Thứ Tư, 8 tháng 10, 2025

Bước đến tự do 1

Bước đến tự do 1

LỜI TỰA
Gửi Coretta, người vợ yêu thương và những cộng sự của tôi
Đây là quyển sách nói về sự thay đổi của cộng đồng người da đen ở miền Nam chỉ trong vòng vài năm, và được viết từ góc nhìn của một người trong cuộc. Mặc dù đã có sự cố gắng mô tả những gì đã diễn ra, quyển sách này không phải là một khảo sát chi tiết các khía cạnh lịch sử và xã hội học về câu chuyện Montgomery. Do đó, nội dung cuốn sách chỉ phản ánh quan điểm và tầm nhìn của một cá nhân.
Trong khi tính chất của thể loại tự truyện này khiến tôi thường xuyên dùng chữ “tôi,” nhưng trong những phần quan trọng của câu chuyện thì lại phải là “chúng tôi.” Đây không phải là một bộ phim chỉ có một vai diễn, chính xác hơn, là biên niên sử của người da đen, những người đã lấy nguyên tắc phi bạo lực làm kim chỉ nam để tranh đấu cho quyền lợi của mình với khí giới là tình yêu. Và trong quá trình tranh đấu họ đã hiểu ra được giá trị của chính con người mình. Đây là câu chuyện của các nhà lãnh đạo da đen theo nhiều tín ngưỡng và nhiều tổ chức khác nhau vốn chia rẽ trước đây đã liên kết được với nhau vì chính nghĩa và vì mục đích chung.
Trong số những người hưởng ứng phong trào, có nhiều người đã vượt quá tuổi trung niên. Họ thà đi bộ đi làm và về nhà khoảng mười hai dặm đường (gần 20km) mỗi ngày trong hơn một năm trời chứ không chịu đi xe buýt để bị sỉ nhục và phân biệt chủng tộc. Đa số những người da đen tham gia vào việc tẩy chay xe buýt ở Montgomery rất nghèo nàn và ít học, song họ hiểu được điều cốt lõi của phong trào Montgomery là gì. Có một phụ nữ lớn tuổi, dù mệt mỏi, bà đã phát biểu ý kiến như thế này sau vài tuần đi bộ: “Chân tôi tuy rã rời, song tâm hồn tôi được thanh thản”.
Một kết quả khác của phong trào này là cộng đồng người da trắng của Montgomery, bị dẫn dắt hay đe dọa bởi một vài phần tử cực đoan bấy lâu nay, cuối cùng cũng đã thấy ghê tởm bọn hung thủ gây nên tội ác mang tên phân biệt chủng tộc. Song sự thay đổi vẫn chưa phải là nhiều và không nên phóng đại bởi hội đồng Công Dân Da Trắng vẫn còn hoạt động. Những kẻ ném bom tự thú vẫn được trả tự do sau khi xử ở tòa án. Và những luật lệ ngăn cản sự hòa hợp giữa hai chủng tộc vẫn được thực thi. Tuy nhiên, sau vụ tẩy chay xe buýt mới thấy rõ phần đông người da trắng ở Montgomery muốn hòa bình và trật tự hơn là những bạo lực tràn lan gây ra dưới cái tên kỳ thị chủng tộc. Và mặc dù nhiều người thấy sự phân biệt là đúng bởi vì đó là truyền thống từ xưa, nhưng luôn có một vài người can đảm nhìn nhận sự phân biệt là bất công và đứng lên chiến đấu chống lại điều đó cùng người da đen.
Kể từ sau sự kiện Montgomery, một cuộc biểu tình tẩy chay xe buýt của những con người dũng cảm đã được tiến hành tại Tallahassee (thủ phủ của bang Florida), và những nỗ lực liên kết thành phong trào đi xa hơn mục tiêu tẩy chay xe buýt đã lan rộng đến nhiều cộng đồng ở miền Nam. Người da đen trên khắp miền Nam đã bắt đầu nhận thức một cách nghiêm túc về quyền đăng ký và bầu cử của mình. Sau đó đến lượt Little Rock, [1] thủ phủ của bang Arkansas, tại trường Trung học Central, những trẻ em da đen đã dũng cảm vượt qua sự kỳ thi để bình đẳng với học sinh da trắng, những đứa vẫn thường thù nghịch và chế giễu. Phong trào Montgomery đã tạo ra sức mạnh và can đảm cho người da đen sống ở những nơi khác. Chuyện ở Montgomery cùng Little Rock và Tallahassee đều là kết quả từ cùng một chuỗi nguyên nhân. Đây hẳn là vấn đề đáng quan tâm cho giới sử gia tương lai nghiên cứu. Dù ước tính cuối cùng có như thế nào, rõ ràng Montgomery đã trở thành một phần của thứ gì đó lớn lao hơn chính nó.
Việc ghi nhận công lao trong một tác phẩm thuộc thể loại này là vô cùng. Làm cách nào để có thể thừa nhận sự đóng góp của cá nhân? Song, cuốn sách này sẽ còn thiếu sót nếu không có lời cảm tạ từ tác giả đến những người đã giúp đỡ rất nhiều.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Theodore Brown, Charles Gomillion, Lewis Wade Jones và Harris Wofford vì những ý kiến quan trọng và sự khích lệ chân thành. Họ không phải chịu trách nhiệm về những thiếu sót của tôi khiến những điều họ hy vọng không thành hiện thực.
Tôi cũng nợ lời cảm ơn với người thầy và cũng là bạn tôi, George D. Kelsey, người đã cho tôi những đề xuất có giá trị và đầy khích lệ.
Tôi chân thành biết ơn các cộng sự thân cận của tôi, bà Jo Ann Robinson và Fred D. Grey, vì đã cực khổ đọc kỹ càng toàn bộ bản thảo.
Lời cảm ơn cũng xin được gửi tới bạn tôi là L. D. Reddick, người đã đọc bản thảo, cung cấp cả những gợi ý và tài liệu hữu dụng hiếm hoi. Tôi đặc biệt biết ơn bà Hermine Popper của nhà xuất bản Harper Brothers, người có năng lực tuyệt vời, đã có công lao vô giá trong việc hỗ trợ biên tập.
Tôi xin cảm kích thư ký của tôi, bà Maude Ballou, người đã liên tục khuyến khích tôi kiên trì trong công việc này và có công lao to lớn trong việc chuyển các trang viết tay của tôi sang bản đánh máy chữ.
Tôi cũng cảm ơn Elliot Finley và vợ ông là Genevieve, người đã cung cấp một ngôi nhà thoải mái, nơi mà hầu hết câu chuyện đã được viết tại đây.
Tôi nợ một lời cảm ơn đặc biệt đến giới truyền thông báo chí - đặc biệt là ký giả Ted Poston của tờ New York Post, ký giả Abel Plen của tờ New York Times, và Normal Walton của Bản Tin Lịch Sử Người Da Đen - những trang báo đã cung cấp các nguồn tư liệu và nguồn cảm hứng vô giá cho tôi.
Tôi vô cùng biết ơn các thành viên của Giáo hội Baptist Dexter Avenue, nếu không có sự kiên nhẫn, lòng trung thành và sự cổ vũ của họ, tác phẩm này đã không thể hoàn thành.
Trên hết, tôi nợ vợ tôi là Coretta. Nếu không có tình yêu, sự hy sinh và chung thủy của cô ấy, cả cuộc sống lẫn công việc của tôi đều không vẹn tròn. Cô ấy đã cho tôi những lời ủi an khi tôi cần nhất và một ngôi nhà ấm cúng, nơi tình yêu Cơ đốc giáo trở thành sự thật. Gửi em, quyển sách này là của riêng em.
MARTIN LUTHER KING, JR.
Montgomery,
Alabama Tháng 5, 1958
Chương I
Trở về miền Nam
Vào một buổi trưa lạnh lẽo ngày thứ bảy tháng Một năm 1954, tôi bắt đầu hành trình từ Atlanta thuộc bang Georgia đến Montgomery của bang Alabama. Đó là một ngày mùa đông trời quang đãng, radio trên xe đang phát sóng vở opera tôi yêu thích, "Nàng Lucia của núi Lammermoor", sáng tác của Donizetti do đoàn Metropolitan Opera trình bày. Vẻ đẹp của cảnh làng quê cùng với cảm hứng từ giai điệu độc đáo không ai có thể làm hay hơn được của Donizetti và mây trời đã xua đi sự buồn tẻ thường có trên những chuyến đi dài, nhất là những chuyến đi đơn độc.
Sau vài giờ đồng hồ lái xe ngang qua cánh đồng mượt mà phì nhiêu, tôi đến dòng sông Alabama uốn cong bên bãi Montgomery. Dù trước đây tôi đã đi ngang qua thành phố này nhưng tôi chưa một lần nào thật sự vào viếng thăm. Đây là cơ hội để thăm thành phố dễ thương này trong một vài ngày, một trong các thành phố cổ nhất nước Mỹ.
Một người bạn đưa tôi đi thăm Nhà thờ Baptist Dexter Avenue sau khi tôi đến không lâu. Đó là ngôi nhà thờ tôi sẽ giảng vào buổi sáng hôm sau, một công trình kiến trúc kiên cố bằng gạch được xây dựng vào thời điểm tái thiết đất nước Hoa Kỳ (1863-1877). Ngôi nhà thờ tọa lạc ở một góc đẹp của quảng trường không xa trung tâm thành phố lắm. Khi chúng tôi đến nhà thờ, tôi để ý thấy chéo qua bên kia quảng trường có một ngôi nhà màu trắng cân xứng nguy nga tuyệt đẹp. Đó là State Capitol được xây vào năm 1851 với mái vòm cao ở giữa là một trong những mỹ thuật cổ điển của kiến trúc Georgia ở Mỹ. Tại đây vào ngày 7 tháng 1 năm 1861, Alabama nhận được phiếu thuận để ly khai khỏi Liên bang, sau đó vào ngày 18 tháng 2, dưới mái cổng trên những bậc tam cấp của tòa nhà ấy, Jefferson Davis tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống Liên Minh Miền Nam (các bang ly khai Hoa Kỳ trong thời kỳ nội chiến 1861-1865). Vì lý do này Montgomery được biết đến như chiếc nôi của Liên Minh và lá cờ của Liên Minh Miền Nam được ra đời và bay phất phới lần đầu tiên ở đây. Hiện tại nhiều mô hình của Liên Minh xưa và những truyền thống từ trước chiến tranh vẫn còn tồn tại ở Montgomery bên cạnh sự phát triển kinh tế theo trào lưu mới năng động và nổi trội.
Vài năm sau đó tôi vẫn còn được nhìn tòa nhà uy nghi gợi nhớ lại Liên Minh xưa khi đứng trên tam cấp của nhà thờ Baptist Dexter Avenue. Cuộc viếng thăm của tôi vào tháng Một này như đã báo hiệu tôi sẽ về sống ở Montgomery.
Vào tháng 8 năm 1953, sau khi đã học liên tục hai mươi mốt năm không gián đoạn, tôi cũng đã tiến lên được đến học vị tiến sĩ. Việc chính yếu còn lại là viết luận án. Trong thời gian đó tôi nghĩ nên bắt đầu tìm việc để muộn nhất đến tháng 9 năm 1954 tôi có chỗ làm. Có hai Nhà thờ nằm ở miền Đông - một ở Massachusetts và một ở New York đã bày tỏ mong muốn mời tôi. Có ba trường đại học đã ngỏ ý mời tôi đảm nhận những chức vụ hấp dẫn với nhiều thử thách: một là giảng dạy, hai là trưởng phân khoa và ba là chức vụ hành chính. Trong lúc còn suy nghĩ chưa biết chọn cái nào, tôi nhận được một bức thư từ văn phòng của nhà thờ Baptist Dexter Avenue ở Montgomery viết rằng họ đang thiếu mục sư và sẽ rất vui nếu tôi có thể ghé đến giảng khi có dịp đi qua miền Nam này. Những viên chức gửi lời mời biết tôi qua lời kể của cha tôi ở Atlanta và những người bạn mục sư khác. Tôi vội viết thư hồi âm ngay để thông báo rằng tôi sẽ về nhà ở bang Atlanta vào dịp nghỉ Giáng sinh và tôi sẽ rất vui được đến Montgomery để giảng vào một ngày chúa nhật trong tháng Một.
Ngôi nhà thờ tương đối nhỏ với khoảng 300 tín đồ nhưng chiếm tâm điểm quan trọng trong cộng đồng. Nhiều công dân có uy tín được trọng vọng, đó là những chuyên gia với thu nhập đáng kể là thành viên của giáo hội. Ngoài ra, ở đây có truyền thống lâu năm là các vị mục sư rất uyên bác. Có nhiều mục sư da đen được huấn luyện tốt nhất quốc gia từng làm mục sư ở đây.
Chiều thứ bảy hôm đó, khi tôi xem lại bài sẽ giảng, tôi cảm giác rõ sự hồi hộp. Dù trước đây tôi đã thuyết giảng nhiều lần, từng làm mục sư phụ tá bốn năm ở nhà thờ của cha tôi tại Atlanta, đảm trách việc thuyết giảng ở đó liên tiếp ba mùa hè, nhưng lần này tôi biết là một sự thử thách. Làm thế nào để gây ấn tượng tốt nhất với cộng đoàn? Họ là những người học cao và thông minh trí tuệ, không lẽ tôi sẽ cố gắng gây chú ý bằng sự khoe khoang học rộng? Hay là tôi cứ thuyết giảng như tôi vẫn thuyết giảng, sẽ tùy vào cảm hứng và phó thác hoàn toàn vào Thánh linh của Thượng Đế? Cuối cùng tôi đã chọn cách sau. Tôi nhủ với lòng hãy quên cái tôi Martin Luther King, nhớ đến Thượng Đế thì mọi việc sẽ ổn. Hãy nhớ rằng mình chỉ là phương tiện của Phúc Âm, chứ không phải là ngọn nguồn.
Đúng 11 giờ ngày Chúa nhật, tôi đứng trên bục giảng trước đại cộng đoàn lớn. Để tài tôi chọn là “Ba thước đo của một cuộc sống hoàn thiện”. Sau buổi thuyết giảng, cộng đoàn đã đón nhận tôi. Tôi ra về mang theo cảm giác rằng Chúa đã trọng dụng mình, rằng đây là một nhà thờ tốt với những cơ hội đầy thách thức. Gần cuối ngày, ủy ban Quản trị bàn với tôi nhiều chi tiết về các vấn đề của nhà thờ, và hỏi tôi nghĩ sao nếu họ mời tôi làm mục sư. Sau khi trả lời rằng tôi xin xem xét lời mời này một cách chân thành và nghiêm túc nhất, tôi rời Montgomery đi Atlanta, rồi bay trở về Boston.
Khoảng một tháng sau đó tôi nhận được một bức thư gửi đảm bảo từ Montgomery, cho biết rằng tôi đã được nhất trí mời làm mục sư của Nhà thờ Baptist Dexter Avenue. Tôi đã rất vui khi nhận được lời đề nghị này, nhưng đã không hồi âm ngay, vì tôi định bay đến Detroit sáng hôm sau để dự buổi thuyết giảng vào Chúa nhật kế đó.
Hôm đó là ngày gặp phải thời tiết xấu với những đám mây lơ lửng dưới thấp, nhưng khi máy bay lên cao thoát ra khỏi vùng thời tiết đó, sự bập bềnh nhanh chóng qua đi. Trong lúc ngắm nhìn từng gợn mây màu bạc bên dưới cùng cái bóng đen tuyền của bầu trời trên kia, tôi trăn trở với suy nghĩ nên làm gì với những lời đề nghị mình nhận được. Lúc đó suy nghĩ của tôi như chia ra hai hướng. Một mặt tôi thiên về giới mục sư, mặt khác lại nghiêng về công việc nhà giáo. Tôi nên chọn lối nào đây? Và nếu tôi nhận việc ở nhà thờ, thì nên chọn cái nằm ở Miền Nam với tất cả ý nghĩ bi thương về nạn phân biệt chủng tộc, hay chọn một trong hai chỗ tại Miền Bắc.
Nhớ lại thời còn nhỏ, tôi đã từng bất bình với nạn phân biệt, đã từng gặng hỏi bố mẹ và thắc mắc về nó. Hồi còn chưa đủ tuổi đến trường tôi đã biết được đôi điều về phân biệt chủng tộc. Sau suốt ba bốn năm chơi chung với hai người bạn da trắng nối khố của tôi có bố mẹ kinh doanh cửa hiệu phía bên kia đường nhà tôi ở Atlanta thì có chuyện xảy ra. Khi tôi sang đường để tìm bọn nó, bố mẹ của chúng bảo rằng chúng không thể đi chơi. Họ không tỏ vẻ ghét tôi, họ chỉ kiếm cớ từ chối thôi. Cuối cùng tôi đã hỏi mẹ về chuyện đó.
Mỗi bậc cha mẹ, ở một thời điểm nào đó sẽ thấy khó giải thích cho con trẻ về sự thật của cuộc đời. Với người da đen cũng không ngoại lệ, đó là lúc họ phải giải thích cho con mình về sự thật nạn phân biệt chủng tộc. Mẹ tôi đã kéo tôi vào lòng và bắt đầu kể tôi nghe về chế độ nô lệ và sự chấm dứt của nó sau Cuộc Nội Chiến. Bà cố gắng giải thích cho tôi hiểu rằng, ở miền Nam này tất cả các trường học, nhà hàng, rạp hát, nhà cửa, các biển ghi dành cho người da trắng và da màu được dán ở mấy trụ uống nước, phòng chờ, nhà vệ sinh đều là sự sắp đặt có chủ ý của chính quyền để chia rẽ, phân biệt màu da chứ không phải là sự ngẫu nhiên. Rồi bà nói ra câu mà hầu hết mọi người dân da màu đều nghe trước khi có thể hiểu được sự bất công khiến cho những từ ấy trở nên thật cần thiết: “Con cũng tốt như mọi người thôi”.
Mẹ tôi, con gái của một mục sư thành đạt, đã lớn lên tương đối an lành. Bà được học ở những trường phổ thông và đại học tốt nhất thời bấy giờ và nhìn chung được bảo vệ khỏi những tác động tồi tệ nhất của nạn phân biệt chủng tộc. Nhưng cha tôi, con trai của một tá điền đã trực tiếp nếm trải sự tàn bạo ấy, và đã biết đánh trả từ khi còn trẻ. Với bản tính trung thực đầy quả cảm và vóc dáng mạnh mẽ, cường tráng của mình, lời lẽ của ông khiến người ta phải chú ý.
Tôi nhớ như in hồi còn nhỏ, một lần đi với cha vào một hiệu giày ở trung tâm thành phố. Chúng tôi ngồi xuống hàng ghế đầu còn trống ở trước cửa hàng. Một nhân viên da trắng đến chỗ tôi và lịch sự nói khẽ:
“Tôi sẵn lòng phục vụ ông chỉ cần ông dời xuống hàng ghế phía sau.”
Cha tôi đáp: “Mấy cái ghế này ổn mà. Chúng tôi khá thoải mái.”
“Xin lỗi,” người nhân viên nói, “nhưng ông phải dời xuống.”
“Ngồi đây thì tôi mua giày” cha tôi vặn lại, “còn không thì khỏi mua”. Ngay sau đó ông nắm tay tôi bước ra khỏi cửa hàng. Đó là lần đầu tiên tôi chứng kiến cha mình giận dữ đến như vậy. Lúc bước ra khỏi cửa hàng, ông cằn nhằn: “Dù không biết phải sống với cái hệ thống này bao lâu nữa, nhưng cha sẽ không bao giờ chấp nhận nó.
Và đúng là như vậy. Còn nhớ một hôm đang chạy xe thì ông bất ngờ vượt qua một biển báo dừng. Một người cảnh sát chặn xe lại và nói:
“Được rồi, cậu nhóc, hãy tấp vào lề và cho xem bằng lái nào.”
Cha tôi đáp lại một cách bực bội: “Tôi không phải là cậu nhóc”, rồi chỉ vào tôi, “đây mới là cậu nhóc. Tôi là đàn ông, và chừng nào anh còn gọi tôi như vậy, tôi sẽ không nghe theo đâu”.
Viên cảnh sát đã bị sốc đến nỗi rất lúng túng khi viết giấy phạt rồi nhanh chóng bỏ đi.
Từ trước khi sinh tôi ra, cha tôi đã không chịu đi xe buýt của thành phố nữa sau khi chứng kiến nhiều hành khách da đen bị tấn công tàn bạo. Ông từng dẫn đầu một cuộc đấu tranh ở Atlanta để đòi bình đẳng về đồng lương của giáo viên, và đóng vai trò quan trọng trong việc hủy bỏ luật kỳ thị thang máy Jim Crow tại tòa án (người da đen không được đi chung thang máy với người da trắng). Là mục sư của Nhà thờ Baptist Ebenezer, nơi ông vẫn chủ trì một cộng đoàn 4.000 người, ông có ảnh hưởng rất lớn trong cộng đồng người da màu, cũng vì vậy mà người da trắng đã phải tôn trọng ông một cách miễn cưỡng. Dù thế nào, họ vẫn chứa bao giờ dùng vũ lực đối với ông, một điều mà anh chị tôi và tôi vẫn thấy lạ khi lớn lên trong bầu không khí đầy căng thẳng này.
Kế thừa điều này, không có gì ngạc nhiên khi tôi cũng căm ghét sự phân biệt, nó vừa vô lý vừa vô đạo đức. Từ khi là một vị thành niên tôi chưa bao giờ có thể chấp nhận phải xuống ngồi hàng ghế phía sau xe buýt hay ngồi một nơi riêng biệt trên tàu hoả. Lần đầu tiên bị bắt ngồi sau tấm màn ngăn ở toa ăn trên xe lửa, tôi cảm tưởng như thể tấm màn đang làm nhục tôi vậy. Cũng có sở thích phim ảnh như bao thằng con trai đang lớn, nhưng tôi chỉ đến rạp chiếu phim duy nhất một lần vì bị bắt đi bằng cửa sau và ngồi ở hàng ghế hạng bét bẩn thỉu nhếch nhác đến mức ghê tởm làm tôi không tài nào tận hưởng được cuốn phim. Tôi chưa bao giờ có thể thích nghi được với mấy phòng chờ tách biệt, chỗ ăn tách biệt, phòng vệ sinh tách biệt, phần vì cái tách biệt đó luôn bất bình đẳng, phần vì chính dụng ý về mấy chỗ tách biệt đó đã động chạm đến phẩm giá và lòng tự trọng của tôi.
Giờ đây, trong lúc máy bay đưa tôi đến Detroit, tôi nghĩ mình đang có cơ hội thoát ra khỏi bóng đêm dai dẳng của nạn phân biệt? Tôi có nên quay về sống trong một xã hội chấp chứa cái hệ thống mà tôi căm ghét từ thời thơ ấu không?
Những trăn trở này vẫn chưa có lời đáp khi tôi trở lại Boston. Tôi đã chia sẻ điều này với vợ mình, Coretta (chúng tôi đã kết hôn chưa được một năm), và biết được rằng cô cũng phân vân về chuyện trở lại miền Nam. chúng tôi đã bàn bạc một vấn đề hệ trọng là có nên để con cái lớn lên trong xiềng xích của nạn phân biệt không. Chúng tôi hồi tưởng về thời quá khứ của mình ở miền Nam, và những quyền lợi mà chúng tôi bị tước đoạt bởi hậu quả của nạn phân biệt. Câu hỏi về sự nghiệp âm nhạc của vợ tôi cũng được bàn đến. Cô ấy đã đinh ninh rằng một thành phố ở miền Bắc sẽ mở ra nhiều cơ hội để tiếp tục học hơn là một thành phố ở miền Nam xa xôi. Suốt mấy ngày chúng tôi nói chuyện, suy nghĩ và cầu nguyện. Cuối cùng chúng tôi nhất trí rằng, mặc cho những bất lợi và sự hy sinh không tránh khỏi, chúng tôi có thể phục vụ nhiều hơn ở miền Nam, nơi chúng tôi đã sinh ra. Chúng tôi đi đến kết luận rằng mình phải có trách nhiệm lương tâm để quay trở về - ít nhất là trong vài năm.
Dù thế nào miền Nam vẫn là quê hương của chúng tôi, dẫu nó có khiếm khuyết chúng tôi vẫn yêu và vẫn ôm ấp một khát khao thực sự muốn làm điều gì đó để cải thiện những vấn nạn đã hiện hữu từ thời niên thiếu đến nay. Chúng tôi chưa bao giờ muốn bị xem như những kẻ ngoài cuộc vô lo vô nghĩ. Vì nạn phân biệt chủng tộc diễn ra nặng nề nhất ở miền Nam, nên chúng tôi nghĩ rằng những người da màu đã được đào tạo bài bản tại những vùng miền khác của đất nước, nên trở vé để chia sẻ những kiến thức, tư tưởng cởi mở và kinh nghiệm giáo dục để giúp cải thiện tình trạng này. Hơn thế nữa, dù cho có phải hy sinh nếp sống văn hoá mà chúng tôi yêu thích, dù cho có sự tồn tại của luật phân biệt Jim Crow - thứ không ngừng gợi nhắc chúng tôi về màu da của mình - chúng tôi có một cảm giác rằng có điều gì đó rất đặc biệt đang tiềm ẩn và sẽ xảy ra ở miền Nam. Và chúng tôi muốn được tận mắt chứng kiến nó. Vùng đất này có sẵn những khả năng phi thường, một khi nó thức tỉnh và gạt bỏ được những tác động xấu từ nạn phân biệt chủng tộc, nó sẽ tạo ra một cú đột phá về giá trị đạo đức, chính trị và kinh tế hiếm khi có ở những khu vực khác của đất nước.
Với suy nghĩ này tôi tạm thời muốn nhận việc làm mục sư hơn là đi dạy. Và tôi quyết định nhận lời mời đến Dexter trong vài năm. Sau đó nếu còn đam mê việc dạy học, tôi sẽ trở lại đi dạy. Tôi đã gửi một bức điện tín đến Montgomery nói rằng tôi sẽ xuống đó trong tuần tới để bàn bạc chi tiết.
Vậy là tôi trở về Montgomery. Sau khi đánh giá những sắp đặt của nhà thờ, tôi nhận lời làm mục sư. Vì có dự tính dành ít nhất bốn tháng làm việc cật lực cho luận án tiến sĩ của mình, tôi đã đưa ra điều kiện là tôi sẽ không làm việc toàn thời gian cho đến ngày 1 tháng Chín năm 1954, và được nhà thờ chấp thuận. Tuy nhiên, tôi đồng ý xuống Montgomery ít nhất mỗi tháng một lần để đảm bảo mọi việc diễn ra suôn sẻ trong thời kỳ chuyển giao này. Vào một ngày Chúa nhật tháng Năm năm 1954, tôi đã có bài giảng đầu tiên trong vai trò mục sư của Nhà thờ Baptist Dexter Avenue và trong vòng bốn tháng sau đó, tôi thường xuyên bay đi bay về giữa Boston và Montgomery.
Trong chuyến đi vào tháng Bảy, tôi đi cùng với Coretta. Montgomery chẳng xa lạ gì với cô ấy, vì chỉ cách nhà cô ấy có tám mươi dặm tại thị trấn nhỏ Marion, bang Alabama. Ở đó cha cố, ông Obie Scott, mặc dù sinh ra tại một nông trại nhưng đã gặt hái thành công trong sự nghiệp kinh doanh, mở ra một doanh nghiệp nhỏ chở gỗ, một trạm xăng, một cửa hàng bách hoá, và một nông trại gà. Mặc cho những mối đe dọa trả thù và vũ lực từ các đối thủ da trắng, ông vẫn tạo được một thu nhập kha khá cho gia đình với một quyết tâm và một niềm tin bất biến vào tương lai. Coretta đã sống ở Marion cho đến khi đi học Đại học Antioch ở Yellow Springs, Ohio. Thừa hưởng tài năng âm nhạc từ mẹ, bà Bernice Scott, cùng với sự quyết tâm âm thầm, cô ấy đã giành được suất học bổng của Nhạc viện New England tại Boston. Tại đây tôi có dịp làm quen và đã trót yêu cô ca sĩ đầy nét quyến rũ, với tính cách thuỳ mị và phong thái đĩnh đạc không gì che lấp được tâm hồn đầy sức sống của cô ấy. Mặc dù chúng tôi đã trở về Marion vào ngày 18 tháng Sáu năm 1953 để cử hành hôn lễ trên bãi cỏ rộng của nhà Scott, do bố tôi làm chủ hôn, nhưng Boston mới là nơi chúng tôi bắt đầu cuộc sống hôn nhân.
Trong chuyến đi hồi tháng 7, Coretta đã có cái nhìn khác về Montgomery. Từ khi còn là một thiếu nữ, cô ấy đã được sống trong bầu không khí của các trường đại học bình đẳng sắc tộc, và ở trong nhà người da trắng như một vị khách được chào đón. Giờ đây, trong quá trình chuẩn bị cho sự trở về dài hạn tại miền Nam, cô ấy đã ghé thăm khu vực người da màu của thị trấn nơi chúng tôi sắp ở mà không có lựa chọn nào khác. Cô ấy đã thấy những người da màu bị dồn về phần đuôi xe buýt trong sự kỳ thị chủng tộc và biết rằng mình cũng sẽ lên những chuyến xe đó. Cũng trong lần ghé thăm đó, cô ấy được giới thiệu với nhà thờ và được cộng đoàn ở đó tiếp đón nồng hậu. Tinh thần lạc quan và tính tình hiền hoà của cô ấy là những phẩm chất để trở thành hậu phương vững chắc cho tôi trong những ngày sắp tới cô ấy đặt niềm tin vào những cơ hội và thử thách trong việc phụng sự Kito giáo ở Dexter và cộng đồng Montgomery.
Vào ngày 1 tháng Chín năm 1954, chúng tôi chuyển đến ngôi nhà dành cho mục sư và bắt đầu công việc làm mục sư toàn thời gian. Mấy tháng đầu tôi bận rộn với những việc bình thường lặt vặt để tìm hiểu nhà mới, công việc mới và thành phố mới. Có những người bạn cũ được dịp hội ngộ và những người bạn mới để làm quen, và một chút thời gian nghĩ đến không chỉ đời tư mà còn quan sát cuộc sống của cộng đồng xung quanh nói chung. Mặc dù rằng chúng tôi quay về miền Nam với hy vọng góp sức vào công cuộc đổi mới ở phía trước, nhưng vẫn chưa hình dung được những thay đổi đó sẽ đến như thế nào. Và không hề hay biết rằng chỉ trong hơn một năm sau chúng tôi sẽ tham gia vào một phong trào làm thay đổi Montgomery mãi mãi và tạo được tiếng vang ra toàn thế giới.
Chương II
Montgomery trước ngày phản kháng
Với tôi, CÔNG TÁC GIÁO HỘI vốn rất thú vị ngay từ lúc đầu. Vì thế vài tuần đầu tiên của mùa thu năm 1954, tôi dành trọn cho việc lập một chương trình có ý nghĩa đối với cộng đoàn đặc biệt này. Tôi thấy lo lắng khi muốn thay đổi ấn tượng trong suy nghĩ lâu nay của cộng đồng rằng Dexter là một kiểu nhà thờ quý tộc chỉ phục vụ một tầng lớp nhất định, nó thường được gọi là “Nhà thờ của các ông lớn”. Ý tưởng muốn thay đổi này xuất phát từ niềm tin rằng, cách thờ phượng linh thiêng nhất là khi tất cả mọi người trong xã hội, không phân biệt tầng lớp, cùng tìm về chân lý duy nhất, cùng hòa hợp và đoàn kết dưới chân Đức Chúa Trời. Còn bất cứ nhà thờ nào, dù là vô tình hay có chủ ý chỉ phục vụ cho một tầng lớp nhất định thì nơi đây sẽ đánh mất tinh thần “bất kể là ai nếu muốn, hãy để họ đến” của giáo lý, và có nguy cơ biến thành một câu lạc bộ giao lưu không hơn không kém mà được phủ lớp mành tôn giáo.
Tôi cũng quan tâm đến việc mở rộng chương trình phụ trợ của nhà thờ. Những hoạt động này, trước khi tôi đến, chủ yếu là gồm Lớp học Chúa Nhật, nơi người lớn và trẻ em tập trung lại để nghiên cứu các giáo lý của Cơ Đốc giáo và Kinh Thánh. Công đoàn Huấn luyện của phái Baptist (The Baptist Training Union) được thiết lập để đẩy mạnh sự lãnh đạo của Cơ Đốc giáo và Hội Truyền giáo, mang thông điệp của nhà thờ đến cộng đồng. Một số các chức năng mới mà tôi giới thiệu là ủy ban Phục Hồi Giáo Dục Tôn Giáo; ủy ban Dịch Vụ Xã Hội để thông tin và cung cấp dịch vụ cho người bệnh và người nghèo; ủy ban Hành Động Xã Hội và Chính Trị; ủy ban Nâng Cao và Quản Lý Quỹ học bổng cho sinh viên tốt nghiệp trung học và ủy ban Văn Hóa để khuyến khích các nghệ sĩ có triển vọng. Vì nhiều điểm trong chương trình mới cần thay đổi cách làm truyền thống khiến tôi hơi nghi ngại liệu nó có được chấp nhận. Do đó, tôi đã trình bày các khuyến nghị của mình với nhà thờ trong tâm trạng lo lắng. Song, điều đáng ngạc nhiên là họ đã đón nhận thật nồng nhiệt và chân thành. Từ thời điểm ấy trở đi, các thành viên hợp tác và phản hồi rất tích cực. Hầu như ngay lập tức số thành viên bắt đầu tăng lên. Báo cáo tài chính trong sáu tháng đầu tiên cho biết rằng thu nhập của nhà thờ đã tăng gần gấp ba lần so với những năm trước. Các ủy ban mới thành lập đã hoạt động tốt, và chương trình Giáo dục Tôn giáo được đặc biệt ưu tiên nhờ có sự đào sâu nghiên cứu.
Trong nhiều tháng, tôi phải phân chia thời gian và công sức của mình để đồng thời hoàn thành luận án và thực hiện nhiệm vụ với nhà thờ. Tôi dậy lúc 5 giờ 30 mỗi sáng và dành ba tiếng đồng hồ để viết luận án, ban đêm quay lại dành thêm ba tiếng nữa. Phần còn lại của ngày dành cho công việc nhà thờ bao gồm lễ cưới, tang lễ và các cuộc họp cá nhân riêng lẻ bên cạnh những việc phụng sự hàng tuần. Nhà thờ còn đi thăm và cầu nguyện mỗi tuần một ngày cho các thành viên bị ốm hay nằm nhà không đi lễ được.
Phần lớn thời gian trong những ngày đầu là dùng để làm quen với tất cả các thành viên của cộng đoàn. Điều này đòi hỏi phải đến nhà thăm họ và tham gia những cuộc họp tư vấn khác nhau trong nhà thờ. Hầu như mỗi tuần tôi đều tham gia từ năm đến mười cuộc họp nhóm như vậy nên các giờ đầu của buổi tối tôi đều bận rộn với công việc này. Tôi cũng dành tối thiểu mười lăm giờ một tuần để chuẩn bị bài giảng cho ngày Chúa nhật. Tôi thường bắt đầu phác thảo từ ngày thứ Ba, sang thứ Tư tôi nghiên cứu tài liệu, suy nghĩ tìm cách dẫn chứng các tình huống trong cuộc sống để bài giảng có nội dung thực tế. Vào thứ Sáu, tôi bắt đầu viết và thường hoàn thành vào tối thứ Bảy.
Tôi còn bỏ thêm thời gian để nghĩ tới những nhu cầu và lợi ích hiện thời của cả cộng đồng rộng lớn ở Montgomery. Nền kinh tế của thành phố được hưởng lợi bởi sự hiện diện của căn cứ Không quân Maxwell và Gunter. Theo báo cáo hàng năm của Phòng Thương mại Montgomery, hai căn cứ này đổ tổng cộng 58 triệu đô la vào nền kinh tế Montgomery trong năm 1955. Cứ mười bốn thường dân làm việc tại Montgomery thì có một người làm việc tại các căn cứ này, và cứ khoảng bảy gia đình thì có một gia đình không quân, dù là dân sự hay quân sự. Bốn ngàn gia đình sống bên ngoài căn cứ có nhà trong Thành phố. Nhưng mỉa mai thay, các căn cứ đã đóng góp rất nhiều vào đời sống kinh tế của cộng đồng được sống hòa hợp bình đẳng với nhau hoàn toàn, còn Thành phố xung quanh họ thì vẫn phải tuân theo luật lệ phân biệt chủng tộc rất nặng nề. Cho nên, người ta luôn ao ước rằng sức mạnh kinh tế to lớn của các cơ quan liên bang sẽ làm thay đổi tốt hơn các quan hệ chủng tộc ở Montgomery.
Montgomery hiện đại là một thị trường nổi bật về bông, chăn nuôi, thông vàng, gỗ cứng và là một trong những trung tâm sản xuất phân bón thương mại quan trọng của quốc gia. Thị trường tiêu thụ gia súc lớn nhất của Montgomery là ở phía đông của Fort Worth, Texas và phía nam của sông Ohio, hàng năm tiêu thụ khoảng 30 triệu đô la giá trị sản phẩm gia súc. Ngược lại ở đây thiếu ngành công nghiệp nặng là một trong những lý do tại sao rất nhiều người da đen làm các công việc dịch vụ tại địa phương: có 63% lao động nữ da đen ở Montgomery làm người giúp việc và 48% đàn ông da đen làm lao động chân tay hay đi làm thuê làm mướn. Đây có lẽ là một trong những nguyên nhân chính yếu tạo nên khoảng cách kinh khủng về mức sống giữa người da trắng và da đen. Năm 1930, thu nhập bình quân của khoảng 70.000 người da trắng ở Montgomery là 1.730 đô la, so với 970 đô la của 50.000 người da đen. Có 94% gia đình người da trắng ở Montgomery có nhà vệ sinh giật nước riêng trong nhà, trong khi chỉ có 31% gia đình người da đen được hưởng những tiện nghi như vậy. Thế đấy, chính sự phân biệt chủng tộc tự nó đã là vấn đề, mà nó còn tạo ra nhiều vấn đề lên cuộc sống của người da đen ở mọi khía cạnh. Rõ ràng những người da đen ở Montgomery cũng là nạn nhân của sự thiếu thốn và nghèo đói nghiêm trọng.
Hai cộng đồng người Da Trắng - Da Đen giống như hai con kênh chảy riêng biệt. Các trường học tất nhiên đã được tách biệt, và quyết định của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ về giáo dục hội nhập được ban hành từ tháng 5 năm 1954 - dường như không ảnh hưởng đến quyết tâm của Montgomery về việc duy trì sự phân biệt. Nếu một người da trắng và một người da đen muốn đi cùng một taxi thì đó là chuyện không thể, bởi vì theo luật các tài xế người da trắng chỉ phục vụ hành khách da trắng, người da đen không thuộc trong hệ thống phục vụ đó và phải chấp nhận những giới hạn đã được quy định. Quả đúng là người da trắng và da đen bị phân ra thành hai thái cực, một bên làm chủ một bên làm thuê. Họ ngồi ở hai đầu của cùng một chiếc xe buýt được phân ranh giới bằng một lằn vạch ngang rõ rệt. Họ sử dụng cùng một trung tâm mua sắm, nhưng người da đen đôi khi bị ép phải đợi cho đến khi mọi người da trắng được phục vụ xong, và người da đen hiếm khi được gọi bằng tên hay chức danh lịch sự với sự tôn trọng. Trong thành phố, khu dân cư da trắng và da đen liền kể nhau, hoặc đan xen nhau nhưng họ quay lưng không muốn nhìn mặt láng giềng, chỉ sống với cộng đồng theo màu da của mình với đời sống xã hội và văn hóa riêng.
Không có một tổ chức chuyên nghiệp chung nào tập hợp các bác sĩ, luật sư, giáo viên v.v... đủ màu da và ngay cả khi các chuyên gia như thế đã tham gia trong các tổ chức quốc gia thì họ vẫn bị phân biệt khi về các chi nhánh tại địa phương của mình. Không có liên minh tôn giáo giữa các chủng tộc ở Montgomery. Không có Liên Đoàn Đô Thị địa phương nào để kết nối người da đen với da trắng cùng quản trị, các thành viên tích cực của Hiệp hội Quốc Gia VI Sự Tiến Bộ Của Người Da Màu (NAACP) tại Chi nhánh Montgomery hoàn toàn là người da đen. Ngôi trường đại học lớn nhất ở Montgomery, Alabama State College, là trường của những người da màu, chủ yếu dành cho việc đào tạo giáo viên, với một đội ngũ giảng viên gần 200 và sinh viên xấp xỉ 2.000. Mặc dù ngôi trường rất đẹp, các giảng viên bao gồm các nhân vật nổi tiếng như Horace Mann Bond, Charles H. Thompson, và trường đã tạo được một ảnh hưởng văn hóa sinh động trên cả Thành phố lẫn toàn Bang nhưng nó vẫn không lôi cuốn được nhiều người da trắng địa phương đến thăm. Trong thực tế, chi nhánh địa phương của Hội đồng Alabama Về Quan Hệ Nhân Sinh ở Montgomery đã đơn độc cố gắng tạo mối quan hệ giữa hai chủng tộc để họ gặp gỡ nhau cùng giải quyết những vấn đề chung.
Luật pháp Alabama và chính quyền nơi đây đã dùng những thủ thuật khiến cho tỷ lệ người da đen đi bầu ở mức tối thiểu. Đến năm 1940, cả tiểu bang Alabamachỉ có khoảng 2.000 cử tri người da đen thì ngày nay con số này là gần 50.000. Mặc dù đây là một sự tiến bộ nhưng con số này vẫn còn ít hơn 10% cư dân da đen đến tuổi bỏ phiếu trong bang. Vào năm 1954, đã có khoảng 30.000 người da đen đến tuổi bỏ phiếu ở quận Montgomery nhưng chỉ có hơn 2.000 người được đăng ký. Con số quá thấp này là một phần kết quả của sự thiếu quan tâm hay thiếu kiên trì của người da đen trong việc vượt qua tất cả các hàng rào ngăn cản họ, nhưng các rào cản này quả thật rất khủng khiếp và khó vượt qua. Luật pháp Alabama cho các cơ quan đăng ký bầu cử quá nhiều quyền lực. Tại văn phòng đăng ký có các lối xếp hàng riêng và bàn riêng cho cử tri phân theo chủng tộc. Cán bộ giữ sổ đăng ký (hộ tịch viên) phục vụ người da đen làm việc một cách chậm chạp có chủ ý, do đó, trong số năm mươi người da đen đến đó, cuối ngày chỉ có mười lăm người được đăng ký. Mọi cử tri được yêu cầu điền vào một bảng câu hỏi dài như là một bài kiểm tra về điều kiện tham gia, và họ thường phải làm rất nhiều lần trước khi được duyệt và hoàn tất. Vì vậy, dựa trên các sự thật này, chẳng có gì ngạc nhiên khi thấy rằng không có người da đen nào ở Montgomery làm việc cho chính quyền dù ở cấp thành phố hay cấp quận.
Vì quan tâm về những vấn đề như vậy, một trong những ủy ban đầu tiên được tôi thiết lập trong nhà thờ của mình là để đảm bảo cho cộng đoàn nắm bắt được các thông tin về tình hình xã hội, chính trị, kinh tế một cách đầy đủ và nhanh chóng nhất. Nhiệm vụ của ủy ban Hành Động Xã Hội Và Chính Trị là nhắc nhở về tầm quan trọng của NAACP và sự cần thiết đăng ký đi bầu cử, tài trợ các diễn đàn và cuộc họp đại chúng để thảo luận về những vấn đề quan trọng trong các cuộc bầu cử tiểu bang và quốc gia. Tôi đã tìm những người quan tâm đến các vấn đề xã hội và có kinh nghiệm trước đây trong lĩnh vực chính trị và bầu cử để mời họ làm thành viên của ủy ban. May mắn thay đây không phải là một việc khó khăn, vì Dexter có một số giáo đồ quan tâm sâu sắc đến các vấn đề cộng đồng và sẵn sàng nhận lời. Điều thú vị là hai thành viên của ủy ban này - bà Jo Ann Robinson và Rufus Lewis, là những người đầu tiên nổi bật trong cuộc tẩy chay xe buýt - đã nhanh chóng huy động được sức mạnh tiềm tàng của cộng đồng người da đen ở Montgomery.
Năm tháng trôi qua, tôi đã thấy được kết quả ấn tượng từ các hoạt động của ủy ban này. Vào đầu tháng 11, nó đã xuất bản một bản tin hai tuần một lần, SAPAC, phát cho mọi thành viên của cộng đoàn và giá trị nhất là nó đặt trách nhiệm của các thành viên nhà thờ trước các vấn đề lớn về chính trị và xã hội. Dưới sự bảo trợ của ủy ban, một phòng Tư vấn bỏ phiếu đã hướng dẫn hầu hết mọi thành viên của cộng đoàn, mà chưa từng đăng ký bầu cử, tránh khỏi những cạm bẫy các thủ tục đăng ký do phân biệt đối xử. Vào tháng 11 năm 1955, trong báo cáo thường niên của tôi về tư cách thành viên, tôi có thể nói rằng công việc của ủy ban này thật tuyệt vời, và mọi thành viên của Dexter đều cảm nhận được sức ảnh hưởng của nó. Qua công việc của ủy ban, nhiều người đã đi đăng ký khi có bầu cử và Dexter đã đi đầu hướng dẫn những nhà thờ khác ở Montgomery đóng góp cho những hoạt động của NAACP”.
Sau khi đưa chương trình hoạt động của nhà thờ đi vào quỹ đạo, tôi đã gia nhập Chi nhánh địa phương của NAACP và bắt đầu quan tâm tích cực đến việc thực hiện chương trình của mình trong cộng đồng. Bên cạnh việc quyên góp tiền thông qua nhà thờ của mình, tôi đã có một số bài phát biểu cho NAACP tại Montgomery và các nơi khác. Chưa đầy một năm sau khi tôi gia nhập Chi nhánh, tôi được bầu chọn vào Ban chấp hành. Vì tham dự hầu hết mọi cuộc họp hàng tháng, tôi đã gặp phải một số vấn đề về chủng tộc mà đã tạo ra phiền phức cho cộng đồng, đặc biệt là những chuyện có dính tới tòa án.
Trước khi tôi đến Montgomery, và trong vài năm sau đó, hầu hết các nguồn lực và quỹ của NAACP Chi nhánh địa phương đều dùng vào việc bào chữa cho Jeremiah Reeves, một tay trống trong một ban nhạc người da đen, đã bị bắt ở tuổi mười sáu vì bị buộc tội cưỡng hiếp một phụ nữ da trắng. Một nhà chức trách đã đưa anh ta đến phòng tử hình, đe dọa rằng nếu anh ta không thú nhận sớm, anh sẽ bị thiêu sống. Anh ta buộc phải nhận tội, nhưng sau đó đã rút lại lời thú tội. Trong khoảng bảy năm của vụ án và cho đến tận cuối đời, anh tiếp tục phủ nhận không chỉ trách nhiệm với tội hiếp dâm mà với cả cáo buộc có quan hệ tình dục với người phụ nữ da trắng đã tố cáo anh.
NAACP đã thuê luật sư và quyên góp tiền để bào chữa cho Reeves. Tại tòa án địa phương, anh bị kết tội và kết án tử hình. Bản án vẫn được giữ nguyên dù có một loạt kháng cáo qua các tòa ở Alabama. Vụ án đã được kháng cáo lên Tòa án Tối Cao Hoa Kỳ hai lần. Lần đầu tiên, Tòa án không tiếp nhận và chuyển trở lại Tòa án Tối Cao của Bang để xử lại. Lần thứ hai, Tòa án Tối Cao Hoa Kỳ đồng ý xem xét vụ án nhưng sau đó bác đơn kháng cáo để mặc tòa án Alabama toàn quyền xử tử. Sau khi kháng cáo cuối cùng xin giảm án xuống chung thân bị Thống đốc từ chối, cảnh sát đã thực thi nhiệm vụ của họ. Ngày 28 tháng 3 năm 1958, Reeves bị đưa lên ghế điện.
Vụ án Reeves điển hình cho sự bất công của các tòa án miền Nam. Trong những năm anh ngồi tù, một số người da trắng ở Alabama cũng bị buộc tội hãm hiếp, nhưng những người tố cáo họ là những cô gái da đen. Họ hiếm khi bị bắt. Nếu có bị bắt, họ nhanh chóng được bổi thẩm đoàn thả, không ai bị đưa ra xét xử. Vì thực tế này, những người da đen miền Nam đã biết sợ và không tin tưởng vào công lý của người da trắng.
Khoảng thời gian mà tôi bắt đầu làm việc với NAACP, Hội đồng Quan Hệ Nhân Sinh Alabama cũng làm tôi chú ý. Nhóm đa sắc tộc này quan tâm đến mối quan hệ giữa con người ở bang Alabama và áp dụng phương pháp giáo dục để xây dựng mối quan hệ đó. Hội đồng Quan Hệ Nhân Sinh là chi nhánh của Hội đồng Khu Vực Miền Nam và là tổ chức thừa kế của ủy ban Liên Minh Chủng Tộc Alabama, đã đưa ra chương trình nghiên cứu và hành động tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người ở Alabama. Triết lý cơ bản được công nhận của họ như sau: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng dưới chân Thượng Đế. Trong cuộc sống, giải thích trên phương diện quốc gia, điều này có nghĩa là mỗi cá nhân được quyền có cơ hội bình đẳng chia sẻ và đóng góp cho tổ quốc. Không có cá nhân hay nhóm cá nhân nào có quyền ngăn cản hay thu hẹp quyền này theo bất kỳ cách nào”.
Tôi gia nhập tổ chức này, và tham dự hầu hết các cuộc họp hàng tháng của Chi nhánh Montgomery được tổ chức trong phòng họp của nhà thờ chúng tôi. Sau khi làm việc với Hội đồng được vài tháng, tôi được bầu vào chức vụ Phó chủ tịch, và phục vụ ở vị trí này cho đến khi đảm nhiệm các trách nhiệm khác. Chủ tịch Hội đồng là Ray Wadley, một mục sư trẻ da trắng của nhà thờ St. Mark S. Methodist, một người miền Nam bản địa. Sau này ông chuyển sang làm việc ở một cộng đồng nhỏ hơn và hẻo lánh sau khi nhà thờ của ông phản đối các hoạt động về quan hệ chủng tộc của ông. Hai thành viên da trắng nổi bật khác của Hội đồng là mục sư Thomas P. Thrasher và Robert Graetz, cả hai đều nổi bật trong cuộc tranh đấu xe buýt sau này.
Mặc dù Hội đồng Montgomery chưa bao giờ có đông thành viên, nó vẫn đóng một vai trò quan trọng. Là nhóm liên minh chủng tộc duy nhất ở Montgomery, nó giữ kênh đối thoại cần thiết giữa hai sắc tộc. Người ta ghét nhau vì họ sợ nhau; họ sợ nhau vì họ không biết nhau; họ không biết nhau vì họ không giao tiếp; họ không giao tiếp bởi vì họ bị tách ra. Để tạo cơ hội và không gian giao tiếp, Hội đồng đang thực hiện đầy đủ các điều kiện cần thiết cho mối quan hệ chủng tộc trở nên tốt hơn ở miền Nam.
Tôi rất ngạc nhiên khi biết nhiều người đã cảm thấy có sự mâu thuẫn khi tôi làm việc cho cả NAACP và Hội đồng Liên Minh Chủng tộc. Nhiều người da đen cảm thấy rằng sự hòa hợp chủng tộc chỉ có thể đạt được qua vận động luật pháp và bộ máy tư pháp - đây là đường lối chính của NAACP. Trong khi đó, nhiều người da trắng lại cảm thấy rằng hòa hợp chủng tộc chỉ có thể đạt được thông qua giáo dục - và đây là chủ trương của Hội đồng Quan Hệ Nhân Sinh. Làm thế nào một người có thể gắn bó với cả hai tổ chức có hai phương pháp quá khác nhau đến như vậy?
Câu hỏi này gợi lại một giả thiết cho rằng chỉ có một giải pháp cho vấn đề chủng tộc. Song tôi lại cảm thấy cả hai cách đều cần thiết. Thông qua giáo dục, chúng ta tìm cách thay đổi thái độ, thông qua luật pháp và tòa án, chúng ta tìm cách điều chỉnh hành vi. Giáo dục làm thay đổi tâm hồn thể hiện qua cảm xúc (đầy thành kiến, hận thù, v.v.); Luật pháp và tòa án kiểm soát hành vi phát sinh từ cảm xúc. Giáo dục có thể giúp phá vỡ các rào cản tinh thần đem lại sự hòa hợp; Luật pháp và tòa án thì giúp phá vỡ các rào cản thép gai vật chất để hai sắc tộc cùng chung sống hòa bình. Vốn dĩ phương pháp này không thể thay thế phương pháp kia mà chúng bổ sung cho nhau. Điều đó rất quan trọng và cần thiết. Bất cứ ai tin rằng con đường đi đến sự công bằng chủng tộc là một con đường dễ dàng thì chắc chắn sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trở ngại và làm cho cuộc hành trình trở nên dài vô tận. Công việc của tôi với NAACP và Hội đồng Nhân Sinh Alabama xuất phát từ niềm tin rằng cả hai tổ chức đều đáp ứng được nhu cầu thực sự của cộng đồng và mỗi tổ chức đều đang hoạt động theo tiêu chí đề cao trí tuệ và lòng tự trọng.
Thời gian trôi qua, tôi nhận ra rằng, trong cộng đồng người da đen vẫn còn một số điều cần phải được cải thiện trước khi có thể xây dựng một xã hội tiến bộ thực sự. Điều đầu tiên là sự thiếu đoàn kết nghiêm trọng giữa các nhà lãnh đạo. Trong phong trào, có nhiều nhóm dân sự được thành lập và rồi giữa các nhóm này lại có sự tranh chấp, xung đột với nhau. Có tổ chức tên là Đảng Dân Chủ Tiến Bộ, đứng đầu là E. D. Nixon. Có ủy ban Công Dân, đứng đầu là Rufus Lewis. Có Hội đồng Chính Trị của phụ nữ, do Bà Mary Fair Burks và Jo Ann Robinson đứng đầu. Có NAACP, đứng đầu là R. L. Matthews và nhiều nhóm nhỏ hơn rải rác trong cộng đồng da đen. Trong khi những người đứng đầu của mỗi tổ chức này đều có khả năng và năng nổ với mục tiêu chung, nhưng niềm tin và lòng trung thành của họ thì mỗi người một khác, nên rất khó để họ đoàn kết chặt chẽ hơn.
Nhiều người cảm nhận được tư tưởng bè cánh phe phái làm tê liệt phong trào. Đầu năm 1955, một số nhà lãnh đạo có ảnh hưởng đã cố gắng giải quyết vấn đề này bằng cách lập ra ủy ban Điều Phối Công Dân. Tôi nhớ khi tham dự cuộc họp đầu tiên của nhóm này, tôi tưởng cộng đồng người da đen sẽ tìm được giải pháp cho vấn đề đã tồn tại quá lâu làm trở ngại sự tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, chẳng bao lâu, hy vọng của tôi đã tan vỡ. Do các nhà lãnh đạo thiếu sự kiên trì và các công dân thiếu sự quan tâm tích cực, ủy ban Điều Phối Công dân cuối cùng đã giải thể. Với sự tan rã của tổ chức đầy hứa hẹn này, có vẻ như sự chia rẽ bi thảm trong cộng đồng người da đen chỉ có thể được cứu vãn bằng một phép lạ thần thánh nào đó.
Cộng đồng không chỉ phải đối mặt với sự cạnh tranh về quyền lực lãnh đạo, nó còn bị tê liệt bởi sự thờ ơ của giới trí thức - thể hiện qua sự thiếu tham gia vào bất kỳ hành động nào để thay đổi tình trạng hiện tại - như là một sự ngầm chấp nhận mọi thứ chung quanh. Tuy vậy dĩ nhiên có những trí thức tiên phong trong cuộc đấu tranh vì công lý cho mọi chủng tộc, nhưng họ chỉ là ngoại lệ. Đại đa số đều thờ ơ và tự mãn.
Vấn đề thiếu quan tâm của giới trí thức là do sợ hãi. Nhiều người trong số đó có địa vị. Nếu thẳng thắn đứng về phía công lý, họ có nguy cơ bị mất việc. Vì vậy, thay vì đánh cược nồi cơm, nhiều người đã chọn tránh xa những hoạt động nhằm mang lại sự thay đổi. Tuy nhiên, chuyện không phải chỉ có thế! Sự im lặng từ nguyên nhân vô cảm còn rất nhiều. Ngay cả trong lĩnh vực - chẳng hạn như bỏ phiếu - nơi họ sẽ không thực sự bị buộc tội gây mất trật tự nơi công cộng, nhóm trí thức vẫn thờ ơ và không dễ chuyển hóa được trong một sớm một chiều.
Và sự thờ ơ rõ rệt của các mục sư người da đen cũng nói lên một vấn đề. Chỉ vài người trong số họ thường biểu lộ sự quan tâm sâu sắc đến các vấn đề xã hội, số đông còn lại không buồn nghĩ đến thì bỏ mặc trách nhiệm xã hội. Sự vô cảm của số đông mục sư này thật ra bắt nguồn từ một suy nghĩ có thật rằng, là mục sư thì không được phép tham dự vào chuyện đời thường tạm bợ của thế gian như là cải tiến xã hội và kinh tế. Công việc của họ là “rao giảng Phúc Âm” và khuyên con người luôn hướng tới “Thiên Đàng”. Tuy nhiên, dù là thành thật cách mấy, quan điểm này về tôn giáo, tôi cảm thấy quá hẹp hòi.
Hiển nhiên, mỗi tôn giáo đều có mối quan tâm sâu sắc và quan trọng tới đời sống ở một thế giới khác. Bất kỳ tôn giáo nào chỉ quan tâm đến cuộc sống ở thế giới này thì coi như đã “bán chỗ nằm, mua chỗ ngồi”. Một tôn giáo tốt đẹp nhất không chỉ giúp con người giải quyết nhu cầu căn bản vật chất mà còn cả nhu cầu tối hậu là tâm linh liên quan đến niềm tin đối với Đấng Tạo Hóa và Chân Lý. Vậy nên khi tôn giáo tách rời khỏi sự thật cơ bản này thi vai trò của nó chỉ còn mang ý nghĩa đạo đức mà sự vĩnh hằng - là ý niệm thời gian và Tạo Hóa - chỉ còn là sản phẩm vô nghĩa của trí tưởng tương của con người mà thôi.
Một tôn giáo đúng với bản chất của nó là phải quan tâm đến tình trạng xã hội của con người. Tôn giáo lo cả chuyện dưới đất và trên Thiên Đàng, trả lời cả câu hỏi về thời gian hữu hạn và vô hạn. Tôn giáo được tìm thấy khắp nơi trong không gian hai chiều, nó không chỉ kết nối con người với Thượng Đế mà còn kết nối giữa người với người và cả mỗi người với chính bản thân họ. Điều này có nghĩa sâu xa là Phúc Âm Kitô giáo là con đường hai chiều. Một mặt nó tìm cách làm thay đổi tâm hồn của con người, rồi đưa họ tới với Thượng Đế. Mặt khác, nó tìm cách làm thay đổi điều kiện môi trường sống của con người để họ có cơ hội tốt hơn sau khi bản thân đã có sự thay đổi. Nếu có tôn giáo nào tự xưng chỉ chăm lo cho linh hồn con người mà không quan tâm đến những khu ổ chuột họ ở, đến điều kiện kinh tế và xã hội đang bóp nghẹt và làm tê liệt họ là một tôn giáo khô khan và tẻ nhạt. Tôn giáo như vậy là thứ thuốc phiện ru ngủ con người mà người theo chủ nghĩa Mác- xít (Marxist) rất ưa.
Một thực tế đáng chú ý khác về cộng đồng người da đen ở Montgomery là sự thụ động rõ rệt của phần lớn người ít học. Dù luôn có một số người nổi dậy chống lại sự phân biệt, số đông vẫn chấp nhận nó mà không có sự phản đối rõ ràng. Họ không chỉ cam chịu sự phân biệt, họ chấp nhận cả sự chà đạp và sỉ nhục đi cùng với nó. Người tiền nhiệm của tôi tại Nhà thờ Baptist Dexter Avenue - mục sư Vernon Johns - có kể một sự kiện nói lên thái độ của người dân vào thời gian này. Một ngày nọ, ông lên xe buýt và ngồi trên chiếc ghế phía trước dành riêng cho người da trắng. Người tài xế xe buýt yêu cầu ông dời ra đằng sau,
Ông Johns từ chối. Tài xế ra lệnh cho ông xuống xe, một lần nữa ông từ chối cho đến khi người tài xế đồng ý trả lại tiền vé cho ông. Trước khi xuống xe, ông Johns đứng ở lối đi và hỏi những người da đen rằng có bao nhiêu người sẽ cùng theo ông rời khỏi xe buýt để phản đối. Không ai trả lời cả, dù chỉ một người. Vài ngày sau, khi ông trách một người phụ nữ ngồi trên xe buýt hôm đó vì không tham gia phản đối, cô ấy đã nhắc lại lời những người bạn hành khách khác như sau: “Ông phải nên hiểu rõ vấn đề hơn chứ”.
Một phần tính thụ động của người ít học, cũng giống như người có học, có thể là do sợ bị trả thù bằng kinh tế. Họ phụ thuộc vào cộng đồng da trắng nên không dám phản đối các bất công vì sợ mất công ăn việc làm. Nhưng có lẽ còn có nguyên nhân sâu xa hơn, đó là luôn luôn mặc cảm về sự thấp hèn của mình, cảm giác tự thấy mình thấp hèn đang gặm nhấm họ từng ngày khiến họ đánh mất lòng tự trọng. Nhiều người vô tình tự hỏi liệu họ có thực sự xứng đáng được hưởng cuộc sống tốt hơn không. Lý trí và tâm hồn của họ buộc phải quen với hệ thống phân biệt và họ đã tự điều chỉnh để thích nghi với cuộc sống đó. Đây là bi kịch cuối cùng của sự phân biệt. Nó không chỉ gây hại cho thể xác con người mà còn làm tổn thương tinh thần. Nó để lại vết sẹo trong tâm hồn, hạ thấp nhân cách. Nó gieo cho nạn nhân bị phân biệt một nhận thức sai lầm là mình thấp hèn, và làm cho những kẻ kỳ thị hiểu lầm là mình ưu việt. Hệ thống phân biệt đó dường như luôn luôn án ngữ trước mặt nạn nhân bị phân biệt với câu nói rằng: “mày thấp hèn hơn...”, “mày không bằng...” Hệ thống phân biệt là nguyên nhân gây nên phần lớn sự thụ động của những người da đen ở Montgomery.
Vì vậy, tôi thấy cộng đồng người da đen là nạn nhân của ba căn bệnh: chủ nghĩa phe phái giữa các nhà lãnh đạo, sự vô cảm của những người có học và sự thụ động của những người ít học. Tất cả những nguyên do này gần như đã thuyết phục tôi rằng không có cải cách xã hội lâu dài nào có thể đạt được ở Montgomery.
Tuy nhiên, dưới vẻ bề ngoài có vẻ bình yên, là một sự bất mãn ngấm ngầm. Những người như Vernon Johns và E. D. Nixon đã không mệt mỏi mang vấn nạn ra nói để kêu gọi lương tri của cộng đồng. Khi những người khác sợ nói, họ đã nói với lòng dũng cảm. Khi những người khác không dám đứng lên, họ đã đứng lên với sự can trường và quyết tâm.
Vernon Johns, Giám đốc Trung tâm Baptist bang Maryland, là một nhà truyền giáo xuất sắc với óc sáng tạo và một trí nhớ phi thường. Không có gì lạ khi ông ta trích dẫn văn học cổ điển và triết học trong nhiều giờ khi thuyết giảng mà không bao giờ xem bản thảo. Một người đàn ông không hề biết sợ hãi, ông không bao giờ im lặng khi nhìn thấy sự bất công xảy ra trước mắt. Khi ông còn là mục sư, hiếm có một chủ nhật nào khi giảng đạo mà ông không công kích sự tự mãn. Ông thường nhắc khéo cộng đoàn đừng kiêu căng vì có nhiều bằng cấp, vì vẫn còn điều mà bằng cấp không chứng nhận, đó là lòng tự trọng. Một trong những luận điểm cơ bản của ông là bất kỳ cá nhân nào nhẫn nhục chịu đựng bất công, sẽ thực sự không xứng đáng được hưởng sự công bằng hơn.
Johns thích làm nông trại và sống gần gũi với thiên nhiên. Ông cũng đồng ý với Booker T. Washington rằng “không chủng tộc nào có thể khá lên được cho tới khi nào họ biết coi trọng việc cày đất ngang với làm một bài thơ”. John cũng cảm thấy, như Washington đã thấy, rằng người da đen phải tự vươn lên khỏi thân phận thấp hèn bằng nỗ lực của chính họ. Một trong những cách tốt nhất để được như vậy là phải có cuộc sống kinh tế vững vàng. Ông cho rằng mức tiêu thụ cao so với khả năng sản xuất của người da đen là một bi kịch. Ông đã kiên trì kêu gọi người dân da đen ở Montgomery góp chung các nguồn lực kinh tế của họ lại. Kết quả là vào năm 1953, dưới ảnh hưởng của Johns, một vài cá nhân đã mạnh dạn thành lập Farm and City Enterprises - một siêu thị hợp tác lúc ban đầu đã phát triển thành một doanh nghiệp lớn mạnh. Đây là một thành tựu trong cộng đồng, mà sự thay đổi nói chung đã diễn ra vô cùng chậm chạp.
Cũng giống như Vernon Johns, E. D. Nixon luôn thù ghét sự bất công. Với khuôn mặt của người đàn ông da màu xám đen, tóc lốm đốm bạc, cao lớn, trông giống như một võ sĩ. Trong công việc thường ngày của ông là khuân vác ở các ga tàu hỏa, ông đã tiếp xúc gần gũi với tổ chức công đoàn. Ông từng là Chủ tịch cấp tiểu bang của NAACP và cũng từng là Hội trưởng của NAACP Chi hội Montgomery. Thông qua phương tiện này, E. D. Nixon đã can đảm đấu tranh cho các quyền của người dân, làm cho họ thức tỉnh và không còn vô cảm. Nhờ những nỗ lực của ông, hàng trăm người da đen đã mạnh dạn đăng ký đi bầu. Là một con người dũng cảm, ông trở thành một trong những tiếng nói quan trọng của cộng đông người da đen trong lĩnh vực dân sự. Ông là biểu tượng của niềm hy vọng và niềm khát vọng của những người bị đàn áp đã lâu của Bang Alabama.
Vì vậy, việc làm của những người như John và Nixon đã khơi mào cho một sự bất mãn âm thầm tựa như một đám cháy âm ỉ sẽ ngày càng tăng lên. Nó được nuôi dưỡng bằng sự sỉ nhục không ngừng và sự bất bình đẳng mà người da đen đã và đang phải chịu. Đây là những người đàn ông dũng cảm không hề sợ hãi đã tạo nên một bầu không khí cho cuộc cách mạng xã hội đang dần phát triển trong cái nôi của Liên minh.
Nhưng đến năm 1954, sự bất mãn này vẫn còn tiềm ẩn. Tại thời điểm đó, cả người da đen và người da trắng đều chấp nhận các mô hình phân biệt tinh vi như một thực tế không thể khác. Hiếm có một ai chống đối hệ thống này. Montgomery là một thị trấn dễ chịu, thậm chí nó còn được mô tả là một thị trấn yên bình. Nhưng sự yên bình đó được đánh đổi bởi cái giá của sự nô lệ quy phục của con người.
Nhiều tháng sau, một công dân da trắng có uy tín của Montgomery đã đến phản đối tôi:
“Bao nhiêu năm nay, chúng ta đã có được sự yên bình và mối quan hệ thuận hòa giữa hai chủng tộc ở đây. Tại sao ông và các cộng sự của ông lại đến phá vỡ truyền thống lâu năm này?”.
Câu trả lời của tôi rất đơn giản: “Thưa ngài”, tôi nói, “chưa bao giờ có hòa bình thực sự ở Montgomery. Chỉ có một loại hòa bình tiêu cực, trong đó người da đen thường chấp nhận tình trạng bị khinh khi. Đây không phải là sự yên bình thực sự. Yên bình thực sự không chỉ đơn thuần là sự vắng mặt của tình trạng căng thẳng, nó còn cần có sự hiện diện của công lý. Sự căng thẳng mà chúng ta thấy ở Montgomery hôm nay là sự căng thẳng cần thiết cho đến khi người bị áp bức chịu đứng lên để bắt đầu tiến tới một sự yên bình vĩnh viễn, tích cực”.
Tôi tiếp tục tự biện rằng đây là điều Chúa Jesus ngụ ý khi Ngài nói: “Tôi không đến để mang hòa bình, mà mang một thanh kiếm”. Chắc chắn Chúa Jesus không mang một thanh kiếm thật. Dường như Ngài muốn nói: “Tôi không đến để mang lại một hòa bình giả hiệu với sự thụ động chết người của nó. Tôi đến để nổi dậy chống lại một loại hòa bình như vậy. Bất cứ khi nào tôi đến, sẽ có một cuộc xung đột xảy ra giữa cái cũ và cái mới. Bất cứ khi nào tôi đến, công lý và bất công sẽ được tách bạch rõ ràng. Tôi đến để mang lại một hòa bình tích cực đại diện cho công lý, tình yêu và ngay cả Vương quốc của Thiên chúa”.
Sự hòa bình giữa hai chủng tộc tồn tại ở Montgomery không phải là hòa bình Kitô giáo. Đó là một thứ hòa bình ngoại giáo được đánh đổi bằng một cái giá quá lớn.
Một nơi mà hòa bình từ lâu đã bị lung lay là trên chính những chiếc xe buýt trong Thành phố, nơi mà người da đen bị sỉ nhục hàng ngày do bị phân biệt. Không có tài xế xe buýt người da đen, chỉ toàn người da trắng, và trong số đó có vài người rất lịch sự, còn lại đa phần đều lỗ mãng và bất lịch sự. Họ thường xuyên gọi người da đen là “Mỹ đen” “bò đen” và “khỉ đen”. Thường những người da đen trả tiền vé ở cửa trước, sau đó bị ép phải xuống xe và lên lại bằng cửa sau. Có nhiều lúc, mười xu tiền xe đã trả mà chưa kịp lên lại bằng cửa sau thì xe đã chạy đi.
Nhục nhã hơn nữa là người da đen bị buộc phải đứng trong khi ghế dành riêng cho người da trắng vẫn còn trống. Ngay cả khi xe buýt không có hành khách da trắng, người da đen vẫn bị lèn chặt trong phạm vi dành cho họ. Họ bị cấm ngồi trên bốn hàng ghế đầu tiên (có thể ngồi được mười người). Nhưng thực tế còn tệ hơn thế nữa. Nếu hành khách da trắng đã ngồi hết chỗ được dành riêng và lại có thêm những người da trắng khác tiếp tục lên xe, những người da đen ngồi trong phạm vi của mình tiếp ngay phía sau người da trắng được yêu cầu đứng lên để nhường chỗ cho người da trắng. Nếu có người da đen nào từ chối lùi lại phía sau, họ sẽ bị bắt. Hầu hết các trường hợp, những người da đen thường tuân phục mà không phản đối. Tuy nhiên, đôi khi vẫn có những người như Vernon Johns, ông đã dám từ chối.
Sau khi tôi đến được vài tháng, một nữ học sinh trung học mười lăm tuổi tên là Claudette Colvin bị lôi ra khỏi một chiếc xe buýt, bị còng tay và bị đem đi bắt giam vì cô từ chối nhường chỗ ngồi cho một hành khách da trắng. Sự tàn bạo này dường như làm dậy sóng cộng đồng người da đen. Mọi người đề nghị tẩy chay những chiếc xe buýt để phản đối. Vậy nên một ủy ban Công Dân được thành lập để đối thoại với người quản lý của Công ty xe buýt và ủy ban Thành phố, yêu cầu ra một tuyên bố về chính sách phân bố chỗ ngồi và đòi hỏi các tài xế phải lịch sự hơn.
Tôi được yêu cầu phục vụ trong ủy ban này. Chúng tôi gặp nhau vào một buổi chiều tháng Ba năm 1955 tại văn phòng của J. E. Bagley, quản lý của Montgomery City Lines, Công ty Phương tiện giao thông công cộng của Thành phố Montgomery. Lúc đó có cả Dave Birmingham là ủy viên cảnh sát, đại diện cho ủy ban Thành phố. Cả hai người đàn ông đều khá dễ chịu, và bày tỏ mỗi quan tâm sâu sắc về những gì đã xảy ra. Bagley thừa nhận rằng việc tài xế xe buýt bắt giữ cô Colvin là sai và hứa sẽ khiển trách anh ta. Ủy viên cảnh sát Birmingham đồng ý sẽ có luật sư Thành phố đưa ra tuyên bố rõ ràng về chính sách phân bố chỗ ngồi trên xe buýt của Thành phố. Chúng tôi rời cuộc họp với một niềm hy vọng tràn đầy trong tim, nhưng rồi không có gì xảy ra. Những màn nhục nhã cũ vẫn tiếp tục. Luật sư Thành phố vẫn chưa làm gì trong việc này và cô bé Claudette Colvin bị kết tội với một bản án treo.
Và thực tế, ủy ban Thành phố và Công ty xe buýt đã không có một hành động nào. Đó chính là nguyên nhân cho một điều gì đó bắt đầu manh nha. Những cảm giác oán giận dai dẳng của người da đen rốt cuộc đã bắt đầu bị khuấy động. Nỗi sợ hãi và sự thờ ơ đã từ lâu là cái bóng đen đeo đẳng đời sống của cộng đồng người da đen đang dần phai mờ nhường chỗ cho tinh thần can đảm và tự trọng. Sự bất tín của các quan chức Thành phố và Công ty xe buýt trong vụ Colvin sẽ khiến họ phải đối mặt với một ủy Ban khác của chúng tôi, một ủy ban quả cảm và kiên định hơn gấp ngàn lần trong vài tháng nữa. Cuộc họp tới đây họ sẽ phải đối mặt với một ủy ban được ủng hộ bởi những khát khao và ước vọng của gần năm mươi nghìn người, những người đã quá mệt mỏi để cuối cùng cũng thấy ra được rằng, đi bộ trên đường phố với lòng tự trọng vinh dự hơn là leo lên những chuyến xe buýt để đi trong sự nhục nhã.
Chương III
Cuộc bắt giữ quan trọng
Vào ngày 1 tháng 12 năm 1955, Rosa Parks, một người thợ may da màu có vẻ ngoài trông rất cuốn hút, bắt chuyến xe buýt trên Đại lộ Cleveland ở trung tâm Montgomery. Bà trở về nhà sau một ngày làm việc tại Montgomery Fair, một cửa hàng bách hoá lớn. Rã rời sau hàng giờ đồng hồ phải đứng, bà Parks ngồi xuống ghế đầu đằng sau khu ghế dành cho người da trắng. Ngồi được một lúc, người tài xế xe buýt ra lệnh cho bà cùng với ba vị hành khách da màu khác chuyển về phía sau để dành chỗ cho mấy hành khách da trắng đang lên xe. Lúc đó, chỗ ngồi trên xe vừa hết. Điều này có nghĩa, nếu bà Parks làm theo lời đề nghị của tên tài xế, bà sẽ phải đứng vì phải nhường ghế cho một nam hành khách da trắng vừa bước lên xe. Ba hành khách da màu còn lại không chần chừ làm theo yêu cầu của tài xế, còn bà Parks đã nhẹ nhàng từ chối. Kết quả là bà bị bắt.
Đã có nhiều phỏng đoán tại sao bà Parks lại không nghe theo gã tài xế. Nhiều người trong cộng đồng da trắng cho rằng bà được NAACP đưa ra để làm một phép thử, thoạt nghe cũng có lý vì bà đã từng là thư ký cho một chi nhánh địa phương của NAACP.
Lập luận này nghe vững chắc và hợp lý đến nỗi đã thuyết phục được nhiều phóng viẻn trên cả nước. Sau đó, khi tôi dự hợp báo ba lần trong một tuần nhằm trả lời phóng viên và nhà báo đến Montgomery từ khắp nơi trên thế giới, câu hỏi quen thuộc đầu tiên là: “Có phải NAACP đã khơi mào vụ tẩy chay xe buýt hay không?”
Nhưng lời cáo buộc này trở nên hoàn toàn vô căn cứ khi lời khai của bà Parks và nhân viên của NAACP được công bố. Thật ra, nếu hiểu “tức nước vỡ bờ” là gì chúng ta sẽ hiểu được hành động của bà Parks, đó như một lời kêu gào: “Tôi không thể chịu đựng thêm nữa” theo phản ứng tự nhiên của con người. Sự từ chối phải chuyển xuống ngồi ở phía sau xe buýt của bà Parks là một xác quyết mạnh mẽ rằng bà đã chịu đựng quá đủ rồi. Thái độ đó thể hiện một niềm khao khát bất diệt về phẩm giá và quyền tự do cho con người. Bà không phải được “đào tạo” và đưa đến từ NAACP hay bất kỳ tổ chức nào, mà là bà được nuôi dưỡng bởi chính phẩm cách đàng hoàng và lòng tự tôn của mình. Bà đã ngồi lì ở chỗ đó bởi sự phẫn nộ ở trong bà bị đè nén ngày này qua ngày khác, và bà có một niềm khát khao vô tận cho một thế hệ mai sau sẽ không phải chịu những gì như hôm nay bà đang phải chịu. Bà là nạn nhân của hoàn cảnh lịch sử và cả chính định mệnh của mình. Bà nổi như cồn bởi tư duy mang tinh thần của thời đại.
May mắn thay, bà Parks quả là một người lý tưởng để mang sứ mệnh lịch sử. Bà là một phụ nữ yêu kiều với nhân cách sáng ngời, có khiếu ăn nói và điềm tĩnh trong mọi tình huống. Tính cách của bà thật hoàn hảo và đầy nhiệt huyết muốn cống hiến. Tất cả những điều ấy gộp lại làm bà trở thành một trong những người đáng nể nhất trong cộng đồng người da đen.
Duy chỉ E.D. Nixon - người ký tên vào phiếu bảo lãnh tại ngoại cho bà Parks - cùng một hay hai người khác biết về cuộc bắt giữ xảy ra vào lúc chập tối ngày thứ Năm. Đến tối, thông tin đến tai một vài phụ nữ có tầm ảnh hưởng trong cộng đồng, hầu hết là thành viên của Hội đồng chính trị Phụ nữ. Sau khi trao đổi và thảo luận qua nhiều cuộc gọi điện thoại, họ đồng ý với nhau rằng người da màu nên tẩy chay xe buýt. Họ ngay lập tức đề nghị với Nixon và ông ấy tán thành ngay. Với cốt cách can đảm như thường lệ, ông đồng ý đứng ra thực hiện ý tưởng này.
Sáng sớm thứ Sáu, ngày 2 tháng 12, Nixon gọi cho tôi. Anh ta hăng hái đến nỗi quên nói “xin chào” như thường lệ mà đề cập thẳng vào vụ việc xảy ra với bà Parks tối hôm trước đó. Tôi lắng nghe và thực sự bị sốc khi anh ấy thuật lại sự kiện khổ nhục đó. “Chúng ta đã phải chịu đựng điều này quá lâu rồi”. Nixon kết luận với giọng run run, “Tôi cảm thấy đã đến lúc phải tẩy chay những chuyến xe buýt, chỉ có tẩy chay chúng thì ta mới có thể khẳng định với người da trắng rằng ta sẽ không chấp nhận kiểu đối xử như thế này thêm nữa”.
Tôi đồng tình ngay rằng phản đối là cần thiết, biện pháp tẩy chay là một cách làm hiệu quả.
Ngay trước khi gọi cho tôi, Nixon đã trao đổi ý tưởng này với Giám mục Ralph Abernathy, mục sư trẻ của Nhà thờ Baptist Đệ Nhất ở Montgomery (First Baptist Church còn gọi là nhà thờ Brick A Day, được xây năm 1866, là nhà thờ đầu tiên của người da đen ở Montgomery), người sắp trở thành một trong những nhân vật chủ chốt trong cuộc biểu tình, và là một trong số các đồng nghiệp thân thiết nhất của tôi. Abernathy cũng cảm thấy một cuộc tẩy chay xe buýt là giải pháp thượng sách. Vậy nên ba người chúng tôi đã gọi điện thảo luận với nhau trong ba mươi hay bốn mươi phút bàn về kế hoạch và chiến lược. Nixon đề nghị tổ chức một buổi họp có sự tham dự của tất cả mục sư và nhà lãnh đạo quần chúng ngay tối hôm đó để nghe ý kiến của họ về dự định này. Tôi đề nghị sử dụng nhà thờ của mình làm nơi diễn ra cuộc họp. Ba chúng tôi lập tức trở nên bận rộn. Với sự phê chuẩn của Giám mục H. H. Hubbard - Chủ tịch Liên minh Mục sư Baptist - tôi và Abernathy bắt đầu gọi điện cho tất cả các mục sư phái Tẩy Lễ (Baptist). Vì hầu hết các mục sư phái Giám Lý (Methodist) đều tham dự một cuộc họp giáo phái tại một trong số những nhà thờ địa phương vào chiều hôm đó nên Abernathy đã đồng thời thông báo được cho tất cả. Nixon đã đến gặp bà A. W. West - goá phụ của một nha sĩ nổi tiếng - và nhờ bà giúp báo tin cho các nhà lãnh đạo quần chúng.
Đến đầu giờ chiều, chuyện bà Parks bị bắt giữ được công chúng biết đến. Tin tức lan rộng đến các cộng đồng như ngọn lửa không thể kiểm soát. Điện thoại bắt đầu reo liên hồi không ngớt. Đến 2 giờ, một nhóm đầy nhiệt huyết đã in ra những tờ rơi về vụ bắt giữ và đề xuất một cuộc tẩy chay. Đến chiều thì chúng được truyền tay rộng rãi.
Giờ họp buổi tối đã đến, tôi đến trước cửa nhà thờ với tâm trạng lo lắng, tự hỏi không biết bao nhiêu trong số những nhà lãnh đạo sẽ hưởng ứng lời kêu gọi của chúng tôi. May mắn thay đó lại là một đêm đông ấm áp lạ thường. Thật nhẹ nhõm khi biết rằng hầu hết những người được mời đều có mặt. Hơn bốn mươi người với đủ mọi tầng lớp trong cộng đồng người da màu, đã lấp đầy hội trường lớn của nhà thờ. Tôi thấy có các bác sĩ, giáo viên, luật sư, doanh nhân, nhân viên bưu điện, lãnh đạo công đoàn, và các tu sĩ. Gần như mọi tổ chức của cộng đồng người da màu đều có mặt.
Nhiều nhất là những người từ Hội Thánh Chức Thiên Chúa giáo. Đã từng thất vọng tràn trề vì có nhiều buổi họp mà không có các vị mục sư tham dự, tôi đã rất hạnh phúc khi thấy rất nhiều vị trong số họ có mặt tại đây. Lúc đó tôi biết một điều không bình thường sắp xảy ra.
Nếu E. D. Nixon có mặt, anh ta có thể đã được chọn làm chủ trì cuộc họp, nhưng anh đã phải rời khỏi thành phố trước đó vào buổi chiều vì công việc tại ga tàu hỏa (vì ông làm nghề khuân vác) trên những con đường sắt như thường lệ. Vì vậy chúng tôi đã quyết định để Giám mục L. Roy Bennett - Chủ tịch Liên minh Mục sư đa giáo phái - ngồi vào vị trí đó. Ông đồng ý và ngồi xuống với thân hình cao lớn chiếm lĩnh căn phòng.
Cuộc họp diễn ra vào khoảng 7 giờ 30 với phần mở đầu bằng mấy phút cầu nguyện ngắn ngủi do Mục sư H. H. Hubbard hướng dẫn. Sau đó Mục sư Bennett vào thẳng vấn đề, giải thích mục đích của việc hội tụ tại đây. Cùng với dáng vẻ đầy xúc cảm, Mục sư kể lại vụ bà Parks phản kháng và bị bắt giữ. Mục sư trình bày đề nghị rằng cư dân da màu của Montgomery nên phản kháng bằng một cuộc tẩy chay xe buýt vào thứ Hai. “Bây giờ đã đến lúc phải hành động”, ông quả quyết, “Đây không còn là lúc để nói mà là lúc để làm”.
Mục sư Bennett đã rất nghiêm túc khi cảnh cáo “không còn là lúc để nói” đến nỗi Mục sư không cho phép ai ý kiến hay thậm chí thắc mắc trong một hồi lâu, và Mục sư yêu cầu tiến hành bổ nhiệm Ban Chấp Hành để triển khai kế hoạch. Đến lúc này hầu như đa số những người có mặt đều phản đối làm náo động cả cuộc họp lên. Sự hỗn loạn kéo dài gần bốn mươi lăm phút. Người ta lớn tiếng, và nhiều người còn cảnh báo sẽ ra về nếu họ không được đề xuất ý kiến hay đặt câu hỏi. Có lúc cảm tưởng như thể cuộc vận động chiến dịch này sẽ đã kết thúc trước khi bắt đầu. Nhưng cuối cùng, Mục sư Bennett đã nhượng bộ cho mọi người góp ý kiến khi thấy mọi người quá bất bình.
Ngay lập tức các câu hỏi bắt đầu được đưa ra. Nhiều người muốn hiểu rõ hơn hành động cũng như việc bắt giữ bà Parks. Rồi sau đó là những câu hỏi thiết thực hơn. Cuộc phản kháng sẽ kéo dài bao lâu? Ý tưởng sẽ được phổ biến như thế nào trong cộng đồng? Người ta sẽ làm sao để đi đến chỗ làm việc và trở về nhà?
Trong lúc lắng nghe trực tiếp cuộc thảo luận, chúng tôi rất phấn khởi khi thấy rằng, mặc dù buổi họp có hơi rời rạc, nhưng không có ai hỏi về tính hợp lệ hay triển vọng của cuộc tẩy chay. Có vẻ như tất cả đều nhất trí rằng cần thực hiện cuộc tẩy chay.
Các vị mục sư thông qua kế hoạch với lòng nhiệt tình đáng quý, và hứa sẽ về cộng đoàn vào sáng Chủ nhật và rồi đã quay lại với kết quả tích cực cho kế hoạch tẩy chay nguyên một ngày. Sự hợp tác của họ rất quan trọng, vì gần như tất cả mục sư da màu có tiếng của Thành phố đều ở đó. Chúng tôi quyết định tổ chức một buổi họp hoành tráng với phạm vi toàn Thành phố vào đêm thứ Hai, ngày 5 tháng 12 để xác định thời gian không đi xe buýt là bao lâu. Mục sư A.W.Wilson của Nhà thờ Baptist Phố Holt cho mượn nhà thờ của ông vì ở đó có phòng họp rộng rãi và nằm ở vị trí trung tâm. Cả nhóm đồng tình rằng cần thêm tờ rơi để phát vào thứ Bảy, và vị Chủ tịch đã bổ nhiệm một Ban Tổ chức, trong đó có tôi, để chuẩn bị ra lời kêu gọi.
Ban Tổ chức chúng tôi bắt tay vào việc trong khi buổi họp vẫn đang diễn ra. Thông điệp cuối cùng ngắn hơn so với nội dung in trên mấy tờ rơi đầu tiên, nhưng đại ý thì vẫn vậy. Cụ thể như sau:
Đừng đi xe buýt đến công sở, vào thành phố, đến trường, hay bất kỳ đâu vào thứ Hai, ngày 5 tháng 12.
Một người phụ nữ da màu nữa đã bị bắt giữ và bỏ tù vì cô ấy từ chối nhường lại chỗ ngồi.
Đừng đi xe buýt đến công sở, vào thành phố, đến trường, hay bất cứ đâu vào thứ Hai. Nếu đi làm hãy đi taxi, hoặc là đi nhờ xe, hoặc là đi bộ.
Hãy đến tham dự buổi họp lớn vào thứ Hai lúc 7 giờ tối, tại Nhà thờ Baptist Phố Holt để được hướng dẫn thêm.
Sau khi soạn xong, Ban Tổ chức bắt đầu sao ra thành nhiều bản bằng máy in rô-nê-ô. Nhưng vì đã muộn nên tôi tình nguyện đảm nhiệm hoàn thành công việc vào sáng sớm thứ Bảy.
Câu hỏi cuối trong cuộc họp là về phương tiện đi lại. Mọi người thống nhất dùng xe taxi của mấy công ty taxi của người da màu trong Thành phố với cước phí bằng giá vé xe buýt. Có 18 công ty với khoảng 210 chiếc taxi. Một ủy ban được bổ nhiệm để liên lạc với họ và với Mục sư W. J. Powell của Nhà thờ Old Ship A.M.E Zion lãnh vai trò chỉ đạo.
Với nhiệm vụ trên vai, sau khi buổi họp khép lại chúng tôi ra về với một ý tưởng lớn cháy bỏng trong tim. Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ. Đồng hồ trên tường đã điểm gần nửa đêm, nhưng trong tâm hồn chúng tôi thì bình minh đang đến.
Tôi đã phấn khích đến nỗi chỉ ngủ một chút đêm hôm đó, và sáng sớm hôm sau lên đường đến nhà thờ để lo vụ chuyển tờ rơi ra ngoài. Đến 9 giờ thì thư ký nhà thờ in xong 7.000 tờ rơi, và đến 11 giờ thì cả một đội quân gồm phụ nữ và thanh niên đã tự tay mang chúng đi phân phát.
Những người phụ trách việc liên lạc với những công ty taxi phải làm việc vào đầu giờ chiều thứ Bảy. Họ rất cần mẫn, đến chiều tối họ đã liên lạc được hết và hớn hở báo cáo rằng các công ty này đều nhất trí hợp tác với chúng tôi trong cuộc tẩy chay xe buýt sắp tới, bằng cách đưa đón hành khách đi và về từ nhà đến chỗ làm việc chỉ với giá bằng một vé xe buýt 10 xu thông thường.
Trong khi đang nỗ lực tìm cách truyền tải thông tin đến khắp mọi người trong cộng đồng người da màu thì chúng tôi lại được tiếp tay một cách không ngờ. Một cô hầu gái đọc chưa thạo nhận được một trong số những Lời kêu gọi không có chữ ký phát ra chiều thứ Sáu. Có lẽ như vì chẳng hiểu tờ rơi nói gì, cô đưa nó cho người chủ. Ngay khi vị chủ da trắng nhận được, bà đã gửi nó đến tòa soạn địa phương và tờ báo Montgomery Advertiser đã đưa nội dung tờ rơi lên trang nhất số báo buổi sáng thứ Bảy. Tờ Advertiser rõ ràng muốn đưa tin câu chuyện này để cho cộng đồng da trắng biết được điều người da màu đang dự định làm, nhưng rốt cuộc lại trở thành gậy ông đập lưng ông, vì việc này đã vô tình đưa thông tin đến hàng trăm người chưa từng nghe về kế hoạch đó. Đến chiều Chúa nhật thì nó đã lan đến tai hầu hết mọi người dân da màu tại Montgomery, trừ một số người sống ở vùng sâu vùng xa.
Sau một ngày vất vả, tôi về nhà lúc chiều muộn Chúa nhật và ngồi đọc tờ báo buổi sáng. Đã có một bài viết dài về cuộc tẩy chay sắp tới. Tôi nhận ra được ngụ ý xuyên suốt bài báo là ý tưởng về cách thức tiếp cận giải quyết vấn đề mà những người da màu đang chuẩn bị áp dụng tương tự như cách mà các Hội đồng Công Dân Da Trắng đã dùng. Sự ví von nêu ra những nét tương đồng mang ẩn ý rất đáng sợ. Hội đồng Công Dân Da Trắng là một tổ chức ra đời ở Mississippi vài tháng sau khi Nghị quyết về trường học (với nội dung cho việc chia trường học công lập theo chủng tộc là vi hiến) do Toà án Tối Cao công bố nhằm để duy trì sự phân biệt. Hội đồng đã được nhân rộng nhanh chóng khắp miền Nam, mục đích của họ là mượn những thủ thuật pháp lý “can thiệp” và “vô hiệu hóa” những luật lệ bất lợi đối với sự phân biệt chủng tộc (dùng luật để lái luật). Tuy nhiên, không may thay, những hành động của một số Hội đồng này đã vượt quá giới hạn của pháp luật. Cách chúng thực hiện chính là các phương pháp khủng bố công khai và bí mật, sự hăm dọa tàn bạo, và những đe dọa về nạn đói đối với những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em da màu. Chúng tẩy chay kinh tế để trừng phạt người da trắng nào đã dám phản đối việc làm bất chấp luật pháp của chúng, và mục đích tẩy chay của chúng không chỉ đơn thuần để đánh gục mà còn là tiêu diệt họ nếu có thể.
Khó chịu vì việc vận động của chúng tôi bị đánh đồng với giải pháp tẩy chay của các Hội đồng Công Dân Da Trắng, lần đầu tiên tôi phải suy nghĩ nghiêm túc về tính chất của cuộc tẩy chay. Từ trước tới giờ tôi chỉ nghĩ một cách đơn giản rằng đây là giải pháp tốt nhất. Còn giờ đây, những đắn đo nhất định khiến tôi không thể yên lòng. Liệu giải pháp chúng tôi đang theo đuổi có đạo đức hay không? Có phải biện pháp tẩy chay về cơ bản là trái với đạo Đấng Ki tô? Chẳng phải đây là một cách xử lý tiêu cực hay sao? Có đúng là chúng tôi sắp theo vết xe đổ của mấy Hội đồng Công Dân Da Trắng hay không? Thậm chí nếu một cuộc tẩy chay như thế này có mang đến được kết quả thiết thực lâu dài, thì liệu những mục đích cao đẹp này có biện minh cho những hành vi vô đạo đức? Từng câu hỏi một đều cần những lời giải đáp chân thật từ lương tâm.
Tôi đã ngộ ra rằng có thể dùng phương thức tẩy chay để đạt được mục đích vô đạo đức và trái với đạo làm người. Thậm chí tôi phải công nhận rằng biện pháp này được các Hội đồng Công Dân Da Trắng thường xuyên sử dụng để tước đoạt những nhu cầu cơ bản trong đời sống nhiều người da màu, và cả những người da trắng tử tế. Nhưng tôi tự quả quyết rằng động thái sắp tới của chúng tôi không thể giải thích như thế. Mục đích của hai bên là hoàn toàn khác nhau, chúng tôi định dùng cách này để đem lại sự bình đẳng và tự do, đồng thời khuyến khích người dân tuân thủ luật pháp về đất đai, còn Hội đồng Công Dân Da Trắng dùng nó để kéo dài sự thống trị của bất bình đẳng và lao dịch, và xúi người ta làm ngược lại Luật đất đai. Vì vậy tôi kết luận rằng, nếu dùng từ “tẩy chay” để nói về mục đích của chúng tôi khi làm việc này là hoàn toàn chưa chính xác. Một cuộc tẩy chay làm nền kinh tế bị suy kém, đẩy một bên mắc kẹt vào xu thế ngày càng tồi tệ. Nhưng chúng tôi thì quan tâm đến xu hướng tích cực, xây dựng những điều tốt đẹp hơn. Mối quan tâm của chúng tôi không phải là làm sao để Công ty xe buýt bị phá sản, mà là mang đến công lý trong kinh doanh.
Nghĩ sâu xa hơn, tôi thấy những gì chúng tôi đang làm là không hợp tác với một hệ thống xấu xa, chứ không phải là ngừng hỗ trợ kinh tế đối với Công ty xe buýt. Doanh nghiệp xe buýt, là một phần của hệ thống ấy, đương nhiên sẽ gặp khó khăn, nhưng mục tiêu cơ bản là để từ chối bắt tay với cái ác. Đến đây tôi nhớ lại bài luận của Thoreau, “Bất tuân dân sự”. Tôi còn nhớ như in khi còn là một sinh viên đại học, tôi đã xúc động khi lần đầu tiên đọc bài này. Tôi càng tin chắc rằng, việc chúng tôi chuẩn bị thực hiện ở Montgomery có liên quan đến điều Thoreau đã từng viết. Chúng tôi chỉ muốn nói với cộng đồng người da trắng rằng: “Chúng tôi không thể tiếp tay cho một hệ thống xấu xa thêm lần nào nữa”.
Chợt một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi: “Kẻ im lặng trước cái ác cũng coi như kẻ tiếp tay cho nó. Kẻ chấp nhận cái ác mà không phản đối lại cũng đồng nghĩa đang đứng về phía nó”. Khi những người bị áp bức cam tâm chấp nhận sự bất công thì họ đang trao cho kẻ áp bức điều kiện thuận lợi để tung hoành. Kẻ áp bức thường không chịu từ bỏ những hành động xấu xa của mình miễn là người chịu bóc lột còn chấp nhận điều ấy. Vậy nên, để không phải hổ thẹn với lương tâm của bản thân và với Chúa, người chính trực chỉ có một cách duy nhất là từ chối hợp tác với một hệ thống gian ác. Tôi cảm giác đây mới là bản chất thật sự của hành động của chúng tôi. Từ giây phút này trở đi tôi quan niệm động thái của chúng tôi là một hành động mang tính bất hợp tác ở quy mô lớn. Từ đó trở đi tôi hiếm khi dùng từ “tẩy chay”.
Mệt mỏi, nhưng không còn hoài nghi về tính nhân văn của cuộc đấu tranh sắp tới, thì trời đã tối lúc nào không hay. Gác điện thoại sau mấy cuộc gọi, tôi vừa đặt lưng xuống giường thì cô con gái hai tuần tuổi nhà tôi - Yolanda Denise - bật khóc, và sau đó không lâu điện thoại lại đổ chuông. Bị buộc phải thức lâu hơn một chút, tôi dành chút ít thời gian để suy nghĩ về vài chuyện khác. Hai vợ chồng tôi đã bàn về khả năng thành công của cuộc biểu tình. Thẳng thắn mà nói, tôi vẫn hoài nghi. Mặc dù thông tin đã lan rộng đến không ngờ và mấy vị mục sư đã cung cấp những hỗ trợ thiết yếu, tôi vẫn tự hỏi liệu người ta có đủ can đảm để kiên trì đến cùng hay không. Tôi đã chứng kiến rất nhiều công cuộc đáng ngưỡng mộ bị thất bại ở Montgomery. Làm sao chuyện này có thể ngoại lệ được? Cuối cùng Coretta và tôi nhất trí rằng, nếu ta tập hợp được lực lượng đến 60% thì cuộc biểu tình này sẽ thắng lợi.
Khoảng nửa đêm, một người trong Ban Tổ Chức gọi điện thông báo cho tôi rằng các công ty taxi của người da màu ở Montgomery đều đã đồng ý hỗ trợ cho cuộc biểu tình vào sáng thứ Hai. Mặc cho triển vọng thành công của chúng tôi là nhiều hay ít, tôi đã được cổ vũ nhiệt tình bằng những gì các mục sư và lãnh đạo quần chúng đã kiên trì thực hiện. Riêng việc này đã là một thành tích đặc biệt.
Sau cuộc gọi nửa đêm đó, điện thoại không còn reo nữa. Vài phút trước đó thì “Yoki” đã dừng khóc. Tôi chúc Coretta ngủ ngon với cái giọng mệt lả và chìm vào giấc nồng với mớ hỗn độn của hy vọng và băn khoăn.
Chương IV
Ngày lịch sử, 5 tháng mười hai
Sáng thứ Hai, tôi cùng vợ mình thức dậy sớm hơn bình thường. 5 giờ 30 chúng tôi đã dậy và ăn mặc gọn gàng. Ngày bắt đầu sự phản kháng đã đến, và chúng tôi phải được chứng kiến màn đầu của câu chuyện sắp sửa diễn ra này. Lúc này tôi vẫn cho rằng nếu sự kiện mạo hiểm này đạt được 60% tỷ lệ tham gia thì xem như đã thành công.
May mắn thay, có một trạm xe buýt nằm cách nhà chúng tôi chỉ 1 mét rưỡi, chúng tôi có thể quan sát màn đầu tiên từ cửa sổ nhà mình. Chiếc xe buýt đầu tiên thường sẽ đi ngang qua vào khoảng 6 giờ sáng. Chúng tôi chờ đợi tầm khoảng nửa tiếng mà tưởng chừng như dài vô tận. Tôi đang uống cà phê trong bếp thì nghe thấy Coretta kêu lên, “Martin, Martin, đến đây nhanh lên!” Tôi đặt ly xuống và chạy ra phòng khách. Khi tôi đến gần cửa sổ thì Coretta hồ hởi chỉ tay vào một chiếc xe buýt đang chậm chạp lăn bánh: “Anh ơi, nó trống không!” Tôi gần như không thể tin vào mắt mình. Tôi biết rằng chiếc xe đang đi ngang qua nhà chúng tôi thuộc tuyến South Jackson, là tuyến xe chuyên chở nhiều hành khách da đen hơn bất kỳ tuyến xe nào khác tại Montgomery, và chuyến xe đầu tiên trong ngày thường sẽ chở đầy những người giúp việc đến chỗ làm. Liệu tất cả những chuyến xe buýt còn lại cũng sẽ cứ thế giống y như chuyến đầu tiên? Hồi hộp, chúng tôi chờ đợi chuyến xe tiếp theo. Sau mười lăm phút, nó xuất hiện trên đường, và cũng như chuyến đầu tiên trống không. Chuyến xe buýt thứ ba xuất hiện, và lần này cũng vậy, nó trống không chỉ trừ hai hành khách người da trắng.
Tôi nhảy vào xe hơi của mình và dành gần cả một tiếng đồng hồ rảo quanh từng con đường chính và quan sát từng chiếc xe buýt đi ngang qua. Trong một giờ đó, là giờ cao điểm của giao thông buổi sáng, tôi chỉ thấy không hơn tám người da đen ngồi trên những chiếc xe buýt. Lúc này tôi cảm thấy một niềm vui hân hoan trong lòng. Thay vì tỉ lệ 60% tham gia mà chúng tôi mong đợi, mọi thứ đang cho thấy dường như chúng tôi đã đạt được gần 100%. Một phép màu đã xảy ra. Cộng đồng người da đen trước đây đã từng ngủ vùi và im lặng giờ đã hoàn toàn thức tỉnh.
Cứ thế trình trạng ấy kéo dài suốt cả ngày. Vào giờ cao điểm lúc xế chiều, những chiếc xe buýt vẫn vắng bóng hành khách người da đen như buổi sáng. Những sinh viên của trường Đại học Alabama State thường lấp đầy các xe buýt tuyến South Jackson, đang vui vẻ đi bộ hoặc xin đi nhờ. Nhân viên công chức thì chọn các phương tiện di chuyển khác hoặc đi bộ đến chỗ làm. Trong khi một vài người chọn đi taxi hoặc tự lái xe, những người khác dùng những phương tiện ít thông dụng hơn. Có những người đàn ông đã cưỡi la đi làm, và cả xe ngựa cũng thấy lác đác vài chiếc trên các con đường của Montgomery vào ngày hôm đó.
Vào những giờ cao điểm, rất nhiều những người lao động tay chân và người giúp việc đi bộ trên vỉa hè. Nhiều người trong số họ đã ngoài trung niên, cần mẫn cất bước đi làm rồi lại cất bước về nhà, đôi khi quãng đường có thể lên đến mười hai dặm (gần 20km). Họ hiểu vì sao họ phải đi bộ, sự nhận thức đó được thể hiện qua thái độ của họ khi bước đi. Và trong khi quan sát họ, tôi nhận ra rằng không có gì cao quý hơn lòng quả cảm của những cá nhân sẵn sàng nếm trải khổ cực và hy sinh vì tự do và nhân phẩm của họ.
Nhiều người bàng quan đã tụ tập tại các trạm xe buýt để theo dõi những gì đang diễn ra. Ban đầu họ đứng im lặng quan sát, nhưng khi ngày dần trôi qua, trông thấy những chiếc xe buýt trống không, họ bắt đầu reo hò, cười và pha trò. Người ta có thể nghe thấy tiếng của những đứa trẻ náo nhiệt hát “Hôm nay không có hành khách”. Theo đuôi mỗi chiếc xe buýt đi qua khu vực của người da đen là hai cảnh sát đi hai chiếc mô tô. Họ được phân công bởi các ủy viên Thành phố, những người đã rêu rao rằng do những “băng đảng du côn” da đen đã tổ chức khủng bố để ngăn chặn những người da đen khác đi xe buýt. Trong ngày đó cảnh sát đã bắt giữ một trường hợp, là một sinh viên đang giúp một phụ nữ lớn tuổi băng qua đường đã bị buộc tội “đe dọa hành khách”. Nhưng những “băng đảng du côn” chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng của ủy ban Thành phố. Không có ai bị đe dọa hay khủng bố vì đi xe buýt cả, nếu có ai phải chịu bất kỳ áp lực nào, thì nó đến từ chính lương tâm của người đó.
Vào khoảng 9 giờ 30 sáng tôi, không theo dõi những hoạt động trên đường phố nữa mà đi về hướng đám đông tại tòa vi cảnh (xét xử các tội phạm nhỏ, ít nghiêm trọng). Tại đây bà Parks đang bị xét xử vi tội vi phạm luật lệ phân biệt chủng tộc của Thành phố. Luật sư của bà, Fred D. Gray - một người da đen trẻ tuổi tài năng, người sau này đã trở thành cố vấn chính cho phong trào biểu tình - đã có mặt và sẵn sàng bào chữa cho bà. Sau khi Thẩm phán nghe lập luận của các bên, ông kết luận bà Parks có tội và phạt bà mười đô la cộng thêm án phí (tổng cộng là mười bốn đô la). Bà đã kháng cáo phán quyết này. Đây là một trong những trường hợp công khai đầu tiên mà người da đen bị kết án vì bất tuân Luật phân biệt đối xử. Trước đây, những trường hợp như vậy thường bị bỏ qua hoặc những người trong cuộc sẽ bị phạt vì hành vi gây mất trật tự. Vì vậy, phải nhìn nhận một thực tế là việc bà Parks bị bắt và kết án có đến hai tác động: nó thúc đẩy những người da đen phải hành động tích cực; và nó là phép thử tính hiệu lực của đạo luật phân biệt đối xử. Tôi chắc rằng những người ủng hộ cho những cuộc khởi tố như thế này sẽ hành động khác đi nếu họ biết nhìn xa hơn sự việc đang diễn ra ngày hôm nay.
Trở về từ phiên tòa của bà Parks, Ralph Abernathy, E. D. Nixon, và Giám mục E. N. French - lúc bấy giờ đang là mục sư của Nhà nguyện Hilliard A. M. E. Nhà thờ Zion - đã bàn bạc với nhau về sự cần thiết phải có một tổ chức để hướng dẫn và định hướng cho cuộc biểu tình. Tính đến thời điểm này thì mọi việc diễn ra chủ yếu là tự phát. Những người đàn ông này đủ khôn ngoan để thấy rằng phong trào đã đến lúc cần phải có kế hoạch và phương hướng rõ ràng hơn.
Vào lúc 3 giờ chiều, Roy Bennett đã mời nhiều người tới để lên kế hoạch cho buổi họp mặt quần chúng vào buổi tối. Mọi người có mặt đều phấn khởi trước sự thành công to lớn của cuộc phản kháng. Nhưng đằng sau niềm vui này là câu hỏi chúng ta sẽ làm gì tiếp theo? Khi E. D. Nixon báo cáo về cuộc thảo luận với Abernathy và French trước đó, họ quyết định đưa ra đề nghị thành lập một tổ chức chuyên trách và được mọi người hưởng ứng ngay. Công việc tiếp theo là bầu ra những thành viên cho tổ chức mới này.
Ngay khi Bennett vừa tuyên bố bắt đầu đề cử ứng cử viên cho vị trí Chủ tịch, Rufus Lewis ngồi ở một góc khuất trong phòng đã lên tiếng: “Ngài Chủ tọa, tôi muốn để cử mục sư M. L. King làm Chủ tịch”. Để nghị này được chấp nhận và thông qua, và chỉ trong vài phút mọi người đã thống nhất bầu tôi làm Chủ tịch.
Tôi đã không ngờ đến điều này. Nó xảy ra quá nhanh đến nỗi tôi không có thời gian để cân nhắc sự việc một cách thấu đáo. Nếu có thời gian để suy nghĩ rất có thể tôi sẽ từ chối để cử này. Mới ba tuần trước đó, nhiều thành viên của chi nhánh NAACP tại địa phương đã khuyến khích tôi tranh cử vị trí Chủ tịch của tổ chức này. Họ đảm bảo rằng tôi chắc chắn sẽ đắc cử. Sau khi bàn bạc vấn đề này với vợ mình, chúng tôi thống nhất rằng tôi không nên nhận bất cứ trọng trách cộng đồng nào, bởi vì tôi chỉ mới vừa hoàn thành luận văn, tôi cần phải dành nhiều sự quan tâm hơn đến công việc tại nhà thờ của mình. Nhưng lần này mọi thứ diễn ra quá nhanh.
Việc bầu cử các vị trí còn lại được hoàn thành nhanh chóng: mục sư L. Roy Bennett - Phó Chủ tịch; mục sư u. J. Field - Thư ký; mục sư E. N. French, - Đặc trách Thông tin; Bà Erna A. Dungee - Phụ trách Tài chính; Ông E. D. Nixon - Thủ quỹ. Từ đó mọi người thống nhất những người này là thành viên Ban Điều hành của tổ chức mới. Ban Điều hành này sẽ đóng vai trò điều phối toàn bộ phong trào. Đây là một nhóm đa dạng và cân bằng về thành phần, bao gồm mục sư của tất cả các giáo phái, giáo viên dạy học, doanh nhân và hai luật sư.
Tổ chức mới cần có một cái tên, và rất nhiều tên đã được đề nghị. Có người đề nghị lấy tên là ủy ban Công Dân Da Đen, nhưng bị từ chối vì nó quá giống với Hội đồng Công Dân Da Trắng. Những đề nghị khác lần lượt được đưa ra nhưng đều bị bác bỏ cho đến khi Ralph Abernathy đề nghị một cái tên mà ai cũng đồng ý - Hiệp hội Cải cách Montgomery.
Tạm gác lại những vấn đề về tổ chức, chúng tôi chuyển sang cuộc thảo luận chính của buổi họp mặt. Nhiều người không muốn phóng viên biết được những chương trình hành động của chúng tôi nên đề nghị mọi người chỉ nên hát và cầu nguyện. Nếu có kế hoạch nào đó cần phổ biến cho mọi người, thì có thể in ra và phân phát cho từng người một cách bí mật ngay trong cuộc họp. Họ cho rằng việc này sẽ che mắt được các phóng viên. Những người khác kêu gọi mọi người nên giữ bí mật danh tính thật sự của những người lãnh đạo để đảm bảo an toàn cho tất cả những người có liên quan. Sau một cuộc bàn luận khá dài, E. D. Nixon nóng lòng bật dậy.
“Chúng ta đang hành xử như những đứa trẻ con vậy” ông nói, “Một trong chúng ta phải công khai danh tính thôi, và nếu điều đó làm chúng ta run sợ thì tốt nhất là nên kết thúc mọi thứ ngay tại đây. Chúng ta phải có đủ dũng khí để thảo luận những đề nghị của mình một cách công khai. Ý tưởng lén lút truyền đi một điều gì đó được in trên giấy thật là vớ vẩn. Những người da trắng cuối cùng rồi cũng sẽ biết được đó là gì thôi. Tốt hơn là chúng ta nên quyết định ngay lúc này là mình sẽ hành động như những người đàn ông gan dạ hay những cậu bé nhút nhát”.
Với lời phát biểu thẳng thừng này, không khí cuộc họp đã được giải tỏa. Không còn ai muốn đưa ra để nghị che giấu danh tính và tránh né đương đầu với mọi vấn đề nữa. Sự động viên can trường của Nixon đã trao dũng khí cho những người sắp bị nỗi sợ đánh gục.
Mọi người nhất trí rằng cuộc biểu tình nên tiếp tục cho đến khi một số yêu cầu nhất định được đáp ứng. Một ủy ban với Chủ nhiệm là Ralph Abernathy sẽ soạn ra những yêu cầu này dưới dạng một giải pháp và trình bày chúng trong buổi tối họp mặt quần chúng để thông qua. Chúng tôi thực hiện phần còn lại của chương trình một cách nhanh chóng. Bennett chủ trì cuộc họp và tôi sẽ đưa ra lời phát biểu chính. Một vài diễn giả khác sẽ đưa ra lời nhận xét, cùng với việc đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, hát Thánh ca, và quyên góp, như vậy là hoàn thành xong chương trình.
Ngay lập tức ủy ban Giải Pháp đã bắt tay vào việc soạn thảo Bản Tuyên Bố. Mặc dù hài lòng về sự thành công của cuộc phản kháng, chúng tôi vẫn còn cảm thấy lo ngại. Liệu những buổi họp mặt quần chúng vào các buổi tối sau này có được mọi người tham dự đầy đủ không? Liệu chúng tôi có thể tin rằng nghị lực và nhiệt tình của cộng đồng da đen sẽ tiếp tục tồn tại sau khi trải qua một ngày đầy thử thách như vậy không? Có người đã đề nghị có lẽ chúng tôi nên cân nhắc quyết định tiếp tục phản kháng. “Chẳng phải sẽ tốt hơn sao”, người đó nói, “nếu chúng ta kết thúc cuộc phản kháng khi nó vẫn còn là một thành công còn hơn là để nó kéo dài một vài ngày nữa rồi tắt ngúm? Chúng ta đã chứng minh được với cộng đồng người da trắng sức mạnh của chúng ta khi mọi người đoàn kết lại. Nếu chúng ta dừng lại lúc này, các công ty xe buýt sẽ phải chấp nhận bất cứ thứ gì chúng ta muốn, đơn giản bởi vì họ sẽ cho rằng chúng ta có khả năng để lặp lại tình trạng đó một lần nữa. Nhưng nếu chúng ta tiếp tục, mà phần lớn mọi người trở lại sử dụng xe buýt vào ngày mai hay hôm sau đó, người da trắng sẽ cười nhạo chúng ta, và rồi chúng ta sẽ không đạt được gì cả”. Lập luận này có tính thuyết phục quá cao đến mức chúng tôi suýt nữa đã quyết định chấm dứt cuộc phản kháng. Nhưng cuối cùng chúng tôi thống nhất để cho cuộc họp mặt quần chúng - chỉ còn khoảng một giờ nữa là bắt đầu - quyết định điều này. Nếu buổi họp mặt có đông người tham dự và họ đến dự với trạng thái nhiệt tình, chúng tôi sẽ tiếp tục; còn không chúng tôi sẽ tuyên bố dừng cuộc phản kháng vào đêm đó.
Tôi trở về nhà lần đầu tiên trong suốt ngày hôm đó kể từ khi ra khỏi nhà vào lúc 7 giờ sáng, và thấy Coretta đang nằm nghỉ ngơi sau một ngày dài tiếp điện thoại trong không khí phấn khởi chung. Sau khi chúng tôi kể cho nhau nghe về những gì đã xảy ra trong ngày lịch sử này, tôi nói với cô ấy một cách dè dặt vì không biết cô ấy sẽ phản ứng ra sao, rằng tôi đã được bầu làm Chủ tịch của một tổ chức mới. Đáng lẽ tôi không nên lo lắng đến thế. Tuy bị bất ngờ, nhưng rồi cô vẫn thấu hiểu rằng trọng trách này đã chọn tôi, tôi không còn cách nào khác ngoài việc chấp nhận nó. Không cần ai nói cô cũng biết điều này có nghĩa là thời gian chúng tôi ở bên nhau sẽ ít hơn, và cô cũng không bận tâm trước những hiểm nguy rình rập xung quanh chúng tôi khi tôi lãnh trách nhiệm mới này. “Anh biết không”, cô ấy nói khẽ, “bất kể việc gì mà anh quyết định làm, em đều sẽ ủng hộ anh”.
An lòng, tôi đi vào phòng làm việc và đóng cửa lại. Thời gian lúc này trôi qua thật nhanh. Giờ đã là 6 giờ 30 và tôi phải rời khỏi nhà muộn nhất là vào 6 giờ 50 để đến buổi họp mặt. Điều này có nghĩa là tôi chỉ còn hai mươi phút để chuẩn bị cho bài phát biểu quan trọng nhất trong đời mình. Khi tôi nghĩ đến khoảng thời gian ít ỏi còn lại và thông điệp mà bài phát biểu này phải đưa ra, nỗi sợ bắt đầu xâm chiếm tôi. Mỗi tuần tôi cần ít nhất mười lăm giờ để chuẩn bị cho bài giảng chúa nhật của mình. Giờ đây tôi phải chuẩn bị trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi bài phát biểu sẽ định ra phương hướng cho mọi người, những con người tràn đầy ước mơ công lý mới. Tôi cũng biết rõ rằng những phóng viên báo chí và đài truyền hình sẽ có mặt, chờ đợi để ghi lại những lời nói của tôi và gửi chúng đi khắp đất nước.
Lúc này tôi gần như bị ám ảnh bởi một cảm giác bất lực. Trong tình trạng bất an này, tôi đã bỏ ra năm phút trong hai mươi phút còn lại để cầu nguyện. Không còn gì khác ngoài đức tin vào một Đấng quyền năng, người có sức mạnh không ai sánh bằng đối với sự yếu đuối và bất lực của con người. Tôi thốt ra những từ ngắn gọn và đơn giản, xin Chúa giữ được sự bình tĩnh trong tôi và ở bên tôi trong giờ phút tôi cần sự dẫn dắt của Ngài hơn bao giờ hết.
Với chưa đầy mười lăm phút còn lại, tôi bắt đầu thảo dàn ý chính cho bài nói. Tuy nhiên, chính trong lúc này, tôi gặp phải một tình thế khó xử không lường trước được và nghiêm trọng: làm sao tôi có thể viết một bài phát biểu đủ quyết liệt để khuyến khích mọi người hành động tích cực mà vẫn ôn hòa vừa đủ để giữ cho ngọn lửa này nằm trong tầm kiểm soát và ràng buộc của Cơ Đốc Giáo? Tôi biết có rất nhiều người da đen đã trở nên cay nghiệt, số lượng này có thể dễ dàng nổi dậy và gây bạo loạn. Tôi có thể nói gì đây để giữ trong họ một lòng gan dạ và sẵn sàng cho những hành động tích cực mà vẫn tránh xa lòng thù hận và căm ghét? Liệu sự quyết liệt và ôn hòa có thể được kết hợp trong cùng một bài phát biểu?
Tôi quyết định mình phải nhìn thẳng vào vấn đề này, và tìm cách dung hòa hai tính chất dường như là đối nghịch này. Tôi muốn động viên mọi người hành động bằng cách khẳng định lòng tự trọng của họ đang trên bờ vực biến mất và nếu họ chấp nhận sự tồn tại của bất công như vậy mà không phản kháng, họ sẽ phản bội lại chính nhân phẩm của mình và những điều răn vĩnh hằng của chính Chúa Trời. Nhưng tôi sẽ cân bằng điều này với giáo lý Cơ Đốc Giáo về tình yêu thương. Ngay khi tôi vừa phác thảo sườn ý chính cho bài nói trong đầu mình, thời gian chuẩn bị đã hết. Không còn thời gian để ăn bữa tối (tôi đã không ăn gì kể từ buổi sáng) tôi tạm biệt Coretta và lái xe về hướng Nhà thờ Đường Holt.
Cách nhà thờ khoảng năm dãy nhà tôi gặp một vụ kẹt xe. Những chiếc xe hơi nối đuôi nhau trải dài vượt cả tầm mắt của tôi từ cả hai phía. Phải mất một lúc tôi mới nhận ra là tất cả những chiếc xe này đều đang trên đường đến cuộc họp mặt quần chúng. Tôi phải đậu xe cách nhà thờ ít nhất bốn dãy nhà, và khi bắt đầu xuống xe, tôi nhận ra hàng trăm người đang đứng bên ngoài. Trong bóng tối, xe cảnh sát đang chậm rãi chạy vòng quanh khu vực, quan sát một đám đông trật tự, kiên nhẫn và thiện chí. Những người không thể vào trong nhà thờ, khoảng từ ba đến bốn ngàn người, vẫn vui vẻ đứng ngoài trong suốt buổi tối, lắng nghe diễn tiến của cuộc họp từ những chiếc loa được đặt bên ngoài dành cho họ. Và ngay cả khi vào gần cuối buổi, những chiếc loa này bị những người da trắng ở những khu lân cận yêu cầu tắt đi, họ vẫn ở lại một cách trật tự, hài lòng được có mặt tại đây.
Mất đến mười lăm phút tôi mới có thể xen qua đám đông để đến phòng làm việc của mục sư. Tại đây Tiến sĩ Wilson cho tôi biết nhà thờ đã đẩy người từ lúc 5 giờ. Lúc này những mối lo ngại trong lòng tôi về sự thành công của hành trình mạo hiểm này đã tan biến. Câu hỏi liệu có nên ngưng cuộc biểu tình giờ chỉ còn là giả thiết. Sự nhiệt huyết của hàng ngàn con người này đã cuốn mọi thứ lên như một ngọn thủy triều cuộn trào.
Phải mất thêm một lúc thì những diễn giả còn lại mới rẽ đám đông chật kín trong nhà thờ để lên được bục phát biểu. Cuộc họp bắt đầu muộn hơn gần nửa tiếng. Khúc Thánh ca mở đầu là bài hát quen thuộc “Onward Christian Soldiers” (Hãy tiến lên những chiến sĩ Kitô). Đám đông đứng lên để cất lời ca, những giọng hát bên ngoài hòa vào lời ca điệp khúc ở bên trong nhà thờ, làm nên một tiếng ngân vang dội như tiếng vọng hân hoan từ nơi thiên đường.
W. F. Alford, mục sư của Nhà thờ Baptist Beulah, dẫn đầu cộng đoàn cầu nguyện, sau đó U. J. Fields, mục sư Nhà thờ Baptist Đường Bell, đọc Thánh Kinh. Rồi người chủ tọa giới thiệu tôi. Tôi đứng lên bục phát biểu trong tiếng vỗ tay của mọi người. Máy quay phim bắt đầu ghi hình từ mọi hướng. Tất cả trở nên im lặng.
Trên tay không có bản thảo, tôi kể về những gì đã xảy ra với bà Parks. Rồi tôi ôn lại lịch sử dài dằng dặc của những sự ngược đãi và xúc phạm mà công dân da đen đã phải nếm trải khi sử dụng xe buýt của thành phố. “Nhưng rồi sẽ đến ngày” tôi nói, “người ta bắt đầu mệt mỏi. Tối nay chúng ta có mặt ở đây để nói với những người đã đối xử tệ bạc với chúng ta rằng, chúng ta đã mệt mỏi - mệt mỏi vì bị phân biệt đối xử và hạ nhục; mệt mỏi vì bị chà đạp bởi đôi chân tàn bạo của sự đàn áp”, cộng đoàn đáp lại lời tuyên bố này bằng tràng pháo tay nồng nhiệt, “chúng ta không còn cách nào khác ngoài việc biểu tình” tôi tiếp tục, “Chúng ta đã nhẫn nhục trong nhiều năm trời. Đôi khi như vậy làm cho những người anh em da trắng nghĩ là chúng ta thích cách mà mình đang bị đối xử. Nhưng chúng ta đến đây tối nay để trút bỏ sự nhẫn nhục đã khiến chúng ta chấp nhận tất cả mọi thứ kém hơn tự do và công lý”. Một lần nữa mọi người chen ngang bằng những tiếng vỗ tay.
Một cách ngắn gọn, tôi chứng minh những gì chúng tôi đã làm là đúng, cả về đạo lý và pháp lý. “Một trong những giá trị tuyệt vời nhất của nền dân chủ là quyền được biểu tình vì lẽ phải”. So sánh cách thức của chúng tôi với những gì mà Hội đồng Công Dân Da Trắng và Ku Klux Klan đã làm, tôi chỉ ra rằng, trong khi “những tổ chức này biểu tình để cổ súy cho sự tồn tại của bất công trong cộng đồng, chúng ta biểu tình cho sự ra đời của công lý trong cộng đồng. Phương pháp của họ đưa tới bạo lực và vô pháp. Còn những cuộc biểu tình của chúng ta sẽ không có việc đốt thập giá. Sẽ không có một người da trắng nào bị lôi ra khỏi nhà mình bởi một đám đông người da đen trùm mũ và bị sát hại một cách dã man. Sẽ không có bất kỳ sự đe dọa và khủng bố nào. Chúng ta sẽ tuân thủ những nguyên tắc cao nhất của luật pháp và trật tự”.
Sau khi khẳng định về một thái độ quyết liệt khi hành động, tôi tiếp tục với những lời nhắc nhở. Tôi kêu gọi mọi người không nên ép buộc bất kỳ ai đừng đi xe buýt. “Chúng ta sử dụng sự thuyết phục làm phương tiện chứ không phải sự ép buộc, chúng ta chỉ nói với mọi người rằng, “Hãy để lương tâm mình dẫn lối”. Tôi nhấn mạnh đến giáo lý Cơ Đốc Giáo về tình yêu thương, “hành động của chúng ta phải được dẫn dắt bởi những nguyên tắc sâu xa nhất xuất phát từ đức tin của chúng ta. Tình yêu thương phải là kim chỉ nam trong lý tưởng của chúng ta. Một lần nữa chúng ta phải nhớ tới lời Chúa vang vọng từ nhiều thế kỷ trước: “Yêu thương kẻ thù của các con, chúc phúc cho kẻ đã nguyền rủa con, và cầu nguyện cho kẻ đã rắp tâm lợi dụng con”. Nếu chúng ta không làm được điều này thì cuộc biểu tình rồi cũng chỉ trở thành một giai đoạn biến động vô nghĩa trong lịch sử, và hình ảnh về nó sẽ bị bao phủ bởi một vẻ ngoài xấu xí của nỗi ô nhục. Mặc kệ những ngược đãi mà chúng ta gặp phải, chúng ta không được cho phép bản thân trở nên cay đắng, và quay sang thù hận những người anh em da trắng của mình. Như Booker T. Washington đã nói: “Đừng để ai hạ thấp bạn đến mức khiến bạn thù ghét hắn”. Một lần nữa mọi người hưởng ứng một cách hồ hởi.
Sau đó là tuyên bố kết thúc của tôi. “Nếu mọi người biểu tình một cách can trường, nhưng với một nhân phẩm và tình yêu thương của Chúa, khi người ta viết sử sách cho thế hệ mai sau, họ sẽ phải tạm ngừng một chút và nói “Đã từng có những con người vĩ đại - những người da đen - đã thổi những ý nghĩa mới và giá trị chân thật vào dòng chảy của nền văn minh”. Đây chính là thử thách và trọng trách vô cùng to lớn của chúng ta”. Khi tôi trở về chỗ ngồi của mình, mọi người đã đứng dậy và vỗ tay. Tôi thầm cảm ơn Chúa vì thông điệp đã được truyền đi và nhiệm vụ kết hợp lửa nhiệt huyết và sự ôn hòa ít nhất đã phần nào được hoàn thành. Họ nhất trí một cách hồ hởi khi tôi kêu gọi họ yêu thương cũng như khi tôi khuyến khích họ phản kháng.
Trong khi ngồi đó lắng nghe tràng pháo tay chưa dứt, tôi nhận ra bài phát biểu này khơi gợi sự hưởng ứng nhiều hơn bất kỳ bài phát biểu hay thuyết giáo nào tôi từng thực hiện, trong khi nó gần như không hề được chuẩn bị. Lần đầu tiên tôi hiểu được những gì mà những người giảng đạo lớn tuổi hơn tôi đã từng nói: “Hãy mở miệng ra và chúa sẽ nói thay cho mọi người”. Tôi sẽ không vì sự thành công bất ngờ này mà bỏ qua sự cần thiết của việc chuẩn bị thường xuyên, nhưng nó sẽ luôn nhắc nhở tôi rằng chúa có thể biến yếu điểm của một người thành cơ hội vẻ vang cho họ.
Khi bà Parks được E. N. French giới thiệu trên bục phát biểu, mọi người đáp lại bằng việc đứng dậy và vỗ tay. Bà ấy là nữ anh hùng của họ. Qua khí phách can trường của bà, họ nhìn thấy biểu tượng cho niềm hy vọng và khát vọng trong họ.
Giờ đã đến lúc công bố những giải pháp vô cùng quan trọng. Ralph Abernathy đọc những lời tuyên bố một cách chậm rãi và cương quyết. Cốt lõi của những giải pháp này là kêu gọi người da đen không trở lại đi xe buýt cho đến khi: 1- những doanh nghiệp xe buýt phải cam kết đối xử lịch sự với hành khách da đen; 2- hành khách phải được xếp chỗ ngồi dựa trên nguyên tắc ai tới trước thì được phục vụ trước - người da đen sẽ ngồi từ phía sau xe trở lên phía trước còn người da trắng sẽ ngồi từ phía trước xe trở về phía sau; 3 - Tài xế da đen phải được thuê để lái xe trên những tuyến đường có đông đảo hành khách da đen. Khi tôi nói “Ai đồng ý xin hãy đứng lên”, tất cả mọi người đều đứng dậy, và những người vốn đã đứng sẵn thì giơ cả hai tay lên. Tiếng reo hò vang lên cả bên trong lẫn bên ngoài. Động tác thể hiện sự đồng ý đã được mọi người đồng lòng thực hiện. Mọi người đã quyết tâm không sử dụng xe buýt cho đến khi điều kiện phục vụ được thay đổi.
Đã đến lúc tôi phải rời khỏi cuộc họp và tức tốc đi đến phía bên kia của Thị trấn để phát biểu tại một bữa tiệc YMCA (là tổ chức hoạt động thể thao, tổ chức các lớp học kỹ năng, quảng bá Kitô giáo và công việc nhân đạo). Tôi đã lái xe đi với một con tim đong đầy cảm xúc. Tôi chưa bao giờ chứng kiến một sự khát khao tự do đến như vậy. Cho dù mãnh liệt là vậy nhưng lòng nhiệt huyết này lại được kiểm soát bởi một sự tự giác tuyệt vời. Sự quy tụ vì một mục đích chung và tinh thần tổ chức của những con người này có một sức mạnh lay động lòng người không tài nào tả xiết. Sẽ không có một sử gia nào có khả năng diễn tả đầy đủ hết cuộc họp mặt này và sẽ không có một nhà xã hội học nào có thể giải thích nó một cách hoàn chỉnh. Để thật sự hiểu được nó thì chính mình phải là người trong cuộc.
Tại khách sạn Ben Moore, khi thang máy đang chậm chạp đưa tôi lên sân thượng, nơi mà bữa tiệc đang được tổ chức. Tôi tự nhủ, chiến thắng đã nằm trong tay rồi, cho dù chúng tôi có phải vất vả trong bao lâu để đạt được ba điểm đó đi nữa, thì chúng tôi đã có một chiến thắng có ý nghĩa còn to lớn hơn việc tình trạng xe buýt sẽ được cải thiện rất nhiều lần. Chiến thắng thật sự đó chính là ở buổi họp mặt, nơi mà cả ngàn người da đen đứng hiên ngang với cảm giác mới mẻ về nhân phẩm và sứ mạng.
Chắc chắn nhiều người sẽ đặt câu hỏi, tại sao sự kiện này lại xảy ra ở Montgomery, Alabama, vào năm 1955? Một vài người cho rằng, vì phán quyết về phân biệt đối xử trong trường học của Tòa Tối Cao Pháp Viện - được phổ biến từ chưa đầy hai năm trước đó - đã cho người da đen một hy vọng mới về việc công lý sẽ đến với những người da đen ở khắp nơi, và thắp lên trong họ những tia lửa động viên đứng lên chống lại sự áp bức. Mặc dù điều này có thể giải thích tại sao cuộc phản kháng lại xảy ra vào thời điểm đó, nhưng nó lại không thể giải thích vì sao nó lại xảy ra tại Montgomery.
Hiển nhiên là sự bất công dai dẳng trong lịch sử hoạt động xe buýt ở Montgomery phần nào đã giải thích điều đó. Cuộc phản đối xe buýt không tự nhiên lớn nhanh như thổi, tựa như nữ thần trí tuệ Athena mới sinh ra từ đầu của thần Zeus đã là thiếu nữ; mà nó là cao trào của một quá trình đã phát triển âm thầm. Việc bắt giữ bà Parks là một nhân tố xúc tác chứ không phải là nguyên nhân của cuộc phản kháng. Nguyên nhân nằm ẩn sâu trong một chuỗi những sự việc bất công tương tự. Gần như tất cả mọi người đều có thể kể ra một câu chuyện bất hạnh mà chính họ là nạn nhân hoặc đã từng chứng kiến.
Và rồi cũng đến lúc người ta chán ghét việc bị dẫm đạp bởi sự áp bức. Cũng đến lúc người ta chán ghét việc bị đẩy vào sự bóc lột vô tận và bất công dai dẳng. Câu chuyện của Montgomery là câu chuyện của 50.000 người da đen như vậy, họ sẵn sàng chịu mệt mỏi những đôi chân, còn hơn là mang tâm hồn kiệt quệ, bước đi trên đường phố Montgomery cho đến khi những bức tường phân biệt đối xử cuối cùng cũng bị phá bỏ bởi sức mạnh của công lý.
Nhưng ngay cả điều đó cũng không phải là câu trả lời hoàn chỉnh. Những người da đen ở các cộng đồng khác cũng phải đối mặt với những tình trạng tồi tệ tương tự, và đôi khi còn tệ hơn. Cho nên chúng ta không thể giải thích câu chuyện của Montgomery đơn thuần chỉ dựa trên những áp bức mà người da đen ở đây phải nếm trải. Hơn nữa, nó cũng không thể được giải thích bởi một sự đoàn kết sẵn có giữa những người lãnh đạo, bởi vì chúng ta đã thấy rằng cộng đồng người da đen tại Montgomery trước thời điểm phản kháng rõ ràng là được dẫn dắt bởi sự lãnh đạo rời rạc, thờ ơ và tự mãn. Nó cũng không thể được giải thích bằng sự lãnh đạo mới được thiết lập sau đó. Câu chuyện của Montgomery vẫn sẽ xảy ra ngay cả khi những người lãnh đạo của cuộc phản kháng chưa từng được sinh ra trên đời.
Vậy là mọi sự giải thích theo lý trí bị hổng ở khía cạnh nào đó. Có điều gì đó ở cuộc phản kháng đã vượt lên trên cả lý trí. Nó không thể được giải thích mà không nhắc đến một sự can thiệp thiêng liêng. Có thể đó là nguyên lý của sự kết tủa, theo như Alfred N. Whitehead; hay là một quá trình dung hóa, theo như Henry N. Wieman; hay thế lực sáng tạo, như Paul Tillich; hay là một vị Thần hóa thân. Cho dù tên gọi là gì thì dường như đã có một thế lực siêu nhân vận động để tạo lại sự hài hòa vũ trụ sau những hỗn loạn. Có một thế lực sáng thế đang vận hành để kéo sập những ngọn núi của cái ác và san bằng những ngọn đồi bất công. Chúa vẫn hiện diện trong những sáng tạo lịch sử của Ngài để làm điều đó. Dường như chúa đã quyết định dùng Montgomery làm ví dụ cho sự đấu tranh và chiến thắng của tự do và công lý tại Mỹ. Và còn nơi nào tốt hơn để làm việc đó ngoài biểu tượng hàng đầu của Miền Nam nước Mỹ trước đây? Đây thật sự là một trong những trớ trêu lớn nhất của thời đại chúng ta khi mà Montgomery, cái nôi của Liên bang Miền Nam, đang bị biến đổi thành Montgomery, cái nôi của tự do và công lý.
Ngày lịch sử - Thứ Hai, mùng 5 tháng Mười Hai năm 1955, đang dần kết thúc. Chúng tôi đều chuẩn bị ra về, vẫn chưa ý thức hết được ý nghĩa của những gì đã xảy ra. Những cuộc thảo luận trong buổi tối nhiệt huyết, sâu lắng của tháng Mười Hai ấy sẽ không bao giờ bị lãng quên. Tối hôm đó chúng tôi đã khởi động một phong trào mà sau này sẽ nhận được sự chú ý của toàn quốc. Tiếng vọng của nó sẽ vang đến tai con người ở mọi quốc gia, một phong trào sẽ làm kinh ngạc những người áp bức, và mang lại hy vọng mới cho những người chịu áp bức. Đêm đó chính là điểm sáng của Montgomery trong lịch sử.
Chương V
Đi để thành đường
Sau khi mang tâm trạng phấn chấn cao độ như đi trên mây của tối thứ Hai, sáng thứ Ba thức dậy tôi thấy mình phải quay trở về với thực tại. Tôi phải suy nghĩ đến một số quyết định về mặt tổ chức. Phong trào không thể tiếp tục hoạt động mà không có kế hoạch tổ chức cẩn thận.
Tôi bắt đầu nghĩ đến những ủy ban cần thiết để chỉ dẫn phong trào. Đầu tiên chúng tôi cần một ủy ban Di chuyển hoạt động lâu dài hơn, bởi vì việc lo phương tiện đi lại trong thành phố cho những người trước đây chỉ đi xe buýt là vô cùng quan trọng. Tôi biết là chúng tôi không thể tạo ra một hệ thống có khả năng giải quyết tất cả vấn đề đi lại của gần 17.500 người da đen, những người trước đây phải đi xe buýt hai lần mỗi ngày. Ngay cả khi áp dụng phương án hiệu quả nhất mà chúng tôi có thể nghĩ ra được thì gần như tất cả mọi người vẫn phải đi bộ nhiều hơn một chút so với trước đây. Nhưng có một hệ thống được suy tính kỹ lưỡng sẽ giúp giảm bớt gánh nặng từ vấn đề này rất nhiều.
Chúng tôi cũng cần phải gây quỹ để tiếp tục duy trì cuộc biểu tình. Vì vậy, một ủy ban Tài Chính là cần thiết. Những buổi họp mặt quần chúng cũng sẽ phải được tổ chức thường xuyên nên phải có một Ban tổ chức để thực hiện những sự kiện này. Sau đó, tôi nhận thấy rằng, ở mỗi thời điểm chúng tôi sẽ phải đưa ra những quyết định chiến lược. Điều này đòi hỏi sự kết hợp của những cái đầu tài giỏi nhất trong tổ chức để cân nhắc những quyết định đó và đưa ra những đề xuất cho Ban Điều Hành. Do đó tôi cảm thấy một ủy ban Chiến Lược là điều không thể thiếu được.
Ấp ủ những dự định đó, tôi triệu tập một cuộc họp với Ban Điều hành vào lúc 10 giờ ngày thứ Tư trong một căn phòng lớn của Trung tâm Baptist của người Da Đen tại Alabama (Negro Baptist Center). Khi đến dự, tất cả thành viên Ban Điều hành đều khen ngợi kết quả cuộc biểu tình vẫn có hiệu quả trên 99% sau gần hai ngày rưỡi triển khai. Tiếp đó là thành lập các ủy ban. Bởi vì số lượng thành viên của Ban Điều hành tương đối ít nên nhiều thành viên phải kiêm nhiệm thêm nhiều ủy ban một lúc. Cũng như mọi tổ chức khác, vấn đề xung đột cái tôi cá nhân là tình trạng rắc rối thường xảy ra, nên quá trình tuyển chọn đã được thực hiện với sự cân nhắc sao cho những thành viên trong mỗi ủy ban đều có thể hợp tác tốt với nhau. Rufus Lewis đồng ý giữ vai trò chủ nhiệm ủy ban Di Chuyển, và Giám mục R.J. Glasco, người chủ trì cuộc họp vào buổi sáng, là chủ nhiệm ủy ban Tài chính. Ban Điều hành đã được mở rộng để đại diện cho nhiều thành phần trong cộng đồng người da đen.
Thành viên của ủy ban Chiến Lược được quyết định một vài ngày sau đó. Ủy ban mới này gồm có mười hai người, cả nam và nữ, đã cho mọi người thấy khả năng lãnh đạo quyết đoán từ những ngày đầu của cuộc biểu tình. Suy nghĩ sáng suốt và sự dẫn dắt gan dạ của họ sẽ là một tác nhân vô cùng quan trọng để vượt qua những khó khăn còn ở phía trước. Ngoài thành viên không thể thiếu là E.D. Nixon và chiến lược gia pháp lý tài tình Fred Gray, ủy ban còn có Roy Bennett, người đã chủ trì cuộc họp đầu tiên về tổ chức phản kháng và đã tiếp tục ủng hộ tận tụy cho phong trào cho đến khi ông bị chuyển đến làm mục sư tại California. H. H. Hubbard và A. W. Wilson, cả hai đều là mục sư Baptist đại diện cho Hội Thánh người da đen lớn nhất tại Montgomery. Phong thái trang nghiêm của Hubbard đem lại một cảm giác vững chãi cho mọi cuộc họp mà ông tham dự. Và đồng nghiệp của ông là Wilson, đang giữ vị trí chủ chốt trong Hội nghị Baptist bang Alabama, đóng góp tài năng của mình với vai trò là người tổ chức và quản trị viên.
Bà Euretta Adair, vợ của một bác sĩ danh tiếng tại Montgomery, là cựu giảng viên của Học viện Tuskegee. Bà có kiến thức phong phú và lòng say mê công cuộc cải thiện xã hội. Jo. Robinson và J. E. Pierce là hai vị đứng đầu trong giới hàn lâm lúc bấy giờ, cả hai đều là giáo sư tại Đại học Tiểu bang Alabama. Họ chưa bao giờ vì sự yên ổn cuộc sống của bản thân mình mà làm ngơ trước những vấn đề của người khác. Rufus Lewis, một doanh nhân, từ lâu cũng rất quan tâm đến cuộc đấu tranh, với ý thức và tinh thần hợp tác cao để những người da đen được trở thành công dân hạng nhất (Ở Mỹ đến giữa thập niên 60 công dân Mỹ gốc Phi Châu vẫn bị xem là công dân hạng hai, không được hưởng một số quyền lợi từ chính phủ như công dân hạng nhất, tức là người Mỹ có nguồn gốc Anglo Saxon. Hiện tại chỉ công dân Mỹ sống ở nước ngoài được gọi là công dân hạng hai). Ông đã trở thành Chủ nhiệm đầu tiên của ủy ban Di chuyển, với ý thức và tinh thần hợp tác cao. Nhiều tháng sau đó, khi hoạt động của Hiệp hội Cải cách Montgomery mở rộng đến các lĩnh vực như bầu cử, ông đảm nhận vị trí Chủ tịch ủy ban Ghi Danh và Bầu Cử, trách nhiệm mà ông vẫn còn đảm nhiệm đến nay.
W. J. Powell và S. S. Seay, giống như Bennett, cũng là mục sư của Nhà thờ A. M. E. Zion. Powell có đầu óc tỉnh táo và sự điềm tĩnh khi ủy ban Chiến Lược phải đối mặt với nhiều vấn đề trong những ngày sóng gió. S. S. Seay là một trong các giáo sĩ hiếm hoi, từ những năm trước khi cuộc phản kháng nổ ra, đã lên tiếng chỉ trích vô vàn bất công đổ ập lên đầu người da đen, và khuyến khích giáo dân biết quý trọng hơn giá trị của chính họ. Là một người truyền đạo năng nổ, thi thoảng những bài phát biểu của ông tại các buổi họp mặt quần chúng hàng tuần đã nâng cao tinh thần của tất cả thính chúng.
Thành viên cuối cùng của ủy ban chiến Lược là một gương mặt vốn đã quen thuộc trong hàng ngũ tiên phong của lực lượng phản kháng. Ralph Abernathy, một trong số ít những mục sư da đen đã có thời gian dài tham gia các hoạt động dân sự trước đó. Mặc dù tuổi đời lúc bấy giờ chỉ mới hai mươi chín, nhưng những cống hiến của anh cho cuộc đấu tranh giành tự do là điều không cẩn bàn cãi. Với dáng người thấp, chắc khỏe và nét mặt trầm tư, anh nhìn già dặn hơn tuổi thật của mình, nhưng trên khuôn mặt lại luôn thấp thoáng một nụ cười hồn nhiên. Cử chỉ khoan thai và cách ăn nói từ tốn của Ralph dễ làm người khác hiểu lầm về tuổi tác của anh. Anh là một người làm việc không ngừng nghỉ, suy nghĩ thấu đáo và có nhiều ý tưởng độc đáo. Với vai trò là diễn giả, anh thuyết giảng sinh động và rất có sức thuyết phục, anh thường có thể khuyến khích mọi người hành động tích cực nhờ óc hài hước thiên phú. Trong các buổi họp mặt quần chúng, mỗi khi không khí trở nên trầm lắng, Ralph Abernathy lại truyền vào đám đông một luồng sinh khí mới và lòng hăng hái. Mọi người yêu mến và kính trọng anh như một biểu tượng của lòng can đảm và sức mạnh.
Ngay từ giai đoạn đầu tiên của cuộc phản kháng, Ralph Abernathy đã là cộng sự gần gũi và là người bạn đáng tin cậy nhất của tôi. Chúng tôi cùng nhau cầu nguyện và cùng đưa ra những quyết định quan trọng. Nhiều lúc phong thái nhanh nhẹn và dí dỏm của anh đã làm giảm bớt không khí căng thẳng. Mỗi khi đi vắng, tôi thường giao cho anh quyền quyết định những việc quan trọng của tổ chức, và thấy rất yên tâm. Sau khi Bennett rời khỏi Montgomery, Ralph đã trở thành đệ nhất Phó Chủ tịch (FVP) của Hiệp hội Cải cách Montgomery đầy năng lực và phẩm cách trong vị trí đó cho đến nay.
Đây là những người đã sát cánh cùng tôi ngay từ giai đoạn đầu của phong trào. Theo thời gian, có thêm nhiều người mới gia nhập. Trong số đó có một người được chiêu mộ vào Ban Điều hành khá sớm, đó là mục sư Robert Graetz. Tôi gặp ông lần đầu tại Hội đồng Quan Hệ Quần chúng. Vị mục sư da trắng này với vẻ ngoài trẻ trung tại Nhà thờ Chúa Ba Ngôi Lutheran của người da đen là một sự nhắc nhở kiên định cho chúng tôi trong những tháng ngày đầy thử thách rằng vẫn có nhiều người da trắng cũng như người da đen đang thực hiện lời dạy “yêu thương láng giềng như chính mình” của Cơ Đốc Giáo trong đời sống của họ. Hai cộng sự thân thiết khác được bổ sung vào Ban Điều hành sau đó có Clarence W. Lee, dáng người cao, vẻ ngoài nổi bật, làm dịch vụ mai táng. Với khả năng kinh doanh giỏi, ông đóng một vai trò rất đắc lực. Và Moses w. Jones, một bác sĩ danh tiếng, người sau đó trở thành Phó Chủ tịch thứ hai của Hiệp hội Cải cách Montgomery.
Chúng tôi họp vào bất cứ lúc nào, mỗi khi có trường hợp đột xuất khẩn cấp nào đó. Sẽ không có gì lạ nếu người ta bắt gặp vài người trong chúng tôi cùng bàn bạc công việc tại nhà riêng vào 2 giờ 30 sáng. Trong khi những người vợ vừa pha cà phê cho chúng tôi, vừa ngồi tán gẫu với nhau, chúng tôi đưa ra kế hoạch và thống nhất về các chính sách. Nguyên tắc làm việc của Nghị viện không cần thiết đối với nhóm làm việc nhỏ này, mọi người tự động chấp nhận theo quy tắc đa số thắng thiểu số.
Vào giai đoạn đầu của cuộc phản kháng, vấn đề di chuyển được chúng tôi dành nhiều sự quan tâm nhất. Nhân lực và sự sáng tạo để giải quyết vấn đề này là một trong những phần thú vị nhất của câu chuyện về Montgomery. Trong những ngày đầu tiên, chúng tôi phải trông cậy vào các công ty taxi người da đen đã đồng ý chuyên chở mọi người với giá mười xu, bằng giá vé xe buýt. Ngoại trừ một vài ôtô tư nhân đã tình nguyện tham gia, những chiếc taxi này là phương tiện di chuyển duy nhất. Nhưng trong buổi “gặp mặt đàm phán” đầu tiên giữa chúng tôi và ủy ban Thành phố vào thứ Năm, ngày 8 tháng 12, ủy viên cảnh sát Sellers đã đề cập thoáng qua về đạo luật quy định giá cước taxi tối thiểu. Tôi nhận ra được ẩn ý rằng rất có thể ủy viên cảnh sát Sellers sẽ dùng điều này để ngăn các taxi hỗ trợ cho cuộc biểu tình.
Đúng lúc đó tôi nhớ trước đây một người bạn tốt của tôi, mục sư Theodore Jemison, đã từng dẫn dắt một cuộc tẩy chay xe buýt tại Baton Rouge, Louisiana. Tôi biết Jemison và các cộng sự của anh đã tổ chức được những nhóm đi chung xe hiệu quả. Tôi đã gọi điện sang mãi bên anh để nhờ góp ý cho việc tạo một nhóm tương tự như vậy tại Montgomery. Đúng như tôi mong đợi, anh đã truyền lại tỉ mỉ những kinh nghiệm vô giá của mình tại Baton Rouge. Tôi thuật lại lời của Sellers và lời khuyên của Jemison cho ủy ban Di Chuyển và đề nghị mọi người ngay lập tức bắt đầu chuẩn bị những nhóm xe đưa rước để tránh tình trạng rối loạn khi taxi không thể tiếp tục cung cấp dịch vụ cho chúng tôi.
May mắn thay, một cuộc họp mặt quần chúng được tổ chức vào ngay tối hôm đó. Tại đây tôi yêu cầu những người sẵn sàng chia sẻ xe cho biết tên, địa chỉ, số điện thoại và thời gian mà họ có thể lái xe, trước khi ra về. Số người hưởng ứng đông bất ngờ. Có hơn một trăm năm mươi phiếu xác nhận tình nguyện tham gia. Trong số đó những người không đi làm tình nguyện lái xe đưa đón cả ngày, những người đi làm tình nguyện lái xe một vài giờ trước và sau giờ làm việc. Còn các mục sư hầu như ai cũng đồng ý lái xe bất kể lúc nào có nhu cầu.
Vào trưa ngày Thứ Sáu, đúng như tôi dự đoán, viên cảnh sát trưởng ra chỉ thị cho tất cả các công ty taxi phải tuân thủ luật quy định cước taxi tối thiểu là bốn mươi lăm xu. Nếu họ không tuân theo thì sẽ bị xem là vi phạm pháp luật. Điều này đã chấm dứt dịch vụ taxi giá rẻ.
Phản ứng của chúng tôi là tức tốc liên lạc với những tinh nguyện viên, và họ đã đáp ứng ngay lập tức. Lúc đầu họ chạy rảo quanh để kiếm hành khách trên các tuyến đường của Montgomery không theo một sự sắp xếp nào cả. Đến thứ Bảy, các mục sư quyết định sẽ kêu gọi thêm người tinh nguyện trong buổi thuyết giảng ngày hôm sau. Một lần nữa, chúng tôi lại được số đông hưởng ứng. Với sự bổ sung thêm, số lượng xe ô tô tăng vọt lên đến khoảng ba trăm chiếc.
Bây giờ công việc mới thật sự bắt đầu - đó là làm thế nào thiết lập được một hệ thống làm việc cho hơn ba trăm chiếc xe này, để thay thế lộ trình lộn xộn của chúng trong thành phố. Những ngày sau đó, ủy ban Di Chuyển đã làm việc suốt đêm, cố gắng thiết lập một hệ thống tương đối hiệu quả. Rất nhiều đề nghị của Jemison đã được áp dụng. Cuối cùng, họ quyết định lập ra các trạm “đưa đón khách”, những địa điểm mà hành khách sẽ tập trung để đi đến chỗ làm và trở về lại nhà. Thời gian đưa đón khách buổi sáng từ 6:00 đến 10:00, buổi chiều từ 3:00 đến 7:00.
Việc khó khăn tiếp theo là chọn địa điểm sao cho những trạm này sẽ được bổ trí toàn Thành phố. Đa số chúng tôi đều thấy việc chọn địa điểm cho trạm đón khách tương đối dễ dàng, bởi vì chúng sẽ được đặt trong các khu vực của người da đen trong Thành phố. Việc chọn địa điểm cho trạm trả khách lại làm chúng tôi bối rối. Vấn đề ở đây là một lượng lớn những người đi xe buýt làm việc cho những người chủ da trắng, do đó mà trạm trả khách phải nằm trong khu vực của người da trắng, nơi mà chúng tôi có rất ít thông tin, nếu không muốn nói là mù tịt. May thay, chúng tôi có hai nhân viên bưu điện ở trong ủy ban. Họ biết rõ Thành phố này như lòng bàn tay. Với sự hỗ trợ của họ và một tấm bản đồ Thành phố, chúng tôi bắt đầu làm việc với những cơ sở mới.
Vào thời điểm này, vai trò của R. J. Glasco và Chủ nhiệm Rufus Lewis trong ủy ban Di Chuyển rất quan trọng. Hai người đã làm việc cần mẫn để lập ra kế hoạch với sự hỗ trợ của cả ủy ban. Đến thứ Ba, ngày 13 tháng 12, hệ thống trạm dừng đưa đón được thiết lập xong. Cả nghìn tờ rơi in từ máy in rô-ne-o danh sách gồm bốn mươi tám trạm đón khách và bốn mươi hai trạm trả khách được phân phát trong cộng đồng người da đen. Phần lớn những trạm đón khách được đặt tại các nhà thờ của người da đen. Những nhà thờ này hợp tác giúp mở cửa sớm mỗi sáng để những hành khách đến chờ xe có thể vào trong ngồi, và nhiều nơi còn là chỗ sưởi ấm vào những ngày trời giá lạnh. Mỗi một chiếc xe sẽ chịu trách nhiệm một trạm đón khách và một trạm trả khách. Số lượng xe của mỗi trạm được quyết định dựa trên số lượng hành khách đi xe. Cho đến lúc này trạm được sử dụng nhiều nhất là một bãi đỗ xe của người chủ da đen đặt tại khu vực trung tâm của Montgomery. Nó là một trạm vừa đón khách vừa trả khách.
Chỉ trong vài ngày, hệ thống này đã hoạt động tốt một cách đáng kinh ngạc. Lực lượng da trắng đối kháng đã quá ấn tượng về việc tổ chức nhanh chóng như một phép mầu này, đến mức họ phải công nhận trong một cuộc họp Hội nghị Công Dân Da Trắng rằng hệ thống xe này di chuyển với "sự chính xác như quân đội”. Hiệp hội Cải cách Montgomery đã giải quyết được vấn đề di chuyển chỉ trong vài đêm, trong khi một công ty xe buýt đã phải vật lộn với nó trong nhiều năm.
Mặc cho sự thành công này, tinh thần đấu tranh đã ngấm sâu và trở thành một phần cuộc sống của người dân đến mức đôi khi họ chọn đi bộ trong khi vẫn còn chỗ trên xe. Hành động đi bộ, đối với nhiều người, đã trở thành một biểu tượng quan trọng. Có một lần một tài xế đã dừng xe bên cạnh một người phụ nữ lớn tuổi đang lê bước một cách khó nhọc.
"Mời bà lên xe,” anh ta nói. "Bà không phải đi bộ đâu”.
Bà vẫy tay bảo anh đi tiếp. "Tôi không đi cho mình”, bà giải thích, "Tôi đi vì con cái và cháu chắt của tôi”. Và bà tiếp tục bước về nhà.
Dù phần lớn những tài xế là các mục sư, hàng ngũ này còn được tăng cường bởi những bà nội trợ, giáo viên, doanh nhân, và những người lao động không có tay nghề cao. Có ít nhất ba người da trắng từ căn cứ không quân làm tài xế trong những giờ nghỉ của họ. Một trong những tài xế tận tụy nhất là bà A. W. West, người đã ngay từ đầu ủng hộ nhiệt tình ý tưởng biểu tình bằng cách giúp chúng tôi mời những lãnh đạo quần chúng đến dự buổi họp tổ chức đầu tiên. Mỗi buổi sáng, bà lái chiếc Cadillac lớn màu xanh lá đến trạm đón khách mà bà phụ trách. Cứ thế trong nhiều giờ buổi sáng và sau buổi trưa, người ta thấy một người nữ tài xế khác lạ, ưa nhìn với mái tóc bạc, lái xe rước mọi người đi làm và đưa họ về nhà.
Một người tài xế tận tâm khác là Jo Ann Robinson. Với vẻ ngoài xinh đẹp, nước da trắng, và tuổi đời còn trẻ, Jo Ann trông thánh thiện rất tự nhiên. Cô không cần phải học tinh thần phản kháng phi bạo lực từ bất kỳ một cuốn sách nào. Cô là một người luôn cố gắng không ngừng nghỉ, và hơn bất kỳ ai khác, cô là người hoạt động sôi nổi nhất trong mọi hoạt động của cuộc biểu tình. Cô tham gia vào các cuộc họp của cả Ban Điều hành và ủy ban Chiếc Lược. Khi bản tin của Hiệp hội Cải cách Montgomery ra mắt một vài tháng sau khi cuộc biểu tình bắt đầu, cô trở thành biên tập viên của bản tin này. Cô luôn có mặt trong mỗi cuộc đàm phán. Và mặc dù lịch giảng dạy kín mít tại đại học Alabama State, cô vẫn sắp xếp thời gian để lái xe vào buổi sáng và buổi trưa.
Đội ngũ tài xế của chúng tôi còn có thêm một nguồn nhân lực không ai ngờ tới. Nhiều bà nội trợ da trắng, cho dù ưa hay không ưa chế độ phân biệt đối xử, họ không thể thiếu những người hầu của mình. Thế là mỗi ngày các bà lái xe đến khu vực của người da đen để đón những người hầu của mình và chở họ về nhà vào buổi tối. Chắc chắn động cơ của họ có khi là sự ích kỷ, nhưng trong nhiều trường hợp là từ tình cảm dành cho người hầu trung thành. Có một điều khá hài hước là đôi khi giữa người chủ da trắng và người hầu da đen lại có sự đồng cảm về cuộc đấu tranh xe buýt này, hoặc cũng có khi họ chấp nhận sự bất đồng. Có một người phụ nữ lớn tuổi giúp việc nhà, nhiều con cháu họ hàng ở Montgomery xem như người mẹ già thông thái, đã được ngưòi chủ giàu có da trắng hỏi: “Cuộc tẩy chay xe buýt này thật kinh khủng quá phải không?”, người phụ nữ lớn tuổi trả lời: “Vâng thưa bà, nó thật sự kinh khủng. Và tôi chỉ nói với mấy đứa nhỏ rằng những việc như thế này là vấn đề của người da trắng và chúng ta chỉ việc tránh xa mấy chiếc xe buýt cho đến khi họ giải quyết ổn thỏa hết toàn bộ việc này.
Thời gian qua đi, hệ thống xe đưa rước tiếp tục mở rộng. B. J. Simms là giáo sư đại học và là mục sư của một nhà thờ Baptist tại Tuskegee, tiếp nhận vị trí Chủ nhiệm ủy ban. Ông đã bổ sung thêm sáng kiến của mình vào công trình của người tiền nhiệm, Rufus Lewis. Chẳng bao lâu số thành viên của Văn phòng phụ trách di chuyển đã tăng lên sáu người. Hơn hai mươi lăm người được tuyển dụng làm tài xế toàn thời gian, làm việc sáu ngày một tuần. Tại phần lớn các trạm xe, đều có các điều phối viên để bảo đảm mọi thứ vận hành trơn tru và phân phối hành khách theo lộ trình của họ. Mục sư J. H. Cherry là Trưởng Điều phối viên tại bãi đỗ xe gần trung tâm Thành phố đã cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của mình. Richard Harris, dược sĩ người da đen, là một tài sản vô giá của hệ thống di chuyển. Anh đặt văn phòng ngay trong tiệm thuốc của mình và điều phối các xe qua điện thoại suốt từ tờ mờ sáng cho đến tối muộn. Khách đến mua hàng luôn ngạc nhiên khi thấy một doanh nhân trẻ tuổi, năng động đứng bán hàng với ống nghe điện thoại kề sát tai, điều động ô tô và kê các toa thuốc cùng một lúc.
Cuối cùng, một đoàn bao gồm hơn mười lăm chiếc xe đưa đón còn mới được bổ sung thêm. Mỗi một chiếc xe đời 1956 này là tài sản của một nhà thờ, và tên của nhà thờ tài trợ sẽ được viết ở phía trước và bên hông mỗi chiếc xe. Khi những “nhà thờ di động” này chuyên chở những hành khách vui vẻ của mình đi làm, thỉnh thoảng người ta có thể nghe những bài Thánh ca vọng ra qua khung cửa sổ. Những người đi bộ trên đường, vì không tìm được chỗ ngồi trên những chiếc xe chật kín, vẫy tay chào khi “nhà thờ” của họ đi ngang qua, và tiếp tục bưởc đi với một trái tim tươi mới.
Nhìn tổng thể, hoạt động của hệ thống xe đưa rước này cho thấy sự tổ chức và phối hợp đạt hiệu quả tối đa. Phóng viên và khách viếng thăm trên khắp đất nước nhìn nhận nó như một thành tựu hiếm có. Công việc này cũng tiêu tốn tiền bạc. Trong thời gian đầu, Hiệp hội Cải cách Montgomery đã trang trải cho hoạt động bằng sự đóng góp của người dân địa phương. Cứ sau mỗi tuần, dù giàu hay nghèo, những người da đen tại Montgomery lại bỏ tiền vào thùng đóng góp theo khả năng của họ, có khi chỉ là mười xu hay hai mươi lăm xu. Nhưng khi nhóm xe đưa rước phát triển và thêm những khoản chi khác ngày một tăng thì chúng tôi cần phải thêm một nguồn quỹ để tiếp tục hoạt động. Chi phí để duy trì Hiệp hội đã tăng lên mức 5.000 đô la một tháng.
May mắn thay, thông tin về sự đấu tranh của chúng tôi đã được báo chí đăng tải rộng khắp thế giới. Mặc dù chúng tôi chưa từng công khai kêu gọi tài trợ, nhưng đã bắt đầu có sự đóng góp từ các nơi chảy tràn về, thậm chí từ những nơi xa xôi như Tokyo. Các lãnh đạo của Hiệp hội được mời đến các thành phố trên khắp đất nước để dự những buổi gây quỹ. Mỗi ngày đều có khách viếng thăm mang theo quà tặng, và trong mỗi phong thư gửi đến đều kèm theo các tờ séc. Đôi khi quà tặng có thể lên đến 5.000 đô la, đôi khi chỉ là tờ một đô la nhưng tổng cộng tích lũy được gần 250.000 đô la.
Nơi đóng góp nhiều nhất đến từ những nhóm nhà thờ - nhất là những nhà thờ của người da đen, và không chỉ riêng họ, rất nhiều hiệp hội mục sư đã đóng góp rất rộng rãi. Có thể nói các nhà thờ trong hầu hết mọi thành phố của Hoa Kỳ đã trợ giúp. Các nhóm lao động, nhóm dân sự và nhóm xã hội là những nhà tài trợ trung kiên và nhiệt tình của chúng tôi. Và nhiều cộng đồng còn thành lập tổ chức mới chỉ để hỗ trợ cho cuộc phản kháng. Gần như mọi chi nhánh của NAACP (The National Association for the Advancement of Colored People - Hiệp hội quốc gia vì sự phát triển của người da màu) đã hồi âm rất nhiệt tình thư ngỏ của Roy Wilkins - Thư ký điều hành - kêu gọi họ hỗ trợ tinh thần và tài chính cho phong trào. Và đây chỉ là một trong nhiều cách mà NAACP đã chia sẻ sức mạnh của mình trong những ngày sắp tới.
Sự đóng góp cũng đến từ rất nhiều cá nhân, cả người da trắng và người da đen, cả trong nước và ngoài nước. Thường những sự giúp đỡ này được gửi kèm theo các bức thư, nó đã động viên tinh thần và phá tan cảm giác đơn độc đã bao vây chúng tôi trong chính cộng đồng của mình. Có một tấm séc một trăm đô la gửi từ Pennsylvania cùng với một mảnh giấy với nét chữ viết tay bay bướm của một phụ nữ quý tộc lớn tuổi: “Những gì mọi người làm... thật tuyệt vời và chưa từng có tiền lệ trong lịch sử của chúng ta. Thật vậy, đây thật sự là bước ngoặt mở ra kỷ nguyên mới và nó sẽ có tầm ảnh hưởng rất lớn.... Chúa từng nói ‘Không phải bằng vũ lực, hay quyền năng, mà là bởi tinh thần ta’, tôi nghĩ đây có lẽ chính là châm ngôn của Hiệp hội Cải cách Montgomery các anh”.
Một cựu thẩm phán Liên bang cũng đã viết: “Các bạn đã chứng minh sự lịch thiệp và lòng quả cảm cuối cùng sẽ vượt lên tất cả... Vấn đề cấp bách có thể vẫn chưa được giải quyết triệt để, nhưng niềm tin và sự kiên định vững vàng chắc chắn sẽ mang lại thắng lợi. Những người bắt bớ đến thời điểm này chắc hẳn đã tự hiểu ra rằng mình đang đấu một trận đấu tàn độc và thất bại là không thể tránh khỏi. Đất nước này kính chào các bạn và cầu chúc cho gánh nặng sẽ sớm được trút bỏ và chiến thắng sẽ đến với các bạn.”
Những lời động viên được gửi đến từ Singapore thì nói rằng, “những gì mà các bạn đang làm đã tạo nguồn cảm hứng thực sự cho chúng tôi ở nhiều nơi trên thế giới, nơi mà sự đấu tranh giữa dân chủ và cộng sản đang vô cùng khốc liệt”. Có đoàn thủy thủ đã gửi đến một bức điện tín: “Chúng tôi sẽ cầu nguyện cho các bạn và cùng đồng hành trong cuộc đấu tranh vì công lý”. Còn người phụ nữ Thụy Sĩ, có “những người bạn và người chồng không hiểu”, đã gửi cho chúng tôi số tiền mà bà dành dụm được. Đây là một trong những khoản tiền đóng góp cá nhân lớn nhất mà chúng tôi nhận được. Bà viết: “Bởi vì tôi không biết giúp đỡ mọi người như thế nào cho thiết thực (xin hãy tin, tôi thực sự không biết) nhưng tôi tha thiết mong muốn làm được một điều gì đó, nên tôi gửi đến các bạn 500 đô la này... Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu các bạn nhận nó, bởi vì nếu không thì tôi còn biết làm gì khác hơn?”
Thật sự phải nói rằng phong trào Montgomery đã được kết nối với thế giới với những phản hồi tích cực. Mặc dù những lá thư này đã đem đến cho chúng tôi rất nhiều sự động viên cần thiết, nhưng chúng cũng gợi đến nỗi bất lực dai dẳng trong tôi. Hiệp hội Cải cách Montgomery vẫn còn thiếu thiết bị văn phòng cùng những tiện nghi và nhân lực. Thiếu thư ký nên phần lớn những lá thư đầu tiên đều không được hồi âm. Ngay cả những đóng góp tài chính cũng không được ghi chép thường xuyên. Càng suy nghĩ nhiều về sự bất lực của mình trong việc giải quyết vấn đề này, tôi càng trở nên phiền não.
Sự bất lực càng tăng lên khi mà nhiều tuần sau khi cuộc phản kháng bắt đầu, mọi người đã gọi điện cho tôi mọi lúc bất kể ngày đêm. Điện thoại đổ chuông từ 5 giờ sáng và hiếm khi nào dừng trước nửa đêm. Đôi khi đó là cuộc gọi của một người đã từng đi xe buýt yêu cầu tôi sắp xếp để cô ấy có thể đi làm và trở về nhà vào một giờ nào đó. Hoặc có khi là cuộc gọi của một tài xế than phiền về những hành khách thiếu hợp tác, hay một hành khách than phiền về một tài xế khó tính. Đôi khi xe của một tài xế bị chết máy, hoặc một người hầu bị người chủ của mình đe dọa cho nghỉ việc nếu cứ tiếp tục từ chối đi xe buýt. Và có lúc lại là một người chỉ muốn biết đâu là trạm trả khách gần chỗ họ nhất. Thỉnh thoảng có người gọi để báo một tài xế nào đó đòi thu phí đi xe của hành khách và điều này cần phải chấm dứt, nếu không sẽ nguy hại cho tính pháp lý của toàn bộ hệ thống này.
Chúng tôi nhận ra tầm quan trọng của một văn phòng với đội ngũ nhân viên có khả năng đối phó với những vấn đề như thế này. Ban đầu chúng tôi dự định chỉ cần những thư ký tình nguyện. Nhưng như vậy không đủ. Thế là chúng tôi tuyển dụng một thư ký toàn thời gian để lo các công việc thường ngày của Hiệp hội, và thiết lập một văn phòng chuyên lo về di chuyển với một thư ký nữa để trực tiếp giải quyết các vấn đề liên can. Thời gian trôi qua, khối lượng công việc thư tín trở nên quá nhiều và công việc di chuyển trở nên quá phức tạp đến mức chúng tôi buộc phải tuyển thêm mười nhân viên văn phòng. Vì thêm nhân viên và các vấn đề quản lý khác, Ban Điều hành đã chỉ định cho tôi một trợ lý, mục sư R. J. Glasco. Tất cả những việc này - tuyển thư ký văn phòng, thiết lập văn phòng di động, tuyển một trợ lý điều hành - đã giảm bớt cho tôi gánh nặng gần như ngoài sức chịu đựng, và giúp tôi lấy lại tinh thần.
Nhưng cứ lo việc di chuyển cho mọi người nên một địa điểm cố định để làm trụ sở cho Hiệp hội Cải cách Montgomery vẫn chưa tìm ra được. Việc này khó hơn chúng tôi nghĩ, văn phòng đã buộc phải dời đi không ít hơn bốn lần trước khi tìm thấy được một nơi tương đối thích hợp.
Trụ sở đầu tiên đặt tại Trung tâm Baptist Da Đen Alabama. Tại đây chúng tôi được sử dụng hai phòng lớn và thêm một phòng họp dành cho các cuộc họp của Ban Điều hành. Cả địa điểm và cơ sở tiện nghi đều đáp ứng được nhu cầu của chúng tôi. Tuy nhiên, ngay khi chúng tôi vừa ổn định mọi thứ tại đây, những quan chức da trắng của Hiệp hội Baptist Montgomery - là tổ chức hỗ trợ tài chính lớn nhất cho hoạt động của Trung tâm - đã mời người đại diện của Trung tâm đến một cuộc họp và đề nghị rằng “vì ích lợi của Trung tâm” và “vì ích lợi của cộng đồng” trụ sở của Hiệp hội Cải cách Montgomery nên dời đi nơi khác. Mặc dù chưa được nghe tuyên bố rõ ràng, nhưng chúng tôi có thể ngầm hiểu một lời đe dọa rằng sự hỗ trợ tài chính sẽ bị chấm dứt nếu yêu cầu đó không được đáp ứng ngay lập tức.
Nhận thấy có vẻ như chúng tôi sắp “vô gia cư”, Rufus Lewis đề nghị Hiệp hội sử dụng câu lạc bộ của ông ấy - Câu lạc bộ Công Dân. Ông dành cho chúng tôi một phòng lớn, vốn thường được dùng cho các bữa yến tiệc, và một phòng nhỏ cho ủy ban Di Chuyển. Nhưng sau khi chúng tôi dọn về Câu lạc bộ Công Dân được khoảng vài tuần, ông Lewis nghe được từ một nguồn đáng tin cậy rằng nếu Hiệp hội còn tiếp tục ở lại đây, giấy phép của ông sẽ bị thu hồi vì lý do Câu lạc bộ đã bị sử dụng như một tòa nhà văn phòng. Trong tình thế khẩn cấp này Nhà thờ Baptist Đệ Nhất đã đề nghị cho chúng tôi mượn một văn phòng hạn hẹp để tạm hoạt động.
Cuối cùng, chúng tôi biết được tòa nhà mới của Liên đoàn Thợ hồ đang có mấy phòng trống thích hợp cho mục đích của chúng tôi. Tại đây chúng tôi sẽ không bị cộng đồng người da trắng buộc phải dời đi, bởi vì phần lớn các thành viên và toàn bộ nhân viên của Liên đoàn sở hữu tòa nhà này là người da đen. Và sau khi đã suy xét như vậy, chúng tôi quyết định thuê nơi này.
Vào lúc này những nhân viên văn phòng đã mệt lừ vì phải di chuyển tới lui khắp thành phố. Trong quá trình di chuyển liên tục này một số lá thư quan trọng suýt nữa bị thất lạc và những tài liệu quan trọng bị lẫn lộn. Nhưng ít ra giờ đây chúng tôi đã có một văn phòng có khả năng hoạt động lâu dài. Lần đầu tiên chúng tôi có đủ không gian làm việc với một chút yên tĩnh và sự an tâm.
Điều quan trọng nhất cho việc duy trì bất kỳ một phong trào nào là những người sáng lập nó phải luôn gắn bó với nhau. Để làm được điều đó thì cần nhiều thứ hơn là chỉ có một mục đích chung: nó cần có một triết lý để chinh phục và giữ mọi người cùng đồng lòng với nhau; nó phụ thuộc vào việc tạo các kênh giao tiếp cởi mở giữa mọi người và người lãnh đạo. Sự kiện Montgomery đã có tất cả những yếu tố này.
Từ giai đoạn đầu tiên, phong trào đã được dẫn dắt dựa trên một triết lý cơ bản. Nguyên tắc được coi là kim chỉ nam nhiều người biết đến vốn dĩ là phản kháng phi bạo lực, bất hợp tác, và bất tuân dân sự. Nhưng trong những ngày đầu tiên của cuộc phản kháng không có bất kỳ tên gọi nào kể trên được nhắc đến, cụm từ mà nhiều người nghe đến nhất là “Tình Yêu Thiên Chúa”. Đó là Bài giảng Trên núi, chứ không phải là lý thuyết về bất tuân dân sự, đã khơi nguồn cảm hứng cho những người da đen ở Montgomery hoạt động xã hội mang lại nhiều lợi ích. chính Chúa Jesus từ làng Nazareth đã thôi thúc người da đen biểu tình với vũ khí sáng tạo xuất phát từ tình yêu thương.
Tuy nhiên, theo thời gian, Mahatma Gandhi đã trở thành nguồn cảm hứng, bắt đầu gây ảnh hưởng lên chúng tôi. Tôi đã sớm nhận ra giáo lý Thiên Chúa về tình yêu thương áp dụng trong phương pháp phi bạo lực của Gandhi là một trong những vũ khí hữu hiệu nhất mà người da đen có thể sử dụng trong công cuộc đấu tranh cho tự do của mình. Khoảng một tuần sau khi cuộc biểu tình bắt đầu, một người phụ nữ da trắng, thấu hiểu và đồng cảm với nỗ lực của người da đen, đã viết một lá thư cho biên tập viên của tờ Montgomery Advertiser, so sánh cuộc phản kháng xe buýt với phong trào Gandhi tại Ấn Độ. Đó là cô Juliette Morgan, đa cảm và mỏng manh, đã không thể chịu đựng được sự từ bỏ và chỉ trích của cộng đồng người da trắng. Nhưng trước khi cô tự vẫn vào mùa hè năm 1957, từ rất lâu rồi cái tên Mahatma Gandhi đã trở nên phổ biến tại Montgomery. Những người trước đây chưa từng nghe về vị Thánh Da Nâu nhỏ người của Ấn Độ, giờ đây đã nhắc đến ông với cảm giác quen thuộc. Phản kháng phi bạo lực đã trở thành phương pháp của phong trào, và tư tưởng dẫn dắt là tình yêu thương. Nói cách khác, Thiên chúa trang bị cho chúng tôi tinh thần và động lực, còn Gandhi cung cấp cho chúng tôi phương pháp.
Triết lý này đã được lan truyền chủ yếu qua các cuộc họp mặt quần chúng được tổ chức tại các nhà thờ người da đen trong Thành phố. Trong nhiều tháng đầu tiên, các cuộc họp diễn ra hai lần một tuần, vào các ngày thứ Hai và thứ Năm. Đến mùa thu năm 1956 đã giảm xuống còn một lần một tuần, và được duy trì cho đến thời điểm này. Vào giai đoạn khởi đầu của cuộc phản kháng, những cuộc họp mặt hai lần một tuần này là kênh thông tin không thể thiếu được khi mà Montgomery không hề có một trạm radio của người da đen hay một tờ báo được nhiều người da đen theo dõi.
Những cuộc họp mặt này xoay vòng hết nhà thờ này sang nhà thờ khác. Các diễn giả thuộc nhiều giáo phái, do đó không thể có sự so đo giữa các giáo phái. Một trong những niềm tự hào của phong trào Montgomery là phái Tẩy Lễ (Baptist), Giám Lý (Methodists), Luther (Lutherans), Tin Lành Trưởng Lão (Presbyterians), Tân Giáo (Episcopalians) và các giáo phái khác đã vượt qua được sự phân biệt mà ngồi lại với nhau. Mặc dù không có bất kỳ linh mục Công giáo nào tích cực tham gia cuộc phản kháng, nhưng rất nhiều giáo dân Công giáo đã góp sức vào đó. Tất cả đều chung tay trong sự gắn kết của tình yêu Thiên Chúa. Kết quả là những cuộc họp mặt quần chúng diễn ra vào các tối thứ Hai và thứ Năm là một điều mà một mình Nhà thờ Cơ Đốc giáo không thể làm được vào các sáng Chúa nhật.
Những cuộc họp này còn xóa bỏ được ranh giới giữa các tầng lớp. Đa số những người có mặt đều thuộc tầng lớp lao động. Tuy nhiên luôn có một số lượng đáng kể những người thuộc tầng lớp trí thức đến tham dự. Những bác sĩ, giáo viên và luật sư ngồi hoặc đứng bên cạnh những người giúp việc và người lao động phổ thông. Những tiến sĩ và những người chẳng có một chữ "sĩ" nào được gắn kết với nhau trên một hành trình chung. Những người được gọi là các “ông lớn” trong cộng đồng da đen, những người có xe hơi và chưa từng phải đi xe buýt đã tiếp xúc với những người hầu và người lao động trước đây phải đi xe buýt hàng ngày. Đàn ông và phụ nữ, những người đã từng có khoảng cách vì những chuẩn mực sáo rỗng về đẳng cấp giờ đây đang hát Thánh ca và nguyện cầu cùng nhau trong một cuộc đấu tranh chung vì tự do và nhân phẩm con người.
Cuộc họp mặt bắt đầu lúc 7 giờ, nhưng người ta thường có mặt từ rất sớm để tìm chỗ ngồi. Sẽ không có gì lạ nếu người ta bắt gặp các nhà thờ đã chứa đầy người vào lúc 5 giờ chiều. Một vài người đọc sách, báo trong lúc đợi, những người khác làm thành nhóm cùng hát ca. Thông thường những bài Thánh ca vang lên trước những buổi họp là những giai điệu phô, chồng lấp, tông trầm với trường độ dài. Bất kỳ ai cũng khó có thể kiềm lòng trước những bài hát truyền thống này, những bài hát gợi nhớ lại quá trình đau khổ dai dẳng của người da đen.
Vào lúc cuộc họp bắt đầu, gần như không còn một chỗ trống, và thường cả trăm người phải đứng tràn ra đường. Nhiều người đến muộn đã tính trước bằng cách đem theo những chiếc ghế xếp, và nhiều người khác quyết định ra về vì họ không thể tìm được chỗ trống. Ban đầu chúng tôi đã cố gắng giải quyết vấn đề này bằng cách tổ chức ít nhất năm cuộc họp mặt liên tục tại những khu khác nhau của Thành phố, mỗi cuộc họp đều có chung chủ đề và cách thức. Trong nhiều tuần liền tôi quyết tâm tham dự hết cả năm cuộc họp, nhưng đây là một công việc vô cùng vất vả. Hơn nữa, mọi người bắt đầu bày tỏ mong muốn được họp mặt cùng nhau, thế là không lâu sau chúng tôi trở về với việc tổ chức một buổi họp quần chúng lớn.
Những cuộc họp này diễn ra theo một trình tự đơn giản: hát, cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, lời khai mạc của Chủ tịch, tổng kết, báo cáo của các ủy ban, và một “bài lên dây cót tinh thần”. Phần sau cùng là phần chính của buổi tối, thường được thực hiện bởi mục sư, mỗi buổi họp một vị khác nhau. Phần “lên dây cót tinh thần” là cái tên có vẻ không được nghiêm túc cho lắm vào những ngày đầu của cuộc phản kháng, khi mà mục tiêu sơ khởi là “cổ vũ tinh thần” và khơi dậy nhiệt huyết để chuẩn bị cho những khó khăn phía trước. Hết tối này đến tối khác, mọi người được nhắc nhở phải yêu thương thay vì thù ghét, và được kêu gọi phải chuẩn bị nếm trải bạo lực nếu cần thiết, nhưng không bao giờ được chủ động gây ra bạo lực. Mỗi diễn giả đều được yêu cầu phải đặt phi bạo lực làm trọng tâm trong bài nói chuyện của mình.
Hiển nhiên có khi không thể tránh khỏi một diễn giả nào đó đi quá giới hạn. Có một mục sư, sau khi trút giận lên người da trắng bằng những cụm từ rõ ràng là phản tôn giáo, kết thúc bài nói bằng việc gọi những người cực đoan của cộng đồng da trắng là “những người tâm thần dơ bẩn”. Sau buổi họp mặt, chúng tôi đã thông báo cho vị mục sư này một cách nhẹ nhàng nhưng kiên quyết rằng những cụm từ xúc phạm đó không được chấp nhận. Và cũng bất ngờ là những trường hợp sử dụng ngôn từ phản cảm như vậy rất hiếm khi xảy ra.
Trong phần nhận xét hàng tuần với tư cách là Chủ tịch, tôi nhấn mạnh việc sử dụng bạo lực trong cuộc đấu tranh của chúng ta là một việc không thiết thực và trái đạo lý. Đáp trả thù hận bằng nhiều thù hận hơn sẽ chẳng làm được gì ngoài gia tăng năng lượng xấu trong vũ trụ. Thù hận sinh ra thù hận; bạo lực đem lại bạo lực; tàn bạo sẽ nhận lại sự tàn bạo lớn hơn nữa. Chúng ta cần phải đối đầu với sức mạnh của hận thù bằng sức mạnh của tình yêu; chúng ta phải đương đầu với sức mạnh vũ lực bằng sức mạnh tinh thần. Chúng ta đừng bao giờ đặt mục tiêu là đánh bại hay hạ nhục người da trắng, mà là giành được tình bằng hữu cùng sự thấu hiểu và cảm thông của họ.
Ngay từ lúc đầu, mọi người đã đón nhận triết lý này bằng lòng nhiệt tình đáng ngạc nhiên. Cân nhắc hơn, có một vài người phải mất một thời gian mới chấp nhận nó. Đôi khi một vài thành viên của Ban Điều hành nói riêng với tôi rằng chúng tôi cần một biện pháp cứng rắn hơn. Họ cho rằng phi bạo lực là một phương pháp yếu đuối và thỏa hiệp. Những người khác cảm thấy một chút bạo lực sẽ thuyết phục người da trắng tin rằng người da đen đang nghiêm túc và họ không sợ hãi. Một hôm, một thành viên tại nhà thờ của tôi đã tìm tôi và nghiêm túc để nghị rằng việc “thủ tiêu” tám hoặc mười người da trắng sẽ đem lại lợi thế cho mọi người. “Đây là loại thông điệp duy nhất mà những người da trắng có thể hiểu được”, anh ta nói. “Nếu chúng ta không làm được điều này họ sẽ nghĩ rằng chúng ta đang run sợ. chúng ta phải cho họ thấy rằng mình không còn sợ hãi nữa”. Ngoài ra, anh ta còn nghĩ nếu một vài người da trắng bị sát hại thì Chính phủ Liên bang chắc chắn sẽ can thiệp và điều này, anh ta quả quyết, sẽ đem lại ích lợi cho chúng tôi.
Những người khác, dù không khuyến khích bạo lực, vẫn cảm thấy họ chỉ có thể phi bạo lực khi cá nhân họ không bị tấn công. Họ nói rằng: “Nếu không ai làm phiền tôi, tôi sẽ không làm phiền ai hết. Nếu không ai đánh tôi, tôi sẽ không đánh ai hết. Nhưng nếu tôi bị đánh, tôi sẽ đánh trả”. Do đó họ đặt ra một ranh giới đạo đức giữa bạo lực hung hãn và bạo lực phản kháng. Nhưng mặc những bất đồng thực sự đó, đa số mọi người đều sẵn lòng thử nghiệm lý thuyết này.
Chính tinh thần của những buổi họp mặt đã cho thấy con người thật của mọi người. Những bài hát, những lời cầu nguyện, những lời đọc Kinh Thánh, và những bài phát biểu nhìn chung đều mang màu sắc phi bạo lực. Một đoạn trong Kinh Thánh được mọi người ưa thích là “Giờ đây sống trong niềm tin, hy vọng và tình yêu, trong đó điều vĩ đại nhất là tình yêu”. Một đoạn khác cũng được yêu thích là cuộc đối thoại nổi tiếng giữa Chúa Jesus và Thánh Phêrô về lòng khoan dung: “Và rồi Phêrô đến bên Người và hỏi “Thưa Ngài, sao huynh đệ con làm tổn hại con mà con phải tha thứ cho hắn? Đến bảy lần?”. Chúa Jesus trả lời “Ta không dạy các con đến bảy lần mà là gấp bảy mươi lần bảy như thế. Đối với những người đến dự cuộc họp mặt quần chúng, những lời dạy từ Kinh Thánh này không phải là những ý tưởng trừu tượng vọng lại từ những thế kỷ trước xa xôi, mà chúng thực sự có ý nghĩa đối với bản thân mỗi người ngay trong hiện tại.
Trong suốt hành trình, thật đáng ngạc nhiên là sự cay nghiệt rất ít khi xuất hiện, ngay cả khi những diễn giả nhắc tới sự xúc phạm gần đây nhất của người da trắng hay hành động khủng bố của họ. Và ngay cả sau đó, khi Hiệp hội phải đối mặt với cơn khủng hoảng nội bộ nghiêm trọng duy nhất trong quá trình hoạt động, mọi người đã cho thấy rằng họ có thể giải quyết bất đồng với một sự kiềm chế ôn hòa, tránh xa không chỉ các hành động bạo lực mà ngay cả trong suy nghĩ.
Trên thực tế, những người da đen Montgomery sẵn sàng học hỏi một biện pháp mới để giải quyết khủng hoảng trong mối quan hệ chủng tộc. Có thể phần lớn họ thật sự vẫn không tin vào phi bạo lực như một triết lý sống, nhưng vì niềm tin dành cho các thủ lĩnh của mình và vì phi bạo lực được đưa đến với họ đơn giản như một cách thực hành giáo lý Cơ Đốc giáo, họ sẵn sàng thực hiện nó như một phương pháp. Nhưng phải nhìn nhận rằng, phi bạo lực theo nghĩa thực chất của nó không phải là một chiến lược mà người ta sử dụng chỉ bởi nó phù hợp vào thời điểm đó. Sau tất cả, phi bạo lực thực sự là một cách mà con người hành xử vì tinh thần đạo đức cao cả đã được khẳng định. Nhưng ngay cả như vậy đi nữa thì việc sẵn lòng sử dụng phương pháp phi bạo lực đã là một sự tiến bộ. Bởi vì những ai đã đi đến bước này rồi thì sau đó sẽ có xu hướng tiếp nhận phi bạo lực như một lẽ sống.
Chương VI
Hành hương đến phi bạo lực
Có một câu hỏi thường xuyên được đặt ra trong quá trình nhận thức của tôi về Phi bạo lực. Để hiểu được vấn đề này, phải quay trở về tuổi thơ ở độ tuổi mười mấy của tôi ở Atlanta. Từ bé cho đến lớn, tôi đã ghê tởm sự phân biệt kỳ thị đi cùng với sự đàn áp và các hành động man rợ. Tôi từng đi ngang qua những nơi người da đen bị hành hình dã man, và đã từng thấy vó ngựa đêm của nhóm người Ku Klux Klan. Tôi đã chính mắt thấy sự thô bạo của cảnh sát, và đã trông thấy cảnh người da đen bị xử bất công bi thảm nhất ở tòa án. Tất cả những điều này đã ảnh hưởng đến tính cách của tôi khi tôi trưởng thành. Nó nghiêm trọng đến mức đã khiến tôi gần như rất oán giận tất cả người da trắng.
Tôi cũng hiểu ra được sự bất công kỳ thị chủng tộc và sự bất công về kinh tế là cặp bài trùng như bóng với hình. Mặc dù tôi xuất thân từ gia đình có kinh tế ổn định và có cuộc sống khá thoải mái, nhưng những hình ảnh khốn khó của đám bạn chơi chung cùng với sự bần cùng bi thảm của những người sống xung quanh chưa bao giờ ngừng ám ảnh tôi. Năm 18 và 19 tuổi, tôi đi làm vào mùa hè, điều đó ngược với ý muốn của cha tôi. Ông không hề muốn tôi và em trai tôi làm việc trong môi trường của người da trắng có nhiều áp bức. Đó là xưởng có cả người da trắng và da đen làm việc. Ở đây tôi thấy tận mắt sự đối xử bất công; người nghèo hèn da trắng cũng bị lợi dụng nhiều như người da đen. Qua những trải nghiệm sớm sủa ấy, tôi đã ý thức sâu sắc về các loại bất công trong xã hội mình đang sống.
Vì thế, vào năm 1944, khi trở thành sinh viên năm thứ nhất của trường Đại học Morehouse ở Atlanta tôi đã rất quan tâm đến sự bất công về chủng tộc và kinh tế. Thời sinh viên ở Morehouse, khi đọc “Bài luận về Bất tuân dân sự” của Thoreau, tôi đã bị lôi cuốn bởi ý nghĩ bất hợp tác với một chế độ xấu xa. Tôi đã rất xúc động và đọc đi đọc lại mấy lượt bài luận ấy. Đó là lần đầu tiên tôi được đọc luận thuyết đầy trí tuệ về phản kháng phi bạo lực.
Mãi cho đến năm 1948, khi vào trường dòng thần học Crozer, tôi mới thực sự bắt đầu hành trình tìm kiếm cách loại bỏ những cái xấu, cái ác trong xã hội. Mặc dù niềm đam mê của tôi là thần học và triết học, tôi đã dành rất nhiều thời gian để đọc những tác phẩm của các triết gia xã hội nổi tiếng. Tôi đã sớm được đọc “Đạo Cơ Đốc và khủng hoảng xã hội” của Walter Rauschenbusch. Tác phẩm này đã tạo một dấu ấn khó phai nhạt trong tôi, nó trở thành nền tảng tư duy (theo thần học) khi mối quan tâm xã hội của tôi ngày một lớn dần qua những trải nghiệm trong quá khứ. Dĩ nhiên có những điểm khác biệt giữa tôi và Rauschenbusch. Tôi cảm thấy ông quá tin vào “Thuyết tiến bộ tất yếu” (Cult ofinevitableprogress) của thế kỷ 19 dẫn đến việc ông quá lạc quan về bản chất tự nhiên của con người. Ông còn gần như muốn định nghĩa một cách nguy hại về Thế giới của Thượng Đế là một hệ thống xã hội, kinh tế đặc biệt - một khuynh hướng mà Giáo hội không bao giờ chấp nhận. Dù có những thiếu sót này, nhưng Rauschenbusch cũng đã có đóng góp cho Giáo Hội Cơ Đốc bằng cách nhấn mạnh Phúc Âm (là những thông điệp của Thượng đế) giúp giải quyết vấn để con người, không chỉ tâm hồn mà cả thể xác, không chỉ là nói về hạnh phúc tinh thần, mà cả hạnh phúc vật chất. Điều đã thuyết phục tôi khi đọc Rauschenbusch là nếu tôn giáo nào tự nhận chỉ quan tâm đến linh hồn, không quan tâm đến tình trạng kinh tế xã hội đã làm tổn thương tâm hồn thì đó là một tôn giáo suy tàn chỉ chờ ngày mai táng hiểu theo nghĩa bóng. Điều đó được diễn giải như thế này: “Một tôn giáo mà chỉ lo cho con người hoặc về mặt tâm linh hoặc chỉ về vật chất thì tôn giáo ấy đã tự kết liễu mình”.
Sau khi đọc những gì Rauschenbusch viết, tôi chuyển sang nghiên cứu chuyên sâu lý thuyết về xã hội và đạo đức của những triết gia danh tiếng, từ Plato và Aristotle cho đến Rousseau, Hobbes, Bentham, Mill và Locke. Tất cả những bậc thầy này đã nuôi dưỡng tư duy của tôi từ khi nó còn sơ khai. Mặc dù trong chia sẻ của mỗi tác giả tôi đều có điểm băn khoăn, cuối cùng tôi vẫn học được rất nhiều từ những nghiên cứu của họ.
Trong thời gian nghỉ Giáng Sinh năm 1949, tôi quyết định dành thời gian rảnh đọc Karl Marx để hiểu lý do vì sao Chủ nghĩa Cộng sản lại thu hút nhiều người đến vậy. Lần đầu tiên tôi phân tích tỉ mỉ cuốn Tư bản và Tuyên ngôn Cộng sản. Và cũng đọc thêm vài Công trình lý giải tư duy của Marx và Lenin. Trong quá trình đọc những tác phẩm Cộng sản đó tôi đã rút ra được một số kết luận và vẫn bảo lưu nó cho đến ngày hôm nay.
[...]
Trong thời gian ở Crozer, lần đầu tiên tôi được nghe Giáo sư A. J. Muste giảng về Chủ nghĩa Hòa bình. Bài nói của Giáo sư Muste đã làm tôi cảm động vô cùng, nhưng lại không thể thuyết phục tôi về tính thực tiễn của chủ nghĩa ấy của ông. Như phần lớn các sinh viên khác ở Crozer, tôi cảm nhận rằng chiến tranh thật sự không phải là một điều tích cực hay chân lý tuyệt đối, nhưng nó có thể sử dụng như một phương cách dù là tiêu cực, để ngăn cản sự lan truyền và phát triển của những thế lực gian ác. Chiến tranh, vốn là một điều tồi tệ, có thể vẫn đáng chọn hơn là đầu hàng trước một hệ thống toàn trị như Đức quốc xã, Phát xít hay Cộng sản.
Trong giai đoạn này, tôi gần như đã mất niềm tin vào sức mạnh của tình yêu thương trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Có lẽ niềm tin của tôi vào tình thương đã bị tạm thời lung lay bởi triết lý của Nietzsche. Lúc bấy giờ tôi đã đọc được một vài phần của quyển Phả hệ Đạo đức (The Genealogy of Momls) và toàn bộ quyển Ý chí Quyền lực (The Will to Power). Sự tôn vinh quyền lực của Nietzsche - ỏng đưa ra lý thuyết cho rằng mọi loài đều khát khao quyền lực - là hệ quả của thái độ xem nhẹ đạo lý thông thường của ông ta. Ông tấn công toàn bộ hệ thống đạo lý của Kito giáo Do Thái - bao gồm sự sùng đạo và khiêm nhường, niềm tin về thế giới khác và thái độ đối với những đau khổ - rằng sùng đạo là bênh vực sự yếu đuối, khiêm nhường là vờ đức hạnh trong sự bất đắc dĩ và bất lực. Ông ta trông đợi sự phát triển của một giống người thượng đẳng, mà sẽ vượt lên trên nhân loại ngày nay như cách con người đã từng vượt lên trên loài khỉ.
Nhưng rồi vào một trưa Chúa nhật tôi đến Philadelphia để nghe bài thuyết giảng của Giáo sư Mordecai Johnson, Viện trưởng Trường Đại học Howard. Ông tới để thuyết giảng tại Trung tâm phục hồi tâm lý Fellowship House. Giáo sư Johnson vừa trở về từ chuyến viếng thăm Ấn Độ, và điều khiến tôi thích thú là ông đã nói về cuộc đời và những bài thuyết giảng của Mahatma Gandhi. Thông điệp của ông ấy sâu sắc và rúng động đến mức ngay sau khi ra về tôi đã mua cả sáu cuốn sách về cuộc đời và sự nghiệp của Gandhi.
Như phần lớn mọi người, tôi đã từng nghe đến Gandhi, nhưng tôi chưa bao giờ nghiên cứu nghiêm túc về ông ấy. Trong quá trình tìm hiểu, tôi đã rất ấn tượng bởi chiến dịch phản kháng phi bạo lực của ông ấy. Tôi đặc biệt cảm động trước Cuộc Tuần hành Muối, [2] và vô số lần tuyệt thực của ông. Toàn bộ tư tưởng về “Satyagraha” ( Satya vừa mang nghĩa chân lý vừa là tình thương, và agraha là sức mạnh. “Satyagraha”, theo đó có nghĩa là sức mạnh chân lý hay sức mạnh tình thương) đối với tôi có tầm quan trọng vô cùng to lớn. Càng nghiên cứu sâu về triết lý của Gandhi, sự hồ nghi của tôi về sức mạnh của tình thương dần tan biến, và lần đầu tiên trong đời tôi thấy được sức ảnh hưởng của nó trong lĩnh vực cải cách xã hội.
Trước khi nghiên cứu về Gandhi, tôi đã hời hợt kết luận giáo lý của Chúa Jesus chỉ hiệu quả trong các mối quan hệ cá nhân. Triết lý “vả má bên này, đưa luôn má bên kia” và “yêu thương kẻ thù của mình” theo như tôi cảm nhận, chỉ có giá trị khi mà các cá nhân gặp mâu thuẫn với nhau. Khi các nhóm chủng tộc và quốc gia xảy ra mâu thuẫn thì một giải pháp thực tế hơn mới là điều ta cần. Nhưng sau khi đọc về Gandhi, tôi nhận ra mình đã sai lầm đến nhường nào.
Gandhi có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử đã nâng giáo lý về tình thương của Chúa Jesus vượt lên trên sự tương tác đơn thuần giữa những cá nhân thành một sức mạnh xã hội đắc lực và hiệu quả trên diện rộng. Đối với Gandhi, tình thương là một công cụ mạnh mẽ để đưa đến cải cách xã hội và thay đổi thể chế. Chính trong sự đề cao tình thương và bất bạo động này của Gandhi, tôi phát hiện ra đây là phương pháp cải cách xã hội mà tôi đã tìm kiếm trong bao nhiêu tháng trời.
Tôi mãn nguyện về tri thức và đạo lý mà tôi tìm được trong triết lý phản kháng phi bạo lực của Gandhi, trong khi không nhận được những điều đó từ chủ nghĩa thực dụng của Bentham và Mill, từ phương pháp cách mạng của Marx và Lenin, từ lý thuyết khế ước xã hội của Hobbes, từ sự lạc quan “trở về tự nhiên” của Rousseau, và từ triết lý giống người thượng đẳng của Nietzsche. Cuối cùng tôi đã nhận ra rằng đây là phương pháp hợp lẽ phải và khả thi duy nhất dành cho những người bị áp bức trong quá trình đấu tranh cho tự do.
Hành trình tri thức đến phi bạo lực của tôi không dừng ở đó. Trong năm cuối tại trường Thần học, tôi bắt đầu đọc các tác phẩm của Reinhold Niebuhr. Những yếu tố tiên đoán và thực tế trong văn phong mãnh liệt của Niebuhr và những suy nghĩ thâm uyên của ông đã hấp dẫn tôi, và tôi trở nên quá say mê những đạo lý xã hội của ông ấy đến mức gần như rơi vào tình trạng tiếp nhận mà không hề phân tích tất cả những gì ông viết.
Trong khoảng thời gian này, tôi đọc những bình luận của Niebuhr về quan điểm chống chiến tranh. Niebuhr đã từng là một thành viên đứng trong hàng ngũ của trường phái Hòa bình. Trong nhiều năm, ông là Chủ tịch toàn quốc của Hiệp hội Hòa giải. Sự chia tay của ông với trường phái Hòa bình xảy ra vào đầu thập niên ba mươi, và những lời chỉ trích của ông được tuyên bố đầy đủ đầu tiên trong cuốn Con người Đạo đức và Xã hội Vô Đạo đức (MoralMan and Immoral Society). Trong đó ông lập luận rằng thực chất không có sự mâu thuẫn nào về vấn đề đạo đức giữa phản kháng bạo lực và phản kháng phi bạo lực. Ông khẳng định, chẳng qua chỉ khác nhau là ở hệ quả xã hội mà hai phương pháp để lại, nhưng sự khác biệt này thuộc về mức độ chứ không phải về bản chất. Sau đó Niebuhr bắt đầu nhấn mạnh sự vô trách nhiệm của việc dựa dẫm vào phản kháng phi bạo lực, khi mà không có bất kỳ cơ sở nào để tin nó sẽ thành công trong việc ngãn chặn sự lan truyền của nền độc tài toàn trị. Ông lập luận rằng phản kháng phi bạo lực chỉ thành công khi đối phương còn có lương tâm đạo đức ở một mức độ nhất định nào đó, ví dụ như trường hợp cuộc đấu tranh chống lại người Anh của Gandhi. Và lập luận cuối cùng bác bỏ Chủ nghĩa Hòa bình của Niebuhr chủ yếu dựa trên học thuyết về con người. Ông cho rằng trường phái Hòa bình đã thất bại trong việc thực hiện đúng giáo lý cải cách về sự Công chính [3] theo đức tin, thay vào đó là một trường phái theo chủ nghĩa hoàn hảo tin rằng an sủng thiêng liêng thật sự có thể đưa con người thoát ra khỏi những mâu thuẫn đẫy lỗi lầm trong quá khứ và đem họ lên thiên đường xa rời những tội lỗi của thế gian”.
Thoạt đầu, những chỉ trích của Niebuhr về Chủ nghĩa Hòa bình làm cho tôi bối rối. Nhưng càng đọc nhiều hơn, tôi lại phát hiện ngày càng nhiều lỗ hổng trong quan điểm của ông ấy. Ví dụ như rất nhiều phát biểu của ông ấy cho thấy ông ấy nhìn nhận Chủ nghĩa Hòa bình như một loại phản kháng thụ động đối với cái ác và biểu hiện một niềm tin dại khờ vào sức mạnh của tình thương. Nhưng đó là một sự bóp méo nghiêm trọng. Kết quả nghiên cứu về Gandhi đã cho tôi nhận thức thấy Chủ nghĩa Hòa bình đích thực không phải là không kháng cự lại cái ác, mà là phản kháng lại nó một cách phi bạo lực. Giữa hai ý tưởng này có một sự khác biệt vô cùng lớn. Gandhi phản đối cái ác với một nghị lực và sức mạnh chẳng kém gì những nhà đầu tranh bạo động, nhưng ông phản kháng bằng tình thương thay vì bằng lòng thù hận. Chủ nghĩa Hòa bình đích thực không phải là một sự quy phục mù quáng dưới quyền lực của cái ác, như Niebuhr tranh luận.
Nói đúng hơn nó là một cách đối mặt đầy can đảm với quyền lực của cái ác bằng tình thương, với niềm tin rằng chấp nhận làm người gánh chịu bạo lực thay vì là kẻ gây ra bạo lực sẽ tốt hơn. Bởi vì gây ra bạo lực là chỉ làm tăng thêm sự tồn tại của bạo lực và sự đau đớn trong vũ trụ, trong khi đó bằng lòng thương yêu ta có thể đánh động sự hổ thẹn của đối phương, và từ đó mang lại một sự chuyển hóa và thay đổi nhận thức.
Mặc dù thực tế tôi cảm nhận là triết lý của Niebuhr còn nhiều thiếu sót, nhưng có rất nhiều lúc ông đã gây ảnh hưởng tích cực đến tư duy của tôi. Niebuhr đã có đóng góp lớn cho thuyết Thần học đương đại qua việc bác bỏ sự lạc quan hão - điểm đặc trưng của một phần lớn những người theo Chủ nghĩa Tự do Tin Lành - mà không lạc lối vào con đường chống đối chủ nghĩa lý luận như nhà thần học lục địa Karl Barth, hay trào lưu bán chính thống của những nhà thần học biện chứng khác. Ngoài ra, Niebuhr có những hiểu biết rất sâu sắc về bản chất con người, đặc biệt là về chế độ của các quốc gia và hành vi của các nhóm xã hội. Ông nhận thức rất rõ về tính phức tạp đằng sau động cơ của con người và mối liên hệ giữa luân lý và quyền lực. Lý thuyết thần học của ông nhắc đi nhắc lại thực trạng các cấp độ tội ác của con người. Những yếu tố này trong tư duy của Niebuhr đã giúp tôi nhận ra ảo tưởng về bản chất con người do sự lạc quan thiếu suy xét và tác hại của một chủ nghĩa duy tâm sai lầm. Tôi vẫn tin vào lòng hướng thiện của con người, nhưng Niebuhr đã cho tôi thấy được cả dã tâm ác độc tiềm ẩn nữa. Và hơn thế, Niebuhr đã giúp tôi nhận ra sự phức tạp trong hoạt động xã hội của con người và tình trạng đáng báo động của cái ác có tổ chức.
Tôi có cảm giác rằng nhiều người theo trường phái Hòa bình không ý thức được điều này. Quá nhiều người trong số họ đã có sự lạc quan vô căn cứ về con người và vô hình trung nghiêng về xu hướng tự cao tự mãn. Chính vì không chấp nhận những thái độ này, do ảnh hưởng của Niebuhr, khiến tôi chưa bao giờ tham gia một tổ chức Chủ nghĩa Hòa bình nào mặc dù tôi đánh giá rất cao trường phái Hòa bình. Sau khi đọc Niebuhr, tôi đã cố tìm đến một chủ nghĩa hòa bình khả thi hơn. Nói cách khác, tôi nhận ra quan điểm đấu tranh ôn hòa không phải là hoàn toàn thánh thiện mà là hành xử ít tàn nhẫn hơn trong bối cảnh đấu tranh. Cho đến nay tôi vẫn nghĩ rằng những người theo trường phái Hòa bình sẽ có sức thuyết phục hơn nhiều nếu họ không tuyên bố rằng luân lý đạo đức không ràng buộc họ, như những người Công giáo không theo trường phái Hòa bình.
Giai đoạn tiếp theo của chuyến hành hương bằng lý trí đến phi bạo lực diễn ra trong lúc tôi đang học tiến sĩ tại trường đại học Boston. Tại đây tôi đã có cơ hội trao đổi với rất nhiều người ủng hộ phi bạo lực, cả sinh viên lẫn diễn giả được mời đến trường. Trường Đại học Thần học Boston, dưới sự ảnh hưởng của Dean Walter Muelder và Giáo sư Allen Knight Chalmers, dành nhiều thiện cảm đối với Chủ nghĩa Hòa bình. Cả Dean Muelder và Giáo sứ Chalmers đều có một niềm đam mê với công lý xã hội, bắt nguồn không phải từ một niềm lạc quan do sự nông cạn mà là từ niềm tin vững chắc vào khả năng của con người khi họ dấn thân trở thành người cộng sự của Chúa. Chính thời gian học ở trường Đại học Boston tôi nhận ra Niebuhr đã cường điệu hóa những điều bại hoại xấu xa trong bản chất của con người. Cái nhìn bi quan của ông về con người đã không được điều tiết bằng niềm lạc quan về bản chất thánh thiện trong họ. Ông đã quá say mê mổ xẻ căn bệnh tội lỗi của con người đến mức bỏ qua khả năng chữa lành của lòng nhân ái.
Trong thời gian ở Đại học Boston, tôi đã học về triết học và thần học với Edgar S. Brightman và L. Harold DeWolf. Cả hai đã kích thích tư duy của tôi rất nhiều. Dưới sự hướng dẫn của hai người thầy này tôi được học về triết học Chủ nghĩa Nhân Cách - lý thuyết cho rằng ý nghĩa của thực thể tối cao được tìm thấy trong nhân cách con người. Chủ nghĩa Nhân Cách Duy Tâm (trong tương quan với Thượng đế) này cho đến ngày nay vẫn giữ vai trò nền tảng trong triết lý tư duy của tôi. Sự khẳng định trong chủ nghĩa Nhân Cách rằng chỉ có nhân cách - hữu hạn và vô hạn - (hướng thiện và phát triển từ hữu hạn đến vô hạn) mới là sự thật cuối cùng về con người, khiến hai niềm tin của tôi càng được củng cố mạnh mẽ. Đó là, niềm tin về một đấng Thượng Đế mang hình hài con người - đã được đặt trên cơ sở triết lý siêu nhiên; và niềm tin đối với chân giá trị của tất cả nhân cách con người. (Nhân cách học trong thần giáo, Personalism - đặc biệt là Công giáo - con người hướng thiện phát triển nhân cách đến cuối cùng là hợp nhất với Thượng đế.)
Trong thời gian cuối đời của Giáo sư Brightman, tôi đẵ bắt đầu công trình nghiên cứu triết lý của Hegel cùng với ông. Mặc dù khóa học chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu tác phẩm trứ danh của Hegel, Hiện tượng học Tâm trí (Phenomenology of Mind), tôi vẫn dành thời gian rảnh để đọc các tác phẩm khác của ông như Triết học Lịch sử (Philosophy of History) và Triết học về Quyền (Philosophy of Life). Có những điểm trong triết lý của Hegel mà tôi rất không tán đồng. Ví dụ như Chủ nghĩa Duy Tâm Tuyệt Đối của ông ấy thật sự vô lý bởi vì nó có xu hướng đánh đồng nhiều điều vào một thứ duy nhất. Nhưng có những khía cạnh khác trong tư duy của ông ấy khiến tôi hứng thú. Luận điểm chân lý toàn diện [4] của ông đưa tôi đến với một phương pháp lý luận triết học mạch lạc. Những phân tích của ông về quá trình biện chứng, cho dù có những hạn chế, đã giúp tôi thấy được rằng để có sự phát triển thì phải trải qua thử thách.
Năm 1954, tôi hoàn tất chương trình tập huấn chính quy về triết học xã hội thực chứng được quy kết từ nghiên cứu của nhiều nhóm trí thức khác nhau. Một trong những nguyên lý chính của môn triết học này là sự khẳng định phản kháng phi bạo lực là vũ khí mạnh mẽ nhất mà những người chịu áp bức có thể sử dụng trong cuộc đấu tranh đòi công lý xã hội của họ. Tuy nhiên, tại thời điểm đó tôi chỉ học để thu thập kiến thức và thấy thích quan điểm này, chứ tôi chưa đặt quyết tâm để tổ chức nó thành một trường hợp gây được sức ảnh hưởng lên xã hội.
Khi đến Montgomery với vai trò là một mục sư, tôi không hề ngờ đến việc mình sẽ bị cuốn vào một cuộc khủng hoảng, nơi mà phản kháng phi bạo lực sẽ phát huy tác dụng. Tôi chưa từng khởi xướng hay đề nghị một cuộc phản kháng, mà chỉ đơn giản là đáp lại mong muốn có một người đại diện của người dân. Khi cuộc phản kháng bắt đầu, dù là ý thức hay vô thức, Bài giảng Trên núi của Chúa đã trở về trong tâm trí tôi - với những lời dạy cao cả của Ngài về tình thương - và phương pháp phản kháng phi bạo lực của Gandhi. Mỗi ngày qua đi, tôi càng thấy rõ hơn sức mạnh của phi bạo lực. Được sống qua những trải nghiệm thực tế của cuộc biểu tình, trong tôi phi bạo lực không chỉ là một phương pháp mà tôi tán thành trên lý thuyết nữa, nó đã trở thành một lối sống mà tôi nguyện gắn bó. Rất nhiều điều trước đó tôi không thể làm rõ trên lý thuyết khi bàn về phi bạo lực, giờ đây đã được giải quyết trong hoạt động thực tế.
Bởi vi triết lý phi bạo lực đã đóng một vai trò vô cùng rõ rệt trong Phong trào Montgomery. Một ít phân tích ngắn gọn về những khía cạnh cơ bản của triết lý này có lẽ cũng rất bổ ích.
Đầu tiên, cần phải nhấn mạnh rằng phản kháng phi bạo lực không phải là phương pháp dành cho những kẻ hèn nhát, bởi nó vẫn là sự kháng cự. Nếu một ai đó sử dụng phương pháp này vì họ sợ hãi hay đơn thuần là họ thiếu công cụ để thực hiện phản kháng bạo lực thì đó không phải là phi bạo lực thật sự. Đây là lý do vì sao Gandhi vẫn thường nói, nếu sự hèn nhát là cách duy nhất để không phải dùng đến bạo lực thì chọn cách chiến đấu vẫn hơn. Ông đưa ra phát biểu này khi ông hiểu rõ là sẽ luôn có một cách khác mà không phải sử dụng bạo lực: không một cá nhân hay một nhóm nào buộc phải quy phục cái ác, và họ cũng không cần sử dụng vũ lực để chỉnh sửa những điều sai trái. Cách khác đó chính là con đường của phản kháng phi bạo lực. Nói cho cùng đây là con đường của người mạnh mẽ. Nó không phải là một phương pháp bị động, trì trệ. Cụm từ “phản kháng thụ động” thường gây nhầm lẫn rằng đây là loại phương pháp “không làm gì cả”, qua đó người phản kháng lặng lẽ và thụ động chấp nhận cái ác. Nhưng đây là một sự nhầm lẫn trầm trọng. Mặc dù có thể nói người phản kháng phi bạo lực thụ động trong việc thực hiện những hành động hung hãn chống lại đối phương của mình, nhưng suy nghĩ và cảm xúc của họ luôn trong trạng thái chủ động, liên tục tìm cách thuyết phục để đối phương nhận thấy mình phạm sai lầm. Phương pháp này thụ động về mặt vật lý, nhưng cực kỳ chủ động về mặt tinh thần. Nó không phải là phản kháng phi bạo lực thụ động với cái ác, mà là sự phản kháng phi bạo lực một cách chủ động nhằm chống lại cái ác.
Tính chất cơ bản thứ hai làm nên sự đặc trưng của phi bạo lực là nó không mong đợi để đánh bại hay hạ nhục đối phương, mà là tìm kiếm tình hữu nghị và sự thấu hiểu từ họ. Những người phản kháng phi bạo lực sẽ phải thường xuyên thể hiện sự chống đối của mình thông qua việc bất hợp tác và tẩy chay, song vẫn ý thức rằng những hành động này không phải là mục tiêu cuối cùng, chúng chỉ là những phương tiện để đánh thức sự hổ thẹn với lương tri của đối phương. Mục tiêu cuối cùng chính là sự hối cải và hòa giải. Kết quả mà phi bạo lực mang lại là sự ra đời của một cộng đồng giàu tình thương, trong khi kết quả mà bạo lực mang lại là những bi kịch cay đắng!
Đặc tính thứ ba của phương pháp này là sự phản kháng nhắm vào cái ác chứ không phải những con người gây ra việc ác. Cái ác mới chính là đối thủ mà những người phản kháng phi bạo lực mong muốn đánh bại, chứ không phải những người bị điều khiển bởi cái ác. Khi chống đối bất công chủng tộc thì người phản kháng phi bạo lực thấy được nguyên nhân sâu xa hơn rằng mấu chốt không nằm ở vấn đề chủng tộc. Như cách tôi hay nói với người dân tại Montgomery: “Tình trạng căng thẳng đang tồn tại trong Thành phố này không phải là giữa người da trắng và người da đen. Sự căng thẳng này thực ra là giữa công lý và bất công, giữa thế lực ánh sáng và bóng tối. Nếu có giành được chiến thắng, đó là chiến thắng không chỉ của năm mươi ngàn người da đen, mà còn là chiến thắng của công lý và thế lực ánh sáng. Chúng ta quyết tâm đánh bại bất công chứ không phải người da trắng, những ngưòi đang đối xử bất công với chúng ta”.
Điểm thứ tư để phân biệt phản kháng phi bạo lực chính là thái độ sẵn sàng chấp nhận đau khổ mà không trả thù, sẵn sàng nhận đòn đánh của đối phương mà không đánh trả lại. “Máu có thể sẽ đổ thành sông trước khi chúng ta đạt được tự do, nhưng đó phải là máu của chính chúng ta”, Gandhi đã nói với đồng bào của ông như vậy. Người phản kháng phi bạo lực phải sẵn sàng chấp nhận bạo lực nếu cần thiết, nhưng không bao giờ được gây ra nó. Họ cũng không tìm cách để né tránh tù đày. Nếu cần, họ sẽ bước vào tù “như một chú rể bước vào phòng tân hôn”.
Người ta có thể sẽ hỏi rằng: “Những người theo đường lối phản kháng phi bạo lực có lý lẽ nào biện minh cho thử thách mà họ đang kêu gọi người khác tham gia, cho việc áp dụng phổ biến đường lối chính trị theo triết lý cổ xưa là đưa má còn lại cho đối thủ?” Câu trả lời sẽ được tìm thấy khi ta nhận ra sức mạnh sửa đổi người khác trong việc chấp nhận chịu sự tổn thương vô cớ. Người phản kháng phi bạo lực hiểu được việc chấp nhận tổn thương có sức mạnh giáo dục và thay đổi to lớn đến mức nào. “Những điều quan trọng cốt lõi đối với con người không thể được đảm bảo chỉ bằng lý lẽ, mà còn phải trả giá bằng đau thương của họ”, Gandhi đã từng nói như thế. Ông còn nói: “Chấp nhận tổn thương có một sức mạnh vô hạn so với quan điểm mạnh được yếu thua trong việc chinh phục đối phương và thuyết phục họ bằng lý lẽ, bằng không họ sẽ không bao giờ lắng nghe”.
Điểm thứ năm cần bàn đến về phản kháng phi bạo lực là nó không chỉ tránh bạo lực thể xác ở bên ngoài mà còn cả bạo lực tinh thần ở bên trong. Một người phản kháng phi bạo lực không chỉ từ chối việc bắn đối thủ của mình mà còn từ chối cả việc căm ghét hắn. Trong sâu thẳm mỗi người phản kháng phi bạo lực là lòng yêu thương. Người phản kháng phi bạo lực nghĩ rằng, trong quá trình đấu tranh cho nhân phẩm, dù có chịu áp bức cũng không được để cho sự cay nghiệt chi phối hay tham gia vào những chiến dịch thù hận. Phản kháng bằng những cách đó sẽ chỉ làm tăng thêm sự tồn tại của thù hận trong vũ trụ này. Một lúc nào đó trên hành trình này, phải có một ai đó có đủ lý lẽ và đạo đức để cắt đứt sợi dây xiềng xích thù hận này. Việc này chỉ có thể làm được khi ta thúc đẩy cho nguyên lý tình yêu thương trở thành tâm điểm trong đời sống của mình.
Ở đây khi nói đến tình yêu, chúng ta không nói đến cảm xúc yêu đương hay yêu thích một ai đó. Thật là vô lý khi khuyến khích người nào đó yêu kẻ đàn áp mình. Tình yêu trong bối cảnh này có nghĩa là sự thấu hiểu, là thiện chí sửa đổi đối phương. Đây là lúc mà chúng ta phải dùng đến sự trợ giúp của ngôn ngữ Hy Lạp. Có ba từ khác nhau để chỉ tình yêu trong kinh Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp. Đầu tiên là eros. Trong triết học Plato, eros có nghĩa là sự khao khát của tâm hồn về một điều thiêng liêng. Ngày nay nó được hiểu là tình yêu thơ mộng hay tình yêu lãng mạn. Thứ hai, philia có nghĩa là sự cảm mến thân mật giữa những người bạn gần gũi. Philia chỉ loại tình yêu có điều kiện được báo đáp, người ta yêu bởi vì người ta nhận được yêu thương. Khi nói đến việc yêu thương những người đối kháng với chúng ta, chúng ta không nói đến eros hay philia chúng ta nói đến loại tình yêu mà tiếng Hy Lạp gọi là agape. Agape có nghĩa là sự thấu hiểu, thiện chí cứu rỗi cho từng người. Nó là một tình yêu tuôn tràn, ngẫu hứng, không có động cơ, không có lý do, sáng tạo và rất phong phú. Nó nảy sinh một cách tự nhiên mà không phải do một năng lực hay đối tượng khách quan nào tác động. Nó là tình yêu của Thượng đế hoạt động trong trái tim của nhân loại.
Agape là tình yêu không vụ lợi. Nó là tình yêu mà qua đó mỗi cá nhân không tìm kiếm lợi ích cho riêng mình, mà là lợi ích cho láng giềng của mình (I Cor. 10:24). Agape không phân biệt ai xứng đáng và không xứng đáng, hay phân biệt bất kỳ tính cách nào của con người. Tình yêu ấy nảy mầm vì lợi ích của đối tượng. Hoàn toàn phát xuất từ sự quan tâm đến người bên cạnh, xem “ai cũng là láng giềng” khi gặp. Vì lẽ đó mà agape không phân biệt giữa bạn và thù; cả hai đều là đối tượng để yêu. Nếu một ai đó yêu thương người khác chỉ bởi sự tử tế của người đó thì họ yêu thương vì những ích lợi có được từ việc kết bạn với người đó, chứ không phải vì ích lợi của chính người bạn mình. Do đó, cách tốt nhất để thuyết phục một ai đó tin vào tình yêu thương không vụ lợi là yêu thương ngay cả những người thù địch xung quanh, người mà ta sẽ không nhận được gì khác ngoài sự thù ghét và bức hại từ họ.
Một điểm căn bản khác về agape đó là nó phát sinh từ nhu cầu của người khác - nhu cầu được yêu thương thuộc về những gì tốt đẹp nhất của nhân loại. Truyện ngụ ngôn người Samari giúp đỡ người Do Thái bị nạn trên đường Jericho, ông ta là người “tốt” bởi vì đó là hành động thương yêu đáp ứng đúng nhu cầu của con người. Tình yêu của Chúa luôn vĩnh cửu và không bỏ sót một ai bởi vì nhân loại cần tình thương của Ngài. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng, tình thương cứu chuộc đã đến khi ‘chúng ta vẫn còn là tội đồ” - đó chính là thời điểm mà chúng ta cần tình yêu thương nhất. Vì nhân tính của người da trắng đã bị méo mó nghiêm trọng bởi chính sách phân biệt, và tâm hồn của họ đầy sẹo bỏng, họ cần tình thương của những người da đen. Người da đen cần phải yêu thương người da trắng, bởi vì họ cần tình thương đó để trút bỏ sự căng thẳng, nỗi bất an và nỗi lo sợ trong họ.
Agape không phải là thứ tình yêu yếu đuối và thụ động. Nó chính là tình yêu thương thể hiện bằng hành động. Agape chính là tình thương nhằm giữ gìn và xây dựng cộng đồng với lòng kiên định bảo vệ sự gắn bó đoàn kết ngay cả khi có người muốn phá hoại nó. Agape là sự sẵn lòng hy sinh vì lợi ích chung. Agape là sự sẵn sàng làm bất cứ việc gì để hòa giải xã hội. Nó không chỉ dừng lại sau lần thử đầu tiên, mà sẵn sàng cho một cơ hội thứ hai để khôi phục cộng đồng. Và luôn luôn sẵn lòng tha thứ, không phải bảy lần, mà là bảy mươi bảy lần bảy để hòa giải mâu thuẫn. Cây thập tự giá là hình ảnh bất diệt tượng trưng cho những gì Thượng đế (Thượng Đế làm qua hình ảnh Chúa) sẵn sàng làm để chữa lành một xã hội vụn vỡ. Sự Phục sinh là biểu tượng cho chiến thắng của Thượng Đế trước những thế lực muốn chống lại tình đoàn kết. Chúa Thánh Thần chính là chất keo giữ cho sự đoàn kết luôn bền chặt qua các chặng đường lịch sử. Người nào muốn chống lại sự đoàn kết thì cũng là chống lại Đấng Sáng Tạo. Do đó, nếu tôi đáp trả thù hận bằng thù hận tôi sẽ chẳng làm được gì khác ngoài việc khoét sâu thêm vết nứt trong một xã hội đổ nát. Tôi chỉ có thể lấp đầy các khoảng trống này trong xã hội khi đáp lại sự thù ghét bằng tình yêu thương. Nếu tôi dùng oán trả oán, tôi sẽ đánh mất nhân tính, bởi vì Đấng Sáng tạo đã định sẵn nhân tính của tôi chỉ được hoàn thiện ở trong những bối cảnh xã hội. Booker T. Washington đã nói đúng: “Đừng để ai hạ thấp bạn bằng cách khiến bạn ghét họ.” Khi họ kéo bạn xuống thấp khiến bạn muốn chống lại tình đoàn kết của nhân loại, bạn bị kéo trượt xuống đến mức coi thường sự tạo hóa để rồi đánh mất nhân tính của mình.
Và trong phân tích cuối cùng, agape bao hàm ý nghĩa nhận thức thực tế rằng tất cả sự sống đều tương quan mật thiết với nhau. Cả nhân loại đang vận hành trong một quá trình đơn nhất, và tất cả mọi người đều là anh em. Nếu tôi làm tổn thương người anh em của mình đến một mức độ nào đó, bất kể người đó đang gây ra điều gì cho tôi, thì chính là tôi đang làm hại bản thân mình. Ví dụ, người da trắng thường xuyên từ chối sự viện trợ giáo dục của Liên bang để không bị buộc phải cho người da đen quyền được học tập, nhưng vì nhân loại là một gia đình lớn cho nên họ không thể chối bỏ con cái người da đen mà không gây hại cho chính con cái mình. Mặc cho mọi nỗ lực, cuối cùng họ vẫn bị tổn thương. Tại sao lại như vậy? Bởi vì mọi con người là ruột thịt của nhau. Nếu bạn làm tổn hại tôi, bạn cũng làm hại chính mình.
Tình yêu không vụ lợi, agape , là chất keo duy nhất có thế hàn gắn xã hội rạn vỡ này lại. Khi tôi được phán bảo phải yêu thương, tôi có nghĩa vụ phải khôi phục tình anh em, phải chống đối lại bất công, và phải đáp ứng nhu cầu của những người anh em mình.
Đặc điểm Cơ bản thứ sáu, đó là phản kháng phi bạo lực dựa trên niềm tin rằng vũ trụ đứng về phía công lý. Do đó, những người tin tưởng vào phi bạo lực có niềm tin rất mãnh liệt vào tương lai. Niềm tin này chính là một lý do nữa khiến cho người phản kháng phi bạo lực có thể chấp nhận đau khổ mà không trả đũa. Bởi vì họ biết trong quá trình tranh đấu cho công lý, họ có sự đồng hành của vũ trụ. Đúng là vẫn có những người ủng hộ tận tâm cho phi bạo lực nhưng lại thấy khó thể tin có sự tồn tại của một bậc Thánh siêu phàm. Những người này vẫn tin vào một loại thế lực kiến tạo để gìn giữ sự an lành cho vũ trụ. Cho dù chúng ta muốn gọi đó là một quá trình vô thức, hay một thế lực siêu hình Brahman (Đại ngã), hay một Đấng thần linh riêng nào đó với quyền năng tối thượng và lòng bác ái vô bờ bến, trong vũ trụ này thật sự có một thế lực sáng thế đang vận hành để mang những mảnh ghép rời rạc của thực tại về lại thành một thể thống nhất hòa hợp.
Chương VII
Các phương pháp chống đối
Mặc dù cuộc biểu tình xe buýt đã thành công rất nhanh chóng, ba quan chức đứng đầu Thành phố - kể cả Thị trưởng - và các giới chức của hãng xe buýt nghĩ rằng nó sẽ xẹp xuống chỉ trong một vài ngày. Họ tin chắc rằng vào ngày mưa đầu tiên, những người da đen sẽ phải trở lại đi xe buýt. Dựa vào dự kiến đó nên họ không làm bất cứ điều gì để ứng phó nhằm khắc phục tình trạng này. Song ngày mưa đầu tiên trôi qua, các xe buýt vẫn trống rỗng.
Lúc này, lãnh đạo Thành phố và các giới chức hãng xe buýt mới tỏ ý muốn đàm phán. Chiều thứ Tư, ngày 7 tháng 12, Rev. Robert Hughes, Giám đốc Điều hành của Hội Đồng Quan Hệ Nhân Sinh Alabama đã gọi điện nói rằng ông và hai thành viên khác của Hội đồng gồm Thomas R Thraser là một trong những mục sư da trắng của nhà thờ Episcopal đứng đầu Thành phố và Tiến sĩ H. Council Trenholm là Hiệu trưởng Trường Đại học Alabama State - đã thuyết phục được các lãnh đạo Thành phố đồng ý họp với lãnh đạo người da đen và các giới chức xe buýt vào 11 giờ sáng hôm sau.
Tại một phiên họp đặc biệt của Ban Điều hành MIA, một phái đoàn đàm phán được thành lập gồm mười hai người [5] và tôi được chọn làm người phát ngôn. Mọi người thống nhất rằng chúng tôi sẽ đưa ra ba để xuất, mà đã được thông qua trong cuộc họp quần chúng vào tối thứ Hai trước đó, tóm tắt như sau: Doanh nghiệp xe buýt phải đối xử lịch sự với hành khách da đen; 2- Hành khách phải được xếp chỗ ngồi dựa trên nguyên tắc ai tới trước được phục vụ trước, người da đen sẽ ngồi từ phía sau xe trở lên phía trước còn người da trắng sẽ ngồi từ phía trước xe trở về phía sau; 3 - Tài xế da đen làm thuê phải được lái xe trên những tuyến đường có đông hành khách da đen. Mục đích của những đề xuất này rõ ràng chỉ là một cách giải quyết tạm thời các vấn đề mà chúng tôi đang đương đầu. Chúng tôi không nghĩ việc sắp xếp chỗ ngồi theo hướng ai đến trước, phục vụ trước được chấp thuận, vì điều này tùy thuộc vào luật pháp có được sửa đổi hay không.Tuy nhiên, chúng tôi tin chắc rằng trường hợp Rosa Parks, hiện đang bị xử ở tòa án, sẽ là một nhân tố dẫn đến việc phải dẹp bỏ sự phân biệt chủng tộc trên xe buýt, chúng tôi đến Tòa thị sảnh trước giờ họp khoảng mười lăm phút và được dẫn đến phòng của ủy viên. Căn phòng có kích thước vừa phải, với bàn ủy viên đặt ở cuối phòng và những chiếc ghế được kê đối diện, chúng tôi ngồi gần phía trên, sau đó Thrasher, Hughes, và Trenholm cũng đến tham dự. Sự hiện diện của vài phóng viên báo chí và đài truyền hình cho thấy mức quan trọng của cuộc họp.
Đúng 11 giờ, ba ủy viên bao gồm Thị trưởng W. A. Gayle, ủy viên Clyde Sellers, và ủy viên Frank A. Parks tới và ngồi vào bàn đối diện với chúng tôi. Khi J. E. Bagley và Jack Crenshaw, đại diện Công ty xe buýt đến, họ vào ngồi cùng bàn với các ủy viên ở gần đầu bàn. Vì vậy, cho thấy sự phân chia các phe nhóm đã hình thành rõ ràng ngay từ trước khi cuộc họp bắt đầu.
Thị trưởng mời ông Thrasher tuyên bố bắt đầu cuộc họp. Thrasher là một người đàn ông tận tụy với lý tưởng đoàn kết Cơ Đốc giáo. Ông đứng lên trình bày ngắn gọn lý do tại sao Hội đồng Quan hệ Nhân Sinh đã yêu cầu mở cuộc họp. Rồi phát biểu về niềm tin của ông đối với cả hai bên rằng tất cả sẽ theo lý trí sáng suốt và không bị cảm xúc chi phối trong khi thảo luận.
Sau đó Thị trưởng quay sang phái đoàn người da đen và hỏi: “Ai là người đại diện phát biểu?”. Khi thấy mọi ánh mắt đều nhìn về phía tôi, Thị trưởng nói: “Được rồi, hãy lên đây và trình bày yêu cầu của các anh”. Trong ánh sáng chói lóa của bóng đèn máy quay truyền hình, tôi chậm rãi tiến lên phía trước và ngồi xuống ghế đối diện với Bagley và Crenshaw.
Tôi mở đầu bằng cách nói ngắn gọn lý do tại sao chúng tôi thấy cần thiết phải “tẩy chay” xe buýt. Tôi nói rõ rằng việc bắt giữ bà Parks không phải là nguyên nhân gây ra cuộc biểu tình, mà chỉ là yếu tố thúc đẩy. “Hành động của chúng tôi”, tôi nói, “là phản ứng khi đã đến giới hạn không còn chịu đựng được nữa bao nhiêu những bất công và sự sỉ nhục sau nhiều năm trời”. Tôi tiếp tục dẫn chứng nhiều trường hợp bất lịch sự của tài xế xe buýt, và rất nhiều khi hành khách da đen phải đứng mặc dù còn ghế trống. Tôi nhấn mạnh rằng người da đen đã tỏ rõ sự nhẫn nhục, và đã cố gắng đàm phán trong các cuộc hội thảo vài lần mà vẫn không đạt được kết quả.
Sau khi trình bày những điều chủ yếu, tôi đã đưa ra ba yêu cầu và giải thích từng đề xuất một cách chi tiết. Ví dụ, tôi nói rõ rằng chúng tôi yêu cầu một sự sắp xếp theo nguyên tắc ai đến trước được phục vụ trước; cùng với việc người da đen lên xe từ phía sau và người da trắng lên từ phía trước, đây vốn không phải là một điều gì hoàn toàn mới mẻ ở miền Nam. Các thành phố khác như Nashville, Atlanta, và thậm chí là Mobile, Alabama - vẫn tuân theo quy định này, và mỗi nơi đều buộc phải chấp hành nghiêm chỉnh sự phân biệt như ở Montgomery. Đến yêu cầu “Tài xế phải đối xử lịch sự với hành khách”, tôi nói, đây là điều tối thiểu mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có thể làm đối với khách hàng của mình”. Và cuối cùng tôi đã chỉ ra rằng, khi người da đen đã đóng góp nhiều tiền cho Công ty xe buýt thi đổi lại người da đen nên được làm việc trên các tuyến đường có nhiều hành khách da đen, như vậy mới công bằng. Tôi nhắc họ rằng “Công ty xe buýt đã thừa nhận 75% khách hàng quen thuộc của họ là người da màu, điều đó đối với tôi có nghĩa là công ty biết kinh doanh sẽ thuê người từ nhóm khách đối tượng đông nhất của họ”. Để kết thúc lời phát biểu, tôi khẳng định với các ủy viên rằng, chúng tôi đã dự định hướng dẫn cuộc biểu tình với lòng tự trọng và thận trọng nhất của mình, rằng mục đích của chúng tôi không phải là muốn Công ty xe buýt phá sản, mà là đạt được công lý cho mình cũng như cho người da trắng.
Khi tôi nói xong, Thị trưởng để cho mọi người thảo luận chung. Một số thành viên phái đoàn người da đen tiếp tục cho ý kiến về ba đề xuất. Sau đó, các ủy viên và luật sư của Công ty xe buýt bắt đầu nêu câu hỏi. Họ đề cập đến tính hợp pháp của sự phân bổ chỗ ngồi mà chúng tôi đề xuất. Họ cho rằng người da đen chúng tôi đang đòi hỏi một điều dường như vi phạm pháp luật. Chúng tôi nhắc lại lập luận vừa rồi của mình rằng sự sắp xếp chỗ ngồi ai đến trước, phục vụ trước hoàn toàn nằm trong khuôn khổ luật phân biệt, và nhiều thành phố miền Nam đã làm như vậy.
Crenshaw, luật sư của Công ty xe buýt, đã nhanh chóng tỏ ra là đối thủ cứng đầu nhất của chúng tôi. Ông đã kiên trì thuyết phục mọi người là không có cách nào để chấp thuận đề xuất phân bổ chỗ ngồi mà không vi phạm pháp lệnh Thành phố. Ở cương vị luật sư, Crenshaw càng nói ông càng thuyết phục được các vị lãnh đạo Thành phố. Thị trưởng Gayle và ủy viên Sellers đã không còn muốn khoan nhượng. Cuối cùng, tôi thấy cuộc họp không đi đến đâu, nên đề nghị kết thúc. Ngay sau đó, Thị trưởng đã yêu cầu một vài thành viên của phái đoàn người da đen ở lại với quan chức Công ty xe buýt để cố gắng điều đình với nhau.
Sau khi những người khác đã ra về, bên bàn hội thảo còn lại chúng tôi với Bagley, Crenshaw và hai ủy viên phụ tá - Sellers và Parks. Trong phạm vi nhỏ hơn mà báo chí không còn ghi chép chi tiết, dường như mọi việc có vẻ khả quan hơn. Sau khi chúng tôi trình bày lại yêu cầu về việc phân bổ chỗ ngồi trên xe buýt, ủy viên Parks trầm giọng nói:
“Tôi không thấy có lý do gì để không chấp thuận để xuất về chỗ ngồi này. Chúng ta có thể thu xếp nó trong khuôn khổ luật phân biệt của chúng ta”.
Hy vọng của tôi bắt đầu tăng lên. Nhưng Parks chưa kịp dứt lời thì Crenshaw đã cắt ngang:
“Nhưng mà, Frank. Tôi thấy điều đó không có trong luật pháp. Nếu nó hợp pháp, tôi sẽ là người đầu tiên ủng hộ, nhưng nó không hợp pháp. Cách duy nhất có thể thực hiện được là thay đổi luật phân biệt”.
Điều này nhanh chóng đặt dấu chấm hết cho sự lạc quan của tôi. Vì thiếu niềm tin vững chắc để giữ được sự kiên quyết, Parks đã dễ dàng bị thuyết phục. Nhưng rồi cuối cùng Crenshaw cũng bộc lộ suy nghĩ của mình:
“Nếu chúng tôi nhượng bộ người da đen”, ông khẳng định, “họ sẽ huênh hoang đắc thắng với người da trắng. Đó là điều mà chúng tôi không chịu nổi”.
Bây giờ, ít nhất lý do của Crenshaw đã lộ ra. chúng tôi cố gắng thuyết phục ông rằng người da đen không có ý như vậy. chúng tôi đảm bảo với ông rằng nếu các đề xuất được chấp thuận, chúng tôi sẽ làm hết sức mình để hạn chế người dân khoe khoang chiến thắng của họ. Nhưng những đảm bảo này không lay động được ông ta. Nhận thấy có tiếp tục cũng vô ích, cuối cùng tôi đã yêu cầu ông ta nêu cụ thể những gì Công ty xe buýt có thể làm được cho người da đen. Ông trả lời ngắn gọn: “Chúng tôi sẵn sàng đảm bảo sự đối xử lịch sự, nhưng chúng tôi không thể thay đổi cách sắp xếp chỗ ngồi vì như vậy sẽ vi phạm pháp luật. Và vấn đề thuê tài xế xe buýt thì sẽ không thể tuyển dụng “ bọn da đen ở thời điểm này hoặc trong thời gian tới”.
Bốn giờ thảo luận đã kết thúc mà không đem lại sự dàn xếp ổn thỏa nào.
Tôi thất vọng rời khỏi cuộc họp, nhưng rồi lại thấy mình không đáng bi quan đến như vậy, chỉ tại tôi lạc quan hơi sớm mà thôi. Tôi đã đến cuộc họp với một ảo tưởng lớn. Nghĩ rằng yêu cầu của chúng tôi là đúng mức, tôi hình dung chúng được chấp thuận với chỉ một ít khó khăn; tôi đã nghĩ rằng những người có đặc quyền sẽ trao đặc ân theo yêu cầu của chúng tôi. Tuy nhiên, trải nghiệm này đã cho tôi một bài học. Tôi hiểu được rằng không ai có thể từ bỏ đặc quyền của mình mà không phản ứng quyết liệt gì cả. Tôi còn thấy mục đích sâu xa hơn của sự phân biệt là để đàn áp và bóc lột những kẻ bị phân biệt chứ không đơn giản chỉ là tách biệt hai chủng tộc ra. Ngay cả khi chúng tôi yêu cầu công lý trong khuôn khổ của luật phân biệt thì chính cái “đặc quyền” đó đã ngăn cản sự chấp thuận nó. Công lý và bình đẳng sẽ không bao giờ đến trong khi sự phân biệt vẫn tồn tại, bởi vì mục đích cơ bản của sự phân biệt là duy trì sự bất công và bất bình đẳng.
Ngay sau cuộc đàm phán đầu tiên kết thúc, tôi họp với Ban Điều hành của MIA để báo cáo kết quả. Các thành viên đã thất vọng, nhưng đều nhất trí rằng chúng tôi nên kiên định với ba đề xuất này. Vào thời điểm này, có người đã phát hiện ra rằng Montgomery City Lines thuộc sở hữu của một công ty có trụ sở tại Chicago. Công ty này tên là National City Lines, Inc. Hoạt động điều hành mạng lưới xe buýt tại hơn ba mươi lăm thành phố. Chúng tôi cùng nghĩ nên gửi điện cho Chủ tịch của National City Lines trình bày về nỗi bất bình của mình và thúc giục ông ta đến ngay lập tức, hoặc gửi đại diện đến Montgomery để đàm phán thêm. Hai ngày sau, ông chủ tịch trả lời rằng một trong các Phó Chủ tịch của Công ty sẽ xuống trong vòng hai hoặc ba ngày.
Sự phản hồi đầy hứa hẹn này đã cho chúng tôi một hy vọng mới, và chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi đại diện từ Chicago tới. Sau vài ngày trôi qua mà không thấy tin tức gì, tôi bắt đầu tự hỏi liệu công ty có thất hứa hay không. Sáng ngày 15 tháng 12, trong khi vẫn còn thắc mắc, tôi nhận được cuộc gọi của một người bạn da trắng nói rằng, theo những nguồn đáng tin cậy, ông C.K. Totten của National City Lines đã đến Thành phố, và hỏi tôi đã nói chuyện với ông ta hay chưa. Khi nghe câu trả lời đầy thất vọng của tôi, anh nói sẽ giúp kiểm tra lại. Quả thật, khoảng hai giờ sau, anh gọi lại và khẳng định chắc nịch rằng Totten đang ở Montgomery và đã ở đây hai hoặc ba ngày rồi. Tôi rất lấy làm lạ rằng vị viên chức xe buýt này đã đến Thành phố lâu vậy mà không hề thử tìm gặp bất cứ ai của MIA. Tôi vẫn tiếp tục chờ đợi cuộc gọi của ông ta. Nhưng thật là vô ích, ông Totten chẳng bao giờ gọi.
Thì lúc này, Thị trưởng thông báo triệu tập cuộc gặp giữa ủy ban Công Dân, viên chức xe buýt và lãnh đạo người da đen vào sáng ngày 17 tháng 12, sau hơn một tuần đã trôi qua kể từ cuộc họp đầu tiên. Và cuộc phản kháng vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại.
Ban Điều hành của MIA lại gặp nhau để thảo luận về vấn đề vị thế của chúng tôi. Một lần nữa, chúng tôi vẫn nhất trí giữ vững ba đề xuất. Tuy nhiên, có sửa đổi đôi chút ở điều thứ ba: vì trong thời gian tới có thể chưa có chỗ trống và phải ưu tiên tuyển dụng theo điều lệ công đoàn, nên sẽ không yêu cầu phải tuyển tài xế da đen ngay lập tức. Chúng tôi sẽ đưa sẵn các đơn xin việc của người da đen để Công ty có thể tuyển dụng ngay khi có chỗ trống.
Sáng thứ Bảy, chỉ có một vài người có mặt khi chúng tôi bước vào phòng họp và không khí dường như rất thân mật. Một trong những ngưòi đầu tiên đi tới để chào đón chúng tôi là Henry E. Russell, mục sư của Giáo hội Presbyterian Trinity ở Montgomery và anh trai Thượng nghị sĩ Richard Russell của bang Georgia. Tôi nhớ nụ cười chân thành và những cái bắt tay ấm áp. Dần dần, những người khác đến và họ cũng tỏ ra thân thiện, chúng tôi bắt đầu hy vọng một điều gì đó tốt hơn có thể sẽ đến trong cuộc họp thứ hai này.
Ngay trước khi cuộc họp bắt đầu, tôi thấy một người đàn ông lạ mặt bước vào với Bagley và Crenshaw. Ông được giới thiệu là C. K. Totten đến từ Chicago. Ông ta chào chúng tôi rất nồng nhiệt, nhưng không nói gì về việc tại sao ông ấy đã không liên lạc với nhóm chúng tôi. Tôi cũng nhìn thấy hai công dân da đen, không phải là thành viên của phái đoàn được chỉ định đại diện cho cộng đồng người da đen. Tôi sớm phát hiện ra rằng họ là khách mời đặc biệt của Thị trưởng. Điều này khiến tôi khá nghi ngờ về những gì đang diễn ra.
Cuối cùng, Thị trưởng đến, tiếp theo là hai ủy viên phụ tá. Lúc này tất cả đã có mặt: ba ủy viên; bốn đại diện của Công ty xe buýt; phái đoàn đại diện cho cộng đồng người da đen; hai người đàn ông da đen được Thị trưởng mời và ủy ban Công Dân của Thị Trưởng bao gồm Rev. Henry Parker, lúc đó là mục sư của Nhà thờ Baptist Đệ Nhất, E. Stanley Frazier, lúc đó là mục sư của Nhà thờ St. James Methodist, và Henry Russell.
Sau khi tóm tắt tình hình, Thị trưởng đề nghị tôi giải thích các đề xuất của người da đen. Khi tôi nói xong, ông ta mời đại diện Công ty xe buýt và C. K. Totten đứng lên.
Khi Totten đứng dậy, tôi cảm thấy hồi hộp không biết ông sẽ nói gì. Vì ông ấy từ nơi khác đến, có khả năng ông nhìn vấn đề ở một góc độ khác với các cộng sự của ông. Rất chậm rãi và thận trọng, ông nói về từng đề xuất của chúng tôi. Khi ông bàn từng vấn đề một thì chẳng còn nghi ngờ gì nữa: ông nghĩ y hệt như những gì các ủy viên Thành phố và Crenshaw đã trình bày trong cuộc họp đầu tiên. Nếu Totten có thể nói giọng miền Nam một cách hoàn hảo, và khi chỉ nghe mà không nhìn, tôi thề rằng người ta sẽ tưởng ông là Jack Crenshaw. Tôi biết rằng ông ta đã bị ủy ban Thành phố và các quan chức xe buýt “tẩy não”.
Khi Totten tiếp tục, sự phẫn nộ của tôi càng tăng lên. Tôi cay đắng nghĩ rằng thậm chí ông ta không hề tôn trọng những người da đen đang ngồi đây, mặc dù thực tế chúng tôi là người đã mời ông ấy đến Montgomery. Lúc này tôi thấy thật khó nghĩ. Tôi có nên phản bác bài thuyết trình thiên vị một chiều của ông hay là cho qua? Câu hỏi cứ xoay trong tâm trí tôi. Khi ông kết thúc, cả phòng im lặng một lát. Sau đó, không thể kiểm chế được mình, tôi nhảy lên và phẫn nộ nói: “Totten đã nhìn nhận không công bằng. Ông đưa ra tuyên bố hoàn toàn thiên vị. Dù thực tế ông được MIA mời đến Montgomery, nhưng ông đã không tôn trọng cộng đồng da đen khi nghe họ lên tiếng. Ít nhất điều đáng lý tất cả chúng ta có thể làm trong khi thảo luận là trung thực và công bằng”. Lời nói của tôi đã được phái đoàn da đen nhiệt liệt tán thành. Cả Thị trưởng lẫn C. K. Totten đều không trả lời, và Totten thì thấy có vẻ không được thoải mái lắm.
Một số công dân được Thị trưởng mời cũng tham gia phát biểu. Tôi đặc biệt nhớ những lời của Tiến sĩ Frazier - một trong những người chủ trương phân biệt thẳng thắn nhất trong Giáo hội Methodist. Mặc dù tôi đã nghe tên ông ấy và đọc những tuyên bố mang tính phân biệt của ông nhưng tôi chưa bao giờ gặp. Bây giờ tôi nhìn thấy một người đàn ông cao lớn, dáng vẻ đặc biệt, sang trọng và thêm nữa là nói rất hùng hồn, mạch lạc. Ông đã nói rất thuyết phục về sự yếu đuối và nhược điểm trong bản chất con người. Ông nói rõ rằng ông cảm thấy người da đen đã sai trong việc tẩy chay xe buýt. Thậm chí rất sai lầm, ông nói, chính là các vị mục sư lãnh đạo tinh thần đã dẫn dắt cuộc phản kháng này. Công việc của mục sư, ông quả quyết, là dẫn dắt linh hồn của con người đến với Thượng đế, chứ không phải là làm rối tung xã hội bằng những vấn đề mang tính nhất thời, đó là một sự nhầm lẫn. Ông chuyển sang trao đổi ngắn gọn về câu chuyện Giáng sinh. Bằng những lời nói xúc động, ông nói về “món quà không thể diễn tả được của Đức Chúa Trời”. Để kết thúc, ông nói rằng khi mùa Giáng sinh đến, tâm trí và tình cảm của chúng ta nên quay về phía Đấng Giáng sinh ở Bethlehem và kêu gọi các vị lãnh đạo tôn giáo da đen sau cuộc họp này nên chấm dứt tẩy chay và thay vào đó hãy dẫn dắt tín hữu vui mừng mùa lễ lớn đúng với đức tin Cơ Đốc.
Một lần nữa, tôi cảm thấy cần phải trả lời, “Chúng tôi cũng biết Chúa Jesus mà mục sư vừa nhắc đến”, tôi nói, “Chúng tôi từng có một trải nghiệm với Ngài, và tin chắc vào sự hiển linh của Thượng đế ở Chúa Jesus Ki Tô. Tôi không hề thấy mâu thuẫn giữa sự tôn thờ của chúng tôi với Chúa Jesus và hành động hiện tại. Thực sự tôi thấy nó có mối liên hệ mật thiết. Nếu người nào thật sự yêu mến tôn giáo của Chúa Jesus, người đó sẽ tìm cách dẹp bỏ những điều xấu xa, tệ hại trên cõi đời này. Phúc Âm giảng về cả xã hội và cá nhân con người. Chúng ta mới chỉ làm theo một phần nhỏ cách mà Gandhi đã làm ở Ấn Độ, và chắc chắn không ai gọi ông là kẻ phạm tội cứng đầu. Ông đã được nhiều người xem như là một vị Thánh.
Tôi kết luận: “Sáng nay chúng tôi đã nói rất nhiều về phong tục, và xác nhận rằng trong điều kiện hiện tại bất kỳ sự thay đổi nào đều có nghĩa là chống lại phong tục được quý trọng của cộng đồng chúng ta. Nhưng có những phong tục không tốt thì chúng ta có mọi lý do ở trên đời để thay đổi chúng. Quyết định mà chúng ta phải làm bây giờ là liệu có nên giữ khư khư các phong tục bất công, lỗi thời hay giữ gìn các chuẩn mực đạo đức mà Tạo hóa đã đặt ra. Là tín đồ Thiên Chúa Giáo, chúng ta nợ lòng trung thành tối thượng với Thiên Chúa và ý muốn của Ngài, chứ không phải là với con người và thế gian này”.
Sau khi một vài người nữa nói xong, Thị trưởng thông báo rằng ông sẽ chỉ định một nhóm nhỏ từ ủy ban Công Dân gặp gỡ với đại diện của MIA và Công ty xe buýt. Các nhóm này sẽ làm việc với nhau để tìm giải pháp và đệ trình lại cho ông như một bản kiến nghị. Lúc đầu Thị trưởng đã cố tình sắp xếp tám người da trắng của ủy ban Công Dân, hai người đàn ông da đen mà ông đã mời riêng, và chỉ có ba người của MIA vào hội đồng mới. Nhưng ngay lập tức, Jo Ann Robinson đã không đồng ý và nhấn mạnh rằng cách giải quyết tốt nhất là chỉ định số người da đen và người da trắng bằng nhau một cách công bằng. Sau đó Thị trưởng miễn cưỡng nâng số người da đen lên tám. Ông bổ nhiệm mục sư Henry Parker làm Chủ tịch.
Sau khi đa số người đã rời khỏi phòng, Parker triệu tập hội đồng mới họp tiếp. Frazier xin phép đề xuất một giải pháp cho vấn đề phân bổ chỗ ngồi. Đại ý là xe buýt sẽ ghi dấu chỗ ngồi riêng cho mỗi chủng tộc và mỗi bên có không quá mười ghế. Trong trường hợp người da trắng hay da đen đã ngồi kín hết phần ghế dành cho bên mình thì có thể ngồi tạm sang phần ghế trống của bên kia, nếu người của phía bên đó không lên xe buýt thêm nữa. Các thành viên của nhóm da đen lập tức từ chối ý tưởng này vì nhìn thấy dấu hiệu ghê tởm của sự phân biệt chủng tộc. Họ tin rằng nếu chấp nhận có nghĩa là bước lùi hơn là bước tiến.
Sau đó, nhiều người trong số các ủy viên da trắng đề nghị chúng tôi trở lại đi xe buýt, và họp lại sau kỳ nghỉ lễ Giáng sinh để tìm cách giải quyết vấn đề. Họ cho rằng cộng đồng da trắng sẽ thông cảm lắng nghe các yêu cầu của chúng tôi hơn nếu cuộc biểu tình được ngưng trước. Chúng tôi không chịu vì cảm thấy rằng tất cả những nỗ lực của mình sẽ vô ích nếu việc dẹp biểu tình đơn giản chỉ bởi lời hứa về những điều kiện gì đó sẽ được thực hiện trong tương lai. Đến đây cuộc họp đã kéo dài quá lâu, chủ tịch đề nghị nghỉ ngơi và họp lại vào 10 giờ sáng thứ Hai.
Vào cuối buổi họp, tôi đã có cơ hội lần đầu nói chuyện trực tiếp với Totten. Gần như ngượng ngùng, ông ta thừa nhận rằng kế hoạch chúng tôi đưa ra là những gì Mobile City Lines - một công ty thuộc sở hữu của National City Lines, Inc. đang thực hiện. “Và như tôi đã lo ngại”, ông ấy nói, “tôi nghĩ nó sẽ hoạt động rất tốt ở Montgomery, nhưng có vẻ ủy ban Thành phố cảm thấy không thể chấp nhận”. Tôi đã định hỏi tại sao ông ta không có can đảm để nói như thế trong cuộc họp có mặt các ủy viên, nhưng tôi đã kiềm chế và cuộc trò chuyện kết thúc trong không khí thân thiện.
Khi lái xe về nhà, tôi lại nghĩ đến Frazier và bài hùng biện của ông ta. Ông ta thật sự tin tưởng vào những gì mà ông đang theo đuổi. Có lẽ ông ta sẽ không thay đổi ngay bây giờ được. Những truyền thống cố hữu đã ăn sâu vào tâm não của ông, đối với ông, sự phân biệt đã trở thành một điều đương nhiên trong luân thường đạo lý. Tuy nhiên, dù tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm của ông, dù biết rằng lịch sử và tôn giáo đã chứng minh ông sai, tôi vẫn ngưỡng mộ sự chân thành và nhiệt tình của ông. Tôi tự hỏi tại sao những người da trắng ủng hộ sự hòa hợp giữa hai sắc tộc thường kém sắc bén và tích cực hơn những người chủ trương phân biệt? Đây là một trong những bi kịch của lịch sử loài người, rằng “đứa con của bóng tối” thường quyết đoán và sốt sắng hơn “đứa con của ánh sáng”.
Chủ nhật, ngày 18 tháng 12, đã trôi qua. Vào lúc 10 giờ sáng thứ Hai, chúng tôi gặp nhau để tiếp tục cuộc thảo luận. Mọi người đều có mặt và Parker một lần nữa chủ trì cuộc họp. Ngay sau khi cuộc họp bắt đầu, tôi nhìn thấy một người đàn ông mà vào ngày thứ Bảy trước đó không tham dự và theo như tôi có thể nhớ, đã không được bổ nhiệm vào ủy ban Công Dân tám người của Thị trưởng. Người bên cạnh tôi thì thầm: “Đó là Luther Ingalls - Thư ký Hội đồng Công Dân Da Trắng Montgomery”.
Khi bắt đầu thảo luận, Ingalls đứng lên phát biểu. Ngay lập tức tôi đứng bật dậy và phản đối quyền được nói của ông ta vì ông không phải là thành viên của ủy ban. “Hơn nữa”, tôi tiếp tục, “chúng ta sẽ không bao giờ giải quyết được vấn để này một khi trong ủy ban có những người tuyên bố công khai chống người da đen”.
Lúc này, Tiến sĩ Parker đã trả lời một cách giận dữ: “Ông ấy cũng có quyền tham dự ủy ban này như anh. Đấy chỉ là quan điểm của anh mà thôi”.
Ngay khi đó, các thành viên da trắng khác của ủy ban bắt đầu lao vào tôi. Họ cho rằng tôi là trở ngại chính cho một giải pháp thực sự của vấn đề. Bà Hipp kịch liệt nói rằng tôi đã sỉ nhục bà với ngụ ý rằng, bà cùng với các thành viên da trắng khác của ủy ban đến cuộc họp với trái tim hẹp hòi, không rộng mở. Tôi đã cố gắng nói rõ ràng rằng tôi chỉ muốn nói đến những người đã tuyên bố công khai chống người da đen, chứ không phải toàn thể ủy ban, nhưng vô ích. Họ tiếp tục nhìn tôi như thể tôi là nguyên nhân của sự bế tắc.
Ngay lúc đó, tôi thấy mình thật đơn độc. Không ai đến giải cứu tôi, cho đến khi Ralph Abernathy đột nhiên lên tiếng bảo vệ tôi. Ông nhấn mạnh rằng tôi đã nói thay toàn bộ phái đoàn da đen. Ông chỉ ra rằng vì tôi là người phát ngôn cho nhóm, nên đương nhiên tôi phải xử lý mọi chuyện khi thương thuyết, nhưng điều này không có nghĩa là tôi không có sự hỗ trợ của các thành viên còn lại. Khi ông tiếp tục, người ta có thể thấy rõ sự thất vọng trên khuôn mặt của các thành viên ủy ban Da Trắng, những người đang cố gắng thuyết phục người da đen rằng tôi là trở ngại chính trong việc tìm giải pháp, hòng để chia rẽ chúng tôi. Nhưng tuyên bố của Ralph đã đập tan hy vọng của họ. Từ lúc này, nhóm da trắng đã thấy việc cố gắng thương lượng để chúng tôi thỏa hiệp là một điều vô ích. Thêm một vài câu hỏi và một vài gợi ý nữa được đưa ra. Parker kết thúc cuộc họp, hứa hẹn sẽ triệu tập một cuộc họp khác sau đó. Nhưng không hề có cuộc họp nào được triệu tập.
Hôm thứ Hai tôi về nhà trong lòng nặng trĩu, thấy như bị đè nặng bởi cảm giác tội lỗi khi nhớ lại có hai hay ba lần đã để mình tức giận và bực bội. Tôi đã nói thiếu cân nhắc trong lúc giận dữ. Tôi biết như vậy không giải quyết được vấn đề gì. Tôi tự nhủ “Mình không được phép oán giận, mà còn phải sẵn sàng chịu đựng sự tức giận của đối thủ, và không nóng nảy trả đũa. Không được cay cú.
Cho dù đối thủ có cảm xúc thế nào đi chăng nữa, mình vẫn phải bình tĩnh”.
Trong tâm trạng này, tôi nhấc điện thoại và gọi cho Parker. Ông ấy tỏ vẻ ngạc nhiên rõ rệt khi nghe thấy giọng nói của tôi. Tôi nói với ông ấy rằng tôi rất lấy làm tiếc về sự hiểu lầm đã xảy ra trong cuộc họp, và ngỏ ý xin lỗi nếu tôi có làm điều gì sai. Ông ấy đáp lại bằng cách thanh minh về phận sự ông phải làm ở vị trí của mình. Câu chuyện dẫn tới vấn đề chủng tộc nói chung và tình hình xe buýt nói riêng. Ông khẳng định rằng người da đen không có cơ sở lý lẽ để tẩy chay xe buýt, “vì nhiều người da trắng cũng bị đối xử một cách bất lịch sự như người da đen”. Nói chung, ông cảm thấy rằng người da đen đã đi quá trớn, ông nói, và điều này chẳng mang lại gì ngoài rắc rối. Tôi cảm ơn ông ấy đã nói chuyện với tôi, và cuộc trò chuyện kết thúc.
Sau đó, các cuộc đàm phán đã được mở lại nhờ sự giúp đỡ ân cần của một nhóm công dân da trắng khác. Nhóm “Người của Montgomery” (The Men of Montgomery), là một tổ chức gồm các doanh nhân có ảnh hưởng nhất của Thành phố. Họ đã bắt đầu thấy những tác động của cuộc biểu tình đến hoạt động kinh doanh, và nhận ra rằng cuộc xung đột kéo dài sẽ mang lại thảm họa. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo của họ là những người thiện chí, họ sợ sự căng thẳng ngày càng gia tăng xung quanh họ. Nhưng như vậy không có nghĩa là họ tán thành hòa hợp bình đẳng, ngược lại là khác. Một số người trong số họ ủng hộ sự phân biệt, và có những người không thích phân biệt cũng đồng ý với Parker rằng người da đen đã “đẩy mọi thứ đi quá trớn”. Nhưng ít nhất họ cũng đủ cởi mở để lắng nghe một quan điểm khác và thảo luận về vấn đề chủng tộc một cách thông minh. Đến những hai lần, sáu người của “Người của Montgomery” với số người tương đương của MIA đã gặp nhau trong nỗ lực nghiêm túc để giải quyết cuộc phản kháng. Tôi chắc chắn rằng chúng tôi đã tìm ra giải pháp, nếu không phải vì sự ngoan cố của ủy ban Thành phố thì nỗ lực chung của chúng tôi đã có kết quả.
Sau khi phe đối lập thất bại trong việc thương lượng với chúng tôi, họ đã dùng kế sách tinh vi để ngăn chặn cuộc phản kháng, đó là dùng cách phân hóa, chia rẽ. Tin đồn thất thiệt về các nhà lãnh đạo của phong trào đã lan truyền đi các nơi. Các chủ lao động da trắng nói với người lao động da đen rằng các nhà lãnh đạo của họ chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền từ phong trào. Những người khác lại nghe được rằng các nhà lãnh đạo da đen lái những chiếc xe sang trọng trong khi họ phải đi bộ. Trong thời gian này lan truvền tin đồn tôi đã mua một chiếc Cadillac hoàn toàn mới cho mình và một chiếc xe Buick cho vợ. Tất nhiên những chuyện này hoàn toàn không có thật.
Không chỉ có những âm mưu bôi nhọ sự trong sạch của các nhà lãnh đạo da đen để làm mất lòng tin của những người theo họ, mà còn có âm mưu chia rẽ các nhà lãnh đạo với nhau. Nhung người da trắng có tiếng tăm đi gặp những giáo sĩ da đen lớn tuổi hơn và nói: “Nếu phải có một cuộc biểu tình, lẽ ra các ông mới là những người lãnh đạo. Thật đáng xấu hổ khi các ông đã ở trong cộng đồng lâu năm như vậy mà lại bị họ bỏ qua để chọn những người tân binh trẻ này lãnh đạo họ”. Một số thành viên trong cộng đồng da trắng đã cố thuyết phục một vài người lãnh đạo cuộc phản kháng rằng vấn đề có thể được giải quyết nếu tôi bỏ cuộc. “Nếu một trong các ông”, họ nói, “nắm quyền lãnh đạo, mọi thứ sẽ thay đổi trong một đêm”.
Sự nhồi nhét liên tục của luận điệu này làm tôi gần như gục ngã. Tôi bắt đầu nghĩ điều này có thể đúng một phần nào đó, và sợ rằng một số người đã bị dao động. Sau mấy ngày mệt mỏi và mất ngủ, tôi đã triệu tập họp Ban Điều hành để xin từ chức. Tôi nói với họ rằng, tôi không bao giờ muốn làm trở ngại việc tìm giải pháp cho vấn đề đang nhiễu hại cộng đồng, có thể một người chín chắn hơn đứng ra làm việc sẽ mang lại kết quả nhanh hơn. Tôi tiến cử hai người đã làm việc gắn bó với tôi và có năng lực mà mọi người đều công nhận, rồi cam đoan với Hội đồng Quản Trị là vẫn sẽ đứng phía sau hỗ trợ tích cực như lúc làm người phát ngôn. Tôi vừa nói xong thì ngay lập tức các thành viên Hội đồng đã gạt bỏ ý tưởng từ chức của tôi. Với sự tín nhiệm hoàn toàn, họ nói rõ rằng họ rất hài lòng với cách tôi xử lý mọi chuyện, và sẽ theo sự lãnh đạo của tôi đến cùng.
Sau sự việc, vừa về đến khuôn viên nhà, từ cửa sổ phòng khách, tôi nghe thấy giọng hát cao vút, trong trẻo của Coretta vang vọng ra. Lâu lắm rồi tôi mới cảm thấy bình yên trở lại. Trong phòng ngủ phía sau, “Yoki”, bây giờ đã hơn một tháng tuổi, đang thức và bận rộn khám phá những ngón tay của mình. Tôi bồng con lên và đi ra phòng ngoài để bé được nghe mẹ hát.
Những khoảnh khắc như vậy đã trở nên hiếm hoi. Chúng tôi không bao giờ có thể dự tính được điều gì, vì hiếm khi tôi biết trước giờ nào sẽ về nhà. Nhiều lần Coretta phải nhìn những bữa ăn ngon của cô ấy khô khốc trong lò nướng khi tôi về trễ vì có chuyện khẩn cấp. Mặc dù thế cô ấy không hề than phiền và luôn ở bên khi tôi cần cô ấy. Cô nói khi cô đơn đã có “Yoki” và Beethoven làm bạn với cô. Điềm tĩnh và dịu dàng, Coretta lặng lẽ chăm lo gia đình. Khi tôi cần nói chuyện, cô ấy sẵn sàng lắng nghe, hoặc đưa ra gợi ý khi tôi yêu cầu. Nghị lực của cô ấy là sức mạnh của tôi. Nhiều lần lo sợ cho tôi, cô ấy không bao giờ cho phép điều đó làm tôi lo lắng hoặc cản trở công việc của tôi trong cuộc phản kháng. Cô ấy dường như không còn lo sợ cho chính bản thân mình. Trong những tháng sau đó, nhiều lần tôi đã đưa cô và “Yoki” đến Atlanta ở với cha mẹ tôi, hoặc tới Marion để ở với gia đình bên ngoại. Nhưng cô ấy không bao giờ ở lại lâu. “Khi tôi tránh xa chuyện này”, cô nói với một phóng viên, “tôi cảm thấy chán nản và bất lực”. Và vì thế cô ấy đã quay trở lại trước thời gian dự định.
Âm mưu chia rẽ lên đến cao độ xảy ra vào Chủ nhật, ngày 22 tháng Một. Các ủy viên Thành phố gây sốc cho cộng đồng người da đen khi công bố trên tờ báo địa phương rằng, họ đã gặp và đạt được một thỏa thuận với một nhóm các giáo sĩ da đen uy tín. Các điều khoản của cái gọi là “thỏa thuận” như sau: (1) Đảm bảo sự đối xử lịch sự; (2) Khu vực dành cho người da trắng ở phía trước xe buýt, khu vực của người da đen ở phía sau, khu vực tự do ở giữa xe được sắp xếp theo nguyên tắc người đến trước được phục vụ trước; (3) Riêng giờ cao điểm sẽ dành riêng tất cả các xe cho người da đen. Trên thực tế, trừ điều khoản đầu tiên ra, “thỏa thuận” này chỉ lặp lại các điều kiện đã được đưa ra trước cuộc phản kháng. Vì thế, nó là một bước lùi. Tuy nhiên, nhiều người tin rằng cuộc tẩy chay đã kết thúc.
Thông báo này rõ ràng là một sự tính toán để dụ người da đen trở lại đi xe buýt vào sáng Chúa nhật, ủy ban Thành phố tin chắc rằng một khi có một số đáng kể người da đen bắt đầu đi xe buýt trở lại, cuộc tẩy chay sẽ kết thúc.
Chúng tôi đã có thể ngăn chặn những tác động của thông báo này trong các tình huống khá thú vị. Mặc dù tờ Montgomery Advertiser đồng ý giữ tin tức này lại đến sáng chúa nhật, hãng thông tấn Associated Press (AP, Liên đoàn báo chí) đã truyền nó đi cho các kênh truyền thông vào tối thứ Bảy. Biên tập viên da đen của tờ báo Minneapolis Tribune là Carl T. Rowan nắm được câu chuyện từ toà soạn, rất ngạc nhiên khi biết những người da đen chấp nhận một thỏa thuận nửa vời như vậy. Trước đây một vài tuần, ông Rowan đến Montgomery để viết phóng sự về cuộc tẩy chay và đã thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các nhà lãnh đạo MIA. Khoảng 8 giờ tối thứ Bảy, ông gọi điện cho tôi để xác minh câu chuyện. Ông đề cập đến cuộc họp và các thỏa thuận làm tôi hết sức choáng váng. Khi ông nói về ba giáo sĩ da đen uy tín có mặt tại cuộc họp, tôi lại càng ngạc nhiên hơn. Tôi nói với ông ta rằng tôi không hề biết gì về việc này và bắt đầu tự hỏi liệu có ai trong số các cộng sự của tôi đã phản bội và thỏa thuận sau lưng tôi hay không. “Điều này là không thể”, tôi nghĩ, “bởi vì mình vừa có một cuộc họp chiến lược vào sáng nay và tất cả các giáo sĩ uy tín đều ở đó”.
Rowan đã gọi cho ủy viên Sellers để hỏi thêm chi tiết. Trong vòng hai mươi phút, ông gọi lại và nói rằng Sellers đã xác nhận câu chuyện nhưng từ chối nêu tên những “giáo sĩ da đen uy tín”. Tuy nhiên, từ người ủy viên này, Rowan đã biết các vị giáo sĩ đó thuộc giáo phái nào. Manh mối này là tất cả những gì tôi cần.
Lập tức tôi gọi các cộng sự đến nhà mình và chưa đầy ba mươi phút họ đã có mặt. Tôi kể cho họ nghe câu chuyện, và chúng tôi quyết định phải truy tìm ra nguồn gốc trước nửa đêm. Đầu tiên chúng tôi tìm hiểu xem nhóm giáo sĩ da đen đã thực sự gặp ủy ban Thành phố chưa, sau đó là những giáo phái mà Rowan đã đề cập. Từ đó chúng tôi bắt đầu điều tra danh tính của vài người sau khi đã dùng phép loại trừ. Sau khoảng một giờ gọi điện thoại đi đó đây, chúng tôi đã có thể xác định được ba “giáo sĩ da đen uy tín”. Họ không nổi tiếng mà cũng chẳng phải là thành viên của MIA.
Lúc đó là khoảng 11 giờ đêm thứ Bảy. Phải làm thế nào để cho mọi người biết rằng bài báo họ sẽ đọc vào buổi sáng hôm sau là bịa đặt. Tôi cho một nhóm gọi đến tất cả các giáo sĩ da đen trong Thành phố và yêu cầu họ thông báo ở nhà thờ vào sáng chúa nhật rằng cuộc phản kháng vẫn tiếp tục. Một nhóm khác đã cùng tôi đi một vòng các quán bar và hộp đêm của người da đen để thông báo cho những người có mặt ở đó rằng chuyện thỏa hiệp là giả dối. Lần đầu tiên tôi có cơ hội nhìn thấy bên trong hầu hết các hộp đêm ở Montgomery. Vào 1 giờ sáng ngày Chúa nhật, chúng tôi vẫn đang còn đến các hộp đêm để báo tin. Do chúng tôi triển khai kế hoạch kịp thời nên tin tức được truyền đi nhanh chóng, vậy nên ngày hôm sau xe buýt vẫn trống trơn như thường lệ.
Ngay sau đó, tôi đã có dịp nói chuyện riêng với từng người trong “ba giáo sĩ da đen uy tín” Một trong ba người khăng khăng họ đã không đồng ý về bất kỳ sự thỏa thuận nào. Họ khẳng định rằng họ đã bị “lừa” đến cuộc gặp do có lời mời qua điện thoại về việc thảo luận một loại bảo hiểm mới cho Thành phố. Cả ba đều bác bỏ thông báo của ủy ban.
Thất bại với trò lừa bịp, các quan chức Thành phố đã bị mất mặt. Không cần biết họ có được đánh giá giỏi chiến thuật mưu mẹo hay không nhưng tính trung thực của họ đang phải chịu sự thử thách. Đến bây giờ họ đã hoàn toàn bế tắc. Và cách mà họ bắt đầu đáp trả là thực hiện một chính sách “cứng rắn”. Với sự phẫn nộ thực sự, Thị trưởng đã lên truyền hình và lên án sự tẩy chay. Ông hăm dọa, ủy ban sẽ “không lòng vòng với vụ tẩy chay nữa mà sẽ giải quyết dứt điểm”. Đại đa số người da trắng ở Montgomery, ông tuyên bố, không quan tâm dù chỉ một người da đen có đi xe buýt nữa hay không. Và ông kêu gọi các nhà tuyển dụng da trắng ngừng đưa đón nhân viên da đen của họ đến chỗ làm và về nhà. Trong thời gian này, cả ba ủy viên Thành phố cho biết họ đã tham gia Hội đồng Công Dân Da Trắng.
Chính sách “cứng rắn” hóa ra bao hàm một loạt các vụ bắt giữ vi phạm giao thông nhỏ và thường thấy. Có những người chưa bao giờ bị phạt thì bây giờ cũng bị phạt, và đã vài lần bị vào tù. Những người da đen lái xe đưa rước thì bị dừng xe ở khắp thành phố để hỏi về giấy phép, bảo hiểm và nơi làm việc của họ. Các cảnh sát đã ghi chép cẩn thận, dường như để thu thập bằng chứng cho những lần vi phạm sau. Một số người đi xe buýt trước kia, khi đứng đợi xe đến đón, được bảo là có luật cấm đưa đón người; những người khác được biết rằng họ sẽ bị bắt nếu bị nhìn thấy “đi lẩn quẩn ở khu vực người da trắng”.
Trước những khó khăn này, những người tình nguyện lái xe đưa rước bắt đầu ít đi. Một số tài xế thấy lo sợ rằng giấy phép của họ sẽ bị thu hồi hoặc bảo hiểm của họ bị hủy bỏ; những người khác cảm thấy rằng họ không còn có thể tham gia cuộc tẩy chay trong hoàn cảnh như vậy nữa. Nhiều tài xế lặng lẽ từ bỏ việc đưa đón khách, vì vậy đón xe ngày càng trở nên khó khăn hơn. Khiếu nại bắt đầu tăng lên. Từ sáng sớm đến đêm khuya, điện thoại của tôi reo liên tục và chuông cửa nhà tôi hiếm khi im lặng. Tôi bắt đầu nghi ngờ về khả năng cộng đồng da đen có thể tiếp tục cuộc đấu tranh.
Để cố gắng giữ cho phong trào không bị tan rã, tại các cuộc họp quần chúng các giáo sĩ đã đưa ra các kiến nghị đặc biệt và kêu gọi mọi người giữ vững lòng tranh đấu. Chúng tôi cam kết với các tài xế lái xe đưa rước là sẽ gắn bó với họ để vượt qua những khó khăn này. “Chúng ta phải kề vai sát cánh với nhau”, chúng tôi nhắc đi nhắc lại, “dù tốt hay xấu, cũng cùng đồng cam cộng khổ cho đến khi vấn đề này được giải quyết”.
Tôi cũng nghĩ mình sẽ bị bắt do kết quả của biện pháp “cứng rắn”. Một buổi chiều giữa tháng Một, sau khi làm việc tại văn phòng nhà thờ, tôi bắt đầu lái xe về nhà với một người bạn là Robert Williams và thư ký của nhà thờ là bà Lilie Thomas. Trước khi rời trung tâm Thành phố, tôi quyết định ghé qua bãi đậu xe để đón một vài người đi cùng hướng với tôi. Khi chúng tôi đi vào bãi, tôi thấy bốn hoặc năm cảnh sát đang tra hỏi các tài xế. Tôi đón ba hành khách và lái xe đến rìa bãi đậu thì bị một trong những nhân viên này giữ lại. Trong khi anh ta yêu cầu được xem giấy phép của tôi và hỏi về quyền sở hữu xe, tôi nghe một cảnh sát đứng bên kia đường nói “Đó là tên King chết tiệt”.
Rời khỏi bãi đậu xe, tôi nhận thấy hai cảnh sát chạy xe gắn máy phía sau tôi. Qua ba dãy nhà, vẫn còn một chiếc chạy theo. Khi tôi nói với Bob Williams chúng tôi đang bị theo dõi, ông ấy trả lời, “Anh hãy tuân thủ đúng luật lệ giao thông”. Tôi lái xe đi từ từ và cẩn thận, chiếc xe máy vẫn đi sau tôi. Cuối cùng, khi tôi dừng lại để cho ba hành khách xuống, viên cảnh sát chạy tới và nói: “Hãy bước ra khỏi xe, King. Ông bị bắt vì chạy tốc độ ba mươi dặm một giờ trong khu vực cho phép hai mươi lăm dặm một giờ”. Không cần hỏi han gì, tôi ra khỏi xe, nói Bob Williams và bà Thomas lái xe về và thông báo cho vợ tôi, chẳng mấy chốc một chiếc xe tuần tra đến, hai cảnh sát bước ra và khám tôi từ trên xuống dưới xong đưa tôi vào trong xe rồi lái đi.
Khi chúng tôi đi, có lẽ là đến nhà tù Thành phố, một cảm giác hoảng sợ bắt đầu xuất hiện. Tôi luôn tưởng rằng nhà tù ở khu vực trung tâm Montgomery. Tuy nhiên, sau khi đi một lúc, tôi lại thấy đi theo một hướng khác, càng đi càng xa khỏi trung tâm Thành phố. Vai phút sau, xe rẽ vào một con đường tối tăm và dơ dáy chưa từng thấy, rồi đi tới một cây cầu cũ hoang vắng. Lúc này tôi đã nghĩ rằng họ mang tôi đến một nơi xa xôi để quăng tôi lại đó. “Điều này là không thể”, tôi tự nhủ, “những người này là viên chức thừa hành luật pháp”. Tôi bắt đầu tự hỏi liệu họ có đưa tôi đến chỗ phe nhóm nào đó đang chờ đợi hay không, sau đó lấy cớ rằng họ bị áp đảo. Toàn thân tôi run rẩy. Tôi thầm cầu xin Chúa ban cho tôi sức mạnh để chịu đựng bất cứ điều gì sẽ đến.
Lúc này chúng tôi đã đi qua khỏi cầu. Tôi đinh ninh rằng bên kia cầu là nơi định mệnh của mình. Nhưng khi nhìn lên, tôi thấy một ánh sáng chói ở đằng xa, và ngay sau đó tôi thấy bảng chữ “Nhà tù Thành phố Montgomery”. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm đến mức tự thấy mỉa mai thay cho tình cảnh của mình: đi tù mà như đi đến một nơi trú ẩn an toàn nào đó!
Một cảnh sát đã mở cửa cho tôi. Sau khi gửi đồ đạc và cung cấp thông tin cho cai ngục, tôi bị dẫn đến một căn phòng tồi tàn và hôi hám. Khi cánh cửa sắt lớn mở ra, người cai ngục nói với tôi: “Được rồi, hãy vào ở chung với những người này”. Trong tích tắc một cảm xúc rét mướt lạ lùng lướt qua tôi như những cơn gió lạnh trên đồng cỏ mênh mông. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi bị ném vào sau chấn song sắt.
Khi bước vào phòng giam đông đúc, tôi nhận ra hai người quen, có một giáo viên bị bắt vì liên quan đến cuộc phản kháng. Trong nền dân chủ của nhà tù, họ bị nhốt chung với những tên du đãng, kẻ say rượu và những kẻ phạm tội hình sự. Một người bị tù vì tấn công và bạo hành; một người khác bị buộc tội mạo danh quyên tiền. Nhưng nền dân chủ đã không đi xa đến mức phá vỡ các quy tắc phân biệt. Ở đây người da trắng và người da đen bị giam mòn mỏi trong các phòng giam riêng.
Khi nhìn xung quanh, tôi đã rất kinh hoàng trước những điều kiện sống ở đây đến nỗi quên cả tình trạng hiểm nguy của chính mình. Tôi thấy những người đàn ông nằm trên những thanh giường cứng và những người khác thì ở trên những chiếc nệm rách. Nhà vệ sinh nằm ở một góc mà không có gì che chắn. Tôi tự nhủ rằng dù những người đàn ông này đã làm gì, họ cũng không nên bị đối xử như vậy.
Tất cả bọn họ xúm lại hỏi để biết tại sao tôi lại vào đây, và một số tỏ vẻ ngạc nhiên cho rằng bắt tôi là Thành phố đã quá lố. Chẳng mấy chốc, hết người này đến người khác bắt đầu nói chuyện với tôi, kể lý do anh ta vào tù và hỏi tôi có thể giúp anh ấy được thả ra không. Đến người thứ ba yêu cầu tôi giúp đỡ, tôi quay sang đám đông nói: “Các anh em, trước khi tôi có thể giúp đỡ bất kỳ ai thoát ra ngoài, tôi phải thoát thân trước đã”. Họ bật cười.
Không lâu sau, người cai ngục đến đưa tôi đi. Khi rời phòng giam, tôi đang thắc mắc ông ta sẽ đưa tôi đi đâu thì một người tù nói với theo: “Đừng quên chúng tôi khi anh được ra ngoài nhé”. Và tôi đã hứa là sẽ không quên họ. Tên cai ngục dẫn tôi xuyên một hành lang dài đến một căn phòng nhỏ đối diện phòng giam vừa rồi. Trong thoáng đó tôi nghĩ chắc mình được bảo lãnh tại ngoại bằng trái phiếu, nhưng rồi nhanh chóng phát hiện ra mình đã nhầm. Gã cai ngục cộc lốc ra lệnh cho tôi ngồi và bắt đầu lăn ngón tay của tôi trên một hộp mực. Tôi sắp bị lấy dấu vân tay như một tên tội phạm.
Vào lúc này, tin tức về vụ bắt giữ tôi đã lan truyền khắp Montgomery, và một số người đã đi đến nhà tù Thành phố. Người đến đầu tiên là bạn thân của tôi, Ralph Abernathy. Anh ta lập tức tìm cách ký kết trái phiếu bảo lãnh tôi, nhưng các quan chức nói với anh rằng anh phải mang giấy của tòa án khẳng định là có tài sản đảm bảo để ký kết một trái phiếu. Ralph nói rằng vì đã gần 6 giờ 30 tối, tòa án đã đóng cửa.
Một cách thờ ơ, viên chức nhà tù vặn vẹo: “Ừm, vậy anh cứ chờ đến sáng mai”.
Sau đó Ralph hỏi anh ta có thể gặp tôi không.
Người cai ngục trả lời: “Không, 10 giờ sáng mai anh mới được gặp”
“Vâng, vậy có thể”, Abernathy nói, “bảo lãnh bằng tiền mặt được không?”
Gã cai ngục miễn cưỡng trả lời có. Ralph vội vã đến văn phòng nhà thờ của mình cách đó vài dãy nhà để đi lo tiền mặt.
Trong khi đó, một số người đã tập hợp trước nhà tù. Các chấp sự và ủy viên quản trị nhà thờ của tôi đã kéo đến từ mọi nơi. Chẳng mấy chốc đám đông trở nên quá lớn đến mức người cai ngục bắt đầu hoảng sợ. Ông ta vội vã vào phòng lăn vân tay và nói: “King, ông được thả ngay bây giờ” và tôi chưa kịp lấy áo khoác của mình, ông ta đã đẩy tôi ra mà không phải đóng tiền tại ngoại. Ông ta trả lại tài sản của tôi và thông báo rằng phiên tòa của tôi sẽ được tổ chức vào sáng thứ Hai lúc 8 giờ 30.
Khi bước ra khỏi cửa nhà tù, được những người bạn và mọi người chúc mừng, tôi lấy lại được sự dũng cảm mà tôi đã tạm thời bị mất. Tôi biết rằng tôi không chỉ có một mình. Sau vài lời ngắn gọn cùng đám đông, tôi được một chấp sự đưa về. Vợ tôi đón tôi bằng một nụ hôn ở ngay cửa. Bên trong, nhiều thành viên trong nhà thờ của tôi và những người bạn khác đang lo lắng chờ đợi kết quả. Lời động viên của họ đã cho tôi thêm sự bảo đảm rằng tôi không đơn độc.
Từ đêm đó, sự cam kết của tôi với cuộc đấu tranh giành tự do mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trước khi nghỉ ngơi, tôi đã nói chuyện với Coretta. Và như thường lệ, cô ấy đã cho tôi sự tin tưởng mà chỉ có thể có được từ một người gần gũi với bạn như nhịp đập của chính trái tim bạn. Vâng, đêm bất công thật tăm tối: chính sách ‘cứng rắn” đang chiếm ưu thế. Nhưng trong bóng tối tôi đã thấy một ngôi sao sáng chói của tình đoàn kết.
Martin Luther King, Jr
Phạm Hải Quỳ dịch
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...