Thứ Tư, 8 tháng 10, 2025

Sầu lên ngọn ải

Sầu lên ngọn ải

Chương I
Chập tối một ngày cuối thu năm Tân-tị, niên hiệu Càn-Phù hữu-đạo thứ ba, đời Lý Thái-Tông, cả một vùng Đảng Ro tựa hồ đã im hơi nép bóng dưới màn sương tỏa mịt mù. Cửa nhà nào nhà nấy đóng im ỉm. Trên các lối đi dầy xác lá, tuyệt nhiên không một bóng người. Cả những con chó hình như cũng vâng theo một lệnh bí mật nào đó, nên không con nào cắn sủa. Sự lặng lẽ gần thành ra một cái gì rờ mó được. Nó tiếp xúc với giác quan người ta chẳng khác một vật hữu hình, bí mật, đầy đe dọa.
Nhưng, vào khoảng đầu canh hai, ở trên con đường đất gồ ghề chạy thẳng tới một nếp nhà gỗ, mái thấp lụp xụp, một bóng người bỗng từ đâu hiện ra, đi êm êm như một giống ma quái hiện hình…
Phi Thống — một thứ người có đuôi — chăng?
Hay là Ma Cà Rồng, nhân canh khuya, mò đi tìm uế vật?
Ấy thực là một điều khó hiểu! Và ta, ta hãy thử nín lặng chờ xem nó làm những gì…
Nó đứng lại trước ngôi nhà thấp ; nó nghe ngóng hồi lâu rồi, thình lình, xô cửa bước vào trong nhà.
Một đám đông ngẩng nhìn: Ồ, Quái Đầu Đà!
Họ nghĩ thầm như vậy thôi, chứ tuyệt nhiên không ai hé răng nói nửa lời nào. Họ lặng lẽ ngồi xít lại với nhau, quanh đống củi đương cháy ngùn ngụt, để nhường cho lão già mới đến một chỗ xứng đáng.
Gần bọn đàn ông ngồi xổm này, là một đám vừa đàn bà vừa con gái lẫn lộn. Họ thản nhiên xe sợi, dệt cửi với những cử động đều như máy.
Năm bảy chiếc rễ thông vừa cháy vừa phun khói cố chiếu sáng cho cuộc hội họp kỳ quặc.
Những người đàn ông phần nhiều đều có những bộ mặt dữ tợn, thô lỗ và những thân hình cao lớn. Họ hút thuốc lá nhồi vào những cối điếu cau bằng đá gọt hình đầu các thú vật, như diều hâu, hổ, gấu chẳng hạn.
Bọn đàn bà, mặc cùng một kiểu áo bông rộng tay bọc vải chàm. Nhan-sắc họ chẳng có gì, trừ một vài người đẹp một cách quái dị.
Tất cả vẫn im thin-thít.
Họ không nói không phải vì họ không có nhiều chuyện quan trọng để nói.
Họ đương cố gắng chờ những tin tức mà ông già vừa vào kia đem đến cho họ vậy.
Ấy là một đạo-sĩ, một thày mo, một thày tạo, theo tiếng gọi của dân đường rừng.
Không ai rõ ông ta bao nhiêu tuổi. Họ chỉ biết ông là người có rất nhiều phép thần thông, biến hóa. Họ sợ ông vì ông có một thân hình, một trạng mạo thực hợp với cái tên Quái Đầu Đà, chẳng hiểu từ ai đặt cho ông.
Quái Đầu Đà thực là một thứ quái-vật.
Gọi lão là người cố-nhiên không đúng, nhưng bảo lão là đười ươi, khỉ, hay vượn cũng không phải.
Lão có một cái đầu nhọn hoắt, một cái đầu không tóc, chỉ lơ thơ một ít lông mềm đỏ quạch. Mặt lão mỏng như sống con dao quắm, và nhăn chẳng khác cái vỏ một quả thị rụng. Lão cao không kém chín thước, nhưng chân tay lão ngẳng nghiu và cong queo đến nực cười.
Lão không hay nói, nhưng hễ cất tiếng nói thì ai cùng phải giật mình. Là bởi giọng nói của lão oang oang như tiếng lệnh vỡ.
Trẻ con đương khóc mà thấy lão là y như nín bặt. Ai ra ngõ mà gặp Quái Đầu Đà, tức là người ấy gặp sự không may, dù làm việc gì cũng hỏng?
Lão già nhìn đám đông nín lặng quanh mình một lượt đoạn ngồi lên một bó củi khô. Lão giở điếu cau, châm lửa rít mấy hơi ngấu nghiến, nhổ vọt một tia nước rãi vào bếp lửa rồi, cũng thình lình như lão đến, Đầu Đà cất tiếng nói:
– Các người có biết tin gì không?
Một lão già khác:
– Có nghe mang máng thôi.
Quái Đầu Đà nhìn cử tọa:
– Không ai biết gì hơn à?
Một chàng tuổi trẻ đứng dậy:
– Chúng tôi chỉ nghe nói: Ninh-Đức Hoàng-hậu vừa cùng với đệ nhị Hoàng-tử là Nùng Trí-Cao từ Thất-Tuyền về đây…
Quái Đầu Đà gật:
– Phải rồi!
Chàng tuổi trẻ liếp:
– Nhưng chúng tôi chỉ mới nghe tin mà chưa được nhìn thấy Ninh-Đức Hoàng-hậu và Nùng Hoàng-tử..
Một vài tiếng khác:
– Ai trông thấy Hoàng-tử và nhất là Hoàng-hậu được…
Chàng tuổi trẻ vặn:
– Sao lại không ai trông thấy được?
Tiếng một người đàn bà:
– Vì rằng hễ ai nhìn thấy A Nùng (tên tục của Ninh-Đức Hoàng-hậu) người ấy sẽ mất đầu ngay tức khắc.
Quái Đấu Đà lẩm bẩm.
– Cậu ấy đúng!… Nhưng ta thì khắc biết rõ cái lai lịch bà nữa.
Mọi người xôn xao:
– Thật à?.. Một sự may quá nhỉ! Đầu Đà nói cho chúng tôi nghe về A Nùng với…
– A Nùng hình như một đứa con hoang của một đạo-sĩ với một con đười-ươi cái thì phải. Trước khi kết duyên với Nùng Tồn-Phúc, tức Chiêu-Thánh Hoàng-đế, A Nùng vẫn làm chúa ở một động Mèo khuất nẻo về phía Nam Đảng Ro này. Bà sống khác hẳn người thường, trong một hang đá lạnh lẽo.
Họa hoằn lắm bà mới hiện ra. Những giờ bà hiện ra là giờ Ngọ hoặc giờ Tí nửa đêm.
Bà hiện ra như một loài yêu ma, đứng chót vót mãi tận trên đỉnh núi cao hoặc nhảy thoăn thoắt từ tảng đá này sang tảng đá khác.
Ấy là một người đàn bà trắng như mặt trăng, có một mớ tóc vàng cũng như tơ. Bà ta khi hiện khi ẩn, lắm lúc rú lên những tiếng ghê rợn, như tiếng kẻ tội nhân bị lột da nhồi trấu.
Những đêm hè oi ả, người ta thường nghe A Nùng nhảy rỡn ầm ầm ngoài suối. Hình như những lúc ấy, da thịt A Nùng cháy lên như lửa và cần được ngâm vào nước lạnh cho ngọn lửa dịu bớt đi.
A Nùng cũng hay cưỡi con Bạch Long mã phi ra phố hoặc vào giữa nơi họp chợ.
Ai nấy, thoáng nghe tiếng nhạc đồng kêu lang rang, đều lập tức phäi nằm sấp xuống đất và lấy nón mũ che kín mặt lại.
Nhưng đấy là nói những cuộc chơi đùa bất thình lình của A Nùng. Thường thì mỗi lần có việc phải ra ngoài, A Nùng đã có lệnh báo trước để nhân dân biết mà đóng cửa. Là bởi vì rằng A Nùng không bao giờ tha thứ cho kẻ nào dám nhìn trộm bà hết. Kẻ phạm tội sẽ phải giết bằng trăm mũi tên, thân thể sẽ phải băm vằm ra và trộn lẫn vào cháo chó!
Bọn đàn bà rùng mình nhìn nhau:
– Dữ quá nhỉ!
Quái Đầu Đà gật gù:
– Dữ thật! Tuy thế một người đàn ông đã trị nổi A Nùng…
Chàng tuổi trẻ náo nức:
– Câu chuyện hẳn là hay lắm?…
– Ừ!
– Quái Đầu Đà làm ơn cho chúng tôi nghe luôn thể nào!
– Nguyên một hôm, A Nùng có việc phải ra phố. Tin quan trọng ấy đã báo trước cho mọi người. Các nhà đã đóng cửa im ỉm. Chợ đương họp cũng phải tan ngay tức khắc. A Nùng nằm rạp trên lưng con Bạch Long mã, vừa ra khỏi cửa động chừng hơn một dặm, bỗng một chàng trai trẻ không biết từ đâu mọc ra như cái cây to ở giữa đường.
A Nùng ngạc nhiên, gò mạnh giây cương làm cho con Bạch Long mã rách mép.
Sự ngạc-nhiên của bà chúa Liễu-sơn chớp mắt đổi ra một trận lôi đình, bởi chàng tuổi trẻ không những không tỏ ý sợ hãi mà còn làm ra mặt khiêu-khích nữa.
Hai mắt A Nùng nẩy lửa.
Bà quát hỏi:
– Mày là đứa nào mà dám cản lối ngựa của ta?
Chàng tuổi trẻ có cái mình lẳn tròn và mềm mại như mình con báo, một vẻ khôi ngô lạ lùng, khẽ mỉm cười:
– Ta là ta! Nếu đường này làm ra để cho ngựa của A Nùng đi thì nó cũng làm ra để cho ta đi chứ sao!
A Nùng gầm lên một tiếng ghê-rợn.
Đồng thời, một ánh gươm lòe sáng.
Nhưng nhanh như chớp, chàng tuổi trẻ đã ngồi thụp xuống trước đầu ngựa của A Nùng. Chàng nắm lấy hai chân trước con long mã, nhấc bổng lên khỏi mặt đất và lẳng mạnh một cái.
Cử tọa hớn hở:
– Con ngựa ngã chứ?
Quái Đầu Đà mỉm cười:
– Và cả A Nùng cũng lăn kềnh ra trên mặt đất!
– Thế rồi, hai người xông vào đánh nhau có đến non trăm hợp. Chàng tuổi trẻ càng đánh càng hăng. A Nùng, trái lại, phần là sức đàn bà, phần tức giận thái quá nên dần dần thua sút. Chàng tuổi trẻ lừa lúc A Nùng hở cơ liền một tay nắm thắt lưng, một tay nắm lấy A Nùng quật xuống.
– Ồ...
Quái Đầu Đà đợi cho sự náo-nức của cử-tọa dẹp xuống rồi mới tiếp theo:
– A Nùng cảm cái tài võ dũng của chàng tuổi trẻ, lại nhân thấy chàng là người khôi ngô lẫm-liệt nên đem lòng yêu mến và lấy chàng làm chồng…
– A, Nùng Tồn-Phúc phải không?
Quái Đầu Đà gật:
– Phải rồi, chính Nùng Tồn-Phúc, tức Chiêu-Thánh Hoàng-đế, ông vua rất anh hùng của chúng ta. Ngài đã chống nhau với các vua nhà Lý là có ý định làm vua nước Nam, lập nên một nước mới.
Chàng tuổi trẻ hỏi:
– Sao bảo ngài có ý phục-hưng nhà Lê?
Quái Đầu Đà gật gù:
– Ấy chỉ là một cách nói. Nhà Lê lấy ngôi của nhà Đinh thì nhà Lý lại lấy ngôi của nhà Lê. Thiên-hạ là của chung, ai có đức, có tài thì người ấy được hưởng? Chiêu-Thánh Hoàng-đế vì muốn có một cớ chính đáng để ra quân nên mới nói thác chuyện phù Lê để thu nhân tâm, các người hiểu chưa?
– Hiểu rồi!… Hiểu rồi!…
Chàng tuổi trẻ chép miệng:
– Chỉ tiếc rằng công việc của ngài mới làm được trong vòng có sáu tháng trời thì Ngài và Thái-tử Nùng Trí-Thông trúng kế của vua Lý Thái-Tông mà bị chết cả, thủ cấp phải đem bêu ở Thăng-Long ba ngày…
Quái Đầu Đà xua tay nói:
– Thắng bại có làm gì. Cổ nhân đã nói: đừng đem thành bại luận anh hùng. Ta chỉ nên biết rằng chúng ta đã có được một vị chúa tể xứng đáng. Nhờ Ngài mà ta được thiên hạ nể sợ, không dám coi ta như một tụi mán, mường ngu dại mãi mãi.
Cử tọa đồng thanh:
– Phải rồi, Quái Đầu Đà nói rất phải, chúng tôi chịu lắm.
Quái Đầu Đà vuốt râu nói tiếp:
– Tôi hỏi các người câu này nhé?
– Vâng. Đầu Đà cứ hỏi.
– Hiện có mặt tại đây Hoàng Sư Mật, Đoàn Hồng, Nguyễn Dư Khương, Đinh Ứng Long, bốn vị đầu lĩnh đã từng phù tá Chiêu-Thánh Hoàng-đế. Ngoài ra, các người đều là những tay võ dũng can đảm cả. Vậy thì nếu nay Hoàng-tử Nùng Trí-Cao lại dựng cờ khởi sự một phen nữa, các người có sẵn sàng đem thân ra giúp Hoàng-tử để làm nên nghiệp lớn, lưu tiếng thơm lại muôn đời sau chăng?
– A, gì chứ điều ấy thì chúng tôi xin ký cả hai tay!…
Đầu Đà nhếch một nụ cười gần như mếu:
– Ta đoán không sai mà! Ta đoán trước thể nào các người cũng còn nhớ ơn chúa cũ và sẵn lòng giúp giập tân-quân mà!
Đoàn Hồng hỏi:
– Nhưng, có điều cần biết là đệ nhị Hoàng-tử liệu có chí lớn làm như Hoàng-phụ khi xưa chăng?
Đầu Đà nhìn Đoàn Hồng bằng đôi mắt sáng quắc:
– Điều ấy thì còn phải nghi-ngờ gì nữa! Ninh-Đức Hoàng-hậu đã là một người đàn bà phi-thường, tất không đời nào lại cam chịu sống một đời tối tăm giữa thảo mộc. Vả lại, chẳng cần phải đoán già, đoán non gì nữa. Chỉ ngày mai đây, lệnh mộ quân thế nào cũng ban bố ra khắp vùng này và ta, ta nguyện sẽ đem những ngày cuối cùng của đời ta ra phù tá Nùng Trí-Cao Hoàng-tử.
– Chúng tôi cũng vậy!
Đám đông dứt lời, ai nấy cùng im lặng. Họ mơ màng nhìn ngọn lửa bốc, hình như đã trông thấy cái cảnh tượng kỳ sĩ rỡ ràng sắp lại bày ra một lần nữa ở chỗ nước non cùng tịch.
Bên ngoài, từng cơn gió lạnh thổi ào ào. Lá cây rụng sột soạt. Sương trắng càng lâu càng tỏa mịt mùng như bao phủ lấy một vùng rừng núi với cái bí-mật hãi-hùng và oanh liệt của nó….
Chương II
Trong vòng mới có hơn một tháng trời, cả vùng Đảng Ro đã hiện ra một cảnh tượng khác hẳn với cái cảnh thâm u của những ngày tẻ nhạt.
Mầu xanh của thảo mộc, cái mầu xanh thiên vạn cổ nó luôn luôn hiện trước mắt người ta như một thứ ám ảnh đã bị hoen ố bởi những sắc đỏ vàng trắng tím của tinh kỳ dựng lên san sát.
Từ các nẻo đường ăn thông với những vùng lân cận, từng đoàn ngựa, từng đoàn trâu, bò, dê, lợn, và từng dãy những cuôi nứa lót lá giọng tươi, những cuôi đầy gạo nếp hoặc tẻ, suốt ngày nối đuôi nhau không ngớt. Ấy là những quân lương do Ninh-Đức Hoàng-hậu phái đi mua, hoặc tự dân các động các làng đem về dâng nộp.
Công việc tuyển mộ sĩ tốt, do Đoàn Hồng, Sư Mật trông nom, tiến hành theo một nhịp cấp bách và có những kết quả không ngờ.
Những lính mới này, sau khi đã phân phát thành đội ngũ, đều theo lệnh của hai nữ tướng là Đoàn Hồng-Ngọc và Vương Lan-Anh thao luyện.
Và, một khi họ đã tinh thục việc chiến đấu, họ lại qua sang tay Quái Đầu Đà để học những cách tự huy động theo các trận kết như Trường sà, Bát quái, là những trận thế cực kỳ lợi hại mà Quân-sư Quái Đầu sẽ đem dùng để thực hiện cái mộng lớn thu phục nước Nam và xâm lăng đất Tống của Ninh-Đức Hoàng-hậu và Nùng Trí-Cao Hoàng-tử.
Mặc dầu tấm gương thất bại chớp nhoáng của Chiêu-Thánh Hoàng-đế khi xưa, những cuộc dự bị hiện thời vẫn gieo vào lòng dân chúng vùng Đảng Ro một náo-nức khôn tả.
Họ thấy chảy rạo rực trong huyết quản họ một cái gì như một nguồn sinh lực mới mẻ.
Họ không còn là những người dân lành hiền, ít nói và ưa tĩnh nữa. Họ trở nên những tâm hồn bồng bột, những vũ-sĩ hăng hái và can đảm.
Họ hoa chân múa tay, bàn nói bằng những giọng nhiệt liệt những cách đánh, cách giữ. Người nào cũng thấy mình có một ý hay, cần phải đem ra bàn tán và mong các tướng-lĩnh thừa nhận.
Họ vẻ vang, kiêu hãnh thấy người trong anh em, bạn hữu hay chính mình họ, vừa mới hôm qua đây còn chưa là gì cả mà hôm nay đã trở nên các đội trưởng, các tướng tá.
Thực là một cơ hội tốt cho cái lòng tham danh lợi trong mỗi thằng người.
Và sự phù-tá, sự trung-thành với Nùng Hoàng-tử trước khi là một đại nghĩa, đã trở nên một con đường đưa tới những mộng vô cùng rực rỡ.
Và đưa tới cả những... mộng lòng say đắm
Buổi chiều hôm ấy, lúc mặt trời gần xuống khuất sau đỉnh núi đằng phía Tây, trên con đường từ bãi đất rộng mà người ta mới đặt cho cái tên là giảng vũ đường về tới nơi dựng các hổ trướng của những tay đầu lĩnh, hai thiếu nữ vận nhung trang cưỡi ngựa đi sóng nhau.
Một nàng vào trạc hai mươi nhăm, gương mặt bầu bầu, mặt sáng như ánh đèn điện, mũi thẳng, miệng rộng với những đường viền môi rất đẹp; còn một nàng mặt tròn như trăng đêm rằm, mầu da thắm đỏ, mắt to có vẻ mơ màng và trên môi lúc nào cũng phảng phất một nụ cười phác nở, một nụ cười nửa như e-thẹn nửa như hoài-nghi.
Thiếu nữ nói trên cưỡi ngựa hồng, mặc áo giáp đồng-tụ, đi giày mỏ ửng mầu cánh chả, lưng giắt đôi cờ lệnh và, bên sườn tay trái, buông thõng một đôi quất chuôi ngà.
Thiếu-nữ mặt tròn mặc áo vóc đen, rộng tay, ngoài phủ áo chẽn dát kim tuyến, thắt lưng bằng giây si-man sắc máu. Hai ống quần rộng cũng bằng vóc đen luồn vào đôi tất thêu mầu thiểu hồng. Chân nàng đi võ hài cũng mầu đen thẫm, và lưng đeo trường kiếm, nhưng không có cờ lệnh.
Nàng cưỡi ngựa hồng, sau một hồi đắn đo. bỗng cất tiếng hỏi:
– Chị Lan-Anh nhỉ, tại sao không bao giờ ai thấy mặt Nùng Hoàng-tử hết.
– Gọi là Hoàng-đế thì vừa, vì Ngài sắp lên ngôi rồi đấy!
– Riêng tôi, tôi thích xưng người là Hoàng-tử vì, như thế…
Lan-Anh cười:
– Người trẻ hơn vì ít xa xôi hơn chứ gì!
– Chính thế!
– Trong bọn ta, được diện kiến Chúa-thượng, chỉ duy một mình Quân-sư Quái Đầu Đà.
– Bọn mình, chức tuy kém Quân-sư, mà thực ra, cũng dự vào hàng đại-tướng cả chứ có phải như lũ tì-tướng đâu!
Lan-Anh cười:
– Chị Hồng-Ngọc, tại sao chị cứ băn-khoăn muốn được diện-kiến Chúa-thượng?
Hồng-Ngọc nghe bạn hỏi liền cúi đầu tỏ ý thẹn:
– Nào có phải riêng một mình tôi! Tôi chắc mọi người, ai cũng một ý ấy, ngay chị cũng vậy, tôi chắc chị cũng bứt rứt muốn biết mặt Chúa-công như thế nào.
Vương Lan-Anh không trả lời thẳng câu Đoàn Hồng-Ngọc nói:
– Bí mật quá!.... Nhất là em nghe nói, bình nhật, Chúa-công thường hay trá hình mà lẫn lộn trong đám sĩ tốt để tự mình kiểm soát mọi việc.
Đoàn Hồng-Ngọc tò mò:
– Thực à? Tin ấy do ai nói?
– Do ai nói thì không rõ nhưng việc ấy mọi người đều biết cả…
Đoàn Hồng-Ngọc mơ màng:
– Thế lại càng khó chịu cho tôi, vì tôi bẩm tính tò mò lắm. Mình lúc nào cũng phải sống với cái tin tưởng rằng quanh minh luôn luôn có một đôi mắt bí mật theo dõi cái hành vi của mình ư?… Ồ, kể cũng đáng lo mà cũng rất thú-vị. Ông vua của mình không là ai hết mà lại là tất cả mọi người!..
Một đàn chim vụt bay qua trên đầu hai nữ-tướng.
Hồng-Ngọc ngẩng trông một lúc lâu, vẻ mặt càng thêm tư lự.
Sau cùng, nàng gạn hỏi Lan-Anh:
– Chị nói rằng chỉ có một mình Quân-sư Quái Đầu Đà là thường được thấy mặt Chúa-thượng…
– Điều ấy, ai mà không rõ.
– Đành vậy, nhưng chị có nghe Quân-sư kể lại hình dung của người ra sao không?
Lan-Anh nhìn Hồng-Ngọc với nụ cười ý nhị:
– Quân-sư đời nào chịu nói, một khi mà chính Chúa-thượng muốn giữ bí mật hành tung của ngài!
– Có lẽ.
Câu sau cùng này, Hồng-Ngọc nói như người nói trong giấc mơ..
Hai ngựa đã về tới cửa trại của Vương Lan-Anh.
Vương nữ tướng cầm tay Hồng-Ngọc:
– Chị rất được Ninh-Đức Hoàng-hậu yêu mến, chị có thể nhân chỗ ấy kiếm cớ đột nhập vương phủ, may ra giáp mặt Chúa-thượng
Vẻ mặt Lan-Anh, lúc nói câu ấy, tỏ ra nàng rất hiểu lòng bạn. Bởi vậy, Đoàn Hồng-Ngọc càng nóng bừng hai má. Nàng lắc đầu:
– Mình làm như thế e người ta cho rằng mình dụng tâm cầu cạnh quá!
– Tưởng chẳng sao!… Còn hơn là ngày đêm lúc nào cùng thắc mắc vẩn vơ mãi…
Hồng-Ngọc thẹn quá ; nàng ra roi cho ngựa chạy. Nàng bắt con Mai hoa phi nước đại mãi đến tối mịt mới quay về. Sự mệt nhọc thể chất làm dịu bớt những sôi nổi của tâm hồn nàng.
Tâm hồn thiếu-nữ là một thứ tâm hồn bồng bột đến gần thành mọi rợ. Nàng lại là con nhà võ tướng, từ nhỏ chỉ chuyên tập luyện kiếm cung nên cái thiên-tính của nàng được tự do phát triển, không bị kiềm chế chút nào. Một tâm hồn như thế mà thêm một trí tưởng- tượng rất giầu, giữa khi lòng nàng bắt đầu yêu, thì ta đủ thấy sự bạo-liệt như thế nào?
Hồng-Ngọc quả đã yêu.
Cái tin Nùng Trí-Cao lại dựng cờ khởi nghiệp làm cho Hồng-Ngọc tưng bừng vui sướng. Đời sống của nàng nếu ví là nước trong ao tù thi tin ấy chính là hòn đá tảng mà một bàn tay vô hình đã ném xuống.
Và người đã ném hòn đá tảng ấy tất nhiên phải thu hút tưởng tượng nàng một cách mãnh liệt.
Nàng hướng về ông Hoàng-tử nọ một cách không thể cưỡng được. Nhất là khi Nùng nhất định cứ bí mật như một cái bóng.
Đến buổi chiều nay, một tin khác càng kích-thích thói tò mò của thiếu nữ: Nùng Trí-Cao thời thường hay trá hình đi lẫn vào đám các sĩ tốt vô danh để tự mình kiểm điểm hết mọi việc ư?
«Như vậy, có lẽ ta đã nhiều phen giáp mặt chàng mà không biết! »
Nghĩ ngợi băn-khoăn chừng nào, thiếu-nữ càng cố nhớ lại những gương mặt quân-sĩ và tướng tá nàng đã gặp.
Khôi ngô, lẫm liệt, kể thì không thiếu gì người. Nhưng Hồng-Ngọc quả chưa chú ý đến một ai hết.
Nếu Nùng Trí-Cao có mặt ở trong số các thanh-niên mà nàng đã để ý, nàng chắc chắn sẽ nhận được ngay, mặc dầu hai bên chưa từng giáp mặt nhau.
Một cái gì sẽ bảo cho Hồng-Ngọc biết ngay rằng đấy là Nùng Hoàng-tử.
Một vị vương giả, một chân mệnh đế vương có lẽ nào lại lẫn với muôn nghìn chúng nhân khác!
Hồng-Ngọc chắc chắn như vậy song lại vẫn cứ thắc mắc hoài về sự nàng có thể đã gặp Trí-Cao mà không biết.
Nàng băn khoăn một mình trong hổ trướng, nàng mơ tưởng ông hoàng kỳ dị bởi nàng thấy nàng chỉ có thể yêu được một người phi thường.
Và, một khi nàng đã muốn yêu, nàng quyết phải yêu cho bằng được mới nghe.
« — Nếu ta sẽ không có dịp nào để giáp mặt chàng, ta quyết sẽ làm cho chàng phải chú ý đến ta bởi những pháp thuật và cái tài vạn nhân-địch của ta vậy ».
Hồng-Ngọc không ngoa ngôn chút nào, khi nàng dám quả-quyết như ta vừa thấy. Nàng quả là một nữ trung hào kiệt một thời.
Không những lục thao, tam lược nàng làu thông, không những tài kiếm mã của nàng, dù trong bọn mày râu cũng ít ai sánh kịp, mà nàng còn thêm cái khoa hô phong hoán võ, sái đậu thành binh nữa.
Những tài năng ấy, nàng tự hẹn với lòng sẽ đem hết ra để phù tá Nùng Trí-Cao thực hành cái mộng vương bá.
Một khi cao vọng đã đạt, Trí-Cao tất sẽ nhớ đến công ơn nàng, sẽ tìm để gần gụi nàng.
Hồng-Ngọc mỉm cười, mắt long lanh nhìn bóng nàng phản chiếu trong mảnh gương đồng hình bồ dục.
Là vì, lúc cần phải đem sóng khuynh thành để làm xiêu gan tráng-sĩ, Hồng-Ngọc lại càng tự tin ở mình lắm.
Sự thực, nàng là một nhan-sắc có thể gọi là hoàn toàn.
Nàng, đã đành, không đẹp một cách nhu mì, kiều diễm, như các thiếu nữ mà đời sống hàng ngày ủ kín trong nhung lụa. Nàng đẹp đây là đẹp một cách khỏe mạnh hùng tráng, cái đẹp mà khách anh-hùng không bao giờ lại không nhận thấy ngay.
Nùng Trí-Cao là dòng-dõi anh hùng.
Cứ theo lời người ta truyền tụng về chàng, Nùng Trí-Cao lại có sức khỏe và tài võ như Hạng Vương.
Đã thế thì nàng Hồng-Ngọc phải được coi là người tình nương lý-tưởng của chàng, nếu hai bên sẽ gặp nhau.
Quân hầu vào nhắc giờ ăn cơm tối.
Hồng-Ngọc không đáp. Nàng lẩm bẩm:
– Cuộc gặp gỡ của Chiêu-Thánh Hoàng-đế và Ninh-Đức Hoàng-hậu mới tốt đẹp làm sao. Ta ước gì sẽ có với chàng một mối lương duyên tương-tự!
Chương III
Từ khi Lê Phụng-Hiểu chém chết Võ Đức vương tại trận tiền, khiến cho bọn các ông hoàng Dực Thánh vương và Đông Chính vương phải chắp tay hàng phục, sự nội loạn chốn kinh sư dẹp tan, Thái-tử Phật Mã liền lên ngôi Hoàng Đế, tức là Lý Thái-Tông vậy.
Thái-Tông là một ông vua thông minh đĩnh ngộ, phàm lục thao, tam lược đều thuộc, lại đã từng quen việc chiến trận nên khắp trong nước dân gian càng ngày càng được hưởng sự thái bình.
Ngài riêng giận nước Chiêm Thành về chỗ nhất định không chịu thông sứ lại hay quấy nhiễu mặt bể nên, sau mười lăm năm ngồi trên ngai vàng chỉ huy việc nội trị, Thái-Tông Hoàng-đế liền hạ chỉ thân-chinh sang đánh Chiêm vương là Sạ Đẩu.
Hai quân gặp nhau ở phía Nam sông Ngũ Hồ. Quân Việt-Nam xông vào giáp chiến hăng quá, địch quân phải tan vỡ, để lại chiến địa hơn năm ngàn tù binh và ba chục thớt voi.
Thấy đại cục nguy, tướng chiêm là Quách Gia Gi liền chém quốc vương là Sạ Đẩu rồi đem quân bản bộ tới ngự doanh Lý Thái-Tông, xin đầu hàng.
Nam-binh nhờ vậy kéo thẳng một mạch đến Phật-thệ, kinh-đô của Chiêm Thành.
Tướng sĩ nhà Lý, giận vì bình nhật người Chàm hay sang cướp bóc, đốt phá các vùng biên cương nên đua nhau làm cỏ dân Phật-thệ. Lý Thái-Tông phải hạ nghiêm lệnh để ngăn ngừa sự chém giết thái quá. Ngài xếp đặt các việc đâu vào đấy xong, tức khắc ban sư hồi trào. Trong lúc rút lui, vua có đem theo về một đoàn cung nhân, năm nghìn tù binh, và Chiêm-Thành vương-phi Mị-Ê, một nhan sắc có thể sánh với Tây-Thi của Trung-quốc.
Đạo Ngự về đến sông Lý Nhân, Thái-Tông Hoàng-đế, lúc ấy vừa tan tiệc rượu đắc thắng với trăm quan văn vũ, truyền nội thị đòi Chiêm Vương-phi sang hầu.
Mị-Ê kháng chiếu, nhất định giữ tròn nghĩa trọng với Chiêm vương Sạ Đẩu. Nàng lừa lúc bọn quân hầu vô ý liều cuộn tròn một tấm chiên lên mình rồi lăn nhào xuống nước. Vì trời tối, sự cứu vớt và tìm kiếm không thể nào thi-hành cho có hiệu quả được. Tấm thân tiết-nghĩa của Hoàng-hậu Chiêm-Thành thế là bị dập vùi theo sóng nước lạnh lùng.
Và, cái chết của giai-nhân, từ đấy ăn sâu vào trí não vị thanh-niên Hoàng Đế. Mỗi lần, như buổi chiều nay, chợt nghĩ đến người đẹp xứ Chàm, Thái-Tông Hoàng-đế lại một lần thấy cả tâm hồn mình nao nao lên bởi muôn nghìn tình cảm mãnh liệt. Ngài cảm cái lòng trinh-bạch chuyên nhất của Mị-Ê bao nhiêu thì lại hối hận về sự khinh-bạc mà ngài đã lầm đem ra đối đãi với nàng bấy nhiêu. Và càng cảm động, càng hối hận, Thái-Tông Hoàng-đế càng mến tiếc một áng thanh-sắc tột vời.
Những lúc ngổn ngang trăm mối ấy, Thái-Tông Hoàng Đế thường ngồi lặng hàng trống canh, chểnh mảng cả quốc-gia trọng sự, nhất là hờ-hững với sự săn đón của các phi-tần đương ganh nhau mua chuộc sự sủng-ái của Quân-vương.
Ngài mơ màng trông đóa phù dung đương rực rỡ dưới một tia nắng ; lòng buồn man mác như còn nghe tiếng sông nước Lý Nhân cuốn thi thể Mị-Ê đi tới cõi xa-xôi mờ-mịt.
Bỗng, Hoàng-môn quan từ ngoài bước vào.
Thái-Tông Hoàng-đế hơi cau mày và phán hỏi:
– Có việc chi?
– Tâu Thánh-thượng, có sớ tấu của trấn thủ Cao-Bằng dâng trình ngự lãm về một việc khẩn cấp.
Vua truyền nội-giám tiếp nhận biểu văn. Ngài mở ra xem, sắc mặt dần khác. Sau cùng, Ngài ngoảnh lại truyền:
– Nội giám, mau triệu các hổ tướng Lý Thường-Kiệt, Lê Phụng-Hiểu và Lý Nhân-Nghĩa vào đây bàn việc.
Không bao lâu, ba vị tướng quân đã phải phủ phục trước đơn trì. Thái-Tông Hoàng-đế truyền miễn lễ đoạn nói rằng:
– Cách ba năm về trước tù trưởng Đảng Ro vùng Cao-bằng là Nùng Tồn-Phúc và con hắn là Nùng Trí-Thông dám ngang nhiên làm loạn, xâm phạm kinh-đô, rốt cuộc cả hai đứa loạn thần tặc tử đều phải chém đầu bêu chợ, các khanh hẳn còn nhớ chứ?
Lý Thường-Kiệt tâu:
– Tâu Thánh-thượng, việc loạn năm Mậu-dần ấy, chẳng những chúng tôi mà ngay một kẻ ngu phu ngu phụ đất Kinh-đô này cũng vẫn còn nhớ rõ.
– Chư khanh lại cũng biết rằng vợ Tồn-Phúc là A Nùng và con út hắn là Nùng Trí-Cao chạy thoát được và từ đấy vẫn ẩn náu ở Thất-Tuyền; có điều chuột chạy cùng sào ta không nỡ bắt giết đi đó thôi.
– Chúng hạ thần có biết việc ấy.
Thái-Tông vỗ tay xuống long án:
– Ta nghĩ thương tình không nỡ nhổ cỏ nhổ cả rễ, không ngờ nó lại vẫn chứng nào tật ấy!…
Lê Phụng-Hiểu nói:
– Tâu Thánh-thượng, có lẽ Trí-Cao làm loạn chăng?
– Phải. Đây, sớ của trấn thủ Cao-bằng cấp báo đây: Trí-Cao cùng mẹ hắn trở về Đảng Ro đã ba tháng nay. Chúng nó lại chiêu nạp bọn đồ đệ cũ của Tồn-Phúc, lại chiêu binh mãi mã, lại xưng bá xưng vương, toan làm phản triều đình lần nữa. Vậy chư khanh tính sao?
Lý Thường-Kiệt nói:
– Bọn thảo khấu ấy không tuân Vương hóa, quen thói rông càn, không trị thẳng tay không được. Thần xin cùng nhị vị đại-tướng này cầm binh lên dẹp, quyết không để sống một tên giặc nào, ngõ hầu Thánh-thượng khỏi bận lòng nghĩ ngợi.
Lý Nhân-Nghĩa cũng họa theo:
– Lời quan Thượng-tướng tâu rất phải, xin Bệ-hạ chuẩn y cho.
Thái-Tông nhìn Phụng-Hiểu. Lão tướng chắp tay nói:
– Đánh kẻ có tội, thưởng kẻ có công, đã đành là phép của Triều-đình. Nhưng, lấy sức đàn áp người ta sao bằng lấy đức cảm-hóa người ta. Lệnh Bệ-hạ khi trước đã không nỡ tiệt diệt giòng dõi họ Nùng, vậy mà nay Trí-Cao không nhớ ơn, nghĩ thực đáng giận. Có điều chúng là kẻ mọi-rợ ngu dốt nên trong cái lý đáng giận còn có cái tình đáng thương. Thần xin một mình đem quân lên, trước hết hãy dùng lời nhân-nghĩa giảng cho nó nghe. Nếu nó biết lẽ phải, cuốn giáo lại hàng, Bệ-hạ sẽ dung tha cho nó. Khổng Minh khi xưa thất cầm thất phóng Mạnh Hoạch mà yên được cả một xứ đấy. Nhược bằng nó cứ chấp nê không nghe lời dạy bảo, thần xin dùng một mẹo nhỏ bắt nó đem về đây, tùy lượng Bệ-hạ nghĩ sử. Còn như điều động một lúc đến ba viên đại-tướng để tiễu trừ một đảng thảo khấu, thần e tai mắt thiên-hạ có thể thấy được chỗ đáng dị nghị chăng?
Thái-Tông Hoàng-đế nghe lời Phụng-Hiểu lấy làm bằng lòng lắm. Ngài vuốt râu mỉm cười mà rằng:
– Lê hiền-khanh bàn rất hạp ý trẫm. Đã lâu nay, chư khanh hẳn cũng thấy rõ rằng trẫm có ý muốn cự nhau với Tống-triều một phen để thu-hồi đất Lưỡng Quảng tức là đất cũ của ta. Cái ý định ấy không phải là một điều mơ tưởng hão, một khi mà binh-lực của ta hùng hậu như bây giờ và một khi trẫm có được các vũ-tướng như chư khanh giúp đỡ. Về phía Nam cương vực nước Đại-Việt ta càng ngày càng mở rộng. Nay ta nhân lúc thừa nhuệ khí, tiến lên cả miền Bắc nữa. Nhưng muốn được thế, ta, trước hết, phải cần gì?
Phụng-Hiểu đáp:
– Phải cần hiểu nội tình, quân lực, và cách dụng binh của nhà Tống.
– Chính phải!
– Mà muốn hiểu rõ nội tình, binh lực cùng chiến-thuật của Tống-trào, ta không thể tìm ai hơn Nùng Trí-Cao được nữa.
Thái-Tông Hoàng-đế vui mừng hớn hở. Ngài gật đầu hai ba bận:
– Phụng-Hiểu thực đã nom thấy hết ruột gan của ta! Nùng Trí-Cao vốn sinh-trưởng ở biên-thùy, tất nhiên việc bên ta và bên Tàu, y đều thông hiểu hết. Y lại khởi binh chống cự với ta, như thế tất y đã biết hết lực-lượng của Tống-trào và có phương-sách để phòng giữ rồi. Nay chỉ còn làm thế nào dụ được y về hàng là xong xuôi mọi việc.
Phụng-Hiểu tiếp:
– Và, nếu y không chịu đầu hàng, ta cũng phải bắt y cho kỳ được rồi sau sẽ tìm cách thu phục lòng y.
– Chính thế! chính thế!… Vậy, ngay ngày mai, hiền-khanh nên vì trẫm chịu khó nhọc một phen.
Phụng-Hiểu quì lạy:
– Hạ-thần nguyện xin đem sức khuyển mã báo đáp ơn tri ngộ của Bệ-hạ.
Thái-Tông Hoàng-đế lập tức thân tự thảo sắc: Đãng-khấu đại tướng quân, giao cho Phụng-Hiểu. Vua lại ban cho Lê một lá cờ lệnh và một thanh thượng-phương bảo-kiếm, cho phép từ hàng phó-tướng trở xuống, nếu ai trái lệnh cứ việc chém đầu.
– Việc này quan-trọng, đáng lẽ trẫm chờ buổi chầu ngày mai, trước mặt trăm quan văn võ sẽ công khai trao kiếm ấn cho khanh mới phải. Nhưng, việc binh cốt ở thần-tốc và bí-mật, ta phải làm sao như sét đánh ngang trời, kẻ kia bưng đầu không kịp mới mong toàn thắng được.
Thái-Tông Hoàng-đế nói xong, truyền nội-thị bầy tiệc rượu để vua cùng ba vũ tướng yến-ẩm
Cuộc đàm luận về binh pháp kéo dài mãi đến hết trống canh một, ba vị đại-tướng mới cáo biệt vua ra khỏi cấm-thành.
Trong khi ấy, binh-bộ đã sửa soạn điểm sẵn một đội hùng-binh để chờ lệnh điều khiển của Đãng-khấu đại tướng quân Lê Phụng-Hiểu.
Chương IV
Lý Triều, Võ-vệ Tướng-quân
thư gửi nghịch tướng Nùng Trí-Cao
Cha, anh nhà ngươi khi trước đã manh tâm làm phản, tội đáng tru di tam tộc. Ấy vậy mà đức Hoàng-Đế ta đã không nỡ làm cho họ Nùng ngươi phải tiệt diệt, trong lúc Triều-đình có thể thừa thắng viễn đấu, vào tận Cao Bằng mà san phẳng sào huyệt các ngươi làm cỏ hết lũ phản nghịch.
Là vì sao?
Chẳng phải vì đức Hoàng-Đế ngài thể lòng hiếu sinh của Thượng Đế, muốn lưu một chút ơn sau cho dòng họ nhà ngươi đấy ru?
Đối với ơn đức ấy, ngươi đã chẳng biết cảm động, dốc một lòng trông một đạo làm tôi Triều-đình, vì vua vì nước coi giữ một giải biên cương, vỗ về dân chúng, ngươi lại manh tâm làm phản, đất bằng gây cuộc binh-đao để cho một vùng non nước nhân dân bỗng không lâm vào cảnh máu sôi, lửa bỏng.
Cái tội của ngươi thực là không thể nào dung tha được.
Nay ta vâng lệnh Hoàng-thượng, cầm cờ tiết-chế lên đây, trước hết hãy đem lời phải chăng giảng dạy cho ngươi biết cải tà quy chính. Ngươi nên chắp tay kính lạy mà vâng theo thì tính mệnh ngươi không đến nỗi phải tan-nát dưới lưỡi gươm đao-phủ.
Nhược bằng ngươi cứ nhất định chấp mê, không chịu tuân lời chỉ điểm, ta sẽ đem toàn lực vây đánh, kỳ bắt sống được ngươi mới nghe. Đến lúc làm vào cảnh ngộ như cha, anh ngươi khi xưa, ngươi dù có hối cũng không kịp nữa!
Đọc xong bức thư của Lê Phụng-Hiểu, Nùng Trí-Cao lập tức nổi trận lôi đình. Y vỗ tay xuống mặt bàn, gầm thét như sấm, và truyền điểm quân ra trận.
Quái Đầu Đà vội nói:
– Chúa-công không nên nóng nảy. Đây chỉ là mưu gian của Nam-tướng, cốt dụ người ra đánh để thi-hành một ý-định nào đó. Người ra ngay, tôi e mắc mẹo giặc. Chi bằng hãy sai một tướng cầm binh ra đánh thử mấy trận xem tình hình bên địch thế nào rồi sau hãy liệu cũng vừa.
Nùng Trí-Cao gắt:
– Ta thiên binh vạn mã, há lại sợ cái mưu quèn của một tên Nam-tướng hay sao? Vả lại nó đã dám xúc-phạm đến ta, nếu ta không thân chinh ra đánh, thiên-hạ khỏi sao không cười ta là phường nhát sợ. Ta hãy chém đầu Lê Phụng-Hiểu rồi sau kéo binh về Thăng-Long bắt Lý Phật-Mã xem thế nào.
Nùng Trí-Cao nói xong, tức khắc mặc giáp, cầm song đao nhẩy lên mình ngựa ô-truy, dẫn hai nghìn quân ra đối-địch.
Y dặn với Quái Đầu Đà:
– Các ngươi phải ở đâu yên đấy mặc ta đánh nhau với Lê Phụng-Hiểu. Nếu kẻ nào sai lệnh ta sẽ chém không tha.
Dứt lời, Nùng Trí-Cao phi ngựa đến cửa thành Cao-bằng gọi Lê Phụng-Hiểu ra đấu sức.
Phụng-Hiểu chỉ mong có thế nên vừa nghe Nùng-Trí-Cao đến đánh, lão tướng lập tức mở cổng thành dẫn quân ra.
Hai bên thấy nhau không ai nói câu nào, cứ việc lăn sả vào mà đánh.
Lê Phụng-Hiểu tuy già mà sức còn hăng-hái như một người trai trẻ, thêm có ý định sẵn nên ung-dung đối địch và nhờ vậy, đường siêu lúc nào cũng sáng suốt, cũng đúng phép.
Nùng Trí-Cao, trái lại tuổi còn trẻ nhưng hung hăng vì tức giận, đánh cứ mong hạ địch-thủ ngay, rốt cuộc đâm ra mệt nhọc, đao pháp rối loạn.
Lê Phụng-Hiểu mừng lắm, nhất định ghìm cho Nùng-Trí-Cao thực mệt, lúc đó sẽ lừa Nùng vào bẫy sau.
Hai tướng quần nhau chừng bốn mươi hợp có dư.
Phụng Hiền bỗng gạt đao của Nùng, lùi ra mà rằng:
– Ta khen cho tiểu tử cũng là tay giỏi đó. Nhưng, ngươi có dám đánh cùng ta đến chập tối không?
Nùng Trí-Cao hăm hở:
– Sao lại không?
– Được, thế ta cùng về thay ngựa. Và, không cần đến quân-sĩ nữa, cho chúng nghỉ.
– Được lắm!
Hai tướng quay về trong cửa cờ, đổi ngựa chiến khác. Phụng-Hiểu khẽ gọi mấy tướng tâm phúc lại dặn nhỏ:
– Các ngươi cứ như thế…, như thế… mà làm.
Nói đoạn lão-tướng lại quay trở ra thì Nùng Trí-Cao đã chờ sẵn tự bao giờ.
Hai tướng lại cùng nhau đấu sức.
Được chừng ba chục hợp nữa thì mặt trời vừa xuống sau đỉnh núi. Lê Phụng-Hiểu thấy giờ hành-sự đã đến, liền giả vờ làm cho thương pháp hình như mỗi lúc một rối loạn, và sau cùng lão tướng phóng bậy một mũi rồi quay ngựa chạy.
Nùng Trí-Cao hét lớn:
– Nam-tướng xuống ngựa chịu trói mau, còn chạy đường nào?
Vừa nói, Nùng vừa ra roi cho ngựa đuổi.
Phụng-Hiểu chạy một thôi lại quay lại đánh rát một trận, khiến cho Nùng-Trí-Cao phải nổi cáu, rồi lại chạy dài.
Nùng Trí Cao vô tình đuổi mãi.
Hai tướng đã ra khỏi chiến trường từ lâu, và cùng rẽ vào một con đường núi vắng vẻ.
Thình lình, Lê Phụng-Hiểu quát to một tiếng:
– Phản tặc, chết đến sau lưng rồi mà còn không biết sao?
Nhưng Trí-Cao chưa kịp đáp thì, từ một bụi rậm bên lề đường, một bàn tay vô hình nào đã vung xuống đầu chàng một cái lưới rộng.
Cả người lẫn ngựa của Trí-Cao lại bị vướng lưới, ngã lăn quay ra trên mặt đất.
Nam-binh xông đến trói nghiến ngay lại.
Lê Phụng-Hiểu cất tiếng cười ròn:
– Thôi, họ Nùng nhà ngươi phen này thì cứ gọi là tiệt diệt!…
Lão tướng huýt một hồi còi.
Trên đỉnh núi bên trái, một tiếng pháo lệnh vụt nổ. Một tia lửa vọt lên không, như một ngôi sao chổi.
Phụng-Hiểu truyền quân:
– Đem đại-tướng về thành giữ cho cẩn thận để ta lên phá nốt sào-huyệt của nó.
Lão tướng nói xong, quất ngựa trở lại chiến trường, ở đấy, Nam-binh đã dàn trận chờ sẵn.
Lại nói chuyện Quái Đầu Đà, sau khi can ngăn Nùng Trí-Cao không được, va liền vào tìm Ninh-Đức Hoàng-hậu kể lể mọi nhẽ.
Ninh-Đức Hoàng-hậu dậm chân nói:
– Con ta thể nào cũng trúng độc kế của bèn địch. Quân-sư nên cùng với Đoàn Hồng-Ngọc điểm sẵn một đạo quân chờ hễ lúc nào Hoàng-tử đuổi giặc quá xa thì kịp tiến lên mà tiếp ứng.
Quái Đầu Đà vâng lệnh trở ra cùng với Đoàn Hồng-Ngọc điểm quân chờ sẵn.
Kịp khi Trí-Cao đuổi theo Lê Phụng-Hiểu, hai mãnh tướng liền ra thành kéo theo sau.
Nhưng, Quái Đầu Đà và Hồng-Ngọc vừa đi cách nơi căn-cứ độ vài dậm, chợt đã nghe sau lưng tiếng hò reo nổi dậy.
Hai tướng, giật mình, nhìn nhau.
Hồng-Ngọc nói:
– Hình như Nam-binh lên tới cướp trại của ta?
– Chính lão cùng nghĩ như vậy.
– Giờ làm thế nào?
– Ta thử cùng quay lại xem.
Đầu Đà và Hồng-Ngọc liền dẫn binh hấp tấp trở lại.
Nam-binh quả nhiên đương đánh vào trại chính của giặc.
Hai man tướng hô quân vào tiếp ứng, nhưng, cùng lúc ấy, Lê Phụng-Hiểu đã mang đại binh sập đến sau lưng.
Quân giặc tán loạn.
Nam-binh thừa thế đánh rát một trận. Tiếng trống, tiếng hò reo vang động. Hỏa bổ bén vào các trại giặc bốc cháy ngùn-ngụt.
Ninh-Đức Hoàng-hậu, nhờ có bọn Vương Lan-Anh, Đoàn Hồng-Ngọc liều chết cứu thoát khỏi trùng vây và chạy trốn được vào trong hang núi.
Man quân, mất người cầm đầu, trở nên như một đàn dê chạy tán-loạn khi nom thấy Lê Phụng-Hiểu cùng các tướng-tá đánh mãi đến mờ mờ sáng mới rút quân về thành.
Một vùng Đảng Ro, trơ lại chỉ còn một cảnh tàn phá, một mớ tro than bừa bộn. Và cái công gầy dựng trong mấy tháng trời của Ninh-Đức Hoàng-hậu, chỉ trong nháy mắt tan theo mây, khói.
Về tới thành, Lê Phụng-Hiểu tức khắc thảo biểu báo tiệp cho phi-kỵ đem về Kinh-sư dâng Thái-Tông Hoàng-đế, để xem ngài định liệu ra sao.
Việc cốt tử xong rồi, lão tướng nghỉ-ngơi một lát đoạn truyền nổi hiệu thăng trướng và sai điệu Nùng Trí-Cao đến.
Nùng Trí-Cao khăng khăng nhất định không quỳ.
Lê-Phụng-Hiểu vỗ án mắng:
– Quân loạn tặc này chết đến gáy mà ương ngạnh à?
Trí-Cao mỉm cười:
– Tướng-quân hà tất phải tốn hơi sức làm chi. Trong cuộc tranh hùng, được làm vua thua làm giặc, nào biết ai là loạn tặc, ai là quân vương?
– Chân mệnh đế-vương là những người tài cao, đức lớn, thay mệnh trời mà cai-trị trăm họ…
– Trời nào bảo ông mà ông biết?
– Lòng dân tức là ý trời, hễ dân thuận theo ai tức là trời trao mệnh cho người ấy.
– Dân ngu biết gì!
Phụng-Hiểu thấy cần phải khuất-phục cái tâm-hồn mọi-rợ ấy thì kế sách của Thái-Tông Hoàng-đế mới thi-hành được.
– Dân tuy ngu mà lòng thiện ác không nhầm cho nên nói ý dân tức là ý trời. Kẻ nào vong-ân bội-nghĩa, dân sẽ bỏ ngay, tức là trời cũng vậy.
– Ông bảo thế nào là vong-ân bội-nghĩa? Lý Thái-Tông đã giết cha và anh ta, như thế có phải là có ân-nghĩa đối với ta chăng?
– Cha và anh nhà ngươi làm loạn, gây việc binh đao làm cho trăm họ tự nhiên phải khổ sở, lòng người đều ghét giận, vua giết đi để làm gương cho những kẻ gian ác khác ấy là chí công. Theo luật thì kẻ nào phản-quốc đều phải toàn gia tru-lục vậy mà Đức Hoàng-đế đã làm ngơ cho mẹ con ngươi sống sót, ấy là ơn đức cao dầy vậy.
– Làm ngơ hay là không làm gì nổi.
– Ngươi lầm to! Ngay lúc cha, anh ngươi bị bắt, đảng vũ nhà ngươi tan vỡ, nếu Đức Hoàng-đế truyền cho ta kéo binh vào tận sào huyệt nhà ngươi mà đánh phá, vào chém giết cái mạng ngươi cuối cùng thì có khó gì. Ngài đã ngừng tay, ấy là tỏ ra ngài rất giàu lòng nhân từ. Ngươi không tin ư? Thì ngươi cứ xem hiện nay cũng đã rõ. Hiện nay, dưới quyền ngươi binh mã kể có muôn, tướng-tá kể có ngàn, địa-thế lại hiểm trở, vậy mà ta chỉ mới ra tay có một trận đã bắt được ngươi và đã làm cho đồ đảng của ngươi tan-tành như ngói rơi, trúc chẻ. Thế thì khi xưa ta nếu được lệnh vua, thừa thắng đánh tràn đi, dễ biết chừng nào!
Trí-Cao cúi đầu nín lặng.
Lê Phụng-Hiểu cũng ngừng lại như cốt để cho những lời mình nói đủ thời giờ thấm sâu vào tâm-hồn chàng tuổi trẻ rồi sau mới tiếp:
– Như vậy, ngươi thấy Đức Hoàng-đế quả đã dụng tình bao-dung ngươi biết chừng nào? Ấy thế mà để đền đáp lại ơn sâu, ngươi đã không vì vua vì nước, coi giữ một phương khiến trăm họ được an-cư lạc nghiệp thì chớ, ngươi còn toan mưu chống trả triều-đình, mua lấy trọng tội, có phải ngươi đã nhầm to rồi không?
Nùng Trí-Cao cười:
– Vậy theo ý ông, làm thế nào thì không nhầm?
– Quy-thuận triều-đình, vì vua vì nước, án-ngữ cả một vùng biên-giới để vỗ an trăm họ cự nhau với nhà Tống.
– Làm thế vị tất đã không nhầm. Nhưng, hãy cứ chịu cho là phải đi nữa thì…
Lê Phụng-Hiểu nhìn Trí-Cao:
– Thì?...
– Thì, hiện giờ, cũng không kịp nữa?
Lão tướng vờ thở dài:
– Đấy, người xem, người ta ở đời nhất cử, nhất động chỉ sai một ly đi một dậm là thế!
– Lý Thái-Tông Hoàng-đế chắc là căm giận tôi lắm, bởi, nếu theo ông nói, Ngài quả có lòng tốt cùng tôi mà lại phải tôi không nghĩ chi đến sự báo ơn. Làm tài trai ở đời, mưu sự chỉ có thành hay bại. Tôi đã bại. Tôi đã ở vào một cái thế của một tên phản tặc, tôi sẵn sàng chờ sự phục thù của địch-thủ. Tôi chỉ muốn cầu xin ngài có một điều..
– Điều chi?
– Ấy là tha cho tính-mệnh mẹ tôi.
– Điều ấy, ngươi không phải xin, vì nếu ta có lệnh truy-nã đến cùng thì mẫu thân ngươi, lúc này, có lẽ đã đứng ở đây rồi. Còn như vừa nãy, ngươi có nói sẵn sàng chờ rìu búa phục thù của kẻ địch, câu ấy ta e rằng ngươi đã nghĩ sai...
– Ông bảo thế nào là sai?
– Đức Hoàng-thượng ngài không bao giờ lại thèm thù ghét những kẻ đã nhỡ nhầm phạm tội. Bao giờ ngài cũng sẵn lòng dung thứ. Ngay việc phản nghịch của ngươi lần này, ta tuy đã dâng sớ về Triều và chờ lệnh-chỉ đến là thi-hành, mà đầu ngươi, ta dám chắc không đến nỗi nào phải rơi xuống đất.
Nùng Trí-Cao liếc trông vòm trời xanh:
– Tôi, trái lại, chỉ mong được chết. Nghĩ mình cũng là một thằng con trai ra tranh hùng với thiên-hạ, việc lớn đã không thành lại không được chết theo ý nguyện bị tan-tác, ấy thực quả là một bất-hạnh. Còn gì nực cười cho tôi bằng bây giờ bó tay về với Triều-đình nữa!
– Ấy là ta bằng cứ vào tấm lòng nhân của đấng Thiên-Tử mà tin rằng ngươi không đến nỗi nào phải chết. Nhưng còn Triều-đình, còn phép nước, cũng không biết sao mà nói trước được!…
Dứt lời, Phụng-Hiểu liếc trông Nùng Trí-Cao.
Chàng trẻ tuổi vẫn thản-nhiên:
– Tôi rất mong được chết. Theo ý tôi, chỉ có được tất cả hay là không có gì.
– Sự chấp nê không phải là một điều hay. Ta ví dụ Hoàng-Thượng rộng dung cho ngươi, ngươi nên thể lòng hiếu-sinh của vua mà chuộc lại những điều lầm của tuổi trẻ, bằng cách làm nên sự-nghiệp hiển hách, lưu tiếng thơm lại muôn đời sau.
Nùng Trí-Cao ngoảnh trông nơi khác và nói:
– Câu chuyện giữa tôi với ông tưởng nên tạm ngừng ở chỗ này. Và xin ông làm ơn cho tôi được lui xuống ngục thất.
Lê Phụng-Hiểu chưa kịp trả lời thì ba quân đã dẫn một đám đông ồn-ào tới. Lão tướng nhìn xem, ấy là bọn Ninh-Đức Hoàng-hậu, Quái Đầu Đà, Đoàn Hồng-Ngọc và Vương Lan-Anh, vừa bị bắt.
Phụng-Hiểu đứng dậy chào đón Ninh-Đức Hoàng-hậu mà rằng:
– Xin phu-nhân cứ an tâm, bản soái sẽ truyền sửa soạn nơi nghỉ ngơi rất xứng đáng để đón tiếp phu-nhân, trong khi bản-soái chờ lệnh đức Hoàng-Thượng.
Nùng Trí-Cao nhìn thân-mẫu bằng đôi mắt đẫm lệ mà rằng:
– Con tài hèn sức mọn, không làm nên trò trống gi, đến nỗi lụy cho mẫu thân, nghĩ thực hổ thẹn, mong mẫu thân tha thứ cho.
Ninh-Đức Hoàng-hậu quắc mắt:
– Con ta nói chi lạ vậy! Phàm tranh bá đồ vương, chỉ có một là được, hai là thua người ta mà thôi. Mình thua mình đành cam chịu chết việc gì mà phải trách quẩn nhau?
Thái độ khảng-khái của A-Nùng làm cho Lê Phụng-Hiểu phải khen ngợi. Một người đàn bà như thế, trách nào đứa con chẳng như thế. Và, muốn khuất phục hai mẹ con nhà này, lão tướng thấy cần phải khôn khéo lắm mới được.
Lão tướng ngoảnh lại phía Nùng Trí-Cao mà rằng:
– Túc hạ hãy lui xuống trại nghỉ-ngơi, để ta nói chuyện với lệnh-từ.
Đoàn Hồng-Ngọc nhân lúc ấy hé tấm khăn bằng vóc đỏ nàng vẫn che mặt, theo như Ninh-Đức Hoàng-hậu và Vương Lan-Anh, để nhìn Trí-Cao. Nhưng chàng đã quay mặt đi và rảo bước theo lũ quân canh mau quá.
Phụng-Hiểu nói với A-Nùng:
– Xin mời phu-nhân ngồi.
– Tướng-quân chớ vì tôi mà bận lòng. Tôi là một kẻ tù binh, xin đứng thế này cho hợp lễ.
– Tôi có một điều này muốn thưa thực cùng phu nhân: nguyên Đức Hoàng-đế trước sau vẫn muốn thu-dụng quý công-tử. Ngài mến quý công-tử là người có tài năng xuất chúng, khả-dĩ một mình yên nổi một vùng biên-thùy, cự nhau với nhà Tống được. Bởi thế nên Ngài mới sai tôi cầm quân ra đây. Ngài biết tôi hiểu rõ ý ngài. Và sẽ dùng ôn-hòa để từ chỗ thù-hằn kình-địch đi tới chỗ hòa-hảo cùng nhau được. Nay phu-nhân cùng quý công-tử tuy phải bắt mà tính-mệnh đều có thể chắc-chắn sẽ an toàn vậy.
Ninh-Đức Hoàng-hậu thở dài:
– Thái-Tông Hoàng-đế mà sử như lời tướng quân vừa nói thì thực chỉ thêm khó nghĩ cho tôi vô hạn!
Chương V
Trời vừa sáng, Tạ Vân-Anh tiểu-thư, con gái quan Đô-thống Tạ Đình-Hổ, đã ra vườn hoa xem cúc nở.
Nàng dạo quanh các khóm cúc mầu trắng như sương một lượt, đoạn lui vào ngồi trong Cẩm-Hương đình.
A-hoàn Lan-Nhi, ôm đôi cổ kiếm, khẽ rón rén lại gần, nhưng Vân-Anh tiểu-thư phất tay áo rộng và nói:
– Bữa nay, ta không múa gươm, vậy mày hãy cất đi và bưng trà nóng ra đây.
Lan-Nhi hơi có vẻ bỡ-ngỡ.
Nó nhìn Tạ tiểu-thư một phút, như để dò la những ý nghĩ trên mặt thiếu-nữ, những ý nghĩ đã có sức mạnh làm cho tiểu-thư thay đổi hẳn cái thói quen của mười năm trời nay.
Thực vậy, mười năm trời nay, Tạ Vân-Anh không bỏ sót một buổi sáng nào là nàng không ra vườn hoa múa kiếm. Vũ-thuật của nàng đã khiến người ta phải truyền tụng ầm-ĩ cả kinh- thành.
Dòng-dõi tướng môn, nàng khác hẳn các vị thiên-kim tiểu-thư khác, không chịu chỉ ru-rú trong phòng khuê, sống cái đời bọc kín giữa nhung, lụa.
Nàng rất chăm rèn luyện nghề võ, có cái tham vọng là sẽ làm nên những công trạng hiển hách ở chốn sa trường, cũng như các vị nữ-kiệt mà tên tuổi còn chói lòa trong lịch-sử.
Gia-dĩ nước Đại-Nam lại đương ở vào một thời võ công toàn thịnh nên cái ý hướng của tiểu-thư không bị phụ-thân ngăn cản chi hết.
Tạ Đô-Thống còn tự mình đem tài nghệ ra truyền dạy cho con gái được biết tới chỗ tuyệt điểm.
Tạ Vân-Anh tiểu-thư tuy ham thích vũ nghệ mà không phải là nàng xao nhãng việc văn thơ. Nàng học rất thông chữ Hán. Nàng đọc được cả những binh thư chiến lược. Các danh chước cổ, kim nàng thuộc lòng cả. Và, tự nàng, Vân-Anh tiểu-thư còn là một nữ-sĩ có tài.
Về dung mạo, tiểu-thư lại chẳng nhường ai hết. Nàng cao lớn nhưng không thô. Gương mặt nàng có một vẻ thẳng thắn, tươi cười tỏ ra một tâm-hồn lúc nào cũng trong sáng như buổi trưa mùa hạ. Nàng cử chỉ rất dịu dàng, nhịp nhàng, và mỗi khi nàng cất tiếng, giọng nói có một vị đầm ấm và ngọt ngào khôn tả.
Thường thường, Vân Anh hay mặc cái xiêm lụa bạch, trên mặc áo gấm ngắn tay rộng màu chính hồng thêu mẫu đơn bằng kim tuyến. Thắt lưng bằng giây lụa thiên-thanh có tua dài buông thõng xuống cạnh đùi bên trái. Mái tóc nàng nhánh đen búi gọn, cài thoa vàng nạm tua ngọc.
Ngày nào Vân-Anh cũng dậy thực sớm ra vườn hoa tập võ. Nàng múa gươm, xách tạ, bắn cung cho đến khoảng đầu giờ tỵ thì vào Cẩm-Hương đình ngồi nghỉ. Lúc này là lúc nàng hay dùng trà để giải khát, mà uống thong thả từng ngụm vừa ngắm hoa nở quanh mình.
Bắt đầu giờ ngọ, nàng vào hầu cơm song thân. Buổi trưa nàng khâu vá, thêu thùa cho đến độ giờ thân thì nàng lại ra vườn hoa đọc sách cho đến lúc nào quan Đô-Thống ở trong cung về. Bữa cơm tối xong, Vân-Anh tiểu-thư hoặc ngồi hầu chuyện mẫu thân hoặc nghe phụ thân giảng sách. Giữa canh hai nàng lui về khuê phòng an nghỉ.
Cuộc đời của nàng cứ đều đặn như thế trong bao nhiêu năm qua. Thời-gian lặng lẽ và bằng phẳng trôi. Bốn mùa kế tiếp nhau, không để lại trong tâm-trí nàng một ghi nhớ nào hết.
Vậy mà, sáng hôm nay, Vân-Anh đã thay đổi hẳn thói thường!
Sự ấy phải có một ý nghĩa quan trọng.
A-hoàn Lan-Nhi sau khi vừa bưng bộ đồ trà tại nhà trong ra vừa suy nghĩ để tự cải xem cái nghĩa của sự thay đổi kia là cái gì?
Nó càng nghĩ càng không hiểu.
Sau cùng, nó đồ chừng Vân-Anh tiểu-thư khó chịu trong người.
« Người ta ai mà khỏe mạnh, vui-vẻ được mãi. Voi còn có khi ốm nữa là! »
Câu kết luận khiến nữ tỳ bứt thóc-mách. Nó chuyên trà ra bốn chén quân rồi bưng lại để trước mặt Vân-Anh.
Nàng chợt hỏi, như ta nói một câu chuyện để mà nói:
– Thế nào, đích xác hôm nay Phiên-vương Nùng Trí-Cao bị lão tướng Lê Phụng-Hiểu giải về đến kinh kỳ chứ?
– Thưa tiểu-thư đích ạ. Là bởi con thấy bên ngoài, bách tính họ nô nức kéo nhau đi xem đông như nước chảy. Cụ lớn nhà ta cũng vừa vào cung xong..
Vân-Anh nhìn lơ đãng một vệt mây trắng đương từ từ trôi qua khoảng trời biếc:
– Bãi cỏ trước Ngọ-môn lại sắp được nhuộm máu người…
Không hiểu tại sao, từ lúc Nùng Trí-Cao phải bắt, Vân-Anh bỗng dưng cứ nghĩ vơ, nghĩ vẩn mãi về chàng, một người mà nàng chưa từng thấy mặt. Xưa nay, nàng có bận lòng về một điều gì xa-xôi như vậy bao giờ! Nàng tò mò muốn biết rõ cái đời sống tung-hoành ở giữa chốn sơn lâm cao cả của người thanh- niên tuấn-kiệt ấy. Nàng cảm thấy ở chàng một tâm-hồn tự do, mãnh-liệt mà nàng quý trọng. Nùng Trí-Cao phải là người ngang tàng lắm mới lại dựng cờ làm loạn, sau cái gương thất bại mau chóng và thê thảm của cha mẹ chàng dạo trước. Nàng cho rằng một người con trai phải có khí tượng hiên ngang, phải mê say những sự ngang trời dọc đất, phải khinh nguy hiểm như Nùng Trí-Cao. Cái hạng đàn ông sống vùi đầu trong sự yên-ổn tầm thường mà nàng thấy rất nhiều ở quanh mình nàng, Vân Anh không thể nào không khinh ghét được. Đã đành Nùng Trí-Cao không lượng sức mình, bước nhầm vào con đường gai góc đến nỗi ngày nay phải thất bại. Nhưng, thành, bại không phải là cái thước đo để nàng xét đoán và định giá một người. Và, trong cái nhầm của Trí-Cao, nàng đã nhận thấy một vẻ đẹp.
Con người như thế mà rồi đây sẽ mất đầu ư? Sẽ chết dưới lưỡi gươm của đao phủ như bất cứ một ác phạm nào khác ư?
Vân-Anh chỉ mới nghĩ thế mà lòng đã nao nao bùi ngùi lên vì tiếc hận.
Nàng tiếc thay cho Nùng Trí-Cao.
Nàng bùi ngùi thay cho những tầm hồn không chịu ép mình trong khuôn sáo của thường tục, bao giờ cũng bị hắt hủi và trừ khử một cách tàn nhẫn bởi cái thấp thỏi và tầm thường.
Vân-Anh thở dài nhắc lại câu nàng vừa nói:
– Bãi cỏ trước Ngọ-môn sắp sửa lại được nhuộm máu người, máu một người cao quý hơn biết bao nhiêu kẻ thanh-niên khác.
Lan-Nhi vội đáp:
– Thưa tiểu-thư, Nùng Trí-Cao có chết đâu!
– Hiện thời, ông ta chưa chết, nhưng rồi mai mốt ông ta sẽ bị chém chết.
– Không ạ!
Vân-Anh ngạc nhiên:
– Mày nói gì?
– Con bảo rằng tướng giặc sẽ không bao giờ chết cả, trừ khi va ốm nặng hay bị Trời đánh.
– Làm giặc, phản Triều-đình mà lại sống được à?
– Bẩm chính thế!
– Con này nói sảng...
– Bẩm không, con tỉnh táo lắm!!!
– Mày nói thế thì thực tao chịu không hiểu mày muốn nói gì.
– Thưa tiểu-thư, đức Hoàng-Thượng sẽ tha tội cho Nùng Trí-Cao chứ không chém đầu chàng ta như ngài đã sai chém ông bố chàng ta khi trước.
– Mày nghe tin ấy ở đâu?
– Thưa tiểu-thư, con nghe chính cụ lớn nhà nói như vậy.
– Thật à?
– Con có bao giờ dám nói dối tiểu-thư…
– Mày thử nhắc lại đúng từng câu cụ lớn đã nói ta nghe.
– Cụ lớn vừa nói với phu-nhân rằng Nùng Trí-Cao tuy bị bắt mà chắc chắn sẽ được khỏi chết.
– Tại sao lại có thể có sự lạ ấy được?
– Cứ nhời cụ lớn nhà thì đấy là ý muốn của đức Hoàng-Thượng.
Vân-Anh nói bằng một giọng chậm chạp, tỏ ý mơ màng:
– Chắc hẳn Hoàng-đế thương tình Phiên-vương vì nỗi cha và anh đã bị chém chết cả rồi.
– Thưa tiểu-thư, lẽ ấy cũng có, và còn thêm một lẽ nữa.
– Lẽ nào?
– Một lẽ thuộc về quốc-gia đại-sự.
– Nghĩa là?
Làm ra vẻ bí mật và quan trọng, Lan-Nhi sẽ đáp:
– Hoàng-Thượng hình như muốn dùng Phiên-vương để trấn mặt Bắc, nhân tiện dò xét binh tình bên Tống trào.
Vân-Anh gật đầu:
– Phải, phải rồi! Ta vẫn thường nghe cụ lớn nói rằng đức Kim-Thượng từ lâu đã có ý lấy Lưỡng Quảng … Ồ, nếu ngài dùng Phiên-vương như vậy thì thực là thượng sách.
– Nùng Trí-Cao chắc chắn là không phải chết chém chứ?
– Điều ấy đã hẳn rồi.
Vân-Anh tự lấy làm lạ rằng, khi chắc chắn Nùng Trí-Cao sẽ thoát chết, nàng cảm thấy một cái gì gần như một vui sướng. Cảm tình ấy rõ rệt lắm, mặc dầu nàng không dám tự thú với lòng nàng như vậy.
Để có một lẽ mà nếu, Vân Anh nghĩ to:
– Người như Nùng Trí-Cao mà bị chém chết nghĩ chẳng hoài lắm ru!
– Thưa tiểu-thư, cụ lớn nhà cũng nghĩ như vậy.
Vân-Anh hớn hở:
– Hẳn chứ, Phiên-vương dù sao cũng là bậc thiếu-niên anh-hùng ở đời này.
– Nghe tiểu-thư nói, con muốn trông mặt ông ta quá!
Vân-Anh hơi đỏ mặt. Nàng nhìn dò la ý tứ a-hoàn và nói:
– Mày muốn trông mặt ông ta à?
– Thưa vâng. Con muốn xem cái người đã được tiểu-thư khen ngợi ấy xem mặt mũi như thế nào.
– Cho phép mày ra phố mà xem.
– Thưa tiểu-thư, con không cần phải ra phố ạ!
Vân-Anh ngạc nhiên:
– Không ra mà xem thì mày thấy làm sao được?
– Thưa tiểu-thư, thế nào đám quân khải-hoàn chẳng phải qua đây, vì con đường trước dinh cụ lớn nhà ta là con đường nối bến sông với Hoàng-thành.
Vân-Anh có ý bẽn lẽn:
– Ừ nhỉ, ta quên khuấy đi mất …
Nhưng đồng thời, nàng lại mừng thầm:
– À mà phải! Mình rõ như người mê ngủ… Đám đông thế nào cũng qua đây. Ta sẽ được thấy mặt chàng. Ta cũng đương tò mò muốn biết! 
– Thưa tiểu-thư, tí nữa đám đông qua đây, con cứ ra chỗ tường hoa kia thì trông thấy rõ mồn một.
Vân-Anh không nghe tiếng con Lan-Nhi nói. Nàng đương mải theo một ý nghĩ:
Nàng vừa tự thú với lòng rằng, cũng như con a-hoàn, nàng đương tò mò muốn biết rõ dung mạo người anh hùng của rừng thẳm.
Để làm gì? — Câu hỏi ấy khiến Vân-Anh bối rối.
Ừ, mày muốn rõ mặt Nùng Trí-Cao để làm gì?
Để thỏa tính tò mò.
Có thế thôi ư?
Không, nàng không tin là chỉ cốt thỏa sự tò mò cộc lốc.
Đã đành rằng, ở vào trường hợp nàng, ai cũng muốn được thấy rõ mặt người đương làm cho cả một kinh-thành nôn nao, nhộn nhịp. Nhưng, riêng phần Vân Anh, thực ra, còn có một cái gì khác nữa!
Chính thế, riêng phần nàng, ngoài sự tò mò, quả thực còn có một cái gì khác nữa. Một cái gì nó làm cho nhịp lòng nàng gấp mau hơn lên, nó làm cho tưởng tượng nàng bị kích-thích mạnh hơn và cả tâm hồn nàng rạo rực một cách khó tả.
Vân-Anh chưa hề yêu.
Nàng chưa biết rõ trạng-thái tâm-hồn của một thiếu-nữ khi bắt đầu yêu nó như thế nào. Tuy nhiên, nàng vẫn biết rằng sự rung động sâu xa của hồn nàng lúc này, nếu gọi trắng ngay ra là tình yêu cũng không phải là không đúng.
Nàng đã yêu rồi ư?
Vân-Anh nóng bừng cả mặt.
Sư trinh bạch muốn khăng khăng chối là không phải.
Ừ, chẳng lẽ nàng đã yêu một cách vu-vơ đến thế. Chẳng lẽ nàng đã yêu một người xa lạ mà nàng chưa hề biết mặt! Nàng có phải là một thiếu-nữ đa tình, mơ mộng như phần nhiều các cô khuê các an nhàn đâu.
Đối với Nùng Trí-Cao, nàng chỉ cảm phục cái chí khí ngang tàng thì có.
Từ cảm phục tới sự thóc mách muốn biết mặt chàng …. Ồ, tự nhiên lắm chứ!
Nhưng, từ cảm phục tới yêu, quãng đường cũng chẳng đến nỗi xa xôi gì lắm!…
– Ồ!…
Vân-Anh chưa nghĩ hết cái ý-tưởng đột hiện trong óc nàng thì một tiếng trống chiêng từ xa đi vẳng lại, theo liền những tiếng hoan-hô vang-động.
Lan-Nhi náo nức:
– Thưa tiểu-thư, đoàn quân thắng trận đã tới rồi… Tiểu-thư ra mà xem…
– Mày cứ xem lấy phần mày đi. Làm gì mà rối lên thế!…
Nói vậy, nhưng nàng cũng đứng dậy theo Lan-Nhi ra gần tường hoa áp vệ đường
Chương VI
Tiếng trống chiêng mỗi lúc một rõ. Sự ồn ào của bách tính mỗi lúc một bừng lên, nghe xa như cả một cái bể nổi sóng. Già, trẻ, trai, gái nô nức, kế tiếp nhau dồn về một phía. Người ta có thể nói là những dòng nước xô vào chỗ trũng vậy.
Vân-Anh tiểu-thư cùng Lan-Nhi đứng lên một mô đất và tay níu lấy ngọn tường hoa lúc ấy chỉ tới ngực hai người.
Mắt Vân-Anh mỗi lúc một sáng lóng lánh tuy vẻ mặt nàng tựa hồ vẫn thản nhiên như thường.
Đoàn quân đã hiện ra.
Đi đầu là hai tên võ sĩ mặc áo nậu đỏ, đầu quấn khăn chéo và lưng thắt đai thiên thanh bỏ múi, tay cầm loa đồng. Thỉnh thoảng chúng lại ghé miệng vào búp loa mà hét lên những tiếng váng óc.
Ấy là nghiêm lệnh cho dân gian tránh đường đừng ai làm quẩn chân của binh đội.
Sau lính dịch loa đến năm lá cờ ngũ sắc, năm lá cờ ngũ hành.
Trống cái và chiêng đồng theo sau bọn này.
Kế đến, một tên linh mặc kiểu ngự lâm, cưỡi ngựa bạch tay giơ cao lá cờ lệnh tiền trảm hậu tấu của vua ban cho Thống-tướng lúc ra quân đi dẹp giặc.
Đội vũ nhạc nối bước sau cờ lệnh. Họ, tất cả chừng hai chục người mặc áo xanh nẹp đỏ, tay cầm sênh tiền, nạo bạt, trống khẩu, trống cơm, đàn, nhị, hồ, tiêu và sáo.
Từng quãng lại từng quãng, họ theo lệnh người đội trưởng cùng cử những khúc Quân ca hành, Khải hoàn hiến công, Tẩy giáp binh hùng tráng để làm nhịp bước cho quân đội kéo theo sau.
Ấy là mấy người bộ binh đã rất quen nghệ chiến đấu. Họ xếp thành từng hàng đội theo chiều rộng của con đường. Họ đi rất đúng phép. Những cử động đều tăm tắp ấy hoà với những nón sơn, áo nậu đỏ, thắt lưng xanh, xà cạp xanh, dép da trâu đen toát ra một cái gì nó kích-thích người ta rất mạnh – một cái mà thiên-hạ thường gọi là cái oai của quân đội.
Tiếp liền với bộ binh tức là đoàn kỵ binh.
Bọn này cưỡi toàn một thứ ngựa ô lĩnh, mặc tuyền quần áo đen, giáp chẽn, chân đi hài xảo, tay trái đeo khiên tròn bọc bằng da trâu và mây, tay phải cầm trường kiếm lập lòe lia dưới ánh mặt trời.
Những con ngựa chiến hung hăng, miệng lúc nào cùng ngầu bọt, chân bước gằn trên mặt đường làm cho cát bụi tung vẩn lên thành một thứ bụi vàng nó bao phủ cả đoàn chiến-sĩ.
Ngựa chiến vừa đi khỏi, người ta liền thấy lù lù hiện ra mấy thớt voi trận, do những quản tượng lành nghề điều khiển.
Những con vật khổng lồ này vừa bước từng bước nặng nề, vừa rung rinh những cái vòi dài quét đất, và ve vẩy những đôi tai rộng không kém những cái quạt đại.
Chúng đi thành hai hàng ở hai bên ria đường cái, kèm giữ một chiếc tù xa, trong đó có Phiên- vương Nùng Trí-Cao:
Sau cùng, Đại Tướng-quân Lê Phụng-Hiểu, áo bào mầu hồ thủy mặc ra ngoài một bộ giáp bạc, đầu đội mũ trụ đỏ sáu ngù, chân đi ủng võ, lưng thắt thượng phương bảo kiếm, cưỡi ngựa mầu thổ hoàng.
Một tên võ-sĩ theo hầu sau ngựa. Va cầm giơ cao một lá cờ đại bằng nỉ đỏ viền ngũ sắc, một lá cờ thêu mấy chữ bằng dạ đen: Bình liêu đại nguyên súy Lê.
Vị tướng thần ấy nom thật uv nghi lẫm liệt, và xứng đáng là một trụ-thạch của quốc gia.
Nhưng, cái đinh của cuộc đón tiếp hôm nay, chẳng cần nói ai cùng biết là Phiên-vương Nùng Trí-Cao vậy.
Nùng đã trở nên một khối từ thạch nó thu hút tất cả muôn nghìn cặp mắt tò mò của văn, võ quan-lưu và của trăm họ.
Ai nấy chen nhau, xô đẩy nhau, kiễng chân, nghển cổ để xem cho rõ mặt người đã dám đương đầu với một vị hùng võ thiên-tử là Lý Thái-Tông Hoàng-đế, người đã dám một mình mở ra một cõi biên thùy, để cùng nghênh ngang đủ cả văn thần, vũ tướng.
Trong số tò mò ấy, thiết-tha nhất có lẽ là Vân-Anh tiểu-thư.
Nàng nhìn chiếc tù-xa không chớp mắt. Có thể nói là nàng đã bị cỗ xe hòm có hai bánh do hai ngựa kéo ấy thôi miên vậy.
Cỗ xe đóng hình một khối chữ nhật, nom phảng phất một cái hòm gian dựng đứng. Ba mặt và trên dưới kín bưng, trừ mặt sau có cửa vào thì lại khóa bằng một chiếc khóa đồng to gần bằng cái ấm tích
Tội nhân đứng chứ không ngòi, đầu thò ra ngoài do một lỗ hổng phía trên tù-xa.
Vân-Anh để ý nhìn kỹ thì thấy Nùng Trí-Cao là một chàng trai trẻ rất mỹ mạo. Cứ cái gương mặt chữ dụng, cái mầu da trắng như trứng gà bóc, cặp mày nét mác xanh như hai nét vẽ, đôi mắt sáng long lanh và cặp môi đỏ thắm của cái miệng rộng lúc nào cùng điểm một nụ cười khinh thế, ngạo vật, nó cho nàng thoáng trông hàm răng trắng bóng mầu ngà, Vân-Anh tưởng chừng đấy là một phong-lưu công-tử hay một thư-sinh đa tình nàng vẫn đọc trong các truyện cổ.
Con người đẹp như vậy mà lại chính là bậc anh hùng tung mây, hét gió, làm bốc lửa cả một phương trời ư?
Ồ, Vân-Anh thực không ngờ!… Sự không ngờ mới êm-ái làm sao…
Nàng tự nhiên chú ý nhìn cái cổ chàng, cái cổ mầu mỡ đọng, phơi ra ánh nắng bởi mái tóc chàng, theo lệ các bại tướng, bị cuốn dựng lên giữa đỉnh đầu thành ra như một túm cỏ.
Một ý tưởng rùng rợn thoáng qua óc Vân-Anh: « Cái cổ trắng nõn ấy, mã tấu chỉ lướt nhẹ cũng đứt! »
Một hình ảnh, đồng thời, hiện ra trước mắt nàng, ấy là một vết máu đỏ tươi cứ loang dần, loang dần trên nền da trắng.
Vân Anh nhắm mắt, thở dài:
– Thực là may mắn cho chàng!…
Thiếu-nữ nhìn theo đoàn quân trảy đã xa, đổ về phía hoàng-thành.
Lan-Nhi háo hức:
– Tường giặc trông khôi ngô quá!
Vân-Anh tiểu-thư gật đầu:
– Chính thế!… Một người như vậy mà bị mất đầu kể cũng đáng thương. Ấy thực may mà Hoàng-thượng không nỡ giết, còn muốn khoan dung cho chàng được đái tội lập công…
Hai thày trò quay vàoCẩm Hương đình.
Vân-Anh hỏi a-hoàn:
– Ta nghe nói Võ-vệ Tướng-quân Lê Phụng-Hiểu đã bắt được mẫu thân Nùng Trí-Cao và một nữ tướng kiệt-biệt nhất của chàng là Đoàn Hồng-Ngọc, vậy mà sao không thấy?
– Thưa tiểu-thư, vì Hoàng-thượng định thu dùng Phiên-vương nên ngài truyền đem có một mình Phiên-vương về kinh-sư. Còn bọn kia vẫn ở biên cương chờ lệnh.
– Có lẽ Hoàng-thượng muốn tránh cho họ sự nhục nhằn phải giải đi giải lại nó làm cho họ thêm thù thêm oán, công việc thành khó ra mà thôi...
– Thưa, tiểu-thư dạy rất phải …
Vân-Anh lẩm bẩm:
– Rõ hoài quá!…. Ta đương muốn xem mặt Đoàn Hồng-Ngọc.
Vừa nói, nàng vừa tưởng tượng ra một vị nữ tướng rất xinh đẹp, rất tài giỏi, một vị nữ tướng không thua nàng về một phương-diện nào hết, mà Nùng Trí-Cao hẳn phải quý-trọng và… yêu mến!
« Một nữ tướng như thế và một thiếu-niên anh dũng như Trí-Cao mà sống bên cạnh nhau thì khỏi sao không yêu nhau vì nết trọng nhau vì tài được! »
Ý tưởng này khiến Vân-Anh tự nhiên cảm thấy một cái gì phảng-phất như một ghen tức. Tình cảm ấy vừa xuất hiện đã trở nên nung nấu lạ.
Vân-Anh cáu kỉnh:
« Ồ ta cùng lạ quá!… Chuyện người thiên hạ, ta nghĩ làm chi cho thêm bận lòng vô ích.»
Nàng tự nhủ lòng như vậy để càng thấy mình không thể sao dứt được những ý tưởng và những tình cảm nó sục-sạo trong tâm hồn nàng.
Hình ảnh Nùng Trí-Cao thì cứ mỗi lúc một rõ rệt thêm lên và càng rõ rệt, càng khả ái bao nhiêu, càng có vẻ cách biệt nàng bấy nhiêu, cách biệt bởi một hình ảnh yêu kiều tuyệt thế.
Vân-Anh ngồi thừ ra giờ lâu, tia mắt cứ buông chìm xa trong cõi mộng.
Thời khắc qua lúc nào nàng không biết.
Giờ ngọ đã tới rồi.
Lan-Nhi khẽ nói:
– Thưa tiểu-thư trời đứng bóng rồi, mời tiểu-thư vào hầu bữa hai cụ lớn.
Vân-Anh như người tỉnh mộng:
– Ồ, đã giờ ngọ rồi kia à?
Nàng hỏi để không cần nghe câu đáp. Nàng đứng lên với một chán nản rã rời nó làm cho ánh nắng mất hẳn cái ấm-áp, và không-khí trở nên nhạt nhẽo.
Chương VII
Vì có việc làm phản của ba vị Hoàng-tử Dực-Khánh vương, Vũ-Đức vương và Đông-Chính vương, khi Lý-Thái-Tông mới lên ngôi nên Triều-đình, hằng năm, đặt lễ tuyên-thệ rất long trọng ở đền Đồng-cổ.
Ấy là một ngôi đền cổ thuộc làng Yên-Thái kiến-trúc theo một lối như mọi đền, chùa khác. Nhưng vì có cuộc lễ phát thệ hằng năm của bách quan mà nó tự nhiên thành ra một thắng tích.
Hôm ấy tuy không phải ngày thề đúng lệ, mà người ta cũng thấy có lính tráng đến sửa soạn, quét tước, cắm cờ, treo đèn tấp nập.
Chỉ nháy mắt, cảnh thâm u vắng lạnh chợt đổi ra một cảnh tưng bừng. Nào nghi môn, màn quần, nào tàn, quạt, nào trống chiêng, lộ bộ, mầu gấm vóc, mầu son vàng rực rỡ trong đám khói trầm nghi-ngút.
Công chúng tò mò đến xem đông nghịt. Lính hộ thành phải quát tháo, chật-vật mãi mới giữ được thứ tự. Cả các nhà quan sang, các phu-nhân, các vị tiểu-thư cũng đến xem, như người ta xem một đám hội.
Ấy là một cuộc thề đặc-biệt: Nùng Trí-Cao tuyên bố một cách trịnh trọng tấm lòng quy thuận Lý-triều Hoàng-đế.
Từ hôm về kinh sư, Phiên-vương Nùng Trí-Cao đã trở nên một nhân vật, được chú trọng phi thường.
Nùng được tất cả coi gần như là một người hoang đường của những cổ tích thời xưa, một sinh vật kỳ dị có một sức hấp dẫn mạnh đến không ai cưỡng được.
Bởi thế, người ta chỉ mong có dịp nhìn ngắm người anh hùng trẻ tuổi của Rừng Xanh ấy.
Sự thóc mách của mọi người thực chưa được thỏa mãn hôm Nùng mới bị giải về kinh-thành. Là bởi giữa lúc quân đội trảy qua, không ai dám ngang nhiên ra đứng nhìn gần. Vả, hôm ấy, chàng bị nhốt trong tù-xa nên người nào có trông thấy cũng chỉ thấy rõ có một gương mặt.
Hôm nay, trong cuộc thề long trọng của Nùng ở đền Đồng-cổ, người ta hi-vọng sẽ được thấy rõ mặt chàng hơn.
Lẫn với đám người thóc mách nàỵ, nếu ta nhìn kỹ, ta sẽ thấy Vân-Anh tiểu-thư cùng với con a-hoàn cũng ra ngóng đợi.
Nàng ghé tai con a-hoàn nói nhỏ:
– Sao lâu thế?
– Thưa tiểu-thư, cũng gần rồi, vì đã cuối giờ Mão sắp bước sang giờ Thìn rồi còn gì.
Lan-Nhi vừa nói dứt lời, đằng xa quả thấy tiếng người ồn ào, báo tin các quân chấp-sự và Nùng Phiên-vương đã tới.
Ai nấy cùng lắng nghe tiếng trống khẩu dàn đường, đổ long tong từng giọt mỗi lúc một rõ.
Trăm nghìn cặp mắt đều đổ ra phía cổng đền.
Cờ ngũ hành, cờ long phụng hiện ra trước nhất. Rồi đến trống chiêng, đôi ngự nhạc và sau cùng, năm chiếc võng điều nghênh ngang tiến vào sân đền, che bởi hai mươi chiếc lọng vàng.
Vì có công lớn bình-định giặc Nùng, Lê Phụng-Hiểu tướng quân được cái danh dự là thay mặt Đức Hoàng-đế đứng chủ lễ cuộc phát thệ hôm ấy.
Lão tướng-quân mặc phẩm phục Khâm-mạng đại-thần, từ chiếc võng đào thứ nhất bước xuống trước.
Võng thứ hai là bậc anh-hùng đại danh Lý Thường-Kiệt. Rồi đến Lý Nhân-Nghĩa tướng-quân; rồi Tạ Đô-thống….
Sau cùng, Phiên-vương Nùng Trí-Cao!
Trăm miệng cùng « ồ » một tiếng…
Một tiếng kêu tỏ ra rằng hết thảy cùng như bị thôi-miên bởi một hiện tượng.
Thực vậy, giữa đám đông võng đào, ngựa bạch, tán tía, tán vàng ấy, Nùng Trí-Cao quả đã là một xuất hiện phi thường, một vầng trăng đột hiện giữa vòm trời muôn sao sáng.
Chàng đội một chiếc kim-khôi cắm mười ngù đỏ chói. Hai tua kim-tòng buông xuống hai bên má, lung-linh theo nhịp cử động, mà làm cho gương mặt của chàng càng rực-rỡ.
Gương mặt hồng hào hơi men rượu và bởi muôn nghìn xúc-cảm mãnh-liệt. Cặp mắt chàng sáng quắc ; trên môi chàng phảng phất một nụ cười kiêu ngạo..
Trong bộ giáp chẽn kết bằng dây đồng tụ, người ta đoán rõ một thân-thể cao lớn, nở nang và cân đối. Hai chân chàng đi ủng giáp bằng kim tuyến, cũng như cái áo khoác ngoài của chàng, riềm thêu chữ thọ. Những tiếng xì-xào nổi lên:
« – Thực là một trang hảo nam tử!…» « –Thực là một vị thần!…»
Và, Vân-Anh tiểu-thư, nàng ngạc nhiên thấy những lời ngợi khen ấy mơn nựng lòng nàng một cách vô cùng êm-ái.
Nùng Trí-Cao cùng các đại-tướng lên đền.
Thủ từ thắp hương, châm nến.
Ai nấy cũng im bặt.
Vụt cái, chuông, trống nổi lên ầm ầm.
Đãng-khấu Đại tướng-quân Lê Phụng-Hiểu bước vào trước hương án, đứng chắp tay giữa ba tầng chiếu cạp.
Tạ Đô-thống, trong khi ấy, châm ba nén hương, đoạn, kính cẩn trao tay cho Lê Phụng-Hiểu.
Lão tướng chắp tay giơ ba nén hương ngang trán và lầm rầm khấn nguyện. Dứt câu, ngài quỳ xuống làm lễ ngũ bái.
Ngự nhạc cử khúc Tụng thần minh.
Lễ xong, Lê Phụng-Hiểu lui ra đứng bên tả chiếu.
Chuông, trống lại ầm ầm nổi lên.
Đến lượt Phiên-vương tuyên thệ!
Ai nấy nín thở ; bao nhiêu tia mắt đổ dồn cả vào trước hương án, chỗ cái vòng tròn vẽ bằng vôi bột, trong đó nằm gọn một con gà trống bị trói chặt hai cẳng.
Nùng Trí-Cao ngửa mặt nhìn thăm thẳm vào nội cung ; hai tay chàng chắp lại; miệng chàng khẽ lâm râm khấn. Dứt lời, cặp mắt chàng bỗng sáng quắc lên và nhìn thẳng vào con gà bị trói.Tay phải chàng cầm lấy thanh thệ kiếm giơ cao, trong khi miệng chàng nhắc lại lời thề, không sai một chữ:
« Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, tôi, Nùng Trí-Cao, nguyện dốc một lòng thờ Lý-triều Hoàng-đế, nếu sai lời thề, xin chịu chết như con vật này! »
Một ánh gươm lòe sáng.
Một vùng máu đỏ loang ra trên nền gạch.
Phiên-vương quẳng gươm, chắp tay hành ngũ bái.
Nhã nhạc lại nổi.
Chàng lễ xong, lui sang đứng ở bên hữu chiếu, đối diện với Lê Phụng-Hiểu.
Lúc này đến lượt các đại-tướng Lý Thường- Kiệt, Lý Nhân-Nghĩa, Tạ Đô-thống vào làm lễ.
Cuộc thề xong.
Cờ lại mở, trống lại gióng, võng giá lại đưa các quan vào triều phục-mệnh Thiên-tử.
Đám đông tản mác, ai về nhà nấy với những câu phê-bình, những lời bàn cãi ỏm tỏi.
Vân-Anh và Lan-Nhi theo một con đường vắng trở về dinh Đô-thống.
Con a-hoàn bẻo lẻo:
– Gớm, sao có người đẹp trai đến như thế chả biết! Hôm nay thì cứ gọi là các cô con gái tha hồ mà nhiều cô say hơn điếu đổ.
Câu nói vô tình của con a-hoàn làm Vân-Anh nóng bừng cả mặt mũi.
Nàng tự hỏi hay Lan-Nhi đã trông rõ cả tâm-sự của nàng?
Nó trông rõ hay không không biết, nhưng chính nhờ được câu nói của nó mà nàng trông rõ lòng nàng hơn bao giờ hết.
Vân-Anh quả đã yêu chàng tuổi trẻ.
Mối tình ấy, không sao còn có thể nhầm được nữa.
Nhất là hôm nay!
Lúc chàng bước xuống võng đào, Vân-Anh đã có một ý nghĩ rõ-rệt, sâu-xa rằng người thanh-niên anh hùng ấy phải đóng một vai quan trọng trong đời nàng.
Hơn thế nữa, chàng sẽ là cái lẽ sống của đời nàng, một cái gì nó làm cái trụ cốt mà nàng sẽ lệ thuộc vào đấy, y như cái cọc dậu với một giây leo vậy.
Nghĩ đến đây, Vân-Anh bỗng lại nhớ đến Đoàn Hồng-Ngọc.
Giữa Đoàn với Nùng, liệu đã có một cuộc tình-duyên nào hay chưa?
Có lẽ nào lại chưa?
Trai tài gái sắc, cùng vào hạng phi thường lại cùng sống bên nhau, khỏi sao tình yêu không nẩy nở.
Chẳng nói đâu xa, hãy cứ xem như nàng thì đủ rõ. Nàng chỉ mới biết chàng mà lòng nàng đã vấn vương thắc-mắc rồi.
Sự tin chắc này làm cho Vân-Anh buồn rầu và đau đớn vô hạn. Nàng không ngờ giữa lúc này vừa bắt đầu yêu thì tình yêu của nàng lại đã bị đầu độc bởi sự ghen tuông. Đoàn Hồng-Ngọc sẽ là cái trở lực ghê gớm trên con đường nó sẽ đưa Vân-Anh đến gần chàng tuổi trẻ.
Đoàn Hồng-Ngọc sẽ là một kẻ tình địch của Vân-Anh.
Thiếu-nữ thở dài:
– Mà kẻ tình địch ấy lại vô cùng đáng sợ!
Ấy là chưa nói còn bao nhiêu trở lực khác.
Chẳng hạn cái tình trạng, cái địa vị của Phiên-vương giữa triều-đình nhà Lý.
Nùng Trí-Cao dù sao cũng chỉ được coi là một tướng giặc. Triều-đinh để chàng sống, ấy chẳng qua là do một ý tốt của Thái-Tông Hoàng-đế, và do một lẽ cần thiết về chính trị, thế thôi.
Ngoài ra, chàng vẫn chỉ cứ là một kẻ xa lạ, một kẻ mà dù yêu vì nết trọng vì tài đến đâu người ta cũng không bao giờ cho bước vào tới chỗ thân tình, hoặc coi như một người máu mủ.
Tạ Đô-thống là một vị võ tướng mà lòng yêu nước, yêu chủng-tộc lên tới cực điểm. Do đấy, ngài lại càng không bao giờ coi Nùng Trí-Cao làm một kẻ có thể yêu mến, tin cậy được. Chỉ mới thế đã không được, nói chi đến câu chuyện tơ-duyên giữa chàng với nàng!
Vân-Anh hoàn-toàn thất vọng.
Sự thất-vọng nấu-nung một cách khó tả bởi tình yêu của nàng tuy mới mà đã sâu-xa biết chừng nào.
Vân-Anh làm như vô-tình hỏi Lan-Nhi:
– Chàng chắc thể nào cũng phải ở lại kinh-thành ít lâu rồi Hoàng-thượng có cho chàng về rừng ấy là chuyện sau.
– Thưa tiểu-thư, sự ấy đành rồi.
– Cứ gọi là mười năm!
– Ấy là đôi khi ông ta làm thế nào cho vua tin cậy được chứ nếu …
Vân-Anh lẩm bẩm:
– Trời! mười năm một mình, một bóng giữa nơi đất khách quê người!…
Lan-Nhi cảm động:
– Như vậy kể đáng thương thật!
– Trừ phi vua cho ông ta đem cả vợ con và mẹ già về ở đây.
Lan-Nhi quả nhiên mắc mẹo:
– Thưa tiểu-thư, ông ta đã có vợ đâu!…
– Mày biết sao được.
A-hoàn cãi:
– Thưa tiểu-thư, thế mà con biết.
– Mày biết gì?
– Rằng Phiên-vương vẫn ở một mình với bà mẹ già tức là Ninh-Đức Hoàng-hậu. Ngài chưa có Vương-phi.
– Ai bảo mày thế?
– Bác con.
– Bác mày làm gì mà biết tường-tận như vậy?
– Thưa tiểu-thư, vậy ra tiểu-thư đã quên rồi.
– Quên gì?
– Rằng con có một ông bác họ, hiện làm võ sĩ dưới cờ quan Đãng-khấu Lê Tướng-quân. Trận đánh Cao-Bằng vừa rồi, chính bác con cũng được dự, và lúc quân ta bắt được Phiên-vương, chính mắt bác con cũng trông thấy.
Vân-Anh làm như người đãng trí:
– À phải, ta nhớ ra rồi! Ồng bác mày tên là Đinh Thập, biệt hiệu là Tiểu-Hổ Dực-Đức ấy chứ gì?
– Chính phải ạ.
– Ông nói rằng Phiên-vương vẫn… ở với bà mẹ?
– Vâng.
Vân-Anh có cảm-tưởng như ai vừa đỡ cho nàng một nửa cái vác nặng đương dằn xuống tâm-hồn nàng.
Lan-Nhi tiếp:
– Cũng bởi ông ta chưa vợ nên con mới nói rằng hôm nay nhiều cô tha hồ mà mơ ước…
– Mày chỉ quen nói nhảm!
Lan-Nhi cười ranh-mãnh:
– Thưa tiểu-thư, trai anh-hùng, gái thuyền-quyên, gặp nhau mà ước mơ nhau là thường chứ ạ! Huống hồ việc vợ, chồng lại vốn đứng đầu nhân luân!
Vân-Anh cũng cười:
– Con này mồm miệng, bẻo-lẻo thế chẳng còn sợ ai bắt nạt nữa!…
Chương VIII
Việc loạn Nùng Trí-Cao vừa xong được chừng ba tháng thì cái tin giặc Lào quấy nhiễu lại từ biên giới phía Tây bay tới kinh-thành.
Thái-Tông Hoàng-đế giận lắm, tức khắc thiết đại triều để bàn việc phái tướng, quân đi dẹp loạn.
Nùng Trí-Cao quỳ tâu:
– Ai-lao tự-nhiên khởi hấn, nghĩ thực đáng giận. Có điều xứ ấy nhỏ, và còn mọi-rợ lắm, việc đánh dẹp không cần chi đến đại-tướng. Hạ thần, từ khi mang ân Bệ-hạ tha chết lại phong quan chức cho hưởng vinh hoa, vẫn ngày đêm nghĩ đến sự báo đền quân-thượng. Vậy dám mong Bệ-hạ cho hạ thần lĩnh một toán quân đi đánh Ai-lao. Thần cam đoan chỉ một trận sẽ thu được toàn thắng, đem sự thái-bình cho dân cư miền biên giới và làm cho bọn ấy phải khiếp uy của Bệ-hạ.
Thái-Tông Hoàng-đế nghe tâu cả mừng. Ngài đương muốn thử tài Phiên-vương, trước khi giao phó cho chàng một trọng trách:
– Hiền vương đã có lòng như vậy, Trẫm chuẩn tấu.
Lập tức, Nùng Trí-Cao được lĩnh ấn Chinh Tây đại tướng-quân. Vua lại vời Tạ Đô-thống cho đi theo Nùng để giúp đỡ, kỳ thực để quan-sát mọi hành-vi và xem cái tài dụng binh của Phiên-vương.
Các việc xong, Thái-Tông bãi chầu.
Và, ngay sáng hôm sau, Nùng Trí-Cao cùng Tạ Đô-thống lên đường đi dẹp giặc.
Ngày lại ngày nối nhau qua…
Ngoảnh đi ngoảnh lại vừa chẵn bốn tháng tròn.
Buổi chiều hôm ấy, Thái-Tông Hoàng-đế đương cùng các Thượng-tướng như Lý Thường Kiệt, Lê Phụng-Hiểu, Lý Nhân-Nghĩa và mấy vị văn thần đàm luận quốc sự, chợt có Hoàng môn quan vào báo:
– Tâu thánh-thượng, có Tạ Đô-thống từ ngoài biên về báo tin thắng trận.
Thái-Tông Hoàng-đế tức khắc truyền cho Tạ Đô-thống vào chầu.
Vị đại thần thi lễ xong, vua truyền cho ngồi và hỏi:
– Thế nào, trẫm không ngờ Phiên-vương và hiền khanh định loạn một cách mau chóng như vậy!
Tạ Đô-thống chắp tay nói:
– Tâu Bệ-hạ, Nùng Trí-Cao thực là một bực tướng tài! Va chỉ đánh có một trận mà quân Lào đã hoàn-toàn tan vỡ.
Vua cười:
– Trận thất bại nhanh trong nháy mắt khi xưa hắn cùng làm cho người ta thêm kinh nghiệm và từng trải chứ!
– Tâu Bệ bạ, Nùng khi trước bị thua mau như vậy là vì cái khách khí của tuổi trẻ, chứ thực ra y dùng binh lạ và tài tình lắm.
– Hiền khanh thử thuật cái trận đánh Ai-lao trẫm nghe.
– Tâu Bệ-hạ, thực là một trận ra ngoài cả phép tắc của các binh gia cổ, kim. Nguyên hôm ấy, quân ta vừa qua khỏi Trường-sơn thì gặp đại binh của giặc từ phía Tây-bắc kéo lại.
Nùng Trí-Cao dừng ngựa hỏi hạ thần:
« — Giặc sắp đến, số đông gấp mười quân ta, quan Đô-thống nghĩ nên dồn binh dàn trận ở đâu?
Hạ thần trỏ một dải đồi trước mặt:
– Binh pháp nói bao giờ cũng nên tranh chỗ cao mà đứng. Ta nên dàn trận ở dải đồi kia chờ giặc đến.
Nùng Trí-Cao lắc đầu mỉm cười:
– Tôi nghĩ khác. Tôi nhất định dàn trận ở cái bãi đất rộng bên trái quả gò nọ.
Thần nghe nói sợ hãi biến sắc:
– Ngài nói thực hay nói dùa?
Nùng Trí-Cao đáp:
– Đánh giặc mà quan Đô-thống lại bảo là chuyện nói đùa ư?
– Nếu ngài không nói đùa thì một là ngài không hiểu gì về binh-pháp cả!
– Sao vậy?
– Này nhé: bãi hoang kia bên phải giáp đồi cao, bến trái là núi đá bích-lập bao phủ ba mặt. Nếu giặc đến và chiếm dải đồi này, một đằng phái quân tiên-phong cắt đứt con đường về của ta đây rồi đánh vòng lại theo thế cánh cung thì bao nhiêu quân, tướng của ta sẽ bị chết hết ở trận-địa mất.
– Ngài nhầm đấy! Nếu giặc làm đúng như lời ngài nói — và tôi chỉ mong có thế — thì ta sẽ đánh cho chúng thua không còn mảnh giáp.
– Tôi không thể vâng theo ngài được.
Vừa nghe thần nói vậy, Trí-Cao rút ngay gươm lệnh mà thét to:
– Ta vâng mạng Hoàng-đế, các người nếu sai nhời ta tức là bất tuân thánh-chỉ, ta sẽ chém đầu không tha.
Sĩ-tốt nghe răm rắp, thần vô thế đành bó tay.
Trí-Cao dàn trận xong, bắt quân căng trướng rồi lui vào ngồi nghỉ, ung-dung một cách quái lạ.
Thần lo quá mà không sao được đành cũng đem cái chết mà đền ơn vua nợ nước một lần cho xong.
Giữa khi ấy thì giặc đến.
Tiếng chân ngựa, tiếng loa, tiếng trống, tiếng hò reo như bão táp.
Nùng Trí-Cao vẫn ung dung.
Hồi lâu, va chợt ra lệnh cho quân hầu:
– Bay xem giặc đã kéo lên đồi hết chưa?
Quân hầu ra một lát lại vào:
– Bẩm đã!
Trí-Cao điềm nhiên nói:
– Xem bề tiền quân giặc xuống đồi thì báo cho ta biết!.
Một lát sau, tiền quân giặc quả kéo xuống đồi, tiến về con đường quân ta vừa do đày tới.
Trí-Cao lại truyền:
– Hễ trung-quân nó xuống xong thì vào báo.
Lệnh ấy phát ra chưa đầy nửa trống canh, quân giặc đã xuống nốt thực.
Thần bắt đầu nghi-ngờ, hai mắt luôn luôn nhìn Trí-Cao
Y chợt hỏi:
– Tiền-quân, trung-quân giặc đi đã khuất rồi chứ?
Lính hầu bẩm:
– Đã khuất.
Cao liền tuốt gươm bảo các tướng:
– Giờ, ta đem toàn lực lên phá tan hậu quân giặc để chiếm lấy dải đồi. Số hậu quân nó kém ta, các ngươi phải đánh cho gấp, kẻ nào rụt rè là ta chém.
Quân ta tức-khắc mở cuộc công-kích dữ-dội.
Hậu quân của giặc bị cô thế, quả nhiên thua tán-loạn. Trí-Cao phất cờ, cho lệnh tha hồ chém giết. Giặc tan-tành, và dải đồi về ta chiếm được.
Lúc này, Trí-Cao mới cười và bảo hạ-thần:
– Quan Đô-thống xem, mình vào chỗ chết để rồi đi tới chỗ sống đấy, ngài nghe chưa. Trước, sau mình vẫn tranh được chỗ cao. Mình lại cắt được đường về của giặc, vì hiện thời chúng bị đoạn-tuyệt với hậu phương, một điều mà ngài lo ta sẽ mắc phải. Hơn thế nữa, ta chia lẻ nó ra mà đánh để số quân bớt chênh nhau mới mong thắng lợi.
Thần bái phục Phiên-vương là bậc Tôn-Ngô hiện thời.
Và, chính nhờ cái trận tài-tình ấy quân ta khuất-phục quân Ai-Iao dễ như bỡn. Hiện thời đoàn tướng-sĩ khải-hoàn đã gần tới kinh-sư. Phiên-vương sai thần về trước để dâng tin báo tiệp lên thánh-thượng.
Thái-Tông Hoàng-đế tươi cười hớn-hở:
– Trận đánh của Trí-Cao giỏi thật! Nó tỏ ra một tinh-thần mạo-hiểm ghê-gớm. Ấy, các bậc danh tướng cổ kim dùng binh hay có những thuật cảm-tử như thế! Trẫm sẽ cho đón tiếp Phiên-vương xứng đáng với tài-năng của hắn.
Tạ Đô-thống tiếp:
– Người ấy thực là người mà Bệ-hạ có thể giao cái trọng trách ở biên-thùy phía Bắc cho được lắm.
Lê Phụng-Hiểu nói:
– Tôi cũng đồng ý với quan Đô-thống. Nhưng còn điều này tôi muốn hỏi ngài…
Tạ Đô-thống chắp tay:
– Xin lão tướng quân cứ dạy.
– Ngài đã cùng Phiên-vương gần-gụi nhau luôn, vậy ngài xem tình ý va thế nào? Và có thực chịu làm tôi Triều-đình chưa hay còn manh tâm kia khác?
– Thưa, lão tướng, sách thánh có câu: Tri nhân, tri diện, bất tri tâm. Hạ quan tuy gần-gụi Phiên-vương thực, nhưng biết người, biết mặt, biết lòng làm sao! Tâm địa Phiên-vương thế nào, hạ quan thực không dám nói chắc. Nhưng, cứ bề ngoài mà nói thì Phiên-vương thực là người nhất tâm quy thuận Triều-đình vậy.
Tạ Đô-thống ngừng một lát:
– Vả lại, thưa lão tướng, dù va có không thành thực, dù va có manh lâm kia nọ đi nữa thì ta cũng không lo. Thiếu gì cách bó buộc một người?
Thái-Tông Hoàng-đế khen phải:
– Tạ Đô-thống nói nhời ấy thực là nhời xác luận. Ta thực quả không thiếu gì cách để mua lấy lòng trung-thành của người thanh-niên anh-dũng ấy. Và, trong mọi cách nó ràng buộc con người, còn gì hơn là danh, lợi, tình? Nhất là tình! Nước mắt anh hùng, tấm lòng nhi nữ, xưa nay ai còn lạ gì nữa.
Tạ Đô-thống chắp tay:
– Thánh-thượng dạy thực đúng lẽ.
Vua nhìn Đô-thống:
– Ta hiềm chưa có công chúa! Nếu ta có công chúa, ta quyết lấy Nùng Trí-Cao làm phò- mã.
Tạ Đô-thống vô tình đáp:
– Tâu Bệ-hạ, ví phỏng như vậy, Phiên-vương cũng xứng đáng lắm.
– Xứng đáng lắm chứ! Va là người anh-hùng cái thế. Va lại là một quan chức lớn của Triều-đình. Hon thế, va sẽ có thể còn là một trong các trụ thạch quý báu của nước nhà nữa.
Vua liếc nhìn trăm quan một lượt rồi lại trông thẳng vào Tạ Đô-thống:
– Hiền khanh?
– Bệ-hạ truyền?…
– Hiền khanh có vui lòng giúp Trẫm một việc chăng?
– Tâu Bệ-hạ, vua sai, dù nhảy vào lửa cũng không dám từ. Hạ thần chỉ mong được có dịp tỏ lòng trung quân, ái quốc mà thôi.
– Nếu vậy tốt lắm. Trẫm hỏi Khanh như vậy là vì bấy lâu Trẫm thường nghe thiên hạ huyên chuyển nhiều về Vân-Anh tiểu-thư. Cứ theo những nhời ấy thì lệnh-ái quả là một bậc kỳ-nữ tử đương thời. Anh-hùng sánh với thuyền-quyên, ý Trẫm muốn đứng chủ hôn cho Phiên-vương và lệnh ái, hiền khanh nghĩ sao?
Tạ Đô-thống vội phủ phục trước bệ rồng:
– Tâu Bệ-hạ, thần chỉn e nhà thần phúc bạc, không đáng được Bệ-hạ ban ân cho như vậy, chứ nếu mà được như nhời thánh dụ, thần khi nào còn dám có ý gì khác!
– Sự vâng lời của khanh thực làm cho trẫm vui mừng khôn xiết, vui hơn là nếu hiền khanh đem dâng trẫm cả một dải thành liền. Bây giờ khanh hãy lui về nghỉ ngơi, nhân tiện báo tin để phu-nhân và lệnh-ái biết.
Tạ Đô-thống lạy vua rồi trở ra.
Ngài về thẳng Đô-thống phủ.
Lúc ấy, phu-nhân và Vân-Anh đương ngồi chuyện vãn. Chợt thấy chồng về, phu nhân mừng rỡ:
– Ồ, tướng-công về lúc nào mà không tin cho tiện thiếp biết.
– Tôi vừa tới nơi, vào chầu Hoàng-đế rồi về ngay đây.
– Phép công đã đành là trọng nhưng từ hôm tướng-công vâng chiếu đi chinh Tây, thiếp và con ở nhà lo sợ không biết chừng nào.
– Chính tôi cũng biết phu-nhân và con ở nhà lo ngại lắm, nhưng làm thế nào được. Ơn vua lộc nước, làm thân người nam-nhi thì chỉ có da ngựa bọc thây mà thôi. Cũng may lần này, nhờ có cái tài đánh trận của Phiên-vương nên tôi mới được vô sự về đây, như thế kể nhà đã đầy hồng-phúc lắm.
Vân-Anh dỏng tai.
Phu-nhân hỏi chồng:
– Phiên-vương quả là một bậc kỳ tài thực à?
– Phải, một vi thanh-niên anh-hùng đáng quý-trọng. Vương sẽ là một trụ thạch của quốc gia nữa.
Trời, những câu khen ngợi do chính miệng phụ-thân nàng nói ra, Vân-Anh nghĩ sao mà êm-đềm thế!
– Người như thế thực hiếm có.
Tạ Đô-thống náo nức:
– Phu-nhân nói phải, thực là hiếm có.
Đô-thống vừa nói vừa nhìn tiểu-thư mà cười:
– Tôi còn có một câu chuyện vui này nữa cần phải nói để phu-nhân rõ.
– Chuyện chi, xin tướng-công cứ dạy cho tiện-thiếp biết.
– Đức Hoàng-đế cần dùng Phiên-vương để thực-hành cái chí chiếm thâu Lưỡng-Quảng.
– Điều ấy, tướng-công đã nhiều lần nói cho thiếp nghe rồi.
– Hoàng-thượng không những chỉ cần dùng Phiên-vương mà thôi. Ngài còn yêu quý Phiên-vương rất mực nữa,
– Điều này lại càng dễ hiểu lắm! Một người như Phiên-vương, ai mà không yêu mến cho được.
– Ngài vừa truyền rằng ngài tiếc không có vị công-chúa nào để kén Phiên-vương làm phò-mã.
– Ừ nhỉ, ông phò-mã ấy thì còn ai hơn được.
– Bây giờ ngài muốn ban cái vinh diệu ấy cho nhà ta.
– Ồ!
– Ngài sẽ đứng chủ-hôn cho Phiên-vương kết duyên với con Vân-Anh, phu-nhân nghĩ thế nào?
Vân-Anh không nghe thêm nữa. Nàng chạy tọt vào khuê-phòng. Toàn thân nàng run lên. Cái tin ấy thực là một tiếng sét đánh xuống hồn nàng, một tiếng sét êm-đềm. Sự xúc-cảm mạnh đến nỗi Vân-Anh ứa nước mắt khóc…
Chương IX
Sau khi ở phủ Tạ Đô-thống về, Nùng Trí-Cao vào thẳng ngay phòng riêng ngồi nghĩ vơ vẩn.
Cái cảm tình của Tạ Đô-thống — một võ tướng cực kỳ kiêu-ngạo lại có óc chủng-tộc rất hẹp hòi — từ cuộc đại thắng của chàng bên Ai-lao, những sự đi lại ân cần, bữa tiệc thân mật hôm nay và, sau cùng, những nhời giao ước về cuộc hôn-nhân của chàng với Tạ tiểu-thư, tất cả khiến Nùng cảm động không biết nhường nào.
Và, chính bởi vậy, Nùng càng nghĩ ngợi hết sức.
Chàng bị bắt về kinh-sư làm một tên tù giam lỏng, cái cảnh-ngộ ấy thực khiến chàng ôm hận mà không thể bàn nói cùng ai. Đến nỗi, trong lúc lòng đầy những chua cay, Nùng không muốn ai tử tế với chàng để chàng khỏi phải băn-khoăn về ngay sự tử-tế ấy.
Thì, trái với ước muốn của chàng, những ơn huệ của Thái-Tông Hoàng-đế càng ngày càng như những trận mưa hoa đổ xuống đầu chàng. Những ơn huệ mà chỉ một phần mười cũng đã thừa đủ làm thỏa-mãn bất kỳ một kẻ tham lam nào.
Nhưng, tất cả các ân huệ này, chàng còn có thể nói là do một lẽ về chính-trị.
Đến như, mối nhân-duyên giữa chàng và Tạ tiểu-thư, do Tạ Đô-thống đề-xướng một cách chân-thành và sốt-sắng, chàng không thể còn đổ cho vì một lẽ gì được, ngoài tấm lòng yêu tài của Tạ Đô-thống mà ra vậy.
Từ chối ư?
Môt kẻ lòng dạ sắt đá đến đâu, một kẻ lỗ mãng mọi-rợ đến đâu cũng không từ chối nổi. Là vì, là như thế, chàng sẽ làm tổn thương lòng tự-ái của Tạ Đô-thống và nhất là lòng tự-ái của Tạ Vân-Anh. Vết thương khả-dĩ chết người! Mà những người ấy là ai? Chẳng phải chính ngay những người rất tử-tế với chàng đấy ư?
Thì một sợi tơ đào sẽ buộc chặt lấy chân tráng-sĩ. Và, như thế, bước đường tương-lai còn có mong gì?
Bước đường tương-lai ấy chẳng những chàng không muốn mà còn không có quyền rào đón lại.
Chàng phải, như con chim bằng có ngày sẽ cất cánh bay cao muôn vạn dặm.
Chàng phải, một phen làm cho rõ mặt phi-thường.
Chàng phải tạo nên một sự-nghiệp lẫy-lừng hiển-hách, một khi chàng cũng sinh làm một bậc anh-hùng như ai.
Vả lại, những cái chàng đã hẹn với lòng ấy phải đâu chỉ có một mục-đích là làm thỏa- mãn sự kiêu-căng vĩ-đại của một người hiếu thắng.
Nó là những điều bắt buộc mà chàng không thể tránh được.
Nó là những bổn-phận thiêng-liêng của chàng.
Nùng Trí-Cao buông một tiếng thở dài não-nuột. Chàng nhắm nghiền hai mắt để thấy ở trong trí nhớ cái cảnh não-nùng hồi ba năm trước, cái cảnh đằm những giọt máu còn tươi.
Không! Thù cha, chàng phải báo cho bằng được.
Thù cha mà không báo nổi, chàng sống cái đời nam-nhi chẳng cũng uổng phí lắm ru!
Thái-Tông Hoàng-đế dù sao cũng là kẻ tử thù của chàng, kẻ thù không đội chung một trời.
Những ân huệ của vua Lý chỉ là những sỉ-nhục mà nếu chàng bắt buộc phải nhận lĩnh ấy chính là để làm cho mối thù trong lòng chàng lúc nào cũng rớm nguyên máu đỏ.
Và, bao nhiêu sự tử-tế của những người quanh mình chàng, chàng đều không có quyền được coi trọng đến nỗi quên hẳn chí phục thù.
Chàng sẽ từ chối việc hôn-nhân với Tạ tiểu-thư!
Điều ấy nhất định phải như thế!
À, nhưng nếu chàng từ chối, cái lập tâm của chàng e sẽ bị người ta nom thấy rõ chăng?
Chàng càng muốn báo thù, cái chí báo thù của chàng càng cần phải được giấu thực kỹ. Quanh mình chàng, chắc chắn là có hàng trăm cặp mắt bí mật lúc nào cũng mở to để dò xét hành-vi của chàng. Đã thế, sự khôn-ngoan bắt buộc chàng phải giả dại làm ngây, phải không để cho một ai dù da nghi đến đâu có thể ngờ vực chàng được.
Đã thế, chàng phải tỏ ra rất sung-sướng được chịu ơn của Lý Triều Hoàng-đế. Và chàng phải vồ-vập hết sức cuộc hôn-nhân với Tạ tiểu-thư.
Nùng Trí-Cao chép miệng:
– Chỉ thương hại thay cho nàng!..
Mà thực thế, Vân-Anh tiểu-thư thực đáng thương vô cùng.
Nàng đã bị người ta lợi-dụng mà không tự biết. Nàng đã bị dùng làm một cái mồi câu, một vật hy-sinh trong cuộc tranh vương, đồ bá của tụi đàn ông. Trong khi ấy, nàng vẫn tin, vẫn nhắm mắt mà tin ở những cái tốt đẹp của cuộc đời, tin ở ái-tình, ở hạnh-phúc, ở tương-lai một cách vô cùng ngờ-nghệch.
Nàng đã yêu ngay từ khi mới thoạt nghe nói đến tên tuổi người nàng yêu.
Nàng đã sung-sướng ngây-ngất, khi phụ-thân nàng chớm nói đến cuộc phối-hợp của nàng với người thanh-niên anh-hùng mà nàng thầm yêu trộm nhớ.
Nhưng, cuộc hôn-nhân kia sẽ là gì?
Nó sẽ là một oan-nghiệt cho nàng. Bởi vì rằng, một ngày nào đó, người chồng nàng sẽ bỏ nàng trở lại với đơn chiếc, với sầu khổ, với bẽ-bàng để đi theo cái tiếng gọi của bổn-phận, nghĩa là của danh, lợi.
Nùng Trí-Cao đã trông thấy từ trước cái cảnh não-nùng ấy nèn chàng xiết bao do-dự. Chàng thực-tình không muốn lừa dối tấm lòng tin cậy của một người con gái vô tội. Chàng thương Vân-Anh mà không dám nói ra. Mối tình thương ấy đã khiến chàng, một người gan-góc suýt phải sa lệ, khi Vân-Anh tiểu-thư, vâng lệnh phụ-thân, khép-nép bước ra làm lễ tương-kiến với chàng.
Yêu nhau chẳng lại bằng mười phụ nhau.
Khốn thay, Nùng Trí-Cao không còn thể nào lui gót được nữa.
Chàng đứng dậy lững-thững ra hè:
«– Thôi thì số kiếp xui nên ta cũng đành như vậy chứ biết tính sao bây giờ? »
Chàng nghĩ, chỉ còn một cách là, sau khi thành-hôn, chàng sẽ hết lòng yêu dấu vợ để đến cái ngày bắt buộc phải ra đi, chàng không đến nỗi ân-hận là một kẻ phụ-tình.
Thế là, sau khi đã cố sức dẫy-dụa lên với cái bất ngờ của số-mệnh, chàng đành chịu bó tay, như con thú dữ sa vào lưới. Nùng Trí-Cao lúc này, mới nghĩ đến Vân-Anh. Chàng ôn lại trong trí nhớ tất cả những việc vừa xảy ra buổi chiều hôm nay.
Thoạt khi tiếp được thiếp mời của Tạ Đô-thống, chàng ung-dung lên ngựa ra đi, lòng thực không ngờ chi hết. Cho mãi đến lúc cùng Đô-thống bắt đầu uống rượu trong vườn hoa, chàng vẫn thảnh-thơi vui sướng một cách lạ.
Chàng đã cảm-động vô cùng khi chàng vừa uống xong tuần rượu thứ ba và Tạ Đô-thống tự nhiên có vẻ nghiêm-nghị cất tiếng nói:
– Bữa rượu hôm nay, ngoài vòng khao-khát được cùng hiền-vương họp mặt, lão-phu còn có một câu chuyện nói.
Câu chuyện gì mà trịnh-trọng thế? Nùng Trí-Cao ngơ-ngác tự hỏi và hỏi luôn Tạ Đô-thống:
– Chẳng hay có chuyện gì quan-hệ, xin các-hạ cứ truyền dạy cho.
– Chẳng nói đấu chi hiền-vương, bấy lâu nay được gần-gụi và thấy rõ hiền-vương là một bậc thanh-niên, tuấn-kiệt, lão phu vẫn lòng riêng kính yêu. Lão-phu muốn rằng nếu hiền-vương không chê nhà lão-phu đức bạc mà nhận cho câu này để tình thân giữa hai ta càng thêm thân, thì lão-phu thực sung sướng không biết chừng nào.
Tri-Cao ngờ vực:
– Xin ngài cứ dạy, chúng tôi khi nào dám chối sự làm vui lòng một vị lão thành tri-kỷ như ngài.
– Nếu vậy hay! Lão-phu tuổi già hiếm hoi, có một đứa con gái lạm biết cả văn thơ vũ nghệ. Nay lão-phu muốn đem nó tặng hiền-vương làm kẻ nâng khăn sửa túi, hiền-vương nghĩ sao?
Như nghe tiếng sét đánh ngang tai, Nùng Trí-Cao luống- cuống không biết đáp lại thế nào cho phải thì Tạ Đô-thống đã gọi:
– Lan-Nhi đâu?
Con a-hoàn chạy ra.
– Mày vào thưa với tiểu-thư rằng có lệnh ta đòi nghe chưa.
Và, một lát sau, một thiếu nữ…Ồ không! một nàng tiên từ đâu Quảng-hàn lạc xuống, đã hiện trước mắt chàng.
Phần cảm-kích vì sự chí-thành của Tạ Đô-thống, phần ngây-ngất, bởi sắc nghiêng thành của giai-nhân, Nùng Trí-Cao đứng dậy chắp tay nói:
– Tấm thân cá chậu chim lồng ngờ đâu còn được các-hạ rủ lòng thương đến. Sự chu-chuân ấy và tấm lòng chiếu-cố của lệnh tiểu- thư, kẻ bất tài này dù gan óc lầy đất cũng chưa đủ báo đền trong muôn một.
Những lời nói của Tạ Đô-thống, sự xuất hiện mê hồn của Vân Anh, những câu chàng đã đáp lại, hết thảy đều như trong một giấc chiêm bao.
Mà thực vậy, phải là một giấc chiêm bao chứ ở đời làm gì có sự xảy ra tốt đẹp nhường này.
Nùng Trí-Cao nhắc đi nhắc lại hai ba lần cái ý tưởng của chàng. Cho mãi đến lúc những tiếng bổng, trầm dìu-dặt của một khúc tỳ-bà khiến chàng như tỉnh mộng.
Phải chàng hoàn-toàn sống trong thực tại.
Những việc vừa xảy ra đều là những việc trong thực tại.
Còn ngờ chi nữa, một khi mà chính nàng Tiên đã khép nép ngồi xuống một chiếc cẩm đôn, và bắt đầu gảy một khúc đàn êm-ái.
Say vì rượu, say vì tình, Trí-Cao bâng khuâng ngơ-ngẩn nhìn người ngọc, nhìn những ngón tay mềm nhẹ lướt trên mấy đường tơ.
Thanh âm từng giọt và từng giọt rỏ thánh-thót vào tim chàng, gợi dậy những điều nhớ-nhung man-mác, những khát-vọng mơ hồ, những yêu-đương không ngờ là có.
Cả tâm-hồn chàng, tâm-hồn tráng-sĩ tưởng đã luyện bằng chất thép, bắt đầu mềm ra, muốn thành một thứ hơi xuân đầm-ấm nó làm tan hết cái lạnh-lẽo của oán thù, của danh lợi, của những mộng vương, bá đượm máu người..
Nhưng khúc đàn đã hết.
Vân-Anh cúi chào khách, đoạn lui gót lầu trang.
Trí-Cao ngơ-ngẩn trông theo, và, tự đáy lòng chàng, nổi lên một tiếc hận não-nùng.
Khúc đàn dứt. … À, ra ở đời còn có một lúc mà bất cứ sự gì cũng dứt! Cái lúc mà công-danh sự-nghiệp, mà những mộng lớn lao, mà tất cả tham-vọng của người ta, mà cả cuộc sống nữa cũng biến thành hư ảo...
Có thể như vậy được chăng?
Thế thì tại sao người ta ở đời còn cứ bận lòng về những cái ấy?
Cũng như chàng chẳng hạn!
Từ khi chàng bắt đầu suy nghĩ, óc chàng lúc nào cũng chỉ mơ-màng những sự chọc trời, khuấy nước, những thủ-đoạn phi thường, những trận chém giết mà máu người dội lênh-láng cả mặt đất, làm chàng lúc nào cũng chỉ bận những thù hằn, tức giận, đến nỗi ngoài ra, chàng không biết ở đời còn có thể có gì khác nữa.
Ở đời còn có nhiều cái khác, tốt đẹp và cao-quý biết chừng nào!
Ví dụ những phút chàng vừa sống!
Những phút thần-tiên diễm-ảo, trong đó, chàng đã sống vô cùng đắm-say, dồi-dào, và tế-nhị.
Chàng ngạc nhiên hết sức.
Chàng coi Vân-Anh gần như một nàng tiên có phép lạ đã cho chàng được tới một cuộc đời ở đâu bên ngoài cái cuộc đời chỉ những chém giết và oán thù.
Nàng tiên ấy, Tạ Đô-thống lại sẵn lòng ban cho chàng ư?
Ồ, có thế nào như vậy được?
Chàng còn đợi gì mà không quăng bỏ hết để cùng người ngọc thoát trần một bước thiên nhiên? …
Phải, chàng còn đợi gì?… À, nhưng kia hai cái đầu rụng trên bãi cỏ hoang sao vẫn cứ rõ-rệt trước mắt chàng quá thể!…
Chương X
Thấm thoắt sáu năm qua…
Sáu năm, hai vợ chồng Nùng Trí-Cao sống trong một bầu không khí nồng-nàn của tình-yêu san sẻ.
Nùng thì thương mà yêu.
Tạ Vân-Anh, trái lại, yêu vì kính trọng, vì cảm phục.
Nàng quả đã thấy ở Nùng một vị thần, một người thực hiện đầy đủ cái mộng tưởng yêu-đương của nàng.
Hơn thế nữa, nàng còn kiêu-hãnh thấy rằng sự kính nể chẳng phải chỉ riêng nàng là có. Tình cảm ấy còn lan rộng tới các người quanh mình nàng mà Vân-Anh vẫn tôn thờ: song thân nàng và đấng Thiên-tử.
Những ngày nối nhau qua cuộc đời chung của đôi vợ chồng trẻ đều là những ngày thắm tươi, đầm ấm. Hôm nào cũng vậy, ngoài những giờ vào phủ Đô-thống thăm cha mẹ vợ, vào chầu vua, Nùng Trí-Cao thường cùng vợ đấu võ, đánh cờ, uống rượu hoặc ngồi nghe Vân-Anh gẩy đàn.
Quãng đời êm ái cứ như một khúc sông trôi qua giữa hai khoảng bờ hoa tươi đẹp. Và, nếu câu chuyện của hai người chỉ có thế thôi thì ta cũng chẳng cần biết thêm làm gì nữa. Cái lịch-sử của hạnh phúc nhân sinh vốn tầm thường bằng phẳng quá. Nó cung sao cho đủ tài liệu cho văn nhân để tạo nên được những cuốn tiểu-thuyết hay.
Cuộc đời bình-thản của vợ chồng Vân-Anh sở-dĩ còn để cho người sau phải nói tới, ấy chính vì một việc bất thần đã xẩy ra …
Nguyên hôm ấy, gặp ngày phiên chầu, Nùng Trí-Cao và trăm quan đều vào điện Thái-hòa để dự bàn việc nước.
Văn võ, sau khi làm việc tung hô, vừa phân ban ai đứng vào chỗ ấy thì Hoàng-môn quan chợt quỳ trước thềm rồng tâu:
– Tâu Thánh-thượng, có tin cấp báo ở biên giới Lạng-Sơn gửi về, sai-viên hiện còn đợi chiếu ngoài ngọ môn.
Thái-Tông Hoàng-đế bất giác liếc nhìn Nùng Trí-Cao trong khi Phiên-vương khẽ cau lông mày tỏ ý nghĩ-ngợi.
Sau cùng Hoàng-đế phán:
– Cho vào.
Sai-quan quỳ lạy và dâng biểu của trấn-thủ Lạng-Sơn.
Thái-Tông Hoàng-đế tiếp biểu xem song liền nổi trận lôi đình:
– Lũ mọi nào lại dám cả gan quấy rối biên-cương như vậy?
Sai-quan nói:
– Tâu Bệ Hạ, chúng là một đồ vong mệnh tụ tập nhau tự bao giờ không rõ. Chúng hung dữ lắm và rất tài nghề chiến-trận ở miền rừng núi. Quan quân, vì vậy, chỉ kiên thành cố thủ, không làm gì nổi.
Thái-Tông hỏi trăm quan:
– Nay giặc cỏ phạm tới biên-cương, trấn- thủ Lạng-sơn dâng biểu cáo-cấp, vậy chư khanh ai vì Trẫm lĩnh binh phá giặc.
Nùng Trí-Cao ra ban quỳ tâu:
– Việc dẹp nghịch-đảng, Thánh-thượng bất tất phải quan-tâm và sai đến các đại-tướng. Hạ-thần nguyện xin đem tài hèn, sức mọn ra báo ơn Bệ Hạ.
Thái-Tông quay hỏi nhỏ Lý-thường-Kiệt:
– Nhời Phiên-vương tâu, hiền-khanh nghĩ thế nào?
Kiệt đáp:
– Cử ngu ý hạ-thần, việc Phiên-vương lĩnh binh đi dẹp loạn cũng có thể y cho được. Miễn là Triều-đình cắt người đi kèm để giám-sát hành-vi của va là được.
– Sai ai bây giờ?
– Lại sai Tạ Đô-thống là hơn cả.
Lý Nhân-Nghĩa nói:
– Tâu Bệ Hạ, sai Tạ Đô-thống đi kèm Trí- Cao, thần e bất tiện.
Thái-Tông hỏi:
– Khanh bảo bất tiện vì lẽ gì?
– Vì lẽ Tạ Đô-thống đã có lần theo Cao sang dẹp giặc Lào, cầm ấn phó tướng, chịu quyền chỉ huy của Phiên-vương. Nhưng dẹp giặc Lào khác mà dẹp loạn ở vùng Lạng-sơn, gần kề ngay sào-huyệt của Cao, lại là khác. Theo ngu ý của thần, Bệ-hạ nên truyền Võ-Vệ tướng-quân Lê Phụng-Hiểu làm chính tuớng, cho Cao đi tiên phong. Như thế, Phiên-vương dù có dị chí đi nữa cũng không thể làm gì dược. Uy danh của Lê tướng-quân đủ trấn cả một vùng ấy rồi.
Thái-Tông Hoàng-đế gật đầu khen phải. Ngài truyền cho Phụng-Hiểu lên điện và nói rõ ý-định.
Hiểu nghĩ-ngợi một lát rồi tâu:
– Nhời bàn của Lý tướng-quân có chỗ phải mà lại cũng có chỗ không phải. Đã đành rằng nhân tâm nan trắc nhưng nếu mình làm thế tức là mình tỏ ý nghi ky người ta rồi. Nghi kỵ bao giờ cùng đẻ ra nghi kỵ. Phiên-vương thấy Bệ-hạ không tận tin va, va có thể vì tức mà làm ngang mặc dầu va không có ý-định ấy từ bây giờ. Chi bằng ta cứ giao cho y một cánh quân đi dẹp giặc, hạ-thần dám tin chắc rằng y sẽ không phụ Bệ-hạ. Vả lại, nếu ngựa quen lối cũ, Phiên-vương sẽ manh tâm kia khác thì một mình thần cam đoan cỏ đủ sức để chế ngự một vùng thượng du ấy.
Những lời khoái luận của viên danh-tướng làm cho mặt rồng hớn-hở. Thái-Tông Hoàng-đế vuốt râu cười mà rằng:
– Nhời khanh nói đủ tỏ là khanh là một khai quốc công-thần, khả-dĩ giúp vua mở vận hội mới cho trăm họ….Phải… phải lắm, lấy mưu cơ, uy-vũ khuất- phục người ta sao bằng lấy đức mà cảm hóa người ta! Trẫm sai Phiên-vương đi này, ví dù có bị y lừa dối chăng nữa, sư mắc lừa của trẫm chỉ càng tỏ rõ cái bất-nhân của y mà thôi.
Phán xong, Lý-Thái-Tông Hoàng-đế liền thảo chiếu phong cho Nùng Trí-Cao làm Quảng-Uyên mục, kiêm lĩnh soái ấn bình lân, quyền tiền trảm hậu tấu. Vua lại sắc cho binh-bộ điểm quân lương sẵn để Trí-Cao lên đường đẹp giặc.
Buồi chầu tan.
Văn võ cùng ra khỏi Hoàng-thành.
Nùng Trí-Cao lên ngựa, giong cuong cho đi bước một, bởi chàng đương nghĩ ngợi lung lắm.
Chàng nghĩ ngợi vì lòng chàng bị xúc động mãnh liệt bởi nhiều tình-cảm trái ngược hẳn nhau.
Thoạt đầu là cái tin loạn trị ngoài biên cương, ngay giáp giới khu cũ của chàng, do phi kỵ mang tới kinh-thành.. Tin ấy hình như nhóm một mồi lửa trong mạch máu chàng. Chàng sôi nổi, náo nức hẳn lên mà không hiểu tại sao.
Những cái mộng năm xưa, tưởng đã chết lại sống cả lại một lượt, diễn loang loáng qua óc chàng.
Nhưng mối thù bấy lâu như than vùi đáy bếp, lại bùng lên.
Cái chí ngang tàng lại quậy trong người chàng làm cho chàng không thể không tiếc thương ngày dĩ vãng.
Một đằng thì thế.
Một đằng là những cái trái ngược hẳn nhưng cũng sâu xa, cũng mãnh liệt không kém chút nào.
Ẩy là mối tình của chàng đối với Vân-Anh tiểu thư.
Dù sao, chàng cũng là một người. Những năm chung sống với Vân-Anh, những giờ ái-ân đằm thắm đều trở nên những lý lẽ rất êm đềm, những sợi tơ mềm muốn buộc chân chàng lại.
Người ta ở đời tranh bá, đồ vương, bôn danh, tẩu lợi để làm gì? Có phải cốt để thực hiện cuộc sống của mình không?
Hẳn phải là như thế.
Và, nếu như thế, chàng còn cần gi nữa, một khi mà đời chàng đã thực hiện được hoàn toàn, nghĩa là chàng đã cảm thấy mình sung sướng, mình đầy đủ cả về tinh thần lẫn vật chất.
Chàng còn có đòi gì hơn là cái cuộc sống của chàng hiện thời nữa?
Chàng chỉ còn một băn khoăn, ấy là mẹ chàng. Đã sáu năm qua, chàng không được lần nào gần mẹ đến nỗi nhiều khi chợt nhớ đến người đã sinh ra, đã nuôi chàng, tình thâm mẫu tử khiến chàng quên ăn mất ngủ. Nhưng mà ai cấm chàng có thể đón mẹ chàng về kinh để mẹ con cùng sống với nhau?
Còn mối thù cha, anh?
Cho là thù, đã đành cái chết của cha, anh chàng, chàng phải báo. Nhưng người ta không lẽ sống ở đời chỉ là để mà thù quanh, oán quẩn nhau cho đến cái hơi thở cuối cùng? Cha, anh chàng tranh quyền, cướp nước với nhà Lý. Hai người đã thua, đã chết. Phỏng thử vua nhà Lý thua thì cũng đến chết như cha, anh chàng đã chết chứ sao.
Thế thì, rút lại, cái chết của cha anh chàng cho là thù cũng được mà coi như một sự tự nhiên phải có cũng không đến nỗi là vô lý.
Huống hồ, Thái-Tông Hoàng-đế đã hết lòng sủng mộ chàng, hậu đãi chàng, gây hạnh phúc cho đời chàng và, đến nay, lại cho chàng được tự quyền lên dẹp loạn ở gần đất cũ của chàng mà không bó buộc một điều nào cả!
Nếu có thù thì kẻ thù của chàng cũng đã xử với chàng tử tế để chàng quên thù.
Và để đáp lại, chàng có cái nghĩa là trả lại những ân huệ, lòng tin yêu ấy bằng cách tận thành, tận tín với Lý Triều Hoàng-đế.
Nùng cứ vừa đi vừa nghĩ ngợi phân vân như vậy cho đến lúc về đến tư thất.
Vân-Anh thấy chồng có vẻ ưu tư liền đon đả.
– Chẳng hay phu quân có điều chi mà xem có vẻ không vui như vậy?
Chàng nhìn vợ thì thấy xinh đẹp hơn bao giờ hết:
– Tôi sắp sửa phải đi đánh giặc.
Vân-Anh biến sắc:
– Phu quân phải đi đánh giặc?
Nùng gật đầu. Nàng hỏi:
– Giặc nào? Ở đâu?
– Ở vùng Quảng-Uyên tràn sang.
– Gần nơi quê hương của phu quân thì phải?
– Chính thế.
– Bao giờ phu quân lên đường?
– Sớm ngày kia…
– Phép vua là trọng, phu quân nghĩ ngợi làm chi cho hao tổn tinh-thần.
Nùng Trí-Cao cười:
– Phu nhân hiểu lầm rồi! Thân làm vũ tướng, da ngựa bọc thây, tôi có sợ chi sự vào sinh ra tử. Tôi nghĩ ngợi là nghĩ ngợi những cái khác kia.
– Thiếp mong rằng phu quân cho thiếp cũng được dự biết những điều nó đương bận lòng phu quân.
Nùng Trí-Cao nhìn vợ giây lâu mới khẽ mỉm cười hỏi rằng.
– Tôi đi dẹp loạn phen này, phu-nhân không nhận thấy sự gi khác thường à?
Vân-Anh ngơ ngẩn:
– Không! Thiếp quả không thấy có gì là khác.
– Phu nhân hình như vừa hỏi tôi rằng nơi có giặc gần kề ngay…
– Quê hương của phu quân.
– Chính thế.
– Vâng.
– Đấy, tất cả sự khác thường là ở đấy!
– Chàng nói thế là thế nào, thiếp thành thực không hiểu!
– Có gì là khó hiểu!... Thường tình cóc chết ba năm quay đầu về núi, con người ta ai là khỏi lưu-luyến quê-hương?
– Chính vậy, phu-quân nói rất phải.
– Nay tôi đem quân đi dẹp giặc, tôi có thể đi một mạch về quê tôi..
– Chàng về thăm mẫu-thân rồi chàng trở lại chứ sao. Sáu năm trời xa cách, con nào mà không thương nhớ mẹ. Không nói phu-quân, ngay thiếp cùng thường hoài-vọng được gặp mẫu-thân lắm lắm. À, hay là thế này …
Nùng Trí-Cao hỏi:
– Thế nào?
– Hay là phu-quân cho thiếp đi theo để thiếp được bái-yết mẫu-thân luôn thể cho phải đạo làm dâu?
Sự tin-cẩn thực-thà của Vân-Anh khiến Nùng hết sức cảm-động. Chàng cúi đầu một lát, đoạn từ từ ngẩng trông vợ:
– Phu-nhân lại nhầm cái ý của tôi rồi!
– Thiếp nhầm như thế nào?
– Tôi vừa hỏi nếu tôi nhân chuyến này về thẳng quê…
– Thì thiếp đã hiểu đúng như phu-quân nói chứ sao!
– Về thẳng đây có nghĩa là không bao giờ trở lại nữa!
Vân-Anh không thể tin hai tai nàng:
– Chàng nói sao? Chàng về thẳng quê không trở lại đây nữa à?
– Ví-dụ thế…
– Nghĩa là chàng sẽ bỏ em sống sầu-não một mình, chàng sẽ không đoái-hoài thương-nhớ chi hết, chàng sẽ quên rằng vợ chồng ta đã có những ngày chung sống với nhau…
Vân-Anh nói như một người mê sảng. Nàng tự-hồ phải cân nhắc đi nhắc lại một ý để cố nhận rõ một sự mà nàng không thể nào ngờ tới.
Nùng Trí-Cao thong-thả đáp:
– Ừ, ví-dụ như thế thì phu-nhân nghĩ sao?
– Thiếp không nghĩ sao cả! Thiếp chỉ sẽ chết mòn chết mỏi đi vì sầu-não mà thôi…
– Phu-nhân không oán-giận tôi sao.
– Oán-giận chàng? … Ừ nhỉ… mà sao em lại oán giận chàng? Chàng nếu làm như thế chẳng qua vì chàng có nhiều lẽ bắt buộc phải làm như thế, em sao lại oán chàng? Em chỉ muốn xin chàng có một điều…
– Điều gì?
– Giá chàng cho em theo…
– Phu-nhân theo làm sao được?
– Sao không được? Thuyền theo lái, gái theo chồng, em phải luôn luôn ở bên mình phu-quân chứ!
– Nhưng nếu nàng cùng đi, việc của tôi sẽ hỏng vì vua sẽ nghi…
Vân-Anh nín lặng. Nàng im lặng để nhìn chồng bằng cái nhìn thăm-thẳm. Sau cùng, hai giọt nước mắt từ từ lăn xuống cặp má đào.
Nùng Trí-Cao cầm tay vợ:
– Ấy là tôi hỏi thử lòng phu nhân đấy thôi, chứ tôi khi nào lại lìa bỏ phu-nhân!
Nàng gục vào vai chồng, nức nở:
– Chàng mà bỏ thiếp trơ lại với muôn nghìn sầu tủi thì tội-nghiệp cho thiếp quá… Thiếp có tội gì đâu! Và thiếp yêu chàng biết chừng nào…
Chương XI
Trước sự tấn công của đoàn binh sĩ Đại-nam đã có cái kinh-nghiệm bách chiến, bọn giặc cỏ địch sao cho lại. Huồng hồ lại còn cái uy vũ của Nùng Trí-Cao.
Bởi các lẽ ấy nên việc đồ-định biên giới rất là dễ-dàng. Nùng Trí-Cao ra binh chưa đầy nửa tháng, tin báo tiệp đã liền liền bay về Thăng-long.
Dân kinh-đô chỉ còn đợi ngày đón tiếp đoàn quân thắng trận và Thái-Tông Hoàng-đế cũng đương sửa soạn một cách thưởng công long trọng cho Nùng Trí-Cao.
Trong thời gian ấy, ngoài biên ải, một đêm sương lạnh, Nùng Trí-Cao ngồi buồn đem rượu uống để khuây-khỏa muôn nghìn ý nghĩ vẩn-vơ trong óc.
Chàng ngồi như vậy đã lâu lắm.
Trống ngoài chòi canh đã điểm canh ba.
Thình-lình, một người bí-mật bước vào hổ-trướng với một luồng gió lạnh.
Nùng Trí-Cao ngẩng đầu, khẽ kêu một tiếng kinh ngạc:
– Ồ, Quái Đầu Đà!…
Đạo-sĩ quỳ lạy ra mắt xong, liền khẽ nói:
– Tâu Chúa-thượng, sáu năm trời đằng-đẵng qua đi, non nước nhân dân vùng Đảng-Ro này xiết bao mong ngóng Chúa-thượng. Nay, nhân dịp Chúa-thượng cầm quân lên đây, thực là một dịp ngàn năm mới lại có, hạ thần được tất cả cử về nghênh-tiếp Chúa-thượng về nơi căn bản cũ để lại tung-hoành một phen
Lại trông thấy người bề tôi cũ, Nùng Trí-Cao bàng-hoàng sôi-nổi. Cái tinh-thần năm xưa ở chàng đã tỉnh-thức một cách hoàn toàn. Câu hỏi thứ nhất của chàng là về Ninh-Đức Thái-hậu.
Quái Đầu Đà nói:
– Tâu Chúa-thượng, Thái-hậu vẫn bình-an vô sự. Các bề tôi của Chúa-thượng vẫn một niềm trung-thành chờ mong Chúa-thượng trở về. Vậy xin Chúa-thượng quyết định ngay cho.
Nùng Trí-Cao đã quyết định ngay rồi, và Quái Đầu Đà chẳng cần phải nói tha-thiết đến thế. Tuy vậy, Nùng vẫn làm ra vẻ do-dự:
– Đã đành rằng không gì vui hơn sự mẹ con, chúa tôi lại được cùng nhau sum họp, và cái ý nguyện năm xưa của ta lại được đem ra thực hiện dưới ánh mặt trời. Nhưng, tiếc rằng đối với Lý Triều Hoàng-đế, ta còn nhiều ân tình quá, không thể nào nỡ quay lại mà chống trả ngay được.
Quái Đầu Đà lắc đầu nói:
– Tâu Chúa-thượng, những điều mà vua Lý đã làm để tỏ lòng ưu đãi Chúa-thượng, ấy chẳng qua chỉ vì muốn mua chuộc lòng quy-thuận của Chúa-thượng đó thôi. Người ta lợi-dụng mình mà mình để yên thì có khác gì tự mình chui vào cạm bẫy, để cái tiếng cười là bất-trí cho thiên hạ nghìn đời? Huống hồ một trận bình-định Ai Lao và một trận thắng lần này há chẳng là những công-lao hãn mã để Chúa-thượng trả lại vua nhà Lý những cái mà Chúa-thượng đã trót nhận lĩnh rồi ư?
Vị lão quân-sư im lặng một phút rồi tiếp theo:
– Thần cũng biết rằng ngoài các lẽ vừa nói, Chúa-thượng còn một điều thuộc về tâm-tình nữa. Nhưng mà, theo ngu-ý của thần, điều ấy cũng chẳng khó gì. Chúa-thượng cứ bước mau ra ngoài cương tỏa của Lý Triều Hoàng-đế. Trong khi ấy, Chúa-thượng sẽ sai một thủ-hạ dõi ngầm về Thăng-Long đón Hoàng-hậu. Nếu Tạ Hoàng-hậu coi tình nghĩa vợ chồng là trọng, người sẽ vội-vã lên đây ứng chiếu của chúa-thượng. Nếu người lưu-luyến gia đình nhất-định không đi, thì một sợi tơ đào có nên vướng chân khách anh-hùng chăng?
– Quân-sư luận rất phải. Ý ta cũng đã quyết-định từ trước rồi. Nhưng, điều cần là ta phải làm cách nào để có thể về quê một cách đường hoàng, không khiến Thái-Tông Hoàng-đế nổi giận, hưng binh vấn tội ngay.
Quái Đầu Đà hăng hái:
– Dù Lý-Triều có đem binh lên đây lần này, hạ thần dám cam đoan là ta sẽ thắng, sáu năm trời dự bị, mọi kế sách đã sẵn sàng cả rồi, xin Chúa-thượng chớ lo.
Nùng Trí-Cao cười:
– Quân-sư đừng vội tin chắc ở lực lượng của mình vội. Ta đã gần các danh tướng của nhà Lý như Thường-Kiệt, Phụng-Hiểu, Nhân-Nghĩa. Binh tướng nhà Lý, ta nói thiệt cho quân-sư hay, sẽ thắng cả quân nhà Tống một cách dễ-dàng chứ đừng nói đến cái lực-lượng châu chấu của ta làm gì!
– Chúa-thượng dạy như thế nghĩa là ta không thể làm trò trống gì được, ngoài sự chắp tay xưng thần với nhà Lý hay sao?
– Nếu dàn binh đấu chiến, ta nhất định là sẽ bị đè bẹp trong nháy mắt. Mà lần thua này sẽ là lần thua cuối cùng của vua tôi nhà ta vậy.
– Thua, được là sự thường của nhà quân. Mình hãy thử sức cùng người một phen nữa rồi có chết cả cũng cam lòng!….
– Không được!…
Quái Đầu Đà nổi giận:
– Hay là Chúa-thượng đã quên hết thù xưa, chỉ cốt yên thân hưởng phú-quý rồi chăng?
Nùng Trí-Cao đứng phắt dậy. Mặt chàng đỏ như bốc lửa; chàng rút phăng thanh bảo-kiếm chém vạt một góc bàn mà rằng:
– Quái Đầu Đà! Hãy coi chừng thanh bảo-kiếm này. Nó sẽ không dung tha những kẻ khi-quân mạn-thượng!
Quái Đầu Đà thản-nhiên:
– Kẻ hạ thần khi nào dám khi-quân mạn-thượng! Nhưng nếu Ngài nhất định cứ chắp tay quy-thuận Lý Triều Hoàng-đế, hạ-thần sẽ cùng đồng đảng phò xa giá Thái-hậu về Thăng-Long chọi nhau với Thái-Tông một phen mà không dám phiền nhiễu gì đến Chúa-thượng nữa …
Nùng Trí-Cao cười nhạt:
– Các ngươi chỉ cầu thỏa cái chí hiếu chiến của các ngươi mà không biết nghĩ chi đến những điều xa xôi, nguy hiểm! Ta từ khi lĩnh ấn soái của vua Lý, đem quân ra khỏi Thăng-Long, đã có ý muốn về Đảng Ro rồi. Và ta đã dự bị mọi việc đâu vào đấy cả. Ngươi hãy đọc tờ sớ này…
Vừa nói, Nùng vừa lấy ở hòm văn-thư ra một tờ sớ tấu ném xuống mặt bàn, ngay trước chỗ Quái Đầu Đà đương đứng.
Lão quân-sư liếc mắt đọc nhanh:
Kính tâu Hoàng-đế Bệ-hạ,
Từ sau việc năm Tân-tị, hạ thần được Bệ-hạ mở lượng hải hà, khoan thứ tội chết đến nay kể vừa chẵn sáu năm tròn. Chẳng những thế, Bệ-hạ còn phong quan-chức lại ban cho ơn huệ tối cao là đứng chủ hôn cho thần được sánh đôi với ái-nữ Tạ Tướng-công.
Đối với những mưa móc, vũ lộ ấy, thần vô cùng cảm kích và vẫn mong được đem gan óc phơi dải dưới mặt trời đẻ đền đáp Bệ hạ,
Nhưng, ngoài tình vua tôi còn cái tình mẹ con. Sáu năm trời đằng đẵng, thần luôn luôn được gần đế-khuyết nhưng lại xa cách từ-nhan và, bởi vậy, thần không một lúc nào khuây lòng mong nhớ.
Bây giờ, phía Tây giặc Lào đã bình định. Cương giới miền Bắc lại đã hoàn toàn yên ổn. Thần nhân dịp, xin Bệ-hạ gia ân cho được trở về thăm viếng mẫu thân cho trọn niềm hiếu dưỡng.
Và, khi đã được toại nguyện thần-hôn, thần sẽ tự mình đem bản bộ thử khiêu khích Tống-triều, xem cho biết cái thực lực của bọn Địch Thanh như thế nào.
Nên ra, một trận thu công, ấy là cái mà hạ thần sẽ dùng để tạ cái tội bỏ trại lần này.
Không nên ra, thần sẽ một mình chịu hết mọi búa rìu của vua Tống và Bệ-hạ chỉ còn việc coi hạ thần như một đảng nghịch biên cương là hết.
Một tấm chân thành, mong Bệ-hạ soi xét cho, thần được muôn vàn cảm tạ.
Quảng-Uyên-Mục
Nùng Trí-Cao bái.
Đọc xong tờ sớ, Quái Đầu Đà vội vàng phục xuống trước mặt Nùng Trí-Cao tạ tội mà rằng:
– Lão thần ngu-muội, không hiểu rõ được mưu-cơ kỳ diệu của Chúa-thượng, tội thực đáng muôn chết.
Trí-Cao động lòng thương liền nhắc Đầu Đà dậy:
– Quân-sư có tội gì! Ta phiền quân-sư hãng mau mau trở về báo tin để Thái-hậu rõ. Ta sẽ có kế thoát sau.
Đầu Đà lạy từ Phiên-vương rồi lui ra.
Khi còn một mình trong hổ-trướng, Nùng Trí-Cao bèn phong bản sớ lại cất kỹ một nơi.
Sớm tinh sương hôm sau, chàng giao bản sớ cho một tên quân kỵ bảo phải ruổi mau để về Kinh-sư. Một mặt chàng hạ lệnh nhổ trại lên đường.
Ba quân và tướng-tá được về, ai nấy cùng reo mừng hớn-hở. Họ vừa đi vừa hát khúc khải hoàn, tiếng vang động cả một vùng núi non u tịch.
Đội tiền quân đi trước, rồi đến trung quân và, sau cùng, khi hậu quân cùng lên đường thì mặt trời đã xế.
Nùng Trí-Cao cùng mấy viên phó-tướng lưu lại một đêm.
Viên trấn-thủ đặt tiệc mừng và tiễn-biệt. Ai nấy cùng vui, say.
Vào khoảng cuối canh ba sắp sang canh tư, khi mọi người đã ngủ yên cả, Nùng Trí-Cao liền nai nịt gọn ghẽ, đeo gươm lẻn ra ngoài, sau khi đã để lại mấy giòng chữ.
Chỉ chớp mắt bóng chàng cưỡi trên con ngựa ô-lĩnh đã mờ trong sương trắng…
Chương XII
…«sầu lên ngọn ải!
oán ra cửa phòng»…
Nguyễn Thị Điểm
Từ khi Nùng Trí-Cao ra đi và Vân-Anh vì thương cha mẹ già không ai nương cậy nhất là vì cái tinh-thần quốc- gia chủng-tộc, đã từ-chối không theo chồng lên biên-giới thì nàng không còn được tin tức gì của Nùng hết, trừ những vang bóng yếu-ớt do phụ thân nàng nhắc lại, mỗi lần ở trong Triều về.
Nàng biết rằng Nùng đã cử binh đánh nhà Tống và chiếm được chín châu: Hoành, Quý, Cung, Tâm, Đẳng, Ngô, Khang và Đoan, thanh-thế lừng-lẫy đến nỗi vua nhà Tống phải cử Bình-Liêu vương Địch-Thanh đem Ngũ hổ-tướng đi dẹp.
Đúng như nàng đã nói với Nùng, cái việc chàng bỏ ra đi không khiến nàng oán-hận chi cả. Nàng, trái lại, còn cảm-phục chàng ở chỗ nhất định không để cho phú-quý, tước-lộc, cả ái-tình nữa, giam cầm được cái chí muôn dặm dọc ngang khẳng-khái.
Vân-Anh chỉ riêng buồn cho nàng mà thôi. Thực vậy, nỗi buồn tê-tái càng lâu càng nẫu nà cả ruột gan nàng. Nàng tự nhủ sao loài người — gồm những đàn ông với các sự tin-tưởng kỳ-cục của họ — cớ sao cứ nhất-định không ăn yên, ở yên được với nhau? Cớ sao họ cứ phải chạy theo những cái bóng hão-huyền đến nỗi thù hằn, chém giết nhau để rồi những kẻ được cũng một ngày kia phải chết?
Hằng ngày, nàng hết quanh ra lại quanh vào để bất kỳ ngồi đâu hay đứng đâu cũng thấy hình ảnh chồng nàng hiện ra trước mắt. Nàng nhiều lúc muốn đi biệt một nơi nào để tránh sự tiếp xúc với các vật quen thuộc. Là bởi mỗi vật ấy đều nhắc nhỏm nàng, đều bắt trí óc nàng phải nhớ lại những ngày dĩ vãng, những ngày càng sáng tươi, rực rỡ bởi đã mất đi không bao giờ lại có.
Quanh mình nàng, hiện nay, có thể nói là chỉ còn rặt những cái xác chết, bởi, ngay dù là cây cỏ cũng là thứ cây cỏ có những mầu xanh linh động và muôn nghìn sắc hương tươi mởn của những ngày đã qua. Sự sống đã theo gót chàng đi lên ải Bắc lâu rồi!…
Chính nàng cũng không sống nữa.
Chính nàng hiện cùng chi là một xác chết biết cử-động, biết ngồi giương bai mắt tuyệt vọng nhìn cái bóng dáng của người yêu phảng-phất trên sự vật để mà não-nùng, mà đau khổ, mà tiếc thương.
Trong khi ấy thì ngày nọ ngày kia cứ nối nhau qua, như những giọt nước rỏ thánh thót xuống làm mòn một tảng đá nó là cuộc đời của con người.
Rồi, thình lình, một buổi chiều kia, một cái tin sực đến khiến Vân-Anh vùng sống lại: có sứ giả của Nùng Trí-Cao sai đến.
Nàng luống cuống bảo a-hoàn:
– Lan-nhi!… Mày ra gọi người ấy vào…trung-đường ta hỏi… À không, vào đây, vào thẳng vườn hoa này, vì ta muốn là người thứ nhất được tiếp tin chàng.
Một lát sau, Lan-Nhi đưa sứ giả của Nùng Trí-Cao đến.
Vân-Anh hớn-hở trỏ ghế cho ngồi và hỏi:
– Anh là sứ giả của Nhân-Huệ Hoàng-đế phải không?
Sứ giả nghiêng mình đáp:
– Bẩm Lệnh Bà, chính tôi là sứ giả của Đức Nhân-Huệ Hoàng-đế.
– Tốt lắm!…. Tốt lắm!… Anh thuật lại cho tôi nghe từng câu mà Ngài đã truyền cho anh…
– Tiểu tướng xin vâng mệnh.
– À! Không, anh kể lại từ đầu kia… Kể lại từ lúc ngài về Đảng Ro và khởi binh chống nhau với Lý Thái-Tông Hoàng-Đế, vì ta muốn được biết rõ từng li, từng tí những việc Ngài đã làm. Ta vì nghĩa quốc-gia chủng-tộc, vì bổn phận làm tôi con, không theo Ngài được nhưng lòng ta thờ kính Ngài chắc quỷ thần hai vai cùng rõ cho ta đấy…
Sự náo nức của Vân-Anh, những câu tha thiết nàng vừa nói làm cho sứ-giả ứa nước mắt. Nhưng, lúc này, Vân-Anh còn có thể chú ý đến cái gì ngoài những cái quan hệ đến chồng nàng được nữa!
– Bẩm Lệnh Bà, sau khi về Đảng Ro, Chúa-thượng toan cử binh đánh Tống thì Lý Triều bỗng sai Thái-úy Quách Thịnh-Dật đem quân lên hỏi tội. Chúa-thượng nổi giận đánh tan quân của Quách Thái-úy. Và nhân thấy Lý Triều cố ý không dung, Ngài liền xin thần phục nhà Tống, nhưng vua Tống cũng không cho. Cùng kế, Chúa-thượng tự lập làm Hoàng-đế rồi kéo quân sang đánh Tầu và cướp luôn được chín châu quận.
Vân-Anh gật đầu:
– Ừ, thì làm tài trai ở đời, chẳng gì cũng một phen tỏ mặt phi thường với thiên hạ chứ! Bỉ trượng phu hề ngã trượng phu…
– Vua Tống thấy lực-lượng của ngài mạnh quá, toan cầu viện với Lý Triều để hai mặt cùng tiến công, nhưng, Địch-Thach can ngăn, cho rằng có một đám giặc cỏ ở biên cương mà Thiên-triều không dẹp nổi e thất thể diện với các nước cống thần.
– Thất thể diện hẳn đi chứ còn gì!
– Tống Hoàng-đế mới sai bọn Dư Tĩnh, Tôn Miện đem quân đi đánh. Hai tướng này bị thua tan nát, thành thử Bình-liêu vương Địch Thanh phải thân hành đem Ngũ-hổ-tướng đi dẹp.
– Trận đánh này hẳn ác liệt?
– Bẩm Lệnh Bà, trận đánh này quả thực là ác liệt. Ấy cũng là nhờ có quân-sư Quái Đầu Đà và nữ tướng Đoàn Hồng-Ngọc bày trận Bát-quái dùng phép vây đánh quân Địch Thanh thu xiểng-niểng
Vân-Anh khẽ chau đôi mày liễu:
– Nữ tướng Đoàn Hồng Ngọc?…
– Bẩm Lệnh Bà, chính Đoàn Hồng-Ngọc con gái Đoàn Hồng. Người ấy giỏi lắm và rất được Ninh-Đức Thái-hậu quý mến.
Vân-Anh mím môi:
– Hừ! Thế.. sao nữa?
– Bẩm Lệnh Bà, không ngờ về sau Đoàn Hồng-Ngọc làm phản.
Vân-Anh đứng phắt dậy:
– Đoàn Hồng-Ngọc làm phản!
– Dạ.
– Tại sao?
– Nguyên do vì Hồng-Ngọc trước có đem lòng thầm yêu trộm nhớ Chúa-thượng…
Vân-Anh nói như nói với mình:
– Ừ, ta đoán quả không sai.
– Nhưng khi thấy Chúa-thượng đã có Lệnh Bà, và dù khi xa Lệnh Bà, Chúa-thượng vẫn hằng ngày tỏ lòng mong nhớ nên nàng tuyệt vọng….
– À ra thế!
Vân-Anh mỉm cười với hai giọt lệ long lanh trong khóe mắt.
– Đến khi nàng ra trận gặp Tống tướng là Địch Long, diện mạo rất khôi ngô, nàng mê ngay rồi đem hết các bí mật của trận bát-quái mách bảo quân thù, chẳng kể gì đến cái tình vua và cha nữa! Giặc Tống vì vậy phá tan quân ta.
Vân-Anh giật mình;
– Trời, thế quân ta thua to à?
– Bẩm Lệnh Bà, quân ta thua tan nát. Các danh tướng như Quái Đầu Đà, Hoàng Sư-Mật, Đoàn Hồng, Nguyễn Dư-Khương, Đinh Ứng-Lang đều tử trận.
Như bị một mũi dao đâm trúng ngực, Vân-Anh vội hỏi sứ giả:
– Thế còn Chúa-thượng?
Sứ giả cúi đầu thấp giọng:
– Chúa-thượng đem mấy thủ hạ chạy sang nước Đại-Lý.
– Ngài đi rồi?
– Bẩm Ngài đi rồi.
– Ngài sai ngươi về đây làm gì?
Sứ giả thò tay vào túi lấy ra một quả ấn ngọc và cởi thanh gươm bên mình dâng Vân-Anh và nói:
– Bẩm Lệnh Bà, Chúa-thượng sai tiểu tướng về trình với Lệnh Bà rằng ngài đi phen này mười phần thì chín chắc chết. Bởi vậy ngài gửi thanh gươm báu và quả ấn Nhân-Huệ Hoàng-đế để Lệnh Bà giữ gọi là ghi lại một chút cái giấc mộng đế-vương chóng tàn…
Vân-Anh tiếp lấy hai vật báu, ngồi lặng đi giờ lâu, hai hàng nước mắt tràn ra ướt má.
Sau cùng nàng ngửa mặt thở dài đoạn buồn rầu bảo sứ giả:
– Ta tiếc rằng lúc này ta không có cánh bay theo Chúa-thượng để được luôn luôn chầu chực bên Ngài, như nàng Ngu-Cơ đời Tây Hán. Nhưng, không được cái may gang tấc mặt rồng, ta ít ra cũng có cái cử động cuối cùng của Ngu Mỹ-nhân lúc biệt Sở Bá-vương trên bờ Ô-Giang.
Vân-Anh đứng dậy lấy ra một nắm vàng ngọc đưa cho sứ giả:
– Ta khuyên người nên từ giã đất này và phiền ngươi cố tìm cho được Chúa-thượng. Nếu ngươi đến còn kịp, xin ngươi làm ơn tâu hộ ta rằng: Tạ Vân-Anh này đã trọn đạo tôi con cùng vua và cha mẹ nay xin vẹn tiết cùng chồng. Vậy ngươi giúp ta, ấy là ơn to trời biển, dù ta sinh ra muôn kiếp nữa, nguyện sẽ báo đền ngươi. Ngươi nên đi ngay, kẻo lụy. Và, sau khi ngươi ra khỏi chỗ này, ta sẽ dùng thanh bảo kiếm Chúa-thượng ban cho mà kết liễu một đời bạc mệnh…
Lan Khai
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...