Thứ Tư, 8 tháng 10, 2025

Bước đến tự do 2

Bước đến tự do 2

Chương VIII
Vũ lực của những người bất lực
Sau khi chính sách “CỨNG RẮN” thất bại trong việc ngăn cản phong trào tiếp tục hoạt động, những người cực đoan trở nên liều lĩnh và chúng tôi chờ xem động thái tiếp theo của họ. Gần như ngay sau khi cuộc phản kháng bắt đầu, chúng tôi cũng đồng thời nhận được những cuộc điện thoại và những lá thư đe dọa. Ban đầu thỉnh thoảng mới có một lần, nhưng càng ngày chúng xuất hiện càng nhiều hơn, đến giữa tháng Một thì đã tăng lên đến ba mươi, bốn mươi lần một ngày.
Những tấm bưu thiếp chỉ với vài chữ “khôn hồn thì rời khỏi Thành phố, không thì...” thường được ký tên là “KKK”. Rất nhiều lá thư được viết nguệch ngoạc và sai chính tả lợi dụng giáo lý để lý luận rằng “Chúa không có ý định cho người da trắng và người da đen sống với nhau không phân biệt, vì nếu muốn vậy chúng ta đã được tạo giống nhau rồi”. Có những lá thư được kèm theo những tờ giấy in từ máy in rô-nê-ô và những tài liệu khác in những lập luận chống người Do Thái và người da đen. Trong số đó có một tài liệu được chú thích thêm bằng chữ viết tay: “Lũ mọi da đen các người đang tự đưa đầu vào nơi tồi tệ. Kinh Thánh ủng hộ sự phân biệt giữa Do Thái và những chủng tộc khác, thậm chí còn tán thành sự phân biệt giữa 12 chi tộc của Isarael. Chúng ta cần và sẽ dựng lên một Hitler để chỉnh đốn lại đất nước này” Trong số những lá thư này có rất nhiều lá mang nội dung nguyền rủa và thô lỗ đến mức không thể trích lại trong tác phẩm được.
Bên cạnh đó, điện thoại luôn đổ chuông vào ban ngày và thường xuyên hơn vào ban đêm. Những lúc như vậy thường chỉ có một mình Coretta ở nhà, và ngay cả như vậy đi nữa thì những giọng nói xúc phạm này vẫn không buông tha cô ấy. Rất nhiều lần người gọi bên kia chỉ chờ chúng tôi nhấc máy trả lời là họ cúp máy.
Khá nhiều cuộc gọi mang đề tài tình dục. Có một người phụ nữ, mà không lâu sau đó tôi đã nhận ra khi nghe giọng nói của cô ấy, đã gọi điện hết ngày này qua ngày khác để buông ra lời cáo buộc những người da đen đã có hành vi xâm hại tình dục. Những lần như vậy tôi thường nhấc máy để muốn giải thích một cách ôn hòa về việc làm của chúng tôi thì người gọi lại cúp máy. Đôi khi chúng tôi phải rút cả dây điện thoại ra, nhưng cách này không thể kéo dài vì biết đâu sẽ có những cuộc điện thoại quan trọng gọi đến.
Khi những tai họa này bắt đầu xuất hiện, tôi đối diện một cách dễ dàng vì nghĩ rằng đây chỉ là việc làm của một vài người nóng nảy, họ sẽ sớm bị nhụt chí khi nhận ra rằng chúng tôi không đáp trả. Nhưng rồi nhiều tuần trôi qua, tôi nhận thấy phần lớn những lời đe dọa đó không phải là lời nói suông. Không lâu sau đó tôi bắt đầu cảm thấy chùn bước và một nỗi sợ hãi đang lớn dần. Một ngày kia, một người bạn da trắng đã cho tôi biết rằng, anh ta nghe được từ những nguồn tin đáng tin cậy là có người đang lên kế hoạch sát hại tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhận ra mình có thể sẽ gặp phải bất trắc.
Trong một cuộc họp mặt quần chúng vào buổi tối, tôi buộc miệng nói: “Nếu một ngày nào đó, mọi người tìm thấy xác của tôi đang nằm sóng soài, tôi không muốn thấy sự trả thù bằng bất kỳ một hành động bạo lực nào hết. Ngay cả khi điều đó có xảy ra”, tôi kêu gọi mọi người, “hãy tiếp tục phản kháng với phẩm giá và kỷ luật như các anh em vẫn làm từ trước đến nay”. Một sự im lặng kỳ lạ bao trùm lên tất cả.
Sau đó, để cố gắng làm giảm bớt tính nghiêm trọng của sự việc, tôi đã nói với một nhóm người đang lo lắng vây xung quanh mình rằng, những gì tôi vừa nói không xuất phát từ một nguyên nhân cụ thể nào cả, mà chỉ là một tuyên bố chung chung về nguyên tắc mà phong trào nên tuân thủ khi có bất kỳ sự chết chóc nào xảy ra. Nhưng Ralph Abernathy không hài lòng với câu trả lời đó. Trong khi đang lái xe đưa tôi về nhà đêm đó, anh ta nói:
“Có điều gì đó không ổn. Anh đang phiền muộn về một chuyện gì đó”.
Tôi cố tránh né vấn đề bằng cách lặp lại những gì tôi đã nói với nhóm người ở nhà thờ. Nhưng anh ấy vẫn không chịu thôi:
“Martin”, anh ấy nói, “lúc đó không phải anh muốn nói về một nguyên tắc chung nào đó. Nhất định anh đang có một suy nghĩ khác trong đầu”.
Không thể tránh né được nữa, tôi thú nhận sự thật. Lần đầu tiên tôi kể với anh ấy về những lời đe dọa đang làm phiền gia đình tôi, về cuộc nói chuyện với người bạn da trắng của mình, về những nỗi sợ đang len vào tâm hồn tôi. Ralph đã cố trấn an tôi, nhưng tôi vẫn cảm thấy lo sợ.
Những hành động đe dọa vẫn tiếp diễn. Gần như ngày nào cũng có người cảnh báo rằng họ đã nghe được tin những người da trắng đang lên kế hoạch trừ khử tôi. Gần như đêm nào tôi cũng đi ngủ trong trạng thái bất an không biết điều gì sẽ xảy đến. Mỗi buổi sáng trông thấy Coretta và “Yoki” tôi lại tự nhủ: “Tôi có thể mất hai mẹ con bất cứ lúc nào; hoặc hai mẹ con có thể mất tôi vào bất kỳ lúc nào”. Lần này tôi không dám chia sẻ suy tư của mình với ngay cả Coretta.
Vào một đêm gần cuối tháng Một, tôi đi ngủ trễ sau một ngày làm việc vất vả. Coretta đã chìm vào giấc ngủ và ngay khi tôi vừa thiếp đi thì chuông điện thoại reo. Một giọng nói giận dữ vang lên: “Nghe đây tên da đen, chúng tao sẽ lấy đi của mày mọi thứ chúng tao muốn. Chưa cần đến tuần sau đâu, mày sẽ phải hối hận vì đã đặt chân đến Montgomery”. Tôi cúp máy, nhưng lại không thể ngủ được. Dường như nỗi sợ hãi trong tôi đã lên đến cực độ. Nó vượt quá sức chịu đựng của tôi.
Tôi ra khỏi giường và cứ đi đi lại lại, sau đó vào bếp hâm nóng một bình cà phê. Tôi có ý định đầu hàng. Tách cà phê đặt trước mặt vẫn chưa được đụng đến, tôi cố gắng nghĩ ra một cách để rút lui khỏi cuộc đấu tranh này mà không bị xem là một kẻ hèn nhát.
Trong tình trạng kiệt quệ này, khi mà dũng khí của tôi đã biến mất hoàn toàn, tôi quyết định đem vấn đề của mình chia sẻ với Chúa. Hai tay ôm đầu, tôi cúi gập người trên bàn ăn và cầu nguyện thành tiếng. Những gì tôi nói với Chúa vào đêm hôm đó cho đến bây giờ vẫn còn đọng lại vô cùng sống động trong ký ức của tôi. “Con đang cố gắng bênh vực cho những gì con tin là lẽ phải. Nhưng giờ đây con đang run sợ. Mọi người đang trông chờ vào sự dẫn dắt của con, và nếu con xuất hiện trước họ không có một chút sức mạnh và dũng khí nào, thì rồi họ cũng sẽ chùn bước. Sức lực của con đã cạn kiệt, chẳng còn gì hết. Con không đủ sức tiếp tục đương đầu một mình được nữa”.
Ngay lúc ấy, tôi cảm thấy như có sự hiện diện của Đấng Tối Cao mà trước đây tôi chưa từng được cảm nhận. Tôi cảm giác như nghe thấy lời an ủi thầm lặng và che chở của một giọng nói từ sâu thẳm bên trong: “Hãy đứng lên vì lẽ phải, đứng lên vì sự thật, và Chúa sẽ ở bên cạnh con mãi mãi”. Mối lo sợ của tôi biến mất. Tôi cảm thấy mình sẵn sàng đối mặt với mọi thứ.
Ba đêm sau, vào ngày 30 tháng Một, tôi rời khỏi nhà lúc gần 7 giờ tối để tham dự buổi họp mặt quần chúng vào tối thứ Hai tại Nhà thờ Baptist Đệ Nhất. Một thành viên của cộng đoàn, bà Mary Lucy Williams, đến nhà chúng tôi để ở cùng Coretta khi tôi đi vắng. Sau khi đã cho em bé đi ngủ, Coretta và bà Williams ra phòng khách xem tivi. Vào khoảng 9 giờ 30, họ nghe một tiếng động phía trước nhà giống như có ai đó ném một viên gạch vào. Chỉ trong vài giây, một tiếng nổ gây chấn động căn nhà. Một trái bom đã phát nổ trên hiên nhà.
Ở xa cách nhiều dãy nhà cũng nghe thấy được tiếng nổ, và tin tức về vụ đánh bom bay đến cuộc họp mặt quần chúng gần như ngay lập tức. Khi ấy cuộc họp chuẩn bị kết thúc, tôi đang đứng trên bục phát biểu giúp mọi người thu nhận tiền đóng góp thì thấy người trợ giáo tức tốc tìm đến Ralph Abernathy để nhắn một tin gì đó. Abernathy quay người chạy xuống cầu thang, không lâu sau đó anh quay trở lại với vẻ mặt lo lắng. Nhiều người khác chạy vào rồi lại chạy ra khỏi nhà thờ. Mọi người nhìn tôi rồi lại quay đi, có một hay hai người dường như đang muốn nói gì đó vởi tôi và rồi lại thôi. Người trợ giáo gọi tôi ra bên hông bục phát biểu, có lẽ là để nói với tôi một điều gì, nhưng trước khi tôi tới được đó thì S. S. Seay đã bảo ông ta đi chỗ khác. Lúc này thì tôi tin chắc rằng việc đã xảy ra có liên quan đến tôi. Tôi gọi Ralph Abernathy, S. S. Seay và E. N. French lại và yêu cầu họ nói cho tôi biết đã có chuyện gì không hay xảy ra. Ralph nhìn Seay và French, sau đó quay sang tôi ngập ngừng nói:
“Nhà của anh đã bị đánh bom”.
Tôi hỏi liệu vợ và con tôi có bị làm sao không.
Họ nói: “Chúng tôi đang kiểm tra”.
Kỳ lạ thay, tôi đã rất bình tĩnh khi đón nhận tin tức về vụ đánh bom này. Trải nghiệm tôn giáo cách vài đêm trước đó đã cho tôi sức mạnh để đối diện với nó. Tôi dừng việc thu tiền và yêu cầu tất cả những người có mặt hãy chú ý lắng nghe. Tôi giải thích với họ lý do tôi phải ra về, và kêu gọi mọi người hãy đi thẳng về nhà sau cuộc họp và tuyệt đối tuân thủ triết lý phi bạo lực. Tôi khuyên mọi người không được hoảng loạn và mất bình tĩnh. “Hãy tiếp tục chiến đấu”, tôi động viên họ, “với niềm tin những gì chúng ta đang làm là đúng, và với một niềm tin còn mãnh liệt hơn nữa là Chúa đang ở cùng chúng ta trong cuộc đấu tranh này”.
Ngay lập tức tôi được chở về nhà. Khi gần đến tôi nhận thấy hàng trăm người đứng trước nhà chúng tôi với nét mặt giận dữ. Cảnh sát đang cố gắng giải tán đám đông, vẫn bằng một thái độ thô bạo thường thấy ở họ, nhưng đám đông không còn nghe theo nữa. Một người da đen nói với một viên cảnh sát đang định đẩy anh ta qua một bên: “Này nhé, tôi sẽ không đi đâu hết. Người da trắng các anh luôn xô đẩy chúng tôi ở khắp mọi nơi. Giờ đây tay anh đang cầm khẩu 38” và tôi cũng vậy, hãy để súng giải quyết việc này”. Trong khi đi về phía hiên nhà tôi nhận ra có rất nhiều người mang vũ khí. Phản kháng phi bạo lực đang có nguy cơ bị biến thành bạo động.
Tôi vội vã đi vào trong nhà để xem Coretta và “ Yoki” có được an toàn không. Khi vào phòng ngủ, thấy vợ và con gái của mình không hề bị làm sao, tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Tôi được biết, thật là may mắn khi Coretta và bà Williams vừa nghe tiếng một vật gì đó rơi ngoài hiên, họ đã bật dậy và chạy về phía sau nhà. Nếu thay vì làm vậy, họ lại đi ra hiên nhà để xem xét xung quanh thì có thể đã có người thiệt mạng. Coretta không hề tỏ ra chua chát hay hoảng loạn. Cô ấy đón nhận toàn bộ sự việc bằng một sự điểm tĩnh đáng kinh ngạc. Sự điểm tĩnh của cô ấy đã làm cho tôi càng trở nên bình tĩnh hơn.
Thị trưởng Gayle, ủy viên cảnh sát Sellers, và nhiều phóng viên da trắng khác đã có mặt tại ngôi nhà trước khi tôi trở về và đang đứng trong phòng ăn. Sau khi đã yên tâm vì sự an toàn của gia đình mình, tôi đi đến để nói chuyện với họ. Cả Gayle và Sellers đều bày tỏ sự đau buồn vì “tai nạn không may này đã xảy ra trong thành phố của chúng ta”. Một trong những người đại diện cho nhà thờ của tôi đang làm việc tại một hệ thống trường công lập của Montgomery, đứng bên cạnh tôi khi Thị trưởng và ủy viên nói chuyện. Mặc dù biết là bất lợi, anh ta vẫn nói với Thị trưởng: “Ông có thể bày tỏ sự tiếc thương của mình, nhưng ông phải nhìn nhận rằng chính các phát ngôn trước công chúng của ông là tác nhân cho vụ đánh bom này. Đây chính là kết quả chính sách “cứng rắn” của các ông”. Cả Thị trưởng Gayle hay ủy viên Sellers đều không thể nói được gì.
Đến lúc này thì đám đông bên ngoài đã bắt đầu trở nên mất kiểm soát. Những viên cảnh sát đã không thể giải tán được đám đông, và cứ mỗi phút qua đi lại có thêm một nhóm người mới xuất hiện. Những phóng viên da trắng muốn ra về để đưa tin lên đài nhưng lại không dám trước đám đông giận dữ. Còn Thị trưởng và ủy viên mặt trông tái nhợt, mặc dù có thể họ không muốn thừa nhận điều đó.
Trước tình thế đó, tôi bước ra hiên nhà và yêu cầu đám đông hãy giữ trật tự. Chỉ trong phút chốc tất cả đã im lặng. Một cách từ tốn, tôi nói cho họ biết rằng tôi và vợ con tôi vẫn ổn. “Mọi người xin đừng hoảng loạn”, tôi tiếp tục, “Nếu ai đang mang theo vũ khí hãy đem cất về nhà, nếu ai không có vũ khí thì xin đừng tìm cách tậu chúng. Chúng ta không thể giải quyết vấn đề này bằng cách bạo động để trả đũa. Chúng ta phải đáp trả bạo lực bằng phi bạo lực. Hãy ghi nhớ lời của Chúa Jesus: ‘Kẻ sống bằng gươm đao sẽ chết bởi gươm đao.’ Sau đó tôi kêu gọi mọi người ra về trong ôn hòa. “Chúng ta phải yêu thương những người anh em da trắng của mình”, tôi nói, “cho dù họ có làm gì chúng ta đi nữa. chúng ta phải làm cho họ hiểu rằng chúng ta yêu thương họ. Lời Chúa Jesus vẫn tha thiết ngân vang qua hàng thế kỷ: ‘Hãy Yêu thương kẻ thù của con; chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa con; cầu nguyện cho những kẻ rắp tâm lợi dụng con’. Đây là những điều chúng ta phải noi theo. Chúng ta phải đáp trả thù hận bằng tình yêu thương. Xin hãy nhớ”, tôi kết thúc, “nếu tôi bị ngăn cản, phong trào này vẫn sẽ không dừng lại, bởi vì đã có Chúa Trời luôn bên cạnh chúng ta. Hãy trở về nhà với niềm tin luôn rực sáng và lời nhắc nhở này như ngọn đuốc soi đường”.
Khi tôi vừa kết thúc bài nói đã có những giọng cất lên “Amen” và “Chúa luôn bên cạnh anh”. Tôi có thể nghe thấy những tiếng nói: “Chúng tôi sẽ sát cánh bên Cha đến cùng, thưa cha”. Tôi ngước mắt nhìn ra đám đông và nhận thấy nước mắt đã rơi trên gương mặt của nhiều người.
Sau khi tôi nói xong, đến lượt ủy viên nói với đám đông. Ngay lập tức có những tiếng la ó. Những viên cảnh sát cố gắng làm cho đám đông tập trung bằng cách lên tiếng: “Trật tự! Ủy viên đang phát biểu”. Để đáp lại, đám đông phản đối còn lớn hơn. Tôi bước ra mép hiên và giơ tay lên ra hiệu im lặng. “Hãy nhớ những gì tôi vừa nói. Xin hãy lắng nghe ngài ủy viên cảnh sát”. Tức thì mọi sự lắng xuống, vị ủy viên lên tiếng và đưa ra mức tiền thưởng cho bất kỳ ai tố cáo những người đã gây ra việc này. Sau đó đám đông bắt đầu giải tán.
Buổi tối tiếp tục trôi qua với một bầu không khí căng thẳng. Những người da đen đã hết chịu đựng nổi. Họ sẵn sàng dùng bạo lực để đáp trả lại bạo lực. Sau sự kiện hôm đó, một người cảnh sát cho tôi biết trong đêm đó chỉ cần một người da đen vấp chân vào một viên gạch thì chắc một cuộc bạo loạn chủng tộc đã xảy ra, bởi vì những người da đen sẽ tin là bị người da trắng xô ngã. Sự kiện này rất có thể trở thành đêm tăm tối nhất trong lịch sử của Montgomerv. Nhưng một điều gì đó đã ngăn nó không xảy ra: chắc hẳn đó là chúng tôi luôn có Thánh, Thần, Chúa ở trong tim. Và cái đêm mà dường như được số phận sắp đặt kết thúc bằng một cuộc bạo loạn không thể kiểm soát thì lại được chấm dứt bằng thái độ bất bạo động thật cao thượng của cả một tập thể.
Đến đêm khuya, sau khi những người bạn đã ra về, Coretta, “Yoki” và tôi được đưa đến nhà một thành viên của nhà thờ chúng tôi để nghỉ qua đêm. Tôi không tài nào ngủ được. Khi tôi nằm thao thức trong căn phòng ngủ yên tĩnh ở phía trước ngôi nhà gần mặt đường, ngọn đèn đường ở phía xa xa tỏa ánh sáng dìu dịu vào phòng qua khung cửa sổ buông rèm đem đến một cảm giác bình yên và an toàn, tôi bắt đầu nghĩ đến sự tàn độc của những kẻ đã đánh bom căn nhà của mình. Và rồi cơn giận dữ dâng trào lên khi nghĩ đến người vợ và đứa con bé bỏng của mình có thể đẫ bị giết chết. Khi nhớ đến những ủy viên Thành phố với tất cả những lời tuyên bố của họ nhắm đến tôi, đến người da đen nói chung, tôi suýt lại để lòng căm hận hủy hoại mình một lần nữa. Rồi tôi trấn tĩnh lại và tự nhủ: “Mình không được phép trở nên cay đắng”.
Tôi cố đặt mình vào vị trí của ba người ủy viên nọ. Tôi luôn nhắc mình rằng họ không phải là những người xấu xa mà chỉ vì đang bị lạc lối mà thôi. Họ được nhiều tiếng tốt trong cộng đồng và là những người đáng kính và lịch lãm trong cách làm việc. Có thể họ cho rằng cách thức họ đối xử với người da đen là đúng đắn. Lý do họ nói năng và hành xử với chúng tôi như họ đang làm là bởi vì họ đã được dạy dỗ như thế. Việc coi người da đen là tầng lớp hạ đẳng đã luôn án sâu trong tư tưởng của họ từ khi còn nằm trong nôi cho đến khi nằm dưới mộ. Những bậc cha mẹ hẳn đã dạy họ điều đó; những trường họ theo học đã dạy họ điều đó; những quyển sách họ đọc, ngay cả nhà thờ và mục sư của họ cũng thường rao giảng về điều đó; và hơn hết thảy, cả định nghĩa về sự phân biệt đối xử cũng dạy họ như vậy. Toàn bộ nền văn hóa truyền thống mà họ đã lớn lên trong đó - một truyền thống bị tiêm nhiễm với hơn 250 năm nô lệ và hơn 90 năm phân biệt đối xử - đã giáo dục họ rằng có một số thứ người da đen không xứng đáng được hưởng. Vì vậy mà những người này cũng chỉ là sản phẩm của nền vãn hóa đó mà thôi. Khi họ tìm cách bảo vệ chính sách kỳ thị là họ chỉ làm những gì mà phong tục tập quán bản địa cho đó là điều đúng đắn.
Đã quá nửa đêm rất lâu rồi. Coretta và con gái đã ngủ say. Cũng đến lúc tôi cần phải ngủ. Vào khoảng 2 giờ 30 tôi trở mình và chìm vào giấc ngủ. Nhưng đêm nay vẫn chưa dừng ở đó. Một lúc sau, tôi và Coretta bị đánh thức bởi một tiếng gõ chậm và đều đều ở cửa trước của căn nhà. chúng tôi nhìn nhau im lặng trong ánh đèn lờ mờ, và lắng tai nghe khi tiếng gõ lại vang lên một lần nữa. Qua ô cửa sổ chúng tôi trông thấy một bóng đen đang đứng trước hiên nhà. Chủ nhà đang say giấc ở căn phòng phía sau, còn chúng tôi đang nằm ở phía trước, tê liệt không biết phải phản ứng ra sao. Cuối cùng thì tiếng động cũng dừng lại, chúng tôi thấy bóng đen đó đi xuống tam cấp và hướng bước ra đường. Tôi gượng nhẹ ra khỏi giường, hé rèm cửa nhìn ra, và nhận ra dáng lưng vạm vỡ tự tin của người đó, dáng lưng này làm tôi thấy nhẹ nhõm hẳn, đó chính là cha của Coretta.
Obie Scott đã nghe tin tức về cuộc đánh bom qua radio ở Marion. Ông lái xe đến Montgomery để đưa Coretta và “Yoki” về nhà mình, “cho đến khi mọi việc lắng xuống”. Chúng tôi nói chuyện với nhau một lúc, mặc dù Coretta tôn trọng lắng nghe những lời thuyết phục của cha mình nhưng cô ấy không muốn đi. “Con xin lỗi, thưa cha”, cô ấy nói, “nhưng con phải ở đây với Martin”. Vậy là obie Scott phải lái xe trở về Marion một mình.
Chỉ sau đó hai đêm, một trái mìn tự chế được quăng vào sân nhà của E. D. Nixon. May mắn là lần này cũng không ai bị thương. Một lần nữa đám đông người da đen lại tụ tập đến, nhưng họ đã biết kiềm chế mình. Thế là phi bạo lực đã chiến thắng được thử thách đầu tiên và lần này là lần thứ hai.
Sau những cuộc đánh bom, nhiều nhân viên của nhà thờ và những người bạn thân tín đã thúc giục tôi thuê một vệ sĩ và một số bảo vệ trang bị vũ khí để bảo vệ ngôi nhà của mình. Tôi cố gắng nói với họ rằng bây giờ tôi không còn sợ hãi nữa, vì thế không cần thiết phải có bảo vệ. Nhưng họ vẫn kiên quyết, thế là tôi đồng ý cân nhắc điều đó. Tôi cũng đã đến vấn phòng cảnh sát để đăng ký giấy phép mang súng trong xe hơi, nhưng yêu cầu của tôi đã bị từ chối.
Và khi đó tôi suy nghĩ lại. Làm sao tôi có thể dấn thân với vai trò là một trong những lãnh đạo của phong trào phi bạo lực mà đồng thời lại sử dụng vũ khí bạo lực vì sự an toàn của cá nhân mình? Coretta và tôi bàn bạc về vấn đề này trong nhiều ngày và cuối cùng thống nhất giải pháp không dùng vũ khí. Chúng tôi quyết định vứt bỏ khẩu súng đang sở hữu, cố gắng làm yên lòng bạn bè bằng cách lắp đèn pha xung quanh nhà mình, và thuê những vệ sĩ không trang bị súng bảo vệ cả ngày. Tôi cũng hứa là sẽ không đi lại trong thành phố một mình.
Lời hứa này đã dễ thực hiện hơn nhờ một người bạn của chúng tôi, Bob Williams, giảng viên âm nhạc tại trường Đại học Alabama State và từng là bạn học cùng trường đại học với tôi tại Morehouse. Khi tôi chuyển đến Montgomery, tôi đã gặp lại cậu ấy ở đây và kể từ giây phút cuộc phản kháng bắt đầu, hiếm khi nào cậu ấy rời khỏi tôi hoặc Coretta. Cậu ấy là người lái xe chủ yếu chở tôi đi lại trong vùng Montgomery và trong những chuyến đi ra khỏi Thành phố. Mỗi khi Coretta và “ Yoki” đi đến Atlanta hay Marion, cậu ấy luôn chở họ đi và về. Gần như âm thầm, cậu ấy đã trở thành “vệ sĩ” tự nguyện của tôi, mặc dù không hề mang theo vũ khí và cũng không dũng mãnh như những vệ sĩ thực thụ.
Trong thời điểm nhiều gian nguy này, những nhân viên và giáo dân nhà thờ luôn ở gần để động viên và hỗ trợ chúng tôi. Khi tôi thiếu bổn phận một người chồng và một người cha, vì phải vắng nhà trong nhiều giờ liền và đôi khi là trong nhiều ngày liền, những người phụ nữ của nhà thờ đều đến nhà tôi để bầu bạn với Coretta. Nhiều khi họ còn tự nguyện nấu ăn và dọn dẹp, hoặc giúp trông em bé. Nhiều người đàn ông thay phiên nhau làm bảo vệ, hoặc làm tài xế cho tôi khi Bob Williams không thể có mặt. Cộng đoàn của tôi cũng không hề than phiền khi có rất nhiều nhiệm vụ mới đã khiến tôi lơ là trách nhiệm mục sư của mình. Đã nhiều tháng rồi, việc tiếp xúc hàng ngày giữa tôi và tín đồ gần như không còn, tôi chỉ còn thuyết giảng vào Chúa nhật. Tuy vậy, nhà thờ của tôi vẫn sẵn lòng chia sẻ tôi với cộng đồng, và đóng góp những nguồn lực quý giá của họ như thời gian và tiền bạc cho cuộc đấu tranh.
Những người bạn da trắng tại địa phương chúng tôi cũng bày tỏ sự ủng hộ. Họ thường gọi điện cho Coretta để gửi đến những lời động viên. Khi nhà của chúng tôi bị đánh bom, nhiều người trong số họ, cả người quen lẫn không quen biết, đã ghé thăm để nói lời chia sẻ. Thỉnh thoảng trong thùng thư xuất hiện lá thư của một người Montgomery da trắng viết, “Hãy tiếp tục, chúng tôi ủng hộ các bạn một trăm phần trăm”. Thường thì những lá thư như vậy chỉ được ký tên đơn giản là “một người bạn da trắng”.
Có một điều thú vị, một khoảng thời gian sau khi cuộc đánh bom xảy ra, các cuộc điện thoại đe dọa thưa dần. Nhưng đó chỉ là tình trạng tạm thời, nhiều tháng sau chúng xuất hiện trở lại một cách dày đặc. Cuối cùng để có thể yên ổn nghỉ ngơi vào buổi tối, chúng tôi buộc phải đăng ký một số điện thoại ẩn. Số điện thoại mới này được thông báo đến tất cả các thành viên của nhà thờ, các thành viên của Hiệp hội, và những người bạn khác trên khắp đất nước. Và mặc dù đôi khi phải gánh chịu những lời đe dọa là chuyện bình thường, nhưng từ đó chúng tôi không còn nhận được một cuộc gọi thù địch nào nữa. Đương nhiên là những lá thư vẫn được gửi đến, nhưng những người thư ký của tôi đã kín đáo giấu những lá thư này đi không cho tôi biết.
Khi đối phương nhận ra bạo lực không thể ngăn cản cuộc phản kháng, họ chuyển sang bắt bớ hàng loạt. Sáng sớm ngày 9 tháng Một, một luật sư tại Montgomery đã gợi ý cho truyền thông về một đạo luật tiểu bang cũ cấm hoạt động tẩy chay. Ông ta để cập đến phần 14, mục 54, quy định khi từ hai người trở lên lập ra một kế hoạch để ngăn chặn hoạt động của một doanh nghiệp hợp pháp mà không có nguyên nhân hợp lý hay những lý do hợp pháp, thi hành vi của họ được xem là phạm tội mức độ nhẹ. Vào ngày 13 tháng Hai, Bồi thẩm đoàn của Quận Montgomery được triệu tập để đưa ra phán quyết liệu những người da đen đang tẩy chay xe buýt có vi phạm quy định của luật này hay không. Sau khoảng một tuần cân nhắc, Bồi thẩm đoàn, bao gồm mười bảy người da trắng và một người da đen, kết luận việc tẩy chay là trái luật và truy tố hơn một trăm người. Đương nhiên là tên tôi cũng nằm trong danh sách đó.
Tại thời điểm lệnh truy tố được ban ra tôi đang giảng dạy một số buổi tại trường Đại học Fisk ở Nashville. Trong khoảng thời gian này tôi liên lạc với Montgomery qua điện thoại ít nhất ba lần trong một ngày để bắt kịp những tiến triển mới. Nhờ vậy mà tôi được nghe về việc truy tố trước tiên do Ralph Abernathy gọi điện vào khuya thứ Ba, ngày 21 tháng Hai. Anh ta nói việc bắt giữ sẽ được triển khai vào sáng hôm sau. Được biết rằng anh ấy sẽ là một trong những người đầu tiên bị bắt. Tôi trấn an anh ta là tôi sẽ luôn cầu nguyện cho anh ấy và những người khác. Như mọi khi tâm tư anh chẳng hề bị xáo trộn. Tôi nói với anh là tôi sẽ dừng công việc ở Nashville, và trở về Montgomery vào ngày hôm sau.
Tôi đặt một chuyến bay vào sáng sớm. Suốt một đêm dài tôi nghĩ đến những người dân Montgomery. Liệu cuộc bắt bớ hàng loạt này có khiến họ sợ hãi đến mức yêu cầu chúng tôi tuyên bố ngừng cuộc biểu tình? Tôi biết thời gian qua họ đã chịu nhiều áp lực. Đã hơn mười ba tuần rồi mọi người phải đi bộ, hy sinh và vắt kiệt những chiếc xe của mình. Họ gặp phải sự quấy rối và đe dọa trong mọi việc. Và giờ đây họ còn phải đối mặt với việc bị bắt bớ. Liệu họ có kiệt sức chiến đấu? Tôi băn khoan, có khi nào họ sẽ tuyệt vọng mà bỏ cuộc? Có khả nàng đây sẽ là hồi kết cho phong trào của chúng tôi chăng?
Tôi dậy sớm vào sáng thứ Tư và thông báo cho nhân viên của Fisk về việc tôi phải đi sớm do tình hình ở Montgomery. Tôi bay đến Atlanta để đón vợ và con gái, tôi đã gửi họ đến ở nhà của cha mẹ mình trong thời gian tôi ở Nashville. Vợ, mẹ và cha đã ra sân bay đón tôi. Tôi đã kể cho họ về việc truy tố đã nghe qua điện thoại, và họ cũng đã nghe thêm những thông tin từ radio. Coretta vẫn giữ thái độ điềm tĩnh như mọi khi, nhưng trên gương mặt cha mẹ tôi thì đầy vẻ lo lắng.
Cha tôi, người chẳng bao giờ biết lo sợ cho chính mình, lại lo sợ cho tôi và gia đình tôi. Kể từ khi cuộc phản kháng bắt đầu ông đã liên tục đi lại giữa Atlanta và Montgomery để luôn ở bên cạnh chúng tôi. Nhiều lần ông đã tham gia vào các cuộc họp của Ban Quản trị và chưa từng một lần nghi ngờ về tính chính nghĩa của những gì chúng tôi đã làm. Vậy mà người đàn ông nghiêm nghị và gan dạ này tỏ ra yếu đuối đến mức cứ nhắc đến cuộc phản kháng là mắt lại ngấn lệ. Mẹ tôi cũng đã chịu nhiều ảnh hưởng. Sau vụ đánh bom bà buộc phải nằm dưỡng sức trên giường theo yêu cầu của bác sĩ, và sau đó bà thường xuyên bị bệnh. Nét mặt của hai người - ngay cả dáng đi của họ khi họ đi về phía tôi ở sân bay - đã bắt đầu lộ vẻ khó nhọc.
Khi chúng tôi lái xe về nhà cha mẹ tôi, cha nói rằng ông nghĩ quay trở về Montgomery ngay lúc này không phải là một quyết định khôn ngoan. “Mặc dù nhiều người khác cũng bị truy tố”, ông nói, “nhưng mục đích chính của họ là bắt được con. Rất có thể họ sẽ tống con vào tù và không cho đóng phí bảo lãnh”. Ông tiếp tục kể cho tôi rằng nhân viên điều tra tại Montgomery đã cố gắng tìm một điều gì đó trong hồ sơ của tôi tại Atlanta để có lý do trục xuất tôi khỏi Alabama. Họ đã tìm đến Sở Cảnh sát Atlanta, và thất vọng khi Cảnh sát trưởng Jenkins thông báo với họ là tôi không có lấy một án tích nào dù là nhỏ nhất. “Tất cả những điều này chứng tỏ”, ông kết luận, “con là đối tượng chính mà họ nhắm đến”.
Tôi lắng nghe cha mình chăm chú, nhưng tôi biết mình không thể làm theo để nghị của ông và ở lại Atlanta được. Tôi đã vô cùng lo lắng về cha mẹ mình. Tôi âu lo cho những nỗi lo âu trong lòng họ. Tôi biết nếu tôi tiếp tục cuộc đấu tranh, tôi sẽ đau khổ như chính nỗi đau mà tôi đang bắt họ gánh chịu. Nhưng nếu tôi rút lui vào lúc này, lương tâm tôi sẽ bị cắn rứt, nó sẽ quở trách tôi không có đủ sức mạnh tinh thần để đi tới cùng. Nếu như ai đã từng nhìn vào mắt những người thân yêu của mình để thấy rằng sự mạo hiểm là cách duy nhất mình chọn sẽ làm đau lòng họ đến nhường nào, thì mới hiểu được sự mâu thuẫn trong lòng tôi lúc này.
Cha tôi nói rằng ông đã đề nghị rất nhiều người bạn đáng tin cậy đến nhà vào đầu giờ chiều để thảo luận vấn đề này. Tôi nghĩ việc trao đổi ý kiến này sẽ phần nào giảm nhẹ mối lo cho cha nên đã sẵn lòng ở lại và tiếp chuyện cùng họ. Những người có mặt là A. T. Walden, một luật sư danh tiếng; C. R. Yates và T. M. Alexander, hai doanh nhân thành đạt; C. A. Scott, biên tập viên của tờ Atlanta Daily World ; Giám mục Sherman L. Green từ Nhà thờ A.M.E; Benjamin E. Mays, Chủ tịch của Đại học Morehouse; và Rufus E. Clement, Chủ tịch của Đại học Atlanta. Coretta và mẹ tôi cũng tham gia với chúng tôi.
Cha tôi giải thích với mọi người rằng, vì ông tôn trọng đánh giá của họ nên ông đã mời họ đến đây để cho ý kiến về chuyện tôi có nên trở về Montgomery hay không. Ông nói tóm tắt ngắn gọn về những nỗ lực của ông để làm tôi lánh khỏi Montgomery. Ông thú nhận là nỗi lo sợ về những gì có thể xảy đến với tôi đã khiến ông và mẹ tôi mất ngủ nhiều đêm. Ông kết thúc bằng việc kể lại cuộc trò chuyện với một luật sư dân chủ người da trắng vài giờ trước, người này cũng đồng ý với ông rằng tôi không nên quay lại vào lúc này.
Trong phòng có những tiếng xì xào tán thành. Tôi lắng nghe một cách chăm chú và khách quan nhất có thể khi có hai người đàn ông giải thích lí do vì sao họ đồng tình. Đây là những bậc tiền bối của tôi, là những lãnh đạo trong cộng đồng của tôi. Lời nói của họ rất có trọng lượng. Nhưng không lâu sau đó tôi không thể kiểm chế được nữa. “Tôi buộc phải quay về Montgomery”, tôi phản đối, “Bạn bè và đồng nghiệp của tôi đang bị bắt bớ. Nếu tôi tránh né thì đó là một việc làm vô cùng hèn nhát. Tôi thà ngồi tù mười năm còn hơn bỏ rơi cộng đồng của tôi ngay lúc này. Tôi đã phát động cuộc đấu tranh này, và tôi không thể quay lưng được. Tôi đã đi quá xa để có thể quay lại rồi”. Trong khoảnh khắc im lặng sau đó, tôi đã nghe tiếng cha mình bật khóc. Tôi nhìn Giáo sư Mays, một trong những người có sức ảnh hưởng lớn trong cuộc đời tôi. Có lẽ ông đã nghe được lời thỉnh cầu thầm lặng của tôi. Ngay lập tức, bằng mọi cách ông kiên quyết bảo vệ suy nghĩ của tôi. Những người còn lại sau đó đã cùng với ông ủng hộ tôi. Họ trấn an cha tôi rằng mọi việc sẽ không tồi tệ như chúng ta nghĩ. Và khi đó, ông Walden đã gọi ngay hai cuộc cho Thurgood Marshall - Cố vấn trưởng của NAACP, và Arthur Shores - Cố vấn của văn phòng NAACP tại Alabama, cả hai người đều chắc chắn với ông rằng tôi sẽ được bảo vệ bởi những hàng rào pháp lý tốt nhất. Trước tất cả những sự thuyết phục này, cha tôi bắt đầu chấp nhận việc tôi sẽ quay về Montgomery.
Sau khi mọi người đã ra về, Coretta cùng tôi đi lên phòng của chúng tôi ở trên lầu và nói chuyện rất lâu. Tôi đã rất vui khi biết được cả cô ấy cũng không hề có một chút nghi ngờ nào về việc tôi phải quay trở về ngay lập tức. Ý kiến của những người mà mình tin cậy, cộng với sự lo lắng của cha tôi đã giảm bớt làm vơi đi những cảm xúc nặng nề trong tôi, tôi cảm thấy nhẹ nhàng hơn và sẵn sàng hơn để đối diện với những gì đang chờ ở phía trước.
Cha tôi, đúng với tính cách của ông, sau khi rút lại phản đối ý định trở về Montgomery của tôi, đã quyết định đi cùng chúng tôi, không màng đến bất kỳ mối hiểm nguy hay bất tiện nào có thể xảy đến với ông. Ông tìm một tài xế, và khoảng 6 giờ sáng thứ Năm chúng tôi đã ở trên đường cao tốc hướng về Montgomery, và đến nơi vào khoảng 9 giờ. Trước khi chúng tôi bước ra khỏi xe, rất nhiều máy quay phim của đài truyền hình đã chĩa vào chúng tôi để ghi hình. Những phóng viên bằng cách nào đó đã biết được giờ chúng tôi về đến nơi. Vài phút sau Ralph Abernathy đến, anh đã được tại ngoại sau khi bị bắt vào hôm trước. Cùng với Ralph và cha tôi, tôi bước ra chuẩn bị đi đến nhà tù Quận, rất nhiều thành viên nhà thờ của tôi theo sau.
Tại nhà tù tràn ngập bầu không khí như là ngày lễ hội. Trên đường đến đây, Ralph Abernathy đã kể cho tôi nghe về cách mà mọi người đã ùa ra để bị bắt vào ngày hôm trước. Gần như không một ai hoảng sợ cả. Không ai cố tìm cách né tránh để không bị bắt. Nhiều người da đen đã tự động tìm đến văn phòng cảnh sát trưởng để xem tên mình có trong danh sách không, và thậm chí có người còn thất vọng khi không tìm thấy tên mình. Những con người từng mang đầy nỗi sợ trong lòng nay đã thay đổi. Những người trước đây đã run sợ trước luật pháp giờ lại trở nên tự hào khi bị bắt bớ vì cuộc đấu tranh cho tự do. Với tinh thần đoàn kết đó luôn ở bên cạnh mình, tôi vững bước tiến về khu phía sau nhà giam. Sau khi nhận được một con số, chụp hình và lăn vân tay, một thành viên của nhà thờ đóng tiền bảo lãnh cho tôi và tôi được ra về.
Phiên tòa sẽ diễn ra vào ngày 19 tháng Ba. Bạn bè từ khắp mọi miền đất nước đã đến Montgomery để sát cánh cùng chúng tôi trong suốt quá trình diễn biến. Các mục sư từ những nơi xa xôi như phía bắc New York đã có mặt. Dân biểu người da đen Charles C. Diggs (D-Mich.) đã luôn túc trực và sẵn sàng giúp đỡ. Rất nhiều phóng viên đại diện cho các hãng tin tức Mỹ, Ấn Độ, Pháp và Anh đã có mặt để tường thuật lại phiên tòa. Hơn năm trăm người da đen đã đứng trong sảnh và trên các con đường xung quanh khu tòa án nhỏ bé. Nhiều người trong số họ đeo thánh giá trên ve áo của mình với dòng chữ “Thưa Cha, xin tha tội họ”.
Thẩm phán Eugene Carter yêu cầu phiên tòa trật tự. Sau khi tiến hành các thủ tục, tôi được triệu tập với vai trò là bị cáo đầu tiên. Trong bốn ngày ngồi tại tòa, tôi lắng nghe những tranh luận và chờ đợi một phán quyết. William F. Thetford, Công tố viên của bang, đã lập luận để chứng minh rằng tôi đã bất tuân luật pháp qua việc tổ chức một cuộc tẩy chay trái luật. Những luật sư bào chữa - Arthur Shores, Peter Hall, Ozell Billingsley, Fred Gray, Charles Langford, và Robert Carter - đưa ra các luận cứ cho thấy bằng chứng của phía Công tố viên là không đủ để kết luận tôi đã vi phạm luật chống hoạt động tẩy chay của bang Alabama. Ngay cả khi chính quyền bang có chỉ ra được hoạt động đó, họ khẳng định, cũng không có một bằng chứng nào cho thấy những người da đen hành động mà không có nguyên nhân chính đáng hay lý do hợp pháp.
Tổng cộng có hai mươi tám nhân chứng được cho gọi để làm chứng cho bị cáo. Tôi lắng nghe họ với một cảm xúc trộn lẫn nỗi buồn và sự thán phục khi những con người giản dị này - phần lớn đều mù chữ - ngồi tại ghế nhân chứng không một chút sợ hãi và kể câu chuyện của họ. Họ nhìn thẳng vào mắt Công tố viên và Thẩm phán với sự dũng cảm và tự trọng, cho dù hai người kia không nhìn đáp lại.
Có lẽ lời khai cảm động nhất là của bà Stella Brooks. Trước đây, chồng bà đã lên một chiếc xe buýt. Sau khi trả tiền vé xe, ông bị người tài xế ra lệnh phải xuống và bước lên xe trở lại bằng cửa sau. Ông nhìn qua chiếc xe buýt đông đúc và thấy rằng không còn chỗ ở phía sau xe nữa, ông trả lời rằng mình sẽ xuống xe và đi bộ nếu người tài xế trả lại đồng mười xu cho mình. Người tài xế từ chối, một cuộc cãi vã xảy ra, và người tài xế đã gọi cảnh sát. Viên cảnh sát tới nơi, cưỡng bức Brooks, ông vẫn không chịu xuống xe trừ khi ông được trả lại tiền. Viên cảnh sát đã bắn ông. Nó xảy ra nhanh đến mức tất cả mọi người đều bàng hoàng. Brooks đã chết vì vết thương đó.
Và lời khai của bà Martha Walker, kể lại ngày bà đang dắt người chồng mù lòa của mình xuống xe buýt. Bà đã bước xuống xe và trong khi chồng bà đang bước theo thì người tài xế đã đóng sầm cửa và bắt đầu cho xe lăn bánh. Chân của ông Walker bị vướng lại. Mặc dù bà Walker la lên, người tài xế vẫn không dừng lại, và chồng bà đã bị kéo lê một đoạn trước khi ông có thể thoát ra. Bà đã phản ánh về tai nạn nhưng Công ty xe buýt chẳng làm gì cả.
Những câu chuyện cứ thế tiếp tục. Bà Sadie Brooks kể lại mình đã nghe chuyện một hành khách người da đen bị đe dọa khi ông ta không đưa đúng tiền vé. “Người tài xế đã rút ra một khẩu súng ngắn và ép người đàn ông ra khỏi xe”. Còn Bà Della Perkins cho biết mình đã bị một tài xế gọi là một “con vượn đen xấu xí”.
Tôi đã rất vui và không thể quên khi bà Georgia Gilmore - một người phụ nữ mù chữ nhưng thông thái lạ lùng - kể câu chuyện về một người tài xế đã buộc bà phải xuống xe sau khi đã trả tiền vé và bước lên xe trở lại bằng cửa sau, nhưng rồi lại lái xe đi trước khi bà bước lên được xe. Lúc kể xong, Bà quay sang nhìn Thẩm phán Carter và nói: “Khi đếm tiền, họ đâu có phân biệt giữa tiền của người da đen và tiền của người da trắng”.
Vào trưa ngày thứ Năm, 22 tháng Ba, khi cả hai bên đã nói xong, mọi ánh mắt đều hướng về Thẩm phán Carter, chỉ lặng dừng một chút, ông đưa ra phán quyết: “Tôi tuyên bố bị cáo có tội vì đã vi phạm Luật Chống hoạt động tẩy chay của bang”. Hình phạt là 500 đô và tiền án phí, hoặc 386 ngày lao động công ích tại Địa hạt của Montgomery. Sau đó Thẩm phán Carter tuyên bố rằng ông đưa ra mức hình phạt nhẹ nhất bởi vì những việc tôi đã làm để ngăn cản bạo lực xảy ra. Đối với những người da đen khác bị truy tố cùng tội danh - con số này đã giảm xuống còn 89 người - Thẩm phán Carter đã cho hoãn các phiên tòa này cho đến khi kháng cáo cuối cùng của tôi về vụ án được giải quyết.
Trong vòng vài phút, nhiều người bạn đã bước lên để ký bảo lãnh cho tôi, và những luật sư bào chữa đã thông báo với Thẩm phán rằng họ sẽ kháng cáo quyết định này. Nhiều người đứng xung quanh phòng xét xử đã rơi nước mắt. Những người khác im lặng cúi đầu ra về. Tôi theo dõi phiên tòa cho đến lúc kết thúc, cảm thông với Thẩm phán Carter và tình thế khó xử của ông. Để kết án tôi ông sẽ phải đối mặt với sự lên án của dư luận trong nước và quốc tế; để tha bổng cho tôi ông sẽ phải đối mặt với sự lên án của cộng đồng tại địa phương và những người cử tri đã tín nhiệm ông. Trong suốt quá trình xét xử ông đã đối xử với tôi rất lịch thiệp, và ông đã đưa ra một phán quyết mà có lẽ ông cho là cách tốt nhất để giải quyết vấn đề. Sau khi phiên tòa kết thúc, ông đã rời khỏi thành phố vì “nhu cầu nghỉ ngơi”.
Tôi rời khỏi phòng xét xử với vợ mình bên cạnh và một nhóm bạn theo sau. Trước tòa án, cả trăm người da đen lẫn da trắng, những người quay phim của đài truyền hình và thợ chụp ảnh, đang chờ đợi. Khi tôi vẫy tay, họ hét lên: “Chúa phù hộ anh”, và bắt đầu cất tiếng hát “Chúng tôi sẽ không bao giờ đi xe buýt”.
Thông thường, một người bước ra khỏi phòng xét xử với một phán quyết có tội sẽ mang một khuôn mặt ảm đạm. Nhưng tôi đã ra về với một nụ cười. Tôi biết mình đã là một tên tội phạm bị kết án, nhưng tôi tự hào về tội mình đã phạm. Đó là tham gia với cộng đồng của mình vào một cuộc phạn kháng phi bạo lực chống lại bất công. Đó là tìm cách khơi dậy trong người dân của tôi nhân phẩm và lòng tự trọng. Đó là khát khao đòi lại cho người dân của tôi những quyền bất khả xâm phạm về mạng sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc. Và hơn hết chính là tội tìm cách thuyết phục cộng đồng của mình rằng bất hợp tác với cái xấu cũng là một hành động chính nghĩa không kém gì hợp tác với cái tốt.
Vậy là một nỗ lực nữa để ngăn chặn cuộc phản kháng đã kết thúc. Thay vì chặn đứng phong trào, kế sách của đối phương chỉ làm cho phong trào càng lớn mạnh thêm, và kéo chúng tôi xích lại gần nhau hơn. Điều mà những người ở phe đối lập không nhìn thấy được chính là những đau khổ mà chúng tôi phải nếm trải đã kết nối chúng tôi lại với nhau bởi một sợi dây định mệnh. Điều gì xảy đến với một người sẽ xảy đến với tất cả.
Vậy là vào buổi trưa đầy mây tháng Ba đó, Thẩm phán Carter đã kết án nhiều người hơn là chỉ một mình Martin Luther King. Jr., trong vụ án số 7399, ông đã kết án tất cả người da đen tại Montgomery. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi mà phong trào không thể dừng lại. Nó đã quá lớn mạnh không gì có thể dập tắt được. Từng mắt xích của nó được kết lại chặt chẽ như một sợi xích vững chắc. Đó chính là sức mạnh đoàn kết tuyệt vời. Bất kể ở đâu xuất hiện Sự đoàn kết thực thụ, mọi cố gắng nhằm bẻ gãy nó chỉ có thể làm cho nó mạnh mẽ hơn nữa mà thôi. Đây chính là những gì mà phía đối phương đã không hiểu được.
Những thành viên của phe đối lập đã công nhận là họ không hiểu những người da đen, những người mà họ đang đối đầu. Họ tưởng rằng mình đang đấu với một nhóm người có thể bị dụ dỗ hoặc ép buộc làm bất cứ điều gì mà người da trắng muốn. Họ không biết rằng mình đang đứng trước những người da đen đã được giải phóng khỏi nỗi sợ hãi, do đó mà mỗi động thái của họ đều trở nên sai lầm. Đó là điều không thể tránh khỏi, bởi vì những phương pháp họ sử dụng là dành cho những “người da đen xưa cũ”, còn bây giờ họ đang đối đầu với những “người da đen đổi mới”.
Chương IX
Công bình cuối cùng cũng đến
Cuộc biểu tình phản đối xe buýt bắt đầu xảy ra, hầu hết những người lãnh đạo da đen đều hy vọng rằng việc giải quyết các yêu cầu của họ sẽ sớm được tiến hành. Những yêu cầu mà chúng tôi đưa ra không nhiều và cũng ở mức độ khiêm tốn, chỉ cần một vài điều chỉnh trong Luật Phân biệt đổi xử là đủ. Theo suy luận, chúng tôi nghĩ rằng ngay cả người da trắng bảo thủ nhất cũng có thể chấp nhận được những điều đó. Nhưng tháng ngày dần trôi qua, chúng tôi nhận ra sự lạc quan của mình đã bị đặt nhầm chỗ. Sự cố chấp của ủy ban Thành phố, sự thô bạo của chính sách ‘cứng rắn” và sự tàn độc của những vụ đánh bom gần đây đã làm cho chúng tôi càng tin rằng cần phải đáp lại bằng một cú đánh vào chính sự phân biệt đối xử trên xe buýt. Vậy là, một đơn kiện đã được đưa lên Tòa án Quận Liên bang Hoa Kỳ, yêu cầu chấm dứt việc phân biệt đối xử trên xe buýt vì nó sai với Tu chính án thứ Mười bốn của Hiến pháp và đồng thời cũng yêu cầu Tòa án buộc ủy ban Thành phố phải ngừng việc vi phạm quyền công dân của những người da đen đi xe mô tô và đi bộ.
Buổi điều trần được lên lịch vào ngày 11 tháng Năm, 1956 trước ba thẩm phán tòa Liên bang. Được xét xử tại Tòa Liên bang là một hy vọng lớn. Tại đây người ta có thể cảm nhận sự hiện diện của công lý. Không ai có thể hiểu được những gì mà một người da đen đến từ miền Nam cảm thấy khi bước chân vào một phiên tòa Liên bang, trừ khi họ đã từng chứng kiến và thấu hiểu tấn bi kịch của sự bóp nghẹt công lý ở các tòa án cấp thành phố và tiểu bang phía Nam. Ở những phiên tòa này, người da đen luôn hiểu là mọi thứ được sắp đặt để chống lại mình. Gần như chắc chắn họ sẽ phải đối mặt với một bồi thẩm đoàn thành kiến hoặc một thẩm phán thiên vị, và công lý sẽ bị cướp đi một cách công khai với rất ít hy vọng đòi lại được. Còn tại phiên tòa Liên bang, những người da đen miền Nam có cảm giác là họ thật sự có cơ hội thấy được công lý khi đứng trước pháp luật.
Đơn kiện của chúng tôi được gửi tới Tòa án bởi chính những luật sư đã bào chữa cho tôi trước Thẩm phán Carter trong vụ án về hoạt động tẩy chay. Lần này họ đã lập luận đầy thuyết phục để phản bác lại tính hợp hiến của Luật phân biệt đối xử. Robert Carter là thành viên nhóm pháp lý của NAACP, đã đưa ra lý lẽ chống lại hiệu lực của Nguyên tắc Plessy cũ. Nguyên tắc này được ban hành lần đầu tiên bởi Tòa Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ vào năm 1896, đã tạo cơ sở pháp lý cho miền Nam thiết lập các cơ sở riêng biệt nhưng bình đẳng giữa người da đen và da trắng. Trong lĩnh vực giáo dục, Tòa Tối cao đã đổi ngược quyết định này bằng phán quyết lịch sử tháng Năm 1954. Tuy nhiên, Nguyên tắc Plessy vẫn được xem là cơ sở cho chế độ phân biệt đối xử trong những lĩnh vực khác. Với những đòn tấn công tinh vi của mình, Robert Carter đã nhắm thẳng vào tính bất công và thiếu nhất quán của Luật phân biệt đối xử. Trong khi đó, những lập luận của các luật sư đại diện cho Thành phố thì luôn chỉ bám vào một chủ đề duy nhất: nếu chấm dứt sự phân biệt đối xử trên xe buýt, Montgomery sẽ trở thành một bãi chiến trường đầy bạo lực và máu đổ.
Sau nhiều giờ lắng nghe các bên tranh luận, Thẩm phán Rives nói với các luật sư đại diện Thành phố: “Có công bằng không”, ông hỏi, “khi tước đi quyền hiến định của một người, giả sử như họ có, để nhằm mục đích ngăn chặn một người khác phạm tội”. Đến lúc này tôi chạm khẽ vào Ralph Abernathy và Vernon Johns (anh đang có một chuyến thăm ngắn đến Montgomery tại thời điểm đó), đang ngồi hai bên tôi và thì thầm: “Lần này có thể chúng ta sẽ nhận được một phán quyết có lợi”.
Các thẩm phán đã thảo luận trong khoảng ba tuần. Vào ngày 4 tháng Sáu, 1956 họ tuyên bố với kết quả hai - một, Thẩm phán Lynn của Birmingham phản đối và cho rằng Luật phân biệt đối xử trên xe buýt trong Thành phố của bang Alabama là vi hiến. Lập tức các luật sư đại diện cho Thành phố tuyên bố họ sẽ kháng cáo vụ án lên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ.
Trận chiến vẫn chưa kết thúc thắng lợi. Chúng tôi sẽ phải tiếp tục đi bộ và hy sinh thêm nhiều tháng nữa, trong khi Thành phố kháng cáo. Nhưng ít nhất chúng tôi đã có thể mang theo bước chân mình một niềm hy vọng mới. Giờ đây chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi.
Chúng tôi đã nghĩ như thế, vậy mà ngay sau khi Tòa án đưa ra phán quyết thì lại xuất hiện một thảm họa mới đe dọa đến phong trào. Vào ngày 11 tháng Sáu, Mục sư U. J. Fields đã tuyên bố với báo giới về việc rút khỏi vị trí Thư ký Văn phòng của Hiệp hội. Trong bài phát biểu của mình, vị mục sư trẻ tuổi của Nhà thờ Baptist Bell Street- để râu chòm và là một thành viên của tổ chức từ những ngày đầu - cáo buộc các thành viên đã “lạm dụng số tiền được gửi đến từ khắp đất nước” và sử dụng chúng “cho những mục đích riêng tư”. Rất nhiều người trong Ban lãnh đạo, theo như anh ta khẳng định, đã bắt đầu có thói cư xử như “người quan trọng” và đã trở nên “quá tự cao và chú trọng vào lợi ích của chính mình”. Tổ chức, anh ta nói, đã không còn nhân danh cho những gì mà anh ta đặt niềm tin vào nữa và anh ta sẽ cắt đứt mối quan hệ với một phong trào mà “đa số bị thiểu số lợi dụng”.
Tôi không có mặt ở Thành phố khi Fields đưa ra lời tuyên bố đó. Coretta và tôi đã đi California cùng với Ralph và Juanita Abernathy để tham dự một vài cuộc hội thảo tiện thể kết hợp tận hưởng kỳ nghỉ đầu tiên cùng với nhau, tạm xa khỏi những căng thẳng thường ngày của cuộc tranh đấu. Mục sư R. J. Glasco, lúc bấy giờ đang là Trợ lý Điều hành tại văn phòng Hiệp hội, đã gọi điện báo cho chúng tôi tin này. Lúc chập tối hôm đó, Fields đã đến cuộc họp mặt quần chúng với trạng thái giận dữ vì Ban Quản trị không ủng hộ anh tái đắc cử. Khi anh ta đưa vấn đề này ra trước tập thể, cơn thịnh nộ của anh ta càng nổi bùng hơn lên khi gần như tất cả mọi người đều đồng ý với việc này của Ban Quản trị.
Ngay lập tức anh ta rời khỏi cuộc họp mặt để tuyên bố việc “rút lui” và chuẩn bị đòn tấn công vào Hiệp hội.
Mặc dù tin này không hoàn toàn làm tôi bất ngờ, nhưng tôi nhận thấy tác động nghiêm trọng mà nó có thể gây ra. Tôi biết chắc chắn những lời cáo buộc của Fields là không đúng sự thật, nhưng sẽ có người tin chúng và làm nhiều người khác thấy hoang mang. Một lời tố cáo lạm dụng tiền quỹ sẽ gây tổn hại cho việc nhận tiền quyên góp, do đó gây trở ngại cho hoạt động của hệ thống xe đưa rước. Hơn nữa, những người da trắng đối lập có thể lấy cớ này để điều tra hồ sơ của chúng tôi với mục đích cuối cùng là đóng băng nguồn quỹ. Tôi cũng lo lắng không biết người da đen tại Montgomery sẽ làm gì để trút cơn giận của họ lên Fields.
Kỳ nghỉ của tôi đã kết thúc khi nó chưa kịp bắt đầu. Tôi hủy hết những kế hoạch còn lại của mình, hứa với Coretta và hai vợ chồng Abernathy là tôi sẽ quay trở lại với họ sau khi giải quyết mọi việc, và bay trở về Montgomery. Như đã dự đoán, tôi trở về trong bầu không khí sôi sục. Không một ai lên tiếng ủng hộ Fields. Những lời cáo buộc của anh ta méo mó đến mức ngay cả giới truyền thông da trắng cũng chỉ loan tin một cách hời hợt. Những người da đen gọi anh ta là “kẻ ngu xuẩn” hay “Judas da đen” (kẻ phản bội). “Ước gì tôi có thể cho anh ta một trận”, một người hầu đã nóng giận nói. Ngay chính cộng đoàn của Fields cũng họp và bỏ phiếu giáng chức anh ta (nhưng sau đó lại phục chức). Ở khắp mọi nơi trong cộng đồng người da đen, anh ta chỉ nhận được sự ác cảm.
May mắn thay, đến lúc này Fields đã tâm sự riêng với nhiều người rằng anh ta thật sự rất hối hận với những gì mình đã làm. Rạng sáng ngày 18 tháng Sáu, điện thoại nhà tôi đổ chuông. Fields biết tin tôi đã trở về Thành phố và muốn được gặp tôi. Anh ta đến với vẻ mặt nghiêm nghị và đi thẳng vào vấn đề.
“Tôi muốn anh biết là những lời cáo buộc của tôi không phải nói về anh. Tôi đã luôn dành sự tôn trọng nhất cho sự chính trực của anh và đến bây giờ vẫn như vậy. Nhưng có một vài thành viên trong Ban Điều hành của Hiệp hội mà tôi không muốn nghĩ đến một chút nào. chúng tôi chưa bao giờ hòa thuận được với nhau”.
Tôi ngắt lời, “Ý anh là những lời chỉ trích về sự ích kỷ của những người lãnh đạo là do xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa anh và một vài người khác trong Ban Điều Hành?”
“Đúng thế”, anh ta thừa nhận, “tôi nghĩ sự thật là vậy”.
Tôi hỏi tiếp về việc lạm dụng tiền quỹ. Tôi nói rằng nếu thật sự có chuyện như vậy xảy ra thì tôi muốn nghe chi tiết về việc đó. Fields trả lời với vẻ phiền muộn:
“Thú thật là tôi không hề biết một trường hợp lạm dụng tiền quỹ nào. Tất cả những điều đó là tôi đã bịa ra trong một phút nóng giận. Tôi cảm thấy như Ban Điều hành đã cư xử không phải với mình, và đây là cách mà tôi trả đũa họ”.
Đến lúc này thì mọi việc đã rõ, Fields là một người đáng thương hơn là đáng khinh. Tôi hỏi liệu anh ta có sẵn sàng nói lại y như vậy trong cuộc họp mặt quần chúng tối đó không. Anh ta tỏ ra hiểu biết và đồng ý.
Mọi người bắt đầu tập trung trước Nhà thờ Baptist Beulah vào 3 giờ chiều. Đến 5 giờ thì nhà thờ đã đầy ắp người. Trong buổi tối nóng bức này, nỗi oán giận đã bao trùm cả bầu không khí, điều mà người ta hiếm khi thấy trước đây. Lúc 7 giờ, khi Fields bước lên bục phát biểu để ngồi cùng với tôi thì đám đông bắt đầu thì thầm một cách giận dữ, và tôi đã nghe một giọng ai đó hét lên “Hãy nhìn xem tên quỷ dữ đang ngồi cạnh Mục sư King kìa”.
Tôi có hai nhiệm vụ trước mắt: một là thuyết phục mọi người rằng không hề có việc lạm dụng nguồn quỹ xảy ra và tổ chức nội bộ của Hiệp hội vẫn đáng tin cậy; nhiệm vụ còn lại là thuyết phục họ tha thứ cho những lỗi lầm của Fields và hãy cho anh ta cơ hội trình bày. Tôi đi ngay vào vấn đề thứ nhất.
“Tôi nghĩ là”, tôi nói, “bản thân mình hiểu rõ về Hiệp hội Cải cách Montgomery không kém bất kỳ ai khác tại Montgomery này, và có thể thẳng thắn nói rằng tôi không hề biết đến bất cứ một trường hợp lạm dụng nguồn quỹ nào. Những người trong ủy ban Tài Chính của tổ chức chúng tôi đều là những người trung thực, mà sự chính trực của họ đã được khẳng định trong nhiều năm qua và nhân phẩm của họ thì không có gì để chê trách. Tôi đặt niềm tin tuyệt đối vào ủy ban Tài Chính và những mục sư đả vận động gây quỹ tại các buổi họp trên khắp đất nước”.
Tôi phủ nhận cáo buộc về “sự tự cao”. “Đúng là”, tôi nói, “có một vài người trong ban lãnh đạo đã được trong nước và thế giới biết đến, nhưng chỉ những người nông cạn mới ham thích danh tiếng. Danh tiếng chỉ là thứ phù du, nó xuất hiện ngày hôm nay và biến mất vào hôm sau. Ngày hôm nay mọi sự chú ý đổ dồn cho Autherine Lucy, ngày mai sẽ là Gus Courts. Ngày hôm nay là Emmet Till, ngày mai sẽ là Martin Luther King. Và rồi một ngày mai khác thì sẽ là một người khác nữa. Bất cứ ai si mê danh tiếng thường không xứng đáng giữ được nó và kết cục sẽ rơi vào đau khổ.”
“Danh dự và đặc quyền” tôi tiếp tục, “thường đi đôi với vai trò lãnh đạo chỉ là một mặt của tấm huân chương. Càng nhiều đặc quyền thì trách nhiệm và sự hy sinh đặt trên vai càng lớn”.
Cho đến lúc này mọi người vẫn lắng nghe với lòng cảm thông. Nhưng khi tôi bắt đầu đề cập đến Fields thì họ nhúc nhích và không thể ngồi yên, tôi đã nghe được tiếng thì thầm phản đối. Tôi thành thật bày tỏ sự thất vọng về những lời rêu rao của Fields, “rõ ràng là nó đã gây ra cho chúng ta quá nhiều vấn đề không cần thiết”.
“Thật vậy đấy, thưa Mục sư”, một ai đó đã hét lên.
“Nhưng”, tôi tiếp tục, “chúng ta phải giải quyết tình trạng này với những phẩm chất cao quý và kỷ luật như chúng ta đã từng giải quyết rất nhiều tình huống khó khăn trong quá khứ. Đừng bao giờ quên rằng chúng ta đã chọn lấy phương pháp phi bạo lực, và phi bạo lực không chỉ là tránh xa bạo lực về thể xác mà còn tránh xa cả bạo lực trong tâm hồn. Mọi người không chỉ từ chối việc bắn một người, mà còn từ chối việc thù ghét họ. Giờ đây, trên tinh thần của phong trào phi bạo lực, tôi kêu gọi mọi người hãy tha thứ cho Mục sư Fields”. Tôi đã trông thấy một vài người lắc đầu phản đối, và tôi nói tiếp, “Tất cả chúng ta đều hiểu rõ sự yếu đuối trong bản chất con người. Tất cả chúng ta đều đã từng phạm sai lầm trong cuộc đời mình, và đều có những giây phút để cho cảm xúc khống chế bản thân. Buổi tối hôm nay, trong số chúng ta ở đây có một vài người muốn ném những viên đá kết tội một người anh em của chúng ta bởi vì anh ta đã phạm phải sai lầm”. Tôi dừng lại một chút, và nhắc lại lời của Chúa: “Hãy để người chưa từng phạm tội bao giờ là người ném viên đá đầu tiên”. Đến đây, một sự trầm lặng bao trùm lên tất cả.
Để kết thúc lời phát biểu, tôi nhắc lại câu chuyện ngụ ngôn về đứa con trai hoang đàng. “Chúng ta sẽ chọn làm người anh cả cố chấp hay chọn gương người Cha nhân hậu và vị tha theo tinh thần của đấng Kitô?”
Khi Fields đứng lên phát biểu, thay vì những tiếng la ó và xúc phạm mà anh ta chờ đợi thì lại nhận được sự im lặng và lắng nghe một cách tôn trọng. Rồi anh ta bắt đầu cầu nguyện. “Xin Ngài dẫn lối cho chúng con, để ngày từng ngày trong cuộc đời này, đến ngay cả những lời cầu nguyện của chúng con cũng chỉ là vì người khác...”. Từ dưới đám đông, một tiếng “amen” lớn đáp lại. Sau đó anh ta xin được tha thứ cho những lỗi lầm của mình và xác nhận với mọi người rằng anh ta không có bằng chứng cho việc tiền quỹ đã bị Hiệp hội lạm dụng hay sử dụng trái mục đích. Khi anh ta nói xong, mọi người đã thật sự xúc động. Anh ta rời khỏi bục phát biểu trong tiếng vỗ tay rầm rộ.
Vậy là phi bạo lực một lần nữa lại chiến thắng, và một tình huống mà nhiều người dự đoán sẽ là cái kết tồi tệ cho Hiệp hội thì nó lại làm cho Hiệp hội trở nên hòa hợp hơn bao giờ hết trong tinh thần bao dung.
Những ngày hè qua đi, nhường lại cho những ngày ngắn hơn, mát mẻ hơn của mùa thu ở Alabama. Quyết định của Tòa án Tối cao về đơn kháng cáo vẫn đang trong thời gian cứu xét. Trong lúc đó, hệ thống xe đưa rước của chúng tôi đã gặp phải trắc trở liên tục. Gần như chỉ trong một đêm, những văn phòng bảo hiểm đưa ra quyết định từ chối bảo hiểm cho những chiếc xe đưa đón của chúng tôi với lý do mức rủi ro quá cao. Bảo hiểm trách nhiệm cho những chiếc xe đưa đón này đã bị hủy không dưới bốn lần trong vòng bốn tháng (Chúng tôi không gặp vấn đề với bảo hiểm va chạm bởi vì nó được cung cấp bởi một công ty của người da đen).
Cuối cùng Công ty cung cấp Bảo hiểm trách nhiệm cho chúng tôi đã thông báo là hợp đồng bảo hiểm sẽ bị hủy bỏ từ ngày 15 tháng Chín. Một người bạn sống ở miền Bắc sau khi biết được vấn đề của chúng tôi đã viết thư gợi ý cho chúng tôi liên lạc với Công ty Lloyds of London. Một vài ngày sau đó tôi liên lạc với T. M. Alexander, một người môi giới bảo hiểm ở Atlanta, anh tán thành ý kiến này và đồng ý liên lạc giúp chúng tôi. Chỉ trong vài ngày, anh đã thông báo với chúng tôi là Lloyds of London đã đồng ý cung cấp dịch vụ bảo hiểm. Từ đó trở đi vấn để bảo hiểm của chúng tôi đã được giải quyết.
Thế nhưng chúng tôi lại gặp phải những thử thách còn lớn hơn. Thành phố đã quyết định dựa vào pháp lý để tấn công vào hoạt động của hệ thống xe đưa rước. Vào ngày 30 tháng Mười, 1956, Thị trưởng Gayle ra quyết định chỉ đạo bộ phận pháp lý của Thành phố “tiến hành thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết để dừng hoạt động hệ thống xe đưa rước hoặc hệ thống di chuyển nào là sản phẩm của việc tẩy chay xe buýt”. Chúng tôi đã cố ngăn chặn bước đi này của họ bằng cách đệ đơn yêu cầu Tòa án Liên bang ra lệnh cấm Thành phố can thiệp vào hoạt động của hệ thống xe đưa rước. Nhưng Thẩm phán Quận Frank M. Johnson đã không chấp thuận yêu cầu này. Không lâu sau đó, nhiều người trong chúng tôi nhận được giấy triệu tập hầu tòa do Thành phố đã trình đơn khiếu nại. Buổi điều trần sẽ diễn ra vào ngày thứ Ba, 13 tháng Mười Một.
Trước ngày ra điều trần, tôi sẽ phải đứng ra thông báo với mọi người rằng hệ thống xe đưa rước rất có thể sẽ bị cấm hoạt động. Tôi biết mọi người đã sẵn lòng chịu vất vả trong gần mười hai tháng trời, thì làm sao họ có thể quay trở lại bình thường đi xe buýt như trước nếu hệ thống xe đưa rước bị hủy bỏ? Liệu chúng tôi có thể yêu cầu họ đi bộ hàng ngày để đi làm được không? Và nếu câu trả lời là không, vậy thì còn cách nào khác nữa ngoài việc buộc phải chấp nhận là cuối cùng chiến dịch phản kháng đã thất bại? Lần đầu tiên trong suốt cuộc đấu tranh dai dẳng luôn sát cánh bên nhau, gần như tôi thấy ngần ngại xuất hiện trước họ.
Buổi tối đến, tôi lấy hết can đảm để cho họ biết sự thật. Tuy nhiên, tôi đã cố gắng kết thúc bài nói với một tia hy vọng. “Điều này rất có thể là”, tôi nói, “giờ phút đen tối nhất trước khi bình minh đến. Chúng ta đã vượt qua bao tháng ngày, quả cảm với một niềm tin rằng Chúa ở cùng chúng ta trong cuộc đấu tranh này. Hàng loạt trải nghiệm trong những ngày tháng vừa qua đã chứng minh cho niềm tin đó bằng một cách khó có thể ngờ đến nhất. Chúng ta phải bước tiếp với niềm tin không hề thay đổi,với sự kiên cường chẳng khác thời gian qua. Chúng ta phải tin rằng một hướng đi mới sẽ được mở ra từ chính sự bế tắc”. Dù với những lời như thế, tôi vẫn cảm thấy một làn gió bi quan lạnh lẽo thổi tràn qua đám đông. Đêm đó là một đêm tăm tối - tăm tối hơn cả một ngàn đêm cộng lại. Đó là một đêm mà ánh sáng hy vọng chực tàn rụi và ngọn đèn niềm tin sắp sửa chập chờn. Chúng tôi ra về mà trong lòng không thấy gì khác ngoài một đám mây của sự bấp bênh vô định chực chờ phía trước.
Sáng thứ Ba, chúng tôi vào tòa, và một lần nữa đối diện với Thẩm phán Carter. Đơn khiếu kiện của Thành phố nhắm đến Hiệp hội Cải cách Montgomery, nhiều nhà thờ và cá nhân. Đơn này yêu cầu Tòa án duyệt cho Thành phố một khoản bồi thường thiệt hại phát sinh do hoạt động của hệ thống xe đưa rước, với lập luận rằng đã bị tổn thất hơn 15.000 đô la vì sự sụt giảm lượng hành khách đi xe buýt (Thành phố được hưởng 2 phần trăm doanh thu của Công ty xe buýt). Đơn còn cáo buộc hệ thống xe đưa rước của chúng tôi “làm đảo lộn cộng đồng” hay là mối gây rối cộng đồng và là một “doanh nghiệp tư nhân” hoạt động không có giấy phép hay sở hữu quyền kinh doanh. Khi các bên đã trình bày rõ lập luận của mình thì vấn đề chính xoay quanh việc hệ thống xe đưa rước có phải là một “doanh nghiệp tư nhân” hoạt động không có quyền kinh doanh hay không? Hay nó chỉ là một phương án “chia sẻ xe tự nguyện được các nhà thờ người da đen tổ chức như một loại dịch vụ phi lợi nhuận?
Với tư cách là bị đơn chính, tôi ngồi ở bàn trước cùng với các luật sư công tố và luật sư bào chữa. Khoảng 12 giờ - trong một phiên giải lao ngắn - tôi nhận thấy sự xôn xao bất thường trong phòng xét xử ủy viên Cảnh sát Sellers và Thị trưởng Gayle đã được gọi vào phòng trong, theo sau họ là hai luật sư Thành phố. Rất nhiều phóng viên đang nhốn nháo đi vào đi ra.
Tôi quay sang Fred Gray và Peter Hall nói: “Có chuyện gì đó rồi.”
Tôi chưa nói hết câu, Rex Thomas - một phóng viên của hãng truyền thông Associated Press - tiến đến gần tôi với một mảnh giấy trong tay.
“Đây là quyết định mà anh đang mong chở. Hãy đọc bản tin này đi”.
Với cảm giác vừa lo lắng vừa hy vọng, tôi vội vàng đọc từng chữ: “Hôm nay Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã công nhận phán quyết của phiên tòa đặc biệt, do ba thẩm phán Tòa án Quận tuyên bố sự phân biệt đối xử trên xe buýt trong Luật bang Alabama và Luật địa phương của bang là vi hiến. Tòa Tối cao đã đưa ra phán quyết mà không cẩn nghe tranh luận nào, chỉ cho biết rằng kiến nghị đã được biểu quyết thông qua và quyết định của Tòa đã được xác nhận”.
Ngay lúc đó tôi nghe tim mình rộn lên một niềm vui sướng khôn tả. Giờ phút đen tối nhất trong cuộc đấu tranh của chúng tôi hóa ra lại thật sự là giờ phút chiến thắng đầu tiên. Ngay lập tức tôi báo tin này cho các luật sư đang ngồi cùng. Sau đó tôi đi vội xuống phía dưới phòng để báo cho vợ mình, Ralph Abernathy, và E. D. Nixon. Tin tức đã nhanh chóng lan đến tai tất cả mọi người trong phòng xét xử. Nét mặt của những người da đen biểu lộ đã nghe tin. “Thiên Chúa Quyền năng đã lên tiếng từ Washington D.C.”, một người đến xem phiên tòa hồ hởi nói.
Vai phút sau Thẩm phán Carter yêu cầu mọi người quay lại phiên tòa, và chúng tôi dành cả ngày còn lại tập trung tiếp tục vụ tranh tụng. Vào khoảng 5 giờ chiều, cuộc tranh luận kết thúc và phán quyết của Thẩm phán được đưa ra sau vài phút. Như tất cả chúng tôi đã nghĩ, theo yêu cầu của Thành phố, Tòa án đã ra một án lệnh tạm thời dừng hoạt động của hệ thống xe đưa rước. Nhưng quyết định này đã trở nên lu mờ trong tâm trí mọi người sau sự kiện buổi sáng. Thứ Ba, ngày 13 tháng Mười một, 1956, sẽ luôn được nhớ đến như một ngày quan trọng và trớ trêu trong lịch sử tẩy chay xe buýt của Montgomery. Trong cùng ngày hôm đó, hai phán quyết lịch sử đã được đưa ra - một phán quyết chấm dứt hệ thống xe đưa rước; phán quyết còn lại thì loại bỏ mầm mống làm nảy sinh một hệ thống như vậy.
Tôi gấp rút trở về nhà và thông báo với báo chí việc tổ chức một cuộc họp các công dân da đen vào tối thứ Tư, 14 tháng Mười một, để xem xét quyết định về việc dừng cuộc tranh đấu. Để tiếp xúc được với nhiều người nhất có thể, sẽ có hai cuộc họp cùng một lúc ở hai đầu của Thành phố và với nhiều diễn giả cùng thay nhau đến cả hai nơi. Trong thời gian chuẩn bị, với sự tư vấn của Ban cố vấn, Ban Điều hành đã đi đến quyết định kiến nghị với mọi người chính thức chấm dứt cuộc phản kháng ngay lúc này, nhưng việc trở lại sử dụng xe buýt sẽ được hoãn lại cho đến khi nhận quyết định thi hành của Tòa Tối cao được gửi đến từ Washington, dự kiến sẽ mất vài ngày.
Tám nghìn người gồm đàn ông và phụ nữ đã đến chật kín hai nhà thờ và cả xung quanh đó với tinh thần phấn khởi. Tại buổi họp mặt thứ nhất có thể thấy rõ tin tức về quyết định của Tòa án đă nhanh chóng được lan truyền, và khúc Thánh ca mở đầu vang lên nghe hân hoan lạ thường. Người đọc Kinh Thánh tối đó là Bob Graetz, anh chọn lá thư nổi tiếng mà Phaolô đã viết cho các tín hữu thành Cô-rinh-tô: “Mặc dù tôi luôn tràn đầy niềm tin để có thể dời cả núi đồi, nhưng không có tình yêu thương, tôi chẳng là gì... Tình yêu thương rất nhẫn nại và bao dung...”.
Khi vị mục sư tóc vàng, với dáng người mảnh dẻ, chia sẻ: “Khi tôi còn là một đứa trẻ, tôi ăn nói như một đứa trẻ, tôi tìm hiểu như một đứa trẻ, tôi suy nghĩ như một đứa trẻ; nhưng khi tôi trở thành một người đàn ông, tôi bỏ đi những điều trẻ con”, cả cộng đoàn vỡ òa với tiếng vỗ tay vang dội. Không lâu sau đó họ bắt đầu reo hò, cổ vũ và vẫy khán tay như thể họ nhận ra rằng mình đã trưởng thành, đã được tôi rèn nên một phẩm cách mới. Khi Bob Graetz kết lại bài nói: “Và giờ đây tôi hành động theo đức tin, hy vọng và tình yêu, nhưng điều vĩ đại nhất trong đó chính là tình yêu” thì một đợt cảm xúc nữa lại dâng trào, chỉ những ai đã phải cố gắng yêu thương ngay cả khi đang mắc kẹt trong một cuộc xung đột cay đắng mới có thể có những phản ứng như vậy. Chính lúc này tôi hiểu được rằng phi bạo lực, mặc cho những khó khăn mà nó kéo theo, đã chinh phục được trái tim của chúng tôi.
Sau này, trong một lần Ralph Abernathy phát biểu, anh kể lại chuyện một phóng viên người da trắng khi trò chuyện với anh đã có thái độ chỉ trích phản ứng bùng nổ ngày hôm đó của cộng đoàn.
“Không phải là hơi kỳ quái sao”, người phóng viên đặt câu hỏi, “khi mà người ta lại xen ngang vào việc đọc Kinh Thánh như vậy?”.
“Đúng vậy đấy”, Abernathy kể lại những gì mình đã trả lời, “Kỳ quái như khi người ta lại chọn đi bộ trên tuyết và trong mưa khi đang có những chiếc xe buýt còn trống chạy trên đường; kỳ quái như khi người ta lại cầu nguyện cho những người đã bức hại họ; kỳ quái như khi một người da đen ở miền Nam lại dám đứng lên và đối mặt với người da trắng như những người bình đẳng với nhau”. Khi nghe điều này, đám đông đã cười, reo hò và vỗ tay.
Tại cả hai cuộc họp mặt, mọi người đều chấp nhận đề nghị của Ban Quản trị về việc dừng cuộc phản kháng nhưng khoan trở lại sử dụng xe buýt cho đến khi Lệnh của Tòa án được gửi đến Alabama.
Đêm đó tổ chức Ku Klux Klan đã có động thái. Lời tuyên bố về những hành động nhằm gửi thông điệp của họ đến cộng đồng người da đen đã được phát trên radio. Những lời đe dọa về bạo lực và những cuộc đánh bom mới được gieo rắc khắp nơi. Hộp thư nhà tôi nhận được một lời cảnh cáo nói rằng “nếu mày cho phép lũ mọi da đen trở lại xe buýt và ngồi ở những ghế phía trước, tụi tao sẽ thiêu rụi năm mươi ngôi nhà trong một đêm, trong đó sẽ có nhà mày”. Một bức thư khác chửi rủa Tòa án Tối cao và đe dọa “tên khốn Hugo Black”: “Khi hắn trở về Alabama, tụi tao sẽ treo cổ hắn và mày trên cùng một ngọn cây”.
Thường những lời đe dọa về những việc mà tổ chức Klan sẽ làm là tín hiệu cho những người da đen đi về nhà, đóng cửa, kéo màn, hoặc tắt hết đèn đi. Kinh sợ cái chết, họ sẽ chọn cách giả chết. Nhưng lần này mọi người đã chuẩn bị tinh thần cho một biến cố xảy ra. Khi hội kín Klan đến nơi - theo như những tờ báo tường thuật lại, “khoảng bốn mươi chiếc xe ô tô chở đầy những thành viên của hội mặc áo choàng mũ trùm đầu” - đèn trên hiên nhà của người da đen vẫn sáng và cửa nhà vẫn mở. Trong lúc Klan lái xe ngang qua, những người da đen biểu hiện thái độ như thể đang xem một gánh xiếc diễu hành. Gồng mình giấu kín nỗi sợ, nhiều người cất bước đi lại xung quanh như mọi khi; một vài người thì quan sát từ bậc thềm nhà mình; một vài người đã vẫy tay khi những chiếc xe này đi ngang qua. Sau khi đã đi qua vài dãy nhà, hội Klan thấy bối rối trước điều này, đã rẽ vào một con đường nhỏ và biến mất trong màn đêm.
Không lâu sau đó, chúng tôi được biết mình sẽ phải đợi nhiều hơn bốn hoặc năm ngày để Lệnh thi hành của Tòa án đến được Montgomery. Một phóng viên quen biết với Thư ký Tòa tại Washington cho biết việc này rất có thể sẽ mất đến gần một tháng. Điều này gây ra một vấn đề nghiêm trọng khi mà hệ thống xe đưa rước vẫn còn đang bị cấm hoạt động. Để đối phó với khủng hoảng này, chúng tôi kêu gọi mỗi khu vực và tuyến đường tự thiết kế một kế hoạch phối hợp “chia sẻ xe”. Với sự giúp sức của S. S. Seay trong vai trò một điều phối viên khéo léo, kế hoạch đã thành công. Những chiếc xe buýt vẫn không có ai đi.
Trong lúc chờ Lệnh của Tòa án, chúng tôi bắt tay vào chuẩn bị tinh thần cho mọi người khi trở lại đi xe buýt. Trong tất cả các cuộc họp mặt quần chúng, chúng tôi đều nhấn mạnh tinh thần phi bạo lực. Chủ đề chính của những cuộc họp này là “chúng ta không được xem đây là một chiến thắng trước người da trắng. Đây là chiến thắng của công lý và Dân chủ”. Chúng tôi luôn luôn tha thiết nhắc nhở mọi người rằng “khi trở lại đi xe buýt chúng ta không được gây hấn với mọi người một cách không cần thiết để thể hiện quyền lợi của mình. Chúng ta trở lại với một thái độ chỉ đơn giản là ở đâu có ghế trống thì ngồi”.
Tại nhiều cuộc họp, chúng tôi hướng dẫn mọi người về phương pháp bất bạo động, chúng tôi xếp các hàng ghế trước bàn thờ để mô phỏng một chiếc xe buýt, với một ghế tài xế ở phía trước. Khoảng mười hai người trong khán giả được chọn làm “diễn viên” và giao cho mỗi người một vai diễn với tình huống được giả định. Một người sẽ làm tài xế và những người còn lại sẽ là hành khách da trắng và da đen. Cả hai nhóm người đều sẽ có một vài nhân vật thù địch và một vài nhân vật lịch thiệp. Khán giả được xem nhóm diễn viên diễn một tình huống xúc phạm hoặc bạo lực có thể sẽ xảy ra trên thực tế. Khi một tình huống kết thúc, những diễn viên trở về chỗ ngồi và một nhóm khác trong khán giả sẽ lên thay thế. Mỗi buổi huấn luyện đều kết thúc bằng một cuộc thảo luận.
Đôi khi có những người đóng vai người da trắng đã diễn quá nhập tâm đến mức chúng tôi phải nhẹ nhàng nhắc nhở họ trở lại nội dung chính của tình huống. Thường xuyên có những vai diễn người da đen đã quên mất vai trò ôn hòa của mình và phản kháng bằng vũ lực. Mỗi khi việc này xảy ra chúng tôi sẽ giúp người đó điều chỉnh lại lời nói và hành động của mình theo hướng phi bạo lực.
Khi gần đến ngày mà Lệnh thi hành sẽ được gửi đến, nhiều lãnh đạo của Hiệp hội đã đến các trường học và kêu gọi học sinh trung học cũng như sinh viên đại học phải tuân thủ nguyên tắc phi bạo lực. Chúng tôi còn phân phát khắp Thành phố các tờ rơi in "Những Lời khuyên khi sử dụng xe buýt Bình đẳng " Người giúp chúng tôi là Glenn Smiley, một mục sư da trắng sinh ra tại miền Nam, người của Hiệp hội Hòa Giải (Fellowship of Reconciliation) đang có mặt tại Montgomery vào thời điểm đó.
LỜI KHUYÊN KHI SỬ DỤNG XE BUÝT BÌNH ĐẲNG
Đây là một tuần lễ lịch sử, bởi vì chính sách phân biệt đối xử trên xe buýt đã bị tuyên bố vi hiến. Chỉ trong vài ngày nữa Lệnh thi hành của Tòa án Tối cao sẽ được gửi đến Montgomery và bạn sẽ được đi trên những chiếc xe buýt bình đẳng . Điều này đặt trên vai tất cả chúng ta một trọng trách cực kỳ to lớn là phải luôn giữ thái độ điềm tĩnh và yêu thương, thể hiện nhân cách của những công dân và thành viên tốt của chủng tộc mình trước viễn cảnh sẽ có một vài điều không hay xảy ra. Nếu có bất kỳ lời nói hay hành động bạo lực nào xảy ra, thì điều đó tuyệt đối không phải do chúng ta gây ra.
Để giúp cho mọi người dễ dàng thực hiện hơn, chúng tôi đưa ra một số lời khuyên sau. Xin bạn hãy đọc, nghiên cứu, và ghi nhớ chúng để thực hành quyết tâm phi bạo lực của chúng ta. Đầu tiên là một vài lời khuyên tổng quát:
1. Không phải người da trắng nào cũng phản đối xe buýt bình đẳng . Hãy đón nhận thiện chí từ nhiều phía
2. Toàn bộ xe buýt giờ đây thuộc quyền sử dụng của tất cả mọi người. Hãy chọn cho mình một ghế trống.
3. Hãy cầu nguyện để bản thân luôn được dẫn dắt và nhắc nhở tuân thủ tuyệt đối phi bạo lực trong lời nói và hành động mỗi khi bạn bước lên xe buýt.
4. Thể hiện phẩm chất điềm tĩnh của một người dân Montgomery trong hành động của mình.
5. Trong mọi việc hãy hành xử lịch sự và thiện chí.
6. Hãy nhớ đây không chỉ là chiến thắng của người da đen, mà là của toàn bộ Montgomery và miền Nam. Đừng khoe khoang! Đừng khoác lác!
7. Hãy yên lặng nhưng thân thiện; hãnh diện nhưng không được tự phụ; hân hoan nhưng không ồn ào.
8. Hãy mở lòng bao dung để chịu đựng và tha thứ cho cái ác; đủ thấu hiểu để biến thù thành bạn.
Còn sau đây là một vài lời khuyên cụ thể:
1. Tài xế là người có trách nhiệm đối với chiếc xe được giao và có nghĩa vụ phải tuân thủ luật pháp. Hãy nghĩ rằng anh ta sẽ sẵn sàng giúp bạn tìm một ghế trống.
2. Đừng chủ động ngồi cạnh một người da trắng, trừ khi không còn ghế trống nào khác.
3. Trước khi ngồi xuống bên cạnh một ai đó, dù da trắng hay da màu, hãy nói “Xin phép bạn” hay “Xin lỗi”. Đây là phép lịch sự thông thường.
4. Nếu bị chửi rủa, đừng chửi lại. Nếu bị xô đẩy, đừng đẩy lại. Nếu bị đánh, đừng đánh lại, mà hãy thể hiện tình thương yêu và thiện chí trong mọi lúc.
5. Nếu có vấn đề xảy ra, hãy nói càng ít càng tốt và luôn nói với âm lượng vừa phải. Đừng rời khỏi chỗ ngồi của mình! Báo cáo tất cả các sự cố nghiêm trọng cho tài xế xe buýt.
6. Trong những ngày đầu tiên đi xe buýt, hãy cố gắng đi cùng với một người bạn có thái độ phi bạo lực được mình tin tưởng. Các bạn có thể hỗ trợ tinh thần cho nhau qua ánh mắt hoặc lời cầu nguyện.
7. Nếu trông thấy một ai đó đang bị quấy rối, đừng rời khỏi chỗ ngồi để tới giúp họ chống cự. Hãy cầu nguyện cho kẻ đàn áp, dùng sức mạnh tinh thần và lý lẽ để tiếp tục đấu tranh cho công lý.
8. Tùy thuộc vào khả năng và tính cách của mình, đừng ngại áp dụng những phương pháp mới và sáng tạo để đạt được sự hòa giải và thay đổi xã hội.
9. Nếu bạn cảm thấy mình vẫn chưa đủ sức đương đầu với việc này, bạn có thể tiếp tục đi bộ một hoặc hai tuần nữa. Chúng tôi tin tưởng vào tất cả mọi người.
XIN CHÚA GIỮ GÌN TẤT CẢ
Trong khi chúng tôi dốc hết sức lực để chuẩn bị cho người da đen những cách ứng xử thích hợp trên xe buýt thì không hề có một tổ chức da trắng nào đứng ra nhận trách nhiệm việc chuẩn bị cho cộng đồng người da trắng. Chúng tôi đã cố gắng thuyết phục những mục sư đồng minh người da trắng đưa ra một lời kêu gọi thể hiện sự tôn trọng và tình huynh đệ Cơ Đốc Giáo. Ngoại trừ sự hồi đáp nhiệt tình của một vài mục sư, Robert Graetz báo cáo lại rằng phần đông họ “không dám liên can đến một vấn đề gây tranh cãi như vậy”. Điều này làm chúng tôi vô cùng thất vọng. Mặc dù tập thể những mục sư da trắng đã luôn im lặng một cách tệ hại trong suốt cuộc tẩy chay phản kháng, nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng rằng họ sẽ có tiếng nói một khi đã có kết quả rõ ràng. Đúng là vẫn có một số người lên tiếng, nhưng họ là những trường hợp vô cùng hiếm hoi.
Nhóm da trắng duy nhất có tên Người Của Montgomery đã có chút cố gắng đưa ra được một tuyên bố tích cực. Đó là nhóm doanh nhân đã từng thể hiện thiện chí trong nỗ lực hòa giải để giải quyết cuộc phản kháng. Khoảng mười ngày trước khi Lệnh thi hành được gửi đến Montgomery, một ủy ban của Nhóm Người Của Montgomery đã gặp một nhóm của Hiệp hội Cải cách Montgomery và đưa ra một tuyên bố kêu gọi sự tôn trọng và phi bạo lực. Tuyên bố này sẽ được cả hai tổ chức viết chung. Tuy nhiên, khi tuyên bố này được trình bày cho tất cả các thành viên của Người Của Montgomery, đã có hai hay ba thành viên phản đối, và do nguyên tắc hoạt động đòi hỏi phải có sự nhất trí hoàn toàn nên việc công bố lời kêu gọi này bị hủy bỏ. Như vậy, một cơ hội cho cộng đồng người da trắng thể hiện thái độ tích cực ủng hộ luật pháp và trật tự đã bị bỏ qua.
Một lãnh đạo của Hội Đồng Công Dân Da Trắng đã có lời đe dọa: “Bất kỳ nỗ lực nào nhằm thực hiện phán quyết này sẽ dẫn đến bạo loạn và đổ máu”. Một nhóm người đã đề nghị thành lập một dịch vụ xe đưa đón người da trắng - một đề nghị rất thú vị đến từ chính những người mới vừa đây đã thành công trong việc cấm cản hệ thống xe đưa rước của người da đen! Vào ngày 18 tháng Mười hai, ủy ban Thành phố đã ra thông báo sau:
Phán quyết trong vụ án xe buýt đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống chúng tôi tại Montgomery. Không dễ dàng khi mà mọi người đã sống với điều luật được công nhận là hợp hiến trong nhiều năm trời để rồi bất thình lình bị đảo lộn chỉ dựa trên cơ sở tâm lý con người... ủy ban Thành phố và chúng tôi biết người dân của mình cùng đồng lòng với quyết tâm này không gì có thể lay chuyển được, và sẽ làm mọi cách trong khả nâng của mình để phản đối việc hợp chung người da đen và da trắng tại Montgomery. Sẽ luôn kiên định dứt khoát chỉ tuân theo sự sáng tạo và sắp đặt của chúa Trời, để chống lại sự cào bằng xã hội, hôn nhân liên chủng tộc, và sự pha trộn các chủng tộc với nhau.
Vào ngày 20 tháng Mười hai, Lệnh thi hành thực hiện xe buýt bình đẳng cuối cùng cũng đã tới Montgomery. Một cuộc họp mặt quần chúng được tổ chức cấp tốc vào tối hôm đó để chỉ dẫn cho mọi người lần cuối cùng trước khi họ trở lại sử dụng xe buýt vào ngày hôm sau. Tôi gọi cho ông Bagley, quản lý của Công ty Xe buýt, yêu cầu ông hãy đảm bảo rằng dịch vụ sẽ được khôi phục lại trên tất cả các tuyến đường chính và ông đã nhẹ nhàng đồng ý.
Trước đám đông tràn ngập Nhà thờ Thánh John A.M.E, tôi đọc lời kêu gọi mà tôi đã chuẩn bị cẩn thận vào lúc xế chiều:
Hơn mười hai tháng nay, chúng ta, những công dân da đen của Montgomery, đã dấn thân vào một cuộc biểu tình phi bạo lực chống lại bất công và sự chà đạp nhân phẩm đã xảy ra trên những chiếc xe buýt của Thành phố. Chúng ta đã nhận ra rằng, về lâu dài, việc đi bộ trong danh dự đáng tự hào hơn là ngồi xe trong ô nhục. Do đó, với thái độ nghiêm túc và lặng lẽ, chúng ta đã quyết định thay vì mang tâm hồn kiệt quệ, thà chịu để đôi chân mệt mỏi đi bộ trên khắp các nẻo đường của Montgomery cho đến khi những bức tường cong oằn của sự bất công bị kéo sập...
Mười hai tháng này thật sự không dễ dàng chút nào. Đôi chân của chúng ta thường xuyên nhức mỏi. Chúng ta đã chống chọi với những thách thức to lớn để duy trì phương tiện thay thể cho xe buýt. Chúng ta vẫn còn nhớ những ngày mà các phản quyết bất công của Tòa án đã ập lên chúng ta như những ngọn sóng dữ dằn, để mặc cho chúng ta ngoi ngóp trong vũng tuyệt vọng. Nhưng cho dù vậy, chúng ta vẫn không bỏ cuộc với niềm tin rằng khi chúng ta tranh đấu, chúa tranh đấu cùng ta, và rằng vòng cung đạo đức trong vũ trụ dù rất dài, nó lại cong ở chỗ công lý.
Chúng ta đã trải qua những ngày sống trong khổ đau và bóng tối của ngày Thứ sáu Tuần Thánh, với niềm tin mãnh liệt rằng một ngày nào đó hào quang chói lòa của sự Thục Sinh sẽ xuất hiện ở chân trời. Chúng ta đã chứng kiến Sự thật bị đóng đinh trên Thập giá và lòng tốt bị chôn vùi, nhưng chúng ta vẫn bước tiếp với niềm tin rằng chân lý mà người ta đã vùi sâu dưới lòng đất sẽ lại trỗi dậy.
Giờ đây có vẻ như niềm tin của chúng ta đã được chứng minh. Sáng nay, Lệnh thi hành mà chứng ta đã mong chờ từ rất lâu của Tòa ân Tối cao Hoa Kỳ về sự phân biệt đối xử trên xe buýt đã đến Montgomery. Lệnh thi hành này đã dùng những cụm từ thể hiện rất rõ việc phân biệt đối xử trên các phương tiện di chuyển công cộng là không thể chấp nhận cả về mặt pháp lý lẫn phương diện xã hội. Dựa trên Lệnh thi hành này và sự đồng lòng quyết định của
Hiệp hội Cải cách Montgomery cách đây khoảng một tháng, cuộc tẩy chay phản đối xe buýt Thành phố tròn một năm tuổi sẽ chính thức chấm dứt. Những công dân da đen ở Montgomery hãy trở lại sử dụng xe buýt vào sáng mai với tinh thần không phân biệt.
Tôi không thể kết thúc bài nói mà không đưa ra một vài lời nhắc nhở: Những trải nghiệm và sự trưởng thành mà chúng ta có được trong suốt năm vừa qua từ cuộc biểu tình bất bạo động sẽ không cho phép chúng ta thỏa mãn với “chiến thắng phiên tòa trước những người anh em da trắng của mình. Chúng ta phải đón nhận phán quyết này với sự thấu hiểu những người đã đàn áp mình và trân trọng những điều mà họ phải sửa đổi theo lệnh của tòa án. Chúng ta phải thành thật nhìn nhận những thiếu sót của chính mình. Chúng ta phải hành xử theo cách có thể khiến những người da trắng và người da màu xích lại gần nhau trên tinh thần hài hòa thật sự về lợi ích và thấu hiểu. Chúng ta tìm kiếm hòa hợp dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau
Đây chính là thời điểm chúng ta phải chứng tỏ phẩm chất ôn hòa và sự biết kiềm chế một cách khôn ngoan. Không được để cho cảm xúc của mình bị mất kiểm soát. Bạo lực không bao giờ được xuất phát từ bất kỳ ai trong chúng ta. Nếu chúng ta để những ý định bạo lực dẫn dắt thì chúng ta đã uổng công đi bộ, và mười hai tháng qua đảng tôn vinh của chúng ta sẽ biến thành một thảm họa tăm tối. Khi chúng ta quay trở lại đi xe buýt thì hãy là những người bao dung để có thể biến thù thành bạn. Giờ đấy chúng ta phải thay đổi, từ phản đối thành hòa giải. Tôi có niềm tin kiên định rằng chúa đang thực hiện sứ mệnh tại Montgomery. Hãy để tất cả những người thiện tâm, cả da đen lẫn da trắng, tiếp tục đồng hành cùng Ngài. Bằng tất cả lòng chân thành, chúng ta sẽ thoát khỏi màn đêm thê lương và hoang vắng do sự vô nhân tính mà con người đối xử với nhau, để đến một bình minh rạng rỡ, lấp lánh ánh sáng của tự do và công lý.
Mọi người đã đứng dậy và reo hò vang dội. Đây chính là khoảnh khắc mà họ đã mong mỏi hơn một năm trời. Việc trở lại sử dụng xe buýt, trên cơ sở đối xử bình đẳng, là một khởi đầu mới. Và đồng thời cũng là hồi kết nữa, hồi kết với kết quả từ quá trình nỗ lực kéo những người dân da đen Montgomery lại gần nhau hơn bao giờ hết. Đối với nhiều người có mặt vào tối hôm đó, đây không phải là niềm vui không pha lẫn cảm xúc khác. Một số người có lẽ lo sợ về những điều sẽ xảy ra khi họ trở lại sử dụng xe buýt vào ngày hôm sau. Có người đã thấy được sức mạnh tinh thần trong việc hy sinh cho một lý tưởng, giờ họ không còn phải tiếp tục hy sinh nữa. Như nhiều cái kết khác, nó để lại trong lòng người một nỗi buồn man mác.
Đến cuối buổi họp mặt, tôi yêu cầu các mục sư nán lại vài phút để động viên họ hãy có mặt trên xe buýt vào những giờ cao điểm trong những ngày đầu tiên. Chúng tôi nghĩ rằng sự có mặt của họ sẽ cho những người dân da đen dũng khí và hạn chế việc họ sẽ đáp trả trong trường hợp bị xúc phạm. Các mục sư đều sốt sắng đồng ý. Theo chương trình, mỗi tuyến xe buýt trong Thành phố sẽ có hai vị phụ trách. Họ sẽ có mặt trên xe chủ yếu vào những giờ cao điểm buổi sáng và buổi chiều. Họ được hướng dẫn cách giải quyết những tình huống bạo lực xảy ra và cố gắng ghi chép chính xác tất cả các sự cố này.
Tôi đã quyết định sau nhiều ngày tháng đấu tranh cùng cộng đồng cho công lý, bây giờ tôi không nên chỉ ngồi nhìn, mà nên trực tiếp dẫn dắt họ trở lại sử dụng xe buýt. Tôi rủ Ralph Abernathy, E. D. Nixon, và Glenn Smiley cùng mình bắt chiếc xe buýt bình đẳng đầu tiên nên họ đã có mặt ở nhà tôi vào khoảng 5h45 sáng thứ Sáu. Nhiếp ảnh gia và phóng viên cùng với máy quay phim đang lượn lờ ngoài cửa. Vào 5h55, khi chúng tôi đến trạm xe buýt, máy quay bắt đầu hoạt động và những phóng viên dồn dập phỏng vấn chúng tôi. Không lâu sau chiếc xe buýt xuất hiện, cửa xe mở ra và tôi bước lên. Anh tài xế chào tôi bằng một nụ cười thân thiện. Khi tôi bỏ tiền vé vào trong hộp anh ta nói:
“Nếu tôi không nhầm thì ngài là Mục sư King phải không?”
Tôi trả lời: “Đúng vậy”.
“Chúng tôi rất vui được đón tiếp mục sư vào sáng nay”, anh ta nói.
Tôi cảm ơn anh ta và mỉm cười ngồi xuống ghế. Abernathy, Nixon và Smiley theo sau với rất nhiều phóng viên và nhân viên đài truyền hình sau lưng họ. Glenn Smiley ngồi cạnh tôi. Như vậy là tôi đã đi chiếc xe buýt bình đẳng đầu tiên tại Montgomery với một mục sư da trắng và là một người dân bản địa tại miền Nam, ngồi bên cạnh mình.
Đến trung tâm Thành phố, chúng tôi chuyển sang một trong những chiếc xe buýt chạy trong khu dân cư da trắng. Khi những người da trắng bước lên xe, nhiều người tìm ghế ngồi như chẳng có chuyện gì xảy ra. Những người khác tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy những người da đen ngồi ở phía trước và một số tỏ vẻ khó chịu khi biết mình phải ngồi sau những người da đen hoặc là đứng. Một người đàn ông lớn tuổi đã đứng bên cạnh người lơ xe, mặc dù đang có rất nhiều ghế trống ở phía sau. Khi có người đề nghị ông ta ngồi vào những ghế đó, ông ta trả lời: “Tôi thà chết và xuống địa ngục còn hơn là ngồi phía sau một tên da đen”. Một người phụ nữ da trắng đã vô tình ngồi xuống bên cạnh một người da đen, khi nhận ra người đang ngồi kế mình là ai, cô ta liền bật dậy và thốt lên bằng một giọng lộ rõ sự giận dữ: “Những tên da đen này sẽ còn làm gì tiếp đây?”.
Mặc cho những biểu hiện thù địch như vậy nhưng không có sự cố đáng kể nào xảy ra trong ngày đầu tiên. Nhiều người da trắng tiếp nhận hệ thống mới một cách bình thản. Nhiều người đã chủ động ngồi xuống bên cạnh những người da đen với một nụ cười thân thiện. Thật ra cũng có trường hợp, một người phụ nữ da đen đã bị một người đàn ông da trắng tát khi đang xuống xe, nhưng bà đã kiềm chế không đáp trả lại. Sau đó bà cho biết: “Tôi đã có thể tự mình bẻ cổ anh bạn nhỏ này, nhưng tôi quyết tâm thực hiện những gì Mục sư King đã kêu gọi trong cuộc họp mặt tối hôm qua”. Cuối ngày đầu tiên, Tờ Montgomery Advertiser đã bình luận: “Sự thay đổi đáng kể trong lối sống của người Montgomery đã được đón nhận một cách ôn hòa nhưng cẩn trọng mà không có bất kỳ sự hỗn loạn đáng kể nào”.
Nhưng những người phản đối không có ý định rút lui. Nhiều người trong số họ đã dự báo về bạo hành, những lời dự báo như vậy đã cố ý hay vô tình khuyến khích nó thành hành động. Khi người nào đó, đặc biệt là những viên chức nhà nước, nói về việc đổ máu như là một kết cục tất yếu khi thực hiện sự hòa hợp, chính là họ đang kích động những tên du côn đi phá hoại, và thường họ sẽ bí mật tạo điều kiện cho những hành động này được thực hiện. Tại Montgomery, nhiều quan chức đã đưa ra dự báo về bạo lực nên nó sẽ phải xảy ra để họ có thể giữ được thể diện.
Đến ngày 28 tháng Mười Hai, những ngày ôn hòa ít ỏi đã nhường chỗ cho những ngày kinh hoàng. Những chiếc xe buýt đã bị xả đạn ở khắp mọi nơi trong Thành phố, đặc biệt là ở những khu vực ít có ánh sáng. Một cô gái trong độ tuổi thiếu niên đã bị đánh đập bởi bốn đến năm người đàn ông da trắng khi cô đang bước xuống xe. Một phụ nữ da đen đang mang thai đã bị bắn vào chân. Vì sợ hãi, nhiều người da đen và da trắng không dám đi xe buýt nữa. Để đối phó với tình trạng này, ủy ban Thành phố đã cho dừng hoạt động của các tuyến xe ban đêm trong Thành phố. Không chiếc xe buýt nào được phép hoạt động sau 5 giờ chiều, điều này có nghĩa là một lần nữa những người công nhân từ chỗ làm lại không có phương tiện để đi về nhà. Đây chính xác là những gì mà các phần tử bạo loạn đã mong muốn.
Trong giai đoạn này, một nỗ lực mới nhằm chia rẽ người da đen đã xuất hiện. Những tờ rơi được phân phát nhằm kêu gọi người da đen hãy đứng lên chống lại những lãnh đạo của họ nói chung và đặc biệt là tôi nói riêng. Những tờ giấy này được ngụy tạo như sản phẩm của những người da đen “bất mãn”, nhưng gần như tất cả mọi người đều biết đây là việc làm của những người da trắng cực đoan. Một tờ rơi, gọi tôi bằng cái tên Luther, viết: “Chúng ta bị bắn trong khi hắn ta được ngồi xe. Hắn đang đem lại ngày càng nhiều rắc rối hơn cho chúng ta. Hãy tỉnh lại đi. Đuổi hắn ra khỏi Thành phố”. Một tờ khác viết: “Chúng ta đã sống yên ổn tại Montgomery cho đến khi xuất hiện những người giảng đạo từ nơi khác đến! Hãy hỏi Cha mẹ của Mục sư King xem liệu họ có hài lòng với những việc làm của ông ta. Hãy hỏi ông ta xem liệu họ có ủng hộ thực hiện việc này ở Atlanta hay không. Hãy dẹp ông ta trước khi quá muộn!”
Trong tình trạng này, tổ chức KKK như cá gặp nước. Một ngày kia họ xuất hiện trên đường phố Montgomery, trên mình mặc đầy đủ bộ trang phục đặc trưng của họ. Nhưng dường như chúng đã chẳng còn tác dụng. Một nữ sinh viên đại học vẫn tiếp tục lo việc của mình một cách vui vẻ khi trông thấy những người của hội Klan tràn ngập trên đường phố trong trang phục trắng và huy hiệu đỏ của họ, cô nghĩ rằng họ đang đi quyên góp cho nguồn Quỹ giúp người da đen. Trong một đêm lạnh lẽo người ta đã nhìn thấy một cậu bé da đen đang sưởi ấm hai tay mình trên ngọn lửa từ cây Thập giá bị đốt.
Vào ngày 9 tháng Một, Ralph Abernathy và tôi đi đến Atlanta để chuẩn bị cho cuộc họp những lãnh đạo người da đen mà tôi đã kêu gọi tổ chức vào ngày hôm sau. Vào lúc giữa đêm chúng tôi bị đánh thức bởi một cuộc gọi từ Juanita, vợ của Ralph. Tôi biết là đã có chuyện gì đó tồi tệ vừa xảy ra, chỉ có như vậy mới khiến cô ấy phải kéo chúng tôi ra khỏi giường vào lúc 2 giờ sáng. Khi Ralph trở về phòng, nét mặt ảm đạm của anh đã tiết lộ phần nào câu chuyện. “Nhà của tôi vừa bị đánh bom”, anh ta nói, “và người ta đã nghe ba hay bốn vụ nổ khác trong Thành phố, nhưng Juanita chưa biết được là ở đâu”. Tôi hỏi về tình trạng của Juanita và con gái của họ. “Cảm ơn Chúa, hai mẹ con vẫn an toàn”. Chúng tôi chưa kịp nói gì thêm, thì Juanita lại gọi một lần nữa, báo rằng Nhà thờ Baptist Đệ Nhất đã bị tấn công. Tôi nhìn theo Ralph khi anh ngồi xuống bên cạnh tôi, bàng hoàng. Gia cư và nhà thờ của anh ấy đều bị đánh bom trong cùng một đêm, và tôi biết lúc này chẳng có lời nào an ủi được anh ấy cả. Ngồi ngay tại đó vào lúc rạng: sáng, chúng tôi cùng cầu nguyện Chúa, cầu xin phép mầu của sự nhẫn nhịn, sức mạnh để tiếp tục cuộc hành trình.
Từ 3 giờ đến 7 giờ, chúng tôi nhận được không dưới mười lăm cuộc gọi. Chúng tôi được biết ngoài nhà của Ralph và nhà thờ của anh ra, nhà của Bob Graetz và ba nhà thờ Baptist khác - Bell Street, Hutchinson Street, và Mt. Olive - cũng bị tấn công. Lo ngại lần này mọi người có thể sẽ bị kích động và phản đòn, tôi gọi điện cho một vài mục sư tại Montgomery và yêu cầu họ hãy giữ kiểm soát trong khả năng có thể. Trong lúc đó, Ralph và tôi sắp xếp bay trở về Montgomery, đành để cho cuộc họp các lãnh đạo phía Nam diễn ra mà không có sự tham dự của mình.
Từ sân bay Montgomery chúng tôi lái xe thẳng đến nhà của Ralph. Con đường đã bị cảnh sát phong tỏa, và cả hàng trăm người đang đứng đó nhìn vào hiện trường. Hiện trước gần như đã bị phá hủy hoàn toàn, còn mọi thứ bên trong ngôi nhà đã vỡ nát hết từ trần nhà đến sàn nhà. Juanita, mặc dù bàng hoàng và trắng bệch, vẫn khá là bình tĩnh.
Chúng tôi dành phần còn lại của buổi sáng cho những chuyến đi thăm ảm đạm đến những nơi còn lại cũng bị đánh bom. Nhà thờ Baptist Bell Street và Mt. Olive gần như đã bị giật sập toàn bộ. Hai nhà thờ khác thì ít nghiêm trọng hơn, nhưng vẫn phải chịu nhiều tổn thất lớn. Tổng thiệt hại của bốn nhà thờ này được ước tính là 70.000 đô la. Nhà của Bob Graetz từng là đối tượng mục tiêu của vụ đánh bom vào hè năm ngoái, nhưng không bị thiệt hại nghiêm trọng. Lần này anh ta không được may mắn như vậy nữa. Phần trước cửa căn nhà đã trở thành một đống đổ nát, và những mảnh kính vỡ vung vãi khắp nơi trong nhà là bằng chứng cho thấy sức công phá của vụ nổ. Tại mỗi nơi bị đánh bom người ta tụ tập thành những nhóm đông giận dữ, nhưng với sự kiềm chế mà tôi chưa bao giờ ngừng ngưỡng mộ, họ đã tự làm chủ chính mình.
Sáng hôm sau, ba tổ chức có tiếng nói trong cộng đồng người da trắng đã lên án những cuộc đánh bom. Grover Hall, biên tập của tờ Montgomery Adver User, đã viết một bài báo, với lời lẽ cương quyết mang tựa đề “Montgomery có là nơi an toàn để sống?”, trong đó ông nhấn mạnh rằng vấn đề này đã đi quá xa khỏi câu chuyện chọn phân biệt đối xử hãy chọn hòa hợp. Khi tôi đọc những ý kiến mạnh mẽ của Hall, tôi không khỏi ngưỡng mộ người đàn ông tài giỏi nhưng phức tạp này, người đã tự nhận là mình ủng hộ cho chính sách phân biệt đối xử nhưng không thể chấp nhận những hành động quá khích nhân danh nó. Nhiều mục sư da trắng đã lên án những vụ đánh bom này là phản Cơ Đốc Giáo và man rợ. Và trong suốt một ngày, những phát biểu của họ được vị mục sư uy tín của Nhà thờ First Presbyterian - mục sư Merle Patterson - nói lại trên truyền hình. Và cả tổ chức Người Của Montgomery cũng nêu rõ lập trường bất di bất dịch phản đối những cuộc đánh bom. Lần đầu tiên kể từ khi cuộc biểu tình bắt đầu, những người da trắng có sức ảnh hưởng này đã lên tiếng trước công chúng để đứng về phía luật pháp và trật tự xã hội. Những động thái của họ đã cho chúng tôi thêm một niềm tin vào sự hiểu biết về lẽ phải của phần lớn cộng đồng người da trắng này. Mặc dù vẫn thiết tha với chính sách phân biệt đối xử, nhưng họ đã tôn trọng luật pháp, và sẽ không bao giờ dung túng cho việc sử dụng bạo lực để duy trì hệ thống này.
Chiều ngày hôm đó, tôi trở lại Atlanta để ít nhất có thể xuất hiện trong buổi họp mặt của những lãnh đạo người da đen. Tại đây, tôi gặp gỡ với gần một trăm người đàn ông tràn đầy nhiệt huyết đến từ khắp nơi ở miền Nam. Những người này quyết tâm thực hiện ý tưởng khai sinh ra một phong trào miền Nam, nhằm triển khai phán quyết của Tòa án Tối cao chống lại phân biệt đối xử trên xe buýt thông qua những phương pháp phi bạo lực. Trước khi giải tán, họ bỏ phiếu thành lập một tổ chức hoạt động lâu dài là Hội Nghị Lãnh Đạo Cơ Đốc Giáo Miền Nam, và đề cử tôi làm Chủ tịch, một vị trí mà tôi vẫn còn đảm nhận cho đến nay.
Khi trở về Montgomery vào cuối tuần, tôi nhận thấy cộng đồng người da đen tại đây đang xuống tinh thần. Sau những vụ đánh bom, ủy ban Thành phố đã ra lệnh cho tất cả các tuyến xe buýt dừng hoạt động, và có vẻ như những người đứng đầu Thành phố sẽ lấy cớ tình trạng bạo lực đang thống trị này để hủy bỏ hoạt động kinh doanh của các hãng xe buýt. Kết quả là nhiều người cảm thấy những gì chúng tôi có được từ cuộc đấu tranh đã trở thành vô nghĩa, và chính tôi cũng bắt đầu lo sợ rằng mọi người sẽ lại phải lao vào một cuộc đấu tranh dai dẳng khác để phục hồi lại dịch vụ xe buýt. Tôi cũng bắt đầu tự hỏi những tờ rơi thâm độc đang được phân phát liên tục cho cộng đồng người da đen có khi nào sẽ phát huy tác dụng không. Nản lòng và rối loạn vì các cuộc đánh bom, một lý do kỳ lạ nào đó làm tôi bắt đầu có cảm giác tội lỗi rằng chính tôi là nguyên nhân của tất cả những chuyện đã xảy ra.
Tôi đã mang tâm trạng này đến cuộc họp mặt quần chúng vào tối thứ Hai. Đó là lần đầu tiên tôi tỏ ra suy sụp trước công chúng. Tôi mời cộng đoàn cùng tôi cầu nguyện, và đã xin Chúa hãy dẫn dắt và chỉ lối cho chúng tôi trong tất cả những việc mình làm. Và rồi trong giây phút không kìm nén được cảm xúc của mình, tôi nói, “Thưa Ngài, con hy vọng sẽ không có ai phải thiệt mạng trong cuộc đấu tranh vì tự do của chúng con tại Montgomery. Tất nhiên con không hề muốn từ bỏ cuộc sống này. Nhưng nếu có ai đó sẽ phải chết, thì hãy để con chết”. Mọi người như vỡ òa ra. Những tiếng la và tiếng kêu van “không, không” đến từ mọi phía. Đám đông phản ứng quá dữ dội đến mức tôi không thể nói tiếp lời cầu nguyện của mình. Hai người bạn mục sư của tôi đã bước lên bục và kêu tôi hãy xuống nghỉ ngơi. Trong vài phút, tôi đã đứng bất động trong vòng tay của hai người bạn mình. Cuối cùng họ đã giúp dìu tôi ngồi xuống ghế. Chính cảnh tượng này khiến cho báo giới đưa tin nhầm lẫn rằng tôi đã ngất xỉu trong buổi họp.
Bất ngờ thay, sự kiện này đã đem lại cho tôi một niềm an ủi lớn. Nhiều người đã tìm đến tôi sau buổi họp mặt và nhiều người đã gọi điện vào ngày hôm sau để bảo đảm với tôi rằng tất cả mọi người sẽ đồng hành với nhau cho tới cùng. Những ngày sau đó, trong Thành phố mọi thứ khá im ắng. Không lâu sau đó, dịch vụ xe buýt đã hoạt động trở lại, mặc dù vẫn chỉ hoạt động vào ban ngày.
Và rồi một làn sóng khủng bố khác lại ập đến. Rạng sáng ngày 28 tháng Một, Trạm Dịch vụ Công chúng và Bãi đón Taxi đã bị đánh bom. Một quả bom khác nhằm vào nhà của Allen Robertson, một nhân viên bệnh viện người da đen sáu mươi tuổi. Người ta đã không thể nào lý giải được vì sao hai nạn nhân này lại bị chọn làm mục tiêu để tấn công. Cũng trong buổi sáng đó, một quả bom tự tạo bằng mười hai thanh thuốc nổ buộc sơ sài với nhau đã được nhìn thấy bốc khói nghi ngút trên hiên nhà tôi.
Lúc việc này xảy ra tôi đang ở cùng những người bạn của mình ở phía bên kia Thành phố, Coretta và “Yoki” thì đang ở Atlanta. Vậy là một lần nữa tôi lại nghe được tin tức đầu tiên là qua điện thoại. Trên đường về nhà, tôi ghé thăm những nơi gặp nạn khác gần đó, và nhẹ nhõm khi biết được là không một ai bị thương. Tôi nhìn thấy một chiếc xe cảnh sát đi ra từ hướng hiện trường chở theo hai người da đen ngồi ở ghế sau. Sau đó tôi được biết hai người đàn ông này bị bắt vì họ đã thẳng thừng thách thức viên cảnh sát về việc lực lượng chức năng chẳng có nỗ lực gì để truy nã những kẻ đánh bom, cả hai đã bị kết tội “kích động bạo loạn”. Nhưng ngày hôm đó không hề có cuộc bạo loạn nào xảy ra, mặc dù đám đông tụ tập xung quanh các tòa nhà đã đổ nát sẵn sàng đón bạo lực hung bạo trở lại. Họ chỉ chờ đợi một tín hiệu thôi. May mắn thay, tín hiệu đó không bao giờ xuất hiện.
Từ hiên nhà mình, nơi mà dấu tích của quả bom vẫn còn rõ ràng, tôi nói với đám đông: “Chúng ta không được dùng bạo lực để đáp trả lại cho dù tình huống có như thế nào. Tôi biết đây là một lời khuyên rất khó thực hiện, đặc biệt là khi chúng ta đã lãnh chịu không dưới mười cuộc đánh bom. Nhưng đây chính là phương pháp của Chúa; đây chính là phương pháp của Thập Tự Giá. Nhất định chúng ta phải tin rằng việc chấp nhận đau khổ là chuộc tội cho người khác. Sau đó, tôi kêu gọi mọi người hãy về nhà và chuẩn bị để tham dự Thánh lễ vì lúc này là sáng Chúa nhật. Dần dần đám đông đã giải tán.
Trước những vụ đánh bom này, cả cộng đồng bắt đầu nhận thấy Montgomery đang nhanh chóng bị đẩy vào tình trạng hỗn loạn, Cuối cùng thì Thành phố cũng bắt đầu điều tra một cách nghiêm túc. Mức thưởng 4.000 đô la được đưa ra cho những ai cung cấp thông tin hỗ trợ việc truy tầm và định tội những kẻ đánh bom. Vào ngày 31 tháng Một, cộng đồng người da đen đã kinh ngạc khi nghe được tin bảy người đàn ông da trắng đả bị bắt vì có liên can đến các vụ đánh bom. Thám tử J. D. Shows là người có công trong việc truy bắt họ.
Tất cả những người này đều được tại ngoại với số tiền bảo lãnh từ 250 cho đến 13.000 đô la, và Tòa án Thành phố đã chuyển những cáo buộc đến cho Bồi thẩm đoàn Quận Montgomery mà không thông qua lấy lời khai tại Tòa án. Bồi thẩm đoàn đã truy tố năm người trong số họ và hủy cáo buộc đối với hai người còn lại.
Phiên xét xử của hai bị cáo đầu tiên, Raymond D. York và Sonny Kyle Livingston, diễn ra tại Tòa án Quận Montgomery, cũng chính là tòa án mà tôi đã bị xét xử trong vụ án chống hoạt động tẩy chay một năm trước, và cũng với sự tham gia của luật sư Thành phố, William F. Thetford, trong vai trò công tố viên. Với Vụ án về Emmet Till tại Mississippi vẫn còn in đậm trong trí nhớ, những người da đen chẳng trông mong nhiều việc Tòa án sẽ đưa ra một phán quyết kết tội nào.
Nhiều người trong chúng tôi đã được triệu tập để làm nhân chứng. Vào ngày khai mạc phiên tòa, phòng xét xử chật kín người xem, phần lớn là người da trắng, bởi vì thật ra cũng chẳng còn nhiều chỗ trống cho người da đen nữa. Thông qua trang phục và cử chỉ của những người da trắng, có thể thấy rằng phần lớn họ thuộc tầng lớp nghèo khó và thất học, những người cảm giác được an toàn với sự hiện hữu của Ku Klux Klan. Khi chúng tôi bước vào, họ hướng ánh mắt về phía chúng tôi với một sự thù ghét lộ liễu.
Những luật sư bào chữa đã bỏ ra hai ngày để cố gắng chứng minh sự vô tội của thân chủ họ. Họ lập luận rằng những vụ đánh bom là do Hiệp hội Cải cách Montgomery thực hiện để kêu gọi những nguồn quyên góp mới từ bên ngoài cho nguồn quỹ đang bị giảm sút. Vào cuối ngày thứ hai, tôi được gọi lên bục nhân chứng theo yêu cầu của phía bị cáo. Trong hơn một giờ đồng hồ tôi bị chất vấn về những việc không hề liên quan gì đến vụ đánh bom. Các luật sư đã bóp méo những phát biểu của tôi, tách khỏi ngữ cảnh của lời nói để tạo cảm giác tôi là một kẻ thủ ác đầy thù hận và bạo lực. Nhiều lần họ đã bịa đặt ra những lời thóa mạ người da trắng, rồi gán cho tôi là người nói.
Ngược lại, bên này ông Thetford đã sốt sắng tranh đấu để cho hung thủ bị kết án, tương tự như cách ông đã làm trong vụ án của tôi một năm trước đó. Ông đã có những lý lẽ sắc bén. Và những người đàn ông này đã ký vào bản khai nhận tội. Nhưng mặc cho những chứng cứ đã được đưa ra, Bồi thẩm đoàn vẫn đi đến kết luận vô tội. Với bạn bè vây xung quanh mình, Raymond D. York và Sonny Kyle Livingston bước ra khỏi phòng xét xử với một nụ cười đầy vẻ đắc thắng.
Công lý một lần nữa lại không được thực thi. Nhưng đây là nỗ lực chống cự cuối cùng của những kẻ cực đoan. Tình trạng hỗn loạn ngay lập tức được chấm dứt. Sự bình đẳng trên xe buýt tiếp tục diễn ra một cách yên ổn. Phải mất một vài tuần để sự lưu thông trở lại như cũ, và cả hai chủng tộc cùng nhau sử dụng xe buýt ở bất kỳ đâu họ muốn. Bầu trời đã chẳng sụp xuống khi những chiếc xe buýt bình đẳng rốt cuộc rồi cũng lăn bánh trên các con đường của Montgomery.
Chương X
Montgomery của ngày hôm nay
Montgomery bây giờ ra sao rồi? Tôi thường được hỏi như vậy. Bất cứ nơi đâu tôi đến, những người đã theo dõi các bài báo hay nghe diễn giả kể về việc phản đối xe buýt đã thắc mắc về tình hình lúc này, khi việc xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc trên xe buýt trở nên hợp pháp. Họ muốn biết liệu điều mới mẻ này có được cư dân da trắng cũng như da đen ở Montgomery chấp nhận, và có tác động lâu dài nào khi mà sự phấn khích quá lớn luôn được đăng tải trên trang bìa những báo chí ở các thành phố trong cả nước và nhiều nơi trên thế giới suốt hơn một năm qua.
Ban đầu, khi được hỏi câu đó, tôi không thể có ngay một câu trả lời. Có nhiều điều cần phải suy xét vì không phải tất cả những ảnh hưởng đều có thể nhìn thấy ngay lập tức. Nhưng vài tháng sau ngày 21 tháng 12, 1956, khi sự phân biệt chủng tộc trên xe buýt chính thức kết thúc, câu trả lời rõ ràng là:“Tốt hơn”. Tôi đã có thể nói như vậy; “ngày nay mọi thứ ở Montgomery đã trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều”.
Giờ đây, trên những chuyến xe buýt, người da đen và da trắng đều có quyền ngồi ở bất cứ ghế nào còn trống. Những người da đen trẻ tuổi - đặc biệt là các học sinh trung học và sinh viên - cùng nhiều người có học thức và nghề nghiệp chuyên môn đã thực thi quyền bình đẳng này một cách rộng rãi.
Tuy nhiên, nhiều người da đen lớn tuổi và những người làm nghề giúp việc vẫn có khuynh hướng ngồi ghế phía sau, một phần do rụt rè, một phần là do thói quen. Trên những tuyến xe buýt có phần lớn người da trắng, những người da đen thường lùi về hàng ghế phía sau. Ngược lại trên những tuyến có phần lớn người da đen, những người da trắng dường như chọn ngồi gần với chỗ tài xế - hoặc là đứng. Không còn lạ khi thấy người da trắng ngồi phía sau những hành khách da đen. Hiếm khi những hành khách da đen và da trắng ngồi chung trên một ghế đôi, hình như cả hai vẫn còn có một sự ngại ngùng. Đến giờ chỉ thấy có một hai trường hợp như vậy thôi.
Mặc dù có hàng ngàn người sử dụng hệ thống phương tiện công cộng hằng ngày, nhưng thật ngạc nhiên là chỉ có một vài cuộc xung đột trên xe buýt. Những hành khách da đen và da trắng lời qua tiếng lại bằng những lời lẽ chói tai để tranh giành ghế ngồi. Có trường hợp một người đàn ông da trắng đánh một người phụ nữ da đen bằng cái cờ-lê. Cô ta cùng với hai người bạn nữ, trong phút giây ấy đã quên đi tinh thần phi bạo lực nên chống cự lại bằng vài cú đấm đột ngột. Vụ này được đưa ra tòa và thẩm phán đã xử công bằng, phạt người đàn ông vì có hành vi không đúng đắn và thậm chí còn không khiển trách những người phụ nữ.
Một trường hợp khác, một người phụ nữ da trắng khiếu nại rằng một người đàn ông da đen đã cố gắng giành vị trí ngồi bên cạnh cô ta để làm quen với cô. Hắn bị phạt vì hành vi gây náo loạn, mặc dù đây có vẻ là vụ kiện mà bằng chứng chỉ là lời lẽ của cô ta với lời khai của người đàn ông. Dẫu có hơi cá biệt nhưng tình huống như vậy cũng đã được tính đến. Một vài người trong chúng tôi đã sợ rằng những người phản đối việc xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc có thể sẽ “cài” phụ nữ da trắng lên xe buýt để gây rắc rối. May thay, chúng tôi đã quá lo xa.
Rất lâu trước khi quyết định cuối cùng của Tòa án được thông qua, Công ty Giao Thông Công cộng Montgomery đã từ bỏ điều khoản phân biệt chủng tộc và bắt đầu huấn luyện nhân viên cách đối xử với mọi khách hàng sao cho đúng. Công ty gỡ bỏ toàn bộ bảng hiệu mang tính phân biệt. Những người tài xế, mà có lẽ là ngọn nguồn của cuộc phản kháng kéo dài cả năm trời, đã không còn thô lỗ nữa. Một vài người trong số đó chủ động nói “chào buổi sáng” một cách lịch sự với những vị khách quen. Mặc dù Công ty Xe buýt cho biết khi kết thúc tẩy chay, rằng họ sẽ sẵn sàng nhận đơn xin việc từ các tài xế da đen, nhưng đến nay vẫn chưa thấy thực hiện thử.
Chúng tôi tin rằng chiến dịch mang tính giáo dục và công khai của mình trước ngày trở lại sử dụng xe buýt là một yếu tố quan trọng góp phần mang lại sự yên ổn tương đối sau đó. Các buổi huấn luyện và những hướng dẫn trên tờ rơi của chúng tôi đã truyền tải thành công một thông điệp: “Nếu bị đẩy, đừng đẩy lại. Nếu bị rủa, đừng rủa lại”. Như vậy, một lời nói nhẹ nhàng đã xua đi được sự phẫn nộ. Không những vậy, những nỗ lực chứng minh cho hành khách da trắng và người da trắng nói chung thấy rằng chúng tôi không hề có ý định khoe khoang chiến thắng hay trả thù được những chiếc xe buýt. Người da trắng hiểu quan điểm của chúng tôi nên chẳng có lý do gì để họ tuyên chiến hay phòng thủ một cách căng thẳng cả.
Nói chung các mối quan hệ giữa hai chủng tộc trong Thành phố cũng đã trở nên tốt đẹp hơn. Sau lần bùng phát chớp nhoáng nhưng quyết liệt của bom và súng ngay sau quyết định xóa bỏ phân biệt trên xe buýt, hành vi bạo lực của mấy thành phần cực đoan đã đột ngột chấm dứt. Sau sự tha bổng cho hai người đánh bom tự phát đầu tiên, theo lệnh ân xá, những người còn lại được thả tự do và những vụ án liên quan tới việc bắt giữ người da đen bởi Luật chống tẩy chay cũng được hủy bỏ. Trường hợp bị tố cáo của tôi phải chịu điều khoản nộp phạt 500 đô-la ở tòa. Chấp nhận nộp phạt là điều miễn cưỡng với tôi, vì như vậy có nghĩa là phải chấp nhận hành động của chúng tôi bị đánh đồng một cách bất công với hành động bạo lực tàn bạo của bọn đánh bom. Và thật không may, sự chậm trễ trong quá trình chuyển biện chứng từ đã làm vụ án hết thời hiệu khiếu nại, hay nói cách khác, bất cứ hành động tiếp theo nào đều cần phải hợp pháp lý chứ không thể theo suy luận tốt xấu của sự việc. Tôi thấy việc thỏa hiệp với luật pháp là cần thiết nên đã chấp nhận bỏ tiền túi ra.
Cư dân da đen tại Montgomery của ngày hôm nay được tôn trọng theo cách mà họ chưa từng được trước đây. Kết cục êm ả từ cuộc khủng hoảng đã khiến nhiều người da trắng không còn e dè bày tỏ cảm nhận lúc cuộc đấu tranh xảy ra: “Chúng tôi rất ngưỡng mộ những người da đen kia. Họ có lý tưởng, sống với lý tưởng và đoàn kết với nhau. Họ đã tổ chức và lên kế hoạch tốt”. Nhiều người chỉ nói đơn giản là: “Chúng tôi không ngờ họ có những đức tính đó”. Một lần nữa tôi tin rằng, chỉ còn những điều tốt lành ở lại là nhờ chúng tôi đã kiên quyết nói không với bạo lực. Không một căn nhà của người da trắng nào ở Montgomery bị hư hại hay có người bị thương vì xung đột “màu da xe buýt”. Thương vong là nỗi cay đắng cho người còn sống sau cuộc chiến nhưng may thay người da trắng ở Montgomery không có ai phải chịu nỗi mất mát như vậy.
Trong mấy cửa tiệm ở khu trung tâm hiện nay, khách hàng da đen được trân trọng. Họ nhận được sự đối đãi lịch sự ở hầu hết mọi chỗ. Đã không còn lạ khi nghe người da đen được gọi bằng Ông hay Bà. Thậm chí bây giờ tờ Montgomery Advertiser còn chủ trương sử dụng phép xưng hô lịch sự khi nói đến người da đen trong những trang báo của họ.
Từ sau cuộc phản kháng, việc thuê lao động tại địa phương đã mở rộng vòng tay hơn với người da đen. Trong nhiều cuộc họp liên hiệp đã không còn sự phân biệt chủng tộc nữa. Ở các công sở, dù còn nhiều vấn đề khác nhưng bầu không khí chung được cải thiện đã góp phần không nhỏ vào cuộc tranh cử của tám người da đen để được vào Ban Quản trị AFL-CIO của Nam Alabama.
Cho dù nhìn chung đã có tiến bộ, nhưng nếu cho rằng đa số người da trắng ở Montgomery đã xóa bỏ tư tưởng phân biệt chủng tộc thì không đúng cho lắm. Sự thật là họ vẫn chưa đồng thuận. Thành phố này vẫn đầy ắp những nỗi lo ngại về việc khác biệt giữa “phép vua với lệ làng”, và vẫn tồn tại những dân da trắng phản ứng với chuyện này bằng tất cả cảm xúc mãnh liệt như của những kẻ yêu nước bị thua trận. Do vậy chưa có biện pháp nào được đưa ra nhằm xóa bỏ phân biệt ở các trường công lập theo lệnh của Chánh án Tòa án Tối Cao Hoa Kỳ mới nhậm chức được bốn năm. Đây chính là một rào cản lớn hiện nay. Ở đây, những người phân biệt chủng tộc có vẻ dốc sức ngăn cản. Còn những người chống đối hét lên phản đối bằng giọng miền Nam: “Không thể chấp nhận được!”
Hai yếu tố gây kích động cho người phân biệt chủng tộc nhiều nhất vẫn là các tờ báo và chính trị gia. Ngày nào cả báo địa phương và báo quốc gia cũng đều ngập tràn các bài viết về mâu thuẫn giữa các chủng tộc. Bất kỳ biến động nào tương tự ở Miền Bắc đều bị lợi dụng đưa lên. Cứ như vậy, các trang báo liên tục châm chọc vào vấn đề của người da đen. Y như rằng để độc giả không được phép quên có một cuộc chiến chống lại “người Mỹ và tình trạng sống chung giữa các chủng tộc”.
Viện Lập pháp Tiểu bang Alabama, giống như hầu hết những Viện Lập pháp ở Miền Nam Hoa Kỳ đã thông qua hàng tá điều luật để trì hoãn hoặc vô hiệu hóa quyền bình đẳng chủng tộc. Nỗ lực chia rẽ ở Quận Macon láng giềng cho thấy họ sắp sửa có những hành động cực đoan. Quận đó người da đen nhiều gấp bảy lần người da trắng. Nếu tất cả những người đủ điều kiện được phép đăng ký và bầu cử, người da đen chắc chắn sẽ được tham gia vào một số Cơ quan của chính quyền. Hơn thế nữa, Quận Macon là nơi tọa lạc Học viện Tuskegee lừng danh của nhà sư phạm Booker T. Washington. Ở đó, nhờ có giáo sư Charles Gomillion và Hiệp Hội Công Dân Tuskegee, một chiến dịch mạnh mẽ giành quyền đăng ký và bầu cử cho người da đen đã nổ ra. Viện Lập pháp Tiểu bang đầu tiên phản ứng bằng cách thắt lại đường biên giới của Tuskegee để hầu hết những người da đen đã đăng ký sẽ không còn thuộc Thành phố nữa. Do đó những người da đen đã bắt đầu một cuộc tẩy chay các cửa hàng nào ở trung tâm ủng hộ hay ngầm tán thành sự sắp đặt gian lận trong cuộc tuyển cử. Tiếp đó, cơ quan quản lý mở một cuộc trưng cầu ý dân yêu cầu các cử tri cho phép họ, sau khi điều tra kỹ lưỡng, sẽ chia Quận Macon ra, và sáp nhập với các đơn vị lân cận, như vậy ở mỗi đơn vị khu vực số lượng người da trắng sẽ lớn hơn người da đen. Các cử tri tán thành, và số phận của Quận Macon giờ đây nằm trong tay ủy ban Điều tra. Một biến động như thế sát nách Montgomery đã ảnh hưởng tới nơi này. Bù lại, chiến thắng của cuộc biểu tình chống xe buýt ở Montgomery đã truyền lửa cho những người da đen bị tước quyền bầu cử của Quận Macon tiếp tục duy trì chiến dịch của họ một cách mạnh mẽ nhưng không hề bạo lực.
Tiểu bang đã tạo thêm bất lợi cho người da đen khi thuyết phục thành công Toà án Tiểu bang đưa ra lệnh cấm tạm thời đối với NAACP ở Alabama. Lệnh cấm này sẽ có hiệu lực vào tháng Sáu 1956 - thời điểm mà một số luật sư NAACP đã đấu tranh thành công cho vụ kiện xe buýt phân biệt chủng tộc của chúng tôi ở Toà án Liên bang vẫn còn hiệu lực.
Các uỷ viên Thành phố của Montgomery cũng đã thông qua một số chính sách chống người da đen. Những quy định mới của Thành phố làm cho việc người da đen và da trắng cùng chơi một trận đấu thể thao trở thành một tội danh, thậm chí là với cờ đam, hay khi dùng chung một công viên hoặc khu vui chơi. Vài năm trước, ở Montgomery có một hay hai người da đen trong đội bóng rổ Thành phố - đội Montgomery Rebels; nhưng bây giờ điều này sẽ không thể có nữa. Tuy nhiên, lúc đó phòng vé phàn nàn rằng “sự ủng hộ của địa phương kém” đã dẫn đến việc bỏ phiếu bán Montgomery Rebels cho Knoxville.
Với sự chỉ đạo theo các quy định mới, một người đàn ông da đen vừa mới bị bắt chỉ vì đi qua một công viên “dành cho người da trắng”; và một gia đình ngưòi da đen đang trên đường vào Thành phố thì bị bắt vì người bố đã dừng xe để các con của ông quan sát động vật bị nhốt trong sở thú “dành cho người da trắng”.
Nhưng những tòa án địa phương không còn biết chắc vai trò của họ nữa. Họ nhớ rất rõ chuyện gì đã xảy ra với những quyết định của họ về việc phân biệt chủng tộc trên xe buýt khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xử lại. Họ lo sợ rằng Tòa án Tối cao cũng có thể loại bỏ những hình thức phân biệt khác ở các nơi công cộng nếu những vụ kiện này đến được Washington. Vì vậy, Tòa án địa phương hủy bỏ vụ kiện của người da đen đi qua công viên, khi anh ta xin lỗi vì “lỗi lầm” của mình. Ngoài ra, sự buộc tội những người vi phạm luật phân biệt khác giờ đây chỉ là “hành vi gây mất trật tự xã hội” để tránh khả năng xảy ra sự thỉnh cầu lập án lệ đến Tòa án Tối cao.
Các chính trị gia vẫn có được sự cổ vũ nhiệt liệt nhất từ những thính giả da trắng khi họ cam kết sẽ có một cuộc đấu tranh dốc toàn lực chống lại sự giành quyền bình đẳng chủng tộc, nhưng các thính giả dường như có vẻ không mấy để tâm đến những lời lẽ phủ dụ đó. Hội Ku Klux Klan gần như bất lực và bị phản đối kịch liệt công khai trên mọi mặt, nhưng ở một mức nào đó sự chống đối hội Klan hoàn toàn là một bình phong thuận lợi cho những Hội đồng Công Dân Da Trắng vì họ đang thực hiện hầu hết những mục tiêu chủ chốt của KKK dù rằng số phận của họ cũng đang bấp bênh ở Montgomery. Sự đóng góp của các thành viên đã giảm đi kể từ khi sự bình đẳng chủng tộc trên xe buýt trở thành sự thật. Việc không thể ngăn chặn được luật bình đẳng được thực thi trên xe buýt hiển nhiên khiến nhiều thành viên muốn ngừng đóng phí hội viên và tiêu tiền vào việc khác tốt hơn.
Trong khi đó, Cộng đồng người da đen Montgomery thì thế nào? Họ cũng nhận được những lợi ích lâu dài từ cuộc biểu tình. Mặc dù sự đoàn kết mạnh mẽ của cả một năm đi biểu tình chắc hẳn đã giảm đi nhưng vẫn còn đó cảm giác gần gũi giữa các tầng lớp, các thế hệ và các giáo phái tôn giáo khác nhau, điều mà chưa từng thấy trước đây. Lòng tự tôn được nâng cao trong cả những người da đen ít học nhất ở Montgomery, thể hiện rõ rệt trong cách ăn mặc và đi đứng của họ, trong nếp sống văn minh và cách đối nhân xử thế. Có lần một người gác cổng da đen nói với một phóng viên từ miền Bắc tới rằng: “Chúng tôi đã đứng lên được, sẽ không bao giờ chịu cúi đầu nữa - không bao giờ nữa, thưa ngài - ngoại trừ trước Chúa!”.
Tình trạng nghiện rượu nặng đã giảm xuống. Thống kê về số tội phạm và các vụ ly hôn đều giảm. Một y tá làm chủ một bệnh viện dành cho người da đen ở Montgomery nói rằng nhờ có cuộc phản kháng mà cô ấy có thể đến nhà thờ vào mỗi sáng Chúa nhật, điều mà cô ấy đã không thể làm trong nhiều năm qua. Điều đó có nghĩa là các buổi tối thứ Bảy đã bớt căng thẳng hơn trước. Đó là sự lan tỏa tinh thần thân thiện và nhiệt tình; ngay cả những đứa trẻ dường như cũng có cảm giác mới mẻ khi là một phần của xã hội này.
Tổ chức MIA đã cắt giảm bớt ngân sách và nhân viên, nhưng mở rộng trọng điểm và bắt đầu dành toàn tâm toàn ý cho những khu vực rộng lớn khác để nâng cao dân trí. Tổ chức đã chọn Fred Gray làm luật sư pháp lý toàn thời gian để giải quyết các vụ kiện về quyền bình đẳng của người dân. Tổ chức tiếp tục tiến hành những cuộc họp quần chúng mỗi tuần một lần. Ở đó, ngoài chương trình tôn giáo, các địa điểm bầu cử được mở ra, và diễn giả trong các buổi tối bàn về tin tức và vấn đề nổi cộm hiện tại. Rất đông người tham gia trong các buổi họp về chương trình giáo dục người trưởng thành là minh chứng cho ý thức mới của người da đen đối với sự cải thiện bản thân.
MIA đã đặt ra một chương trình hoàn hảo mang tên “Nhìn về phía trước”, nhằm hướng tới việc đẩy mạnh các mảng giáo dục về con người và chính trị, quan hệ cộng đồng, bồi dưỡng kỹ năng, cải thiện đời sống kinh tế, sức khoẻ, giải trí, tuân thủ luật pháp, quan hệ công chúng, thay đổi văn hóa cho phù hợp và làm phong phú tín ngưỡng. Nhiều phần của chương trình đa dạng này vẫn còn nằm trong dự định; số khác thì đã được tiến hành. Quan trọng nhất bây giờ có lẽ là nỗ lực không ngừng để vận động tất cả người da đen đủ tuổi ghi danh và tham gia bầu cử. Đây vẫn còn là một khó khăn, chủ yếu là tại sự cố chấp của các cán bộ làm hồ sơ da trắng. Gần 2.000 người da đen gửi đơn đăng ký tại địa phương trong hai năm qua chỉ có 10 phần trăm thành công ghi được tên vào danh sách cử tri hợp lệ.
Do đó nạn phân biệt chủng tộc ở Montgomery vẫn chưa có hồi kết. Nhưng rõ ràng là mọi thứ đã khá hơn nhiều so với thời điểm trước ngày 5 tháng 12 năm 1955. Cư dân ở đây tôn trọng lẫn nhau và biết tôn trọng bản thân hơn. Trên tất cả, kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy sự thay đổi xã hội có thể xảy ra mà không cần bạo lực.
Ghi chú: Tác giả biết ơn Giáo sư Lawewnce Reddick của trường Cao đẳng Alabama State vì sự giúp đỡ của ông trong việc chuẩn bị cho chương này.
Chương XI
Đích đến tiếp theo của chúng ta là gì?
Cuộc tranh đấu XE BUÝT ở Thành phố Montgomery thuộc tiểu bang Alabama đã đi vào lịch sử. Giờ đây, bên cạnh nhiệm vụ chuyên chở hành khách, những chuyến xe buýt không phân biệt màu da hàng ngày lăn bánh trong Thành phố còn mang biểu tượng sức mạnh của quần chúng. Sự hòa thuận giữa đại đa số hành khách trên xe là minh chứng cho thiện chí có sẵn trong mỗi con người, và là tín hiệu của hòa bình ngay trong lòng một xã hội đang vật lộn với nạn phân biệt chủng tộc. Thỉnh thoảng những bất hòa giữa các hành khách trên xe buýt như một lời nhắc nhở rằng những khía cạnh khác trong đời sống của người dân da đen ở Montgomery vẫn còn phải chịu sự phân biệt chủng tộc, và tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng phát những cuộc bạo động tập thể và xung đột cá nhân. Quả thực, nạn phân biệt chủng tộc vẫn đang còn hiện hữu trên khắp miền Nam.
Vậy thì, đích đến tiếp theo của chúng ta là gì? Vì chuyện xảy ra ở Montgomery mới chỉ là triệu chứng của một vấn đề lớn hơn thuộc quy mô quốc gia. Chúng ta sẽ làm gì tiếp theo không chỉ ở Montgomery mà trên toàn miền Nam và khắp cả nước? Những lực lượng nào đã hình thành từ nhiều năm qua và đến bây giờ đủ khả năng để gây ra cuộc khủng hoảng chủng tộc hiện nay? Cuộc chiến này sẽ kết thúc như thế nào? Liệu rằng chúng ta có sẽ rơi vào ngõ cụt của những mâu thuẫn chính trị và xã hội? Hay chúng ta có đủ các nguồn lực sáng tạo để đạt tới lý tưởng về tình anh em và một đời sống hòa hợp?
Trong nửa thế kỷ qua đã có những thay đổi cực kỳ quan trọng trong cuộc sống của Cộng đồng người Mỹ Da Đen. Những biến động xã hội từ hai cuộc Chiến tranh thế giới, cuộc Đại khủng hoảng kinh tế năm 1930 (Great Depression) và sự sử dụng ô tô ngày càng phổ biến giúp những người Mỹ da đen không còn bị cô lập trong các nông trường hẻo lánh nữa.
Nông nghiệp sút giảm, trong khi công nghiệp lại phát triển không ngừng đã thu hút rất đông những người da đen dịch chuyển đến các vùng đô thị đông đúc, và kinh tế của họ cũng được cải thiện. Việc tiếp cận với những thay đổi này đã mở rộng tư duy và cơ hội phát triển cho giáo dục. Tất cả những yếu tố này cộng hưởng với nhau đã giúp người da đen có một cái nhìn mới mẻ về chính họ. Kinh nghiệm sống phong phú làm suy nghĩ của họ được mở mang hơn. Họ ý thức được rằng mình là một phần tử trong xã hội mà mọi người đều bình đẳng, và do đó, họ đáng được nhận những quyền và lợi ích tương xứng với trách nhiệm của mình. Từng bị mặc cảm tự ti về sự thấp kém - là hậu quả truyền nối từ chế độ nô lệ và phân biệt đối xử, giờ đây, những người da đen có tác nhân để “định nghĩa lại” chính mình. Họ dần cảm nhận được giá trị của bản thân. Tôn giáo giúp họ hiểu rằng, Thượng Đế yêu thương tất cả những đứa con của Ngài, và điều quan trọng của một con người không nằm ở những đặc điểm riêng, mà là bản chất - nghĩa là không phải màu da hay sợi tóc, mà chính là những giá trị vĩnh cửu của một con người đối với Thượng Đế.
Lòng tự trọng ngày càng tăng đã thúc đẩy những người da đen đấu tranh và hy sinh cho đến khi giành được đầy đủ quyền công dân và được đối xử công bằng. Đây là ý nghĩa thực sự của câu chuyện Montgomery. Sẽ không thể hiểu được ý nghĩa của phong trào tẩy chay xe buýt ở Montgomery, nếu không biết rằng ở miền Nam đã xuất hiện một thế hệ người da đen mới nhận thức rõ về phẩm giá và số phận của bản thân mình.
Sự thay đổi suy nghĩ của những người da đen như một hồi chuông thức tỉnh hàng triệu người Mỹ da trắng quan tâm đến nạn phân biệt chủng tộc. Kể từ khi Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ra đời, nước Mỹ đã bộc lộ sự không nhất quán trong vấn đề chủng tộc. Trong lòng đất nước này luôn có sự giằng xé giữa hai thái cực - một bên là niềm tự hào khi “vỗ ngực xưng tên” là một nền dân chủ; còn một bên, buồn thay, lại là những hành động hoàn toàn trái ngược với mục tiêu cao cả đó. Những biểu hiện của sự phân biệt chủng tộc, như chế độ nô lệ, luôn phải đối đầu với những lý tưởng của chế độ dân chủ và Kitô giáo. Quả là một nghịch lý lạ lùng, khi nạn phân biệt chủng tộc và phân biệt đối xử lại tồn tại ngay trong lòng nước Mỹ - một quốc gia được thành lập dựa trên nguyên tắc tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Mâu thuẫn này đã khiến những người da trắng ở cả miền Bắc và miền Nam cảm thấy cắn rứt lương tâm, và nhiều người trong số họ đồng ý rằng sự phân biệt chủng tộc về bản chất là xấu xa.
Đỉnh điểm của quá trình này là khi Tòa án Tối cao ban hành Luật chống phân biệt chủng tộc tại các trường công lập. Đối với tất cả những người dân có thiện chí, ngày 17 tháng 5 năm 1954 là một cột mốc đầy phấn khởi, đánh dấu sự kết thúc của những đêm dài chìm trong sự hợp pháp hóa những hành vi phân biệt chủng tộc. Bằng những từ ngữ rõ ràng, Tòa án đã khẳng định các hình thức của thuyết “phân biệt, nhưng bình đẳng” (“separate but equal”) bản chất là không bình đẳng, và việc phân biệt đối xử với một đứa trẻ dựa trên chủng tộc là tước đi của chúng quyền được luật pháp bảo vệ. Phán quyết này đã mang đến hy vọng cho hàng triệu người da đen đang bị tước đi những quyền cơ bản nhất - những con người trước kia chỉ dám mơ ước về tự do. Những sự kiện này đã góp phần nâng cao ý thức về phẩm giá của những người da đen và khiến họ càng thêm quyết tâm đấu tranh giành công lý.
Động lực thúc đẩy những người Mỹ gốc Phi quyết tâm giành được tự do và thoát khỏi mọi hình thức áp bức bắt nguồn từ khát vọng chung của mọi dân tộc đang chịu áp bức nô dịch trên toàn thế giới. Tình trạng bất mãn sục sôi của người dân ở châu Á và châu Phi đã tạo nên làn sóng đòi hỏi tự do và phẩm giá của những con người từ lâu đã là nạn nhân của Chủ nghĩa thực dân và Chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy, về mặt ý nghĩa, cuộc khủng hoảng chủng tộc ở Mỹ là một phần của cuộc khủng hoảng lớn hơn trên toàn thế giới.
Dù rất nhiều những thay đổi đã góp phần tạo nên sự biến chuyển lớn trong nhận thức về phẩm giá của một số người da đen, nhưng chúng cũng không phải là nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng hiện tại. Nếu tất cả mọi người thật lòng chấp nhận những thay đổi mang tính lịch sử này thì khủng hoảng sẽ không xảy ra. Cuộc khủng hoảng đã trở nên nghiêm trọng khi cuộc đấu tranh vì mục tiêu công bằng cho người da đen ở vào cảnh quẫn bách gặp phải sự chống trả mạnh mẽ và ngoan cố.
Trật tự xã hội mới dựa trên nguyên tắc bình đẳng dân chủ đã tuyên chiến với trật tự cũ theo chủ nghĩa gia trưởng và lệ thuộc. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng không phải do những nhân tố bên ngoài kích động như tổ chức Hiệp hội Quốc Gia Vì Sự Tiến Bộ Của Người Da Màu (NAACP), những người phản kháng Montgomery hay thậm chí là Tòa án Tối cao, mà ngược lại nó ngày càng trở nên tồi tệ là do các nguyên tắc ưu việt nhất của nền dân chủ Mỹ không được thực thi một cách triệt để trong suốt gần hai thế kỷ. Đến khi các nguyên tắc này bắt đầu tự hoàn thiện thì gặp phải sự phản kháng tàn bạo của các lực lượng luôn tìm cách hạn chế và kìm hãm sự lớn mạnh của tự do.
Sự chống đối có xu hướng gia tăng đến mức đáng lo ngại. Nhiều bang đã phản ứng bằng những sự thách thức công khai. Trong sảnh đường của các viện lập pháp ở miền Nam vẫn inh ỏi những từ như “sự can thiệp vào pháp luật” (“interposition”) và “vô hiệu hóa” (“nullihcation”). Nhiều quan chức nhà nước sử dụng quyền hành pháp để thách thức luật pháp về đất đai. Qua các hành vi vô trách nhiệm, các tuyên bố đầy kích động và sự phát tán những tin tức xuyên tạc chỉ mang một nửa sự thật, họ đã thành công trong việc khơi dậy nỗi sợ hãi không bình thường, ác cảm và bệnh hoạn trong tâm trí của một số người da trắng tư chất thấp kém và thất học, khiến cho những người này luôn có trạng thái phấn khích và mất trí đến mức có những hành vi xấu xa và tàn bạo mà không một người bình thường nào dám làm.
Mức độ nghiêm trọng của các vụ bạo động chống lại trật tự xã hội mới thể hiện ngay trong chính sự hồi sinh của Ku Klux Klan. Đây là một tổ chức ủng hộ tư tưởng duy trì sự kỳ thị chủng tộc bằng mọi giá. Tổ chức này sử dụng những cách thức hoạt động tàn bạo và man rợ. Thành viên của tổ chức thường là những nhóm người ở tầng lớp thấp, thiệt thòi về quyền lợi, và những người nhìn thấy mối đe dọa về chính trị và kinh tế trước những thay đổi vị thế của người da đen. Mặc dù Klan là tổ chức không có quyền lực chính trị và bị công khai lên án từ mọi phía, nhưng đây vẫn là một lực lượng nguy hiểm khiến sự phân biệt chủng tộc và mâu thuẫn tôn giáo trở nên tồi tệ hơn. Bởi vì trong lịch sử tồn tại của nó, ở đâu có Klan, ở đó có nỗi khiếp sợ bạo lực.
Sau đó là sự xuất hiện của Hội đồng Công Dân Da Trắng (White Citizens’ Councils). Hội đồng này tuyển mộ những thành viên có kinh tế và vị trí xã hội cao hơn so với Klan, có thể xem đó là một lớp hào quang mờ ảo giúp họ nhận được sự kính nể hơn. Nhưng cũng giống như Klan, họ cổ xúy cho việc duy trì phân biệt chủng tộc bất chấp luật pháp. Vũ khí của họ là sự đe dọa, trừng phạt và tẩy chay đều nhằm trực tiếp chống lại tất cả những người da đen và bất kỳ người da trắng nào đứng ra ủng hộ công lý.
Họ đòi hỏi sự thích ứng tuyệt đối từ những người da trắng, và sự quy phục triệt để từ những người da đen. Các Hội đồng Công Dân này thường đưa ra những quan điểm hết sức đạo đức giả, rằng họ ghê tởm bạo lực, nhưng chính sự coi thường luật pháp, các hành động phi đạo đức và những lời đả kích công khai cay độc của họ lại là môi trường hoàn hảo để bạo lực lên ngôi.
Như một kết quả tất yếu từ những hoạt động cực đoan của Hội đồng Công Dân Da Trắng, hầu hết những người da trắng ôn hòa ở miền Nam không còn thoải mái thảo luận về các vấn đề liên quan đến sự xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc ở nơi công cộng, vì sợ bị trả thù kinh tế và bị xã hội tẩy chay. Vì thế, những kênh liên lạc giao tiếp đã từng tồn tại giữa những người da trắng và người da đen giờ đã chấm dứt hoạt động.
Cuộc khủng hoảng trong quan hệ chủng tộc hiện nay có những điểm đặc trưng dễ nhận thấy của bất kỳ giai đoạn chuyển đổi xã hội nào. Những người chủ trương duy trì tình hình hiện tại của xã hội công kích và chống lại những cá nhân hoặc tổ chức mà họ cho rằng chịu trách nhiệm chính về sự xuất hiện của trật tự xã hội mới. Thông thường, sự công kích đe dọa này sẽ phát triển thành nguyên nhân chính của khủng hoảng.
Trong quá trình chuyển đổi từ chế độ nô lệ sang giải phóng sự kìm kẹp, Abraham Lincoln đã bị ám sát. Trong quá trình chuyển đổi từ sự phân biệt sang xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc trong nhà trường ngày hôm nay, Tòa án Tối cao bị chỉ trích và NAACP bị vu khống và phải chịu sự trả thù ngoài vòng pháp luật.
Như trong các cuộc khủng hoảng xã hội khác, những người bảo vệ thực trạng ở miền Nam cho rằng họ đang dần tự giải quyết vấn đề của mình cho đến khi họ gặp phải áp lực bên ngoài. Lời khiếu nại quen thuộc ở miền Nam lúc này là Phán quyết của Tòa án Tối cao về giáo dục đã xóa bỏ ranh giới trong quan hệ chủng tộc, nhưng những người thuộc các chủng tộc khác nhau từ lâu đã sống hòa bình rồi bây giờ lại chống nhau. Tuy nhiên, đây là một giải thích sai lầm về những gì đang diễn ra. Khi một người bị trị tiến tới tự do, họ không tạo ra hố chia tách mà chỉ nói lên sự thật này khi những kẻ biện hộ cho trật tự cũ đã tìm cách che giấu. Phong trào đấu tranh cho sự đồng đẳng hóa không hề tạo ra sự phân tách ở Hoa Kỳ trong lúc này. Sự phân biệt sâu sắc đã thực sự tồn tại đang được bộc lộ qua sự chống đối lại việc hợp nhất, mà phái ôn hòa không nhìn ra bản chất thật của nó và làm sáng tỏ.
Trong thời kỳ khủng hoảng, những kẻ cực đoan đã liều lĩnh ra sức tác động vào suy nghĩ của các lực lượng tự do trong phần lớn giới lãnh đạo. Ví dụ, trong quá trình chuyển đổi hiện nay, người da trắng ở miền Nam cố gắng thuyết phục người da trắng miền Bắc rằng người da đen là tội phạm bẩm sinh. Họ tìm kiếm các trường hợp phạm tội của người da đen và tội phạm yị thành niên ở các cộng đồng phía Bắc rồi nói: “Mọi người thấy đấy, người da đen toàn đem phiền phức đến. Họ đi đến đâu là gây rắc rối đến đó”. Lời buộc tội được đưa ra mà không dựa vào bản chất thực sự của tình huống. Các vấn đề môi trường sống của tội phạm được giải thích như là bằng chứng cho việc phạm pháp của người da đen. Các cuộc khủng hoảng phát sinh tại các trường học phía Bắc cũng được xem là bằng chứng cho thấy người da đen luôn là kẻ phạm pháp. Những kẻ cực đoan không nhận ra rằng những vấn đề học đường này là dấu hiệu của sự xáo trộn đô thị hơn là biểu hiện của chủng tộc với tư chất thấp kém. Tội ác và phạm lỗi không phải do chủng tộc; nghèo đói và thiếu hiểu biết mới sản sinh tội phạm dù là ở bất cứ nhóm chủng tộc nào.
Trong nỗ lực gây ảnh hưởng đến suy nghĩ của những người tự do miền Bắc và miền Nam, những người chủ trương phân biệt chủng tộc thường xảo quyệt và khôn khéo. Những kẻ này dựa vào Kinh Thánh để lý luận một cách lươn lẹo về tính hợp lệ của sự phân biệt và về chủng tộc thấp kém nhìn theo khía cạnh văn hóa và xã hội học. Họ nói rằng người da đen chưa đủ yếu tố để được đồng đẳng hóa; trong các trường học, sự thua sút về học vấn và văn hóa của người da đen sẽ kéo chủng tộc da trắng xuống. Họ chẳng bao giờ đủ trung thực để thừa nhận rằng sự tụt hậu về học hành và văn hóa trong cộng đồng người da đen là kết quả của sự chia tách và phân biệt đối xử. Cách tốt nhất để giải quyết bất kỳ vấn để nào là loại bỏ nguyên nhân của nó. Cả về mặt lý lẽ và xã hội học, đều không đủ căn cứ nếu sử dụng hậu quả bi thảm của sự phân biệt để biện bạch cho việc duy trì nó.
Tất cả những phương thức hoạt động có chủ đích này - sự bất chấp của các cơ quan lập pháp miền Nam, hoạt động của các Tổ chức người Da Trắng thượng đẳng và những luận điệu xuyên tạc nghe có vẻ hợp lý của những kẻ phân biệt chủng tộc - đã hợp lại thành sự chống đối quyết liệt. Sự chống đối này bắt nguồn từ nỗ lực cuối cùng của người da trắng ở miền Nam để duy trì một hệ thống mà con người bị đối xử như dưới thời đồn điền phong kiến. Nhưng hệ thống này không thể tồn tại khi mà cuộc sống được đô thị hóa và công nghiệp phát triển. Đây là những nguyên nhân sâu xa nhất của cuộc khủng hoảng hiện nay.
Trường học của miền Nam hiện là tâm bão. Tại đây, phe ủng hộ điều tốt nhất cho dân tộc đã bất lực. Một năm sau khi Tòa án Tối cao tuyên bố sự phân biệt trong học đường là trái Hiến pháp, một nghị định nêu cụ thể việc đồng đẳng hóa nên có “tiến trình cẩn trọng” được ban xuống. Mặc dù Tòa án không đưa ra thời hạn kết thúc tiến trình này, nhưng ấn định thời điểm bắt đầu. Rõ ràng Tòa án đã chọn giải pháp hợp lý này với mong muốn các lực lượng thiện chí sẽ thực hiện ngay và chuẩn bị cho cộng đồng một sự chuyển tiếp suôn sẻ và hòa bình.
Nhưng các lực lượng thiện chí đã thất bại trong việc thực hiện và hoàn tất. Văn phòng Tổng thông đã im lặng một cách đáng sợ, không hó hé một lời nào dù là không chính thức với cương vị của mình để tư vấn cho quốc gia về khía cạnh đạo đức của sự hợp nhất và cần thiết phải tuân thủ luật pháp, để tránh cho miền Nam khỏi sự hỗn loạn và khủng bố như hiện nay. Các lực lượng công lý khác cũng không hành động. Thực tế là ngay sau khi quyết định đầu tiên được đưa ra, các lãnh đạo nhà thờ, lãnh đạo công nhân và lãnh đạo các tổ chức phúc lợi xã hội hàng đầu đã tuyên bố tán thành quyết định này, và nhiều nghị quyết hỗ trợ đã được các tổ chức của họ thông qua. Nhưng hầu như không một tổ chức nào tự để ra một chương trình hành động để các thành viên có thể tích cực làm việc mang lại sự chuyển đổi hòa bình. Họ cũng không xây dựng một kế hoạch nào để các cá nhân trong cộng đồng miền Nam - những người sẵn sàng làm việc cho sự xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc - có thể nhận được sự hỗ trợ của tổ chức khi đối mặt với sự trả thù về kinh tế và bạo lực thể xác.
Sự vận động cho việc đồng đẳng hóa học đường của phe đạo đức bị thất bại đã tạo cơ hội cho phe đối nghịch tổ chức và kết tụ sự chống đối của họ. Trong khi những người tốt im lặng và tự bằng lòng, thì những người lầm đường đã hành động. Nếu mỗi nhà thờ và giáo đường xây dựng một chương trình hành động; nếu mọi tổ chức phúc lợi xã hội và công dân, mọi tổ chức lao động và tổ chức giáo dục đưa ra các kế hoạch cụ thể để thực hiện các nghị quyết chính đáng của họ; nếu báo chí, đài phát thanh và truyền hình sử dụng các công cụ mạnh mẽ của họ theo hướng giáo dục và nâng cao nhận thức người dân về vấn đề này; nếu Tổng thống và Quốc hội thể hiện lập trường một cách thẳng thắn; và nếu tất cả những điều trên đã xảy ra thì quân đội liên bang có thể đã không bị buộc phải cuốc bộ trên hành lang của trường Trung Học.
Song vẫn chưa quá muộn để hành động. Mỗi cuộc khủng hoảng đều có cả những hiểm họa và cơ hội của nó. Nó có thể báo hiệu sự cứu rỗi hoặc diệt vong. Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, nước Mỹ chỉ có thể đạt được công lý chủng tộc hoặc chứng rối loạn xã hội tột cùng dẫn đến sụp đổ như sự tự sát mà thôi. Lý tưởng về một nền dân chủ, tự do và bình đẳng cho tất cả mọi người sẽ thành hiện thực - hoặc cả nhân loại sẽ chia sẻ kết cục tận thế về mặt xã hội và tinh thần. Nói tóm lại, cuộc khủng hoảng này có thể đem lại một nền dân chủ mơ ước hoặc là lễ khải hoàn cho chủ nghĩa phát xít; cho sự tiến lên hoặc thụt lùi của xã hội. Chúng ta phải chọn hoặc là con đường của tình anh em cao quý, hoặc là con đường vô nhân tính với đồng loại.
Lịch sử đã giao phó cho thế hệ của chúng ta một sứ mệnh cực kỳ quan trọng - là hoàn thành quá trình dân chủ hóa mà nó đã diễn tiến quá chậm chạp trên đất nước này. Đó là thứ vũ khí mạnh nhất của chúng ta để thế giới tôn trọng và noi theo. Cách chúng ta ứng phó với tình thế quan trọng này sẽ thể hiện đạo đức của mỗi cá nhân chúng ta, nền văn hóa của một vùng lãnh thổ, nền chính trị của một quốc gia và uy tín của chúng ta như một nhà lãnh đạo của thế giới tự do. Tương lai của nước Mỹ phụ thuộc vào giải pháp cho cuộc khủng hoảng hiện tại. Khuôn mẫu của thế giới ngày nay không cho phép ta ngập ngừng và láng phí thời gian của tiến trình dân chủ hóa chậm chạp. Hoa Kỳ không thể hy vọng đạt được sự tôn trọng của các quốc gia da màu quan trọng và đang phát triển trên thế giới nếu không khắc phục được các vấn đề chủng tộc tại quê nhà. Nếu nước Mỹ là một quốc gia hạng nhất, thì không thể có công dân hạng hai được.
Một giải pháp cho cuộc khủng hoảng hiện tại sẽ không diễn ra trừ khi tất cả mọi người cùng thực hiện nó. Sự tiến bộ của con người không phải tự nhiên mà có, nhưng nó tất yếu sẽ phải đến.
Ngay chỉ một cái nhìn hời hợt về lịch sử cũng có thể thấy rằng không có sự tiến bộ xã hội nào luẩn quẩn mãi trong những vòng xoay không có lối thoát. Mỗi bước tiến tới mục tiêu của công lý đòi hỏi sự đấu tranh, gian khổ và hy sinh; những nỗ lực không mệt mỏi và sự hưởng ứng tích cực của những con người nhiệt huyết. Không có nỗ lực bền bỉ, thời gian sẽ trở thành đồng minh của các lực lượng nổi dậy thiếu kỹ năng, là căn nguyên của đấu tranh tự phát đầy cảm tính và hủy diệt xã hội. Vậy nên, đây không phải là lúc để thờ ơ hoặc tự mãn. Đây là thời điểm để hành động mạnh mẽ và tích cực.
Nếu những điều nói ở trên chỉ là những lời sáo rỗng, giống như vô số bài phát biểu chính trị nghe rất kêu, thì đó là nỗi nhục nhã của những người tuyên bố đấu tranh chống lại chuyên chế mà không trung kiên. Những điều này phải được nói đi nói lại nhiều lần, bởi con người rất nhanh quên. Nhưng một khi đã nói, chúng phải đi cùng với một chương trình hành động cương quyết, nếu không chúng sẽ trở thành nơi ẩn náu cho những người ngại ngần hành động. Nếu nước Mỹ phản ứng một cách sáng tạo với cuộc khủng hoảng hiện nay, nhiều tổ chức và cơ quan phải vượt lên những lối mòn có tính hệ thống và bắt đầu tham gia tích cực vào việc thay đổi bộ mặt của quốc gia.
Đầu tiên, cần có sự lãnh đạo mạnh mẽ và tháo vát từ chính phủ Liên bang. Nếu các cơ quan hành pháp và lập pháp quan tâm đến việc bảo vệ quyền công dân của tất cả mọi người như Tòa án Liên bang, thì quá trình chuyển đổi từ một xã hội phân biệt và chia rẽ sang một xã hội hình đẳng và hợp nhất sẽ tiến xa hơn so với ngày nay. Thiếu thốn sự lãnh đạo tích cực từ Washington, không chỉ bởi một đảng chính trị, cả hai đảng lớn đã trễ nải trong việc phục vụ cho công lý. Nhiều thành viên Đảng Dân chủ đã đi ngược lại bằng các tập tục phi dân chủ của đảng Dân chủ cực hữu hoạt động ở miền Nam (Dixiecrat) trước đây. Còn Đảng Cộng hòa đã phản bội bằng cách quy phục theo hành động đạo đức giả của phái Cánh Hữu miền Bắc.
Mặc dù bộ máy tư pháp liên bang có vai trò quan trọng trong giai đoạn chuyển đổi căng thẳng này, nhưng các tòa án không thể làm việc đơn độc. Tòa án có thể giải thích rõ ràng các nguyên tắc hiến pháp và loại bỏ cơ sở pháp lý của sự phân biệt, nhưng họ không thể viết luật, bổ nhiệm quản trị viên hoặc thực thi công lý ở cấp địa phương.
Chính quyền ở cấp tiểu bang và địa phương có thẩm quyền để thực thi công lý nếu họ muốn, nhưng các bang miền Nam đã xác định rõ chính sách của họ. Quyền hạn chính trị của Hoa Kỳ trên thực tế, được cho là bao gồm quyền phế truất nếu thất trách và làm phản cảm, thậm chí thay đổi Hiến Pháp, Các Tu chính Án và các giải thích về luật pháp. Vậy nên quyền lực và trách nhiệm mặc định nằm trong tay của Chính phủ Liên bang. Việc chấp nhận thử thách hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào các nhánh quyền lực trong Chính quyền Trung ương.
Tuy nhiên, hành động của chính phủ không phải là toàn bộ câu trả lời cho cuộc khủng hoảng hiện nay, nhưng nó cũng có vai trò quan trọng. Đạo đức không thể luật pháp hóa, mà chỉ có thể giúp điều chỉnh hành vi của con người. Luật pháp không thể khiến một người chủ thương yêu tôi, nhưng nó có thể khiến anh ta không từ chối thuê tôi chỉ vì màu da. Chúng ta phải nương nhờ vào tôn giáo và giáo dục để thay đổi những sai lầm của con tim và khối óc. Nhưng đợi đến khi trái tim con người hướng về chính nghĩa thì việc ép buộc một người phải chấp nhận sự bất công là phản đạo đức. Theo như kinh nghiệm của một số bang miền Bắc cho thấy, luật chống phân biệt đối xử có thể tạo nên biện pháp chế tài mạnh mẽ đối với loại phản đạo đức này.
Hơn thế nữa, tự bản thân luật pháp cũng có ý nghĩa giáo dục. Lời của Tòa án tối cao, của Quốc Hội, hay nội dung của Hiến pháp là những giảng viên hùng hồn. Thực tế, sẽ là sai lầm nếu nói lệnh của Tòa án Liên bang và các điều luật có hiệu lực thi hành ít có sự tác động đến phía Nam. Ví dụ sự xóa bỏ nạn phân biệt trong quân ngũ đã thực sự có những tác động to lớn khôn lường. Nghị định của Tòa án Liên bang đã thay đổi mô hình giao thông vận tải, lương bổng giáo viên, việc sử dụng các phương tiện giải trí và vô số những vấn đề khác. Với những hành động của Liên bang, sự thay đổi này dù người dân không muốn thì nó cũng dần trở thành thói quen.
Một nhóm khác đóng vai trò quan trọng trong cuộc khủng hoảng hiện tại là những người da trắng phe Tự do ở phía Bắc. Vấn đề chủng tộc mà ta phải đối đầu ở Mỹ không phải là vấn đề mang tính địa phương mà chính là vấn đề của quốc gia. Làm sao để quyền công dân của người da đen được tôn trọng ở bất kì đâu mà không làm giảm bớt những quyền lợi của mỗi công dân Mỹ khác. Sự bất công ở bất cứ một nơi nào cũng là mối đe dọa cho công lý ở khắp mọi nơi. Việc không tuân theo luật ở bang Alabama làm nền tảng của chính phủ thượng tôn pháp luật ở 47 bang còn lại bị lung lay. Thực tế chúng ta sống ở Hoa Kỳ có nghĩa là chúng ta bị ràng buộc trong một mối tương liên lẫn nhau không thể né tránh được. Vì vậy, không người Mỹ nào có thể thờ ơ về vấn nạn phân biệt chủng tộc. Đó là vấn đề mà tất cả mọi người sẽ phải đối diện khi bước ra khỏi nhà. Vấn đề chủng tộc ở Mỹ sẽ được giải quyết khi mọi người đều tự thấy đã nghiêm trọng đến mức độ mình phải đối mặt với nó. Dù anh đang sống ở miền Nam xa xôi hay vùng ngoại ô phía Bắc, việc phân biệt chủng tộc vẫn là vấn đề của anh, Đó là vấn đề của anh vì đó là vấn đề của toàn nước Mỹ.
Một chủ nghĩa tự do thực sự ở phía Bắc đang là một nhu cầu cấp bách và chủ nghĩa tự do đó phải tin sự hội nhập của cộng đồng nơi ấy cũng cấp bách như ở miền Nam xa xôi. Điều thứ nhất, cần đồng thuận rằng mục đích của việc hội nhập về mặt luật pháp và đạo đức là đúng; điều thứ hai,chính vì thế mà phải quyết tâm dấn thân cho lý tưởng hội nhập. Điều đầu là sự tán thành của trí tuệ. Điều sau là niềm tin thật sự. Đây là những tháng ngày đòi hỏi sự rèn luyện để có khả năng tương xứng với sứ mệnh. Chúng ta không còn thời gian để khua môi múa mép, đồng ý việc hội nhập mà không ủng hộ bằng hành động. Chúng ta phải bỏ cả cuộc đời ra để cống hiến.
Ngày nay trong quá nhiều cộng đồng phía Bắc có nhan nhản người theo chủ nghĩa tự do nửa vời cho nên chắc chắn sẽ thấy có rất nhiều phe phái nhưng chẳng ai cống hiến thật sự cho phe mình. Phân tích khách quan điều này là phản lại sự trung thành với cam kết. Một người theo chủ nghĩa tự do thực sự sẽ không bị lung lay bởi những tuyên truyền hay những lời quỷ quyệt như: “Hãy từ từ, bạn đang đẩy mọi thứ đi quá nhanh đấy”. Không phải tôi đang kêu gọi ngừng cảm thông và kiên nhẫn, nhưng không nên lấy sự cảm thông và kiên nhẫn làm cái cớ để lững lờ không dứt khoát. Nó là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt hành động của chúng ta, nhưng không phải chỉ cảm thông và kiên nhẫn mà không làm gì cả.
Trong giai đoạn chuyển đổi căng thẳng này người da trắng ôn hòa ở miền Nam giữ một vai trò quan trọng. Thật không may rằng, quyền lãnh đạo hiện nay đang nằm trong tay một nhóm người da trắng cực đoan hẹp hòi. Những người này giành được sự chú ý và quyền lực bằng cách gieo rắc các ý tưởng sai trái, khơi dậy lòng thù hận và những nỗi sợ hãi sâu thẳm nhất trong tâm trí con người. Nhưng tôi tin chắc rằng họ không đại diện cho cả miền Nam, mà chỉ một số nhỏ cố chấp.
Một điều rất dễ nhận thấy là miền Nam có nhiều ưu đãi tuyệt vời. Tài nguyên phong phú, cảnh sắc thiên nhiên thanh tú mỹ lệ và tình người ấm áp. Mặc dù được sở hữu những tài sản này, nó vẫn bị chậm phát triển bởi sự tàn phá làm cho cuộc sống của người da đen và một số người da trắng bị tụt hậu. Thật đáng thương cho người da trắng, phụ nữ và trẻ em đã chịu hậu quả của sự thiếu hiểu biết, sự tước đoạt, và sự nghèo đói. Đó là những bằng chứng cho thấy rằng một người bị tổn hại cả cộng đồng cũng bị tổn hại chung. Sự phân biệt đã bao trùm toàn bộ xã hội miền Nam, làm cho nền giáo dục và nền kinh tế đi sau những nơi khác trong nước.
Nhưng thực ra, miền Nam không phải là một khối thuần nhất, mà phân chia ít nhất thành ba vùng theo địa lý: có một miền Nam chịu đựng - gồm những bang Oklahoma, Kentucky, Kansas, Missouri, West Virginia, Delaware, một quận của Columbia; một miền Nam chờ đợi - Tennessee, Texas, Bắc Carolina, Arkansas, Florida; và một miền Nam phản kháng - Georgia, Alabama, Mississippi, Louisiana, Nam Carolina, Virginia.
Nếu xét về thái độ thì còn có thêm vài miền Nam nữa. Trong mỗi bang này có một số ít nơi để duy trì sự phân biệt, họ bất chấp và dùng đủ loại phương cách kể cả bạo hành về thể chất. Còn phần lớn thì mặc dù vẫn tin vào sự phân biệt do truyền thống và tập quán để lại, nhưng cũng biết tôn trọng pháp luật và các quy định. Vì thế, họ sẵn sàng tuân thủ luật pháp, không phải vì họ cảm thấy nó đúng, chỉ đơn giản vì nó là luật. Nhóm thứ ba, là một thiểu số cộng đồng đang đấu tranh hết sức can đảm và nhiệt huyết cho Luật đất đai. Những người này tin vào đạo đức cũng như Hiến pháp thời hội nhập. Tuy tiếng nói nhỏ nhoi của họ bị chìm đi trong sự thách thức quá lớn nhưng họ vẫn không bỏ cuộc.
Hơn nữa vẫn còn hàng triệu người da trắng miền Nam chưa cất lên tiếng nói, chưa có đường đi rõ ràng, chưa có những hành động dũng cảm. Những người này thường im lặng vì sợ hãi - sợ bị trả thù về kinh tế, xã hội và chính trị. Nhân danh Chúa, vì phẩm giá của con người và sự nghiệp dân chủ xin kêu gọi lòng can đảm của hàng triệu con người, để họ phải lên tiếng và bước ra lãnh đạo. Và còn miền Nam khác kêu gọi họ: miền Nam giàu bản sắc, miền Nam của hàng triệu người da đen đã xây dựng miền Nam nước Mỹ bằng máu và mồ hôi, những người khao khát tình anh em và sự tôn trọng, những người muốn chung tay với người da trắng đồng hương ở phía Nam để xây dựng một vùng đất tự do hơn, hạnh phúc hơn cho tất cả mọi người. Nếu bây giờ những người da trắng ôn hòa ở miền Nam không hành động, thì bi kịch lớn nhất được ghi vào lịch sử của thời kỳ chuyển đổi xã hội này không phải là tiếng kêu thảm thiết của những người bị tước đoạt, mà là sự im lặng đáng sợ của những người tự do. Thế hệ chúng ta sẽ hối tiếc không phải vì hành động và lời nói của những người dơ bẩn đang sống trong nghịch cảnh mà vì nỗi sợ và sự thờ ơ của những người hiểu biết, diện mạo sáng láng, sống trong no đủ.
Ai có thể dẫn dắt miền Nam ra khỏi vũng lầy của xã hội và kinh tế? Chỉ có thể là những người con của vùng đất này. Những người đã được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất màu mỡ và giàu có ấy; những người yêu quý nó vì đã từng được nó cưu mang nuôi dưỡng. Bằng tình yêu, sự kiên nhẫn, và thấu hiểu lẫn nhau họ có thể kêu gọi những người anh em của mình sống một cách cao thượng. Thời khắc này là một cơ hội tuyệt vời cho những người da trắng ôn hòa nếu như họ dám nói lên sự thật, tuân thủ luật pháp, và dấn thân dù phải chịu đau khổ cho những điều họ cho là đúng.
Hiện nay còn có một tổ chức nữa có thể tạo ra sự thay đổi hiệu quả, đó là phong trào lao động. Trong nhiều năm qua người da đen vẫn luôn là nạn nhân của sự bóc lột. Trước cuộc nội chiến, những người nô lệ làm việc dưới một chế độ không hề có quyền công dân hay bất kỳ bồi thường nào. Sau Cuộc Giải phóng xóa bỏ chế độ Nô lệ, người Mỹ da đen vẫn phải tiếp tục chịu đựng một nền kinh tế cổ hủ. Họ được trả tự do mà không có đất đai hay được pháp luật bảo vệ, bị ruồng bỏ, không có quyền lợi và chỉ nhận được những công việc nặng nhọc nhất. Ngay cả Chính phủ Liên bang cho họ tự do cũng không thực hiện bất kỳ chính sách dài hạn nào để đảm bảo kinh tế cho những người từng là nô lệ trước đây - ít nhất là quyền lợi gì đó xứng đáng liên quan đến mảnh đất của ông chủ cũ mà họ đã làm việc. Sự bóc lột người da màu vẫn tồn tại trong suốt thời kỳ Tái kiến thiết Quốc gia và kéo dài cho tới ngày nay.
Công đoàn Lao động đóng vai trò to lớn trong việc mang quyền lợi công bằng đến cho người da đen. Các công đoàn lao động đấu tranh nhằm nâng cao phúc lợi kinh tế cho các công dân Mỹ làm công hưởng lương. Vì người da màu không ai làm chủ hay làm quản lý trong các nhà máy, nên cuộc sống của họ phụ thuộc hoàn toàn vào đồng lương.
Ở Hoa Kỳ có 16.5 triệu thành viên của khoảng 150 công đoàn đáng tin cậy. Trong số đó, 142 công đoàn là tổ chức liên kết quốc gia và quốc tế của AFL-CIO (The American Federation of Labor and Congress of Industrial Organizations- Liên đoàn lao động Hoa Kỳ và Hiệp hội công nghiệp). Các công đoàn AFL-CIO có 1.3 triệu người da màu trong số 13.3 triệu thành viên, chỉ khi nào các tổ chức tôn giáo chung tay giúp đỡ cộng đồng người da màu thì số thành viên của người da màu mới được nâng lên. Lúc đó, người da màu mới có thể hy vọng sức mạnh của phong trào công đoàn Mỹ sẽ đảm bảo được quyền lợi cho họ - như tất cả các thành viên khác - về một chỗ đứng trong xã hội Mỹ. Họ, cùng với các công nhân khác, đã giành được điều này trong nỗ lực chung xây dựng các công đoàn dân chủ và tự do trên đất nước này.
Tình trạng kinh tế bấp bênh sẽ sẽ bóp nghẹt sự phát triển thể chất và văn hóa của những người bị ảnh hưởng. Không chỉ có hàng triệu cơ sở giáo dục và y tế chính quy mà đơn vị tổ chức căn bản nhất của xã hội - là gia đình - sẽ bị khổ sở, mục nát và yếu kém do nền kinh tế suy yếu. Khi mà một người da đen không được trả lương thỏa đáng, vợ anh ta phải đi làm để có đủ tiền nuôi những đứa con của mình. Lúc đó, người vợ không thể chăm sóc và dạy dỗ con cái trong tình thương yêu, che chở của người mẹ. Và thường những đứa con không được ai chăm sóc hoặc phải để người khác chăm sóc thiếu chu đáo, hoặc bị bỏ một mình cù bơ cù bất ở ngoài đường. Điều đó không chỉ xảy ra với người da màu mà nhiều gia đình người da trắng cũng ở trong tình trạng tương tự trong một xã hội đang xâu xé rối loạn. Có những người mẹ da màu không thể ở nhà trông con của mình vì phải đi làm công việc vú nuôi cho những người mẹ da trắng đi làm. Sự trớ trêu đó cho thấy cần một sự điều chỉnh trong tương lai.
Cả công nhân da trắng hay da màu đều bị hà hiếp. Đối với họ, mức sống cần được tăng lên tương ứng với nguồn tài nguyên quốc gia của chúng ta. Một sự phân biệt sáo rỗng của xã hội đã chia rẽ các chủng tộc. Người da trắng với đời sống kinh tế ảm đạm chấp nhận cái nghèo của mình bằng cách tự an ủi rằng, nếu không được tôn trọng hơn thì ít nhất về vị trí xã hội họ vẫn cao hơn người da đen. Chính vì niềm kiêu hãnh hão huyền có được từ câu chuyện thần thoại về chủng tộc này mà họ đã phải trả giá rất đắt bằng sự bất an, đói khát, thiếu hiểu biết và một tương lai vô vọng cho bản thân và con cái của mình.
Khi người da trắng và da màu có cùng chung một vấn đề thì họ thân thiết với nhau hơn. Những người công nhân này đều mong muốn có sự công bằng hơn về kết quả lao động trong các ngành công nghiệp và các trang trại. Cả hai đều cần có bảo hiểm thất nghiệp, lương hưu, sự bảo đảm về phúc lợi và an sinh. Các tổ chức phong trào lao động, mà đã đóng góp rất nhiều cho việc bảo đảm kinh tế và hạnh phúc của hàng triệu người, phải tập trung toàn lực rất mạnh mẽ để mang lại sự cải cách kinh tế cho người da trắng và da màu bằng cách kết nối họ lại với nhau trong một xã hội bình đẳng.
Chắc chắn phong trào lao động đã có những chuyển biến theo hướng này. Hầu như công đoàn lao động của mọi quốc gia và quốc tế đều có chính sách rõ ràng về nguyên tắc không phân biệt đối xử, và lãnh đạo của AFL-CIO ở Mỹ đã tuyên bố rất chân thành rằng, mục tiêu chính của việc loại bỏ nạn phân biệt chủng tộc không chỉ ở phong trào lao động Mỹ mà còn trên toàn xã hội Mỹ. Mặc dù lập trường là như vậy, nhưng một số công đoàn vẫn bị chi phối bởi nạn phân biệt chủng tộc, đã khiến tình hình kinh tế của người da màu sút kém. Người da màu bị cấm kết nạp ở một số công đoàn và bị từ chối khi tham gia đào tạo và giáo dục nghề nghiệp. Ở mọi miền của đất nước, các đoàn thể địa phương là một trở ngại rất ghê gớm cho người da màu khi đi tìm việc làm hoặc khi muốn thăng tiến trong công việc. Sự vận động của AFL-CIO ở phía Nam hầu như không có kết quả vì sự chống đối quá lớn của những người đầu não của tổ chức lao động, nhiều người trong số họ đã hoạt động trong Hội đồng Công Dân Da Trắng.
Những vấn đề tồn tại này trong tầng lớp lao động cho thấy những công việc để làm cho thay đổi vẫn còn phải tiếp tục. AFL-CIO phải sử dụng tất cả sức mạnh quyền hạn có trong tay để thúc ép mọi công đoàn địa phương phải tuân theo những nguyên tắc chung đã cam kết. Những người lãnh đạo sẽ thấy được công lao to lớn của công nhân trong cuộc đấu tranh giành quyền dân sự, nếu như thay vì dùng công sức chống người da màu hiện tại thì để phản đối bất công lao động. Các cuộc tấn công hiện nay vào tổ chức lao động do những hành vi sai trái của một số người bất lương không nên để làm cho chúng ta hiểu sai lệch về vai trò thiết yếu của phong trào lao động trong cuộc khủng hoảng hiện nay.
Nhà thờ cũng phải lãnh sứ mệnh lịch sử của mình trong cuộc khủng hoảng này. Nói cho cùng thì vấn đề phân biệt chủng tộc không phải là vấn đề chính trị mà là đạo đức. Thật vậy, như lời nhà kinh tế học Thụy Điển Gunnar Mỵrdal đã chỉ ra rằng, phân biệt chủng tộc là một vấn đề cực kỳ nan giải đối với nước Mỹ. Vấn đề khó khăn này là một thách thức lớn cho nhà thờ. Thuyết phổ độ là giáo lý chính yếu trong Phúc Âm, nên sự phân biệt được coi là một loại phản đạo đức và bất công. Phân biệt chủng tộc đã phủ nhận trắng trợn sự đồng nhất giữa chúng ta ở trong Thiên Chúa. Vì trong Chúa không có người theo đạo Do Thái cũng không có người ngoại đạo, không có sự ràng buộc cũng không có sự tự do, không có người da màu cũng không có người da trắng. Sự phân biệt in hằn vết sẹo lên tâm hồn của người phân biệt và người bị phân biệt. Người phân biệt xem người bị phân biệt như một thứ đồ cũ, không đáng được tôn trọng như một con người. Sự phân biệt biến mối quan hệ “tôi và anh” thành mối quan hệ “tôi và nó”. Do đó nó hoàn toàn trái ngược với những giáo lý cao quý của truyền thống Do Thái - Ki Tô của chúng ta.
Nhà thờ luôn có trách nhiệm mở mang tầm hiểu biết cho cộng đồng, cải tạo hiện trạng và phá bỏ các tục lệ nếu cần thiết. Chắc chắn việc đấu tranh với sự phân biệt là một nhiệm vụ của nhà thờ hiện nay. Nhà thờ có thể làm được một số điều cụ thể. Đầu tiên là cố gắng tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến mối oan cừu giữa các chủng tộc, điều mà pháp luật không thể làm. Tất cả thành kiến về chủng tộc đều xuất phát từ sự sợ hãi, nghi ngờ, hiểu lầm và thường không có căn cứ. Hội Thánh có thể đưa ra sự giúp đỡ vô ngần qua việc hướng dẫn cách tư duy của quần chúng. Thông qua các kênh giáo dục tôn giáo, Hội thánh có thể chỉ ra sự vô lý của thành kiến này.
Ý nghĩ về một chủng tộc siêu đẳng hay thấp kém chỉ là điều hoang tưởng đã bị bác bỏ qua khảo chứng nhân chủng học. Nó cho thấy rằng người da màu cũng không thua kém ai về mặt học vấn, sức khỏe và cả tiêu chuẩn đạo đức. Như vậy có thể hiểu rằng khi mà mọi người đều nhận được cơ hội như nhau thì người da màu có thể đạt được các thành tích đáng kinh ngạc.
Giáo hội còn có thể làm rất nhiều việc để cho mọi người biết rằng người da màu không có mưu cầu thống trị đất nước, mà chỉ đơn giản là muốn có quyền được sống như một công dân thượng đẳng, với tất cả trách nhiệm của một công dân tốt. Giáo đoàn cũng có thể góp phần xoa dịu những nỗi sợ vô căn cứ thường thấy về hôn nhân dị chủng. Vì hôn nhân là vấn đề mang tính cá nhân, được quyết định bởi mỗi cá nhân trong đó. Nên xét cho cùng thì đối tượng trong hôn nhân không phải là chủng tộc mà là con người. Hôn nhân phải cần sự đồng thuận một cách tự nguyện của hai bên kèm theo nghĩa vụ, và bất cứ bên nào cũng luôn có quyền nói không. Giáo đoàn có thể vạch trần ra rằng việc liên tục phản đối hôn nhân dị chủng là đang bóp méo bản chất của vấn đề. Có thể thấy rõ mục đích chính của người da màu là trở thành anh em thực sự của người da trắng chứ không phải chỉ trên danh nghĩa.
Mặt khác, Giáo đoàn có thể làm những điều để nguyên tắc bác ái không chỉ còn là điều viển vông bằng cách dẫn tâm thế của con người hướng về Chúa. Nước Mỹ hiện phải đối mặt với rất nhiều vấn nạn có liên quan đến nỗi sợ. Chúng ta không chỉ có nhiệm vụ giải thoát người da màu khỏi xiềng xích của sự phân biệt mà còn phải giải thoát cho người anh em da trắng của mình khỏi rào cản của nỗi sợ đa sắc tộc. Một trong những cách tốt nhất để gạt nỗi sợ ra khỏi con người ta là hướng cuộc sống của họ tới ý định và mục đích của Thiên Chúa: “Sự yêu thương trọn vẹn không có chỗ cho sự sợ hãi”.
Mỗi khi nghĩ tới nạn phân biệt người ta thường chỉ nghĩ về con người mà bỏ quên Thiên Chúa. Họ chỉ hỏi: “Bạn bè tôi sẽ nghĩ gì nếu tôi quá gần gũi với người da màu hay quá cởi mở với những câu hỏi về chủng tộc?” mà không khi nào đặt câu hỏi: “Liệu Thiên Chúa sẽ nghĩ gì?” chính vì thế mà họ luôn lo sợ, bởi họ muốn chạy theo sự tán thành của xã hội đời thực hơn là sự thành tâm với Thần Thánh ở cõi trên.
Giáo hội phải nhắc nhở những tín hữu rằng con người sẽ được hết mực che chở khi tận hiến cuộc đời của mình cho những đòi hỏi của Thượng Đế hơn là mù quáng hiến mình cho những dục vọng tạm bợ của loài người. Giáo đoàn phải không ngừng nói với các tín hữu rằng: “Các con thuộc về Thiên đàng...” Phải, con người sống ở hai thế giới song song, vừa ở hiện tại vừa ở cõi bất tử, vừa ở địa đàng vừa ở trần thế. Nhưng họ nợ Thiên Chúa một lòng trung thành tuyệt đối. Đó chính là sự tôn kính đối với Thiên Chúa và cống hiến cho mục tiêu của Ngài là diệt trừ sự sợ hãi.
Một giải pháp khác mà giáo hội có thể làm trong quá trình nỗ lực đẩy lùi nạn phân biệt là đi đầu trong cuộc cải cách xã hội. Nếu Giáo đoàn chỉ dừng lại ở việc hăng hái phát biểu ý kiến thì vẫn chưa đủ mà phải bắt tay vào thực hiện. Trước tiên, giáo hội phải triệt tiêu rào cản của nạn phân biệt trong chính tập thể giáo hội. Chỉ có cách này mới có thể đánh đuổi được những ác quỷ từ bên ngoài. Tiếc thay, hầu hết những giáo phái lớn vẫn còn thi hành nạn phân biệt ở các giáo xứ địa phương, bệnh viện, trường học, và các giáo xứ hiệu toà khác. Thật đáng sợ là trong cộng đồng Công giáo ở Mỹ, nạn phân biệt xảy ra mạnh nhất là vào mười một giờ sáng Chủ nhật, thời điểm mà rất nhiều người đứng lên hát: “Thiên Chúa không phân biệt Đông hay Tây...” Tương tự, những trường học có nạn phân biệt nặng nhất là những trường mở vào Chúa nhật. Đã không biết bao nhiêu lần giáo hội hô hào rất quyết liệt nhưng lại thiếu vắng sự hành động! Trưởng khoa Thần học Liston Pope của đại học Yale đã trình bày sâu sắc trong cuốn Vương Quốc vượt ngoài đẳng cấp thân phận (The Kingdom Beyond Caste): “Giáo hội là thể chế phân biệt chủng tộc nặng nhất xã hội Mỹ. Nó tụt hậu hơn Tòa án Tối cao trong câu hỏi lương tâm về vấn đề sắc tộc, và nó thua xa những liên đoàn lao động, các xí nghiệp, trường học, siêu thị, những giải đấu thể thao và hầu hết những hoạt động xã hội xét về mặt hiệu quả của nỗ lực đem lại bình đẳng chủng tộc”.
Cũng đã có một vài tiến triển. Giáo xứ khắp mọi nơi đang tích cực bài trừ nạn phân biệt, và thực sự kết nối đa sắc tộc trong giáo đoàn của mình. Giáo hội Công Giáo Hoa Kỳ đã liên tục lên án nạn phân biệt chủng tộc và đề nghị các giáo phái hệ thuộc làm điều tương tự. Hầu hết các giáo phái lớn hưởng ứng phát động đó. Giáo hội công giáo Rôma đã tuyên bố: “Nạn phân biệt là trái đạo đức và là tội lỗi”. Tất cả những điều trên thật đáng ngưỡng mộ. Thế nhưng chủ trương này vẫn còn vô cùng hiếm thấy, và mất quá nhiều thời gian để đi vào thực tiễn tại những giáo xứ địa phương. Có những chia rẽ do tà thuyết chen lẫn trong chính nội bộ giáo hội phải được giải quyết. Sẽ là một trong những bi kịch của lịch sử đạo Công giáo nếu sau này có một Dã nhân nào dám phát biểu rằng ở đỉnh cao của thế kỷ hai mươi, Giáo hội lại chính là kẻ bao che cho nạn phân biệt lộng hành.
Giáo hội còn phải năng nổ hơn nữa trong các hoạt động ở ngoài xã hội. Họ phải nỗ lực làm cho các kênh truyền thông cởi mở với cả người da màu và người da trắng. Họ phải chủ động phê phán những bất công đối với người da màu trong vấn đề nhà cửa, giáo dục, sự bảo vệ của cảnh sát, và cả ở toà án. Họ phải nâng tầm ảnh hưởng của mình trong việc tạo bình đẳng kinh tế. Với vai trò là chỗ dựa cho đời sống tâm linh và tín ngưỡng của cả cộng đồng, giáo hội không thể chỉ nhìn nhận một cách đơn giản trước những ác quỷ ban ngày này.
Nhắc đến vai trò của giáo hội thì không thể không đề cập đến vị trí của mục sư. Mỗi mục sư đều có sứ mệnh phải để cao tính chính trực, nói lên những chân lý bất diệt của Phúc Âm, và dẫn dắt con người từ bóng tối của sa đọa và sợ hãi đi ra ánh sáng của chân lý và tình yêu.
Ở miền Nam, sứ mệnh này khiến những mục sư người da trắng gặp phải lựa chọn khó khăn. Những ai tin rằng nạn phân biệt là đi ngược ý định của Thiên Chúa và tinh thần của Chúa Jesus thì sẽ bị giằng xé giữa việc lựa chọn giữ vững lập trường và bị sa thải hay giữ im lặng để tiếp tục sống yên ổn. Những mục sư đi theo hướng thứ hai cảm thấy nếu họ bị ép phải rời khỏi Giáo đoàn thì người kế vị nhất định sẽ là một kẻ phân biệt chủng tộc, và điều đó là đi ngược với mục đích của Công giáo. Nhiều mục sư đã chọn im lặng không phải chỉ để giữ lại công ăn việc làm mà còn vì họ cảm thấy kiềm chế là cách tốt nhất để phụng sự mục đích của Chúa Jesus tại miền Nam này. Bằng những phương thức kín đáo, không ồn ào, rất nhiều trong số những mục sư này đang đóng góp cho một tương lai tương sáng và góp phần uốn nắn tư tưởng của thanh thiếu niên. Những người như vậy không đáng bị chỉ trích.
Cho dù thế nào thì cuối cùng mục sư người da trắng ở miền Nam cũng phải quyết định chọn con đường nào. Không có chiến lược nào là đúng đắn tuyệt đối. Điều tối quan trọng là mỗi mục sư phải cống hiến hết mình cho lý tưởng của Thiên Chúa về tình anh em, và đảm bảo thực thi bằng những hành động tích cực. Người mục sư không bao giờ được có ý niệm rằng giữ im lặng là cái cớ hay để trốn tránh sứ mệnh. Rất nhiều mục sư có thể làm nhiều hơn hiện tại trong khi vẫn nắm giữ được giáo đoàn của mình. Có một điều chắc chắn rằng các mục sư sẽ không bị thiệt thời. Tại mỗi thành phố ở miền Nam nên có các hiệp hội mục sư đa sắc tộc, ở đó mục sư da màu và da trắng có thể gặp gỡ trong tình đồng tín ngưỡng Công giáo và bàn luận về các vấn đề nổi cộm trong cộng đồng. Một trong những điều đáng tiếc nhất của cuộc đấu tranh tại Montgomery là chúng tôi đã không thể thuyết phục những mục sư da trắng chịu ngồi xuống và cùng nhau bàn bạc về các vấn đề chung. Còn những trường hợp ngoại lệ, những mục sư da trắng chịu cùng thảo luận thì chẳng nhiệt tình bao nhiêu so vài kỳ vọng ngây thơ của tôi.
Và các mục sư còn có thể cùng nhau kêu gọi sự hợp tác từ phía luật pháp và xóa bỏ bạo lực. Điều này đã được các mục sư ở Atlanta, Richmond, Dallas và nhiều thành phố khác áp dụng, và không một ai trong số họ theo những gì tôi biết, mất việc. Sẽ rất khó để một giáo phận sa thải toàn bộ mục sư trong một thành phố. Chỉ cần những mục sư người da trắng tại miền Nam đồng lòng cất chung tiếng nói đề cao sự thật về chân lý của những vấn đề chủng tộc thì sự quá độ từ một xã hội phân biệt chủng tộc lên một xã hội đa chủng tộc sẽ tuyệt nhiên dễ dàng.
Bất kỳ tranh luận nào về vai trò của giới mục sư hiện nay cũng đều phải nhấn mạnh đến tính thiết thực của việc mang thông điệp cân bằng tự nhiên của Thượng đế truyền đạt cho loài người. Không phải mục sư nào cũng có thể làm ngôn sứ có vai trò thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội, nhưng có một số người phải chuẩn bị cho vai trò này bằng sự vượt qua những thách thức, để sẵn sàng đón nhận sứ mệnh mạnh mẽ dấn thân vì chân lý. Mong sao nạn phân biệt ở Mỹ hãy sớm lay động những trái tim để các ngôn sứ sẽ phải xuất hiện và nói “Nhân danh Thiên Chúa,” rồi thốt lên như Amos trước đây, “... hãy để công lý chảy cuồn cuộn như sông, hãy làm cho lòng nhân từ chảy như suối không ngừng”.
May thay, ở miền Nam đã có vài người mang tinh thần của ngôn sứ này. Tôi hết lòng ca ngợi các cha xứ đạo Thiên Chúa và giáo sĩ Do Thái đã kiên cường trước những chông gai và mỗi đe dọa, sự bất tiện và mất mát danh tiếng, thậm chí là nguy hiểm tới tính mạng, để xướng lên lý tưởng của chúa cha và tình anh em của con người. Niềm an ủi cho những bầy tôi cao quý đó của Thiên Chúa chính là lời của Jesus: “Người ta sẽ nhục mạ và làm tổn thương các con. Họ sẽ lấy mọi điều xấu vu cáo các con vì các con theo ta. Nhưng khi họ làm như thế thì các con có phúc. Hãy hớn hở vui mừng lên, vì có một phần thưởng rất lớn đang dành cho các con trên Thiên đàng. Vì họ cũng đã ngược đãi các nhà tiên tri sống trước các con như vậy”.
Tại đây và thời điểm này là thử thách to lớn và cơ hội cao thượng: để cho tinh thần Thiên Chúa sáng tạo một quốc gia Công Giáo chân thật và vĩ đại. Nếu như giáo hội đối mặt với thử thách với lòng dũng cảm và với tâm cống hiến thì ngày ấy sẽ đến nhanh và sẽ là lúc mọi người ở khắp nơi nhận ra rằng Thiên chúa ở trong hết thảy mọi người.
Cuối cùng, những người Mỹ gốc Phi đóng một vai trò quyết định nếu muốn được bình đẳng thực sự. Nếu người da đen muốn giành được quyền công dân hạng nhất với đầy đủ quyền lợi thì người đầu tiên phải hành động không ai khác hơn là chính họ. Sự xóa bỏ phân biệt chủng tộc và hội nhập xã hội của những người da đen tuyệt đối không phải là món cao lương mỹ vị mà chính phủ Liên bang hay người da trắng hào phóng dọn sẵn lên đĩa bạc ở trên bàn và những người da đen chỉ việc bày tỏ sự thèm khát rồi thụ hưởng thoải mái. Có thể, một trong những tác động tai hại nhất của cuộc chiến chống nạn phân biệt chủng tộc trong quá khứ là đã làm những người da đen mang ảo tưởng rằng, có nhiều người khác quan tâm đến quyền công dân của họ hơn cả chính bản thân họ.
Trong thời kỳ thay đổi xã hội này, những người Mỹ gốc Phi cần phải nhận ra được rằng họ có thể làm được rất nhiều điều để thay đổi hoàn cảnh khốn khổ của mình. Họ có thể thất học hay nghèo túng, nhưng những bất lợi này không thể ngăn họ nhận ra sức mạnh tự thân để thay đổi số phận của mình. Những người da đen có thể trực tiếp phản kháng chống lại sự bất công mà không cần chờ đến sự can thiệp của chính phủ, sự đồng thuận của đám đông hoặc phán quyết bênh vực của tòa án.
Những người bị áp bức thường ứng phó với những kẻ áp bức theo ba con đường. Con đường thứ nhất là phục tùng: những người bị áp bức cam chịu số phận của họ. Họ điều chỉnh dần bản thân để quen với sự đàn áp. Tâm lý này xuất hiện trong hầu hết các phong trào đi tìm tự do, một số người bị áp bức thích duy trì tình trạng này. Gần 2.800 năm trước, Moses đã dẫn dắt người Do Thái ra khỏi chế độ nô lệ của Ai Cập tới miền đất hứa tự do. Ông đã sớm phát hiện ra rằng, những người nô lệ không phải lúc nào cũng chào đón người đến cứu nguy. Họ đã quen với việc mang thân phận nô lệ. Như Shakespeare đã chỉ ra, họ thà gánh những nỗi khổ đang mang hơn là chạy trốn đến những nỗi khổ họ không biết đến. Họ “thà chết bên nồi thịt ở Ai Cập” (Exodus 16:3) hơn là trải qua các thử thách để được giải phóng.
Đã tồn tại một thứ được gọi là “tự do trong áp bức”. Đó là tình trạng khi một số người dần kiệt quệ và tuyệt vọng bởi ách áp bức đến nỗi buông xuôi tất cả. Cách đây vài năm tại các khu ổ chuột ở Atlanta, hầu như mỗi ngày đều có một tay guitar người da đen ngân nga câu hát: “Việc chịu đựng đau khổ quá lâu khiến tôi không còn thấy phiền”. Đây là kiểu tự do và cam chịu vô cùng tiêu cực, và nó đã nuốt chửng lấy toàn bộ cuộc sống của những người bị áp bức.
Con đường đó chắc chắn không phải là lối thoát. Thụ động chấp nhận một hệ thống bất công nghĩa là đồng lõa với hệ thống đó; vì vậy những người bị áp bức cũng trở nên xấu xa như những kẻ áp bức. Bất hợp tác với cái ác cũng là một nghĩa vụ đạo đức, giống như việc cam kết thực hiện những điều tốt đẹp. Những người bị áp bức tuyệt đối đừng để lương tâm của những kẻ áp bức ngủ quên. Tôn giáo luôn nhắc nhở rằng chúng ta là những người anh em và phải chăm sóc lẫn nhau. Việc thụ động chấp nhận những bất công và phân biệt đối xử đồng nghĩa với việc công nhận hành động của những kẻ áp bức là đúng. Do đó, cho phép lương tâm của chúng tiếp tục ngủ quên. Mặt khác, con đường này cũng khiến những người bị áp bức thất bại trong vai trò “chăm sóc” những người anh em da trắng, không thể giúp họ tránh khỏi những hành vi trái đạo lý. Vì vậy, phục tùng có vẻ là một phương cách dễ dàng nhưng hoàn toàn không phù hợp về mặt đạo đức. Đó là con đường của những kẻ hèn nhát. Những người Mỹ gốc Phi không thể giành được sự tôn trọng của những kẻ áp bức bằng cách phục tùng chúng; cách đó chỉ khiến chúng càng thêm kiêu ngạo và khinh thường hơn mà thôi. Sự phục tùng sẽ được hiểu là bằng chứng về sự thấp kém của những người da đen. Người da trắng ở miền Nam và các dân tộc khác trên thế giới sẽ không thể tôn trọng nếu người Mỹ da đen sẵn sàng bán tương lai của con cái mình để đổi lấy sự thoải mái và an toàn cá nhân trong nhất thời.
Con đường thứ hai mà những người bị áp bức sử dụng để phản ứng với bạo tàn là dùng đến bạo động vũ lực và sự thù ghét hủy hoại. Bạo lực thường chỉ đem đến các kết quả tạm thời. Các quốc gia thường giành được độc lập bằng các trận chiến. Nhưng dù đem lại các chiến thắng, bạo lực vẫn không bao giờ là giải pháp cho hòa bình vĩnh viễn. Bạo lực không giải quyết được các vấn đề xã hội, mà nó chỉ tạo thêm nhiều vấn đề mới phức tạp hơn.
Nếu dùng bạo lực như con đường để đạt được sự công bằng về chủng tộc thì vừa không thực tế, vừa phi đạo đức. Không thực tế, vì đó là một vòng xoắn ốc dẫn xuống nơi sẽ hủy diệt tất cả. Nguyên tắc cổ xưa “mạng đền mạng” sẽ khiến tất cả rơi vào cơn cuồng sát. Bạo lực cũng là hành động trái với đạo đức, vì chúng nhằm vào hạ nhục kẻ thù thay vì tìm sự thấu hiểu. Đây cũng là con đường dẫn đến sự hủy diệt thay vì giúp chuyển đổi tình hình. Bạo lực là phi đạo đức vì nó thúc đẩy hận thù hơn là xây dựng tình thương yêu. Nó phá vỡ cộng đồng và tình anh em tương thân tương ái sẽ không thể thành hiện thực. Nó khiến xã hội đi vào ngõ cụt cực đoan thay vì đa phương đối thoại. Bạo lực kết thúc bằng thất bại của chính nó. Nó khiến những người sống sót đau khổ và khiến những kẻ hủy diệt càng say cơn khát máu. Vượt cả không gian và thời gian, một câu nói vẫn văng vẳng vang lên với tất cả những ai sẽ là Phê-rô: “Hãy tra gươm vào vỏ” (.Mattheiv 26:52). Lịch sử đang ngổn ngang với đống đổ nát của các quốc gia không tuân theo lời truyền dạy này.
Nếu những người Mỹ gốc Phi và những nạn nhân bị áp bức khác không thắng được sự cám dỗ của bạo lực trong cuộc chiến giành lại tự do, thì thế hệ tương lai sẽ phải trả giá trong bóng tối tan hoang của sự đau khổ, và di sản chính của thế hệ này để lại là sự triền miên không bao giờ dứt của những cuộc chiến vô nghĩa. Bạo lực không phải là con đường.
Trong hành trình tìm kiếm tự do, những người bị đàn áp còn có thể chọn con đường thứ ba, là con đường đấu tranh bất bạo động. Theo tổng quan triết học Hegel, nguyên tắc của đấu tranh bất bạo động là vừa tìm kiếm sự dung hòa giữa hai sự thật - đối nghịch - phục tùng và bạo lực - vừa tránh được sự quá khích và trái đạo đức cho cả hai bên. Tuy giống như những người chịu phục tùng, những người đấu tranh bất bạo động không dùng bạo lực để tấn công kẻ thù của mình, nhưng họ cân bằng phương trình bằng cách thuyết phục những người sử dụng bạo lực rằng cái ác cần phải được loại trừ.
Bằng cách đi con đường thứ ba này, những người Mỹ gốc Phi vừa tránh được sự thụ động không phản kháng của phương pháp thứ nhất, vừa không dùng bạo lực chống cự của cách thứ hai. Với đấu tranh bất bạo động, không một cá nhân hay nhóm nào phạm thêm sai lầm, và cũng không ai cần dùng tới bạo lực để chỉnh sửa lỗi lầm.
Với tôi, có vẻ đây chính là phương pháp để định hướng hành động cho người Mỹ gốc Phi trong cuộc khủng hoảng quan hệ chủng tộc hiện nay. Thông qua đấu tranh bất bạo động, người da đen có thể nâng cao vị thế của mình để chống lại hệ thống xã hội bất công, trong khi vẫn yêu thương được những người đã tạo ra nó. Những người da đen phải hành động một cách quyết liệt, nhất quán và không ngừng nghỉ để đòi lại những giá trị bị tước đi của một công dân, nhưng quan trọng là họ không được sử dụng những phương pháp thấp hèn để đạt được mục đích. Họ không bao giờ thỏa hiệp với sự giả dối, thù ghét, hiểm độc hoặc sự hủy diệt.
Phản kháng bằng bất bạo động, người da đen vẫn có thể tiếp tục ở lại miền Nam để đấu tranh cho quyền lợi của mình. Vấn đề chủng tộc sẽ không bao giờ được giải quyết bằng cách trốn chạy. Họ không thể nghe theo những lời đề nghị ngon ngọt xúi giục họ di cư đến những vùng khác của đất nước. Bằng cách nắm bắt cơ hội lớn của mình ở miền Nam, họ có thể đóng góp lâu dài làm nên sức mạnh đạo đức của quốc gia, và trở thành một tấm gương tuyệt vời về lòng dũng cảm cho những thế hệ kế tiếp.
Bằng con đường đấu tranh bất bạo động, người da đen cũng có thể giành được sự ủng hộ của tất cả những người dân thiện chí trong cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng của mình. Đây không đơn thuần là vấn đề chủng tộc hay là cuộc chiến của những người da đen chống lại người da trắng. Tận gốc rễ, đây hoàn toàn không phải là cuộc chiến giữa người với người, mà là cuộc chiến giữa công lý và bất công. Đấu tranh bất bạo động không nhằm chống lại những kẻ áp bức mà là chống lại sự áp bức. Dưới ngọn cờ của lương tri, không một nhóm phân biệt chủng tộc nào được chấp nhận.
Nếu những người da đen muốn đạt được mục tiêu hội nhập, họ phải tập hợp sức mạnh của số đông quần chúng và tổ chức một phong trào đấu tranh bất bạo động. Có ba yếu tố không thể thiếu. Phong trào đấu tranh đòi quyền binh đẳng và công lý chỉ có thể thành công nếu nó có cả tính quần chúng và tinh thần chiến binh; các rào cản cần vượt qua đòi hỏi cả hai. Bất bạo động là con đường nhất thiết phải đi để xây dựng một cộng đồng chung hợp nhất.
Một phong trào quần chúng mang tinh thần chiến đấu mà không mang tính bất bạo động sẽ có xu hướng gây ra xung đột và là mầm mống của tình trạng hỗn loạn. Những người ủng hộ tham gia hay cảm thông với phong trào mà không cam kết điều đó đều là mối đe dọa cộng đồng sẽ bị nhấn chìm trong những cuộc thảm sát. Phản ứng này sẽ góp phần khuyến khích khuynh hướng đe dọa và dùng đến vũ lực. Tuy nhiên, nếu phong trào quần chúng kiên quyết đạt được mục tiêu mà từ chối sử dụng bạo lực, thì khi xảy ra bạo động, người chủ mưu và thực hiện phải chính là kẻ áp bức. Khi đó, sự ủng hộ của người dân sẽ nhanh chóng nghiêng về những người chủ trương đấu tranh bất bạo động, trong khi những kẻ sử dụng bạo lực phải đối mặt với sự phản đối quyết liệt lập trường của họ.
Bất bạo động là cách duy nhất để giảm thiểu nỗi sợ hãi của cộng đồng người da trắng. Một số người da trắng có mặc cảm tội lỗi sợ rằng nếu người da đen đạt được quyền lực, họ sẽ hành động không nương tay để trả thù những bất công và sự tàn bạo họ phải chịu trong những năm qua. Điều này giống như chuyện một bậc cha mẹ nào đó liên tục ngược đãi người con trai. Cho đến một ngày, khi giơ tay định tiếp tục đánh như mọi lần, họ chợt nhận ra rằng người con bây giờ đã cao lớn bằng họ. Và họ đột nhiên lo sợ, rằng đứa con sẽ dùng sức mạnh cường tráng của mình để trả thù họ vì tất cả những trận đòn trong quá khứ.
Người Mỹ gốc Phi, từng như đứa trẻ yếu ớt không thể tự lực, giờ đây đã trưởng thành cả về mặt chính trị, văn hóa và kinh tế. Nhiều người da trắng cảm thấy sợ hãi. Vậy nên người da đen phải cho những người da trắng biết rằng không có gì phải sợ, rằng người da đen thấu hiểu và cảm thông, sẵn sàng tha thứ và quên đi quá khứ. Họ phải thuyết phục những người da trắng rằng tất cả những gì họ tìm kiếm là công lý, cho cả bản thân họ và những người da trắng Phong trào quần chúng thực hiện đấu tranh bất bạo động là một bài học thực tế về sức mạnh của sự tuân thủ kỷ luật, là một minh chứng cho cộng đồng người da trắng thấy rằng, phong trào đó một khi đạt đến sức mạnh nhất định, nó sẽ sử dụng sức mạnh của mình một cách sáng tạo và không hề có ý định trả thù.
Đấu tranh bất bạo động có thể chạm được đến con người theo những cách mà pháp luật không thể làm được. Khi pháp luật điều chỉnh hành vi, nó gián tiếp thiết lập được tình cảm chung. Việc thực thi luật pháp tự nó là hình thức thuyết phục một cách hòa bình. Nhưng luật pháp cần có sự hỗ trợ. Các tòa án có thể ra phán quyết chống phân biệt chủng tộc trong các trường công lập. Nhưng chúng ta phải làm gì để giảm bớt những nỗi sợ hãi; để phân tán bạo lực, thù hận và sự điên rồ khi đồng đẳng hóa trong trường học; đồng thời có thể làm gì để dẫn đầu trong việc thoát khỏi bàn tay của những kẻ mị dân khuyến khích phân biệt chủng tộc, để giải phóng cho sự thượng tôn pháp luật? Cuối cùng, để luật pháp được tuân theo, mọi người phải tin rằng những luật đó là đúng.
Ở đây, đấu tranh bất bạo động là cách thuyết phục ưu việt nhất. Đó là phương pháp hướng tới thực thi công lý bằng cách kêu gọi sự thức tỉnh của đại đa số những người đã từng mù quáng, sợ hãi, tự phụ hoặc sự thiếu lý trí để lương tâm ngủ quên.
Những người phản kháng bất bạo động có thể tóm tắt thông điệp của họ trong một tuyên bố đơn giản: chúng tôi sẽ trực tiếp hành động chống lại sự bất công mà không chờ đợi bất kỳ ai. Chúng tôi từ chối tuân phục những luật lệ bất công và không chấp nhận những hành vi đàn áp. Điều này sẽ được thực hiện một cách hòa bình, cởi mở và vui vẻ vì chúng tôi chỉ muốn thuyết phục.
Chúng tôi áp dụng phương thức bất bạo động vì mục đích tối hậu là xây dựng một cộng đồng hòa bình. Chúng tôi sẽ cố gắng thuyết phục bằng lời nói, nhưng một khi lời nói trở nên bất lực, thì sẽ thuyết phục bằng hành động. Chúng tôi luôn sẵn sàng đối thoại để đạt được sự thỏa thuận công bằng, nhưng cũng sẵn sàng chịu đựng đau khổ khi cần thiết, và thậm chí chấp nhận mạo hiểm mạng sống của mình để trở thành nhân chứng cho sự thật như chúng ta nhìn thấy.
Con đường đấu tranh bất bạo động có nghĩa là sẵn sàng chịu đựng đau khổ và hy sinh. Nó đồng nghĩa với việc có thể đi tù, có thể những người phản kháng phải sẵn sàng lấp đầy các nhà tù ở miền Nam. Nó thậm chí có thể là cái chết. Nhưng nếu cái chết thể xác là cái giá mà một người phải trả để giải phóng cho những đứa con và giúp những người anh em da trắng của mình thoát khỏi cái chết vĩnh viễn của linh hồn, thì đó là sự cứu rỗi không gì sánh bằng.
Cách phòng thủ tốt nhất của những người da đen để chống lại các hành vi bạo lực mà họ phải chịu là gì? Như Tiến sĩ Kenneth Clark đã nói rất hùng hồn, “sự phòng thủ duy nhất của ông là nếu một cá nhân người da đen chịu đựng mọi hành động man rợ, bất hợp pháp, tàn ác và bất công thì 100 người da đen khác sẽ sẵn sàng đứng bên cạnh”. Khi một giáo viên người Mỹ gốc Phi bị sa thải chỉ vì tin vào sự bình đẳng chủng tộc, thì 1.000 người khác sẽ sẵn sàng ủng hộ lập trường đó. Nếu những kẻ áp bức đánh bom ngôi nhà của một người da đen vì đã dám đứng lên phản kháng, thì phải để cho chúng biết rằng muốn đẩy lùi làn sóng can đảm ngày càng tăng của những người da đen, chúng phải đánh bom thêm hàng trăm lần nữa, và thậm chí nếu thực sự làm như vậy thì cuối cùng chúng cũng sẽ thất bại.
Khi đối mặt với sự đoàn kết mạnh mẽ của những người da đen, cùng với thái độ tự trọng đáng kinh ngạc, sự sẵn sàng chịu đựng và không đánh trả, kẻ áp bức sẽ nhận ra điều mà những kẻ áp bức trong quá khứ đã từng nhận ra, rằng họ đều bị bội thực bởi sự man rợ của chính mình. Khi buộc phải đứng trước thế giới và Thượng đế với chiến trường vương vãi máu của những người anh em, kẻ áp bức sẽ chấm dứt cuộc thảm sát chuốc lấy thất bại của chính mình.
Người Mỹ da đen cần phải đạt đến mức có thể nói với những người anh em da trắng lời của Gandhi, rằng: Chúng tôi sẽ đáp lại những nỗi đau mà các bạn gây ra bằng sức chịu đựng đau khổ của mình. Chúng tôi sẽ dùng sức mạnh tinh thần đương đầu với sức mạnh bạo lực. Chúng tôi không hề ghét các bạn, nhưng vì trong tất cả những điều tốt đẹp, bằng lương tri chúng tôi không thể tuân theo luật lệ bất công của các bạn. Hãy cứ làm những điều bạn muốn, chúng tôi vẫn sẽ yêu các bạn. Dù là đánh bom vào ngôi nhà và đe dọa lũ trẻ của chúng tôi; dù là sai những kẻ khủng bố che mặt xông vào cộng đồng và lôi chúng tôi ra bờ đường đánh đập đến sống dở chết dở, thì chúng tôi cũng vẫn luôn yêu các bạn. Nhưng chúng tôi sẽ sớm làm các bạn phải nhượng bộ bởi khả năng chịu đựng của mình. Và trên hành trình giành tự do này, chúng tôi sẽ thu phục được các bạn khi làm cho trái tim và lương tâm của các bạn thực sự rung động”.
Tuy nhiên khi nhìn vào thực tế, tôi buộc phải thừa nhận rằng nhiều người da đen sẽ gặp khó khăn khi đi theo con đường bất bạo động. Một số người sẽ coi đó là vô nghĩa; một số người sẽ cho rằng họ không có sức mạnh mà cũng không đủ can đảm để tham gia vào một cuộc biểu tình bất bạo động rầm rộ. Như E. Franklin Frazier đã chỉ ra trong tác phẩm Giai Cấp tư bản Đen (Black Bourgeoisie ), nhiều người da đen trong cuộc đấu tranh vì địa vị và uy tín của tầng lớp trung lưu, họ quan tâm nhiều đến lợi lạc và sự ban thưởng trước mắt hơn là lẽ công bằng. Và có lẽ không được chuẩn bị cho các thử thách và sự hy sinh khi thực hiện bất bạo động. Tuy nhiên may mắn thay, sự thành công của phương pháp này không phụ thuộc vào việc tất cả mọi người cùng phải nhất trí. Trong mỗi cộng đồng, chỉ cần một vài người da đen cam kết kiên định theo phương thức bất bạo động thì sẽ thuyết phục được hàng trăm người khác, ít nhất sẽ áp dụng bất bạo động như một kỹ thuật và tạo thành một lực lượng đạo đức làm thức tỉnh lương tri quốc gia đang bị che mờ. Thoreau đã nói về những người sáng tạo như vậy: “Có một điều tôi biết rất rõ, rằng nếu có một ngàn người, hay một trăm người, hoặc chỉ cần mười người trung thực mà tôi có thể kể tên - thậm chí chỉ một người trung thực - trong cả bang Massachusetts này không chấp nhận nô lệ nữa, và người đó có thể bị tống ra khỏi cộng đồng, bị nhốt vào nhà tù quận; nhưng chế độ nô lệ trên toàn nước Mỹ sẽ bị bãi bỏ. Vấn đề khởi đầu dù nhỏ đến đâu, một khi những điều tốt đã được thực thi thì nó sẽ được tiếp tục thực thi mãi”.
Mahatma Gandhi không bao giờ có hơn một trăm người cam kết tuyệt đối với triết lý của mình. Nhưng với nhóm nhỏ những người trung thành này, ông đã kích động toàn dân Ấn Độ và thông qua chiến dịch bất bạo động vĩ đại thành công đã thách thức sức mạnh của Đế quốc Anh và giành lấy tự do cho người dân của ông.
Phương pháp bất bạo động này không có tác dụng thần kỳ chỉ sau một đêm. Con người không dễ dàng thoát khỏi những lối mòn suy nghĩ, những thành kiến, và những cảm giác phi lý của mình. Khi tầng lớp bình dân nghèo cùng đòi hỏi tự do, những người có đặc quyền thường phản ứng lại bằng sự phản đối và gay gắt vào lúc đầu. Ngay cả khi những đòi hỏi này được biểu hiện bằng nguyên tắc bất bạo động thì phản ứng ban đầu đều như vậy. Nehru từng có nhận xét rằng, người Anh chưa bao giờ tức giận như đã tức giận khi người Ấn chống lại họ bằng bất bạo động, rằng anh ta chưa bao giờ thấy đôi mắt nào đầy thù hận như những đôi mắt của những người lính trong quân đội Anh, những người mà anh đã “đưa bên má còn lại” cho họ khi họ đánh anh bằng gậy dài bịt sắt. Mặc dù người Anh có vẻ vẫn thản nhiên, song sự phản kháng bất bạo động ít nhất đã làm thay đổi suy nghĩ và rung động trái tim của người Ấn Độ. Nehru nói: “Chúng tôi đã vứt đi nỗi sợ hãi của mình”. Và cuối cùng, người Anh không chỉ trao trả tự do cho Ấn Độ mà còn thêm một sự tôn trọng đối với người Ấn Độ. Ngày nay, giữa hai dân tộc này có một tình bạn dựa trên sự bình đẳng hoàn toàn nằm trong Khối Thịnh Vượng Chung.
Ở miền Nam cũng vậy, phản ứng ban đầu của người da trắng đối với sự phản kháng của người da đen rất ác liệt. Tôi không dự đoán một kết thúc có hậu tương tự sẽ đến với Montgomery trong vài tháng tới, bởi vì sự bình đẳng hóa giữa hai chủng tộc cùng một quốc gia phức tạp hơn sự độc lập nhiều. Nhưng tôi biết rằng người da đen ở Montgomery đã cư xử đúng đắn hơn nhờ cuộc biểu tình này. Tôi kỳ vọng rằng thế hệ trẻ em da đen trên khắp nước Mỹ sẽ lớn lên mạnh mẽ hơn bởi sự can đảm, lòng tự trọng và nỗi đau của Bộ cửu học sinh ở Little Rock, cùng những học sinh tương tự ở Nashville, Clinton và Sturges. Và tôi tin rằng những người da trắng của đất nước này cũng đang bị dao động, rằng bên dưới bề mặt, lương tâm của quốc gia này đang bị khuấy động.
Cách giải quyết bằng bất bạo động không ngay lập tức thay đổi trái tim của kẻ áp bức. Đầu tiên nó khơi gợi một điều gì đó trong trái tim và tâm hồn của những người cam kết gắn bó với nó. Nó tăng thêm cho họ lòng tự trọng. Nó khơi dậy nguồn sức mạnh và lòng can đảm mà họ không biết họ có. Sau đó nó mới tác động đến đối thủ và đánh động lương tâm của họ để cuối cùng là hòa giải được với nhau.
Tôi đề xuất phương pháp này bởi vì tôi nghĩ đó là cách duy nhất để thiết lập lại cộng đồng bị phá vỡ. Các lệnh của tòa án, cơ quan hành pháp của Liên bang, đã hoàn thành công việc quý giá khôn lường là ra lệnh xóa nạn phân biệt chủng tộc. Nhưng đó chỉ là một phần, dù cần thiết, song vẫn còn mục tiêu cuối cùng mà chúng ta cần hướng đến. Việc xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc sẽ xô ngã các rào cản pháp lý mang mọi người lại gần nhau về thể chất. Nhưng phải có một cái gì đó chạm được đến trái tim và tâm hồn của những con người này, để họ đến với nhau không phải vì luật pháp quy định, mà bởi vì đó là điều tự nhiên và đúng đắn. Nói cách khác, mục tiêu cuối cùng của chúng tôi là hội nhập, đó là cuộc sống giữa các cá nhân và các cộng đồng với nhau. Chỉ có thông qua bất bạo động, mục tiêu này mới có thể đạt được, vì kết quả của bất bạo động là hòa giải và tạo ra cộng đồng đáng quý yêu.
Rõ ràng là người da đen đang ở trong một thời kỳ đau khổ. Khi những chiến thắng cho các quyền dân sự tại Tòa án liên bang càng tăng lên thì những cảm xúc giận dữ và định kiến sâu sắc càng được khơi dậy. Luật phân biệt từ tiểu bang cho đến địa phương vẫn án ngữ sừng sững như ngọn núi. Các nhà lãnh đạo da đen tiếp tục bị quấy rối và bị bắt theo pháp lệnh của Thành phố, nhà của họ tiếp tục bị đánh bom. Các tiểu bang vẫn tiếp tục ban hành đạo luật để phá vỡ sự hợp nhất. Tôi cầu nguyện cho người da đen sẽ nhận ra rằng sự chịu đựng đau khổ là nguyên liệu tất yếu để tạo nên đức hạnh. Chịu đựng đau khổ được vì mục tiêu chính nghĩa là bước tiến để trở thành con người hoàn chỉnh. Không chỉ nghĩ vì để cứu mình thoát khỏi nỗi cay đắng, người da đen cần có tầm nhìn xa hơn và thấy rằng những thử thách của thế hệ này là cơ hội lột xác cho chính mình và xã hội Mỹ. Nếu người da đen phải vào tù vì tự do, hãy vào đó theo cách mà Gandhi khuyến khích những đồng hương, “hãy đi như khi chú rể bước vào phòng tân hôn” - nghĩa là vào với một chút lo lắng hồi hộp nhưng cũng với một niềm mong đợi lớn lao.
Phương pháp bất bạo động là con đường của sự khiêm tốn và tự kiềm chế. Những người da đen chúng ta nói rất nhiều về quyền của mình và đó là quyền chính đáng. Chúng ta có thể tự hào tuyên bố rằng 3/4 số người trên thế giới là người da màu và hoàn toàn có quyền mong ước một khung cảnh tươi đẹp về tự do và độc lập được mở ra ở châu Á và châu Phi ngay từ thế hệ của mình. Tất cả những điều này đều hợp ý Trời. Tuy nhiên, chúng ta phải bảo đảm sẽ đón nhận nó theo tinh thần đúng đắn. Trong nỗ lực để giành được tự do ở Mỹ, châu Á và châu Phi, chúng ta không nên từ vị trí bất lợi cố đoạt lấy vị trí có lợi mà không trải qua một quá trình nào, vì như thế là phá vỡ quy luật. Chúng ta cần một nền dân chủ chứ không phải là cần thay thế một chế độ chuyên chế này bằng một chế độ chuyên chế khác. Mục đích của chúng ta là không bao giờ đánh bại hoặc hạ nhục người da trắng. Chúng ta không được phép rơi vào bẫy của thuyết người da đen thượng đẳng. Chúa không chỉ quan tâm đến tự do của người da đen, người da nâu và người da vàng: Chúa quan tâm đến tự do của toàn thể nhân loại.
Phương pháp bất bạo động trả lời cho câu hỏi được tranh luận bấy lâu nay về phương thức tiệm tiến hay là hiệu quả tức thì. Một mặt, cách giải quyết bằng bất bạo động tránh cho ta rơi vào một loại kiên nhẫn, là cái cớ cho chủ nghĩa không làm gì và khuynh hướng trốn tránh thực tại để rồi đi đến chỗ bế tắc. Mặt khác, điều này tránh cho ta khỏi bị quy kết vô trách nhiệm, muốn chia rẽ chứ không muốn hòa giải và phán đoán vội vàng, mù quáng trước những nhu cầu của tiến trình xã hội. Cách giải quyết bằng bất bạo động giúp ta nhận ra cần phải tiến tới mục tiêu của công lý với sự kiềm chế khôn ngoan và sự bình tĩnh hợp lý. Đồng thời cũng cho mọi người hiểu rằng nếu để quá trình tiến tới công lý bị chậm lại và đầu hàng những kẻ bảo hộ cho tình trạng bất công là điều vô đạo đức. Phương pháp này cho biết sự thay đổi xã hội không đến trong một sớm một chiều, nhưng lại khiến ta hành động như thể cơ hội sẽ đến vào sáng hôm sau.
Phương pháp bất bạo động dạy chúng ta không hống hách khi chiến thắng, chúng ta đã thắng nhiều vụ kiện quan trọng trong các tòa án Liên bang, nhờ phần lớn việc làm cao quý và vô giá của NAACP, nhưng chúng ta không được tự mãn. Chúng ta cần phải hưởng ứng mọi quyết định với sự thấu cảm đối với những người đã chống lại mình và chấp nhận các sửa đổi do Tòa án đề ra cho họ. Chúng ta phải coi chiến thắng của mình như là chiến thẳng của tất cả mọi người, cả người da trắng và người da đen.
Bất bạo động thực chất là một khái niệm tích cực. Hệ quả của nó luôn luôn là sự tăng tiến. Một mặt, bất bạo động đòi hỏi việc bất hợp tác với cái ác. Mặt khác, nó đòi hỏi sự hợp tác với các nguồn lực hữu ích mang tính xây dựng. Không có khía cạnh mang tính chất xây dựng này, sự bất hợp tác (với cái ác) sẽ kết thúc ở nơi nó bắt đầu. Do đó, người da đen phải hành động trên một cương lĩnh với nhiều mục tiêu tích cực.
Một trong những mục tiêu trong cương lĩnh nói trên đó là kế hoạch cải thiện kinh tế cho chính mình. Thông qua việc thành lập các hiệp hội tín dụng, hiệp hội tiết kiệm, cho vay và hợp tác doanh nghiệp thì tình trạng kinh tế của người da màu sẽ được cải thiện đáng kể. Họ phải tập cho mình thói quen tiết kiệm và kỹ năng đầu tư khôn ngoan. Không được đổ lỗi cho sự nghèo khó và cứ chờ đợi cho tới khi sự phân biệt chủng tộc kết thúc, mà phải tự mình cố gắng vươn lên ngay từ bây giờ.
Trước mắt cần xây dựng một chiến dịch để người da màu được đăng ký bầu cử. Chắc chắn họ sẽ phải đối mặt với rất nhiều rào cản. Ở miền Nam, tất cả các phương pháp ám muội vẫn đang được sử dụng để ngăn chặn người da màu bỏ phiếu, và kết quả của nó không chỉ là bất công, mà còn là điều làm mất thể diện của một quốc gia mà chúng ta yêu quý và bảo vệ. Sự ủng hộ các cuộc bầu cử tự do ở Châu Âu của các quan chức Mỹ là một điều giả dối khi mà ở chính nước mình lại không có.
Nhưng sự chống đối ở bên ngoài không phải là rào cản duy nhất đối với việc bầu cử của người da đen. Sự thờ ơ của họ cũng là một yếu tố. Kể cả khi cuộc bầu cử được mở cho tất cả mọi người, người da màu đã tỏ ra không mặn mà với quyền lợi bầu cử của bản thân mình. Phải có sự nỗ lực phối hợp từ phía các nhà lãnh đạo của người da màu để khuyến khích người dân của họ không thờ ơ với quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Trong quá khứ, sự thờ ơ là biểu hiện đạo đức suy đồi, còn ngày nay, nó sẽ làm tiêu tan cả sự nghiệp chính trị và đạo đức.
Chương trình xây dựng phải bao gồm cả một nỗ lực mạnh mẽ để nâng cao các tiêu chuẩn cá nhân của người da màu. Phải nói lại một lần nữa rằng sự tụt hậu của người da màu không phải sẵn có mà là do chính sự tồn tại của nạn phân biệt. “Hành vi lệch lạc” trong cộng đồng người da màu xuất phát từ lý do thiếu thốn về mặt kinh tế. Cảm giác bức xúc, bất đắc chí và sự cô lập từ xã hội là những yếu tố không thể tránh khỏi do nạn phân biệt gây nên. Khi người da trắng lập luận rằng nên duy trì sự phân biệt do trình độ thấp kém của người da màu, họ đã không thấy được sự tụt hậu là do nạn phân biệt mà ra.
Tuy nhiên, người da màu cũng nên thật thà với chính mình rằng chúng ta chưa đạt tiêu chuẩn. Chắc chắn một trong những dấu hiệu của sự trưởng thành là khả năng tự phê bình. Bất cứ khi nào bị người da trắng chỉ trích, kể cả những lời chỉ trích rất ác ý và chỉ có một nửa là sự thật, thì chúng ta cũng phải lắng nghe xem điều nào là sự thật và khắc phục chúng. Chúng ta không được cam chịu là nạn nhân của bất công và từ bỏ trách nhiệm đối với cuộc sống của mình.
Tỉ lệ phạm tội của chúng ta rất cao. Sự thanh khiết của chúng ta lại thường ở mức quá thấp. Rất nhiều người ở tầng lớp trung lưu chi tiền vào những thứ không quan trọng, phù phiếm và không tài trợ cho các tổ chức và giáo dục hay những vấn đề cấp thiết. Chúng ta thường hay quậy phá ồn ào, và dùng tiền nhậu nhẹt. Kể cả những người nghèo nhất cũng có thể mua một thanh xà phòng mười xu; ngay cả những người ít học nhất cũng có thể có đạo đức tốt. Thông qua các tổ chức cộng đồng và vai trò của tôn giáo, lãnh đạo của người da màu phải phát triển một chương trình rèn luyện kỹ năng cho các thanh niên da màu thích nghi được với cuộc sống đô thị và cải thiện hành vi theo hướng tích cực. Vì tội ác thường hình thành trong vô thức và từ nỗi tuyệt vọng, nên phải khuyến khích các bậc cha mẹ da màu thương yêu, quan tâm đến con cái và ý thức về một xã hội phân biệt. Bằng cách nâng cao các tiêu chuẩn của họ ngay ở đây và ngay từ bây giờ, thì trải qua một chặng đường dài chính họ sẽ là người phá tan những lý lẽ bao biện cho sự phân biệt đối xử.
Mục tiêu hiện tại trong cuộc phản kháng bất bạo động đối với mọi hình thức bất công phân biệt chủng tộc sẽ là: dựa trên luật pháp và thực tiễn của địa phương và của tiểu bang, kể cả chấp nhận bị tù đày; phải linh hoạt và sáng tạo, dũng cảm và hành động mang tính xây dựng để hủy bỏ chế độ nô lệ và phân biệt đối xử, trường học tồi tệ, khu nhà ổ chuột và vị thế công dân hạng hai.
Cuộc đấu tranh bất bạo động nếu đã được biểu hiện qua phẩm giá và lòng can đảm của người dân Montgomery và những đứa trẻ của Little Rock thì chính phẩm giá và sự không sợ hãi đó sẽ chấm dứt sự nản lòng của mọi người. Nhưng một cuộc tấn công trực diện khác vào sự nghèo đói, bệnh tật và thờ ơ của một chủng tộc đã bị bỏ quên bởi lương tâm của người Mỹ sẽ làm cho chiến thắng chắc chắn ở trong tay chúng ta hơn.
Tóm lại, chúng ta phải đấu tranh trên cả hai mặt trận. Một mặt, chúng ta vẫn phải tiếp tục chống lại hệ thống phân biệt vốn là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các tiêu chuẩn thấp kém. Mặt khác, phải xây dựng cuộc sống của mình để cải thiện các tiêu chuẩn đó. Phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa tấn công vào nguyên nhân và chữa lành chuỗi hậu quả của nó.
Đây là một thời điểm tuyệt vời đối với người da màu. Và cũng là thời điểm đầy thử thách. Để được chọn là công cụ của một ý tưởng tuyệt vời là một đặc ân mà không phải lúc nào lịch sử cũng cho cơ hội. Arnold Toynbee đã nói trong ‘Tịch sử là những bài học” (A Study of History) rằng “có thể chính người da màu sẽ mang đến động lực tinh thần mới cho nền văn minh phương Tây mà vốn dĩ nó rất cần để tồn tại. Tôi hy vọng điều này có thể xảy ra. Sức mạnh tâm linh của người da màu có thể tỏa ra khắp thế giới mang theo tình yêu, sự thấu hiểu, thiện chí và phi bạo lực”. Người da đen thậm chí còn có thể bằng sự kiên trung với phương pháp phi bạo lực thách thức các quốc gia trên thế giới nghiêm túc tìm kiếm một giải pháp thay thế cho chiến tranh và hủy diệt. Vào cái ngày khi mà Các vệ tinh và Những nhà thám hiểm bay vào vũ trụ và cả tên lửa đạn đạo dẫn đường phóng ra từ những bệ phóng tử thần siêu tốc xuyên qua tầng khí quyển thì không ai có thể chiến thắng chiến tranh. Ngày nay không còn sự lựa chọn giữa bạo lực và phi bạo lực. Mà là sự lựa chọn giữa phi bạo lực và không tồn tại. Người da đen có thể là sự hấp dẫn của Chúa Trời ở thời đại này - một thời đại đang trôi nhanh tới ngày tận diệt của nó. Lời nhắc nhở từ ngàn xưa đã cảnh báo: “Ai cầm gươm thì sẽ bị chết vì gươm”.
PHỤ LỤC
Tôi có môt ước mơ
Tôi rất vui được tham gia cùng các bạn ngày hôm nay vào cuộc biểu tình cho tự do như là một sự kiện tuyệt vời nhất sẽ đi vào lịch sử đất nước của chúng ta.
Cách đây một thế kỷ, có một người Mỹ vĩ đại, người mà chúng ta đang đứng dưới bóng tượng của ông hôm nay đã ký Tuyên ngôn giải phóng Nô lệ. Sắc lệnh quan trọng ấy đã trở thành là ngọn hải đăng của hy vọng đối với hàng triệu người nô lệ da đen vốn đang bị thiêu rụi bởi ngọn lửa bất công đáng khinh miệt. Nó đến như một ánh bình minh hạnh phúc xóa tan màn đêm đọa đày.
Nhưng một trăm năm sau, người da đen vẫn chưa được tự do. Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn bị trói trong gông cùm xiềng xích của sự phân biệt chủng tộc và kỳ thị một cách đáng buồn. Một trăm năm sau, người da đen vẫn phải sống cô đơn trên hòn đảo nghèo đói giữa một đại dương mênh mông thịnh vượng về vật chất. Một trăm năm sau, người da đen vẫn gầy mòn trong những ngóc ngách của xã hội Mỹ, và phải tìm cách tị nạn ngay trên chính quê hương của minh. Để rồi chúng ta đã phải đến đây ngày hôm nay để thể hiện bức xúc về tình trạng đáng xấu hổ này.
Theo một nghĩa nào đó, có thể nói chúng ta đang đến thủ đô của đất nước để đòi một khoản nợ. Khi những bậc kiến tạo nên nền cộng hòa viết những lời lẽ cao đẹp của Hiến pháp và Tuyên ngôn Độc lập, họ đã ký vào một ước thư mà bất cứ công dân Hoa Kỳ nào đều có quyền thừa kế. Ước thư ấy là lời cam kết rằng mọi người, vâng là mọi người, kể cả người da đen lẫn da trắng, đều sẽ được đảm bảo những quyền không thể chối bỏ, đó là quyền được sống, quyền được tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc. Song rõ ràng ngày hôm nay, Mẹ Hoa Kỳ đã sai lời hứa hẹn, để đến mức những người con dân da màu của người phải bàn khoăn tủi nhục. Thay vì trân trọng trách nhiệm thiêng liêng ấy, nước Mỹ đã ký phát cho người da đen một tờ chi phiếu khống, một tờ chi phiếu hóa ra không thanh toán được. Nhưng chúng ta không tin rằng ngân hàng công lý đã phá sản. Chúng ta không tin rằng ngân quỹ thiếu thốn bên trong những ngân khố tràn đầy cơ hội của đất nước. Vì vậy chúng ta đã đến để đòi khoản nợ này - khoản nợ sẽ trao cho chúng ta sự giàu có của tự do và sự an toàn của công lý theo như chúng ta yêu cầu.
Chúng ta cũng đến nơi thiêng liêng này để nhắc nhở nước Mỹ về tính cấp bách của thời khắc Ngay Bây Giờ. Đây không còn là lúc để lẩn tránh trong sự xoa dịu xa xỉ hay trong những liều thuốc an thần rằng mọi việc sẽ từ từ thay đổi. Đây là lúc chân thật hóa những lời hứa dân chủ. Đây là lúc chúng ta giải thoát khỏi bóng đêm và cái thung lũng hoang tàn của sự phân biệt chủng tộc để bước lên con đường chan hòa ánh nắng của sự bình đẳng về chủng tộc. Giờ đây đã là lúc cần mang đất nước ra khỏi vùng cát lún của sự bất công phân biệt chủng tộc đến tảng đá vững chắc của tình anh em. Đây là lúc hiện thực hóa công lý cho tất cả những người con của Tạo Hóa. Sẽ rất tai hại cho đất nước nếu phớt lờ vấn đề cấp bách ở thời điểm này. Mùa hè ngột ngạt của người da đen với sự bất mãn chính đáng sẽ không đi qua cho đến khi có làn gió thu của tự do và bình đẳng mát mẻ thổi đến. Nám 1963 chưa phải là năm kết thúc, mà là năm khởi đầu. Với những ai đang hy vọng rằng người da đen chỉ cần xả bớt sự bức xúc đến lúc này đã thấy thỏa mãn thì sẽ phải bàng hoàng tỉnh giấc nếu như đất nước quay lại như cũ, mọi việc đâu lại vào đấy cả. Và sẽ không có sự bình yên hay ngơi nghỉ ở nước Mỹ cho đến khi người da đen được công nhận quyền công dân của mình. Những cuộc nổi dậy sẽ như những cơn lốc sẽ tiếp tục rung lắc nền móng của đất nước chúng ta cho đến ngày tươi sáng khi công lý chiếu rọi.
Và có một điều tôi phải nhắc với chiến hữu của tôi, những người đang đứng trước ngưỡng cửa gần đến lâu đài công lý, rằng trong quá trình lấy lại cương vị đúng đắn của mình, chúng ta đừng phạm lỗi bởi hành động sai trái. Đừng tìm cách thỏa mãn cơn khát tự do bằng những chén hận thù và cay đắng. Chúng ta phải luôn luôn tranh đấu với nguyên tắc và lòng tự trọng cao. Chúng ta không được phép để cuộc phản kháng sáng tạo của chúng ta nhuốm màu bạo lực. Lúc nào cũng vậy, chúng ta phải tiến lên uy nghi với cả sức mạnh vật chất và tâm hồn.
Đừng để tinh thần chiến đấu kỳ diệu vừa phôi thai đã sục sôi trong cộng đồng người da đen làm chúng ta ngờ vực tất cả người da trắng, bởi rất nhiều người anh em da trắng minh chứng bằng sự hiện diện ở đây ngày hôm nay rằng họ đã nhận thức rõ vận mệnh của họ và của ta gắn liền với nhau, rằng tự do của họ liên quan đến tự do của ta.
Chúng ta không thể bước đi đơn độc, và trong khi bước đi chúng ta phải thề rằng sẽ luôn tiến về phía trước. Chúng ta không thể quay lại. Có người hỏi những người hoạt động dân quyền rằng: ”Bao giờ bạn hài lòng?” chúng ta không bao giờ hài lòng khi người da đen vẫn còn là nạn nhân của sự tàn bạo ghê rợn không tả xiết của cảnh sát.
Chúng ta làm sao có thể hài lòng khi tấm thân nặng quằn mệt mỏi vì hành trình xa xôi vẫn không thuê được phòng nghỉ ngơi trên xa lộ cao tốc hay khách sạn trong thành phố. chúng ta không thể hài lòng khi người da đen chưa được tự do di chuyển mà chỉ từ biệt khu nhỏ đến biệt khu lớn giành riêng. Chúng ta sẽ không hài lòng khi con cháu của chúng ta bị tước đi nhân phẩm và đoạt mất chân giá trị của mình bởi tấm bảng ghi: “Chỉ dành cho người da trắng”, chúng ta sẽ không hài lòng khi một người da đen ở Mississippi không được quyền bầu cử, và khi người da đen ở New York không cảm thấy có lý do gì để bầu.
Không, không, chúng ta không thể hài lòng, và chúng ta sẽ không thể hài lòng khi công lý chưa như mưa giăng khắp nơi và chính nghĩa chưa như dòng sông chảy mạnh. Tôi không phải vô tri không hiểu rằng có những bạn phải vượt qua nhiều gian nan và thử thách để đến được đây. Có những người chỉ vừa mới bước ra khỏi cửa xà lim chật hẹp. Có những người đến từ những nơi mà trên con đường tìm tự do đã phải lao đao vì các cuộc tấn công đàn áp hung bạo từ cảnh sát. Từ khổ đau các bạn đã trở thành những người tranh đấu kỳ cựu và sáng tạo. Bạn vẫn tiếp tục với niềm tin rằng khổ đau sẽ có ngày được đền đáp. Hãy về lại Missisippi, về lại Alabama, về lại Nam Carolina, Georgia, Louisiana và về lại khu ổ chuột và biệt khu của người da đen ở thành phố phương bắc và tin rằng bằng cách nào đó tình hình có thể và sẽ thay đổi. Đừng đắm chìm sâu trong tuyệt vọng. Ngày hôm nay tôi xin chia sẻ với các bạn của tôi rằng dù hiện tại hay tương lai phải đối diện với nhiều chướng ngại tôi vẫn có một ước mơ. Đó là ước mơ bền chặt tha thiết lẫn trong ước mơ của nước Mỹ. Tôi mơ rằng một ngày kia đất nước của chúng ta sẽ vươn lên và sống đúng ý nghĩa với niềm tin rằng: “Con người sinh ra vốn bình đẳng, điểu chúng ta tin là sự thật hiển nhiên.”
Tôi mơ rằng một ngày kia trên những ngọn đồi đỏ rực ở Georgia, con cháu của những người nô lệ năm xưa cùng con cháu của các chủ nô ngày trước sẽ có thể ngồi bên nhau quanh chiếc bàn của tình huynh đệ.
Tôi mơ rằng một ngày kia, dù bang Misissippi ngột ngạt bởi cái nóng của sự bất công và đàn áp cũng sẽ biến thành ốc đảo của tự do và công lý.
Tôi mơ rằng sẽ có một ngày bốn đứa con nhỏ của mình được sống trong một quốc gia, nơi chúng không bị đánh giá bởi màu da mà bởi phẩm cách của chúng.
Vâng, hôm nay tôi có một ước mơ!
Tôi mơ rằng có một ngày ngay bang Alabama phía nam kia, nơi đầy rẫy những người kỳ thị chủng tộc xấu xa với ông thống đốc chuyên buông lời vô hiệu hóa và phủ nhận luật lệ và cho rằng trái Hiến pháp có những đứa bé trai bé gái da đen với những đứa bé trai bé gái da trắng cùng nắm tay nhau như anh em thân thiết.
Vâng, đó là ước mơ của tôi hôm nay!
Tôi còn mơ rằng “Mọi thung lũng, được lấp cho đầy, mọi núi đồi, được bạt cho thấp, khúc quanh co, được uốn cho ngay, đường lồi lõm được san cho phẳng.” (Lc 3,4-6 Dọn đường cho Chúa). Và rồi Chân Lý được hiển bày, con người cùng được nhìn thấy.
Đó là hy vọng của chúng ta và cũng là niềm tin tôi sẽ mang theo khi hướng về Nam. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ đập nát núi tuyệt vọng thành từng viên đá hy vọng. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ biến những nốt nhạc bất hòa của đất nước thành bản hòa âm tuyệt đẹp của tình anh em. Với niềm tin ấy, chúng ta cùng lao khổ, cùng cầu nguyện, cùng đấu tranh, cùng đi tù, cùng đứng lên vì tự do, biết chắc rằng một ngày chúng ta sẽ thành công. Và đó sẽ là ngày khi tất cả người con của Tạo Hóa có thể cùng hòa chung bài ca với hàm nghĩa mới: “Tổ quốc tôi, xin hát về người, miền đất thân thương tự do, xin hát về người, mảnh đất nơi cha ông đã nằm xuống, hành hương đến với niềm tự hào, từ mọi triền núi, ngân vang lời ca tự do.” Và để nước Mỹ trở thành một quốc gia vĩ đại, thì điều này phải trở thành sự thật. Thế nên hãy để tự do ngân vang từ những đỉnh đồi của New Hampshire uy nguy, Hãy để tự do ngân vang từ những ngọn núi hùng vĩ của New York. Hãy để tự do ngân vang trên dãy Allegheny của Pennsylvania. Hãy để tự do ngân vang trên đỉnh dãy núi Rockies phủ tuyết của Colorado. Hãy để tự do ngân vang trên những triền dốc mượt mà của California. Và không chỉ thế, hãy để tự do ngân vang từ Stone Mountain của Georgia. Hãy để tự do ngân vang từ Lookout Mountain của Tennessee.
Hãy để tự do ngân vang trên từng triền đồi lớn nhỏ ở Misissippi. Từ bất cứ triền núi nào, hãy để tự do ngân vang! Và khi điều đó xảy ra, khi chúng ta chịu để cho tự do ngân vang, từ mọi ngôi làng và thôn xóm, từ mỗi bang và mỗi thành phố là chúng ta đã tiến gần đến ngày tất mọi người con của Tạo Hóa dù da đen hay da trắng, tín đồ đạo Do Thái hay không, Công giáo hay Tin Lành, cùng nắm tay hát lời ca cũ thiêng liêng của người da đen:
“Tự do cuối cùng đã đến! Tự do cuối cùng đã đến! Tạ ơn Đức Chúa Đấng Tạo Hóa Toàn Năng, cuối cùng chúng ta đã được tự do!”
Chú thích:
[1] Sự kiện 9 học sinh da đen đầu tiên nhập học ở Central High School năm 1957 sau khi có chỉ thị của tổng Thống Eisenhower về hội nhập và Tòa án tối cao Hoa Kỳ ra phán quyết phân biệt chủng tộc ở học đường là vi hiến.
[2] Cuộc Tuần hành Muối - Salt March: Đầu năm 1930, Gandhi quyết định dẫn đầu một cuộc biểu tình chống lại thuế muối của Anh bằng cách đi bộ 240 dặm về phía thị trấn ven biển Dandi trên biển Ả Rập.
[3] Phong trào cải cách của Kitô giáo thế kỷ 16 có nói về sự công chính. Người sống theo công lý gọi là người công chính. Trong tương quan giữa người với người phải theo công lý. Chủ nghĩa hòa bình không đem lại công bằng cho người gặp chuyện bất công. Thiên Chúa công bằng không thiên tư ai hết, thẳng tay trừng phạt tất cả tội lỗi. Nhưng vì giàu lòng lân tuất, Thiên Chúa hiến mình đền tội cho con người. Đó là ân sủng của Thiên Chúa nhưng con người phải nhận ra tội lỗi của mình để thay đổi và trở lại tình trạng công chính.
[4] Theo Hegel, các sự vật sau khi tiến qua chính đề và phản đề để đạt tới tình trạng hoàn hảo hơn ở hợp đề thì chân lý trong mỗi trường hợp đó cũng chỉ là một chân lý phiến diện, thiếu hụt, chưa tròn đầy. Bởi vì mỗi hợp đề như vậy rồi sẽ trở thành một chính đề mới và sẽ lại bị hủy bởi một phản đề khác. Cho nên cái chân lý lý tưởng, đối với Hegel, phải là một chân lý "toàn diện". Cái chân lý ấy chỉ xuất hiện ở tận cùng lịch sử, ở một "nhịp ba tối cao", bao trùm hết mọi đối nghịch và mâu thuẫn trong vũ trụ. Đó là lúc, sau khi trải qua hết cuộc hành trình của số kiếp, Tinh Thần Tuyệt Đối nhận ra mình: nhận ra rằng mình là nguồn gốc của mọi mâu thuẫn và biến dịch ở đời, mình là tác giả của mọi vật trong vũ trụ - trích Tổng quan triết học Hegel.
[5] Fred D. Gray, Charles Langford, Rufus Lewis, E.D. Nixon, J.E. Pierce, Jo Ann Robinson, A.W.West, Mục sư Ralph D Abernathy, L. Roy Bennett, H. H. Hubbard, Martin Luther King Jr., A.W. Wilson.
Martin Luther King, Jr
Phạm Hải Quỳ dịch
Theo http://vietnamthuquan.eu/

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...