trung Quốc và Triều Tiên đang ảnh hưởng tới mối quan hệ ngày nay giữa họ. Trước và trong Thế chiến II, Nhật Bản từng làm những điều khủng khiếp đối với dân chúng ở các nước châu Á khác, nhất là Trung Quốc và Triều Tiên. Rất lâu trước khi Nhật chính thức tuyên bố chiến tranh vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật đã tiến hành một cuộc chiến toàn diện không công khai đối với Trung Quốc kể từ năm 1937. Trong cuộc chiến đó, quân đội Nhật đã giết chết hàng triệu người Trung Quốc, có hàng trăm nghìn thường dân đã phải bỏ mạng ở Nam Kinh từ tháng 12 năm 1937 đến tháng 1 năm 1938, và nhiều người khác bị giết để trả thù cho cuộc không kích Doolittle xảy ra hồi tháng 4 năm 1942. Mặc dù ngày nay Nhật ra sức phủ nhận những cuộc thảm sát này, nhưng có nhiều tài liệu đã được dẫn ra. (Bạn có thể xem hơn 400 bức hình trong tập sách của Shi Young và James Yin có tên The Rape of Nanking: An Undeniable History in Photographs [Tội ác Nam Kinh: Lịch sử không thể bác bỏ qua những bức ảnh], xuất bản năm 1999.) Nhật Bản thôn tính Triều Tiên vào năm 1910, bắt buộc trường học Triều Tiên sử dụng tiếng Nhật thay vì tiếng Hàn trong 35 năm Nhật chiếm đóng, cưỡng ép rất nhiều phụ nữ Triều Tiên và phụ nữ mang quốc tịch khác trở thành nô lệ tình dục trong các nhà thổ cho lính Nhật, và buộc vô số đàn ông Triều Tiên lao dịch không khác gì nô lệ cho quân đội Nhật.
Kết quả là làn sóng căm thù Nhật Bản lan rộng khắp Trung Quốc và Triều Tiên ngày nay. Theo quan điểm của người Trung Quốc và Triều Tiên, Nhật Bản không thừa nhận một cách thẳng thắn, không xin lỗi hoặc bày tỏ ân hận đối với sự tàn bạo mà họ gây ra trong thời chiến. Dân số Trung Quốc đông gấp 11 lần Nhật Bản, trong khi dân số của cả Triều Tiên và Hàn Quốc nhỉnh hơn nửa dân số Nhật. Cả Trung Quốc và Triều Tiên đều có vũ khí hạt nhân. Trung Quốc, Triều Tiên và Hàn Quốc đều có quân đội hùng mạnh, được trang bị tốt, trong khi lực lượng vũ trang Nhật Bản vẫn rất mỏng vì hiến pháp Nhật bị Mỹ áp đặt, cộng với ngày nay, chủ nghĩa hòa bình lan rộng tại Nhật Bản. Bắc Triều Tiên thỉnh thoảng lại phóng tên lửa qua Nhật để chứng tỏ khả năng tiếp cận nước này. Nhật Bản lại còn đang vướng mắc tranh chấp với Trung Quốc và Hàn Quốc về những hòn đảo nhỏ không có người ở, không có giá trị nội tại nhưng quan trọng vì tài nguyên cá, khí đốt và khoáng sản trong mỗi vùng biển đảo. Tôi cho rằng về lâu dài, sự kết hợp của những thực tế này là mối nguy khôn lường cho Nhật Bản.
Dưới góc nhìn của người châu Á về quan điểm của Nhật Bản đối với Thế chiến II, Lý Quang Diệu, một nhà quan sát sắc sảo, thủ tướng Singapore trong nhiều thập niên, đã trở nên quen thuộc với Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc và các nhà lãnh đạo của họ, nhận xét: “Không như Đức, người Nhật đã không tự phấn chấn và tự loại bỏ chất độc ra khỏi hệ thống của họ. Họ không giáo dục giới trẻ về sai lầm mà họ đã làm. Hashimoto [một thủ tướng Nhật Bản] đã bày tỏ ‘sự hối tiếc sâu sắc nhất’ trong lễ kỷ niệm 52 năm kết thúc Thế chiến II (1997) và ‘sự ân hận tự đáy lòng’ trong chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 9 năm 1997. Tuy nhiên, ông không xin lỗi, như người Trung Quốc và Hàn Quốc mong muốn nhà lãnh đạo Nhật Bản làm. Tôi không hiểu tại sao người Nhật không sẵn lòng thừa nhận quá khứ, xin lỗi về nó và tiếp tục tiến lên. Vì một số lý do, họ không muốn xin lỗi. Xin lỗi tức là thừa nhận đã làm sai. Nhưng bày tỏ sự ân hận hoặc hối tiếc chỉ đơn thuần là bày tỏ cảm xúc chủ quan hiện tại của họ. Họ phủ nhận vụ thảm sát Nam Kinh; phủ nhận những người phụ nữ Hàn Quốc, Philippines, Hà Lan và những người phụ nữ khác đã bị bắt cóc hoặc bị ép buộc trở thành ‘phụ nữ giải khuây’ (một uyển ngữ của nô lệ tình dục) cho binh lính Nhật Bản ở mặt trận chiến tranh; phủ nhận đã thực hiện các thí nghiệm sinh học tàn khốc trên các tù nhân Trung Quốc, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga và các tù nhân khác ở Mãn Châu. Đối với mỗi vụ việc, chỉ sau khi không thể bác bỏ được bằng chứng từ hồ sơ của chính họ, họ mới miễn cưỡng thừa nhận. Điều này làm dấy lên những nghi ngờ về ý đồ trong tương lai của Nhật Bản. Thái độ hiện tại của Nhật Bản là một dấu hiệu cho thấy hành vi trong tương lai của họ. Nếu họ xấu hổ về quá khứ, họ sẽ ít có khả năng lặp lại nó.”
Hằng năm, các lớp của tôi tại Đại học California ở Los Angeles bao gồm các sinh viên đến từ Nhật Bản, nói chuyện với tôi về việc học ở đó và về những trải nghiệm của họ khi đến California. Họ nói với tôi rằng các lớp học lịch sử của họ ở các trường học Nhật Bản dành ít thời gian cho Thế chiến II (“bởi vì cuộc chiến đó chỉ kéo dài vài năm trong hàng ngàn năm lịch sử Nhật Bản”), kể rất ít hoặc không nói gì về vai trò kẻ xâm lược của Nhật Bản, nhấn mạnh vai trò nạn nhân của Nhật Bản (của hai quả bom nguyên tử đã giết chết 120.000 người Nhật) thay vì chịu trách nhiệm về cái chết của hàng triệu người khác cộng với hàng triệu binh sĩ và thường dân Nhật Bản, và đổ lỗi cho Mỹ bằng cách nào đó đã lừa Nhật Bản để phát động chiến tranh. (Nói một cách công bằng, sách giáo khoa Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ cũng cho thấy quan điểm bị bóp méo của họ về Thế chiến II.) Học sinh Nhật Bản của tôi bị sốc khi tham gia các hiệp hội châu Á ở Los Angeles, gặp gỡ các học sinh Hàn Quốc và Trung Quốc, và lần đầu tiên được nghe về những hành động thời chiến của Nhật Bản từ những sinh viên đến từ những quốc gia khác, những hành động vẫn còn khơi dậy sự căm thù Nhật Bản.
Tuy nhiên, một số sinh viên Nhật Bản của tôi và nhiều người Nhật Bản khác đã chỉ ra rất nhiều lời xin lỗi của các chính trị gia Nhật Bản, và hỏi “Nhật Bản đã xin lỗi đủ chưa?” Một câu trả lời ngắn gọn là: chưa, bởi vì những lời xin lỗi nghe có vẻ lạc lõng, thiếu thuyết phục và lập lờ với những tuyên bố giảm thiểu hoặc chối bỏ trách nhiệm của Nhật Bản. Một câu trả lời dài hơn là so sánh cách tiếp cận đối nghịch giữa Nhật Bản và Đức đối với các di sản lịch sử gần đây của họ và hỏi tại sao cách tiếp cận của Đức lại thuyết phục được kẻ thù trước đây trong khi cách tiếp cận của Nhật Bản không thuyết phục được nạn nhân chính là Trung Quốc và Triều Tiên. Chương 6 đã mô tả nhiều cách thức mà các nhà lãnh đạo Đức bày tỏ sự hối tiếc và trách nhiệm, và trong đó các học sinh Đức được dạy để đối mặt với những gì đất nước họ đã làm. Người Trung Quốc và Hàn Quốc có thể bị thuyết phục về sự chân thành của Nhật Bản nếu họ dùng những câu trả lời tương tự như người Đức: chẳng hạn, nếu thủ tướng Nhật đến Nam Kinh, quỳ gối trước nhân dân Trung Quốc và xin lỗi vì những cuộc thảm sát mà Nhật đã gây ra ở Nam Kinh thời chiến tranh; nếu trên khắp Nhật Bản có các bảo tàng, di tích và trại tù binh cũ với hình ảnh và lời giải thích chi tiết về sự tàn bạo của thời chiến; nếu học sinh Nhật Bản thường xuyên được đưa đi học ở những địa điểm như vậy ở Nhật Bản và đến các địa điểm bên ngoài Nhật Bản như Nam Kinh, Sandakan, Bataan và Saipan; và nếu Nhật Bản nỗ lực nhiều hơn để mô tả các nạn nhân của họ trong thời chiến thay vì mô tả các nạn nhân người Nhật trong chiến tranh. Tất cả những hành động này không tồn tại và không thể tưởng tượng được ở Nhật Bản, nhưng chúng lại được thực hiện rộng rãi ở Đức. Trước khi được tiến hành tại Nhật Bản, người Trung Quốc và Triều Tiên vẫn sẽ tiếp tục không tin lời xin lỗi theo kịch bản của Nhật Bản và căm ghét Nhật Bản. Và chừng nào Trung Quốc và Triều Tiên được trang bị vũ khí trong khi Nhật Bản vẫn không có phương tiện để tự vệ, thì một mối nguy lớn vẫn sẽ tiếp tục treo trên đầu Nhật Bản.
Để tồn tại, tất cả các dân tộc đều phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên tái tạo, bao gồm cây cối, cá, lớp đất mặt, nước sạch và không khí sạch. Tất cả những tài nguyên đó đặt ra nhiều vấn đề về quản lý mà các nhà khoa học đã có quá nhiều kinh nghiệm. Nếu các khu rừng và nghề đánh bắt cá trên thế giới được quản lý một cách tốt nhất theo khuyến nghị, thì ta có thể thu hoạch lâm sản và thủy sản lâu dài, với số lượng đủ để đáp ứng nhu cầu của dân số thế giới hiện tại. Đáng buồn thay, việc thu hoạch thực tế vẫn mang tính phá hủy và không bền vững. Hầu hết các khu rừng trên thế giới đang bị thu hẹp và hầu hết nghề đánh bắt cá đang suy giảm hoặc đã sụp đổ. Nhưng không quốc gia nào có thể tự túc mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên; tất cả các nước phải nhập khẩu ít nhất một số tài nguyên. Do đó ở hầu hết các quốc gia đều có các cơ quan chính phủ, chi nhánh của các tổ chức môi trường quốc tế (như Quỹ Động vật hoang dã Thế giới và Bảo tồn Quốc tế) và các tổ chức môi trường địa phương đang nỗ lực để giải quyết những vấn đề này.
Những thách thức này đặc biệt nghiêm trọng đối với Nhật Bản. Trước năm 1853, khi Nhật Bản đóng cửa với thế giới bên ngoài và nhập khẩu không đáng kể, thì họ vẫn tự cung tự cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên. Buộc phải phụ thuộc vào các khu rừng của chính mình và bị báo động bởi sự suy giảm của chúng vào những năm 1600, Nhật Bản đã phát triển các phương pháp lâm nghiệp khoa học độc lập với Đức và Thụy Sĩ, để quản lý các khu rừng của mình. Ngày nay, do sự bùng nổ dân số của Nhật Bản kể từ năm 1853, mức sống và mức tiêu thụ tăng cao, dân số đông đúc trong một khu vực nhỏ và cần nguyên liệu thô cần thiết cho nền kinh tế công nghiệp hiện đại, Nhật Bản đã trở thành một trong những nhà nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên lớn nhất thế giới. Trong số các tài nguyên không tái tạo, hầu hết mọi nhu cầu của Nhật Bản về dầu, khí đốt tự nhiên, niken, nhôm, nitrat, kali, và phốt phát, và hầu hết các nhu cầu về sắt, than và đồng đều phải được nhập khẩu. Trong số các tài nguyên thiên nhiên tái tạo, Nhật Bản được xếp hạng là nhà nhập khẩu hàng đầu thế giới hoặc thứ hai hoặc thứ ba về hải sản, gỗ tròn, gỗ dán, gỗ cứng nhiệt đới, vật liệu giấy và bột giấy.
Đó là một danh sách dài các tài nguyên thiết yếu mà Nhật Bản phụ thuộc vào nhập khẩu. Khi bất kỳ tài nguyên nào trong số này trở nên cạn kiệt trên toàn thế giới, Nhật Bản sẽ là quốc gia đầu tiên hoặc là một trong những quốc gia đầu tiên gánh chịu hậu quả. Nhật Bản cũng là quốc gia lớn phụ thuộc nhiều nhất vào thực phẩm nhập khẩu để nuôi sống công dân. Nhật Bản ngày nay có tỉ lệ cao nhất (hệ số 20) về nhập khẩu nông sản so với xuất khẩu nông sản giữa các nước lớn. Hàn Quốc xếp thứ nhì với hệ số 6, trong khi Mỹ, Brazil, Ấn Độ, Úc và khá nhiều quốc gia lớn khác lại là các nhà xuất khẩu thực phẩm thuần túy.
Do đó, người Nhật có lý do chính đáng để xem đất nước họ nghèo tài nguyên. Và cũng vì vậy, người ta kỳ vọng rằng Nhật Bản, trong vai trò quốc gia phát triển với sự phụ thuộc lớn nhất vào nhập khẩu tài nguyên, sẽ được thúc đẩy bởi lợi ích để trở thành nhà quảng bá hàng đầu thế giới về khai thác tài nguyên bền vững. Nhất là, Nhật Bản phải sử dụng chính sách hợp lý để đi đầu trong việc khai thác bền vững các nghề cá và rừng trên thế giới mà Nhật Bản vốn bị phụ thuộc.
Nghịch lý thay, điều ngược lại đang diễn ra. Là giám đốc của Quỹ Động vật hoang dã Thế giới ở Mỹ và Tổ chức Bảo tồn Quốc tế, tôi được nghe nhiều về các chính sách quốc gia về quản lý tài nguyên mà hai tổ chức này giải quyết. Tôi cũng được nghe rất nhiều về các chính sách của Nhật Bản nói riêng, từ bạn bè và đồng nghiệp Nhật Bản. Nhật Bản dường như là quốc gia phát triển với sự hỗ trợ ít nhất và sự phản đối mạnh mẽ nhất đối với các chính sách tài nguyên bền vững ở nước ngoài. Lượng nhập khẩu lâm sản Nhật Bản có nguồn gốc bất hợp pháp và không được khai thác bền vững cao hơn nhiều so với các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu hoặc Mỹ, cho dù tính theo đầu người hoặc tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng nhập khẩu lâm sản. Nhật Bản là quốc gia tiên phong trong việc chống lại quy định thận trọng trong đánh bắt cá đại dương và cá voi. Sau đây là hai ví dụ.
Ví dụ đầu tiên của tôi liên quan đến cá ngừ vây xanh Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, đặc biệt được đánh giá cao và tiêu thụ ở Nhật Bản dưới dạng sashimi hoặc sushi. Một con cá ngừ lớn nhập khẩu gần đây được bán ở Nhật Bản với mức giá hơn 1.000.000 đô la. Những con cá ngừ này đang suy giảm mạnh do bị đánh bắt quá mức, và điều đó kích thích các nỗ lực bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này bằng cách đồng ý đánh bắt bền vững và áp dụng hạn ngạch đánh bắt cá. Thật đáng kinh ngạc, khi nguồn cá ngừ đó được đề xuất trong danh sách bảo vệ quốc tế năm 2010 (được gọi là danh sách CITES), Nhật Bản lại không phải là quốc gia khởi xướng. Thay vào đó, Nhật Bản xem việc ngăn chặn thành công đề xuất này là một chiến thắng ngoại giao.
Ví dụ thứ hai của tôi là Nhật Bản ngày nay là quốc gia săn bắt cá voi hàng đầu và liên tục nhất. Ủy ban Cá voi Quốc tế xác định hạn ngạch săn cá voi. Hằng năm, Nhật Bản hợp pháp hóa hạn ngạch đó bằng cách giết một số lượng lớn cá voi cho mục đích nghiên cứu, sau đó xuất bản ít hoặc không có nghiên cứu nào về những con cá voi đã chết và thay vào đó là bán chúng để lấy thịt. Tuy nhiên, nhu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản đối với thịt cá voi là thấp và đang giảm, và thịt cá voi bị lãng phí thành thức ăn cho chó và phân bón hơn là cho con người. Duy trì việc săn bắt cá voi là một thiệt hại kinh tế đối với Nhật Bản, bởi vì ngành đánh bắt cá voi của nước này được chính phủ trợ cấp rất nhiều theo nhiều cách: trợ cấp trực tiếp cho chính các tàu săn cá voi; chi phí bổ sung cho nhiều tàu hộ tống và bảo vệ các tàu săn cá voi; và các chi phí tiềm ẩn của cái gọi là viện trợ nước ngoài trả cho các quốc gia không săn bắt cá voi nhưng là thành viên của Ủy ban Cá voi Quốc tế, như một khoản hối lộ để đổi lấy phiếu bầu ủng hộ săn bắt cá voi của họ.
Tại sao Nhật Bản theo đuổi những lập trường này? Những người bạn Nhật của tôi đã đưa ra ba lời giải thích. Đầu tiên, người dân Nhật Bản trân trọng hình ảnh sống hòa hợp với thiên nhiên và theo truyền thống họ quản lý rừng của mình một cách bền vững – nhưng không phải là rừng và cá ở nước ngoài mà hiện tại họ khai thác. Thứ hai, niềm tự hào dân tộc Nhật Bản không thích cúi đầu trước áp lực quốc tế. Nhật Bản đặc biệt không muốn bị coi là nhượng bộ trong các chiến dịch chống săn bắt cá voi của tổ chức Hòa bình Xanh và Sea Shepherd, và trước áp lực quốc tế trong việc điều tiết ngành săn cá ngừ vây xanh. Người ta có thể mô tả Nhật Bản là kẻ chống lệnh cấm săn cá voi, chứ không phải là kẻ săn cá voi. Cuối cùng, nhận thức về tài nguyên nội địa hạn chế của Nhật Bản đã khiến họ trong 140 năm qua phải duy trì, vì cốt lõi của an ninh quốc gia và vì yếu tố then chốt trong chính sách đối ngoại của nước này, tuyên bố quyền khai thác không hạn chế tài nguyên thiên nhiên thế giới. Mặc dù sự khăng khăng đó là một chính sách khả thi trong quá khứ khi tài nguyên thế giới dư thừa, nhưng khi nguồn cung vượt quá nhu cầu, chính sách này không còn khả thi trong thời đại ngày nay bởi nguồn tài nguyên đang suy giảm.
Đối với một người ngoài cuộc ngưỡng mộ Nhật Bản như tôi, sự phản đối của họ trước việc sử dụng bền vững tài nguyên ở nước ngoài là điều đáng buồn và tự hủy hoại. Nỗ lực giành lấy các nguồn tài nguyên ở nước ngoài đã thúc đẩy Nhật Bản thực hiện hành vi tự hủy hoại một lần trước đây, khi họ gây chiến đồng thời với Trung Quốc, Mỹ, Anh, Úc, New Zealand và Hà Lan. Thất bại sau đó là không thể tránh khỏi. Bây giờ cũng vậy, thất bại một lần nữa là không thể tránh khỏi – không phải bởi sự chinh phục quân sự, mà là sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo và không tái tạo ở nước ngoài. Nếu tôi là nhà độc tài xấu xa của một quốc gia ghét Nhật Bản và muốn hủy hoại nó mà không cần phải dùng đến chiến tranh, tôi sẽ làm chính xác những gì Nhật Bản đang làm với chính mình: tôi sẽ phá hủy các tài nguyên ở nước ngoài mà Nhật Bản phụ thuộc.
Cuối cùng, hãy xem xét tương lai nào dành cho Nhật Bản dưới ánh sáng của 12 nhân tố dự đoán của chúng ta. Nếu coi đó là một bài tập học thuật đơn thuần, chúng ta chỉ có thể hỏi liệu với các nhân tố dự đoán như vậy, Nhật Bản có khả năng thành công trong việc giải quyết các vấn đề hiện tại hay không. Hữu ích hơn, chúng ta có thể đề xuất phương cách mà người Nhật có thể sử dụng các yếu tố này để nghĩ ra giải pháp và vượt qua một số trở ngại mà hiện tại họ đang tạo ra cho chính mình.
Một nguyên nhân cho sự lạc quan là Nhật Bản luôn thành công trong việc giải quyết các biến cố (nhân tố số 8 trong Bảng 1.2). Hai lần trong thời hiện đại, Nhật Bản đã cho thấy những câu chuyện thành công nổi bật của quốc gia về việc đánh giá lại và thay đổi có chọn lọc. Những thay đổi mạnh mẽ nhất xuất hiện cùng Minh Trị Duy Tân bắt đầu vào năm 1868. Việc hạm đội của Phó đề đốc Perry bắt buộc Nhật Bản mở cửa vào năm 1853 đã làm dấy lên nỗi ám ảnh rằng Nhật Bản, giống như rất nhiều quốc gia ngoài châu Âu khác, có thể bị các cường quốc phương Tây xâm chiếm. Nhật Bản đã tự cứu mình bằng một chương trình thay đổi có chọn lọc. Họ vứt bỏ sự cô lập quốc tế, vứt bỏ chính phủ do một shogun điều hành, tầng lớp samurai và hệ thống phong kiến. Họ đã thông qua một hiến pháp, nội các chính phủ, quân đội quốc gia, công nghiệp hóa, hệ thống ngân hàng kiểu châu Âu, hệ thống trường học mới, và nhiều quần áo, thực phẩm và âm nhạc phương Tây. Đồng thời, họ giữ lại hoàng đế, ngôn ngữ, hệ thống chữ viết và hầu hết văn hóa. Nhật Bản do đó không chỉ giữ được độc lập mà còn trở thành quốc gia ngoài phương Tây đầu tiên cạnh tranh với phương Tây về sự giàu có và quyền lực. Một lần nữa, sau Thế chiến II, Nhật Bản đã có những thay đổi có chọn lọc mạnh mẽ hơn, vứt bỏ truyền thống quân sự và niềm tin vào hoàng đế, họ áp dụng nền dân chủ và hiến pháp mới, và phát triển hoặc vực dậy nền kinh tế xuất khẩu.
Một nguyên nhân lớn khác cho sự lạc quan là dấu vết lịch sử cho thấy sự kiên nhẫn và khả năng phục hồi sau thất bại và thua trận (nhân tố số 9) của Nhật Bản, như lời thừa nhận của Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, người có lời chỉ trích Nhật Bản trong phần trước: “Bất chấp những trải nghiệm của tôi trong thời kỳ Nhật chiếm đóng và những tính cách Nhật từng khiến tôi sợ hãi, giờ đây tôi tôn trọng và ngưỡng mộ họ. Sự đoàn kết, kỷ luật, thông minh, cần cù và sẵn sàng hi sinh vì dân tộc của họ khiến họ trở thành một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Ý thức được sự nghèo nàn về tài nguyên, họ tiếp tục nỗ lực để đạt được điều không thể đạt được. Vì giá trị văn hóa của họ, họ sẽ là những người sống sót cô đơn sau bất kỳ thảm họa nào. Thỉnh thoảng họ bị tấn công bởi các thế lực không thể đoán trước của thiên nhiên – động đất, bão và sóng thần. Họ thu nhặt thương vong, tự đứng dậy và xây dựng lại… Tôi đã rất ngạc nhiên thấy cuộc sống trở lại bình thường ở Kobe khi tôi đến thăm vào tháng 11 năm 1996, một năm rưỡi sau trận động đất [kinh hoàng]. Họ đã vượt qua thảm họa này trong chốc lát và ổn định nếp sống mới.”
Các nhân tố khác trong danh sách các ưu thế của Nhật Bản là sự tự do lựa chọn mà Nhật Bản có được khi là một quần đảo không có hàng xóm chung biên giới đất liền (nhân tố số 12), được bù đắp bởi sự gần gũi với Trung Quốc và Hàn Quốc; căn tính quốc gia, niềm tự hào và sự gắn kết mạnh mẽ (nhân tố số 6); sự hỗ trợ thân thiện hoặc ít nhất là sự trung lập nhân từ mà Nhật Bản nhận được từ nhiều đối tác thương mại khác ngoài Trung Quốc và Hàn Quốc (nhân tố số 4); và các mô hình sẵn có mà các quốc gia khác đưa ra để giải quyết một số vấn đề chính của Nhật Bản nếu họ chọn sử dụng các mô hình đó (nhân tố số 5: xem đoạn sau). Ưu thế lớn hơn nữa của Nhật Bản là sức mạnh kinh tế, nhân lực, văn hóa và môi trường như đã được thảo luận trong những trang đầu tiên của chương này.
Bù lại những ưu thế này là ba yếu tố trong danh sách của tôi. Tôi đề cập đến chúng không phải để thúc đẩy sự bi quan, mà để tập trung chú ý vào thái độ mà Nhật Bản sẽ phải thay đổi nếu họ muốn giải quyết các vấn đề hiện tại. Giá trị cốt lõi truyền thống chính là một trở ngại vì hiện nó đã trở nên không phù hợp do hoàn cảnh thay đổi (nhân tố số 11): Nhật Bản tiếp tục nỗ lực để bảo đảm quyền khai thác không hạn chế tài nguyên thiên nhiên như thể chúng là siêu dư thừa, thay vì nỗ lực hợp tác quốc tế để khai thác chừng mực một cách bền vững. Một trở ngại khác là câu chuyện của Nhật Bản về Thế chiến II tập trung vào sự tự thương thân và xem họ là nạn nhân, thay vì chấp nhận trách nhiệm của Nhật Bản đối với chiến tranh và các hành động của họ (nhân tố số 2). Trong chính sách quốc gia cũng như trong cuộc sống cá nhân, vấn đề sẽ không thể giải quyết nếu người ta vẫn phủ nhận trách nhiệm của chính mình. Nhật Bản sẽ phải noi theo tấm gương của Đức về việc thừa nhận trách nhiệm, nếu Nhật Bản muốn cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc và Triều Tiên.
Trở ngại còn lại, theo tôi, chính là thiếu việc tự đánh giá trung thực, mang tính thực tế trong một số lĩnh vực chính (nhân tố số 7). Hai ví dụ chúng ta vừa đề cập liên quan đến nhập khẩu tài nguyên và câu chuyện về Thế chiến II. Một ví dụ khác là niềm tin sai lệch của Nhật Bản vào sự tối quan trọng của việc ngăn chặn sự suy giảm dân số. Tuy việc giảm từ 127 triệu xuống còn 20 triệu người sẽ thực sự gây ra vấn đề, nhưng tôi thấy không có bất lợi nào trong việc giảm xuống còn 80 triệu, mà thay vào đó là một ưu thế rất lớn: cụ thể là giảm sự thèm khát của Nhật Bản đối với tài nguyên nhập khẩu, điều đã ám ảnh lịch sử Nhật Bản hiện đại. Nhật Bản rất hùng mạnh vì có nhiều ưu thế như đã nêu ở phần đầu của chương này, chứ không phải vì dân số Nhật Bản hiện tại là 127 triệu, bằng Mexico, cao hơn 80 triệu của Đức.
Còn một lĩnh vực cần phải được tự đánh giá là nhập cư. Đó là phương pháp mà nhiều quốc gia sử dụng để giải quyết các vấn đề vốn được Nhật Bản coi là nghiêm trọng: đặc biệt, khi tỉ lệ lao động trẻ so với người nghỉ hưu lớn tuổi đang giảm, chăm sóc trẻ em không có nhiều lựa chọn và không đủ người chăm sóc cho người già. Một lựa chọn là Nhật Bản nên xem xét nhập cư theo mô hình rất thành công của Canada, hoặc dựa trên kinh nghiệm của những người di cư Nhật Bản đến Mỹ và Nam Mỹ. Một lựa chọn thay thế là Nhật Bản tiếp tục nói không với nhập cư và thay vào đó áp dụng một số thay đổi rõ ràng: ví dụ: mở rộng lực lượng lao động bản địa Nhật Bản bằng cách loại bỏ những trở ngại khiến phụ nữ không tham gia lực lượng lao động, và tăng số lượng thị thực có thời hạn được cấp cho nhân viên nước ngoài để làm việc chăm sóc trẻ em, điều dưỡng và chăm sóc người già. Không có bí mật nào về những giải pháp khả thi này, mỗi giải pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Những gì cần thiết là mạnh mẽ chịu cuộc đại phẫu, tìm kiếm đồng thuận về một giải pháp và tránh tình trạng tê liệt hiện tại tiếp diễn.
Làm thế nào Nhật Bản đối diện với những thách thức trong thập niên tới? Trên thực tế, những vấn đề mà Nhật Bản hiện đang gặp phải ít ghê gớm hơn những vấn đề mà họ từng đối mặt khi chính sách cô lập lâu dài của họ đột ngột kết thúc vào năm 1853, hoặc khi Nhật Bản hoàn toàn bại trận vào tháng 8 năm 1945. Nhật Bản từng phục hồi mạnh mẽ sau những chấn thương đó, nên tôi hi vọng rằng ngày nay, một lần nữa, Nhật Bản có thể đánh giá lại một cách có chọn lọc các giá trị cốt lõi của mình, loại bỏ những giá trị không còn ý nghĩa, giữ lại những giá trị vẫn còn ý nghĩa và kết hợp chúng với một số giá trị mới thích ứng với sự biến động của hoàn cảnh hiện đại.
Vào thời điểm tôi đang viết cuốn sách này, nước Mỹ chưa trải qua biến cố nặng nề nào như biến cố Nhật Bản gặp phải sau cuộc viếng thăm bất ngờ của Phó đề đốc Perry vào ngày 8 tháng 7 năm 1853. Tuy nhiên, phần lớn người dân đồng ý rằng nước Mỹ còn những vấn nạn nghiêm trọng hơn. Tình hình hiện tại của Mỹ có thể nói là tương tự Đức thời hậu chiến hay Úc, với một cuộc khủng hoảng dần lộ diện, gồm các vấn đề chính trị-xã hội lẫn quan hệ quốc tế.
Chẳng hạn, trong số các vấn đề liên quan tới quan hệ quốc tế, nhiều người dân Mỹ lo ngại về mối đe dọa lâu dài đến từ sự trỗi dậy của Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ. Trung Quốc đông dân gấp bốn lần Mỹ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong nhiều năm qua liên tục vượt Mỹ cũng như các quốc gia lớn khác. Về mặt quân sự, không nước nào có nhiều binh lính bằng Trung Quốc, và mức chi tiêu quân sự của họ cũng chỉ kém nước đứng đầu là Mỹ. Trung Quốc đã sở hữu vũ khí hạt nhân khoảng nửa thế kỷ nay. Về nhiều mặt thuộc lĩnh vực công nghệ tiên tiến (như sản sinh năng lượng thay thế và tàu tốc hành), Mỹ cũng đã bị Trung Quốc vượt mặt. Một chính phủ chuyên chế như của Trung Quốc có thể hoàn thành công việc nhanh hơn nền dân chủ của Mỹ với hai đảng phái chính, với cơ chế kiểm soát và cân bằng. Nhiều người Mỹ cho rằng, việc Trung Quốc vượt Mỹ về kinh tế và quân sự chỉ còn là vấn đề thời gian. Chúng ta ngày càng được nghe nhiều về chuyện thế kỷ 21 là thế kỷ của châu Á, đặc biệt là của Trung Quốc.
Tôi đồng ý rằng các mối lo ngại này không thể bị xem nhẹ. Một mặt, qua những gì tôi đã chứng kiến suốt cuộc đời mình, mỗi thập niên lại có những lý do để coi đó là thời đoạn khó khăn nhất với người Mỹ. Chẳng hạn, thập niên 1940 diễn ra Thế chiến II với Nhật Bản và Đức Quốc xã, thập niên 1950 có Chiến tranh Lạnh, thập niên 1960 xảy ra Khủng hoảng Tên lửa Cuba cùng Chiến tranh Việt Nam – cuộc chiến ảnh hưởng rất lớn tới xã hội Mỹ, và các thập niên tiếp theo cũng không khác gì. Song, ngay cả khi tự nhủ rằng chúng ta nên có thái độ hoài nghi bởi mỗi thập niên lại có nguyên cớ nào đó gây ra nỗi bất an lớn nhất tại chính thời điểm ấy, thì tôi vẫn phải tán thành sự thật là thập niên gần nhất, 2010, đang khiến người dân lo âu nhiều nhất.
Để cho phù hợp, sau khi chương trước thảo luận về những gì nước Nhật đang đối mặt ở phía trước, chương này và chương tiếp theo (Chương 10) cũng đề cập đến những gì mà Mỹ sắp phải đối diện. Cũng như trường hợp Nhật Bản, tôi sẽ tránh tập trung đề cập một chiều vào những điểm sai của Mỹ. Thay vào đó, trước tiên tôi sẽ đưa ra những ưu thế có nền tảng lâu dài. Đối với mỗi ưu thế, tôi sẽ đánh giá ngắn gọn về Trung Quốc trong cùng lĩnh vực đó, để đánh giá tính chân thực đối với nỗi sợ hãi của người Mỹ về việc thời gian đứng về phía Trung Quốc và chống lại Mỹ. Tất nhiên, ngoài Trung Quốc, những quốc gia khác – đặc biệt là Triều Tiên, Nga và Afghanistan – cũng đặt ra nhiều vấn đề với nước Mỹ. Nhưng điều thiết thực hơn cho mục đích của cuốn sách này là so sánh Mỹ với Trung Quốc thay vì với các quốc gia khác, vốn đặt ra cho Mỹ các vấn đề ở phạm vi hẹp hơn vấn đề Trung Quốc. Sau đó, tôi sẽ nêu ra những gì được cho là những vấn nạn cơ bản hiện tại của Mỹ – không phải những vấn đề cần quan tâm tức thời cho cuộc bầu cử năm 2020, mà là những vấn đề mà tôi dự đoán sẽ đứng hàng đầu trong thập niên tới. Như trong chương trước về Nhật Bản, tôi sẽ chỉ thảo luận về các vấn đề cụ thể ở Mỹ và tôi sẽ dành Chương 11 cho các vấn đề thế giới rộng lớn hơn cũng ảnh hưởng đến Mỹ. Cuối cùng, tôi sẽ xem rằng liệu hàng tá hệ quả được dự đoán từ cuốn sách này có thể giúp đỡ hay làm tổn thương người Mỹ trong việc giải quyết những vấn nạn cơ bản hay không.
Đánh giá của tôi về sức mạnh của Mỹ bắt đầu từ thực tế hiện hữu, và đã tồn tại trong nhiều thập niên, rằng Mỹ là quốc gia quyền lực nhất thế giới, đồng thời cũng có nền kinh tế lớn nhất. (Nền kinh tế Trung Quốc có quy mô tiệm cận và một số lĩnh vực còn lớn hơn Mỹ.) Để hiểu nền tảng của quy mô kinh tế to lớn của Mỹ, hãy luôn tự nhắc nhở về sự kiện đề cập ở chương trước giúp chúng ta hiểu về quy mô của nền kinh tế Nhật Bản. Sản lượng hay thu nhập kinh tế quốc gia là sản phẩm của hai yếu tố: dân số quốc gia, nhân với sản lượng hoặc thu nhập bình quân trên mỗi đầu người. Mỹ tiệm cận với quốc gia xếp hạng cao nhất thế giới ở cả hai nhân tố đó, trong khi mọi quốc gia khác chỉ gần tốp đầu vì có một trong hai nhân tố này thấp hơn.
Về dân số, hiện nay Mỹ xếp thứ ba trong danh sách các quốc gia đông dân nhất thế giới (khoảng 340 triệu người), chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ. Song, cả hai nước này, hay nói đúng ra là 16/20 quốc gia đông dân nhất, đều có sản lượng hoặc thu nhập bình quân đầu người thấp, chỉ vào độ 3%-40% so với Mỹ. (Ba nước còn lại trong nhóm 20 nước đứng đầu là Nhật Bản, Đức và Pháp đều là nước giàu với dân số chỉ bằng 21%-39% dân số Mỹ.) Dân số Mỹ đông vì họ sở hữu diện tích đất đai màu mỡ lớn. Nga và Canada là hai quốc gia rộng hơn Mỹ nhưng dân số thấp hơn nhiều bởi lãnh thổ của họ gồm một phần lớn thuộc Bắc Cực, chỉ phù hợp với dân cư thưa thớt và không thể canh tác nông nghiệp.
Bây giờ, việc tôi cho rằng chính dân số lớn của Mỹ là một phần lý do làm nên nền kinh tế lớn lại có vẻ mâu thuẫn với trình bày của tôi ở chương trước, rằng dân số lớn của nước Nhật không phải là một thuận lợi mà thậm chí có thể là bất lợi cho nước này. Lý do cho mâu thuẫn hiển nhiên này là Mỹ giàu tài nguyên, tự cung cấp đủ lương thực và hầu hết các nguyên liệu thô, có diện tích lớn và mật độ dân số thấp hơn 1/10 so với Nhật. Trong khi đó, nước Nhật thiếu tài nguyên, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu thực phẩm và nguyên liệu thô, có diện tích chưa bằng 1/20 so với Mỹ và rất đông đúc (mật độ dân số gấp hơn 10 lần Mỹ). Điều này có nghĩa là Mỹ có thể hỗ trợ lượng dân số lớn tốt hơn so với Nhật Bản.
Nhân tố khác góp phần vào sản lượng kinh tế hoặc sự giàu có hàng đầu thế giới của Mỹ là sản lượng hoặc sự giàu có tính trên đầu người, do các ưu thế về địa lý, chính trị và xã hội được thảo luận dưới đây. Những cách tính khác nhau để đo lường sản lượng hoặc thu nhập bình quân đầu người bao gồm GDP hoặc thu nhập trên đầu người, được điều chỉnh hoặc không điều chỉnh đối với những khác biệt trong sức mua tương đương (nghĩa là những khác biệt giữa các quốc gia về số lượng hàng hóa mà một đô la thu nhập thực sự có thể mua ở nước đó). Trong mọi phương án tính bình quân đầu người này, Mỹ vẫn vượt trội với mức chênh lệch lớn so với tất cả các quốc gia đông dân khác có nền kinh tế lớn. Những nước ít ỏi trên thế giới có GDP bình quân đầu người hoặc thu nhập cao hơn Mỹ thường là các nước nhỏ (dân số 2-9 triệu người: Kuwait, Na Uy, Qatar, Singapore, Thụy Sĩ và Các Tiểu Vương Quốc Arab Thống Nhất) hoặc quá nhỏ (dân số 30.000-500.000 người: Brunei, Liechtenstein, Luxembourg và San Marino). Sự giàu có của họ chủ yếu đến từ dầu mỏ hoặc tài chính, thu nhập của họ chỉ trải đều trên một ít người, dẫn đến việc tổng sản phẩm quốc nội hay thu nhập trên đầu người cao nhưng lại xếp hạng thấp trong tổng sản lượng kinh tế quốc gia (bằng sản lượng trên đầu người nhân số dân).
Việc Mỹ có nền kinh tế lớn nhất thế giới cho phép họ cũng có quân đội hùng mạnh nhất thế giới. Trong khi quân đội Trung Quốc đông đảo hơn, thì Mỹ lại đầu tư lâu dài vào công nghệ quân sự và tàu chiến (Ảnh 9.1) nhiều hơn thay vì cân bằng ưu thế của Trung Quốc về số lượng. Chẳng hạn, Mỹ có 10 tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân có khả năng triển khai trên toàn thế giới; chỉ một nước khác (Pháp) có một chiếc duy nhất và rất ít quốc gia nào có tàu sân bay, dù chạy bằng năng lượng hạt nhân hay không. Kết quả, hiện nay Mỹ là cường quốc quân sự toàn cầu duy nhất có thể can thiệp trên khắp thế giới – đó là một thực tế, cho dù người ta có chấp thuận hay không những can thiệp đó.
Không phải ngẫu nhiên mà Mỹ trở nên giàu có về kinh tế và có sức mạnh quân sự. Có nhiều lý do dẫn đến kết quả này, bên cạnh những ưu thế diện tích lớn và dân số lớn đã được đề cập là những ưu thế về địa lý, chính trị, kinh tế và xã hội. Nếu khi đọc những trang sau mà bạn cảm thấy tôi nói quá nhiều về những ưu thế của Mỹ, thì tôi cũng báo trước: những trang này sẽ được tiếp nối bởi nhiều trang khác bàn về những vấn nạn lớn mà Mỹ phải đối mặt.
Về mặt địa lý, Mỹ may mắn được ban tặng một tài sản đất đai tuyệt vời. Toàn bộ 48 bang ở vùng thấp của Mỹ đều nằm trong khu vực ôn đới, là khu vực sản xuất nông nghiệp lớn nhất thế giới, và an toàn nhất về mặt y tế công cộng. Trong khi phần lớn lãnh thổ Trung Quốc cũng nằm trong khu vực ôn đới, nhiều vùng phía nam lại thuộc khu vực cận nhiệt đới, và một phần lan sang vùng nhiệt đới. Đáng quan ngại hơn, lãnh thổ Trung Quốc bao gồm một vùng cao nguyên rộng nhất và cao nhất thế giới, có giá trị nông nghiệp thấp, cộng với một vùng núi cao rộng lớn (bao gồm năm trong số sáu ngọn núi cao nhất thế giới) không mang lại giá trị kinh tế nào cho con người ngoại trừ ngành du lịch leo núi và những dòng sông băng cung cấp nước cho các con sông.
Đất đai vùng ôn đới nói chung màu mỡ hơn so với đất đai vùng nhiệt đới, một phần là do các di sản của các dòng sông băng ở Thời kỳ Băng hà vĩ độ cao liên tục tràn tới rồi rút lui trên cảnh quan, nghiền vụn đá để tạo ra hoặc phơi bày đất đai tươi nguyên. Điều đó không chỉ xảy ra ở Bắc Mỹ mà còn ở phía bắc lục địa Á-Âu, tạo nên độ phì nhiêu cho đất đai vùng Á-Âu. Nhưng băng hà đặc biệt hiệu dụng ở Bắc Mỹ vì một đặc trưng địa lý của riêng vùng đất này mà không một lục địa nào có. Để thấy rõ đặc trưng này, bạn chỉ cần lướt qua bản đồ thế giới và nhanh chóng mô tả hình dạng của mỗi lục địa chỉ trong một câu ngắn gọn. Bạn sẽ thấy Nam Mỹ và châu Phi đều rộng nhất ở khoảng giữa và hẹp dần về phía Nam Cực, trong khi lục địa Á-Âu và Úc rộng ở cả vĩ độ cao và thấp. Nhưng Bắc Mỹ thì lại có hình nêm độc đáo, rộng nhất ở phía Bắc Cực và trở nên hẹp dần ở vĩ độ thấp.
Hình dạng đó tạo nên hiệu ứng cho đất đai vùng Bắc Mỹ. Các dòng sông băng hình thành hàng chục lần ở Bắc Cực trong suốt Thời kỳ Băng hà hay Kỷ Pleistocene rồi tràn về phía nam, cả ở Bắc Mỹ và lục địa Á-Âu. Do hình dạng nêm thon nhọn của Bắc Mỹ, một khối lượng băng lớn hình thành, lan rộng ở vĩ độ cao chuyển thành một dải hẹp hơn và trở thành những dòng sông băng nặng nề hơn khi chúng tràn về phía vĩ độ thấp. Lục địa Á-Âu không có hình nêm nên khối lượng băng hình thành ở vĩ độ cao, di chuyển thành một dải rộng bằng nhau ở vĩ độ thấp. Các lục địa Nam Mỹ, châu Phi và Úc đều chấm dứt ở gần vòng cung Nam Cực nên không thể tạo ra những dải băng tràn về phía bắc. Do đó, việc tạo ra các loại đất tươi và phì nhiêu qua việc các sông băng khởi nguồn từ vĩ độ cao tràn đến rồi rút đi gây hiệu quả nhất ở Bắc Mỹ, kém hiệu quả ở lục địa Á-Âu, và ít hoặc không hiệu quả ở ba lục địa phía nam. Kết quả là những vùng đất phì nhiêu tươi tốt của vùng Đại Bình nguyên Bắc Mỹ khiến những người nông dân nhập cư châu Âu ngạc nhiên và thích thú, và bây giờ tạo thành vùng đất nông nghiệp lớn nhất và có năng suất liên tục nhất (Ảnh 9.2). Do đó, hình dạng nêm của lục địa Bắc Mỹ và lịch sử của các lần băng hà lặp đi lặp lại, kết hợp với lượng mưa điều hòa trên phần lớn lục địa hiện nay, là những lý do cơ bản khiến Mỹ có năng suất nông nghiệp cao và là nước xuất khẩu thực phẩm lớn nhất thế giới. Ngược lại, Trung Quốc có đất đai kém màu mỡ hơn do bị xói mòn và mật độ dân số trung bình cao gấp bốn lần Mỹ, khiến Trung Quốc trở thành một nước nhập khẩu thực phẩm ròng.
Một thuận lợi địa lý quan trọng khác của nước Mỹ chính là đường thủy, ở vùng duyên hải lẫn nội địa. Chúng tạo thành một khoản tiết kiệm lớn do vận chuyển bằng đường biển rẻ hơn từ 10 đến 30 lần so với vận chuyển bằng đường bộ hoặc đường sắt. Các biên giới phía đông (Đại Tây Dương), tây (Thái Bình Dương) và đông nam (vùng bờ Vịnh) của Mỹ bao gồm các bờ biển dài, được nhiều hòn đảo dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và vùng bờ Vịnh bao bọc. Do đó, tàu thuyền đi qua hai vùng duyên hải sau cùng thông qua đường thủy nội địa một phần được những hòn đảo này che chắn. Cả ba vùng duyên hải đều có những vùng lõm lớn trong đó có các cảng nước sâu (Ảnh 9.3), như Vịnh Long Island, Vịnh Chesapeake, Vịnh Galveston, Vịnh San Francisco và Vịnh Puget. Kết quả là Mỹ may mắn có nhiều bến cảng tự nhiên được bảo vệ tuyệt vời: chỉ riêng Bờ Đông đã có nhiều hơn tất cả phần còn lại của châu Mỹ phía nam biên giới Mexico. Ngoài ra, Mỹ là cường quốc duy nhất trên thế giới giáp mặt với cả Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.
Về các tuyến đường thủy nội địa, Bờ Đông nước Mỹ có nhiều con sông ngắn có thể lưu thông. Nhưng đường thủy nội địa quan trọng nhất của Mỹ vẫn là hệ thống sông Mississippi khổng lồ và các chi lưu lớn (Missouri và các nhánh sông khác) tưới tiêu hơn một nửa diện tích nước Mỹ, bao gồm cả vùng đất nông nghiệp lớn của Mỹ ở Đại Bình nguyên (Hình 8). Nếu không có hệ thống kênh mương và âu thuyền, những rào chắn cản trở việc đi lại trên những con sông, tàu bè có thể di chuyển một mạch 1.200 dặm vào sâu bên trong vùng trung tâm của Mỹ từ Bờ Vịnh (Ảnh 9.4). Ngoài vùng thượng nguồn sông Mississippi là vùng Ngũ Đại Hồ, nhóm hồ lớn nhất thế giới, và cũng được dùng để vận tải nhiều hơn bất kỳ vùng hồ nào. Sông Mississippi và Ngũ Đại Hồ kết hợp tạo thành mạng lưới đường thủy nội địa lớn nhất thế giới. Nếu bổ sung thêm tuyến đường thủy ven biển vào hệ thống Mississippi/Ngũ Đại Hồ thì Mỹ có nhiều tuyến đường thủy vận tải nội địa hơn tất cả các nơi khác trên thế giới cộng lại. Để so sánh, Mexico không có dòng sông lớn nào lưu thông được, và toàn bộ lục địa châu Phi chỉ có một con sông có thể lưu thông ra đại dương (sông Nile). Trung Quốc thì có đường bờ biển ngắn hơn nhiều (chỉ ở phía đông), không có cảng tốt, chỉ một phần nhỏ diện tích đất có thể tiếp cận với các con sông mà tàu bè lưu thông được, và không có hệ thống hồ lớn nào có thể sánh với Ngũ Đại Hồ của Mỹ. Tất cả các tuyến đường thủy đó kết nối phần lớn nước Mỹ và kết nối Mỹ với phần còn lại của thế giới bằng phương tiện giao thông đường thủy rẻ tiền.
Ưu thế của bờ biển nước Mỹ là khả năng phòng thủ chống xâm lược. Có vẻ mâu thuẫn khi vừa ca ngợi vùng duyên hải là phương cách lý tưởng để vận chuyển hàng hóa, bây giờ tôi lại gạt bỏ chúng để nhảy sang ý tưởng khác là chuyển quân. Tất nhiên, lý do là vì việc giao hàng từ một con tàu ngoài khơi rẻ hơn và an toàn hơn so với phương tiện trên đất liền nếu có người chờ sẵn trên đất liền để nhận hàng theo kế hoạch của bạn. Nhưng giao hàng bằng đường biển rất tốn kém và không an toàn nếu có người đang chờ bắn vào bạn. Những cuộc đổ bộ luôn được đánh giá là một trong số các hình thức chiến tranh nguy hiểm nhất: chỉ cần nghĩ đến 58% thương vong của quân đội Canada khi đột kích Dieppe trên bờ biển Pháp vào tháng 8 năm 1942, hoặc 30% thương vong của lính thủy đánh bộ Mỹ để chiếm đảo san hô Tarawa vào tháng 11 năm 1943. Mỹ còn được bảo vệ thêm khi việc chiếm đóng Hawaii và Alaska giúp kiểm soát việc tiếp cận bờ Thái Bình Dương của Mỹ. Những phần biên giới Mỹ không bao gồm bờ biển là biên giới đất liền giáp với Mexico và Canada, nhưng cả hai đều có dân số và quân đội quá nhỏ để đe dọa Mỹ (mặc dù Mỹ cũng từng đánh nhau với mỗi nước ở đầu thế kỷ 19).
Do đó, Mỹ hầu như miễn nhiễm với việc bị xâm lăng. Trong lịch sử nước Mỹ độc lập, chưa nước nào từng có ý định đó; Mỹ chưa từng dính vào cuộc chiến trên đất nước mình với cường quốc nước ngoài nào kể từ Chiến tranh Mexico 1846-1848, mà chính Mỹ lại là bên khởi xướng. Ngay cả những cuộc đột kích đơn thuần vào lục địa Mỹ cũng không đáng kể: cuộc đột kích của Anh vào Washington trong Cuộc chiến 1812, cuộc đột kích của Pancho Villa vào Columbus ở New Mexico năm 1916, một quả pháo được bắn đi từ tàu ngầm Nhật Bản trong Thế chiến II vào thành phố ven biển Santa Barbara và sáu thường dân Mỹ bị thiệt mạng bởi khinh khí cầu chứa đầy chất nổ của Nhật trong Thế chiến II. Trong khi đó, mọi nước lớn khác đều bị xâm chiếm (Nhật, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ) hay bị chiếm đóng (Nhật, Ý, Hàn Quốc, Đức), hoặc bị đe dọa xâm lược (Liên hiệp Anh) ở thế kỷ trước. Đặc biệt, Trung Quốc không chỉ bị tấn công ồ ạt từ biển và bị Nhật chiếm đóng lâu dài từ năm 1937 đến năm 1945, mà còn bị Anh, Pháp và Nhật tấn công từ ngoài biển vào đất liền ở thế kỷ 19; gần đây còn gây chiến với Nga, Ấn Độ và Việt Nam ở biên giới đất liền; và trong quá khứ luôn bị những đạo quân vùng Trung Á tấn công, hai trong số đó (người Mông Cổ và người Mãn Châu) đã thành công trong việc chinh phục toàn bộ Trung Quốc.
Đó là những ưu thế về địa lý của Mỹ. Bây giờ, hãy xem xét các ưu thế chính trị, bắt đầu bằng việc chính phủ Mỹ là một nền dân chủ liên tục trong suốt 230 năm tồn tại của đất nước này. Ngược lại, Trung Quốc lại có chính phủ chuyên chế phi dân chủ không ngừng trong suốt 2.240 năm tồn tại của quốc gia này.
Điều gì thực sự là những ưu thế của nền dân chủ – hay chí ít cũng là những ưu thế tiềm năng? (Tôi nhấn mạnh đến “tiềm năng” vì như chúng ta sẽ chứng kiến, chính phủ Mỹ được cho là dân chủ đang đánh mất những ưu thế tiềm năng đó bằng việc đi chệch hướng khỏi nền dân chủ thật sự.) Ngày nay, người Mỹ ngày càng bị vỡ mộng với nền dân chủ, đôi khi họ còn ghen tị với thể chế của Trung Quốc do khả năng quyết định và thực hiện các chính sách hợp lý một cách nhanh chóng. Không nghi ngờ gì việc các chính phủ dân chủ thường mất nhiều thời gian trong quyết định và thực hiện chính sách hơn các chế độ toàn trị, do bản chất của dân chủ là kiểm tra, cân bằng và dựa trên sự phổ biến rộng rãi (do đó tốn kém thời gian). Ví dụ như việc Trung Quốc sử dụng xăng không chì chỉ mất một năm, trong khi chính sách đó đòi hỏi một thập niên tranh luận và giằng co trước tòa án Mỹ. Mỹ ghen tị với việc Trung Quốc nhanh chóng vượt xa Mỹ trong việc xây dựng mạng lưới vận chuyển đường sắt tốc độ cao, hệ thống tàu điện ngầm trong thành phố, và truyền tải năng lượng ở khoảng cách xa. Những người hoài nghi về thể chế dân chủ cũng có thể đưa dẫn chứng về các nhà lãnh đạo dễ gây tai hại lên nắm quyền lực thông qua bầu cử dân chủ.
Những bất lợi của nền dân chủ là có thật. Nhưng các chế độ toàn trị còn tồi tệ hơn nhiều, thường gây tai họa và bất lợi. Không một ai, trong lịch sử 5.400 năm của chế độ trung ương tập quyền trên mọi châu lục, có thể đảm bảo rằng phần lớn các chính sách được thực thi với tốc độ đáng ghen tị của các chế độ toàn trị là những chính sách tốt đẹp. Chỉ cần nghĩ về các chính sách tự hủy hoại khủng khiếp mà Trung Quốc cũng thực hiện nhanh chóng, và hậu quả của nó không gì sánh bằng ở bất kỳ nền dân chủ lớn nào trong Thế giới Thứ nhất. Những chính sách tự hủy hoại đó bao gồm việc Trung Quốc xảy ra nạn đói trên diện rộng từ năm 1958 đến năm 1962 khiến nhiều người bỏ mạng, đình hoãn hệ thống giáo dục để huy động giáo viên ra đồng làm việc cùng với nông dân và sau đó tạo ra mức độ ô nhiễm không khí tồi tệ nhất thế giới. Chỉ cần ô nhiễm không khí ở Mỹ tồi tệ bằng một nửa như hiện nay ở nhiều thành phố lớn của Trung Quốc, cử tri Mỹ sẽ than phiền và gạt bỏ chính phủ đương nhiệm trong cuộc bầu cử sau. Cũng như nghĩ về các chính sách tự hủy hoại nặng nề hơn nữa được các chính phủ độc tài ở Đức và Nhật Bản thực hiện trong thập niên 1930 mà không lấy ý kiến rộng rãi khiến các nước này rơi vào chiến tranh, giết chết hàng triệu công dân của họ (chưa kể hơn 20 triệu công dân của các quốc gia khác). Đó là lý do tại sao khi đáp lại việc có người trình bày những than phiền thường lệ về khuyết điểm của nền dân chủ, Winston Churchill lại châm biếm rằng nền dân chủ quả là thể chế tồi tệ nhất, ngoại trừ mọi thể chế khác từng được áp dụng từ trước đến nay.
Những ưu thế của chính phủ dân chủ thì rất nhiều. Trong một nền dân chủ, mọi công dân hầu như có thể đưa ra bất kỳ ý tưởng nào để tranh luận, ngay cả khi ý tưởng ban đầu là buộc tội chính phủ đang nắm quyền. Tranh luận và phản đối để bày tỏ ý tưởng là chính sách tốt nhất, nhưng trong chế độ độc tài, ý tưởng sẽ không bao giờ được tranh luận và những điểm tốt của nó sẽ không bao giờ được chấp nhận.
Dẫn chứng điển hình trong lịch sử Mỹ gần đây chính là khi chính phủ Mỹ cứ kiên trì theo đuổi một chính sách cho thấy là không tốt đẹp, và vì các cuộc biểu tình phản đối chính sách đó rất mạnh mẽ, nên quyết định cuối cùng của chính phủ là chấm dứt chính sách gây chiến ở Việt Nam (Ảnh 9.5). Ngược lại, người Đức năm 1941 không có cơ hội tranh luận về quyết định điên rồ của Hitler trong việc xâm chiếm Liên Xô và sau đó tuyên chiến với Mỹ trong khi đang có chiến tranh với Anh.
Một ưu thế cơ bản khác của nền dân chủ là công dân biết rằng ý tưởng của họ đang được lắng nghe và tranh luận. Kể cả khi ý tưởng của họ không được áp dụng ngay, họ biết rằng mình sẽ có những cơ hội khác để thắng thế trong các cuộc bầu cử ở tương lai. Không có dân chủ, công dân dễ cảm thấy thất vọng, và kết luận chính xác rằng lựa chọn duy nhất của họ là dùng đến bạo lực, thậm chí cố lật đổ chính phủ. Kiến thức cho thấy rằng những van xả mang tính hòa bình để tự do bày tỏ tư tưởng làm giảm nguy cơ bạo lực dân sự. Một người bạn hay hoài nghi nhưng sắc sảo về chính trị nhận xét với tôi rằng: “Điều có giá trị ở nền dân chủ là vẻ ngoài của nền dân chủ.” Bằng cách diễn đạt này, ý của bạn tôi là vẻ ngoài của nền dân chủ có thể đủ can ngăn công dân sử dụng bạo lực, ngay cả khi (như hiện thực ở Mỹ) nền dân chủ thực sự đang bị cản trở theo những cách không nhìn thấy được.
Một ưu thế cơ bản nữa của nền dân chủ chính là sự thỏa hiệp, cần thiết cho việc vận hành thể chế. Thỏa hiệp giảm thiểu sự chuyên chế của những người nắm quyền, những người có thể bỏ qua các quan điểm đối nghịch. Đổi lại, thỏa hiệp cũng có nghĩa là một thiểu số bất bình phải đồng ý không làm tê liệt chính phủ.
Vẫn còn một ưu thế cơ bản khác của nền dân chủ là, trong các nền dân chủ hiện đại với quyền bầu cử phổ quát, mọi công dân đều có thể bỏ phiếu. Do đó, chính phủ nắm quyền có động cơ đầu tư vào mọi công dân, những người nhờ đó có được cơ hội việc làm hữu ích, thay vì những cơ hội đó chỉ dành cho một tầng lớp tinh hoa độc tài ít ỏi.
Ngoài những ưu thế của những nền dân chủ nói chung, Mỹ còn có được những ưu thế hơn từ hình thức dân chủ cụ thể của họ, đó là chính phủ liên bang. Trong một hệ thống liên bang, những chức năng quan trọng của chính phủ được dành cho các đơn vị dân chủ trong khu vực chứ không phải là đặc quyền của một chính phủ trung ương tập quyền duy nhất. Phiên bản Mỹ của một hệ thống liên bang bao gồm 50 bang, trên thực tế thường có nghĩa là 50 thử nghiệm cạnh tranh kiểm tra các giải pháp khác nhau cho cùng một vấn đề, để từ đó có thể rút ra giải pháp nào vận hành tốt nhất. Chẳng hạn, các bang Mỹ cho phép (Oregon) hoặc cấm (Alabama) hỗ trợ tự tử, và các loại thuế bang cao (California) hoặc thấp (Montana). Một dẫn chứng khác, khi tôi lớn lên ở bang Massachusetts phía đông bắc nước Mỹ, người California đầu tiên mà tôi gặp giải thích với tôi rằng California đã trở thành bang duy nhất của Mỹ áp dụng luật cho phép ô tô rẽ phải khi gặp đèn đỏ ở giao lộ, sau khi đã dừng lại hẳn. Ở Mỹ, luật giao thông như vậy là đặc quyền của từng bang chứ không phải của chính phủ liên bang. Vào đầu thập niên 1960, đối với công dân Massachusetts cũng như với các công dân ở các bang khác của Mỹ, điều này có vẻ như là một ý tưởng cực kỳ nguy hiểm mà chỉ những người California điên rồ mới mơ ước được thử. Nhưng khi bang California thực hiện thử nghiệm, nó lại chứng minh là an toàn và các bang khác có thể học hỏi từ California, sau cùng mọi bang đều áp dụng luật này (Ảnh 9.6).
Bạn có thể phản đối rằng việc được phép hoặc cấm rẽ phải khi đèn đỏ sau khi dừng hẳn chưa đủ quan trọng để thuyết phục bạn về những ưu thế của hệ thống liên bang. Một thử nghiệm có kết quả gần đây được Thống đốc Brownback của bang Kansas thực hiện. Ông cho rằng đối với công dân của bang, việc cắt giảm thuế nhà nước quan trọng hơn một hệ thống giáo dục công cộng được tài trợ. Do đó, bắt đầu vào năm 2012, ông giảm thu nhập thuế của bang đến mức những cắt giảm mạnh mẽ nền giáo dục công cộng trở nên cần thiết ở Kansas. Các bang khác của Mỹ quan tâm theo dõi kết quả của thử nghiệm này. Đến năm 2017, kết quả từ Kansas đã thuyết phục ngay cả các nhà lập pháp Kansas thuộc cùng đảng với Thống đốc Brownback rằng việc cắt giảm giáo dục công cộng không phải là một ý tưởng hay, vì vậy họ lại bỏ phiếu thuận để tăng thuế bang một lần nữa. Điều này đồng nghĩa với việc hệ thống liên bang của Mỹ vẫn cho phép một bang tự kiểm tra ý tưởng đó và để 49 bang khác học hỏi từ những gì diễn ra trong một bang.
Trên đây là một số ưu thế lớn của nền dân chủ Mỹ mà Trung Quốc không có. Theo tôi, việc thiếu những ưu thế đó là nhược điểm lớn nhất sẽ khiến Trung Quốc không bắt kịp thu nhập bình quân đầu người ở Mỹ – khi nào nước Mỹ vẫn tồn tại nền dân chủ và Trung Quốc thì vẫn không chuyển hóa sang nền dân chủ. Điều đó khiến tôi lặp lại một lần nữa: một quốc gia dân chủ trên danh nghĩa sẽ mất những ưu thế đó nếu nền dân chủ bị xâm phạm nghiêm trọng, và còn hơn thế nếu xảy ra điều dưới đây. Tôi cũng thừa nhận rằng dân chủ không nhất thiết phải là lựa chọn tốt nhất cho mọi quốc gia; nhất là sẽ khó để nền dân chủ thắng thế ở các quốc gia thiếu các điều kiện tiên quyết về số cử tri có tri thức và một căn tính quốc gia được chấp nhận rộng rãi.
Tôi cũng sẽ đề cập ngắn gọn tới hai ưu thế chính trị khác của Mỹ bên cạnh chính phủ dân chủ. Mỹ áp dụng việc kiểm soát dân sự không ngừng nghỉ trong toàn bộ lịch sử đất nước. Điều này đã không xảy ra với Trung Quốc hay hầu hết các nước Mỹ Latin, và cũng không xảy ra với nước Nhật trong giai đoạn từ thập niên 1930 đến năm 1945. Mỹ có tệ nạn tham nhũng tương đối thấp theo tiêu chuẩn thế giới, mặc dù còn kém Đan Mạch, Singapore, và 20 nước khác. Tham nhũng gây nguy hại cho một nước hay một doanh nghiệp, vì những quyết định thường bị tác động bởi những điều có lợi cho các chính trị gia hoặc doanh nhân tham nhũng, dù quyết định đó có thể gây bất lợi cho đất nước hoặc toàn bộ các doanh nghiệp. Tham nhũng cũng gây nguy hại cho doanh nghiệp vì nó có nghĩa là họ không thể tin vào những hợp đồng trói buộc, điều này cũng là một khuyết điểm lớn lao khác của Trung Quốc, nơi có tình trạng tham nhũng công khai. Nhưng ở Mỹ cũng có nhiều vụ tham nhũng kín, do Phố Wall cùng các thực thể và cá nhân giàu có khác tác động đến chính sách và hành động của chính phủ Mỹ bằng các biện pháp vận động hành lang và bầu cử. Mặc dù các khoản chi tiền đó là hợp pháp ở Mỹ, nhưng chúng cũng đạt được kết quả tương tự như những khoản chi phí bất hợp pháp kiếm được do tham nhũng. Điều này có nghĩa là các nhà lập pháp hoặc quan chức áp dụng các chính sách hoặc hành động gây hại cho lợi ích công cộng, nhưng có lợi cho người chi tiền, và đôi khi cũng có lợi cho các nhà lập pháp hoặc quan chức chính phủ.
Ưu thế gần cuối của Mỹ mà tôi đề cập đến là những lợi ích quen thuộc nhất mà hầu hết người Mỹ sẽ nêu ra trước khi nghĩ đến những ưu thế địa lý và chính trị cơ bản mà tôi đã biện giải đến giờ. Nước Mỹ có đặc trưng (ít nhất là cho đến gần đây – xem thêm ở Chương 10) là tính linh động kinh tế xã hội cao. Lý tưởng và thực tế của Mỹ về những người khố rách áo ôm trở nên giàu có, nghĩa là (hay được hiểu) có thể biến những người siêng năng làm việc, dù xuất thân nghèo khổ hay trở nên nghèo khổ, đều có cơ hội trở nên giàu có. Đó là một động lực lớn thúc đẩy mọi người làm việc siêng năng và cũng có nghĩa là nước Mỹ đã tận dụng tốt phần lớn nguồn nhân lực tiềm năng của mình.
Tính ưu việt của Mỹ là ngay cả những người trẻ cũng có thể tạo dựng thành công các doanh nghiệp. (Hãy nghĩ về các công ty Amazon, Apple, Facebook, Google, Microsoft và vô số các công ty mới ít thu hút nhưng vẫn sinh lãi.)
Nước Mỹ có một lịch sử lâu dài về đầu tư của chính phủ liên bang, bang và địa phương cũng như tư nhân vào giáo dục, cơ sở hạ tầng, vốn nhân lực, nghiên cứu và phát triển (Trung Quốc gần đây mới bắt kịp về đầu tư vào những lĩnh vực này). Kết quả là, Mỹ vượt trên phần còn lại của thế giới cộng lại trong mọi lĩnh vực khoa học chính yếu, được lượng định qua các bài nghiên cứu được ấn hành hay số lượng giải Nobel. Một nửa trong số mười trường đại học và viện nghiên cứu khoa học tốt nhất thế giới đều thuộc về nước Mỹ. Trong gần một thế kỷ rưỡi, Mỹ luôn nắm giữ ưu thế cạnh tranh to lớn trong các phát minh, công nghệ và thực hành sản xuất sáng tạo – dẫn chứng qua việc sản xuất hàng loạt linh kiện thay thế cho súng kíp của Eli Whitney, các nhà máy lắp ráp theo công nghệ dây chuyền của Henry Ford, sáng chế máy bay có động cơ của anh em nhà Wright; pin kiềm, bóng đèn điện, máy chiếu phim và máy ghi âm của Thomas Edison (Ảnh 9.7); điện thoại của Alexander Graham Bell; và gần đây hơn, thiết bị bán dẫn của Phòng thí nghiệm công ty điện thoại Bell, đưa người lên mặt trăng, điện thoại di động, Internet và thư điện tử.
Ưu thế cuối cùng tôi muốn nói đến chính là điều mà ngày nay nhiều người Mỹ không cho là một ưu thế: di dân (Ảnh 9.8). Tất nhiên, nó tạo ra các vấn đề mà bây giờ còn tác động đến tâm trí của chúng ta. Nhưng có một thực tế hiển nhiên là mọi người Mỹ ngày nay đều là di dân hoặc là hậu duệ của những di dân. Đại đa số dân Mỹ đều là di dân trong vòng bốn thế kỷ qua (ông bà tôi đến Mỹ vào năm 1890 và năm 1904). Ngay cả người Mỹ bản địa cũng là hậu duệ của những di dân đến đây từ ít nhất 13.000 năm trước.
Để hiểu những lợi ích cơ bản của người nhập cư, hãy hình dung bạn có thể chia dân số của bất kỳ quốc gia nào thành hai nhóm: một nhóm bao gồm bình quân những người trẻ nhất, khỏe mạnh nhất, táo bạo nhất, chịu được nhiều rủi ro nhất, làm việc chăm chỉ nhất, có tham vọng và sáng tạo nhất; nhóm kia bao gồm những người khác. Chuyển nhóm đầu tiên sang một nước khác và để nhóm thứ hai ở lại trong nước. Việc chuyển hóa có chọn lọc đó cũng tương tự như quyết định di dân và thành quả của nó. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi hơn một phần ba số người Mỹ đoạt giải Nobel đều sinh trưởng ở nước ngoài, và hơn một nửa là người nhập cư hay con cháu của người nhập cư. Điều này là do để có nghiên cứu được trao giải Nobel đòi hỏi cùng những phẩm chất tương tự về sự táo bạo, chấp nhận rủi ro, làm việc chăm chỉ, có tham vọng và tính sáng tạo. Những người nhập cư và hậu duệ của họ cũng đóng góp một phần cho nghệ thuật, âm nhạc, ẩm thực và thể thao của nước Mỹ.
Mọi điều mà tôi mô tả trong chương này có thể tóm gọn như sau: nước Mỹ được thụ hưởng những ưu thế to lớn. Nhưng các quốc gia cũng có thể phung phí ưu thế đó, như trường hợp Argentina. Có những dấu hiệu cảnh báo rằng ngày nay Mỹ có thể đang lãng phí ưu thế của mình. Một trong số những dấu hiệu cảnh báo cao đó là bốn vấn đề liên kết với nhau đang góp phần phá vỡ nền dân chủ Mỹ, một trong những thế mạnh lịch sử của Mỹ. Tôi sẽ dành phần còn lại của chương này cho vấn đề đầu tiên và nghiêm trọng nhất trong tập hợp bốn vấn đề đó. Chương tiếp theo (Chương 10) sẽ bàn luận về ba vấn đề “khác” cũng rất nghiêm trọng. Chúng được xếp như “những vấn đề khác” chỉ vì bị che khuất bởi vấn đề lớn nhất của Mỹ.
Đầu tiên, và theo tôi là điều đáng quan ngại nhất, trong những vấn đề cơ bản hiện đang đe dọa nền dân chủ Mỹ là việc thỏa hiệp chính trị ngày càng nhanh chóng biến chất. Như tôi đã giải thích trước đây, thỏa hiệp chính trị là một trong những ưu thế cơ bản của các nền dân chủ so với chế độ độc tài, do nó làm giảm hoặc ngăn chặn sự chuyên chế từ phe đa số và bị tê liệt do phe thiểu số thất bại. Hiến pháp Mỹ tìm cách tạo áp lực cho sự thỏa hiệp bằng cách nghĩ ra các hệ thống kiểm tra và cân bằng. Chẳng hạn, tổng thống lãnh đạo chính sách của chính phủ, nhưng Quốc hội kiểm soát ngân sách chính phủ, và chủ tịch Hạ viện đưa ra chương trình nghị sự của Hạ viện để thực hiện các đề xuất của tổng thống. Nếu đại diện trong Quốc hội không đồng ý với nhau, và việc này thường xuyên xảy ra, và nếu những người ủng hộ một quan điểm không thể tập hợp đủ số phiếu để áp đặt ý chí của họ, thì phải đạt được thỏa hiệp trước khi chính phủ có thể thực hiện.
Đương nhiên các cuộc đấu tranh chính trị dữ dội xảy ra thường xuyên, và thỉnh thoảng cũng xuất hiện tình trạng chuyên chế của phe đa số hoặc tê liệt chính trị do phe thiểu số trong lịch sử Mỹ. Song, trừ trường hợp ngoại lệ trong việc phá vỡ thỏa hiệp dẫn đến cuộc Nội chiến 1861-1865, thì các thỏa hiệp luôn đạt được. Một dẫn chứng thời nay là mối quan hệ giữa Tổng thống đảng Cộng hòa Ronald Reagan và Chủ tịch Hạ viện đảng Dân chủ Thomas “Tip” O’Neill trong giai đoạn 1981-1986 (Ảnh 9.9). Cả hai đều là những chính trị gia lành nghề, cá tính mạnh mẽ và đối nghịch với nhau về triết lý chính trị và trong nhiều hoặc hầu hết các vấn đề chính sách, bất đồng ý kiến và đấu nhau về mặt chính trị ở các vấn đề lớn; tuy nhiên, họ tôn trọng nhau, công nhận quyền lập hiến và chơi theo luật. Dù O’Neill không thích chương trình kinh tế của Reagan, ông vẫn công nhận quyền lập hiến của Tổng thống khi đề xuất một chương trình nghị sự để thông qua dự luật, lên lịch để Hạ viện bỏ phiếu thông qua và tuân thủ lịch trình nghị sự đó. Dưới thời Reagan và O’Neill, chính phủ liên bang đã vận hành như sau: đáp ứng thời hạn, ngân sách được phê duyệt, không xảy ra việc chính phủ ngưng hoạt động và hiếm khi bị đe dọa bởi những thủ thuật ngăn trở. Có những điều luật quan trọng mà Reagan và O’Neill cùng những người thuộc phe phái với họ bất đồng, nhưng họ vẫn thành công trong việc đạt được thỏa hiệp, bao gồm các chương trình giảm thuế, cải cách mã số thuế liên bang, chính sách nhập cư, cải cách an sinh xã hội, giảm chi tiêu phi quân sự, và tăng chi tiêu quân sự. Trong khi các ứng cử viên cho vị trí thẩm phán liên bang của Reagan thường không theo ý thích của đảng viên Dân chủ, nên những người này tìm đủ cách ngăn chặn một số ứng viên, thì Reagan vẫn có thể bổ nhiệm hơn một nửa số thẩm phán liên bang, trong đó có ba trong số chín chánh án của Tòa án Tối cao.
Nhưng kể từ giữa thập niên 1990, thỏa hiệp chính trị ở Mỹ trở nên tồi tệ, đặc biệt là từ khoảng năm 2005. Thỏa hiệp thường bị phá vỡ, không chỉ giữa hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, mà còn giữa những cánh ít ôn hòa và ôn hòa hơn ở mỗi đảng. Đặc biệt trong đảng Cộng hòa điều này lại đúng, cánh Đảng Trà cực đoan hơn đưa ra những thách thức bầu cử sơ bộ chống lại các ứng viên Cộng hòa ôn hòa thường thỏa hiệp với phe Dân chủ khi họ tái ứng cử. Kết quả là, Quốc hội nhiệm kỳ 2014-2016 thông qua ít đạo luật nhất so với bất cứ thời kỳ Quốc hội nào trong lịch sử Mỹ gần đây, trễ hạn sử dụng ngân sách, và chính phủ có nguy cơ hoặc từng phải ngừng hoạt động.
Về một ví dụ điển hình cho sự phá vỡ thỏa hiệp của Mỹ, hãy xem các thủ thuật ngăn trở và đề cử ứng viên của tổng thống bị ách lại. Thủ thuật ngăn trở là một chiến thuật được chấp nhận ở Thượng viện Mỹ theo các quy tắc của Thượng viện (không quy định trong Hiến pháp), theo đó một thiểu số thượng nghị sĩ (hay thậm chí chỉ một) phản đối một kiến nghị bằng cách trình bày bài nói không ngừng nghỉ (hoặc đe dọa sẽ sử dụng thủ thuật ngăn trở filibuster) để buộc thỏa hiệp hoặc rút lại kiến nghị đó. (Bài phát biểu không ngừng nghỉ lập kỷ lục vào năm 1967 kéo dài hơn 24 tiếng: Ảnh 9.10.) Những quy tắc của Thượng viện cho phép một thủ thuật ngăn trở được kết thúc bằng một cuộc “bỏ phiếu nhanh,” không đơn giản chỉ với đa số quá bán thượng nghị sĩ mà phải là đại đa số (từ 60 trên 100 người trở lên). Trên thực tế, một thủ thuật ngăn trở cho phép một nhóm thiểu số kiên quyết có thể chiến thắng trong việc việc buộc thỏa hiệp, trong khi “bỏ phiếu nhanh” lại cho phép một nhóm đại đa số từ chối thỏa hiệp.
Mặc dù rõ ràng là có khả năng bị lạm dụng – nghĩa là, dùng thủ thuật ngăn trở tạo ra sự tê liệt và “bỏ phiếu nhanh” tạo ra sự chuyên chế – hệ thống này vẫn vận hành ổn thỏa trong hầu hết lịch sử nước Mỹ. Các nhóm thiểu số cũng như đại đa số đều nhận ra khả năng lạm dụng này và hiếm khi sử dụng thủ thuật ngăn trở, và việc “bỏ phiếu nhanh” thậm chí còn hiếm hơn nữa. Dưới 43 đời tổng thống Mỹ đầu tiên và 220 năm đầu tiên của chính phủ lập hiến, Thượng viện chỉ phản đối tổng cộng 68 ứng viên do tổng thống đề cử cho các vị trí chính phủ theo thủ thuật ngăn trở. Nhưng khi Tổng thống Dân chủ Obama được bầu vào năm 2008, các nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa đã tuyên bố ý định chặn bất cứ điều gì mà ông đề xuất; và chỉ trong 4 năm, họ đã thực thi việc chặn 79 đề cử của Obama bằng thủ thuật này, nhiều hơn toàn bộ 220 năm trước đó. Các nghị sĩ đảng Dân chủ phản ứng bằng cách hủy bỏ yêu cầu đại đa số trong phê chuẩn các ứng cử viên tổng thống, chỉ trừ các vị trí chánh án Tòa án Tối cao, từ đó vừa có thể đạt đủ nhân sự chính phủ vừa giảm áp lực của một thiểu số bất mãn.
Một thủ thuật ngăn trở chỉ là phương pháp cực đoan và ít thường xuyên nhất để ngăn trở việc công nhận của các ứng cử viên tổng thống. Trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Obama từ năm 2012 đến 2016, Thượng viện do đảng Cộng hòa kiểm soát đã hạn chế số lượng thẩm phán được tổng thống đề cử xuống thấp nhất tính từ đầu thập niên 1950, và số lượng thẩm phán tòa phúc thẩm (cấp tòa dưới Tòa án Tối cao) cũng thấp nhất tính từ những năm 1800 trở lại. Chiến thuật thường xuyên nhất được sử dụng để chặn các đề cử là từ chối lên lịch họp ủy ban Thượng viện để xem xét đề cử; chiến thuật thường xuyên tiếp theo là từ chối sắp xếp một cuộc bỏ phiếu đầy đủ của Thượng viện về một đề cử do ủy ban Thượng viện liên quan đề xuất. Chẳng hạn, một ứng viên cho chức vụ đại sứ không bao giờ được công nhận vì ông ta đã chết sau khi chờ đợi suốt hơn hai năm cho cuộc bỏ phiếu công nhận chức danh. Ngay cả những chức danh để điền khuyết ít quyền lực hay ít gây tranh cãi so với vị trí thẩm phán hay đại sứ cũng bị ngăn trở. Một người bạn của tôi được đề cử vào vị trí thứ nhì trong Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia, đã rút đơn ứng cử sau một năm chờ đợi vẫn không được công nhận.
Tại sao việc phá vỡ thỏa hiệp chính trị này lại tăng tốc trong vòng hai thập niên qua? Ngoài những tác hại khác mà nó gây ra, nó còn ngày càng gia tăng khi khiến những người chủ trương thỏa hiệp tỏ ra miễn cưỡng trong việc phục vụ chính phủ như một người đại diện được bầu ra. Hai người bạn của tôi, vốn là những thượng nghị sĩ lâu nay rất được kính trọng, và nếu tiếp tục tái tranh cử, họ dễ thành công một lần nữa, nhưng họ đã chọn quyết định rút lui vì quá thất vọng với bầu không khí chính trị tại Quốc hội. Khi tôi hỏi những đại diện dân cử và những người có kinh nghiệm làm việc trong Quốc hội về những nguyên nhân của xu hướng trên, họ đưa ra những lời giải thích bao gồm ba điều sau đây.
Điều thứ nhất là sự gia tăng tổn phí trong các chiến dịch tranh cử khiến các nhà tài trợ trở nên quan trọng hơn so với trước đây. Trong khi một số ứng cử viên cho chức vụ cao thành công trong việc tìm nguồn tài trợ cho các chiến dịch bằng cách thu thập nhiều khoản quyên góp nhỏ, thì nhiều hoặc hầu hết các ứng cử viên khác buộc phải dựa vào một số ít các nhà tài trợ lớn. Tất nhiên, những nhà tài trợ lớn đó bỏ tiền ra vì họ có các mục đích cụ thể và họ ủng hộ các ứng cử viên hỗ trợ các mục tiêu đó chứ không ủng hộ các ứng cử viên trung dung thường hay thỏa hiệp. Như một người bạn không còn ảo tưởng đã viết thư cho tôi sau khi nghỉ hưu với sự nghiệp chính trị kéo dài, “Về tất cả các vấn đề mà chúng ta gặp phải, tôi nghĩ rằng sự lệch lạc tiền bạc trong hệ thống chính trị và cuộc sống cá nhân gây thiệt hại lớn nhất. Các chính trị gia và kết quả chính trị được đổi chác ở quy mô lớn hơn bao giờ hết… việc vung tiền cho mục đích chính trị làm hủy hoại thời gian, tiền bạc và lòng nhiệt thành… những lịch trình chính trị bị uốn cong theo tiền bạc, việc rao giảng chính trị ngày càng tệ hại, và các chính trị gia lại không biết nhau khi họ phải đi lại như con thoi đến các khu vực cử tri của mình.”
Điểm cuối cùng mà bạn tôi nêu ra là lời giải thích cho điều thứ nhì: hiện nay, việc phát triển đi lại bằng hàng không nội địa đã tạo các kết nối nhanh chóng và thường xuyên giữa thủ đô Washington D.C. với mọi bang của Mỹ. Trước đây, các đại diện dân cử phục vụ tại Quốc hội ở Washington suốt tuần; sau đó họ phải ở lại Washington vào cuối tuần vì không thể về bang nhà rồi trở lại làm việc chỉ trong một ngày; nên gia đình họ sống luôn ở Washington D.C., và con cái họ đi học luôn ở đó. Vào những ngày cuối tuần, các ông bà nghị sĩ cùng cả gia đình hay gặp gỡ giao tiếp với nhau, họ biết rõ gia đình của nhau như những người bạn chứ không chỉ là đối thủ chính trị hay đồng minh. Tuy nhiên, ngày nay do chi phí cao trong các chiến dịch bầu cử gây áp lực cho các nghị sĩ phải thường xuyên thăm bang nhà của mình để gây quỹ, và sự tăng trưởng của du lịch hàng không nội địa làm điều đó khả thi. Nhiều nghị sĩ lại để gia đình mình sống ở bang nhà, nơi con cái họ đang theo học. Con cái của các nghị sĩ không còn chơi với nhau, còn họ thì không còn quen thân với gia đình đồng nghiệp nữa mà chỉ xem nhau là chính trị gia. Hiện nay, khoảng 80 trong số 535 thành viên của Quốc hội không còn giữ một căn hộ hoặc nhà ở Washington, mà chỉ ngủ lại trong văn phòng suốt thời gian làm việc rồi bay về quê nhà ngày cuối tuần.
Điều thứ ba cũng là lời giải thích cho việc phá vỡ thỏa hiệp liên quan đến thuật ngữ gọi là “gian lận khu vực bầu cử” bằng cách phân chia lại khu vực bầu cử của bang về mặt địa lý để tạo ưu thế cho một đảng, giúp đảng đó có tỉ lệ đại diện được bầu cao hơn so với toàn bộ tỉ lệ cử tri của bang chọn đảng đó. Đây không phải là một điều gì lạ lẫm với nền chính trị Mỹ. Thực ra, thuật ngữ này xuất phát từ tên Thống đốc Elbridge Gerry của bang Massachusetts, vào năm 1812, ông này đã phân chia các khu vực trong bang của mình nhằm mục đích làm tăng số lượng dân biểu được bầu thuộc đảng của ông ta. Việc hình thành các khu vực mới tạo ra hình dạng phân bố kỳ lạ về mặt địa lý, một trong những khu vực này trông giống với như con kỳ nhông, do đó nảy sinh thuật ngữ này (Ảnh 9.11).
Ngày nay, sau mỗi cuộc điều tra dân số quốc gia 10 năm một lần để tái cơ cấu số lượng ghế Hạ viện giữa các bang, thì mỗi cơ quan lập pháp bang có thể vẽ lại ranh giới khu vực lập pháp của bang đó. Đặc biệt, càng ngày những cơ quan lập pháp bang do đảng Cộng hòa kiểm soát càng ưa vẽ lại ranh giới để tập trung càng nhiều cử tri có khả năng ủng hộ đảng Dân chủ vào những khu vực nhỏ nhất mà đảng Dân chủ áp đảo (thường là ở thành thị) – do đó khiến những cử tri có khả năng theo đảng Dân chủ còn lại phân tán sang các khu vực có số lượng cử tri Cộng hòa dù số lượng khiêm tốn nhưng đáng tin cậy (thường là các khu vực nông thôn). Gần đây, Tòa án Tối cao Mỹ đã bác bỏ một kế hoạch tái phân chia do cơ quan lập pháp bang North Carolina thuộc kiểm soát của đảng Cộng hòa soạn ra, lưu ý rằng ranh giới những khu vực không có ý nghĩa gì về mặt địa lý nhưng được vẽ ra “với độ chính xác như trong phẫu thuật” để làm tăng số lượng đại diện của đảng Cộng hòa và gây bất lợi cho phe Dân chủ.
Hậu quả của việc “gian lận khu vực bầu cử” đối với thỏa hiệp chính trị là nó cho thấy rõ hơn trước những đảng nào và chính sách nào mà đa số cử tri của khu vực bầu cử có thể ủng hộ. Do đó, các ứng cử viên có khả năng bị đánh bại nếu họ chọn đứng ở vị trí trung dung để lôi cuốn cử tri của cả hai đảng. Thay vào đó, các ứng cử viên biết rằng họ nên ngả theo bên dự kiến sẽ giành chiến thắng trong khu vực gian lận bầu cử đó. Tuy gian lận khu vực bầu cử dường như đóng vai trò nhất định trong tính phân cực chính trị hiện tại, vẫn có một số lý do khiến nó không phải là toàn bộ lời giải thích: việc gian lận khu vực bầu cử không thể giải thích được sự phân cực tại Thượng viện (vì các bang chỉ được chia thành những khu vực bầu cử đối với Hạ viện chứ không phải đối với bầu cử Thượng viện, vậy mà các thượng nghị sĩ giờ đây cũng không thỏa hiệp như các thành viên Hạ viện); sự gian lận khu vực bầu cử không giải thích được sự phân cực ở các khu vực được vẽ lại; và ngay ở những nơi được vẽ lại thì sự phân cực chính trị đã đi trước sự gian lận khu vực bầu cử.
Tuy nhiên, cả ba lý thuyết về sự phân cực của chính trị Mỹ – gây quỹ, du lịch hàng không nội địa và gian lận khu vực bầu cử – chỉ để tìm cách giải thích sự phân cực của một nhóm nhỏ các chính trị gia Mỹ. Trên thực tế, vấn đề còn rộng lớn hơn nhiều: người Mỹ nói chung đang trở nên phân cực và không thỏa hiệp về mặt chính trị. Chỉ cần nhìn vào một bản đồ kết quả cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, màu đỏ hay màu xanh ở các bang lần lượt hiển thị việc bầu chọn cho đảng Cộng hòa hoặc Dân chủ. Bạn sẽ thấy vùng duyên hải và các thành phố lớn ở Mỹ hiện nay ủng hộ đảng Dân chủ, trong khi các khu vực nội địa và nông thôn thuộc về đảng Cộng hòa. Mỗi đảng chính trị ngày càng trở nên đồng nhất và cực đoan trong hệ tư tưởng: những người Cộng hòa ngày càng bảo thủ mạnh mẽ, những người Dân chủ thì ngày càng tự do hơn, còn những người trung dung ở hai đảng thì ngày càng giảm bớt. Những khảo sát cho thấy nhiều người Mỹ của mỗi đảng ngày càng không khoan dung với người bên đảng kia, coi bên kia là mối nguy hiểm thực sự đối với sự thịnh vượng của nước Mỹ, không muốn một người thân của mình kết hôn với một người ủng hộ bên kia và muốn sống trong một khu vực nơi mọi người có cùng quan điểm chính trị với mình. Nếu là một độc giả người Mỹ, bạn có thể tự mình kiểm tra sự tách biệt này: cá nhân bạn quen biết bao nhiêu người, và trong số bạn bè ấy có ai bảo rằng họ đã bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống của đảng đối lập trong năm 2016 không?
Do vậy, lời giải đáp không chỉ là tại sao các chính trị gia Mỹ ngày càng trở nên không thỏa hiệp, không lệ thuộc vào các chính trị gia khác. Chúng ta cũng cần hiểu lý do tại sao cử tri Mỹ trở nên không khoan dung và không thỏa hiệp về mặt chính trị. Các chính trị gia của chúng ta đơn thuần chỉ tuân theo mong muốn của cử tri.
Về sự phân cực chính trị của toàn xã hội Mỹ, thường có một lời giải thích là do “thông tin độc tôn.” Khi tôi còn nhỏ, chưa có truyền hình cáp; ở thành phố Boston của tôi thì mãi đến năm 1948 mới có chương trình truyền hình đầu tiên đủ thể loại; và trong nhiều năm sau đó, người Mỹ vẫn chỉ xem tin tức chủ yếu từ ba mạng truyền hình, ba tuần san và nhật báo lớn. Hầu hết người Mỹ đều đọc những nguồn thông tin tương tự, không nguồn nào trong số đó xác định rõ ràng quan điểm bảo thủ hay tự do và cũng không cắt xén thông tin. Giờ đây, với sự phát triển của truyền hình cáp, website tin tức và Facebook cùng với sự suy giảm các tuần san trên thị trường, người Mỹ chọn nguồn thông tin theo quan điểm cố hữu trước đó của họ. Nhìn vào hóa đơn truyền hình cáp hằng tháng của mình, tôi thấy có thể chọn giữa 477 kênh: không chỉ kênh Fox News hay MSNBC tùy vào việc tôi nghiêng về phe nào, bảo thủ hay tự do, mà còn các kênh dành cho châu Phi, thể thao đại học vùng duyên hải Đại Tây Dương, nấu ăn, tội phạm, Pháp, khúc côn cầu, nữ trang, cuộc sống của người Do Thái, nước Nga, quần vợt, thời tiết và vô số các chủ đề cùng quan điểm có phạm vi thu hẹp khác. Do đó, tôi vẫn có thể chọn duy trì các mối quan tâm và quan điểm hiện tại của mình và không bị phân tâm bởi các chủ đề khác cùng các quan điểm không thích hợp. Kết quả là: tôi giam mình vào lĩnh vực chính trị của mình, lao vào những tập hợp “sự kiện” cho riêng mình và tiếp tục bỏ phiếu cho đảng mà mình luôn ưa thích, tôi không biết động cơ thúc đẩy những người ủng hộ đảng kia và tất nhiên tôi muốn các đại biểu của mình khước từ mọi thỏa hiệp với những đại biểu không đồng ý với mình.
Hiện nay, hầu hết người Mỹ sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội như Facebook và Twitter. Hai người bạn của tôi, vốn dĩ không liên quan gì với nhau, một theo đảng Dân chủ và người còn lại theo đảng Cộng hòa, giải thích cho tôi cách tài khoản Facebook của họ đóng vai trò là bộ lọc thông tin chính của họ. Người theo đảng Dân chủ (một thanh niên) chia sẻ thông tin và bình luận cho bạn bè trên Facebook của họ, và những người này cũng lần lượt đăng thông tin của mình; anh ta chọn kết bạn với họ một phần vì họ chia sẻ quan điểm của mình. Khi có người đăng thông tin theo quan điểm của Đảng Cộng hòa, anh ấy sẽ “hủy kết bạn” với người đó, loại cô ấy ra khỏi danh sách bạn bè của mình. Những người mà anh ấy hủy kết bạn bao gồm cả cô chú ruột, anh ấy hủy luôn cả việc thăm hỏi chỉ vì quan điểm thân Cộng hòa của họ. Suốt ngày anh ấy kiểm tra tài khoản Facebook của mình trên iPhone và sử dụng nó để tìm đọc các bài báo online phù hợp với quan điểm của mình nhưng không đăng ký báo giấy hay xem tivi. Người bạn kia theo phe Cộng hòa, cũng cho tôi thấy một tài khoản tương tự, với những người quen biết mà cô ấy hủy kết bạn là những người đăng bài theo quan điểm Dân chủ. Kết quả: mỗi người bạn của tôi chỉ tiếp nhận thông tin định sẵn trong phạm vi hẹp.
Nhưng thậm chí việc mở rộng câu hỏi của chúng ta về tính phân cực chính trị ở Mỹ ngày nay – từ việc chỉ bàn về quan điểm phân cực của các chính trị gia, đến việc nói đến quan điểm phân cực của toàn bộ cử tri nước Mỹ – cũng quá hạn hẹp. Nó chỉ mới đặt vấn đề về sự phân cực trong lĩnh vực chính trị. Tuy nhiên, hiện tượng này thậm chí còn rộng lớn hơn: sự phân cực, tính không khoan dung và lạm dụng cũng đang gia tăng trong các lĩnh vực khác của đời sống Mỹ bên cạnh lĩnh vực chính trị. Những độc giả người Mỹ trên 40 tuổi, xin xem lại những thay đổi mà bạn từng chứng kiến về hành vi ứng xử trong thang máy của người Mỹ (giờ đây những người đang chờ vào thang máy ít khi chờ những người trong thang máy bước ra); giảm tác phong lịch sự trong giao thông (không nhường người lái xe khác); sự thân thiện khi gặp nhau trên đường đi dạo và trên đường phố (người Mỹ dưới 40 tuổi ít chào người lạ hơn so với người trên 40 tuổi); và trên hết, trong nhiều giới, những “phát biểu” đủ loại ngày càng bị lạm dụng, đặc biệt là trong giao tiếp điện tử.
Tôi đã trải nghiệm những xu thế này ngay khi bước vào đời sống nghiên cứu học thuật của Mỹ vào năm 1955. Các cuộc tranh luận học thuật ở Mỹ ngày nay trở nên thô bạo hơn so với 60 năm trước. Khi khởi đầu sự nghiệp học thuật, tôi tham gia vào các cuộc tranh luận cũng giống như bây giờ. Nhưng trước đây tôi xem các nhà khoa học bất đồng ý kiến trong tranh luận như bạn bè cá nhân chứ không phải là kẻ thù cá nhân. Chẳng hạn, tôi nhớ một chuyến nghỉ ngơi ở Anh sau một hội nghị sinh lý học, tôi còn đi tham quan các tu viện dòng Cistercian bị hủy hoại với một nhà sinh lý học người Mỹ tốt bụng và hiền lành mà tôi rất không đồng ý về cơ chế vận chuyển nước qua biểu mô tại hội nghị. Ngày nay, điều này không thể xảy ra được mà thay vào đó, bây giờ tôi liên tục bị kiện cáo, hoặc bị dọa đưa ra tòa và chịu sự lăng mạ từ các học giả không đồng ý với tôi. Những đơn vị chủ nhà mời tôi thuyết trình đã buộc phải thuê vệ sĩ để che chở tôi khỏi những chỉ trích giận dữ. Một học giả đã kết luận trong bài điểm sách về một trong những cuốn sách của tôi với dòng chữ “Hãy câm miệng lại!” Đời sống học thuật phản ánh cuộc sống của người Mỹ nói chung, cũng như các chính trị gia, cử tri, người đi thang máy, người lái xe và người đi bộ.
Những đấu trường trong cuộc sống Mỹ là những khía cạnh của cùng một hiện tượng được bàn luận rộng rãi: sự suy thoái của cái gọi là “vốn xã hội.” Theo định nghĩa của nhà khoa học chính trị Robert Putnam trong cuốn Bowling Alone (Chơi Bowling một mình): “… vốn xã hội đề cập đến các kết nối giữa các cá nhân – mạng xã hội cùng các chuẩn mực tương hỗ và đáng tin cậy phát sinh từ chúng. Theo nghĩa đó, vốn xã hội có liên quan mật thiết đến cái mà một số người gọi là ‘phẩm hạnh công dân’.” Đó là sự tin tưởng, tình bạn, liên kết nhóm, sự giúp đỡ và mong cầu giúp đỡ được xây dựng qua việc tích cực tham gia và trở thành thành viên của các nhóm, từ câu lạc bộ sách, câu lạc bộ bowling, câu lạc bộ bài Bridge, cộng đồng sinh hoạt nhà thờ, các tổ chức cộng đồng và hội phụ huynh-giáo viên đến các tổ chức chính trị, hiệp hội nghề chuyên nghiệp, câu lạc bộ thiện nguyện Rotary, họp hành trong thị trấn, nghiệp đoàn, hiệp hội cựu chiến binh, và nhiều hội đoàn khác. Việc tham gia vào các hoạt động nhóm như vậy thúc đẩy sự tương hỗ: nghĩa là, làm những điều cho người khác và với người khác, tin tưởng họ, đồng thời cũng dựa vào họ và các thành viên khác trong nhóm để hỗ trợ cho bạn. Nhưng người Mỹ ngày càng giảm tham gia vào các nhóm thường gặp nhau trực tiếp như thế, trong khi việc tham gia vào các nhóm trực tuyến mà không bao giờ gặp, nhìn hoặc nghe thấy nhau ngày càng gia tăng.
Một lời giải thích mà Putnam và nhiều người khác đưa ra về sự suy thoái vốn xã hội ở Mỹ là sự gia tăng giao tiếp gián tiếp gây mất mát cho việc giao tiếp trực diện. Điện thoại xuất hiện vào năm 1890 nhưng đến khoảng năm 1957 mới bão hòa thị trường Mỹ. Đài phát thanh khởi sự bão hòa từ năm 1923 đến năm 1937 và truyền hình thì từ năm 1948 đến năm 1955. Thay đổi lớn nhất mới nảy sinh gần đây là Internet, điện thoại di động và tin nhắn điện tử. Chúng ta sử dụng radio và truyền hình để tiếp nhận thông tin và giải trí, trong khi điện thoại và những phương tiện điện tử gần đây cũng cho những mục đích tương tự nhưng cộng với giao tiếp. Nhưng trước khi phát minh ra chữ viết, mọi thông tin và giao tiếp của con người thường phải mặt đối mặt khi mọi người nói chuyện với nhau hay cùng xem/nghe trình diễn (diễn giả, nhạc sĩ và diễn viên). Mặc dù các rạp chiếu phim phát triển sau năm 1900 không đem lại thú vui trực diện, nhưng chí ít thì chúng cũng đưa mọi người ra khỏi nhà để nhập vào các nhóm xã hội và thường được cùng bạn bè thưởng thức như một phần mở rộng của việc đi xem diễn giả, nhạc sĩ, và diễn viên cùng bạn bè.
Tuy nhiên, ngày nay nhiều trò giải trí của chúng ta – điện thoại thông minh, iPod và trò chơi điện tử – mang tính đơn độc hơn là xã hội. Chúng được chọn lựa để giải trí mang tính cá nhân cũng như thông tin chính trị được lựa chọn mang tính riêng tư; tuy vậy, truyền hình hiện vẫn là hình thức giải trí phổ biến nhất đối với người Mỹ, giữ người Mỹ ở nhà, dù chỉ còn là trên danh nghĩa với các thành viên trong gia đình. Người Mỹ dành thời gian xem truyền hình cùng nhau gấp ba đến bốn lần so với nói chuyện với nhau và ít nhất một phần ba tổng thời gian xem truyền hình chỉ riêng một mình (thường là trên Internet thay vì ngồi trước màn hình tivi).
Hệ quả là những người nghiện xem truyền hình ít tin tưởng người khác và ít tham gia tổ chức tự nguyện hơn so với những người không nghiện. Trước khi đổ lỗi cho việc xem truyền hình gây ra những hành vi đó, người ta có thể phản bác: cái gì là nguyên nhân và cái gì là kết quả, hoặc hai tập hợp hiện tượng này chỉ tương quan với nhau chứ không phải hành vi này là nguyên nhân của hành vi kia? Một khảo sát tình cờ ở Canada đã làm sáng tỏ câu hỏi này. Trong một thung lũng ở Canada có ba thị trấn lẽ ra thì giống nhau, nhưng một trong số đó nằm ngoài tầm phủ sóng truyền hình phục vụ trong vùng. Sau cùng, khi thị trấn đó được phủ sóng thì việc tham gia vào các câu lạc bộ và các cuộc họp lại giảm đi so với trước đó, xuống đến mức tương đương với hai thị trấn kia. Điều này cho thấy rằng việc xem truyền hình gây ra sự suy giảm tham gia cộng đồng; đó không phải là trường hợp mà những người vốn đã không tham gia sau đó lại chọn xem truyền hình.
Ở những vùng xa xôi của New Guinea nơi tôi đi thực địa và cũng là nơi chưa có công nghệ truyền thông mới, mọi thông tin liên lạc vẫn phải trực diện và tham dự đầy đủ – cũng như ở Mỹ trước đây. Người New Guinea dành phần lớn thời gian giao tiếp với nhau. Trái với các cuộc trò chuyện thưa thớt và không tập trung của người Mỹ, các cuộc đối thoại truyền thống ở New Guinea không bị gián đoạn khi phải nhìn vào điện thoại di động trong tay, cũng không phải nhấn phím gửi email hay tin nhắn trong khi trò chuyện với một người nhưng nhưng chỉ tiếp nhận một phần sự tham gia của họ. Con trai của một nhà truyền giáo người Mỹ lớn lên ở một ngôi làng New Guinea và khi chuyển đến Mỹ học trung học đã mô tả cú sốc của mình khi phát hiện ra sự khác biệt giữa cách chơi đùa của trẻ em ở New Guinea và ở Mỹ. Ở New Guinea, trẻ em ở một ngôi làng đi lang thang từ túp lều này sang túp lều khác cả ngày. Ở Mỹ, như bạn tôi phát hiện, “Trẻ em về nhà, đóng cửa và xem truyền hình một mình.”
Bình quân, người dùng điện thoại di động ở Mỹ cứ sau bốn phút lại kiểm tra điện thoại một lần, dành ít nhất sáu giờ mỗi ngày để nhìn vào màn hình của điện thoại di động hoặc máy tính và dành hơn 10 giờ mỗi ngày (hầu hết thời gian không ngủ) để kết nối với một số thiết bị điện tử. Kết quả là hầu hết người Mỹ không còn trải nghiệm với nhau như những con người sống động với gương mặt và chuyển động cơ thể mà chúng ta thường thấy, giọng nói mà chúng ta thường nghe và con người mà chúng ta thường hiểu được. Thay vào đó, chúng ta trải nghiệm lẫn nhau chủ yếu qua tin nhắn kỹ thuật số trên màn hình hay đôi khi chỉ là giọng nói qua điện thoại di động. Chúng ta có xu hướng bị ức chế mạnh mẽ để không trở nên thô lỗ với một người sống chỉ cách chúng ta nửa mét, những người chúng ta có thể nhìn và nghe thấy. Nhưng chúng ta mất đi những ức chế khi con người chỉ được thể hiện qua từ ngữ trên màn hình. Việc ứng xử thô lỗ và tùy tiện bằng từ ngữ trên màn hình dễ dàng hơn là đối mặt với một con người sinh động nhìn thẳng vào mặt bạn. Vì vậy, một khi chúng ta đã quen với việc lăng mạ ở khoảng cách gián tiếp, thì bước tiếp theo là lăng mạ một con người sinh động sẽ dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, lời giải thích đó về sự đổ vỡ của thỏa hiệp chính trị và hành vi lịch thiệp ở Mỹ nói chung hiển nhiên sẽ bị phản đối. Việc giao tiếp gián tiếp không chỉ bùng nổ ở Mỹ mà còn trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước giàu có. Người Ý và người Nhật sử dụng điện thoại di động chẳng kém gì người Mỹ. Thế nhưng tại sao sự thỏa hiệp chính trị không suy giảm và sự thô thiển mang tính xã hội vẫn không gia tăng ở các nước giàu khác?
Tôi có thể nghĩ đến hai lời giải thích khả dĩ. Một là, trong thế kỷ 20, truyền thông điện tử và nhiều phát minh công nghệ khác hình thành đầu tiên ở Mỹ, sau đó chúng và những hệ quả của chúng lan sang các nước giàu khác. Với lý giải này, Mỹ chỉ là nước đầu tiên chứ không phải duy nhất có đổ vỡ thỏa hiệp chính trị, cùng với điện thoại và truyền hình phổ biến ở khắp nơi. Trên thực tế, những người bạn Anh nói với tôi rằng sự xúc phạm cá nhân ở Anh bây giờ nhiều hơn so với lúc tôi ở đó 60 năm trước, trong khi những người bạn Úc nói với tôi rằng sự không thỏa hiệp đang gia tăng trong đời sống chính trị Úc. Nếu lời giải thích này là chính xác, thì sẽ chỉ là vấn đề thời gian trước khi các nước phát triển giàu có khác cũng gặp phải tình trạng bế tắc chính trị ở mức độ mà Mỹ đã vướng vào.
Một lời giải thích khả dĩ khác là từ quá khứ, do nhiều lý do, nước Mỹ đến hôm nay vẫn có ít vốn xã hội để đề kháng với sự xuất hiện của những sức mạnh công nghệ hiện đại làm mất đi cá tính con người. Diện tích nước Mỹ lớn hơn 25 lần so với bất kỳ quốc gia giàu có nào ngoại trừ Canada. Ngược lại, mật độ dân số Mỹ – những người được chia theo khu vực – thấp hơn tới 10 lần so với hầu hết các quốc gia giàu có khác; chỉ có Canada, Úc và Iceland là dân cư thưa thớt hơn. Mỹ luôn đặt trọng tâm mạnh mẽ vào cá nhân, so với sự nhấn mạnh của châu Âu và Nhật Bản đối với cộng đồng; chỉ có Úc vượt qua Mỹ về xếp hạng chủ nghĩa cá nhân giữa các quốc gia giàu có. Người Mỹ di chuyển thường xuyên, trung bình cứ sau năm năm. Do khoảng cách không gian ở Mỹ quá rộng lớn so với ở Nhật hay bất kỳ quốc gia Tây Âu nào nên khi người Mỹ di chuyển, họ có thể xa hẳn những người bạn cũ so với những người Nhật Bản và châu Âu ít di chuyển. Do đó, người Mỹ có nhiều mối quan hệ xã hội ngắn ngủi hơn và bạn bè dễ lìa xa thay vì nhiều người bạn thân thiết sống cận kề.
Nhưng diện tích và khoảng cách trong phạm vi nước Mỹ đã cố định và không suy giảm. Người Mỹ không thể từ bỏ điện thoại di động hay ít di chuyển thường xuyên hơn. Do đó, nếu lời giải thích này kết nối sự suy giảm thỏa hiệp chính trị của Mỹ với các nhân tố làm nền tảng vốn xã hội thấp là chính xác, thì thỏa hiệp chính trị vẫn sẽ có nguy cơ đổ vỡ cao hơn ở Mỹ so với các nước giàu khác. Điều này không có nghĩa là nước Mỹ chắc chắn sẽ phải chịu đựng sự bế tắc chính trị ngày càng tồi tệ hơn; mà có nghĩa là nó đòi hỏi các nhà lãnh đạo chính trị và cử tri Mỹ phải nỗ lực nhận thức hơn để ngăn chặn tình trạng bế tắc của Mỹ so với các nước khác.
Cuốn sách này đã bàn về hai quốc gia – Chile và Indonesia – do phá vỡ thỏa hiệp chính trị dẫn đến việc một bên áp đặt chế độ độc tài quân sự mà mục tiêu rõ ràng là tiêu diệt phía bên kia. Viễn cảnh này có vẻ vô lý với hầu hết người Mỹ và cũng có vẻ vô lý với những người bạn Chile của tôi khi tôi ở đó vào năm 1967, nếu hồi ấy có ai bày tỏ nỗi e ngại về kết quả có thể xảy ra. Vậy mà nó đã xảy ra ở Chile vào năm 1973.
Người Mỹ có thể phản bác rằng “nhưng nước Mỹ thì khác với Chile!” Vâng, tất nhiên Mỹ khác với Chile. Một số khác biệt khiến Mỹ ít có khả năng suy thoái thành một chế độ độc tài quân sự bạo lực như Chile – nhưng cũng có một số khác biệt khiến Mỹ lại có nhiều khả năng hơn. Những nhân tố khiến kết quả tồi tệ đó ít có khả năng xảy ra ở Mỹ bao gồm truyền thống dân chủ mạnh mẽ hơn, lý tưởng của nước Mỹ về chủ nghĩa bình đẳng trong lịch sử, không có tình trạng chuyên chế sở hữu đất đai cha truyền con nối như ở Chile, cũng như quân đội hoàn toàn đứng ngoài chính trị trong suốt lịch sử nước Mỹ. (Quân đội Chile từng nhúng tay vào chính trị hai lần trước năm 1973.) Nhưng mặt khác, các nhân tố tạo ra kết cục tồi tệ ở Mỹ nhiều hơn hẳn ở Chile, bao gồm quyền sở hữu súng tư nhân ở Mỹ, bạo lực cá nhân cả trong hiện tại lẫn quá khứ, và lịch sử bạo lực chống lại các nhóm dân cư (chống lại người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản địa và một số nhóm người nhập cư). Tôi đồng ý rằng các bước để tiến đến một chế độ độc tài quân sự ở Mỹ sẽ khác với các bước diễn ra ở Chile vào năm 1973. Mỹ rất khó có khả năng để xảy ra hành động cướp chính quyền của giới quân sự. Thay vào đó, tôi tiên đoán rằng một chính đảng nắm quyền lực trong chính phủ Mỹ hay trong các bang sẽ ngày càng thao túng việc đăng ký cử tri, sắp xếp ngành tư pháp bằng các thẩm phán cùng phe phái, sử dụng tòa án để đánh tráo kết quả bầu cử, rồi sau đó kích động “thực thi pháp luật” và sử dụng đến cảnh sát, Vệ binh Quốc gia, quân đội dự bị, hay chính quân đội để đàn áp phe đối lập chính trị. Đó là lý do tại sao tôi coi sự phân cực chính trị là vấn đề nguy hiểm nhất đối với nước Mỹ ngày nay – nguy hiểm hơn nhiều so với việc cạnh tranh đến từ Trung Quốc hoặc Mexico, điều khiến các nhà lãnh đạo chính trị Mỹ bị ám ảnh. Không có cách nào để Trung Quốc hay Mexico hủy diệt được nước Mỹ. Chỉ người Mỹ mới có thể hủy hoại chính họ. Chúng ta sẽ quay trở lại vấn đề này trong chương tiếp theo, sau khi cân nhắc những vấn đề cơ bản khác mà nước Mỹ phải đối mặt, và các nhân tố thuận lợi hay đối nghịch với những thay đổi có chọn lọc nhằm ngăn chặn kịch bản nghiệt ngã đó.
Phần 3: Các quốc gia và thế giới - Biến cố đang diễn ra
Chương 10 - Tương lai nào cho nước Mỹ? Ba vấn đề “khác” Chương
Những vấn đề khác – Bầu cử – Bất bình đẳng và bất động – Thì sao nào? – Đầu tư vào tương lai – Khung biến cố
Chương trước đã bắt đầu với những tin tức tốt đẹp về Mỹ hiện tại. Mỹ đã không ngẫu nhiên trở thành quốc gia thịnh vượng nhất và hùng cường nhất, mà bởi vì có một sự kết hợp của vô vàn ưu thế: nhân khẩu, địa lý, chính trị, lịch sử, kinh tế và xã hội. Phần còn lại của chương cũng bàn về tin xấu: sự sụp đổ hiện thời của thỏa hiệp chính trị mà tôi nhận định là vấn đề nghiêm trọng nhất trong số những vấn đề Mỹ đang phải đặc biệt đối diện (và khác với những vấn đề quốc tế đang đe dọa Mỹ).
Chương này sẽ bàn về ba vấn đề lớn “khác,” bắt đầu với những vấn đề liên quan tới bầu cử. Tôi gộp những vấn đề này dưới tên gọi thoạt nghe có vẻ khinh mạn là “những vấn đề khác,” chỉ vì chúng không có quá nhiều tiềm năng cấp thời làm suy yếu chính quyền dân chủ Mỹ cũng như phá vỡ thỏa hiệp. Tuy nhiên, chúng vẫn nghiêm trọng. Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm qua cuốn sách The Measure of a Nation (Đo lường một quốc gia) của Howard Friedman, trong đó có hàng loạt biểu đồ so sánh Mỹ với các quốc gia dân chủ lớn khác về nhiều khác biệt được bàn sau đây. Dĩ nhiên, danh sách các vấn đề của Mỹ mà tôi nêu ra ở đây không toàn diện. Những vấn đề tôi không đề cập đến là các mối quan hệ chủng tộc và vai trò của phụ nữ, cả hai đã được cải thiện nhiều so với 50 năm trước song vẫn còn nhức nhối trong xã hội Mỹ. Bốn điều mà tôi chọn bàn luận gồm – một vấn đề trong chương trước, và ba ở chương này – là những vấn đề càng lúc càng nghiêm trọng trong những thập niên gần đây, và theo tôi chúng thực sự là những mối đe dọa ghê gớm đối với nền dân chủ Mỹ và sức mạnh kinh tế hiện nay.
Bầu cử là cốt lõi của bất kỳ nền dân chủ nào. Nếu một quốc gia có hiến pháp hay luật pháp quy định chính quyền dân chủ nhưng công dân không bỏ phiếu hoặc không thể bỏ phiếu thì đó là một quốc gia không xứng đáng được gọi là dân chủ. Trên tiêu chí đó, nước Mỹ chỉ được coi là dân chủ một nửa. Gần nửa dân số Mỹ đủ điều kiện bầu cử thậm chí không bỏ phiếu cho cuộc bầu cử quan trọng nhất, bầu cử tổng thống. Trong bốn kỳ bầu cử tổng thống gần nhất, số cử tri Mỹ không bỏ phiếu mỗi kỳ là khoảng 100 triệu người. Tỉ lệ công dân không bỏ phiếu cho chính quyền địa phương cấp thấp hơn còn cao hơn nhiều. Đơn cử, thành phố Los Angeles (LA) của tôi là một trong những thành phố lớn của Mỹ, và cuộc bầu cử quan trọng nhất của LA là bầu thị trưởng. Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử thị trưởng LA gần nhất, 80% cử tri LA không bỏ phiếu.
Có nhiều cách khác nhau để xác định tỉ lệ tham gia bầu cử. Một trong số đó là báo cáo phần trăm dân cư đủ tuổi bầu cử đã thực hiện bỏ phiếu. Một biện pháp khác cho con số cao hơn, đó là tính số phần trăm cử tri đủ điều kiện bầu cử đã bỏ phiếu. (Ở Mỹ chỉ có 92% dân số đủ tuổi bầu cử là đủ điều kiện bỏ phiếu; 8% không đủ điều kiện chủ yếu gồm người di trú, tù nhân, người bị kết án và người mới ra tù.) Biện pháp thứ ba cũng cho một con số cao hơn, đó là báo cáo phần trăm cử tri đăng ký đã bầu cử; chỉ rất ít cử tri đủ điều kiện bầu cử không đăng ký bỏ phiếu vì các lý do mà tôi sẽ trình bày sau đây.
Cả ba biện pháp trên đều đưa đến một kết luận: trong số các nền dân chủ giàu mạnh (được gọi là các nước OECD), Mỹ đứng cuối cùng trong bảng xếp hạng tỉ lệ cử tri đi bầu cử. Cụ thể, tỉ lệ trung bình cử tri đăng ký bầu cử ở các quốc gia dân chủ khác là 93% đối với Úc, nơi bầu cử là bắt buộc theo luật; 89% đối với Bỉ; 58%-80% ở hầu hết các nước dân chủ châu Âu và Đông Á khác. Kể từ khi Indonesia tổ chức lại các cuộc bầu cử dân chủ tự do sau năm 1999, tỉ lệ cử tri Indonesia đi bỏ phiếu dao động từ 86% đến 90%, trong khi đó tỉ lệ này ở Ý từ năm 1948 đã tăng lên 93%.
Để đối chiếu, ta thấy, tỉ lệ cử tri đi bầu của Mỹ trong các kỳ bầu cử quốc gia chỉ đạt 60% ở các năm bầu cử tổng thống, và chỉ đạt 40% ở các kỳ bầu cử Quốc hội giữa nhiệm kỳ. Tỉ lệ cử tri bỏ phiếu cao nhất được ghi nhận trong lịch sử hiện đại Mỹ chỉ đạt 62% trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, thậm chí thua xa tỉ lệ bầu cử thấp nhất ở Ý hay ở Indonesia. Khi được hỏi lý do vì sao họ không muốn bỏ phiếu, câu trả lời chung nhất của cử tri Mỹ là họ không tin vào chính phủ, họ không tin vào giá trị bầu cử, hoặc họ không quan tâm đến chính trị.
Nhưng có một nguyên nhân khác mà nhiều người Mỹ đủ điều kiện bầu cử không đi bỏ phiếu: họ không thể, vì họ không đăng ký bỏ phiếu. Đó là một đặc tính khác biệt của nền dân chủ Mỹ cần phải được giải thích. Ở nhiều quốc gia dân chủ, công dân đủ điều kiện bầu cử chẳng phải làm gì để “đăng ký” bầu cử: chính phủ làm chuyện đó cho họ bằng cách tạo một danh sách tự động đăng ký từ những danh sách của chính phủ về bằng lái xe, người đóng thuế, dân cư, hoặc những nguồn cơ sở dữ liệu khác. Chẳng hạn, mọi công dân Đức trên 18 tuổi ở Đức sẽ tự động nhận được một thẻ bầu cử của chính phủ, trên đó thông báo rằng một kỳ bầu cử chuẩn bị diễn ra và họ có đủ điều kiện bỏ phiếu.
Ở Mỹ, chuyện đó phức tạp hơn. Một công dân đủ điều kiện bầu cử không chỉ phải trên 18 tuổi, không ngồi tù hoặc bị kết án: họ còn phải đăng ký bầu cử. Mỹ đã có một lịch sử lâu dài trong việc ngăn cản các nhóm công dân đủ tuổi đi bầu cử – không được đăng ký. Nhóm đông nhất chính là phụ nữ Mỹ, họ không được bầu cử cho đến năm 1919. Những nhóm khác, nổi bật là người Mỹ gốc Phi, cùng những nhóm thiểu số và di dân đã bị cấm đăng ký bởi nhiều trở ngại như cuộc thăm dò ý kiến về thuế, kiểm tra trình độ học vấn, và “các điều khoản thời ông cha.” (Tức là, bạn không thể đăng ký bỏ phiếu nếu ông của bạn từng không thể bỏ phiếu.) Dĩ nhiên luật pháp không nói rõ rằng những biện pháp này nhằm để ngăn người Mỹ gốc Phi đi bầu cử. Tuy nhiên, mọi người hiểu rằng mục đích và kết quả thu được của những rào cản như điều khoản thời ông cha là để ngăn người Mỹ gốc Phi đăng ký bầu cử.
Trong trường hợp bạn cho rằng những trở ngại ấy đã phai nhạt từ lâu, thì tại bang Florida năm 2000, khoảng 100.000 cử tri tiềm năng, phần lớn theo phe Dân chủ, đã bị loại khỏi danh sách đăng ký bầu cử. Việc loại trừ đó đã tác động lớn đến sự xoay chuyển kết quả của Florida trong kỳ bầu cử tổng thống năm 2000, theo đó, chức tổng thống Mỹ thuộc về George Bush thay vì Al Gore – một tác động hiệu quả hơn nhiều so với các cuộc tranh cãi công khai sau này về việc loại bỏ hàng trăm lá phiếu đục lỗ mà theo đó kết quả bầu cử thường bị phân bổ sai. Lỗ hổng cơ bản trong hệ thống đăng ký bầu cử Mỹ chính là, ở Florida và nhiều bang khác, danh sách đăng ký bầu cử và quy trình bầu cử được kiểm soát bởi quy cách của mỗi đảng phái ở cấp bang và địa phương, chứ không phải bởi quy cách phi đảng phái ở cấp độ quốc gia. Cán bộ đảng phái thường tìm cách gây khó khăn cho công dân trong việc bầu cử nếu họ có vẻ nghiêng về đảng đối lập.
Bước mở rộng hoành tráng nhất của thủ tục đăng ký bầu cử trong lịch sử hiện đại Mỹ chính là Đạo luật Quyền Bầu cử năm 1965, trong đó cấm các “bài kiểm tra trình độ” để đăng ký và cho chính quyền liên bang giám sát các khu vực bầu cử có mô hình hạn chế đăng ký trước đó. Kết quả là tỉ lệ đăng ký bầu cử của người Mỹ gốc Phi ở miền nam nước Mỹ nhảy vọt từ 31% lên 73%, và số quan chức Mỹ gốc Phi được bầu trên toàn quốc cũng tăng từ 500 đến hơn 10.000 người. Quốc hội đã nhất trí cải tổ đạo luật đó vào đầu năm 2006. Nhưng vào năm 2013, Tòa án Tối cao Mỹ, với số phiếu đồng ý là 5 trên 4 lá phản đối, đã bãi bỏ luật của Quốc hội năm 1965 nhằm xác định các địa phương phải chịu sự giám sát, với lý do là luật đó không còn cần thiết vì tiến bộ trong sự đăng ký bầu cử của công dân Mỹ gốc Phi. Kết quả là các cơ quan lập pháp bang vội vàng áp dụng các trở ngại mới trong việc đăng ký bầu cử, tạo ra sự khác biệt lớn giữa các bang. Cho tới năm 2004, không bang nào trong số 50 bang yêu cầu cử tri tiềm năng phải trình thẻ căn cước do chính phủ cấp để được đăng ký hoặc bỏ phiếu. Chỉ có hai bang áp dụng yêu cầu này vào năm 2008. Nhưng ngay lập tức sau quyết định của Tòa án Tối cao, 14 bang áp dụng yêu cầu trình thẻ căn cước ảnh (thường là bằng lái hoặc hộ chiếu) hoặc áp dụng những hạn chế khác, và phần lớn các bang hiện nay đang hoặc sắp sửa tiến hành như vậy.
Cũng như các điều khoản ông cha trước đó vốn không nhằm trực tiếp vào người Mỹ gốc Phi nhưng lại rất thành công trong việc tước đi quyền bầu cử của họ, các biện pháp hạn chế bầu cử hiện đại cũng có ý đồ và thành quả tương tự. Tỉ lệ phần trăm cử tri tiềm năng có căn cước ảnh theo yêu cầu (phụ thuộc vào nhóm tuổi, có thể cao hơn ba lần) ở nhóm người da trắng cao hơn nhiều so với nhóm Mỹ gốc Phi hoặc nhóm Mỹ Latin, và ở nhóm người giàu cao hơn nhóm người nghèo. Lý do là những người tầm thường không có quan hệ trực tiếp để xứng đáng với quyền bầu cử: chẳng hạn, người nghèo, và người Mỹ gốc Phi nói chung, có khả năng không có bằng lái xe vì họ chưa trả tiền phạt giao thông. Bang Alabama đã đóng cửa các văn phòng cấp bằng lái xe (DMV) tại các khu vực đông dân cư Mỹ gốc Phi. Trước sự la ó của công luận, Alabama mở lại các văn phòng này – nhưng chỉ một ngày trong tháng. Bang Texas chỉ mở cửa các văn phòng DMV trong một phần ba số hạt, buộc cử tri tiềm năng phải chạy xe tới 250 dặm nếu họ quyết tâm lấy được căn cước ảnh bằng cách nhận bằng lái xe.
Những trở ngại trong đăng ký và bỏ phiếu cũng khác nhau ở mỗi bang. Một số bang “gần gũi với cử tri” theo nghĩa họ cho phép cử tri đăng ký vào đúng Ngày Bầu cử, hoặc cử tri gửi phiếu bầu đến thay vì phải xuất hiện tại nơi bỏ phiếu, hoặc họ mở cửa các văn phòng bầu cử vào buổi chiều và cuối tuần. Những bang khác “thiếu thân thiện với cử tri” vì yêu sách cử tri phải đăng ký trong thời gian ngắn trước ngày bầu cử, hay chỉ mở cửa các địa điểm bỏ phiếu trong giờ hành chính hoặc cuối tuần. Nhưng người nghèo (bao gồm phần lớn các nhóm thiểu số) không thể bỏ việc và xếp hàng đợi đăng ký hay bỏ phiếu được.
Tất cả những trở ngại có chọn lọc này góp phần đưa đến một thực tế là các cử tri có tỉ lệ tham gia trên 80% nằm ở nhóm người Mỹ thu nhập trên 150.000 đô la, nhưng dưới 50% là nhóm người Mỹ thu nhập dưới 20.000 đô la. Những trở ngại này không chỉ ảnh hưởng đến bầu cử tổng thống Mỹ mà còn ảnh hưởng mật thiết đến bầu cử Quốc hội, các cuộc bầu cử bang, địa phương mỗi năm.
Những hạn chế đối với sự tham gia bỏ phiếu của người Mỹ, dù xuất phát từ lựa chọn tự nguyện của cử tri hay bị ép buộc thì cũng tạo ra mặt trái của những ưu thế cốt lõi của nền dân chủ Mỹ mà tôi đã bàn luận trong chương trước. Những ưu thế đó bao gồm: cơ hội để công dân tranh luận, đánh giá, và chọn lựa bất kỳ đề xuất nào; công dân hiểu rằng họ được lắng nghe, và họ có quyền bộc lộ chính kiến ôn hòa; giảm thiểu nguy cơ bạo lực dân sự; khuyến khích thỏa hiệp; khuyến khích chính phủ đầu tư vào mọi công dân (vì rõ ràng là họ bỏ phiếu), hơn là chỉ đầu tư cho một bộ phận công dân ưu tú. Trong chừng mực mà người Mỹ chọn không bỏ phiếu, không được thông tin đầy đủ khi bỏ phiếu, hoặc không thể bỏ phiếu, thì chúng ta đang mất đi những ưu thế ấy.
Không cuộc thảo luận nào về nền dân chủ hiện đại Mỹ có thể coi là hoàn chỉnh nếu không nhắc đến đặc điểm thường xuyên bị chỉ trích nhất của nó: sự bùng nổ trong chi phí của chiến dịch tranh cử, đặc biệt do chuyển đổi từ quảng cáo truyền thông in ấn rẻ tiền sang quảng cáo truyền hình đắt tiền. Các chiến dịch đã dần dà được tài trợ chủ yếu bởi những nhóm lợi ích giàu có. Thời gian diễn ra chiến dịch tranh cử cũng là một sự bùng nổ khác, kéo dài từ lần bầu cử trước tới lần bầu cử sau. Hệ quả là, chính trị gia Mỹ buộc phải dành phần lớn thời gian (một nghị sĩ đã nghỉ hưu bạn tôi cho biết ông bỏ ra 80% thời gian) để kêu gọi gây quỹ và vận động chiến dịch thay vì cho nhiệm vụ quản lý; những công dân có trình độ cao không được khuyến khích chạy đua vào văn phòng chính phủ; và thông tin chiến dịch đầu tiên bị rút ngắn xuống còn 30 giây, sau đó là các tweet ngắn trên Twitter. Trái lại, mỗi cuộc tranh luận nổi tiếng giữa Abraham Lincoln và Stephen Douglas trước thềm tranh cử thượng nghị sĩ bang Illinois năm 1858 kéo dài tận sáu giờ đồng hồ. Trong khi rõ ràng chỉ một bộ phận cử tri Illinois theo dõi các cuộc tranh luận, thì nội dung của chúng đã được phổ biến rộng rãi trên báo chí. Không quốc gia nào sánh được với Mỹ trong chi phí và hoạt động không ngừng nghỉ của các chiến dịch chính trị. Ngược lại, ở Anh, luật pháp chỉ cho phép chiến dịch tranh cử diễn ra trước kỳ bầu cử vài tuần, và số tiền bỏ ra cho mục đích của chiến dịch cũng bị luật pháp hạn chế.
Vấn đề cốt yếu tiếp theo chính là sự bất bình đẳng. Hãy xem người Mỹ nghĩ gì về bình đẳng và bất bình đẳng ở Mỹ, làm sao đo đếm nó, và Mỹ được xếp hạng thế nào về bất bình đẳng và về sự dịch chuyển kinh tế-xã hội so với các nền dân chủ lớn khác. Và, nếu bất bình đẳng trỗi mạnh – thì sao? Nói cách khác, nếu thực sự nhiều người Mỹ nghèo đói, và cam chịu nghèo đói, thì dĩ nhiên là quá đáng buồn cho họ với tư cách cá nhân, nhưng – điều đó có tệ hại cho người giàu Mỹ, và cho toàn thể nước Mỹ không?
Khi được hỏi về bình đẳng và bất bình đẳng tại Mỹ, người dân Mỹ thường trả lời rằng bình đẳng là giá trị cốt lõi của Mỹ, như đã được nêu trong câu thứ hai của Tuyên ngôn Độc lập năm 1776: “Chúng ta khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng, tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng…” Xin lưu ý, tuy vậy, tuyên ngôn này không tuyên bố rằng tất cả đàn ông (và ngày nay, bao gồm cả phụ nữ) thực sự bình đẳng hoặc xứng đáng có thu nhập như nhau. Thay vào đó, tuyên ngôn chỉ tiếp tục nói rằng mọi người đều có một số quyền không thể bác bỏ. Nhưng ngay cả lời khẳng định giản dị đó cũng đã là một vấn đề lớn theo quan điểm của nhân loại năm 1776, là thời kỳ mà quý tộc, nông dân và tăng lữ ở các quốc gia châu Âu có những quyền lợi hợp khác nhau nhau, và nếu bị xét xử, họ sẽ xuất hiện ở những tòa án khác nhau. Như vậy, Tuyên ngôn Độc lập thực sự tôn vinh quyền bình đẳng về luật pháp như một giá trị cốt lõi của Mỹ, ít nhất là về mặt lý thuyết. Còn bất bình đẳng về kinh tế ở Mỹ thực sự là gì?
Bất bình đẳng kinh tế trong một quốc gia có thể được đo lường bằng nhiều cách. Một câu hỏi liên quan đến giá trị dùng để so sánh giữa mọi người là: tổng thu nhập trước thuế? Hay tổng thu nhập ròng, sau khi trừ đi các loại thuế, và bổ sung thanh toán an sinh xã hội và tem phiếu thực phẩm? Hay của cải hay tất cả tài sản của họ? Sự khác biệt ở từng cá nhân trong mỗi một giá trị trên cũng có thể được đo lường bằng nhiều cách, chẳng hạn như bằng hệ số Gini; bằng so sánh thu nhập của 1% số người giàu nhất với 1% số người nghèo nhất; bằng tính toán tỉ lệ phần trăm GDP thuộc về 1% số người giàu nhất; bằng tính toán tỉ lệ phần trăm tỉ phú trên dân số cả nước.
Hãy chỉ khoanh vùng đối chiếu với những nền dân chủ lớn, như vậy chúng ta sẽ không làm một cuộc so sánh khập khiễng giữa chế độ dân chủ với chế độ độc tài như Guinea Xích Đạo, nơi mà một người (tổng thống) sở hữu gần như toàn bộ thu nhập và tài sản quốc gia. Giữa những nền dân chủ lớn, có những sự khác biệt ở chỗ quốc gia nào được cho là bình đẳng nhất, còn phụ thuộc vào việc đo lường bình đẳng như thế nào. Tuy nhiên, đối với nền dân chủ lớn có sự bất bình đẳng cao nhất, mọi thông số so sánh và phép đo lường đều dẫn tới một kết luận chung: nền dân chủ lớn bất bình đẳng nhất chính là Mỹ. Điều đó đã tồn tại rất lâu, và bất bình đẳng trong xã hội Mỹ vẫn đang tiếp tục gia tăng.
Một vài con số về việc gia tăng sự bất bình đẳng của nền kinh tế Mỹ hiện nay được trích dẫn thường xuyên và trở nên quen thuộc. Chẳng hạn, số người Mỹ giàu nhất chiếm tỉ lệ thu nhập quốc dân không cân đối tăng từ 1% đến dưới 10% trong thập niên 1970 nay đã lên hơn 25%. Sự bất bình đẳng này cũng đang gia tăng ngay trong tầng lớp những người Mỹ giàu có: 1% người Mỹ giàu nhất đã tăng thu nhập của họ tương ứng nhiều hơn so với 5% người giàu nhất, trong đó có 0,1% người giàu nhất vượt trội hẳn; và giá trị tài sản ròng của ba người giàu nhất nước Mỹ (hiện tại là Jeff Bezos, Bill Gates và Warren Buffett) kết hợp lại bằng với giá trị tài sản ròng của 130 triệu người Mỹ nghèo nhất. Tỉ lệ số tỉ phú của Mỹ cao gấp đôi so với các nước dân chủ lớn có tỉ lệ cao nhất tiếp theo (Canada và Đức), và gấp bảy lần so với hầu hết các nước dân chủ lớn khác. Thu nhập trung bình của một CEO người Mỹ, vốn đã gấp 40 lần thu nhập của một người lao động trung bình trong cùng một công ty vào năm 1980, hiện nay gấp hàng trăm lần so với thu nhập của người lao động trung bình trong công ty. Ngược lại, trong khi tình trạng kinh tế của người Mỹ giàu vượt quá các nước dân chủ lớn khác, thì tình trạng kinh tế của người Mỹ nghèo lại thấp hơn so với các nước này.
Phân biệt giàu nghèo ngày càng sâu sắc là do có sự kết hợp giữa các chính sách của chính phủ Mỹ và thái độ của dân Mỹ. Về chính sách, “tái phân phối” ở Mỹ – nghĩa là chính sách trong việc chuyển tiền từ người giàu hơn sang người nghèo hơn – yếu ớt hơn so với các nước dân chủ lớn khác. Chẳng hạn, thuế suất thu nhập, phúc lợi xã hội và chi dùng tem phiếu hay trợ cấp dành cho người thu nhập hạn chế ở Mỹ tương đối thấp so với phần lớn các nước dân chủ giàu mạnh khác. Một trong những lý do đưa ra là niềm tin, vốn được phổ biến ở Mỹ hơn các nước khác, cho rằng người nghèo luôn nghèo vì đó là lỗi của họ, rằng họ chỉ trở nên giàu có nếu họ chịu khó làm việc, và rằng sự trợ giúp của chính phủ cho người thu nhập thấp (bằng tem phiếu thực phẩm chẳng hạn) bị lạm dụng tràn lan và khiến người nghèo trở nên giàu có một cách bất chính (gọi là “nữ hoàng phúc lợi”). Một phần lý giải nữa chính là các hạn chế đối với đăng ký bầu cử và bầu cử, và chi phí tài trợ chiến dịch mà tôi đã bàn trong phần trước. Những vấn đề này gây ra sự chênh lệch quyền lực chính trị về phía người giàu bằng cách tạo điều kiện cho họ hơn là những người nghèo trong việc đăng ký, bầu cử và gây ảnh hưởng tới các chính trị gia.
Liên quan mật thiết tới vấn đề bất bình đẳng kinh tế mà tôi vừa nêu chính là vấn đề dịch chuyển kinh tế-xã hội: nghĩa là khả năng các cá nhân Mỹ có thể vượt qua bất bình đẳng kinh tế, và người nghèo Mỹ có thể trở nên giàu có. Người Mỹ, hơn những công dân các quốc gia khác, tin rằng đất nước của họ thực sự là mảnh đất ưu đãi nhân tài, trong đó người dân nhận được phần thưởng xứng đáng với năng lực cá nhân của họ. Điều này được hình tượng hóa bằng một ngạn ngữ đúng chất Mỹ “làm giàu nhanh chóng”: người Mỹ tin rằng một di dân nghèo với hai bàn tay trắng có thể trở nên giàu có bằng năng lực và bằng sự siêng năng. Niềm tin trọng yếu đó có thực đúng không?
Một phương pháp mà các nhà xã hội học từng dùng để khảo nghiệm sự tin tưởng này chính là so sánh, giữa nhiều quốc gia khác nhau, các hệ số tương quan của thu nhập (hay các mức thu nhập của những người cùng thế hệ) của người trưởng thành và thu nhập của cha mẹ họ. Một hệ số tương quan 1,0 nói lên rằng thu nhập tương ứng của cha mẹ và con cái họ hoàn toàn tương ứng nhau: những người có thu nhập cao là con của những bậc cha mẹ có thu nhập cao, và những người có thu nhập thấp là con của những bậc cha mẹ có thu nhập thấp, con cái của những gia đình có thu nhập thấp không có cơ hội để đạt được thu nhập cao, và dịch chuyển kinh tế-xã hội khi đó là bằng không. Ở cực đối lập, nếu hệ số tương quan là bằng không, điều đó có nghĩa là con cái của những bậc cha mẹ có thu nhập thấp có cơ hội lớn để đạt được thu nhập cao như con cái của những bậc cha mẹ có thu nhập cao, và dịch chuyển kinh tế-xã hội khi đó ở mức cao.
Kết luận của những nghiên cứu như vậy cho thấy ở Mỹ, sự dịch chuyển kinh tế-xã hội thấp hơn, và hệ số tương quan thu nhập giữa các thế hệ trong gia đình cao hơn so với những nước dân chủ lớn khác. Chẳng hạn, 42% con cái của những người thuộc 20% nhóm nghèo nhất của thế hệ trước sẽ rơi vào 20% nghèo nhất của chính thế hệ họ, trong khi chỉ 8% con cái của những người nghèo nhất này thực hiện được sự đổi đời bằng cách lọt vào nhóm 20% giàu nhất. Các tỉ lệ trên ở các nước vùng Scandinavia vào khoảng 26% (thấp hơn so với 42% của Mỹ) và 13% (cao hơn so với 8% của Mỹ).
Buồn thay, vấn đề càng lúc càng trầm trọng thêm: bất bình đẳng kinh tế gia tăng, và dịch chuyển kinh tế-xã hội giảm đi trong những thập niên vừa qua ở Mỹ. Chính quyền Mỹ ở mọi cấp độ càng lúc càng bị người giàu thao túng, kết quả là các điều luật được chính quyền thông qua (như điều khoản đăng ký bầu cử và chính sách thuế) chỉ ủng hộ người giàu, khiến cho các ứng viên được người giàu hậu thuẫn càng dễ thắng trong các kỳ tranh cử sắp tới và rồi lại thông qua nhiều luật ủng hộ người giàu hơn, khiến cho chính quyền Mỹ càng ngày càng chịu ảnh hưởng hơn… gây ra hệ quả là… v.v. Điều này nghe có vẻ là một trò đùa tệ hại, nhưng đó là một sự thật của lịch sử Mỹ gần đây.
Nói tóm lại, niềm tin của người Mỹ vào tính khả thi của sự đổi đời chỉ là một huyền thoại. Con đường đổi đời ở Mỹ kém khả thi hơn những nước dân chủ lớn khác. Lời giải thích xem chừng thỏa đáng chính là cha mẹ giàu có xu hướng học hành đàng hoàng sẽ đầu tư tiền của nhiều hơn vào giáo dục, và mang lại nhiều cơ hội nghề nghiệp ưu thế hơn cho con so với cha mẹ nghèo. Chẳng hạn, con cái của gia đình Mỹ khá giả có khả năng hoàn thành bậc đại học cao gấp mười lần so với con cái nhà nghèo. Như Richard Reeves và Isabel Sawhill từng viết, “Hãy chọn cha mẹ bạn một cách cẩn trọng!”
Giờ hãy quay lại với câu hỏi mà tôi đã đặt ra ở đầu thảo luận về bất bình đẳng. Thừa nhận rằng đó là một vấn đề đạo đức nghiêm trọng, và đó là điều thật đáng tiếc cho những cá nhân không may nghèo đói – vậy thì sao? Nó cũng và một vấn đề kinh tế và an ninh của Mỹ nói chung? Nó có gây ra bất kỳ tổn hại nào đối với những người Mỹ giàu có đang sống giữa những người Mỹ nghèo không?
Tôi nghẹn ngào khi đặt ra câu hỏi ích kỷ về sự tổn hại. Có phải chỉ vấn đề đạo đức là đủ lý do liên quan tới bất bình đẳng? Nhưng sự thật tàn khốc là con người bị điều khiển không chỉ bởi sự cân nhắc đạo đức mà còn bởi tư lợi. Nhiều người Mỹ khá giả sẽ quan tâm hơn đến bất bình đẳng nếu họ nhận ra điều đó ảnh hưởng một cách cá nhân đến họ, giống như nó là một vấn đề đạo đức trừu tượng.
Vợ tôi và tôi đã nhận được một câu trả lời cá nhân cho câu hỏi “Thì sao nào?” vào ngày 29 tháng 4 năm 1992, sau khi chúng tôi để lũ trẻ ở nhà với cô trông trẻ, đáp máy bay từ Los Angeles tới khách sạn Chicago để tham dự một cuộc hội thảo. Khi chúng tôi gặp gỡ bạn bè ở sảnh khách sạn, họ nói, “Về phòng của các bạn và bật tivi lên. Các bạn sẽ không thích điều các bạn thấy đâu.” Chúng tôi làm theo, mở tivi, và thấy rằng bạo loạn không kiểm soát, cướp bóc, hỏa hoạn, và giết chóc (được gọi là những cuộc bạo loạn Rodney King) đã nổ ra ở các quận thiểu số nghèo đói thuộc trung tâm Los Angeles và đang lan rộng khắp đường phố ra vùng lân cận (Ảnh 10.1). Ngay lúc đó, chúng tôi đoán rằng bọn trẻ đang ở trong xe hơi với cô trông trẻ, và đang trên đường từ trường về nhà. Chúng tôi trải qua mấy giờ đồng hồ lo sợ cho tới khi cô trông trẻ gọi điện xác nhận rằng cô ấy và lũ trẻ đã về nhà an toàn. Tất cả những điều mà cảnh sát LA với lực lượng áp đảo có thể làm để bảo vệ các khu vực giàu có của LA khỏi những kẻ nổi loạn là chăng những dải băng nhựa vàng của cảnh sát để phong tỏa các con phố chính.
Trong dịp đặc biệt đó, người nổi loạn không tấn công những quận giàu có hơn, và trong các cuộc bạo động lớn ở khu Watts thuộc LA năm 1965 họ cũng không làm điều này. (Cả cuộc bạo loạn Rodney King và bạo động khu Watts đều là bạo loạn sắc tộc, được kích động bởi sự kỳ thị chủng tộc dẫn tới bất bình đẳng kinh tế và cảm giác tuyệt vọng.) Nhưng một điều có thể chắc chắn là tương lai sẽ có thêm nhiều bạo động ở LA và nhiều thành phố lớn khác của Mỹ. Với việc bất bình đẳng gia tăng, kỳ thị chủng tộc dai dẳng, và dịch chuyển kinh tế-xã hội sụt giảm, những người Mỹ nghèo hơn sẽ nhận thấy phần lớn con cái họ ít có cơ hội kiếm được thu nhập tốt hoặc thậm chí là để cải thiện chút ít tình trạng kinh tế của họ. Trong tương lai dự đoán được, Mỹ sẽ nếm trải những cuộc bạo loạn ở đô thị mà nơi đó, băng cách ly của cảnh sát sẽ không đủ sức ngăn chặn người nổi loạn trút bỏ sự thất vọng lên những người giàu có. Đến khi đó, nhiều người Mỹ khá giả sẽ nhận được câu trả lời của chính họ cho câu hỏi, “Việc những người Mỹ giàu có sống giữa những người Mỹ nghèo có gây ra bất kỳ tổn hại nào không?” Câu trả lời là: có, nó gây ra bất ổn cá nhân.
Dẫu cho những người Mỹ giàu có sống ở một khoảng cách an toàn xa những người bạo loạn thì họ vẫn sẽ nhận được một câu trả lời khác cho câu hỏi “Thì sao nào?” – một câu trả lời ít cuồng bạo hơn, nhưng vẫn tác động ghê gớm lên túi tiền và lối sống của họ. Câu trả lời này bao hàm vấn đề còn lại trong bốn vấn đề cốt lõi mà nước Mỹ đang phải đối diện: những hệ quả kinh tế của suy thoái đầu tư Mỹ trong vốn nhân lực và các mục đích công lợi khác. Những hệ quả này sẽ được cảm nhận bởi mọi tầng lớp dân chúng Mỹ, bao gồm cả những người giàu có.
Sự cần thiết của việc đầu tư vào một tương lai nào đó, của cá nhân hay quốc gia, là hiển nhiên. Nếu hiện nay ta giàu nhưng chỉ để tiền đó mà không đầu tư, hay đầu tư không khôn ngoan, thì chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi ta không còn giàu nữa. Điều này có thực sự liên quan gì đến nước Mỹ hiện nay không?
Câu trả lời đầu tiên có thể là: Dĩ nhiên không! Nhiều người coi đầu tư tư nhân của Mỹ rất cao, táo bạo, sáng tạo, và cực kỳ sinh lợi. Ở Mỹ, việc nhận được nguồn vốn khởi nghiệp và thử nghiệm ý tưởng thương mại tiềm năng là khá dễ so với những nước khác. Như chúng ta đã thấy Microsoft, Facebook, Google, Paypal, Uber và nhiều doanh nghiệp Mỹ khác chỉ vừa mới thành lập nhưng đã là những gã khổng lồ của thế giới. Thông qua bạn bè trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, tôi đã thấy được lý do tại sao đầu tư tư nhân của Mỹ lại thành công đến vậy.
Vốn đầu tư mạo hiểm lên đến hàng triệu (hoặc hàng trăm triệu) đô la, họ chia nhỏ đầu tư cho rất nhiều doanh nghiệp mới hình thành. Phần lớn những doanh nghiệp đó sẽ thất bại, nhưng có một hoặc vài doanh nghiệp có thể thành công ở quy mô lớn đem lại lợi nhuận khổng lồ cho các nhà đầu tư ban đầu. Những ý tưởng mà các bạn tôi làm trong đầu tư mạo hiểm khi bỏ ra số vốn khổng lồ không những đa dạng ở mặt công nghệ tài chính mà còn là những ý tưởng có mức rủi ro cực cao. Sự thuận lợi trong việc nhận vốn đầu tư khởi nghiệp tư nhân chính là một lý do lớn cho sự thống trị của Mỹ trong sự phát triển bùng nổ các doanh nghiệp mới.
Để minh họa cho sự dễ dàng này, tôi sẽ liệt kê tám ý tưởng mà hơn chục năm trước tôi từng coi là điên khùng và có nguy cơ thất bại cao. Hai trong tám ý tưởng đó (tôi gọi là loại A) giờ đây đã trở nên rất thành công và tạo ra các doanh nghiệp đáng giá hàng chục tỉ đô la; hai ý tưởng (loại B) từng thu hút những nhà đầu tư giàu có nhưng không cho thấy thành công; hai ý tưởng (loại C) từng cho thấy thành công và thu hút vốn đầu tư mạo hiểm nhưng không (chưa) phải là doanh nghiệp lớn; và hai ý tưởng (loại D) mà giờ đây tôi cho là lừa bịp và không thu hút được vốn đầu tư nào (theo như tôi biết). Những ý tưởng đó là: 1. Một loại máy điện từ chống cá mập dành cho người bơi; 2. Một vòng cổ chó truyền điện từ cho biết hoạt động của con chó cũng như vị trí của nó hệt với máy GPS; 3. Công nghệ cấy DNA trong tử cung cho phép con chó của bạn đẻ ra một con cáo lông bạc giá trị; 4. Một phương tiện xã hội cho phép bạn đăng ảnh và văn bản trực tuyến nhưng tự động xóa chúng trong vòng 24 tiếng; 5. Một cái kén vận chuyển người với tốc độ máy bay trong các ống chân không; 6. Công nghệ cho phép bạn cho một người xa lạ thuê một căn phòng trong nhà bạn, nếu bạn thực sự muốn làm như vậy; 7. Công nghệ làm lạnh xác ngay khi bạn vừa qua đời, như vậy bạn có thể được làm sống lại trong tương lai khi các bác sĩ tìm ra cách chữa căn bệnh đã giết chết bạn; và 8. Một hóa chất phun lên da bạn cho phép bạn “thở”dưới nước suốt 15 phút.
Bạn có thể phân loại những ý tưởng này theo A, B, C, D một cách chuẩn xác không? Tôi cá rằng ít người trong số bạn đọc phân loại đúng hết tám ý tưởng này.11 Điều đó nói lên rằng cho dù những ý tưởng ban đầu nghe có vẻ rất điên khùng nhưng vẫn thu hút được vốn khởi nghiệp ở Mỹ, vẫn có cơ hội để thể hiện, và (nếu thành công) có thể mở rộng ra thế giới như những doanh nghiệp nhiều tỉ đô la.
Một lý do khác để bác bỏ những lo lắng ban đầu liên quan đến đầu tư Mỹ vào tương lai chính là sự vượt trội của khoa học và kỹ thuật ở Mỹ, thứ chiếm 40% sản lượng kinh tế Mỹ: tỉ lệ cao nhất trong tất cả các nền dân chủ. Mỹ dẫn đầu thế giới về các bài báo khoa học chất lượng cao trong mọi lĩnh vực chính của khoa học: hóa học, vật lý, sinh học, khoa học Trái đất và môi trường. Phân nửa các viện nghiên cứu khoa học và công nghệ đứng đầu thế giới là của Mỹ. Mỹ dẫn đầu thế giới về chi phí tuyệt đối cho nghiên cứu và phát triển (dù không phải là chi phí tương đối: Israel, Hàn Quốc và Nhật Bản đều có tỉ lệ phần trăm GDP đầu tư cho khoa học và kỹ thuật cao hơn Mỹ.) Bên cạnh những lý do tích cực thì vẫn có một lý do bi quan đối với đầu tư của Mỹ cho tương lai: đầu tư công lợi của chính phủ Mỹ sụt giảm, như trong các lĩnh vực giáo dục, cơ sở hạ tầng, nghiên cứu và phát triển phi quân sự; và chi tiêu vô tội vạ của chính phủ cho những mục tiêu không mang lại lợi ích kinh tế. Các phân khúc ngày càng lớn của dân chúng Mỹ ngày nay chế giễu đầu tư của chính phủ là “chủ nghĩa xã hội.” Ngược lại, đầu tư của chính phủ là một trong hai chức năng lâu đời nhất của chính phủ. Kể từ khi những chính quyền đầu tiên hình thành cách đây 5.400 năm, họ đã thực hành hai chức năng chính: giữ hòa bình nội bộ bằng độc chiếm quyền lực, giải quyết tranh chấp và ngăn cấm công dân sử dụng bạo lực để tự giải quyết tranh chấp với nhau; tái phân phối tài sản cá nhân để đầu tư cho các mục tiêu lớn hơn – trong trường hợp xấu nhất, là làm giàu cho tầng lớp thượng lưu; trong trường hợp tốt nhất, là phát huy lợi ích của toàn xã hội. Dĩ nhiên, phần lớn đầu tư là của tư nhân, do các cá nhân và các công ty giàu có mong muốn thu lợi từ đầu tư của họ. Nhưng nhiều lợi nhuận tiềm năng không thể thu hút được đầu tư tư nhân, bởi lẽ lợi nhuận đó nằm quá xa trong tương lai (như lợi nhuận từ giáo dục phổ cập tiểu học), hoặc vì lợi nhuận bị phân tán cho toàn xã hội thay vì tập trung trong các lĩnh vực mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư tư nhân (như những lợi nhuận của sở cứu hỏa, thị chính, đường bộ, và giáo dục phổ cập). Ngay cả những người Mỹ ủng hộ nhiệt thành nhất cho một chính quyền nhỏ cũng không lên án kinh phí của sở cứu hỏa, cao tốc liên bang, và giáo dục công là “chủ nghĩa xã hội.”
Kết quả là Mỹ đang mất đi ưu thế cạnh tranh dựa trên một lực lượng lao động có giáo dục, trên khoa học và kỹ thuật. Ít ra có ba xu thế đang góp phần vào tình trạng suy thoái này: sự giảm thiểu chi phí dành cho giáo dục, kết quả yếu kém mà chúng ta nhận được từ số tiền đầu tư cho giáo dục, và sự chênh lệch lớn về chất lượng giáo dục mà người Mỹ thụ hưởng.
Quỹ đầu tư giáo dục của chính phủ (đặc biệt là giáo dục bậc cao) đã giảm xuống kể từ đầu thế kỷ này. Bất chấp dân số tăng lên, ngân sách giáo dục chỉ tăng 1/25 so với ngân sách dành cho nhà tù, đến mức hàng chục bang Mỹ ngày nay đang chi cho hệ thống nhà tù nhiều hơn là cho hệ thống giáo dục bậc cao.
Xu hướng thứ hai liên quan đến sự suy giảm năng lực của sinh viên Mỹ so với tiêu chuẩn thế giới. Trong toán học, kiến thức khoa học và điểm kiểm tra, sinh viên Mỹ ngày nay bị xếp hạng thấp trong số những nền dân chủ lớn. Điều đó thật nguy hiểm, bởi lẽ nền kinh tế Mỹ quá phụ thuộc vào khoa học và công nghệ, và vì giáo dục toán học và khoa học cộng với nhiều năm đèn sách là những yếu tố hàng đầu của sự phát triển kinh tế quốc gia. Nhưng chi phí giáo dục dành cho mỗi sinh viên dù sụt giảm nhưng vẫn cao hơn mặt bằng chung thế giới. Điều đó có nghĩa là nước Mỹ đang đầu tư không hiệu quả vào giáo dục. Tại sao?
Một phần lớn của câu trả lời chính là, ở Hàn Quốc, Phần Lan, Đức, và nhiều nước dân chủ khác, nghề dạy học thu hút được những sinh viên giỏi nhất, bởi vì giáo viên được trả lương cao và có địa vị xã hội cao, dẫn đến tình trạng ít luân chuyển nghề nghiệp ở giáo viên. Thí sinh Hàn Quốc muốn trở thành giáo viên tiểu học phải có điểm số thuộc top 5% trong kỳ thi đại học toàn quốc, và cứ mỗi một vị trí dạy học bậc trung học lại có 12 giáo viên ứng tuyển. Ngược lại, giáo viên Mỹ có mức lương tương đối thấp nhất (nghĩa là tương quan với mức lương trung bình của mọi ngành nghề) trong số các nước dân chủ lớn. Ở bang Montana của Mỹ, nơi vợ tôi và tôi thường tới nghỉ hè mỗi năm, lương của giáo viên gần như ở mức thê thảm, và giáo viên phải làm thêm một, hai công việc khác ngoài giờ (ví dụ đóng gói trong các siêu thị) để có thể duy trì cuộc sống. Mọi giáo viên ở Hàn Quốc, Singapore và Phần Lan đều nằm trong số một phần ba tổng học sinh xếp đầu lớp khi còn đi học, nhưng gần nửa giáo viên Mỹ lại nằm trong một phần ba tổng học sinh xếp hạng cuối. Trong suốt 53 năm tôi dạy học ở Đại học California, Los Angeles, một trường thu hút nhiều sinh viên giỏi, chỉ có duy nhất một sinh viên nói với tôi rằng cậu ấy muốn sau này trở thành giáo viên.
Xu hướng còn lại góp phần làm giảm nguồn lực có trình độ chính là sự chênh lệch lớn trong giáo dục Mỹ, ở cấp độ giữa và ngay trong các bang. Khác với phần lớn các nước dân chủ phát triển, nơi chính phủ quốc gia tài trợ cho giáo dục và thiết lập tiêu chuẩn, ở Mỹ trách nhiệm này thuộc về các bang và chính quyền địa phương. Chi phí dành cho mỗi sinh viên đại học công chênh lệch đến 11 lần giữa các bang, tùy thuộc vào mức độ giàu có, thuế thu nhập, và triết lý chính trị của bang đó. Ngay trong một bang, chi phí này cũng thay đổi tùy theo khu vực: những quận nghèo và những bang nghèo hơn thì có ít trường được đài thọ tử tế hơn. Thực tế này có xu hướng làm cho sự chênh lệch địa lý trong nghèo đói ở Mỹ tự kéo giãn, bởi lẽ giáo dục vô cùng quan trọng đối với hiệu suất kinh tế. Chất lượng giáo dục cũng rất khác biệt giữa trường công và trường tư trong cùng một quận, vì trường tư thu học phí thì thu hút con em nhà giàu, trả lương cho giáo viên hậu hĩnh hơn, lớp học ít sinh viên hơn, và cung cấp một nền giáo dục tốt hơn nhiều. Điều này không tồn tại ở Phần Lan, nơi chính phủ quốc gia tự trả lương cho giáo viên của trường tư cũng như trường công hậu hĩnh như nhau, vì vậy, phụ huynh Phần Lan (khác với phụ huynh Mỹ) không thể bỏ tiền mua một nền giáo dục tốt hơn cho con của họ bằng cách gửi chúng vào trường tư.
Thông điệp mang lại của việc chính phủ Mỹ giảm đầu tư vào trường công là gì, và thông điệp của sự chênh lệnh đáng kể giữa những cơ hội thụ hưởng nền giáo dục dành cho trẻ em Mỹ là gì? Điều đó có nghĩa là Mỹ đang hạn chế đầu tư vào tương lai của hầu hết người Mỹ. Trong khi Mỹ có số dân đông nhất trong số các nước dân chủ giàu có, phần lớn người dân lại không được đào tạo kỹ năng để làm động lực cho sự phát triển kinh tế quốc gia. Nhưng Mỹ đang phải cạnh tranh với những nước như Hàn Quốc, Đức, Nhật và Phần Lan, là những nước đầu tư cho giáo dục của tất cả con em họ. Nếu bạn thấy hiển nhiên vì những nước đó có dân số thấp hơn Mỹ – chẳng hạn, nếu bạn cảm thấy 20% học sinh Mỹ vẫn nhỉnh hơn 100% học sinh Hàn Quốc – thì hãy nhớ rằng Trung Quốc, đất nước có dân số gấp năm lần Mỹ, hiện đang tiến hành một chương trình gấp rút nhằm cải thiện cơ hội thụ hưởng giáo dục cho con em họ. Đó là điềm xấu cho tương lai của ưu thế cạnh tranh mà nền kinh tế Mỹ vốn sở hữu cho đến tận lúc này.
Tất cả những sự thật này nêu lên một nghịch lý. Mỹ là quốc gia giàu nhất thế giới. Vậy tiền của nước Mỹ đi đâu nếu nó không được chính phủ đầu tư vào tương lai của chính mình?
Một phần câu trả lời là phần lớn tiền nằm trong túi người đóng thuế; gánh nặng thuế của Mỹ thấp hơn so với phần lớn các nền dân chủ giàu có khác. Phần khác của câu trả lời là phần lớn thuế của Mỹ sẽ được chính phủ đầu tư cho nhà tù, quân đội và y tế. Trong cả ba lĩnh vực này, chi tiêu của Mỹ vượt xa các nền dân chủ lớn khác. Không ai có thể cho rằng nhà tù của Mỹ, trong đó nhấn mạnh đến hình phạt và răn đe thay vì cải tạo và huấn luyện lại, là những khoản đầu tư vào tương lai. Chắc chắn, chi tiêu quân sự là những cuộc đầu tư cho tương lai: nhưng tại sao Mỹ phải đổ tiền nhiều hơn so với Liên minh Châu Âu, trong khi dân số của họ gần gấp đôi của Mỹ, nhưng chi phí quân sự của họ để đảm bảo tương lai lại do Mỹ gánh một cách mất cân xứng? Đối với chi tiêu y tế, coi đó là đầu tư cho tương lai có vẻ thật tự nhiên – cho đến khi ta xem xét việc sử dụng và kết quả đầu tư đó. Về kết quả đầu tư y tế, Mỹ xếp dưới tất cả các nước dân chủ lớn, dựa vào các chỉ số như tuổi thọ, tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, và tỉ lệ tử vong ở người mẹ. Đó là vì chi tiêu lớn liên quan đến y tế của Mỹ cho những mục đích không mang lại kết quả cao về sức khỏe, chẳng hạn các công ty bảo hiểm đánh phí bảo hiểm cao, chi phí hành chính cao, giá thuốc kê đơn cao, phí bảo hiểm thuốc sai và thuốc cấm cao, và phòng cấp cứu đắt tiền với phần lớn dân số không có bảo hiểm không đủ khả năng hưởng dịch vụ không khẩn cấp.
Chúng ta đã bắt đầu hai chương về Mỹ bằng cách liệt kê các thế mạnh quốc gia. Sau đó chúng ta đã thảo luận theo quan điểm của tôi về những vấn đề nghiêm trọng nhất đang diễn ra. Hãy kết thúc những chương đó bằng việc nhìn vào những vấn đề trong khung biến cố và thay đổi của cuốn sách này.
Trong số 12 nhân tố được liệt kê ở Bảng 1.2, nhân tố nào thúc đẩy, và nhân tố nào cản trở triển vọng giải quyết các vấn đề bằng cách áp dụng những thay đổi có chọn lọc? Động lực của tôi trong việc sử dụng khuôn khổ này cho Mỹ không chỉ vì lợi ích học thuật, mà còn là hi vọng mang đến cho người Mỹ một số hướng dẫn trong việc tìm ra giải pháp. Nếu ta có thể hiểu rõ các nhân tố cản trở tìm kiếm, thì nhận thức đó có thể giúp ta tập trung tìm cách ứng phó với những cản trở kia.
Những nhân tố khích lệ một kết quả tốt đẹp bao gồm các ưu thế vật chất hoặc một phần vật chất, và các ưu thế văn hóa. Một tập hợp các ưu thế một phần vật chất bao gồm ưu thế nhân khẩu học với dân số cao; ưu thế địa lý với lãnh thổ rộng lớn, vị trí ôn đới, đất đai màu mỡ, đường thủy nội địa và ven biển sâu rộng; ưu thế chính trị với nền dân chủ liên bang, dân sự kiểm soát dân sự, và tham nhũng tương đối thấp; ưu thế lịch sử về cơ hội cá nhân, đầu tư của chính phủ, và sự hợp nhất người nhập cư. Đó là những lý do chính khiến Mỹ ngày nay, và trong một thời gian dài, là cường quốc số một và là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Một tập hợp các ưu thế hoàn toàn vật chất khác chính là tập hợp của các ưu thế địa lý mang lại cho nước Mỹ sự tự do lựa chọn tuyệt vời nhất (nhân tố số 12, Bảng 1.2) so với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới: đại dương mênh mông bảo vệ nước Mỹ ở hai phía, và biên giới đất liền không có sự đe dọa và các nước láng giềng thưa thớt dân cư bảo vệ chúng ta ở hai phía còn lại. Do đó, Mỹ không có nguy cơ bị xâm lược trong tương lai gần, nhưng trái lại, hai trong số sáu nước được bàn luận trong sách này (Đức và Nhật) từng bị thôn tính và chiếm đóng cách đây không lâu, và hai nước khác (Phần Lan và Úc) từng bị tấn công. Nhưng tên lửa đạn đạo liên lục địa, toàn cầu hóa kinh tế, và sự di cư dễ dãi không kiểm soát nhờ giao thông vận tải hiện đại giờ đây đã làm giảm đi sự tự do mà nước Mỹ có được từ những ràng buộc về địa lý trước đây.
Về ưu thế văn hóa, một trong số đó là ý thức mạnh mẽ về căn tính quốc gia (nhân tố số 6). Trong suốt lịch sử đất nước, hầu hết người Mỹ đều cho rằng nước Mỹ là duy nhất, tuyệt vời, và là một quốc gia đáng tự hào. Những người không phải là người Mỹ thường bình luận về sự lạc quan và thái độ “tích cực”của người Mỹ: họ nhìn nhận vấn đề như một sự tồn tại cần được giải quyết.
Ưu thế văn hóa khác của Mỹ chính là tính linh hoạt (nhân tố số 10), tự thân nó được thể hiện qua nhiều cách. Người Mỹ chuyển nhà trung bình năm năm một lần, nhiều hơn công dân của các nước dân chủ khác mà tôi nói đến. Sự chuyển giao quyền lực giữa hai đảng phái lớn nhất thường xuyên diễn ra, với chín lần ở cấp tổng thống trong vòng 70 năm qua. Lịch sử lâu dài của việc duy trì đồng thời hai đảng phái chính trị lớn – đảng Dân chủ kể từ năm 1820, và đảng Cộng Hòa từ năm 1854 – thực sự là dấu hiệu của sự linh hoạt hơn là cứng nhắc. Đó là bởi vì, bất cứ khi nào có một đảng thứ ba manh nha hoạt động (như đảng Bull Moose của Theodore Roosevelt, đảng Tiến bộ của Henry Wallace, và đảng Độc lập Mỹ của George Wallace), thì nó cũng sớm phai nhạt vì đường lối của nó sẽ bị sáp nhập một phần vào một trong hai đảng lớn. Tính linh hoạt liên quan đến giá trị cốt lõi cũng là một nét đặc trưng của Mỹ. Một mặt, yêu sách giá trị cốt lõi (nhân tố số 11) về tự do, bình đẳng và dân chủ không được đàm phán chính thức (mặc dù có những điểm mù trong việc áp dụng các giá trị đó). Mặt khác, Mỹ trong 70 năm qua đã vứt bỏ những giá trị lâu bền bị coi là lỗi thời: chính sách cô lập ngoại giao đã bị gạt sang một bên sau Thế chiến II, và sự kỳ thị phụ nữ cũng như phân biệt chủng tộc đã thoái trào từ năm 1950.
Bây giờ, hãy nói về những hạn chế. Những bước đầu tiên của bất kỳ quốc gia nào trong việc giải quyết biến cố chính là đạt được sự đồng thuận rằng quốc gia đó đang thực sự đối mặt với biến cố (nhân tố số 1); nhận trách nhiệm về các vấn đề của họ (nhân tố số 2), thay vì đổ lỗi cho “người khác”(các quốc gia hoặc các nhóm khác trong cùng một quốc gia); và thực hiện một sự tự đánh giá trung thực về những gì đang tốt và không tốt (nhân tố số 7). Nước Mỹ vẫn chưa thống nhất được trong những bước đầu tiên này. Trong khi người Mỹ ngày càng quan tâm đến điều kiện quốc gia, thì chưa có một sự đồng thuận quốc gia về những việc sai lầm. Tự đánh giá trung thực không đủ. Không có một sự công nhận rộng rãi rằng những vấn đều cơ bản là sự phân cực, tỉ lệ cử tri và những trở ngại trong đăng ký bầu cử, bất bình đẳng và dịch chuyển kinh tế-xã hội, suy thoái đầu tư chính phủ vào giáo dục và công lợi. Rất nhiều chính trị gia Mỹ và cử tri đang làm việc vất vả để khiến cho những vấn đề đó tồi tệ hơn thay vì giải quyết chúng. Rất nhiều người Mỹ tìm cách đổ lỗi cho người khác: những đích ngắm ưa thích gồm có Trung Quốc, Mexico và những người nhập cư bất hợp pháp.
Những người Mỹ khá giả và có tầm ảnh hưởng với quyền lực không cân xứng có xu thế nhận thấy điều gì đó không ổn, nhưng thay vì dùng của cải và quyền lực để tìm kiếm giải pháp, họ lại tìm cách đưa chính họ và gia đình trốn chạy khỏi những vấn đề của xã hội Mỹ. Các chiến lược trốn chạy đang được ưa chuộng gồm có mua bất động sản ở New Zealand (quốc gia tách biệt nhất thuộc Thế giới Thứ nhất), hoặc chuyển đổi các hầm phóng tên lửa bỏ hoang của Mỹ thành những boong-ke tiện nghi xa hoa (Ảnh 10.2). Nhưng một nền tiểu văn minh xa hoa trong boong-ke, hoặc thậm chí là một xã hội tách biệt thuộc Thế giới Thứ nhất ở New Zealand có thể sống sót được bao lâu nếu nước Mỹ bên ngoài sụp đổ: Vài ngày? Vài tuần? Thậm chí vài tháng? Quan điểm này được gói gọn trong đoạn trao đổi cay đắng sau:
Hỏi: Bao giờ nước Mỹ mới nhìn nhận các vấn đề của họ một cách nghiêm túc?
Đáp : Khi người Mỹ giàu có và quyền lực bắt đầu cảm thấy không an toàn về mặt thể chất.
Về câu trả lời này, tôi muốn thêm rằng: khi người Mỹ giàu có và quyền lực nhận ra không điều gì họ làm có thể giữ cho họ an toàn về thể chất, nếu hầu hết những người Mỹ khác vẫn giận dữ, thất vọng, và thực sự vô vọng. Một bất lợi lớn khác đó là: trong số hàng chục dự đoán ứng phó thành công (Bảng 1.2), dự đoán không thể hiện rõ chất Mỹ nhất chính là sự tự nguyện học hỏi từ những hình mẫu ứng phó luân phiên mà những quốc gia khác đã làm (nhân tố số 5). Sự khước từ học hỏi này liên quan đến niềm tin vào “chủ nghĩa biệt” Mỹ: nghĩa là, niềm tin rằng nước Mỹ độc nhất đến nỗi chẳng điều gì xảy ra ở nước khác lại có thể áp dụng cho nước Mỹ. Dĩ nhiên chuyện đó thật ngớ ngẩn: mặc dù Mỹ thực sự khác biệt về nhiều mặt, nhưng mọi con người, mọi xã hội, mọi chính quyền và mọi nền dân chủ đều có những đặc điểm chung cho phép mỗi người học được từ người khác một điều gì đó.
Đặc biệt, người hàng xóm Canada, cũng như Mỹ, là một nền dân chủ giàu mạnh với lãnh thổ rộng lớn, mật độ dân số thấp, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến, tự do lựa chọn bắt nguồn từ các rào cản địa lý phòng vệ, nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, và dân số đa phần là người nhập cư đến từ năm 1600. Mặc dù vai trò trên thế giới của Canada khác với vai trò của Mỹ, nhưng cả Canada và Mỹ đều có chung những vấn đề nhân đạo toàn cầu. Rất nhiều những đường lối xã hội và chính trị của Canada khác biệt đáng kể so với Mỹ, chẳng hạn như liên quan đến các kế hoạch y tế quốc gia, nhập cư, giáo dục, nhà tù, và cân bằng giữa lợi ích cộng đồng và cá nhân. Một vài vấn đề mà người Mỹ coi như không hóa giải được thì người Canada lại giải quyết theo cách nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng. Chẳng hạn, tiêu chí xét duyệt dân nhập cư của Canada chi tiết và hợp lý hơn của Mỹ. Do đó, 80% người Canada cho rằng dân nhập cư có lợi cho nền kinh tế Canada – khác xa với sự chia rẽ trong xã hội Mỹ về nhập cư. Nhưng sự ngó lơ của Mỹ đối với người láng giềng Canada thật đáng kinh ngạc. Bởi vì hầu hết người Canada nói tiếng Anh, sống ngay cạnh nước Mỹ, và cùng chia sẻ với Mỹ cùng một hệ thống mã vùng điện thoại, nên nhiều người Mỹ thậm chí không nghĩ rằng Canada là một thực thể riêng biệt. Họ không nhận ra Canada khác biệt như thế nào, và người Mỹ có thể học hỏi được bao nhiêu từ những mô hình của Canada nhằm giải quyết những vấn đề nan giải.
Quan điểm của người Mỹ về Tây Âu thoạt tiên không giống như quan điểm về Canada. Rõ ràng Tây Âu khác với Mỹ, theo kiểu không rõ ràng như Canada trong mắt chúng ta. Không giống Canada, Tây Âu ở xa Mỹ, mất ít nhất năm giờ bay để đến được đó thay vì một chuyến chạy xe ngắn, họ chủ yếu nói nhiều ngôn ngữ thay vì sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất, và có một lịch sử lâu đời không phải chỉ dựa trên những lớp người di dân mới đây. Tuy nhiên, các quốc gia Tây Âu là những nền dân chủ giàu có, đối mặt với những vấn đề tương tự như Mỹ về y tế, giáo dục, nhà tù và nhiều vấn đề khác, mà họ luôn giải quyết theo các hướng khác biệt. Đặc biệt, các chính phủ châu Âu hỗ trợ y tế, giao thông công cộng, giáo dục, người cao tuổi, nghệ thuật, và nhiều khía cạnh khác của đời sống bằng nguồn đầu tư của chính phủ với các chính sách kiểu “xã hội chủ nghĩa” mà người Mỹ có xu hướng gạt bỏ. Mặc dù thu nhập bình quân đầu người ở Mỹ cao hơn một chút so với hầu hết các nước châu Âu, nhưng tuổi thọ trung bình và mức độ hài lòng cá nhân ở Tây Âu vẫn luôn cao hơn Mỹ.
Điều này cho thấy các mô hình Tây Âu có thể dạy cho nước Mỹ khá nhiều. Nhưng lịch sử gần đây của Mỹ không có mấy phái đoàn được chính quyền gửi qua học tập mô hình Tây Âu và Canada, tương tự như các phái đoàn chính phủ Nhật Bản thời Minh Trị đã làm. Đó là bởi vì niềm tin rằng phương pháp của Mỹ ưu việt hơn của Tây Âu và Canada, và Mỹ là một trường hợp đặc biệt mà các giải pháp của Tây Âu và Canada không thể nào áp dụng được. Thái độ tiêu cực đó tước đi lựa chọn mà rất nhiều cá nhân và quốc gia đã thấy hữu ích trong việc giải quyết biến cố: học hỏi từ những hình mẫu mà những nước khác đã giải quyết các biến cố tương tự.
Hai nhân tố còn lại tạo thành một bất lợi nhỏ và một thông điệp kết hợp. Bất lợi nhỏ là người Mỹ đã không được tôi luyện để khoan dung cho sự bấp bênh và thất bại của quốc gia (nhân tố số 9), điều này va chạm với thái độ “tích cực” và kỳ vọng thành công của họ. So với người Anh từng ứng phó với sự sỉ nhục của Khủng hoảng Suez năm 1956, và so với người Nhật và người Đức từng phục hồi sau thất bại thảm hại trong Thế chiến II (người Đức còn thất bại trong cả Thế chiến I), thì người Mỹ coi sự thất bại trong Chiến tranh Việt Nam là sự chia rẽ dân tộc và khó lòng dung thứ. Những kinh nghiệm vượt qua các biến cố trước đây đã đưa Mỹ lên một vị trí hỗn hợp (nhân tố số 8). Nước Mỹ chưa từng thất bại trong chiến tranh và bị chiếm đóng như Nhật và Đức, cũng chưa từng bị xâm lược như Phần Lan, cũng chưa từng bị tấn công hay đe dọa xâm chiếm như Anh và Úc. Nước Mỹ cũng chưa từng phải chịu một cuộc cải tổ lớn như Nhật Bản những năm 1869-1912, như Anh quốc những năm 1945-1946 và những thập niên sau đó. Nhưng Mỹ đã vượt qua một cuộc nội chiến dai dẳng đe dọa tới sự thống nhất quốc gia, đã thoát ra khỏi cuộc Đại Suy thoái những năm 1930, và đã chuyển đổi thành công từ sự tách biệt hòa bình sang nỗ lực chiến tranh toàn diện trong Thế chiến II.
Trong những đoạn trước tôi đã liệt kê những nhân tố dự đoán áp dụng cho Mỹ. Các đặc điểm địa lý mang lại cho Mỹ sự tự do lựa chọn, ý thức mạnh mẽ về căn tính quốc gia, và lịch sử về tính linh hoạt là những nhân tố gợi sự tiên lượng tốt. Những nhân tố cản trở một kết quả tốt là sự thiếu đồng thuận trong việc thừa nhận một biến cố đang bắt đầu manh nha, sự đổ lỗi thường xuyên các vấn đề cho người khác thay vì nhận trách nhiệm, nỗ lực của những người Mỹ quyền lực trong việc bảo vệ chính họ thay vì cải tạo đất nước, và sự không sẵn lòng học hỏi từ mô hình của các quốc gia khác. Những nhân tố này không dự đoán rằng Mỹ sẽ chọn cách giải quyết vấn đề; chúng chỉ dự đoán việc Mỹ có thể sẽ chọn cách giải quyết ra sao.
Điều gì sẽ xảy ra với nước Mỹ? Chuyện đó phụ thuộc vào các lựa chọn. Những ưu thế cốt lõi vô cùng lớn mà Mỹ có được cho phép họ đảm bảo một tương lai rạng rỡ như trong quá khứ, nếu họ ứng phó với những trở ngại tự họ bày ra trước mắt. Nhưng Mỹ đang lãng phí những ưu thế đó. Các quốc gia khác trước đây cũng từng hưởng những ưu thế mà ngày nay chính họ đã lãng phí. Các quốc gia khác trước đây cũng từng đối mặt với những biến cố quốc gia dữ dội hoặc chậm rãi lộ diện như biến cố hiện tại của Mỹ. Một số trong những quốc gia đó, như Nhật Bản thời Minh Trị hay Phần Lan và Đức sau chiến tranh, đã thành công trong việc đổi mới triệt để trong một thời gian dài và cuối cùng cũng giải quyết được những biến cố. Phải chờ xem liệu người Mỹ chúng ta có chọn lập một hàng rào không (nhân tố số 3), không phải dọc theo biên giới Mexico mà là hàng rào giữa những đặc điểm của một xã hội Mỹ đang vận hành tốt đẹp với những đặc điểm không tốt; và liệu chúng ta có thay đổi được những đặc điểm bên trong hàng rào tạo nên biến cố đang lớn dần kia không.
Phần 3: Các quốc gia và thế giới - Biến cố đang xảy ra
Chương 11 - Tương lai nào cho thế giới?
Thế giới ngày nay – Vũ khí hạt nhân – Biến đổi khí hậu – Nhiên liệu hóa thạch – Nguồn năng lượng thay thế – Tài nguyên thiên nhiên khác – Bất bình đẳng – Khung biến cố
Các chương trước bàn về những biến cố trong giới hạn của các quốc gia riêng lẻ. Người đọc ở nước khác có thể nghĩ về những biến cố tương lai của đất nước họ. Giờ chúng ta hãy xem xét biến cố thế giới đang treo lơ lửng trên đầu: Những nhân tố nào đe dọa các dân tộc và mức sống của con người trên khắp thế giới? Trong trường hợp xấu nhất, điều gì đe dọa sự tồn tại liên tục của nền văn minh toàn cầu?
Tôi xác định bốn vấn đề có khả năng gây nguy hại trên toàn thế giới. Theo thứ tự giảm dần khả năng chứng kiến tấn thảm kịch chứ không phải theo mức độ quan trọng, đó là: những vụ nổ hạt nhân (Ảnh 11.1), biến đổi khí hậu toàn cầu, cạn kiệt tài nguyên toàn cầu và sự bất bình đẳng toàn cầu về mức sống. Những người khác có thể mở rộng danh sách này để đưa vào các vấn đề khác như chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan, các bệnh truyền nhiễm mới, sự va chạm của các tiểu hành tinh và tuyệt chủng sinh học hàng loạt.
Quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima, Nhật Bản ngày 6 tháng 8 năm 1945 đã giết chết khoảng 100.000 người ngay tức thời cộng thêm hàng ngàn người chết sau đó vì bị thương, bỏng và nhiễm độc phóng xạ. Nếu xảy ra chiến tranh mà Ấn Độ và Pakistan, hoặc Mỹ và Nga hay Trung Quốc phóng ra phóng hầu hết kho vũ khí hạt nhân của họ vào nhau thì hàng trăm triệu người sẽ chết ngay lập tức. Nhưng những hậu quả về sau trên toàn thế giới sẽ lớn hơn. Ngay cả khi các vụ nổ bom chỉ giới hạn ở Ấn Độ và Pakistan, hiệu ứng khí quyển của việc kích nổ hàng trăm thiết bị hạt nhân sẽ được cảm nhận trên toàn thế giới, do khói, bồ hóng và bụi từ các quả cầu lửa sẽ chặn hầu hết ánh sáng mặt trời trong vài tuần, tạo ra tình trạng như mùa đông với nhiệt độ giảm nhanh trên toàn cầu, ngăn quang hợp ánh sáng đối với thực vật, phá hủy nhiều đời sống thực vật và động vật, mất mùa toàn cầu và chết đói trên diện rộng. Một kịch bản tồi tệ nhất gọi là “mùa đông hạt nhân”: cái chết của hầu hết nhân loại không chỉ do đói mà còn do cái lạnh, bệnh tật và phóng xạ.
Hai vũ khí hạt nhân được sử dụng duy nhất cho đến nay là những quả bom ở Hiroshima và Nagasaki. Kể từ đó, nỗi sợ chiến tranh hạt nhân trên quy mô lớn đã hình thành nên phông nền cho cuộc đời tôi. Nếu việc kết thúc Chiến tranh Lạnh sau năm 1990 thoạt tiên làm giảm lý do cho nỗi sợ hãi đó, thì những diễn biến tiếp theo lại làm tăng nguy cơ một lần nữa. Kịch bản nào có thể dẫn đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân?
Thông tin của tôi dựa trên thông tin được William Perry cung cấp qua trò chuyện và trong cuốn My Journey at the Nuclear Brink (Hành trình của tôi bên bờ vực hạt nhân, xuất bản năm 2015) của ông. Sự nghiệp của Perry dựa trên chuyên môn về các vấn đề hạt nhân, bao gồm phân tích khả năng tấn công bằng vũ khí hạt nhân của Liên Xô ở Cuba cho Tổng thống Kennedy từng ngày một trong khủng hoảng tên lửa hạt nhân ở Cuba năm 1962; bộ trưởng Quốc phòng Mỹ giai đoạn 1994-1997; đàm phán hạt nhân và các vấn đề khác với Triều Tiên, Liên Xô/Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Iran và Iraq; đàm phán tháo dỡ các cơ sở hạt nhân của Liên Xô cũ ở Ukraine và Kazakhstan sau khi Liên Xô tan rã cùng nhiều việc khác.
Người ta có thể xác định bốn kịch bản mà đỉnh điểm là vụ nổ bom hạt nhân do các chính phủ (ba kịch bản đầu tiên) hoặc từ các nhóm khủng bố vô chính phủ (kịch bản thứ tư). Kịch bản thường được bàn luận nhất là một cuộc tấn công bất ngờ được hoạch định của một nước có kho vũ khí hạt nhân vào một nước khác cũng trang bị vũ khí hạt nhân. Mục đích của cuộc tấn công bất ngờ này là để tiêu diệt toàn bộ và tức thời kho vũ khí của nước đối địch để đối thủ không còn vũ khí đáp trả. Kịch bản này là một trong những điều đáng sợ nhất trong suốt nhiều thập niên Chiến tranh Lạnh. Do cả Mỹ và Liên Xô đều sở hữu năng lực hạt nhân để tiêu diệt lẫn nhau, nên cuộc tấn công “được lên kế hoạch hợp lý” phải có tính bất ngờ để mong có thể phá hủy khả năng đáp trả của đối phương. Do vậy, để đáp ứng điều này, Mỹ và Liên Xô đều triển khai nhiều hệ thống đa dạng để phóng vũ khí hạt nhân nhằm loại bỏ nguy cơ bị tiêu diệt mọi khả năng đáp trả của mình. Chẳng hạn, Mỹ có ba hệ thống phóng hạt nhân: hầm ngầm chứa tên lửa, tàu ngầm và một phi đội máy bay chở bom. Do đó, ngay cả khi một cuộc tấn công bất ngờ của Liên Xô có phá hủy mọi hầm ngầm – điều khó có khả năng xảy ra do Mỹ có rất nhiều hầm ngầm bao gồm cả hầm giả để đánh lừa, được xây kiên cố chống lại tấn công, lại nhỏ nên đòi hỏi tên lửa Liên Xô phải có độ chính xác cao mới tiêu diệt hết được – thì Mỹ vẫn có thể đáp trả từ máy bay ném bom và tàu ngầm để hủy diệt Liên Xô.
Kết quả là các kho vũ khí hạt nhân của cả Mỹ và Liên Xô đều có khả năng đảm bảo “sự hủy diệt ở cả hai bên,” thế nên sẽ không bao giờ có một cuộc tấn công bất ngờ. Vậy nên cho dù mục tiêu phá hủy năng lực hạt nhân của đối phương hấp dẫn đến mức nào, thì các chiến lược gia Mỹ và Liên Xô đều nhận ra rằng một cuộc tấn công bất ngờ là điều bất hợp lý vì không thể phá hủy tất cả các hệ thống phóng vũ khí hạt nhân của đối phương để ngăn đối phương hủy diệt lại kẻ tấn công. Nhưng những cân nhắc hợp lý này cũng chỉ đem lại sự an ủi tạm thời cho tương lai, vì hiện thời vẫn còn những nhà lãnh đạo khá cực đoan: như Saddam Hussein của Iraq và Kim Jong Un của Triều Tiên cộng thêm một số nhà lãnh đạo ở Đức, Nhật, Mỹ và Nga. Ngoài ra, Ấn Độ và Pakistan mỗi quốc gia chỉ sở hữu một hệ thống phóng tên lửa trên mặt đất: không có tàu ngầm trang bị tên lửa, nên một nhà lãnh đạo Ấn Độ hoặc Pakistan có thể xem một cuộc tấn công bất ngờ là chiến lược hợp lý mang lại cơ hội tốt để tiêu diệt năng lực đáp trả của đối thủ.
Một kịch bản thứ hai liên quan đến hàng loạt các tính toán sai lầm gây tình trạng leo thang phản ứng của chính phủ đối thủ, và áp lực từ giới tướng lĩnh lên vị nguyên thủ nước họ để đáp trả, mà đỉnh điểm là các cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ mà cả hai bên đều không muốn. Điển hình là Khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, khi Tổng bí thư Liên Xô Khrushchev đánh giá thấp Tổng thống Mỹ Kennedy tại cuộc họp Vienna năm 1961, ông ta mắc sai lầm vì cho rằng sẽ không bị phản ứng khi cho lắp đặt tên lửa của Liên Xô ở Cuba. Khi Mỹ phát hiện, các tướng lĩnh Mỹ đã thúc giục Kennedy hủy diệt chúng tức thì (hậu quả là có nguy cơ bị Liên Xô phản công) và cảnh báo Kennedy rằng có khả năng ông ta sẽ bị luận tội nếu không làm thế. May thay, Kennedy đã chọn phương tiện đáp trả ít quyết liệt hơn, Khrushchev cũng thế, nên một “ngày tận thế” đã được ngăn chặn. Nhưng đó là một tình huống cận kề mà sau này chúng ta mới rõ, khi cả hai nước giải mật tài liệu. Chẳng hạn, vào ngày đầu tiên của Khủng hoảng Tên lửa Cuba kéo dài một tuần, Kennedy tuyên bố công khai rằng bất kỳ vụ phóng tên lửa nào của Liên Xô từ Cuba sẽ gặp “một phản ứng đáp trả thích đáng [của Mỹ] đối với Liên Xô.” Nhưng trên nguyên tắc, các thuyền trưởng tàu ngầm Liên Xô có quyền phóng ngư lôi hạt nhân mà không cần xin ý kiến giới lãnh đạo Liên Xô ở Moscow. Một thuyền trưởng tàu ngầm Liên Xô đã định bắn ngư lôi hạt nhân vào chiếc khu trục hạm Mỹ đang đe dọa chiếc tàu của mình; chỉ nhờ sự can thiệp của các sĩ quan khác trên tàu mới ngăn cản ông ta thực hiện điều này. Nếu viên thuyền trưởng Liên Xô thực hiện ý định của mình, Kennedy có thể đã phải đối mặt với áp lực bất khả kháng là phải đáp trả, dẫn đến phản ứng đáp trả mạnh mẽ hơn của Khrushchev…
Một tính toán sai lầm tương tự có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân ngày nay. Chẳng hạn, Triều Tiên hiện có các tên lửa tầm trung có khả năng phóng đến Nhật Bản và Hàn Quốc, và cũng đã phóng một tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, dự định có thể bay tới Mỹ. Khi Triều Tiên hoàn thành việc phát triển loại vũ khí này, họ có thể chứng minh điều này qua việc phóng một tên lửa hướng đến Mỹ. Mỹ sẽ coi đó là một sự khiêu khích không thể chấp nhận được, đặc biệt là nếu loại tên lửa này đến gần Mỹ hơn dự định. Một tổng thống Mỹ sau đó có thể phải đối mặt với áp lực phải đáp trả, điều này sẽ tạo ra sự ức chế buộc các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải đáp trả để bảo vệ đồng minh Triều Tiên của họ.
Một kịch bản hợp lý khác về việc đáp trả ngoài ý muốn do tính toán sai lầm liên quan đến hai nước Pakistan và Ấn Độ. Những kẻ khủng bố Pakistan đã tiến hành một cuộc tấn công phi hạt nhân gây chết người vào thành phố Mumbai của Ấn Độ vào năm 2008. Trong tương lai gần, những kẻ khủng bố Pakistan có thể tiến hành một cuộc tấn công táo tợn hơn (ví dụ như vào thủ đô New Delhi của Ấn Độ); dù không rõ chính phủ Pakistan có đứng đằng sau vụ tấn công hay không, nhưng các nhà lãnh đạo Ấn Độ sẽ chịu áp lực phải xâm chiếm một số vùng lân cận của Pakistan, để loại bỏ mối đe dọa khủng bố ở đó; các nhà lãnh đạo Pakistan, sau đó cũng chịu áp lực phải sử dụng số vũ khí hạt nhân chiến thuật nhỏ bé của mình “chỉ” để chống trả do tính toán sai lầm rằng Ấn Độ sẽ xem việc sử dụng vũ khí hạt nhân hạn chế là “chấp nhận được” và không phải đáp trả mạnh mẽ; nhưng các nhà lãnh đạo Ấn Độ lại bị áp lực phải đáp trả bằng vũ khí hạt nhân.
Dường như đối với tôi, cả hai tình huống có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân từ việc đánh giá sai này đều có thể bắt đầu lộ diện trong thập niên tới. Điều không chắc chắn chủ yếu liên quan đến việc liệu các nhà lãnh đạo có biết điểm dừng như trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba hay liệu sự leo thang sẽ dẫn đến bùng nổ hoàn toàn.
Kịch bản thứ ba có thể đẩy đến đỉnh điểm thành một cuộc chiến tranh hạt nhân là việc đọc nhầm các dấu hiệu cảnh báo kỹ thuật. Cả Mỹ và Nga đều có hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện một vụ phóng tên lửa tấn công của đối thủ. Một khi tên lửa được phóng đi, đang trên hành trình bay và được phát hiện, tổng thống Mỹ hoặc Nga có khoảng 10 phút để quyết định có nên thực hiện một cuộc tấn công đáp trả trước khi tên lửa tiến đến phá hủy hệ thống tên lửa mặt đất của đất nước mình. Tên lửa khi đã phóng ra thì không thể thu hồi, nên chỉ có một thời gian tối thiểu để đánh giá xem cảnh báo sớm là có thật hay chỉ là báo động sai do lỗi kỹ thuật, và có nên nhấn nút để hủy diệt hàng trăm triệu sinh mạng hay không.
Nhưng các hệ thống phát hiện tên lửa cũng giống như mọi công nghệ phức tạp khác, có thể gặp trục trặc và giải mã sai lầm. Đã có ít nhất ba trường hợp báo động sai do hệ thống phát hiện của Mỹ đưa ra. Chẳng hạn vào ngày 9 tháng 11 năm 1979, viên tướng Mỹ phụ trách giám sát hệ thống đã gọi điện cho Thứ trưởng Quốc phòng William Perry ở thời điểm đó, vào lúc nửa đêm để trình bày “máy tính cảnh báo của tôi hiển thị 200 tên lửa tầm xa đang trên đường bay từ Liên Xô đến Mỹ.” Nhưng rồi viên tướng này kết luận rằng tín hiệu đó có lẽ là một báo động nhầm, Perry không đánh thức Tổng thống Carter và Carter đã không nhấn nút để phải giết hàng trăm triệu người Xô Viết một cách không cần thiết. Cuối cùng, đúng là tín hiệu đó là một báo động nhầm do lỗi của con người: một nhà vận hành máy tính đã đưa nhầm vào máy tính hệ thống cảnh báo của Mỹ một cuộn băng huấn luyện mô phỏng việc phóng 200 đầu đạn hạt nhân tầm xa của Liên Xô. Chúng ta cũng biết ít nhất một báo động nhầm từ hệ thống phát hiện của Nga: một tên lửa phi quân sự được phóng vào năm 1995 từ một hòn đảo ngoài khơi Na Uy hướng về phía Bắc Cực đã bị xác định nhầm bởi thuật toán theo dõi tự động của radar Nga, cho rằng nó được phóng đi từ một tàu ngầm Mỹ.
Những sự cố này minh họa một điểm quan trọng. Một tín hiệu cảnh báo không rõ ràng và những báo động nhầm theo dự kiến vẫn có thể xảy ra, nhưng cũng có khả năng xảy ra những vụ phóng tên lửa và cảnh báo thực. Do đó, khi có cảnh báo, nhân viên trực và tổng thống Mỹ (hay nhân viên trực và tổng thống Nga trong tình huống tương ứng) phải diễn giải cảnh báo trong bối cảnh hiện thời: hiện tình thế giới như thế nào khiến người Nga (hay người Mỹ) có thể gánh chịu rủi ro khủng khiếp khi tiến hành một cuộc tấn công mà hẳn nhiên sẽ nhận hậu quả bằng một sự đáp trả hủy diệt hàng loạt ngay tức thời? Vào ngày 9 tháng 11 năm 1979, không có sự kiện thế giới nào thúc đẩy một vụ phóng tên lửa, mối quan hệ Xô-Mỹ cũng không gặp rắc rối nghiêm trọng, và viên tướng phụ trách giám sát cùng William Perry cảm thấy tự tin khi diễn giải tín hiệu cảnh báo là một báo động nhầm.
Nhưng rủi thay, bối cảnh an ủi đó không còn chiếm ưu thế. Mặc dù việc kết thúc Chiến tranh Lạnh được kỳ vọng sẽ làm giảm hoặc loại bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân giữa Nga và Mỹ, nhưng kết quả thì ngược lại: nguy cơ bây giờ cao hơn bất cứ lúc nào kể từ Khủng hoảng Tên lửa Cuba. Lời giải thích là tình trạng xấu đi trong quan hệ và liên lạc giữa Nga và Mỹ: điều này một phần do các chính sách gần đây của Tổng thống Nga Putin, và một phần do các chính sách đầy khinh suất của Mỹ. Cuối thập niên 1990, chính phủ Mỹ đã phạm sai lầm khi xem nước Nga hậu Liên Xô là yếu đuối và không còn đáng được coi trọng. Theo thái độ mới đó, Mỹ đã hấp tấp mở rộng khối NATO để bao vây các nước Cộng hòa Baltic, trước đây là một phần của Liên Xô, ủng hộ sự can thiệp của quân đội NATO chống lại Serbia trước sự phản đối mạnh mẽ của Nga và đặt tên lửa đạn đạo ở Đông Âu, được cho là để ngăn chặn tên lửa của Iran. Các nhà lãnh đạo Nga có thể thấy được sự đe dọa từ những vụ việc đó và các hành động khác của Mỹ.
Chính sách của Mỹ đối với Nga hiện nay đã bỏ qua bài học mà các nhà lãnh đạo Phần Lan rút ra từ mối đe dọa của Liên Xô sau năm 1945: cách duy nhất để đảm bảo an toàn cho Phần Lan là tham gia vào các cuộc thảo luận thẳng thắn với Liên Xô và thuyết phục Liên Xô rằng Phần Lan có thể tin tưởng được và không phải là một mối đe dọa. Ngày nay, Mỹ và Nga tạo ra mối đe dọa lớn lao cho nhau, từ việc diễn giải sai có thể dẫn đến một cuộc tấn công không lên kế hoạch trước – do hai nước này không duy trì mối liên lạc thường xuyên một cách thẳng thắn, đồng thời cũng không thuyết phục được nhau rằng họ sẽ chẳng gây ra mối đe dọa tấn công khả dĩ nào được lên kế hoạch trước.
Kịch bản còn lại có thể dẫn đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân là những kẻ khủng bố đánh cắp uranium hoặc plutonium hay một quả bom hoàn chỉnh, hay được một cường quốc hạt nhân cung cấp, rất có thể là Pakistan, Triều Tiên hoặc Iran. Quả bom sau đó có thể được lén đưa vào Mỹ hay ở mục tiêu khác để kích nổ. Trong khi chuẩn bị cho cuộc tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới năm 2001, tổ chức Al Qaeda đã tìm cách mua vũ khí hạt nhân để chống Mỹ. Cũng có thể những kẻ khủng bố đánh cắp uranium hoặc một quả bom mà không cần sự trợ giúp của quốc gia sản xuất bom, nếu an ninh tại nơi cất giữ bom không được an toàn. Ví dụ như ở thời điểm Liên Xô tan rã, 600 kg uranium đã tinh luyện để chế tạo bom nguyên tử sót lại từ thời Liên Xô cũ vẫn còn tồn đọng ở nước cộng hòa Xô Viết sau trở thành nước Kazakhstan độc lập. Uranium được lưu trữ trong một nhà kho chỉ được bảo vệ bằng một hàng rào dây thép gai và có thể dễ dàng bị đánh cắp. Nhưng cũng có khả năng, các nhóm khủng bố có thể lấy được vật liệu chế bom từ một “tay trong,” nghĩa là với sự giúp đỡ của nhân viên kho cất giữ hoặc các nhà lãnh đạo Pakistan, Triều Tiên hoặc Iran.
Một nguy cơ liên quan thường bị nhầm lẫn với việc những kẻ khủng bố mua bom hạt nhân là họ sở hữu thứ gọi là “bom bẩn”: một loại bom nổ phi hạt nhân thông thường với lớp vỏ bọc chứa vật liệu phóng xạ không nổ nhưng tồn tại lâu, như chất đồng vị phóng xạ Cesium-137 với chu kỳ bán rã 30 năm. Việc cho nổ quả bom ở một thành phố của Mỹ hoặc nước khác sẽ lan truyền phóng xạ Cesium trên một khu vực gồm nhiều khối nhà sẽ khiến khu vực đó bị bỏ hoang lâu dài, đồng thời gây tác động tâm lý lớn lao. (Hãy nghĩ về hậu quả lâu dài của cuộc tấn công tòa nhà Trung tâm Thương mại Thế giới đối với tư duy và chính sách của Mỹ, dù không bị nổ bom hay chất đồng vị phóng xạ.) Những kẻ khủng bố đã chứng tỏ khả năng cho nổ bom ở các thành phố của nhiều quốc gia, và chất Cesium-137 lại có sẵn trong bệnh viện vì chức năng sử dụng trong y tế của nó. Do đó, điều đáng ngạc nhiên là những kẻ khủng bố không đặt thêm chất Cesium-137 vào những quả bom.
Trong bốn kịch bản này, khả năng dễ xảy ra nhất là những kẻ khủng bố sử dụng bom bẩn (dễ chế tạo) hoặc bom hạt nhân. Loại trước chỉ giết chết ít người, loại sau con số tử vong “chỉ” khoảng 100.000 như ở Hiroshima – nhưng cả hai vụ nổ này để lại hậu quả làm át hẳn những cái chết đó. Ít có khả năng hơn, nhưng vẫn có thể xảy ra, là ba kịch bản đầu tiên có thể trực tiếp giết chết hàng trăm triệu người rồi cuối cùng là hầu hết mọi sinh linh trên Trái đất.
Vấn nạn lớn thế giới kế tiếp định hình cuộc sống của chúng ta trong những thập niên tới là biến đổi khí hậu toàn cầu. Hầu như tất cả chúng ta đều nghe nói về vấn đề này, nhưng nó rất phức tạp, mơ hồ và đầy rẫy những nghịch lý mà ngoại trừ các chuyên gia khí hậu thực sự thì ít người hiểu rõ, và nhiều người có ảnh hưởng (bao gồm nhiều chính trị gia Mỹ) xem là một trò lừa bịp. Bây giờ tôi sẽ cố gắng giải thích nó rõ ràng nhất có thể, với sự trợ giúp của sơ đồ chuỗi nguyên nhân/hệ quả để minh họa cho giải thích của tôi.Chuỗi nguyên nhân biến đổi khí hậu toàn cầu
Điểm khởi đầu là dân số thế giới và tác động bình quân mỗi đầu người trên thế giới (vế sau là lượng tài nguyên bình quân, như việc tiêu thụ xăng dầu, và chất thải như nước thải sản sinh, tính trên đầu người mỗi năm). Tất cả ba thông số này – dân số, mức tiêu thụ tài nguyên tính trên đầu người và sản sinh chất thải – đang gia tăng từ năm này sang năm khác. Kết quả là toàn bộ tác động của con người lên thế giới ngày càng tăng: do toàn bộ tác động tương đương với tác động bình quân trên mỗi đầu người ngày càng tăng, nhân với số người ngày càng tăng.
Một chất thải quan trọng là khí carbon dioxide (CO2), liên tục được sản sinh từ quá trình hô hấp của các loài động vật (bao gồm con người chúng ta) rồi được thải vào khí quyển. Tuy nhiên, kể từ khi bắt đầu cuộc Cách mạng Công nghiệp và hệ quả là sự bùng nổ dân số, sự giải phóng khí CO2 tự nhiên đã trở nên nhỏ bé so với việc sản sinh CO2 mà con người gây ra từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch. Khí ga quan trọng kế tiếp gây biến đổi khí hậu là khí mê-tan, tồn tại với số lượng nhỏ hơn nhiều và hiện tại ít quan trọng hơn CO2 nhưng có thể trở nên quan trọng do cái gọi là vòng lặp phản hồi tích cực: cụ thể là sự ấm lên toàn cầu làm tan chảy lớp băng vĩnh cửu ở Bắc Cực, giải phóng khí mê-tan tạo ra sự ấm lên nhiều hơn, làm tan chảy nhiều băng vĩnh cửu hơn, giải phóng nhiều khí mê-tan hơn, v.v.
Hệ quả chính của việc giải phóng CO2 được bàn cãi nhiều nhất đó là hiệu ứng khí nhà kính trong khí quyển. CO2 trong khí quyển trong suốt đối với bức xạ sóng ngắn mặt trời, cho phép ánh sáng mặt trời xuyên qua bầu khí quyển và làm ấm bề mặt Trái đất. Trái đất phát lại năng lượng đó trở lại không gian, nhưng với bước sóng bức xạ nhiệt dài bị CO2 chắn lại. Do đó, CO2 hấp thụ năng lượng phát xạ lại và giải phóng nó theo mọi hướng, bao gồm cả việc quay trở lại bề mặt Trái đất. Do đó, bề mặt Trái đất ấm lên như bên trong nhà kính mặc dù cơ chế vật lý của sự ấm lên khác nhau.
Nhưng có hai hệ quả chính khác của việc giải phóng CO2. Thứ nhất, CO2 mà chúng ta sản sinh cũng được lưu trữ trong các đại dương dưới dạng acid carbonic. Acid carbonic đó làm tăng tính acid của đại dương, cao hơn bất kỳ thời điểm nào trong 15 triệu năm qua. Điều này làm tan biến xương san hô, giết chết các rạn san hô vốn là một vườn ươm sinh sản chính của các loài cá biển đồng thời cũng bảo vệ vùng bờ biển nhiệt đới và cận nhiệt đới chống đỡ bão và sóng thần. Hiện tại, các rạn san hô trên thế giới đang bị mất đi 1% hoặc 2% mỗi năm, điều này đồng nghĩa với việc chúng sẽ biến mất trong thế kỷ này, dẫn đến việc suy giảm độ an toàn dọc bờ biển nhiệt đới và lượng protein từ hải sản. Một tác động khác của việc chúng ta thải ra khí CO2 chính là ảnh hưởng đến sự phát triển của thực vật, hoặc kích thích hoặc ức chế chúng.
Tuy nhiên, tác động được bàn cãi nhiều nhất về việc giải phóng CO2 là điều tôi đã đề cập đầu tiên: làm nóng bề mặt Trái đất và tầng khí quyển thấp. Đó là những gì chúng ta gọi là sự ấm lên toàn cầu, nhưng tác động này lại rất phức tạp cũng như khi biến thuật ngữ “ấm lên toàn cầu” thành một tên gọi không chính xác, nên gọi là “biến đổi khí hậu toàn cầu.” Đầu tiên, chuỗi nguyên nhân/hệ quả nghĩa là sự nóng lên trong khí quyển tạo ra điều nghịch lý khiến một số khu vực đất liền (bao gồm cả phía đông nam Mỹ) trở nên lạnh hơn, trong khi hầu hết các khu vực (bao gồm hầu hết các khu vực còn lại của Mỹ) lại nóng dần. Điển hình là nhiệt độ ấm hơn làm tan chảy nhiều biển băng ở Bắc Cực khiến khối nước lạnh ở Bắc Băng Dương chảy về phía nam và làm mát một số vùng đất ở hạ lưu của những dòng chảy đó.
Điều thứ nhì, bên cạnh xu hướng ấm lên bình quân và tầm quan trọng của nó đối với xã hội loài người là sự gia tăng hiện tượng cực đoan khí hậu: bão và lũ ngày càng nhiều, đỉnh thời tiết nóng ngày càng tăng, nhưng cũng có đỉnh thời tiết lạnh hơn, tạo ra hiệu ứng như tuyết rơi ở Ai Cập và một làn sóng lạnh ở vùng đông bắc Mỹ. Hệ quả là các chính trị gia hoài nghi vốn không hiểu biết về biến đổi khí hậu nghĩ rằng điều này bác bỏ thực tế.
Điều phức tạp thứ ba là biến đổi khí hậu liên quan đến độ trễ thời gian giữa nguyên nhân và hệ quả. Chẳng hạn, các đại dương lưu trữ và giải phóng CO2 chậm đến mức ngay cả khi mọi người trên Trái đất chết trong đêm nay, hoặc ngừng thở hoặc ngừng đốt nhiên liệu hóa thạch, bầu khí quyển vẫn sẽ tiếp tục nóng lên thêm vài thập niên nữa. Ngược lại, có những khuếch đại phi tuyến tính tiềm tàng có thể làm cho thế giới nóng lên nhanh hơn nhiều so với các dự đoán bảo thủ hiện nay giả định mối quan hệ tuyến tính giữa nguyên nhân và hiệu ứng. Những khuếch đại này bao gồm băng vĩnh cửu và biển băng tan chảy cùng khả năng sụp đổ các dải băng ở Nam Cực và Greenland.
Về hậu quả của xu hướng ấm lên bình quân của thế giới, tôi sẽ đề cập đến bốn vấn đề. (Đến lúc này, với lời “giải thích rõ ràng” của tôi, bạn có thể sẵn sàng đồng ý rằng biến đổi khí hậu toàn cầu thực sự phức tạp!) Hậu quả rõ ràng nhất đối với người dân ở nhiều nơi trên thế giới là hạn hán. Chẳng hạn, quê hương Nam California của tôi ngày càng khô hơn và năm 2015 nói riêng là năm khô hạn nhất trong lịch sử thành phố Los Angeles của tôi kể từ khi có những ghi nhận về thời tiết bắt đầu vào thập niên 1800. Hạn hán do biến đổi khí hậu toàn cầu không đồng đều trên khắp thế giới: các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Bắc Mỹ, vùng Địa Trung Hải và Trung Đông, châu Phi, đất trồng trọt ở vùng nam Úc và dãy Himalaya. Điển hình là khối băng tuyết trên dãy Himalaya cung cấp phần lớn nước cho Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh, giờ đây khối băng tuyết này và nguồn cung cấp nước mà các quốc gia đó phải chia sẻ đang bị co lại, nhưng những quốc gia này lại có một hồ sơ đầy tì vết trong việc giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình.
Hậu quả thứ hai của xu hướng ấm lên toàn cầu là việc giảm sản xuất lương thực trên đất liền xuất phát từ hạn hán mà tôi vừa đề cập và địa nhiệt tăng (điển hình là địa nhiệt thuận lợi cho cỏ dại phát triển hơn so với tăng trưởng của cây trồng). Sản lượng lương thực giảm là một vấn nạn do dân số, mức sống và mức tiêu thụ thực phẩm của thế giới dự kiến sẽ tăng 50% trong vài thập niên tới, nhưng hiện tại chúng ta đã gặp phải vấn nạn lương thực với vài tỉ người hiện đang bị thiếu ăn. Đặc biệt ở Mỹ, nhà xuất khẩu thực phẩm hàng đầu thế giới, nơi nền nông nghiệp tập trung ở miền tây và miền trung, lại đang trở nên nóng hơn, khô hơn và kém năng suất hơn.
Hậu quả thứ ba của xu hướng ấm lên toàn cầu là bệnh nhiệt đới đem côn trùng di chuyển vào vùng ôn đới. Các vấn nạn bệnh tật gây ra cho đến nay bao gồm sự lây truyền bệnh sốt xuất huyết gần đây và sự lây lan của các bệnh do ve gây ra ở Mỹ, sự xuất hiện gần đây của bệnh chikungunya12 ở châu Âu cùng với sự lây lan của bệnh sốt rét và viêm não do virus.
Hậu quả cuối cùng của xu hướng ấm lên toàn cầu mà tôi muốn nói đến là hiện tượng nước biển dâng. Ước tính dè dặt về mức tăng mực nước biển trung bình dự kiến trong thế kỷ này là một mét, nhưng trong quá khứ đã tăng lên đến 20 mét; hiện tại, sự không chắc chắn này liên quan đến những sự sụp đổ và tan chảy khả dĩ của các dải băng ở Nam Cực và Greenland, khiến nước sẽ đổ vào các đại dương. Mặc dù chỉ tăng trung bình một mét, nhưng được khuếch đại bởi bão và thủy triều, cũng đủ để làm suy yếu khả năng cư trú ở Florida và một số khu vực khác ở vùng biển phía đông Mỹ, Hà Lan, vùng trũng ở Bangladesh, và nhiều vùng định cư đông đúc khác – cũng như phá hủy các cửa sông giữ vai trò là “vườn ươm” cho các loài cá biển.
Đôi khi bạn bè hỏi tôi liệu biến đổi khí hậu có những tác động tốt đến xã hội loài người hay không. Vâng, một số, chẳng hạn như triển vọng mở các tuyến đường vận chuyển ở phía bắc khi băng ở Bắc Cực tan chảy, và có lẽ sản lượng lúa mì ở vành đai lúa mì phía nam Canada và một số khu vực khác sẽ tăng lên. Nhưng hầu hết các tác động đối với xã hội loài người đều là những điều cực kỳ tồi tệ.
Vậy có giải pháp công nghệ nhanh chóng nào cho những vấn đề này hay không? Có thể bạn đã nghe nói về các đề xuất phương pháp địa kỹ thuật khác nhau, chẳng hạn như bơm các phân tử hạt vào khí quyển hay trích xuất khí CO2 từ khí quyển để làm mát bề mặt Trái đất. Nhưng chưa có bất kỳ phương pháp địa kỹ thuật nào được thử nghiệm và được biết là có hiệu quả; các phương pháp đề xuất rất tốn kém, đồng thời việc thử nghiệm và thực hiện các phương pháp như vậy chắc chắn sẽ mất nhiều thời gian và có khả năng mở ra các tác dụng phụ không lường được. Chẳng hạn, khi khí chlorofluorocarbon (CFC) không độc thay thế khí độc được sử dụng trước đây trong tủ lạnh mãi đến năm 1940, thì có vẻ đây là một giải pháp kỹ thuật tuyệt vời và an toàn cho vấn đề sử dụng khí trong tủ lạnh, đặc biệt là vì xét nghiệm trong phòng thí nghiệm không cho thấy nhược điểm của chất khí này.
Rủi thay, các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm không phát hiện việc chất CFC một khi vào khí quyển, sẽ bắt đầu phá hủy tầng ozone bảo vệ chúng ta khỏi tia cực tím. Kết quả là chất CFC đã bị cấm trên hầu hết thế giới – nhưng chỉ sau vài thập niên. Điều đó minh họa tại sao trước tiên vấn đề địa kỹ thuật phải được “thử nghiệm trên tầng khí quyển,” một điều bất khả thi, vì chúng ta có thể hủy hoại Trái đất trong 10 lần thử nghiệm trước khi có thể hi vọng tìm ra phương cách tạo ra sản phẩm địa kỹ thuật chỉ mang lại hiệu ứng tốt như mong muốn vào lần thử nghiệm thứ 11. Do đó, hầu hết các nhà khoa học và kinh tế xem các thí nghiệm địa kỹ thuật là cực kỳ không khôn ngoan, thậm chí nguy hiểm chết người và đáng bị cấm đoán.
Có phải điều này nghĩa là không thể ngăn chặn việc biến đổi khí hậu, và rằng con cái chúng ta chắc chắn sẽ kết thúc trong một thế giới không còn đáng sống? Tất nhiên là không rồi. Biến đổi khí hậu bắt nguồn từ quá nhiều hoạt động của con người, vì vậy tất cả những gì chúng ta phải làm để giảm thiểu biến đổi khí hậu là giảm các hoạt động đó. Điều này có nghĩa là phải đốt ít nhiên liệu hóa thạch và tìm năng lượng thay thế từ các nguồn tái tạo như gió, mặt trời và hạt nhân.
Vấn nạn nghiêm trọng thứ ba đối với tương lai xã hội loài người trên khắp thế giới, bên cạnh vũ khí hạt nhân và biến đổi khí hậu toàn cầu, là sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên thiết yếu trên thế giới. Đây là một đẳng thức gây rắc rối, vì một số tài nguyên (đặc biệt là nước và gỗ) đã đặt ra giới hạn cho các xã hội trong quá khứ và khiến chúng sụp đổ, và những nguồn tài nguyên khác (đặc biệt là nhiên liệu hóa thạch, khoáng sản và đất canh tác) là động lực khởi phát chiến tranh. Hiện nay, sự khan hiếm tài nguyên làm suy yếu các xã hội hay đe dọa gây ra chiến tranh ở nhiều nơi trên thế giới. Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách xem xét một dẫn chứng chi tiết: nhiên liệu hóa thạch mà chúng ta sử dụng chủ yếu cung cấp năng lượng và cũng là nguyên liệu ban đầu để tổng hợp hóa học nhiều sản phẩm (thuật ngữ “nhiên liệu hóa thạch” là nguồn nhiên liệu hydrocarbon được hình thành từ lâu trong lớp vỏ Trái đất: dầu, than đá, dầu đá phiến và khí tự nhiên).
Con người đòi hỏi năng lượng trong mọi hoạt động; đặc biệt, chúng ta cần một lượng lớn năng lượng để vận chuyển và nâng mọi vật. Trong hàng triệu năm tiến hóa của loài người, sức mạnh cơ bắp của con người là nguồn năng lượng duy nhất để vận chuyển và nâng hạ.
Khoảng 10.000 năm trước, chúng ta bắt đầu thuần hóa các loài động vật lớn và khai thác chúng để kéo xe, thồ hàng và nâng vật nặng bằng hệ thống ròng rọc và bánh răng; sau đó khai thác năng lượng gió để dong thuyền và vận hành cối xay gió (muộn hơn), rồi năng lượng nước để vận hành guồng xe nước dùng để nâng, xay xát và kéo sợi. Ngày nay, nguồn năng lượng phổ biến nhất mà chúng ta khai thác đến hiện thời vẫn là nhiên liệu hóa thạch vì chi phí thấp bề ngoài (càng về sau càng thấp), độ cô đọng năng lượng cao (nghĩa là một lượng nhỏ nhiên liệu có thể tạo ra nguồn năng lượng lớn) và khả năng vận chuyển đến bất cứ đâu (không như động vật, gió và năng lượng nước, chỉ dùng tại chỗ hay chỉ có thể lưu giữ ở một số địa điểm nhất định). Đó là lý do tại sao nhiên liệu hóa thạch là động lực chính của các cuộc chiến tranh và chính sách đối ngoại gần đây, như được minh họa bằng vai trò của dầu khí trong việc thúc đẩy chính sách của Mỹ và Anh ở Trung Đông và sự nhập cuộc của Nhật trong Thế chiến II.
Ngay từ thời cổ đại, loài người đã biết sử dụng một ít dầu và than lộ thiên trên bề mặt Trái đất. Tuy nhiên, mãi đến đầu thế kỷ 18 việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch quy mô lớn mới thực sự bắt đầu, xuất phát từ Cách mạng Công nghiệp. Việc khai thác nhiên liệu hóa thạch thuộc nhiều loại khác nhau và từ các nguồn khác nhau cũng dần thay đổi theo thời gian. Những nhiên liệu đầu tiên dễ tiếp cận nhất vì chúng có sẵn trên mặt đất hoặc gần bề mặt, đồng thời dễ khai thác và rẻ nhất, cũng như ít nguy hại nhất. Khi các nguồn đầu tiên đó bị cạn kiệt, chúng ta lại chuyển sang các nguồn khó khai thác nằm sâu dưới lòng đất, việc này tốn kém hơn hoặc nguy hại nhiều hơn. Do đó, nhiên liệu đầu tiên được sử dụng trên quy mô công nghiệp là than từ các mỏ cạn để cung cấp công suất cho động cơ hơi nước dùng cho việc bơm nước rồi sau đó để cung cấp năng lượng cho guồng dệt, và (sau cùng ở đầu thế kỷ 19) tàu thủy hơi nước và động cơ tàu hỏa. Tiếp nối việc khai thác than là khai thác dầu, dầu đá phiến và khí đốt tự nhiên. Ví dụ như giếng dầu đầu tiên khai thác dầu dưới lòng đất là một giếng cạn được khoan ở Pennsylvania vào năm 1859, sau đó các giếng dầu dần sâu hơn.
Có nhiều tranh cãi về việc chúng ta đã khai thác dầu đến “đỉnh điểm” hay chưa – đó là, liệu chúng ta có tiêu thụ quá nhiều trữ lượng dầu có thể tiếp cận được của Trái đất hay không để khiến sản lượng dầu sẽ sớm bắt đầu giảm sút. Tuy nhiên, không có tranh cãi nào về việc các nguồn dầu rẻ nhất, dễ tiếp cận nhất và ít gây tổn hại nhất đã được sử dụng hết. Nước Mỹ không còn moi được dầu bề mặt hay khoan giếng cạn ở Pennsylvania. Thay vào đó, các giếng phải được đào sâu hơn (độ sâu từ một dặm trở lên), và không chỉ trên đất liền mà cả dưới đáy đại dương, không chỉ ở vùng biển nông mà còn ở vùng nước sâu hơn, và không chỉ ở Pennsylvania, trung tâm công nghiệp của Mỹ, mà còn ở những nơi xa xôi như trong rừng mưa nhiệt đới New Guinea hay ở Bắc Cực. Chi phí cho những mỏ dầu sâu hơn, xa hơn sẽ đắt hơn nhiều so với các mỏ cạn ở Pennsylvania. Khả năng dẫn đến sự cố tràn dầu tạo ra thiệt hại tốn kém cũng cao hơn. Khi chi phí khai thác dầu tăng lên thì các nguồn nhiên liệu hóa thạch thay thế nhưng nguy hại hơn như dầu đá phiến và than đá, cùng các nguồn nhiên liệu tự nhiên như gió và mặt trời lại đang trở nên kinh tế hơn. Tuy nhiên, giá dầu hôm nay vẫn cho phép các công ty dầu tiếp tục có lợi nhuận cao.
Ở đây tôi chỉ đề cập tới giá dầu thấp bề ngoài. Hãy tạm dừng để xem xét giá dầu (hay than) thực tế. Giả sử dầu được bán với giá 60 đô la mỗi thùng. Nếu một công ty dầu mỏ chỉ chi trả 20 đô la mỗi thùng cho khai thác và vận chuyển, và nếu công ty đó không phải trả thêm chi phí nào nữa, thì với mức giá 60 đô la mỗi thùng có nghĩa là công ty dầu mỏ kiếm được lợi nhuận lớn.
Nhưng nhiên liệu hóa thạch gây ra nhiều nguy hại. Nếu những nguy hại đó cũng được tính cho công ty dầu, thì giá dầu sẽ tăng.
Những nguy hại do đốt nhiên liệu hóa thạch bao gồm ô nhiễm không khí nghiêm trọng, gần đây là ở Mỹ hay châu Âu và hiện tại lại đặc biệt nghiêm trọng ở Ấn Độ và Trung Quốc. Ô nhiễm không khí gây ra hàng triệu ca tử vong và chi phí y tế tăng cao mỗi năm. Những nguy hại khác do nhiên liệu hóa thạch gây ra qua trung gian biến đổi khí hậu, khiến chúng ta phải trả giá qua sản xuất nông nghiệp giảm sút và nước biển dâng buộc chúng ta phải tiêu tốn vào việc làm bờ bao ngăn nước mặn ở những vùng biển dâng và góp phần gây ra thiệt hại lớn do lũ lụt và hạn hán.
Dưới đây là một dẫn chứng để giúp bạn hiểu được những chi phí gián tiếp của nhiên liệu hóa thạch, mà các nhà sản xuất nhiên liệu hiện nay chưa phải chi trả. Giả sử bạn vận hành một nhà máy sản xuất một loại búp bê có tên Búp bê Hạnh phúc. Giả sử bạn tốn 20 đô la để tạo ra một tấn Búp bê Hạnh phúc, trong khi chi phí để làm ra những loại búp bê khác là 30 đô la mỗi tấn, và bạn có thể bán Búp bê của mình với giá 60 đô la mỗi tấn. Biên lợi nhuận 60 đô la trừ 20 đô la khiến cho việc sản xuất Búp bê Hạnh phúc rất có lãi và cho phép nó vượt xa các nhà sản xuất cạnh tranh khác.
Thật không may, quy trình sản xuất của bạn để tạo ra Búp bê Hạnh phúc lại tạo ra phụ phẩm bùn thải, trong khi phụ phẩm trong quy trình sản xuất búp bê của các đối thủ cạnh tranh lại không có. Bạn đổ bùn thải lên những cánh đồng lúa mì lân cận, do đó làm giảm sản lượng lúa mì. Mỗi tấn Búp bê Hạnh phúc mà bạn sản xuất sẽ khiến hàng xóm mất 70 đô la thu nhập lúa mì vì bùn thải.
Do đó, hàng xóm của bạn thưa kiện và khăng khăng đòi bạn phải trả cho họ 70 đô la đền bù cho thu nhập lúa mì bị mất do mỗi tấn Búp bê Hạnh phúc của bạn gây ra. Bạn phản đối yêu sách của hàng xóm và đưa ra nhiều lý do: bạn phủ nhận rằng việc sản xuất búp bê tạo bùn thải, mặc dù các nhà khoa học của công ty bạn đã cảnh báo về phụ phẩm này trong nhiều thập niên; bạn nói rằng bùn thải chưa được chứng minh là có hại và đã phát sinh trong tự nhiên hàng triệu năm nay; cần nhiều nghiên cứu hơn trước khi chúng ta có thể đánh giá lượng bùn thải trên những cánh đồng của các hàng xóm có nguồn gốc phát sinh từ các nhà máy sản xuất Búp bê Hạnh phúc của bạn; và Búp bê hạnh phúc rất cần thiết cho nền văn minh và mức sống cao của chúng ta, vì vậy nạn nhân của bùn thải chỉ nên im lặng và ngừng kêu ca.
Nhưng khi vụ kiện được đưa ra xét xử, thẩm phán và bồi thẩm đoàn nói rằng xử lý vụ kiện này quá dễ: tất nhiên bạn phải trả 70 đô la cho mỗi tấn Búp bê Hạnh phúc của mình để bù đắp cho bên thiệt hại về sản lượng lúa mì giảm dần. Kết quả là Búp bê Hạnh phúc của bạn có chi phí sản xuất thực sự không phải là 20 đô la mỗi tấn, mà là 20 đô la + 70 đô la = 90 đô la mỗi tấn. Búp bê Hạnh phúc không còn là cỗ máy sinh lời tuyệt vời nữa: điều này không có tính kinh tế khi bạn sản xuất chúng với giá 90 đô la mỗi tấn và chỉ có thể bán chúng với 60 đô la mỗi tấn. Giờ đây, búp bê của đối thủ cạnh tranh có giá 30 đô la mỗi tấn sẽ trở nên vượt trội.
Nhiên liệu hóa thạch, như Búp bê Hạnh phúc trong ví dụ giả định của chúng ta, gây ra thiệt hại cũng như đem lại lợi ích. Điểm khác biệt là CO2 phát sinh từ quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch ít nhìn thấy hơn so với bùn thải và các nhà sản xuất cũng như người sử dụng nhiên liệu hóa thạch chưa phải trả tổn phí cho tác hại mà họ gây ra cho người khác, khác với các nhà sản xuất búp bê giả định của chúng ta. Nhưng ngày càng có áp lực buộc các nhà sản xuất hoặc người sử dụng nhiên liệu hóa thạch phải trả tiền giống như các nhà sản xuất Búp bê Hạnh phúc, chẳng hạn như chịu thuế đánh vào khí thải carbon hoặc bằng phương cách khác. Áp lực đó là nhân tố thúc đẩy việc tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế khác ngoài nhiên liệu hóa thạch.
Một số nguồn năng lượng thay thế có vẻ gần như không cạn kiệt, chẳng hạn như gió, mặt trời, thủy triều, thủy điện và năng lượng địa nhiệt. Tất cả các nguồn đó ngoại trừ thủy triều đều “được kiểm chứng”: tức là, chúng đã được sử dụng trên quy mô lớn trong một thời gian dài. Ví dụ như Đan Mạch nhận được nhiều điện từ các cối xay gió ở Biển Bắc và thành phố Reykjavík, thủ đô của Iceland, được sưởi ấm từ năng lượng địa nhiệt, trong khi các đập trên sông để sản xuất năng lượng thủy điện đã được sử dụng rộng rãi trong hơn một thế kỷ.
Tất nhiên, mỗi nguồn năng lượng thay thế này có liên quan đến các vấn đề của riêng nó. Sản xuất năng lượng mặt trời quy mô lớn ở quê hương Nam California của tôi thường liên quan đến việc chuyển đổi các khu vực môi trường sống sa mạc đầy nắng thành các tấm pin mặt trời, và điều đó thật tồi tệ cho quần thể rùa sa mạc đang bị đe dọa. Cánh quạt gió giết chim và dơi, còn những chủ đất thì bực bội, phàn nàn rằng cối xay gió làm hỏng cảnh quan của họ. Các đập thủy điện chắn ngang sông tạo những chướng ngại cho loài cá di cư. Nếu chúng ta có các phương pháp tạo năng lượng khác rẻ tiền và không gây ra vấn đề gì, chắc chắn chúng ta sẽ giữ được môi trường sống của loài rùa sa mạc, không phải giết chim và dơi hay làm hỏng cảnh quan của người dân, hoặc ngăn chặn sự di cư của cá. Nhưng, như chúng ta đã thảo luận, việc thay thế nhiên liệu hóa thạch liên quan đến các vấn nạn lớn của nó đối với biến đổi khí hậu toàn cầu, các bệnh về đường hô hấp và thiệt hại do khai thác dầu và than. Do đó, chúng ta không thể lựa chọn giữa giải pháp tốt và giải pháp xấu mà phải đặt câu hỏi: lựa chọn nào trong số những phương án xấu đó thì ít tồi tệ nhất?
Để đưa ra một dẫn chứng về tranh cãi này, hãy xem xét vấn đề cánh quạt gió. Ở Mỹ, ước tính những cánh quạt gió giết ít nhất 45.000 con chim và dơi mỗi năm; số lượng nghe ra có vẻ rất nhiều, nhưng nếu đặt con số đó trong toàn cảnh, bạn có biết rằng theo ước tính, mỗi chú mèo nuôi được phép ra vào nhà chủ đã giết bình quân hơn 300 con chim mỗi năm (vâng, hơn ba trăm: không phải lỗi in sai đâu nhé). Nếu số mèo sống ngoài trời ở Mỹ ước tính khoảng 100 triệu, thì chỉ riêng loài mèo đã giết ít nhất 30 tỉ con chim mỗi năm, so với chỉ 45.000 con chim và dơi bị giết mỗi năm bởi cối xay gió. Số chim tử vong do cánh quạt gió chỉ bằng công việc của 150 chú mèo. Do đó, người ta có thể lập luận rằng, nếu thực sự quan tâm đến loài chim và dơi ở Mỹ, trước tiên chúng ta nên tập trung sự chú ý vào loài mèo thay vì cánh quạt gió. Để bảo vệ cho sự nguy hại của cánh quạt gió, xin hãy nhớ rằng loài mèo không hoàn trả cho những thiệt hại mà chúng gây ra đối với loài chim bằng cách cung cấp cho chúng ta năng lượng, không khí không bị ô nhiễm và giảm thiểu sự ấm lên toàn cầu, trong khi cánh quạt gió cung cấp tất cả những điều đó.
Ví dụ này minh họa cho việc sử dụng cánh quạt gió, pin mặt trời trên sa mạc và đập thủy điện, mặc dù không nghi ngờ gì về những tác hại mà chúng gây ra; nhưng chúng gây ra thiệt hại ít nghiêm trọng hơn so với nhiên liệu hóa thạch. Do đó, chúng có thể được xem là một phương pháp thỏa hiệp chấp nhận được để tạo nguồn năng lượng thay thế nhiên liệu hóa thạch. Chúng ta vẫn thường nghe những phản đối cho rằng cánh quạt gió và năng lượng mặt trời chưa cạnh tranh được với nhiên liệu hóa thạch, nhưng trong một số trường hợp lại có đấy; và lợi ích kinh tế rõ ràng của nhiên liệu hóa thạch cũng sai lệch; một lần nữa, các phương pháp thay thế sẽ rẻ hơn nhiều nếu chúng ta xem xét những chi phí gián tiếp lớn (như chi phí của Búp bê Hạnh phúc) của nhiên liệu hóa thạch.
Đến bây giờ, có lẽ bạn đang tự vấn về việc thay thế cho năng lượng hạt nhân đáng sợ. Đó là một chủ đề mà hầu hết người Mỹ, và nhiều công dân của các quốc gia khác, ngay lập tức bịt tai lại. Họ làm thế vì bên cạnh kinh tế còn ba lý do khác nữa: sợ tai nạn, sợ chuyển đổi nhiên liệu lò phản ứng hạt nhân để chế tạo bom nguyên tử và vấn đề chưa giải quyết được là nơi cất giữ nhiên liệu đã qua sử dụng.
Ký ức của chúng ta về bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki khiến nhiều người theo bản năng gắn các lò phản ứng hạt nhân với cái chết, chứ không phải năng lượng. Trên thực tế, kể từ năm 1945, đã có hai sự kiện được biết đến trong đó tai nạn tại các nhà máy điện hạt nhân gây chết người: 32 người thiệt mạng ngay tức thì và một số lượng lớn không rõ tử vong sau đó do ảnh hưởng của phóng xạ, đó là hậu quả của vụ tai nạn lò phản ứng Chernobyl ở Liên Xô cũ và vụ tai nạn lò phản ứng Fukushima ở Nhật. Một sự cố về thiết bị và lỗi của con người đã làm hỏng lò phản ứng lập trên đảo Three Mile ở Mỹ vào năm 1979, nhưng không có ai chết hoặc bị thương, và việc rò rỉ phóng xạ là rất ít. Tuy nhiên, hiệu ứng tâm lý của sự cố trên hòn đảo này rất lớn, dẫn đến việc đình chỉ lâu dài việc đặt hàng bất kỳ lò phản ứng mới nào để sản xuất năng lượng ở bất kỳ nơi nào trên đất Mỹ trong nhiều năm.
Nỗi sợ hãi còn lại liên quan đến thế hệ hạt nhân là việc chưa giải quyết được vấn đề xử lý nhiên liệu lò phản ứng đã qua sử dụng ở đâu. Lý tưởng nhất là nó nên được lưu trữ mãi mãi, trong một khu vực xa xôi và địa chất ổn định, được chôn sâu dưới lòng đất và không có nguy cơ rò rỉ do động đất hoặc nước xâm nhập. Nơi được cho là ứng viên tốt nhất được xác định cho đến nay là một địa điểm ở Nevada có vẻ phù hợp với các yêu cầu trên. Tuy nhiên, việc đảm bảo hoàn toàn về sự an toàn là không thể, vậy nên những công dân Nevada đã thành công trong việc phản đối đề xuất sử dụng địa điểm này.
Do đó, Mỹ vẫn chưa có một khu vực để xử lý chất thải hạt nhân. Do đó, cũng như chúng ta đã thảo luận về vấn đề chim và dơi bị giết bởi cánh quạt gió, việc tạo ra năng lượng hạt nhân không phải là không có mặt trái. Ngay cả khi không có những nhược điểm đó, nó cũng không thể đáp ứng tất cả nhu cầu năng lượng chính của chúng ta: chẳng hạn, không thể sử dụng lò phản ứng hạt nhân để cung cấp năng lượng cho ô tô và máy bay. Ký ức của chúng ta về Hiroshima và Nagasaki – lại được củng cố bởi sự cố đảo Three Mile, Chernobyl và Fukushima – đã làm tê liệt suy nghĩ của hầu hết người Mỹ và các dân tộc khác về sản xuất năng lượng hạt nhân. Tuy nhiên, một lần nữa, chúng ta phải đặt câu hỏi: những rủi ro của năng lượng hạt nhân là gì và những rủi ro của các giải pháp thay thế là gì? Pháp đã đáp ứng hầu hết nhu cầu điện quốc gia từ các lò phản ứng hạt nhân trong nhiều thập niên mà không gặp sự cố nào. Khó tin rằng dường như người Pháp có thể thực sự đã gặp sự cố nhưng không thừa nhận: kinh nghiệm của Chernobyl chứng minh rằng việc phóng thích bất kỳ chất phóng xạ nào vào bầu khí quyển từ lò phản ứng bị hư hỏng sẽ bị các nước khác phát hiện dễ dàng. Hàn Quốc, Phần Lan và nhiều quốc gia khác cũng đã tạo ra nhiều điện năng từ các lò phản ứng hạt nhân mà không có bất kỳ tai nạn đáng kể nào. Do đó, chúng ta nên cân nhắc nỗi sợ hãi về khả năng xảy ra sự cố lò phản ứng hạt nhân trong khi có một điều chắc chắn rằng hàng triệu người chết mỗi năm bởi ô nhiễm không khí do đốt nhiên liệu hóa thạch cùng những hậu quả to lớn gây hủy diệt của biến đổi khí hậu toàn cầu do nhiên liệu hóa thạch gây ra.
Đối với Mỹ, giải pháp cho những tình huống khó xử này sẽ phải dính dáng đến hai thành tố. Một là giảm mức tiêu thụ năng lượng trên bình quân đầu người: mức tiêu thụ của người Mỹ xấp xỉ gấp đôi so với người châu Âu, mặc dù người châu Âu được hưởng mức sống cao hơn người Mỹ. Trong số các yếu tố đóng góp là các chính sách khác nhau của chính phủ ở châu Âu và Mỹ ảnh hưởng đến việc mua xe. Người châu Âu không khuyến khích mua những chiếc xe lớn đắt tiền với mức tiêu thụ nhiên liệu cao và hao xăng do thuế mua xe ở một số nước châu Âu được đánh ở mức 100%, gấp đôi giá xe. Ngoài ra, châu Âu đánh thuế đối với giá xăng chạy xe lên đến hơn 9 đô la mỗi gallon, một biện pháp làm nản lòng những người mua xe không có tính hiệu quả về nhiên liệu. Mỹ cũng có thể áp dụng chính sách thuế tương tự để làm nản lòng người dân mua xe hơi tốn nhiều xăng.
Thành tố thứ hai về giải pháp cho các vấn đề nan giải năng lượng của Mỹ, bên cạnh việc giảm tổng thể mức tiêu thụ năng lượng, là kiếm thêm năng lượng từ các nguồn khác ngoài nhiên liệu hóa thạch – như từ gió, mặt trời, thủy triều, thủy điện, địa nhiệt và có lẽ tính cả năng lượng hạt nhân. Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa Vùng Vịnh năm 1973, chính phủ Mỹ đã cung cấp các khoản trợ cấp cho những nhà phát triển sản xuất năng lượng thay thế và các công ty sử dụng các khoản trợ cấp đó để phát triển máy phát điện gió một cách hiệu quả. Thật không may, khoảng năm 1980, chính phủ Mỹ chấm dứt những khoản trợ cấp cho năng lượng thay thế, vì vậy thị trường cánh quạt gió của Mỹ nhanh chóng giảm đi. Thay vào đó, Đan Mạch, Đức, Tây Ban Nha và các nước châu Âu khác đã cải thiện thiết kế cánh quạt gió và hiện sử dụng chúng để tạo thêm năng lượng điện. Tương tự như thế, Trung Quốc đã phát triển các đường dây điện dài để truyền điện từ các địa điểm phát điện gió ở vùng phía tây xa xôi đến các khu vực đông dân cư ở phía đông Trung Quốc, trong khi Mỹ lại không phát triển các hệ thống truyền tải điện khoảng cách xa như thế.
Đó là những vấn đề liên quan đến sự cạn kiệt của một nguồn tài nguyên thiên nhiên: nhiên liệu hóa thạch nhìn trong bối cảnh rộng lớn hơn về vấn đề nhu cầu năng lượng của chúng ta. Bây giờ chúng ta hãy bàn luận ngắn gọn về các loại tài nguyên thiên nhiên chính khác và tiềm năng gây khó khăn của chúng cho tương lai của chúng ta. Hai trong số các loại này đã được giới thiệu trong Chương 8, liên quan đến các vấn đề mà chúng gây ra cho Nhật Bản: rừng, nơi cung cấp gỗ, giấy và các tác nhân sinh học quan trọng như thụ phấn; và nghề cá (chủ yếu là cá và động vật có vỏ ở đại dương, cũng có ở các sông hồ), vốn dĩ cung cấp một phần lớn nhu cầu protein trong chế độ ăn uống của con người. Các loại khác là: nhiều nguyên tố và khoáng chất khác nhau được sử dụng trong công nghiệp (sắt, nhôm, đồng, niken, chì và các loại khác); đất đai màu mỡ cần thiết cho nông nghiệp và lâm nghiệp; nước ngọt để uống, tắm rửa, nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp; và bầu không khí mà chúng ta hít thở và sống. Những nguồn tài nguyên này khác nhau ở bốn khía cạnh quan trọng để hiểu tiềm năng của chúng trong việc tạo ra các vấn đề cho chúng ta: khả năng tái tạo của chúng và các vấn đề quản lý gây ra; tiềm năng của chúng để xã hội loài người phải hạn chế sử dụng; tầm mức quốc tế của chúng; và tranh chấp quốc tế mà chúng khơi lên, bao gồm cả chiến tranh.
Đầu tiên, các nguồn tài nguyên khác nhau về khả năng tái tạo của chúng. Giống như nhiên liệu hóa thạch, khoáng chất là vô cơ (không phải sinh học và không thể tái tạo). Điều này có nghĩa là khoáng sản không tự tái tạo hay sản sinh khoáng chất con; số lượng hiện có dành cho chúng ta trên Trái đất, cho các mục đích thực tiễn, là tất cả những gì chúng ta có. Ngược lại, rừng và thủy sản là nguồn tài nguyên sinh học có thể tái tạo: cá và cây tạo ra cá con và cây con. Do đó trên lý thuyết và thường trên thực tế, chúng có thể được khai thác bền vững, bằng cách thu hoạch chúng với tốc độ thấp hơn tốc độ sản xuất cá và cây mới, do đó số lượng cá và cây vẫn ổn định hoặc thậm chí còn tăng thêm. Đất màu, mặc dù phần lớn là vô cơ và chỉ có một phần nguồn gốc sinh học, cũng có thể được coi là tài nguyên tái tạo vì trong khi nó có thể bị xói mòn bởi các hoạt động của con người, nó cũng có thể được tái tạo do tác động của giun đất và vi sinh vật. Nước ngọt một phần không thể tái tạo (ví dụ một tầng ngậm nước), nhưng một phần có thể tái tạo, do nước bốc hơi từ đại dương có thể tạo ra mưa trên đất liền và biến thành nước ngọt.
Qua thực tiễn quản lý, chúng ta không thể làm gì để duy trì trữ lượng tài nguyên không tái tạo trên thế giới (khoáng sản và nhiên liệu hóa thạch) trên thế giới. Nhưng thực tiễn quản lý có tác động lớn đến dự trữ tài nguyên sinh học tái tạo. Như đã đề cập trong Chương 8, nhiều nước đã biết cách quản lý rừng và thủy sản bền vững. Một số khu rừng và thủy sản trên thế giới, như những khu rừng ở Đức và nghề đánh bắt cá hồi ở Alaska, đã được quản lý tốt. Nhưng đa phần thì không; chúng đang bị thu hoạch quá mức, và kết quả là trữ lượng cây hoặc thủy sản giảm sút hoặc biến mất. Hỏi nhanh: lần cuối bạn ăn cá kiếm vùng Đại Tây Dương là khi nào? Trả lời: không còn từ nhiều năm trước, vì chúng bị thu hoạch quá mức và xem như tuyệt chủng về mặt thương mại. Chúng ta cũng biết cách quản lý tầng đất mặt, nhưng thật đáng buồn, nó thường bị quản lý tồi và bị cuốn trôi ra sông để rồi sau đó bị xói mòn dưới đại dương hay khả năng sinh sản và kết cấu của nó bị suy thoái. Tóm lại, thế giới hiện đang quản lý tồi nhiều hoặc hầu hết các nguồn tài nguyên sinh học có giá trị tái tạo.
Thứ hai, những tài nguyên thiên nhiên nào có thể hạn chế các xã hội loài người? Câu trả lời: có lẽ tất cả chúng, ngoại trừ oxy trong khí quyển mà chúng ta không thể sử dụng hết. Cũng có một số khoáng sản, đặc biệt là sắt và nhôm có số lượng lớn đến mức chúng dường như không thấy có khả năng cần hạn chế – nhưng tôi phải bổ sung thêm rằng những nguồn tài nguyên mà chúng ta đã và đang khai thác đều nằm ở bề mặt, dễ tiếp cận và tổn phí thấp. Theo thời gian, chúng ta chắc chắn sẽ phải khai thác đến trữ lượng sâu hơn và tốn kém hơn, như từng làm với nhiên liệu hóa thạch. Một số khoáng sản quan trọng khác trong công nghiệp tồn tại với số lượng nhỏ hơn nhiều, do đó đã nảy sinh những lo ngại về trữ lượng hạn chế của chúng – chẳng hạn như một loại khoáng sản gọi là đất hiếm có trữ lượng tập trung ở Trung Quốc. Có lẽ bạn có xu hướng xem lượng nước ngọt là vô hạn vì có rất nhiều nước mặn trên đại dương và về cơ bản chúng ta có thể tạo ra lượng nước ngọt vô hạn bằng cách khử muối trong nước biển. Nhưng để làm được điều đó cũng đòi hỏi năng lượng, và chúng ta đã rất khó khăn về năng lượng và phải chịu phí tổn lớn từ việc lạm dụng nó, vì vậy trên thực tế, nước ngọt thực sự chỉ có sẵn với số lượng hạn chế.
Mối quan tâm tiếp theo của chúng ta là chiều kích quốc tế đối với các vấn đề tài nguyên thế giới. Một số tài nguyên như rừng thì không chuyển dịch; mỗi cây rừng đều ở ngay quốc gia nơi nó đang phát triển, vì vậy về mặt lý thuyết, việc quản lý nó có thể do quốc gia đó quyết định (mặc dù trên thực tế có một khía cạnh quốc tế vì các quốc gia khác có thể mua hoặc cho thuê tài nguyên). Nhưng những phức tạp trên bình diện quốc tế là điều không thể tránh khỏi đối với các tài nguyên gọi là “của chung” trên phạm vi quốc tế, cộng đồng và các tài nguyên lưu động chuyển dịch giữa các biên giới quốc gia.
Đại dương rộng lớn là một “của chung”: trong khi nước biển trong phạm vi 200 dặm được coi là lãnh hải của một quốc gia, thì nước biển ngoài phạm vi giới hạn 200 hải lý không thuộc sở hữu của một đất nước nào. (Tên gọi “của chung” xuất phát từ một thuật ngữ được áp dụng cho nhiều vùng đất đồng cỏ thời Trung cổ: nó không thuộc sở hữu của cá nhân mà được coi là “của chung,” được sử dụng như đất công). Các quốc gia có cơ sở pháp lý để điều tiết việc đánh bắt cá trong giới hạn 200 dặm thuộc về mình, nhưng bất kỳ tàu cá của quốc gia nào cũng có thể đánh cá ở bất cứ đâu giữa biển khơi. Do đó, không có cơ chế pháp lý nào để ngăn chặn việc đánh bắt quá mức ở các đại dương nên nhiều nguồn cá đại dương đang sụt giảm. Ba nguồn tài nguyên có giá trị tiềm năng cũng nằm trong một “của chung” ngoài giới hạn quốc gia: khoáng chất hòa tan trong đại dương, nước ngọt ở chỏm băng Nam Cực và khoáng sản nằm dưới đáy biển. Đã có một số nỗ lực để khai thác cả ba nguồn tài nguyên này: sau Thế chiến I, nhà hóa học người Đức Fritz Haber nghiên cứu một quy trình khai thác vàng từ nước biển; ít nhất cũng có một nỗ lực khác được thực hiện nhằm kéo một tảng băng trôi từ Nam Cực đến một quốc gia Trung Đông thiếu nước; và những nỗ lực mới manh nha trong việc khai thác một số khoáng sản từ đáy đại dương. Nhưng chưa nỗ lực nào trong số đó được chứng minh là thực tiễn; vấn đề chung hiện nay của chúng ta “chỉ” là việc đánh cá trên đại dương.
Những tài nguyên khác có khả năng gây ra rắc rối trên trường quốc tế là tài nguyên di động chuyển dịch từ nước này sang nước khác. Nhiều loài động vật di cư và di chuyển qua biên giới quốc gia: những loài quan trọng nhất về mặt kinh tế là nhiều loài cá đại dương có giá trị về mặt thương mại, như cá ngừ đại dương và một số loài cá sông cùng động vật có vú và chim di cư (như cá hồi sông, tuần lộc Bắc Cực và linh dương vùng thảo nguyên châu Phi). Do đó, khi một chiếc tàu cá của một quốc gia thu hoạch một đàn cá di cư đại dương, nó sẽ làm thiếu hụt nguồn cá của một quốc gia khác. Nước ngọt cũng lưu động: có nhiều con sông chảy giữa hai hoặc nhiều nước và nhiều hồ lớn bao quanh bởi hai hoặc nhiều nước, do đó một nước có thể làm khô cạn hay ô nhiễm nguồn nước ngọt mà một nước khác cần đến. Bên cạnh những tài nguyên thiên nhiên lưu động hữu ích sẵn có trong nước hoặc không khí, có những thứ lưu động độc hại do hoạt động của con người thêm vào trong nước hoặc không khí, và có thể dịch chuyển theo dòng nước hay gió từ nước này sang nước khác. Chẳng hạn, khói từ các vụ cháy rừng ở Indonesia đã làm tổn hại nghiêm trọng đến chất lượng không khí thổi vào Malaysia và Singapore liền kề; bụi từ Trung Quốc và Trung Á bị thổi bay sang Nhật Bản và thậm chí đến Bắc Mỹ; và các dòng sông mang theo nhựa phế phẩm đến tận những đại dương và vùng biển xa xôi nhất.
Cuối cùng, chúng ta hãy xem xét những tài nguyên khác có khả năng gây tranh chấp quốc tế. Đây là một vấn đề lớn, bởi vì nếu không thể giải quyết một cách thân thiện, các nước có thể tìm cách giải quyết bằng chiến tranh. Điều đó đã xảy ra trong trường hợp cạnh tranh quốc tế về dầu mỏ, đó là động lực chính để Nhật Bản tham gia Thế chiến II, và trong trường hợp Chiến tranh trên Thái Bình Dương (1879-1883) giữa Chile với Bolivia và Peru để kiểm soát các mỏ đồng và chất nitrat ở sa mạc Atacama. Ngày nay, có sự cạnh tranh nghiêm trọng giữa các nước trên thế giới về nguồn nước ngọt, chẳng hạn như nguồn nước phát sinh từ sự tan chảy của khối tuyết trên đỉnh Himalaya, nơi cung cấp nước cho các con sông lớn chảy qua phần lớn Trung Quốc, Ấn Độ và các nước vùng Đông Nam Á. Trong trường hợp sông Mê Kông và các dòng sông khác chảy qua Đông Nam Á, những con đập ở các quốc gia thượng nguồn sẽ ngăn chặn các trầm tích giàu chất dinh dưỡng tiếp cận được các nước ở vùng hạ lưu. Việc cạnh tranh nguồn cá đại dương ngoài khơi Tây Phi giữa các tàu cá từ Liên minh Châu Âu, Trung Quốc và các quốc gia Tây Phi đang diễn ra. Các cuộc “tranh giành” tài nguyên mang tính quốc tế đang diễn ra đối với các loại cây gỗ cứng mọc ở các nước nhiệt đới mà các nước công nghiệp ôn đới thèm muốn; với các nguyên tố đất hiếm sử dụng trong công nghiệp; và với cả đất, chẳng hạn như Trung Quốc thuê đất nông nghiệp ở châu Phi. Nói tóm lại, khi sự phát triển và tiêu dùng của con người trên thế giới tăng lên, chúng ta có thể chờ đợi nhiều, rất nhiều xung đột do cạnh tranh quốc tế gây ra từ các nguồn tài nguyên hạn chế.
Tỉ lệ tiêu thụ tài nguyên như xăng dầu và kim loại tính theo bình quân đầu người, và tỉ lệ sản xuất chất thải tính bình quân đầu người như chất thải nhựa và khí thải nhà kính ở Thế giới Thứ nhất cao hơn khoảng 32 lần so với thế giới đang phát triển. Chẳng hạn, mỗi năm, một người Mỹ trung bình tiêu thụ xăng dầu nhiều hơn khoảng 32 lần và tạo ra chất thải nhựa và carbon dioxide nhiều hơn 32 lần so với bình quân một công dân ở một nước nghèo. Nhân tố 32 lần đó để lại những hậu quả lớn đối với cách mọi người ở các nước đang phát triển cư xử, và nó cũng để lại hậu quả cho những gì còn nằm ở phía trước tất cả chúng ta. Đó là vấn nạn cuối trong bốn điều mà tôi nhìn thấy đang đe dọa nền văn minh và loài người chúng ta.
Để hiểu thấu những hậu quả đó, chúng ta hãy thử lưu tâm đến dân số thế giới. Ngày nay, thế giới có hơn 7,5 tỉ người, và con số này có thể tăng lên khoảng 9,5 tỉ nội trong nửa thế kỷ tới. Vài thập niên trước, nhiều người xem dân số là vấn đề lớn nhất mà loài người phải đối mặt. Nhưng kể từ đó, chúng ta dần nhận ra rằng dân số chỉ là một trong hai nhân tố mà sản phẩm của chúng mới là điều thực sự quan trọng. Sản phẩm đó là tổng mức tiêu thụ của thế giới, được tính bằng tổng (trên toàn thế giới) lượng tiêu thụ địa phương, lại được tính bằng sản phẩm của hai thuật ngữ: dân số địa phương (số người) nhân với tỉ lệ tiêu thụ bình quân trên mỗi đầu người địa phương.
Vấn đề dân số chỉ quan trọng khi con người tiêu thụ và sản xuất. Nếu hầu hết 7,5 tỉ người trên thế giới ở trong một kho đông lạnh và không chuyển hóa hoặc tiêu thụ, thì họ không tạo ra vấn nạn tài nguyên. Thế giới Thứ nhất bao gồm khoảng 1 tỉ người sinh sống chủ yếu ở Bắc Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Úc, và có tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người tương đối là 32. Hầu hết 6,5 tỉ người còn lại trên thế giới tạo thành thế giới đang phát triển, có tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người tương đối dưới 32, phần lớn gần mức 1. Những con số đó có nghĩa là hầu hết việc tiêu thụ tài nguyên đều diễn ra trong Thế giới Thứ nhất.
Tuy nhiên, một số người vẫn gắn bó với yếu tố dân số. Họ lưu ý rằng các nước như Kenya có tỉ lệ tăng dân số trên 4% mỗi năm và cho rằng đó là một vấn đề lớn. Quả thực đó là một vấn đề, đặc biệt là đối với Kenya 50 triệu người. Nhưng vấn đề lớn hơn nhiều đối với toàn thế giới là chúng ta có 330 triệu người Mỹ, gấp 6,6 lần so với Kenya, và mỗi người Mỹ tiêu thụ bằng 32 người Kenya. Nhân hai tỉ lệ của Mỹ và Kenya (6,6 so với 1 và 32 so với 1), bạn sẽ thấy rằng về tổng thể, Mỹ tiêu thụ tài nguyên gấp 210 lần so với Kenya. Lấy một ví dụ khác, dân số 60 triệu người Ý tiêu thụ gần gấp đôi so với một tỉ người sống trên toàn lục địa châu Phi.
Cho đến thời gian gần đây, sự tồn tại của tất cả những người nghèo ở nơi khác không phải là mối đe dọa đối với các nước thuộc Thế giới Thứ nhất. “Họ” ở bên ngoài, không biết gì về cách sống của chúng ta, và nếu có biết đi chăng nữa, rồi ganh tị hoặc tức giận, họ cũng không thể làm được gì. Nhiều thập niên trước, các nhà ngoại giao Mỹ thường chơi một trò chơi tranh luận về việc quốc gia nào trong số các nước trên thế giới không liên quan nhất đến lợi ích quốc gia của Mỹ. Câu trả lời phổ biến là “Afghanistan” và “Somalia,” đó là hai quốc gia rất nghèo và xa xôi đến nỗi dường như họ không bao giờ có khả năng làm gì để gây vấn nạn cho Mỹ. Trớ trêu thay, hai quốc gia này sau đó bị xem là những mối đe dọa đối đến nỗi Mỹ phải gửi quân đội đến cả hai nước, và hiện quân đội Mỹ vẫn còn trú đóng ở Afghanistan.
Lý do tại sao các nước nghèo ở xa hiện nay có thể tạo vấn nạn cho các nước giàu có thể được tóm tắt bằng từ “toàn cầu hóa”: các kết nối giữa tất cả các nơi trên thế giới ngày càng gia tăng. Đặc biệt, thông tin và đi lại ngày càng dễ dàng đồng nghĩa với việc người dân ở các nước đang phát triển biết nhiều đến sự khác biệt lớn về mức tiêu thụ và mức sống trên toàn thế giới, và giờ đây nhiều người có thể du lịch đến các nước giàu.
Trong số những cách khiến toàn cầu hóa tạo ra sự khác biệt về mức sống trên toàn thế giới có ba điểm nổi bật không thể phủ nhận. Một là sự lây lan của những căn bệnh mới bộc phát, lan từ các nước nghèo đến các nước giàu. Trong những thập niên gần đây, những căn bệnh gây tử vong đáng sợ thường du nhập vào các nước giàu bởi du khách từ các nước nghèo, nơi những căn bệnh này là đặc hữu và các biện pháp y tế công cộng lại yếu – dịch tả, dịch Ebola, cúm, (đặc biệt là) AIDS và các bệnh khác. Những căn bệnh ngoại nhập này vẫn sẽ gia tăng.
Sự lây lan của các dịch bệnh mới nổi là hậu quả không chủ ý của sự toàn cầu hóa, nhưng sự lây lan thứ nhì do toàn cầu hóa có khả năng liên quan đến chủ ý của con người. Nhiều người ở các nước nghèo cảm thấy thất vọng và tức giận khi họ nhận thức được lối sống tiện nghi sẵn có ở những nơi khác trên thế giới. Một số những người này trở thành những kẻ khủng bố, và nhiều người khác tuy không phải là những kẻ khủng bố nhưng lại dung túng hoặc hỗ trợ cho những kẻ khủng bố. Kể từ cuộc tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới ngày 11 tháng 9 năm 2001, rõ ràng là các đại dương trước đây bảo vệ nước Mỹ không còn là bức tường bảo vệ nữa. Người Mỹ hiện đang sống dưới sự đe dọa liên tục của khủng bố. Chắc chắn sẽ còn nhiều cuộc tấn công khủng bố chống lại Mỹ và châu Âu, và có thể là cả Nhật Bản và Úc trong tương lai – chừng nào sự khác biệt về yếu tố “gấp 32 lần” trong tỉ lệ tiêu thụ vẫn còn tồn tại.
Hiển nhiên, sự bất bình đẳng toàn cầu tự nó là nguyên nhân trực tiếp của các hành động khủng bố. Chủ nghĩa cơ bản tôn giáo và tâm bệnh học cá nhân cũng đóng một vai trò thiết yếu. Mỗi quốc gia đều có những cá nhân bị sự tức giận điên cuồng thúc đẩy đến việc giết người khác, đó không chỉ là vấn đề của các nước nghèo. Mỹ có Timothy McVeigh, người đã cướp đi 168 sinh mạng bằng một quả bom đặt trong xe tải ở thành phố Oklahoma, và Theodore Kaczynski gửi các kiện hàng chứa bom được thiết kế cẩn thận khiến ba người chết và bị thương 23 người. Na Uy cũng có Anders Behring Breivik với một quả bom và một khẩu súng đã giết 77 người và làm bị thương 329 người trong số đó có nhiều trẻ em. Nhưng ba kẻ khủng bố đó chỉ là những cá nhân điên rồ bị cô lập và không có được sự ủng hộ rộng rãi do hầu hết người Mỹ và người Na Uy đều không đủ tuyệt vọng hay tức giận. Chỉ ở các nước nghèo, nơi phần lớn dân số cảm thấy tuyệt vọng và tức giận, mới có sự khoan dung hoặc hỗ trợ cho những kẻ khủng bố.
Hậu quả còn lại của yếu tố 32 đó, kết hợp với toàn cầu hóa, là những người có mức tiêu thụ thấp muốn tận hưởng lối sống tiêu dùng cao. Họ có hai cách để đạt được nó. Đầu tiên, chính phủ ở các nước đang phát triển xem sự gia tăng mức sống, bao gồm mức tiêu thụ, là mục tiêu chính của chính sách quốc gia. Thứ nhì, hàng chục triệu người ở các nước đang phát triển không sẵn sàng chờ đợi xem liệu chính phủ của họ có thể cung cấp mức sống cao trong suốt cuộc đời họ hay không, mà thay vào đó, họ muốn tìm kiếm lối sống của Thế giới Thứ nhất ngay lập tức bằng cách di cư đến Thế giới Thứ nhất, hợp pháp hay bất hợp pháp: đặc biệt bằng cách di cư đến Tây Âu và Mỹ, hoặc Úc; chủ yếu là từ châu Phi và một phần châu Á, hay từ Trung Mỹ và Nam Mỹ. Điều này chứng tỏ rằng việc nhập cư là không thể tránh được. Mỗi lần chuyển đổi một người từ mức tiêu thụ thấp sang nước có mức tiêu thụ cao sẽ làm tăng tỉ lệ tiêu thụ của thế giới, mặc dù hầu hết người nhập cư không thành công ngay lập tức trong việc tăng mức tiêu thụ của họ lên toàn bộ hệ số 32.
Có phải tất cả mọi người đều mơ ước được sống theo kiểu Thế giới Thứ nhất? Hãy xem xét các con số. Chúng ta nhân số người dân hiện tại với tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người (dầu, kim loại, nước, v.v.) ở mỗi nước và cộng chung các sản phẩm đó trên toàn thế giới. Tổng kết quả là tỉ lệ tiêu thụ tài nguyên của thế giới hiện thời. Bây giờ lặp lại tính toán đó, nhưng với tất cả các nước đang phát triển đạt được tỉ lệ tiêu thụ của Thế giới Thứ nhất cao hơn tới 32 lần so với hiện tại của họ, và không có thay đổi trong dân số quốc gia hoặc bất cứ điều gì khác về thế giới. Kết quả là tỉ lệ tiêu thụ thế giới sẽ tăng gấp 11 lần. Con số đó tương đương với dân số thế giới khoảng 80 tỉ người với tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người hiện nay.
Có một số người lạc quan cho rằng chúng ta có thể hỗ trợ một thế giới với 9,5 tỉ người. Nhưng tôi chưa gặp bất kỳ người lạc quan nào đủ điên rồ để tuyên bố rằng chúng ta có thể hỗ trợ một thế giới có khoảng 80 tỉ người. Chúng ta còn hứa với các nước đang phát triển rằng nếu họ chỉ áp dụng các chính sách tốt, như chính phủ trung thực và nền kinh tế thị trường tự do, họ cũng có thể trở thành như Thế giới Thứ nhất hiện nay. Lời hứa đó là hoàn toàn không thể, một trò lừa bịp tàn nhẫn trong khi ngay cả bây giờ chúng ta còn gặp phải khó khăn trong việc hỗ trợ lối sống của một Thế giới Thứ nhất, khi chỉ 1 tỉ người trên thế giới 7,5 tỉ người được thụ hưởng lối sống đó.
Người Mỹ thường coi tiêu dùng ngày càng tăng ở Trung Quốc và các nước đang phát triển khác là “một vấn đề,” và mong muốn rằng “vấn đề” này không xảy ra. Tất nhiên, cái gọi là vấn đề vẫn sẽ tiếp tục: người Trung Quốc và người dân các nước đang phát triển khác chỉ đang cố gắng tận hưởng mức tiêu thụ mà người Mỹ đã được hưởng. Họ sẽ không bao giờ nghe khi người Mỹ ngớ ngẩn đến mức bảo họ đừng cố làm những gì Mỹ đang làm. Kết quả bền vững duy nhất cho thế giới toàn cầu hóa chỉ có khi Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Indonesia, các nước châu Phi và các nước đang phát triển khác chấp nhận tỉ lệ tiêu dùng và mức sống gần ngang bằng nhau trên toàn thế giới. Nhưng hiện nay thế giới không có đủ nguồn lực để hỗ trợ bền vững cho Thế giới Thứ nhất, huống gì nói đến thế giới đang phát triển, ở mức độ Thế giới Thứ nhất hiện tại. Phải chăng điều này có nghĩa là chúng ta được đảm bảo sẽ kết thúc trong thảm họa?
Không: chúng ta có thể có một kết quả ổn định trong đó Thế giới Thứ nhất và các quốc gia khác hội tụ về tỉ lệ tiêu thụ thấp hơn đáng kể so với tỉ lệ của Thế giới Thứ nhất hiện tại. Hầu hết người Mỹ sẽ phản đối: chúng ta sẽ không hi sinh mức sống của mình chỉ vì lợi ích của người ngoài! Như Dick Cheney từng nói: “Lối sống của người Mỹ là không thể thương lượng.” Nhưng thực tế tàn nhẫn về mức độ tài nguyên trên thế giới bảo đảm rằng lối sống của người Mỹ sẽ thay đổi; với những thực tế về tài nguyên thế giới, chúng ta phải thỏa hiệp để tồn tại. Người Mỹ chắc chắn sẽ hi sinh tỉ lệ tiêu thụ, bất chấp việc họ có quyết định như thế hay không, vì thế giới không thể duy trì mức sống hiện tại này mãi được.
Không nhất thiết phải là một hi sinh thực sự, vì tỉ lệ tiêu dùng và sức khỏe con người có sự tương quan, không thể cùng song hành được. Việc người Mỹ tiêu thụ nhiều gây lãng phí và cũng không tạo ra chất lượng cuộc sống cao. Ví dụ như tỉ lệ tiêu thụ xăng dầu bình quân đầu người ở Tây Âu là khoảng một nửa so với ở Mỹ, nhưng nếu tính bình quân thì mức sống của người Tây Âu tốt hơn so với người Mỹ theo bất kỳ tiêu chí nào, như tuổi thọ, sức khỏe, tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh, tiếp cận chăm sóc y tế, an ninh tài chính sau khi nghỉ hưu, thời gian nghỉ, chất lượng các trường công lập, và tài trợ nghệ thuật. Khi bạn đọc xong trang này của cuốn sách, chỉ cần đi ra một con phố ở Mỹ, nhìn vào những chiếc xe đang chạy, ước tính các trạm xăng của họ, và tự hỏi liệu việc tiêu thụ khí đốt lãng phí của Mỹ có đóng góp tích cực cho bất kỳ thước đo chất lượng nào của cuộc sống không. Ngoài xăng dầu ra, có những lĩnh vực khác mà tỉ lệ tiêu thụ ở Mỹ và các quốc gia thuộc Thế giới Thứ nhất lãng phí, chẳng hạn như việc khai thác và hủy hoại hầu hết các khu vực ngư nghiệp và rừng trên thế giới.
Tóm lại, chắc chắn rằng trong vòng đời của hầu hết chúng ta, tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người ở Thế giới Thứ nhất sẽ thấp hơn so với hiện tại. Câu hỏi duy nhất là liệu chúng ta sẽ tiếp cận điều này bằng các phương pháp được lên kế hoạch theo lựa chọn của chúng ta hay bằng các phương pháp không mấy dễ chịu và không phải do chúng ta lựa chọn. Cũng chắc chắn rằng, trong vòng đời của chúng ta, tỉ lệ tiêu thụ bình quân đầu người ở nhiều nước đông dân đang phát triển sẽ không còn là một “nhân tố 32” thấp hơn mức tiêu thụ của Thế giới Thứ nhất mà sẽ gần mức tiêu thụ của Thế giới Thứ nhất hơn so với hiện tại. Những xu hướng đó là mục tiêu mong muốn, thay vì triển vọng khủng khiếp mà chúng ta nên chống lại. Chúng ta đã biết đủ để hướng đến việc đạt được điều này; điều chính yếu còn thiếu là ý chí chính trị cần thiết.
Trên đây là những vấn nạn lớn nhất đối với toàn thế giới mà tôi nhìn thấy. Từ cái nhìn dựa trên khung biến cố của chúng ta, những nhân tố nào thích hợp và những nhân tố nào cản trở con người giải quyết những vấn nạn đó?
Không thể phủ nhận rằng chúng ta phải đối mặt với những trở ngại ghê gớm. Nhiều hơn so với các trường hợp biến cố quốc gia mà bảy nước riêng lẻ phải đối mặt trong các chương trước của cuốn sách này, những nỗ lực tầm thế giới để giải quyết các vấn nạn thế giới buộc chúng ta phải vượt qua những ràng buộc địa lý xa lạ, với ít tiền lệ hơn từ quá khứ để dẫn dắt chúng ta. Hãy nghĩ đến một tổng thể toàn thế giới khác với các quốc gia riêng lẻ. Các quốc gia mà chúng ta đã bàn đều thống nhất thừa nhận căn tính quốc gia và các giá trị quốc gia chung, phân biệt quốc gia của họ với các quốc gia khác có căn tính và các giá trị khác nhau. Bảy quốc gia này từ lâu đã thành lập các diễn đàn tranh luận về nền chính trị quốc gia và có lịch sử ứng phó với biến cố để tìm cảm hứng cho ngày mai. Tất cả những quốc gia này đã được hưởng lợi từ sự cung cấp trợ giúp vật chất, lời khuyên và mô hình của các nước đồng minh thân thiện để sửa đổi và áp dụng.
Nhưng toàn bộ thế giới của chúng ta lại thiếu những điều đó và những ưu thế khác của các quốc gia đã bàn. Chúng ta không thể liên lạc với một hành tinh có người ở khác để có thể tìm kiếm sự hỗ trợ (nhân tố số 4 ở Bảng 1.2), hoặc có xã hội mà chúng ta có thể cân nhắc kỹ lưỡng các mô hình để tìm kiếm giải pháp của riêng mình (nhân tố số 5). Nhân loại thiếu thừa nhận rộng rãi về căn tính chung (nhân tố số 6) và giá trị cốt lõi chung (nhân tố số 11) trái ngược với căn tính và giá trị phổ biến đối với các hành tinh khác. Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta phải đối mặt với những thách thức thực sự trên bình diện toàn cầu; chúng ta còn thiếu kinh nghiệm trong quá khứ về những thách thức như vậy (nhân tố số 8) và không thể giải quyết chúng (nhân tố số 9). Những tiền lệ của chúng ta về sự thành công trước đây trong việc ứng phó biến cố trên toàn thế giới bị hạn chế: Hội Quốc Liên và Liên Hợp Quốc hình thành hai nỗ lực thể chế đầu tiên, nhưng trong khi chúng đạt được một số thành công thì những thành công đó vẫn chưa đạt được quy mô giải quyết các vấn nạn tầm cỡ thế giới. Không có sự thừa nhận biến cố mang tính toàn cầu (nhân tố số 1) cũng như sự chấp nhận trách nhiệm đối với toàn bộ thế giới (nhân tố số 2) về các vấn đề hiện tại, cũng như đánh giá trung thực mang tầm thế giới (nhân tố số 7). Tự do lựa chọn của chúng ta (nhân tố số 12) bị hạn chế bởi những kìm hãm mãnh liệt: sự cạn kiệt tài nguyên thế giới dường như chắc chắn, sự gia tăng nồng độ CO2 trên thế giới và quy mô bất bình đẳng trên toàn thế giới khiến chúng ta không có nhiều cơ hội để thử nghiệm và vạch kế hoạch điều chỉnh. Tất cả những thực tế tàn nhẫn đó khiến nhiều người cảm thấy bi quan hoặc vô vọng về viễn cảnh một tương lai tốt đẹp cho loài người.
Tuy nhiên, cũng có tiến triển theo ba lộ trình khác nhau để giải quyết các vấn nạn thế giới. Một lộ trình thử nghiệm lâu dài bao gồm những thỏa thuận song phương và đa phương giữa các quốc gia. Chúng ta biết rằng đã có các cuộc đàm phán và thỏa thuận giữa các thực thể chính trị ít nhất là từ khi có văn bản để ghi nhận chúng (hơn 5.000 năm trước). Những nhóm người và bộ lạc thời đó dù không có văn bản cũng đưa ra thỏa thuận, vì vậy lịch sử đàm phán chính trị của chúng ta chắc chắn đã tồn tại từ hàng chục ngàn năm trước khi hình thành các chính quyền quốc gia. Đặc biệt, cả bốn vấn nạn thế giới bàn thảo trong chương này đều là chủ đề của các cuộc đàm phán song phương và đa phương gần đây.
Tôi sẽ chỉ dẫn chứng một vụ việc, không phải vì vấn đề đã giải quyết là một trong những vấn đề cấp bách nhất (quả thật thế), mà bởi vì nó minh họa khả năng đạt được thỏa thuận ngay cả giữa các quốc gia bị giam hãm trong sự thù hằn cay nghiệt nhất: Israel và Li Băng. Israel đã xâm lăng và chiếm đóng một phần Li Băng. Còn Li Băng đóng vai trò là căn cứ để tiến hành các cuộc tấn công tên lửa vào Israel. Tuy nhiên, những nhà quan sát chim của hai nước này đã thành công trong việc đạt được một thỏa thuận quan trọng. Đại bàng và các loài chim lớn khác di cư theo mùa giữa châu Âu và châu Phi bay về phía nam từ Li Băng qua Israel vào mỗi mùa thu, sau đó lại bay về phía bắc từ Israel qua Li Băng vào mỗi mùa xuân. Khi máy bay va chạm với những con chim lớn đó, kết quả thường là sự hủy diệt cho cả hai phía (tôi viết lại điều này một năm sau khi tôi cùng gia đình thoát chết trong khi chiếc máy bay thuê nhỏ bé của chúng tôi va chạm với một chú đại bàng và bị móp méo, còn chú đại bàng thì chết). Những vụ va chạm như thế là một nguyên nhân chính gây ra những tai nạn chết người ở Li Băng và Israel. Điều này đã thúc đẩy những người theo dõi chim của hai nước thiết lập một hệ thống cảnh báo cho nhau. Vào mùa thu, những người theo dõi chim Li Băng cảnh báo các đồng nghiệp Israel và kiểm soát viên không lưu của Israel khi họ nhìn thấy một đàn chim lớn trên Li Băng di chuyển về phía nam hướng đến Israel, và vào mùa xuân, những người theo dõi chim ở Israel lại cảnh báo về những đàn chim di chuyển về phía bắc. Mặc dù rõ ràng là thỏa thuận này có lợi cho cả hai bên, nhưng nó đòi hỏi nhiều năm thảo luận để vượt qua sự thù hận hiện tại và chỉ tập trung vào chim chóc và máy bay.
Tất nhiên, một thỏa thuận giữa chỉ hai hoặc thậm chí một số quốc gia là quá ít cho một thỏa thuận của 216 quốc gia cấu thành toàn thế giới. Nhưng nó vẫn tạo thành một bước tiến lớn để đi đến hiệp ước thế giới, vì chỉ có một vài quốc gia chiếm tỉ trọng lớn trong dân số và kinh tế thế giới. Chỉ hai nước (Trung Quốc và Ấn Độ) đã chiếm một phần ba dân số thế giới; một cặp quốc gia khác (Mỹ và Trung Quốc) chiếm 41% lượng phát thải CO2 và sản lượng kinh tế của thế giới; và năm quốc gia hoặc tổ chức (Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản và Liên minh Châu Âu) chiếm 60% lượng khí thải và sản lượng. Trung Quốc và Mỹ đã đạt được thỏa thuận về nguyên tắc về khí thải CO2. Thỏa thuận song phương này sau đó đã được Ấn Độ, Nhật Bản và Liên minh Châu Âu tham gia theo hiệp ước Paris có hiệu lực vào năm 2016. Tất nhiên hiệp ước Paris là chưa đủ, vì nó thiếu một cơ chế thực thi nghiêm túc và vì trong năm sau đó chính phủ Mỹ tuyên bố ý định rút ra. Nhưng hiệp ước Paris vẫn có khả năng đóng vai trò là mô hình hoặc điểm khởi đầu để đạt được một thỏa thuận trong tương lai nếu được cải thiện. Ngay cả khi 200 nước khác trên thế giới có mức sản lượng nhỏ hơn không tham gia một hiệp ước trong tương lai, thì chỉ cần một thỏa thuận năm chiều giữa năm người chơi lớn nhất có thể đi nốt chặng đường dài để giải quyết vấn đề khí thải. Đó là vì năm người chơi lớn nhất có thể gây áp lực lên 200 kẻ khác, chẳng hạn như việc áp thuế thương mại và thuế carbon đối với các quốc gia không tuân thủ quy định.
Một lộ trình khác để giải quyết các vấn đề thế giới bao gồm những hiệp ước giữa các quốc gia trong khu vực. Hiện đã có nhiều hiệp ước tầm khu vực ở Bắc Mỹ, Mỹ Latin, châu Âu, Đông Nam Á, châu Phi và các nhóm khu vực khác. Tập hợp các hiệp ước khu vực tiên tiến nhất, với phạm vi rộng nhất về thể chế và phạm vi thỏa thuận cùng các quy tắc ràng buộc, là tập hợp của Liên minh Châu Âu, hiện bao gồm khoảng 27 quốc gia châu Âu. Tất nhiên, đề cập đến Liên minh Châu Âu, lập tức người ta nghĩ đến những bất đồng, trở lại, sự trượt lùi, Brexit và những lối thoát chính trị khả dĩ khác. Điều này chỉ là giả định vì Liên minh Châu Âu đã tạo nên một bước tiến lớn và triệt để như vậy, không chỉ đối với châu Âu mà còn đối với bất kỳ khu vực nào trên thế giới.
Nhưng trước khi tâm trí bạn dấy lên sự bi quan về Liên minh Châu Âu, hãy nghĩ đến tình trạng tan vỡ của châu Âu năm 1945 ở cuối Thế chiến II rồi sau đó nghĩ về những gì Liên minh Châu Âu đã đạt được. Sau vài ngàn năm chiến tranh gần như liên tục, đỉnh cao là các quốc gia châu Âu đã chiến đấu trong hai cuộc chiến tàn khốc nhất lịch sử thế giới, không có bất kỳ thành viên nào của Liên minh Châu Âu gây chiến với một thành viên khác kể từ khi thành lập tiền thân của Liên minh Châu Âu trong thập niên 1950. Lần đầu tôi đến châu Âu vào năm 1950, có kiểm soát hộ chiếu nghiêm ngặt ở mọi biên giới quốc gia; nhưng hiện thời các hạn chế đối với việc di chuyển xuyên biên giới giữa các nước trong Liên minh Châu Âu đã được bãi bỏ nhiều. Khi tôi sống ở Anh trong giai đoạn 1958-1962, số lượng các nhà khoa học Anh đứng giảng dạy và nghiên cứu thường trực tại các trường đại học ở lục địa châu Âu và ngược lại rất ít, ít đến nỗi tôi có thể kể ra tên một vài cá nhân như vậy trong lĩnh vực nghiên cứu của tôi chỉ trong một bàn tay. Bây giờ, một phần đáng kể các vị trí giảng dạy đại học trong các quốc gia châu Âu là thuộc những nhân vật không quốc tịch. Các nền kinh tế của những nước thuộc Liên minh Châu Âu hội nhập đáng kể. Hầu hết các nước trong Liên minh đều sử dụng một loại tiền tệ chung, đồng euro. Đối với những vấn đề lớn của thế giới như năng lượng, sử dụng tài nguyên và nhập cư, Liên minh đều đưa ra thảo luận và đôi khi áp dụng các chính sách chia sẻ. Một lần nữa, tôi thừa nhận tất cả những bất đồng trong Liên minh Châu Âu – nhưng đừng quên rằng trong bất kỳ quốc gia riêng lẻ nào cũng đều có những bất đồng.
Các ví dụ khác về các thỏa thuận khu vực tập trung hẹp hơn bao gồm các thỏa thuận để loại bỏ hoặc loại bỏ các bệnh khu vực. Một thành công lớn là diệt trừ rinderpest, một bệnh gia súc đáng sợ trước đây gây ra chi phí lớn trên các khu vực rộng lớn ở châu Phi, châu Á và châu Âu. Sau một nỗ lực dài của khu vực mất vài thập niên, đến nay vẫn chưa có trường hợp nào bị nhiễm rinderpest kể từ năm 2001. Những nỗ lực khu vực quy mô lớn hiện đang được tiến hành ở cả hai bán cầu bao gồm việc diệt trừ giun guinea và loại bỏ bệnh mù sông. Do đó, các thỏa thuận khu vực tạo thành một lộ trình đã được thử nghiệm lần thứ hai để giải quyết các vấn đề xuyên quốc gia.
Con đường thứ ba bao gồm các hiệp định thế giới, được các tổ chức thế giới ngăn chặn và không chỉ đạt được bởi Liên Hợp Quốc với sứ mệnh thế giới toàn diện, mà còn bởi các tổ chức thế giới khác với các nhiệm vụ cụ thể hơn – như các tổ chức dành cho nông nghiệp, buôn bán động vật, hàng không, nghề cá, thực phẩm, sức khỏe, đánh bắt cá voi và các nhiệm vụ khác. Cũng giống như Liên minh Châu Âu, thật dễ hoài nghi về Liên Hợp Quốc và các cơ quan quốc tế khác, có sức mạnh nói chung yếu hơn Liên minh Châu Âu, và yếu hơn nhiều so với sức mạnh của hầu hết các quốc gia trong biên giới quốc gia. Nhưng các cơ quan quốc tế đã có nhiều thành tựu, và họ cung cấp một cơ chế để tiến bộ hơn. Những thành công lớn là việc loại trừ bệnh đậu mùa trên toàn thế giới vào năm 1980; Nghị định thư Montreal năm 1987 để bảo vệ tầng ozone bình lưu; Công ước quốc tế năm 1978 về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu (được gọi là MARPOL 73/78) đã làm giảm ô nhiễm thế giới của các đại dương bằng cách bắt buộc tách các thùng chứa dầu khỏi các thùng dằn nước trên tàu, rồi yêu cầu tất cả việc vận chuyển dầu trên biển phải bằng tàu chở dầu hai thân; Công ước Luật Biển năm 1994 phân định các vùng đặc quyền kinh tế quốc gia và vùng kinh tế chung quốc tế; và Cơ quan Đáy biển Quốc tế đã thiết lập khung pháp lý cho việc khai thác khoáng sản dưới đáy biển.
Toàn cầu hóa đã gây ra nhiều vấn đề và tạo điều kiện cho các giải pháp của vấn đề. Một điều đáng ngại của toàn cầu hóa ngày nay là sự phát triển và lan rộng của các vấn đề trên khắp thế giới: cạnh tranh tài nguyên, chiến tranh toàn cầu, ô nhiễm, khí quyển, bệnh tật, sự di chuyển của con người và nhiều vấn đề khác. Nhưng toàn cầu hóa cũng có nghĩa là một điều đáng khích lệ: sự tăng trưởng và lan rộng của các yếu tố góp phần giải quyết các vấn đề thế giới đó, như thông tin, truyền thông, công nhận biến đổi khí hậu, một số ngôn ngữ thế giới thống trị, kiến thức rộng rãi về các điều kiện và giải pháp phổ biến ở nơi khác, và – một số công nhận rằng thế giới phụ thuộc lẫn nhau và đứng cùng nhau. Trong cuốn sách Sụp đổ, xuất bản năm 2005, tôi đã so sánh sự căng thẳng giữa những vấn đề và giải pháp đó với một cuộc đua ngựa: một cuộc đua giữa một con ngựa hủy diệt và một con ngựa hi vọng. Đây không phải là một cuộc đua bình thường, khi cả hai con ngựa chạy với tốc độ tối đa gần như không đổi trên toàn bộ khoảng cách. Thay vào đó, đây là một cuộc đua tăng tốc theo cấp số nhân, trong đó mỗi con ngựa càng ngày càng chạy nhanh hơn.
Khi tôi viết vào năm 2005, không rõ con ngựa nào sẽ chiến thắng cuộc đua. Khi tôi viết những câu này vào năm 2019, mỗi con ngựa đã tiếp tục tăng tốc trong 14 năm qua. Các vấn đề của chúng ta, đặc biệt là dân số thế giới và mức tiêu thụ thế giới, đã tăng lên rõ rệt kể từ năm 2005. Sự công nhận của thế giới về các vấn đề của chúng ta và các nỗ lực của thế giới để giải quyết chúng cũng tăng rõ rệt kể từ năm 2005. Vẫn chưa rõ con ngựa nào sẽ chiến thắng trong cuộc đua. Nhưng điều chắc chắn là chỉ còn ít thập niên nữa thôi cho đến khi kết quả cuộc đua được phân định, dù tốt hơn hay tệ hơn.
Phần 3: Các quốc gia và thế giới - Biến cố đang diễn ra
Lời bạt - Những bài học, câu hỏi và góc nhìn
Các nhân tố mang tính dự đoán – Liệu các biến cố là cần thiết? – Vai trò của các nhà lãnh đạo trong lịch sử – Vai trò của một số nhà lãnh đạo cụ thể – Tiếp theo là gì? – Những bài học cho tương lai
Chương cuối này sẽ bắt đầu bằng việc tổng kết các nhân tố liệt kê tại Bảng 1.2, như đã nêu ra lúc đầu vì ảnh hưởng đến kết quả của các biến cố quốc gia, đã được áp dụng thực tế ở bảy quốc gia. Tiếp đến, tôi sẽ dùng ví dụ này để trả lời hai câu hỏi về biến cố mà người ta thường hỏi tôi: liệu các quốc gia có cần một biến động cấp bách gây khủng hoảng để thúc đẩy họ thay đổi tầm vĩ mô, và liệu tiến trình lịch sử có phụ thuộc rất nhiều vào một số nhà lãnh đạo nhất định. Sau đó tôi đề xuất một số chiến lược để chúng ta hiểu rõ hơn về biến cố. Cuối cùng là những bài học chúng ta có thể rút ra từ sự hiểu biết đó.
1. THỪA NHẬN BIẾN CỐ
Thừa nhận biến cố đối với cá nhân thường đơn giản hơn so với một quốc gia bởi với cá nhân không cần phải có sự đồng thuận của tất cả mọi người; chỉ duy nhất một cá thể khẳng định hoặc phủ nhận họ đang trong biến cố. Tuy vậy, ngay cả đối với một cá nhân, câu trả lời đôi khi không chỉ đơn giản là “Có” hoặc “Không.” Thay vào đó, ít nhất ba khả năng có thể xảy ra: người ta phủ nhận ngay từ đầu về khủng hoảng, hoặc chỉ thừa nhận một phần của vấn đề, hoặc làm giảm nhẹ đi sự nghiêm trọng của vấn đề đó. Mặc dù, rốt cuộc cá nhân đó có thể sẽ “khẩn nài sự tương cứu.” Thực tế, đấy chính là lúc người ta thừa nhận biến cố. Biến cố quốc gia cũng có biểu hiện của ba khả năng trên và thêm một khả năng thứ tư nữa; một quốc gia được hình thành bởi nhiều đoàn thể khác nhau, bởi một vài người lãnh đạo cùng vô số những người ủng hộ theo. Những đoàn thể, lãnh đạo và những người ủng hộ thường lại có bất đồng đối với việc thừa nhận biến cố. Dù là quốc gia hay cá nhân đều có thể sẽ bàng quan ngay từ lúc đầu, hoặc phủ nhận, hoặc coi nhẹ vấn đề họ gặp phải cho đến khi tình trạng phủ nhận đó kết thúc với một sự kiện bên ngoài. Chẳng hạn, trước năm 1853, nước Nhật đã biết việc phương Tây tấn công Trung Hoa (Chiến tranh Nha Phiến I, 1839-1842) và cuộc chiến này đặt ra những nguy cơ hiển hiện đối với Nhật Bản đến từ phương Tây. Nhưng Nhật Bản vẫn không thừa nhận biến cố này và bắt đầu tranh luận về canh tân cho đến trước cuộc viếng thăm của Phó đề đốc Perry vào ngày 8 tháng 7 năm 1853. Tương tự, Phần Lan nhận một số yêu sách của Liên Xô từ cuối những năm 1930 và thừa hiểu tiềm lực quân sự của quốc gia rộng lớn này; nhưng Phần Lan đã phớt lờ nguy cơ ấy cho đến khi bị Liên Xô tấn công vào ngày 30 tháng 11 năm 1939. Khi chiến sự nổ ra, quân Phần Lan hầu như đạt được sự nhất trí đồng loạt và phản công ngay trong đêm. Ngược lại, việc Perry đến Nhật Bản dù đã nhanh chóng khiến người Nhật đồng thuận rằng đất nước họ đang đối diện với một vấn đề bức thiết thì các nhà cải cách chống Mạc phủ bất đồng với chính quyền Mạc phủ về phương cách đối ứng; sự bất đồng này phải đến 15 năm sau mới được giải quyết khi phe cải cách tiếm quyền Mạc phủ. Một vài trường hợp khủng hoảng quốc gia lại thu được sự đồng thuận rằng quốc gia đó đang chịu ảnh hưởng bởi một vấn đề lớn nào đó nhưng lại không thống nhất được vấn đề đó là gì. Ở Chile, Allende và phe cánh tả nhận thấy rằng cần phải cải tổ thể chế xã hội, trong khi phe cánh hữu lại nhìn nhận vấn đề là ở chính Allende và những đề xuất cải tổ của ông. Tương tự, ở Indonesia khi mà những người cộng sản cho rằng vấn đề ở chỗ cần phải cải tổ chính phủ còn quân đội Indonesia lại thấy vấn đề ở chính những người cộng sản và đề xuất cải tổ của họ. Trong cả hai ví dụ trên, biến cố không được giải quyết bằng cách tìm kiếm sự đồng thuận cuối cùng ở cấp độ nhà nước hay bởi một bên thắng thế vũ trang mà bằng cách tha mạng và ban một số quyền lợi cho phe thất bại. (Shogun Tokugawa cuối cùng của Nhật Bản được chấp thuận an trí sau khi bị đánh bại và vị này sống qua thời Minh Trị Duy Tân đến 34 năm.) Ở Chile và Indonesia, khủng hoảng lại được bên thắng lợi giải quyết bằng cách triệt tiêu hầu hết phe chiến bại.
Cả Úc và Đức sau Thế chiến II đều là minh họa rõ nét của việc phủ nhận lâu dài về một biến cố đang diễn ra. Úc cứ giữ mãi các đặc tính của người Anh và người Úc da trắng. Đức, trong một thời gian dài, đã phủ nhận rộng rãi trách nhiệm của nhiều người Đức bình thường đối với những tội ác của Đức Quốc xã, và sự thật bất biến khó chịu về việc mất nhiều vùng lãnh thổ cùng sự hiện diện của các chính phủ cộng sản Đông Âu. Những vấn đề đó ở cả Úc và Đức đã được giải quyết bởi các cử tri một cách nhẫn nại nhưng dân chủ, đạt đủ sự đồng thuận quốc gia để thay đổi các chính sách của chính phủ. Cuối cùng, vào thời điểm tôi viết những trang này, cả Nhật Bản và Mỹ đều đang phủ nhận có chọn lọc các vấn đề lớn. Nhật Bản hiện thừa nhận một số vấn đề (nợ công lớn và dân số già), nhưng không hoàn toàn thừa nhận vấn đề về vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Mặt khác, Nhật Bản vẫn bác bỏ các vấn đề tồn đọng: thiếu phương án được chấp nhận đối với nhập cư để giải quyết khó khăn về nhân khẩu; các nguyên do lịch sử về mối quan hệ căng thẳng giữa Nhật Bản với Trung Hoa, Hàn Quốc; và bác bỏ chính sách truyền thống của Nhật Bản trong việc săn tìm và chiếm hữu các nguồn tài nguyên hải ngoại hơn là giúp các nước sở tại quản lý chúng bền vững nay đã lỗi thời. Mỹ, vào thời điểm tôi viết những dòng này, vẫn đang phủ nhận rộng rãi các vấn đề lớn của họ: phân cực chính trị, tỉ lệ cử tri thấp, trở ngại trong việc đăng ký cử tri, bất bình đẳng, hạn chế trong dịch chuyển kinh tế-xã hội và sự cắt giảm đầu tư từ chính phủ vào hàng hóa công.
2. NHẬN TRÁCH NHIỆM; TRÁNH BIẾN MÌNH THÀNH NẠN NHÂN, TỰ THƯƠNG THÂN VÀ ĐỔ LỖI
Bước tiếp theo để giải quyết các biến cố cá nhân, sau bước nhận diện biến cố, là nhận trách nhiệm cá nhân ‒ chẳng hạn, tránh đẫm mình trong sự tự thương thân hoặc quá tập trung vào việc mình là nạn nhân, và thay vào đó là nhận thấy những điều cần cho sự thay đổi bản thân. Điều này cũng đúng với quốc gia như đúng với cá nhân, dù có những sự phức tạp chúng ta vừa thảo luận về sự thừa nhận biến cố quốc gia: rằng nhận trách nhiệm, tránh tự thương thân không hề đơn giản chỉ là “Có” hoặc “Không,” và một đất nước thì bao gồm các nhóm khác nhau, các lãnh đạo cùng những người ủng hộ mà những người này thường khác biệt về góc nhìn.
Bảy quốc gia được bàn ở đây là các minh chứng khác nhau cho việc thừa nhận hay chối bỏ trách nhiệm. Phần Lan và Nhật Bản thời Minh Trị thể hiện việc tránh tự thương thân. Kể từ năm 1944 trở đi, Phần Lan có thể bị tê liệt bởi tự thương thân, xoáy sâu vào vai trò là nạn nhân của Phần Lan và quy cho Liên Xô đã xâm lược và giết hại vô số người Phần Lan. Thay vào đó, Phần Lan hiểu rằng Liên Xô mới là vấn đề họ cần xử lý. Phần Lan ngay lập tức chuyển trạng thái sang các cuộc thảo luận chính trị với Liên Xô và giành lại sự tự tin cho mình cùng nhiều những lợi ích khác: Liên Xô rút khỏi căn cứ hải quân của họ ở Porkkala gần thủ đô Helsinki, giảm quân số và tăng thêm thời gian bồi thường chiến tranh cho Phần Lan và bỏ qua việc Phần Lan liên kết với Cộng đồng Kinh tế chung châu Âu cũng như tham gia Hiệp hội Tự do thương mại châu Âu. Thậm chí cho đến tận hôm nay, rất lâu sau sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết, Phần Lan cũng không cần đòi lại tỉnh Karelia. Tương tự là Nhật Bản thời Minh Trị phải chịu sự đe dọa và gánh các hiệp ước bất công hàng thập niên từ phương Tây. Nhưng Nhật Bản không coi mình là nạn nhân, thay vào đó, họ tập trung vào trách nhiệm phải trở nên mạnh mẽ để đủ sức đương đầu.
Một ví dụ ngược lại về một đất nước đổ trách nhiệm lên nước khác thay vì nhận về mình là việc Úc trách Anh “phản bội” vì sự sụp đổ ở Singapore, thay vì chấp nhận rằng trước đó Úc đã thất bại trong việc tự phòng vệ trước khi Thế chiến II nổ ra. Cũng như vậy, ngay buổi đầu Úc đã đổ cho Liên hiệp Anh là phản bội vì xin làm thành viên Cộng đồng Kinh tế châu Âu, trước khi Úc đau đớn nhận ra rằng Liên hiệp Anh cần phải mưu cầu lợi ích của chính mình. Việc đổ lỗi đó có thể đã làm chậm bước tiến của Úc trong việc thắt chặt quan hệ kinh tế và chính trị với các nước châu Á.
Đức mang đến một ví dụ khác về sự chối bỏ trách nhiệm cực đoan và tai hại sau Thế chiến I. Một bộ phận lớn dân chúng Đức chấp nhận luận điệu dối trá của Đức Quốc xã và nhiều người Đức khác rằng nước Đức thua trận vì “bị đâm sau lưng” bởi những người Đức theo chủ nghĩa xã hội, thay vì nước Đức bị đánh bại về mặt quân sự bởi sự áp đảo lực lượng từ phe Đồng minh. Đức Quốc xã và những người Đức khác chỉ tập trung vào các điều khoản bất công thô thiển của Hiệp ước Versailles. Họ không thừa nhận một loạt những sai lầm chính trị trước chiến tranh của Hoàng đế Wilhelm II và chính phủ của ông ta, dẫn đến việc nước Đức tham chiến với tình trạng quân sự tệ hại và sau đó là thảm họa Đức bị đánh bại, cuối cùng là bị buộc phải ký Hiệp ước Versailles. Kết quả là những người Đức chối bỏ trách nhiệm của mình, khoác lấy cái vỏ bọc nạn nhân, tự thương thân và Đức Quốc xã ủng hộ điều này, dẫn đến một kết quả còn thảm khốc hơn dành cho Đức ở Thế chiến II.
Một ví dụ rõ ràng nhất cho sự tương phản trong việc nhận trách nhiệm là từ Nhật và Đức sau Thế chiến II. Chính phủ hai nước này phải hoàn toàn chịu trách nhiệm cho việc chính họ khơi mào cuộc chiến; không giống như Đức trước đó ở Thế chiến I, khi mà các đối thủ của họ cũng góp phần thúc đẩy chiến tranh. Trong suốt Thế chiến II cả Đức và Nhật đều gây những tội ác kinh hoàng cho dân tộc đối phương, và chính người Nhật lẫn người Đức lần lượt gánh chịu những tội ác kinh hoàng đó ở chiều ngược lại. Tuy vậy, cách mà người Đức và người Nhật tiếp cận sự thật đó lại không giống nhau. Phản ứng của người Đức có thể bị chi phối bởi sự tự thương thân như kiểu là nạn nhân bởi hàng triệu người Đức mất mạng trong suốt cuộc chiến (bao gồm cả những người Đức chết do bom của phe Đồng minh ném xuống các thành phố Đức – đây có thể bị quy là tội ác chiến tranh nếu phe Đồng minh thất bại); bởi cả triệu phụ nữ Đức bị cưỡng hiếp khi Liên Xô tiến công từ phía Đông; và cho tổn thất lớn về lãnh thổ của Đức sau cuộc chiến. Thay vào đó, ở Đức người ta thừa nhận một cách rộng rãi về tội ác của Đức Quốc xã, họ dạy con cháu họ biết về những tội ác này và về trách nhiệm của người Đức, về việc xây dựng những mối quan hệ tốt hơn với Ba Lan và các nước từng là nạn nhân của Đức trong chiến tranh. Ngược lại, phần lớn Nhật Bản tiếp tục chối bỏ trách nhiệm của họ trong việc khơi mào cuộc chiến; từ góc nhìn của đa số người Nhật, người Mỹ bằng cách nào đó đã lừa họ đánh bom Trân Châu Cảng và từ đó khởi nguồn chiến sự. Người Nhật lờ đi sự thật là từ bốn năm trước đó họ đã bắt đầu đơn phương tiến hành chiến tranh với Trung Quốc. Nhật Bản cũng liên tục chối bỏ trách nhiệm về tội ác của người Nhật đối với thường dân Trung Quốc và Hàn Quốc cũng như với các tù binh phe Đồng minh. Thay vào đó, Nhật Bản lại tập trung vào sự tự thương thân, vào vai trò là nạn nhân của bom nguyên tử, họ không dám thảo luận một cách thẳng thắn về những điều tồi tệ họ có thể gây ra nếu không bị ném hai quả bom nguyên tử ấy. Việc ngoan cố không thừa nhận, tự biến thành nạn nhân, tự thương thân tiếp tục hủy hoại các mối giao hảo của Nhật Bản với hai người hàng xóm lớn mạnh Trung Quốc và Hàn Quốc, từ đó đặt ra mối nguy lớn cho Nhật.
3. DỰNG HÀNG RÀO/THAY ĐỔI CÓ CHỌN LỌC
Cả sáu quốc gia tôi thảo luận từ Chương 2 đến Chương 7 ứng phó với biến cố của họ đều chọn cách thay đổi. Hai quốc gia mà tôi đề cập có sự thay đổi đang diễn ra (Nhật Bản và Mỹ) thì đang trên đường làm điều ấy, có thể nhận thấy ở Nhật Bản rõ hơn so với Mỹ. Tất cả các quốc gia ấy đều đã thay đổi hoặc đang thảo luận để thay đổi; thay đổi ở một số chính sách cụ thể chứ không phải toàn bộ các chính sách quốc gia. Đặc biệt mang tính học hỏi cho sự đối lập giữa điều gì cần thay đổi, điều gì không nằm ở trường hợp của Nhật Bản và Phần Lan. Nhật Bản thời Minh Trị đã Tây phương hóa rất nhiều lĩnh vực, từ chính trị, pháp luật đến xã hội, văn hóa và nhiều mặt khác nữa. Nhưng, ở mỗi thời kỳ, Nhật Bản không mù quáng sao chép phương Tây mà thay vào đó họ tìm hình mẫu phù hợp nhất trong vô số những hình thái xã hội Tây phương có sẵn, thay đổi mô hình đó cho phù hợp với hoàn cảnh nước Nhật đương thời. Đồng thời, những diện mạo cơ bản của xã hội Nhật Bản vẫn được bảo lưu như sự sùng kính Nhật hoàng, chữ kanji và các yếu tố văn hóa khác của người Nhật. Tương tự vậy, Phần Lan đổi mới bằng việc liên tục thực hiện các cuộc đối thoại với Liên Xô, chấp nhận đánh đổi một số hoạt động tự do, và chuyển dịch dần từ một nước thuần nông thành một quốc gia công nghiệp hiện đại. Đồng thời, Phần Lan vẫn giữ nguyên sự tự do dân chủ ở nhiều mặt và duy trì hoạt động tự do hơn hẳn so với nhiều quốc gia làng giềng thuộc Liên bang Xô Viết trước đây (nay là Cộng hòa Liên bang Nga). Hệ quả có vẻ như không rõ ràng nhất quán trong hành xử của người Phần Lan gặp phải sự phê phán nặng nề từ những người không phải dân Phần Lan, những người không hề nhận thấy thực tế tàn nhẫn từ vị trí địa lý của quốc gia này.
4. SỰ TRỢ GIÚP TỪ CÁC QUỐC GIA KHÁC
Sự giúp đỡ từ bên ngoài, điều quan trọng trong biến cố cá nhân, vừa đóng vai trò tích cực và cả tiêu cực trong việc giải quyết hầu hết các biến cố quốc gia mà chúng ta đã thảo luận. Phương Tây giúp đỡ Nhật Bản rất nhiều mặt, từ việc gửi những cố vấn đến Nhật và tiếp nhận những đặc phái viên người Nhật thực hiện nhiệm vụ quốc tế, cho đến đóng những tuần dương hạm, những điều thực sự quan trọng đối với Nhật Bản thời Minh Trị trong quá trình Tây phương hóa có chọn lọc. Sự hỗ trợ kinh tế từ Mỹ là trọng yếu đối với chính quyền quân sự Chile và Indonesia, giúp họ củng cố kinh tế đất nước sau các cuộc chính biến lần lượt vào các năm 1973 (Chile) và 1965 (Indonesia), sự hỗ trợ này cũng giúp Nhật và Đức tái thiết từ sự đổ nát phải hứng chịu trong Thế chiến II. Úc, trước tiên tìm đến Anh, sau là Mỹ để nhận được sự bảo hộ về quân sự. Ở mặt tiêu cực, Mỹ đã gây bất ổn cho chính quyền của Allende ở Chile bằng việc ngừng viện trợ và xây rào đối với kinh tế Chile; Anh và Pháp thay nhau bòn rút Cộng hòa Weimar13 sau Thế chiến I từ các khoản bồi thường chiến tranh. Với Úc, những cú sốc của việc người Anh thất bại trong bảo hộ quân sự cho họ sau khi Singapore thất thủ, và việc Anh rút lại sự ưu đãi thuế quan dành cho Úc như là hệ quả của các thương thảo giữa Anh và Liên minh Châu Âu, đã góp phần trong việc Úc phải tự tìm lại căn tính quốc gia.
Ví dụ nổi bật nhất cho việc thiếu sự hỗ trợ từ bạn bè là tình cảnh của Phần Lan trong Cuộc chiến Mùa đông chống lại Liên Xô, khi mà tất cả các đồng minh khả dĩ của Phần Lan không thể hoặc từ chối mang lại các hi vọng trợ giúp quân sự cho quốc gia này. Sự thật tàn nhẫn đó đã trở thành nền tảng cho chính sách đối ngoại hậu 1945 của Phần Lan. Họ nhận ra rằng họ không thể trông đợi sự giúp đỡ trong trường hợp có xung đột mới với Liên Xô, thay vào đó phải tự phát triển quan hệ hợp tác nhưng vẫn độc lập nhất có thể với Liên Xô.
5. HỌC THEO HÌNH MẪU CỦA CÁC QUỐC GIA KHÁC
Những hình mẫu như vậy thường rất giá trị trong việc xử lý biến cố riêng lẻ, chúng cũng đóng vai trò to lớn, cả tích cực lẫn tiêu cực, với hầu hết các quốc gia. Vay mượn và điều chỉnh các hình mẫu phương Tây đặc biệt quan trọng cho sự đổi mới của Nhật Bản thời Minh Trị, và với một chừng mực ít hơn, sau Thế chiến II, Nhật Bản lại vay mượn có điều chỉnh (hoặc buộc phải như vậy) một số mô hình chính quyền dân chủ Mỹ. Chế độ quân sự độc tài ở Chile và Indonesia mượn mô hình kinh tế thị trường tự do của Mỹ (hoặc họ hình dung là kiểu Mỹ). Úc, trong hầu hết tiến trình lịch sử cho đến trước Thế chiến II, dựa theo hình mẫu Anh một cách nặng nề, sau đó ngày càng cự tuyệt họ.
Ngược lại, các quốc gia này cũng cung cấp hai ví dụ về việc thiếu hình mẫu thực tế hoặc cho rằng thiếu các hình mẫu này. Đối với Phần Lan, thực tế là không có một hình mẫu nào khác từ các nước láng giềng với Liên Xô thành công trong việc đáp ứng các yêu cầu của Liên Xô mà vẫn giữ vững độc lập của mình; đây chính là tinh túy của chính sách “Phần Lan hóa.” Người Phần Lan nhận thấy trường hợp độc nhất của họ là cơ sở cho câu nói của Tổng thống Kekkonen “Thuật ngữ Phần Lan hóa không phải để xuất khẩu.” Một ví dụ về sự cho rằng không có các hình mẫu chính là Mỹ ngày nay. Người Mỹ tin rằng tính ngoại lệ Mỹ tạo nên niềm tin đại chúng rằng Mỹ không phải học gì từ Canada hay các quốc gia dân chủ Tây Âu; không, kể cả giải pháp của họ cho các vấn đề mà quốc gia nào cũng gặp phải như chăm sóc y tế, giáo dục, nhập cư, tù nhân và an sinh tuổi già. Các vấn đề này lại là nguyên nhân khiến hầu hết người dân Mỹ không hài lòng với các giải pháp chính phủ đưa ra nhưng người ta vẫn cự tuyệt không chịu học giải pháp từ Canada hay từ các quốc gia Tây Âu.
6. CĂN TÍNH QUỐC GIA
Trong số hàng tá dự đoán kết quả cho các biến cố cá nhân, một số có thể chuyển thành dự đoán các biến cố quốc gia. Một điều không dễ truyền tải là đặc điểm cá nhân “sức mạnh bản ngã,” như một phép ẩn dụ để gợi ý một đặc điểm quốc gia liên quan: ý thức về căn tính quốc gia.
Căn tính quốc gia là gì? Đấy là niềm từ hào chung về những điều đáng trân trọng giúp định hình một quốc gia và biến nó thành độc nhất. Căn tính quốc gia thường được cấu thành bởi ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử và thành tựu vũ trang. Tuy vậy, mỗi quốc gia lại đặt riêng cho mình những giá trị khác nhau. Tỉ như cả Phần Lan và Nhật Bản, họ rất đỗi tự hào bởi mỗi quốc gia đều dùng thứ ngôn ngữ độc bản không nơi nào khác sử dụng được. Trong khi, với người Chile, họ tuy sử dụng thứ ngôn ngữ hầu như được dùng khắp Trung và Nam Mỹ nhưng lại ngược dòng biến nó thành căn tính độc đáo: “Người Chile chúng tôi khác biệt với những dân tộc nói tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ Latin ở sự ổn định chính trị và truyền thống dân chủ. Chúng tôi giống người Âu hơn là người Mỹ Latin!” Với một số quốc gia, thành tựu vũ trang lại góp phần quan trọng trong định hình bản sắc: Phần Lan với Cuộc chiến Mùa đông, Úc với Chiến dịch Gallipoli, Mỹ với Thế chiến II và Anh với hai thành tựu tiêu biểu là Thế chiến II và Chiến tranh Falkland. Với một số quốc gia khác, căn tính quốc gia và niềm tự hào dân tộc lại thể hiện ở văn hóa; như Ý với sự vượt trội ở mỹ thuật thời Phục hưng và hiện nay là ẩm thực và thời trang, Anh với văn học, và Đức với âm nhạc. Thể thao lại là niềm tự hào của nhiều quốc gia khác. Anh và Ý luôn tự hào nhớ về lịch sử huy hoàng cũng như tầm quan trọng của họ trên bình diện thế giới, đối với Ý chính là hồi ức về Đế chế La Mã hơn 2.000 năm trước đây.
Sáu trong số bảy quốc gia này luôn thể hiện niềm tự hào to lớn về căn tính quốc gia của họ và ngoại lệ duy nhất là Indonesia, với căn tính khá nhạt nhòa. Đây chẳng phải là sự phê phán đối với người Indonesia mà chỉ phản ánh một sự hiển nhiên rằng Indonesia chưa phải là một quốc gia độc lập mãi cho đến năm 1949 hay thậm chí chưa từng là một thuộc địa hợp nhất trước năm 1910. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi Indonesia đã trải qua nhiều cuộc cách mạng và những vận động ly khai. Tuy nhiên, thời gian gần đây, căn tính quốc gia của người Indonesia đang trỗi dậy nhanh chóng, được thúc đẩy bởi sự hợp nhất ngôn ngữ Indonesia và bởi sự phát triển dân chủ, nâng cao vai trò của công dân.
Căn tính quốc gia luôn là yếu tố quan trọng góp phần xử lý khủng hoảng ở các nước có lịch sử lâu đời. Ý thức về căn tính quốc gia giúp gắn kết người Phần Lan cũng như người Nhật thời Minh Trị, cho họ dũng khí cần có để kháng cự các mối đe dọa từ ngoại cường, làm động lực để họ vượt trên sự thiếu thốn hay những nỗi nhục quốc thể, và dám hi sinh bản thân cho lợi ích quốc gia. Nhiều người Phần Lan thậm chí còn quyên tặng cả nhẫn đính hôn bằng vàng của mình giúp đất nước bồi thường chiến phí cho Liên Xô. Căn tính quốc gia giúp Đức và Nhật Bản hậu 1945 vượt qua được tổn thất quân sự nặng nề cũng như sự chiếm đóng về sau. Với Úc, căn tính quốc gia giúp người Úc tập trung nhìn nhận lại cũng như thay đổi có chọn lọc xoay quanh câu hỏi: chúng ta là ai? Nhận thức về căn tính quốc gia cũng giúp phe cánh tả Chile cư xử chừng mực hơn khi họ khôi phục được quyền lực sau thất bại của cựu độc tài Pinochet. Mặc dù với nỗi lo về sự giải giáp quân sự, phe cánh tả Chile trong khi không ưa gì những người ủng hộ Pinochet vẫn chấp nhận chính sách hòa giải để xây dựng “một Chile cho mọi người Chile,” gồm cả cánh hữu thân Pinochet và cánh tả thân Allende. Có được điều này, với Chile, là cả một thành tựu lớn lao. Ngược lại, ngày nay trên khắp nước Mỹ chúng ta thường chỉ nghe nhiều về căn tính nhóm lẻ hơn là căn tính quốc gia đại chúng.
Chính quyền và người dân các nước thường xuyên tìm cách củng cố căn tính quốc gia bằng cách kể lại lịch sử với thiên hướng giúp nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc. Việc thuật lại lịch sử như vậy đã tạo nên những “huyền thoại.” Tôi không dùng chữ “huyền thoại” với ý tiêu cực là “một lời nói dối” mà dùng với sự trung tính mang ý nghĩa “một truyện kể lưu truyền dựa trên dữ kiện lịch sử để giải thích một số hiện tượng hoặc để cổ xúy một lý tưởng nào đó.” Trên thực tế, các huyền thoại dân tộc được kể đi kể lại để phục vụ cho mục đích chính trị bao gồm tất cả từ những lời kể thật đến những điều dối trá.
Ở một thái cực là các câu chuyện hoàn toàn chính xác, tập trung vào những biến cố quan trọng ở thời điểm đó nhưng việc thuật lại vẫn là phục vụ cho mục đích chính trị. Có thể xét một số ví dụ như Anh và Phần Lan nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc bằng những câu chuyện lịch sử, người Anh chỉ tập trung vào trận Không chiến mùa hè 1940, còn người Phần Lan thì chỉ chú trọng kể lại những gì diễn ra ở Cuộc chiến Mùa đông tháng 12 năm 1939 – tháng 4 năm 1940. Đúng là người ta có thể lập luận rằng đó là những kết quả khả dĩ nhất của những gì đã diễn ra ở Anh và Phần Lan vào thời điểm đó, và ngày nay những sự kiện này vẫn được kể đi kể lại để phục vụ mục tiêu chính trị.
Ở mức độ trung gian là câu chuyện trong quá khứ đúng như những gì nó đã diễn ra nhưng chỉ tập trung vào duy nhất một sự kiện trong vô số những gì diễn ra ở thời điểm đó, do đó cũng bỏ sót đi nhiều điều quan trọng khác. Chẳng hạn, lịch sử Mỹ đầu thế kỷ 19 chỉ nhấn mạnh đến các cuộc thám hiểm xuyên lục địa của Lewis và Clark cùng các thời kỳ khai phá, chinh phục của người da trắng châu Âu nhưng lại lờ đi sự tàn sát và chiếm đất người Mỹ bản địa cũng như nô lệ hóa người Mỹ gốc Phi; hay như lịch sử giành độc lập của Indonesia chỉ kể về những trận chiến chống Hà Lan của Cộng hòa Indonesia mà lại không đề cập gì đến chính số đông những nhóm người Indonesia chống lại chế độ cộng hòa; hoặc lịch sử đầu thế kỷ 20 của Úc chỉ kể về trận Gallipoli mà bỏ qua việc giết chóc, chiếm đất dân Úc bản địa.
Ở thái cực đối lập là những sự kiện trong quá khứ dựa hoàn toàn vào những điều dối trá. Điển hình là người Đức đổ lỗi thất bại của họ ở Thế chiến I vì sự phản bội của thường dân Đức; hay người Nhật giảm thiểu hoặc chối bỏ sự kiện Thảm sát Nam Kinh.
Các nhà sử học tranh luận rằng liệu kiến thức chính xác về quá khứ có khả thi hay không, liệu lịch sử có nhất thiết phải phụ thuộc vào những kiến giải được lòng số đông hay không và liệu tất cả những kiến giải với góc nhìn khác có đáng được nhìn nhận với tầm quan trọng như nhau không. Dù câu trả lời cho những câu hỏi đó là gì đi nữa thì sự thật bất biến là nhờ các huyền thoại mà căn tính quốc gia được củng cố để phục vụ cho chính trị, là quốc gia thì luôn cần căn tính quốc gia, và căn tính quốc gia luôn được hỗ trợ từ những huyền thoại biến tấu dựa trên cơ sở lịch sử.
7. ĐÁNH GIÁ BẢN THÂN MỘT CÁCH TRUNG THỰC
Một người ngoài hành tinh trí tuệ nhưng chưa hề biết gì về con người hoặc xã hội chúng ta nếu đến thăm Trái đất có thể sẽ ngây thơ nhận định rằng dù nguyên nhân thất bại trong việc xử lý biến cố cá nhân hay biến cố quốc gia là gì đi nữa, thì việc thiếu đi sự tự đánh giá một cách trung thực sẽ không nằm trong số đó. Tại sao, người khách lý trí ngoài không gian kia có thể sẽ lý luận, cá nhân hoặc quốc gia đó lại tự hủy hoại mình bằng cách chọn không trung thực với chính nó?
Trên thực tế, sự tự đánh giá trung thực cần trải qua hai bước. Đầu tiên, cá nhân hay quốc gia đó nhất định phải có kiến thức chính xác. Nhưng điều này có vẻ như khó đạt được vì thất bại trong việc xử lý khủng hoảng đôi khi vì thiếu hụt thông tin thay vì là thiếu trung thực về mặt đạo đức. Bước thứ hai là phải đánh giá những kiến thức đó một cách trung thực. Nhưng than ôi, bất kỳ ai đã quen với con người hay quốc gia đều hiểu rằng tự dối lòng lại là một vấn đề thường thấy ở loài người.
Các trường hợp dễ hiểu nhất về việc tự đánh giá trung thực quốc gia, hoặc thiếu đi sự đánh giá này, liên quan đến các lãnh đạo kiên quyết hoặc các lãnh đạo độc tài. Trong những trường hợp đó, các quốc gia có hoặc không thực hiện đánh giá trung thực, chừng nào các lãnh đạo của họ có thực hiện hay không. Các trường hợp nổi tiếng thế giới là sự tương phản giữa các nhà lãnh đạo Đức hiện đại. Bismarck, một nhà hiện thực xuất chúng, đã thành công với mục tiêu khó khăn là thống nhất nước Đức. Hoàng đế Wihelm II, vị hoàng đế phi lý với cảm xúc bất ổn, tự cô lập Đức một cách không cần thiết và ngớ ngẩn lao vào Thế chiến I, nơi mà Đức thất bại nặng nề. Hitler, khôn ngoan hơn và cũng tàn ác hơn nhiều, lại tự phá đi những thành tựu ban đầu của mình bằng chủ nghĩa phi thực tế khi tấn công Liên Xô đồng thời tuyên chiến với Mỹ một cách vô ích trong lúc đang có chiến tranh với Anh và chính Liên Xô. Gần đây, Đức đã may mắn được dẫn dắt trong vài năm bởi một người thực tế khác, Willy Brandt, người đã can đảm nhận ra sự cần thiết của một chính sách đau đớn nhưng trung thực ở Đông Âu (công nhận Đông Đức và việc mất các lãnh thổ Đức xa hơn Đông Đức), từ đó đạt được các điều kiện tiên quyết cho sự thống nhất nước Đức 20 năm sau.
Ít được biết đến ở phương Tây, nhưng cũng không kém phần nổi bật như một sự tương phản giữa các nhà lãnh đạo nối tiếp, là trường hợp của Indonesia. Tổng thống khai quốc, Sukarno, tự lừa dối bản thân rằng ông có khả năng thấu hiểu ngay cả những mong muốn vô thức của người dân Indonesia. Trong khi bỏ bê các vấn đề của Indonesia, Sukarno hăng say tham gia vào phong trào chống thực dân trên thế giới, và đã ra lệnh cho quân đội Indonesia cố gắng giành quyền kiểm soát đảo Borneo, đi ngược lại mong muốn của người dân và mặc cho sự hoài nghi của các sĩ quan trong quân đội của chính ông. Không may cho Sukarno, tướng quân đội Suharto, người trở thành tổng thống thứ hai của Indonesia, là một nhà hiện thực xuất chúng (trừ giai đoạn cuối sự nghiệp chính trị của ông) với phong cách tiến hành thận trọng và chỉ hành động khi tự tin có thể thành công. Bằng cách đó, Suharto dần thành công trong việc đẩy Sukarno sang một bên, bỏ mặc những kỳ vọng về thế giới và về chiến dịch Borneo của Sukarno, thay vào đó tập trung vào các vấn đề của Indonesia (mặc dù thường theo những cách xấu xa).
Ba trường hợp tiếp theo liên quan đến các quốc gia không bị chi phối bởi một nhà lãnh đạo uy quyền, nhưng đã đạt được sự đồng thuận quốc gia dựa trên sự tự đánh giá trung thực. Nhật Bản thời Minh Trị đã phải đối mặt với sự thật đau lòng rằng những kẻ ngoại bang phương Tây đáng ghét mạnh hơn và Nhật Bản chỉ có thể có được sức mạnh bằng cách học hỏi từ phương Tây. Nhật Bản thời Minh Trị sau đó có được hiểu biết chính xác về phương Tây bằng cách gửi nhiều quan chức chính phủ và công dân Nhật Bản sang châu Âu và Mỹ. Ngược lại, thảm họa của Nhật Bản ở Thế chiến II xảy ra một phần vì các sĩ quan quân đội Nhật Bản trẻ tuổi, mạnh mẽ trong những năm 1930 nhưng thiếu kiến thức thực tế về phương Tây và sức mạnh của họ. Tương tự, người Phần Lan đã đối mặt với thực tế đau lòng rằng Phần Lan sẽ tiếp tục không nhận được sự hỗ trợ nào từ các đồng minh tiềm năng, và chính sách của Phần Lan đối với Liên Xô thay vào đó phải phụ thuộc vào việc Phần Lan tranh thủ sự tin tưởng từ Liên Xô và hiểu quan điểm của Liên Xô. Cuối cùng, Úc đã đạt được sự đồng thuận quốc gia bằng cách đối mặt với thực tế rằng tầm quan trọng về kinh tế và quân sự trước đây của Anh đối với Úc đã phai nhạt, rằng châu Á và Mỹ đã trở nên quan trọng hơn. Hai trường hợp cuối cùng của chúng ta liên quan đến việc thiếu tự đánh giá trung thực ở hai quốc gia này hiện nay. Như đã đề cập, Nhật Bản ngày nay đã nhận ra một số vấn đề của mình nhưng hiện lại không thực tế về những vấn đề khác. Mỹ cũng thiếu đi sự tự đánh giá trung thực: đặc biệt là không nhiều công dân và chính trị gia Mỹ coi những vấn đề lớn hiện nay của họ là nghiêm trọng. Nhiều người Mỹ cũng tự dối mình bằng cách đổ lỗi cho các quốc gia khác chứ không phải cho chính họ về các vấn đề hiện tại. Chủ nghĩa hoài nghi về khoa học ngày càng lan rộng ở Mỹ, và đó là một điềm báo rất xấu, bởi vì khoa học về cơ bản chính là sự mô tả và hiểu biết chính xác về thế giới thực.
8. KINH NGHIỆM THỰC TIỄN TỪ CÁC BIẾN CỐ QUỐC GIA TRƯỚC ĐÓ
Sự tự tin có được từ việc vượt qua những biến cố trước đó là một yếu tố quan trọng đối với các cá nhân để ứng phó với một biến cố cá nhân mới. Một nhân tố tương ứng ở cấp quốc gia có ý nghĩa to lớn đối với một vài trong số các quốc gia mà chúng ta xét đến trong cuốn sách này, cũng như cho các quốc gia khác. Một ví dụ là Nhật Bản hiện đại, với sự tự tin bắt nguồn từ thành tựu phi thường của Nhật Bản thời Minh Trị trong việc thay đổi nhanh chóng và hội đủ sức mạnh để chống lại nguy cơ bị phương Tây chia cắt, và cuối cùng đánh bại hai cường quốc phương Tây (Nga năm 1904-1905, và quân Đức thuộc địa năm 1914). Thành công của Nhật Bản thời Minh Trị càng ấn tượng hơn khi người ta suy ngẫm về sự thất bại đồng thời của Đế quốc Trung Hoa lớn hơn nhiều và rõ ràng mạnh hơn nhiều trong việc chống lại áp lực từ phương Tây.
Phần Lan là một trường hợp khác về sự tự tin quốc gia bắt nguồn từ những vinh quang trước đó. Đối với người Phần Lan, niềm tự hào có được từ việc chống lại các cuộc tấn công của Liên Xô trong Thế chiến II là rất quan trọng, đến mức vào năm 2017, nhân kỷ niệm một trăm năm Quốc khánh Phần Lan, họ nhắc về Cuộc chiến Mùa đông cũng nhiều như khi nói về độc lập. Trong số những quốc gia không là trọng tâm của cuốn sách này, một ví dụ nữa là Liên hiệp Anh; họ có một lịch sử vinh quang khi cuối cùng đã đánh bại Hitler trong Thế chiến II với Mỹ và Liên Xô là đồng minh; thậm chí còn hơn thế nữa, họ đơn độc chống Hitler từ khi Pháp thất thủ vào tháng 6 năm 1940 cho đến khi Hitler xâm chiếm Liên Xô tháng 6 năm 1941; và đặc biệt là từ trận Không chiến trên đất Anh, khi mà không quân Anh (RAF) đã đánh bại không quân Đức (Luftwaffe) trong các trận không chiến trên bầu trời Anh vào nửa cuối năm 1940, qua đó ngăn chặn kế hoạch xâm lược Anh của Đức. Trước bất kỳ khó khăn nào mà Anh phải đối mặt kể từ năm 1945 đến nay, người Anh thường tự nhắc mình: không có gì khó khăn hơn trận Không chiến trên đất Anh, chúng ta đã thành công lúc đó vậy thì chúng ta cũng sẽ thành công chống lại bất kỳ điều gì về sau.
Vinh quang trong quá khứ cũng góp phần vào sự tự tin của người Mỹ. Những vinh quang mà chúng tôi luôn nhìn lại bao gồm thành quả của cuộc Cách mạng Mỹ; việc mua lại, thám hiểm và chinh phục toàn bộ chiều rộng lục địa Bắc Mỹ; giữ được Hợp chúng quốc sau khi kinh qua cuộc nội chiến dai dẳng, đây vẫn là cuộc chiến đẫm máu nhất với thương vong cao nhất trong lịch sử Mỹ; và thắng lợi quân sự của Mỹ cùng lúc trước Đức và Nhật Bản trong Thế chiến II.
Cuối cùng, Indonesia, quốc gia non trẻ nhất được thảo luận trong cuốn sách này, tuy bề dày lịch sử về xử lý khủng hoảng thành công để có được sự tự tin chưa nhiều, nhưng như tôi đã thấy trưng bày tại tiền sảnh của một khách sạn tôi từng lưu trú năm 1979 ở Indonesia, người Indonesia vẫn kể lại thành công của cuộc đấu tranh giành độc lập của họ với người Hà Lan vào những năm 1945-1949 và việc họ tiếp quản New Guinea thuộc Hà Lan vào năm 1961. Những thành công đó đóng vai trò to lớn trong sự tự tin quốc gia của Indonesia.
9. KIÊN NHẪN VỚI THẤT BẠI QUỐC GIA
Khó khăn hơn các vấn đề riêng lẻ, các vấn đề quốc gia không phù hợp với các giải pháp nóng vội hoặc có được thành công ngay lần thử đầu tiên khi giải quyết chúng. Dù các vấn đề ở cấp độ quốc gia hay cá nhân thì các biến cố thường có xu hướng phức tạp, đòi hỏi phải thử một loạt các giải pháp khả thi trước khi tìm được giải pháp hiệu quả, do đó cần có sự kiên nhẫn, chịu được thất vọng, mơ hồ và thất bại. Thế nên, giả sử khi các quyết định quốc gia được đưa ra chỉ bởi một nhà độc tài tuyệt đối duy nhất, chúng vẫn sẽ đòi hỏi sự kiên nhẫn.
Hầu hết các quyết định quốc gia thay vào đó liên quan đến các cuộc đàm phán giữa các nhóm lợi ích khác nhau. Vì vậy, giải quyết khủng hoảng quốc gia đòi hỏi sự kiên nhẫn, thật nhiều kiên nhẫn. Hầu hết các quốc gia mà chúng ta đã thảo luận đều đã tôi luyện lòng kiên nhẫn bằng kinh nghiệm từ vấp ngã và thất bại. Điều đó đặc biệt đúng với Nhật Bản thời Minh Trị, Đức, Phần Lan và Nhật Bản hiện đại. Phải mất hơn 50 năm kể từ chuyến thăm bất ngờ của Phó đề đốc Perry năm 1853 chấm dứt tình trạng bế quan của Nhật thì Nhật Bản mới có thể chiến đấu và giành chiến thắng trong cuộc chiến đầu tiên chống lại một cường quốc phương Tây. Phải mất 45 năm, sau khi chính thức chia cắt trên thực tế vào năm 1945, để Đức đạt được sự thống nhất. Trong nhiều thập niên sau khi kết thúc Cuộc chiến Tiếp diễn chống lại Liên Xô vào năm 1944, Phần Lan liên tục đánh giá lại chính sách đối với Liên Xô để tìm ra những áp lực từ Liên Xô mà họ có thể từ chối nhưng không ảnh hưởng đến đại cục, và những hành động độc lập mà họ có thể áp dụng một cách an toàn nhưng không kích động một cuộc xâm lược khác của Liên Xô. Nhật Bản, kể từ Thế chiến II, đã phải sống sót qua sự chiếm đóng của Mỹ, hàng thập niên tái thiết kinh tế và vật chất, các vấn đề kinh tế và xã hội kinh niên cùng các thảm họa tự nhiên như động đất, bão hay sóng thần. Cả bốn quốc gia đó (Nhật Bản được tính hai lần) đều trải qua sự thất vọng nhưng vẫn tỉnh táo tránh được cạm bẫy của việc hành động vội vàng và dại dột. Sự kiên nhẫn được chứng minh là điều cần thiết để gặt hái thành quả.
Ngoại lệ cho những câu chuyện về sự kiên nhẫn này là nước Mỹ hiện đại. Tất nhiên, người ta có thể phản đối: người Mỹ thực sự đã chịu đựng thất bại ban đầu, đã thể hiện sự kiên nhẫn, và kiên trì vượt qua nhiều lần thoái trào trong lịch sử: đáng chú ý là trong suốt bốn năm Nội chiến (1861-1865), hàng chục năm Đại Suy thoái và bốn năm Thế chiến II. Nhưng Mỹ không được tôi luyện qua thất bại đắng cay hay bị chiếm đóng như Đức, Nhật Bản, Pháp và nhiều quốc gia khác. Mặc dù chiến thắng trong cả bốn cuộc chiến ngoài lãnh thổ Mỹ, từ Chiến tranh Mexico năm 1846, 1848 đến Thế chiến II, nhưng người Mỹ vẫn cảm thấy khó khăn khi phải đối mặt với bế tắc thật sự để chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên, nuốt trôi thất bại trong Chiến tranh Việt Nam, và chịu đựng được bế tắc quân sự kéo dài ở Afghanistan. Trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, Mỹ đã và đang vật lộn với các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị nội tại phức tạp vốn không thể xử lý bằng các giải pháp nóng vội. Thay vào đó, chúng đòi hỏi sự kiên nhẫn và chiết trung mà Mỹ hiện còn thiếu.
10. TÍNH LINH HOẠT QUỐC GIA TÙY HOÀN CẢNH
Các nhà tâm lý học phân tính cách con người thành hai kiểu linh hoạt và cứng nhắc. Sự linh hoạt cá nhân có nghĩa là một người dễ chấp nhận việc xem xét các cách tiếp cận mới khác nhau cho một vấn đề. Sự cứng nhắc cá nhân có nghĩa là người ta cho rằng chỉ có một cách tiếp cận duy nhất cho mọi vấn đề. Sự phân lập đó đã chứng tỏ tầm quan trọng của việc tìm hiểu những khác biệt giữa các cá nhân trong giải quyết thành công các biến cố bằng cách đưa ra những phương pháp mới. Khi mà bất kỳ cá nhân nào cũng có thể linh hoạt ở lĩnh vực này và cứng nhắc ở lĩnh vực khác, các nhà tâm lý học cũng thừa nhận rằng sự linh hoạt hoặc cứng nhắc tỏa trong tính cách của một người, khác nhau giữa các cá nhân, đặc biệt bị chi phối bởi sự nuôi dạy thời thơ ấu và từ những trải nghiệm cá nhân đó trong đời.
Khi chúng ta chuyển từ cá nhân sang quốc gia, tôi không thấy nhiều những ví dụ thuyết phục về sự linh hoạt hay cứng nhắc ở cấp độ quốc gia. Một ví dụ duy nhất tôi biết, đi cùng những lý do dễ hiểu tại sao quốc gia đó lại thành như vậy, là một quốc gia không được thảo luận trong cuốn sách này: Iceland trong quá khứ. Trong những thế kỷ dưới sự cai trị của Đan Mạch, người Iceland thường xuyên làm các viên chức Đan Mạch thất vọng bởi sự cứng nhắc và thái độ thù địch rõ ràng của họ đối với những đề xuất thay đổi. Bất kể những đề xuất canh tân với chủ ý tốt được chính phủ Đan Mạch đưa ra là gì, phản ứng của người Iceland thường là, “Không! Chúng tôi không muốn thử một cái gì đó khác biệt; chúng tôi muốn tiếp tục làm mọi thứ theo cách truyền thống của mình.” Người Iceland từ chối đề xuất của Đan Mạch về việc cải tiến tàu đánh cá, tăng xuất khẩu cá, làm lưới đánh cá tốt hơn, cải thiện sản xuất nông nghiệp ngũ cốc, nâng chất lượng khai mỏ và tăng sản xuất dây thừng.
Sự cứng nhắc quốc gia đó cũng là điều dễ hiểu nếu chúng ta xét đến sự mong manh trong môi trường của Iceland. Iceland nằm ở vĩ độ cao, khí hậu mát và mùa vụ ngắn. Thổ nhưỡng Iceland giòn, nhẹ, cấu thành từ tro núi lửa, dễ bị xói mòn và chậm tái sinh. Thảm thực vật nước này dễ bị bóc trượt do chăn thả gia súc, do xói mòn bởi gió hoặc nước, và chậm phát triển lại sau đó. Trong những thế kỷ đầu khi bị người Viking chiếm đóng, người Iceland đã thử nhiều chiến lược sinh tồn khác nhau nhưng tất cả đều cho kết quả thảm hại cho đến khi cuối cùng họ nghĩ ra được một tập hợp các phương thức nông nghiệp bền vững. Nhưng một khi đã nghĩ ra những phương thức đó rồi, họ không muốn xem xét các thay đổi về sinh kế cũng như các mặt khác của cuộc sống nữa; vì với kinh nghiệm đau thương trước khi nghĩ ra được chiến lược hiệu quả, đối với họ những thử nghiệm khác đều chỉ làm mọi thứ tệ đi.
Có lẽ có những quốc gia khác ngoài Iceland trong quá khứ có thể được mô tả là linh hoạt hoặc cứng nhắc ở nhiều khía cạnh. Nhưng có lẽ sẽ dễ thấy hơn nhiều nếu nhìn nhận rằng sự linh hoạt quốc gia là tùy biến theo hoàn cảnh: một quốc gia có thể linh hoạt trong một số vấn đề này nhưng lại cứng nhắc ở các vấn đề khác. Người Phần Lan đã từ chối thỏa hiệp về việc đất nước của họ bị chiếm đóng nhưng lại cực kỳ linh hoạt trong việc thỏa hiệp với những gì mà các quốc gia khác coi là quyền bất khả xâm phạm của một nền dân chủ – như không cho phép các quốc gia khác thay đổi những quy tắc của một cuộc bầu cử tổng thống ở đất nước mình. Nhật Bản thời Minh Trị từ chối thỏa hiệp về vị thế của Nhật hoàng và tôn giáo truyền thống Nhật Bản nhưng lại cực kỳ linh hoạt trong việc thỏa hiệp về các thể chế chính trị. Úc, trong một thời gian dài, đã từ chối thỏa hiệp về căn tính Anh nhưng đồng thời lại phát triển một xã hội mang tính cá nhân và bình đẳng hơn nhiều so với chính Anh quốc.
Nước Mỹ thì đặt ra những câu hỏi thú vị liên quan đến tính linh hoạt. Người Mỹ có thể được mô tả là linh hoạt, dựa trên ví dụ về việc chuyển nhà thường xuyên, trung bình cứ năm năm một lần. Lịch sử chính trị Mỹ đã được mô tả với những dấu hiệu về sự linh hoạt quốc gia, chẳng hạn như việc thường xuyên chuyển đổi quyền kiểm soát chính phủ liên bang giữa các đảng chính trị lớn, và các đảng lớn của Mỹ thường xuyên “đồng sở hữu” các chương trình của các đảng mới vừa thành lập qua đó ngăn chặn sự phát triển của các đảng này. Tuy vậy, ngược lại, chính trị Mỹ trong hai thập niên qua đã trở nên cứng nhắc với sự gia tăng từ chối thỏa hiệp.
Do đó, tôi nghĩ rằng sẽ không có lợi cho các nhà khoa học xã hội khi họ khái quát về một quốc gia là linh hoạt hoặc cứng nhắc. Thay vào đó, họ nên cân nhắc việc liệu các quốc gia có thể được phân loại là linh hoạt tùy hoàn cảnh hoặc cứng nhắc độc lập với hoàn cảnh theo góc nhìn đa chiều. Câu hỏi đó vẫn là một thách thức cho tương lai.
11. GIÁ TRỊ CỐT LÕI QUỐC GIA
Giá trị cốt lõi cá nhân là nền tảng cho quy tắc đạo đức của một người và thường đại diện cho những gì mà một người sẵn sàng hi sinh vì nó. Đối với cá nhân, các giá trị cốt lõi có thể giúp giải quyết khủng hoảng dễ dàng hơn hoặc gây khó khăn thêm. Về mặt tích cực, các giá trị cốt lõi có thể cung cấp cho ta sự rõ ràng và thế mạnh, từ đó người ta có thể tính đến việc thay đổi các mặt khác trong cuộc sống của mình. Về mặt tiêu cực, người ta có thể sẽ khư khư với các giá trị cốt lõi dù chúng không còn phù hợp khi hoàn cảnh thay đổi, và khi chúng ngáng trở một người đang giải quyết biến cố.
Các quốc gia cũng có những giá trị cốt lõi được chấp nhận rộng rãi bởi công dân của quốc gia đó, và trong một số trường hợp, họ chấp nhận hi sinh cho những giá trị đó. Giá trị cốt lõi liên quan mật thiết đến căn tính quốc gia, nhưng vẫn có sự khác biệt. Chẳng hạn, căn tính quốc gia của Phần Lan có sự liên quan đặc biệt đến thành tựu văn hóa và ngôn ngữ độc đáo của họ, nhưng giá trị cốt lõi để nhiều người Phần Lan sẵn sàng hi sinh trong cuộc chiến chống Liên Xô là nền độc lập của Phần Lan; thay vì tiếng Phần Lan, đó mới là những gì Liên Xô tìm cách phá hoại. Tương tự, căn tính quốc gia Đức xoay quanh ngôn ngữ, văn hóa Đức và lịch sử chung của các dân tộc German. Nhưng, giá trị cốt lõi của Đức bao gồm những điều mà nhiều người Mỹ chê bai là “chủ nghĩa xã hội” trong khi lại là những gì mà hầu hết người Đức coi là đáng ngưỡng mộ: sự hỗ trợ của chính phủ đối với phúc lợi cộng đồng; sự hạn chế quyền cá nhân để ủng hộ lợi ích chung; và không để những lợi ích công cộng quan trọng phụ thuộc vào lợi ích cá nhân vị kỷ cho dù chính phủ có thể hoặc không thể thấy được thành quả của việc hỗ trợ này. Chẳng hạn, chính phủ Đức tài trợ quy mô lớn cho nghệ thuật (bao gồm các công ty nhạc thính phòng, các dàn nhạc giao hưởng và các nhà hát), cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế tốt và an toàn tài chính về già cho tất cả người Đức, và thực thi việc giữ gìn phong cách kiến trúc truyền thống cùng những rừng cây; đó là một trong những giá trị cốt lõi của nước Đức hiện đại.
Cũng đúng như với cá nhân, các giá trị cốt lõi quốc gia có thể khiến một quốc gia dễ dàng hơn hoặc khó khăn thêm trong việc áp dụng thay đổi có chọn lọc. Các giá trị cốt lõi ở quá khứ có thể vẫn còn phù hợp cho hiện tại và là động lực để người dân dám hi sinh để giữ gìn những giá trị đó. Các giá trị cốt lõi thúc đẩy người Phần Lan tự nguyện hi sinh để bảo vệ thành công nền độc lập của đất nước họ, là động lực cho Nhật Bản thời Minh Trị bắt kịp phương Tây, và là lời động viên người Đức cũng như người Nhật sau Thế chiến II làm việc chăm chỉ, vượt lên thiếu thốn để tái thiết đất nước từ đống tro tàn. Nhưng, cũng có khi các giá trị cốt lõi quốc gia trong quá khứ không còn phù hợp với ngày nay và việc bám vào những giá trị lỗi thời đó có thể ngăn trở một đất nước áp dụng những thay đổi cần thiết. Đó là vấn đề trung tâm trong biến cố dần lộ diện của Úc sau Thế chiến II: Vai trò của Úc như một tiền đồn của Anh ngày càng mờ nhạt và nhiều người Úc đã cảm thấy đau đớn khi phải từ bỏ vai trò đó. Một ví dụ khác từ Nhật Bản sau Thế chiến II: trong khi các giá trị cốt lõi của văn hóa Nhật Bản và sự tôn trọng Nhật hoàng mang lại sức mạnh cho Nhật Bản, thì việc bám riết vào chính sách khai thác tài nguyên thiên nhiên ở nước ngoài vô tội vạ lại đang làm tổn thương nước Nhật.
12. TỰ DO TỪ BẤT LỢI ĐỊA CHÍNH TRỊ
Đối với cá nhân, các ràng buộc bên ngoài hạn chế khả năng của một người trong việc áp dụng các thay đổi có chọn lọc, bao gồm các ràng buộc tài chính, gánh nặng trách nhiệm đối với người khác và an nguy thể chất. Các quốc gia cũng phải đối mặt với những hạn chế về quyền tự do lựa chọn của họ, nhưng các ràng buộc này khác so với của cá nhân: đặc biệt là các ràng buộc địa chính trị bởi các nước láng giềng hùng mạnh và các hạn chế kinh tế. Trong số 12 nhân tố chúng ta đang bàn luận, nhân tố ràng buộc trên phương diện lịch sử thể hiện rõ nhất sự khác biệt giữa các quốc gia của chúng ta. Mỹ đặc biệt không bị ràng buộc; bốn quốc gia (Nhật Bản thời Minh Trị, Chile, Indonesia và Úc) bị hạn chế ở một số mặt và tương đối tự do ở các mặt còn lại; và hai quốc gia còn lại (Phần Lan và Đức) thì bị hạn chế rất nhiều. Sau đây tôi sẽ thảo luận về các ràng buộc địa chính trị ngày nay khác với các ràng buộc lịch sử mà tôi sẽ tóm tắt trước tiên.
Nước Mỹ, từ xưa đến nay không bị ràng buộc vì được ngăn cách bởi các đại dương rộng lớn hai bờ Đông – Tây, cũng không bị đe dọa nơi biên giới đất liền với các nước láng giềng ở hai mặt còn lại, đây là ưu thế tự nhiên của địa lý nước Mỹ cùng dân số đông và sự trù phú. Hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, Mỹ luôn được tự do làm điều mình muốn bên trong biên giới của mình. Ở thái cực ngược lại, Phần Lan và Đức đều bị ràng buộc trầm trọng. Phần Lan gặp bất hạnh khi chia sẻ biên giới đất liền dài nhất châu Âu với Nga (trước đây là Liên Xô). Lịch sử Phần Lan gần đây đã bị chi phối bởi tình thế tiến thoái lưỡng nan nhằm giữ lại càng nhiều quyền tự do lựa chọn càng tốt mặc cho sự ràng buộc trầm trọng này. Đức thì không may nằm ở trung tâm châu Âu và phải tiếp giáp với nhiều nước láng giềng (một số quốc gia lớn và hùng mạnh) cả ở biên giới trên bộ và trên biển nhiều hơn so với bất kỳ quốc gia châu Âu nào khác. Các nhà lãnh đạo Đức đã làm ngơ thực tế cơ bản về địa lý này (Hoàng đế Wilhelm II và Hitler) đã hai lần đẩy Đức rơi vào thảm họa chỉ trong thế kỷ 20. Đức đã phải hai lần viện đến các nhà lãnh đạo tài năng kiệt xuất (Bismarck và Willy Brandt) để thương thảo về mối nguy do ràng buộc địa chính trị của Đức.
Bốn quốc gia khác của chúng ta mang đến một bức tranh nhiều màu liên quan đến ràng buộc. Nhật Bản thời Minh Trị, mặc dù là một quốc đảo nhưng vẫn bị đe dọa trầm trọng bởi các thế lực chuyên rình mò từ phương Tây. Chile, được bảo vệ bởi dãy Andes ở phía đông và các sa mạc ở phía bắc, hiện không phải đối mặt với các mối đe dọa nào đáng kể ở khu vực Nam Mỹ; nhưng nền kinh tế Chile từng bị suy yếu do áp lực từ Mỹ xa xôi trong nhiệm kỳ tổng thống của Allende. Indonesia được bảo vệ về mặt địa lý bởi các đại dương và không bị các nước láng giềng đe dọa nhưng phải đấu tranh giành độc lập chống lại Hà Lan nằm cách đó nửa vòng Trái đất. Các chính phủ Indonesia kể từ khi độc lập luôn bị hạn chế bởi các vấn đề nội bộ về nghèo đói và bùng nổ dân số. Cuối cùng, Úc, tuy xa xôi và được các đại dương bảo vệ về mặt địa lý, nhưng vẫn bị Nhật Bản đe dọa và ném bom trong Thế chiến II. Do đó, tất cả các quốc gia này đã trải qua những ràng buộc gián đoạn đối với quyền tự do hành động của họ, nhưng không nghiêm trọng và mạn tính như những ràng buộc liên tục xảy đến với Đức và Phần Lan.
Những hạn chế về địa chính trị rõ ràng đã thay đổi toàn cầu trong nhiều thiên niên kỷ gần đây. Trong quá khứ xa xôi, cư dân địa phương phần lớn tự túc, nhận và gửi hàng hóa cũng như thông tin ở khoảng cách tương đối ngắn, và chỉ phải đối mặt với các mối đe dọa quân sự từ các nước láng giềng sát vách mà thôi. Chỉ trong vòng năm thế kỷ gần nhất, các kết nối truyền thông, kinh tế và quân sự đã mang tính toàn cầu. Các mối đe dọa quân sự bằng đường biển đến từ khắp nơi trên thế giới: Hà Lan bắt đầu chiếm Indonesia vào khoảng năm 1595, hạm đội Mỹ của Phó đề đốc Perry đã xâm phạm sự tách biệt của Nhật Bản vào năm 1853. Nhật Bản trước đây tự túc về kinh tế và xuất nhập khẩu thì không đáng kể; bây giờ nền kinh tế công nghiệp Nhật Bản bị hạn chế trầm trọng vì thiếu tài nguyên thiên nhiên và phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu. Mỹ vừa xuất nhưng đồng thời cũng nhập siêu. Chile phụ thuộc vào nguồn vốn và công nghệ của Mỹ để khai thác các mỏ đồng của mình. Tổng thống Chile, Allende, và ở mức độ thấp hơn, là Tổng thống Indonesia Sukarno, đã phải chịu áp lực kinh tế từ Mỹ và sự hậu thuẫn của Mỹ với các đối thủ trong nước của họ. Ba trong số bảy quốc gia đề cập trong cuốn sách này đã bị đánh bom bởi hàng không mẫu hạm của đối phương xuất phát từ hàng ngàn dặm xa xôi: Mỹ với Trân Châu Cảng bị Nhật Bản tấn công tháng 12 năm 1941, Úc cũng bị Nhật Bản đột kích ở Chiến dịch Darwin tháng 2 năm 1942, và đến lượt Nhật Bản bị Mỹ tấn công ở cuộc không kích Doolittle tháng 4 năm 1942. Đức và Nhật Bản phải hứng chịu các cuộc tấn công dữ dội bởi máy bay ném bom trên bộ trong Thế chiến II. Các cuộc tấn công tên lửa đầu tiên là của Đức bắn phá Anh, Pháp và Bỉ vào năm 1944 và 1945, và tên lửa V-2s được phóng cách mục tiêu 200 dặm. Giờ đây, các tên lửa liên lục địa có khả năng tấn công các mục tiêu ở bất cứ đâu trên thế giới bất kể rào cản là những đại dương rộng nhất.
Tất cả những sự phát triển trên đồng nghĩa với việc những ràng buộc địa chính trị trước kia đã bị suy yếu rất nhiều. Liệu điều đó có nghĩa là địa lý bây giờ không còn quá quan trọng? Dĩ nhiên là không! Chính sách đối ngoại của Phần Lan vẫn bị quyết định bởi biên giới đất liền dài với Nga. Chính sách đối ngoại của Đức vẫn bị quyết định bởi chín nước láng giềng trên đất liền và tám quốc gia khác mà nước này đối diện ở bên kia biển Baltic và biển Bắc. Các sa mạc và núi cao đảm bảo rằng Chile chưa bao giờ bị xâm chiếm trong hai thế kỷ kể từ khi độc lập; và khả năng Chile bị xâm chiếm trong tương lai gần khó có thể xảy ra. Mỹ có thể bị tên lửa tấn công nhưng vẫn cực kỳ khó xâm chiếm hay chinh phục, và Úc cũng tương tự. Nói tóm lại, phương châm “Địa lý của chúng tôi sẽ không bao giờ thay đổi” của Phần Lan có thể dùng được cho mọi quốc gia.
Điều đó tóm tắt những gì chúng ta đã học về câu hỏi là động lực ban đầu cho cuốn sách này: sự liên quan của hàng tá nhân tố được đề xuất bởi kết quả của các biến cố cá nhân đối với kết quả của các biến cố quốc gia. Giờ chúng ta hãy xem xét hai câu hỏi không phải là động lực ban đầu của tôi cho nghiên cứu này, nhưng đã được chứng minh là những câu hỏi mà mọi người thường hỏi nhất khi chúng ta nói về khủng hoảng quốc gia. Hai câu hỏi tập trung về vai trò của các biến cố như là động lực của việc thay đổi chính sách quốc gia và vai trò của các nhà lãnh đạo.
Các quốc gia có cần một biến cố để thúc đẩy họ hành động, hoặc các quốc gia có bao giờ hành động với tâm thế đã lường trước các vấn đề không? Các biến cố được thảo luận trong cuốn sách này minh họa cho hai câu trả lời cho câu hỏi thường gặp đó.
Nhật Bản thời Minh Trị tránh đối phó với mối nguy ngày càng tăng từ phương Tây cho đến khi buộc phải hồi đáp chuyến viếng thăm của Phó đề đốc Perry. Tuy nhiên, từ cuộc Duy Tân Minh Trị năm 1868 trở đi, Nhật Bản không cần bất kỳ cú sốc bên ngoài nào nữa để thúc đẩy nước này bắt tay vào chương trình cải cách cấp bách: Nhật Bản đã thay đổi với việc dự đoán về nguy cơ của những áp lực mới từ phương Tây.
Tương tự như vậy, Phần Lan đã phớt lờ sự dòm ngó của Liên Xô cho đến khi họ buộc phải chú ý tới cuộc tấn công của Liên Xô năm 1939. Nhưng từ năm 1944 trở đi, người Phần Lan không cần bất kỳ cuộc tấn công nào khác của Liên Xô để thức tỉnh họ: thay vào đó, chính sách đối ngoại của họ tập trung vào việc liên tục dự đoán và ngăn chặn sức ép từ Liên Xô.
Ở Chile, các chính sách Allende đề xuất là để ứng phó với sự phân cực mạn tính ở nước này chứ không phải ứng phó với một biến cố bất ngờ, ở đây Allende đã dự đoán các vấn đề tương lai cũng như nhận diện, giải quyết các vấn đề hiện tại. Ngược lại, quân đội Chile đã phát động cuộc đảo chính để đáp lại những gì họ cho là biến cố cấp thời bởi Allende tuyên bố là muốn biến Chile thành một quốc gia Marxist.
Ở Indonesia, cả hai dạng phản ứng đều được áp dụng. Các nhân tố thân cộng sản trong quân đội Indonesia đã phát động đảo chính với sự tiên liệu các động thái mà họ sợ Hội đồng các tướng lĩnh chống cộng sẽ làm. Phần còn lại của quân đội Indonesia có vẻ như đã hành động phản ứng lại biến cố đảo chính ngày 1 tháng 10 năm 1965, nhưng có nhiều lý do để nghi ngờ rằng quân đội đã lường trước cuộc đảo chính đó và đã chuẩn bị sẵn phương án ứng phó.
Nước Đức thời hậu chiến đưa ra hai ví dụ nổi bật trong lịch sử hiện đại về các quốc gia hành động bằng sự tiên liệu, thay vì phản ứng với biến cố. Chính sách thành lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu, sau đó thiết lập các cấu trúc kinh tế và chính trị dẫn đến sự hình thành Thị trường chung châu Âu rồi thành lập Liên minh Châu Âu của Thủ tướng Đức Konrad Adenauer đã được thông qua một cách dứt khoát để dự đoán và ngăn chặn trước khi khủng hoảng xảy ra (Chương 11).
Từ những điều kinh khủng của Thế chiến II, Adenauer và các nhà lãnh đạo châu Âu khác đã tìm cách tránh Thế chiến III bằng cách hợp nhất Tây Âu để các nước Tây Âu không có ý định và cũng không thể tấn công lẫn nhau. Tương tự, chính sách “Đông Âu mới” (Ostpolitik) của Willy Brandt đã không được sử dụng để ứng phó với một biến cố cấp thời ở Đông Âu (Chương 6). Brandt không phải đối mặt với nhu cầu cấp thiết là công nhận Đông Đức hoặc các chính phủ cộng sản Đông Âu khác, cũng như không thừa nhận sự mất mát các lãnh thổ phía đông của Đức. Thay vào đó, Brandt đã làm như vậy để dự đoán các cơ hội trong tương lai xa, và tạo điều kiện ổn định cho việc thống nhất nước Đức bất cứ khi nào có thể – như cuối cùng đã được chứng minh.
Nhật Bản ngày nay đang phải vật lộn với bảy vấn đề lớn mà không có hành động quyết định để giải quyết bất kỳ vấn đề nào trong số đó. Liệu Nhật Bản có thành công trong việc giải quyết những vấn đề này bằng cách thay đổi chậm như Úc thời hậu chiến, hay sẽ phải cần một biến cố bất ngờ để thúc đẩy họ hành động mạnh mẽ? Tương tự như vậy, Mỹ ngày nay không hành động quyết đoán để ứng phó với các vấn đề lớn đang gặp, ngoại trừ phản ứng nhanh chóng với cuộc tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới bằng cách chiếm đóng Afghanistan và phản ứng về sự hiện diện của vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq bằng cách chiếm đóng Iraq.
Do đó, chính phủ của bốn trong số các quốc gia được thảo luận trong cuốn sách này cần các biến cố để thúc đẩy họ hành động, và hai trường hợp ngày nay (Nhật Bản, Mỹ) không có hành động quyết định khi không có những biến cố kích thích. Tuy nhiên, một khi các biến cố xảy ra, Nhật Bản thời Minh Trị, Phần Lan, Chile và Indonesia đều tiến hành các chương trình thay đổi đòi hỏi thời gian dài mà không cần đến các biến cố tiếp theo để tiếp tục thúc đẩy họ. Nhưng các quốc gia này cung cấp những ví dụ về các hành động phủ đầu để ngăn khủng hoảng xảy ra (Indonesia và Đức) hoặc ngăn nó trở nên tồi tệ hơn (Chile). Tất nhiên, mọi chính phủ đều liên tục có những hành động để ứng phó với các vấn đề hiện hành ít khẩn cấp hơn, hoặc có thể xảy đến trong tương lai.
Do đó, câu trả lời cho câu hỏi “Liệu có cần một biến cố để thúc đẩy một quốc gia áp dụng thay đổi lớn có chọn lọc hay không?” tương tự như câu trả lời cho cá nhân. Chúng ta, ở góc độ cá nhân, hành động liên tục để ứng phó với các vấn đề hiện tại hoặc sẽ đến. Thi thoảng, chúng ta tiên liệu được một vấn đề lớn và mới thì chúng ta cần cố gắng giải quyết nó trước khi nó xảy ra. Nhưng, đối với các quốc gia cũng như đối với cá nhân, có rất nhiều sức ỳ và trở lực để làm được điều này. Một điều gì đó lớn và xấu đột nhiên xảy ra sẽ thúc đẩy chúng ta nhiều hơn là các vấn đề phát triển từ từ, và cũng nhiều hơn những vấn đề xảy ra trong tương lai. Điều này nhắc tôi nhớ đến một câu nói của Samuel Johnson: “Thưa ngài, hãy tin rằng khi một người đàn ông biết là anh ta sẽ bị treo cổ trong hai tuần tới, tâm trí anh ta sẽ tập trung một cách tuyệt vời.”
Các nhà lãnh đạo có tạo nên khác biệt? Một câu hỏi khác mà mọi người thường đặt ra khi họ và tôi bàn về các biến cố quốc gia liên quan đến những tranh cãi lịch sử dai dẳng về việc các nhà lãnh đạo quốc gia có ảnh hưởng đáng kể đến lịch sử hay không, hay lịch sử sẽ diễn ra theo đúng quy trình bất kể là kẻ nào lãnh đạo một quốc gia ở một thời điểm cụ thể. Ở một thái cực là quan điểm được gọi là “Nhân vật vĩ đại” của nhà sử học người Anh Thomas Carlyle (1795-1881), người khẳng định rằng lịch sử bị chi phối bởi hành động của những người vĩ đại, như Oliver Cromwell và Frederick Đại đế. Những quan điểm tương tự vẫn còn phổ biến ngày nay trong giới sử học quân sự, những người có xu hướng nhấn mạnh quyết định của các tướng lĩnh và lãnh đạo chính trị thời chiến. Ở thái cực ngược lại là Leo Tolstoy, người cho rằng các nhà lãnh đạo và tướng lĩnh ảnh hưởng rất ít đến tiến trình lịch sử. Để đưa ra quan điểm của mình, Tolstoy đưa vào cuốn tiểu thuyết Chiến tranh và Hòa bình các trận chiến trong đó những viên tướng ra lệnh, nhưng các mệnh lệnh thường không thích đáng với những gì thực sự xảy ra trên chiến trường.
Quan điểm rằng tiến trình lịch sử phụ thuộc vào rất nhiều chi tiết thay vì vào chính sách hay quyết định của những người vĩ đại, hiện đang phổ biến trong các nhà sử học. Họ thường lập luận rằng một nhà lãnh đạo vẻ như chỉ có ảnh hưởng vì ông ta (hoặc bà ta) theo đuổi các chính sách cộng hưởng với quan điểm của người dân nước mình; rằng các chính trị gia không mấy ấn tượng vẫn có thể trở nên vĩ đại vì những cơ hội mà họ được thụ hưởng vào thời điểm đó, chứ không phải vì phẩm chất cá nhân của họ (dẫn chứng thường được đưa ra là các tổng thống Mỹ như James Polk và Harry Truman); và các nhà lãnh đạo chỉ có giới hạn những lựa chọn được quyết định bởi các nhân tố khác của lịch sử. Một quan điểm trung gian giữa hai quan điểm trên là của nhà xã hội học người Đức Max Weber (1846-1920); ông cho rằng có một số dạng lãnh đạo, được gọi là các nhà lãnh đạo lôi cuốn, trong một số trường hợp đôi khi có thể ảnh hưởng đến lịch sử.
Tranh luận này đến nay vẫn chưa ngã ngũ. Mỗi nhà sử học đều có xu hướng bám lấy một số quan điểm phổ quát chung dựa trên nguyên tắc cơ bản thay vì trên một số phương pháp vững chắc để đánh giá bằng chứng thực nghiệm và áp dụng quan điểm đó vào các nghiên cứu trường hợp riêng lẻ. Chẳng hạn, mọi sách tiểu sử về Hitler đều phải thuật lại cùng những sự kiện quan trọng trong cuộc đời ông. Nhưng những người đề xướng quan điểm “Nhân vật vĩ đại” lại kể những sự kiện đó theo hướng khẳng định rằng Hitler là một nhà lãnh đạo độc ác và bất thường, khiến những phát triển ở Đức trở nên khác đi nếu rơi vào một nhà lãnh đạo khác. Những người phản đối quan điểm “Nhân vật vĩ đại” cũng kể những sự kiện tương tự nhưng lại miêu tả Hitler như một tiếng nói phản ánh những đặc điểm phổ biến của xã hội Đức thời đó. Tranh luận này không thể giải quyết bằng khảo chứng trần thuật và nghiên cứu trường hợp cá nhân.
Thay vào đó, có một cách tiếp cận đầy hứa hẹn từ các phân tích gần đây kết hợp ba đặc điểm: một hình mẫu rộng lớn bao gồm nhiều sự kiện lịch sử hay tất cả các sự kiện lịch sử đã được xác định; sử dụng các “thử nghiệm tự nhiên của lịch sử,” tức là so sánh các hành trình lịch sử tương tự mà ở đó một nhiễu loạn nào đó thực sự đã diễn ra hay không diễn ra (tôi sẽ đưa ra hai ví dụ trong các đoạn sau); và đo lường kết quả theo định lượng. Hai bài nghiên cứu xuất sắc như thế đã được Benjamin Jones của Đại học Northwestern và Benjamin Olken thuộc Viện Công nghệ Massachusetts công bố.
Trong nghiên cứu đầu tiên, Jones và Olken đặt câu hỏi: điều gì xảy ra với tỉ lệ tăng trưởng kinh tế quốc gia khi một nhà lãnh đạo chết khi còn đương chức do nguyên nhân tự nhiên, so với những gì xảy ra vào thời điểm được chọn ngẫu nhiên khi một nhà lãnh đạo không chết do những nguyên nhân tự nhiên khi còn đương chức? So sánh này cung cấp một thử nghiệm tự nhiên để kiểm tra hiệu quả của sự thay đổi lãnh đạo. Nếu quan điểm “Nhân vật vĩ đại” là chính xác, thì cái chết của một nhà lãnh đạo có nhiều khả năng sẽ kéo theo những thay đổi về tỉ lệ tăng trưởng kinh tế – giảm hoặc tăng tùy thuộc vào chính sách của nhà lãnh đạo có thực sự tạo ra khác biệt, tương ứng với tốt hay xấu, hay không – so với sau những thời điểm bất kỳ khi nhà lãnh đạo đó chưa chết. Về cơ sở dữ liệu, Jones và Olken chọn tất cả trường hợp trên thế giới về các lãnh đạo quốc gia chết vì nguyên nhân tự nhiên trong khi đương nhiệm, từ năm 1945 đến năm 2000. Họ đã thành công trong việc tập hợp 57 trường hợp như vậy: chủ yếu là tử vong do đau tim hoặc ung thư, thêm một số vụ tai nạn máy bay, một vụ chết đuối, một bị ngã ngựa, một do hỏa hoạn và một vụ do gãy chân. Những sự kiện đó thực sự tạo ra một sự xáo trộn ngẫu nhiên: những chính sách kinh tế của nhà lãnh đạo thật ra không chịu tác động gì mấy nếu nhà lãnh đạo đó vô tình bị chết đuối. Đồng thời, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế có nhiều khả năng thay đổi sau cái chết tự nhiên của nhà lãnh đạo hơn là sau những thời khắc ngẫu nhiên khi một nhà lãnh đạo không chết. Điều đó cho thấy rằng, tính trung bình trong nhiều trường hợp, lãnh đạo không quá có xu hướng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Trong nghiên cứu thứ nhì, Jones và Olken đặt câu hỏi: điều gì xảy ra khi một nhà lãnh đạo bị ám sát, thay vì chết do những nguyên nhân tự nhiên? Tất nhiên, các vụ ám sát không hoàn toàn là sự kiện ngẫu nhiên: có nhiều khả năng chúng được thực hiện trong một số điều kiện (chẳng hạn khi công dân không hài lòng với tăng trưởng kinh tế thấp) thay vì do các điều kiện khác. Từ đó, Jones và Olken so sánh các vụ ám sát thành công với các nỗ lực không thành công, khi viên đạn bị trượt. Đó thực sự là một sự khác biệt ngẫu nhiên: các điều kiện chính trị quốc gia có thể đã ảnh hưởng đến tần suất của các vụ ám sát nhưng không ảnh hưởng đến mục đích của kẻ ám sát. Cơ sở dữ liệu bao gồm tất cả 298 vụ ám sát nhằm vào các nhà lãnh đạo quốc gia từ năm 1875 đến năm 2005: 59 vụ thành công, 239 vụ bất thành. Nghiên cứu chỉ ra rằng những nỗ lực thành công có nhiều khả năng được tiếp nối bởi một thay đổi trong các thể chế chính trị quốc gia hơn nhưng vụ ám sát không thành công.
Trong cả hai nghiên cứu, tác động về cái chết của một nhà lãnh đạo chuyên quyền mạnh mẽ hơn cái chết của một nhà lãnh đạo dân chủ – và còn mạnh mẽ hơn đối với những nhà lãnh đạo chuyên quyền mà quyền lực không chịu ràng buộc nào so với những nhà lãnh đạo độc đoán còn bị ràng buộc bởi các cơ quan lập pháp hay các chính đảng.
Điều đó nằm trong suy tính của chúng ta: các nhà lãnh đạo mạnh mẽ với quyền lực vô hạn có thể đem lại nhiều hệ quả hơn (dù tốt hay xấu) so với các nhà lãnh đạo chỉ có quyền lực hạn chế. Do đó, những nghiên cứu này đồng thuận về một kết luận chung: các nhà lãnh đạo đôi khi tạo ra sự khác biệt. Nhưng nó phụ thuộc vào dạng nhà lãnh đạo, và dạng hệ quả được khảo sát.
Bây giờ chúng ta hãy gắn những thí nghiệm tự nhiên này với vai trò của các lãnh đạo bảy quốc gia được thảo luận trong cuốn sách này. Mục tiêu của tôi là để xem liệu các nhà lãnh đạo của chúng ta có phù hợp với mô hình được Jones và Olken công nhận hay không, và những vấn đề nào họ đặt ra để thử nghiệm. Lịch sử của bảy quốc gia này đã cho nhiều nhà sử học những đánh giá sau đây về lãnh đạo của họ:
Ở Nhật thời Minh Trị, không có nhà lãnh đạo duy nhất nào chiếm ưu thế, nhưng một số nhà lãnh đạo cùng có các chính sách giống nhau.
Ở Phần Lan, các nhà lãnh đạo chính trị và công dân gần như đồng thuận trong nỗ lực chống lại cuộc tấn công của Liên Xô. (Nhưng đôi khi cũng cho thấy rằng các kỹ năng của Thống chế Mannerheim với tư cách là nhà chỉ huy quân sự, cùng khả năng của hai tổng thống Paasikivi và Kekkonen trong việc để giành được sự tin tưởng của các nhà lãnh đạo Liên Xô sau chiến tranh, đã ảnh hưởng tích cực đến vận mệnh của đất nước Phần Lan.)
Ở Chile, Pinochet được xem là (ngay cả từ quan điểm của các tướng lĩnh thân thiết) quyết đoán và tàn nhẫn khác thường, khư khư bám giữ quyền lực và lựa chọn chính sách kinh tế.
Ở Indonesia, Sukarno và Suharto đều được coi là những nhà lãnh đạo quyết đoán, nhưng các tổng thống sau đó thì không. Trong thời hậu chiến ở Đức, Willy Brandt thường được cho là đã đóng vai trò duy nhất trong việc đảo ngược chính sách đối ngoại của chính phủ Tây Đức trước đây, công nhận các chính phủ cộng sản Đông Âu và biên giới Đức, nhờ đó, sau này Đức có thể thống nhất. Trong lịch sử Đức trước đó, Bismarck, Hoàng đế Wilhelm II và Hitler thường được trích dẫn là những điển hình về các nhà lãnh đạo duy nhất tạo ra sự khác biệt, tốt hơn hoặc xấu hơn.
Ở Úc không có nhà lãnh đạo nổi trội đơn lẻ nào. Điển hình gần nhất là Thủ tướng Gough Whitlam và chương trình thay đổi cấp tốc của ông, nhưng chính Whitlam cũng thừa nhận rằng cải cách của ông chỉ là một “sự thừa nhận về những gì đã diễn ra.”
Ở Mỹ, Tổng thống Franklin Roosevelt được cho là chuẩn bị dần sự ứng phó của nước Mỹ cho Thế chiến II, đi ngược ý chí của những kẻ theo chính sách nước Mỹ biệt lập (có thể ban đầu những kẻ này được đa số người dân Mỹ ủng hộ), và nỗ lực kéo Mỹ ra khỏi cuộc Đại Suy thoái. Trong lịch sử nước Mỹ thế kỷ 19, Tổng thống Lincoln được xem là đã đóng vai trò độc sáng trong suốt quá trình Nội chiến.
Tóm lại, bảy quốc gia trong cuốn sách này cung cấp những điển hình của chín nhà lãnh đạo (sáu chuyên quyền, ba dân chủ) thường được đánh giá là đã tạo ra sự khác biệt. Ngoài ra, tại các nước không nằm trong bảy quốc gia được thảo luận trong cuốn sách này, các nhà lãnh đạo thường được cho là đã tạo ra sự khác biệt trong thời kỳ hiện đại bao gồm Winston Churchill ở Anh, Lenin và Stalin ở Liên Xô, Mao ở Trung Quốc, de Gaulle ở Pháp, Cavour ở Ý và Gandhi ở Ấn Độ. Do đó, chúng ta có một danh sách ngắn gồm 16 nhà lãnh đạo thường được xem là đã tạo ra sự khác biệt. Trong số 16 người này, có 11 người ở chế độ chuyên chế, và 5 người ở chế độ dân chủ. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, kết quả này dường như phù hợp với kết luận của Jones và Olken về tác động lớn hơn của các nhà lãnh đạo trong chế độ chuyên chế. Nhưng tôi không lập bảng kê số lượng tương đối tất cả các nhà lãnh đạo chuyên chế và dân chủ trên toàn thế giới trong khoảng thời gian này, vì vậy tôi không thể nói rằng kiểu lãnh đạo nào được thể hiện không tương xứng, nếu có.
Tập dữ liệu nhỏ của chúng tôi đề xuất hai giả thuyết đáng để thử nghiệm bằng các phương pháp tương tự như của Jones và Olken: bằng cách tập hợp một tập dữ liệu lớn bao gồm một thử nghiệm tự nhiên và lượng định kết quả theo phương pháp định lượng.
Một giả thuyết bắt nguồn từ quan sát cho thấy rằng trong số bốn nhà lãnh đạo dân chủ thường được cho là có ảnh hưởng độc đáo (Roosevelt, Lincoln, Churchill và de Gaulle), ít nhất có ba người có tác động hay ảnh hưởng lớn nhất trong thời chiến. Hầu như tất cả nhiệm kỳ tổng thống của Lincoln đều diễn ra trong Nội chiến Mỹ. Churchill, Roosevelt và de Gaulle phục vụ đất nước trong chiến tranh lẫn hòa bình, nhưng hai hoặc cả ba người đều được xem là tạo ra những hệ quả quyết định nhất trong thời chiến (Churchill khi là thủ tướng thời chiến giai đoạn 1940-1945 nhưng không phải khi là thủ tướng thời bình giai đoạn 1951-1955, de Gaulle với tư cách là vị tướng thời chiến, sau đó là tổng thống trong cuộc nổi dậy ở Algeria năm 1959-1962 và Roosevelt sau khi Thế chiến II bùng nổ ở châu Âu năm 1939 nhưng cũng trong thời Đại Suy thoái). Những kết quả này phù hợp với quan sát của Jones và Olken rằng các nhà lãnh đạo có ảnh hưởng quyết định hơn, càng ít chịu ràng buộc về quyền lực: các nhà lãnh đạo dân chủ thực thi quyền lực tập trung hơn trong thời chiến.
Một giả thuyết khác mà kết quả của chúng tôi đưa ra để thử nghiệm là các nhà lãnh đạo tạo ra sự khác biệt lớn nhất trong các trường hợp họ phải đối mặt với sự đối kháng mạnh mẽ (dù ở chế độ dân chủ hay chuyên chế) từ những người ủng hộ một chính sách rất khác, và cuối cùng quan điểm của các nhà lãnh đạo vẫn chiếm ưu thế, thường bằng nỗ lực thận trọng từng bước. Điển hình là Thủ tướng Cavour của Piedmont và Thủ tướng Bismarck nước Phổ dần dần đạt được sự thống nhất nước Ý và Đức trước sự đối kháng mạnh mẽ từ các cường quốc nước ngoài, từ chính người Ý và người Đức, thậm chí từ các vị vua của họ; Churchill đã thuyết phục được nội các chiến tranh Anh, lúc ban đầu chia rẽ, từ chối đề nghị của Lord Halifax trong việc đàm phán với Hitler nhằm tìm kiếm một nền hòa bình, sau đó lại thuyết phục được người Mỹ dành ưu tiên hàng đầu cho cuộc chiến chống Đức thay vì chống Nhật (ban đầu là ưu tiên rõ ràng của Mỹ sau khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng); Roosevelt chuẩn bị dần cho Thế chiến II trước sự phản đối của những kẻ theo chủ thuyết nước Mỹ biệt lập; de Gaulle thuyết phục dần người dân của mình và người Algeria thương lượng để đạt được thỏa thuận trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Algeria; Suharto, từ từ loại bỏ Sukarno, vị tổng thống yêu dấu khai sinh đất nước Indonesia; và Willy Brandt thuyết phục người Tây Đức nuốt viên thuốc đắng từ bỏ nhiều lãnh thổ cũ của Đức trước sự phản đối quyết liệt của đảng Liên minh Dân chủ Ki-tô giáo, sau đó lãnh đạo Tây Đức liên tục trong hai thập niên.
Cuốn sách này là bước khởi đầu trong một chương trình nghiên cứu đối sánh các biến cố quốc gia – một cuộc khảo sát hình mẫu nhỏ về các quốc gia, được tiến hành bằng các phương pháp trần thuật. Làm thế nào để mở rộng nghiên cứu này nhằm làm sâu sắc thêm hiểu biết của chúng ta? Tôi đề nghị hai sự mở rộng: mẫu nghiên cứu lớn hơn và ngẫu nhiên hơn, và một phân tích chặt chẽ hơn để chuyển các kết quả và dự đoán giả thuyết từ các khái niệm bằng lời thành các biến số vận hành.
Đầu tiên là chọn mẫu nghiên cứu. Tập hợp mẫu quốc gia của tôi không chỉ hạn hẹp mà còn được chọn không ngẫu nhiên. Tôi đã chọn những quốc gia này không phải vì chúng cung cấp một tập hợp con ngẫu nhiên của 216 quốc gia trên thế giới mà do chúng là những quốc gia mà tôi biết rõ nhất. Kết quả là, các quốc gia này bao gồm hai nước châu Âu, hai nước châu Á, một nước thuộc Bắc Mỹ, một Nam Mỹ và nước Úc. Năm trong số bảy nước này là những quốc gia thịnh vượng. Tất cả bảy nước hiện đang theo chế độ dân chủ, dù có hai nước theo chế độ độc tài trong giai đoạn tôi thảo luận. Tất cả, ngoại trừ Indonesia, đều có lịch sử lâu dài về độc lập hoặc tự trị (Phần Lan) và có thể chế mạnh. Chỉ có một nước mới trỗi dậy từ chủ nghĩa thực dân chuyển sang độc lập. Thiếu các nước châu Phi, các chế độ độc tài hiện thời và các nước nghèo. Tất cả sáu nước mà tôi trình bày về các biến cố trong quá khứ đều vượt qua biến cố ở một mức độ thành công nào đó. Không gì minh họa rõ ràng cho một thất bại trong việc đối phó với một biến cố bằng những phương pháp thay đổi có chọn lọc thích hợp. Điều này hiển nhiên là một hình mẫu không ngẫu nhiên. Do đó, thách thức đặt ra cho tương lai là việc thấy được tập hợp mẫu các quốc gia rộng hơn sẽ chỉ ra những kết luận gì.
Thứ nhì, thách thức về phương pháp luận quan trọng nhất trong tương lai là mở rộng phân tích định tính qua trần thuật trong cuốn sách của tôi bằng một phân tích định lượng chặt chẽ hơn. Như tôi đã đề cập trong phần giới thiệu cuốn sách, khuynh hướng gần đây trong một số ngành khoa học xã hội, đặc biệt là trong kinh tế và lịch sử kinh tế cùng một số lĩnh vực về tâm lý học là thay thể loại trần thuật dựa trên các nghiên cứu trường hợp đơn lẻ bằng các phương pháp kết hợp dữ liệu định lượng, đồ thị, hình mẫu rộng lớn, kiểm tra thống kê về ý nghĩa, thử nghiệm tự nhiên và các “phép đo khả thi.” Tôi dùng khái niệm “phép đo khả thi” với ý nghĩa diễn dịch một khái niệm bằng lời thành một thứ có thể đo đếm được qua một loạt sự vận hành dựa trên các mối tương quan hoặc biểu thức giả định của khái niệm đó.
Hai bài nghiên cứu của Jones và Olken đã dẫn trong chương này là những ví dụ về cách tiếp cận đó. Họ đã thay thế các nghiên cứu trường hợp đơn lẻ về những gì một số nhà lãnh đạo cụ thể đã thực hiện hay không thực hiện qua phân tích cùng lúc 57 hoặc 298 nhà lãnh đạo. Họ tận dụng các khảo sát tự nhiên để so sánh các kết quả gắn với sự có mặt hay vắng mặt một nhà lãnh đạo cụ thể bằng cách xem xét các quốc gia trước và sau khi một nhà lãnh đạo chết đi do một nguyên nhân tự nhiên, hay các quốc gia khác đã xảy ra vụ ám sát, hoặc thất bại hoặc thành công. Cuối cùng, họ biểu thị các biến số kết quả giả định có thể dùng được bằng các phương pháp định lượng với con số có thể đo đếm được (ví dụ: tốc độ tăng trưởng kinh tế), hoặc bằng các tỉ lệ xác định (ví dụ: tỉ lệ xếp hạng của các tổ chức chính phủ, xếp từ các chế độ chuyên chế với các ràng buộc tối thiểu đối với một nhà lãnh đạo đến các thể chế dân chủ với những ràng buộc tối đa đối với một nhà lãnh đạo).
Để áp dụng cách tiếp cận đó vào nghiên cứu biến cố quốc gia, chúng ta sẽ cần các “phép đo khả thi” về kết quả và các yếu tố được đề xuất mà tôi đã thảo luận, bao gồm “sự thừa nhận,” “nhận trách nhiệm,” “căn tính quốc gia,” “thoát khỏi ràng buộc,” “kiên nhẫn đối phó với thất bại,” “tính linh hoạt,” “đánh giá trung thực,” “thay đổi hay thiếu sự thay đổi” và “thành công hay thất bại trong việc giải quyết biến cố quốc gia.” Những điểm khởi đầu khả thi để triển khai các như vậy gồm dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu khoa học xã hội như “Khảo sát các giá trị thế giới” do Ronald Inglehart chủ đạo, “Khảo sát các giá trị kinh tế,” “Khảo sát xã hội châu Âu,” “Khảo sát kinh tế và xã hội châu Á – Thái Bình Dương,” và sách của Geert Hofstede, Michael Minkov cùng những người khác. Tôi đã cố gắng sử dụng các nguồn dữ liệu này để nghĩ ra các phép đo khả thi cho một số biến số trước khi miễn cưỡng kết luận rằng sẽ cần một dự án lớn vượt ngoài phạm vi khảo sát trần thuật của cuốn sách này, khi tôi đã mất sáu năm mà vẫn không nghĩ ra các phép đo khả thi. Những cách tiếp cận định lượng như vậy cần được triển khai không chỉ cho các biến cố quốc gia, vốn là trọng tâm của cuốn sách này, mà còn cho các biến cố cá nhân mà tôi đã thảo luận trong Chương 1. Dù các nhà tâm lý học đã vận hành và thử nghiệm một vài biến số được nêu trong chương này để xem tác động của chúng đến kết quả của các biến cố cá nhân, thì vẫn còn nhiều việc phải làm ngay cả đối với các biến cố cá nhân. Đây cũng là những hạn chế của phong cách trần thuật áp dụng cho nghiên cứu của tôi về các biến cố quốc gia và cho hầu hết các nghiên cứu lịch sử về lãnh đạo, cũng áp dụng cho hầu hết các nghiên cứu về biến cố cá nhân.
Chúng ta có thể tiếp thu được bài học gì từ lịch sử? Đây là một câu hỏi phổ biến, có một câu hỏi phụ cụ thể là: chúng ta có thể học được gì từ phản ứng với biến cố của bảy nước được thảo luận trong cuốn sách này? Một câu trả lời mang tính không tưởng là: không có gì! Nhiều nhà sử học cho rằng tiến trình lịch sử quá phức tạp, kết quả của quá nhiều biến số không được kiểm soát độc lập cùng những thay đổi không lường trước, không cho phép chúng ta học được điều gì từ quá khứ. Vào tháng 6 năm 1944, ai có thể dự đoán chính xác bản đồ vùng Đông Âu thời kỳ hậu chiến, nó có thể khác đi nếu như vào ngày 20 tháng 7 năm 1944, Claus von Stauffenberg đẩy chiếc cặp mang theo quả bom hẹn giờ đến gần Hitler thêm nửa mét nữa, và nếu kết quả là Hitler bị chết thay vì chỉ bị thương vào hôm đó, khi quân đội Liên Xô vẫn còn cách xa biên giới nước Đức, thay vì thực tế rằng ông ta đã tự sát vào ngày 30 tháng 4 năm 1945, khi quân đội Liên Xô đã chiếm được Berlin cùng toàn bộ Đông Âu và Đông Đức.
Vâng, tất nhiên có nhiều điều không lường trước được trong lịch sử. Tuy nhiên, có hai loại bài học được rút ra. Nhưng về cơ bản, trước tiên chúng ta hãy xem xét các bài học tương ứng rút ra từ sự hiểu biết của từng cá nhân, vì (một lần nữa) có sự tương đồng giữa lịch sử các quốc gia với đời sống của con người cá nhân.
Nếu đúng thế, thì chúng ta có thể học được điều gì từ lịch sử cuộc sống và tiểu sử cá nhân của con người? Không phải con người, cũng như các quốc gia, đều quá phức tạp, quá khác biệt nhau và phải chịu tác động của những sự kiện không lường trước được đến nỗi khó dự đoán hành vi của một người, nói gì đến việc suy diễn hành vi của một người thành hành vi của người khác hay sao? Dĩ nhiên là không! Dù có những khó khăn, hầu hết chúng ta vẫn thấy hữu ích khi dành phần lớn cuộc sống để dự đoán hành vi có thể xảy ra trong tương lai của những cá thể gần gũi với chúng ta dựa trên hiểu biết về lịch sử đời sống cá nhân của họ. Ngoài ra, việc rèn luyện cũng cho phép các nhà tâm lý học, và các “kỹ năng con người” cho phép nhiều người trong chúng ta, dù không có khả năng chuyên môn, có thể khái quát hóa kinh nghiệm của mình về những người chúng ta đã biết để thấy trước hành vi của những con người mới gặp lần đầu. Đó là lý do tại sao việc đọc tiểu sử những người chúng ta không bao giờ gặp cũng là một bài học hữu ích, từ đó mở rộng cơ sở dữ liệu của chúng ta để hiểu thêm về hành vi con người.
Tôi viết những dòng này ngay sau khi đã dành ra một buổi tối với hai phụ nữ, một người có tâm lý lạc quan ngây thơ ở độ tuổi 20, người kia có nhận thức sâu sắc ở độ tuổi 70. Người phụ nữ trẻ bị giày vò bởi sự đổ vỡ mối quan hệ với một người đàn ông hấp dẫn, có vẻ quan tâm chu đáo đến cô, nhưng đột nhiên, sau vài năm lại bỏ rơi cô một cách tàn nhẫn không một lời báo trước. Nhưng khi người phụ nữ trẻ kể lại câu chuyện của mình, ngay cả trước khi gặp phải kết cục tàn nhẫn, thì người phụ nữ lớn tuổi (chưa gặp người đàn ông đó lần nào) đã nhận ra những dấu hiệu cảnh báo rằng kẻ đó thuộc mẫu người quyến rũ nhưng lại là một kẻ chỉ biết yêu bản thân và tiêu cực, kiểu người mà bà ta khá hiểu. Điều này minh họa tại sao kinh nghiệm rộng rãi về con người và suy nghĩ về họ là một điều hữu ích. Thực sự có những chủ đề rộng rãi chung nhất về hành vi con người, dù mọi người, nếu đem so với người khác, đều khác nhau về chi tiết.
Vậy các loại bài học tương ứng sẽ được rút ra từ sự chú ý đến lịch sử loài người là gì? Một loại bao gồm những bài học cụ thể về hành vi có thể xảy ra trong tương lai của một quốc gia cụ thể, dựa trên sự hiểu biết về lịch sử quốc gia đó. Chẳng hạn như Phần Lan chỉ là một quốc gia dân chủ nhỏ bé, nỗ lực duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nước Nga láng giềng, duy trì một đội quân được huấn luyện tốt và không phụ thuộc vào các quốc gia khác trong việc bảo vệ đất nước. Những lý do cho chính sách đó của Phần Lan trở nên rõ ràng với lịch sử gần đây của họ. Bất cứ ai mù mờ về lịch sử Phần Lan đều cảm thấy khó hiểu lý do tại sao Phần Lan theo đuổi và sẽ tiếp tục theo đuổi những chính sách đó – chẳng hạn như tôi khi đến Phần Lan năm 1959, không biết gì về lịch sử Phần Lan nên đã hỏi người chủ nhà tại sao Phần Lan không vùng lên trước áp lực của Liên Xô với niềm tin rằng Mỹ sẽ bảo vệ Phần Lan.
Một loại bài học khác được rút ra từ lịch sử bao gồm các chủ đề chung. Một lần nữa, Phần Lan và Nga chính là ví dụ. Cùng với các đặc trưng riêng của Phần Lan và Nga, mối quan hệ của họ thể hiện một chủ đề chung: những mối nguy hiểm treo lơ lửng trên đầu các quốc gia nhỏ bé gần những nước lớn hung hăng. Không có giải pháp chung cho mối nguy đó. Đó là chủ đề của một trong những đoạn đầu tiên, và vẫn là một trong những đoạn được trích dẫn nhiều nhất và hấp dẫn nhất trong lịch sử bằng văn bản: các trang trong Cuốn 5 Lịch sử chiến tranh Peloponnese của nhà sử học Thucydides thành Athens ở thế kỷ 5 TCN. Thucydides mô tả cách các công dân của hòn đảo nhỏ Melos của Hy Lạp đáp lại áp lực từ Đế chế Athens hùng mạnh. Trong một đoạn được gọi là Cuộc hội đàm Melos, Thucydides dựng lại các cuộc đàm phán đau lòng giữa người dân đảo Melos và người Athens: người Melos mặc cả cho tự do và cuộc sống của họ, cố gắng thuyết phục người Athens không sử dụng vũ lực; và người Athens cảnh cáo người Melos phải thực tế. Sau đó, Thucydides chỉ kể kết quả xảy ra một cách ngắn gọn: người dân Melos khước từ yêu cầu của người Athens, cũng giống như người Phần Lan hai thiên niên kỷ sau đó ban đầu khước từ yêu cầu của Liên Xô; người Athens vây hãm Melos, người dân Melos chống cự thành công một thời gian; nhưng cuối cùng họ phải đầu hàng; và người Athens giết tất cả đàn ông trên đảo, bắt tất cả phụ nữ và trẻ em làm nô lệ.
Tất nhiên, người Phần Lan đã không bị người Nga tàn sát và bắt làm nô lệ, minh họa rằng kết cục tiến thoái lưỡng nan của Melos và chiến lược tốt nhất cũng khác nhau theo từng trường hợp. Tuy nhiên, có một bài học phổ quát: các nước nhỏ bị đe dọa bởi các nước lớn nên cảnh giác, xem xét các lựa chọn thay thế và thẩm định các lựa chọn đó một cách thực tế. Trong khi bài học này có vẻ rõ ràng rất xấu hổ đến mức không đáng nhắc đến, nhưng đáng buồn là nó thường bị bỏ qua. Nó đã bị người dân Melos bỏ qua; nó cũng bị người Paraguay bỏ qua, khiến họ tiến hành một cuộc chiến thảm khốc từ năm 1865 đến 1870 chống lại các lực lượng quân đội kết hợp giữa hai nước Brazil và Argentina rộng lớn hơn nhiều, cộng thêm quan đội Uruguay, dẫn đến cái chết của 60% dân số Paraguay; nó đã bị Phần Lan bỏ qua vào năm 1939 và cũng bị Nhật Bản bỏ qua vào năm 1941, khi Nhật Bản đồng loạt tấn công Mỹ, Anh, Hà Lan, Úc và Trung Quốc trong khi nước Nga là kẻ thù địch; và nó đã bị Ukraine phớt lờ trong cuộc đối đầu gần đây với Nga.
Nếu bây giờ tôi thuyết phục bạn đừng loại bỏ khả năng học hỏi được điều gì đó hữu ích từ lịch sử, vậy chúng ta có thể học được điều gì từ lịch sử các biến cố quốc gia được thảo luận trong cuốn sách này? Nhiều chủ đề chung đã xuất hiện. Một tập hợp các chủ đề bao gồm những động thái đã giúp bảy quốc gia của chúng ta ứng phó với biến cố. Những động thái đó bao gồm: thừa nhận đang trong biến cố; chấp nhận trách nhiệm phải thay đổi, thay vì chỉ đổ lỗi cho các quốc gia khác và biến mình thành nạn nhân; dựng một hàng rào để xác định (các) đặc trưng quốc gia cần được thay đổi; xác định những quốc gia có thể tìm kiếm sự giúp đỡ; xác định mô hình những quốc gia khác từng xử lý vấn nạn tương tự như các vấn nạn mà quốc gia mình đang phải đối mặt; kiên nhẫn, đồng thời phải nhận ra rằng giải pháp đầu tiên có thể không hiệu quả và cần thiết phải thử thêm một vài giải pháp nữa; xem xét những giá trị cốt lõi nào tiếp tục phù hợp và không còn phù hợp nữa; và tiến hành đánh giá một cách trung thực.
Một chủ đề khác liên quan đến căn tính quốc gia. Các nước còn trẻ cần xây dựng căn tính quốc gia, như Indonesia, Botswana và Rwanda đã và đang làm. Đối với các nước lâu đời, căn tính quốc gia có thể cần sửa đổi, xem như các giá trị cốt lõi; nước Úc là minh họa về sửa đổi như thế trong thời gian gần đây.
Một chủ đề khác liên quan đến các yếu tố không thể kiểm soát được ảnh hưởng đến kết cục của biến cố, đó là một quốc gia bị mắc kẹt với kinh nghiệm thực tế của nó về giải quyết biến cố trước đó và với những ràng buộc địa chính trị. Việc có nhiều kinh nghiệm hơn không thể đột nhiên mà có, và cũng không thể ngồi chờ những ràng buộc đó biến mất. Nhưng một quốc gia vẫn có thể suy xét các ràng buộc một cách thực tế, cũng như nước Đức dưới thời Bismarck và Willy Brandt.
Những người bi quan có thể đáp lại những đề xuất này bằng cách phản đối: “Rõ ràng là ngớ ngẩn! Chúng ta không cần sách của Jared Diamond dạy bảo về đánh giá bản thân một cách trung thực, tìm hình mẫu từ các quốc gia khác, tránh biến mình thành nạn nhân, v.v.”
Không, chúng ta thực sự cần một cuốn sách, bởi vì có một điều không thể phủ nhận rằng những điều tất yếu “hiển nhiên” đó từng bị lờ đi, và đến ngày nay vẫn thường bị bỏ qua. Những kẻ đã phải trả giá bằng mạng sống của mình vì đã bỏ qua những điều tất yếu hiển nhiên trong quá khứ bao gồm tất cả đàn ông đảo Melos, hàng trăm ngàn người Paraguay và hàng triệu người Nhật. Những người bỏ qua những điều tất yếu hiển nhiên đe dọa hạnh phúc hiện thời của họ còn bao gồm hàng trăm triệu đồng bào của tôi.
Một người bi quan cũng có thể đáp lại: “Vâng, đáng buồn là chúng ta thường bỏ qua điều hiển nhiên đó, nhưng một cuốn sách không thể thay đổi sự mù quáng. “Cuộc hội đàm Melos” của Thucydides đã xuất hiện hơn hai thiên niên kỷ nay, nhưng các quốc gia vẫn mắc phải những sai lầm tương tự. Vậy một cuốn sách khác có thể làm được gì?” Vâng, có những lý do đáng khích lệ về lý do tại sao người viết chúng tôi vẫn tiếp tục cố gắng. Ngày càng có nhiều người biết chữ hơn bao giờ hết trong lịch sử thế giới. Chúng ta biết nhiều hơn về lịch sử thế giới và có thể đưa ra những lập luận dựa trên tư liệu tốt hơn nhiều so với thời Thucydides. Nhiều quốc gia theo thể chế dân chủ, có nghĩa là nhiều công dân có thể có ý thức chính trị hơn bất cứ lúc nào trong quá khứ. Trong khi còn nhiều nhà lãnh đạo dốt nát, thì vẫn có một số lãnh đạo quốc gia học rộng và giờ đây họ dễ dàng học hỏi từ lịch sử hơn so với trước đây. Tôi ngạc nhiên một cách thú vị khi tiếp xúc với các nguyên thủ quốc gia cùng nhiều chính trị gia khác và nghe họ nói rằng tôi đã bị ảnh hưởng bởi những cuốn sách trước đây của mình. Cả thế giới hiện đang phải đối mặt với các vấn đề toàn cầu – nhưng trong thế kỷ vừa qua, đặc biệt là trong những thập niên gần đây, thế giới đã triển khai nhiều tổ chức để xử lý các vấn đề toàn cầu.
Đó là một trong những lý do của tôi để không nghe lời những người bi quan và từ bỏ hi vọng, và vẫn tiếp tục viết về lịch sử, để chúng ta có cơ hội học hỏi từ lịch sử, nếu chúng ta chọn như thế. Đặc biệt, những biến cố thường thách thức các quốc gia trong quá khứ, và hiện tại vẫn thế. Nhưng các quốc gia hiện đại và thế giới hiện đại của chúng ta không phải mò mẫm trong bóng tối khi cố gắng đáp trả. Việc hiểu rõ với những thay đổi hiệu quả hay không hiệu quả trong quá khứ có thể dẫn dắt chúng ta đến thành công.
Jared Diamond
Theo https://thuvienonline.org/


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét