Bước đến tự do 1
LỜI TỰA
Gửi Coretta, người vợ yêu thương và những cộng sự của tôi
Đây là quyển sách nói về sự thay đổi của cộng đồng người da
đen ở miền Nam chỉ trong vòng vài năm, và được viết từ góc nhìn của một người
trong cuộc. Mặc dù đã có sự cố gắng mô tả những gì đã diễn ra, quyển sách này
không phải là một khảo sát chi tiết các khía cạnh lịch sử và xã hội học về câu
chuyện Montgomery. Do đó, nội dung cuốn sách chỉ phản ánh quan điểm và tầm nhìn
của một cá nhân.
Trong khi tính chất của thể loại tự truyện này khiến tôi thường
xuyên dùng chữ “tôi,” nhưng trong những phần quan trọng của câu chuyện thì lại
phải là “chúng tôi.” Đây không phải là một bộ phim chỉ có một vai diễn, chính
xác hơn, là biên niên sử của người da đen, những người đã lấy nguyên tắc phi bạo
lực làm kim chỉ nam để tranh đấu cho quyền lợi của mình với khí giới là tình
yêu. Và trong quá trình tranh đấu họ đã hiểu ra được giá trị của chính con người
mình. Đây là câu chuyện của các nhà lãnh đạo da đen theo nhiều tín ngưỡng và
nhiều tổ chức khác nhau vốn chia rẽ trước đây đã liên kết được với nhau vì
chính nghĩa và vì mục đích chung.
Trong số những người hưởng ứng phong trào, có nhiều người đã
vượt quá tuổi trung niên. Họ thà đi bộ đi làm và về nhà khoảng mười hai dặm đường
(gần 20km) mỗi ngày trong hơn một năm trời chứ không chịu đi xe buýt để bị sỉ
nhục và phân biệt chủng tộc. Đa số những người da đen tham gia vào việc tẩy
chay xe buýt ở Montgomery rất nghèo nàn và ít học, song họ hiểu được điều cốt
lõi của phong trào Montgomery là gì. Có một phụ nữ lớn tuổi, dù mệt mỏi, bà đã
phát biểu ý kiến như thế này sau vài tuần đi bộ: “Chân tôi tuy rã rời,
song tâm hồn tôi được thanh thản”.
Một kết quả khác của phong trào này là cộng đồng người da trắng
của Montgomery, bị dẫn dắt hay đe dọa bởi một vài phần tử cực đoan bấy lâu nay,
cuối cùng cũng đã thấy ghê tởm bọn hung thủ gây nên tội ác mang tên phân biệt
chủng tộc. Song sự thay đổi vẫn chưa phải là nhiều và không nên phóng đại bởi hội
đồng Công Dân Da Trắng vẫn còn hoạt động. Những kẻ ném bom tự thú vẫn được trả
tự do sau khi xử ở tòa án. Và những luật lệ ngăn cản sự hòa hợp giữa hai chủng
tộc vẫn được thực thi. Tuy nhiên, sau vụ tẩy chay xe buýt mới thấy rõ phần đông
người da trắng ở Montgomery muốn hòa bình và trật tự hơn là những bạo lực tràn
lan gây ra dưới cái tên kỳ thị chủng tộc. Và mặc dù nhiều người thấy sự phân biệt
là đúng bởi vì đó là truyền thống từ xưa, nhưng luôn có một vài người can đảm
nhìn nhận sự phân biệt là bất công và đứng lên chiến đấu chống lại điều đó cùng
người da đen.
Kể từ sau sự kiện Montgomery, một cuộc biểu tình tẩy chay xe
buýt của những con người dũng cảm đã được tiến hành tại Tallahassee (thủ phủ của
bang Florida), và những nỗ lực liên kết thành phong trào đi xa hơn mục tiêu tẩy
chay xe buýt đã lan rộng đến nhiều cộng đồng ở miền Nam. Người da đen trên khắp
miền Nam đã bắt đầu nhận thức một cách nghiêm túc về quyền đăng ký và bầu cử của
mình. Sau đó đến lượt Little Rock, [1] thủ phủ của bang Arkansas, tại
trường Trung học Central, những trẻ em da đen đã dũng cảm vượt qua sự kỳ thi để
bình đẳng với học sinh da trắng, những đứa vẫn thường thù nghịch và chế giễu.
Phong trào Montgomery đã tạo ra sức mạnh và can đảm cho người da đen sống ở những
nơi khác. Chuyện ở Montgomery cùng Little Rock và Tallahassee đều là kết quả từ
cùng một chuỗi nguyên nhân. Đây hẳn là vấn đề đáng quan tâm cho giới sử gia
tương lai nghiên cứu. Dù ước tính cuối cùng có như thế nào, rõ ràng Montgomery
đã trở thành một phần của thứ gì đó lớn lao hơn chính nó.
Việc ghi nhận công lao trong một tác phẩm thuộc thể loại này
là vô cùng. Làm cách nào để có thể thừa nhận sự đóng góp của cá nhân? Song, cuốn
sách này sẽ còn thiếu sót nếu không có lời cảm tạ từ tác giả đến những người đã
giúp đỡ rất nhiều.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Theodore Brown, Charles
Gomillion, Lewis Wade Jones và Harris Wofford vì những ý kiến quan trọng và sự
khích lệ chân thành. Họ không phải chịu trách nhiệm về những thiếu sót của tôi
khiến những điều họ hy vọng không thành hiện thực.
Tôi cũng nợ lời cảm ơn với người thầy và cũng là bạn tôi,
George D. Kelsey, người đã cho tôi những đề xuất có giá trị và đầy khích lệ.
Tôi chân thành biết ơn các cộng sự thân cận của tôi, bà Jo
Ann Robinson và Fred D. Grey, vì đã cực khổ đọc kỹ càng toàn bộ bản thảo.
Lời cảm ơn cũng xin được gửi tới bạn tôi là L. D. Reddick,
người đã đọc bản thảo, cung cấp cả những gợi ý và tài liệu hữu dụng hiếm hoi.
Tôi đặc biệt biết ơn bà Hermine Popper của nhà xuất bản Harper Brothers, người
có năng lực tuyệt vời, đã có công lao vô giá trong việc hỗ trợ biên tập.
Tôi xin cảm kích thư ký của tôi, bà Maude Ballou, người đã
liên tục khuyến khích tôi kiên trì trong công việc này và có công lao to lớn
trong việc chuyển các trang viết tay của tôi sang bản đánh máy chữ.
Tôi cũng cảm ơn Elliot Finley và vợ ông là Genevieve, người
đã cung cấp một ngôi nhà thoải mái, nơi mà hầu hết câu chuyện đã được viết tại
đây.
Tôi nợ một lời cảm ơn đặc biệt đến giới truyền thông báo chí
- đặc biệt là ký giả Ted Poston của tờ New York Post, ký giả Abel Plen của tờ
New York Times, và Normal Walton của Bản Tin Lịch Sử Người Da Đen - những trang
báo đã cung cấp các nguồn tư liệu và nguồn cảm hứng vô giá cho tôi.
Tôi vô cùng biết ơn các thành viên của Giáo hội Baptist
Dexter Avenue, nếu không có sự kiên nhẫn, lòng trung thành và sự cổ vũ của họ,
tác phẩm này đã không thể hoàn thành.
Trên hết, tôi nợ vợ tôi là Coretta. Nếu không có tình yêu, sự
hy sinh và chung thủy của cô ấy, cả cuộc sống lẫn công việc của tôi đều không vẹn
tròn. Cô ấy đã cho tôi những lời ủi an khi tôi cần nhất và một ngôi nhà ấm
cúng, nơi tình yêu Cơ đốc giáo trở thành sự thật. Gửi em, quyển sách này là của
riêng em.
MARTIN LUTHER KING, JR.
Montgomery,
Alabama Tháng 5, 1958
Chương I
Trở về miền Nam
Vào một buổi trưa lạnh lẽo ngày thứ bảy tháng Một năm 1954,
tôi bắt đầu hành trình từ Atlanta thuộc bang Georgia đến Montgomery của bang
Alabama. Đó là một ngày mùa đông trời quang đãng, radio trên xe đang phát sóng
vở opera tôi yêu thích, "Nàng Lucia của núi Lammermoor", sáng tác của
Donizetti do đoàn Metropolitan Opera trình bày. Vẻ đẹp của cảnh làng quê cùng với
cảm hứng từ giai điệu độc đáo không ai có thể làm hay hơn được của Donizetti và
mây trời đã xua đi sự buồn tẻ thường có trên những chuyến đi dài, nhất là những
chuyến đi đơn độc.
Sau vài giờ đồng hồ lái xe ngang qua cánh đồng mượt mà phì
nhiêu, tôi đến dòng sông Alabama uốn cong bên bãi Montgomery. Dù trước đây tôi
đã đi ngang qua thành phố này nhưng tôi chưa một lần nào thật sự vào viếng
thăm. Đây là cơ hội để thăm thành phố dễ thương này trong một vài ngày, một
trong các thành phố cổ nhất nước Mỹ.
Một người bạn đưa tôi đi thăm Nhà thờ Baptist Dexter Avenue
sau khi tôi đến không lâu. Đó là ngôi nhà thờ tôi sẽ giảng vào buổi sáng hôm
sau, một công trình kiến trúc kiên cố bằng gạch được xây dựng vào thời điểm tái
thiết đất nước Hoa Kỳ (1863-1877). Ngôi nhà thờ tọa lạc ở một góc đẹp của quảng
trường không xa trung tâm thành phố lắm. Khi chúng tôi đến nhà thờ, tôi để ý thấy
chéo qua bên kia quảng trường có một ngôi nhà màu trắng cân xứng nguy nga tuyệt
đẹp. Đó là State Capitol được xây vào năm 1851 với mái vòm cao ở giữa là một
trong những mỹ thuật cổ điển của kiến trúc Georgia ở Mỹ. Tại đây vào ngày 7
tháng 1 năm 1861, Alabama nhận được phiếu thuận để ly khai khỏi Liên bang, sau
đó vào ngày 18 tháng 2, dưới mái cổng trên những bậc tam cấp của tòa nhà ấy,
Jefferson Davis tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống Liên Minh Miền Nam (các bang ly
khai Hoa Kỳ trong thời kỳ nội chiến 1861-1865). Vì lý do này Montgomery được biết
đến như chiếc nôi của Liên Minh và lá cờ của Liên Minh Miền Nam được ra đời và
bay phất phới lần đầu tiên ở đây. Hiện tại nhiều mô hình của Liên Minh xưa và
những truyền thống từ trước chiến tranh vẫn còn tồn tại ở Montgomery bên cạnh sự
phát triển kinh tế theo trào lưu mới năng động và nổi trội.
Vài năm sau đó tôi vẫn còn được nhìn tòa nhà uy nghi gợi nhớ
lại Liên Minh xưa khi đứng trên tam cấp của nhà thờ Baptist Dexter Avenue. Cuộc
viếng thăm của tôi vào tháng Một này như đã báo hiệu tôi sẽ về sống ở
Montgomery.
Vào tháng 8 năm 1953, sau khi đã học liên tục hai mươi mốt
năm không gián đoạn, tôi cũng đã tiến lên được đến học vị tiến sĩ. Việc chính yếu
còn lại là viết luận án. Trong thời gian đó tôi nghĩ nên bắt đầu tìm việc để muộn
nhất đến tháng 9 năm 1954 tôi có chỗ làm. Có hai Nhà thờ nằm ở miền Đông - một ở
Massachusetts và một ở New York đã bày tỏ mong muốn mời tôi. Có ba trường đại học
đã ngỏ ý mời tôi đảm nhận những chức vụ hấp dẫn với nhiều thử thách: một là giảng
dạy, hai là trưởng phân khoa và ba là chức vụ hành chính. Trong lúc còn suy
nghĩ chưa biết chọn cái nào, tôi nhận được một bức thư từ văn phòng của nhà thờ
Baptist Dexter Avenue ở Montgomery viết rằng họ đang thiếu mục sư và sẽ rất vui
nếu tôi có thể ghé đến giảng khi có dịp đi qua miền Nam này. Những viên chức gửi
lời mời biết tôi qua lời kể của cha tôi ở Atlanta và những người bạn mục sư
khác. Tôi vội viết thư hồi âm ngay để thông báo rằng tôi sẽ về nhà ở bang
Atlanta vào dịp nghỉ Giáng sinh và tôi sẽ rất vui được đến Montgomery để giảng
vào một ngày chúa nhật trong tháng Một.
Ngôi nhà thờ tương đối nhỏ với khoảng 300 tín đồ nhưng chiếm
tâm điểm quan trọng trong cộng đồng. Nhiều công dân có uy tín được trọng vọng,
đó là những chuyên gia với thu nhập đáng kể là thành viên của giáo hội. Ngoài
ra, ở đây có truyền thống lâu năm là các vị mục sư rất uyên bác. Có nhiều mục
sư da đen được huấn luyện tốt nhất quốc gia từng làm mục sư ở đây.
Chiều thứ bảy hôm đó, khi tôi xem lại bài sẽ giảng, tôi cảm
giác rõ sự hồi hộp. Dù trước đây tôi đã thuyết giảng nhiều lần, từng làm mục sư
phụ tá bốn năm ở nhà thờ của cha tôi tại Atlanta, đảm trách việc thuyết giảng ở
đó liên tiếp ba mùa hè, nhưng lần này tôi biết là một sự thử thách. Làm thế nào
để gây ấn tượng tốt nhất với cộng đoàn? Họ là những người học cao và thông minh
trí tuệ, không lẽ tôi sẽ cố gắng gây chú ý bằng sự khoe khoang học rộng? Hay là
tôi cứ thuyết giảng như tôi vẫn thuyết giảng, sẽ tùy vào cảm hứng và phó thác
hoàn toàn vào Thánh linh của Thượng Đế? Cuối cùng tôi đã chọn cách sau. Tôi nhủ
với lòng hãy quên cái tôi Martin Luther King, nhớ đến Thượng Đế thì mọi việc sẽ
ổn. Hãy nhớ rằng mình chỉ là phương tiện của Phúc Âm, chứ không phải là ngọn
nguồn.
Đúng 11 giờ ngày Chúa nhật, tôi đứng trên bục giảng trước đại
cộng đoàn lớn. Để tài tôi chọn là “Ba thước đo của một cuộc sống hoàn thiện”.
Sau buổi thuyết giảng, cộng đoàn đã đón nhận tôi. Tôi ra về mang theo cảm giác
rằng Chúa đã trọng dụng mình, rằng đây là một nhà thờ tốt với những cơ hội đầy
thách thức. Gần cuối ngày, ủy ban Quản trị bàn với tôi nhiều chi tiết về các vấn
đề của nhà thờ, và hỏi tôi nghĩ sao nếu họ mời tôi làm mục sư. Sau khi trả lời
rằng tôi xin xem xét lời mời này một cách chân thành và nghiêm túc nhất, tôi rời
Montgomery đi Atlanta, rồi bay trở về Boston.
Khoảng một tháng sau đó tôi nhận được một bức thư gửi đảm bảo
từ Montgomery, cho biết rằng tôi đã được nhất trí mời làm mục sư của Nhà thờ
Baptist Dexter Avenue. Tôi đã rất vui khi nhận được lời đề nghị này, nhưng đã
không hồi âm ngay, vì tôi định bay đến Detroit sáng hôm sau để dự buổi thuyết
giảng vào Chúa nhật kế đó.
Hôm đó là ngày gặp phải thời tiết xấu với những đám mây lơ lửng
dưới thấp, nhưng khi máy bay lên cao thoát ra khỏi vùng thời tiết đó, sự bập bềnh
nhanh chóng qua đi. Trong lúc ngắm nhìn từng gợn mây màu bạc bên dưới cùng cái
bóng đen tuyền của bầu trời trên kia, tôi trăn trở với suy nghĩ nên làm gì với
những lời đề nghị mình nhận được. Lúc đó suy nghĩ của tôi như chia ra hai hướng.
Một mặt tôi thiên về giới mục sư, mặt khác lại nghiêng về công việc nhà giáo.
Tôi nên chọn lối nào đây? Và nếu tôi nhận việc ở nhà thờ, thì nên chọn cái nằm ở
Miền Nam với tất cả ý nghĩ bi thương về nạn phân biệt chủng tộc, hay chọn một
trong hai chỗ tại Miền Bắc.
Nhớ lại thời còn nhỏ, tôi đã từng bất bình với nạn phân biệt,
đã từng gặng hỏi bố mẹ và thắc mắc về nó. Hồi còn chưa đủ tuổi đến trường tôi
đã biết được đôi điều về phân biệt chủng tộc. Sau suốt ba bốn năm chơi chung với
hai người bạn da trắng nối khố của tôi có bố mẹ kinh doanh cửa hiệu phía bên
kia đường nhà tôi ở Atlanta thì có chuyện xảy ra. Khi tôi sang đường để tìm bọn
nó, bố mẹ của chúng bảo rằng chúng không thể đi chơi. Họ không tỏ vẻ ghét tôi,
họ chỉ kiếm cớ từ chối thôi. Cuối cùng tôi đã hỏi mẹ về chuyện đó.
Mỗi bậc cha mẹ, ở một thời điểm nào đó sẽ thấy khó giải thích
cho con trẻ về sự thật của cuộc đời. Với người da đen cũng không ngoại lệ, đó
là lúc họ phải giải thích cho con mình về sự thật nạn phân biệt chủng tộc. Mẹ
tôi đã kéo tôi vào lòng và bắt đầu kể tôi nghe về chế độ nô lệ và sự chấm dứt của
nó sau Cuộc Nội Chiến. Bà cố gắng giải thích cho tôi hiểu rằng, ở miền Nam này
tất cả các trường học, nhà hàng, rạp hát, nhà cửa, các biển ghi dành cho người
da trắng và da màu được dán ở mấy trụ uống nước, phòng chờ, nhà vệ sinh đều là
sự sắp đặt có chủ ý của chính quyền để chia rẽ, phân biệt màu da chứ không phải
là sự ngẫu nhiên. Rồi bà nói ra câu mà hầu hết mọi người dân da màu đều nghe
trước khi có thể hiểu được sự bất công khiến cho những từ ấy trở nên thật cần
thiết: “Con cũng tốt như mọi người thôi”.
Mẹ tôi, con gái của một mục sư thành đạt, đã lớn lên tương đối
an lành. Bà được học ở những trường phổ thông và đại học tốt nhất thời bấy giờ
và nhìn chung được bảo vệ khỏi những tác động tồi tệ nhất của nạn phân biệt chủng
tộc. Nhưng cha tôi, con trai của một tá điền đã trực tiếp nếm trải sự tàn bạo ấy,
và đã biết đánh trả từ khi còn trẻ. Với bản tính trung thực đầy quả cảm và vóc
dáng mạnh mẽ, cường tráng của mình, lời lẽ của ông khiến người ta phải chú ý.
Tôi nhớ như in hồi còn nhỏ, một lần đi với cha vào một hiệu
giày ở trung tâm thành phố. Chúng tôi ngồi xuống hàng ghế đầu còn trống ở trước
cửa hàng. Một nhân viên da trắng đến chỗ tôi và lịch sự nói khẽ:
“Tôi sẵn lòng phục vụ ông chỉ cần ông dời xuống hàng ghế phía
sau.”
Cha tôi đáp: “Mấy cái ghế này ổn mà. Chúng tôi khá thoải
mái.”
“Xin lỗi,” người nhân viên nói, “nhưng ông phải dời xuống.”
“Ngồi đây thì tôi mua giày” cha tôi vặn lại, “còn không thì
khỏi mua”. Ngay sau đó ông nắm tay tôi bước ra khỏi cửa hàng. Đó là lần đầu
tiên tôi chứng kiến cha mình giận dữ đến như vậy. Lúc bước ra khỏi cửa hàng,
ông cằn nhằn: “Dù không biết phải sống với cái hệ thống này bao lâu nữa, nhưng
cha sẽ không bao giờ chấp nhận nó.
Và đúng là như vậy. Còn nhớ một hôm đang chạy xe thì ông bất
ngờ vượt qua một biển báo dừng. Một người cảnh sát chặn xe lại và nói:
“Được rồi, cậu nhóc, hãy tấp vào lề và cho xem bằng lái nào.”
Cha tôi đáp lại một cách bực bội: “Tôi không phải là cậu
nhóc”, rồi chỉ vào tôi, “đây mới là cậu nhóc. Tôi là đàn ông, và chừng nào anh
còn gọi tôi như vậy, tôi sẽ không nghe theo đâu”.
Viên cảnh sát đã bị sốc đến nỗi rất lúng túng khi viết giấy
phạt rồi nhanh chóng bỏ đi.
Từ trước khi sinh tôi ra, cha tôi đã không chịu đi xe buýt của
thành phố nữa sau khi chứng kiến nhiều hành khách da đen bị tấn công tàn bạo.
Ông từng dẫn đầu một cuộc đấu tranh ở Atlanta để đòi bình đẳng về đồng lương của
giáo viên, và đóng vai trò quan trọng trong việc hủy bỏ luật kỳ thị thang máy
Jim Crow tại tòa án (người da đen không được đi chung thang máy với người da trắng).
Là mục sư của Nhà thờ Baptist Ebenezer, nơi ông vẫn chủ trì một cộng đoàn 4.000
người, ông có ảnh hưởng rất lớn trong cộng đồng người da màu, cũng vì vậy mà
người da trắng đã phải tôn trọng ông một cách miễn cưỡng. Dù thế nào, họ vẫn chứa
bao giờ dùng vũ lực đối với ông, một điều mà anh chị tôi và tôi vẫn thấy lạ khi
lớn lên trong bầu không khí đầy căng thẳng này.
Kế thừa điều này, không có gì ngạc nhiên khi tôi cũng căm
ghét sự phân biệt, nó vừa vô lý vừa vô đạo đức. Từ khi là một vị thành niên tôi
chưa bao giờ có thể chấp nhận phải xuống ngồi hàng ghế phía sau xe buýt hay ngồi
một nơi riêng biệt trên tàu hoả. Lần đầu tiên bị bắt ngồi sau tấm màn ngăn ở
toa ăn trên xe lửa, tôi cảm tưởng như thể tấm màn đang làm nhục tôi vậy. Cũng
có sở thích phim ảnh như bao thằng con trai đang lớn, nhưng tôi chỉ đến rạp chiếu
phim duy nhất một lần vì bị bắt đi bằng cửa sau và ngồi ở hàng ghế hạng bét bẩn
thỉu nhếch nhác đến mức ghê tởm làm tôi không tài nào tận hưởng được cuốn phim.
Tôi chưa bao giờ có thể thích nghi được với mấy phòng chờ tách biệt, chỗ ăn
tách biệt, phòng vệ sinh tách biệt, phần vì cái tách biệt đó luôn bất bình đẳng,
phần vì chính dụng ý về mấy chỗ tách biệt đó đã động chạm đến phẩm giá và lòng
tự trọng của tôi.
Giờ đây, trong lúc máy bay đưa tôi đến Detroit, tôi nghĩ mình
đang có cơ hội thoát ra khỏi bóng đêm dai dẳng của nạn phân biệt? Tôi có nên
quay về sống trong một xã hội chấp chứa cái hệ thống mà tôi căm ghét từ thời
thơ ấu không?
Những trăn trở này vẫn chưa có lời đáp khi tôi trở lại
Boston. Tôi đã chia sẻ điều này với vợ mình, Coretta (chúng tôi đã kết hôn chưa
được một năm), và biết được rằng cô cũng phân vân về chuyện trở lại miền Nam.
chúng tôi đã bàn bạc một vấn đề hệ trọng là có nên để con cái lớn lên trong xiềng
xích của nạn phân biệt không. Chúng tôi hồi tưởng về thời quá khứ của mình ở miền
Nam, và những quyền lợi mà chúng tôi bị tước đoạt bởi hậu quả của nạn phân biệt.
Câu hỏi về sự nghiệp âm nhạc của vợ tôi cũng được bàn đến. Cô ấy đã đinh ninh rằng
một thành phố ở miền Bắc sẽ mở ra nhiều cơ hội để tiếp tục học hơn là một thành
phố ở miền Nam xa xôi. Suốt mấy ngày chúng tôi nói chuyện, suy nghĩ và cầu nguyện.
Cuối cùng chúng tôi nhất trí rằng, mặc cho những bất lợi và sự hy sinh không
tránh khỏi, chúng tôi có thể phục vụ nhiều hơn ở miền Nam, nơi chúng tôi đã
sinh ra. Chúng tôi đi đến kết luận rằng mình phải có trách nhiệm lương tâm để
quay trở về - ít nhất là trong vài năm.
Dù thế nào miền Nam vẫn là quê hương của chúng tôi, dẫu nó có
khiếm khuyết chúng tôi vẫn yêu và vẫn ôm ấp một khát khao thực sự muốn làm điều
gì đó để cải thiện những vấn nạn đã hiện hữu từ thời niên thiếu đến nay. Chúng
tôi chưa bao giờ muốn bị xem như những kẻ ngoài cuộc vô lo vô nghĩ. Vì nạn phân
biệt chủng tộc diễn ra nặng nề nhất ở miền Nam, nên chúng tôi nghĩ rằng những
người da màu đã được đào tạo bài bản tại những vùng miền khác của đất nước, nên
trở vé để chia sẻ những kiến thức, tư tưởng cởi mở và kinh nghiệm giáo dục để
giúp cải thiện tình trạng này. Hơn thế nữa, dù cho có phải hy sinh nếp sống văn
hoá mà chúng tôi yêu thích, dù cho có sự tồn tại của luật phân biệt Jim Crow -
thứ không ngừng gợi nhắc chúng tôi về màu da của mình - chúng tôi có một cảm
giác rằng có điều gì đó rất đặc biệt đang tiềm ẩn và sẽ xảy ra ở miền Nam. Và
chúng tôi muốn được tận mắt chứng kiến nó. Vùng đất này có sẵn những khả năng
phi thường, một khi nó thức tỉnh và gạt bỏ được những tác động xấu từ nạn phân
biệt chủng tộc, nó sẽ tạo ra một cú đột phá về giá trị đạo đức, chính trị và
kinh tế hiếm khi có ở những khu vực khác của đất nước.
Với suy nghĩ này tôi tạm thời muốn nhận việc làm mục sư hơn
là đi dạy. Và tôi quyết định nhận lời mời đến Dexter trong vài năm. Sau đó nếu
còn đam mê việc dạy học, tôi sẽ trở lại đi dạy. Tôi đã gửi một bức điện tín đến
Montgomery nói rằng tôi sẽ xuống đó trong tuần tới để bàn bạc chi tiết.
Vậy là tôi trở về Montgomery. Sau khi đánh giá những sắp đặt
của nhà thờ, tôi nhận lời làm mục sư. Vì có dự tính dành ít nhất bốn tháng làm
việc cật lực cho luận án tiến sĩ của mình, tôi đã đưa ra điều kiện là tôi sẽ
không làm việc toàn thời gian cho đến ngày 1 tháng Chín năm 1954, và được nhà
thờ chấp thuận. Tuy nhiên, tôi đồng ý xuống Montgomery ít nhất mỗi tháng một lần
để đảm bảo mọi việc diễn ra suôn sẻ trong thời kỳ chuyển giao này. Vào một ngày
Chúa nhật tháng Năm năm 1954, tôi đã có bài giảng đầu tiên trong vai trò mục sư
của Nhà thờ Baptist Dexter Avenue và trong vòng bốn tháng sau đó, tôi thường
xuyên bay đi bay về giữa Boston và Montgomery.
Trong chuyến đi vào tháng Bảy, tôi đi cùng với Coretta.
Montgomery chẳng xa lạ gì với cô ấy, vì chỉ cách nhà cô ấy có tám mươi dặm tại
thị trấn nhỏ Marion, bang Alabama. Ở đó cha cố, ông Obie Scott, mặc dù sinh ra
tại một nông trại nhưng đã gặt hái thành công trong sự nghiệp kinh doanh, mở ra
một doanh nghiệp nhỏ chở gỗ, một trạm xăng, một cửa hàng bách hoá, và một nông
trại gà. Mặc cho những mối đe dọa trả thù và vũ lực từ các đối thủ da trắng,
ông vẫn tạo được một thu nhập kha khá cho gia đình với một quyết tâm và một niềm
tin bất biến vào tương lai. Coretta đã sống ở Marion cho đến khi đi học Đại học
Antioch ở Yellow Springs, Ohio. Thừa hưởng tài năng âm nhạc từ mẹ, bà Bernice
Scott, cùng với sự quyết tâm âm thầm, cô ấy đã giành được suất học bổng của Nhạc
viện New England tại Boston. Tại đây tôi có dịp làm quen và đã trót yêu cô ca
sĩ đầy nét quyến rũ, với tính cách thuỳ mị và phong thái đĩnh đạc không gì che
lấp được tâm hồn đầy sức sống của cô ấy. Mặc dù chúng tôi đã trở về Marion vào
ngày 18 tháng Sáu năm 1953 để cử hành hôn lễ trên bãi cỏ rộng của nhà Scott, do
bố tôi làm chủ hôn, nhưng Boston mới là nơi chúng tôi bắt đầu cuộc sống hôn
nhân.
Trong chuyến đi hồi tháng 7, Coretta đã có cái nhìn khác về
Montgomery. Từ khi còn là một thiếu nữ, cô ấy đã được sống trong bầu không khí
của các trường đại học bình đẳng sắc tộc, và ở trong nhà người da trắng như một
vị khách được chào đón. Giờ đây, trong quá trình chuẩn bị cho sự trở về dài hạn
tại miền Nam, cô ấy đã ghé thăm khu vực người da màu của thị trấn nơi chúng tôi
sắp ở mà không có lựa chọn nào khác. Cô ấy đã thấy những người da màu bị dồn về
phần đuôi xe buýt trong sự kỳ thị chủng tộc và biết rằng mình cũng sẽ lên những
chuyến xe đó. Cũng trong lần ghé thăm đó, cô ấy được giới thiệu với nhà thờ và
được cộng đoàn ở đó tiếp đón nồng hậu. Tinh thần lạc quan và tính tình hiền hoà
của cô ấy là những phẩm chất để trở thành hậu phương vững chắc cho tôi trong những
ngày sắp tới cô ấy đặt niềm tin vào những cơ hội và thử thách trong việc phụng
sự Kito giáo ở Dexter và cộng đồng Montgomery.
Vào ngày 1 tháng Chín năm 1954, chúng tôi chuyển đến ngôi nhà
dành cho mục sư và bắt đầu công việc làm mục sư toàn thời gian. Mấy tháng đầu
tôi bận rộn với những việc bình thường lặt vặt để tìm hiểu nhà mới, công việc mới
và thành phố mới. Có những người bạn cũ được dịp hội ngộ và những người bạn mới
để làm quen, và một chút thời gian nghĩ đến không chỉ đời tư mà còn quan sát cuộc
sống của cộng đồng xung quanh nói chung. Mặc dù rằng chúng tôi quay về miền Nam
với hy vọng góp sức vào công cuộc đổi mới ở phía trước, nhưng vẫn chưa hình
dung được những thay đổi đó sẽ đến như thế nào. Và không hề hay biết rằng chỉ
trong hơn một năm sau chúng tôi sẽ tham gia vào một phong trào làm thay đổi
Montgomery mãi mãi và tạo được tiếng vang ra toàn thế giới.
Chương II
Montgomery trước ngày phản kháng
Với tôi, CÔNG TÁC GIÁO HỘI vốn rất thú vị ngay từ lúc đầu. Vì
thế vài tuần đầu tiên của mùa thu năm 1954, tôi dành trọn cho việc lập một
chương trình có ý nghĩa đối với cộng đoàn đặc biệt này. Tôi thấy lo lắng khi muốn
thay đổi ấn tượng trong suy nghĩ lâu nay của cộng đồng rằng Dexter là một kiểu
nhà thờ quý tộc chỉ phục vụ một tầng lớp nhất định, nó thường được gọi là “Nhà
thờ của các ông lớn”. Ý tưởng muốn thay đổi này xuất phát từ niềm tin rằng,
cách thờ phượng linh thiêng nhất là khi tất cả mọi người trong xã hội, không
phân biệt tầng lớp, cùng tìm về chân lý duy nhất, cùng hòa hợp và đoàn kết dưới
chân Đức Chúa Trời. Còn bất cứ nhà thờ nào, dù là vô tình hay có chủ ý chỉ phục
vụ cho một tầng lớp nhất định thì nơi đây sẽ đánh mất tinh thần “bất kể là ai nếu
muốn, hãy để họ đến” của giáo lý, và có nguy cơ biến thành một câu lạc bộ giao
lưu không hơn không kém mà được phủ lớp mành tôn giáo.
Tôi cũng quan tâm đến việc mở rộng chương trình phụ trợ của
nhà thờ. Những hoạt động này, trước khi tôi đến, chủ yếu là gồm Lớp học Chúa Nhật,
nơi người lớn và trẻ em tập trung lại để nghiên cứu các giáo lý của Cơ Đốc giáo
và Kinh Thánh. Công đoàn Huấn luyện của phái Baptist (The Baptist Training
Union) được thiết lập để đẩy mạnh sự lãnh đạo của Cơ Đốc giáo và Hội Truyền
giáo, mang thông điệp của nhà thờ đến cộng đồng. Một số các chức năng mới mà
tôi giới thiệu là ủy ban Phục Hồi Giáo Dục Tôn Giáo; ủy ban Dịch Vụ Xã Hội để
thông tin và cung cấp dịch vụ cho người bệnh và người nghèo; ủy ban Hành Động
Xã Hội và Chính Trị; ủy ban Nâng Cao và Quản Lý Quỹ học bổng cho sinh viên tốt
nghiệp trung học và ủy ban Văn Hóa để khuyến khích các nghệ sĩ có triển vọng.
Vì nhiều điểm trong chương trình mới cần thay đổi cách làm truyền thống khiến
tôi hơi nghi ngại liệu nó có được chấp nhận. Do đó, tôi đã trình bày các khuyến
nghị của mình với nhà thờ trong tâm trạng lo lắng. Song, điều đáng ngạc nhiên
là họ đã đón nhận thật nồng nhiệt và chân thành. Từ thời điểm ấy trở đi, các
thành viên hợp tác và phản hồi rất tích cực. Hầu như ngay lập tức số thành viên
bắt đầu tăng lên. Báo cáo tài chính trong sáu tháng đầu tiên cho biết rằng thu
nhập của nhà thờ đã tăng gần gấp ba lần so với những năm trước. Các ủy ban mới
thành lập đã hoạt động tốt, và chương trình Giáo dục Tôn giáo được đặc biệt ưu
tiên nhờ có sự đào sâu nghiên cứu.
Trong nhiều tháng, tôi phải phân chia thời gian và công sức của
mình để đồng thời hoàn thành luận án và thực hiện nhiệm vụ với nhà thờ. Tôi dậy
lúc 5 giờ 30 mỗi sáng và dành ba tiếng đồng hồ để viết luận án, ban đêm quay lại
dành thêm ba tiếng nữa. Phần còn lại của ngày dành cho công việc nhà thờ bao gồm
lễ cưới, tang lễ và các cuộc họp cá nhân riêng lẻ bên cạnh những việc phụng sự
hàng tuần. Nhà thờ còn đi thăm và cầu nguyện mỗi tuần một ngày cho các thành
viên bị ốm hay nằm nhà không đi lễ được.
Phần lớn thời gian trong những ngày đầu là dùng để làm quen với
tất cả các thành viên của cộng đoàn. Điều này đòi hỏi phải đến nhà thăm họ và
tham gia những cuộc họp tư vấn khác nhau trong nhà thờ. Hầu như mỗi tuần tôi đều
tham gia từ năm đến mười cuộc họp nhóm như vậy nên các giờ đầu của buổi tối tôi
đều bận rộn với công việc này. Tôi cũng dành tối thiểu mười lăm giờ một tuần để
chuẩn bị bài giảng cho ngày Chúa nhật. Tôi thường bắt đầu phác thảo từ ngày thứ
Ba, sang thứ Tư tôi nghiên cứu tài liệu, suy nghĩ tìm cách dẫn chứng các tình
huống trong cuộc sống để bài giảng có nội dung thực tế. Vào thứ Sáu, tôi bắt đầu
viết và thường hoàn thành vào tối thứ Bảy.
Tôi còn bỏ thêm thời gian để nghĩ tới những nhu cầu và lợi
ích hiện thời của cả cộng đồng rộng lớn ở Montgomery. Nền kinh tế của thành phố
được hưởng lợi bởi sự hiện diện của căn cứ Không quân Maxwell và Gunter. Theo
báo cáo hàng năm của Phòng Thương mại Montgomery, hai căn cứ này đổ tổng cộng
58 triệu đô la vào nền kinh tế Montgomery trong năm 1955. Cứ mười bốn thường
dân làm việc tại Montgomery thì có một người làm việc tại các căn cứ này, và cứ
khoảng bảy gia đình thì có một gia đình không quân, dù là dân sự hay quân sự. Bốn
ngàn gia đình sống bên ngoài căn cứ có nhà trong Thành phố. Nhưng mỉa mai thay,
các căn cứ đã đóng góp rất nhiều vào đời sống kinh tế của cộng đồng được sống
hòa hợp bình đẳng với nhau hoàn toàn, còn Thành phố xung quanh họ thì vẫn phải
tuân theo luật lệ phân biệt chủng tộc rất nặng nề. Cho nên, người ta luôn ao ước
rằng sức mạnh kinh tế to lớn của các cơ quan liên bang sẽ làm thay đổi tốt hơn
các quan hệ chủng tộc ở Montgomery.
Montgomery hiện đại là một thị trường nổi bật về bông, chăn
nuôi, thông vàng, gỗ cứng và là một trong những trung tâm sản xuất phân bón
thương mại quan trọng của quốc gia. Thị trường tiêu thụ gia súc lớn nhất của
Montgomery là ở phía đông của Fort Worth, Texas và phía nam của sông Ohio, hàng
năm tiêu thụ khoảng 30 triệu đô la giá trị sản phẩm gia súc. Ngược lại ở đây
thiếu ngành công nghiệp nặng là một trong những lý do tại sao rất nhiều người
da đen làm các công việc dịch vụ tại địa phương: có 63% lao động nữ da đen ở
Montgomery làm người giúp việc và 48% đàn ông da đen làm lao động chân tay hay
đi làm thuê làm mướn. Đây có lẽ là một trong những nguyên nhân chính yếu tạo
nên khoảng cách kinh khủng về mức sống giữa người da trắng và da đen. Năm 1930,
thu nhập bình quân của khoảng 70.000 người da trắng ở Montgomery là 1.730 đô
la, so với 970 đô la của 50.000 người da đen. Có 94% gia đình người da trắng ở
Montgomery có nhà vệ sinh giật nước riêng trong nhà, trong khi chỉ có 31% gia
đình người da đen được hưởng những tiện nghi như vậy. Thế đấy, chính sự phân biệt
chủng tộc tự nó đã là vấn đề, mà nó còn tạo ra nhiều vấn đề lên cuộc sống của
người da đen ở mọi khía cạnh. Rõ ràng những người da đen ở Montgomery cũng là nạn
nhân của sự thiếu thốn và nghèo đói nghiêm trọng.
Hai cộng đồng người Da Trắng - Da Đen giống như hai con kênh
chảy riêng biệt. Các trường học tất nhiên đã được tách biệt, và quyết định của
Tòa án Tối cao Hoa Kỳ về giáo dục hội nhập được ban hành từ tháng 5 năm 1954 -
dường như không ảnh hưởng đến quyết tâm của Montgomery về việc duy trì sự phân
biệt. Nếu một người da trắng và một người da đen muốn đi cùng một taxi thì đó
là chuyện không thể, bởi vì theo luật các tài xế người da trắng chỉ phục vụ
hành khách da trắng, người da đen không thuộc trong hệ thống phục vụ đó và phải
chấp nhận những giới hạn đã được quy định. Quả đúng là người da trắng và da đen
bị phân ra thành hai thái cực, một bên làm chủ một bên làm thuê. Họ ngồi ở hai
đầu của cùng một chiếc xe buýt được phân ranh giới bằng một lằn vạch ngang rõ rệt.
Họ sử dụng cùng một trung tâm mua sắm, nhưng người da đen đôi khi bị ép phải đợi
cho đến khi mọi người da trắng được phục vụ xong, và người da đen hiếm khi được
gọi bằng tên hay chức danh lịch sự với sự tôn trọng. Trong thành phố, khu dân
cư da trắng và da đen liền kể nhau, hoặc đan xen nhau nhưng họ quay lưng không
muốn nhìn mặt láng giềng, chỉ sống với cộng đồng theo màu da của mình với đời sống
xã hội và văn hóa riêng.
Không có một tổ chức chuyên nghiệp chung nào tập hợp các bác
sĩ, luật sư, giáo viên v.v... đủ màu da và ngay cả khi các chuyên gia như thế
đã tham gia trong các tổ chức quốc gia thì họ vẫn bị phân biệt khi về các chi
nhánh tại địa phương của mình. Không có liên minh tôn giáo giữa các chủng tộc ở
Montgomery. Không có Liên Đoàn Đô Thị địa phương nào để kết nối người da đen với
da trắng cùng quản trị, các thành viên tích cực của Hiệp hội Quốc Gia VI Sự Tiến
Bộ Của Người Da Màu (NAACP) tại Chi nhánh Montgomery hoàn toàn là người da đen.
Ngôi trường đại học lớn nhất ở Montgomery, Alabama State College, là trường của
những người da màu, chủ yếu dành cho việc đào tạo giáo viên, với một đội ngũ giảng
viên gần 200 và sinh viên xấp xỉ 2.000. Mặc dù ngôi trường rất đẹp, các giảng
viên bao gồm các nhân vật nổi tiếng như Horace Mann Bond, Charles H. Thompson,
và trường đã tạo được một ảnh hưởng văn hóa sinh động trên cả Thành phố lẫn
toàn Bang nhưng nó vẫn không lôi cuốn được nhiều người da trắng địa phương đến
thăm. Trong thực tế, chi nhánh địa phương của Hội đồng Alabama Về Quan Hệ Nhân
Sinh ở Montgomery đã đơn độc cố gắng tạo mối quan hệ giữa hai chủng tộc để họ gặp
gỡ nhau cùng giải quyết những vấn đề chung.
Luật pháp Alabama và chính quyền nơi đây đã dùng những thủ
thuật khiến cho tỷ lệ người da đen đi bầu ở mức tối thiểu. Đến năm 1940, cả tiểu
bang Alabamachỉ có khoảng 2.000 cử tri người da đen thì ngày nay con số này là
gần 50.000. Mặc dù đây là một sự tiến bộ nhưng con số này vẫn còn ít hơn 10% cư
dân da đen đến tuổi bỏ phiếu trong bang. Vào năm 1954, đã có khoảng 30.000 người
da đen đến tuổi bỏ phiếu ở quận Montgomery nhưng chỉ có hơn 2.000 người được
đăng ký. Con số quá thấp này là một phần kết quả của sự thiếu quan tâm hay thiếu
kiên trì của người da đen trong việc vượt qua tất cả các hàng rào ngăn cản họ,
nhưng các rào cản này quả thật rất khủng khiếp và khó vượt qua. Luật pháp
Alabama cho các cơ quan đăng ký bầu cử quá nhiều quyền lực. Tại văn phòng đăng
ký có các lối xếp hàng riêng và bàn riêng cho cử tri phân theo chủng tộc. Cán bộ
giữ sổ đăng ký (hộ tịch viên) phục vụ người da đen làm việc một cách chậm chạp
có chủ ý, do đó, trong số năm mươi người da đen đến đó, cuối ngày chỉ có mười
lăm người được đăng ký. Mọi cử tri được yêu cầu điền vào một bảng câu hỏi dài
như là một bài kiểm tra về điều kiện tham gia, và họ thường phải làm rất nhiều
lần trước khi được duyệt và hoàn tất. Vì vậy, dựa trên các sự thật này, chẳng
có gì ngạc nhiên khi thấy rằng không có người da đen nào ở Montgomery làm việc
cho chính quyền dù ở cấp thành phố hay cấp quận.
Vì quan tâm về những vấn đề như vậy, một trong những ủy ban đầu
tiên được tôi thiết lập trong nhà thờ của mình là để đảm bảo cho cộng đoàn nắm
bắt được các thông tin về tình hình xã hội, chính trị, kinh tế một cách đầy đủ
và nhanh chóng nhất. Nhiệm vụ của ủy ban Hành Động Xã Hội Và Chính Trị là nhắc
nhở về tầm quan trọng của NAACP và sự cần thiết đăng ký đi bầu cử, tài trợ các
diễn đàn và cuộc họp đại chúng để thảo luận về những vấn đề quan trọng trong
các cuộc bầu cử tiểu bang và quốc gia. Tôi đã tìm những người quan tâm đến các
vấn đề xã hội và có kinh nghiệm trước đây trong lĩnh vực chính trị và bầu cử để
mời họ làm thành viên của ủy ban. May mắn thay đây không phải là một việc khó
khăn, vì Dexter có một số giáo đồ quan tâm sâu sắc đến các vấn đề cộng đồng và
sẵn sàng nhận lời. Điều thú vị là hai thành viên của ủy ban này - bà Jo Ann
Robinson và Rufus Lewis, là những người đầu tiên nổi bật trong cuộc tẩy chay xe
buýt - đã nhanh chóng huy động được sức mạnh tiềm tàng của cộng đồng người da
đen ở Montgomery.
Năm tháng trôi qua, tôi đã thấy được kết quả ấn tượng từ các
hoạt động của ủy ban này. Vào đầu tháng 11, nó đã xuất bản một bản tin hai tuần
một lần, SAPAC, phát cho mọi thành viên của cộng đoàn và giá trị nhất là nó đặt
trách nhiệm của các thành viên nhà thờ trước các vấn đề lớn về chính trị và xã
hội. Dưới sự bảo trợ của ủy ban, một phòng Tư vấn bỏ phiếu đã hướng dẫn hầu hết
mọi thành viên của cộng đoàn, mà chưa từng đăng ký bầu cử, tránh khỏi những cạm
bẫy các thủ tục đăng ký do phân biệt đối xử. Vào tháng 11 năm 1955, trong báo
cáo thường niên của tôi về tư cách thành viên, tôi có thể nói rằng công việc của
ủy ban này thật tuyệt vời, và mọi thành viên của Dexter đều cảm nhận được sức ảnh
hưởng của nó. Qua công việc của ủy ban, nhiều người đã đi đăng ký khi có bầu cử
và Dexter đã đi đầu hướng dẫn những nhà thờ khác ở Montgomery đóng góp cho những
hoạt động của NAACP”.
Sau khi đưa chương trình hoạt động của nhà thờ đi vào quỹ đạo,
tôi đã gia nhập Chi nhánh địa phương của NAACP và bắt đầu quan tâm tích cực đến
việc thực hiện chương trình của mình trong cộng đồng. Bên cạnh việc quyên góp
tiền thông qua nhà thờ của mình, tôi đã có một số bài phát biểu cho NAACP tại
Montgomery và các nơi khác. Chưa đầy một năm sau khi tôi gia nhập Chi nhánh,
tôi được bầu chọn vào Ban chấp hành. Vì tham dự hầu hết mọi cuộc họp hàng
tháng, tôi đã gặp phải một số vấn đề về chủng tộc mà đã tạo ra phiền phức cho cộng
đồng, đặc biệt là những chuyện có dính tới tòa án.
Trước khi tôi đến Montgomery, và trong vài năm sau đó, hầu hết
các nguồn lực và quỹ của NAACP Chi nhánh địa phương đều dùng vào việc bào chữa
cho Jeremiah Reeves, một tay trống trong một ban nhạc người da đen, đã bị bắt ở
tuổi mười sáu vì bị buộc tội cưỡng hiếp một phụ nữ da trắng. Một nhà chức trách
đã đưa anh ta đến phòng tử hình, đe dọa rằng nếu anh ta không thú nhận sớm, anh
sẽ bị thiêu sống. Anh ta buộc phải nhận tội, nhưng sau đó đã rút lại lời thú tội.
Trong khoảng bảy năm của vụ án và cho đến tận cuối đời, anh tiếp tục phủ nhận
không chỉ trách nhiệm với tội hiếp dâm mà với cả cáo buộc có quan hệ tình dục với
người phụ nữ da trắng đã tố cáo anh.
NAACP đã thuê luật sư và quyên góp tiền để bào chữa cho
Reeves. Tại tòa án địa phương, anh bị kết tội và kết án tử hình. Bản án vẫn được
giữ nguyên dù có một loạt kháng cáo qua các tòa ở Alabama. Vụ án đã được kháng
cáo lên Tòa án Tối Cao Hoa Kỳ hai lần. Lần đầu tiên, Tòa án không tiếp nhận và
chuyển trở lại Tòa án Tối Cao của Bang để xử lại. Lần thứ hai, Tòa án Tối Cao
Hoa Kỳ đồng ý xem xét vụ án nhưng sau đó bác đơn kháng cáo để mặc tòa án
Alabama toàn quyền xử tử. Sau khi kháng cáo cuối cùng xin giảm án xuống chung
thân bị Thống đốc từ chối, cảnh sát đã thực thi nhiệm vụ của họ. Ngày 28 tháng
3 năm 1958, Reeves bị đưa lên ghế điện.
Vụ án Reeves điển hình cho sự bất công của các tòa án miền
Nam. Trong những năm anh ngồi tù, một số người da trắng ở Alabama cũng bị buộc
tội hãm hiếp, nhưng những người tố cáo họ là những cô gái da đen. Họ hiếm khi bị
bắt. Nếu có bị bắt, họ nhanh chóng được bổi thẩm đoàn thả, không ai bị đưa ra
xét xử. Vì thực tế này, những người da đen miền Nam đã biết sợ và không tin tưởng
vào công lý của người da trắng.
Khoảng thời gian mà tôi bắt đầu làm việc với NAACP, Hội đồng
Quan Hệ Nhân Sinh Alabama cũng làm tôi chú ý. Nhóm đa sắc tộc này quan tâm đến
mối quan hệ giữa con người ở bang Alabama và áp dụng phương pháp giáo dục để
xây dựng mối quan hệ đó. Hội đồng Quan Hệ Nhân Sinh là chi nhánh của Hội đồng
Khu Vực Miền Nam và là tổ chức thừa kế của ủy ban Liên Minh Chủng Tộc Alabama,
đã đưa ra chương trình nghiên cứu và hành động tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả
mọi người ở Alabama. Triết lý cơ bản được công nhận của họ như sau: “Tất cả mọi
người sinh ra đều bình đẳng dưới chân Thượng Đế. Trong cuộc sống, giải thích
trên phương diện quốc gia, điều này có nghĩa là mỗi cá nhân được quyền có cơ hội
bình đẳng chia sẻ và đóng góp cho tổ quốc. Không có cá nhân hay nhóm cá nhân
nào có quyền ngăn cản hay thu hẹp quyền này theo bất kỳ cách nào”.
Tôi gia nhập tổ chức này, và tham dự hầu hết các cuộc họp
hàng tháng của Chi nhánh Montgomery được tổ chức trong phòng họp của nhà thờ
chúng tôi. Sau khi làm việc với Hội đồng được vài tháng, tôi được bầu vào chức
vụ Phó chủ tịch, và phục vụ ở vị trí này cho đến khi đảm nhiệm các trách nhiệm
khác. Chủ tịch Hội đồng là Ray Wadley, một mục sư trẻ da trắng của nhà thờ St.
Mark S. Methodist, một người miền Nam bản địa. Sau này ông chuyển sang làm việc
ở một cộng đồng nhỏ hơn và hẻo lánh sau khi nhà thờ của ông phản đối các hoạt động
về quan hệ chủng tộc của ông. Hai thành viên da trắng nổi bật khác của Hội đồng
là mục sư Thomas P. Thrasher và Robert Graetz, cả hai đều nổi bật trong cuộc
tranh đấu xe buýt sau này.
Mặc dù Hội đồng Montgomery chưa bao giờ có đông thành viên,
nó vẫn đóng một vai trò quan trọng. Là nhóm liên minh chủng tộc duy nhất ở
Montgomery, nó giữ kênh đối thoại cần thiết giữa hai sắc tộc. Người ta ghét
nhau vì họ sợ nhau; họ sợ nhau vì họ không biết nhau; họ không biết nhau vì họ
không giao tiếp; họ không giao tiếp bởi vì họ bị tách ra. Để tạo cơ hội và
không gian giao tiếp, Hội đồng đang thực hiện đầy đủ các điều kiện cần thiết
cho mối quan hệ chủng tộc trở nên tốt hơn ở miền Nam.
Tôi rất ngạc nhiên khi biết nhiều người đã cảm thấy có sự mâu
thuẫn khi tôi làm việc cho cả NAACP và Hội đồng Liên Minh Chủng tộc. Nhiều người
da đen cảm thấy rằng sự hòa hợp chủng tộc chỉ có thể đạt được qua vận động luật
pháp và bộ máy tư pháp - đây là đường lối chính của NAACP. Trong khi đó, nhiều
người da trắng lại cảm thấy rằng hòa hợp chủng tộc chỉ có thể đạt được thông
qua giáo dục - và đây là chủ trương của Hội đồng Quan Hệ Nhân Sinh. Làm thế nào
một người có thể gắn bó với cả hai tổ chức có hai phương pháp quá khác nhau đến
như vậy?
Câu hỏi này gợi lại một giả thiết cho rằng chỉ có một giải
pháp cho vấn đề chủng tộc. Song tôi lại cảm thấy cả hai cách đều cần thiết.
Thông qua giáo dục, chúng ta tìm cách thay đổi thái độ, thông qua luật pháp và
tòa án, chúng ta tìm cách điều chỉnh hành vi. Giáo dục làm thay đổi tâm hồn thể
hiện qua cảm xúc (đầy thành kiến, hận thù, v.v.); Luật pháp và tòa án kiểm soát
hành vi phát sinh từ cảm xúc. Giáo dục có thể giúp phá vỡ các rào cản tinh thần
đem lại sự hòa hợp; Luật pháp và tòa án thì giúp phá vỡ các rào cản thép gai vật
chất để hai sắc tộc cùng chung sống hòa bình. Vốn dĩ phương pháp này không thể
thay thế phương pháp kia mà chúng bổ sung cho nhau. Điều đó rất quan trọng và cần
thiết. Bất cứ ai tin rằng con đường đi đến sự công bằng chủng tộc là một con đường
dễ dàng thì chắc chắn sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trở ngại và làm cho cuộc
hành trình trở nên dài vô tận. Công việc của tôi với NAACP và Hội đồng Nhân
Sinh Alabama xuất phát từ niềm tin rằng cả hai tổ chức đều đáp ứng được nhu cầu
thực sự của cộng đồng và mỗi tổ chức đều đang hoạt động theo tiêu chí đề cao
trí tuệ và lòng tự trọng.
Thời gian trôi qua, tôi nhận ra rằng, trong cộng đồng người
da đen vẫn còn một số điều cần phải được cải thiện trước khi có thể xây dựng một
xã hội tiến bộ thực sự. Điều đầu tiên là sự thiếu đoàn kết nghiêm trọng giữa
các nhà lãnh đạo. Trong phong trào, có nhiều nhóm dân sự được thành lập và rồi
giữa các nhóm này lại có sự tranh chấp, xung đột với nhau. Có tổ chức tên là Đảng
Dân Chủ Tiến Bộ, đứng đầu là E. D. Nixon. Có ủy ban Công Dân, đứng đầu là Rufus
Lewis. Có Hội đồng Chính Trị của phụ nữ, do Bà Mary Fair Burks và Jo Ann
Robinson đứng đầu. Có NAACP, đứng đầu là R. L. Matthews và nhiều nhóm nhỏ hơn rải
rác trong cộng đồng da đen. Trong khi những người đứng đầu của mỗi tổ chức này
đều có khả năng và năng nổ với mục tiêu chung, nhưng niềm tin và lòng trung
thành của họ thì mỗi người một khác, nên rất khó để họ đoàn kết chặt chẽ hơn.
Nhiều người cảm nhận được tư tưởng bè cánh phe phái làm tê liệt
phong trào. Đầu năm 1955, một số nhà lãnh đạo có ảnh hưởng đã cố gắng giải quyết
vấn đề này bằng cách lập ra ủy ban Điều Phối Công Dân. Tôi nhớ khi tham dự cuộc
họp đầu tiên của nhóm này, tôi tưởng cộng đồng người da đen sẽ tìm được giải
pháp cho vấn đề đã tồn tại quá lâu làm trở ngại sự tiến bộ xã hội. Tuy nhiên,
chẳng bao lâu, hy vọng của tôi đã tan vỡ. Do các nhà lãnh đạo thiếu sự kiên trì
và các công dân thiếu sự quan tâm tích cực, ủy ban Điều Phối Công dân cuối cùng
đã giải thể. Với sự tan rã của tổ chức đầy hứa hẹn này, có vẻ như sự chia rẽ bi
thảm trong cộng đồng người da đen chỉ có thể được cứu vãn bằng một phép lạ thần
thánh nào đó.
Cộng đồng không chỉ phải đối mặt với sự cạnh tranh về quyền lực
lãnh đạo, nó còn bị tê liệt bởi sự thờ ơ của giới trí thức - thể hiện qua sự
thiếu tham gia vào bất kỳ hành động nào để thay đổi tình trạng hiện tại - như
là một sự ngầm chấp nhận mọi thứ chung quanh. Tuy vậy dĩ nhiên có những trí thức
tiên phong trong cuộc đấu tranh vì công lý cho mọi chủng tộc, nhưng họ chỉ là
ngoại lệ. Đại đa số đều thờ ơ và tự mãn.
Vấn đề thiếu quan tâm của giới trí thức là do sợ hãi. Nhiều
người trong số đó có địa vị. Nếu thẳng thắn đứng về phía công lý, họ có nguy cơ
bị mất việc. Vì vậy, thay vì đánh cược nồi cơm, nhiều người đã chọn tránh xa những
hoạt động nhằm mang lại sự thay đổi. Tuy nhiên, chuyện không phải chỉ có thế! Sự
im lặng từ nguyên nhân vô cảm còn rất nhiều. Ngay cả trong lĩnh vực - chẳng hạn
như bỏ phiếu - nơi họ sẽ không thực sự bị buộc tội gây mất trật tự nơi công cộng,
nhóm trí thức vẫn thờ ơ và không dễ chuyển hóa được trong một sớm một chiều.
Và sự thờ ơ rõ rệt của các mục sư người da đen cũng nói lên một
vấn đề. Chỉ vài người trong số họ thường biểu lộ sự quan tâm sâu sắc đến các vấn
đề xã hội, số đông còn lại không buồn nghĩ đến thì bỏ mặc trách nhiệm xã hội. Sự
vô cảm của số đông mục sư này thật ra bắt nguồn từ một suy nghĩ có thật rằng,
là mục sư thì không được phép tham dự vào chuyện đời thường tạm bợ của thế gian
như là cải tiến xã hội và kinh tế. Công việc của họ là “rao giảng Phúc Âm” và
khuyên con người luôn hướng tới “Thiên Đàng”. Tuy nhiên, dù là thành thật cách
mấy, quan điểm này về tôn giáo, tôi cảm thấy quá hẹp hòi.
Hiển nhiên, mỗi tôn giáo đều có mối quan tâm sâu sắc và quan
trọng tới đời sống ở một thế giới khác. Bất kỳ tôn giáo nào chỉ quan tâm đến cuộc
sống ở thế giới này thì coi như đã “bán chỗ nằm, mua chỗ ngồi”. Một tôn giáo tốt
đẹp nhất không chỉ giúp con người giải quyết nhu cầu căn bản vật chất mà còn cả
nhu cầu tối hậu là tâm linh liên quan đến niềm tin đối với Đấng Tạo Hóa và Chân
Lý. Vậy nên khi tôn giáo tách rời khỏi sự thật cơ bản này thi vai trò của nó chỉ
còn mang ý nghĩa đạo đức mà sự vĩnh hằng - là ý niệm thời gian và Tạo Hóa - chỉ
còn là sản phẩm vô nghĩa của trí tưởng tương của con người mà thôi.
Một tôn giáo đúng với bản chất của nó là phải quan tâm đến
tình trạng xã hội của con người. Tôn giáo lo cả chuyện dưới đất và trên Thiên
Đàng, trả lời cả câu hỏi về thời gian hữu hạn và vô hạn. Tôn giáo được tìm thấy
khắp nơi trong không gian hai chiều, nó không chỉ kết nối con người với Thượng
Đế mà còn kết nối giữa người với người và cả mỗi người với chính bản thân họ.
Điều này có nghĩa sâu xa là Phúc Âm Kitô giáo là con đường hai chiều. Một mặt
nó tìm cách làm thay đổi tâm hồn của con người, rồi đưa họ tới với Thượng Đế. Mặt
khác, nó tìm cách làm thay đổi điều kiện môi trường sống của con người để họ có
cơ hội tốt hơn sau khi bản thân đã có sự thay đổi. Nếu có tôn giáo nào tự xưng
chỉ chăm lo cho linh hồn con người mà không quan tâm đến những khu ổ chuột họ ở,
đến điều kiện kinh tế và xã hội đang bóp nghẹt và làm tê liệt họ là một tôn
giáo khô khan và tẻ nhạt. Tôn giáo như vậy là thứ thuốc phiện ru ngủ con người
mà người theo chủ nghĩa Mác- xít (Marxist) rất ưa.
Một thực tế đáng chú ý khác về cộng đồng người da đen ở
Montgomery là sự thụ động rõ rệt của phần lớn người ít học. Dù luôn có một số
người nổi dậy chống lại sự phân biệt, số đông vẫn chấp nhận nó mà không có sự
phản đối rõ ràng. Họ không chỉ cam chịu sự phân biệt, họ chấp nhận cả sự chà đạp
và sỉ nhục đi cùng với nó. Người tiền nhiệm của tôi tại Nhà thờ Baptist Dexter
Avenue - mục sư Vernon Johns - có kể một sự kiện nói lên thái độ của người dân
vào thời gian này. Một ngày nọ, ông lên xe buýt và ngồi trên chiếc ghế phía trước
dành riêng cho người da trắng. Người tài xế xe buýt yêu cầu ông dời ra đằng
sau,
Ông Johns từ chối. Tài xế ra lệnh cho ông xuống xe, một lần nữa
ông từ chối cho đến khi người tài xế đồng ý trả lại tiền vé cho ông. Trước khi
xuống xe, ông Johns đứng ở lối đi và hỏi những người da đen rằng có bao nhiêu
người sẽ cùng theo ông rời khỏi xe buýt để phản đối. Không ai trả lời cả, dù chỉ
một người. Vài ngày sau, khi ông trách một người phụ nữ ngồi trên xe buýt hôm
đó vì không tham gia phản đối, cô ấy đã nhắc lại lời những người bạn hành khách
khác như sau: “Ông phải nên hiểu rõ vấn đề hơn chứ”.
Một phần tính thụ động của người ít học, cũng giống như người
có học, có thể là do sợ bị trả thù bằng kinh tế. Họ phụ thuộc vào cộng đồng da
trắng nên không dám phản đối các bất công vì sợ mất công ăn việc làm. Nhưng có
lẽ còn có nguyên nhân sâu xa hơn, đó là luôn luôn mặc cảm về sự thấp hèn của
mình, cảm giác tự thấy mình thấp hèn đang gặm nhấm họ từng ngày khiến họ đánh mất
lòng tự trọng. Nhiều người vô tình tự hỏi liệu họ có thực sự xứng đáng được hưởng
cuộc sống tốt hơn không. Lý trí và tâm hồn của họ buộc phải quen với hệ thống
phân biệt và họ đã tự điều chỉnh để thích nghi với cuộc sống đó. Đây là bi kịch
cuối cùng của sự phân biệt. Nó không chỉ gây hại cho thể xác con người mà còn
làm tổn thương tinh thần. Nó để lại vết sẹo trong tâm hồn, hạ thấp nhân cách.
Nó gieo cho nạn nhân bị phân biệt một nhận thức sai lầm là mình thấp hèn, và
làm cho những kẻ kỳ thị hiểu lầm là mình ưu việt. Hệ thống phân biệt đó dường
như luôn luôn án ngữ trước mặt nạn nhân bị phân biệt với câu nói rằng: “mày thấp
hèn hơn...”, “mày không bằng...” Hệ thống phân biệt là nguyên nhân gây nên phần
lớn sự thụ động của những người da đen ở Montgomery.
Vì vậy, tôi thấy cộng đồng người da đen là nạn nhân của ba
căn bệnh: chủ nghĩa phe phái giữa các nhà lãnh đạo, sự vô cảm của những người
có học và sự thụ động của những người ít học. Tất cả những nguyên do này gần
như đã thuyết phục tôi rằng không có cải cách xã hội lâu dài nào có thể đạt được
ở Montgomery.
Tuy nhiên, dưới vẻ bề ngoài có vẻ bình yên, là một sự bất mãn
ngấm ngầm. Những người như Vernon Johns và E. D. Nixon đã không mệt mỏi mang vấn
nạn ra nói để kêu gọi lương tri của cộng đồng. Khi những người khác sợ nói, họ
đã nói với lòng dũng cảm. Khi những người khác không dám đứng lên, họ đã đứng
lên với sự can trường và quyết tâm.
Vernon Johns, Giám đốc Trung tâm Baptist bang Maryland, là một
nhà truyền giáo xuất sắc với óc sáng tạo và một trí nhớ phi thường. Không có gì
lạ khi ông ta trích dẫn văn học cổ điển và triết học trong nhiều giờ khi thuyết
giảng mà không bao giờ xem bản thảo. Một người đàn ông không hề biết sợ hãi,
ông không bao giờ im lặng khi nhìn thấy sự bất công xảy ra trước mắt. Khi ông
còn là mục sư, hiếm có một chủ nhật nào khi giảng đạo mà ông không công kích sự
tự mãn. Ông thường nhắc khéo cộng đoàn đừng kiêu căng vì có nhiều bằng cấp, vì
vẫn còn điều mà bằng cấp không chứng nhận, đó là lòng tự trọng. Một trong những
luận điểm cơ bản của ông là bất kỳ cá nhân nào nhẫn nhục chịu đựng bất công, sẽ
thực sự không xứng đáng được hưởng sự công bằng hơn.
Johns thích làm nông trại và sống gần gũi với thiên nhiên.
Ông cũng đồng ý với Booker T. Washington rằng “không chủng tộc nào có thể khá
lên được cho tới khi nào họ biết coi trọng việc cày đất ngang với làm một bài
thơ”. John cũng cảm thấy, như Washington đã thấy, rằng người da đen phải tự
vươn lên khỏi thân phận thấp hèn bằng nỗ lực của chính họ. Một trong những cách
tốt nhất để được như vậy là phải có cuộc sống kinh tế vững vàng. Ông cho rằng mức
tiêu thụ cao so với khả năng sản xuất của người da đen là một bi kịch. Ông đã
kiên trì kêu gọi người dân da đen ở Montgomery góp chung các nguồn lực kinh tế
của họ lại. Kết quả là vào năm 1953, dưới ảnh hưởng của Johns, một vài cá nhân
đã mạnh dạn thành lập Farm and City Enterprises - một siêu thị hợp tác lúc ban
đầu đã phát triển thành một doanh nghiệp lớn mạnh. Đây là một thành tựu trong cộng
đồng, mà sự thay đổi nói chung đã diễn ra vô cùng chậm chạp.
Cũng giống như Vernon Johns, E. D. Nixon luôn thù ghét sự bất
công. Với khuôn mặt của người đàn ông da màu xám đen, tóc lốm đốm bạc, cao lớn,
trông giống như một võ sĩ. Trong công việc thường ngày của ông là khuân vác ở
các ga tàu hỏa, ông đã tiếp xúc gần gũi với tổ chức công đoàn. Ông từng là Chủ
tịch cấp tiểu bang của NAACP và cũng từng là Hội trưởng của NAACP Chi hội
Montgomery. Thông qua phương tiện này, E. D. Nixon đã can đảm đấu tranh cho các
quyền của người dân, làm cho họ thức tỉnh và không còn vô cảm. Nhờ những nỗ lực
của ông, hàng trăm người da đen đã mạnh dạn đăng ký đi bầu. Là một con người
dũng cảm, ông trở thành một trong những tiếng nói quan trọng của cộng đông người
da đen trong lĩnh vực dân sự. Ông là biểu tượng của niềm hy vọng và niềm khát vọng
của những người bị đàn áp đã lâu của Bang Alabama.
Vì vậy, việc làm của những người như John và Nixon đã khơi
mào cho một sự bất mãn âm thầm tựa như một đám cháy âm ỉ sẽ ngày càng tăng lên.
Nó được nuôi dưỡng bằng sự sỉ nhục không ngừng và sự bất bình đẳng mà người da
đen đã và đang phải chịu. Đây là những người đàn ông dũng cảm không hề sợ hãi
đã tạo nên một bầu không khí cho cuộc cách mạng xã hội đang dần phát triển
trong cái nôi của Liên minh.
Nhưng đến năm 1954, sự bất mãn này vẫn còn tiềm ẩn. Tại thời
điểm đó, cả người da đen và người da trắng đều chấp nhận các mô hình phân biệt
tinh vi như một thực tế không thể khác. Hiếm có một ai chống đối hệ thống này.
Montgomery là một thị trấn dễ chịu, thậm chí nó còn được mô tả là một thị trấn
yên bình. Nhưng sự yên bình đó được đánh đổi bởi cái giá của sự nô lệ quy phục
của con người.
Nhiều tháng sau, một công dân da trắng có uy tín của
Montgomery đã đến phản đối tôi:
“Bao nhiêu năm nay, chúng ta đã có được sự yên bình và mối
quan hệ thuận hòa giữa hai chủng tộc ở đây. Tại sao ông và các cộng sự của ông
lại đến phá vỡ truyền thống lâu năm này?”.
Câu trả lời của tôi rất đơn giản: “Thưa ngài”, tôi nói, “chưa
bao giờ có hòa bình thực sự ở Montgomery. Chỉ có một loại hòa bình tiêu cực,
trong đó người da đen thường chấp nhận tình trạng bị khinh khi. Đây không phải
là sự yên bình thực sự. Yên bình thực sự không chỉ đơn thuần là sự vắng mặt của
tình trạng căng thẳng, nó còn cần có sự hiện diện của công lý. Sự căng thẳng mà
chúng ta thấy ở Montgomery hôm nay là sự căng thẳng cần thiết cho đến khi người
bị áp bức chịu đứng lên để bắt đầu tiến tới một sự yên bình vĩnh viễn, tích cực”.
Tôi tiếp tục tự biện rằng đây là điều Chúa Jesus ngụ ý khi
Ngài nói: “Tôi không đến để mang hòa bình, mà mang một thanh kiếm”. Chắc chắn
Chúa Jesus không mang một thanh kiếm thật. Dường như Ngài muốn nói: “Tôi không
đến để mang lại một hòa bình giả hiệu với sự thụ động chết người của nó. Tôi đến
để nổi dậy chống lại một loại hòa bình như vậy. Bất cứ khi nào tôi đến, sẽ có một
cuộc xung đột xảy ra giữa cái cũ và cái mới. Bất cứ khi nào tôi đến, công lý và
bất công sẽ được tách bạch rõ ràng. Tôi đến để mang lại một hòa bình tích cực đại
diện cho công lý, tình yêu và ngay cả Vương quốc của Thiên chúa”.
Sự hòa bình giữa hai chủng tộc tồn tại ở Montgomery không phải
là hòa bình Kitô giáo. Đó là một thứ hòa bình ngoại giáo được đánh đổi bằng một
cái giá quá lớn.
Một nơi mà hòa bình từ lâu đã bị lung lay là trên chính những
chiếc xe buýt trong Thành phố, nơi mà người da đen bị sỉ nhục hàng ngày do bị
phân biệt. Không có tài xế xe buýt người da đen, chỉ toàn người da trắng, và
trong số đó có vài người rất lịch sự, còn lại đa phần đều lỗ mãng và bất lịch sự.
Họ thường xuyên gọi người da đen là “Mỹ đen” “bò đen” và “khỉ đen”. Thường những
người da đen trả tiền vé ở cửa trước, sau đó bị ép phải xuống xe và lên lại bằng
cửa sau. Có nhiều lúc, mười xu tiền xe đã trả mà chưa kịp lên lại bằng cửa sau
thì xe đã chạy đi.
Nhục nhã hơn nữa là người da đen bị buộc phải đứng trong khi
ghế dành riêng cho người da trắng vẫn còn trống. Ngay cả khi xe buýt không có
hành khách da trắng, người da đen vẫn bị lèn chặt trong phạm vi dành cho họ. Họ
bị cấm ngồi trên bốn hàng ghế đầu tiên (có thể ngồi được mười người). Nhưng thực
tế còn tệ hơn thế nữa. Nếu hành khách da trắng đã ngồi hết chỗ được dành riêng
và lại có thêm những người da trắng khác tiếp tục lên xe, những người da đen ngồi
trong phạm vi của mình tiếp ngay phía sau người da trắng được yêu cầu đứng lên
để nhường chỗ cho người da trắng. Nếu có người da đen nào từ chối lùi lại phía
sau, họ sẽ bị bắt. Hầu hết các trường hợp, những người da đen thường tuân phục
mà không phản đối. Tuy nhiên, đôi khi vẫn có những người như Vernon Johns, ông
đã dám từ chối.
Sau khi tôi đến được vài tháng, một nữ học sinh trung học mười
lăm tuổi tên là Claudette Colvin bị lôi ra khỏi một chiếc xe buýt, bị còng tay
và bị đem đi bắt giam vì cô từ chối nhường chỗ ngồi cho một hành khách da trắng.
Sự tàn bạo này dường như làm dậy sóng cộng đồng người da đen. Mọi người đề nghị
tẩy chay những chiếc xe buýt để phản đối. Vậy nên một ủy ban Công Dân được
thành lập để đối thoại với người quản lý của Công ty xe buýt và ủy ban Thành phố,
yêu cầu ra một tuyên bố về chính sách phân bố chỗ ngồi và đòi hỏi các tài xế phải
lịch sự hơn.
Tôi được yêu cầu phục vụ trong ủy ban này. Chúng tôi gặp nhau
vào một buổi chiều tháng Ba năm 1955 tại văn phòng của J. E. Bagley, quản lý của
Montgomery City Lines, Công ty Phương tiện giao thông công cộng của Thành phố
Montgomery. Lúc đó có cả Dave Birmingham là ủy viên cảnh sát, đại diện cho ủy
ban Thành phố. Cả hai người đàn ông đều khá dễ chịu, và bày tỏ mỗi quan tâm sâu
sắc về những gì đã xảy ra. Bagley thừa nhận rằng việc tài xế xe buýt bắt giữ cô
Colvin là sai và hứa sẽ khiển trách anh ta. Ủy viên cảnh sát Birmingham đồng ý
sẽ có luật sư Thành phố đưa ra tuyên bố rõ ràng về chính sách phân bố chỗ ngồi
trên xe buýt của Thành phố. Chúng tôi rời cuộc họp với một niềm hy vọng tràn đầy
trong tim, nhưng rồi không có gì xảy ra. Những màn nhục nhã cũ vẫn tiếp tục. Luật
sư Thành phố vẫn chưa làm gì trong việc này và cô bé Claudette Colvin bị kết tội
với một bản án treo.
Và thực tế, ủy ban Thành phố và Công ty xe buýt đã không có một
hành động nào. Đó chính là nguyên nhân cho một điều gì đó bắt đầu manh nha. Những
cảm giác oán giận dai dẳng của người da đen rốt cuộc đã bắt đầu bị khuấy động.
Nỗi sợ hãi và sự thờ ơ đã từ lâu là cái bóng đen đeo đẳng đời sống của cộng đồng
người da đen đang dần phai mờ nhường chỗ cho tinh thần can đảm và tự trọng. Sự
bất tín của các quan chức Thành phố và Công ty xe buýt trong vụ Colvin sẽ khiến
họ phải đối mặt với một ủy Ban khác của chúng tôi, một ủy ban quả cảm và kiên định
hơn gấp ngàn lần trong vài tháng nữa. Cuộc họp tới đây họ sẽ phải đối mặt với một
ủy ban được ủng hộ bởi những khát khao và ước vọng của gần năm mươi nghìn người,
những người đã quá mệt mỏi để cuối cùng cũng thấy ra được rằng, đi bộ trên đường
phố với lòng tự trọng vinh dự hơn là leo lên những chuyến xe buýt để đi trong sự
nhục nhã.
Chương III
Cuộc bắt giữ quan trọng
Vào ngày 1 tháng 12 năm 1955, Rosa Parks, một người thợ may
da màu có vẻ ngoài trông rất cuốn hút, bắt chuyến xe buýt trên Đại lộ Cleveland
ở trung tâm Montgomery. Bà trở về nhà sau một ngày làm việc tại Montgomery
Fair, một cửa hàng bách hoá lớn. Rã rời sau hàng giờ đồng hồ phải đứng, bà
Parks ngồi xuống ghế đầu đằng sau khu ghế dành cho người da trắng. Ngồi được một
lúc, người tài xế xe buýt ra lệnh cho bà cùng với ba vị hành khách da màu khác
chuyển về phía sau để dành chỗ cho mấy hành khách da trắng đang lên xe. Lúc đó,
chỗ ngồi trên xe vừa hết. Điều này có nghĩa, nếu bà Parks làm theo lời đề nghị
của tên tài xế, bà sẽ phải đứng vì phải nhường ghế cho một nam hành khách da trắng
vừa bước lên xe. Ba hành khách da màu còn lại không chần chừ làm theo yêu cầu của
tài xế, còn bà Parks đã nhẹ nhàng từ chối. Kết quả là bà bị bắt.
Đã có nhiều phỏng đoán tại sao bà Parks lại không nghe theo
gã tài xế. Nhiều người trong cộng đồng da trắng cho rằng bà được NAACP đưa ra để
làm một phép thử, thoạt nghe cũng có lý vì bà đã từng là thư ký cho một chi
nhánh địa phương của NAACP.
Lập luận này nghe vững chắc và hợp lý đến nỗi đã thuyết phục
được nhiều phóng viẻn trên cả nước. Sau đó, khi tôi dự hợp báo ba lần trong một
tuần nhằm trả lời phóng viên và nhà báo đến Montgomery từ khắp nơi trên thế giới,
câu hỏi quen thuộc đầu tiên là: “Có phải NAACP đã khơi mào vụ tẩy chay xe buýt
hay không?”
Nhưng lời cáo buộc này trở nên hoàn toàn vô căn cứ khi lời
khai của bà Parks và nhân viên của NAACP được công bố. Thật ra, nếu hiểu “tức
nước vỡ bờ” là gì chúng ta sẽ hiểu được hành động của bà Parks, đó như một lời
kêu gào: “Tôi không thể chịu đựng thêm nữa” theo phản ứng tự nhiên của con người.
Sự từ chối phải chuyển xuống ngồi ở phía sau xe buýt của bà Parks là một xác
quyết mạnh mẽ rằng bà đã chịu đựng quá đủ rồi. Thái độ đó thể hiện một niềm
khao khát bất diệt về phẩm giá và quyền tự do cho con người. Bà không phải được
“đào tạo” và đưa đến từ NAACP hay bất kỳ tổ chức nào, mà là bà được nuôi dưỡng
bởi chính phẩm cách đàng hoàng và lòng tự tôn của mình. Bà đã ngồi lì ở chỗ đó
bởi sự phẫn nộ ở trong bà bị đè nén ngày này qua ngày khác, và bà có một niềm
khát khao vô tận cho một thế hệ mai sau sẽ không phải chịu những gì như hôm nay
bà đang phải chịu. Bà là nạn nhân của hoàn cảnh lịch sử và cả chính định mệnh của
mình. Bà nổi như cồn bởi tư duy mang tinh thần của thời đại.
May mắn thay, bà Parks quả là một người lý tưởng để mang sứ mệnh
lịch sử. Bà là một phụ nữ yêu kiều với nhân cách sáng ngời, có khiếu ăn nói và
điềm tĩnh trong mọi tình huống. Tính cách của bà thật hoàn hảo và đầy nhiệt huyết
muốn cống hiến. Tất cả những điều ấy gộp lại làm bà trở thành một trong những
người đáng nể nhất trong cộng đồng người da đen.
Duy chỉ E.D. Nixon - người ký tên vào phiếu bảo lãnh tại ngoại
cho bà Parks - cùng một hay hai người khác biết về cuộc bắt giữ xảy ra vào lúc
chập tối ngày thứ Năm. Đến tối, thông tin đến tai một vài phụ nữ có tầm ảnh hưởng
trong cộng đồng, hầu hết là thành viên của Hội đồng chính trị Phụ nữ. Sau khi
trao đổi và thảo luận qua nhiều cuộc gọi điện thoại, họ đồng ý với nhau rằng
người da màu nên tẩy chay xe buýt. Họ ngay lập tức đề nghị với Nixon và ông ấy
tán thành ngay. Với cốt cách can đảm như thường lệ, ông đồng ý đứng ra thực hiện
ý tưởng này.
Sáng sớm thứ Sáu, ngày 2 tháng 12, Nixon gọi cho tôi. Anh ta
hăng hái đến nỗi quên nói “xin chào” như thường lệ mà đề cập thẳng vào vụ việc
xảy ra với bà Parks tối hôm trước đó. Tôi lắng nghe và thực sự bị sốc khi anh ấy
thuật lại sự kiện khổ nhục đó. “Chúng ta đã phải chịu đựng điều này quá lâu rồi”.
Nixon kết luận với giọng run run, “Tôi cảm thấy đã đến lúc phải tẩy chay những
chuyến xe buýt, chỉ có tẩy chay chúng thì ta mới có thể khẳng định với người da
trắng rằng ta sẽ không chấp nhận kiểu đối xử như thế này thêm nữa”.
Tôi đồng tình ngay rằng phản đối là cần thiết, biện pháp tẩy
chay là một cách làm hiệu quả.
Ngay trước khi gọi cho tôi, Nixon đã trao đổi ý tưởng này với
Giám mục Ralph Abernathy, mục sư trẻ của Nhà thờ Baptist Đệ Nhất ở Montgomery
(First Baptist Church còn gọi là nhà thờ Brick A Day, được xây năm 1866, là nhà
thờ đầu tiên của người da đen ở Montgomery), người sắp trở thành một trong những
nhân vật chủ chốt trong cuộc biểu tình, và là một trong số các đồng nghiệp thân
thiết nhất của tôi. Abernathy cũng cảm thấy một cuộc tẩy chay xe buýt là giải
pháp thượng sách. Vậy nên ba người chúng tôi đã gọi điện thảo luận với nhau
trong ba mươi hay bốn mươi phút bàn về kế hoạch và chiến lược. Nixon đề nghị tổ
chức một buổi họp có sự tham dự của tất cả mục sư và nhà lãnh đạo quần chúng
ngay tối hôm đó để nghe ý kiến của họ về dự định này. Tôi đề nghị sử dụng nhà
thờ của mình làm nơi diễn ra cuộc họp. Ba chúng tôi lập tức trở nên bận rộn. Với
sự phê chuẩn của Giám mục H. H. Hubbard - Chủ tịch Liên minh Mục sư Baptist -
tôi và Abernathy bắt đầu gọi điện cho tất cả các mục sư phái Tẩy Lễ (Baptist).
Vì hầu hết các mục sư phái Giám Lý (Methodist) đều tham dự một cuộc họp giáo
phái tại một trong số những nhà thờ địa phương vào chiều hôm đó nên Abernathy
đã đồng thời thông báo được cho tất cả. Nixon đã đến gặp bà A. W. West - goá phụ
của một nha sĩ nổi tiếng - và nhờ bà giúp báo tin cho các nhà lãnh đạo quần
chúng.
Đến đầu giờ chiều, chuyện bà Parks bị bắt giữ được công chúng
biết đến. Tin tức lan rộng đến các cộng đồng như ngọn lửa không thể kiểm soát.
Điện thoại bắt đầu reo liên hồi không ngớt. Đến 2 giờ, một nhóm đầy nhiệt huyết
đã in ra những tờ rơi về vụ bắt giữ và đề xuất một cuộc tẩy chay. Đến chiều thì
chúng được truyền tay rộng rãi.
Giờ họp buổi tối đã đến, tôi đến trước cửa nhà thờ với tâm trạng
lo lắng, tự hỏi không biết bao nhiêu trong số những nhà lãnh đạo sẽ hưởng ứng lời
kêu gọi của chúng tôi. May mắn thay đó lại là một đêm đông ấm áp lạ thường. Thật
nhẹ nhõm khi biết rằng hầu hết những người được mời đều có mặt. Hơn bốn mươi
người với đủ mọi tầng lớp trong cộng đồng người da màu, đã lấp đầy hội trường lớn
của nhà thờ. Tôi thấy có các bác sĩ, giáo viên, luật sư, doanh nhân, nhân viên
bưu điện, lãnh đạo công đoàn, và các tu sĩ. Gần như mọi tổ chức của cộng đồng
người da màu đều có mặt.
Nhiều nhất là những người từ Hội Thánh Chức Thiên Chúa giáo.
Đã từng thất vọng tràn trề vì có nhiều buổi họp mà không có các vị mục sư tham
dự, tôi đã rất hạnh phúc khi thấy rất nhiều vị trong số họ có mặt tại đây. Lúc
đó tôi biết một điều không bình thường sắp xảy ra.
Nếu E. D. Nixon có mặt, anh ta có thể đã được chọn làm chủ
trì cuộc họp, nhưng anh đã phải rời khỏi thành phố trước đó vào buổi chiều vì
công việc tại ga tàu hỏa (vì ông làm nghề khuân vác) trên những con đường sắt
như thường lệ. Vì vậy chúng tôi đã quyết định để Giám mục L. Roy Bennett - Chủ
tịch Liên minh Mục sư đa giáo phái - ngồi vào vị trí đó. Ông đồng ý và ngồi xuống
với thân hình cao lớn chiếm lĩnh căn phòng.
Cuộc họp diễn ra vào khoảng 7 giờ 30 với phần mở đầu bằng mấy
phút cầu nguyện ngắn ngủi do Mục sư H. H. Hubbard hướng dẫn. Sau đó Mục sư
Bennett vào thẳng vấn đề, giải thích mục đích của việc hội tụ tại đây. Cùng với
dáng vẻ đầy xúc cảm, Mục sư kể lại vụ bà Parks phản kháng và bị bắt giữ. Mục sư
trình bày đề nghị rằng cư dân da màu của Montgomery nên phản kháng bằng một cuộc
tẩy chay xe buýt vào thứ Hai. “Bây giờ đã đến lúc phải hành động”, ông quả quyết,
“Đây không còn là lúc để nói mà là lúc để làm”.
Mục sư Bennett đã rất nghiêm túc khi cảnh cáo “không còn là
lúc để nói” đến nỗi Mục sư không cho phép ai ý kiến hay thậm chí thắc mắc trong
một hồi lâu, và Mục sư yêu cầu tiến hành bổ nhiệm Ban Chấp Hành để triển khai kế
hoạch. Đến lúc này hầu như đa số những người có mặt đều phản đối làm náo động cả
cuộc họp lên. Sự hỗn loạn kéo dài gần bốn mươi lăm phút. Người ta lớn tiếng, và
nhiều người còn cảnh báo sẽ ra về nếu họ không được đề xuất ý kiến hay đặt câu
hỏi. Có lúc cảm tưởng như thể cuộc vận động chiến dịch này sẽ đã kết thúc trước
khi bắt đầu. Nhưng cuối cùng, Mục sư Bennett đã nhượng bộ cho mọi người góp ý
kiến khi thấy mọi người quá bất bình.
Ngay lập tức các câu hỏi bắt đầu được đưa ra. Nhiều người muốn
hiểu rõ hơn hành động cũng như việc bắt giữ bà Parks. Rồi sau đó là những câu hỏi
thiết thực hơn. Cuộc phản kháng sẽ kéo dài bao lâu? Ý tưởng sẽ được phổ biến
như thế nào trong cộng đồng? Người ta sẽ làm sao để đi đến chỗ làm việc và trở
về nhà?
Trong lúc lắng nghe trực tiếp cuộc thảo luận, chúng tôi rất
phấn khởi khi thấy rằng, mặc dù buổi họp có hơi rời rạc, nhưng không có ai hỏi
về tính hợp lệ hay triển vọng của cuộc tẩy chay. Có vẻ như tất cả đều nhất trí
rằng cần thực hiện cuộc tẩy chay.
Các vị mục sư thông qua kế hoạch với lòng nhiệt tình đáng
quý, và hứa sẽ về cộng đoàn vào sáng Chủ nhật và rồi đã quay lại với kết quả
tích cực cho kế hoạch tẩy chay nguyên một ngày. Sự hợp tác của họ rất quan trọng,
vì gần như tất cả mục sư da màu có tiếng của Thành phố đều ở đó. Chúng tôi quyết
định tổ chức một buổi họp hoành tráng với phạm vi toàn Thành phố vào đêm thứ
Hai, ngày 5 tháng 12 để xác định thời gian không đi xe buýt là bao lâu. Mục sư
A.W.Wilson của Nhà thờ Baptist Phố Holt cho mượn nhà thờ của ông vì ở đó có
phòng họp rộng rãi và nằm ở vị trí trung tâm. Cả nhóm đồng tình rằng cần thêm tờ
rơi để phát vào thứ Bảy, và vị Chủ tịch đã bổ nhiệm một Ban Tổ chức, trong đó
có tôi, để chuẩn bị ra lời kêu gọi.
Ban Tổ chức chúng tôi bắt tay vào việc trong khi buổi họp vẫn
đang diễn ra. Thông điệp cuối cùng ngắn hơn so với nội dung in trên mấy tờ rơi
đầu tiên, nhưng đại ý thì vẫn vậy. Cụ thể như sau:
Đừng đi xe buýt đến công sở, vào thành phố, đến trường, hay bất
kỳ đâu vào thứ Hai, ngày 5 tháng 12.
Một người phụ nữ da màu nữa đã bị bắt giữ và bỏ tù vì cô ấy từ
chối nhường lại chỗ ngồi.
Đừng đi xe buýt đến công sở, vào thành phố, đến trường, hay bất
cứ đâu vào thứ Hai. Nếu đi làm hãy đi taxi, hoặc là đi nhờ xe, hoặc là đi bộ.
Hãy đến tham dự buổi họp lớn vào thứ Hai lúc 7 giờ tối, tại
Nhà thờ Baptist Phố Holt để được hướng dẫn thêm.
Sau khi soạn xong, Ban Tổ chức bắt đầu sao ra thành nhiều bản
bằng máy in rô-nê-ô. Nhưng vì đã muộn nên tôi tình nguyện đảm nhiệm hoàn thành
công việc vào sáng sớm thứ Bảy.
Câu hỏi cuối trong cuộc họp là về phương tiện đi lại. Mọi người
thống nhất dùng xe taxi của mấy công ty taxi của người da màu trong Thành phố với
cước phí bằng giá vé xe buýt. Có 18 công ty với khoảng 210 chiếc taxi. Một ủy
ban được bổ nhiệm để liên lạc với họ và với Mục sư W. J. Powell của Nhà thờ Old
Ship A.M.E Zion lãnh vai trò chỉ đạo.
Với nhiệm vụ trên vai, sau khi buổi họp khép lại chúng tôi ra
về với một ý tưởng lớn cháy bỏng trong tim. Thời gian trôi nhanh như bóng câu
qua cửa sổ. Đồng hồ trên tường đã điểm gần nửa đêm, nhưng trong tâm hồn chúng
tôi thì bình minh đang đến.
Tôi đã phấn khích đến nỗi chỉ ngủ một chút đêm hôm đó, và
sáng sớm hôm sau lên đường đến nhà thờ để lo vụ chuyển tờ rơi ra ngoài. Đến 9
giờ thì thư ký nhà thờ in xong 7.000 tờ rơi, và đến 11 giờ thì cả một đội quân
gồm phụ nữ và thanh niên đã tự tay mang chúng đi phân phát.
Những người phụ trách việc liên lạc với những công ty taxi phải
làm việc vào đầu giờ chiều thứ Bảy. Họ rất cần mẫn, đến chiều tối họ đã liên lạc
được hết và hớn hở báo cáo rằng các công ty này đều nhất trí hợp tác với chúng
tôi trong cuộc tẩy chay xe buýt sắp tới, bằng cách đưa đón hành khách đi và về
từ nhà đến chỗ làm việc chỉ với giá bằng một vé xe buýt 10 xu thông thường.
Trong khi đang nỗ lực tìm cách truyền tải thông tin đến khắp
mọi người trong cộng đồng người da màu thì chúng tôi lại được tiếp tay một cách
không ngờ. Một cô hầu gái đọc chưa thạo nhận được một trong số những Lời kêu gọi
không có chữ ký phát ra chiều thứ Sáu. Có lẽ như vì chẳng hiểu tờ rơi nói gì,
cô đưa nó cho người chủ. Ngay khi vị chủ da trắng nhận được, bà đã gửi nó đến
tòa soạn địa phương và tờ báo Montgomery Advertiser đã đưa nội dung tờ rơi lên
trang nhất số báo buổi sáng thứ Bảy. Tờ Advertiser rõ ràng muốn đưa tin câu
chuyện này để cho cộng đồng da trắng biết được điều người da màu đang dự định
làm, nhưng rốt cuộc lại trở thành gậy ông đập lưng ông, vì việc này đã vô tình
đưa thông tin đến hàng trăm người chưa từng nghe về kế hoạch đó. Đến chiều Chúa
nhật thì nó đã lan đến tai hầu hết mọi người dân da màu tại Montgomery, trừ một
số người sống ở vùng sâu vùng xa.
Sau một ngày vất vả, tôi về nhà lúc chiều muộn Chúa nhật và
ngồi đọc tờ báo buổi sáng. Đã có một bài viết dài về cuộc tẩy chay sắp tới. Tôi
nhận ra được ngụ ý xuyên suốt bài báo là ý tưởng về cách thức tiếp cận giải quyết
vấn đề mà những người da màu đang chuẩn bị áp dụng tương tự như cách mà các Hội
đồng Công Dân Da Trắng đã dùng. Sự ví von nêu ra những nét tương đồng mang ẩn ý
rất đáng sợ. Hội đồng Công Dân Da Trắng là một tổ chức ra đời ở Mississippi vài
tháng sau khi Nghị quyết về trường học (với nội dung cho việc chia trường học
công lập theo chủng tộc là vi hiến) do Toà án Tối Cao công bố nhằm để duy trì sự
phân biệt. Hội đồng đã được nhân rộng nhanh chóng khắp miền Nam, mục đích của họ
là mượn những thủ thuật pháp lý “can thiệp” và “vô hiệu hóa” những luật lệ bất
lợi đối với sự phân biệt chủng tộc (dùng luật để lái luật). Tuy nhiên, không
may thay, những hành động của một số Hội đồng này đã vượt quá giới hạn của pháp
luật. Cách chúng thực hiện chính là các phương pháp khủng bố công khai và bí mật,
sự hăm dọa tàn bạo, và những đe dọa về nạn đói đối với những người đàn ông, phụ
nữ và trẻ em da màu. Chúng tẩy chay kinh tế để trừng phạt người da trắng nào đã
dám phản đối việc làm bất chấp luật pháp của chúng, và mục đích tẩy chay của
chúng không chỉ đơn thuần để đánh gục mà còn là tiêu diệt họ nếu có thể.
Khó chịu vì việc vận động của chúng tôi bị đánh đồng với giải
pháp tẩy chay của các Hội đồng Công Dân Da Trắng, lần đầu tiên tôi phải suy
nghĩ nghiêm túc về tính chất của cuộc tẩy chay. Từ trước tới giờ tôi chỉ nghĩ một
cách đơn giản rằng đây là giải pháp tốt nhất. Còn giờ đây, những đắn đo nhất định
khiến tôi không thể yên lòng. Liệu giải pháp chúng tôi đang theo đuổi có đạo đức
hay không? Có phải biện pháp tẩy chay về cơ bản là trái với đạo Đấng Ki tô? Chẳng
phải đây là một cách xử lý tiêu cực hay sao? Có đúng là chúng tôi sắp theo vết
xe đổ của mấy Hội đồng Công Dân Da Trắng hay không? Thậm chí nếu một cuộc tẩy
chay như thế này có mang đến được kết quả thiết thực lâu dài, thì liệu những mục
đích cao đẹp này có biện minh cho những hành vi vô đạo đức? Từng câu hỏi một đều
cần những lời giải đáp chân thật từ lương tâm.
Tôi đã ngộ ra rằng có thể dùng phương thức tẩy chay để đạt được
mục đích vô đạo đức và trái với đạo làm người. Thậm chí tôi phải công nhận rằng
biện pháp này được các Hội đồng Công Dân Da Trắng thường xuyên sử dụng để tước
đoạt những nhu cầu cơ bản trong đời sống nhiều người da màu, và cả những người
da trắng tử tế. Nhưng tôi tự quả quyết rằng động thái sắp tới của chúng tôi
không thể giải thích như thế. Mục đích của hai bên là hoàn toàn khác nhau,
chúng tôi định dùng cách này để đem lại sự bình đẳng và tự do, đồng thời khuyến
khích người dân tuân thủ luật pháp về đất đai, còn Hội đồng Công Dân Da Trắng
dùng nó để kéo dài sự thống trị của bất bình đẳng và lao dịch, và xúi người ta
làm ngược lại Luật đất đai. Vì vậy tôi kết luận rằng, nếu dùng từ “tẩy chay” để
nói về mục đích của chúng tôi khi làm việc này là hoàn toàn chưa chính xác. Một
cuộc tẩy chay làm nền kinh tế bị suy kém, đẩy một bên mắc kẹt vào xu thế ngày
càng tồi tệ. Nhưng chúng tôi thì quan tâm đến xu hướng tích cực, xây dựng những
điều tốt đẹp hơn. Mối quan tâm của chúng tôi không phải là làm sao để Công ty
xe buýt bị phá sản, mà là mang đến công lý trong kinh doanh.
Nghĩ sâu xa hơn, tôi thấy những gì chúng tôi đang làm là
không hợp tác với một hệ thống xấu xa, chứ không phải là ngừng hỗ trợ kinh tế đối
với Công ty xe buýt. Doanh nghiệp xe buýt, là một phần của hệ thống ấy, đương
nhiên sẽ gặp khó khăn, nhưng mục tiêu cơ bản là để từ chối bắt tay với cái ác.
Đến đây tôi nhớ lại bài luận của Thoreau, “Bất tuân dân sự”. Tôi còn nhớ như in
khi còn là một sinh viên đại học, tôi đã xúc động khi lần đầu tiên đọc bài này.
Tôi càng tin chắc rằng, việc chúng tôi chuẩn bị thực hiện ở Montgomery có liên
quan đến điều Thoreau đã từng viết. Chúng tôi chỉ muốn nói với cộng đồng người
da trắng rằng: “Chúng tôi không thể tiếp tay cho một hệ thống xấu xa thêm lần
nào nữa”.
Chợt một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi: “Kẻ im lặng trước cái
ác cũng coi như kẻ tiếp tay cho nó. Kẻ chấp nhận cái ác mà không phản đối lại
cũng đồng nghĩa đang đứng về phía nó”. Khi những người bị áp bức cam tâm chấp
nhận sự bất công thì họ đang trao cho kẻ áp bức điều kiện thuận lợi để tung
hoành. Kẻ áp bức thường không chịu từ bỏ những hành động xấu xa của mình miễn
là người chịu bóc lột còn chấp nhận điều ấy. Vậy nên, để không phải hổ thẹn với
lương tâm của bản thân và với Chúa, người chính trực chỉ có một cách duy nhất
là từ chối hợp tác với một hệ thống gian ác. Tôi cảm giác đây mới là bản chất
thật sự của hành động của chúng tôi. Từ giây phút này trở đi tôi quan niệm động
thái của chúng tôi là một hành động mang tính bất hợp tác ở quy mô lớn. Từ đó
trở đi tôi hiếm khi dùng từ “tẩy chay”.
Mệt mỏi, nhưng không còn hoài nghi về tính nhân văn của cuộc
đấu tranh sắp tới, thì trời đã tối lúc nào không hay. Gác điện thoại sau mấy cuộc
gọi, tôi vừa đặt lưng xuống giường thì cô con gái hai tuần tuổi nhà tôi -
Yolanda Denise - bật khóc, và sau đó không lâu điện thoại lại đổ chuông. Bị buộc
phải thức lâu hơn một chút, tôi dành chút ít thời gian để suy nghĩ về vài chuyện
khác. Hai vợ chồng tôi đã bàn về khả năng thành công của cuộc biểu tình. Thẳng
thắn mà nói, tôi vẫn hoài nghi. Mặc dù thông tin đã lan rộng đến không ngờ và mấy
vị mục sư đã cung cấp những hỗ trợ thiết yếu, tôi vẫn tự hỏi liệu người ta có đủ
can đảm để kiên trì đến cùng hay không. Tôi đã chứng kiến rất nhiều công cuộc
đáng ngưỡng mộ bị thất bại ở Montgomery. Làm sao chuyện này có thể ngoại lệ được?
Cuối cùng Coretta và tôi nhất trí rằng, nếu ta tập hợp được lực lượng đến 60%
thì cuộc biểu tình này sẽ thắng lợi.
Khoảng nửa đêm, một người trong Ban Tổ Chức gọi điện thông
báo cho tôi rằng các công ty taxi của người da màu ở Montgomery đều đã đồng ý hỗ
trợ cho cuộc biểu tình vào sáng thứ Hai. Mặc cho triển vọng thành công của
chúng tôi là nhiều hay ít, tôi đã được cổ vũ nhiệt tình bằng những gì các mục
sư và lãnh đạo quần chúng đã kiên trì thực hiện. Riêng việc này đã là một thành
tích đặc biệt.
Sau cuộc gọi nửa đêm đó, điện thoại không còn reo nữa. Vài
phút trước đó thì “Yoki” đã dừng khóc. Tôi chúc Coretta ngủ ngon với cái giọng
mệt lả và chìm vào giấc nồng với mớ hỗn độn của hy vọng và băn khoăn.
Chương IV
Ngày lịch sử, 5 tháng mười hai
Sáng thứ Hai, tôi cùng vợ mình thức dậy sớm hơn bình thường.
5 giờ 30 chúng tôi đã dậy và ăn mặc gọn gàng. Ngày bắt đầu sự phản kháng đã đến,
và chúng tôi phải được chứng kiến màn đầu của câu chuyện sắp sửa diễn ra này.
Lúc này tôi vẫn cho rằng nếu sự kiện mạo hiểm này đạt được 60% tỷ lệ tham gia
thì xem như đã thành công.
May mắn thay, có một trạm xe buýt nằm cách nhà chúng tôi chỉ
1 mét rưỡi, chúng tôi có thể quan sát màn đầu tiên từ cửa sổ nhà mình. Chiếc xe
buýt đầu tiên thường sẽ đi ngang qua vào khoảng 6 giờ sáng. Chúng tôi chờ đợi tầm
khoảng nửa tiếng mà tưởng chừng như dài vô tận. Tôi đang uống cà phê trong bếp
thì nghe thấy Coretta kêu lên, “Martin, Martin, đến đây nhanh lên!” Tôi đặt ly
xuống và chạy ra phòng khách. Khi tôi đến gần cửa sổ thì Coretta hồ hởi chỉ tay
vào một chiếc xe buýt đang chậm chạp lăn bánh: “Anh ơi, nó trống không!” Tôi gần
như không thể tin vào mắt mình. Tôi biết rằng chiếc xe đang đi ngang qua nhà
chúng tôi thuộc tuyến South Jackson, là tuyến xe chuyên chở nhiều hành khách da
đen hơn bất kỳ tuyến xe nào khác tại Montgomery, và chuyến xe đầu tiên trong
ngày thường sẽ chở đầy những người giúp việc đến chỗ làm. Liệu tất cả những
chuyến xe buýt còn lại cũng sẽ cứ thế giống y như chuyến đầu tiên? Hồi hộp,
chúng tôi chờ đợi chuyến xe tiếp theo. Sau mười lăm phút, nó xuất hiện trên đường,
và cũng như chuyến đầu tiên trống không. Chuyến xe buýt thứ ba xuất hiện, và lần
này cũng vậy, nó trống không chỉ trừ hai hành khách người da trắng.
Tôi nhảy vào xe hơi của mình và dành gần cả một tiếng đồng hồ
rảo quanh từng con đường chính và quan sát từng chiếc xe buýt đi ngang qua.
Trong một giờ đó, là giờ cao điểm của giao thông buổi sáng, tôi chỉ thấy không
hơn tám người da đen ngồi trên những chiếc xe buýt. Lúc này tôi cảm thấy một niềm
vui hân hoan trong lòng. Thay vì tỉ lệ 60% tham gia mà chúng tôi mong đợi, mọi
thứ đang cho thấy dường như chúng tôi đã đạt được gần 100%. Một phép màu đã xảy
ra. Cộng đồng người da đen trước đây đã từng ngủ vùi và im lặng giờ đã hoàn
toàn thức tỉnh.
Cứ thế trình trạng ấy kéo dài suốt cả ngày. Vào giờ cao điểm
lúc xế chiều, những chiếc xe buýt vẫn vắng bóng hành khách người da đen như buổi
sáng. Những sinh viên của trường Đại học Alabama State thường lấp đầy các xe
buýt tuyến South Jackson, đang vui vẻ đi bộ hoặc xin đi nhờ. Nhân viên công chức
thì chọn các phương tiện di chuyển khác hoặc đi bộ đến chỗ làm. Trong khi một
vài người chọn đi taxi hoặc tự lái xe, những người khác dùng những phương tiện
ít thông dụng hơn. Có những người đàn ông đã cưỡi la đi làm, và cả xe ngựa cũng
thấy lác đác vài chiếc trên các con đường của Montgomery vào ngày hôm đó.
Vào những giờ cao điểm, rất nhiều những người lao động tay
chân và người giúp việc đi bộ trên vỉa hè. Nhiều người trong số họ đã ngoài
trung niên, cần mẫn cất bước đi làm rồi lại cất bước về nhà, đôi khi quãng đường
có thể lên đến mười hai dặm (gần 20km). Họ hiểu vì sao họ phải đi bộ, sự nhận
thức đó được thể hiện qua thái độ của họ khi bước đi. Và trong khi quan sát họ,
tôi nhận ra rằng không có gì cao quý hơn lòng quả cảm của những cá nhân sẵn
sàng nếm trải khổ cực và hy sinh vì tự do và nhân phẩm của họ.
Nhiều người bàng quan đã tụ tập tại các trạm xe buýt để theo
dõi những gì đang diễn ra. Ban đầu họ đứng im lặng quan sát, nhưng khi ngày dần
trôi qua, trông thấy những chiếc xe buýt trống không, họ bắt đầu reo hò, cười
và pha trò. Người ta có thể nghe thấy tiếng của những đứa trẻ náo nhiệt hát
“Hôm nay không có hành khách”. Theo đuôi mỗi chiếc xe buýt đi qua khu vực của
người da đen là hai cảnh sát đi hai chiếc mô tô. Họ được phân công bởi các ủy
viên Thành phố, những người đã rêu rao rằng do những “băng đảng du côn” da đen
đã tổ chức khủng bố để ngăn chặn những người da đen khác đi xe buýt. Trong ngày
đó cảnh sát đã bắt giữ một trường hợp, là một sinh viên đang giúp một phụ nữ lớn
tuổi băng qua đường đã bị buộc tội “đe dọa hành khách”. Nhưng những “băng đảng
du côn” chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng của ủy ban Thành phố. Không có ai bị
đe dọa hay khủng bố vì đi xe buýt cả, nếu có ai phải chịu bất kỳ áp lực nào,
thì nó đến từ chính lương tâm của người đó.
Vào khoảng 9 giờ 30 sáng tôi, không theo dõi những hoạt động
trên đường phố nữa mà đi về hướng đám đông tại tòa vi cảnh (xét xử các tội phạm
nhỏ, ít nghiêm trọng). Tại đây bà Parks đang bị xét xử vi tội vi phạm luật lệ
phân biệt chủng tộc của Thành phố. Luật sư của bà, Fred D. Gray - một người da
đen trẻ tuổi tài năng, người sau này đã trở thành cố vấn chính cho phong trào
biểu tình - đã có mặt và sẵn sàng bào chữa cho bà. Sau khi Thẩm phán nghe lập
luận của các bên, ông kết luận bà Parks có tội và phạt bà mười đô la cộng thêm
án phí (tổng cộng là mười bốn đô la). Bà đã kháng cáo phán quyết này. Đây là một
trong những trường hợp công khai đầu tiên mà người da đen bị kết án vì bất tuân
Luật phân biệt đối xử. Trước đây, những trường hợp như vậy thường bị bỏ qua hoặc
những người trong cuộc sẽ bị phạt vì hành vi gây mất trật tự. Vì vậy, phải nhìn
nhận một thực tế là việc bà Parks bị bắt và kết án có đến hai tác động: nó thúc
đẩy những người da đen phải hành động tích cực; và nó là phép thử tính hiệu lực
của đạo luật phân biệt đối xử. Tôi chắc rằng những người ủng hộ cho những cuộc
khởi tố như thế này sẽ hành động khác đi nếu họ biết nhìn xa hơn sự việc đang
diễn ra ngày hôm nay.
Trở về từ phiên tòa của bà Parks, Ralph Abernathy, E. D.
Nixon, và Giám mục E. N. French - lúc bấy giờ đang là mục sư của Nhà nguyện
Hilliard A. M. E. Nhà thờ Zion - đã bàn bạc với nhau về sự cần thiết phải có một
tổ chức để hướng dẫn và định hướng cho cuộc biểu tình. Tính đến thời điểm này
thì mọi việc diễn ra chủ yếu là tự phát. Những người đàn ông này đủ khôn ngoan
để thấy rằng phong trào đã đến lúc cần phải có kế hoạch và phương hướng rõ ràng
hơn.
Vào lúc 3 giờ chiều, Roy Bennett đã mời nhiều người tới để
lên kế hoạch cho buổi họp mặt quần chúng vào buổi tối. Mọi người có mặt đều phấn
khởi trước sự thành công to lớn của cuộc phản kháng. Nhưng đằng sau niềm vui
này là câu hỏi chúng ta sẽ làm gì tiếp theo? Khi E. D. Nixon báo cáo về cuộc thảo
luận với Abernathy và French trước đó, họ quyết định đưa ra đề nghị thành lập một
tổ chức chuyên trách và được mọi người hưởng ứng ngay. Công việc tiếp theo là bầu
ra những thành viên cho tổ chức mới này.
Ngay khi Bennett vừa tuyên bố bắt đầu đề cử ứng cử viên cho vị
trí Chủ tịch, Rufus Lewis ngồi ở một góc khuất trong phòng đã lên tiếng: “Ngài
Chủ tọa, tôi muốn để cử mục sư M. L. King làm Chủ tịch”. Để nghị này được chấp
nhận và thông qua, và chỉ trong vài phút mọi người đã thống nhất bầu tôi làm Chủ
tịch.
Tôi đã không ngờ đến điều này. Nó xảy ra quá nhanh đến nỗi
tôi không có thời gian để cân nhắc sự việc một cách thấu đáo. Nếu có thời gian
để suy nghĩ rất có thể tôi sẽ từ chối để cử này. Mới ba tuần trước đó, nhiều
thành viên của chi nhánh NAACP tại địa phương đã khuyến khích tôi tranh cử vị
trí Chủ tịch của tổ chức này. Họ đảm bảo rằng tôi chắc chắn sẽ đắc cử. Sau khi
bàn bạc vấn đề này với vợ mình, chúng tôi thống nhất rằng tôi không nên nhận bất
cứ trọng trách cộng đồng nào, bởi vì tôi chỉ mới vừa hoàn thành luận văn, tôi cần
phải dành nhiều sự quan tâm hơn đến công việc tại nhà thờ của mình. Nhưng lần
này mọi thứ diễn ra quá nhanh.
Việc bầu cử các vị trí còn lại được hoàn thành nhanh chóng: mục
sư L. Roy Bennett - Phó Chủ tịch; mục sư u. J. Field - Thư ký; mục sư E. N.
French, - Đặc trách Thông tin; Bà Erna A. Dungee - Phụ trách Tài chính; Ông E.
D. Nixon - Thủ quỹ. Từ đó mọi người thống nhất những người này là thành viên
Ban Điều hành của tổ chức mới. Ban Điều hành này sẽ đóng vai trò điều phối toàn
bộ phong trào. Đây là một nhóm đa dạng và cân bằng về thành phần, bao gồm mục
sư của tất cả các giáo phái, giáo viên dạy học, doanh nhân và hai luật sư.
Tổ chức mới cần có một cái tên, và rất nhiều tên đã được đề
nghị. Có người đề nghị lấy tên là ủy ban Công Dân Da Đen, nhưng bị từ chối vì
nó quá giống với Hội đồng Công Dân Da Trắng. Những đề nghị khác lần lượt được
đưa ra nhưng đều bị bác bỏ cho đến khi Ralph Abernathy đề nghị một cái tên mà
ai cũng đồng ý - Hiệp hội Cải cách Montgomery.
Tạm gác lại những vấn đề về tổ chức, chúng tôi chuyển sang cuộc
thảo luận chính của buổi họp mặt. Nhiều người không muốn phóng viên biết được
những chương trình hành động của chúng tôi nên đề nghị mọi người chỉ nên hát và
cầu nguyện. Nếu có kế hoạch nào đó cần phổ biến cho mọi người, thì có thể in ra
và phân phát cho từng người một cách bí mật ngay trong cuộc họp. Họ cho rằng việc
này sẽ che mắt được các phóng viên. Những người khác kêu gọi mọi người nên giữ
bí mật danh tính thật sự của những người lãnh đạo để đảm bảo an toàn cho tất cả
những người có liên quan. Sau một cuộc bàn luận khá dài, E. D. Nixon nóng lòng
bật dậy.
“Chúng ta đang hành xử như những đứa trẻ con vậy” ông nói, “Một
trong chúng ta phải công khai danh tính thôi, và nếu điều đó làm chúng ta run sợ
thì tốt nhất là nên kết thúc mọi thứ ngay tại đây. Chúng ta phải có đủ dũng khí
để thảo luận những đề nghị của mình một cách công khai. Ý tưởng lén lút truyền
đi một điều gì đó được in trên giấy thật là vớ vẩn. Những người da trắng cuối
cùng rồi cũng sẽ biết được đó là gì thôi. Tốt hơn là chúng ta nên quyết định
ngay lúc này là mình sẽ hành động như những người đàn ông gan dạ hay những cậu
bé nhút nhát”.
Với lời phát biểu thẳng thừng này, không khí cuộc họp đã được
giải tỏa. Không còn ai muốn đưa ra để nghị che giấu danh tính và tránh né đương
đầu với mọi vấn đề nữa. Sự động viên can trường của Nixon đã trao dũng khí cho
những người sắp bị nỗi sợ đánh gục.
Mọi người nhất trí rằng cuộc biểu tình nên tiếp tục cho đến
khi một số yêu cầu nhất định được đáp ứng. Một ủy ban với Chủ nhiệm là Ralph
Abernathy sẽ soạn ra những yêu cầu này dưới dạng một giải pháp và trình bày
chúng trong buổi tối họp mặt quần chúng để thông qua. Chúng tôi thực hiện phần
còn lại của chương trình một cách nhanh chóng. Bennett chủ trì cuộc họp và tôi
sẽ đưa ra lời phát biểu chính. Một vài diễn giả khác sẽ đưa ra lời nhận xét,
cùng với việc đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, hát Thánh ca, và quyên góp, như vậy
là hoàn thành xong chương trình.
Ngay lập tức ủy ban Giải Pháp đã bắt tay vào việc soạn thảo Bản
Tuyên Bố. Mặc dù hài lòng về sự thành công của cuộc phản kháng, chúng tôi vẫn
còn cảm thấy lo ngại. Liệu những buổi họp mặt quần chúng vào các buổi tối sau
này có được mọi người tham dự đầy đủ không? Liệu chúng tôi có thể tin rằng nghị
lực và nhiệt tình của cộng đồng da đen sẽ tiếp tục tồn tại sau khi trải qua một
ngày đầy thử thách như vậy không? Có người đã đề nghị có lẽ chúng tôi nên cân
nhắc quyết định tiếp tục phản kháng. “Chẳng phải sẽ tốt hơn sao”, người đó nói,
“nếu chúng ta kết thúc cuộc phản kháng khi nó vẫn còn là một thành công còn hơn
là để nó kéo dài một vài ngày nữa rồi tắt ngúm? Chúng ta đã chứng minh được với
cộng đồng người da trắng sức mạnh của chúng ta khi mọi người đoàn kết lại. Nếu
chúng ta dừng lại lúc này, các công ty xe buýt sẽ phải chấp nhận bất cứ thứ gì
chúng ta muốn, đơn giản bởi vì họ sẽ cho rằng chúng ta có khả năng để lặp lại
tình trạng đó một lần nữa. Nhưng nếu chúng ta tiếp tục, mà phần lớn mọi người
trở lại sử dụng xe buýt vào ngày mai hay hôm sau đó, người da trắng sẽ cười nhạo
chúng ta, và rồi chúng ta sẽ không đạt được gì cả”. Lập luận này có tính thuyết
phục quá cao đến mức chúng tôi suýt nữa đã quyết định chấm dứt cuộc phản kháng.
Nhưng cuối cùng chúng tôi thống nhất để cho cuộc họp mặt quần chúng - chỉ còn
khoảng một giờ nữa là bắt đầu - quyết định điều này. Nếu buổi họp mặt có đông
người tham dự và họ đến dự với trạng thái nhiệt tình, chúng tôi sẽ tiếp tục;
còn không chúng tôi sẽ tuyên bố dừng cuộc phản kháng vào đêm đó.
Tôi trở về nhà lần đầu tiên trong suốt ngày hôm đó kể từ khi
ra khỏi nhà vào lúc 7 giờ sáng, và thấy Coretta đang nằm nghỉ ngơi sau một ngày
dài tiếp điện thoại trong không khí phấn khởi chung. Sau khi chúng tôi kể cho
nhau nghe về những gì đã xảy ra trong ngày lịch sử này, tôi nói với cô ấy một
cách dè dặt vì không biết cô ấy sẽ phản ứng ra sao, rằng tôi đã được bầu làm Chủ
tịch của một tổ chức mới. Đáng lẽ tôi không nên lo lắng đến thế. Tuy bị bất ngờ,
nhưng rồi cô vẫn thấu hiểu rằng trọng trách này đã chọn tôi, tôi không còn cách
nào khác ngoài việc chấp nhận nó. Không cần ai nói cô cũng biết điều này có
nghĩa là thời gian chúng tôi ở bên nhau sẽ ít hơn, và cô cũng không bận tâm trước
những hiểm nguy rình rập xung quanh chúng tôi khi tôi lãnh trách nhiệm mới này.
“Anh biết không”, cô ấy nói khẽ, “bất kể việc gì mà anh quyết định làm, em đều
sẽ ủng hộ anh”.
An lòng, tôi đi vào phòng làm việc và đóng cửa lại. Thời gian
lúc này trôi qua thật nhanh. Giờ đã là 6 giờ 30 và tôi phải rời khỏi nhà muộn
nhất là vào 6 giờ 50 để đến buổi họp mặt. Điều này có nghĩa là tôi chỉ còn hai
mươi phút để chuẩn bị cho bài phát biểu quan trọng nhất trong đời mình. Khi tôi
nghĩ đến khoảng thời gian ít ỏi còn lại và thông điệp mà bài phát biểu này phải
đưa ra, nỗi sợ bắt đầu xâm chiếm tôi. Mỗi tuần tôi cần ít nhất mười lăm giờ để
chuẩn bị cho bài giảng chúa nhật của mình. Giờ đây tôi phải chuẩn bị trong một
khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi bài phát biểu sẽ định ra phương hướng cho mọi
người, những con người tràn đầy ước mơ công lý mới. Tôi cũng biết rõ rằng những
phóng viên báo chí và đài truyền hình sẽ có mặt, chờ đợi để ghi lại những lời
nói của tôi và gửi chúng đi khắp đất nước.
Lúc này tôi gần như bị ám ảnh bởi một cảm giác bất lực. Trong
tình trạng bất an này, tôi đã bỏ ra năm phút trong hai mươi phút còn lại để cầu
nguyện. Không còn gì khác ngoài đức tin vào một Đấng quyền năng, người có sức mạnh
không ai sánh bằng đối với sự yếu đuối và bất lực của con người. Tôi thốt ra những
từ ngắn gọn và đơn giản, xin Chúa giữ được sự bình tĩnh trong tôi và ở bên tôi
trong giờ phút tôi cần sự dẫn dắt của Ngài hơn bao giờ hết.
Với chưa đầy mười lăm phút còn lại, tôi bắt đầu thảo dàn ý
chính cho bài nói. Tuy nhiên, chính trong lúc này, tôi gặp phải một tình thế
khó xử không lường trước được và nghiêm trọng: làm sao tôi có thể viết một bài
phát biểu đủ quyết liệt để khuyến khích mọi người hành động tích cực mà vẫn ôn
hòa vừa đủ để giữ cho ngọn lửa này nằm trong tầm kiểm soát và ràng buộc của Cơ
Đốc Giáo? Tôi biết có rất nhiều người da đen đã trở nên cay nghiệt, số lượng
này có thể dễ dàng nổi dậy và gây bạo loạn. Tôi có thể nói gì đây để giữ trong
họ một lòng gan dạ và sẵn sàng cho những hành động tích cực mà vẫn tránh xa
lòng thù hận và căm ghét? Liệu sự quyết liệt và ôn hòa có thể được kết hợp
trong cùng một bài phát biểu?
Tôi quyết định mình phải nhìn thẳng vào vấn đề này, và tìm
cách dung hòa hai tính chất dường như là đối nghịch này. Tôi muốn động viên mọi
người hành động bằng cách khẳng định lòng tự trọng của họ đang trên bờ vực biến
mất và nếu họ chấp nhận sự tồn tại của bất công như vậy mà không phản kháng, họ
sẽ phản bội lại chính nhân phẩm của mình và những điều răn vĩnh hằng của chính
Chúa Trời. Nhưng tôi sẽ cân bằng điều này với giáo lý Cơ Đốc Giáo về tình yêu
thương. Ngay khi tôi vừa phác thảo sườn ý chính cho bài nói trong đầu mình, thời
gian chuẩn bị đã hết. Không còn thời gian để ăn bữa tối (tôi đã không ăn gì kể
từ buổi sáng) tôi tạm biệt Coretta và lái xe về hướng Nhà thờ Đường Holt.
Cách nhà thờ khoảng năm dãy nhà tôi gặp một vụ kẹt xe. Những
chiếc xe hơi nối đuôi nhau trải dài vượt cả tầm mắt của tôi từ cả hai phía. Phải
mất một lúc tôi mới nhận ra là tất cả những chiếc xe này đều đang trên đường đến
cuộc họp mặt quần chúng. Tôi phải đậu xe cách nhà thờ ít nhất bốn dãy nhà, và
khi bắt đầu xuống xe, tôi nhận ra hàng trăm người đang đứng bên ngoài. Trong
bóng tối, xe cảnh sát đang chậm rãi chạy vòng quanh khu vực, quan sát một đám
đông trật tự, kiên nhẫn và thiện chí. Những người không thể vào trong nhà thờ,
khoảng từ ba đến bốn ngàn người, vẫn vui vẻ đứng ngoài trong suốt buổi tối, lắng
nghe diễn tiến của cuộc họp từ những chiếc loa được đặt bên ngoài dành cho họ.
Và ngay cả khi vào gần cuối buổi, những chiếc loa này bị những người da trắng ở
những khu lân cận yêu cầu tắt đi, họ vẫn ở lại một cách trật tự, hài lòng được
có mặt tại đây.
Mất đến mười lăm phút tôi mới có thể xen qua đám đông để đến
phòng làm việc của mục sư. Tại đây Tiến sĩ Wilson cho tôi biết nhà thờ đã đẩy
người từ lúc 5 giờ. Lúc này những mối lo ngại trong lòng tôi về sự thành công của
hành trình mạo hiểm này đã tan biến. Câu hỏi liệu có nên ngưng cuộc biểu tình
giờ chỉ còn là giả thiết. Sự nhiệt huyết của hàng ngàn con người này đã cuốn mọi
thứ lên như một ngọn thủy triều cuộn trào.
Phải mất thêm một lúc thì những diễn giả còn lại mới rẽ đám
đông chật kín trong nhà thờ để lên được bục phát biểu. Cuộc họp bắt đầu muộn
hơn gần nửa tiếng. Khúc Thánh ca mở đầu là bài hát quen thuộc “Onward Christian
Soldiers” (Hãy tiến lên những chiến sĩ Kitô). Đám đông đứng lên để cất lời ca,
những giọng hát bên ngoài hòa vào lời ca điệp khúc ở bên trong nhà thờ, làm nên
một tiếng ngân vang dội như tiếng vọng hân hoan từ nơi thiên đường.
W. F. Alford, mục sư của Nhà thờ Baptist Beulah, dẫn đầu cộng
đoàn cầu nguyện, sau đó U. J. Fields, mục sư Nhà thờ Baptist Đường Bell, đọc
Thánh Kinh. Rồi người chủ tọa giới thiệu tôi. Tôi đứng lên bục phát biểu trong
tiếng vỗ tay của mọi người. Máy quay phim bắt đầu ghi hình từ mọi hướng. Tất cả
trở nên im lặng.
Trên tay không có bản thảo, tôi kể về những gì đã xảy ra với
bà Parks. Rồi tôi ôn lại lịch sử dài dằng dặc của những sự ngược đãi và xúc phạm
mà công dân da đen đã phải nếm trải khi sử dụng xe buýt của thành phố. “Nhưng rồi
sẽ đến ngày” tôi nói, “người ta bắt đầu mệt mỏi. Tối nay chúng ta có mặt ở đây
để nói với những người đã đối xử tệ bạc với chúng ta rằng, chúng ta đã mệt mỏi
- mệt mỏi vì bị phân biệt đối xử và hạ nhục; mệt mỏi vì bị chà đạp bởi đôi chân
tàn bạo của sự đàn áp”, cộng đoàn đáp lại lời tuyên bố này bằng tràng pháo tay
nồng nhiệt, “chúng ta không còn cách nào khác ngoài việc biểu tình” tôi tiếp tục,
“Chúng ta đã nhẫn nhục trong nhiều năm trời. Đôi khi như vậy làm cho những người
anh em da trắng nghĩ là chúng ta thích cách mà mình đang bị đối xử. Nhưng chúng
ta đến đây tối nay để trút bỏ sự nhẫn nhục đã khiến chúng ta chấp nhận tất cả mọi
thứ kém hơn tự do và công lý”. Một lần nữa mọi người chen ngang bằng những tiếng
vỗ tay.
Một cách ngắn gọn, tôi chứng minh những gì chúng tôi đã làm
là đúng, cả về đạo lý và pháp lý. “Một trong những giá trị tuyệt vời nhất của nền
dân chủ là quyền được biểu tình vì lẽ phải”. So sánh cách thức của chúng tôi với
những gì mà Hội đồng Công Dân Da Trắng và Ku Klux Klan đã làm, tôi chỉ ra rằng,
trong khi “những tổ chức này biểu tình để cổ súy cho sự tồn tại của bất công
trong cộng đồng, chúng ta biểu tình cho sự ra đời của công lý trong cộng đồng.
Phương pháp của họ đưa tới bạo lực và vô pháp. Còn những cuộc biểu tình của
chúng ta sẽ không có việc đốt thập giá. Sẽ không có một người da trắng nào bị
lôi ra khỏi nhà mình bởi một đám đông người da đen trùm mũ và bị sát hại một
cách dã man. Sẽ không có bất kỳ sự đe dọa và khủng bố nào. Chúng ta sẽ tuân thủ
những nguyên tắc cao nhất của luật pháp và trật tự”.
Sau khi khẳng định về một thái độ quyết liệt khi hành động,
tôi tiếp tục với những lời nhắc nhở. Tôi kêu gọi mọi người không nên ép buộc bất
kỳ ai đừng đi xe buýt. “Chúng ta sử dụng sự thuyết phục làm phương tiện chứ
không phải sự ép buộc, chúng ta chỉ nói với mọi người rằng, “Hãy để lương tâm
mình dẫn lối”. Tôi nhấn mạnh đến giáo lý Cơ Đốc Giáo về tình yêu thương, “hành
động của chúng ta phải được dẫn dắt bởi những nguyên tắc sâu xa nhất xuất phát
từ đức tin của chúng ta. Tình yêu thương phải là kim chỉ nam trong lý tưởng của
chúng ta. Một lần nữa chúng ta phải nhớ tới lời Chúa vang vọng từ nhiều thế kỷ
trước: “Yêu thương kẻ thù của các con, chúc phúc cho kẻ đã nguyền rủa con, và cầu
nguyện cho kẻ đã rắp tâm lợi dụng con”. Nếu chúng ta không làm được điều này
thì cuộc biểu tình rồi cũng chỉ trở thành một giai đoạn biến động vô nghĩa
trong lịch sử, và hình ảnh về nó sẽ bị bao phủ bởi một vẻ ngoài xấu xí của nỗi
ô nhục. Mặc kệ những ngược đãi mà chúng ta gặp phải, chúng ta không được cho
phép bản thân trở nên cay đắng, và quay sang thù hận những người anh em da trắng
của mình. Như Booker T. Washington đã nói: “Đừng để ai hạ thấp bạn đến mức khiến
bạn thù ghét hắn”. Một lần nữa mọi người hưởng ứng một cách hồ hởi.
Sau đó là tuyên bố kết thúc của tôi. “Nếu mọi người biểu tình
một cách can trường, nhưng với một nhân phẩm và tình yêu thương của Chúa, khi
người ta viết sử sách cho thế hệ mai sau, họ sẽ phải tạm ngừng một chút và nói
“Đã từng có những con người vĩ đại - những người da đen - đã thổi những ý nghĩa
mới và giá trị chân thật vào dòng chảy của nền văn minh”. Đây chính là thử
thách và trọng trách vô cùng to lớn của chúng ta”. Khi tôi trở về chỗ ngồi của
mình, mọi người đã đứng dậy và vỗ tay. Tôi thầm cảm ơn Chúa vì thông điệp đã được
truyền đi và nhiệm vụ kết hợp lửa nhiệt huyết và sự ôn hòa ít nhất đã phần nào
được hoàn thành. Họ nhất trí một cách hồ hởi khi tôi kêu gọi họ yêu thương cũng
như khi tôi khuyến khích họ phản kháng.
Trong khi ngồi đó lắng nghe tràng pháo tay chưa dứt, tôi nhận
ra bài phát biểu này khơi gợi sự hưởng ứng nhiều hơn bất kỳ bài phát biểu hay
thuyết giáo nào tôi từng thực hiện, trong khi nó gần như không hề được chuẩn bị.
Lần đầu tiên tôi hiểu được những gì mà những người giảng đạo lớn tuổi hơn tôi
đã từng nói: “Hãy mở miệng ra và chúa sẽ nói thay cho mọi người”. Tôi sẽ không
vì sự thành công bất ngờ này mà bỏ qua sự cần thiết của việc chuẩn bị thường
xuyên, nhưng nó sẽ luôn nhắc nhở tôi rằng chúa có thể biến yếu điểm của một người
thành cơ hội vẻ vang cho họ.
Khi bà Parks được E. N. French giới thiệu trên bục phát biểu,
mọi người đáp lại bằng việc đứng dậy và vỗ tay. Bà ấy là nữ anh hùng của họ.
Qua khí phách can trường của bà, họ nhìn thấy biểu tượng cho niềm hy vọng và
khát vọng trong họ.
Giờ đã đến lúc công bố những giải pháp vô cùng quan trọng.
Ralph Abernathy đọc những lời tuyên bố một cách chậm rãi và cương quyết. Cốt
lõi của những giải pháp này là kêu gọi người da đen không trở lại đi xe buýt
cho đến khi: 1- những doanh nghiệp xe buýt phải cam kết đối xử lịch sự với hành
khách da đen; 2- hành khách phải được xếp chỗ ngồi dựa trên nguyên tắc ai tới
trước thì được phục vụ trước - người da đen sẽ ngồi từ phía sau xe trở lên phía
trước còn người da trắng sẽ ngồi từ phía trước xe trở về phía sau; 3 - Tài xế
da đen phải được thuê để lái xe trên những tuyến đường có đông đảo hành khách
da đen. Khi tôi nói “Ai đồng ý xin hãy đứng lên”, tất cả mọi người đều đứng dậy,
và những người vốn đã đứng sẵn thì giơ cả hai tay lên. Tiếng reo hò vang lên cả
bên trong lẫn bên ngoài. Động tác thể hiện sự đồng ý đã được mọi người đồng
lòng thực hiện. Mọi người đã quyết tâm không sử dụng xe buýt cho đến khi điều
kiện phục vụ được thay đổi.
Đã đến lúc tôi phải rời khỏi cuộc họp và tức tốc đi đến phía
bên kia của Thị trấn để phát biểu tại một bữa tiệc YMCA (là tổ chức hoạt động
thể thao, tổ chức các lớp học kỹ năng, quảng bá Kitô giáo và công việc nhân đạo).
Tôi đã lái xe đi với một con tim đong đầy cảm xúc. Tôi chưa bao giờ chứng kiến
một sự khát khao tự do đến như vậy. Cho dù mãnh liệt là vậy nhưng lòng nhiệt
huyết này lại được kiểm soát bởi một sự tự giác tuyệt vời. Sự quy tụ vì một mục
đích chung và tinh thần tổ chức của những con người này có một sức mạnh lay động
lòng người không tài nào tả xiết. Sẽ không có một sử gia nào có khả năng diễn tả
đầy đủ hết cuộc họp mặt này và sẽ không có một nhà xã hội học nào có thể giải
thích nó một cách hoàn chỉnh. Để thật sự hiểu được nó thì chính mình phải là
người trong cuộc.
Tại khách sạn Ben Moore, khi thang máy đang chậm chạp đưa tôi
lên sân thượng, nơi mà bữa tiệc đang được tổ chức. Tôi tự nhủ, chiến thắng đã nằm
trong tay rồi, cho dù chúng tôi có phải vất vả trong bao lâu để đạt được ba điểm
đó đi nữa, thì chúng tôi đã có một chiến thắng có ý nghĩa còn to lớn hơn việc
tình trạng xe buýt sẽ được cải thiện rất nhiều lần. Chiến thắng thật sự đó
chính là ở buổi họp mặt, nơi mà cả ngàn người da đen đứng hiên ngang với cảm
giác mới mẻ về nhân phẩm và sứ mạng.
Chắc chắn nhiều người sẽ đặt câu hỏi, tại sao sự kiện này lại
xảy ra ở Montgomery, Alabama, vào năm 1955? Một vài người cho rằng, vì phán quyết
về phân biệt đối xử trong trường học của Tòa Tối Cao Pháp Viện - được phổ biến
từ chưa đầy hai năm trước đó - đã cho người da đen một hy vọng mới về việc công
lý sẽ đến với những người da đen ở khắp nơi, và thắp lên trong họ những tia lửa
động viên đứng lên chống lại sự áp bức. Mặc dù điều này có thể giải thích tại
sao cuộc phản kháng lại xảy ra vào thời điểm đó, nhưng nó lại không thể giải
thích vì sao nó lại xảy ra tại Montgomery.
Hiển nhiên là sự bất công dai dẳng trong lịch sử hoạt động xe
buýt ở Montgomery phần nào đã giải thích điều đó. Cuộc phản đối xe buýt không tự
nhiên lớn nhanh như thổi, tựa như nữ thần trí tuệ Athena mới sinh ra từ đầu của
thần Zeus đã là thiếu nữ; mà nó là cao trào của một quá trình đã phát triển âm
thầm. Việc bắt giữ bà Parks là một nhân tố xúc tác chứ không phải là nguyên
nhân của cuộc phản kháng. Nguyên nhân nằm ẩn sâu trong một chuỗi những sự việc
bất công tương tự. Gần như tất cả mọi người đều có thể kể ra một câu chuyện bất
hạnh mà chính họ là nạn nhân hoặc đã từng chứng kiến.
Và rồi cũng đến lúc người ta chán ghét việc bị dẫm đạp bởi sự
áp bức. Cũng đến lúc người ta chán ghét việc bị đẩy vào sự bóc lột vô tận và bất
công dai dẳng. Câu chuyện của Montgomery là câu chuyện của 50.000 người da đen
như vậy, họ sẵn sàng chịu mệt mỏi những đôi chân, còn hơn là mang tâm hồn kiệt
quệ, bước đi trên đường phố Montgomery cho đến khi những bức tường phân biệt đối
xử cuối cùng cũng bị phá bỏ bởi sức mạnh của công lý.
Nhưng ngay cả điều đó cũng không phải là câu trả lời hoàn chỉnh.
Những người da đen ở các cộng đồng khác cũng phải đối mặt với những tình trạng
tồi tệ tương tự, và đôi khi còn tệ hơn. Cho nên chúng ta không thể giải thích
câu chuyện của Montgomery đơn thuần chỉ dựa trên những áp bức mà người da đen ở
đây phải nếm trải. Hơn nữa, nó cũng không thể được giải thích bởi một sự đoàn kết
sẵn có giữa những người lãnh đạo, bởi vì chúng ta đã thấy rằng cộng đồng người
da đen tại Montgomery trước thời điểm phản kháng rõ ràng là được dẫn dắt bởi sự
lãnh đạo rời rạc, thờ ơ và tự mãn. Nó cũng không thể được giải thích bằng sự
lãnh đạo mới được thiết lập sau đó. Câu chuyện của Montgomery vẫn sẽ xảy ra
ngay cả khi những người lãnh đạo của cuộc phản kháng chưa từng được sinh ra
trên đời.
Vậy là mọi sự giải thích theo lý trí bị hổng ở khía cạnh nào
đó. Có điều gì đó ở cuộc phản kháng đã vượt lên trên cả lý trí. Nó không thể được
giải thích mà không nhắc đến một sự can thiệp thiêng liêng. Có thể đó là nguyên
lý của sự kết tủa, theo như Alfred N. Whitehead; hay là một quá trình dung hóa,
theo như Henry N. Wieman; hay thế lực sáng tạo, như Paul Tillich; hay là một vị
Thần hóa thân. Cho dù tên gọi là gì thì dường như đã có một thế lực siêu nhân vận
động để tạo lại sự hài hòa vũ trụ sau những hỗn loạn. Có một thế lực sáng thế
đang vận hành để kéo sập những ngọn núi của cái ác và san bằng những ngọn đồi bất
công. Chúa vẫn hiện diện trong những sáng tạo lịch sử của Ngài để làm điều đó.
Dường như chúa đã quyết định dùng Montgomery làm ví dụ cho sự đấu tranh và chiến
thắng của tự do và công lý tại Mỹ. Và còn nơi nào tốt hơn để làm việc đó ngoài
biểu tượng hàng đầu của Miền Nam nước Mỹ trước đây? Đây thật sự là một trong những
trớ trêu lớn nhất của thời đại chúng ta khi mà Montgomery, cái nôi của Liên bang
Miền Nam, đang bị biến đổi thành Montgomery, cái nôi của tự do và công lý.
Ngày lịch sử - Thứ Hai, mùng 5 tháng Mười Hai năm 1955, đang
dần kết thúc. Chúng tôi đều chuẩn bị ra về, vẫn chưa ý thức hết được ý nghĩa của
những gì đã xảy ra. Những cuộc thảo luận trong buổi tối nhiệt huyết, sâu lắng của
tháng Mười Hai ấy sẽ không bao giờ bị lãng quên. Tối hôm đó chúng tôi đã khởi động
một phong trào mà sau này sẽ nhận được sự chú ý của toàn quốc. Tiếng vọng của
nó sẽ vang đến tai con người ở mọi quốc gia, một phong trào sẽ làm kinh ngạc những
người áp bức, và mang lại hy vọng mới cho những người chịu áp bức. Đêm đó chính
là điểm sáng của Montgomery trong lịch sử.
Chương V
Đi để thành đường
Sau khi mang tâm trạng phấn chấn cao độ như đi trên mây của tối
thứ Hai, sáng thứ Ba thức dậy tôi thấy mình phải quay trở về với thực tại. Tôi
phải suy nghĩ đến một số quyết định về mặt tổ chức. Phong trào không thể tiếp tục
hoạt động mà không có kế hoạch tổ chức cẩn thận.
Tôi bắt đầu nghĩ đến những ủy ban cần thiết để chỉ dẫn phong
trào. Đầu tiên chúng tôi cần một ủy ban Di chuyển hoạt động lâu dài hơn, bởi vì
việc lo phương tiện đi lại trong thành phố cho những người trước đây chỉ đi xe
buýt là vô cùng quan trọng. Tôi biết là chúng tôi không thể tạo ra một hệ thống
có khả năng giải quyết tất cả vấn đề đi lại của gần 17.500 người da đen, những
người trước đây phải đi xe buýt hai lần mỗi ngày. Ngay cả khi áp dụng phương án
hiệu quả nhất mà chúng tôi có thể nghĩ ra được thì gần như tất cả mọi người vẫn
phải đi bộ nhiều hơn một chút so với trước đây. Nhưng có một hệ thống được suy
tính kỹ lưỡng sẽ giúp giảm bớt gánh nặng từ vấn đề này rất nhiều.
Chúng tôi cũng cần phải gây quỹ để tiếp tục duy trì cuộc biểu
tình. Vì vậy, một ủy ban Tài Chính là cần thiết. Những buổi họp mặt quần chúng
cũng sẽ phải được tổ chức thường xuyên nên phải có một Ban tổ chức để thực hiện
những sự kiện này. Sau đó, tôi nhận thấy rằng, ở mỗi thời điểm chúng tôi sẽ phải
đưa ra những quyết định chiến lược. Điều này đòi hỏi sự kết hợp của những cái đầu
tài giỏi nhất trong tổ chức để cân nhắc những quyết định đó và đưa ra những đề
xuất cho Ban Điều Hành. Do đó tôi cảm thấy một ủy ban Chiến Lược là điều không
thể thiếu được.
Ấp ủ những dự định đó, tôi triệu tập một cuộc họp với Ban Điều
hành vào lúc 10 giờ ngày thứ Tư trong một căn phòng lớn của Trung tâm Baptist của
người Da Đen tại Alabama (Negro Baptist Center). Khi đến dự, tất cả thành viên
Ban Điều hành đều khen ngợi kết quả cuộc biểu tình vẫn có hiệu quả trên 99% sau
gần hai ngày rưỡi triển khai. Tiếp đó là thành lập các ủy ban. Bởi vì số lượng
thành viên của Ban Điều hành tương đối ít nên nhiều thành viên phải kiêm nhiệm
thêm nhiều ủy ban một lúc. Cũng như mọi tổ chức khác, vấn đề xung đột cái tôi
cá nhân là tình trạng rắc rối thường xảy ra, nên quá trình tuyển chọn đã được
thực hiện với sự cân nhắc sao cho những thành viên trong mỗi ủy ban đều có thể
hợp tác tốt với nhau. Rufus Lewis đồng ý giữ vai trò chủ nhiệm ủy ban Di Chuyển,
và Giám mục R.J. Glasco, người chủ trì cuộc họp vào buổi sáng, là chủ nhiệm ủy
ban Tài chính. Ban Điều hành đã được mở rộng để đại diện cho nhiều thành phần
trong cộng đồng người da đen.
Thành viên của ủy ban Chiến Lược được quyết định một vài ngày
sau đó. Ủy ban mới này gồm có mười hai người, cả nam và nữ, đã cho mọi người thấy
khả năng lãnh đạo quyết đoán từ những ngày đầu của cuộc biểu tình. Suy nghĩ
sáng suốt và sự dẫn dắt gan dạ của họ sẽ là một tác nhân vô cùng quan trọng để
vượt qua những khó khăn còn ở phía trước. Ngoài thành viên không thể thiếu là
E.D. Nixon và chiến lược gia pháp lý tài tình Fred Gray, ủy ban còn có Roy
Bennett, người đã chủ trì cuộc họp đầu tiên về tổ chức phản kháng và đã tiếp tục
ủng hộ tận tụy cho phong trào cho đến khi ông bị chuyển đến làm mục sư tại
California. H. H. Hubbard và A. W. Wilson, cả hai đều là mục sư Baptist đại diện
cho Hội Thánh người da đen lớn nhất tại Montgomery. Phong thái trang nghiêm của
Hubbard đem lại một cảm giác vững chãi cho mọi cuộc họp mà ông tham dự. Và đồng
nghiệp của ông là Wilson, đang giữ vị trí chủ chốt trong Hội nghị Baptist bang
Alabama, đóng góp tài năng của mình với vai trò là người tổ chức và quản trị
viên.
Bà Euretta Adair, vợ của một bác sĩ danh tiếng tại
Montgomery, là cựu giảng viên của Học viện Tuskegee. Bà có kiến thức phong phú
và lòng say mê công cuộc cải thiện xã hội. Jo. Robinson và J. E. Pierce là hai
vị đứng đầu trong giới hàn lâm lúc bấy giờ, cả hai đều là giáo sư tại Đại học
Tiểu bang Alabama. Họ chưa bao giờ vì sự yên ổn cuộc sống của bản thân mình mà
làm ngơ trước những vấn đề của người khác. Rufus Lewis, một doanh nhân, từ lâu
cũng rất quan tâm đến cuộc đấu tranh, với ý thức và tinh thần hợp tác cao để những
người da đen được trở thành công dân hạng nhất (Ở Mỹ đến giữa thập niên 60 công
dân Mỹ gốc Phi Châu vẫn bị xem là công dân hạng hai, không được hưởng một số
quyền lợi từ chính phủ như công dân hạng nhất, tức là người Mỹ có nguồn gốc
Anglo Saxon. Hiện tại chỉ công dân Mỹ sống ở nước ngoài được gọi là công dân hạng
hai). Ông đã trở thành Chủ nhiệm đầu tiên của ủy ban Di chuyển, với ý thức và
tinh thần hợp tác cao. Nhiều tháng sau đó, khi hoạt động của Hiệp hội Cải cách
Montgomery mở rộng đến các lĩnh vực như bầu cử, ông đảm nhận vị trí Chủ tịch ủy
ban Ghi Danh và Bầu Cử, trách nhiệm mà ông vẫn còn đảm nhiệm đến nay.
W. J. Powell và S. S. Seay, giống như Bennett, cũng là mục sư
của Nhà thờ A. M. E. Zion. Powell có đầu óc tỉnh táo và sự điềm tĩnh khi ủy ban
Chiến Lược phải đối mặt với nhiều vấn đề trong những ngày sóng gió. S. S. Seay
là một trong các giáo sĩ hiếm hoi, từ những năm trước khi cuộc phản kháng nổ
ra, đã lên tiếng chỉ trích vô vàn bất công đổ ập lên đầu người da đen, và khuyến
khích giáo dân biết quý trọng hơn giá trị của chính họ. Là một người truyền đạo
năng nổ, thi thoảng những bài phát biểu của ông tại các buổi họp mặt quần chúng
hàng tuần đã nâng cao tinh thần của tất cả thính chúng.
Thành viên cuối cùng của ủy ban chiến Lược là một gương mặt vốn
đã quen thuộc trong hàng ngũ tiên phong của lực lượng phản kháng. Ralph
Abernathy, một trong số ít những mục sư da đen đã có thời gian dài tham gia các
hoạt động dân sự trước đó. Mặc dù tuổi đời lúc bấy giờ chỉ mới hai mươi chín,
nhưng những cống hiến của anh cho cuộc đấu tranh giành tự do là điều không cẩn
bàn cãi. Với dáng người thấp, chắc khỏe và nét mặt trầm tư, anh nhìn già dặn
hơn tuổi thật của mình, nhưng trên khuôn mặt lại luôn thấp thoáng một nụ cười hồn
nhiên. Cử chỉ khoan thai và cách ăn nói từ tốn của Ralph dễ làm người khác hiểu
lầm về tuổi tác của anh. Anh là một người làm việc không ngừng nghỉ, suy nghĩ
thấu đáo và có nhiều ý tưởng độc đáo. Với vai trò là diễn giả, anh thuyết giảng
sinh động và rất có sức thuyết phục, anh thường có thể khuyến khích mọi người
hành động tích cực nhờ óc hài hước thiên phú. Trong các buổi họp mặt quần
chúng, mỗi khi không khí trở nên trầm lắng, Ralph Abernathy lại truyền vào đám
đông một luồng sinh khí mới và lòng hăng hái. Mọi người yêu mến và kính trọng
anh như một biểu tượng của lòng can đảm và sức mạnh.
Ngay từ giai đoạn đầu tiên của cuộc phản kháng, Ralph
Abernathy đã là cộng sự gần gũi và là người bạn đáng tin cậy nhất của tôi.
Chúng tôi cùng nhau cầu nguyện và cùng đưa ra những quyết định quan trọng. Nhiều
lúc phong thái nhanh nhẹn và dí dỏm của anh đã làm giảm bớt không khí căng thẳng.
Mỗi khi đi vắng, tôi thường giao cho anh quyền quyết định những việc quan trọng
của tổ chức, và thấy rất yên tâm. Sau khi Bennett rời khỏi Montgomery, Ralph đã
trở thành đệ nhất Phó Chủ tịch (FVP) của Hiệp hội Cải cách Montgomery đầy năng
lực và phẩm cách trong vị trí đó cho đến nay.
Đây là những người đã sát cánh cùng tôi ngay từ giai đoạn đầu
của phong trào. Theo thời gian, có thêm nhiều người mới gia nhập. Trong số đó
có một người được chiêu mộ vào Ban Điều hành khá sớm, đó là mục sư Robert
Graetz. Tôi gặp ông lần đầu tại Hội đồng Quan Hệ Quần chúng. Vị mục sư da trắng
này với vẻ ngoài trẻ trung tại Nhà thờ Chúa Ba Ngôi Lutheran của người da đen
là một sự nhắc nhở kiên định cho chúng tôi trong những tháng ngày đầy thử thách
rằng vẫn có nhiều người da trắng cũng như người da đen đang thực hiện lời dạy
“yêu thương láng giềng như chính mình” của Cơ Đốc Giáo trong đời sống của họ.
Hai cộng sự thân thiết khác được bổ sung vào Ban Điều hành sau đó có Clarence
W. Lee, dáng người cao, vẻ ngoài nổi bật, làm dịch vụ mai táng. Với khả năng
kinh doanh giỏi, ông đóng một vai trò rất đắc lực. Và Moses w. Jones, một bác
sĩ danh tiếng, người sau đó trở thành Phó Chủ tịch thứ hai của Hiệp hội Cải
cách Montgomery.
Chúng tôi họp vào bất cứ lúc nào, mỗi khi có trường hợp đột
xuất khẩn cấp nào đó. Sẽ không có gì lạ nếu người ta bắt gặp vài người trong
chúng tôi cùng bàn bạc công việc tại nhà riêng vào 2 giờ 30 sáng. Trong khi những
người vợ vừa pha cà phê cho chúng tôi, vừa ngồi tán gẫu với nhau, chúng tôi đưa
ra kế hoạch và thống nhất về các chính sách. Nguyên tắc làm việc của Nghị viện
không cần thiết đối với nhóm làm việc nhỏ này, mọi người tự động chấp nhận theo
quy tắc đa số thắng thiểu số.
Vào giai đoạn đầu của cuộc phản kháng, vấn đề di chuyển được
chúng tôi dành nhiều sự quan tâm nhất. Nhân lực và sự sáng tạo để giải quyết vấn
đề này là một trong những phần thú vị nhất của câu chuyện về Montgomery. Trong
những ngày đầu tiên, chúng tôi phải trông cậy vào các công ty taxi người da đen
đã đồng ý chuyên chở mọi người với giá mười xu, bằng giá vé xe buýt. Ngoại trừ
một vài ôtô tư nhân đã tình nguyện tham gia, những chiếc taxi này là phương tiện
di chuyển duy nhất. Nhưng trong buổi “gặp mặt đàm phán” đầu tiên giữa chúng tôi
và ủy ban Thành phố vào thứ Năm, ngày 8 tháng 12, ủy viên cảnh sát Sellers đã đề
cập thoáng qua về đạo luật quy định giá cước taxi tối thiểu. Tôi nhận ra được ẩn
ý rằng rất có thể ủy viên cảnh sát Sellers sẽ dùng điều này để ngăn các taxi hỗ
trợ cho cuộc biểu tình.
Đúng lúc đó tôi nhớ trước đây một người bạn tốt của tôi, mục
sư Theodore Jemison, đã từng dẫn dắt một cuộc tẩy chay xe buýt tại Baton Rouge,
Louisiana. Tôi biết Jemison và các cộng sự của anh đã tổ chức được những nhóm
đi chung xe hiệu quả. Tôi đã gọi điện sang mãi bên anh để nhờ góp ý cho việc tạo
một nhóm tương tự như vậy tại Montgomery. Đúng như tôi mong đợi, anh đã truyền
lại tỉ mỉ những kinh nghiệm vô giá của mình tại Baton Rouge. Tôi thuật lại lời
của Sellers và lời khuyên của Jemison cho ủy ban Di Chuyển và đề nghị mọi người
ngay lập tức bắt đầu chuẩn bị những nhóm xe đưa rước để tránh tình trạng rối loạn
khi taxi không thể tiếp tục cung cấp dịch vụ cho chúng tôi.
May mắn thay, một cuộc họp mặt quần chúng được tổ chức vào
ngay tối hôm đó. Tại đây tôi yêu cầu những người sẵn sàng chia sẻ xe cho biết
tên, địa chỉ, số điện thoại và thời gian mà họ có thể lái xe, trước khi ra về.
Số người hưởng ứng đông bất ngờ. Có hơn một trăm năm mươi phiếu xác nhận tình
nguyện tham gia. Trong số đó những người không đi làm tình nguyện lái xe đưa
đón cả ngày, những người đi làm tình nguyện lái xe một vài giờ trước và sau giờ
làm việc. Còn các mục sư hầu như ai cũng đồng ý lái xe bất kể lúc nào có nhu cầu.
Vào trưa ngày Thứ Sáu, đúng như tôi dự đoán, viên cảnh sát
trưởng ra chỉ thị cho tất cả các công ty taxi phải tuân thủ luật quy định cước
taxi tối thiểu là bốn mươi lăm xu. Nếu họ không tuân theo thì sẽ bị xem là vi
phạm pháp luật. Điều này đã chấm dứt dịch vụ taxi giá rẻ.
Phản ứng của chúng tôi là tức tốc liên lạc với những tinh
nguyện viên, và họ đã đáp ứng ngay lập tức. Lúc đầu họ chạy rảo quanh để kiếm
hành khách trên các tuyến đường của Montgomery không theo một sự sắp xếp nào cả.
Đến thứ Bảy, các mục sư quyết định sẽ kêu gọi thêm người tinh nguyện trong buổi
thuyết giảng ngày hôm sau. Một lần nữa, chúng tôi lại được số đông hưởng ứng. Với
sự bổ sung thêm, số lượng xe ô tô tăng vọt lên đến khoảng ba trăm chiếc.
Bây giờ công việc mới thật sự bắt đầu - đó là làm thế nào thiết
lập được một hệ thống làm việc cho hơn ba trăm chiếc xe này, để thay thế lộ
trình lộn xộn của chúng trong thành phố. Những ngày sau đó, ủy ban Di Chuyển đã
làm việc suốt đêm, cố gắng thiết lập một hệ thống tương đối hiệu quả. Rất nhiều
đề nghị của Jemison đã được áp dụng. Cuối cùng, họ quyết định lập ra các trạm
“đưa đón khách”, những địa điểm mà hành khách sẽ tập trung để đi đến chỗ làm và
trở về lại nhà. Thời gian đưa đón khách buổi sáng từ 6:00 đến 10:00, buổi chiều
từ 3:00 đến 7:00.
Việc khó khăn tiếp theo là chọn địa điểm sao cho những trạm
này sẽ được bổ trí toàn Thành phố. Đa số chúng tôi đều thấy việc chọn địa điểm
cho trạm đón khách tương đối dễ dàng, bởi vì chúng sẽ được đặt trong các khu vực
của người da đen trong Thành phố. Việc chọn địa điểm cho trạm trả khách lại làm
chúng tôi bối rối. Vấn đề ở đây là một lượng lớn những người đi xe buýt làm việc
cho những người chủ da trắng, do đó mà trạm trả khách phải nằm trong khu vực của
người da trắng, nơi mà chúng tôi có rất ít thông tin, nếu không muốn nói là mù
tịt. May thay, chúng tôi có hai nhân viên bưu điện ở trong ủy ban. Họ biết rõ
Thành phố này như lòng bàn tay. Với sự hỗ trợ của họ và một tấm bản đồ Thành phố,
chúng tôi bắt đầu làm việc với những cơ sở mới.
Vào thời điểm này, vai trò của R. J. Glasco và Chủ nhiệm
Rufus Lewis trong ủy ban Di Chuyển rất quan trọng. Hai người đã làm việc cần mẫn
để lập ra kế hoạch với sự hỗ trợ của cả ủy ban. Đến thứ Ba, ngày 13 tháng 12, hệ
thống trạm dừng đưa đón được thiết lập xong. Cả nghìn tờ rơi in từ máy in
rô-ne-o danh sách gồm bốn mươi tám trạm đón khách và bốn mươi hai trạm trả
khách được phân phát trong cộng đồng người da đen. Phần lớn những trạm đón
khách được đặt tại các nhà thờ của người da đen. Những nhà thờ này hợp tác giúp
mở cửa sớm mỗi sáng để những hành khách đến chờ xe có thể vào trong ngồi, và
nhiều nơi còn là chỗ sưởi ấm vào những ngày trời giá lạnh. Mỗi một chiếc xe sẽ
chịu trách nhiệm một trạm đón khách và một trạm trả khách. Số lượng xe của mỗi
trạm được quyết định dựa trên số lượng hành khách đi xe. Cho đến lúc này trạm
được sử dụng nhiều nhất là một bãi đỗ xe của người chủ da đen đặt tại khu vực
trung tâm của Montgomery. Nó là một trạm vừa đón khách vừa trả khách.
Chỉ trong vài ngày, hệ thống này đã hoạt động tốt một cách
đáng kinh ngạc. Lực lượng da trắng đối kháng đã quá ấn tượng về việc tổ chức
nhanh chóng như một phép mầu này, đến mức họ phải công nhận trong một cuộc họp
Hội nghị Công Dân Da Trắng rằng hệ thống xe này di chuyển với "sự chính
xác như quân đội”. Hiệp hội Cải cách Montgomery đã giải quyết được vấn đề di
chuyển chỉ trong vài đêm, trong khi một công ty xe buýt đã phải vật lộn với nó
trong nhiều năm.
Mặc cho sự thành công này, tinh thần đấu tranh đã ngấm sâu và
trở thành một phần cuộc sống của người dân đến mức đôi khi họ chọn đi bộ trong
khi vẫn còn chỗ trên xe. Hành động đi bộ, đối với nhiều người, đã trở thành một
biểu tượng quan trọng. Có một lần một tài xế đã dừng xe bên cạnh một người phụ
nữ lớn tuổi đang lê bước một cách khó nhọc.
"Mời bà lên xe,” anh ta nói. "Bà không phải đi bộ
đâu”.
Bà vẫy tay bảo anh đi tiếp. "Tôi không đi cho mình”, bà
giải thích, "Tôi đi vì con cái và cháu chắt của tôi”. Và bà tiếp tục bước
về nhà.
Dù phần lớn những tài xế là các mục sư, hàng ngũ này còn được
tăng cường bởi những bà nội trợ, giáo viên, doanh nhân, và những người lao động
không có tay nghề cao. Có ít nhất ba người da trắng từ căn cứ không quân làm
tài xế trong những giờ nghỉ của họ. Một trong những tài xế tận tụy nhất là bà
A. W. West, người đã ngay từ đầu ủng hộ nhiệt tình ý tưởng biểu tình bằng cách
giúp chúng tôi mời những lãnh đạo quần chúng đến dự buổi họp tổ chức đầu tiên.
Mỗi buổi sáng, bà lái chiếc Cadillac lớn màu xanh lá đến trạm đón khách mà bà
phụ trách. Cứ thế trong nhiều giờ buổi sáng và sau buổi trưa, người ta thấy một
người nữ tài xế khác lạ, ưa nhìn với mái tóc bạc, lái xe rước mọi người đi làm
và đưa họ về nhà.
Một người tài xế tận tâm khác là Jo Ann Robinson. Với vẻ
ngoài xinh đẹp, nước da trắng, và tuổi đời còn trẻ, Jo Ann trông thánh thiện rất
tự nhiên. Cô không cần phải học tinh thần phản kháng phi bạo lực từ bất kỳ một
cuốn sách nào. Cô là một người luôn cố gắng không ngừng nghỉ, và hơn bất kỳ ai
khác, cô là người hoạt động sôi nổi nhất trong mọi hoạt động của cuộc biểu
tình. Cô tham gia vào các cuộc họp của cả Ban Điều hành và ủy ban Chiếc Lược.
Khi bản tin của Hiệp hội Cải cách Montgomery ra mắt một vài tháng sau khi cuộc
biểu tình bắt đầu, cô trở thành biên tập viên của bản tin này. Cô luôn có mặt
trong mỗi cuộc đàm phán. Và mặc dù lịch giảng dạy kín mít tại đại học Alabama
State, cô vẫn sắp xếp thời gian để lái xe vào buổi sáng và buổi trưa.
Đội ngũ tài xế của chúng tôi còn có thêm một nguồn nhân lực
không ai ngờ tới. Nhiều bà nội trợ da trắng, cho dù ưa hay không ưa chế độ phân
biệt đối xử, họ không thể thiếu những người hầu của mình. Thế là mỗi ngày các
bà lái xe đến khu vực của người da đen để đón những người hầu của mình và chở họ
về nhà vào buổi tối. Chắc chắn động cơ của họ có khi là sự ích kỷ, nhưng trong
nhiều trường hợp là từ tình cảm dành cho người hầu trung thành. Có một điều khá
hài hước là đôi khi giữa người chủ da trắng và người hầu da đen lại có sự đồng
cảm về cuộc đấu tranh xe buýt này, hoặc cũng có khi họ chấp nhận sự bất đồng.
Có một người phụ nữ lớn tuổi giúp việc nhà, nhiều con cháu họ hàng ở Montgomery
xem như người mẹ già thông thái, đã được ngưòi chủ giàu có da trắng hỏi: “Cuộc
tẩy chay xe buýt này thật kinh khủng quá phải không?”, người phụ nữ lớn tuổi trả
lời: “Vâng thưa bà, nó thật sự kinh khủng. Và tôi chỉ nói với mấy đứa nhỏ rằng
những việc như thế này là vấn đề của người da trắng và chúng ta chỉ việc tránh
xa mấy chiếc xe buýt cho đến khi họ giải quyết ổn thỏa hết toàn bộ việc này.
Thời gian qua đi, hệ thống xe đưa rước tiếp tục mở rộng. B.
J. Simms là giáo sư đại học và là mục sư của một nhà thờ Baptist tại Tuskegee,
tiếp nhận vị trí Chủ nhiệm ủy ban. Ông đã bổ sung thêm sáng kiến của mình vào
công trình của người tiền nhiệm, Rufus Lewis. Chẳng bao lâu số thành viên của
Văn phòng phụ trách di chuyển đã tăng lên sáu người. Hơn hai mươi lăm người được
tuyển dụng làm tài xế toàn thời gian, làm việc sáu ngày một tuần. Tại phần lớn
các trạm xe, đều có các điều phối viên để bảo đảm mọi thứ vận hành trơn tru và
phân phối hành khách theo lộ trình của họ. Mục sư J. H. Cherry là Trưởng Điều
phối viên tại bãi đỗ xe gần trung tâm Thành phố đã cho thấy vai trò vô cùng
quan trọng của mình. Richard Harris, dược sĩ người da đen, là một tài sản vô
giá của hệ thống di chuyển. Anh đặt văn phòng ngay trong tiệm thuốc của mình và
điều phối các xe qua điện thoại suốt từ tờ mờ sáng cho đến tối muộn. Khách đến
mua hàng luôn ngạc nhiên khi thấy một doanh nhân trẻ tuổi, năng động đứng bán
hàng với ống nghe điện thoại kề sát tai, điều động ô tô và kê các toa thuốc
cùng một lúc.
Cuối cùng, một đoàn bao gồm hơn mười lăm chiếc xe đưa đón còn
mới được bổ sung thêm. Mỗi một chiếc xe đời 1956 này là tài sản của một nhà thờ,
và tên của nhà thờ tài trợ sẽ được viết ở phía trước và bên hông mỗi chiếc xe.
Khi những “nhà thờ di động” này chuyên chở những hành khách vui vẻ của mình đi
làm, thỉnh thoảng người ta có thể nghe những bài Thánh ca vọng ra qua khung cửa
sổ. Những người đi bộ trên đường, vì không tìm được chỗ ngồi trên những chiếc
xe chật kín, vẫy tay chào khi “nhà thờ” của họ đi ngang qua, và tiếp tục bưởc
đi với một trái tim tươi mới.
Nhìn tổng thể, hoạt động của hệ thống xe đưa rước này cho thấy
sự tổ chức và phối hợp đạt hiệu quả tối đa. Phóng viên và khách viếng thăm trên
khắp đất nước nhìn nhận nó như một thành tựu hiếm có. Công việc này cũng tiêu tốn
tiền bạc. Trong thời gian đầu, Hiệp hội Cải cách Montgomery đã trang trải cho
hoạt động bằng sự đóng góp của người dân địa phương. Cứ sau mỗi tuần, dù giàu
hay nghèo, những người da đen tại Montgomery lại bỏ tiền vào thùng đóng góp
theo khả năng của họ, có khi chỉ là mười xu hay hai mươi lăm xu. Nhưng khi nhóm
xe đưa rước phát triển và thêm những khoản chi khác ngày một tăng thì chúng tôi
cần phải thêm một nguồn quỹ để tiếp tục hoạt động. Chi phí để duy trì Hiệp hội
đã tăng lên mức 5.000 đô la một tháng.
May mắn thay, thông tin về sự đấu tranh của chúng tôi đã được
báo chí đăng tải rộng khắp thế giới. Mặc dù chúng tôi chưa từng công khai kêu gọi
tài trợ, nhưng đã bắt đầu có sự đóng góp từ các nơi chảy tràn về, thậm chí từ
những nơi xa xôi như Tokyo. Các lãnh đạo của Hiệp hội được mời đến các thành phố
trên khắp đất nước để dự những buổi gây quỹ. Mỗi ngày đều có khách viếng thăm
mang theo quà tặng, và trong mỗi phong thư gửi đến đều kèm theo các tờ séc. Đôi
khi quà tặng có thể lên đến 5.000 đô la, đôi khi chỉ là tờ một đô la nhưng tổng
cộng tích lũy được gần 250.000 đô la.
Nơi đóng góp nhiều nhất đến từ những nhóm nhà thờ - nhất là
những nhà thờ của người da đen, và không chỉ riêng họ, rất nhiều hiệp hội mục
sư đã đóng góp rất rộng rãi. Có thể nói các nhà thờ trong hầu hết mọi thành phố
của Hoa Kỳ đã trợ giúp. Các nhóm lao động, nhóm dân sự và nhóm xã hội là những
nhà tài trợ trung kiên và nhiệt tình của chúng tôi. Và nhiều cộng đồng còn
thành lập tổ chức mới chỉ để hỗ trợ cho cuộc phản kháng. Gần như mọi chi nhánh
của NAACP (The National Association for the Advancement of Colored People - Hiệp
hội quốc gia vì sự phát triển của người da màu) đã hồi âm rất nhiệt tình thư ngỏ
của Roy Wilkins - Thư ký điều hành - kêu gọi họ hỗ trợ tinh thần và tài chính
cho phong trào. Và đây chỉ là một trong nhiều cách mà NAACP đã chia sẻ sức mạnh
của mình trong những ngày sắp tới.
Sự đóng góp cũng đến từ rất nhiều cá nhân, cả người da trắng
và người da đen, cả trong nước và ngoài nước. Thường những sự giúp đỡ này được
gửi kèm theo các bức thư, nó đã động viên tinh thần và phá tan cảm giác đơn độc
đã bao vây chúng tôi trong chính cộng đồng của mình. Có một tấm séc một trăm đô
la gửi từ Pennsylvania cùng với một mảnh giấy với nét chữ viết tay bay bướm của
một phụ nữ quý tộc lớn tuổi: “Những gì mọi người làm... thật tuyệt vời và chưa
từng có tiền lệ trong lịch sử của chúng ta. Thật vậy, đây thật sự là bước ngoặt
mở ra kỷ nguyên mới và nó sẽ có tầm ảnh hưởng rất lớn.... Chúa từng nói ‘Không
phải bằng vũ lực, hay quyền năng, mà là bởi tinh thần ta’, tôi nghĩ đây có lẽ
chính là châm ngôn của Hiệp hội Cải cách Montgomery các anh”.
Một cựu thẩm phán Liên bang cũng đã viết: “Các bạn đã chứng
minh sự lịch thiệp và lòng quả cảm cuối cùng sẽ vượt lên tất cả... Vấn đề cấp
bách có thể vẫn chưa được giải quyết triệt để, nhưng niềm tin và sự kiên định vững
vàng chắc chắn sẽ mang lại thắng lợi. Những người bắt bớ đến thời điểm này chắc
hẳn đã tự hiểu ra rằng mình đang đấu một trận đấu tàn độc và thất bại là không
thể tránh khỏi. Đất nước này kính chào các bạn và cầu chúc cho gánh nặng sẽ sớm
được trút bỏ và chiến thắng sẽ đến với các bạn.”
Những lời động viên được gửi đến từ Singapore thì nói rằng,
“những gì mà các bạn đang làm đã tạo nguồn cảm hứng thực sự cho chúng tôi ở nhiều
nơi trên thế giới, nơi mà sự đấu tranh giữa dân chủ và cộng sản đang vô cùng khốc
liệt”. Có đoàn thủy thủ đã gửi đến một bức điện tín: “Chúng tôi sẽ cầu nguyện
cho các bạn và cùng đồng hành trong cuộc đấu tranh vì công lý”. Còn người phụ nữ
Thụy Sĩ, có “những người bạn và người chồng không hiểu”, đã gửi cho chúng tôi số
tiền mà bà dành dụm được. Đây là một trong những khoản tiền đóng góp cá nhân lớn
nhất mà chúng tôi nhận được. Bà viết: “Bởi vì tôi không biết giúp đỡ mọi người
như thế nào cho thiết thực (xin hãy tin, tôi thực sự không biết) nhưng tôi tha
thiết mong muốn làm được một điều gì đó, nên tôi gửi đến các bạn 500 đô la
này... Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu các bạn nhận nó, bởi vì nếu không thì tôi còn
biết làm gì khác hơn?”
Thật sự phải nói rằng phong trào Montgomery đã được kết nối với
thế giới với những phản hồi tích cực. Mặc dù những lá thư này đã đem đến cho
chúng tôi rất nhiều sự động viên cần thiết, nhưng chúng cũng gợi đến nỗi bất lực
dai dẳng trong tôi. Hiệp hội Cải cách Montgomery vẫn còn thiếu thiết bị văn
phòng cùng những tiện nghi và nhân lực. Thiếu thư ký nên phần lớn những lá thư
đầu tiên đều không được hồi âm. Ngay cả những đóng góp tài chính cũng không được
ghi chép thường xuyên. Càng suy nghĩ nhiều về sự bất lực của mình trong việc giải
quyết vấn đề này, tôi càng trở nên phiền não.
Sự bất lực càng tăng lên khi mà nhiều tuần sau khi cuộc phản
kháng bắt đầu, mọi người đã gọi điện cho tôi mọi lúc bất kể ngày đêm. Điện thoại
đổ chuông từ 5 giờ sáng và hiếm khi nào dừng trước nửa đêm. Đôi khi đó là cuộc
gọi của một người đã từng đi xe buýt yêu cầu tôi sắp xếp để cô ấy có thể đi làm
và trở về nhà vào một giờ nào đó. Hoặc có khi là cuộc gọi của một tài xế than
phiền về những hành khách thiếu hợp tác, hay một hành khách than phiền về một
tài xế khó tính. Đôi khi xe của một tài xế bị chết máy, hoặc một người hầu bị
người chủ của mình đe dọa cho nghỉ việc nếu cứ tiếp tục từ chối đi xe buýt. Và
có lúc lại là một người chỉ muốn biết đâu là trạm trả khách gần chỗ họ nhất. Thỉnh
thoảng có người gọi để báo một tài xế nào đó đòi thu phí đi xe của hành khách
và điều này cần phải chấm dứt, nếu không sẽ nguy hại cho tính pháp lý của toàn
bộ hệ thống này.
Chúng tôi nhận ra tầm quan trọng của một văn phòng với đội
ngũ nhân viên có khả năng đối phó với những vấn đề như thế này. Ban đầu chúng
tôi dự định chỉ cần những thư ký tình nguyện. Nhưng như vậy không đủ. Thế là
chúng tôi tuyển dụng một thư ký toàn thời gian để lo các công việc thường ngày
của Hiệp hội, và thiết lập một văn phòng chuyên lo về di chuyển với một thư ký
nữa để trực tiếp giải quyết các vấn đề liên can. Thời gian trôi qua, khối lượng
công việc thư tín trở nên quá nhiều và công việc di chuyển trở nên quá phức tạp
đến mức chúng tôi buộc phải tuyển thêm mười nhân viên văn phòng. Vì thêm nhân
viên và các vấn đề quản lý khác, Ban Điều hành đã chỉ định cho tôi một trợ lý,
mục sư R. J. Glasco. Tất cả những việc này - tuyển thư ký văn phòng, thiết lập
văn phòng di động, tuyển một trợ lý điều hành - đã giảm bớt cho tôi gánh nặng gần
như ngoài sức chịu đựng, và giúp tôi lấy lại tinh thần.
Nhưng cứ lo việc di chuyển cho mọi người nên một địa điểm cố
định để làm trụ sở cho Hiệp hội Cải cách Montgomery vẫn chưa tìm ra được. Việc
này khó hơn chúng tôi nghĩ, văn phòng đã buộc phải dời đi không ít hơn bốn lần
trước khi tìm thấy được một nơi tương đối thích hợp.
Trụ sở đầu tiên đặt tại Trung tâm Baptist Da Đen Alabama. Tại
đây chúng tôi được sử dụng hai phòng lớn và thêm một phòng họp dành cho các cuộc
họp của Ban Điều hành. Cả địa điểm và cơ sở tiện nghi đều đáp ứng được nhu cầu
của chúng tôi. Tuy nhiên, ngay khi chúng tôi vừa ổn định mọi thứ tại đây, những
quan chức da trắng của Hiệp hội Baptist Montgomery - là tổ chức hỗ trợ tài
chính lớn nhất cho hoạt động của Trung tâm - đã mời người đại diện của Trung
tâm đến một cuộc họp và đề nghị rằng “vì ích lợi của Trung tâm” và “vì ích lợi
của cộng đồng” trụ sở của Hiệp hội Cải cách Montgomery nên dời đi nơi khác. Mặc
dù chưa được nghe tuyên bố rõ ràng, nhưng chúng tôi có thể ngầm hiểu một lời đe
dọa rằng sự hỗ trợ tài chính sẽ bị chấm dứt nếu yêu cầu đó không được đáp ứng
ngay lập tức.
Nhận thấy có vẻ như chúng tôi sắp “vô gia cư”, Rufus Lewis đề
nghị Hiệp hội sử dụng câu lạc bộ của ông ấy - Câu lạc bộ Công Dân. Ông dành cho
chúng tôi một phòng lớn, vốn thường được dùng cho các bữa yến tiệc, và một
phòng nhỏ cho ủy ban Di Chuyển. Nhưng sau khi chúng tôi dọn về Câu lạc bộ Công
Dân được khoảng vài tuần, ông Lewis nghe được từ một nguồn đáng tin cậy rằng nếu
Hiệp hội còn tiếp tục ở lại đây, giấy phép của ông sẽ bị thu hồi vì lý do Câu lạc
bộ đã bị sử dụng như một tòa nhà văn phòng. Trong tình thế khẩn cấp này Nhà thờ
Baptist Đệ Nhất đã đề nghị cho chúng tôi mượn một văn phòng hạn hẹp để tạm hoạt
động.
Cuối cùng, chúng tôi biết được tòa nhà mới của Liên đoàn Thợ
hồ đang có mấy phòng trống thích hợp cho mục đích của chúng tôi. Tại đây chúng
tôi sẽ không bị cộng đồng người da trắng buộc phải dời đi, bởi vì phần lớn các
thành viên và toàn bộ nhân viên của Liên đoàn sở hữu tòa nhà này là người da
đen. Và sau khi đã suy xét như vậy, chúng tôi quyết định thuê nơi này.
Vào lúc này những nhân viên văn phòng đã mệt lừ vì phải di
chuyển tới lui khắp thành phố. Trong quá trình di chuyển liên tục này một số lá
thư quan trọng suýt nữa bị thất lạc và những tài liệu quan trọng bị lẫn lộn.
Nhưng ít ra giờ đây chúng tôi đã có một văn phòng có khả năng hoạt động lâu
dài. Lần đầu tiên chúng tôi có đủ không gian làm việc với một chút yên tĩnh và
sự an tâm.
Điều quan trọng nhất cho việc duy trì bất kỳ một phong trào
nào là những người sáng lập nó phải luôn gắn bó với nhau. Để làm được điều đó
thì cần nhiều thứ hơn là chỉ có một mục đích chung: nó cần có một triết lý để
chinh phục và giữ mọi người cùng đồng lòng với nhau; nó phụ thuộc vào việc tạo
các kênh giao tiếp cởi mở giữa mọi người và người lãnh đạo. Sự kiện Montgomery
đã có tất cả những yếu tố này.
Từ giai đoạn đầu tiên, phong trào đã được dẫn dắt dựa trên một
triết lý cơ bản. Nguyên tắc được coi là kim chỉ nam nhiều người biết đến vốn dĩ
là phản kháng phi bạo lực, bất hợp tác, và bất tuân dân sự. Nhưng trong những
ngày đầu tiên của cuộc phản kháng không có bất kỳ tên gọi nào kể trên được nhắc
đến, cụm từ mà nhiều người nghe đến nhất là “Tình Yêu Thiên Chúa”. Đó là Bài giảng
Trên núi, chứ không phải là lý thuyết về bất tuân dân sự, đã khơi nguồn cảm hứng
cho những người da đen ở Montgomery hoạt động xã hội mang lại nhiều lợi ích.
chính Chúa Jesus từ làng Nazareth đã thôi thúc người da đen biểu tình với vũ
khí sáng tạo xuất phát từ tình yêu thương.
Tuy nhiên, theo thời gian, Mahatma Gandhi đã trở thành nguồn
cảm hứng, bắt đầu gây ảnh hưởng lên chúng tôi. Tôi đã sớm nhận ra giáo lý Thiên
Chúa về tình yêu thương áp dụng trong phương pháp phi bạo lực của Gandhi là một
trong những vũ khí hữu hiệu nhất mà người da đen có thể sử dụng trong công cuộc
đấu tranh cho tự do của mình. Khoảng một tuần sau khi cuộc biểu tình bắt đầu, một
người phụ nữ da trắng, thấu hiểu và đồng cảm với nỗ lực của người da đen, đã viết
một lá thư cho biên tập viên của tờ Montgomery Advertiser, so sánh cuộc
phản kháng xe buýt với phong trào Gandhi tại Ấn Độ. Đó là cô Juliette Morgan,
đa cảm và mỏng manh, đã không thể chịu đựng được sự từ bỏ và chỉ trích của cộng
đồng người da trắng. Nhưng trước khi cô tự vẫn vào mùa hè năm 1957, từ rất lâu
rồi cái tên Mahatma Gandhi đã trở nên phổ biến tại Montgomery. Những người trước
đây chưa từng nghe về vị Thánh Da Nâu nhỏ người của Ấn Độ, giờ đây đã nhắc đến
ông với cảm giác quen thuộc. Phản kháng phi bạo lực đã trở thành phương pháp của
phong trào, và tư tưởng dẫn dắt là tình yêu thương. Nói cách khác, Thiên chúa
trang bị cho chúng tôi tinh thần và động lực, còn Gandhi cung cấp cho chúng tôi
phương pháp.
Triết lý này đã được lan truyền chủ yếu qua các cuộc họp mặt
quần chúng được tổ chức tại các nhà thờ người da đen trong Thành phố. Trong nhiều
tháng đầu tiên, các cuộc họp diễn ra hai lần một tuần, vào các ngày thứ Hai và
thứ Năm. Đến mùa thu năm 1956 đã giảm xuống còn một lần một tuần, và được duy
trì cho đến thời điểm này. Vào giai đoạn khởi đầu của cuộc phản kháng, những cuộc
họp mặt hai lần một tuần này là kênh thông tin không thể thiếu được khi mà
Montgomery không hề có một trạm radio của người da đen hay một tờ báo được nhiều
người da đen theo dõi.
Những cuộc họp mặt này xoay vòng hết nhà thờ này sang nhà thờ
khác. Các diễn giả thuộc nhiều giáo phái, do đó không thể có sự so đo giữa các
giáo phái. Một trong những niềm tự hào của phong trào Montgomery là phái Tẩy Lễ
(Baptist), Giám Lý (Methodists), Luther (Lutherans), Tin Lành Trưởng Lão
(Presbyterians), Tân Giáo (Episcopalians) và các giáo phái khác đã vượt qua được
sự phân biệt mà ngồi lại với nhau. Mặc dù không có bất kỳ linh mục Công giáo
nào tích cực tham gia cuộc phản kháng, nhưng rất nhiều giáo dân Công giáo đã
góp sức vào đó. Tất cả đều chung tay trong sự gắn kết của tình yêu Thiên Chúa.
Kết quả là những cuộc họp mặt quần chúng diễn ra vào các tối thứ Hai và thứ Năm
là một điều mà một mình Nhà thờ Cơ Đốc giáo không thể làm được vào các sáng
Chúa nhật.
Những cuộc họp này còn xóa bỏ được ranh giới giữa các tầng lớp.
Đa số những người có mặt đều thuộc tầng lớp lao động. Tuy nhiên luôn có một số
lượng đáng kể những người thuộc tầng lớp trí thức đến tham dự. Những bác sĩ,
giáo viên và luật sư ngồi hoặc đứng bên cạnh những người giúp việc và người lao
động phổ thông. Những tiến sĩ và những người chẳng có một chữ "sĩ"
nào được gắn kết với nhau trên một hành trình chung. Những người được gọi là
các “ông lớn” trong cộng đồng da đen, những người có xe hơi và chưa từng phải
đi xe buýt đã tiếp xúc với những người hầu và người lao động trước đây phải đi
xe buýt hàng ngày. Đàn ông và phụ nữ, những người đã từng có khoảng cách vì những
chuẩn mực sáo rỗng về đẳng cấp giờ đây đang hát Thánh ca và nguyện cầu cùng
nhau trong một cuộc đấu tranh chung vì tự do và nhân phẩm con người.
Cuộc họp mặt bắt đầu lúc 7 giờ, nhưng người ta thường có mặt
từ rất sớm để tìm chỗ ngồi. Sẽ không có gì lạ nếu người ta bắt gặp các nhà thờ
đã chứa đầy người vào lúc 5 giờ chiều. Một vài người đọc sách, báo trong lúc đợi,
những người khác làm thành nhóm cùng hát ca. Thông thường những bài Thánh ca
vang lên trước những buổi họp là những giai điệu phô, chồng lấp, tông trầm với
trường độ dài. Bất kỳ ai cũng khó có thể kiềm lòng trước những bài hát truyền
thống này, những bài hát gợi nhớ lại quá trình đau khổ dai dẳng của người da
đen.
Vào lúc cuộc họp bắt đầu, gần như không còn một chỗ trống, và
thường cả trăm người phải đứng tràn ra đường. Nhiều người đến muộn đã tính trước
bằng cách đem theo những chiếc ghế xếp, và nhiều người khác quyết định ra về vì
họ không thể tìm được chỗ trống. Ban đầu chúng tôi đã cố gắng giải quyết vấn đề
này bằng cách tổ chức ít nhất năm cuộc họp mặt liên tục tại những khu khác nhau
của Thành phố, mỗi cuộc họp đều có chung chủ đề và cách thức. Trong nhiều tuần
liền tôi quyết tâm tham dự hết cả năm cuộc họp, nhưng đây là một công việc vô
cùng vất vả. Hơn nữa, mọi người bắt đầu bày tỏ mong muốn được họp mặt cùng
nhau, thế là không lâu sau chúng tôi trở về với việc tổ chức một buổi họp quần
chúng lớn.
Những cuộc họp này diễn ra theo một trình tự đơn giản: hát, cầu
nguyện, đọc Kinh Thánh, lời khai mạc của Chủ tịch, tổng kết, báo cáo của các ủy
ban, và một “bài lên dây cót tinh thần”. Phần sau cùng là phần chính của buổi tối,
thường được thực hiện bởi mục sư, mỗi buổi họp một vị khác nhau. Phần “lên dây
cót tinh thần” là cái tên có vẻ không được nghiêm túc cho lắm vào những ngày đầu
của cuộc phản kháng, khi mà mục tiêu sơ khởi là “cổ vũ tinh thần” và khơi dậy
nhiệt huyết để chuẩn bị cho những khó khăn phía trước. Hết tối này đến tối
khác, mọi người được nhắc nhở phải yêu thương thay vì thù ghét, và được kêu gọi
phải chuẩn bị nếm trải bạo lực nếu cần thiết, nhưng không bao giờ được chủ động
gây ra bạo lực. Mỗi diễn giả đều được yêu cầu phải đặt phi bạo lực làm trọng
tâm trong bài nói chuyện của mình.
Hiển nhiên có khi không thể tránh khỏi một diễn giả nào đó đi
quá giới hạn. Có một mục sư, sau khi trút giận lên người da trắng bằng những cụm
từ rõ ràng là phản tôn giáo, kết thúc bài nói bằng việc gọi những người cực
đoan của cộng đồng da trắng là “những người tâm thần dơ bẩn”. Sau buổi họp mặt,
chúng tôi đã thông báo cho vị mục sư này một cách nhẹ nhàng nhưng kiên quyết rằng
những cụm từ xúc phạm đó không được chấp nhận. Và cũng bất ngờ là những trường
hợp sử dụng ngôn từ phản cảm như vậy rất hiếm khi xảy ra.
Trong phần nhận xét hàng tuần với tư cách là Chủ tịch, tôi nhấn
mạnh việc sử dụng bạo lực trong cuộc đấu tranh của chúng ta là một việc không
thiết thực và trái đạo lý. Đáp trả thù hận bằng nhiều thù hận hơn sẽ chẳng làm
được gì ngoài gia tăng năng lượng xấu trong vũ trụ. Thù hận sinh ra thù hận; bạo
lực đem lại bạo lực; tàn bạo sẽ nhận lại sự tàn bạo lớn hơn nữa. Chúng ta cần
phải đối đầu với sức mạnh của hận thù bằng sức mạnh của tình yêu; chúng ta phải
đương đầu với sức mạnh vũ lực bằng sức mạnh tinh thần. Chúng ta đừng bao giờ đặt
mục tiêu là đánh bại hay hạ nhục người da trắng, mà là giành được tình bằng hữu
cùng sự thấu hiểu và cảm thông của họ.
Ngay từ lúc đầu, mọi người đã đón nhận triết lý này bằng lòng
nhiệt tình đáng ngạc nhiên. Cân nhắc hơn, có một vài người phải mất một thời
gian mới chấp nhận nó. Đôi khi một vài thành viên của Ban Điều hành nói riêng với
tôi rằng chúng tôi cần một biện pháp cứng rắn hơn. Họ cho rằng phi bạo lực là một
phương pháp yếu đuối và thỏa hiệp. Những người khác cảm thấy một chút bạo lực sẽ
thuyết phục người da trắng tin rằng người da đen đang nghiêm túc và họ không sợ
hãi. Một hôm, một thành viên tại nhà thờ của tôi đã tìm tôi và nghiêm túc để
nghị rằng việc “thủ tiêu” tám hoặc mười người da trắng sẽ đem lại lợi thế cho mọi
người. “Đây là loại thông điệp duy nhất mà những người da trắng có thể hiểu được”,
anh ta nói. “Nếu chúng ta không làm được điều này họ sẽ nghĩ rằng chúng ta đang
run sợ. chúng ta phải cho họ thấy rằng mình không còn sợ hãi nữa”. Ngoài ra,
anh ta còn nghĩ nếu một vài người da trắng bị sát hại thì Chính phủ Liên bang
chắc chắn sẽ can thiệp và điều này, anh ta quả quyết, sẽ đem lại ích lợi cho
chúng tôi.
Những người khác, dù không khuyến khích bạo lực, vẫn cảm thấy
họ chỉ có thể phi bạo lực khi cá nhân họ không bị tấn công. Họ nói rằng: “Nếu
không ai làm phiền tôi, tôi sẽ không làm phiền ai hết. Nếu không ai đánh tôi,
tôi sẽ không đánh ai hết. Nhưng nếu tôi bị đánh, tôi sẽ đánh trả”. Do đó họ đặt
ra một ranh giới đạo đức giữa bạo lực hung hãn và bạo lực phản kháng. Nhưng mặc
những bất đồng thực sự đó, đa số mọi người đều sẵn lòng thử nghiệm lý thuyết
này.
Chính tinh thần của những buổi họp mặt đã cho thấy con người
thật của mọi người. Những bài hát, những lời cầu nguyện, những lời đọc Kinh
Thánh, và những bài phát biểu nhìn chung đều mang màu sắc phi bạo lực. Một đoạn
trong Kinh Thánh được mọi người ưa thích là “Giờ đây sống trong niềm tin, hy vọng
và tình yêu, trong đó điều vĩ đại nhất là tình yêu”. Một đoạn khác cũng được
yêu thích là cuộc đối thoại nổi tiếng giữa Chúa Jesus và Thánh Phêrô về lòng
khoan dung: “Và rồi Phêrô đến bên Người và hỏi “Thưa Ngài, sao huynh đệ con làm
tổn hại con mà con phải tha thứ cho hắn? Đến bảy lần?”. Chúa Jesus trả lời “Ta
không dạy các con đến bảy lần mà là gấp bảy mươi lần bảy như thế. Đối với những
người đến dự cuộc họp mặt quần chúng, những lời dạy từ Kinh Thánh này không phải
là những ý tưởng trừu tượng vọng lại từ những thế kỷ trước xa xôi, mà chúng thực
sự có ý nghĩa đối với bản thân mỗi người ngay trong hiện tại.
Trong suốt hành trình, thật đáng ngạc nhiên là sự cay nghiệt
rất ít khi xuất hiện, ngay cả khi những diễn giả nhắc tới sự xúc phạm gần đây
nhất của người da trắng hay hành động khủng bố của họ. Và ngay cả sau đó, khi
Hiệp hội phải đối mặt với cơn khủng hoảng nội bộ nghiêm trọng duy nhất trong
quá trình hoạt động, mọi người đã cho thấy rằng họ có thể giải quyết bất đồng với
một sự kiềm chế ôn hòa, tránh xa không chỉ các hành động bạo lực mà ngay cả
trong suy nghĩ.
Trên thực tế, những người da đen Montgomery sẵn sàng học hỏi
một biện pháp mới để giải quyết khủng hoảng trong mối quan hệ chủng tộc. Có thể
phần lớn họ thật sự vẫn không tin vào phi bạo lực như một triết lý sống, nhưng
vì niềm tin dành cho các thủ lĩnh của mình và vì phi bạo lực được đưa đến với họ
đơn giản như một cách thực hành giáo lý Cơ Đốc giáo, họ sẵn sàng thực hiện nó
như một phương pháp. Nhưng phải nhìn nhận rằng, phi bạo lực theo nghĩa thực chất
của nó không phải là một chiến lược mà người ta sử dụng chỉ bởi nó phù hợp vào
thời điểm đó. Sau tất cả, phi bạo lực thực sự là một cách mà con người hành xử
vì tinh thần đạo đức cao cả đã được khẳng định. Nhưng ngay cả như vậy đi nữa
thì việc sẵn lòng sử dụng phương pháp phi bạo lực đã là một sự tiến bộ. Bởi vì
những ai đã đi đến bước này rồi thì sau đó sẽ có xu hướng tiếp nhận phi bạo lực
như một lẽ sống.
Chương VI
Hành hương đến phi bạo lực
Có một câu hỏi thường xuyên được đặt ra trong quá trình nhận
thức của tôi về Phi bạo lực. Để hiểu được vấn đề này, phải quay trở về tuổi thơ
ở độ tuổi mười mấy của tôi ở Atlanta. Từ bé cho đến lớn, tôi đã ghê tởm sự phân
biệt kỳ thị đi cùng với sự đàn áp và các hành động man rợ. Tôi từng đi ngang
qua những nơi người da đen bị hành hình dã man, và đã từng thấy vó ngựa đêm của
nhóm người Ku Klux Klan. Tôi đã chính mắt thấy sự thô bạo của cảnh sát, và đã
trông thấy cảnh người da đen bị xử bất công bi thảm nhất ở tòa án. Tất cả những
điều này đã ảnh hưởng đến tính cách của tôi khi tôi trưởng thành. Nó nghiêm trọng
đến mức đã khiến tôi gần như rất oán giận tất cả người da trắng.
Tôi cũng hiểu ra được sự bất công kỳ thị chủng tộc và sự bất
công về kinh tế là cặp bài trùng như bóng với hình. Mặc dù tôi xuất thân từ gia
đình có kinh tế ổn định và có cuộc sống khá thoải mái, nhưng những hình ảnh khốn
khó của đám bạn chơi chung cùng với sự bần cùng bi thảm của những người sống
xung quanh chưa bao giờ ngừng ám ảnh tôi. Năm 18 và 19 tuổi, tôi đi làm vào mùa
hè, điều đó ngược với ý muốn của cha tôi. Ông không hề muốn tôi và em trai tôi
làm việc trong môi trường của người da trắng có nhiều áp bức. Đó là xưởng có cả
người da trắng và da đen làm việc. Ở đây tôi thấy tận mắt sự đối xử bất công;
người nghèo hèn da trắng cũng bị lợi dụng nhiều như người da đen. Qua những trải
nghiệm sớm sủa ấy, tôi đã ý thức sâu sắc về các loại bất công trong xã hội mình
đang sống.
Vì thế, vào năm 1944, khi trở thành sinh viên năm thứ nhất của
trường Đại học Morehouse ở Atlanta tôi đã rất quan tâm đến sự bất công về chủng
tộc và kinh tế. Thời sinh viên ở Morehouse, khi đọc “Bài luận về Bất tuân dân sự”
của Thoreau, tôi đã bị lôi cuốn bởi ý nghĩ bất hợp tác với một chế độ xấu xa.
Tôi đã rất xúc động và đọc đi đọc lại mấy lượt bài luận ấy. Đó là lần đầu tiên
tôi được đọc luận thuyết đầy trí tuệ về phản kháng phi bạo lực.
Mãi cho đến năm 1948, khi vào trường dòng thần học Crozer,
tôi mới thực sự bắt đầu hành trình tìm kiếm cách loại bỏ những cái xấu, cái ác
trong xã hội. Mặc dù niềm đam mê của tôi là thần học và triết học, tôi đã dành
rất nhiều thời gian để đọc những tác phẩm của các triết gia xã hội nổi tiếng.
Tôi đã sớm được đọc “Đạo Cơ Đốc và khủng hoảng xã hội” của Walter
Rauschenbusch. Tác phẩm này đã tạo một dấu ấn khó phai nhạt trong tôi, nó trở
thành nền tảng tư duy (theo thần học) khi mối quan tâm xã hội của tôi ngày một
lớn dần qua những trải nghiệm trong quá khứ. Dĩ nhiên có những điểm khác biệt
giữa tôi và Rauschenbusch. Tôi cảm thấy ông quá tin vào “Thuyết tiến bộ tất yếu” (Cult
ofinevitableprogress) của thế kỷ 19 dẫn đến việc ông quá lạc quan về bản
chất tự nhiên của con người. Ông còn gần như muốn định nghĩa một cách nguy hại
về Thế giới của Thượng Đế là một hệ thống xã hội, kinh tế đặc biệt - một khuynh
hướng mà Giáo hội không bao giờ chấp nhận. Dù có những thiếu sót này, nhưng
Rauschenbusch cũng đã có đóng góp cho Giáo Hội Cơ Đốc bằng cách nhấn mạnh Phúc
Âm (là những thông điệp của Thượng đế) giúp giải quyết vấn để con người, không
chỉ tâm hồn mà cả thể xác, không chỉ là nói về hạnh phúc tinh thần, mà cả hạnh
phúc vật chất. Điều đã thuyết phục tôi khi đọc Rauschenbusch là nếu tôn giáo
nào tự nhận chỉ quan tâm đến linh hồn, không quan tâm đến tình trạng kinh tế xã
hội đã làm tổn thương tâm hồn thì đó là một tôn giáo suy tàn chỉ chờ ngày mai
táng hiểu theo nghĩa bóng. Điều đó được diễn giải như thế này: “Một tôn giáo mà
chỉ lo cho con người hoặc về mặt tâm linh hoặc chỉ về vật chất thì tôn giáo ấy
đã tự kết liễu mình”.
Sau khi đọc những gì Rauschenbusch viết, tôi chuyển sang
nghiên cứu chuyên sâu lý thuyết về xã hội và đạo đức của những triết gia danh
tiếng, từ Plato và Aristotle cho đến Rousseau, Hobbes, Bentham, Mill và Locke.
Tất cả những bậc thầy này đã nuôi dưỡng tư duy của tôi từ khi nó còn sơ khai. Mặc
dù trong chia sẻ của mỗi tác giả tôi đều có điểm băn khoăn, cuối cùng tôi vẫn học
được rất nhiều từ những nghiên cứu của họ.
Trong thời gian nghỉ Giáng Sinh năm 1949, tôi quyết định dành
thời gian rảnh đọc Karl Marx để hiểu lý do vì sao Chủ nghĩa Cộng sản lại thu
hút nhiều người đến vậy. Lần đầu tiên tôi phân tích tỉ mỉ cuốn Tư bản và Tuyên
ngôn Cộng sản. Và cũng đọc thêm vài Công trình lý giải tư duy của Marx và
Lenin. Trong quá trình đọc những tác phẩm Cộng sản đó tôi đã rút ra được một số
kết luận và vẫn bảo lưu nó cho đến ngày hôm nay.
[...]
Trong thời gian ở Crozer, lần đầu tiên tôi được nghe Giáo sư
A. J. Muste giảng về Chủ nghĩa Hòa bình. Bài nói của Giáo sư Muste đã làm tôi cảm
động vô cùng, nhưng lại không thể thuyết phục tôi về tính thực tiễn của chủ
nghĩa ấy của ông. Như phần lớn các sinh viên khác ở Crozer, tôi cảm nhận rằng
chiến tranh thật sự không phải là một điều tích cực hay chân lý tuyệt đối,
nhưng nó có thể sử dụng như một phương cách dù là tiêu cực, để ngăn cản sự lan
truyền và phát triển của những thế lực gian ác. Chiến tranh, vốn là một điều tồi
tệ, có thể vẫn đáng chọn hơn là đầu hàng trước một hệ thống toàn trị như Đức quốc
xã, Phát xít hay Cộng sản.
Trong giai đoạn này, tôi gần như đã mất niềm tin vào sức mạnh
của tình yêu thương trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Có lẽ niềm tin của
tôi vào tình thương đã bị tạm thời lung lay bởi triết lý của Nietzsche. Lúc bấy
giờ tôi đã đọc được một vài phần của quyển Phả hệ Đạo đức (The Genealogy
of Momls) và toàn bộ quyển Ý chí Quyền lực (The Will to Power). Sự tôn
vinh quyền lực của Nietzsche - ỏng đưa ra lý thuyết cho rằng mọi loài đều khát
khao quyền lực - là hệ quả của thái độ xem nhẹ đạo lý thông thường của ông ta.
Ông tấn công toàn bộ hệ thống đạo lý của Kito giáo Do Thái - bao gồm sự sùng đạo
và khiêm nhường, niềm tin về thế giới khác và thái độ đối với những đau khổ - rằng
sùng đạo là bênh vực sự yếu đuối, khiêm nhường là vờ đức hạnh trong sự bất đắc
dĩ và bất lực. Ông ta trông đợi sự phát triển của một giống người thượng đẳng,
mà sẽ vượt lên trên nhân loại ngày nay như cách con người đã từng vượt lên trên
loài khỉ.
Nhưng rồi vào một trưa Chúa nhật tôi đến Philadelphia để nghe
bài thuyết giảng của Giáo sư Mordecai Johnson, Viện trưởng Trường Đại học
Howard. Ông tới để thuyết giảng tại Trung tâm phục hồi tâm lý Fellowship House.
Giáo sư Johnson vừa trở về từ chuyến viếng thăm Ấn Độ, và điều khiến tôi thích
thú là ông đã nói về cuộc đời và những bài thuyết giảng của Mahatma Gandhi.
Thông điệp của ông ấy sâu sắc và rúng động đến mức ngay sau khi ra về tôi đã
mua cả sáu cuốn sách về cuộc đời và sự nghiệp của Gandhi.
Như phần lớn mọi người, tôi đã từng nghe đến Gandhi, nhưng
tôi chưa bao giờ nghiên cứu nghiêm túc về ông ấy. Trong quá trình tìm hiểu, tôi
đã rất ấn tượng bởi chiến dịch phản kháng phi bạo lực của ông ấy. Tôi đặc biệt
cảm động trước Cuộc Tuần hành Muối, [2] và vô số lần tuyệt thực của
ông. Toàn bộ tư tưởng về “Satyagraha” ( Satya vừa mang nghĩa chân lý
vừa là tình thương, và agraha là sức mạnh. “Satyagraha”, theo đó có
nghĩa là sức mạnh chân lý hay sức mạnh tình thương) đối với tôi có tầm quan trọng
vô cùng to lớn. Càng nghiên cứu sâu về triết lý của Gandhi, sự hồ nghi của tôi
về sức mạnh của tình thương dần tan biến, và lần đầu tiên trong đời tôi thấy được
sức ảnh hưởng của nó trong lĩnh vực cải cách xã hội.
Trước khi nghiên cứu về Gandhi, tôi đã hời hợt kết luận giáo
lý của Chúa Jesus chỉ hiệu quả trong các mối quan hệ cá nhân. Triết lý “vả má
bên này, đưa luôn má bên kia” và “yêu thương kẻ thù của mình” theo như tôi cảm
nhận, chỉ có giá trị khi mà các cá nhân gặp mâu thuẫn với nhau. Khi các nhóm chủng
tộc và quốc gia xảy ra mâu thuẫn thì một giải pháp thực tế hơn mới là điều ta cần.
Nhưng sau khi đọc về Gandhi, tôi nhận ra mình đã sai lầm đến nhường nào.
Gandhi có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử đã nâng giáo lý
về tình thương của Chúa Jesus vượt lên trên sự tương tác đơn thuần giữa những
cá nhân thành một sức mạnh xã hội đắc lực và hiệu quả trên diện rộng. Đối với
Gandhi, tình thương là một công cụ mạnh mẽ để đưa đến cải cách xã hội và thay đổi
thể chế. Chính trong sự đề cao tình thương và bất bạo động này của Gandhi, tôi
phát hiện ra đây là phương pháp cải cách xã hội mà tôi đã tìm kiếm trong bao
nhiêu tháng trời.
Tôi mãn nguyện về tri thức và đạo lý mà tôi tìm được trong
triết lý phản kháng phi bạo lực của Gandhi, trong khi không nhận được những điều
đó từ chủ nghĩa thực dụng của Bentham và Mill, từ phương pháp cách mạng của
Marx và Lenin, từ lý thuyết khế ước xã hội của Hobbes, từ sự lạc quan “trở về tự
nhiên” của Rousseau, và từ triết lý giống người thượng đẳng của Nietzsche. Cuối
cùng tôi đã nhận ra rằng đây là phương pháp hợp lẽ phải và khả thi duy nhất
dành cho những người bị áp bức trong quá trình đấu tranh cho tự do.
Hành trình tri thức đến phi bạo lực của tôi không dừng ở đó.
Trong năm cuối tại trường Thần học, tôi bắt đầu đọc các tác phẩm của Reinhold
Niebuhr. Những yếu tố tiên đoán và thực tế trong văn phong mãnh liệt của
Niebuhr và những suy nghĩ thâm uyên của ông đã hấp dẫn tôi, và tôi trở nên quá
say mê những đạo lý xã hội của ông ấy đến mức gần như rơi vào tình trạng tiếp
nhận mà không hề phân tích tất cả những gì ông viết.
Trong khoảng thời gian này, tôi đọc những bình luận của
Niebuhr về quan điểm chống chiến tranh. Niebuhr đã từng là một thành viên đứng
trong hàng ngũ của trường phái Hòa bình. Trong nhiều năm, ông là Chủ tịch toàn
quốc của Hiệp hội Hòa giải. Sự chia tay của ông với trường phái Hòa bình xảy ra
vào đầu thập niên ba mươi, và những lời chỉ trích của ông được tuyên bố đầy đủ
đầu tiên trong cuốn Con người Đạo đức và Xã hội Vô Đạo đức (MoralMan and
Immoral Society). Trong đó ông lập luận rằng thực chất không có sự mâu thuẫn
nào về vấn đề đạo đức giữa phản kháng bạo lực và phản kháng phi bạo lực. Ông khẳng
định, chẳng qua chỉ khác nhau là ở hệ quả xã hội mà hai phương pháp để lại,
nhưng sự khác biệt này thuộc về mức độ chứ không phải về bản chất. Sau đó
Niebuhr bắt đầu nhấn mạnh sự vô trách nhiệm của việc dựa dẫm vào phản kháng phi
bạo lực, khi mà không có bất kỳ cơ sở nào để tin nó sẽ thành công trong việc
ngãn chặn sự lan truyền của nền độc tài toàn trị. Ông lập luận rằng phản kháng
phi bạo lực chỉ thành công khi đối phương còn có lương tâm đạo đức ở một mức độ
nhất định nào đó, ví dụ như trường hợp cuộc đấu tranh chống lại người Anh của
Gandhi. Và lập luận cuối cùng bác bỏ Chủ nghĩa Hòa bình của Niebuhr chủ yếu dựa
trên học thuyết về con người. Ông cho rằng trường phái Hòa bình đã thất bại
trong việc thực hiện đúng giáo lý cải cách về sự Công chính [3] theo
đức tin, thay vào đó là một trường phái theo chủ nghĩa hoàn hảo tin rằng an sủng
thiêng liêng thật sự có thể đưa con người thoát ra khỏi những mâu thuẫn đẫy lỗi
lầm trong quá khứ và đem họ lên thiên đường xa rời những tội lỗi của thế gian”.
Thoạt đầu, những chỉ trích của Niebuhr về Chủ nghĩa Hòa bình
làm cho tôi bối rối. Nhưng càng đọc nhiều hơn, tôi lại phát hiện ngày càng nhiều
lỗ hổng trong quan điểm của ông ấy. Ví dụ như rất nhiều phát biểu của ông ấy
cho thấy ông ấy nhìn nhận Chủ nghĩa Hòa bình như một loại phản kháng thụ động đối
với cái ác và biểu hiện một niềm tin dại khờ vào sức mạnh của tình thương.
Nhưng đó là một sự bóp méo nghiêm trọng. Kết quả nghiên cứu về Gandhi đã cho
tôi nhận thức thấy Chủ nghĩa Hòa bình đích thực không phải là không kháng cự lại
cái ác, mà là phản kháng lại nó một cách phi bạo lực. Giữa hai ý tưởng này có một
sự khác biệt vô cùng lớn. Gandhi phản đối cái ác với một nghị lực và sức mạnh
chẳng kém gì những nhà đầu tranh bạo động, nhưng ông phản kháng bằng tình
thương thay vì bằng lòng thù hận. Chủ nghĩa Hòa bình đích thực không phải là một
sự quy phục mù quáng dưới quyền lực của cái ác, như Niebuhr tranh luận.
Nói đúng hơn nó là một cách đối mặt đầy can đảm với quyền lực
của cái ác bằng tình thương, với niềm tin rằng chấp nhận làm người gánh chịu bạo
lực thay vì là kẻ gây ra bạo lực sẽ tốt hơn. Bởi vì gây ra bạo lực là chỉ làm
tăng thêm sự tồn tại của bạo lực và sự đau đớn trong vũ trụ, trong khi đó bằng
lòng thương yêu ta có thể đánh động sự hổ thẹn của đối phương, và từ đó mang lại
một sự chuyển hóa và thay đổi nhận thức.
Mặc dù thực tế tôi cảm nhận là triết lý của Niebuhr còn nhiều
thiếu sót, nhưng có rất nhiều lúc ông đã gây ảnh hưởng tích cực đến tư duy của
tôi. Niebuhr đã có đóng góp lớn cho thuyết Thần học đương đại qua việc bác bỏ sự
lạc quan hão - điểm đặc trưng của một phần lớn những người theo Chủ nghĩa Tự do
Tin Lành - mà không lạc lối vào con đường chống đối chủ nghĩa lý luận như nhà
thần học lục địa Karl Barth, hay trào lưu bán chính thống của những nhà thần học
biện chứng khác. Ngoài ra, Niebuhr có những hiểu biết rất sâu sắc về bản chất
con người, đặc biệt là về chế độ của các quốc gia và hành vi của các nhóm xã hội.
Ông nhận thức rất rõ về tính phức tạp đằng sau động cơ của con người và mối
liên hệ giữa luân lý và quyền lực. Lý thuyết thần học của ông nhắc đi nhắc lại
thực trạng các cấp độ tội ác của con người. Những yếu tố này trong tư duy của
Niebuhr đã giúp tôi nhận ra ảo tưởng về bản chất con người do sự lạc quan thiếu
suy xét và tác hại của một chủ nghĩa duy tâm sai lầm. Tôi vẫn tin vào lòng hướng
thiện của con người, nhưng Niebuhr đã cho tôi thấy được cả dã tâm ác độc tiềm ẩn
nữa. Và hơn thế, Niebuhr đã giúp tôi nhận ra sự phức tạp trong hoạt động xã hội
của con người và tình trạng đáng báo động của cái ác có tổ chức.
Tôi có cảm giác rằng nhiều người theo trường phái Hòa bình
không ý thức được điều này. Quá nhiều người trong số họ đã có sự lạc quan vô
căn cứ về con người và vô hình trung nghiêng về xu hướng tự cao tự mãn. Chính
vì không chấp nhận những thái độ này, do ảnh hưởng của Niebuhr, khiến tôi chưa
bao giờ tham gia một tổ chức Chủ nghĩa Hòa bình nào mặc dù tôi đánh giá rất cao
trường phái Hòa bình. Sau khi đọc Niebuhr, tôi đã cố tìm đến một chủ nghĩa hòa
bình khả thi hơn. Nói cách khác, tôi nhận ra quan điểm đấu tranh ôn hòa không
phải là hoàn toàn thánh thiện mà là hành xử ít tàn nhẫn hơn trong bối cảnh đấu
tranh. Cho đến nay tôi vẫn nghĩ rằng những người theo trường phái Hòa bình sẽ
có sức thuyết phục hơn nhiều nếu họ không tuyên bố rằng luân lý đạo đức không
ràng buộc họ, như những người Công giáo không theo trường phái Hòa bình.
Giai đoạn tiếp theo của chuyến hành hương bằng lý trí đến phi
bạo lực diễn ra trong lúc tôi đang học tiến sĩ tại trường đại học Boston. Tại
đây tôi đã có cơ hội trao đổi với rất nhiều người ủng hộ phi bạo lực, cả sinh
viên lẫn diễn giả được mời đến trường. Trường Đại học Thần học Boston, dưới sự ảnh
hưởng của Dean Walter Muelder và Giáo sư Allen Knight Chalmers, dành nhiều thiện
cảm đối với Chủ nghĩa Hòa bình. Cả Dean Muelder và Giáo sứ Chalmers đều có một
niềm đam mê với công lý xã hội, bắt nguồn không phải từ một niềm lạc quan do sự
nông cạn mà là từ niềm tin vững chắc vào khả năng của con người khi họ dấn thân
trở thành người cộng sự của Chúa. Chính thời gian học ở trường Đại học Boston
tôi nhận ra Niebuhr đã cường điệu hóa những điều bại hoại xấu xa trong bản chất
của con người. Cái nhìn bi quan của ông về con người đã không được điều tiết bằng
niềm lạc quan về bản chất thánh thiện trong họ. Ông đã quá say mê mổ xẻ căn bệnh
tội lỗi của con người đến mức bỏ qua khả năng chữa lành của lòng nhân ái.
Trong thời gian ở Đại học Boston, tôi đã học về triết học và
thần học với Edgar S. Brightman và L. Harold DeWolf. Cả hai đã kích thích tư
duy của tôi rất nhiều. Dưới sự hướng dẫn của hai người thầy này tôi được học về
triết học Chủ nghĩa Nhân Cách - lý thuyết cho rằng ý nghĩa của thực thể tối cao
được tìm thấy trong nhân cách con người. Chủ nghĩa Nhân Cách Duy Tâm (trong
tương quan với Thượng đế) này cho đến ngày nay vẫn giữ vai trò nền tảng trong
triết lý tư duy của tôi. Sự khẳng định trong chủ nghĩa Nhân Cách rằng chỉ có
nhân cách - hữu hạn và vô hạn - (hướng thiện và phát triển từ hữu hạn đến vô hạn)
mới là sự thật cuối cùng về con người, khiến hai niềm tin của tôi càng được củng
cố mạnh mẽ. Đó là, niềm tin về một đấng Thượng Đế mang hình hài con người - đã
được đặt trên cơ sở triết lý siêu nhiên; và niềm tin đối với chân giá trị của tất
cả nhân cách con người. (Nhân cách học trong thần giáo, Personalism - đặc biệt
là Công giáo - con người hướng thiện phát triển nhân cách đến cuối cùng là hợp
nhất với Thượng đế.)
Trong thời gian cuối đời của Giáo sư Brightman, tôi đẵ bắt đầu
công trình nghiên cứu triết lý của Hegel cùng với ông. Mặc dù khóa học chủ yếu
tập trung vào việc nghiên cứu tác phẩm trứ danh của Hegel, Hiện tượng học
Tâm trí (Phenomenology of Mind), tôi vẫn dành thời gian rảnh để đọc các
tác phẩm khác của ông như Triết học Lịch sử (Philosophy of History) và Triết
học về Quyền (Philosophy of Life). Có những điểm trong triết lý của Hegel
mà tôi rất không tán đồng. Ví dụ như Chủ nghĩa Duy Tâm Tuyệt Đối của ông ấy thật
sự vô lý bởi vì nó có xu hướng đánh đồng nhiều điều vào một thứ duy nhất. Nhưng
có những khía cạnh khác trong tư duy của ông ấy khiến tôi hứng thú. Luận điểm
chân lý toàn diện [4] của ông đưa tôi đến với một phương pháp lý luận
triết học mạch lạc. Những phân tích của ông về quá trình biện chứng, cho dù có
những hạn chế, đã giúp tôi thấy được rằng để có sự phát triển thì phải trải qua
thử thách.
Năm 1954, tôi hoàn tất chương trình tập huấn chính quy về triết
học xã hội thực chứng được quy kết từ nghiên cứu của nhiều nhóm trí thức khác
nhau. Một trong những nguyên lý chính của môn triết học này là sự khẳng định phản
kháng phi bạo lực là vũ khí mạnh mẽ nhất mà những người chịu áp bức có thể sử dụng
trong cuộc đấu tranh đòi công lý xã hội của họ. Tuy nhiên, tại thời điểm đó tôi
chỉ học để thu thập kiến thức và thấy thích quan điểm này, chứ tôi chưa đặt quyết
tâm để tổ chức nó thành một trường hợp gây được sức ảnh hưởng lên xã hội.
Khi đến Montgomery với vai trò là một mục sư, tôi không hề ngờ
đến việc mình sẽ bị cuốn vào một cuộc khủng hoảng, nơi mà phản kháng phi bạo lực
sẽ phát huy tác dụng. Tôi chưa từng khởi xướng hay đề nghị một cuộc phản kháng,
mà chỉ đơn giản là đáp lại mong muốn có một người đại diện của người dân. Khi
cuộc phản kháng bắt đầu, dù là ý thức hay vô thức, Bài giảng Trên núi của Chúa
đã trở về trong tâm trí tôi - với những lời dạy cao cả của Ngài về tình thương
- và phương pháp phản kháng phi bạo lực của Gandhi. Mỗi ngày qua đi, tôi càng
thấy rõ hơn sức mạnh của phi bạo lực. Được sống qua những trải nghiệm thực tế của
cuộc biểu tình, trong tôi phi bạo lực không chỉ là một phương pháp mà tôi tán
thành trên lý thuyết nữa, nó đã trở thành một lối sống mà tôi nguyện gắn bó. Rất
nhiều điều trước đó tôi không thể làm rõ trên lý thuyết khi bàn về phi bạo lực,
giờ đây đã được giải quyết trong hoạt động thực tế.
Bởi vi triết lý phi bạo lực đã đóng một vai trò vô cùng rõ rệt
trong Phong trào Montgomery. Một ít phân tích ngắn gọn về những khía cạnh cơ bản
của triết lý này có lẽ cũng rất bổ ích.
Đầu tiên, cần phải nhấn mạnh rằng phản kháng phi bạo lực
không phải là phương pháp dành cho những kẻ hèn nhát, bởi nó vẫn là sự kháng cự.
Nếu một ai đó sử dụng phương pháp này vì họ sợ hãi hay đơn thuần là họ thiếu
công cụ để thực hiện phản kháng bạo lực thì đó không phải là phi bạo lực thật sự.
Đây là lý do vì sao Gandhi vẫn thường nói, nếu sự hèn nhát là cách duy nhất để
không phải dùng đến bạo lực thì chọn cách chiến đấu vẫn hơn. Ông đưa ra phát biểu
này khi ông hiểu rõ là sẽ luôn có một cách khác mà không phải sử dụng bạo lực:
không một cá nhân hay một nhóm nào buộc phải quy phục cái ác, và họ cũng không
cần sử dụng vũ lực để chỉnh sửa những điều sai trái. Cách khác đó chính là con
đường của phản kháng phi bạo lực. Nói cho cùng đây là con đường của người mạnh
mẽ. Nó không phải là một phương pháp bị động, trì trệ. Cụm từ “phản kháng thụ động”
thường gây nhầm lẫn rằng đây là loại phương pháp “không làm gì cả”, qua đó người
phản kháng lặng lẽ và thụ động chấp nhận cái ác. Nhưng đây là một sự nhầm lẫn
trầm trọng. Mặc dù có thể nói người phản kháng phi bạo lực thụ động trong việc
thực hiện những hành động hung hãn chống lại đối phương của mình, nhưng suy
nghĩ và cảm xúc của họ luôn trong trạng thái chủ động, liên tục tìm cách thuyết
phục để đối phương nhận thấy mình phạm sai lầm. Phương pháp này thụ động về mặt
vật lý, nhưng cực kỳ chủ động về mặt tinh thần. Nó không phải là phản kháng phi
bạo lực thụ động với cái ác, mà là sự phản kháng phi bạo lực một cách chủ động
nhằm chống lại cái ác.
Tính chất cơ bản thứ hai làm nên sự đặc trưng của phi bạo lực
là nó không mong đợi để đánh bại hay hạ nhục đối phương, mà là tìm kiếm tình hữu
nghị và sự thấu hiểu từ họ. Những người phản kháng phi bạo lực sẽ phải thường
xuyên thể hiện sự chống đối của mình thông qua việc bất hợp tác và tẩy chay,
song vẫn ý thức rằng những hành động này không phải là mục tiêu cuối cùng,
chúng chỉ là những phương tiện để đánh thức sự hổ thẹn với lương tri của đối
phương. Mục tiêu cuối cùng chính là sự hối cải và hòa giải. Kết quả mà phi bạo
lực mang lại là sự ra đời của một cộng đồng giàu tình thương, trong khi kết quả
mà bạo lực mang lại là những bi kịch cay đắng!
Đặc tính thứ ba của phương pháp này là sự phản kháng nhắm vào
cái ác chứ không phải những con người gây ra việc ác. Cái ác mới chính là đối
thủ mà những người phản kháng phi bạo lực mong muốn đánh bại, chứ không phải những
người bị điều khiển bởi cái ác. Khi chống đối bất công chủng tộc thì người phản
kháng phi bạo lực thấy được nguyên nhân sâu xa hơn rằng mấu chốt không nằm ở vấn
đề chủng tộc. Như cách tôi hay nói với người dân tại Montgomery: “Tình trạng
căng thẳng đang tồn tại trong Thành phố này không phải là giữa người da trắng
và người da đen. Sự căng thẳng này thực ra là giữa công lý và bất công, giữa thế
lực ánh sáng và bóng tối. Nếu có giành được chiến thắng, đó là chiến thắng
không chỉ của năm mươi ngàn người da đen, mà còn là chiến thắng của công lý và
thế lực ánh sáng. Chúng ta quyết tâm đánh bại bất công chứ không phải người da
trắng, những ngưòi đang đối xử bất công với chúng ta”.
Điểm thứ tư để phân biệt phản kháng phi bạo lực chính là thái
độ sẵn sàng chấp nhận đau khổ mà không trả thù, sẵn sàng nhận đòn đánh của đối
phương mà không đánh trả lại. “Máu có thể sẽ đổ thành sông trước khi chúng ta đạt
được tự do, nhưng đó phải là máu của chính chúng ta”, Gandhi đã nói với đồng
bào của ông như vậy. Người phản kháng phi bạo lực phải sẵn sàng chấp nhận bạo lực
nếu cần thiết, nhưng không bao giờ được gây ra nó. Họ cũng không tìm cách để né
tránh tù đày. Nếu cần, họ sẽ bước vào tù “như một chú rể bước vào phòng tân
hôn”.
Người ta có thể sẽ hỏi rằng: “Những người theo đường lối phản
kháng phi bạo lực có lý lẽ nào biện minh cho thử thách mà họ đang kêu gọi người
khác tham gia, cho việc áp dụng phổ biến đường lối chính trị theo triết lý cổ
xưa là đưa má còn lại cho đối thủ?” Câu trả lời sẽ được tìm thấy khi ta nhận ra
sức mạnh sửa đổi người khác trong việc chấp nhận chịu sự tổn thương vô cớ. Người
phản kháng phi bạo lực hiểu được việc chấp nhận tổn thương có sức mạnh giáo dục
và thay đổi to lớn đến mức nào. “Những điều quan trọng cốt lõi đối với con người
không thể được đảm bảo chỉ bằng lý lẽ, mà còn phải trả giá bằng đau thương của
họ”, Gandhi đã từng nói như thế. Ông còn nói: “Chấp nhận tổn thương có một sức
mạnh vô hạn so với quan điểm mạnh được yếu thua trong việc chinh phục đối
phương và thuyết phục họ bằng lý lẽ, bằng không họ sẽ không bao giờ lắng nghe”.
Điểm thứ năm cần bàn đến về phản kháng phi bạo lực là nó
không chỉ tránh bạo lực thể xác ở bên ngoài mà còn cả bạo lực tinh thần ở bên
trong. Một người phản kháng phi bạo lực không chỉ từ chối việc bắn đối thủ của
mình mà còn từ chối cả việc căm ghét hắn. Trong sâu thẳm mỗi người phản kháng
phi bạo lực là lòng yêu thương. Người phản kháng phi bạo lực nghĩ rằng, trong
quá trình đấu tranh cho nhân phẩm, dù có chịu áp bức cũng không được để cho sự
cay nghiệt chi phối hay tham gia vào những chiến dịch thù hận. Phản kháng bằng
những cách đó sẽ chỉ làm tăng thêm sự tồn tại của thù hận trong vũ trụ này. Một
lúc nào đó trên hành trình này, phải có một ai đó có đủ lý lẽ và đạo đức để cắt
đứt sợi dây xiềng xích thù hận này. Việc này chỉ có thể làm được khi ta thúc đẩy
cho nguyên lý tình yêu thương trở thành tâm điểm trong đời sống của mình.
Ở đây khi nói đến tình yêu, chúng ta không nói đến cảm xúc
yêu đương hay yêu thích một ai đó. Thật là vô lý khi khuyến khích người nào đó
yêu kẻ đàn áp mình. Tình yêu trong bối cảnh này có nghĩa là sự thấu hiểu, là
thiện chí sửa đổi đối phương. Đây là lúc mà chúng ta phải dùng đến sự trợ giúp
của ngôn ngữ Hy Lạp. Có ba từ khác nhau để chỉ tình yêu trong kinh Tân Ước bằng
tiếng Hy Lạp. Đầu tiên là eros. Trong triết học Plato, eros có
nghĩa là sự khao khát của tâm hồn về một điều thiêng liêng. Ngày nay nó được hiểu
là tình yêu thơ mộng hay tình yêu lãng mạn. Thứ hai, philia có nghĩa
là sự cảm mến thân mật giữa những người bạn gần gũi. Philia chỉ loại
tình yêu có điều kiện được báo đáp, người ta yêu bởi vì người ta nhận được yêu
thương. Khi nói đến việc yêu thương những người đối kháng với chúng ta, chúng
ta không nói đến eros hay philia chúng ta nói đến loại tình
yêu mà tiếng Hy Lạp gọi là agape. Agape có nghĩa là sự thấu hiểu, thiện
chí cứu rỗi cho từng người. Nó là một tình yêu tuôn tràn, ngẫu hứng, không có động
cơ, không có lý do, sáng tạo và rất phong phú. Nó nảy sinh một cách tự nhiên mà
không phải do một năng lực hay đối tượng khách quan nào tác động. Nó là tình
yêu của Thượng đế hoạt động trong trái tim của nhân loại.
Agape là tình yêu không vụ lợi. Nó là tình yêu mà qua đó
mỗi cá nhân không tìm kiếm lợi ích cho riêng mình, mà là lợi ích cho láng giềng
của mình (I Cor. 10:24). Agape không phân biệt ai xứng đáng và không
xứng đáng, hay phân biệt bất kỳ tính cách nào của con người. Tình yêu ấy nảy mầm vì
lợi ích của đối tượng. Hoàn toàn phát xuất từ sự quan tâm đến người bên cạnh,
xem “ai cũng là láng giềng” khi gặp. Vì lẽ đó mà agape không phân biệt
giữa bạn và thù; cả hai đều là đối tượng để yêu. Nếu một ai đó yêu thương người
khác chỉ bởi sự tử tế của người đó thì họ yêu thương vì những ích lợi có được từ
việc kết bạn với người đó, chứ không phải vì ích lợi của chính người bạn mình.
Do đó, cách tốt nhất để thuyết phục một ai đó tin vào tình yêu thương không vụ
lợi là yêu thương ngay cả những người thù địch xung quanh, người mà ta sẽ không
nhận được gì khác ngoài sự thù ghét và bức hại từ họ.
Một điểm căn bản khác về agape đó là nó phát sinh từ nhu
cầu của người khác - nhu cầu được yêu thương thuộc về những gì tốt đẹp nhất
của nhân loại. Truyện ngụ ngôn người Samari giúp đỡ người Do Thái bị nạn trên
đường Jericho, ông ta là người “tốt” bởi vì đó là hành động thương yêu đáp ứng
đúng nhu cầu của con người. Tình yêu của Chúa luôn vĩnh cửu và không bỏ sót một
ai bởi vì nhân loại cần tình thương của Ngài. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng,
tình thương cứu chuộc đã đến khi ‘chúng ta vẫn còn là tội đồ” - đó chính là thời
điểm mà chúng ta cần tình yêu thương nhất. Vì nhân tính của người da trắng đã bị
méo mó nghiêm trọng bởi chính sách phân biệt, và tâm hồn của họ đầy sẹo bỏng, họ
cần tình thương của những người da đen. Người da đen cần phải yêu thương người
da trắng, bởi vì họ cần tình thương đó để trút bỏ sự căng thẳng, nỗi bất an và
nỗi lo sợ trong họ.
Agape không phải là thứ tình yêu yếu đuối và thụ động.
Nó chính là tình yêu thương thể hiện bằng hành động. Agape chính là
tình thương nhằm giữ gìn và xây dựng cộng đồng với lòng kiên định bảo vệ sự gắn
bó đoàn kết ngay cả khi có người muốn phá hoại nó. Agape là sự sẵn
lòng hy sinh vì lợi ích chung. Agape là sự sẵn sàng làm bất cứ việc
gì để hòa giải xã hội. Nó không chỉ dừng lại sau lần thử đầu tiên, mà sẵn sàng
cho một cơ hội thứ hai để khôi phục cộng đồng. Và luôn luôn sẵn lòng tha thứ,
không phải bảy lần, mà là bảy mươi bảy lần bảy để hòa giải mâu thuẫn. Cây thập
tự giá là hình ảnh bất diệt tượng trưng cho những gì Thượng đế (Thượng Đế làm
qua hình ảnh Chúa) sẵn sàng làm để chữa lành một xã hội vụn vỡ. Sự Phục sinh là
biểu tượng cho chiến thắng của Thượng Đế trước những thế lực muốn chống lại
tình đoàn kết. Chúa Thánh Thần chính là chất keo giữ cho sự đoàn kết luôn bền
chặt qua các chặng đường lịch sử. Người nào muốn chống lại sự đoàn kết thì cũng
là chống lại Đấng Sáng Tạo. Do đó, nếu tôi đáp trả thù hận bằng thù hận tôi sẽ
chẳng làm được gì khác ngoài việc khoét sâu thêm vết nứt trong một xã hội đổ
nát. Tôi chỉ có thể lấp đầy các khoảng trống này trong xã hội khi đáp lại sự
thù ghét bằng tình yêu thương. Nếu tôi dùng oán trả oán, tôi sẽ đánh mất nhân
tính, bởi vì Đấng Sáng tạo đã định sẵn nhân tính của tôi chỉ được hoàn thiện ở
trong những bối cảnh xã hội. Booker T. Washington đã nói đúng: “Đừng để ai hạ
thấp bạn bằng cách khiến bạn ghét họ.” Khi họ kéo bạn xuống thấp khiến bạn muốn
chống lại tình đoàn kết của nhân loại, bạn bị kéo trượt xuống đến mức coi thường
sự tạo hóa để rồi đánh mất nhân tính của mình.
Và trong phân tích cuối cùng, agape bao hàm ý nghĩa
nhận thức thực tế rằng tất cả sự sống đều tương quan mật thiết với nhau. Cả
nhân loại đang vận hành trong một quá trình đơn nhất, và tất cả mọi người đều
là anh em. Nếu tôi làm tổn thương người anh em của mình đến một mức độ nào đó,
bất kể người đó đang gây ra điều gì cho tôi, thì chính là tôi đang làm hại bản
thân mình. Ví dụ, người da trắng thường xuyên từ chối sự viện trợ giáo dục của
Liên bang để không bị buộc phải cho người da đen quyền được học tập, nhưng vì
nhân loại là một gia đình lớn cho nên họ không thể chối bỏ con cái người da đen
mà không gây hại cho chính con cái mình. Mặc cho mọi nỗ lực, cuối cùng họ vẫn bị
tổn thương. Tại sao lại như vậy? Bởi vì mọi con người là ruột thịt của nhau. Nếu
bạn làm tổn hại tôi, bạn cũng làm hại chính mình.
Tình yêu không vụ lợi, agape , là chất keo duy nhất
có thế hàn gắn xã hội rạn vỡ này lại. Khi tôi được phán bảo phải yêu thương,
tôi có nghĩa vụ phải khôi phục tình anh em, phải chống đối lại bất công, và phải
đáp ứng nhu cầu của những người anh em mình.
Đặc điểm Cơ bản thứ sáu, đó là phản kháng phi bạo lực dựa
trên niềm tin rằng vũ trụ đứng về phía công lý. Do đó, những người tin tưởng
vào phi bạo lực có niềm tin rất mãnh liệt vào tương lai. Niềm tin này chính là
một lý do nữa khiến cho người phản kháng phi bạo lực có thể chấp nhận đau khổ
mà không trả đũa. Bởi vì họ biết trong quá trình tranh đấu cho công lý, họ có sự
đồng hành của vũ trụ. Đúng là vẫn có những người ủng hộ tận tâm cho phi bạo lực
nhưng lại thấy khó thể tin có sự tồn tại của một bậc Thánh siêu phàm. Những người
này vẫn tin vào một loại thế lực kiến tạo để gìn giữ sự an lành cho vũ trụ. Cho
dù chúng ta muốn gọi đó là một quá trình vô thức, hay một thế lực siêu hình
Brahman (Đại ngã), hay một Đấng thần linh riêng nào đó với quyền năng tối thượng
và lòng bác ái vô bờ bến, trong vũ trụ này thật sự có một thế lực sáng thế đang
vận hành để mang những mảnh ghép rời rạc của thực tại về lại thành một thể thống
nhất hòa hợp.
Chương VII
Các phương pháp chống đối
Mặc dù cuộc biểu tình xe buýt đã thành công rất nhanh chóng,
ba quan chức đứng đầu Thành phố - kể cả Thị trưởng - và các giới chức của hãng
xe buýt nghĩ rằng nó sẽ xẹp xuống chỉ trong một vài ngày. Họ tin chắc rằng vào
ngày mưa đầu tiên, những người da đen sẽ phải trở lại đi xe buýt. Dựa vào dự kiến
đó nên họ không làm bất cứ điều gì để ứng phó nhằm khắc phục tình trạng này.
Song ngày mưa đầu tiên trôi qua, các xe buýt vẫn trống rỗng.
Lúc này, lãnh đạo Thành phố và các giới chức hãng xe buýt mới
tỏ ý muốn đàm phán. Chiều thứ Tư, ngày 7 tháng 12, Rev. Robert Hughes, Giám đốc
Điều hành của Hội Đồng Quan Hệ Nhân Sinh Alabama đã gọi điện nói rằng ông và
hai thành viên khác của Hội đồng gồm Thomas R Thraser là một trong những mục sư
da trắng của nhà thờ Episcopal đứng đầu Thành phố và Tiến sĩ H. Council
Trenholm là Hiệu trưởng Trường Đại học Alabama State - đã thuyết phục được các
lãnh đạo Thành phố đồng ý họp với lãnh đạo người da đen và các giới chức xe
buýt vào 11 giờ sáng hôm sau.
Tại một phiên họp đặc biệt của Ban Điều hành MIA, một phái
đoàn đàm phán được thành lập gồm mười hai người [5] và tôi được chọn
làm người phát ngôn. Mọi người thống nhất rằng chúng tôi sẽ đưa ra ba để xuất,
mà đã được thông qua trong cuộc họp quần chúng vào tối thứ Hai trước đó, tóm tắt
như sau: Doanh nghiệp xe buýt phải đối xử lịch sự với hành khách da đen; 2-
Hành khách phải được xếp chỗ ngồi dựa trên nguyên tắc ai tới trước được phục vụ
trước, người da đen sẽ ngồi từ phía sau xe trở lên phía trước còn người da trắng
sẽ ngồi từ phía trước xe trở về phía sau; 3 - Tài xế da đen làm thuê phải được
lái xe trên những tuyến đường có đông hành khách da đen. Mục đích của những đề
xuất này rõ ràng chỉ là một cách giải quyết tạm thời các vấn đề mà chúng tôi
đang đương đầu. Chúng tôi không nghĩ việc sắp xếp chỗ ngồi theo hướng ai đến
trước, phục vụ trước được chấp thuận, vì điều này tùy thuộc vào luật pháp có được
sửa đổi hay không.Tuy nhiên, chúng tôi tin chắc rằng trường hợp Rosa Parks, hiện
đang bị xử ở tòa án, sẽ là một nhân tố dẫn đến việc phải dẹp bỏ sự phân biệt chủng
tộc trên xe buýt, chúng tôi đến Tòa thị sảnh trước giờ họp khoảng mười lăm phút
và được dẫn đến phòng của ủy viên. Căn phòng có kích thước vừa phải, với bàn ủy
viên đặt ở cuối phòng và những chiếc ghế được kê đối diện, chúng tôi ngồi gần
phía trên, sau đó Thrasher, Hughes, và Trenholm cũng đến tham dự. Sự hiện diện
của vài phóng viên báo chí và đài truyền hình cho thấy mức quan trọng của cuộc
họp.
Đúng 11 giờ, ba ủy viên bao gồm Thị trưởng W. A. Gayle, ủy
viên Clyde Sellers, và ủy viên Frank A. Parks tới và ngồi vào bàn đối diện với
chúng tôi. Khi J. E. Bagley và Jack Crenshaw, đại diện Công ty xe buýt đến, họ
vào ngồi cùng bàn với các ủy viên ở gần đầu bàn. Vì vậy, cho thấy sự phân chia
các phe nhóm đã hình thành rõ ràng ngay từ trước khi cuộc họp bắt đầu.
Thị trưởng mời ông Thrasher tuyên bố bắt đầu cuộc họp.
Thrasher là một người đàn ông tận tụy với lý tưởng đoàn kết Cơ Đốc giáo. Ông đứng
lên trình bày ngắn gọn lý do tại sao Hội đồng Quan hệ Nhân Sinh đã yêu cầu mở
cuộc họp. Rồi phát biểu về niềm tin của ông đối với cả hai bên rằng tất cả sẽ
theo lý trí sáng suốt và không bị cảm xúc chi phối trong khi thảo luận.
Sau đó Thị trưởng quay sang phái đoàn người da đen và hỏi:
“Ai là người đại diện phát biểu?”. Khi thấy mọi ánh mắt đều nhìn về phía tôi,
Thị trưởng nói: “Được rồi, hãy lên đây và trình bày yêu cầu của các anh”. Trong
ánh sáng chói lóa của bóng đèn máy quay truyền hình, tôi chậm rãi tiến lên phía
trước và ngồi xuống ghế đối diện với Bagley và Crenshaw.
Tôi mở đầu bằng cách nói ngắn gọn lý do tại sao chúng tôi thấy
cần thiết phải “tẩy chay” xe buýt. Tôi nói rõ rằng việc bắt giữ bà Parks không
phải là nguyên nhân gây ra cuộc biểu tình, mà chỉ là yếu tố thúc đẩy. “Hành động
của chúng tôi”, tôi nói, “là phản ứng khi đã đến giới hạn không còn chịu đựng
được nữa bao nhiêu những bất công và sự sỉ nhục sau nhiều năm trời”. Tôi tiếp tục
dẫn chứng nhiều trường hợp bất lịch sự của tài xế xe buýt, và rất nhiều khi
hành khách da đen phải đứng mặc dù còn ghế trống. Tôi nhấn mạnh rằng người da
đen đã tỏ rõ sự nhẫn nhục, và đã cố gắng đàm phán trong các cuộc hội thảo vài lần
mà vẫn không đạt được kết quả.
Sau khi trình bày những điều chủ yếu, tôi đã đưa ra ba yêu cầu
và giải thích từng đề xuất một cách chi tiết. Ví dụ, tôi nói rõ rằng chúng tôi
yêu cầu một sự sắp xếp theo nguyên tắc ai đến trước được phục vụ trước; cùng với
việc người da đen lên xe từ phía sau và người da trắng lên từ phía trước, đây vốn
không phải là một điều gì hoàn toàn mới mẻ ở miền Nam. Các thành phố khác như
Nashville, Atlanta, và thậm chí là Mobile, Alabama - vẫn tuân theo quy định
này, và mỗi nơi đều buộc phải chấp hành nghiêm chỉnh sự phân biệt như ở
Montgomery. Đến yêu cầu “Tài xế phải đối xử lịch sự với hành khách”, tôi nói,
đây là điều tối thiểu mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có thể làm đối với khách
hàng của mình”. Và cuối cùng tôi đã chỉ ra rằng, khi người da đen đã đóng góp
nhiều tiền cho Công ty xe buýt thi đổi lại người da đen nên được làm việc trên
các tuyến đường có nhiều hành khách da đen, như vậy mới công bằng. Tôi nhắc họ
rằng “Công ty xe buýt đã thừa nhận 75% khách hàng quen thuộc của họ là người da
màu, điều đó đối với tôi có nghĩa là công ty biết kinh doanh sẽ thuê người từ
nhóm khách đối tượng đông nhất của họ”. Để kết thúc lời phát biểu, tôi khẳng định
với các ủy viên rằng, chúng tôi đã dự định hướng dẫn cuộc biểu tình với lòng tự
trọng và thận trọng nhất của mình, rằng mục đích của chúng tôi không phải là muốn
Công ty xe buýt phá sản, mà là đạt được công lý cho mình cũng như cho người da
trắng.
Khi tôi nói xong, Thị trưởng để cho mọi người thảo luận
chung. Một số thành viên phái đoàn người da đen tiếp tục cho ý kiến về ba đề xuất.
Sau đó, các ủy viên và luật sư của Công ty xe buýt bắt đầu nêu câu hỏi. Họ đề cập
đến tính hợp pháp của sự phân bổ chỗ ngồi mà chúng tôi đề xuất. Họ cho rằng người
da đen chúng tôi đang đòi hỏi một điều dường như vi phạm pháp luật. Chúng tôi
nhắc lại lập luận vừa rồi của mình rằng sự sắp xếp chỗ ngồi ai đến trước, phục
vụ trước hoàn toàn nằm trong khuôn khổ luật phân biệt, và nhiều thành phố miền
Nam đã làm như vậy.
Crenshaw, luật sư của Công ty xe buýt, đã nhanh chóng tỏ ra
là đối thủ cứng đầu nhất của chúng tôi. Ông đã kiên trì thuyết phục mọi người
là không có cách nào để chấp thuận đề xuất phân bổ chỗ ngồi mà không vi phạm
pháp lệnh Thành phố. Ở cương vị luật sư, Crenshaw càng nói ông càng thuyết phục
được các vị lãnh đạo Thành phố. Thị trưởng Gayle và ủy viên Sellers đã không
còn muốn khoan nhượng. Cuối cùng, tôi thấy cuộc họp không đi đến đâu, nên đề
nghị kết thúc. Ngay sau đó, Thị trưởng đã yêu cầu một vài thành viên của phái
đoàn người da đen ở lại với quan chức Công ty xe buýt để cố gắng điều đình với
nhau.
Sau khi những người khác đã ra về, bên bàn hội thảo còn lại
chúng tôi với Bagley, Crenshaw và hai ủy viên phụ tá - Sellers và Parks. Trong
phạm vi nhỏ hơn mà báo chí không còn ghi chép chi tiết, dường như mọi việc có vẻ
khả quan hơn. Sau khi chúng tôi trình bày lại yêu cầu về việc phân bổ chỗ ngồi
trên xe buýt, ủy viên Parks trầm giọng nói:
“Tôi không thấy có lý do gì để không chấp thuận để xuất về chỗ
ngồi này. Chúng ta có thể thu xếp nó trong khuôn khổ luật phân biệt của chúng
ta”.
Hy vọng của tôi bắt đầu tăng lên. Nhưng Parks chưa kịp dứt lời
thì Crenshaw đã cắt ngang:
“Nhưng mà, Frank. Tôi thấy điều đó không có trong luật pháp.
Nếu nó hợp pháp, tôi sẽ là người đầu tiên ủng hộ, nhưng nó không hợp pháp. Cách
duy nhất có thể thực hiện được là thay đổi luật phân biệt”.
Điều này nhanh chóng đặt dấu chấm hết cho sự lạc quan của
tôi. Vì thiếu niềm tin vững chắc để giữ được sự kiên quyết, Parks đã dễ dàng bị
thuyết phục. Nhưng rồi cuối cùng Crenshaw cũng bộc lộ suy nghĩ của mình:
“Nếu chúng tôi nhượng bộ người da đen”, ông khẳng định, “họ sẽ
huênh hoang đắc thắng với người da trắng. Đó là điều mà chúng tôi không chịu nổi”.
Bây giờ, ít nhất lý do của Crenshaw đã lộ ra. chúng tôi cố gắng
thuyết phục ông rằng người da đen không có ý như vậy. chúng tôi đảm bảo với ông
rằng nếu các đề xuất được chấp thuận, chúng tôi sẽ làm hết sức mình để hạn chế
người dân khoe khoang chiến thắng của họ. Nhưng những đảm bảo này không lay động
được ông ta. Nhận thấy có tiếp tục cũng vô ích, cuối cùng tôi đã yêu cầu ông ta
nêu cụ thể những gì Công ty xe buýt có thể làm được cho người da đen. Ông trả lời
ngắn gọn: “Chúng tôi sẵn sàng đảm bảo sự đối xử lịch sự, nhưng chúng tôi không
thể thay đổi cách sắp xếp chỗ ngồi vì như vậy sẽ vi phạm pháp luật. Và vấn đề
thuê tài xế xe buýt thì sẽ không thể tuyển dụng “ bọn da đen ở thời
điểm này hoặc trong thời gian tới”.
Bốn giờ thảo luận đã kết thúc mà không đem lại sự dàn xếp ổn
thỏa nào.
Tôi thất vọng rời khỏi cuộc họp, nhưng rồi lại thấy mình
không đáng bi quan đến như vậy, chỉ tại tôi lạc quan hơi sớm mà thôi. Tôi đã đến
cuộc họp với một ảo tưởng lớn. Nghĩ rằng yêu cầu của chúng tôi là đúng mức, tôi
hình dung chúng được chấp thuận với chỉ một ít khó khăn; tôi đã nghĩ rằng những
người có đặc quyền sẽ trao đặc ân theo yêu cầu của chúng tôi. Tuy nhiên, trải
nghiệm này đã cho tôi một bài học. Tôi hiểu được rằng không ai có thể từ bỏ đặc
quyền của mình mà không phản ứng quyết liệt gì cả. Tôi còn thấy mục đích sâu xa
hơn của sự phân biệt là để đàn áp và bóc lột những kẻ bị phân biệt chứ không
đơn giản chỉ là tách biệt hai chủng tộc ra. Ngay cả khi chúng tôi yêu cầu công
lý trong khuôn khổ của luật phân biệt thì chính cái “đặc quyền” đó đã ngăn cản
sự chấp thuận nó. Công lý và bình đẳng sẽ không bao giờ đến trong khi sự phân
biệt vẫn tồn tại, bởi vì mục đích cơ bản của sự phân biệt là duy trì sự bất
công và bất bình đẳng.
Ngay sau cuộc đàm phán đầu tiên kết thúc, tôi họp với Ban Điều
hành của MIA để báo cáo kết quả. Các thành viên đã thất vọng, nhưng đều nhất
trí rằng chúng tôi nên kiên định với ba đề xuất này. Vào thời điểm này, có người
đã phát hiện ra rằng Montgomery City Lines thuộc sở hữu của một công ty có trụ
sở tại Chicago. Công ty này tên là National City Lines, Inc. Hoạt động điều
hành mạng lưới xe buýt tại hơn ba mươi lăm thành phố. Chúng tôi cùng nghĩ nên gửi
điện cho Chủ tịch của National City Lines trình bày về nỗi bất bình của mình và
thúc giục ông ta đến ngay lập tức, hoặc gửi đại diện đến Montgomery để đàm phán
thêm. Hai ngày sau, ông chủ tịch trả lời rằng một trong các Phó Chủ tịch của
Công ty sẽ xuống trong vòng hai hoặc ba ngày.
Sự phản hồi đầy hứa hẹn này đã cho chúng tôi một hy vọng mới,
và chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi đại diện từ Chicago tới. Sau vài ngày trôi qua
mà không thấy tin tức gì, tôi bắt đầu tự hỏi liệu công ty có thất hứa hay
không. Sáng ngày 15 tháng 12, trong khi vẫn còn thắc mắc, tôi nhận được cuộc gọi
của một người bạn da trắng nói rằng, theo những nguồn đáng tin cậy, ông C.K.
Totten của National City Lines đã đến Thành phố, và hỏi tôi đã nói chuyện với
ông ta hay chưa. Khi nghe câu trả lời đầy thất vọng của tôi, anh nói sẽ giúp kiểm
tra lại. Quả thật, khoảng hai giờ sau, anh gọi lại và khẳng định chắc nịch rằng
Totten đang ở Montgomery và đã ở đây hai hoặc ba ngày rồi. Tôi rất lấy làm lạ rằng
vị viên chức xe buýt này đã đến Thành phố lâu vậy mà không hề thử tìm gặp bất cứ
ai của MIA. Tôi vẫn tiếp tục chờ đợi cuộc gọi của ông ta. Nhưng thật là vô ích,
ông Totten chẳng bao giờ gọi.
Thì lúc này, Thị trưởng thông báo triệu tập cuộc gặp giữa ủy
ban Công Dân, viên chức xe buýt và lãnh đạo người da đen vào sáng ngày 17 tháng
12, sau hơn một tuần đã trôi qua kể từ cuộc họp đầu tiên. Và cuộc phản kháng vẫn
chưa có dấu hiệu dừng lại.
Ban Điều hành của MIA lại gặp nhau để thảo luận về vấn đề vị
thế của chúng tôi. Một lần nữa, chúng tôi vẫn nhất trí giữ vững ba đề xuất. Tuy
nhiên, có sửa đổi đôi chút ở điều thứ ba: vì trong thời gian tới có thể chưa có
chỗ trống và phải ưu tiên tuyển dụng theo điều lệ công đoàn, nên sẽ không yêu cầu
phải tuyển tài xế da đen ngay lập tức. Chúng tôi sẽ đưa sẵn các đơn xin việc của
người da đen để Công ty có thể tuyển dụng ngay khi có chỗ trống.
Sáng thứ Bảy, chỉ có một vài người có mặt khi chúng tôi bước
vào phòng họp và không khí dường như rất thân mật. Một trong những ngưòi đầu
tiên đi tới để chào đón chúng tôi là Henry E. Russell, mục sư của Giáo hội
Presbyterian Trinity ở Montgomery và anh trai Thượng nghị sĩ Richard Russell của
bang Georgia. Tôi nhớ nụ cười chân thành và những cái bắt tay ấm áp. Dần dần,
những người khác đến và họ cũng tỏ ra thân thiện, chúng tôi bắt đầu hy vọng một
điều gì đó tốt hơn có thể sẽ đến trong cuộc họp thứ hai này.
Ngay trước khi cuộc họp bắt đầu, tôi thấy một người đàn ông lạ
mặt bước vào với Bagley và Crenshaw. Ông được giới thiệu là C. K. Totten đến từ
Chicago. Ông ta chào chúng tôi rất nồng nhiệt, nhưng không nói gì về việc tại
sao ông ấy đã không liên lạc với nhóm chúng tôi. Tôi cũng nhìn thấy hai công
dân da đen, không phải là thành viên của phái đoàn được chỉ định đại diện cho cộng
đồng người da đen. Tôi sớm phát hiện ra rằng họ là khách mời đặc biệt của Thị
trưởng. Điều này khiến tôi khá nghi ngờ về những gì đang diễn ra.
Cuối cùng, Thị trưởng đến, tiếp theo là hai ủy viên phụ tá.
Lúc này tất cả đã có mặt: ba ủy viên; bốn đại diện của Công ty xe buýt; phái
đoàn đại diện cho cộng đồng người da đen; hai người đàn ông da đen được Thị trưởng
mời và ủy ban Công Dân của Thị Trưởng bao gồm Rev. Henry Parker, lúc đó là mục
sư của Nhà thờ Baptist Đệ Nhất, E. Stanley Frazier, lúc đó là mục sư của Nhà thờ
St. James Methodist, và Henry Russell.
Sau khi tóm tắt tình hình, Thị trưởng đề nghị tôi giải thích
các đề xuất của người da đen. Khi tôi nói xong, ông ta mời đại diện Công ty xe
buýt và C. K. Totten đứng lên.
Khi Totten đứng dậy, tôi cảm thấy hồi hộp không biết ông sẽ
nói gì. Vì ông ấy từ nơi khác đến, có khả năng ông nhìn vấn đề ở một góc độ
khác với các cộng sự của ông. Rất chậm rãi và thận trọng, ông nói về từng đề xuất
của chúng tôi. Khi ông bàn từng vấn đề một thì chẳng còn nghi ngờ gì nữa: ông
nghĩ y hệt như những gì các ủy viên Thành phố và Crenshaw đã trình bày trong cuộc
họp đầu tiên. Nếu Totten có thể nói giọng miền Nam một cách hoàn hảo, và khi chỉ
nghe mà không nhìn, tôi thề rằng người ta sẽ tưởng ông là Jack Crenshaw. Tôi biết
rằng ông ta đã bị ủy ban Thành phố và các quan chức xe buýt “tẩy não”.
Khi Totten tiếp tục, sự phẫn nộ của tôi càng tăng lên. Tôi
cay đắng nghĩ rằng thậm chí ông ta không hề tôn trọng những người da đen đang
ngồi đây, mặc dù thực tế chúng tôi là người đã mời ông ấy đến Montgomery. Lúc
này tôi thấy thật khó nghĩ. Tôi có nên phản bác bài thuyết trình thiên vị một
chiều của ông hay là cho qua? Câu hỏi cứ xoay trong tâm trí tôi. Khi ông kết
thúc, cả phòng im lặng một lát. Sau đó, không thể kiểm chế được mình, tôi nhảy
lên và phẫn nộ nói: “Totten đã nhìn nhận không công bằng. Ông đưa ra tuyên bố
hoàn toàn thiên vị. Dù thực tế ông được MIA mời đến Montgomery, nhưng ông đã
không tôn trọng cộng đồng da đen khi nghe họ lên tiếng. Ít nhất điều đáng lý tất
cả chúng ta có thể làm trong khi thảo luận là trung thực và công bằng”. Lời nói
của tôi đã được phái đoàn da đen nhiệt liệt tán thành. Cả Thị trưởng lẫn C. K.
Totten đều không trả lời, và Totten thì thấy có vẻ không được thoải mái lắm.
Một số công dân được Thị trưởng mời cũng tham gia phát biểu.
Tôi đặc biệt nhớ những lời của Tiến sĩ Frazier - một trong những người chủ
trương phân biệt thẳng thắn nhất trong Giáo hội Methodist. Mặc dù tôi đã nghe
tên ông ấy và đọc những tuyên bố mang tính phân biệt của ông nhưng tôi chưa bao
giờ gặp. Bây giờ tôi nhìn thấy một người đàn ông cao lớn, dáng vẻ đặc biệt,
sang trọng và thêm nữa là nói rất hùng hồn, mạch lạc. Ông đã nói rất thuyết phục
về sự yếu đuối và nhược điểm trong bản chất con người. Ông nói rõ rằng ông cảm
thấy người da đen đã sai trong việc tẩy chay xe buýt. Thậm chí rất sai lầm, ông
nói, chính là các vị mục sư lãnh đạo tinh thần đã dẫn dắt cuộc phản kháng này.
Công việc của mục sư, ông quả quyết, là dẫn dắt linh hồn của con người đến với
Thượng đế, chứ không phải là làm rối tung xã hội bằng những vấn đề mang tính nhất
thời, đó là một sự nhầm lẫn. Ông chuyển sang trao đổi ngắn gọn về câu chuyện
Giáng sinh. Bằng những lời nói xúc động, ông nói về “món quà không thể diễn tả
được của Đức Chúa Trời”. Để kết thúc, ông nói rằng khi mùa Giáng sinh đến, tâm
trí và tình cảm của chúng ta nên quay về phía Đấng Giáng sinh ở Bethlehem và
kêu gọi các vị lãnh đạo tôn giáo da đen sau cuộc họp này nên chấm dứt tẩy chay
và thay vào đó hãy dẫn dắt tín hữu vui mừng mùa lễ lớn đúng với đức tin Cơ Đốc.
Một lần nữa, tôi cảm thấy cần phải trả lời, “Chúng tôi cũng
biết Chúa Jesus mà mục sư vừa nhắc đến”, tôi nói, “Chúng tôi từng có một trải
nghiệm với Ngài, và tin chắc vào sự hiển linh của Thượng đế ở Chúa Jesus Ki Tô.
Tôi không hề thấy mâu thuẫn giữa sự tôn thờ của chúng tôi với Chúa Jesus và
hành động hiện tại. Thực sự tôi thấy nó có mối liên hệ mật thiết. Nếu người nào
thật sự yêu mến tôn giáo của Chúa Jesus, người đó sẽ tìm cách dẹp bỏ những điều
xấu xa, tệ hại trên cõi đời này. Phúc Âm giảng về cả xã hội và cá nhân con người.
Chúng ta mới chỉ làm theo một phần nhỏ cách mà Gandhi đã làm ở Ấn Độ, và chắc
chắn không ai gọi ông là kẻ phạm tội cứng đầu. Ông đã được nhiều người xem như
là một vị Thánh.
Tôi kết luận: “Sáng nay chúng tôi đã nói rất nhiều về phong tục,
và xác nhận rằng trong điều kiện hiện tại bất kỳ sự thay đổi nào đều có nghĩa
là chống lại phong tục được quý trọng của cộng đồng chúng ta. Nhưng có những
phong tục không tốt thì chúng ta có mọi lý do ở trên đời để thay đổi chúng. Quyết
định mà chúng ta phải làm bây giờ là liệu có nên giữ khư khư các phong tục bất
công, lỗi thời hay giữ gìn các chuẩn mực đạo đức mà Tạo hóa đã đặt ra. Là tín đồ
Thiên Chúa Giáo, chúng ta nợ lòng trung thành tối thượng với Thiên Chúa và ý muốn
của Ngài, chứ không phải là với con người và thế gian này”.
Sau khi một vài người nữa nói xong, Thị trưởng thông báo rằng
ông sẽ chỉ định một nhóm nhỏ từ ủy ban Công Dân gặp gỡ với đại diện của MIA và
Công ty xe buýt. Các nhóm này sẽ làm việc với nhau để tìm giải pháp và đệ trình
lại cho ông như một bản kiến nghị. Lúc đầu Thị trưởng đã cố tình sắp xếp tám
người da trắng của ủy ban Công Dân, hai người đàn ông da đen mà ông đã mời
riêng, và chỉ có ba người của MIA vào hội đồng mới. Nhưng ngay lập tức, Jo Ann
Robinson đã không đồng ý và nhấn mạnh rằng cách giải quyết tốt nhất là chỉ định
số người da đen và người da trắng bằng nhau một cách công bằng. Sau đó Thị trưởng
miễn cưỡng nâng số người da đen lên tám. Ông bổ nhiệm mục sư Henry Parker làm
Chủ tịch.
Sau khi đa số người đã rời khỏi phòng, Parker triệu tập hội đồng
mới họp tiếp. Frazier xin phép đề xuất một giải pháp cho vấn đề phân bổ chỗ ngồi.
Đại ý là xe buýt sẽ ghi dấu chỗ ngồi riêng cho mỗi chủng tộc và mỗi bên có
không quá mười ghế. Trong trường hợp người da trắng hay da đen đã ngồi kín hết
phần ghế dành cho bên mình thì có thể ngồi tạm sang phần ghế trống của bên kia,
nếu người của phía bên đó không lên xe buýt thêm nữa. Các thành viên của nhóm
da đen lập tức từ chối ý tưởng này vì nhìn thấy dấu hiệu ghê tởm của sự phân biệt
chủng tộc. Họ tin rằng nếu chấp nhận có nghĩa là bước lùi hơn là bước tiến.
Sau đó, nhiều người trong số các ủy viên da trắng đề nghị
chúng tôi trở lại đi xe buýt, và họp lại sau kỳ nghỉ lễ Giáng sinh để tìm cách
giải quyết vấn đề. Họ cho rằng cộng đồng da trắng sẽ thông cảm lắng nghe các
yêu cầu của chúng tôi hơn nếu cuộc biểu tình được ngưng trước. Chúng tôi không
chịu vì cảm thấy rằng tất cả những nỗ lực của mình sẽ vô ích nếu việc dẹp biểu
tình đơn giản chỉ bởi lời hứa về những điều kiện gì đó sẽ được thực hiện trong
tương lai. Đến đây cuộc họp đã kéo dài quá lâu, chủ tịch đề nghị nghỉ ngơi và họp
lại vào 10 giờ sáng thứ Hai.
Vào cuối buổi họp, tôi đã có cơ hội lần đầu nói chuyện trực
tiếp với Totten. Gần như ngượng ngùng, ông ta thừa nhận rằng kế hoạch chúng tôi
đưa ra là những gì Mobile City Lines - một công ty thuộc sở hữu của National
City Lines, Inc. đang thực hiện. “Và như tôi đã lo ngại”, ông ấy nói, “tôi nghĩ
nó sẽ hoạt động rất tốt ở Montgomery, nhưng có vẻ ủy ban Thành phố cảm thấy
không thể chấp nhận”. Tôi đã định hỏi tại sao ông ta không có can đảm để nói
như thế trong cuộc họp có mặt các ủy viên, nhưng tôi đã kiềm chế và cuộc trò
chuyện kết thúc trong không khí thân thiện.
Khi lái xe về nhà, tôi lại nghĩ đến Frazier và bài hùng biện
của ông ta. Ông ta thật sự tin tưởng vào những gì mà ông đang theo đuổi. Có lẽ
ông ta sẽ không thay đổi ngay bây giờ được. Những truyền thống cố hữu đã ăn sâu
vào tâm não của ông, đối với ông, sự phân biệt đã trở thành một điều đương
nhiên trong luân thường đạo lý. Tuy nhiên, dù tôi hoàn toàn không đồng ý với
quan điểm của ông, dù biết rằng lịch sử và tôn giáo đã chứng minh ông sai, tôi
vẫn ngưỡng mộ sự chân thành và nhiệt tình của ông. Tôi tự hỏi tại sao những người
da trắng ủng hộ sự hòa hợp giữa hai sắc tộc thường kém sắc bén và tích cực hơn
những người chủ trương phân biệt? Đây là một trong những bi kịch của lịch sử
loài người, rằng “đứa con của bóng tối” thường quyết đoán và sốt sắng hơn “đứa
con của ánh sáng”.
Chủ nhật, ngày 18 tháng 12, đã trôi qua. Vào lúc 10 giờ sáng
thứ Hai, chúng tôi gặp nhau để tiếp tục cuộc thảo luận. Mọi người đều có mặt và
Parker một lần nữa chủ trì cuộc họp. Ngay sau khi cuộc họp bắt đầu, tôi nhìn thấy
một người đàn ông mà vào ngày thứ Bảy trước đó không tham dự và theo như tôi có
thể nhớ, đã không được bổ nhiệm vào ủy ban Công Dân tám người của Thị trưởng.
Người bên cạnh tôi thì thầm: “Đó là Luther Ingalls - Thư ký Hội đồng Công Dân
Da Trắng Montgomery”.
Khi bắt đầu thảo luận, Ingalls đứng lên phát biểu. Ngay lập tức
tôi đứng bật dậy và phản đối quyền được nói của ông ta vì ông không phải là
thành viên của ủy ban. “Hơn nữa”, tôi tiếp tục, “chúng ta sẽ không bao giờ giải
quyết được vấn để này một khi trong ủy ban có những người tuyên bố công khai chống
người da đen”.
Lúc này, Tiến sĩ Parker đã trả lời một cách giận dữ: “Ông ấy
cũng có quyền tham dự ủy ban này như anh. Đấy chỉ là quan điểm của anh mà
thôi”.
Ngay khi đó, các thành viên da trắng khác của ủy ban bắt đầu
lao vào tôi. Họ cho rằng tôi là trở ngại chính cho một giải pháp thực sự của vấn
đề. Bà Hipp kịch liệt nói rằng tôi đã sỉ nhục bà với ngụ ý rằng, bà cùng với
các thành viên da trắng khác của ủy ban đến cuộc họp với trái tim hẹp hòi,
không rộng mở. Tôi đã cố gắng nói rõ ràng rằng tôi chỉ muốn nói đến những người
đã tuyên bố công khai chống người da đen, chứ không phải toàn thể ủy ban, nhưng
vô ích. Họ tiếp tục nhìn tôi như thể tôi là nguyên nhân của sự bế tắc.
Ngay lúc đó, tôi thấy mình thật đơn độc. Không ai đến giải cứu
tôi, cho đến khi Ralph Abernathy đột nhiên lên tiếng bảo vệ tôi. Ông nhấn mạnh
rằng tôi đã nói thay toàn bộ phái đoàn da đen. Ông chỉ ra rằng vì tôi là người
phát ngôn cho nhóm, nên đương nhiên tôi phải xử lý mọi chuyện khi thương thuyết,
nhưng điều này không có nghĩa là tôi không có sự hỗ trợ của các thành viên còn
lại. Khi ông tiếp tục, người ta có thể thấy rõ sự thất vọng trên khuôn mặt của
các thành viên ủy ban Da Trắng, những người đang cố gắng thuyết phục người da
đen rằng tôi là trở ngại chính trong việc tìm giải pháp, hòng để chia rẽ chúng
tôi. Nhưng tuyên bố của Ralph đã đập tan hy vọng của họ. Từ lúc này, nhóm da trắng
đã thấy việc cố gắng thương lượng để chúng tôi thỏa hiệp là một điều vô ích.
Thêm một vài câu hỏi và một vài gợi ý nữa được đưa ra. Parker kết thúc cuộc họp,
hứa hẹn sẽ triệu tập một cuộc họp khác sau đó. Nhưng không hề có cuộc họp nào
được triệu tập.
Hôm thứ Hai tôi về nhà trong lòng nặng trĩu, thấy như bị đè nặng
bởi cảm giác tội lỗi khi nhớ lại có hai hay ba lần đã để mình tức giận và bực bội.
Tôi đã nói thiếu cân nhắc trong lúc giận dữ. Tôi biết như vậy không giải quyết
được vấn đề gì. Tôi tự nhủ “Mình không được phép oán giận, mà còn phải sẵn sàng
chịu đựng sự tức giận của đối thủ, và không nóng nảy trả đũa. Không được cay
cú.
Cho dù đối thủ có cảm xúc thế nào đi chăng nữa, mình vẫn phải
bình tĩnh”.
Trong tâm trạng này, tôi nhấc điện thoại và gọi cho Parker.
Ông ấy tỏ vẻ ngạc nhiên rõ rệt khi nghe thấy giọng nói của tôi. Tôi nói với ông
ấy rằng tôi rất lấy làm tiếc về sự hiểu lầm đã xảy ra trong cuộc họp, và ngỏ ý
xin lỗi nếu tôi có làm điều gì sai. Ông ấy đáp lại bằng cách thanh minh về phận
sự ông phải làm ở vị trí của mình. Câu chuyện dẫn tới vấn đề chủng tộc nói
chung và tình hình xe buýt nói riêng. Ông khẳng định rằng người da đen không có
cơ sở lý lẽ để tẩy chay xe buýt, “vì nhiều người da trắng cũng bị đối xử một
cách bất lịch sự như người da đen”. Nói chung, ông cảm thấy rằng người da đen
đã đi quá trớn, ông nói, và điều này chẳng mang lại gì ngoài rắc rối. Tôi cảm
ơn ông ấy đã nói chuyện với tôi, và cuộc trò chuyện kết thúc.
Sau đó, các cuộc đàm phán đã được mở lại nhờ sự giúp đỡ ân cần
của một nhóm công dân da trắng khác. Nhóm “Người của Montgomery” (The Men of
Montgomery), là một tổ chức gồm các doanh nhân có ảnh hưởng nhất của Thành phố.
Họ đã bắt đầu thấy những tác động của cuộc biểu tình đến hoạt động kinh doanh,
và nhận ra rằng cuộc xung đột kéo dài sẽ mang lại thảm họa. Hơn nữa, các nhà
lãnh đạo của họ là những người thiện chí, họ sợ sự căng thẳng ngày càng gia
tăng xung quanh họ. Nhưng như vậy không có nghĩa là họ tán thành hòa hợp bình đẳng,
ngược lại là khác. Một số người trong số họ ủng hộ sự phân biệt, và có những
người không thích phân biệt cũng đồng ý với Parker rằng người da đen đã “đẩy mọi
thứ đi quá trớn”. Nhưng ít nhất họ cũng đủ cởi mở để lắng nghe một quan điểm
khác và thảo luận về vấn đề chủng tộc một cách thông minh. Đến những hai lần,
sáu người của “Người của Montgomery” với số người tương đương của MIA đã gặp
nhau trong nỗ lực nghiêm túc để giải quyết cuộc phản kháng. Tôi chắc chắn rằng
chúng tôi đã tìm ra giải pháp, nếu không phải vì sự ngoan cố của ủy ban Thành
phố thì nỗ lực chung của chúng tôi đã có kết quả.
Sau khi phe đối lập thất bại trong việc thương lượng với
chúng tôi, họ đã dùng kế sách tinh vi để ngăn chặn cuộc phản kháng, đó là dùng
cách phân hóa, chia rẽ. Tin đồn thất thiệt về các nhà lãnh đạo của phong trào
đã lan truyền đi các nơi. Các chủ lao động da trắng nói với người lao động da
đen rằng các nhà lãnh đạo của họ chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền từ phong trào.
Những người khác lại nghe được rằng các nhà lãnh đạo da đen lái những chiếc xe
sang trọng trong khi họ phải đi bộ. Trong thời gian này lan truvền tin đồn tôi
đã mua một chiếc Cadillac hoàn toàn mới cho mình và một chiếc xe Buick cho vợ.
Tất nhiên những chuyện này hoàn toàn không có thật.
Không chỉ có những âm mưu bôi nhọ sự trong sạch của các nhà
lãnh đạo da đen để làm mất lòng tin của những người theo họ, mà còn có âm mưu
chia rẽ các nhà lãnh đạo với nhau. Nhung người da trắng có tiếng tăm đi gặp những
giáo sĩ da đen lớn tuổi hơn và nói: “Nếu phải có một cuộc biểu tình, lẽ ra các
ông mới là những người lãnh đạo. Thật đáng xấu hổ khi các ông đã ở trong cộng đồng
lâu năm như vậy mà lại bị họ bỏ qua để chọn những người tân binh trẻ này lãnh đạo
họ”. Một số thành viên trong cộng đồng da trắng đã cố thuyết phục một vài người
lãnh đạo cuộc phản kháng rằng vấn đề có thể được giải quyết nếu tôi bỏ cuộc. “Nếu
một trong các ông”, họ nói, “nắm quyền lãnh đạo, mọi thứ sẽ thay đổi trong một
đêm”.
Sự nhồi nhét liên tục của luận điệu này làm tôi gần như gục
ngã. Tôi bắt đầu nghĩ điều này có thể đúng một phần nào đó, và sợ rằng một số
người đã bị dao động. Sau mấy ngày mệt mỏi và mất ngủ, tôi đã triệu tập họp Ban
Điều hành để xin từ chức. Tôi nói với họ rằng, tôi không bao giờ muốn làm trở
ngại việc tìm giải pháp cho vấn đề đang nhiễu hại cộng đồng, có thể một người
chín chắn hơn đứng ra làm việc sẽ mang lại kết quả nhanh hơn. Tôi tiến cử hai
người đã làm việc gắn bó với tôi và có năng lực mà mọi người đều công nhận, rồi
cam đoan với Hội đồng Quản Trị là vẫn sẽ đứng phía sau hỗ trợ tích cực như lúc
làm người phát ngôn. Tôi vừa nói xong thì ngay lập tức các thành viên Hội đồng
đã gạt bỏ ý tưởng từ chức của tôi. Với sự tín nhiệm hoàn toàn, họ nói rõ rằng họ
rất hài lòng với cách tôi xử lý mọi chuyện, và sẽ theo sự lãnh đạo của tôi đến
cùng.
Sau sự việc, vừa về đến khuôn viên nhà, từ cửa sổ phòng
khách, tôi nghe thấy giọng hát cao vút, trong trẻo của Coretta vang vọng ra.
Lâu lắm rồi tôi mới cảm thấy bình yên trở lại. Trong phòng ngủ phía sau,
“Yoki”, bây giờ đã hơn một tháng tuổi, đang thức và bận rộn khám phá những ngón
tay của mình. Tôi bồng con lên và đi ra phòng ngoài để bé được nghe mẹ hát.
Những khoảnh khắc như vậy đã trở nên hiếm hoi. Chúng tôi
không bao giờ có thể dự tính được điều gì, vì hiếm khi tôi biết trước giờ nào sẽ
về nhà. Nhiều lần Coretta phải nhìn những bữa ăn ngon của cô ấy khô khốc trong
lò nướng khi tôi về trễ vì có chuyện khẩn cấp. Mặc dù thế cô ấy không hề than
phiền và luôn ở bên khi tôi cần cô ấy. Cô nói khi cô đơn đã có “Yoki” và
Beethoven làm bạn với cô. Điềm tĩnh và dịu dàng, Coretta lặng lẽ chăm lo gia
đình. Khi tôi cần nói chuyện, cô ấy sẵn sàng lắng nghe, hoặc đưa ra gợi ý khi
tôi yêu cầu. Nghị lực của cô ấy là sức mạnh của tôi. Nhiều lần lo sợ cho tôi,
cô ấy không bao giờ cho phép điều đó làm tôi lo lắng hoặc cản trở công việc của
tôi trong cuộc phản kháng. Cô ấy dường như không còn lo sợ cho chính bản thân
mình. Trong những tháng sau đó, nhiều lần tôi đã đưa cô và “Yoki” đến Atlanta ở
với cha mẹ tôi, hoặc tới Marion để ở với gia đình bên ngoại. Nhưng cô ấy không
bao giờ ở lại lâu. “Khi tôi tránh xa chuyện này”, cô nói với một phóng viên,
“tôi cảm thấy chán nản và bất lực”. Và vì thế cô ấy đã quay trở lại trước thời
gian dự định.
Âm mưu chia rẽ lên đến cao độ xảy ra vào Chủ nhật, ngày 22
tháng Một. Các ủy viên Thành phố gây sốc cho cộng đồng người da đen khi công bố
trên tờ báo địa phương rằng, họ đã gặp và đạt được một thỏa thuận với một nhóm
các giáo sĩ da đen uy tín. Các điều khoản của cái gọi là “thỏa thuận” như sau:
(1) Đảm bảo sự đối xử lịch sự; (2) Khu vực dành cho người da trắng ở phía trước
xe buýt, khu vực của người da đen ở phía sau, khu vực tự do ở giữa xe được sắp
xếp theo nguyên tắc người đến trước được phục vụ trước; (3) Riêng giờ cao điểm
sẽ dành riêng tất cả các xe cho người da đen. Trên thực tế, trừ điều khoản đầu
tiên ra, “thỏa thuận” này chỉ lặp lại các điều kiện đã được đưa ra trước cuộc
phản kháng. Vì thế, nó là một bước lùi. Tuy nhiên, nhiều người tin rằng cuộc tẩy
chay đã kết thúc.
Thông báo này rõ ràng là một sự tính toán để dụ người da đen
trở lại đi xe buýt vào sáng Chúa nhật, ủy ban Thành phố tin chắc rằng một khi
có một số đáng kể người da đen bắt đầu đi xe buýt trở lại, cuộc tẩy chay sẽ kết
thúc.
Chúng tôi đã có thể ngăn chặn những tác động của thông báo
này trong các tình huống khá thú vị. Mặc dù tờ Montgomery Advertiser đồng
ý giữ tin tức này lại đến sáng chúa nhật, hãng thông tấn Associated Press (AP,
Liên đoàn báo chí) đã truyền nó đi cho các kênh truyền thông vào tối thứ Bảy.
Biên tập viên da đen của tờ báo Minneapolis Tribune là Carl T. Rowan
nắm được câu chuyện từ toà soạn, rất ngạc nhiên khi biết những người da đen chấp
nhận một thỏa thuận nửa vời như vậy. Trước đây một vài tuần, ông Rowan đến
Montgomery để viết phóng sự về cuộc tẩy chay và đã thiết lập mối quan hệ chặt
chẽ với các nhà lãnh đạo MIA. Khoảng 8 giờ tối thứ Bảy, ông gọi điện cho tôi để
xác minh câu chuyện. Ông đề cập đến cuộc họp và các thỏa thuận làm tôi hết sức
choáng váng. Khi ông nói về ba giáo sĩ da đen uy tín có mặt tại cuộc họp, tôi lại
càng ngạc nhiên hơn. Tôi nói với ông ta rằng tôi không hề biết gì về việc này
và bắt đầu tự hỏi liệu có ai trong số các cộng sự của tôi đã phản bội và thỏa
thuận sau lưng tôi hay không. “Điều này là không thể”, tôi nghĩ, “bởi vì mình vừa
có một cuộc họp chiến lược vào sáng nay và tất cả các giáo sĩ uy tín đều ở đó”.
Rowan đã gọi cho ủy viên Sellers để hỏi thêm chi tiết. Trong
vòng hai mươi phút, ông gọi lại và nói rằng Sellers đã xác nhận câu chuyện
nhưng từ chối nêu tên những “giáo sĩ da đen uy tín”. Tuy nhiên, từ người ủy
viên này, Rowan đã biết các vị giáo sĩ đó thuộc giáo phái nào. Manh mối này là
tất cả những gì tôi cần.
Lập tức tôi gọi các cộng sự đến nhà mình và chưa đầy ba mươi
phút họ đã có mặt. Tôi kể cho họ nghe câu chuyện, và chúng tôi quyết định phải
truy tìm ra nguồn gốc trước nửa đêm. Đầu tiên chúng tôi tìm hiểu xem nhóm giáo
sĩ da đen đã thực sự gặp ủy ban Thành phố chưa, sau đó là những giáo phái mà
Rowan đã đề cập. Từ đó chúng tôi bắt đầu điều tra danh tính của vài người sau
khi đã dùng phép loại trừ. Sau khoảng một giờ gọi điện thoại đi đó đây, chúng
tôi đã có thể xác định được ba “giáo sĩ da đen uy tín”. Họ không nổi tiếng mà
cũng chẳng phải là thành viên của MIA.
Lúc đó là khoảng 11 giờ đêm thứ Bảy. Phải làm thế nào để cho
mọi người biết rằng bài báo họ sẽ đọc vào buổi sáng hôm sau là bịa đặt. Tôi cho
một nhóm gọi đến tất cả các giáo sĩ da đen trong Thành phố và yêu cầu họ thông
báo ở nhà thờ vào sáng chúa nhật rằng cuộc phản kháng vẫn tiếp tục. Một nhóm
khác đã cùng tôi đi một vòng các quán bar và hộp đêm của người da đen để thông
báo cho những người có mặt ở đó rằng chuyện thỏa hiệp là giả dối. Lần đầu tiên
tôi có cơ hội nhìn thấy bên trong hầu hết các hộp đêm ở Montgomery. Vào 1 giờ
sáng ngày Chúa nhật, chúng tôi vẫn đang còn đến các hộp đêm để báo tin. Do
chúng tôi triển khai kế hoạch kịp thời nên tin tức được truyền đi nhanh chóng,
vậy nên ngày hôm sau xe buýt vẫn trống trơn như thường lệ.
Ngay sau đó, tôi đã có dịp nói chuyện riêng với từng người
trong “ba giáo sĩ da đen uy tín” Một trong ba người khăng khăng họ đã không đồng
ý về bất kỳ sự thỏa thuận nào. Họ khẳng định rằng họ đã bị “lừa” đến cuộc gặp
do có lời mời qua điện thoại về việc thảo luận một loại bảo hiểm mới cho Thành
phố. Cả ba đều bác bỏ thông báo của ủy ban.
Thất bại với trò lừa bịp, các quan chức Thành phố đã bị mất mặt.
Không cần biết họ có được đánh giá giỏi chiến thuật mưu mẹo hay không nhưng
tính trung thực của họ đang phải chịu sự thử thách. Đến bây giờ họ đã hoàn toàn
bế tắc. Và cách mà họ bắt đầu đáp trả là thực hiện một chính sách “cứng rắn”. Với
sự phẫn nộ thực sự, Thị trưởng đã lên truyền hình và lên án sự tẩy chay. Ông
hăm dọa, ủy ban sẽ “không lòng vòng với vụ tẩy chay nữa mà sẽ giải quyết dứt điểm”.
Đại đa số người da trắng ở Montgomery, ông tuyên bố, không quan tâm dù chỉ một
người da đen có đi xe buýt nữa hay không. Và ông kêu gọi các nhà tuyển dụng da
trắng ngừng đưa đón nhân viên da đen của họ đến chỗ làm và về nhà. Trong thời
gian này, cả ba ủy viên Thành phố cho biết họ đã tham gia Hội đồng Công Dân Da
Trắng.
Chính sách “cứng rắn” hóa ra bao hàm một loạt các vụ bắt giữ
vi phạm giao thông nhỏ và thường thấy. Có những người chưa bao giờ bị phạt thì
bây giờ cũng bị phạt, và đã vài lần bị vào tù. Những người da đen lái xe đưa rước
thì bị dừng xe ở khắp thành phố để hỏi về giấy phép, bảo hiểm và nơi làm việc của
họ. Các cảnh sát đã ghi chép cẩn thận, dường như để thu thập bằng chứng cho những
lần vi phạm sau. Một số người đi xe buýt trước kia, khi đứng đợi xe đến đón, được
bảo là có luật cấm đưa đón người; những người khác được biết rằng họ sẽ bị bắt
nếu bị nhìn thấy “đi lẩn quẩn ở khu vực người da trắng”.
Trước những khó khăn này, những người tình nguyện lái xe đưa
rước bắt đầu ít đi. Một số tài xế thấy lo sợ rằng giấy phép của họ sẽ bị thu hồi
hoặc bảo hiểm của họ bị hủy bỏ; những người khác cảm thấy rằng họ không còn có
thể tham gia cuộc tẩy chay trong hoàn cảnh như vậy nữa. Nhiều tài xế lặng lẽ từ
bỏ việc đưa đón khách, vì vậy đón xe ngày càng trở nên khó khăn hơn. Khiếu nại
bắt đầu tăng lên. Từ sáng sớm đến đêm khuya, điện thoại của tôi reo liên tục và
chuông cửa nhà tôi hiếm khi im lặng. Tôi bắt đầu nghi ngờ về khả năng cộng đồng
da đen có thể tiếp tục cuộc đấu tranh.
Để cố gắng giữ cho phong trào không bị tan rã, tại các cuộc họp
quần chúng các giáo sĩ đã đưa ra các kiến nghị đặc biệt và kêu gọi mọi người giữ
vững lòng tranh đấu. Chúng tôi cam kết với các tài xế lái xe đưa rước là sẽ gắn
bó với họ để vượt qua những khó khăn này. “Chúng ta phải kề vai sát cánh với
nhau”, chúng tôi nhắc đi nhắc lại, “dù tốt hay xấu, cũng cùng đồng cam cộng khổ
cho đến khi vấn đề này được giải quyết”.
Tôi cũng nghĩ mình sẽ bị bắt do kết quả của biện pháp “cứng rắn”.
Một buổi chiều giữa tháng Một, sau khi làm việc tại văn phòng nhà thờ, tôi bắt
đầu lái xe về nhà với một người bạn là Robert Williams và thư ký của nhà thờ là
bà Lilie Thomas. Trước khi rời trung tâm Thành phố, tôi quyết định ghé qua bãi
đậu xe để đón một vài người đi cùng hướng với tôi. Khi chúng tôi đi vào bãi,
tôi thấy bốn hoặc năm cảnh sát đang tra hỏi các tài xế. Tôi đón ba hành khách
và lái xe đến rìa bãi đậu thì bị một trong những nhân viên này giữ lại. Trong
khi anh ta yêu cầu được xem giấy phép của tôi và hỏi về quyền sở hữu xe, tôi
nghe một cảnh sát đứng bên kia đường nói “Đó là tên King chết tiệt”.
Rời khỏi bãi đậu xe, tôi nhận thấy hai cảnh sát chạy xe gắn
máy phía sau tôi. Qua ba dãy nhà, vẫn còn một chiếc chạy theo. Khi tôi nói với
Bob Williams chúng tôi đang bị theo dõi, ông ấy trả lời, “Anh hãy tuân thủ đúng
luật lệ giao thông”. Tôi lái xe đi từ từ và cẩn thận, chiếc xe máy vẫn đi sau
tôi. Cuối cùng, khi tôi dừng lại để cho ba hành khách xuống, viên cảnh sát chạy
tới và nói: “Hãy bước ra khỏi xe, King. Ông bị bắt vì chạy tốc độ ba mươi dặm một
giờ trong khu vực cho phép hai mươi lăm dặm một giờ”. Không cần hỏi han gì, tôi
ra khỏi xe, nói Bob Williams và bà Thomas lái xe về và thông báo cho vợ tôi, chẳng
mấy chốc một chiếc xe tuần tra đến, hai cảnh sát bước ra và khám tôi từ trên xuống
dưới xong đưa tôi vào trong xe rồi lái đi.
Khi chúng tôi đi, có lẽ là đến nhà tù Thành phố, một cảm giác
hoảng sợ bắt đầu xuất hiện. Tôi luôn tưởng rằng nhà tù ở khu vực trung tâm
Montgomery. Tuy nhiên, sau khi đi một lúc, tôi lại thấy đi theo một hướng khác,
càng đi càng xa khỏi trung tâm Thành phố. Vai phút sau, xe rẽ vào một con đường
tối tăm và dơ dáy chưa từng thấy, rồi đi tới một cây cầu cũ hoang vắng. Lúc này
tôi đã nghĩ rằng họ mang tôi đến một nơi xa xôi để quăng tôi lại đó. “Điều này
là không thể”, tôi tự nhủ, “những người này là viên chức thừa hành luật pháp”.
Tôi bắt đầu tự hỏi liệu họ có đưa tôi đến chỗ phe nhóm nào đó đang chờ đợi hay
không, sau đó lấy cớ rằng họ bị áp đảo. Toàn thân tôi run rẩy. Tôi thầm cầu xin
Chúa ban cho tôi sức mạnh để chịu đựng bất cứ điều gì sẽ đến.
Lúc này chúng tôi đã đi qua khỏi cầu. Tôi đinh ninh rằng bên
kia cầu là nơi định mệnh của mình. Nhưng khi nhìn lên, tôi thấy một ánh sáng
chói ở đằng xa, và ngay sau đó tôi thấy bảng chữ “Nhà tù Thành phố Montgomery”.
Tôi cảm thấy nhẹ nhõm đến mức tự thấy mỉa mai thay cho tình cảnh của mình: đi
tù mà như đi đến một nơi trú ẩn an toàn nào đó!
Một cảnh sát đã mở cửa cho tôi. Sau khi gửi đồ đạc và cung cấp
thông tin cho cai ngục, tôi bị dẫn đến một căn phòng tồi tàn và hôi hám. Khi
cánh cửa sắt lớn mở ra, người cai ngục nói với tôi: “Được rồi, hãy vào ở chung
với những người này”. Trong tích tắc một cảm xúc rét mướt lạ lùng lướt qua tôi
như những cơn gió lạnh trên đồng cỏ mênh mông. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi
bị ném vào sau chấn song sắt.
Khi bước vào phòng giam đông đúc, tôi nhận ra hai người quen,
có một giáo viên bị bắt vì liên quan đến cuộc phản kháng. Trong nền dân chủ của
nhà tù, họ bị nhốt chung với những tên du đãng, kẻ say rượu và những kẻ phạm tội
hình sự. Một người bị tù vì tấn công và bạo hành; một người khác bị buộc tội mạo
danh quyên tiền. Nhưng nền dân chủ đã không đi xa đến mức phá vỡ các quy tắc
phân biệt. Ở đây người da trắng và người da đen bị giam mòn mỏi trong các phòng
giam riêng.
Khi nhìn xung quanh, tôi đã rất kinh hoàng trước những điều
kiện sống ở đây đến nỗi quên cả tình trạng hiểm nguy của chính mình. Tôi thấy
những người đàn ông nằm trên những thanh giường cứng và những người khác thì ở
trên những chiếc nệm rách. Nhà vệ sinh nằm ở một góc mà không có gì che chắn.
Tôi tự nhủ rằng dù những người đàn ông này đã làm gì, họ cũng không nên bị đối
xử như vậy.
Tất cả bọn họ xúm lại hỏi để biết tại sao tôi lại vào đây, và
một số tỏ vẻ ngạc nhiên cho rằng bắt tôi là Thành phố đã quá lố. Chẳng mấy chốc,
hết người này đến người khác bắt đầu nói chuyện với tôi, kể lý do anh ta vào tù
và hỏi tôi có thể giúp anh ấy được thả ra không. Đến người thứ ba yêu cầu tôi
giúp đỡ, tôi quay sang đám đông nói: “Các anh em, trước khi tôi có thể giúp đỡ
bất kỳ ai thoát ra ngoài, tôi phải thoát thân trước đã”. Họ bật cười.
Không lâu sau, người cai ngục đến đưa tôi đi. Khi rời phòng
giam, tôi đang thắc mắc ông ta sẽ đưa tôi đi đâu thì một người tù nói với theo:
“Đừng quên chúng tôi khi anh được ra ngoài nhé”. Và tôi đã hứa là sẽ không quên
họ. Tên cai ngục dẫn tôi xuyên một hành lang dài đến một căn phòng nhỏ đối diện
phòng giam vừa rồi. Trong thoáng đó tôi nghĩ chắc mình được bảo lãnh tại ngoại
bằng trái phiếu, nhưng rồi nhanh chóng phát hiện ra mình đã nhầm. Gã cai ngục cộc
lốc ra lệnh cho tôi ngồi và bắt đầu lăn ngón tay của tôi trên một hộp mực. Tôi
sắp bị lấy dấu vân tay như một tên tội phạm.
Vào lúc này, tin tức về vụ bắt giữ tôi đã lan truyền khắp
Montgomery, và một số người đã đi đến nhà tù Thành phố. Người đến đầu tiên là bạn
thân của tôi, Ralph Abernathy. Anh ta lập tức tìm cách ký kết trái phiếu bảo
lãnh tôi, nhưng các quan chức nói với anh rằng anh phải mang giấy của tòa án khẳng
định là có tài sản đảm bảo để ký kết một trái phiếu. Ralph nói rằng vì đã gần 6
giờ 30 tối, tòa án đã đóng cửa.
Một cách thờ ơ, viên chức nhà tù vặn vẹo: “Ừm, vậy anh cứ chờ
đến sáng mai”.
Sau đó Ralph hỏi anh ta có thể gặp tôi không.
Người cai ngục trả lời: “Không, 10 giờ sáng mai anh mới được
gặp”
“Vâng, vậy có thể”, Abernathy nói, “bảo lãnh bằng tiền mặt được
không?”
Gã cai ngục miễn cưỡng trả lời có. Ralph vội vã đến văn phòng
nhà thờ của mình cách đó vài dãy nhà để đi lo tiền mặt.
Trong khi đó, một số người đã tập hợp trước nhà tù. Các chấp
sự và ủy viên quản trị nhà thờ của tôi đã kéo đến từ mọi nơi. Chẳng mấy chốc
đám đông trở nên quá lớn đến mức người cai ngục bắt đầu hoảng sợ. Ông ta vội vã
vào phòng lăn vân tay và nói: “King, ông được thả ngay bây giờ” và tôi chưa kịp
lấy áo khoác của mình, ông ta đã đẩy tôi ra mà không phải đóng tiền tại ngoại.
Ông ta trả lại tài sản của tôi và thông báo rằng phiên tòa của tôi sẽ được tổ
chức vào sáng thứ Hai lúc 8 giờ 30.
Khi bước ra khỏi cửa nhà tù, được những người bạn và mọi người
chúc mừng, tôi lấy lại được sự dũng cảm mà tôi đã tạm thời bị mất. Tôi biết rằng
tôi không chỉ có một mình. Sau vài lời ngắn gọn cùng đám đông, tôi được một chấp
sự đưa về. Vợ tôi đón tôi bằng một nụ hôn ở ngay cửa. Bên trong, nhiều thành
viên trong nhà thờ của tôi và những người bạn khác đang lo lắng chờ đợi kết quả.
Lời động viên của họ đã cho tôi thêm sự bảo đảm rằng tôi không đơn độc.
Từ đêm đó, sự cam kết của tôi với cuộc đấu tranh giành tự do
mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trước khi nghỉ ngơi, tôi đã nói chuyện với Coretta. Và
như thường lệ, cô ấy đã cho tôi sự tin tưởng mà chỉ có thể có được từ một người
gần gũi với bạn như nhịp đập của chính trái tim bạn. Vâng, đêm bất công thật
tăm tối: chính sách ‘cứng rắn” đang chiếm ưu thế. Nhưng trong bóng tối tôi đã
thấy một ngôi sao sáng chói của tình đoàn kết.
Martin Luther King, Jr
Phạm Hải Quỳ dịch
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét